Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Cái Trống Thiếc - Günter Grass 🔒

49 trả lời, 4.731 lượt xem — Trang 2 / 2
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.07.2016 15:41:15 bởi tducchau>
[...]
 
 
BĂNG QUÉT BỤI
 
Oskar vốn không được tạo sinh để nối dõi Chúa Kirixitô vì một lẽ: gã không có năng khiếu thu nạp môn đồ. Tuy nhiên, lời kêu gọi của Jêxu "Hãy theo ta" đã nhập vào tim tôi một cách gián tiếp, theo đường vòng và tôi trở thành người kế tục của Chúa Kirixitô mặc dù tôi không tin ở Người. Nhưng, như người ta thường nói, kẻ nào ngờ tức là tin, và chính kẻ không tin lại tin lâu bền nhất. Jêxu đã cho tôi chút phép màu nho nhỏ trong Nhà thờ Thánh Tâm và tôi không thể chôn cái phép màu ấy dưới những nghi ngờ; trái lại, tôi còn tìm mọi cách để khiến Jêxu lặp lại màn trình diễn của mình.
 
Sau đó, Oskar còn trở lại Nhà thờ Thánh Tâm nhiều lần không có Maria đi cùng. Chuồn khỏi Mamăng Truczinski ngồi đóng đinh ở ghế đâu phải là chuyện khó khăn gì. Tôi có thể chờ đợi gì ở Jêxu đây? Tại sao tôi ở lại trong gian bên trái gần như suốt đêm và để ông bõ nhà thờ khóa cửa nhốt tôi bên trong? Tại sao Oskar đứng mãi ở ban thờ bên trái cho đến khi chân tay phát cóng và hai tai đông cứng lại? Với tất cả sự nhịn nhục ê chề cùng như những lời báng bổ không kém ê chề, tôi vẫn không làm sao nghe được trống tôi hay tiếng của Jêxu vang lên một lần nữa.
 
Miserere [1]! Cả đời, tôi chưa bao giờ nghe thấy rằng tôi đánh đàn như trong những giờ khuya khoắt ấy ở Nhà thờ Thánh Tâm. Đã có gã hề nào kiếm được một chiếc phách giòn hơn Oskar này? Ran ran như một ổ súng liên thanh, giữa hàm trên và hàm dưới tôi là cả một bầy thư ký đánh máy. Đàn răng tôi vang đi khắp phía, làm dậy lên những hồi âm và tiếng hoan hô. Những hàng cột rung lên, những mái vòm nổi da gà và khi răng tôi không đánh đàn thì tôi lại ho. Tiếng ho của tôi nhảy lò cò trên những ô bàn cờ của sàn đá lát, xuôi theo hai cánh, ngước lên chính điện, đánh đu vào dàn đồng ca, nhân lên sáu mươi lần như một Hội J.-S. Bach không hát mà lấy ho làm nghiệp vụ chuyên môn và đúng lúc tôi bắt đầu nghĩ rằng cơn ho của mình đã chui vào những ống của đại phong cầm và im tiếng, thì kìa, một tiếng ho vang lên trong phòng mặc áo lễ rồi một tiếng khác từ chỗ bục giảng kinh cho đến khi, chung cuộc, tiếng ho tắt dần, trút hồn đằng sau ban thờ chính, cách chỗ Lực sĩ Vác Thánh giá không xa. Xong rồi, cơn ho của tôi nói; nhưng chưa có gì xong cả. Chúa hài đồng Jêxu ngồi đấy, cứng đơ và kiêu kỳ, kẹp cái trống của tôi giữa hai đùi thạch cao, tay cầm dùi mà không chơi, khước từ việc xác nhận sứ mệnh của tôi. Vì Oskar muốn có sự xác nhận bằng văn bản.
 
Thời kỳ ấy để lại trong tôi một thói quen hay một thói xấu: cứ đến giáo đường, kể cả những nhà thờ lớn nổi tiếng, là tôi bắt đầu ho, ngay cả những lúc sức khoẻ tôi tốt nhất. Đặt chân vào chính điện một cái là một cơn ho xâm chiếm tôi; nó có thể mang phong cách Gô-tich, hay Rô-man hay thậm chí Ba-rốc, tuỳ theo kiểu kiến trúc của ngôi nhà thờ. Tôi dám chắc rằng nhiều năm nữa tôi vẫn có thể dùng trống thể hiện cơn ho của Oskar trong Nhà thờ lớn ở Ulm hay Speyer. Tuy nhiên, hồi ấy tôi đang chịu tác động của một thứ Thiên Chúa giáo cực kỳ băng giá; chẳng có cơ hội nào để thăm những nhà thờ ở những vùng đất xa xôi, trừ phi anh là lính tham gia những cuộc rút lui nằm trong kế hoạch của Reichswhr, mỗi lần rút lại ghi trong nhật ký, chẳng hạn: "Hôm nay, rút khỏi Orvieto; nhà thờ tuyệt mỹ. Sau chiến tranh phải quay lại cùng Monica ngắm cho đã.
 
Với tôi, trở thành một người chăm đi nhà thờ là chuyện dễ ợt, vì chẳng có gì níu chân tôi ở nhà. Có Maria. Nhưng Maria còn có Matzerath. Có thằng Kurt con trai tôi. Nhưng nó ngày càng trở nên không chịu nổi, nó ném cát vào mắt tôi, cào cấu tôi hung đến nỗi những mảnh móng tay gẫy của nó mắc lại trong thịt cha nó. Nó còn dứ hai nắm đấm về phía tôi và chỉ nhìn những khớp ngón căng đến trắng ra, tôi đã muốn đổ máu mũi.
 
Lạ thay, Matzerath lại bênh vực tôi, tuy có vụng về nhưng đầy thương mến. Trong một tâm thái ngỡ ngàng, Oskar để cho con người vốn chang quan trọng gì với gã, bế lên lòng ghì lấy, nhìn ngắm và thậm chí có lần còn hôn hít nữa. Nước mắt lưng tròng, Matzerath nói, cho riêng mình hơn là với Maria: "Không thể được. Tôi không thể cho con tôi đi. Mặc cho các bác sĩ muốn nói gì thì nói. Tôi dám chắc rằng họ không có con nên mới thế."

Maria đang ngồi ở bàn dán những tem thực phẩm vào sổ cái như mọi tối, nghe vậy, nàng ngẩng lên: "Bình tĩnh nào, Alfred. Mình nói như thể tôi không thiết ấy. Nhưng khi người ta bảo đó là cách làm hiện đại, tôi chả còn biết nghĩ sao nữa.
 
Matzerath chỉ vào cây dương cầm đã ngừng thánh thót từ khi mẹ tội nghiệp của tôi mất: "Agnes ắt không bao giờ làm thế, cô ấy ắt không cho phép làm thế."
 
Maria liếc mắt về phía cây dương cầm, nhún vai và chỉ hạ vai xuống khi nàng mở miệng để nói: "Dĩ nhiên, vì bà ấy là mẹ, bà ấy vẫn hy vọng nó sẽ đỡ hơn. Nhưng mình thấy đấy: chẳng có gì khả quan, đâu đâu cậu ta cũng bị khước từ, không còn biết sống như thế nào, chết như thế nào nữa."
 
Không biết có phải bức chân dung Beethoven vẫn treo trên cây dương cầm, rầu rầu nhìn lão Hitler rầu rầu, đã tiếp thêm sức mạnh cho Matzerath không? "Không!" ông quát. "Không bao giờ!" và đấm mạnh xuống bàn, xuống mớ giấy ướt dính, ông bảo Maria đưa ông bức thư của viện, đọc đi đọc lại, rồi xé nát, vung vãi những mảnh vụn giữa những tem bánh mì, tem mỡ, tem thực phẩm, tem đi đường, tem lao động nặng, tem lao động cực nặng, tem phụ nữ có thai và nuôi con thơ. Mặc dầu, nhờ có Matzerath, Oskar không rơi vào tay các bác sĩ ss đó, gã vẫn giữ trong trí một hình ảnh, và cho đến nay, mỗi lần nhìn Maria, gã vẫn thấy hình ảnh một bệnh viện đẹp giữa không khí miền núi trong lành, một phòng phẫu thuật hiện đại sáng, thoáng, thân mật; bên ngoài cánh cửa có đệm, một Maria rụt rè nhưng tươi cười, tin cậy trao tôi cho một nhóm bác sĩ hạng nhất, cũng tươi cười và đáng tin cậy, tay cầm những ống kim tiêm hạng nhất, đáng tin cậy và hiệu nghiệm tức thì dưới những áo blu trắng sát trùng.
 
Vậy là toàn thế giới đã bỏ rơi tôi. Chính cái bóng của mẹ tội nghiệp của tôi đổ xuống những ngón tay của Matzerath làm chúng tê liệt mỗi khi ông ta định ký vào tờ giấy cho phép do Bộ Y Tế thảo sẵn, đã cứu sống tôi.

Oskar không muốn là kẻ vô ơn. Tôi vẫn còn cái trống, còn cái giọng hát diệt-thuỷ-tinh-giờ đây, khi quý vị đã biết mọi chiến tích của giọng tôi, nó trở thành vô bổ đối với quý vị và có lẽ đã bắt đầu làm những ai thích cái mới lạ trong số quý vị chán ngấy, nhưng đối với tôi, giọng của Oskar, thậm chí còn hơn cả cái trống, là bằng chứng sự tồn tại của tôi và do đó, vĩnh viễn mới; chừng nào giọng tôi còn đập nát được thuỷ tinh, tôi vẫn tồn tại.
 
Thời kỳ này, Oskar hát-đập rất nhiều. Gã hát bằng nghị lực của tuyệt vọng. Mỗi lần tôi rời Nhà thờ Thánh Tâm vào một giờ muộn, tôi lại hát-đập một cái gì đó. Tôi không đi tìm những mục tiêu gì đặc biệt hay ho. Trên đường về nhà, tôi chọn một cửa sổ ở tầng áp mái nào đó che sáng phòng không chưa đúng quy định hoặc một ngọn đèn đường sơn xanh theo quy định. Mỗi lần ở nhà thờ về nhà, tôi lại chọn một đường khác. Một buổi tối, Oskar đi đường Ariton-Mỏller rồi rẽ theo phố Đức Bà. Tối khác, gã qua tháp Conradinum và đập vỡ kinh cửa chính. Một hôm vào cuối tháng tám, tôi tới nhà thờ quá trễ và thấy cửa khoá chặt. Muốn đi dạo cho hả cơn về nhà. Xuất phát từ phố Ga, ở đó cứ ba bóng đèn đường tôi đập một, tôi đi qua Cung Điện ảnh và rẽ phải vào phố Adolf Hitler. Tôi tha cho các cửa sổ của doanh trại bộ binh để trút cơn giận vào một chuyến tàu điện gần như trống rỗng từ Oliva chạy về phía tôi, lột toàn bộ kính che đèn tù mù của một bên sườn tàu.
 
Phanh rít, tàu đỗ lại, người túa ra, chửi rủa một hồi rồi lại lên tàu. Có thể coi đó là một chiến tích, nhưng Oskar không mất thì giờ nghĩ nhiều đến nó. Gã lại đi tìm một món tráng miệng cho cơn khùng. Một miếng khoái khẩu trong cái thời kỳ nghèo nàn vị khoái khẩu này, và chỉ dừng lại khi, gần tới Langfuhr, gã trông thấy Xí nghiệp Sô-cô-la Baltic trải ra dưới ánh trăng giữa xuởng mộc của Berendt và những hăng-ga rộng thênh thang của sân bay.
 
Tuy nhiên, lúc này, cơn cuồng nộ của tôi đã giảm phần nào cường độ. Thay vì tự giới thiệu ngay với xí nghiệp, tôi lại thủng thỉnh đếm những cửa sổ lấp lánh ánh trăng. Làm xong việc đó, tôi đã sẵn sàng để tự giới thiệu, nhưng trước hết, tôi muốn xem thử cái bọn nhóc đi theo tôi từ Hochstriess, mà có khi suốt từ phố Ga đến đây, định giở trò gì. Sáu bảy đứa đang đứng cạnh hầm trú ẩn gần bến tầu điện và tôi còn phát hiện ra năm đứa nữa sau hàng cây trên đại lộ.
 
Tôi đã quyết định hoãn cuộc thăm xí nghiệp sô- cô-la lại, giữ một khoảng cách an toàn với chúng và về nhà theo lối cầu vượt, qua nhà máy bia Akrien, thì bỗng nghe thấy những hiệu lệnh bằng sáo miệng từ phía cầu vượt. Không còn nghi ngờ gì nữa: cuộc điều binh này đích thị nhằm vào tôi.
 
Tôi đã trông thấy những kẻ đuổi bắt tôi, nhưng cuộc săn chưa bắt đầu. Trong những tình huống như thế này, người ta thường khoái kể những khả năng thoát thân tối hậu. Oskar có thể gọi cha, gọi mẹ.Tôi có thể dóng trống kêu cứu bất cứ ai, chẳng hạn một cảnh sát viên. Tầm vóc tôi chắc chắn tranh thủ được sự ủng hộ của người lớn, nhưng ngay cả Oskar cũng có những nguyên tắc riêng của mình và đôi khi tuân thủ chúng triệt để. Và như vậy tôi quyết không nhờ đến sự giúp đỡ của cảnh sát hoặc bất kỳ người lớn nào ở trong tầm nghe. Kích thích bởi tò mò và khoái trí thấy mình được chú ý đến như vậy, tôi quyết định cứ để sự tình diễn biến tự nhiên và làm điều ngu xuẩn nhất có thể tưỏng tượng được: tôi đi tìm một cái lỗ ở hàng rào hắc ín bao quanh xí nghiệp sô-cô-la. Chẳng thấy một lỗ nào. Từ từ và điềm đạm, bọn cướp nhí dồn về điểm tập kết: từ hầm trú ẩn cạnh bến xe điện, từ sau hàng cây trên đại lộ và cuối cùng, từ cầu vượt. Oskar di chuyển dọc hàng rào, vẫn tìm lỗ nấp. Chúng để cho tôi vừa đủ thời gian để phát hiện thấy một chỗ khuyết mất mảnh ván. Nhưng khi tôi lách ngừơi qua với hậu quả là rách toạc quần, thì phía bên kia đã có bốn đứa mặc áo gió chờ sẵn, tay đút túi quần trượt tuyết.
 
Nhận thấy không thể làm gì để cứu vãn tình thế, tôi đưa tay rờ rờ quần tìm chỗ rách. Nó ở đít quần. Tôi xoè ngón tay ra đo, thấy nó rộng đến tệ hại, nhưng vẫn làm bộ dửng dưng; và, sẵn sàng đón nhận hậu quả, tôi chờ đến khi cả bọn từ bến xe điện, từ đại lộ và cầu vượt trèo qua hàng rào, vì chúng to xác quá không lách qua khe hở được.
 
Đó là vào cuối tháng tám. Thi thoảng, mặt trăng khuất sau một đám mây. Tôi đếm được khoảng hai mươi đứa. Đứa bé nhất độ mười bốn tuổi, đứa lớn nhất mười sáu, hoặc gần mười bảy. Mùa hè năm 44 nóng và khô. Bốn thằng to con nhất mặc đồng phục bổ trợ quân của Luftwaffe [2]. Tôi nhớ năm ấy được mùa anh đào. Chúng đứng quây quanh Oskar thành từng nhóm nhỏ, trò chuyện khe khẽ, dùng một thứ biệt ngữ mà tôi chẳng hơi đâu mà cố gắng hiểu. Chúng gọi nhau bằng những cái tên kỳ quái, mà tôi chỉ nhớ được một phần nhỏ. Chẳng hạn, một thằng trạc mười lăm tuổi có đôi mắt nai được mệnh danh là Lướt, hoặc đôi khi là Choi Choi. Thằng đứng cạnh nó là Mát-Tít. Thằng nhỏ con nhất, tuy chắc chắn không phải ít tuổi nhất, trều môi và có tật nói đớt, được đặt tên là Ăn cắp Lửa. Trong đám bổ trợ quân của Luftwaffe, một thằng được kêu là Me-xừ, một thằng khác có cái tên rất hợp là Gà Nấu Xúp. Cũng có những tên lịch sử như Sư Tử Tâm và Râu Xanh - thằng này có vẻ mặt thỏ đế - và cả những bạn cũ của tôi nữa như Totila và Teja. Thậm chí có hai thằng trâng tráo tự xưng là Belisarius và Narses. Thằng cầm đầu, mười sáu tuổi, lấy tên của trùm hải tặc khét tiếng Störtebeker. Nó đội một chiếc mũ phớt nhung thứ thiệt với phần chỏm bóp võng xuống cho giống một cái ao vịt và mặc một cái áo mưa quá dài đối với nó.
 
Không đứa nào mảy may chú ý đến Oskar; chúng đang tìm cách làm Oskar rời rã trong trạng thái nơm nớp. Nửa buồn cười, nửa bực mình vì giây với những tên thiếu niên lãng mạn này, tôi ngồi lên cái trống của mình, ngắm vầng trăng đã gần tròn và cố hướng ý nghĩ quay về Nhà thờ Thánh Tâm.
 
Ngày hôm nay, lẽ ra Cậu đã có thể chơi trống và nối một đôi lời. Thế mà tôi lại ngồi đây, trong cái sân của Xí nghiệp Sô-cô-la Baltic, tiêu phí thì giờ vào cái trò chơi cảnh sát và kẻ trộm này. Rất có thể Cậu đang chờ tôi, có thể sau một khúc dạo đầu ngắn, Cậu sẽ mở miệng một lần nữa, nói rõ thêm về sứ mệnh kế tục Chúa Kirixitô. Thất vọng vì không thấy tôi, có lẽ chính lúc này đây, Cậu đang nhướn cặp lông mày lên theo cái cách ngạo mạn của Cậu. Không biết Jêxu sẽ nghĩ gì về lũ nhãi ranh này nhỉ? Liệu Oskar, hình ảnh của Cậu, môn đồ và đại diện của Cậu, phải làm gì với cái lũ này? Liệu gã có thể lấy lời của Jêxu "Các con nhỏ, hãy chịu khó đến với ta!" để nói với lũ tiểu yêu tự mệnh danh là Mát-Tit, Râu Xanh, Ăn cắp Lửa và Störtebeker này không?
 
Störtebeker tiến lại, theo sau là Ăn cắp Lửa, cánh tay phải của nó. Störtebeker: "Đứng dậy!"
 
Mắt Oskar vẫn còn dán vào mặt trăng, ý nghĩ còn quanh quẩn nơi ban thờ bên trái của Nhà thờ Thánh Tâm. Gã không đứng dậy và Ăn cắp Lửa, theo một hiệu lệnh của Störtebeker, đá cái trống tôi đang ngồi lên văng ra.

Tôi đứng dậy vì không còn cái để ngồi lên và thu cái trống vào dưới áo blu để bảo vệ cho nó khỏi hư hại thêm.

Cái thằng Störtebeker này xinh trai đấy chứ, Oskar nghĩ thầm. Mắt nó hơi quá sâu và kề nhau, nhưng miệng nó sinh động và gợi cảm.
 
"Mày từ đâu tới?"
 
Vậy là chúng bắt đầu tra hỏi tôi. Khó chịu vì cách vào đề đó, tôi lại nhìn trăng, chợt nghĩ vầng trăng giống như cái trống (muốn nghĩ gì thì nghĩ, trăng đâu có quan tâm!) và ý tưỏng vĩ cuồng vô hại đó khiến tôi tủm tỉm cười một mình.
 
"Nó đang nhăn nhở cười kìa, Störtebeker!"
 
Ăn Cắp Lửa nhìn tôi từ đầu đến chân và đề xuất một hoạt động mà nó gọi là "quét bụi". Những đứa khác ở phía sau - Sư Tử Tâm mặt đầy mụn trứng cá, Me-xừ, Choi Choi và Mát-Tít - cũng tán thành "quét bụi".

Hồn vẫn ở cung trăng, tôi thầm đánh vần từ "quét bụi". Một từ hay đấy, nhưng chắc chắn nó mang một ý nghĩa chẳng thú vị gì.
 
Störtebeker khẳng định uy quyền của nó: "Tao là người quyết định quét bụi ai và vào lúc nào." Rồi nó quay sang tôi: "Chúng tao thấy mày rất nhiều lần ở phố Ga. Tại sao? Mày ở đâu đến?"
 
Hai câu hỏi liền một lúc. Chí ít Oskar phải trả lời một nếu muốn vẫn làm chủ tình thế. Tôi rời cung trăng, quay lại nhìn nó bằng đôi mắt xanh đầy sức thuyết phục và bình thản nói: "Nhà thờ."
 
Đằng sau cái áo mưa của Störtebeker, bọn nó bình luận câu trả lời của tôi. Ăn cắp Lửa giải thích nhà thờ đây có nghĩa là nhà thờ Thánh Tâm.
 
"Mày tên gì?"
 
Một câu hỏi tất yếu, một câu hỏi xuất hiện bất cứ khi nào người gặp người và đóng một vai trò sống còn trong đối thoại giữa người với người. Nó cung cấp cốt lõi cho các vở kịch, thậm chí cả ôpêra nữa - như Lohengrin chẳng hạn.
 
Tôi chờ cho vầng ngọc thỏ ló ra giữa hai đám mây, để ánh trăng long lanh trong mắt tôi tác động đến Störtebeker trong khoảng thời gian đủ để húp ba thìa xúp. Rồi tôi lên tiếng, chăm chăm gây hiệu quả, tôi xưng danh - nếu tôi nhận tên mình là Oskar, ắt chỉ chuốc lấy một tràng cười - "Tên ta là Jêxu." Im lặng kéo dài. Cuối cùng, Ăn Cắp Lửa hắng giọng: "Ta phải quét bụi cho nó thôi, sếp."
 
Lần này, Ăn Cắp Lửa không vấp phải sự phản đối nào. Störtebeker búng tay cho phép và Ăn Cắp Lửa túm lấy tôi, thúc các khớp ngón vào cánh tay tôi ngay trên khuỷu và nhay đi nhay lại, làm tôi đau nhói và rát như phải bỏng, cứ thế cho đến khi Störtebeker lại búng tay ra hiệu dừng lại- vậy ra quét bụi là thế đó!
 
"Nào, bây giờ tên mày là gì?’ Tên trùm đội mũ phớt nhung làm ra bộ ngán ngẩm, làm một động tác đấm bốc khiến ống tay áo mưa xốc lên tới khuỷu, và giở đồng hồ ra ánh trăng. "Mày có một phút để suy nghĩ," nó khẽ nói. "Sau đó, tao sẽ bật đèn xanh cho bọn nó."
 
Oskar có cả một phút để yên ổn nghiên cứu mặt trăng, để tìm một lối thoát giữa những hố mặt trăng, để xem xét lại cái ý định xỏ chân vào giày của Chúa Kirixitô. Tôi không thích cái cụm từ "bật đèn xanh" và chắc chắn là tôi sẽ không để cho bọn tiểu yêu này định đoạt hành động của tôi từng giờ từng phút. Tôi chờ khoảng ba mươi lãm giây; rồi Oskar nói: "Ta là Jêxu."
 
Điều xảy ra tiếp theo thật tuyệt vời, nhưng tôi không thể nhận là do tôi dàn dựng nên. Ngay sau khi tôi tuyên bố lần thứ hai rằng tôi là Jêxu trước khi Störtebeker kịp búng tay ra hiệu hoặc Ăn cắp Lửa kịp quét bụi, còi báo động phồng không rú lên.
 
"... Jêxu," Oskar nói và hít một hơi dài. Lập tức, danh tính tôi được xác nhận liên tiếp bởi các nhịp còi, còi ở sân bay gần đó, còi ở tòa nhà chính của doanh trại bộ binh Hochstriess, còi trên mái trường trung học Horst- Wessel, còi trên cửa hàng bách hoá tổng hơp sternfeld và tận đằng xa từ phía đại lộ Hindenburg, còi của trường Cơ khí. Chỉ một lát là tất cả các còi trong khu ngoại ô này, như một hợp xướng của những thượng đẳng thiên sứ cuồng nhiệt, phổi thép, cất lên hưởng ứng thông điệp tôi vừa tuyên bố, làm cho đêm phập phồng, những giấc mơ xoè ra như pháo hoa; tiếng còi luồn vào tai những người đang ngủ và biến vầng trăng lạnh lẽo, thờ ơ thành một ánh sáng tàn bạo không cách nào che đi được.
 
Oskar biết cuộc báo động về hùa với gã; với Störtebeker thì ngược lại, tiếng còi làm nó lo lắng. Đối với một số tay chân của nó, báo động là hiệu lệnh gọi đi làm bổn phận. Bốn tên bổ trợ quân Luftwaffe phải trèo qua hàng rào, chạy cho nhanh về mâm pháo 88 của chúng ở giữa bến xe điện và sân bay. Ba thằng khác, trong đó có Belisarius, tối nay trực gác ở trường Oonradinum. Störtebeker tập hợp số còn lại, khoảng mười lăm đứa. Thấy trên trời không xảy ra chuyện gì nữa, nó tiếp tục tra hỏi tôi: "Được lắm, nếu tai tao không đánh lừa tao, thì mày là Jêxu, phải không? Ô-kê. Một câu hỏi nữa: mày giở cái ngón gì với những ngọn đèn đường và những ô kinh cửa số, mày làm thế nào? Đừng có quanh co. Chúng tao biết cả rồi."
 
Dĩ nhiên là chúng chẳng biết gì hết. Chúng đã chứng kiến một, hai chiến tích âm thanh của tôi, có thế thôi. Oskar tự nhủ mình không nên quá nghiêm khắc trong việc đánh giá lũ tiểu yêu này hay thiếu niên phạm pháp, theo cách gọi hiện nay. Cách hành động của chúng là tài tử, quá hăm hở, quá trực tiếp, nhưng trẻ con vẫn là trẻ con, tôi quyết định phải kiên nhẫn với chúng Vậy ra chúng là bọn Quét Bụi nổi tiếng mà ai ai cũng nhắc đến trong mấy tuần qua, cái băng mà cảnh sát và nhiều đội tuần tra Thanh niên Hitler đã ra sức truy tìm. Sau này mới vỡ ra chúng đều là học sinh các trường trung học Conradinum, Petri và Horst-Wassel. Có một nhóm Quét Bụi thứ hai ở Neufahrwasser chủ yếu gồm các thợ học việc ở xưỏng đóng tàu Schichau và nhà máy toa xe, nhưng cũng do học sinh cầm đầu. Hai nhóm hoạt động riêng rẽ và chỉ hợp tác vào những đêm lùng sục Công viên Steffens và đại lộ Hindenburg, mai phục bọn nhóm trưởng của Liên đoàn Thiếu nữ Đức từ các lớp học tối trở về nhà. Hai nhóm tránh đụng độ nhau; ranh giới lãnh thổ được phân định rõ ràng và Störtebeker coi tên trùm của nhóm Heufahrwasser là bạn chứ không phải kình địch. Bọn Quét Bụi chống lại tất cả. Chúng tấn công các trụ sở Đoàn Thanh niên Hitler, lột huân chương, huy chương của những gã lính đi phép mà chúng vớ được đang mần tình với gái ở công viên và, với sự hỗ trợ "tay trong" của các thành viên là bổ trợ quân Luftwaffe, ăn trộm vũ khí, đạn dược, xăng dầu của các đơn vị pháo phòng không. Nhưng dự định lớn, chủ yếu mà chúng nung nấu từ đầu là một cuộc tập kích tổng lực vào Phòng Phân phối Lương thực Thực phẩm.
 
Hồi ấy, Oskar chẳng biết gì về bọn Quét Bụi, về tổ chức và những kế hoạch của chúng, nhưng gã đang cô đơn, phiền muộn và ở giữa đám thiếu niên này, gã bỗng cảm thầy an toàn như trong gia đình. Bất chấp sự chênh lệch về tuổi tác - tôi sắp hai mươi - tôi đã thầm tự coi mình là một thành viên của nhóm. Tại sao, tôi tự nhủ, không trổ một ngón làm mẫu cho chúng thấy nghệ thuật của mày như thế nào? Tuổi trẻ bao giờ cũng ham học. Bản thân mày cũng đã từng có lần mười lăm, mười sáu tuổi. Hãy nêu gương cho chúng, hãy cho chúng thấy những thành quả của mày. Chúng sẽ kính trọng mày. Có thể chúng sẽ chọn mày làm lãnh tụ. Rồi cuối cùng, mày sẽ có thể gây ảnh hưởng để trí thông minh và kinh nghiệm của mày phát huy tác dụng; đây là cơ may cho mày tuân theo thiên hướng thu nạp môn đồ và tiếp bước Chúa Kirixitô.
 
Có lẽ Störtebeker linh cảm thấy sự suy tư của tôi thực sự có cơ sở. Nó để cho tôi có thì giờ suy nghĩ và tôi cảm ơn nó về điều đó. Một đêm sáng trăng cuối tháng tám. Loáng thoáng mây. Báo động phòng không. Hai ba ánh đèn pha tìm máy bay địch dọc bờ biển. Có lẽ một máy bay trinh sát. Quân ta vừa rút khỏi Paris. Trước mặt tôi, toà nhà chính của Xí nghiệp Sô-cô-la Baltic rất nhiều cửa sổ. Sau một cuộc rút lui dài, Tập đoàn quân trung tâm cố thủ bên bờ sông Vistula. Xí nghiệp Sô-cô-la Baltic không cung cấp cho thị trường bán lẻ nữa, toàn bộ sản lượng dành cho Luftwaffe. Oskar đang tập làm quen với ý nghĩ là lính của Tướng Patton vận quân phục Mỹ đang dạo chơi dưới chân Tháp Eiffel. Điều đó làm tôi đau lòng - Ôi! Những giờ hạnh phúc với Roswitha - và Oskar giơ một chiếc dùi trống lên. Störtebeker nhận thấy cử chỉ của tôi, nó nhìn theo cái dùi hướng về xí nghiệp sô-cô-la. Trong khi giữa thanh thiên bạch nhật, bọn Nhật Bản bị quét sạch khỏi một hòn đảo ở Thái Bình Dương, thì ở bên này trái đất, ánh trăng lấp lánh trên những cửa sổ của một nhà máy làm sô-cô-la. Và với tất cả những ai lắng tai nghe, Oskar nói: "Jêxu sắp hát cho thuỷ tinh vỡ vụn đây".
 
Trước khi tôi đập ba ô kính đầu tiên, tôi nghe thấy một con ruồi vo ve trên đầu tôi. Trong khi hai ô kính nữa giã từ ánh trăng, tôi nghĩ: con ruồi này chắc sắp chết nên mới vo ve to thế. Tiếp đó, tôi hát cho đen ngòm những khung cửa sổ còn lại của tầng trên cùng. Những tia đèn pha trắng bệch kia thật gớm ghiếc, tôi nghĩ thầm trước khi chùi sạch mọi phản quang (có lẽ từ khẩu đội pháo gần Trại Narvik) khỏi các cửa sổ của tầng một và tầng hai. Các khẩu đội ven biển khai hỏa và tôi hoàn tất công việc ở tầng hai. Lát sau, các khẩu đội ở Altschottland, Pelonken và Schellmuhl nổ súng theo. Thêm ba cửa sổ tầng trệt và máy bay tiêm kích cất cánh, rà thấp trên nhà máy. Trước khi tôi kết thúc tầng trệt, pháo phòng không ngừng để cho máy bay tiêm kích săn sóc một chiếc máy bay oanh tạc bị ba chùm đèn pha ở Oliva phát hiện cùng một lúc.

Thoạt đầu, Oskar sợ rằng những cố gắng ngoạn mục của pháo phòng không có thể làm phân tán sự chú ý của các bạn mới của tôi. Nhưng khi hoàn tất công việc, tôi vui mừng khôn xiết khi thấy cả bọn há hốc miệng ngắm những cải cách tôi mang lại cho xí nghiệp sô-cô-la. Ngay cả khi những tiếng vỗ tay và "hoan hô!" dậy lên từ Hohenfriedberger-Weg gần đấy như trong rạp hát vì chiếc máy bay oanh tạc đã bị bắn rơi và bốc cháy bên trên khu rừng Jeschkenthan, cũng chỉ có vài đứa, trong đó có Mát-Tít, ngoảnh mặt khỏi nhà máy bị lột hết kính cửa sổ. cả Störtebeker lẫn Ăn cắp Lửa - hai đứa này mới là đáng kể - đều không quan tâm gì đến chiếc máy bay oanh tạc bị hạ.
 
Một lần nữa, bầu trời lại vắng ngắt, chỉ còn vầng trăng và những vì sao vụn. Các máy bay tiêm kích đã hạ cánh. Từ rất xa, vắng lại tiếng xe cứu hoả. Störtebeker quay lại, phô cái vành miệng khinh khỉnh, và giơ nắm tay lên tháo chiếc đồng hồ, đưa cho tôi không nói một lời. Rồi nó thở dài, toan nói gì đó, song phải chờ còi báo yên tắt hắn. Cuối cùng, giữa những tiếng vỗ tay của thủ hạ, nó bật ra: "Ô- kê, Jêxu. Nếu cậu ưng thì bọn tớ kết nạp cậu vào băng. Chúng mình là những kẻ Quét Bụi, nếu điều ấy có ý nghĩa gì đối với cậu."
 
Oskar nhấc nhấc chiếc đồng hồ trong tay, một đồ vật xinh xẻo có cái mặt dạ quang và đôi kim chỉ hai mươi ba phút sau nửa đêm, và đưa nó cho Ăn cắp Lửa. Thằng này đưa mắt nhìn sếp, dò hỏi. Störtebeker gật đầu đồng ý. Chuyển cái trống sang một vị trí thuận tiện để cử hành khúc về nhà, Oskar nói: "Jêxu sẽ dẫn dắt các con. Hãy theo Người."
 
 
[...]
______
Chú thích:
[1] Tiếng La-tinh trong nguyên bản: Khốn khổ.
[2] Không quân Đức.
 
...! Tràn đầy mà rỗng lặng
Biển vô lượng thủy triều
Đường về tâm hết động
Tuyệt chiêu là vô chiêu !...

0
Cái Trống Thiếc - Günter Grass
 
Đã mang vào thư viện
 
Thành thật cảm ơn casau , galazyrulz, tducchau cùng  Ct.Ly đã tự  cuốn sách này
 
Cảm ơn tducchau đã hiệu định , CtLy cũng có sửa, nhg chắc vẫn còn sỏi, sạn nhiều
hy vọng sẻ sàn lọc tiếp [8D]
 
 
 
📎 ThankYouCard




1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.07.2016 18:11:46 bởi tducchau>
[...]
 
TRÒ CHƠI NÔ - EN
 
Dạo ấy, người ta nói nhiều đến vũ khí bí mật và thắng lợi cuối cùng. Băng Quét Bụi chúng tôi chẳng bàn bạc gì về cả hai đề tài đó, nhưng chúng tôi có vũ khí bí mật của mình.
 
Bước đầu tiên của Oskar sau khi tiếp nhận quyền lãnh đạo băng (gồm 30-40 thành viên) là bảo Störtebeker giới thiệu mình với Moorkähne, thủ lĩnh băng ở Neufahrwasser. Đó là một thiếu niên mười sáu tuổi, con trai một viên chức Phòng hoa tiêu ở Neufahrwasser; khuyết tật cơ thể - chân phải gã ngắn hơn chân trái khoảng hai xăngtimét - đã khiến gã không được tuyển quân dịch hoặc vào Bổ trợ quân Luftwaffe. Tuy hơi phô cái chân tập tễnh, nhưng Moorkähne lại là người rụt rè và nói năng nhỏ nhẹ, với một nụ cười tinh tế thường trực trên môi. Gã được coi là học sinh xuất sắc nhất lớp hết cấp của trường Conradinum. Gã hoàn toàn có triển vọng đỗ tú tài loại ưu, nếu quân đội Nga không phản đối; gã định sau đó sẽ học triết.
 
Cũng như Störtebeker mà tôi đã tranh thủ được sự tôn trọng hoàn toàn, Moorkähne công nhận tôi là Jêxu đứng đầu toàn băng Quét Bụi. Ngay lập tức Oskar yêu cầu cho xem kho chứa và quỹ chung, vì cả hai nhóm đều tập trung chiến lợi phẩm vào cùng một chỗ, căn hầm rộng rãi của một biệt thự yên tĩnh, sang trọng ở đường Jeschkenthaler thuộc khu Langfuhr. Ngôi nhà phủ đầy dây leo và trường xuân này là chỗ ở của ông bà Von Puttkamer, bố mẹ của Mát-Tít. Ông von Puttkamer, một quý tộc gốc Pomerania, Ba Lan và Phổ, huân chương Hiệp sĩ, đang viễn chỉnh ở nước Pháp tươi đẹp, chỉ huy một sư đoàn; bà Elisabeth von Puttkamer, mấy tháng gần đây, an dưỡng ở vùng cao nguyên Bavaria vì lý do sức khoẻ. Wolgang von Puutkamer, tên thật của Mát-Tít, được giao cho trông nom nhà; còn bà vú già nghễnh ngãng lo việc hầu hạ cậu chủ nhỏ, thì không bao giờ xuống đến dưới tầng trệt, và chúng tôi chẳng bao giờ trông thấy bà vì chúng tôi vào hầm qua lối phòng giặt.
 
Trong kho, chất đống các loại đồ hộp, thuốc lá sợi và nhiều dùi cui bằng vải dù. Treo ở một cái giá, là hai tá đồng hồ của quân đội mà Störtebeker ra lệnh cho Mát-Tít phải giữ cho chạy đúng giờ. Một nhiệm vụ khác của Mát-Tít là giữ cho hai khẩu súng liên thanh, một khẩu súng trường và các súng ngắn luôn luôn sạch bóng. Chúng còn cho tôi xem một khẩu ba-dô-ka, một lô đạn súng máy và hai mươi lăm quả lựu đạn. Tất cả những thứ đó và rất nhiều can xăng là để chuẩn bị cho cuộc tập kích vào Phòng Phân phối Lương thực Thực phẩm. Mệnh lệnh đầu tiên của Oskar-Jêxu là: "Chôn các loại súng và các can xăng trong vườn. Giao các dùi cui cho Jêxu. Chúng ta dùng vũ khí loại khác kia.
 
Khi bọn chúng đưa tôi xem một hộp xì-gà đựng đầy các huân chương, huy chương và huy hiệu ăn cắp được, tôi mỉm cười bảo chúng có thể giữ những thứ đó. Nhưng đáng ra tôi nên tịch thu loại dao của lính dù. Về sau, quả nhiên chúng dùng những lưỡi dao lắp vừa khít vào chuôi như thể chỉ cầu xin được phục vụ.
 
Rồi chúng đem hòm quỹ đến. Oskar bảo chúng đếm, rồi tự mình kiểm tra lại toàn bộ. Quỹ tiền mặt của Quét Bụi lên tới hai nghìn bốn trăm hai mươi reichmark. Đó là vào đầu tháng chín 1944. Đến giữa tháng giêng 1945, khi Koniev và Joukov [1] chọc thủng phòng tuyến sông Vistula, Mát-Tít thú nhận và chúng tôi buộc phải nộp quỹ của băng cho chính quyền. Ba mươi sáu nghìn reichmark được xếp thành từng chồng, từng bó trên chiếc bàn dài của Toà án Quận.
 
Đúng với bản chất của mình, trong mọi hoạt động, Oskar chỉ đứng ở hậu trường. Ban ngày, tôi đi ra ngoài, một mình hoặc cùng với Störtebeker, để kiếm những mục tiêu đáng đánh cho những cuộc ra quân đêm. Còn việc tổ chức thực tế, tôi giao cho Störtebeker hay Moorkähne. Sau khi đêm xuống, tôi không bao giờ ra khỏi căn hộ của Mamăng Truczinski. Phương pháp đó dẫn chúng tôi đến vũ khí bí mật. Tôi đứng ở phòng ngủ của mình, phóng giọng tới một tầm xa chưa từng thấy, nhằm vào vào những cửa sổ tận đầu đằng kia thành phố. Tôi huỷ diệt kính cửa của nhiều trụ sở Đảng, một xưởng in in các tem và thẻ phân phối lương thực-thực phẩm và một lần, miễn cưỡng chiều theo yêu cầu của các chiến hữu, phá tan những cửa sổ bếp của nhà một tay hiệu trưởng trường trung học đã xúc phạm họ.
 
Đó là vào tháng 11. Trong khi các rốc-két V-1 và V-2 bay sang Anh quốc, thì giọng tôi bay cao trên Langfuhr, dọc theo những hàng cây ở đại lộ Hindenburg, vượt qua Nhà ga Trung tâm và Khu phố cổ, tìm đến Viện Bảo tàng ở phố Hàng Thịt. Tôi đã lệnh cho quân của tôi vào đó kiếm bức tượng gỗ Niobe.
 
Họ kiếm không ra. ở phòng bên, Mamăng ngồi bất động, chỉ có cái đầu hơi lúc lắc. Cách nào đó, chúng tôi có một cái gì chung, bởi vì trong khi Oskar đang hát tầm xa thì bà bận bịu với những ý nghĩ tầm xa. Bà sục sạo Thiên đường của Chúa tìm con trai Herbert và chiến tuyến của Quân khu Trung tâm tìm con trai Fritz. Bà còn phải bay đến một nơi xa khác tìm con gái cả Guste lấy chồng hồi đầu năm 1944, rồi theo chồng về tít tận Düsseldorf vì đó là quê của trưởng bồi bàn Köster, mặc dù anh này phần lớn thời gian phải ở Courland. Guste chỉ được ở bên chồng cho quen hơi bén tiếng trong vỏn vẹn có hai tuần khi anh về phép.
 
Đó là những tối bình yên. Oskar ngồi dưới chân Mamăng Truczinski, ứng tấu một đoạn trên trống, lấy một quả táo nướng trong bếp lò rồi mang cái quả nhăn nhúm dành cho bà già và trẻ con ấy vào phòng ngủ. Gã nhấc lớp giấy che sáng phòng không ra, mở hé cửa sổ, để cho một chút đêm băng giá lọt vào, rồi nhằm mục tiêu và bắt đầu phóng giọng hát tầm xa. Gã không nhằm các vì sao, dải Ngân Hà không phải là đường đi của gã. Tiếng hát của gã hướng tới Quảng trường Winterfeld, không nhắm vào Đài Phát thanh, mà vào cái nhà hộp dùng làm trụ sở Quận của Đoàn Thanh niên Hitler.
 
Vào lúc trời quang đãng, công việc của tôi chỉ mất không đầy một phút. Trong thời gian đó quả táo của tôi đã nguội đi một chút bên cạnh cửa sổ mở hé. Tôi vừa nhai vừa quay lại với Mamăng Truczinski và cái trống của mình. Lát sau, tôi về giường, tin chắc rằng trong khi Oskar ngủ thì băng Quét Bụi, nhân danh Jêxu, đang vơ vét của cải của Đảng, lấy đi các thẻ phân phối thực phẩm, những con dấu, những mẫu đơn in sẵn hoặc danh sách đoàn viên của một đôi tuần tra Thanh niên Hitler.
 
Tôi rộng lượng cho phép Störtebeker và Moorkähne dùng giấy tờ giả để tiến hành nhiều vụ áp-phe gian lận. Kẻ thù số một của băng là Sở Tuần tra. Tôi không phản đối nếu họ ưng bắt cóc kẻ địch, quét bụi cho chúng và - nói theo cách của Ăn Cắp Lửa, người phụ trách loại hoạt động này - "đánh bóng chim" cho chúng một tí.
 
Vì tôi không trực tiếp tham gia các cuộc ra quân ấy (đó chỉ đơn thuần là khúc dạo đầu, qua đó khó bề hình dung ra những kế hoạch thực sự của tôi), nên tôi không thể nói chắc có phải băng Quét Bụi, vào tháng chín 1944, đã trói gô hai sĩ quan cao cấp của Sở Tuần tra, trong đó có tên Helmut Neitberg hung dữ, và dìm chết chúng ở sông Mottlau, mé trên cầu Bò Cái.
 
Tuy nhiên, với tư cách là người ra mệnh lệnh cho những kẻ Quét Bụi, tôi, Oskar-Jêxu, thấy cần phải bác bỏ một số chuyện được lan truyền sau đó: chẳng hạn chuyện băng Quét Bụi có liên lạc với bọn hải tặc Edelweiss ở Cologne hay du kích Ba Lan ở Tuchlerheide đã có ảnh hưởng đối với chúng tôi, thậm chí đã chỉ đạo những hành động của chúng tôi nữa. Tất cả những cái đó hoàn toàn là bịa đặt.
 
Tại phiên toà xử chúng tôi, người ta còn kết tội chúng tôi có dính líu đến vụ âm mưu ngày 20 tháng bảy vì cha của Mát-Tít, Agust von Puttkamerlaf, từng là người thân cận của Thống chế Rommel và đã tự sát. Từ khi bắt đầu cuộc chiến, Mát-Tít chỉ gặp cha không quá năm, sáu lần và mỗi lần chỉ vừa đủ lâu để nó quen với sự thay đổi phu hiệu cấp bậc trên quân phục của ông. Mãi tới khi chúng tôi bị ra toà, nó mới lần đầu tiên nghe nói đến sự khờ dại của vị sĩ quan đó, mà thật tình chúng tôi chẳng hề quan tâm. Khi nghe vậy, nó khóc thảm hại đến nỗi Ăn Cắp Lửa, ngồi kề bên, phải quét bụi nó ngay trước mặt các quan toà.
 
Trong quá trình hoạt động của chúng tôi, chỉ có độc một lần người lớn tiếp cận chúng tôi. Một số công nhân đóng tàu - đảng viên cộng sản, tôi chỉ liếc nhìn một cái là biết ngay - tìm cách gây ảnh hưởng với chúng tôi qua các thợ học việc của xưởng đóng tàu Schichau trong băng chúng tôi và biến chúng tôi thành một phong trào đỏ bí mật. Đám thợ học việc có phần ngả theo. Nhưng cánh học sinh trung học trong chúng tôi khước từ mọi khuynh hướng chính trị. Me-xừ, bổ trợ quân Luftwasse, cây lý luận khuyển nho của băng chúng tôi, tuyên bố quan điểm của mình trong một cuộc họp băng như sau: "Chúng ta chẳng dinh dáng gì với các chính đảng cả. Chúng ta đấu tranh chống cha mẹ chúng ta và tất cả những người lớn khác, bất kể họ ủng hộ hay chống cái gì."

Đúng là nó dùng lời lẽ hơi quá mạnh, nhưng cả đám học sinh đều đồng ý; kết quả là đi đến chỗ phân liệt. Đám thợ học việc đóng tàu tách ra lập một câu lạc bộ riêng - tôi rất buồn vì đó là những gã rất tốt. Bất chấp sự phản đối của Störtebeker và Moorkähne, họ vẫn tiếp tục lấy tên là Quét Bụi. Tại phiên toà - bọn họ bị bắt cùng lúc với bọn tôi - họ bị khép tội đã đốt cái tàu-ngầm-trường-huấn-luyện ở trong lưu vực của xưởng đóng tàu. Hơn một trăm học sinh sĩ quan đã chết thảm khốc. Đám cháy bùng ra ở trên boong; đoàn thuỷ thủ bị mắc kẹt và khi các học sinh sĩ quan - những thanh niên mười tám đôi mươi - tìm cách thoát thân qua những lỗ bên sườn tàu, hông họ không lọt và lửa bắt vào họ từ phía sau; họ cứ chới với ở đó mà la thét và cách duy nhất để chấm dứt đau đớn cho họ là đưa một cái xuồng máy đến xả súng vào họ.
 
Chúng tôi không liên quan gì đến vụ cháy đó. Có thể là đám thợ học việc ở Schichau, cũng có thể là Hội Westerland. Băng Quét Bụi không phải là những kẻ đốt nhà mặc dù tôi, người dẫn dắt tinh thần của họ, có thể thừa kế một chút gien phóng hỏa từ ông ngoại Koljaiczek.
 
Tôi nhớ rõ người thợ cơ khí đến gặp chúng tôi ở hầm kho ít lâu trước khi băng tách đôi - hắn ta vừa từ xưởng Deutsche Werke ở Kiel chuyển tới Schichau. Erich và Horst Pietzger, hai con trai của một công nhân bốc dỡ ở Fuchswall, dưa hắn ta đến. Hắn ta xem xét kho của chúng tôi với một vẻ chuyên nghiệp, lấy làm tiếc là không có vũ khí tiện dụng, nhưng rồi cũng nặn ra vài lời khen ngợi miễn cưỡng. Khi hắn ta ngỏ ý muốn nói với sếp, Moorkähne hơi ngần ngừ còn Störtebeker thì dứt khoát chỉ sang tôi. Thế là hắn bật ra một tràng cười xấc xược và kéo dài đến nỗi Oskar gần như muốn ra lệnh cho anh em quét bụi hắn một trận.
 
"Các cậu gọi cái chú lùn này là gì?" hắn nói với Moorkähne, ngón tay cái chĩa qua vai về phía tôi.
 
Moorkähne mỉm cười, rõ ràng là bối rối. Trước khi cậu ta kịp nghĩ ra điều gì để nói, Störtebeker trả lời với một vẻ điềm tĩnh dễ sợ: "Đó là Jêxu của chúng tôi."
 
Đến đây thì tay thợ cơ khí tên là Walter này hết chịu nổi; hắn tự cho phép mình lăng mạ chúng tôi ngay tại sở chỉ huy của chúng tôi. "Này, các cậu là những người cách mạng hay một bầy trẻ trong ban hát nhà thờ chuẩn bị làm một trò chơi Nô-en?"
 
Lưỡi của một con dao lính dù bật ra từ ống tay áo Störtebeker; gã mở cửa hầm, ra hiệu cho Ăn Cắp Lửa và nói, với băng mình hơn là với tay thợ cơ khí: "Chúng ta là ban hát nhà thờ và chúng ta đang chuẩn bị cho một trò chơi Nô-en."
 
Nhưng không có gì hung bạo xảy ra cho tay thợ cơ khí cả. Hắn bị bịt mắt và dẫn đi khỏi. ít ngày sau, chính cái tay Walter này tổ chức các thợ học việc đóng tàu thành một câu lạc bộ riêng và tôi dám chắc chính họ đã phóng hỏa đốt con tàu-ngầm- trường-huấn-luyện.
 
Theo quan điểm của tôi, Störtebeker đã có câu trả lời đúng. Chúng tôi không quan tâm đến chính tri; Sau khi đã làm cho bọn tuần tra thuộc Đoàn Thanh niên Hitler sợ vãi đái, đến mức hầu như không dám rời trụ sở, trừ một vài lần ra xét giấy bọn gái lẳng lơ lảng vảng ở ga xe lửa, chúng tôi bèn chuyển diện hoạt động sang các nhà thờ và bắt đầu - như tay thợ cơ khí cộng sản nói - chuẩn bị những trò chơi Nô-en.
 
Trước hết, chúng tôi phải lo bổ sung lực lượng thay thế đám thợ học việc bị tha hóa. Cuối tháng mười, Störtebeker kết nạp hai anh em Felix và Paul Rennwand, cả hai đều là thành viên ban đồng ca của Nhà thờ Thánh Tâm. Störtebeker đã làm quen với hai cậu này qua Lucy, cô em gái mười sáu tuổi của họ. Bất chấp sự phản đối của tôi, Lucy đã được phép dự lễ tuyên thệ kết nạp. Đặt tay trái lên cái trống của tôi - mà hai chàng lãng mạn này ưa coi như một thứ biểu tượng - anh em nhà Rennwand nhắc lại lời thề trung thành, một bài văn ngớ ngẩn đầy từ ngữ hẩu lốn, bí ẩn đến nỗi tôi không tài nào nhớ nổi.
 
Oskar quan sát Lucy trong lễ tuyên thệ. Một miếng xăng-đuých hơi rung rung trong tay, cô ta nhún vai và cắn môi dưới: Bộ mặt cáo ba góc của cô ta trống trơn vô biểu cảm, đôi mắt xoáy vào lưng Störtebeker. Tự dưng tôi bỗng thấy lo cho tương lai của băng Quét Bụi.
 
Chúng tôi bắt đầu trang hoàng lại căn hầm. Với sự cộng tác chặt chẽ của anh em Rennwand, từ căn hộ của Mamăng Truczinski tôi chỉ đạo việc kiếm trang thiết bị. Chúng tôi lấy của điện Nữ thánh Catherine một tượng Joseph thế kỷ 16 nửa cỡ (sau đó, qua giám định thì đúng là đồ "gin"), mấy đài nến, nhiều bình, ly thờ các loại và một cờ Minh Thánh Chúa. Một cuộc thăm viếng Nhà thờ Chúa Ba Ngôi vào ban đêm mang lại cho chúng tôi một tượng gỗ thiên thần thổi kèn không mấy giá trị về nghệ thuật và một bức thảm màu sao lại một bản gốc cổ, trên đó dệt hình một cô nàng rất yểu điệu thục nữ và giả dối và một con vật huyền thoại gọi là kỳ lân phủ phục dưới chân nàng. Nụ cười của nàng, như Störtebeker nhận xét, có gì na ná như cái vẻ đùa cợt nanh ác bao trùm bộ mặt cáo của Lucy và tôi mong rằng người phụ tá của tôi đừng để cô ta khuất phục như con kỳ lân kia. Chúng tôi treo bức thảm lên mảng tường cuối căn hầm, trước đó được trang trí bằng những thứ vớ vẩn như "Đầu Tử Thần", "Bàn Tay Đen" v.v... và chẳng bao lâu cái môtip kỳ lân dường như trở thành chủ đạo trong mọi cuộc thảo luận của chúng tôi. Trong khi đó, Lucy cứ thoải mái giữa chúng tôi như ở nhà mình, cười mũi sau lưng tôi, muốn đến lúc nào thì đến, muốn đi lúc nào thì đi. Tại sao, tôi tự hỏi, tại sao chúng ta lại phải rước về thêm một cô Lucy thứ hai, cái cô Lucy dệt này; cả hai đang biến những phụ tá của mày thành những con kỳ lân; dù thật hay dệt, cả hai đều đang nhằm vào mày, Oskar, là chính, bởi vì trong toàn băng Quét Bụi, chỉ mình mày là thực sự huyền thoại và duy nhất, mày là người kỳ lân.
 
Nhưng rồi Mùa Vọng tới và đó là dịp làm ăn tốt cho chúng tôi. Chúng tôi bắt đầu thu gom các tượng về đề tài Giáng sinh từ khắp các nhà thờ trong vùng và chẳng bao lâu, chúng che lấp bức thảm đến nỗi ảnh hưởng của câu chuyện huyền thoại bị chìm đi - hoặc là tôi nghĩ thế. Giữa tháng 12, Rundstedt mở cuộc tấn công ở vùng núi Ardennes và chúng tôi cũng hoàn tất việc chuẩn bị cho Cú Đòn lớn của mình.
 
Mấy chủ nhật liền, tôi dự buổi lễ chầu mười giờ cùng với Maria giờ đây đã hoàn toàn đắm mình vào Thiên Chúa giáo, khiến Matzerath rất buồn. Theo lệnh của tôi, anh em trong băng Quét Bụi cũng thường xuyên đi lễ nhà thờ. Đó là cách thám thính trận địa của chúng tôi. Cuối cùng, đêm 18 tháng chín, chúng tôi đột phá vào Nhà thờ Thánh Tâm. "Đột phá" là một cách nói thôi vì nhờ hai anh em Rennwand, thành viên ban hát lễ, chúng tôi chẳng cần phải phá gì cả. Thậm chí Oskar cũng không lần nào phải cất giọng để đập thuỷ tinh.
 
Đêm ấy có mưa tuyết, nhưng tuyết vừa rơi đã tan liền. Bọn tôi dúi ba chiếc xe ba gác đằng sau phòng để đồ lễ. Rennwand-em có chỉa khóa cửa chính. Oskar vào trước, dẫn các chiến hữu lần lượt đến trước bồn nước thánh và bảo họ quỳ gối hướng về ban thờ chính. Rồi ra lệnh lấy tấm mền đánh cắp ở Sở Lao động phủ lên pho tượng Thánh Tâm để Chúa Kirixitô khỏi cản trở công việc của chúng tôi bằng cái nhìn xanh lơ của Người. Choi-Choi và Me-xừ mang dụng cụ đến khu vực hành động - ban thờ bên trái. Phải dọn sạch cái máng cỏ với những tượng Giáng sinh cùng những cành thông xanh cho khỏi vướng. Chúng tôi đã có các mục đồng và thiên thần, cừu, lừa và bò đủ số cần thiết. Căn hầm của chúng tôi ê hề vai chạy cờ, chỉ thiếu những nhân vật trung tâm. Belisarius cắt bỏ hoa khỏi ban thờ. Totila và Teja cuộn tấm thảm lại. Ăn cắp Lửa giở gói đồ nghề. Quỳ sau một cái ghế nguyện, Oskar giám sát các công đoạn.
 
Đầu tiên là phải cưa rời chú bé Jean Baptiste quấn tấm da thuộc màu sô-cô-la ra khỏi bệ. May sao chúng tôi lại có cái cưa kim khí vì bên trong lớp thạch cao có cốt sắt to bằng ngón tay nối liền chú ta với đám mây. Ăn cắp Lửa làm nhiệm vụ cưa. Nó thực thi việc này như một nhà trí thức, nghĩa là rất vụng về. Một lần nữa, tôi lại cảm thấy tiếc các tay thợ học việc ở xưởng đóng tàu Schichau. Störtebeker thay phiên Ăn cắp Lửa. Gã có khéo hơn một chút và sau nửa tiếng đồng hồ kẽo kẹt, chúng tôi ngả được Jean xuống và bọc cu cậu vào một cái chăn len. Rồi chúng tôi thỗ hổn hển một lúc trong im lặng giáo đường lúc nửa đêm.
 
Việc cưa rời Chúa Jêxu hài đồng mất nhiều thời gian hơn một chút vì cả cặp mông dính vào đùi Đức Mẹ Đồng Trinh. Choi-Choi, Rennwand-anh và Sư Tử Tâm hì hục cả bốn mươi phút đồng hồ. Nhưng Moorkähne đâu nhĩ? tôi tự hỏi. Cậu ta đã đề xuất ý kiến là sẽ đưa quân từ Neufahrwasser đến thẳng nhà thờ gặp chúng tôi, như vậy sẽ đỡ thu hút sự chú ý hơn. Störtebeker có vẻ bồn chồn và bực bội. Mấy lần gã hỏi anh em Rennwand về Moorkähne. Khi, cuối cùng, như tất cả chúng tôi đều chờ đợi, cái tên Lucy được thốt ra, thì Störtebeker không hỏi gì nữa mà giựt phắt cái cưa kim khí từ đôi tay lóng ngóng của Sư Tử Tâm và cưa như điên, giáng coup de grace [2] cho Chúa Jêxu hài đồng.
 
Khi ngả Jêxu xuống, vòng hào quang trên đẩu bị vỡ. Störtebeker xin lỗi tôi. Khó khăn lắm mới tự kiềm chế được - vì bản thân tôi cũng bị lây tâm trạng bực bội chung - tôi bảo anh em nhặt những mảnh vỡ gom vào hai cái mũ cát-két. Ăn cắp Lửa cho rằng vòng hào quang có thể gắn lại được. Jêxu được gói trong mền có gối đệm.

Kế hoạch của chúng tôi là cưa Đức Mẹ Đồng Trinh ở chỗ eo, làm một nhát cắt thứ hai giữa đám mây và gan bàn chân của Người. Chúng tôi sẽ để đám mây lại nguyên chỗ, chỉ lấy đi những hình người: Jêxu, hai nửa của Đức Mẹ Đồng Trinh và chú bé Jean Baptiste, nếu còn chỗ trong một chiếc xe ba-gác. Chúng tôi lấy làm mừng khi thấy các bức tượng nhẹ hơn chúng tôi chờ đợi. Cả nhóm tượng đều được đổ rỗng. Thành tượng không dày quá hai phân và phần nặng duy nhất là cốt sắt.
 
Anh em đều mệt nhoài, nhất là Ăn Cắp Lửa và Sư Tử Tâm. Phải tạm ngừng công việc cho họ nghỉ một chút vì những người khác, kể cả anh em nhà Rennwand, không biết cưa. Mọi người ngồi run rẩy trên những ghế nguyện, Störtebeker đứng vò nhàu chiếc mũ nhung mà gã đã cất khỏi đầu khi bước vào nhà thờ. Tôi không thích cái không khí này. Phải làm một cái gì. Anh em đang bị tác động bởi kiến trúc tôn giáo đầy khoảng trống và đêm tối. Một số băn khoăn về sự vắng mặt của Moorkähne. Anh em Rennwand có vẻ sợ Störtebeker; họ đứng né một bên thì thầm cho đến khi Störtebeker ra lệnh cho họ im.
 
Tôi thở dài và từ từ đứng dậy khỏi chiếc đệm lót đầu gối, đi thắng đến chỗ Đức Mẹ Đồng Trinh vẫn đang ở nguyên chỗ cũ. Mắt Người, vừa nãy hướng về Jean, giờ nhìn xuống những bậc ban thờ trắng xóa bụi thạch cao. Ngón trỏ bên tay phải, ít phút trước vẫn còn chỉ Jêxu, giờ chĩa vào khoảng không, hay đúng hơn vào lối đi bên trái tối om của gian giữa. Tôi lên từng bậc một, rồi ngoái lại, tìm cách thu hút sự chú ý của Störtebeker. Đôi mắt sâu của gã đang ở tận đâu đâu. Mãi tới khi Ăn Gắp Lửa hích gã một cái, gã mới nhìn tôi nhưng vói một vẻ thiếu tự tin mà tôi chưa bao giờ thấy ở gã. Thoạt đầu, gã chưa hiểu ý tôi, rồi gã hiểu ra, hoặc hiểu một phần và chậm rãi, rất chậm rãi tiến lên. Nhưng đến các bậc ban thờ thì gã nhảy có một bước rồi nhấc bổng tôi đặt lên vết cưa vụng về trăng trắng, lòm xờm trên đùi Đức Mẹ Đồng Trinh, khuôn gần đúng hình mông Chúa hài đồng Jêxu.
 
Störtebeker lập tức quay lại và chỉ một bước, gã đã đứng trên sàn đá lát. Suýt nữa gã lại buông mình vào trạng thái mơ mộng lúc nãy, nhưng rồi gã tự lay mình dậy và nheo mắt lại. Cũng như số còn lại ngồi rải rác ở các ghế nguyện, gã không giấu nổi xúc động khi thấy tôi ngồi hết sức tự nhiên vào chỗ của Jêxu, sẵn sàng cho thiên hạ thờ phụng.
 
Gã nhanh chóng hiểu ra ý đồ của tôi và còn đẩy thêm lên nữa. Gã ra lệnh cho Narses và Râu Xanh chiếu mấy chiếc đèn bấm quân đội vào tôi và Đức Mẹ Đồng Trinh. Thấy ánh sáng trắng làm tôi lóa mắt, gã bảo họ dùng tia đỏ. Rồi gã gọi hai anh em Rennwand đến và thì thầm hội ý với họ một lúc. Thấy họ chần chừ không muốn làm theo lời Störtebeker, Ăn Cắp Lửa tiến lại và giơ những khớp ngón, sẵn sàng quét bụi. Hai anh em nhượng bộ và biến vào trong nhà để đồ lễ cùng với Ăn Cắp Lửa và Me-xừ. Oskar bình tĩnh chờ, dịch cái trống vào vị trí và không hề ngạc nhiên khi anh chàng Me-xừ cao lêu đêu trở ra trong bộ áo tế theo sau là hai anh em Rennwand trong trang phục trắng-đỏ của ban đồng ca. Ăn Cắp Lửa mặc đồ cha xứ mang ra tất cả những thứ cần thiết cho một buổi lễ chầu, đặt lên đám mây rồi rút lui. Rennwand-anh mang bình hương, Me-xừ bắt chước Cha Wielnhke khá giống. Mới đầu, còn pha chất trâng tráo học sinh vào, nhưng rồi bốc đồng lên bởi lời lẽ và động tác, Me-xừ cho chúng tôi, nhất là bản thân tôi, thưởng thức không phải là một kiểu nhái ngớ ngẩn, mà là một lễ Mi-xa hẳn hoi mà ngay cả tại phiên toà xử chúng tôi, người ta vẫn nhất quán gọi là một lễ Mi-xa, dĩ nhiên là lễ đen.
 
Ba gã bắt đầu bằng bài kinh ở chân ban thờ; quân ta ở các ghế nguyện và trên sàn đá lát quỵ gối và làm dấu thánh giá và Me-xừ, đã tương đối thuộc lời nguyện, bắt đầu hành lễ với sự hỗ trợ thành thạo của hai thành viên ban đồng ca. Tôi bắt đầu dạo trống khẽ khàng vào bài Nhập lễ, nhưng rồi mạnh hơn khi sang bài Kyrie. Gloria in excelsis Dea - tôi ngợi ca Chúa Lời trên trống, kêu gọi giáo đoàn đến cầu nguyện, thay phần Thánh Thư bằng một đoạn solo trống. Bài Halleluia của tôi thành công mỹ mãn. Đến bài Credo, tôi nhận thấy là anh em đặt lòng tin vào tôi. Sang phần Cúng, tôi ghìm nhỏ tiếng trong khi Me-xừ dâng bánh mì và hòa rượu vang với nước. Chia sẻ khói hương với ly rượu thánh, tôi quan sát Me-xừ rửa tay ra sao. Orate, fratres, tôi dạo trống trong ánh sáng đỏ của đèn bấm, rồi đến phần lễ Thánh Thể. Đây là Thân Thể của Ta. Or emus, Me-xừ hát, đáp lại lời thánh từ trên trời - anh em ở các hàng ghế nguyện đọc hai dị bản khác nhau của kinh kính mừng Cha Chúng Ta, còn Me-xừ thì dung hoà Tin Lành và Thiên Chúa trong một lễ Thánh Thể. Trống tôi bắt vào kinh Xám Hối. Đức Mẹ Đồng Trinh chỉ ngón tay vào Oskar người đánh trống. Quả là tôi đã kế tục thành công Chúa Kirixltô. Lễ Mi-xa tiến hành rất trôi chảy. Giọng Me-xừ lên lên xuống xuống trầm bổng.
 
Gã đọc lời ban phước mới tuyệt làm sao: tha thứ, khoan dung và xá tội. "Ite, missa est - Đi đi, cho con lui." Khi những tiếng cuối cùng ấy vang lên trong âm u của nhà thờ, tất cả chúng tôi - tôi tin thế - đều cảm thấy một sự giải phóng tâm linh; cánh tay thế tục không thể cầm tù một cộng đồng Quét Bụi đã được Oskar và Jêxu ban lễ Thánh Thể.
 
Trong lúc hành lễ, tôi đã nghe thấy tiếng ô-tô và Störtebeker cũng đã ngoảnh đầu lại. Chỉ có hai chúng tôi là không ngạc nhiên khi có tiếng người lao xao và tiếng gót giày nặng nề tiến về phía chúng tôi từ cửa trước, cửa nách và nhà để đồ lễ.
 
Störtebeker định nhấc tôi khỏi đùi Đức Mẹ Đồng Trinh. Tôi xua tay. Gã hiểu ý, gật đầu và ra lệnh cho anh em cừ quỳ như cũ. Mọi người ai ở chỗ nấy, run rẩy đợi cảnh sát đến. Một số mất thăng bằng, có cậu khuỵu cả hai gối, nhưng vẫn im lặng đợi cho đến khi bọn cớm, chia làm ba tốp vây quanh ban thờ bên trái.
 
Cảnh sát cũng chiếu đèn bấm, nhưng không dùng tia đỏ. Störtebeker đứng dậy, làm dấu thánh giá, tiến vào giữa vùng sáng, đưa chiếc mũ nhung cho Ăn Cắp Lửa vẫn đang quỳ. Đi vòng thật nhanh qua một cái bóng béo phị không cầm đèn bấm - Cha Wiehnke - Störtebeker túm lấy một cáí bóng khác gầy mảnh, nó giãy giụa, cố tự vệ - Lucy Rennwand. Gã tát và đấm túi bụi vào bộ mặt ba góc nhăn nhó dưới chiếc mũ bê-rê cho đến khi một cú đòn của một cảnh sát quật gã lăn vào giữa hàng ghế nguyện.
 
Vẫn vắt vẻo trên đùi Đức Mẹ Đồng Trinh, tôi nghe thấy một tên cớm kêu lên: "Lạy Chúa, Jeschke, đó là con trai của sếp!"
 
Oskar cảm thấy khá mãn nguyện khi được biết người phụ tá xuất sắc của mình là con trai viên chánh cẩm. Rồi không hề chống cự, tôi vào luôn vai một thằng bé lên ba khóc thút thít vì bị bọn găngxtơ dụ dỗ. Tôi chỉ muốn được dỗ dành và che chở. Cha Wiehnke bế tôi lên.
 
Tất cả đều im lặng trừ đám cảnh sát. Các thành viên Quét Bụi được giải đi. Cha Wiehnke chóng mặt, phải ngồi xuống, nhưng trước đó Cha đặt tôi xuống sàn, gần chỗ đám đồ nghề của chúng tôi. Đằng sau những búa và xà beng, tôi thấy một giỏ đầy xăng- đuých do Choi Choi chuẩn bị từ trước khi chúng tôi ra quân.
 
Tôi cầm lấy cái giỏ, đi đến chỗ Lucy đang run rẩy trong chiếc áo mỏng, và đưa cho cô ta mớ xăng-đuých. Cô ta bế hai chúng tôi lên (tức là Oskar và cái giỏ). Lát sau, một miếng xăng-đuých nằm giữa hai hàm răng cô. Tôi nhìn kỹ bộ mặt đỏ bừng bị đánh sưng vù: đôi mắt liên láo giữa hai cái khe thâm quầng, một cái hình tam giác đang nhai, một con búp-bê, một mụ phù thuỷ độc ác ngấu nghiến xúc xích và càng ăn càng gầy đét, càng đói, càng chành ba góc, càng giống búp-bê. Hình này in dấu đậm trong tôi. Ai sẽ xóa cái hình tam giác ấy khỏi tâm trí tôi? Nó sẽ sống trong tôi bao lâu nữa, nhai xúc xích, nhai người và phô cái nụ cười mà chỉ những hình tam giác hoặc những nàng thuần phục kỳ lân trên tranh thảm mới có thể cười như thế.
 
Trong khi bị hai thanh tra cảnh sát điệu đi, Störtebeker quay bộ mặt bê bết máu về phía Lucy và Oskar. Tia mắt tôi vượt qua gã, có nghĩa không nhìn vào gã. Tôi không công nhận gã nữa. Khi tất cả bọn mới đây còn là môn đồ của tôi đã đi khỏi, tôi cũng được đưa đi, vẫn trên tay cô ả Lucy nhồm nhoàm nhai xăng-đuých.
 
Còn ai ở lại? Cha Wiehnke giữa hai cây đèn bấm của chúng tôi, vẫn chiếu tia đỏ, và những áo lễ mà Cha Me-xừ cùng những người phụ lễ đã trút vội trút vàng xuống đất. Ly và bình đựng rượu thánh nằm trên những bậc dẫn lên ban thờ. Jean và Jêxu bị cưa rời ra vẫn đó bên cạnh Đức Mẹ Đồng Trinh mà chúng tôi định mang về làm đối trọng với cô nàng dắt kỳ lân trong hầm tổng hành dinh của chúng tôi.
 
Oskar được đưa ra xử ở một phiên toà mà tôi vẫn gọi là vụ án Jêxu lần hai, một phiên toà kết thúc bằng việc tha bổng Oskar, do đó cũng là tha bổng Jêxu.
 
[...]
______
Chú thích:
[1] Hai tướng lĩnh nổi tiếng của Hồng quân Liên Xô trong Thế Chiến II.
[2] Tiếng Pháp trong nguyên bản: phát súng/đòn kết liễu.
 
...! Tràn đầy mà rỗng lặng
Biển vô lượng thủy triều
Đường về tâm hết động
Tuyệt chiêu là vô chiêu !...

0
ĐOÀN VĂN CÔNG TIỀN TUYẾN BEBRA
Giữa tháng 6/1942, Kurt con trai tôi tròn một tuổi. Oskar, cha nó, có phần xem nhẹ kỳ sinh nhật này; để hai năm nữa đã, gã nghĩ bụng. Tháng 10-1942, Greff, chủ hiệu rau quả, tự treo mình trên một cái giá được chế tác thần tình đến nỗi từ đó trở đi, tôi, Oskar đây, luôn luôn coi tự vẫn là một trong những hình thức chết cao quý nhất. Tháng Giêng 1943, khắp thành phố xôn xao bàn tán về Stalingrad. Nhưng vì Matzerath nói tên thành phố này với cái giọng y hệt như khi nhắc đến Pearl Harbor, Tobruk và Dunkerque trước đây, nên những sự việc diễn ra ở đó chẳng làm tôi chú ý gì hơn những chuyện ở các thành phố khác mà tôi đã quen tên nhờ những thông cáo đặc biệt; bởi lẽ những thông cáo và bản tin của Wehrmacht[1] đã trở nên một thứ giáo trình địa lý đối với Oskar. Nếu không thì làm sao tôi biết được những con sông Kuban, Mius, Kiska và Adak trong quần đảo Aleutian tường tận hơn những bài bình luận trên đài về những sự kiện ở Viễn Đông? Như vậy, vào tháng Giêng 1943, tôi học được là thành phố Stalingrad ở bên bờ sông Volga; nhưng tôi không hề quan tâm đến số phận của Quân đoàn VI mà chỉ lo cho Maria hồi đó đang bị cúm nhẹ.
Trong khi cơn cúm của Maria rút dần, những bài học địa lý vẫn tiếp tục trên đài: cho đến nay, Oskar vẫn có thể nhắm mắt mà định vị ngay ra Rzev và Demyansk trên bất cứ bản đồ Nga Xô-viết nào. Maria vừa khỏi, lại đến Kurt con trai tôi bị ho gà. Trong khi tôi phấn đấu để ghi lại trong bộ nhớ những cái tên lủng cà lủng củng của mấy ốc đảo đang bị tranh chấp dữ dội của Tunisie thì chứng ho gà của Kurt chấm dứt đồng thời với số phận của Afrika Korps.
Ôi, tháng năm vui vẻ: Maria, Matzerath và Gretchen Scheffler chuẩn bị cho sinh nhật lần thứ hai của bé Kurt. Oskar cũng rất quan tâm đến cuộc lễ mừng sắp tới; bởi vì tính từ 12/6/1943, sẽ chỉ còn có một năm ngắn ngủi thôi. Nếu hôm sinh nhật lần thứ hai của Kurt, tôi có mặt, tôi sẽ nói nhỏ vào tai con trai tôi rằng: “Ráng chờ nhé, chẳng bao lâu con cũng sẽ đánh trống” Nhưng nào ngờ vào hôm 12/6/1943, Oskar lại không còn ở Danzig-Langfuhr nữa, mà ở Metz, một thành phố cổ do người La Mã dựng nên. Sự vắng mặt này kéo dài đến nỗi Oskar phải khó khăn lắm mới trở về thành phố quê hương vào ngày 12/6/1944, vừa kịp sinh nhật lần thứ ba của Kurt và trước khi xảy ra những cuộc không kích lớn.
Công chuyện gì đã khiến tôi phải đi xa? Tôi sẽ không vòng vo. Tôi đã gặp sư phụ Bebra của tôi bên ngoài trường Pestalozzi, giờ đã thành một doanh trại không quân. Nhưng chỉ một mình Bebra ắt đã không thuyết phục nổi tôi ra ngoài nước. Khoác tay Bebra là Raguna, Signora Roswitha, nghệ sĩ mộng du vĩ đại.
Oskar từ Kleinhammer-Weg đến thăm Gretchen Scheffler và đã đọc lướt cuốn Chiến đấu vì Roma, qua đó đã khám phá ra rằng ngay từ thời Belisarius, lịch sử đã có những thăng trầm, ngay từ hồi đó, người ta đã ăn mừng hoặc sầu than những chiến thắng hoặc thất bại trên sông và các thành phố trên phạm vi địa lý rộng lớn.
Tôi đi qua đồng cỏ Fröbel, nơi mấy năm qua đã biến thành một khu trại của Tổ chức Todt[2]; tôi đang nghĩ về Taginae – tại đây, năm 552, Narses[3] đã đánh bại Totila – nhưng không phải chiến thắng lái dòng suy nghĩ của tôi hướng về Narses, vị tướng tài gốc Armenia; không, điều tôi quan tâm là vóc dáng của vị tướng này; Narses là một người dị dạng, lưng gù, Narses nhỏ bé dưới mức bình thường, một chú lùn, một gã tí hon. Có lẽ Narses cao hơn Oskar một cái đầu trẻ con, tôi nghĩ thầm. Lúc đó tôi đang đứng bên ngoài trường Pestalozzi. Háo hức muốn tìm cái để so sánh, tôi đưa mắt nhìn những tấm huy hiệu của mấy tay sĩ quan không quân lớn quá nhanh.
Chắc chắn, Narses không đeo huy hiệu gì hết, tôi tự bảo, ông đâu có cần. Và kia, ngay giữa cổng chính vào trường, đích thân vị tướng đang đứng, khoác tay một nàng – tại sao Narses lại không thể khoác tay một nàng? Họ bước về phía tôi, lọt thỏm bé xíu giữa đám sĩ quan không quân khổng lồ, tuy nhiên họ vẫn là mấu chốt và trung tâm, quanh họ ngời lên một vòng hào quang của lịch sử và huyền thoại, họ già như những trái đồi giữa đám yêng hùng phi công non choẹt – có nghĩa lý gì cái trại đầy những Totila và Teja này, đầy những gã sếu vườn người Đông Gôtích bên cạnh một mình chú lùn người Armenia tên là Narses? Bằng những bước từ tốn, Narses tiến lại gần Oskar; ông vẫy tay ra hiệu và cả công nương khoác tay ông cũng làm thế. Đám phi công kính cẩn né ra nhường đường. Bebra và Signora Roswitha Raguna chào tôi. Tôi ghé môi vào sát tai Bebra, thì thầm: “Thầy thân yêu, em cứ tưởng thầy là tướng quân Narses vĩ đại. Em đánh giá ông ta cao hơn anh chàng lực sĩ Belisarius[4] nhiều”.
Bebra khiêm nhường xua tay khước từ lời ca ngợi. Nhưng Raguna thì lại khoái sự so sánh của tôi. Đôi môi nàng mấp máy mới dễ thương làm sao khi nàng nói: “Kìa, Bebra, amico trẻ của chúng ta nói đâu có sai? Chẳng phải là dòng máu của Hoàng tử Eugene vẫn chảy trong huyết quản anh đó sao? Elodovico quattor dicesimo? Ngài chẳng phải là ông tổ của anh sao?”
Bebra nắm lấy cánh tay tôi, kéo riêng ra một chỗ vì cánh không quân cứ ngắm nghía chúng tôi, nhìn chòng chọc đến phát phiền, chẳng khác một con chó nhìn miếng dồi. Sau khi một trung uý rồi hai trung sĩ chào Bebra theo kiểu nhà binh – sư phụ tôi đeo lon đại uý và trên cánh tay một dải băng với dòng chữ “Đội tuyên truyền” – sau khi mấy phi công xin được chữ ký của Raguna – Bebra vẫy người tài xế lái chiếc xe công vụ của ông và chúng tôi lên xe. Xe chúng tôi chuyển bánh trong tiếng vỗ tay hoan hô nồng nhiệt của cánh không quân.
Chúng tôi đi qua các phố Pestalozzi, Madgeburger, khu bãi tập. Bebra ngồi cạnh tài xế. Đến phố Magdeburger, Raguna mượn cái trống để khơi chuyện: “Vẫn trung thành với cái trống chứ, bạn thân mến?” nàng khẽ hỏi với cái giọng Địa Trung Hải mà đã bao lâu tôi không được nghe. “Và nói chung, bạn trung thành tới mức nào?” Oskar không trả lời, gã không muốn bắt nàng phải nghe kể dông dài về những chuyện phong nguyệt phức tạp của mình, nhưng tươi cười để cho nữ tài tử mộng dun vĩ đại vuốt ve hết cái trống đến đôi bàn tay co quắp trên trống với một niềm âu yếm càng lúc càng rõ chất miền Nam.
Khi xe chúng tôi rẽ vào khu bãi tập, theo đường xe điện tuyến số 5, tôi thậm chí đã đáp lại, có nghĩa tôi đưa tay vuốt ve bàn tay trái của nàng trong khi tay phải nàng vẫn âu yếm tay trái tôi. Lúc này chúng tôi đã đi quá Quảng trường Max-Halbe, Oskar không xuống được nữa và, nhìn vào gương chiếu hậu, tôi thấy đôi mắt nâu nhạt tinh quái, già trăm tuổi của Bebra đang quan sát chúng tôi vuốt ve nhau. Vì trân trọng người bạn và thầy, tôi những muốn rụt tay lại, nhưng Raguna cứ nắm riết lấy. Bebra tủm tỉm trong gương chiếu hậu, rồi ngảnh mắt đi, quay sang nói chuyện với người lái xe trong khi, về phần mình, Roswitha vừa vuốt ve và riết chặt tay tôi, vừa rót thẳng vào tim tôi những lời lẽ trữ tình, thoạt đầu thì có phần thực tế sau rồi mỗi lúc một dịu ngọt hơn với cái giọng Địa Trung Hải của nàng, làm tôi hết áy náy và hết muốn trốn tránh. Xe đến Reichkolonie, rẽ về hướng Bệnh viện phụ khoa, và Raguna thú nhận với Oskar rằng suốt những năm qua, nàng không ngừng nghĩ đến gã, rằng nàng vẫn còn giữ cái cốc của tiệm cà-phê Bốn Mùa mang “âm” tích của tôi tặng nàng, rằng Bebra là một người bạn và cộng sự tuyệt vời nhưng không thể nghĩ đến chuyện hôn nhân với ông được. Bebra phải sống độc thân, Raguna nói, đáp lại một câu hỏi của tôi; nàng để cho ông hoàn toàn tự do và ông cũng vậy, mặc dầu bản chất cực kỳ ghen tuông, nhưng qua năm tháng, ông đã hiểu ra rằng không thể ràng buộc Raguna, vả chăng,  với cương vị đứng đầu Đoàn Văn công quân đội, Bebra chẳng có mấy thời gian để làm bổn phận người chồng, nhưng còn đoàn thì số dách, bình thời đoàn hoàn toàn có thể biểu diễn ở Vườn Mùa Đông hoặc Scala, liệu tôi, Oskar đây, có muốn thi thố cái tài trời cho đang bị bỏ phí chăng, thử nghiệm một năm xem sao, rành là tôi đã đến tuổi góp mặt với đời, thử sức một năm, nàng cam đoan là tôi sẽ thích, nhưng có lẽ tôi, Oskar, đã nhận lời với chỗ khác, phải không? Không ư, thế thì tốt, vừa khéo hôm nay đoàn lên đường. Đoàn vừa biểu diễn buổi cuối cùng ở quân khu Danzig-Đông Phổ, giờ chuẩn bị đi Lorraine rồi sang Pháp, hiện không còn lo bị phái đi Mặt trận phía Đông, ơn Chúa, đã qua được cái đận ấy rồi, tôi, Oskar, có thể vui mừng vì phương Đông đã lui vào quá khứ, giờ đây chắc chắn chúng ta sẽ đi Paris, tôi, Oskar, đã đến Paris bao giờ chưa? Vậy thì, amico, nếu Raguna không thể cám dỗ trái tim sắt đá của người đánh trống thì hãy để Paris làm việc đó, andiamo!
Đúng lúc nữ nghệ sĩ mộng du vĩ đại nói những lời cuối cùng này, xe dừng lại. Cây mọc xanh rờn Đại lộ Hindenburg, từng quãng đều tăm tắp. Chúng tôi xuống xe, Bebra bảo tài xế đợi. Tôi không muốn vào tiệm cà-phê Bốn Mùa, đầu óc tôi đang quay cuồng và cần khí trời thoáng mát. Chúng tôi dạo quanh công viên Steffens, tôi đi giữa, Bebra bên phải và Raguna bên trái. Bebra giải thích tính chất và mục đích của Propaganda-Kompanie (Đội Tuyên truyền). Roswitha kể những giai thoại xung quanh cuộc sống hằng ngày của Propaganda-Kompanie. Bebra nói về các hoạ sĩ và phóng viên chiến tranh, về đoàn văn công quân đội của mình. Từ cặp môi Địa Trung Hải của Roswitha, tuôn ra các tên của những thành phố xa xôi tôi mới chỉ được nghe trên đài qua những thông cáo đặc biệt. Bebra nói Copenhagen, Roswitha thì thầm Palermo. Bebra ca Belgrade, Roswitha than Athens bằng giọng của một nữ diễn viên bi kịch. Nhưng cả hai đều trầm trồ tán dương Paris; ngay cả nếu tôi không bao giờ được thấy các thành phố kể trên, họ cam đoan với tôi, chỉ riêng Paris cũng sẽ đủ để bù lại thiệt thòi ấy. Và cuối cùng, Bebra, với tư cách một đại uý đoàn trưởng một đoàn văn công tiền tuyến, nói với tôi như một lời mời chính thức: “Bạn trẻ ạ, hãy tham gia cùng bọn mình, hãy đánh trống và hát cho vỡ tan những cốc bia và bóng đèn. Quân đội Đức chiếm đóng ở nước Pháp tươi đẹp, ở Paris thành phố mãi mãi thanh xuân, sẽ thưởng công cho chú bằng những tràng vỗ tay và lòng biết ơn.”
Một cách chiếu lệ, Oskar xin được có thời gian suy nghĩ. Suốt nửa tiếng đồng hồ, tôi đi dạo giữa những hàng cây mơn mởn sắc xuân, tách khỏi Raguna, tách khỏi Bebra, bạn và sư phụ của tôi. Tôi làm ra vẻ trăn trở suy nghĩ, bóp trán, lắng nghe những con chim nhỏ hót trong lùm cây – một điều trước nay tôi chưa từng làm – như thể chờ lời khuyên hay mách bảo của một chú chim ức đỏ nào đó. Bỗng nhiên, một giọng hót vút cao hơn tất cả và tôi nói: “Thầy kính mến, Mẹ Thiên Nhiên sáng láng và phúc hậu khuyên em nên nhận lời đề nghị của thầy. Từ giờ phút này, thầy có thể coi em như một thành viên của đoàn.”
Thế rồi rốt cuộc, chúng tôi cũng đến tiệm Bốn Mùa, uống một ly mooka nhạt thếch và bàn bạc chi tiết về cuộc đào tẩu của tôi, nhưng chúng tôi không gọi đó là đào tẩu mà là một cuộc ra đi.
Ra khỏi tiệm cà-phê, chúng tôi rà soát lại mọi chi tiết của kế hoạch. Rồi tôi tạm biệt Raguna và đại uý Bebra của Propaganda-Kompanie, ông này một mực dành chiếc xe công vụ cho tôi sử dụng. Trong khi hai người nhẩn nha đi dọc Đại lộ Hindenburg về phía thành phố, người lái xe cho Đại uý, một hạ sĩ đứng tuổi, đưa tôi về Langfuhr. Bác ta để tôi xuống chỗ Quảng trường Max-Halbe: một gã Oskar ngồi xe công vụ của Wehrmacht xịch tới Labesweg ắt sẽ thu hút quá nhiều con mắt tò mò.
Tôi không còn mấy thì giờ. Tạt qua tạm biệt Matzerath và Maria. Đứng hồi lâu trước chiếc giường cũi của Kurt con trai tôi. Nếu tôi nhớ đúng, thì thậm chí tình phụ tử còn nhen lên trong đầu đôi ba ý nghĩ khiến tôi toan đưa tay vuốt ve thằng ôn tóc vàng, nhưng Kurt không chịu. Trái lại, Maria thì không từ chối: hơi ngỡ ngàng, nàng chấp nhận những vuốt ve của to – những biểu hiện âu yếm đầu tiên sau bao năm – và trìu mến đáp lại. Kỳ lạ thay, tôi thấy bịn rịn khi chia tay với Matzerath. Ông đứng trong bếp làm món cật lợn xốt mù-tạc; nhập thân hoàn toàn vào chiếc muôi nấu ăn, có thể là ông đang sung sướng. Tôi sợ mình sẽ làm rầy ông. Nhưng khi ông với tay ra sau, sờ sẩm tìm cái gì đó trên bàn bếp, Oskar đoán được ý đồ của ông, bèn nhấc cái thớt nhỏ với chút mùi tây thái nhỏ trên đó và đưa cho ông; cho đến nay, tôi vẫn tin rằng hồi lâu sau khi tôi rời khỏi bếp, Matzerath vẫn đứng ngây ra sững sờ với chiếc thớt mùi tây bởi vì trước đó, chưa bao giờ Oskar đưa cho ông bất cứ cái gì.
Tôi ăn bữa tối với Mamăng Trunczinski; tôi để cho bà tắm cho tôi và đặt tôi vào giường, đợi cho bà về phòng và bắt đầu ngáy khò khè tựa tiếng huýt gió. Bấy giờ tôi mới tìm đôi dép lê, vơ vội bộ quần áo, rón rén đi qua căn phòng có bà chuột nhắt tóc bạc đang ngáy khò khè và mỗi ngày một già thêm; ngoài hành lang, tôi bị trục trặc với cái chìa khoá một chút, song cuối cùng cũng lựa được lưỡi khoá ra khỏi ổ. Vẫn thùng thình trong chiếc áo ngủ, tôi ôm bộ đồ leo cầu thang lên đến tầng áp mái. Trật trưỡng bước qua đống các và xô phòng không, tôi đến chỗ ẩn náu của mình đằng sau những chồng ngói và những bó báo được trữ ở đó bất chấp những quy định về phòng không. Tại đây, tôi khui ra một cái trống mới toanh mà tôi đã cất riêng ra, không cho Maria biết, đồng thời cũng thấy luôn cả cái thư-viện-nhất-quyển của Oskar: Rasputin và Goethe. Tôi có nên mang theo các tác giả yêu thích không nhỉ?
Trong khi mặc quần áo, xỏ giày vào, chỉnh dây đeo trống quanh cổ, dắt dùi trống dưới đai đeo quần, Oskar tiếp tục thương lượng với hai vị thần của mình, Dyonysus và Apollo. Vị tuý thần không mấy trọng suy nghĩ khuyên tôi đừng mang sách đi làm gì hoặc nếu tôi nhất thiết muốn có cái đọc, thì một xấp Rasputin là đủ. Mặt khác, khôn ngoan và tỉnh táo, Apollo cố thuyết phục tôi từ bỏ hẳn chuyến đi Pháp này, nhưng khi thấy Oskar đã quyết định, bèn dặn đi dặn lại là phải chọn hành trang cho thoả đáng. Được, tôi sẽ phải mang theo cái ngáp tao nhã của Goethe cách đây hàng thế kỷ, nhưng do ý muốn thách thức và cũng vì tôi biết Những ái lực chọn lọc không thể giải quyết được mọi vấn đề tình dục của tôi, nên tôi đem theo luôn cả Rasputin cùng những mỹ nữ khoả thân của ông, khoả thân hoàn toàn trừ những đôi tất đen. Nếu Apollo tìm kiếm sự hài hoà và Dionysus sự say sưa và hỗn độn, thì Oskar là một tiểu á thần có nhiệm vụ làm hài hào sự hỗn độn và làm cho lý trí say mềm. Cộng với tính khả vong của người trần thế, gã còn có một ưu thế so với tất cả các vị thần thực sự mà tính cách đã được khuôn định từ ngàn xưa: Oskar có thể đọc những gì gã thích, trong khi các vị thần phải tự kiểm duyệt mình.
Ở lâu, người ta đâm quen xiết bao với khu chung cưn cùng những mùi bếp của mười chín hộ thuê nhà! Tôi chào tạm biệt từng bậc cầu thang, từng tầng gác, từng cánh cửa gắn biển tên của các căn hộ. Ôi Meyn, người nhạc công bị trả về vì không đủ sức khoẻ phục vụ trong quân đội, lại chơi t’rompét, lại uống rượu gừng và chờ người ta lại đến bắt đi – và quả nhiên, về sau họ đến bắt đi thật, nhưng lần này không cho mang theo chiếc kèn t’rompét. Ôi bà Kater sồ sề có đứa con gái Susi tự xưng là nhân viên phụ động trong ngành vận tải. Ôi. Axel Mischke, cậu đánh đổi cây roi của cậu lấy cái gì? Hai vợ chồng ông Woiwuth vẫn ăn su hào. Do bị đau dạ dày, nên thay vì phục vụ trong bộ binh, Heinert được làm việc ở Schichau. Và cha mẹ của Heinert ở căn hộ bên cạnh vẫn mang cái tên Ba Lan Heinowshi. Ôi Mamăng Truczinski, bà chuột nhắt ngủ yên bình đằng sau cánh cửa căn hộ của mình. Áp tai vào ván cửa gổ, tôi nghe thấy tiếng ngáy như huýt gió của bà. Cũn cỡn, tên thật là Retzel, nay đã thành thiếu uý mặc dù hồi bé, bao giờ nó cũng phải mang tất len dài màu đen. Con trai của Schlager đã chết, con trai Eyke chết, con trai Kollin cũng chết. Nhưng bác thợ đồng hồ Laubsschad vẫn còn sống, vẫn đánh thức những cái đồng hồ chết sống lại. Và già Heilandt cũng còn sống để gõ những cái đinh cong queo thẳng lại. Và bà Schwerwinski ốm đau bệnh tật và ông Schwerwinski khoẻ mạnh hồng hào, thế mà ông lại chết trước. Còn tầng trệt thì sao? Có những ai ở đó? Là Alfred và Maria Matzerath và một thằng ôn con gần hai tuổi tên là Kurt. Và ai đan rời cái khu chung cư thở phì phò này? Đó là Oskar, cha của bé Kurt. Gã mang theo những gì vào trong phố tối? Một cái trống và một cuốn sách bự để học hỏi. Tại sao gã lại đứng im giữa những ngôi nhà che đèn kín bưng, giữa tất cả những ngôi nhà đặt lòng tin vào những quy định phòng không, tại sao gã dừng lại trước một trong những ngôi nhà che đèn phòng không đó? Bởi vì ở đó có bà goá Greff mà gã mang nợ không phải về mặt giáo dục, mà về một số kỹ năng khá tế nhị. Tại sao gã lại ngả mũ trước ngôi nhà đen? Bởi vì gã nghĩ đến Greff-Rau-Quả, tóc xoăn, mũi dọc dừa, ngươi đã tự cân và tự treo mình cùng một lúc, và, ở tư thế treo lơ lửng, vẫn tóc xoăn và mũi dọc dừa, mặc dù đôi mắt nâu, bình thường đăm chiêu náu trong hốc mắt, giờ lồi ra trong sự căng thẳng tột độ. Tại sao Oskar lại đội trở lại chiếc mũ lính thuỷ có dải bay phất phơ đằng sau và hấp tấp bỏ đi? Bởi vì gã có cuộc hẹn ở ga tàu hàng Langfuhr. Liệu gã có đến kịp không? Kịp.
Có nghĩa là vào phút cuối, tôi tới đoạn đường sắt gần cầu chui Brünshofer-Weg. Không, tôi không dừng lại trước phòng khám của bác sĩ Hollatz gần đấy. Trong tư tưởng, tôi tạm biệt Xơ Inge và vợ chồng ông chủ tiệm bánh mì ở Kleinhammer-Weg, nhưng tôi vừa đi vừa làm tất cả những cái đó, và chỉ có Nhà thờ Thánh Tâm mới buộc tôi phải dừng lại mất một lúc, khiến tôi suýt trễ giờ. Cửa nhà thờ đóng im ỉm. Song con mắt ký ức của tôi thấy rõ mồn một tay Jêxu nồng nỗng, hồng hào trên đùi trái của Đức Mẹ Đồng Trinh Maria. Mẹ tội nghiệp của tôi đã lại ở đó, quỳ trong phòng xưng tội, trút những tội lỗi của mình với tư cách là nữ chủ hiệu tạp hoá vào tai Cha Wiehnke y như trút đường vào những cái bao màu xanh lơ một pao hoặc nửa pao. Và Oskar thì quỳ ở ban thờ bên trái, cố dậy Jêxu hài đồng đánh trống, nhưng cu cậu không chịu đánh, không cho tôi chứng kiến phép mầu. Hồi ấy, Oskar đã thề, và giờ đây, đứng bên ngoài cửa nhà thờ đóng kín, gã lại thề một lần nữa: mình vẫn sẽ dậy cho cậu ta đánh trống. Sớm hay muộn.
Vì trước mắt còn có chuyến đi xa, nên tôi tạm gác quyết định ấy và quay cái lưng nghệ sĩ đánh trống của mình lại với cửa nhà thờ, tin chắc rằng Jêxu sẽ không thoát khỏi tay tôi. Đến gần cầu chui, tôi hì hục leo lên sườn dốc đường tàu, rớt mất chút ít Goethe và Rasputin trong khi leo, nhưng phần lớn hành trang văn hoá vẫn còn nguyên khi tôi lên tới đường tàu. Rồi tôi trật trưỡng bước dăm bảy bước trên những thanh tà-vẹt và đá vụn trước khi suýt đâm sầm phải Bebra đang đứng đợi tôi trong đêm tốt mịt.
“Nghệ sĩ đánh trống kỳ tài của chúng ta đây rồi!” đại uý hề lùn reo lên. Dặn nhau phải cẩn thận, chúng tôi mò mẫm vượt qua những đường tàu và nhánh rẽ, mất phương hướng giữa mê cung những toa chở hàng, và cuối cùng tìm thấy đoàn tàu chở quân nhân đi phép, trên đó có một buồng toa dành cho đoàn của Bebra.
Oskar trước đây đã nhiều lần đi xe điện, bây giờ gã sắp sửa được đi tàu hoả. Khi Bebra đẩy tôi vào buồng toa, Raguna mỉm cười ngước mắt lên khỏi một cái gì nàng đang khâu dở và hôn vào má tôi. Vẫn mỉm cười, nhưng không ngừng khâu, nàng giới thiệu hai thành viên khác của đoàn: các nghệ sĩ nhào lộn Felix và Kitty. Kitty tóc vàng như mật ong, tầm vóc xấp xỉ Raguna và không thiếu sức hấp dẫn mặc dù da hơi xam xám. Cái giọng Xăcxông lơ lớ lại càng tăng thêm nét duyên ở cô. Nghệ sĩ nhào lộn Felix chắc hẳn là người cao nhất trong đoàn. Anh ta chắc phải cao gần một mét hai. Tội nghiệp anh chàng mặc cảm vì kích thước quá khổ của mình. Sự xuất hiện của tôi với tầm vóc thon thả chín mươi tư xăngtimét càng khiến anh ngượng nghịu hơn bao giờ hết. Khuôn mặt nhìn nghiêng của anh từa tựa như mặt một con ngựa đua thuần chủng, khiến Raguna gọi anh là “Cavallo” (ngựa) hay “Felix Cavallo”. Giống như Đại uý Bebra, anh chàng tài tử nhào lộn mặc một bộ quân phục màu xám, nhưng chỉ đeo quân hàm trung sĩ thôi. Hai nàng cũng mặc đồ xám cắt theo kiểu y phục đi đường, nom không hợp lắm. Cái mà Raguna đang khâu cũng màu xám; hoá ra đó là bộ quân phục tương lai của tôi. Felix và Bebra đã mua vải, Roswitha và Kitty thay phiên nhau khâu, càng lúc càng xén bớt vải cho đến khi cả quần áo lẫn mũ đều vừa vặn khổ người tôi. Còn về giày thì có lục khắp các kho quân nhu của Wehrmacht để kiếm một đôi vừa cỡ Oskar, cũng vô ích. Tôi đành phải bằng lòng với đôi giày dân sự của mình và chẳng bao giờ được phát ủng của quân đội.
Giấy tờ của tôi là giả mạo. Felix tài tử nhào lộn tỏ ra rất thông mnh trong công việc tế nhị này. Chỉ vì lịch sự mà tôi không lên tiếng phản đối khi nữ nghệ sĩ mộng du vĩ đại nhận tội là anh trai – xin nhớ là anh trai chứ không phải em trai: Oskarnello Raguna, sinh ngày 21 tháng 10 năm 1912 tại Napoli. Cho đến nay, tôi đã dùng đủ mọi loại tên và Oskarnello Raguna chắc chắn không phải là cái tên kém êm tai nhất.
Tàu chuyển bánh. Qua Stolp, Stettin, Berlin, Hanover và Cologne, tàu đưa chúng tôi đến Metz. Chúng tôi dừng lại ở Berlin năm tiếng đồng hồ mà tôi hầu như không xem không thấy được gì. Tựa hồ do tình cờ, một cuộc không kích xảy đến. Chúng tôi phải trú trong hầm Thomaskeller. Đám lính đi phép bị lèn như cá hộp trong những phòng có mái vòm. Tất cả ồn lên khi một quân cảnh lách lối cho chúng tôi vào. Mấy gã vừa từ Mặt trận phía Đông về biết Bebra và đoàn từ những cuộc biểu diễn trước đây, họ vỗ tay, huýt sáo và Raguna gửi những chiếc hôn gió về phía họ. Người ta yêu cầu chúng tôi biểu diễn. Chỉ trong mấy phút, họ đã ứng biến tạo nên một sân khấu tạm thời ở đầu hầm bia cũ. Bebra khó lòng mà từ chối, nhất là khi một thiếu tá không quân, với thái độ thân ái và kính cẩn quá đáng, đứng nghiêm xin ông “cho anh em thưởng thức một chầu văn hoá văn nghệ”.
Lần đầu tiên, Oskar phải xuất hiện trong một cuộc trình diễn sân khấu thật sự. Tuy không phải hoàn toàn thiếu chuẩn bị - ngay trong khi tàu chạy, Bebra đã nhiều lần cùng tôi ôn tập tiết mục của tôi – tôi vẫn run đến nỗi Raguna phải vuốt ve tay tôi để động viên.
Nhanh như điện, lính ta chuyển đồ nghề của chúng tôi vào và một lát sau, Felix và Kitty bắt đầu trình diễn. Cả hai đều là người cao-su. Họ xoắn vào nhau thành búi, hết thắt vào lại gỡ ra, quấn quít, xáo đổi chân người nọ tay người kia, làm cho đám lính trố mắt, xô đẩy nhau đâm nhức cơ và đau khớp dữ dội đến mấy ngày sau. Trong khi cặp Felix và Kitty vẫn còn đang xoắn-xoắn-gỡ-gỡ, thì Bebra vào cuộc với tiết mục hề âm nhạc của mình. Trên những chai bia từ rỗng đến đầy ở nhiều mức độ khác nhau, ông chơi những bản nhạc được ưa chuộng nhất trong những năm chiến tranh; ông chơi bài Erika Mamatchi, cho tôi một con ngựa, làm cho Những ngôi sao quê hương lấp lánh và vang lên từ những cổ chai, rồi khi thấy công chúng không hưởng ứng nồng nhiệt lắm, bèn quay trở lại bài “tủ” của mình: Jimmy-Mãnh-Hổ lồng lộn, gầm gào giữa đám chai. Khúc nhạc này không những chinh phục đám quân nhân mà còn thoả mãn lỗ tai sành điệu của Oskar nữa. Và khi, sau vài ngón ảo thuật nhố nhăng nhưng thành công, Bebra giới thiệu Roswitha Raguna, nữ nghệ sĩ mộng du vĩ đại và Oskarnello Raguna, nghệ sĩ đánh trống diệt thuỷ tinh, thì cử toạ đã được hâm nóng đủ độ; thành công của Roswitha và Oskarnello là điều chắc chắn. Tôi mở đầu cuộc trình diễn của chúng tôi bằng một hồi trống nhẹ nhè, rồi đưa lên cao trào bằng những hồi dồn dập crescendo và sau và sau mỗi (lại điểm một tiếng “bùm” lớn, dõng dạc, đúng lúc, làm dậy lên những tràng vỗ tay hoan hô. Raguna mời một người lính, hoặc một vài sĩ quan, bước lên phía trước, yêu cầu một trung sĩ lớn tuổi da nhám, hay một chuẩn uý trẻ rụt rè song lại ra vẻ ngổ ngáo, đến ngồi cạnh nàng. Đoạn, nàng bắt đầu nhìn vào tâm can họ - phải, Raguna nhìn thấu được tim người – và đọc ra vanh vách những dữ kiện chính xác trong lý lịch quân nhân của họ, cũng như những chi tiết mùi mẫn trong đời tư của họ. Những tọc mạch ấy của nàng, tuy nhiên lại rất tế nhị và hóm hỉnh. Để kết thúc nàng thưởng cho một trong những nạn nhân của mình một chai bia và đề nghị anh ta giơ cao lên cho cử toạ trông thấy. Đoạn, nàng ra hiệu cho tôi, Oskarnello: tôi bèn thúc trống crescendo và cất cái giọng vốn dành cho những kỳ công đòi hỏi uy lực hơn nhiều: đối với nó, làm nổ đùng cái chai bia nọ chỉ là trò trẻ. Bộ mặt ngơ ngác, lấm tấm những giọt bia bắn vào của một trung sĩ dày dạn hay của một chuẩn uý non choẹt – tôi không nhớ đích xác là ai – đánh dấu chấm hết cho màn trình diễn của chúng tôi. Tiếp đến là những tràng vỗ tay như sấm kéo dài, hoà lẫn với tiếng ầm ầm của một cuộc không kích vào thủ đô.
Cuộc biểu diễn của chúng tôi không thuộc đẳng cấp quốc tế, nhưng nó mua vui cho các quân nhân, làm cho họ quên đi mặt trận và kỳ nghỉ phép đã hết và nó làm cho họ cười hoài không dứt; bởi vì khi những trái bom rơi trên đầu chúng tôi, làm rung chuyển và vùi lấp căn hầm cùng mọi thứ trong đó, dập tắt điện, kể cả điện dự phòng, khi quanh chúng tôi, mọi thứ đều lộn tùng phèo, tiếng cười vẫn vang lên khắp cỗ áo quan lớn tối mịt, ngột ngạt, kèm theo những tiếng hô: “Bebra! Chúng tôi muốn Bebra!” Và Bebra đôn hậu, bất khả vong đáp lời, diễn hề trong bóng tối, làm bật ra những tràng cười thoải mái từ đám người bị vùi lấp. Và khi có những tiếng yêu cầu Raguna và Oskarnello, ông cất giọng oang oang: “Các bạn lính chì của tôi, signora Raguna rất mệt rồi. Và Oskarnello cũng phải đánh một giấc dành sức phục vụ Đại Đế Chế Đức và thắng lợi cuối cùng.”
Roswitha nằm cạnh tôi, nàng sợ. Còn Oskar thì không sợ, gã nằm bên Raguna. Nỗi sợ của nàng và lòng can đảm của tôi gắn những bàn tay chúng tôi lại với nhau. Tôi cảm thấy nỗi sợ của nàng và nàng cảm thấy lòng can đảm của tôi. Dần dà, cái sợ lây sang tôi và nàng trở nên can đảm. Và sau khi tôi đuổi cái sợ khỏi nàng và truyền can đảm cho nàng, đảm lược nam nhi của tôi lại ngóc đầu dậy một lần nữa. Trong khi lòng can đảm của tôi đã trải mười tám năm vinh quang, thì nàng, ở tuổi bao nhiêu tôi không rõ, ngả mình lần thứ bao nhiêu tôi không hay, lại một lần nữa bị xâm chiếm bởi nỗi sợ đã đánh thức lòng can đảm của tôi. Bởi vì, giống như mặt nàng, thân hình có kích thước nhỏ nhoi nhưng mãn khai của nàng không hề mang dấu tích của thời gian. Với lòng can đảm phi thời gian và nỗi sợ phi thời gian, Roswitha tự dâng hiến cho tôi. Và sẽ không bao giờ có ai biết được người nữ tí hon trong hầm Thomaskellerr bị vùi, cái người đã tiêu hết nỗi sợ của mình vào lòng can đảm của tôi giữa cuộc không kích dữ dội vào thủ đô bữa ấy, đúng ra là mười chín hay chín mươi chín tuổi. Điều khiến cho Oskar càng dễ giữ kín hơn, là chính bản thân gã cũng không biết đích xác người đã ban cho gã cuộc ân ái này – sự ôm ấp đầu tiên thực sự hợp với tầm vóc gã – là một bà già can đảm hay một cô gái trẻ vì sợ hãi mà nhắm mắt buông xuôi.



[1] Lực lượng vũ trang Đức trước và trong thời kỳ Thế chiến II.

[2] Tổ chức do kỹ sư Fritz Todt điều hành, lo việc gom bắt lao động cưỡng bức – nhiều khi là trẻ con – để xây dựng công sự, nhưng Phòng tuyến phía Tây vào năm 1938 và Phòng tuyến Đại Tây Dương vào năm 1940.

[3] Narses (478?-573?) hoạn quan và tướng soái dưới thời Hoàng đế Justinian I của Đế quốc Đông Roman; đánh bại Totila, thủ lĩnh của những người Đông Gôtích vào năm 552 và cuối cùng dẹp tan đạo quân Gôtích cuối cùng trên đất Italia (553), đặt lại Itaila dưới quyền của Justinian I.

[4] Belisarius (505?-565) tướng soái dưới thời Hoàng đế Justinian của Đế quốc Đông Roman, có nhiều công trạng trong việc dẹp bạo loạn và chinh phục Italia; năm 548, bị thay thế bởi Narses.


 
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 18.07.2016 13:15:44 bởi tducchau>
[...]
 
 
ĐƯỜNG CỦA KIẾN
 
 
Xin quý vị hãy tưởng tượng một cái bể bơi lát gạch men xanh da trời. Một số thanh niên da rám nắng, dáng dấp lực sì vùng vẫy dưới nước và quanh bờ, nhiều nam nữ khác ngồi hoặc nằm trước những ca-bin. Nhạc êm nhẹ từ loa phóng thanh. Buồn tẻ lành mạnh, một chút gợi dục nhẹ nhàng mà lấp lửng. Gạch men nhẵn bóng nhưng không ai trượt ngã. Chỉ có vài cái biển cấm, nhưng không cần thiết vì những người tắm chỉ đến đây một, hai giờ, họ có chỗ khác để làm những gì bị cấm. Thi thoảng, một người nào đó lao xuống từ cầu nhảy ba mét nhưng không thu hút được sự chú ý của những người trong bể, cũng chẳng khiến được những người nằm trên lớp gạch men rời mắt khỏi những quyển họa báo hằng tuần. Đột nhiên, một thiên thần bay ngang! Không, không phải một thiên thần, mà là một chàng trai đang từ từ nhưng kiên quyết vươn tay nắm từng bậc leo lên cái thang dẫn tới tháp nhảy mười mét. Họa báo rơi xuống, những con mắt ngước lên, những người đang nằm dướn lên, một cô gái khum khum bàn tay trên trán cho khỏi chói mắt, một người nào đó quên phắt mình đang nghĩ gì, một lời nói bỏ lửng, một cuộc tán tỉnh vừa bắt đầu bỗng đột ngột kết thúc giữa một câu dở chừng - vì kìa, chàng đang đứng, lực lưỡng và cường vượng nam tính, nhún lên nhún xuống trên ván cầu, dựa vào ống lan can cong cong, ném một cái nhìn ngán ngẩm xuống phía dưới, tách rời khỏi lan can với một cái lắc mông duyên dáng, mạnh bạo tiến ra trên cái ván nhảy cứ rung lên theo từng bước của chàng, nheo mắt nhìn tập trung vào cái bể bơi xanh da trời, bé dễ sợ, đầy những mũ bơi trộn lẫn vào nhau: vàng, xanh, trắng, đỏ, vàng, xanh, trắng, đỏ, vàng, xanh... Chắc là các bạn chàng ngồi ở chỗ kia, Doris và Erika Schiller, và Jutta Daniels với tay bồ chẳng hợp với cô ta chút nào. Họ vẫy kìa, cả Jutta cũng vẫy. Thận trọng giữ cho thăng bằng, chàng vẫy lại. Họ la to. Họ muốn gì vậy? Dấn tới đi, họ la to, nhảy đi, Jutta kêu. Nhưng chàng leo lên đây không phải với ý đồ ấy, chàng chỉ muốn xem nhìn từ trên này, mọi thứ ra sao rồi từ từ xuống, từng bậc từng bậc một, thế thôi. Vậy mà bây giờ họ lại đang la ầm lên cho tất cả mọi người nghe thấy: nhảy đi, dấn tới và nhảy đi. Tiến lên.

Đây - quý vị hắn sẽ thừa nhận, mặc dù từ tháp nhảy cầu chỉ còn một bước nữa là tới trời - quả là một tình thế cùng quẫn. Vào tháng giêng năm 1945, mặc dù đó không phải là mùa tắm, băng Quét Bụi và tôi đã ở trong một tình thế tương tự. Chúng tôi đã mạo hiểm lên cao, tất cả bọn tôi chen chúc trên tháp nhảy cầu, và bên dưới, ngồi thành hình móng ngựa quanh một cái bể bơi không có nước là các quan toà, các nhân chứng và các thư ký tòa.
 
Störtebeker bước ra cái cầu nhảy mềm không có tay vịn. "Nhảy đi!" các quan toà kêu.
 
Nhưng Störtebeker không thích thế.
 
Thế rồi từ hàng ghế nhân chứng, một dáng người thanh mảnh mặc một chiếc váy xám xếp nếp và một cái áo vét kiểu Bavaria đứng lên. Một bộ mặt trắng nhợt nhưng không mờ - tôi vẫn khẳng định là nó chành ba góc -ngước lên như một tấm biển chỉ bia tập bắn: Lucy không la, cô ta chỉ thì thầm: "Nhảy đi, Störtebeker, nhảy đi!"

Thế là Störtebeker nhảy và Lucy ngồi xuống chiếc ghế băng nhân chứng và kéo tay áo vét Bavaria xuống trùm kín cổ tay.
 
Moorkähne tập tễnh bước ra cầu nhảy. Các quan toà ra lệnh cho gã nhảy. Nhưng Moorkähne không thích thế. Mỉm cười bối rối với những móng tay mình, gã chờ cho Lucy vén tay áo lên để thò hai nắm tay ra và phô cái hình tam giác với khung tóc đen, mắt như hai sợi chỉ, Thế là gã giận dữ lao vào hình tam giác nhưng trượt.

Ngay cả trong khi leo lên, Ăn Cắp Lửa và Mát-Tít đã lườm nguýt nhau; trên cầu nhảy, họ đấm nhau; Ăn Cắp Lửa phủi bụi Mát-Tít và đến lúc nhảy vẫn không chịu buông.
 
Choi Choi nhắm đôi mắt nai sâu và buồn có hàng lông mi dài óng ánh trước khi nhảy.
 
Hai bổ trợ quân Luftwaffe phải cởi bỏ quân phục trước khi nhảy.
 
Cả anh em nhà Rennwand cũng không được phép mặc đồng phục ban hát nhà thờ trong cú nhảy lên trời của họ. Điều đó là hoàn toàn không thể chấp nhận được đối với em gái họ là Lucy đang ngồi ở hàng ghế nhân chứng trong chiếc áo vét len thời chiến mòn xơ và đang khuyến khích đám con trai nhảy cầu.
 
Bất chấp lịch sử, Belisarius và Narses nhảy trước, rồi mới đến Totila và Teja. Râu Xanh nhảy, Sư Tử Tâm nhảy, rồi đến đám tốt đen. Thính Mũi, Người Rừng, Tàu Chở Dầu, Sáo Sĩ, Bình Mù -tạc, Yatagan và Thợ Thiếc.
 
Người nhảy cuối cùng là Stuchel, một học sinh trung học mắt lác đến nỗi chỉ nhìn cậu ta đã đủ chóng mặt. Cậu ta chỉ gia nhập băng một cách nửa vời và do tình cờ thôi. Rồi trên ván nhảy chỉ còn một mình Jêxu. Gác quan toà gọi gã là Oskar Matzerath và yêu cầu gã nhảy, nhưng Jêxu không chịu làm theo. Bấy giờ, Lucy, con người kiên định phụng sự công lý, bèn đứng dậy từ hàng ghế nhân chứng, hai bím tóc khắng khiu lúc lắc giữa đôi vai, hai cánh tay dang ra và thì thầm, hồ như không thấy mấp máy môi: "Nhảy đi, Jêxu thân yêu, nhảy đi!" Lúc đó tôi mới hiểu sức cám dỗ của một cái cầu nhảy từ trên cao mười mét. Một lũ mèo con màu xám bắt đầu ngọ nguậy trong các khớp đầu gối tôi; nhím phủ nhau dưới gan bàn chân tôi; én con tập bay trong nách tôi và nhìn xuống phía dưới, tôi thấy không phải chỉ Châu Âu mà cả thế giới. Những người Mỹ và Nhật đang múa đuốc trên đảo Luzon, họ nhảy hăng dến nỗi mất cả khuy quần. Nhưng đúng vào lúc ấy, một thợ may ở Stockholm đang đính khuy cho một bộ quần áo dạ hội sang trọng. Mountbatten [1] đang cho voi Miến Điện ăn đạn đủ các cỡ. Một bà góa ở Lima đang dậy con vẹt của mình chửi thề: "Caramba". Giữa Thái Bình Dương, hai hàng không mẫu hạm kếch xù, trang hoàng như những nhà thờ Gôtích, đối mặt nhau, phóng máy bay lên và cùng một lúc đánh chìm nhau. Các máy bay không còn chỗ hạ cánh, lượn lờ bơ vơ như những thiên thần bất lực trong không trung, tiêu cạn nhiên liệu trong tiếng gầm rú khủng khiếp. Tất cả những cái đó không làm bận tâm một tay lái xe điện ở Haparanda vừa hết giờ làm việc. Anh ta đang đập trứng vào chảo, hai quả cho mình và hai quả cho vợ chưa cưới, cô ta có thể đến bất cứ lúc nào vì họ đã định trước kế hoạch cho cả buổi tối. Hiển nhiên là các đạo quân của Koniev và Joukov có thể lại ồ ạt tiến; trong khi mưa rơi ở Alien, thì họ đột phá ở sông Vistula, chiếm Vacxava quá muộn và Königsberg quá sớm, và mặc dù thế vẫn không ngăn nổi một phụ nữ năm con một chồng ở Panama khỏi làm khê xoong sữa mà chị ta đang hâm trên bếp ga.
 
Một cách tất yếu, sợi chỉ các sự kiện xoắn vòng và thắt nút, cuối cùng cũng dệt thành Lịch sử. Tôi lấy làm lạ thấy vô vàn hoạt động (như vân vê đầu ngón tay, cau mày, nhìn lên nhìn xuống, bắt tay, sinh con đẻ cái, làm bạc giả, tắt đèn, đánh răng, bắn người, thay tã...) đang được thực hành trên khắp thế giới, tuy ở những mức độ khéo léo khác nhau. Đầu óc mụ mị vì những suy nghĩ ấy, tôi quay lại tòa án vẫn tiếp tục phiên xử tôi ở dưới chân tháp nhẩy cầu. " hảy đi, Jêxu thân yêu, nhảy đi," Lucy Rennwand thì thầm, Lucy-nhân-chứng-đồng-trinh-và-kẻ-cám-dỗ. Cô ta ngồi trên lòng Xa- tăng, do đó càng nổi bật nét trinh trắng. Xa-tăng đưa cho cô ta một chiếc xăng-đuých. Cô ta cắn nập răng khoái trá nhưng không mảy may mất vẻ trinh bạch. "Nhảy đi, Jêxu thân yêu, nhảy đi," cô ta vừa nhai vừa nói, phô với tôi cái hình tam giác nguyên vẹn.
 
Tôi không nhảy và quý vị sẽ không bao giờ bắt gặp tôi nhảy hoặc lao đầu xuống từ một tháp nhảy cầu. Đây không phải là phiên toà cuối cùng xử Oskar. Người ta đã nhiều lần tìm cách thuyết phục tôi nhảy và lần cuối cùng rất gần đây thôi. Tại phiên toà Ngón Tay Đeo Nhẫn - mà tôi ưng gọi là vụ án thứ ba của Jêxu - cũng có rất đông khán giả quanh cái bể bơi không có nước. Họ ngồi trên hàng ghế nhân chứng, quyết một lòng thưởng thức vụ án của tôi.
 
Nhưng tôi quay đằng sau, bóp nghẹt những con én non trong nách tôi, giẫm bẹp cặp nhím phủ nhau dưới gan bàn chân tôi, bỏ chết đói lũ mèo con xám trong các khớp gối tôi. Coi khinh cái thú nhảy cầu, tôi bước những bước cứng ngắc đến lan can, bắt đầu xuống thang và mỗi bậc thang lại củng cố thêm trong tôi niềm tin rằng người ta có thể không chỉ leo lên những tháp nhảy cầu mà còn tụt xuống mà không cần nhảy.
 
Bên dưới, Maria và Matzerath đang đợi tôi. Cha Wiehnke ban phước cho tôi mặc dù tôi không yêu cầu. Gretchen Scheffller mang đến cho tôi một cái áo măng-tô nhỏ và ít bánh ngọt. Kurt đã lớn và không chịu nhận tôi là bố hoặc anh cùng cha khác mẹ. Bà ngoại Koljaiczek của tôi khoác tay ông anh Vincent, ông lão này hiểu biết thế giới và nói chuyện chẳng đâu vào đâu.
 
Trong khi chúng tôi rời toà án, một quan chức mặc đồ dân sự lại gần Matzerath, đưa cho ông một tờ giấy và nói: "Ông cần phải suy nghĩ về chuyện này, ông Matzerath. Thằng bé cần được cách ly khỏi đường phố. Ông thấy đấy, nó yếu đuối và khờ dại, lúc nào cũng có thể bị những phần tử bất hảo lợi dụng."
 
Maria khóc và đưa cho tôi cái trống mà Cha Wiehnke đã lo bảo quản trong thời gian xử án. Chúng tôi đi đến bến xe điện cạnh Ga trung tâm. Matzerath bế tôi đi nốt quãng đường cuối. Tôi ngoái nhìn qua vai ông, tìm trong đám đông một khuôn mặt tam giác, tự hỏi thầm: cả cô ta nữa, liệu cô ta có phải leo lên tháp và nhảy, sau Störtebeker và Moorkähne không? Hay cũng như tôi, cô ta đã chọn cái khả năng tụt xuống thang?
 
Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn chưa bỏ được cái thói quen đảo mắt quanh phố xá hoặc những nơi công cộng tìm một thiếu nữ gày gò, không xinh mà cũng chẳng xấu, nhưng luôn luôn cắn đàn ông. Ngay cả khi nằm trên giường của bệnh viện tâm thần này, tôi vẫn hoảng hốt mỗi khi Bruno báo có khách lạ. Cơn ác mộng của tôi là bỗng nhiên Lucy Rennwand xuất hiện dưới dạng một mụ pbù thuỷ độc ác và, lần cuối cùng, ra lệnh cho tôi nhảy.
 
Trong mười ngày liền, Matzerath suy nghĩ xem có nên ký và gửi tờ giấy đó lên Bộ Y Tế hay không. Khi, vào hôm thứ mười một, ông ký và bỏ nó vào thùng thư bưu điện, thì thành phố đã bị pháo kích và không ai dám chắc rằng bức thư của ông có tới nơi hay không. Những mũi nhọn thiết giáp thuộc đạo quân của Nguyên soái Rokossovski đã tới Elbing. Quân đoàn 2 của Đức do Weiss chỉ huy chiếm lĩnh những cao điểm xung quanh Danzig. Như mọi người khác, chúng tôi bắt đầu sống trong hầm rượu.
 
Như quý vị đã biết, hầm rượu của chúng tôi ở ngay dưới cửa hàng. Có thể xuống bằng lối cửa trong hành lang, đối diện phòng vệ sinh. Đi xuống mười tám bậc, qua hầm nhà ông Heilandt và hầm nhà bà Kater là đến, sau đó là hầm nhà Schlager. Ông già Heilandt vẫn ở lại, nhưng bà Kater, bác thợ đồng hồ Laubchad, gia đình Eyke và gia đình Schlager đã khăn gói gió đưa trên đường di tản. Nghe nói về sau, họ cùng với Alexander và Gretchen Scheffler, vào phút cuối, đã lên được một con tàu của tổ chức "Sức Mạnh thông qua Niềm Vui"; theo hai lời đồn khác nhau, thì con tàu hoặc đã tới được Stettin hay Lubeck gì đó, hoặc đã vấp phải mìn; dù thế nào đi nữa, quá nửa số căn hộ và hầm rượu đã trống không.
 
Hầm nhà chúng tôi được cái thuận lợi là có một lối vào thứ hai: đó là cái cửa xập ngay đằng sau quầy trong cửa hàng, như quý vị cũng đã biết. Do đó, người ngoài không ai có thể thấy Matzerath đưa xuống hầm những gì hoặc lấy từ hầm lên những gì. Nếu không thì người ta ắt đã chẳng để yên cho đống lương thực thực phẩm mà Matzerath tích trữ trong những năm chiến tranh. Căn hầm ấm áp, khô ráo đầy ắp những đậu khô các loại, mì sợi, đường, mật ong nhân tạo, bột mì và mác-ga-rin. Những hộp bánh quy Thụy Điển chồng chất trên những hòm Grisco. Matzerath rất khéo tay, ông đã tự tay đóng những cái giá để chứa hoa quả hộp. Nhờ có những cột chống mà theo lời khuyên của Greff, Matzerath đã dựng vào quãng giữa cuộc chiến, hầm kho trở nên an toàn như một hầm phòng không đúng quy cách. Nhiều lần, Matzerath đã nghĩ đến việc dỡ những cột chống vì không có cuộc không kích nào ghê gớm. Nhưng khi Greff, trưỏng ban phòng không khu vực, không còn nữa để Chỉnh đốn ông, đến lượt Maria đòi ông phải để nguyên các cột chống. Nàng đòi hỏi ông phải đảm bảo an toàn cho Kurt và đôi khi cho cả tôi nữa.
 
Trong những cuộc không kích đầu tiên vào cuối tháng giêng, ông già Heilandt và Matzerath hợp lực lại để khiêng Mamăng Truczinski cùng cái ghế của bà xuống hầm nhà chúng tôi. Sau đó, có lẽ theo yêu cầu của bà, cũng có lẽ để tránh hao tổn sức vào việc khiêng bà, họ để bà lại ngồi cạnh cửa sổ trong căn hộ của bà. Sau cuộc oanh kích lớn vào nội thành, Maria và Matzerath thấy bà già hàm dưới trễ xuống, mắt trợn ngược như có con muỗi mắt dính vào tròng con ngươi.
 
Người ta phải nhấc cánh cửa phòng ra khỏi bản lề. Ông già Heilandt mang đồ nghề và mấy mảnh ván hòm đến. ông vừa đo đạc vừa hút thuốc lá Derby của Matzerath cho. Oskar phụ việc cho ông. Những người khác biến xuống hầm vì các cuộc pháo kích lại bắt đầu.
 
Ông già Heilandt vội, ông định làm một cỗ áo quan hình chữ nhật đơn giản thôi. Nhưng Oskar một mực đòi làm theo hình dạng truyền thống. Tôi giữ ván cho ông cưa theo những chỉ dẫn cụ thể của tôi và kết quả là một cỗ quan tài thuôn thuôn đằng chân như mọi thi thể người đều có quyền đòi hỏi như vậy.
 
Cuối cùng, chúng tôi có một cỗ áo quan đẹp. Lina Greff rửa ráy cho Mamăng Truczinki, mặc cho bà một chiếc áo ngủ tươm tất lấy từ tủ quần áo, cắt móng tay cho bà, soạn lại búi tóc và lấy chiếc kim đan chống lên, tóm lại cố làm sao cho Mamăng Truczinski, ngay cả khi chết, vẫn giống một con chuột nhắt xám thích ăn bánh khoai tây và uống cà-phê hạt muồng.
 
Con chuột nhắt cứng đơ trong khi cuộc ném bom chưa dứt nên đầu gối không duỗi ra được nữa. Trước khi đậy nắp áo quan, lợi dụng lúc Maria ra ngoài, ông già Heilandt đã phải bẻ gãy chân bà.
 
Thật không may, chúng tôi không kiếm được sơn đen, mà chỉ có sơn vàng. Mamăng Truczinski được khiêng ra khỏi phòng và xuống cầu thang trong quan tài không sơn, nhưng thuôn đằng chân đàng hoàng. Oskar theo sau với cái trống, đọc hàng chữ trên nắp áo quan: Vitello Margarine - Vitello Margarine - Vitello Margarine: cách quãng đều đặn và lặp lại ba lần, những chữ này chứng tỏ khẩu vị của Mamăng Truczinski lúc sinh thời. Vì quả thật, bà thích loại mác-ga-rin Vitello hoàn toàn làm bằng dầu thực vật ấy hơn cả loại bơ tốt nhất vì mác-ga-rin luôn luôn tươi, lành và bổ và làm cho người ta vui tươi.
 
Ông già Heilandt đặt quan tài lên chiếc xe ba-gác của cửa hàng rau quả Greff và kéo qua các phố Louise, Đức Bà, xuôi đường Anton Mõllercó hai ngôi nhà đang cháy, hướng về phía Bệnh viện phụ khoa. Bé Kurt ở lại với bà goá Greff ở hầm nhà chúng tôi. Maria và Matzerath đẩy, Oskar ngồi trên xe bên cạnh quan tài, gã những muốn trèo lên trên, nhưng không được phép. Phố xá chật ních người tỵ nạn từ Đông Phổ và vùng châu thổ. Hầu như không thể qua cầu chui theo lối Cung Thể Thao. Matzerath đề nghị xuyên qua vườn của trường Conradinum. Ý kiến nàv không lọt tai Maria cũng như ông già Heilandt vốn bằng tuổi Mamăng Truczinski. Tôi cũng phản. đối. Tuy nhiên, không thể đến nghĩa trang thành phố được vì từ Cung Thể Thao trở đi, đại lộ Hindenburg bị chặn, không cho bất cứ phương tiện nào qua lại trừ xe quân sự. Vì vậy, không thể chôn bà chuột nhắt bên cạnh con trai Herbert, chúng tôi đành kiếm cho bà một chỗ trong Công viên Steffens, cách Cánh Đồng Tháng Năm không xa.
 
Đất đông cứng. Trong khi Matzerath và ông già Heilandt thay phiên nhau cuốc và Maria cố nhổ đám cây trường xuân cạnh những ghế đá, Oskar lẻn ra đại lộ Hindenburg. Ôi, sao mà lắm xe thế! Những chiến xa và xe bọc thép rút lui từ những cao điểm và vùng châu thổ, một số phải kéo nhau. Nhiều lính và dân quân bị treo lủng lẳng trên cây - những cây đoạn, nếu tôi nhớ không nhầm. Trên áo ca-pốt của họ, những tấm biển các-tông nêu rõ đó là những tên phản quốc. Tôi nhìn những bộ mặt rúm ró của đám người bị xử giảo đó và làm những so sánh - với những người chết treo nói chung và với Greff- Rau- Quả nói riêng. Trong số những người bị treo cổ, có hàng đám thiếu niên trong những bộ quân phục quá rộng đối với chúng và nhiều lần tôi ngỡ nhận ra Störtebeker - nhưng những thiếu niên lủng lắng ở đầu một sợi dây thì đứa nào chả giống đứa nào. Tuy nhiên tôi tự bảo: "Vậy là họ đã treo cổ Störtebeker, không biết họ có làm thế với Lucy Rennwand không?"
 
Ý nghĩ đó chắp cánh cho Oskar. Gã sục các hàng cây bên trái bên phải tìm một một đứa con gái gày gò lủng lắng và thậm chí còn lách giữa những xe tăng băng qua đường, nhưng bên ấy, gã cũng chỉ thấy toàn lính và dân quân và những thiếu niên nom hao hao như Störtebeker. Thất vọng, tôi lóc cóc đi đến tận tiệm cà-phê Bốn Mùa bị phá huỷ và chỉ lộn lại một cách miễn cưỡng. Trong khi tôi đứng bên mộ Mamăng Truczinski, giúp Maria rắc lá khô và dây trường xuân lên lớp đất mới đắp, hình ảnh một Lucy lủng lẳng trên cây vẫn hiện lên trong trí tôi, rõ đến từng chi tiết.
 
Chúng tôi không trả lại cái xe ba-gác cho cửa hàng rau quả. Matzerath và ông già Heilandt tháo nó ra và chất các bộ phận bên cạnh quầy. "Có thể chúng ta sẽ còn cần đến nó nữa," Matzerath nói. " Để đây là an toàn rồi." Đoạn ông cho ông già Heilandt ba gói thuốc lá Derby.
 
Ông già Heilandt không nói gi, nhưng lấy mấy gói mì sợi và hai túi đường từ những giá gần như chẳng còn gì. Rồi ông bỏ đi, lệt xệt đôi dép dạ mà ông đã mang để đưa đám, để Matzerath dọn nốt những thứ còn lại trên các giá mang xuống hầm.
 
Sau đó, chúng tôi rất ít khi thò ra khỏi lỗ. Người ta nói quân Nga đã tới Zigankenberg, Pietzendorf và ngoại ô Schidlitz. Không còn nghi ngờ gì nữa, họ đã chiếm những cao điểm vì họ bắn thẳng xuống thành phố. Nội Thành và Ngoại Thành, Khu Phố cổ, Khu Phố Tân Cổ và Khu Phố Mới, Khu Phố Dưới và Khu Phố Thực Phẩm - những gì đã phải mất bảy trăm năm để xây dựng giờ cháy trụi trong ba ngày. Tuy nhiên, đây không phải lần đầu tiên Danzig bốc cháy. Trong nhiều thế kỷ, người Pomerelia, người Brandenburg, các Hiệp sĩ Tơtông người Ba Lan, người Thuỵ Điển, rồi lại người Thuỵ Điển lần nữa, người Pháp, người Nga, và thậm chí cả người xắc-xông nữa, đã làm lịch sử bằng cách cứ mấy năm một lần lại quyết định rằng Danzig là thành phố đáng đốt. Và bây giờ đến lượt người Nga, người Ba Lan, người Đức và người Anh đồng loạt đốt những kiến trúc Gô-tích bằng gạch của thành phố này lần thứ một trăm có lẻ. Phố Câu Liêm, Phố Dài, Phố Rộng, Phố Thợ Dệt Lớn, Phố Thợ Dệt Nhỏ đều bốc lửa, Phố Tobias, Phố Chó Ngao, Hào Phố cổ, Hào Ngoại ô, Luỹ và cầụ Dài cháy tất. Cửa sếu làm bằng gỗ cháy mới ngon làm sao. Ở Phố Quần Cốc, lửa đã đặt may cho mình một lọat quần óng ánh. Nhà Thờ Nữ Thánh Mary cháy cả trong lẫn ngoài, nhìn qua những cửa sổ như ánh sáng ngày hội. Những quả chuông nào chưa được sơ tán khỏi các nhà thờ các thánh Catherine, Jean, Brigit, Barbara, Elisabeth, Pierre và Paul, Nhà Thờ Chúa Ba Ngôi đều chảy ra trong gác chuông và nhỏ giọt không kèn không trống, ở cối Xay Lớn, người ta xay bột đỏ rực. Phố Hàng Thịt sực mùi thịt quay cháy. Nhà Hát thành phố công diễn vở kịch một hồi nhưng hai nghía nhan đề Giấc mơ của kẻ phóng hoả. Ở Toà Thị Chính, người ta quyết định tăng lương cho lính cứu hoả sau vụ cháy này. Tu viện dòng Thánh Francisco hoan hỉ bùng lên nhân danh Thánh Francisco, người đã yêu lửa và hát ngợi lửa. Phố Đức Bà cháy vì cả Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con cùng một lúc. Khỏi phải nói, Chợ Gỗ, Chợ Than và Chợ Cỏ Khô đã tan thành khói. Phố Bánh Mì, lò và bánh chia lửa với nhau. Phố Bình Sữa, sữa tràn ra ngoài. Chỉ riêng toà nhà của hãng Bảo hiểm Cháy, thuần tuý vì lý do tượng trưng, là không chịu bốc cháy.
 
Oskar vốn chưa bao giờ quan tâm nhiều đến lửa. Khi Matzerath chạy lên sân thượng để nhìn quang cảnh Danzig bốc cháy, tôi ắt đã ngồi lại dưới hầm nếu tôi không bất cẩn đề mấy vật sở hữu ít ỏi rất dễ bắt lửa trên tầng áp mái. Tôi nhất quyết phải cứu cái cuối cùng trong số trống mà Bebra đã cho tôi và cuốn sách Goethe-Rasputin. Giữa những trang sách, tôi lưu giữ một chiếc quạt nhẹ như tơ với những hình vẽ tinh tế mà lúc sinh thời Roswitha của tôi đã phe phẩy một cách vô cùng duyên dáng. Maria ở lại dưới hầm. Nhưng bé Kurt muốn lên mái nhà với tôi và Matzerath để xem đám cháy. Thoạt đầu, tôi bực mình vì sự phấn khích không kìm nổi của con trai tôi, nhưng rồi Oskar tự nhủ có lẽ Kurt thừa kế tính máu mê lửa ấy từ cụ ngoại nó tức ông ngoại tôi, Koljaiczek-trùm-phóng-hỏa. Maria giữ Kurt ở dưới, còn tôi được phép lên cùng Matzerath. Tôi thu gom tài sản của mình, ghé mắt nhìn qua cửa sổ tầng áp mái và ngạc nhiên thấy cái thành phố cổ kính của chúng tôi lại có thể bùng lên một sức sống mãnh liệt như vậy.
 
Khi đạn pháo bắt đầu rót vào gần đấy, chúng tôi xuống dưới nhà. Về sau, Matzerath lại định lên nữa, nhưng Maria không để cho ông lên. Ông nhượng bộ. Ông vừa khóc vừa tả lại chi tiết cảnh thành phố cháy cho bà góa Greff nghe. Một lần nữa, ông trở lại căn hộ và mở đài nhưng chẳng nghe thấy gì cả, Thậm chí tiếng lách tách lửa thiêu trụ sở Đài phát thanh cũng không thấy, nói chi đến một bản tin đặc biệt.
 
Matzerath đứng đó, giữa căn hầm, giựt giựt đai đeo quần, ngơ ngác như một đứa trẻ không biết có nên tin ở ông già Nô-en nữa hay không và lần đầu tiên, nói lên những nghi ngờ về thắng lợi cuối cùng. Theo lời khuyên của bà góa Greff, ông tháo cái huy hiệu Đảng khỏi ve áo nhưng không biết xử trí với nó như thế nào vì sàn hầm lát bằng bê-tông. Lina Greff thì không muốn rước lấy cái của nợ ấy, Maria gợi ý nên vùi dưới đống khoai tây vụ đông, nhưng Matzerath thấy chỗ đó không an toàn và ông sợ không dám lên tầng trên, vì họ sắp đến đây bây giờ, họ đang trên đường, khi ông nhìn từ gác thượng thì họ đã tới Brenntau và Oliva rồi và ông lấy làm tiếc đã không để nó lại trên ấy trong đống cát phòng không, vì nếu họ thấy ông cầm cái của nợ này trong tay thì rắc rối to. Ông vứt nó xuống sàn bê-tông, định giẫm lên nó, nghiền nát nó, nhưng cả Kurt lẫn tôi cùng nhảy tới. Tôi nhặt được nó trước và giữ chặt lấy khi Kurt bắt đầu thụi như nó bao giờ cũng làm thế mỗi lúc đòi cái gì, nhưng tôi không muốn con trai mình giữ cái huy hiệu Đảng rất nguy hiểm cho nó, vì theo những gì Oskar đọc trong Rasputin, thì đừng có đùa với người Nga. Trong khi Kurt đấm tôi và Maria cố gỡ hai chúng tôi ra, tôi tự hỏi không biết đây sẽ là Nga Trắng nay Nga Lớn, Gô-dắc hay Gru-di-a, Kalmouk hay Tacta vùng Crưm, Ruthenia hay Ukraina hoặc thậm chí có thể là Kirghiz, bọn họ sẽ tìm thấy chiếc huy hiệu Đảng trên người Kurt nếu Oskar nhượng bộ dưới những cú đòn của con trai gã.
 
Khi Maria, với sự giúp đỡ của bà goá Greff, gỡ được chúng tôi rời nhau ra, tôi đang thắng nghĩa là đang nắm chặt chiếc huy hiệu Đảng trong tay. Matzerath vui mừng vì đã dứt bỏ được nó. Mariạ bận dỗ Kurt đang gầm thét. Ghiếc ghim cài bật ra đâm vào tay tôi. Trước đây tôi không bao giờ thích cái vật này và bây giờ cũng thế. Nhưng đúng lúc tôi đang tìm cách gài nó trở lại lưng áo Matzerath - nói cho cùng thì cái đảng của ông ta dính dáng gi đến tôi cơ chứ? - thì họ đã ở trong cửa hàng trên đầu chúng tôi và, bằng vào tiếng phụ nữ la hét, thì ở cả những hầm bên cạnh nữa.
 
Khi họ nhấc cánh cửa xập lên, chiếc huy hiệu vẫn nằm trong tay tôi. Tôi còn biết làm gì ngoài việc ngồi xuống bên cạnh đôi đầu gối run bần bật của Maria và quan sát hoạt động của đàn kiến trên sàn bê-tông? Chúng đã vạch một con đường chiến lược từ đống khoai tây vụ đông, qua suốt sàn hầm, đến một bì đường. Những, người Nga hoàn toàn bình thường, hơi lai một chút, tôi nghĩ thầm khi sáu, bảy người tay lăm lăm tiểu liên, mắt giương to, xuất hiện trên cầu thang xuống hầm. Giữa những tiếng la thét, thật là an tâm khi thấy lũ kiến không hề đếm xỉa đến sự xuất hiện của quân đội Nga. Chúng vẫn chỉ quan tâm đến khoai tây và đường, mặc cho những người cầm tiểu liên đặt những mục tiêu chinh phục khác lên trước. Tôi thấy việc những người lớn giơ tay lên là hoàn toàn bình thường. Cái đó, tôi đã được biết qua những đoạn phim thời sự và tôi đã chứng kiến cái cử chỉ khuất phục như thể sau khi Sở Bưu Chính Ba Lan thất thủ. Nhưng tại sao Kurt lại phải bắt chước những người lớn, điều ấy tôi không hiểu. Lẽ ra nó phải noi gương tôi, cha nó hoặc nếu không làm theo cha nó thì chí ít cũng theo đàn kiến. Lập tức, ba trong số những bộ quân phục chữ nhật tập trung chú ý vào Lina Greff và điều đó đem lại chút sống động cho toàn cảnh từ nãy đến giờ vẫn tĩnh lặng. Nàng Greff, sau thời gian dài goá bụa và những năm chay tịnh trước đó, hầu như không chờ đợi một sự săn đón đột ngột thế, thoạt đầu thốt lên mấy tiếng kêu ngỡ ngàng, nhưng rồi mau chóng thích ứng trở lại với cái tư thế nằm ngang mà nàng đã hồ như quên mất.

Tôi đã đọc trong sách Rasputin rằng người Nga rất yêu trẻ con. Điều này, như tôi nhanh chóng nhận thấy, là hoàn toàn đúng. Maria đã run sợ một cách không cần thiết. Nàng không hiểu tại sao bốn gã Ivan không bận bịu với Lina lại để Kurt ngồi lên lòng thay vì thay phiên bọn kia vào cuộc; nàng rất ngạc nhiên thấy họ âu yếm thằng bé, nói đa-đa-đà với nó, vỗ vỗ má nó và thi thoảng cả má nàng nữa.
 
Có ai nhấc tôi cùng cái trống của tôi len khỏi sàn bê-tông. Tôi không thể quan sát đàn kiến và đo sự trôi chảy của thời gian qua nhịp độ hoạt động của chúng được nữa. Cái trống lủng lẳng trước bụng tôi và gã người Nga to lớn với những lỗ chân lông nỗ rộng khua những ngón tay chuối mắn gõ mấy nhịp khả di có thể nhảy múa theo, ờ, người lớn mà đánh thế cũng không hổ, tôi nghĩ. Oskar cũng muốn trổ tài, nhưng không thể được vì chiếc huy hiệu Đảng của Matzerath vẫn cồm cộm trong lòng bàn tay trái của gã.
 
Một không khí bình yên, gần như là ấm cúng, bao trùm căn hầm. Mỗi lúc một lặng lẽ hơn, nàng Greff nằm dạng dưới ba gã Ivan kế tiếp nhau. Khi một gã hoàn tất lượt mình, tay trống tài năng của tôi liền trao Oskar cho gã thanh niên mắt sếch, mình đẫm mồ hôi, một gã Kalmouk chắc thế. Tay trái bế tôi, tay phải gã cài khuy quần, trong khi người tiền nhiệm của gã, tức là tay chơi trống, làm ngược hẳn lại. Tuy nhiên, đối với Matzerath, thì không có gì thay đổi. Ông vẫn đứng bên cái giá đầy thịt hầm hộp Leipzig, hai tay giơ lên, phô rõ các đường chỉ tay; nhưng không ai muốn xem tướng tay cho ông. Trong khi đó, phụ nữ tỏ ra có khả năng thích ứng đáng kể: Maria học những từ Nga đầu tiên, đầu gối nàng không run nữa, thậm chí nàng còn cười thành tiếng và có thể đã chơi ác- mô-ni-ca nếu như nó nằm trong tâm tay.
 
Oskar, vốn khó thích ứng hơn, nhìn quanh tìm một cái gì thay thế đàn kiến và phát hiện ra một loại côn trùng khác nâu nâu xam xám béo núc đang bò quanh gờ cổ áo gã Kalmouk. Tôi muốn bắt một con để xem cho kỹ vì tôi đã đọc khá nhiều về rận, lác đác ở Goethe, nhưng chủ yếu là ở Rasputin. Nhưng bắt rận bằng một tay thì rất khó, cho nên tôi quyết định dứt bỏ chiếc huy hiệu Đảng. Oskar cảm thấy có thể giải thích cách ứng xử của mình, ờ, đây là điều tốt nhất gã có thể làm: cái huy hiệu cồm cộm ngăn không cho tôi bắt được rận. Ngực gã Kalmouk thì đã đầy huân chương và huy hiệu rồi. Cho nên nhân Matzerath đang đứng ngay bên cạnh, tôi giơ bàn tay nắm hờ cho ông.
 
Quý vị có thể bảo rằng lẽ ra tôi không nên làm như vậy. Nhưng có lẽ tôi cũng có quyền trả lời rằng đáng ra Matzerath không nên nắm lấy tay tôi.
 
Dù sao mặc lòng, ông đã nắm lấy nó, tôi thoát được của nợ. Một nỗi kinh hoàng từ từ xâm chiếm Matzerath khi ông cảm thấy cái vật biểu trưng cho Đảng của ông giữa những ngón tay. Giờ đây, khi tay tôi đã tự do, tôi không cần thấy Matzerath làm gì với cái huy hiệu của ông. Tư tưởng còn đang phân tán khó bề bắt được rận, Oskar cố tập trung vào đàn kiến, nhưng một cử động nhanh của bàn tay Matzerath đã không lọt khỏi mắt tôi. Tôi không nhớ lúc đó tôi nghĩ gì, bây giờ nhớ lại, tôi chỉ có thể nói: giá ông cứ giữ cái vật hình thoi nhiều màu ấy trong tay thì khôn ngoan hơn.
 
Nhưng, trong bước đường cùng, ông lại muốn dứt bỏ nó cơ và mặc dầu ông luôn luôn tỏ ra giàu tưởng tượng trong việc làm bếp và trang trí quầy hàng, lúc này ông không nghĩ ra chỗ giấu nào tốt hơn là miệng mình.

Có khi một cử chỉ vặt vãnh lại có tầm quan trọng rất lớn. Cái động tác nhỏ từ tay lên miệng đó đủ làm giật mình hai gã Ivan đang bình yên ngồi bên trái và bên phải Maria và khiến họ bật dậy, dí tiểu liên vào bụng Matzerath: ai nấy đều có thể thấy rành rành là ông ta đang định nuốt một cái gì.
 
Gía như trước hết, ông đã khéo lựa ngón tay đóng lại cái ghim cài! Lúc này, ông nghẹn, mặt ông đỏ tía lên, mắt lồi ra, ông ho, cười, khóc và tất cả những cái đó khiến ông không thể tiếp tục giơ hai tay lên được. Nhưng về điểm này, các tay Ivan rất kiên quyết. Họ quát, họ muốn thấy lòng bàn tay ông. Nhưng Matzerath đang có chuyện với khí quản của mình. Thậm chí ông không thể ho cho tử tế nữa. Ông bắt đầu nhảy và khoa tay loạn xạ, gạt phăng một hộp thịt hầm Leipzig khỏi giá. Gã Kalmouk của tôi, từ nãy đến giờ vẫn lặng lẽ nhìn, thận trọng đặt tôi xuống đất, quài tay ra sau lưng lấy một vật gì, cầm ngang hông ở tư thế nằm ngang và bắn. Gã trút cả một băng trước khi Matzerath hết sặc.
 
Khi Định Mệnh ập đến, người ta có thể làm những điều thật kỳ quặc! Trong khi ông bố hờ của tôi đang nuốt Đảng và hấp hối, thì tôi bất giác bóp bẹp giữa hai ngón tay một con rận mà tôi vừa bắt được trên áo gã Kalmouk. Matzerath đã ngã nằm ngang con đường của đàn kiến. Đám Ivan rời căn hầm bằng lối cầu thang dẫn lên cửa hàng, lấy theo mấy gói mật ong nhân tạo. Gã Kalmouk của tôi lên sau cùng, gã không lấy gói mật ong nào vì còn bận thay băng tiểu liên. Nàng goá Greff nằm rũ rượi, tóc rối bù giữa những hòm mac-ga-rin. Maria ghì lấy bé Kurt như muốn nghiền nát nó. Một câu của Goethe vụt qua đầu tôi. Đàn kiến đứng trước một tình thế mới, nhưng không nao núng vì trở ngại, chúng vạch một con đường chiến lược mới vòng quanh cái xác co quắp của Matzerath; vì đường vãi ra từ cái bì rách toạc vẫn không kém ngọt chút nào trong khi Nguyên soái Rokossovski chiếm đóng thành phố Danzig.
 
 
[...]
______
[1] Bá tước thứ nhất Louis Mountbatten còn gọi là Mounbatten of Burma tức Mountbatten của Miến Điện (1900-1970). Đô đốc Anh, con trai hoàng thân Louis de Battenberg. Trong Thế chiến II, từng chỉ huv các tàu sân bay (1941), chỉ huv các chiến dịch không-hải quân phối hợp (1942). Tổng chỉ huv liên quân đồng minh ở Đông Nam Á. Đánh đuổi quân Nhật khỏi Ấn Độ Dương và Miến Điện. Trở thành phó vương Ấn Độ từ 1946 đến 1947. Bị IRA ám sát năm 1970.
 
...! Tràn đầy mà rỗng lặng
Biển vô lượng thủy triều
Đường về tâm hết động
Tuyệt chiêu là vô chiêu !...

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 18.07.2016 15:09:20 bởi tducchau>
[...]
 
 
NÊN HAY KHÔNG NÊN
 
Đến lập cư ở đây đầu tiên là người Rugi, người Goth và người Gepide, rồi đến người Kashubes mà Oskar là hậu duệ trực hệ. Ít lâu sau, người Ba Lan phái Adalbert thành Praha đến. Ông này mang Thánh Gía tới và bị người Kashubes hay người Borussia dùng rìu giết chết. Chuyện đó xẩy ra ở một làng chài tên là Gyddanyze. Gyddanyze trỏ thành Danczig, rồi Dantzig, sau này trên văn tự bỏ chữ t đi và hiện nay, thành phố này tên là Gdansk.
 
Nhưng trước khi đi tới sự điều chỉnh chính tả như vậy và kế theo người Kashubes, các quận công của Pomerelia đã tới Gyddanyse. Họ mang những cái tên như Subislaus, Sambor, Mestwin và Swantopolk. Ngôi làng trở thành một thị trấn. Rồi những người Borussia đến, chỉ chăm chăm cướp phá. Rồi những người Brandenburg từ xa đến, cũng ham cướp phá. Boleslaw người Ba Lan góp phần mình theo tinh thần ấy và những tổn hại vừa được sửa chữa thì các Hiệp sĩ Tơ-tông lại nhảy vào thực hiện truyền thống lâu đời.
 
Nhiều thế kỷ trôi qua. Thành phố trải mọi trầm luân, hết phá huỷ lại tái thiết, lần lượt qua tay các quận công Pomerelia, các đại gia dòng Tơ-tông các quân vương và phản-quân vương của Ba Lan, các bá tước của Brandenburg và các giám mục của Wloclawek. Những người điều hành việc xây và phá tên là Otto và Waldemar, Bogossa, Heinrich von Plotzke - và Dietrich von Altenberg, ông này xây tại chỗ pháo đài của các Hiệp sĩ Tơ-tông sau trở thành Quảng trưởng Hevelius, nơi vào thế kỷ hai mươi, có những người cố thủ Sở Bưu Chính Ba Lan.
 
Những người Hussite đến, đốt vài điểm đây đó rồi đi. Các Hiệp sĩ Tơ-tông bị đánh bật khỏi thành phố và pháo đài bị triệt phá vì dân chúng đã chán ngấy sự hiện diện của một pháo đài giữa thành phố của mình. Người Ba Lan tiếp quản và mọi sự không vì thế mà xấu đi. Ông vua đạt được kết quả đó là Kazimierz, mang danh hiệu Đại Đế, con trai của Wladyslaw Đệ Nhất. Rồi đến Louis của Huhggari và sau Louis là con gái ông, Jadwlga. Nàng lấy Jagello của Litva, người sáng lập triều đại Jagellon. Sau Wladyslaw II đến Wladyslaw III, rồi một Kazimierz khác; ông này thiếu nhiệt huyết thỏa đáng, tuy nhiên trong mười ba năm trường, đã vung phí tiền bạc quý giá của các thương gia Danzig để tiến hành chiến tranh với các Hiệp sĩ Tơ-tông. Mặt khác, Jean Albert phải để mắt hơn đến bọn Thổ. Kế vị Alexander là Zygmunt starý, hay còn gọi là Sigsmund-gà. Trong giáo trình dậy sử, sau chương về Sigsmund Augustus, là chương về Stefan Batory mà người Ba Lan thường thích lấy tên đặt cho các tàu xuyên đại dương của mình, ông này bao vây và nã đại bác vào thành phố trong bao lâu có trời biết - xem sách giáo khoa - mà vẫn không chiếm được. Rồi đến người 'Thuỵ Điển cũng vậy. Họ đâm khoái bao vây thành phố này đến nỗi họ lặp đi lặp lại vở đó nhiều lần nữa. Cùng thời gian ấy, Vịnh Danzig cũng trở nên rất nổi tiếng đối với người Hà Lan, người Đan Mạch và người Anh, và một số trong những thuyền trưởng các nước ấy trở thành anh hùng biển cả chỉ vì đã tuần tiễu quanh vùng Danzig.
 
Sự yên bình của Oliva. Cái âm hưởng mới ngọt ngào và thanh bình làm sao! Các cường quốc lần đầu tiên chợt nhận ra rằng đất Ba Lan phù hợp tuyệt vời với việc chia cắt. Thuỵ Điển, Thuỵ Điển, lại Thuỵ Điển - công sự Thuỵ Điển, rượu punch Thuỵ Điển, giá treo cổ Thuỵ Điển. Rồi người Nga và người Xắc-xông kéo đến vì Stanislaw Leszczynski, ông vua Ba Lan tội nghiệp trốn trong thành phố. Vì mỗi một ông vua này, một nghìn tám trăm ngôi nhà đã bị phá huỷ và khi Leszczynski tội nghiệp trốn sang Pháp vì con rể Louis của ông sống ở đó, thì nhân dân Danzig phải ho ra một triệu bạc.
 
Rồi Ba Lan bị chia ba. Người Phổ không mời mà đến; trên tất cả các cổng thành, họ vẽ con chim biểu trưng của họ đè lên con đại bàng Ba Lan. Nhà giáo dục Johannes Palk vừa kịp viết bài hát Nô-en nổi tiếng "O Du frohliche (Ôi đêm vui vẻ)"... thì người Pháp xuất hiện. Tướng của Napoleon tên là Rapp và sau một cuộc bao vây khốn khổ, nhân dân Danzig phải vét cho đủ hai mươi triệu franc nộp cho ông ta. Thời kỳ Pháp chiếm đóng thật khủng khiếp, điều đó khỏi phải nghi ngờ, song chỉ kéo dài có bảy năm. Rồi người Nga và người Phổ đến, nã pháo đốt cháy Đảo Kho. Đây là sự cáo chung của Bang Tự Do mà Napoléon đã mơ tưởng. Một lần nữa, người Phổ lại có dịp vẽ con chim của mình lên tất cả các cổng thành. Sau khi làm vậy với tất cả tính triệt để đặc thù Phổ, họ tiến hành lập một doanh trại đồn trú cho Trung doàn Bộ binh 4, Lữ đoàn Pháo binh 1, Tiểu đoàn Gông binh 1 và Trung đoàn Khinh ky-Cận vệ 1. Trung đoàn Bộ binh 30, Trung đoàn Bộ Binh 18, Trung đoàn Bộ binh Cận vệ 3, Trung đoàn Bộ binh 44 và Trung đoàn Khinh binh 33 chỉ thi thoảng mới đồn trú ở thành phố và không bao giờ đóng lâu. Nhưng Trung đoàn Bộ binh 138 khét tiếng thì mãi đến năm 1920 mới rời đi. Để cho trọn vẹn, có lẽ cũng nên nhắc thêm rằng trong thời kỳ Phổ chiếm đóng, Lữ đoàn Pháo binh 1 đã phình ra, bao gồm thêm Tiểu đoàn Pháo binh Pháo đài 1, Tiểu đoàn Bộ binh 2, Trung đoàn Pháo binh Đông Phổ và Trung đoàn Pháo-bộ Pomerania 2, về sau thay bằng Trung đoàn Pháo-Bộ Đông Phổ 16. Kế tục Trung đoàn Khinh kỵ-Cận vệ 1 là Trung đoàn Khinh kỵ-Cận vệ 2. Trung đoàn Uhlan 8 chỉ ở nội thành một thời gian ngắn, còn Tiểu đoàn Hậu cần Đông Phổ 17 thì đóng bên ngoài, ở khu ngoại ô Langfuhr.
 
Vào thời Burckhardt, Rauschning và Greiser, đại diện cho chính quyền Đức ở Bang Tự Do, chỉ có cảnh sát an ninh vận đồng phục xanh. Dưới thời Forster, năm 1939, điều đó đã thay đổi. Các doanh trại xây bằng gạch đầy những chàng trai trẻ vui tươi vận quân phục tung hứng với đủ mọi loại vũ khí. Chúng tôi có thể tiếp tục liệt kê tất cả các đơn vị đã đóng quân ỏ Danzig và vùng lân cận từ 1939 đến 1945 hoặc đã được chở bằng tàu biển từ Danzig đến mặt trận Bắc cực. Nhưng Oskar miễn cho quý vị khỏi mất thì giờ và chả xin nói nói gọn thế này: sau đó, như quý vị đã thấy, Nguyên soái Rokossovski đến. Thấy thành phố vẫn còn nguyên vẹn, ông nhớ tới những vĩ nhân quốc tế đi trước mình và đốt cháy tòan bộ bằng pháo kích để những kẻ đến sau có thể tiêu năng lượng dư thừa vào việc xây dựng lại.
 
Lạ thay, lần này, kế sau người Nga, không phải là người Phổ, Thuỵ Điển, hay Xắc-xông, cũng không phải người Pháp, mà là người Ba Lan.
 
Người Ba Lan đến với tay nải, lạc đà từ Vilna, Byalistok và Lwow, tất cả đều tìm kiếm chỗ ở. Đến khu chung cư của chúng tôi, là một ông tên gọi Fajngold; ông ta chỉ có một mình trên đời nhưng lại làm như xung quanh có cả một gia đình lớn không thể thiếu sự bảo ban của ông đến một phút, ông Fajngold lập tức tiếp quản cửa hàng tạp hóa và bắt đầu chỉ cho bà vợ Luba (nào có ai trông hoặc nghe thấy bà này) mọi thứ: cái cân, thùng dầu hoả, cái dóng bằng đồng để treo xúc-xích, cái ngăn kéo đựng tiền rỗng không và (tới đây, niềm phấn khởi dâng lên tột độ) dự trữ lương thực thực phẩm dưới hầm. Ông thuê Maria làm nhân viên bán hàng và bằng rất nhiều lời, giới thiệu nàng với bà Luba tưởng tượng của ông; đến đây, Maria chỉ cho ông Fajngold thấy Matzerath của chúng tôi ba ngày nay vẫn nằm trên sàn hầm, phủ một tấm vải bạt. Chúng tôi không chôn ông được vì phố xá nhan nhản những người Nga hau háu kiếm xe đạp, máy khâu và đàn bà.
 
Khi ông Fajngold trông thấy cái xác, mà chứng tôi đã lật ngửa lên, ông chắp hai tay lên trán một cách biểu cảm như Oskar đã thấy bác Sigismund Markus bán đồ chơi từng làm nhiều năm về trước. Ông gọi không chi riêng bà vợ Luba, mà cả gia đình xuống hầm và rõ ràng là ông thấy cả bọn họ tới vì ông xướng tên từng người một: Luba, Lev, Jakub, Berek, Leon, Mendel và Sonya, ông nói cho cả bọn biết người nằm chết là ai sau đó kể cho bọn tôi là tất cả những người ông vừa gọi cũng như cô em vợ ông cùng anh chồng cô ta (ông này có năm đứa con), đều đã nằm như thế trước khi được đưa vào lò thiêu Treblinka, và tất cả bọn họ đã nằm đó - trừ ông vì ông có nhiệm vụ phải rắc vôi bột lên họ.
 
Rồi ông giúp bọn tôi khiêng Matzerath lên cửa hàng, cả gia đình lại vây quanh ông và ông đề nghị bà vợ Luba giúp Maria rửa ráy xác chết. Bà ta không đụng đậy đến một ngón tay, nhưng ông Fajngold đâu có thấy vì lúc này ông đang chuyển hàng dự trữ lên cửa hàng. Lần này, Lina Greff, người đã làm việc rửa ráy cho Mamăng Truczinski, không có mặt để giúp chúng tôi; bà ta có khách Nga đầy nhà và chúng tôi nghe thấy bà đang hát.

Già Heilandt, ngay từ những ngày đầu chiếm đóng, đã kiếm được việc làm với tư cách là thợ đóng giày. Ông đang bận đóng lại đế cho những đôi ủng đã mòn vẹt trong cuộc tiến quân cấp tốc của quân Nga và thoạt đầu không muốn đóng áo quan cho chúng tôi. Nhưng sau khi ông Fajngold đi đến một thỏa thuận với ông - thuốc lá Derby ở cửa hàng chúng tôi đổi lấy một động cơ điện ở lán của ông - thì ông lão tạm gác những chiếc ủng và xách đồ nghề cùng những mảnh ván hòm cuối cùng của mình.
 
Dạo ấy - cho đến khi chúng tôi bị đuổi khỏi đó và được ông Fajngold trả lại căn hầm - chúng tôi ở tạm căn hộ của Mamăng Truczinski đã bị hàng xóm và những người nhập cư Ba Lan vơ vét sạch. Già Heilandt tháo cánh cửa giữa bếp và phòng khách ra khỏi bản lề vì cánh cửa giữa phòng khách và phòng ngủ đã được dùng để đóng quan tài cho Mamăng Truczinski. Dưới sân, ông vừa hút thuốc lá Derby vừa làm việc. Chúng tôi ở lại trên gác. Tôi lấy chiếc ghế duy nhất còn lại trong căn hộ và trèo lên, đẩy cánh cửa sổ vỡ kính ra. Tôi lấy làm buồn thấy ông già chẳng hề gắng công mà chỉ đóng qua quít một cái hòm thô sơ hình chữ nhật không vát ở dưới chân như những cỗ áo quan tự trọng.
 
Oskar không thấy lại Matzerath nữa, vì khi cái hòm được đặt lên chiếc xe ba-gác của bà goá Greff thì những nắp ván có dòng chữ Vitello Margarine đã được đậy xuống và đóng đinh, mặc dù, sinh thời, Matzerath chẳng những không ăn mác-ga-rin mà còn không thèm dùng để nấu nữa kia.
 
Maria đề nghị ông Fajngold đi cùng chúng tôi; nàng sợ đám lính Nga ngoài phố. Fajngold đang ngồi xếp bằng trên quầy, ăn mật ong tổng hợp, mới đầu tỏ ý e ngại; ông sợ Luba phản đối nhưng rồi có vẻ như bà vợ đã cho phép, vì ông tụt xuống khỏi quầy và cho tôi chỗ mật ong còn lại. Tôi nhường cho Kurt và nó tắc lẻm hết trong khi Maria giúp ông Fajngold xỏ tay vào chiếc áo măng-tô đen cổ lông thỏ xám. Trước khi đóng cửa hàng và dặn vợ không được mở cửa cho ai hết, ông chụp lên đầu một cái mũ cao thành quá nhỏ đối với ông mà Matzerath thường đội trong các đám cưới và đám tang.
 
Già Heilandt không chịu kéo chiếc xe ba-gác đến tận nghĩa trang thành phố. Ông không có thì giờ, ông nói, ông còn bao nhiêu ủng phải chữa. Đến Quảng trường Max-Halbe với những đống đổ nát còn âm ỉ bốc khói, ông rẽ trái vào Brỏsener-Weg và tôi đoán là ông đi về hướng Saspe. Lính Nga ngồi bên ngoài những ngôi nhà dưới nắng tháng hai yếu ớt, chọn lựa trong mớ đồng hồ đeo tay và đồng hồ quả quýt, lấy cát đánh bóng những cùi-dìa bạc, thử xem có thể dùng xú-chiêng làm khẩu trang được không; một số tập làm xiếc với xe đạp, dựng một đường đua vượt chướng ngại vật tạo nên bằng đủ thứ: tranh sơn dầu, đồng hồ quả lắc cỡ lớn, bồn tắm, ra-đi-ô, giá treo quần áo. Được hoan hô nồng nhiệt vì tài khéo léo, họ biểu diễn vừa lượn hình số 8, hình xoắn, đường trôn ốc, vừa tránh những xe nôi trẻ con, đèn chùm, những thứ này được ném ra từ trước từ những cửa sổ. Khi chúng tôi đi qua, họ dừng trò chơi lại mấy giây. Một số lính khoác áo thụng mặc trong nhà của phụ nữ bên ngoài quân phục, giúp chúng tôi đẩy xe và định, buông lời tán tỉnh Maria, nhưng bị ông Fajngold chỉnh liền - ông nói được tiếng Nga và có giấy thông hành chính thức. Một gã lính đội mũ phụ nữ cho chúng tôi một cái lồng chim trong có một con vẹt xanh đang đậu. Kurt, lon ton bên cạnh xe, định nhổ lông nó. Sợ, không dám từ chối món quà, Maria nhấc cái lồng ra khỏi tầm tay của Kurt và đưa cho tôi đang ngồi trên xe. Oskar, lúc này chẳng có bụng dạ nào chơi vẹt, đặt nó lên cái hòm mác-ga-rin kéo dài của Matzerath. Tôi ngồi mé sau xe, đu đưa chân và nhìn vào những nếp nhăn trên bộ mặt lầm lầm, đăm chiêu của ông Fajngold; có vẻ như ông đang nghĩ cách giải quyết một vấn đề phức tạp mà không ra.
 
Tôi gõ vài nhịp trống linh họat nhằm xua tan những suy nghi u ám của ông Fajngold. Nhưng vẻ mặt ông vẫn không thay đổi, mắt nhìn tận dâu, có lẽ tận Galicia xa xăm, không thấy cái trống của tôi. Oskar bỏ cuộc và sau đó, chẳng có âm thanh nào khác ngoài tiếng khóc của Maria và tiếng bánh xe lọc cọc.
 
Quả là một mùa đông dịu nhẹ, tôi nghĩ thầm khi chúng tôi đã bỏ những ngôi nhà cuối cùng của Langfuhr lại sau lưng. Tôi cũng hơi để mắt đến con vẹt xanh đang rỉa lông làm dáng khi thấy mặt trời chiều trên sân bay.
 
Sân bay có lính gác, đường đi Brösen bị chắn. Mọt sĩ quan nói chuyện với ông Fajngold; ông này, trong suốt cuộc trao đổi, cầm chiếc mũ cao thành trong tay, để mái tóc hung hung lưa thưa phất phơ trong gió. Sau khi vỗ vỗ lên cái hòm của Matzerath một lúc như để xác định chắc chắn về vật chứa trong đó và thọc ngón tay cù nôn con vẹt xanh, viên sĩ quan cho chúng tôi qua, nhưng giao cho hai gã chắc chưa quá mười sáu tuổi đối mũ quá nhỏ và mang tiểu liên quá lớn đối với chúng, tháp tùng chúng tôi, có lẽ là để bảo vệ, mà cũng có lẽ để giám sát chúng tôi.
 
Già Heilandt kéo, không ngoái lại lấy một lần. Ông có cái mẹo châm thuốc bằng một tay, không cần hãm chậm xe lại. Máy bay lượn trên đầu, tiếng động cơ nghe rất rõ vì bấy giờ vào quãng cuối tháng hai hay đầu tháng ba gì đó. Chỉ có vài đám mây lân la đến gần mặt trời, dần dần ửng đỏ. Những máy bay oanh tạc hướng về Hela, hoặc từ bán đảo Hela trở về, vì ở đó, tàn quân của Quân đoàn II vẫn đang cố thủ.
 
Thời tiết và tiếng máy bay vè vè làm tôi thấy buồn buồn. Không có gì buồn tẻ đến phát ngấy như một bầu trời tháng ba không mây, đầy tiếng động cơ máy bay rộ lên rồi lại lắng xuống.Tệ hơn nữa, hai chú lính nhóc Nga cứ ra sức đi đều bước mà không được.
 
Có lẽ vài lát gỗ của cỗ quan tài đóng vội đã long ra trong khi xe lọc cọc hết quãng đường đá lại đến đường nhựa đầy ổ gà. Chúng tôi đi ngược gió và như quý vị đã thấy, tôi ngồi đằng sau xe. Dù sao đi nữa, cũng sực mùi xác Matzerath và Oskar nhẹ cả người khi chúng tôi tới Saspe.
 
Chúng tôi không thể đưa xe đến tận cổng sắt vì một quãng ngắn trước khi đến nghĩa trang, đường bị nghẽn bởi cái xác cháy thui của một xe tăng T- 34. Những xe tăng khác, trên đường đến Neufahrwasser buộc phải đi vòng tránh nó, đã để lại vết bánh xích trên cát mé bên trái xa lộ, san bằng một mảng tường nghĩa trang, ông Fajngold đề nghị già Heilandt đi sau. Họ khiêng chiếc quan tài hoi bị võng xuống ở giữa dọc theo vết bánh xích xe tăng, chật vật vượt qua đống đá mới đây còn là tường nghĩa trang và cuối cùng, dồn nốt sức lực bước đi giữa những tấm bia mộ xiêu vẹo hoặc đổ hắn. Già Heilandt rít lấy rít để điếu thuốc và nhả khói trên cỗ quan tài. Tôi xách cái lồng vẹt. Maria kéo hai cái xẻng đằng sau. Bé Kurt cầm, hay đúng hơn, vung một cái cuốc chim, liều mạng tấn công những bia mộ bằng gra-nít xám cho đến khi Maria giằng khỏi tay nó để giúp cánh đàn ông đào huyệt.
 
May sao đất ở đây là đất cát và không bị đông cứng, tôi tự nhủ trong khi rời đi tìm mộ Jan Bronski đằng sau bức tường phía bắc. Chắc là đây, tôi nghĩ, hay có lẽ kia. Tôi không dám chắc vì các mùa thay đổi đã biến lớp vôi trắng làm chuẩn thành một màu xám long lỗ như mọi bức tường ở Saspe.
 
Tôi trở vào qua cửa sau, ngước nhìn những cây thông quắt queo. Vậy là người ta đang chôn Matzerath, tôi nghĩ, để khỏi nghĩ sang một điều gì không phù hợp. Và tôi thấy cái hoàn cảnh này chí ít cũng có một ý nghĩa nào đó: hai người bạn xì-cạt Bronski và Matzerath cùng nằm ở một khoảnh đất cát, tuy rằng mẹ tội nghiệp của tôi không có ở đây để bầu bạn cùng họ.
 
Những đám tang bao giờ cũng nhắc ta nhớ đến những đám tang khác.
 
Đất cát chống cự lại, có lẽ nó đòi hỏi những phu đào huyệt giàu kinh nghiệm hơn. Maria nghỉ tay, hổn hển dựa lên cán cuốc, và lại bắt đầu khóc khi nhìn thấy Kurt ném đá vào con vẹt xanh trong lồng. Kurt ném trượt, nó nhằm quá xa. Maria khóc rất to và hết sức thành thật bởi vì nàng đã mất Matzerath, bởi vì nàng thấy ở Matzerath một cái gì đó mà tôi nghĩ là không hề có nơi ông nhưng đối với nàng, từ nay nó vẫn là có thật và đáng yêu. Ông Fajngold nói một vài lời an ủi, tiện thể nghỉ một lát vì công việc đào đất là quá sức đối với ông. Già Heilandt múa xẻng với sự dẻo dai đều đặn của một người tìm vàng, hất đất ra đằng sau và thở khói thuốc cũng theo nhịp đều đặn như thế. Hai gã nhóc Nga ngồi chồm chỗm trên tường nghĩa trang cách chúng tôi mấy bước, chuyện gẫu trong gió. Trên đầu, máy bay và một mặt trời mỗi lúc một chín nẫu.
 
Họ đã đào được khoảng một mét sâu. Oskar đứng nhàn rỗi và bối rối giữa đám gra-nít già cỗi, giữa đám thông còi cọc, giữa vợ goá của Matzerath và một thằng bé Kurt ném đá nhằm một con vẹt xanh.
 
Tôi có nên hay không nhĩ? Mày sắp tròn hai mốt tuổi rồi, Oskar. Mày có nên hay không? Mày là đứa mồ côi. Thực ra, mày nên đấy, đã đến lúc rồi. Khi mẹ tội nghiệp của mày chết, mày mới mồ côi một nửa. Đó là lúc mà đáng ra mày đã phải quyết định rồi. Sau đó, người ta đặt Jan, ông bố giả định của mày dưới một lớp đất, khiến mày thành một đứa mồ côi coi như là toàn phần. Mày đứng đó, trên khu đất cát tên là Saspe này, tay cầm một cái vỏ đạn hơi bị oxy hóa. Trời mưa và một chiếc máy bay Ju- 52 đang sắp sửa hạ cánh. Phải chăng câu hỏi "Tôi có nên hay không?" đã văng vẳng lên từ lúc ấy, nếu không phải trong tiếng mưa thì là trong tiếng ầm ì của chiếc máy bay vận tải đang hạ cánh? Mày tự nhủ: đó là tiếng mưa, đó là tiếng động cơ máy bay; những diễn giải thiếu cảm xúc kiểu ấy, mày có thể đưa vào bất kỳ một bài văn nào tuỳ thích. Mày muốn mọi thứ phải hoàn toàn rõ ràng chứ không chỉ ở mức giả định.
 
Tôi có nên hay không? Gìơ đây, người ta đang đào một cái lỗ cho Matzerath, ông bố giả định thứ hai của mày. Theo chỗ mày biết, thì mày không còn ông bố giả định nào khác. Vậy thì tại sao mày vẫn cứ tung hứng mãi với hai cái chai màu xanh chai tôi-có-nên-hay-không ấy? Còn có ai khác nữa mà hỏi? Những cây thông còi kia ư? Chính chúng cũng đang tự vấn tại sao chúng tồn tại.
 
Tôi chợt thấy một cây thánh giá gầy guộc bằng gang với những nét trang trí sứt sẹo và dòng chữ sét gỉ: Mathilde Kunkel hay Runkel gì đó. Bấy giờ tôi lại thấy trên cát giữa đám cỏ ké và yến mạch dại (tôi có nên hay không nhỉ?) ba, bốn vòng hoa kim loại gỉ nát (nên chăng?), cỡ chừng bằng cái đĩa ăn, hồi xưa chắc là hình lá sồi hay nguyệt quế (hay không nên?), tôi nhặt lên, nhấc nhấc thử trên tay (nên?), nhằm cây thánh giá gang (không nên?), đường kính của nó chắc độ hơn ba xăng-ti-mét (nên?), tôi đứng cách ra khoảng hai mét và ném (không nên?), trượt rồi (có nên thử lại không?) cây thánh giá hơi nghiêng quá (nên?) Mathilde Kunkel hay Runkel? (tôi có nên không Kunkel, tôi có nên không Runkel?) Đây là cú thứ sáu, tôi tự cho phép mình ném bảy lần cơ mà, sáu lần không nên và bây giờ là bảy - nên, vòng hoa đã móc vào thánh giá - nên - tôi đã quàng vòng hoa lên cổ Mathilde - nên - vòng nguyệt quế cho Fraulein Mathilde - tôi có nên không? tôi hỏi Frau Mathilde - nên, Mathilde trả lời, cô chết trẻ, ở tuổi hai mươi bảy, và sinh năm 18. Còn tôi, tôi đang tuổi hai mốt thì với cú ném thứ bảy thành công, vấn đề của tôi - nên hay không nên? - đã được đơn giản hoá, biến thành một tiếng " Nên!" đắc thắng, được chứng minh, được trao vòng nguyệt quế.
 
Trong khi Oskar, với tiếng " Nên!" mới trên đầu lưỡi và trong tim, đang quay trở về với những người đào huyệt, thì con vẹt quác lên một tiếng và rụng liền mấy cái lông vàng-xanh vì một viên đá của Kurt đã trúng đích. Tôi tự hỏi không biết câu hỏi gì đã thôi thúc con trai tôi ném đá vào một con vẹt cho đến khi, rốt cuộc, một cú trúng đích mang lại cho nó câu trả lời.
 
Họ đã chuyển cái hòm đến mép huyệt lúc này sâu khoảng một mét hai. Già Heilandt đang vội nhưng vẫn phải chờ Maria đọc xong những lời cầu nguỵên chính giáo của mình trong khi ông Fajngold đứng chắp chiếc mũ cao thành lên ngực, mắt nhìn tận Galicia. Kurt cũng đến gần. Sau phát trúng hồng tâm, hẳn nó đã đi đến một quyết định; nó tiến lại gần huyệt vì những lý do riêng của mình, nhưng cũng kiên quyết không kém Oskar.
 
Sự thấp thỏm giày vò tôi. Con trai tôi đã quyết định theo họăc chống một điều gì đó. Phải chăng cuối cùng, nó đã quyết định công nhận và yêu tôi như người cha đích thực duy nhất của nó? Phải chăng nó đã quyết định - quá muộn! - đồng ý nhận cái trống? Hoặc giả phán quyết của nó là: ông bố giả định Oskar của tôi phải chết vì tội đã giết ông bố hờ Matzerath của tôi bằng cái huy hiệu Đảng vì lý do duy nhất là vì nó đã chán ngấy các ông bố nói chung? Có lẽ cả nó nữa cũng không thể biểu hiện mối tình thương mến thơ dại đáng ao ước giữa cha và con bằng cách nào khác ngoài hành động giết người.
 
Trong khi già Heilandt hạ - hay đúng hơn là quăng - xuống huyệt cái hòm đựng Matzerath với cái huy hiệu Đảng trong khí quản và cả một băng đạn tiểu liên Nga trong bụng, thì Oskar tự thú nhận với mình rằng gã đã cố tình giết Matzerath bởi vì rất có thể Matzerath không phải chỉ là bố hờ mà là bố thực của gã; cũng bởi vì gã đã chán cái nỗi cứ phải kéo lê một ông bố theo mình suốt cuộc đời.
 
Vậy, không đúng là cái ghim cài đã bật mở khi tôi nhặt chiếc huy hiệu từ dưới sàn hầm lên. Nó đã được mở trong nắm tay của tôi. Tôi đã chuyển cái hình thoi lỗm chỗm gai nhọn ấy cho Matzerath với mục đích là để bọn lính Nga thấy chiếc huy hiệu trên người ông, để ông phải bỏ Đảng vào mồm và chết hóc vì thế - hóc Đảng, hóc tôi, con trai ông; bởi lẽ cái tình thế này không thể cứ tiếp tục mãi.
 
Già Heilandt bắt đầu lấy xẻng xúc đất. Kurt giúp ông, vụng về nhưng hăng hái. Tôi chưa bao giờ yêu Matzerath. Thi thoảng, tôi có thích ông. Ông chăm sóc tôi, nhưng với tư cách một đầu bếp hơn là một người cha. Ông là một đầu bếp giỏi. Nếu ngày nay tôi có nhớ ông là nhớ những món ăn ông làm - món viên bột hấp Königsberg, món cật lợn nấu dấm, món cá chép với kem và củ cải ngựa, món xúp lươn, món sườn với dưa cải bắp và những món quay ngày chủ nhật mà tôi còn có thể cảm thấy trên đầu lưỡi và giữa hai hàm răng... Họ quên không bỏ một cái muôi nấu bếp vào quan tài của con người biết biến tình cảm thành xúp này. Họ cũng quên không bỏ vào một cỗ bài xì-cạt luôn thể. Ông nấu bếp giỏi hơn chơi xì-cạt. Tuy nhiên, ông chơi vẫn khá hơn Jan Bronski và gần bằng mẹ tội nghiệp của tôi. Tài thiên bẩm của ông là thế, bi kịch của ông là thế. TôI không bao giờ có thể tha thứ cho ông về tội đã cướp đi Maria của tôi, mặc dù ông đối xử với nàng rất tốt, không bao giờ đánh nàng, và thường nhượng bộ khi nàng gây chuyện cãi cọ. Ông không giao tôi cho Bộ Y Tế và chỉ ký và tờ đơn sau khi bưu điện ngừng chạy thư. Khi tôi ra đời dưới những bóng đèn điện, ông đã tính hướng tôi vào nghiệp buôn bán.
 
Để tránh khỏi phải đứng sau một quầy hàng, Oskar đã đứng hơn mười bảy năm sau khoảng một trăm cái trống đồ chơi trẻ con sơn đỏ-trắng. Bây giờ Matzerath nằm bẹp đó không đứng được nữa. Già Heilandt vừa hút thuốc lá Derby của Matzerath vừa xúc đất phủ lên Matzerath. Lẽ ra Oskar phải kế tục quản lý cửa hàng. Nhưng ông Fajngold đã tiếp quản cửa hàng cùng cái gia đình lớn vô hình của ông từ lâu rồi. Tôi thừa kế phần còn lại: Maria, Kurt và trách nhiệm đối với cả hai.
 
Maria vần đang khóc một cách chân chính và cầu nguyện theo cách thức chính giáo, ông Fajngold còn đang nán lại Galicia hoặc đang giải quyết một bài toán hắc búa nào đấy. Kurt đã thấm mệt nhưng vẫn xúc. Hai gã nhóc Nga ngồi trên tường nghĩa trang tán róc. Một cách đều đặn lầm lũi, già Heilandt xúc đất cát của Saspe phủ lên cỗ quan tài làm bằng hòm mác-ga-rin. Oskar còn kịp trông tháy ba chữ cái của Vitella. Đến đây, gã tháo cái trống ra khỏi cổ, không nói "Tôi có nên hay không?" nữa mà "Cần phải thế" và ném cái trống vào một chỗ lớp đất phủ đã đủ dày để dìm bớt tiếng kêu. Tôi cũng ném luôn cả cặp dùi xuống. Chúng cắm vào lớp đất tơi. Đó là cái trống từ thời kỳ Quét Bụi, cái cuối cùng trong số trống Bebra cho tôi. Không hiểu Sư Phụ sẽ nghĩ sao về quyết định của tôi? Jêxu đã đánh cái trống này cũng như một gã lính Nga với lỗ chân lông to tướng và thân hình như hộ pháp. Nó chẳng còn được mấy nả. Nhưng khi một xẻng đất trút lên mặt trống, nó vẫn kêu. Đến xẻng thứ hai, nó vẫn thì thùng. Đến xẻng thứ ba thì im bặt, chỉ phô ra chút sơn trắng chẳng mấy chốc cũng bị lấp nốt. Đất cát chất chồng lên cái trống của tôi, cao dần, lớn dần - và tôi cũng bắt đầu lớn, mà triệu chứng là một cơn đổ máu cam dữ dội.
 
Kurt là người đấu tiên thấy máu. "Anh ấy chảy máu, anh ấy chảy máu," nó la lên, gọi ông Fajngold từ Galicia trở về, gọi Maria ra khỏi lời cầu nguyện và thậm chí khiến cả hai gã Nga từ nãy vẫn ngồi trên tường chuyện tếu về hướng Brösen cũng phải ngoảnh lại nhìn với một thoáng sợ hãi.
 
Già Heilandt buông xẻng xuống, cầm lấy cái cuốc và ngả gáy tôi dựa vào lưỡi thép xanh đen. Kim khí lạnh tạo ra hiệu quả mong muốn. Máu bắt đầu cầm. Già Heilandt quay lại với công việc xúc đất của mình. Hãy còn một chút đất bên cạnh huyệt khi máu cầm hắn, nhưng quá trình lớn lên vẫn tiếp tục như tôi có thể nhận thấy qua những tiếng ì ầm, rào rạo, răng rắc bên trong tôi.
 
Khi ông già Heilandt đã lấp xong mộ, ông lấy một cây thánh giá gỗ mọt ruỗng không khắc tên tuổi gì từ một ngôi mồ gần đó, cắm lên nấm đất mới, vào quãng giữa đầu Matzerath và cái trống vừa bị vùi của tôi. "Thế là xong!" ông già nói và xốc Oskar lúc này chưa đi được lên tay. ông bế tôi dẫn đầu mọi người, kể cả hai gã thiếu niên Nga mang tiểu liên, ra khỏi nghĩa trang, qua bức tường đổ, dọc theo vết bánh xích xe tăng đến chiếc xe ba-gác trên đường cái lớn. Tôi ngoái qua vai nhìn về phía nghĩa trang. Maria mang cái lồng với con vẹt xanh, ông Fajngold mang dụng cụ, Kurt không mang gì, hai chú lính Nga mang mũ quá nhỏ và tiểu liên quá lớn đối với chúng và những cây thông còi quằn xuống vì mang quá nhiều.
 
Hết đoạn đất cát đến đường nhựa vẫn bị chiếc xe tăng cháy chắn ngang. Ngồi trên xe tăng là Leo Schugger. Trên cao, những chiếc máy bay từ Hela về và bay đi Hela. Leo Schugger rất cẩn thận không để đôi găng trắng của mình bị nhuốm đen bởi chiếc T-34 cháy thui. Gĩưa những đám mây xốp nhô, mặt trời xuống dần trên Tháp Núi gần Zoppot. Leo Schugger tụt xuống khỏi xe tăng và đứng rất thẳng.
 
Trông thấy Leo Schugger, già Heilandt cười rộ. "Thật là chưa từng thấy! Thế giới sụp đổ, mà Leo Schugger thì không cách chi quật đổ hắn!" Rất hồ hởi, ông vỗ vào lưng chiếc áo đuôi tôm đen và giải thích cho ông Fajngold: "Đây là Leo Schugger của chúng tôi. Leo muốn phân ưu cùng chúng ta và bắt tay chúng ta."
 
Đúng vậy. Leo Schugger múa đôi găng và, vẫn xớt dãi như mọi khi, nói lời phân ưu với tất cả những người có mặt. "Các vị có thấy Chúa Trời không?" cuối cùng anh ta hỏi. "Các vị có thấy Chúa Trời không?" Không ai thấy cả. Maria - tôi không hiểu tại sao - cho Leo cái lồng với con vẹt xanh.
 
Khi đến lượt Oskar, ông già Heilandt đã đặt lên xe, mặt Leo dường như rã ra, một luồng gió huyền bí thổi phồng quần áo anh ta và đôi chân anh ta nhảy quýnh lên. "Chúa Trời, Chúa Trời!" anh ta kêu lên, lắc con vẹt trong lồng. "Xem kìa, Chúa Trời! Người đang lớn, Người đang lớn lên!"
 
Rồi anh ta bật tung lên cao cùng với cái lồng và anh ta bắt đầu chạy, bay, nhảy, loạng choạng và trốn chạy với con chim kêu quang quác, bản thân anh ta cũng biến thành chim. Cuối cùng, anh ta bay lên, rập rờn trên cánh đồng, hướng về phía Rieselfelder. Và qua tiếng sủa của tiểu liên, người ta nghe thấy anh ta la: "Người đang lớn, Người đang lớn lên!". Khi hai gã thiếu niên Nga nạp lại đạn, anh ta vẫn còn kêu. "Người đang lớn!" Và ngay cả khi hai khẩu tiểu liên lại nổ, ngay cả sau khi Oskar ngã xuống một cái cầu thang không bậc rơi tõm vào một con ngất xỉu mênh mông bao trùm tất thảy, tôi vẫn còn nghe thấy con chim, tiếng la, con quạ, tôi vẫn còn nghe thấy Leo tuyên bố với toàn thế giới: " Người đang lớn, Người đang lớn..."
 
 
[...]
 
...! Tràn đầy mà rỗng lặng
Biển vô lượng thủy triều
Đường về tâm hết động
Tuyệt chiêu là vô chiêu !...

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 18.07.2016 23:44:26 bởi tducchau>
[...]
 
THUỐC TẨY UẾ
 
Đêm qua, tôi bị vây bọc trong những cơn mê vội vã. Chúng giống như những người bạn trong ngày thăm bệnh nhân. Cơn nọ tiếp cơn kia lần lượt đến rồi đi, sau khi kể với tôi những gì những cơn mê cho là bõ kể; những câu chuyện ngớ ngẩn đầy những điều lặp đi lặp lại; những độc thoại không thể bỏ ngoài tai được bởi vì chúng được trình bày bằng một giọng buộc người ta phải chú ý kèm theo những bộ điệu của những kép hát tồi. Khi tôi cố kể cho Bruno nghe vào lúc điểm tâm, tôi không sao tống khứ được chúng vì tôi đã quên hết mọi chi tiết; Oskar quả không có tài nằm mê.
 
Trong khi Bruno dẹp bữa điểm tâm, tôi hỏi như thể cho qua chuyện: "Bruno thân mến, chính xác thì tôi cao bao nhiêu?"
 
Bruno đặt đĩa mứt lên tách cà-phê của tôi và nói với giọng lo lắng: "Chà, ông Matzerath, ông không hề đụng đến đĩa mứt."
 
Tôi đã thuộc lòng những câu trách móc kiểu ấy. Ngày nào tôi cũng phải nghe chúng sau bữa điểm tâm. Mỗi buổi sáng, Bruno mang cho tôi cái món mứt dâu tây ấy chỉ để tôi lấy một tờ báo đậy lên. Thậm chí nhìn thấy mứt tôi còn không chịu nổi, huống hồ là ăn. Bởi thế, tôi. gạt bỏ lời trách cứ của Bruno với một thái độ cương quyết bình thản:
 
“Bruno, anh còn lạ gì tôi ngán mứt như thế nào. Hãy nói tôi cao bao nhiêu đi.
 
Mắt Bruno bỗng có cái vẻ của một con tuộc chết. Bao giờ gã cũng ngước cái nhìn tiền sử ấy lên trần nhà mỗi khi có điều gì phải suy nghĩ và nếu có điều gì cần nói, gã cũng hướng lên trần nhà. Vậy thì sáng nay, anh ta nói với trần nhà: "Nhưng đây là mứt dâu tây kia mà." Mãi đến khi sau một quãng ngưng kéo dài - bằng sự im lặng của mình, tôi muốn gặng thêm câu hỏi về kích thước của Oskar - cái nhìn của Bruno rời trần nhà hạ xuống để quấn quanh những chấn song giường tôi, gã mới đặc cách cho tôi biết là tôi cao một mét hai mốt.
 
"Anh có vui lòng đo lại giúp tôi không, Bruno? Để cho chắc mà."
 
Không chớp lấy một sợi lông mi, Bruno rút từ túi quần sau ra một cái thước gấp, lật chăn của tôi lên bằng một cử chỉ gần như thô bạo, kéo thẳng cái áo ngủ xuống, giở cái thước gấp màu vàng chói bị gẫy ở độ dài một mét bảy lăm xăng-ti-mét, đặt nó dọc theo người tôi, chỉnh lại, kiểm tra. Đôi tay gã chính xác, hiệu quả nhưng mắt gã vẫn ở tận thời kỳ khủng long. Cuối cùng, cái thước nằm im và gã tuyên bố như thể đọc kết quả: "Vẫn một mét hai mươi mốt."
 
Tại sao chỉ có việc gấp cái thước lại và cất khay điểm tâm của tôi mà gã làm rầm rầm như thế? Phải chăng kích thước của tôi không làm gã vừa lòng?
 
Sau khi rời phòng với cái khay điểm tâm, đựng cái thước gấp màu vàng chói bên cạnh màu đỏ phát ớn của đĩa mứt, Bruno còn ghé mắt nhìn lại qua cái lỗ nhòm ở cánh cửa - cái nhìn khiến tôi cảm thấy mình già bằng trái đất. Cuối cùng, gã để cho tôi yên với chiều cao một mét hai mốt của tôi.
 
Vậy là Oskar đã thực sự cao chừng nấy! Hầu như là quá lớn đối với một chú lùn, một người tí hon, một người chim chích? Sư phụ Bebra, hậu duệ trực hệ của Hoàng tử Eugene, đã giữ được cho mình dừng lại ở độ cao bao nhiêu? Bây giờ thậm chí tôi có thể nhìn Kitty và Felix từ trên xuống. Trong khi tất cả những người tôi vừa nhắc đến có thời đã từng nhìn Oskar - hai mốt tuổi vẫn chỉ hơn chín mươi phân! - từ trên xuống với một vẻ ghen tị thân ái.
 
Chỉ đến khi hòn đá ấy ném trúng tôi trong đám tang Matzerath ở nghĩa trang Saspe, tôi mới bắt đầu lớn.
 
Hòn đá, Oskar nói thế ư? Tốt hơn là tôi bổ sung nốt câu chuyện về những sự kiện xảy ra ở nghĩa trang hôm ấy.

Sau khi cái trò chơi ném vòng nọ đã chỉ cho tôi thấy rằng tôi không thể tiếp tục tự hỏi Tôi có nên hay không mà phải dứt khoát Tôi nên, tôi phải, tôi muốn, tôi đã tháo cái trống ra khỏi cổ, quăng nó xuống trọn bộ với cả dùi xuống huyệt chôn Matzerath và quyết định lớn. Lập tức tôi cảm thấy một tiếng vo vo mỗi lúc một lớn trong tai tôi. Đúng lúc ấy, một hòn đá bằng cái hột hạt dẻ choang vào chỏm đầu tôi do thằng con trai Kurt của tôi dang thẳng cánh ném với tất cả sức lực tuổi lên bốn của nó. Tuy cú đòn ấy không làm tôi bị bất ngờ - tôi vẫn ngờ là con trai tôi đang âm mưu một điều gì chống tôi - nó đã khiến tôi ngã nhào theo cái trống xuống huyệt. Già Heilandt kéo tôi lên, nhưng để trống và dùi lại nguyên chỗ. Rồi khi tôi bắt đầu đổ máu cam, ông ngả người tôi xuống, cho dựa gáy vào lưỡi cuốc. Cơn đổ máu cam, như ta đã biết, mau chóng dứt nhưng tôi tiếp tục lớn, tuy chậm đến nỗi chỉ có Leo Schugger nhận thấy, thế là anh ta bay lên như chim và la lớn tuyên bố cho toàn thế giới biết.
 
Đoạn bổ sung chỉ có thế và thực ra không cần thiết bởi vì tôi đã bắt đầu lớn từ trước khi bị hòn đá ném trúng và ngã xuống huyệt của Matzerath. Nhưng ngay từ đầu, Maria và ông Fajngold chỉ thấy một nguyên nhân khiến tôi lớn lên, mà họ nghĩ là một chứng bệnh, cụ thể là hòn đá ném vào đầu và cú ngã xuống huyệt. Trước cả khi chúng tôi rời nghĩa trang, Maria đã phết cho Kurt một trận nên thân. Tôi thấy thương hại nó. Vì nói cho cùng, có thể nó đã ném hòn đá ấy để giúp tôi, để làm tôi lớn mau hơn. Có lẽ, cuối cùng nó muốn có một ông bố thực sự là người lớn hoặc một thế phẩm thay vào chỗ Matzerath; bởi vì, nói tình thật, nó chưa bao giờ công nhận hoặc trân trọng một người cha ở nơi tôi.
 
Trong quá trình lớn lên của tôi, diễn ra suốt gần một năm trời, nhiều bác sĩ cả nam lẫn nữ đã xác nhận lời chẩn đoán đổ tội cho hòn đá và cú ngã đâm đầu xuống huyệt của tôi; họ nói và ghi trong hồ sơ bệnh án của tôi như sau: Oskar Matzerath trở thành một Oskar biến dạng vì bị một hòn đá ném trúng chỏm đầu, vân vân và vân vân.
 
Đến đây, có lẽ cũng nên nhắc lại lần sinh nhật thứ ba của tôi. Những người lớn đã nói gì về đoạn mở đầu tiểu sử đích thực của tôi? Đây là điều họ đã nói: Năm lên ba, Oskar Matzerath đã ngã từ trêu cầu thang hầm kho xuống sàn bê-tông, do đó không lớn được nữa, vân vân và vân vân.
 
Những lời giải thích này phản ánh mong muốn dễ hiểu của con người là tìm cách minh chứng mọi cái gọi là phép lạ bằng những lý do vật thể. Oskar phải thừa nhận rằng chính gã cũng xem xét những cái gọi là phép lạ hết sức cẩn thận trước khi bác bỏ chúng như là chuyện vớ vẩn.
 
Ở nghĩa trang Saspe về, chúng tôi gặp những người thuê nhà mới trong căn hộ của Mamăng Truczinski. Họ là những người khá tử tế, họ sẵn sàng để chúng tôi ở cho đến khi nào chúng tôi tìm được chỗ khác, nhưng ông Fajngold không chịu chấp nhận tình trạng chen chúc quá đáng như vậy và tuyên bố trả lại chúng tôi phòng ngủ dưới tầng trệt, còn ông tạm xoay sở với phòng khánh. Maria phản đối cách thu xếp ấy, nàng cảm thấy việc ở kề cận một ông độc thân trong tình trạng mình vừa mới góa chồng là bất tiện, ông Fajngold lúc đó không ý thức rằng mình là người độc thân, nhưng rồi sự hiện diện cương quyết của Luba khiến ông đành chịu thua lập luận của Maria. Để cho phải lẽ và cũng vì bà Luba nữa, họ đi đến một cách giải quyết khác: ông trả lại cho chúng tôi căn hầm kho. Thậm chi ông còn giúp chúng tôi sắp xếp lại kho, nhưng không chịu để tôi xuống ở dưới hầm vì tôi đang bệnh, một đứa bé ốm đau tội nghiệp, và thế là một chiếc giường được kê trong phòng khách cho tôi, ngay cạnh cây dương cầm của mẹ tội nghiệp của tôi.
 
Dạo ấy, thật khó mà tìm được một bác sĩ. Hầu hết các bác sĩ đã chạy cùng với quân đội, vì trong tháng giêng, quỹ bảo hiểm y tế của Tây Phổ đã chuyển về phía tây và bệnh nhân đã trở nên cực kỳ hiếm. Sau khi sục sạo khắp nơi, cuối cùng, ông Fajngold tìm ra được một nữ bác sĩ đang túi bụi cưa chân cưa tay cho các thương binh của cả hai bên, Wehrmacht và Hồng quân, nằm kề bên nhau trong trường Helene Lange. Bà ta hứa sẽ đến và quả nhiên, bốn hôm sau, đến thật. Bà ngồi bên giường bệnh của tôi, hút liền một lúc ba, bốn điếu thuốc lá trong khi khám cho tôi và đến điếu cuối cùng thì lăn ra ngủ.
 
Ông Fajngold sợ không dám đánh thức bà. Maria rụt rè thúc nhẹ bà một cái. Nhưng bà bác sĩ vẫn không tỉnh dậy mãi cho đến khi điếu thuốc cháy hết, lẹm vào ngón tay bà. Bà đứng dậy và giậm lên cái đầu mẩu trên thảm. Bà nói cộc cằn bằng một giọng bực bội: "Xin lỗi. Suốt ba tuần không nhắm mắt lấy một phút. Tôi ở Käsemark cùng một chuyến xe lửa toàn trẻ con sơ tán từ Đông Phổ. Không cách nào đưa các cháu xuống phà. Chỉ cho lính sang. Bốn nghìn đứa trẻ. Chết sạch, tan xương nát thịt." Vẫn cái vẻ cộc cằn ấy trong cách bà vuốt má tôi. Cắm môt điếu thuốc lá mới vào mặt, bà xắn tay áo trái và lấy từ trong cặp ra một ống tiêm. Trong khi tự tiêm cho mình một mũi, bà nói với Maria: “Tôi không thể nói với cô thằng bé có vấn đề gì. Phải đưa nó vào bệnh viện, nhưng không phải ở đây, mà bên phía tây kia. Các khớp cổ tay, đầu gối và vai của nó đều sưng. Cuối cùng rồi sẽ lan lên óc. Đắp băng xấp nước lạnh cho nó. Tôi để cho cô mấy viên thuốc phòng khi nó đau không ngủ Được."
 
Tôi thích bà bác sĩ cộc cằn này, bà không biết tôi bị bệnh gì và thừa nhận là thế. Trong mấy tuần tiếp theo, Maria và ông Fajngold đắp cho tôi hàng trăm lượt băng xấp nước lạnh; điều đó làm tôi đỡ đau nhưng không ngăn được các khớp-Cổ tay, đầu gối và vai và cả đầu tôi nữa ngừng sưng và nhức nhối. Điều khiến Maria và ông Fajngold hoảng nhất là cái đầu sưng, tướng của tôi. Maria cho tôi uống thuốc viên, nhưng chẳng mấy chốc đã hết. ông Fajngold bắt đầu lấy bút chỉ và thước kẻ vẽ những biểu đồ sốt, khoanh những hình kỳ ảo, táo bạo quanh thân nhiệt lên xuống của tôi mà ông đều đặn lấy mỗi ngày năm lần bằng một cái nhiệt kế đổi được ngoài chợ đen bằng mật ong nhân tạo. Biểu đồ sốt của tôi nom giống như một đãy núi với những khe nứt dễ sợ - tôi nghĩ đến dãy Alpes, đến những ngọn phủ tuyết của đãy Andes. Trên thực tế, thân nhiệt của tôi chẳng có gì kỳ ảo đến thế: buổi sáng thường là ba tám phảy một độ, buổi chiều lên ba chín và mức kỷ lục trong suốt thời gian tăng trưởng của tôi là ba chín phảy bốn. Trong những cơn sốt, tôi trông thấy và nghe thấy đủ mọi thứ. Tôi ngồi trên một vòng đu quay, tôi muốn xuống mà không được. Tôi cùng nhiều đứa trẻ khác ngồi trên những xe cứu hỏa, những con thiên nga rỗng, những con chó, mèo, lợn, và hươu, quay hết vòng này đến vòng khác. Tôi muốn xuống nhưng không được phép. Tất cả những đứa trẻ cũng kêu như tôi rằng chứng muốn ra khỏi xe cứu hỏa, thiên nga rỗng, nhảy xuống khỏi lưng những con chó, mèo, lợn, hươu, chúng không được phép xuống. Đức Chúa Trời đứng cạnh vòng đu quay và mỗi khi nó dừng,- Ngài lại trả tiền cho nó quay tiếp. Và chúng tôi cầu nguyện: "Lạy Đức Chúa Cha Người ở trên Lời, chúng con biết Người rất nhiều tiền lẻ, chúng con biết Người muốn đãi chúng con đi đu quay thật nhiều vòng, chúng con biết Người muốn chứng minh với chúng con rằng quả đất này tròn. Xin Người hãy cất ví đi, bảo xì-tốp, đứng lại, fertig, basta, stoi, đến giờ đóng cửa rồi - chúng con, những đứa trẻ tội nghiệp chóng mặt lắm rồi, bọn họ đã đem chúng con, bốn nghìn đứa, đến Käsemark bên bờ sông Vistula, nhưng chúng con không sang sông được vì cái vòng đu quay của Người, cải vòng đu quay của Người..."
 
Nhưng Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, chủ nhân chiếc đu quay, mỉm nụ cười hiền hậu nhất của Người và rút từ trong ví ra một đồng tiền nữa để làm cho chiếc đu quay tiếp tục quay, mang theo bốn nghìn đứa trẻ cùng với Oskar trong những xe cứu hỏa và thiên nga rỗng, trên lưng chó, mèo, lợn, hươu, quay tròn quay mãi và mỗi lần con hươu của tôi - đến giờ tôi vẫn dám chắc rằng mình cưỡi một con hươu - lướt qua chỗ Cha chúng ta ở trên Lời, chủ nhân chiếc đu quay, Người lại mang một bộ mặt khác: Người là Rasputin, cười ha hả và cắn cắn đồng tiền dành cho vòng sau bằng hai hàm răng thày mo của ông ta; rồi Người là Goethe, thi bá, tay cầm một túi tiền thêu rất đẹp và những đồng tiền ông rút trong đó ra đều in nổi hình bán diện của Cha chúng ta ở trên Lời; và rồi lại Rasputin say ngất ngư, và lại Herr von Goethe tỉnh táo. Một chút điên khùng với Rasputin và một chút duy lý với Goethe. Những kẻ cực đoan với Rasputin, những lực lượng của trật tự với Goethe. Những đám quần chúng rầm rộ quanh Rasputin, những danh ngôn trích in trên lịch với Goethe... cho đến khi, rốt cuộc, chiếc đu quay ngừng lại - không phải vì cơn sốt của tôi dứt, mà vì một sự hiện diện dịu dàng cúi xuống cơn sốt của tôi, bởi vì ông Fajngold cúi xuống tôi và hãm chiếc đu quay lại. ông hãm những chiếc xe cứu hoả, con thiên nga, con hươu lại, hạ giá những đồng tiền của Rasputin, trả Goethe về với các Mẹ, để cho bốn ngàn đứa trẻ chóng mặt quay cuồng ở Käsemark bay qua sông Vistula về nước thiên đàng - và nhấc tôi lên khỏi giường bệnh, đặt lên một đám mây Lysol, có nghĩa là ông tẩy uế cho tôi.
 
Việc này khởi đầu là vì rận, rồi sau trở thành một thói quen. Đầu tiên, ông phát hiện ra rận ở Kurt, rồi ở tôi, Maria và bản thân ông. Có lẽ đó là kỷ niệm để lại của cái gã Kalmouk đã cướp đi Matzerath của Maria, ông Fajngold đã la trời la đất ầm ĩ khỉ phát hiện thấy chúng, ông triệu tập vợ con, toàn gia; ông ngờ rằng tất cả bọn họ đã bị nhiễm sâu bệnh. Rồi sau khi đem bánh yến mạch và mật ong nhân tạo đổi lấy nhiều loại thuốc tẩy uế khác nhau, ông bắt đầu tẩy uế cho chính ông, cả gia đình ông, Maria và bản thân tôi (kể cả cái giường bệnh của tôi) hằng ngày, ông kỳ cọ cho chúng tôi, rảy nước, rắc bột cho chúng tôi. Và trong khi ông kỳ cọ, rảy nước, rắc bột, cơn sốt của tôi bừng bừng, và ông kể các thứ chuyện qua đó, tôi được biết ông đã phun, rắc, rảy hết hàng toa axít các-bô-líc, Lysol [1] và vôi bột hồi ông làm phu tẩy uế ở trại tập trung Treblinka. Hằng ngày vào lúc 2 giờ chiều, với tư cách là phu tẩy uế chính thức, Mariusz Fajngold có nhiệm vụ rảy nước pha lysol trên các đường phố trong trại, trong các lán, các phòng tắm vòi hoa sen, các lò thiêu, lên các đống quần áo, lên những người đang chờ tắm vòi hoa sen, lên những người nằm còng queo sau khi tắm vòi hoa sen, lên tất cả những người ra khỏi lò và tất cả những người sắp vào đó. ông kể tên những người ấy vì ông biết hết bọn họ. Ông kể cho tôi nghe về Bilauer, một ngày tháng tám nóng nực anh này đã khuyên người phu tẩy uế nên rảy các đường phố trong trại bằng dầu hỏa thay vì bằng Lysol. ông Fajngold chấp nhận lòi khuyên của anh ta. Và Bilauer có diêm. Tất cả đã tuyên thệ trước ông già Lew Kurland, đại diện của ZOB [2]. Kỹ sư Galewski là người phá cửa vào kho vũ khí. Bilauer bắn chết tên thiếu tá Kutner. Sztulbach và Warynski bóp cổ tên Zisenis; những người khác xử trí với bọn lính gác đến từ trại Trawniki. Một số bị điện giật chết khi cắt hàng rào cao thế. Schöpke, cái tên trung sĩ ss chuyên đùa cợt khi giải mọi người đi tắm vòi hoa sen, đứng ngay cổng trại và nổ súng. Nhưng vô ích, tất cả đồng loạt xông tới hắn: Adek Kave, Motel Levit, và Henoch Leter; Hersz Rotblat và Letek Zegel cũng có mặt, cả Tosias Baran với nàng Deborah của mình. Và Lolek Begelmann kêu lớn: "Phải đưa Fajngold ra khỏi đây trước khi máy bay chúng tới!" Ổng Fajngold còn đang đợi Luba, vợ mình. Nhưng tha hồ cho ông gọi, bà không đến được nữa rồi. Thế là họ cứ xốc nách ông, Jakub Gelernter bên trái và Mordechaj Szwarchard bên phải. Và chạy trước mặt ông là bác sĩ Atlas, ông này, hồi ở trại Treblinka cũng như về sau ở trong rừng xung quanh Vilna, đã khuyến cáo nên rẩy Lysol thật triệt để và khẳng định rằng Lysol còn quan trọng hơn cả sự sống. Điều này, ông Fajngold có thể xác nhận vì ông đã rẩy cho người chết, không phải một mà hàng đống, việc gì phải nêu con số; ông đã rẩy Lysol cho những người đàn ông chết và những người đàn bà chết, thế thôi. Và ông biết hàng mớ tên, nhiều dến nỗi phát nhàm, đến nỗi đối với tôi (giờ cũng đang bơi trong Lysol đây), vấn đề sự sống và cái chết của mười vạn cái tên trở nên không quan trọng bằng vấn đề là liệu sự sống - và nếu không phải sự sống thì là cái chết - của tôi có được tẩy uế chu toàn và kịp thời bằng những thứ thuốc tẩy uế của ông Fajngold hay không.

Dần dà cơn sốt rút khỏi tôi và lúc đó là tháng tư. Thế rồi nó lại trở lại, chiếc đu quay lại quay và ông Fajngold rẩy Lysol lên người sống và người chết. Rồi cơn sốt lại lui và sắp hết tháng tư. Đầu tháng năm, cổ tôi ngắn lại, ngực rộng ra và cao lên, đến nỗi tôi có thể lấy cằm cọ vào xương quai xanh của Oskar mà không phải cúi đầu. Lại sốt và lại Lysol. Và tôi nghe thấy Maria thì thầm những lời bồng bềnh trong nước Lysol: "Miễn sao cậu ta đừng thành dị dạng! Miễn sao cậu ta đừng có gù! Miễn sao cậu ta đừng có bị tràn dịch não!"
 
Ông Fajngold trấn an Maria, kể với nàng rằng ông biết nhiều người gù hoặc phù thũng nhưng rất thành công trong đời. Chẳng hạn, có một gã Roman Frydrych đã mang cái bướu của mình sang tận Argentina lập cơ sở kinh doanh máy khâu, sau phất lên thành một hãng lớn rất nổi tiếng.
 
Câu chuyện về thành công của anh gù Frydrych không trấn an được Maria, song lại khiến người kể chuyện hưng phấn đến nỗi ông quyết tâm tân trang lại cửa hàng tạp hoá của chúng tôi. Giữa tháng năm, ít lâu sau khi chiến tranh chấm dứt, những mặt hàng mới xuất hiện, ông bắt đầu bán máy khâu và phụ tùng máy khâu, nhưng để dễ dàng cho việc chuyên tiếp, ông vẫn duy trì các mặt hàng tạp hoá một thời gian. Một thời kỳ hoàng kim! Hàng lấy vào rất ít khi phải trả bằng tiền mặt, mà toàn qua trao đổi. Mật ong tổng hợp, đường, bột, mác-ga-rin, và những bao bột làm bánh cuối cùng của bác sĩ Oetker biến thành xe đạp; xe đạp và phụ tùng xe đạp chuyển thành mô-tơ điện rồi mô-tơ điện thành các loại dụng cụ; những thứ này thành lông thú và như thể phù phép, ông Fajngold biến lông thú thành máy khâu. Bé Kurt đâm được việc trong cái trò chơi đổi chác này; nó đưa khách hàng đến, làm môi giới và thích ứng với hướng kinh doanh mới mau chóng hơn Maria nhiều. Tình hình gần như thời Matzerath. Maria đứng ở quầy, phục vụ những khách hàng cũ còn ở lại thành phố và, đánh vật với dăm câu tiếng Ba Lan, cố hết sức để hiểu xem các khách hàng mới muốn gì. Kurt quả có năng khiếu bẩm sinh về ngôn ngữ. Nó có mặt khắp chỗ trong cửa hàng, ông Fajngold có thể trông cậy vào nó. Mặc dầu chưa đầy năm tuổi, nó đã thành một chuyên gia về máy khâu. Giữa hàng trăm kiểu khác nhau, từ trung bình đến tồi, bày ở chợ đen phố Bahnhofstrasse, nó chỉ liếc mắt một cái đã phát hiện ra những máy Singer hoặc Pfaff hạng nhất, ông Fajngold đánh giá cao tầm hiểu biết của nó.
 
Cuối tháng năm, bà ngoại Anna Koljaiczek đến thăm chúng tôi. Bà hổn hển gieo mình xuống đi-văng. Bà đã đi bộ suốt từ Bissau qua Brenntau. ông Fajngold khen bé Kurt hết lời và cũng không quên ca ngợi Maria, ông kể dài dòng với bà về bệnh tật của tôi, nhấn đi nhấn lại lợi ích của thuốc tẩy uế. Ông cũng có đôi lời khen Oskar đã tỏ ra rất ngoan, suốt thời gian ốm đau không khóc một lần nào.
 
Bà tôi cần dầu hỏa vì ở Bissau không có điện. Ông Fajngold kể cho bà nghe trải nghiệm của ông với xăng ở trại tập trung Treblinka và những thứ thuốc tẩy uế đa dạng ông đã dùng với tư cách là phu tẩy uế của trại, ông bảo Maria rót đầy dầu hoả vào hai chai lít, thêm vào đó một gói mật ong tổng hợp và cả một xê-ri thuốc tẩy uế. Ông lơ đãng gật đầu trong khi nghe bà tôi liệt kê tất cả những thứ đã cháy trụi ở Bissau và mỏ đá Bissau trong thời kỳ đánh nhau. Bà cũng mô tả những thiệt hại ở Viereck nay đã đổi tên thành Firoga như thời xưa. Và Bisau cũng được trả lại cái tên thời trước chiến tranh là Bysew. Gòn Ehlers, dạo xưa là thủ lĩnh nông dân ở Ramkau, cái thằng lấy con dâu của anh trai ba, Hedwig, vợ goá của Jan hy sinh ở Sở Bưu Chính, cái thằng ấy, nông dân đã treo cổ nó bên ngoài văn phòng của nó. Thiếu chút nữa thì họ đã treo cổ luôn Hedwig vì tội đã lấy Ehlers trong khi là vợ goá của một anh hùng Ba Lan và cũng vì Stephan là một trung uý và Marga thì tham gia Liên đoàn Thiếu nữ Đức.
 
"Thế đấy, "bà ngoại tôi nói, "họ không thể đụng đến Stephan được nữa bỏi vì nó đã chết ở trên Bắc cực rồi. Họ định bắt Marga tống vào trại. Nhưng rồi Vincent đã mở miệng và nói như chưa bao giờ nói hùng hồn thế trong cả đời ông. Và bây giờ, cả hai mẹ con, Hedwig và Marga, cùng ở với chúng tôi, giúp đỡ việc đồng áng. Nhưng Vincent, sau lần nói hăng như thế, đã quỵ và bà nghĩ có thể ông không đậu được bao lâu nữa. Còn bà đây, bà cũng có những rắc rối riêng của bà: đau khắp người, ở tim và nhất là ở đầu, như có ai lấy búa nện vào sọ"
 
Đó là những lời than thở của Anna Koljaiczzek. Bà ôm đầu mình, xoa cái đầu đang to lên của tôi, ngẫm ngợi sự đợi và đi đến câu triết lý sau đây: "Phải, Oskar ạ, phận của người Kashubes là thế. Họ luôn luôn bị đánh vào đầu. Các con rồi sẽ đi đến nơi nào sự thể tốt đẹp hơn, chỉ có bà ở lại. Người Kashubes không quen di chuyển, họ sinh đâu ở nguyên đó và giơ đầu ra cho mọi người đánh vì chúng ta không phải là người Ba Lan chính cống, cũng chẳng phải người Đức chính cống. Và nếu anh là người Kashubes, thì cả người Đức lẫn người Ba Lan đều coi anh là tép. Họ muốn cái gì cũng phải trăm phần trăm kia."
 
Bà tôi cười lớn và giấu hai chai dầu hoả, phần mật ong nhân tạo và thuốc tẩy uế dưới bốn lần váy vẫn giũ nguyên màu khoai tây, bất chấp những xáo động lịch sử, chính trị và quân sự kinh thiên động địa nhất.
 
Bà sắp sửa đi, nhưng ông Fajngold xin bà chờ một lát, ông muốn bà gặp vợ ông là Luba và gia đình ông. Khi Luba không xuất hiện, bà tôi bảo: "Không sao. Tôi cũng cứ gọi người thân luôn ấy mà: Agnes, tôi nói, Agnes, con gái của mẹ, đến giúp mẹ vắt quần áo tí nào. Mà nó chả đến, cũng như cô Luba nhà chú ấy. Và Vincent, ông anh trai tôi, đêm tối thui, ông ấy đứng ngoài cửa, bất chấp bệnh tật, đánh thức hàng xóm bằng những tiếng gào gọi con trai là thằng Jan làm thư ký bưu điện, đã bị giết."
 
Bà đã ra đến cửa, đang chít khăn lên đầu thì từ giường nằm, tôi lên tiếng gọi: "Babka, Babka," có nghĩa là Bà ơi, Bà ơi. Bà quay lại và nhấc váy lên một chút như cách để cho tôi chui vào và mang theo bà. Nhưng rồi có lẽ bà nhớ ra rằng dầu hỏa, mật ong nhân tạo và thuốc tẩy uế đã chiếm mất nơi trú ẩn đó rồi và bà đành đi mà không mang tôi, không mang Oskar theo.
 
Đầu tháng 6, những đoàn tàu đầu tiên đi về phía tây. Maria không nói gì, nhưng tôi có thể thấy là nàng đang từ biệt đồ dạc, cửa hàng, ngôi nhà, mồ mả của cả hai bên họ, đại lộ Hindenburg và cái gò ở nghĩa trang Saspe.

Đôi khi, buổi tối, trước khi xuống căn hầm với Kurt, nàng đến ngồi trước cây pi-a-nô của mẹ tội nghiệp của tôi bên cạnh giường tôi, tay trái đưa ac-mô-ni-ca lên miệng thổi, tay phải thử dạo pi-a-nô đệm theo bằng độc một ngón.
 
Khúc nhạc làm ông Fajngold buồn, ông yêu câu Mara ngừng chơi, nhưng rồi khi Maria cất chiếc ác-mô-ni-ca ra khỏi miệng và sắp đậy nắp pi-a-nô lại, thì ông lại yêu cầu nàng chơi thêm tí nữa.
 
Rồi ông cầu hôn nàng. Oskar đã thấy trước điều đó. Ông Fajngold càng ngày càng ít gọi Luba hơn và một buổi tối mùa hè đầy tiếng côn trùng và tiếng lá rì rào, khi ông chắc chắn là bà đã di hắn rồi, ông cầu hôn Maria, ông hứa sẽ chăm nom nàng và hai đứa trẻ, kể cả đứa ốm, Oskar, ông tặng nàng căn hộ và dành cho nàng một chân đối tác trong kinh doanh.
 
Maria đã hai mươi hai tuổi, vẻ đẹp của nàng, trước kia dường như ngẫu nhiên, nay trở nên chững chạc, thậm chí rắn rỏi hơn. Mấy tháng gần đây, trước và sau khi kết thúc chiến tranh, mái tóc lượn sóng mà Matzerath đã chi tiền cho nàng làm ngoài hiệu, đã duỗi. Nàng không tết bím như hồi gần gũi với tôi nữa; nay tóc nàng buông dài trên vai, đem lại cho nàng cái vẻ của một cô gái khá nghiêm trang, có lẽ hơi cay đắng nữa - và cô gái đó nói không, khước từ lời cầu hôn của ông Fajngold. Đứng trên tấm thảm xưa là của chúng tôi, với Kurt bên cạnh, Maria chỉ vào cái bếp lò gạch men. Ông Fajngold và Oskar nghe thấy nàng nói: "Không thể được. Tất cả ở đây đã đổ vỡ cả rồi, hết rồi. Bọn tôi sẽ về vùng Rhine, chỗ chị Guste tôi. Chị ấy lấy một trưởng bồi bàn tên là Köster. Anh ấy sẽ cho chúng tôi tá túc tạm, cả ba chúng tôi."
 
Ngay hôm sau, nàng gửi đơn và ba hôm sau nữa, chúng tôi đã có đủ giấy tờ. Sau đó, ông Fajngold không hé răng, ông đóng cửa hàng. Trong khi Maria gói ghém hành trang, ông ngồi trên quầy trong bóng tối, bên cạnh cái cân; ông chẳng còn bụng dạ nào mà xúc mật ong tổng hợp. Nhưng khi Maria đến chào tạm biệt, ông tụt xuống khỏi quầy, lấy chiếc xe đạp có moóc ra và bảo ông sẽ đưa chúng tôi ra ga.
 
Oskar và hành lý - chúng tôi được phép mang mỗi người hai lăm kí - được chất lên chiếc moóc hai bánh cao-su. Ông Fajngold đẩy xe đạp. Maria dắt tay Kurt và ngoái nhìn ngôi nhà lần cuối khi chúng tôi rẽ trái vào phố Elsenstrasse. Tôi không thể nhìn lại Labesweg vì ngoái cổ rất đau. Đầu Oskar phải giữ tư thế bất động giữa hai vai và tôi đành chỉ dùng đôi mắt vốn còn giữ được khả năng cơ động để tạm biệt phố Nữ Thánh Marie, suối Striess, công viên Kleinhammer, cầu chui (vẫn rỉ nước đến phát ớn!), phố Ga, Nhà Thờ Thánh Tâm vẫn nguyên vẹn của tôi và ga Langfuhr - Langfuhr nay gọi là Wrzeszcz, nhưng bố ai mà phát âm được cái tên đó?
 
Chúng tôi phải đợi. Cuối cùng khi một đoàn tàu đến thì đó là tàu hàng. Hàng đống người và quá nhiều trẻ con. Kiểm tra và cân hàng. Những gã lính quăng lên mỗi toa một bì rơm. Không có nhạc. Cũng không mưa. Trời lác đác mây. Gió đông.
 
Chúng tôi tìm được một chỗ trên toa thứ tư tính từ dưới lên. ông Fajngold đứng ở đường tàu bên dưới chúng tôi, mái tóc thưa hung hung bay trong gió. Khi một cú dội mạnh báo cho biết đầu tàu đã đến, ông bước lại gần, đưa cho Marla ba gói mác-ga-rin và hai gói mật ong tổng hợp và khi những lệnh bằng tiếng Ba Lan kèm theo những tiếng kêu khóc báo hiệu tàu đã chuyển bánh, ông đưa thêm một gói thuốc tẩy uế bổ sung vào hành trang của chúng tôi -Lysol còn quan trọng hơn cả sự sống. Rồi chúng tôi đi, đề ông Fajngold lại sau lưng, ông đứng đó, mái tóc hung bay trong gió, nhỏ dần nhỏ dần như vẫn vậy khi tàu rời ga, cho đến khi chỉ còn một cánh tay vẫy và rồi mất hút.
 
[...]
______
Chú thích:
[1] Những loại thuốc tẩy uế thông thường.
[2] Zvdowska Orgamzacja Bojowa, viếi tắl là ZOB, tức Tổ chức Chiến đấu Do Thái, một phong trào bí mật hình thành ở các ghetto trong thời kỳ 1942-43.
 
...! Tràn đầy mà rỗng lặng
Biển vô lượng thủy triều
Đường về tâm hết động
Tuyệt chiêu là vô chiêu !...

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 18.07.2016 16:59:29 bởi tducchau>
[...]
 
 
TĂNG TRƯỞNG TRONG TOA HÀNG
 
Cho đến nay, những cơn đau nhức vẫn hành hạ tôi. Chúng khiến tôi nằm vật xuống gối. Tôi nghiến răng kèn kẹt để khỏi nghe thấy tiếng kèn kẹt trong xương và ở các khớp. Tôi nhìn mười ngón tay và phải thừa nhận là tất cả đều sưng. Tôi thử đánh trống một lần cuối - rõ ràng những ngón tay của Oskar không những hơi sưng mà còn tạm thời không đánh trống được vì không cầm được dùi.
 
Cái bút máy cũng không chịu tuân theo ngón tay tôi. Tôi sẽ phải đề nghị Bruno kiếm băng xấp nước lạnh. Rồi khi chân tay và đầu gối tôi đã được quấn mát, khi Bruno đã đắp một miếng vải mát lên trán tôi nữa, tôi sẽ đưa cho gã giấy và cây bút chì, bởi vì tôi không thích cho gã mượn cây bút máy của tôi. Liệu Bruno có muốn và có thể lắng nghe cho kỹ không nhỉ? Liệu rồi những ghi chép của gã có phản ánh được trung thành chuyến đi trên cái toa hàng, bắt đầu từ ngày 12 tháng 6 năm 1945 ấy không? Bruno đang ngồi ở bàn dưới bức tranh cỏ chân ngỗng. Bây giờ, gã quay đầu, phô cái thường được gọi là mặt của gã trong khi với đôi mắt của một con vật huyền thoại, gã nhìn vòng qua tôi, một mắt vòng bên trái, mắt kia vòng bên phải. Gã giữ cây bút chì cheo chéo trên đôi môi mỏng cau cau của gã. Đó là cái cách gã thể hiện sự chờ đợi. Nhưng ngay cả cho rằng gã đang thực sự chờ tôi nói, chờ dấu hiệu bắt đầu ghi lại câu chuyện của tôi đi nữa, thì đầu óc gã vẫn bận rộn với những ý đồ tạo hình bằng nút. Gã sẽ thắt nút những sợi dây, trong khi nhiệm vụ của Oskar là gỡ nút câu chuyện của tôi bằng lời chữ. Và đây, Bruno viết:
 
Tôi, Bruno Münsterberg, quê ở Altena vùng Saerland, chưa vợ chưa con, là y tá ở khu riêng của bệnh viện tâm thần địa phương, ông Matzerath, điều trị tại đây từ hơn một năm nay, là bệnh nhân của tôi. Tôi còn có những bệnh nhân khác mà tôi không thể nhắc đến ở đây. Ông Matzerath là bệnh nhân vô hại nhất của tôi, ông không bao giờ lên cơn dữ dội đến mức tôi phải gọi các y tá khác đến giúp. Hôm nay, để cho những ngón tay làm việc quá sức của ông được nghỉ, ông đã yêu cầu tôi viết hộ ông và ngừng việc tạo hình bằng nút của tôi. Tuy nhiên, tôi vẫn trữ sẵn một số dây trong túi và trong khi ông kể câu chuyện của ông, tôi sẽ bắt đầu hai chi dưới của một nhân vật mà, dựa theo câu chuyện của ông Matzerath, tôi sẽ gọi là "Người tỵ nạn từ phương Đông". Đây không phải là nhân vật đầu tiên mà tôi mượn ý từ những câu chuyện do bệnh nhân của tôi kể. Cho đến nay, tôi đã tạo hình bà ngoại của ông mà tôi gọi là "Khoai tây mặc bốn váy" và ông ngoại của ông, người thợ bè, mà tôi đặt cho một cái tên có lẽ hơi khoa trương là "Columbus"; nhưng sợi dây của tôi cũng đã cách điệu mẹ tội nghiệp của ông thành "Người đẹp ăn cá" và hai người cha của ông, Matzerath và Jan Bronski, đã trở thành "Hai tay chơi bài xì-cạt". Tôi cũng đã thể hiện cái lưng đầy sẹo của Herbert Truczinski bạn ông; tác phẩm này nhan đề là "Gồ ghề". Ngoài ra, tôi còn lấy cảm hứng từ những cảnh và công trình kiến trúc như Sở Bưu Chính Ba Lan, Tháp Công Lý, Nhà hát thành phố, Ngõ Binh Công Xưởng, Bảo tàng Hải quân, khu tắm ở Brösen, Nhà Thờ Thánh Tâm, tiệm cà-phê Bốn Mùa, Nhà máy Sô-cô-la Baltic, những công sự ở Phòng tuyến Đại Tây Dương, Tháp Eiffel, ga Stettin ở Berlin, Nhà thờ lớn Reims và dĩ nhiên là ngôi nhà chung cư nơi ông Matzerath đã ra đời. Những hàng rào và bia mộ ở các nghĩa trang Saspe và Brenntau thành những mô-típ trang trí. Từ nút này sang nút khác, tôi cho sông Vistula và sông Seine chảy, cho sóng Baltic và Đại Tây Dương xô vào bờ toàn tết bằng dây vụn. Tôi mô phỏng bằng dây những cánh đồng khoai tây Kashubes và những đồng cỏ Normandie. Toàn bộ phong cảnh đó, tôi gọi là Châu Âu cho gọn và làm sống động lên bằng những nhân vật như những người bảo vệ Sở Bưu Chính, các chủ hiệu tạp hoá, những người trên khán đài, những người dưới chân khán đài, học sinh với những túi kẹo, người gác bảo tàng hấp hối, bọn tội phạm vị thành niên chuẩn bị lễ Giáng Sinh, kỵ binh Ba Lan lúc hoàng hôn, đàn kiến đang làm lịch sử, đoàn văn công chiến trường, người đứng tẩy uế cho những người nằm ở trại Treblinka. Và giờ đây tôi bắt tay vào "Người tỵ nạn từ phương Đông" mà rất có thể sẽ phát triển thành một nhóm tỵ nạn từ phương Đông.
 
Ngày 12 tháng 6 năm 1945, vào khoảng 11 giờ trưa, ông Matzerath rời khỏi Danzig, mà hồi đó đã được đổi tên thành Gdansk. Cùng đi với ông, có bà góa Maria Matzerath, mà bệnh nhân của tôi gọi là người tình cũ của mình, và Kurt Matzerath, mà bệnh nhân của tôi cho là con trai mình. Ngoài ra, ông nói với tôi, còn có ba mươi hai người khác trong toa hàng, trong đó có bốn nữ tu sĩ dòng Francisco ăn vận theo quy phạm và một cô gái đầu chít khăn mà ông Oskar Matzerath dám chắc đã nhận ra là Lucy Rennwand. Sau khi tôi hỏi đi hỏi lại nhiều lần, ông thừa nhận rằng tên thật cô gái này là Regina Raeck, tuy nhiên, ông vẫn nhắc đến một bộ mặt cáo vô danh chành ba góc mà ông tiếp tục gọi đích danh là Lucy. Mặc dù thế, tên thật cô gái, như tôi xin phép ghi ở đây, đúng là Regina Raeck. Cô đi cùng với cha mẹ, ông bà và một ông bác ốm. Ông này, ngoài gia đình, còn mang theo về miền tây một chứng ung thư dạ dày ác tính, ông nói luôn mồm và chưa chi đã xưng là cựu đảng viên Xã hội - Dân chủ.
 
Theo trí nhớ bệnh nhân của tôi thì trước khi đến Gdynia - nơi này trong bốn năm rưỡi đã mang tên Gotenhafen - chuyến đi không có sự kiện gì đặc biệt. Hai phụ nữ người Oliva, mấy đứa nhỏ và một ông già khóc cho đến khi tàu đi qua Zoppot mới nín, trong khi các nữ tu sĩ xoay ra cầu nguyện.
 
Đến Gdynia, tàu dừng năm tiếng. Thêm hai phụ nữ và sáu đứa bé được lèn lên toa. ông Xã hội – Dân chủ phản đối với lý do là ông ốm và với tư cách là đảng viên Xã hội - Dân chủ từ trước chiến tranh, phải được đối xử đặc biệt. Nhưng khi ông không chịu ngồi xuống và im miệng, viên sĩ quan Ba Lan phụ trách đoàn tàu bèn tát vào mặt ông và nói bằng tiếng Đức rất trôi chảy rằng y, sĩ quan Ba Lan, không biết Xã hội - Dân chủ là cái quái gì hết. Trong chiến tranh, y đã phải đến nhiều nơi trên đất Đức và chưa bao giờ cái từ "Xã hội - Dân chủ" lọt vào tai y. Ông Xã hội - Dân chủ bị ung thư dạ dày không có cơ may nào để giải thích mục đích, bản chất và lịch sử Đảng Xã hội - Dân chủ Đức cho viên sĩ quan Ba Lan nghe vì viên sĩ quan Ba Lan đã rời toa xe, đóng cửa toa và khóa trái ở bên ngoài.
 
Tôi quên chưa viết rằng tất cả mọi người đều ngồi hoặc nằm trên nệm rơm. Khi tàu lại bắt đầu chuyển bánh vào lúc chiều muộn ngày hôm ấy, có mấy người đàn bà tru tréo lên: "Chúng ta lại quay về Danzig." Nhưng họ nhầm. Tàu chỉ chuyển qua một đường tránh, rồi lại đi về phía tây, hướng tới Stolp. Hành trình đến Stolp, theo lởi người kể, kéo dài bốn ngày; đoàn tàu luôn luôn bị ách lại bởi những du kích cũ và bọn găngxtơ trẻ Ba Lan. Bọn này mở những cánh cửa trượt, để một chút khí trời mát mẻ lọt vào và mỗi lần lại lấy đi một phần hành lý của hành khách cùng với chút ít thán khí. Cứ khi nào bọn cướp trẻ xuất hiện ở toa ông Matzerath, bốn nữ tu sĩ lại đứng dậy và giơ thánh giá lên. Bốn cây thánh giá gây ấn tượng sâu sắc đối với bọn này, chúng không quên làm dấu trước khi ném những va-li và ba-lô của hành khách xuống đường.
 
Khi ông Xã hội - Dân chủ chìa một tờ giấy của nhà chức trách Ba Lan ở Danzig chứng nhận ông đã từng là một đảng viên nộp đảng phi đều đặn của Đảng Xã hội - Dân chủ từ 1931 đến 1937, thì bọn cướp trẻ không làm dấu thánh giá, mà hất tờ giấy khỏi tay ông và lấy đi hai cái va-li của ông và cái ba-lô của vợ ông; cái áo ba-đờ-xuy đẹp kẻ ca-rô to ông trải ra để nằm, cũng được đưa ra hưởng không khí thoáng mát của miền Pomerania.

Mặc dù thế, ông Matzerath nói đám thiếu niên này xem ra rất có kỷ luật và, nói chung, gây một ấn tượng tốt đối với ông. Theo ông, đó là do ảnh hưởng của gã cầm đầu; gã này, mặc dầu mới trạc mười sáu tuổi, đã tỏ rõ tính cách, khiến ông Matzerath vừa thích thú vừa đau lòng nhớ đến Störtebeker, thủ lĩnh của băng Quét Bụi.

Khi gã thiếu niên giống Störtebeker ấy đang giật chiếc ba-lô khỏi tay bà Maria Matzerath, vào giây cuối ông Matzerath với tay ra lấy lại cuốn album ảnh gia đình may sao nằm ngay trên chốc. Gã cướp trẻ đã sắp nổi khùng, nhưng khi bệnh nhân của tôi giở cuốn album ra, chỉ cho gã một tấm ảnh bà ngoại Koljaiczek của ông, thì gã buông chiếc ba-lô của Maria xuống, hẳn là vì nghĩ đến bà ruột của chính mình. Đưa hai ngón tay lên vành chiếc mũ Ba Lan chóp nhọn theo kiểu chào nhà binh, gã nói: "Do widzenia (tạm biệt)!" về phía gia đình Matzerath, và cùng đồng bọn rời khỏi toa tàu, mang theo một cái va-li của một người khác thay vào cái ba-lô nhà Matzerath.
 
Ngoài một vài thứ đồ lót, cái ba-lô được để lại cho gia đình sở hữu nhờ cuốn album ảnh gia đình ấy gồm những sổ sách kế toán, sổ ghi tài khoản, các giấy chứng thực nộp thuế của cửa hàng tạp hoá Matzerath và một chiếc vòng hồng ngọc trước kia của mẹ ông Matzerath mà bệnh nhân của tôi giấu trong một gói thuốc tẩy uế; cuốn cẩm nang văn hoá, gồm một nửa là những trích đoạn từ Rasputin và nửa kia là những đoạn văn tuyển từ Goethe, cũng theo ông Matzerath trong cuộc hành trình về miền tây.
 
Bệnh nhân của tôi kể rằng trong chuyến đi, ông thường hay xem lại cuốn album ảnh và thi thoảng tra cứu cuốn cẩm nang văn hóa và nhờ đó mà qua rất nhiều giờ thú vị đầy suy tư, bất chấp những cơn đau dữ dội ở các khớp.
 
Ông cũng đề nghị tôi nói rõ rằng tất cả những lắc lư, xóc nẩy, những khúc rẽ và giao điểm, nhịp rung chuyển không ngừng của trục trước mà ông nằm ngay bên trên dó, đã thúc đẩy sự tăng trưởng của ông. Ông thôi không phát triển chiềụ ngang nữa mà bắt đầu dài ra. Các khớp bị sưng nhưng không viêm tấy giờ có cơ hội giãn ra. Ngay cả tai, mũi và bộ phận sinh dục của ông, dưới tác động của những cú sốc, cũng to lên trông thấy. Chừng nào tàu còn chuyển động, ông Matzerath dường như không cảm thấy dau đớn gì cả. Chỉ những khi tàu dừng vì bị du kích hoặc đám thiếu niên phạm pháp ách lại, ông mới bị những cơn đau nhói, nhay nhứt mà ông cố xoa dịu bằng cuốn album ảnh, ông kể với tôi thế.
 
Ngoài gã Störtebeker Ba Lan, có mấy tên cướp trẻ khác và một tay du kích trung niên cũng quan tâm đến cuốn album. Tay du kích dạn dày chiến trận thậm chí còn ngồi xuống, châm một điếu thuốc lá và trầm ngâm giở hết cuốn album, không bỏ sót một tấm ảnh nào. Giả bắt đầu bằng tấm chân dung ông ngoại Koljaiczek, lần theo sự đi lên được minh họa bằng hình ảnh của gia đình và tiếp tục với những tấm ảnh chụp nhanh của bà Maria Matzerath cùng đứa con trai Kurt hồi lên một, hai, ba, bốn tuổi. Bệnh nhân của tôi thậm chí còn thấy giả tủm tỉm cười khi nhận ra một số chuyện huê tình trong gia đình. Tay du kích chỉ phật ý khi cái huy hiệu Đảng không thể lẫn được trên ve áo của ông Matzerath-cha quá cố và ông Ehlers, cựu thủ lĩnh nông dân địa phương ở Ramkau, kẻ đã lấy vợ goá của Jan Bronski, người bảo vệ Sở Bưu Chính Ba Lan. Bệnh nhân của tôi kể rằng ông đã lấy dao nhíp cạo những cái huy hiệu khó coi ấy ngay trước mắt người phê phán khiến giả rất thỏa mãn.

Ông Matzerath thấy cần cho tôi biết rằng, không giống như bao gã khác, tay du kích này là du kích thứ thiệt. Bởi vì - vẫn theo lời bệnh nhân của tôi - không có cái thứ du kích làm việc một phần thời gian. Du kích thứ thiệt là du kích toàn phần và thường xuyên chừng nào họ còn sống. Họ đưa những chính phủ bị đổ trở lại nắm chính quyền và lật đổ những chính phủ vừa được du kích đặt lên ngôi. Ông Matzerath lập luận - và tôi thấy luận thuyết của ông hoàn toàn có lý - rằng trong tất cả những người dấn thân vào chính trị, người du kích bất trị luôn phá những gì mình vừa dựng lên, là gần gũi nhất với người nghệ sĩ vì hắn, trước sau như một, luôn bác bỏ những gì hắn vừa sáng tạo nên.
 
Bản thân tôi cũng thế. Tôi vừa mới đắp thạch cao lên những tượng nút cho chúng thành hình thì đã muốn đấm nát chúng ra. Liên quan đến điểm này, tôi bỗng nhớ đến cái đề tài sáng tác mà bệnh nhân của tôi đã đặt cho tôi cách đây mấy tháng, ông muốn tôi làm sao chỉ bằng dây thông thường thô sơ, kết hợp được Rasputin, tay thày mo Nga, với Goethe, thi bá Đức, trong một hình tượng duy nhất, hơn thế nữa lại phải giống hệt ông ta. Thậm chí ông biết tôi đã thắt nút bao nhiêu ki-lô-mét dây, để tạo ra một tổng hợp khả đĩ của hai thái cực ấy. Nhưng giống như tay du kích mà ông Matzerath thán phục, tôi vẫn phân vân và không thoả mãn; những gì tôi thắt nút bằng tay phải, tay trái tôi lại gỡ ra, những gì tay trái tôi tạo nên, tay phải lại đập nát.
 
Nhưng chính ông Matzerath cũng không thể kể câu chuyện của mình một cách nhất quán thắng băng được. Chẳng hạn như bốn nữ tu sĩ, lúc trước ông liệt họ vào dòng Francisco, lúc sau ông lại gọi họ là những bà phước của dân nghèo. Nhưng điều khiển câu chuyện của ông trật đường ray hơn tất thảy, là cái cô gái có hai tên và một bộ mặt cáo. Để cho thật sự công tâm, đáng ra tôi phải viết hai (hoặc hơn nữa) dị bản riêng rẽ về cuộc hành trình của ông từ Đông sang Tây. Song đó không phải nghề tôi, cho nên tôi ưng tập trung vào ông Xã hội - Dân chủ vốn chỉ có một tên và, như bệnh nhân của tôi bảo đảm, một chuyện duy nhất mà ông ta không ngừng lặp đi lặp lại cho đến tận trước khi tới Stolp một lúc, cụ thể là: cho đến năm 1937, ông đã từng là một thứ du kích dám mạo hiểm sức khoẻ của mình và hy sinh thời gian rảnh rỗi để đi dán áp- phích, vì ông là một trong số ít đảng viên Xã hội - Dân chủ đi dán áp-phích cả những lúc trời mưa.
 
Ông vẫn nói trần xì mỗi câu chụỵện ấy khi, cách Stolp một quãng không xa, đoàn tàu lại bị một băng cướp trẻ khá đông ách lại không biết lần thứ bao nhiêu. Vì hành lý chẳng còn lại bao nhiêu, nên các vị khách dồn sự chú ý vào áo quần. Nhưng chúng tỏ ra rất biết điều, chỉ muốn quần áo ngoài của nam thôi. Nhưng ông Xã hội - Dân chủ thì nghĩ hoàn toàn ngược lại. Ông nói một người thợ may tài khéo có thể biến những bộ đồ rộng thùng thình (không biết tốn bao nhiêu mét vải len?) của các nữ tu sĩ kia thành nhiều bộ com-lê tuyệt hảo. ông Xã hội - Dân chủ, như ông nhiệt thành tuyên bố, là kẻ vô thần. Các tiểu lục lâm chẳng nhiệt thành tuyên bố gì, nhưng sự gắn bó của chúng với Nhà thờ Chính giáo duy nhất cứu rỗi là không thể nghi ngờ. Chúng thích bộ com-lê cài thắng của kẻ vô thần hơn những bộ đồ len rộng của các nữ tu sĩ nhiều. Kẻ vô thần không chịu cởi bỏ áo vet-tông, gi-lê và quần. Thay vì, ông kể cho chúng nghe về sự nghiệp dán áp-phích tuy ngắn ngủi nhưng xuất sắc của ông với tư cách là đảng viên Xã hội - Dân chủ và khi ông từ chối cả hai điều: ngừng nói và cởi bộ com-lê, một chiếc ủng trước đây thuộc sở hữu của quân đội Đức bèn phóng vào bụng ông.
 
Ông Xã hội - Dân chủ nôn. Cơn nôn của ông dữ dội và kéo dàỉ, và cuối cùng ông thổ ra máu. ông nôn cả ra quần áo, khiến các tiểu lục lâm đâm mất hết thích thú đối với bộ com-lê mặc dù chỉ cần giặt khô một lần thật kỹ là dễ dàng xóa sạch dấu vết. Quay lưng lại với y phục đàn ông, chúng lột một chiếc áo blu lụa màu xanh nhạt của bà Maria Matzerath và một chiếc áo đan kiểu Bavaria của cô gái không phải tên là Lucy Rennwand mà là Regina Raeck. Rồi chúng đóng cửa toa lại, nhưng không hoàn toàn và tàu chuyển bánh, trong khi ông Xã hội - Dân chủ bắt đầu hấp hối.
 
Hai hoặc ba cây số trước Stolp, tàu rẽ vào một đường tránh và nằm lại đó suốt đêm - một đêm trời trong, đầy sao nhưng hơi lạnh đối với một tháng sáu.
 
Ông Xã hội - Dân chủ, quá gắn bó với bộ com-lê của-mình, đã chết đêm ấy. Ông chết lèm bèm, thiếu tư cách, lớn tiếng báng bổ Thượng Đế và hô hào giai cấp công nhân đấu tranh. Lời cuối cùng của ông, giống như trong phim, là: "Tự do muôn năm!" Rồi ông ra đi trong một cơn nôn thốc tháo làm cả toa kinh hãi.
 
Sau đó, bệnh nhân của tôi kể, không có ai kêu khóc. Im lặng kéo dài, chỉ thỉnh thoảng ngắt quãng bởi tiếng răng đánh đàn của bà Maria rét run vì mất chiếc áo blu, cũng bởi còn bao nhiêu quần áo bà đắp cả lên cho đứa con trai Kurt và ông Matzerath. Gần sáng, hai nữ tu sĩ đảm lược vững vàng thấy cửa toa còn mở, bèn quét dọn số rơm ướt, cứt trễ con và người lớn cùng đống mửa của ông Xã hội - Dân chủ ra ngoài.
 
Đến Stolp, các sĩ quan Ba Lan lên kiểm tra tàu. Mọi người được phát xúp nóng và một thứ đồ uống tựa như thế phẩm cà-phê. Cái xác trong toa ông Matzerath bị tịch thu để tránh nguy cơ lây nhiễm và được mấy người của tổ chức y tế mang đi trên một tấm ván. Theo yêu cầu của các nữ tu sĩ, một sĩ quan cao cấp để cho gia đình có thì giờ đọc một bài kinh cầu nguyện ngắn. Họ cũng được phép cởi bộ com-lê và giày, tất của người chết.Trong khi diễn ra màn giải y này - sau đó, cái xác được phủ bằng bao xi-măng - bệnh nhân của tôi tranh thủ quan sát cháu gái ông cựu đảng viên Xã hội - Dân chủ. Một lần nữa, với một cảm giác ghê tởm pha lẫn với mê muội, cô gái tên là Raeck ấy vẫn nhắc ông nhớ đến Lucy Rennwand mà tôi đã tạo hình bằng nút dây và đặt tên là "Người ăn xăng-đuých". Đúng là cô gái trong toa xe, khi thấy ông bác mình bị lột, không vớ lấy một chiếc xăng-đuych để nhai, nhưng cô có tham gia vào cuộc vơ vét, chiếm chiếc gi-lê trong bộ com-lê, mặc luôn vào thay thế chiếc áo vét đan bị cướp và rút ra một chiếc gương bỏ túi ngắm nghía mình trong món trang phục mới khá hợp ấy. Và rồi - ông Matzerath nói là đến bây giờ ông vẫn kinh hoàng khi nhớ lại - cô thấy ông trong tấm gương ấy và, bằng đôi mắt him him như hai sợi chỉ trong một hình tam giác, cô ta lạnh lùng, rất lạnh lùng quan sát ông.
 
Từ Stolp đến Stettin mất hai ngày, vẫn còn những chặng dừng ngoài ý muốn và những cuộc thăm hỏi của các thiếu niên phạm pháp được trang bị tiểu liên và dao găm lính dù. Nhưng những đợt thăm hỏi này càng lúc càng ngắn vì hầu như chả còn gì để mà vét.
 
Bệnh nhân của tôi nói là từ Danzig-Gdansk đến Stettin, ông đã lớn thêm chín, mười phân. Dài ra nhiều nhất là chân, còn ngực và đầu thì ít thay đổi. Tuy nhiên, mặc dầu bệnh nhân của tôi nằm ngửa suốt chuyến đi, điều đó vẫn không ngăn nổi sự xuất hiện của một cái bướu ở khá cao và hơi chếch về bên trái, ông Matzerath cũng thừa nhận rằng từ sau Stettin - trong thời gian đó, nhân viên đường sắt người Đức đã thay thế - những cơn đau càng tăng và phương thuốc giở album ảnh ra xem đã hết công hiệu. Ông kêu luôn miệng và khá to, nhưng không làm vỡ kính ở bất cứ ga nào (Matzerath: "Giọng tôi đã mất khả năng huỷ hoại thuỷ tinh") mà chỉ khiến bốn bà nữ tu đến vây quanh cầu nguyện mãi không thôi.
 
Đến Schwerin, một nửa số bạn đồng hành của ông, kể cả cô Regina và các thành viên khác của gia đình ông Xã hội - Dân chủ quá cố, xuống tàu. Ông Matzerath lấy làm tiếc, ông đã quen nhìn cô gái và hình ảnh cô ta đã trở nên cần thiết đối với ông đến nỗi khi cô ta đi rồi, ông bỗng lên cơn co giật kèm theo sốt cao. Theo lời bà Maria Matzerath, trong cơn mê sảng, ông hét lớn gọi tên một cô Lucy nào đó, tự gọi mình là một con vật huyền thoại, một con kỳ lân, và hình như sợ ngã, đồng thời lại hăm hở định lao xuống từ một cái tháp nhảy cầu mười mét.

Đến Luneburg, ông Oskar Matzerath được đưa vào một bệnh viện. Tại đây, trong cơn sốt, ông làm quen với một số nữ y tá nhưng chẳng bao lâu, được chuyển sang Bệnh viện Đại học ở Hanover; tại đây, người ta hạ được cơn sốt của ông. Một thời gian, ông Matzerath rất ít gặp hai mẹ con Maria; mãi sau khi kiếm được chân lao công quét dọn trong bệnh viện, bà Maria mới có thể thăm ông hằng ngày. Bà Matzerath không được xếp cho ở trong bệnh viện. Hai mẹ con bà, cuối cùng, phải vào một trại tỵ nạn ở ngoại vi thành phố và mỗi ngày, bà mất ít nhất ba tiếng vừa đi vừa về trên những chuyến tàu chật như nêm, thường là phải đứng trên bậc. Chẳng bao lâu, bà hoàn toàn kiệt sức và các bác sĩ, mặc dù băn khoăn, vẫn đồng ý cho chuyển bệnh nhân đến Dusseldorf, ở đó bà Maria Matzerath có một người chị gái. Người chị gái này tên là Guste, lấy một trưởng bồi bàn mà bà ta gặp trong thời kỳ chiến tranh. Bấy giờ, người trưòng bồi bàn đang được ăn ở miễn phí tận bên Nga,[1] nên bà ta có thể nhường cho bà Matzerath một phòng trong căn hộ hai phòng rưỡi của mình, ông Matzerath được nhận vào Bệnh viện thành phố Dussendorf.
 
Căn hộ ở một nơi thuận tiện có nhiều tuyến xe điện chạy thắng tới bệnh viện thành phố.
 
Ông Matzerath nằm ở đó từ tháng 8-45 cho đến tháng 5-46. Trong khoảng trên dưới một tiếng đồng hồ vừa qua, ông kể với tôi về nhiều nữ y tá cùng một lúc. Tên của họ là Monica, Helmtrud, Walburga, Use và Gertrude, ông nhớ mọi thứ chuyện gẫu nhàm chán nhất và có vẻ bị ám ảnh bởi đồng phục của các nữ y tá và những chi tiết đời sống thường nhật của họ. Không một lời về thức ăn ở bệnh viện hồi ấy (mà nếu tôi nhớ không nhầm, là không thể nuốt được) hoặc về những phòng bệnh rét cóng, ông thuần nói về các nữ y tá thôi, ông nói hoài nói huỷ về cái nhóm đáng ngán nhất này trong mọi thành phần xã hội. Hình như Xơ Ilse đã bí mật mách với y tá trưỏng, thế là ngay sau giờ ăn trưa, y tá trưởng dám khám chỗ ở của các nữ y sinh. Có vật gì đó đã bị đánh cắp và một nữ y tá quê ở Dormund - tôi nghĩ là Gertrude, ông nói - đã bị buộc tội oan. Lại có những bác sĩ trẻ luôn luôn săn đuổi các nữ y tá và họ chỉ muốn có một thứ - tem thuốc lá của các nữ y tá. Trên tất cả, ông thấy cần kể với tôl về một nữ nhân viên phòng thí nghiệm - riêng lần này không phải nữ y tá - bị buộc tội là đã tự mình phá thai, có lẽ với sự giúp đỡ của một sinh viên nội trú. Tôi quả không hiểu tại sao bệnh nhân của tôi lại tiêu phí thì giờ và đầu óc vào những chuyện tầm phào như vậy.
 
Ông Matzerath vừa mới đề nghị tôi miêu tả ông. Tôi rất vui lòng làm điều đó. Như vậy, tôi có thể bỏ qua hàng tá chuyện tràng giang, đại hải và đầy mỹ tự về các nữ y tá của ông.
 
Bệnh nhân của tôi cao một mét hai mươi mốt xăng-ti-mét. Ông ta mang giữa đôi vai một cái đầu mà ngay cả với người tầm vóc bình thường cũng là quá to, trên một cái cổ ngắn đến nỗi tưởng như không có. Mắt ông xanh lơ, sáng lấp lánh, lanh lợi thông minh, thi thoảng mang một vẻ mơ mộng ngây ngất. Tóc nâu sâm, rậm, hơi lượn sóng, ông thích phô hai cánh tay lực lưỡng so với phần còn lại của cơ thể và hai bàn tay mà ông tự khen là đẹp. Đặc biệt khi ông Matzerath chơi trống - việc này được ban giám đốc cho phép mỗi ngày ba tiếng hoặc nhiều lắm là bốn tiếng - những ngón tay ông dường như tự mình chuyển động và thuộc về một cơ thể khác cân đối hơn. ông Matzerath đã giàu to nhờ những đĩa hát đến bây giờ vẫn còn thu lời. Vào những ngày thăm bệnh nhân, nhiều nhân vật đặc biệt tới thăm ông. Ngay cả trước vụ án của ông, trước khi ông dược đưa tới đây, tôi đã nghe danh ông bởi vì Oskar Matzerath là một nghệ sĩ biểu diễn nổi tiếng. Riêng cá nhân tôi tin rằng ông vô tội và tôi không chắc liệu ông sẽ còn ở lại đây với chúng tôi hay sẽ được ra ngoài để tiếp tục sự nghiệp đầy thành công của mình. Bây giờ, ông muốn tôi đo lại cho ông, mặc dù tôi vừa làm điều đó cách đây có hai ngày.

Không buồn xem lại những gì Bruno, gã y tá của tôi, đã viết, tôi, Oskar, lại cầm bút lên.
 
Bruno vừa đo tôi bằng cái thước gấp của anh ta. Anh ta đã bỏ cái thước nằm bên cạnh tôi và hối hả chạy ra khỏi phòng, lớn tiếng công bố kết quả. Thậm chí anh ta buông rơi cả cái tác phẩm tạo hình bằng nút dây mà anh ta đã bí mật làm trong khi nghe tôi kể chuyện mình. Tôi đoán anh ta đi kiếm (nữ) Bác sĩ Hornstetter.
 
Nhưng trước khi bà ta đến và xác nhận số đo của Bruno, Oskar xin nói để quý vị rõ điều gì đã xẩy ra: trong ba ngày kể chuyện về sự tăng trưởng của tôi cho y tá của tôi nghe, tôi đã lớn lên cả hai phân rưỡi!
 
Và như vậy, từ hôm nay, Oskar cao một mét hai mươi ba xăng-ti-mét rưỡi. Bây giờ hắn sẽ kể những gì xẩy đến với hắn sau chiến tranh, khi hắn ra khỏi Bệnh viện thành phố Düsseldorf. Bấy giờ, tôi là một thanh niên với sức khoẻ tàm tạm tuy hơi dị dạng, viết thì khó khăn nhưng nói và đọc thì lưu loát. Và giống như mọi người vừa ra khỏi bệnh viện, tôi hy vọng sẽ có thể bắt đầu một cuộc đời mới, cuộc đời của người trưởng thành.
 
______
Chú thích
[1] Ý nói bị bắt làm tù binh.
 
(HẾT QUYỂN HAI)
 
...! Tràn đầy mà rỗng lặng
Biển vô lượng thủy triều
Đường về tâm hết động
Tuyệt chiêu là vô chiêu !...

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 20.07.2016 11:39:56 bởi tducchau>
[...]
 
 
MADONNA 49
 
Cuộc cải cách tiền tệ đến quá sớm, nó biến tôi thành một thằng điên, đẩy tôi đến nước cũng phải cải cách tiền tệ của Oskar. Tôi buộc phải kiếm lời, hay chí ít cũng phải kiếm sống, bằng cái bướu của mình.
 
Phải, lẽ ra tôi đã có thể là một công dân tốt. Thời kỳ tiếp theo cuộc cải cách tiền tệ - bây giờ đã hoàn toàn rõ ràng là nó mang mọi tiền đề của cái thiên đường trung lưu trong đó chúng ta hiện đang sống - lẽ ra đã có thể tạo ra một Oskar tư sản. Nếu có vợ con, có gia đình, tôi ắt đã tham gia vào công việc tái thiết nước Đức, giờ đây tôi ắt đã là chủ một xí nghiệp làm đá cỡ trung, nuôi sống ba mươi công nhân, cung cấp những mặt tiền đá điệp và t’ra-véc- tin đang rất thịnh hành cho các công sở, các công ty bảo hiểm. Lẽ ra tôi đã là một nhà doanh nghiệp, một người chủ gia đình, một thành viên đáng kính của xã hội. Nhưng Maria đã khước từ tôi.
 
Chính vào thời điểm ấy, Oskar đã nhớ ra cái bướu của mình và trở thành một nạn nhân của nghệ thuật. Trước khi Korneff kịp thải tôi - bởi đời sống dựa chủ yếu vào việc làm bia mộ của ông cũng bị cuộc cải cách tiền tệ đe doạ - tôi đã nhanh chân rút trước. Những lúc không ngồi tễu vê ngón tay trong phòng khách kiêm bếp của Guste, tôi thường ra đứng ở các góc phố, mài mòn dần bộ com-lê may đo sang trọng. Tôi bắt đầu chểnh mảng vẻ bề ngoài của mình. Tuy chưa hề có chuyện cãi vã với Maria, nhưng vì sợ xẩy ra cãi vã, nên cứ tầm cuối buổi sáng, tôi lại rời căn hộ ở Bilk. Trước tiên, tôi đến xem thiên nga ở Graf-Adolf, rồi chuyển qua thiên nga ở Hofgarten. Nhỏ nhoi, đăm chiêu nhưng chưa đến nỗi chua chát, tôi ngồi trên một cái ghế đá vườn hoa đối diện với Sở Lao Động thành phố và Trường Đại học Mỹ thuật vốn là láng giềng ở Düssendorf.
 
Thật kỳ lạ, người ta có thể ngồi mọc rễ trên một cái ghế đá công viên cho đến khi biến thành gỗ và cảm thấy cần phải giao lưu với những người gỗ khác: những ông già chỉ đến đây khi thời tiết tốt, những bà già dần dần trở lại thói bẻo lẻo thời con gái, đám trẻ con vừa chơi chạy đuổi vừa la hét, những cặp tình nhân sắp phải chia tay nhưng còn dùng dằng. Những con thiên nga thì đen, thời tiết thì nóng, lạnh hay vừa phải tuỳ theo mùa. Giấy vứt lung tung, mảnh phất phơ bay, mảnh nằm trên các lối đi cho đến khi một người đội mũ cát-két, ăn lương của thành phố, xiên chúng bằng đầu một cái que nhọn.
 
Oskar khi ngồi luôn chú ý để hai đầu gối quần phồng đều đặn. Đương nhiên là tôi nhận thấy, hai gã thanh niên gày guộc và cô gái đeo kính trước khi cô này (mặc một chiếc măng-tô da, chít một cái thắt lưng cũ của Wehrmacht) nói với tôi. Hình như sáng kiến là của hai bạn cô, nhưng vì, mặc dầu bề ngoài nom có vẻ dân xã hội đen, họ sợ không dám tiếp cận tôi bởi họ mang máng cảm thấy sự vĩ đại ẩn giấu nơi cái bướu của tôi, nên đùn cho cô. Thu hết can đảm, cô đứng trước mặt tôi, dạng đôi chân chắc như cột nhà cho đến khi tôi mời cô ngồi xuống. Sương mù từ sông Rhine làm nhoà mắt kính của cô. Cô nói, nói lan man hoài cho đến khi tôi đề nghị cô lau mắt kính và trình bày đầu đuôi câu chuyện cho rành rọt dễ hiểu. Cô vẫy hai người bạn dáng dữ dằn lại. Tôi chưa hỏi, họ đã lập tức tự giới thiệu là họa sĩ đi săn người mẫu. Tôi đúng là "típ" họ đang tìm kiếm, họ nói với một vẻ nhiệt thành gần như rùng rợn. Khi tôi xoa xoa những đầu ngón tay với nhau, họ cho tôi biết Trường Đại học Mỹ thuật trả một mark tám mươi một giờ, hoặc hai mark nếu ngồi mẫu khỏa thân nhưng, cô gái to béo nói chen vào, khả năng đó không nhiều lắm.
 
Tại sao Oskar trả lời đồng ý? Có phải vì sự hấp dẫn của nghệ thuật? Hay vì hám lợi? Không cần phải chọn lựa. Vì cả hai. Tôi đứng dậy, mãi mãi bỏ lại sau lưng cái ghế công viên cùng những vui, buồn của đời ghế công viên và theo những người bạn mới - cô gái to béo bước đi quả quyết, hai chàng trai thì khòng khòng như vác thiên tài của mình trên lưng - đi ngang qua Sở Lao Động tới Trường Đại học Mỹ thuật bị phá hủy một phần.

Giáo sư Kuchen - râu đen, mắt đen như than, tóc mềm đen, đầu móng tay đen - nhất trí rằng tôi sẽ là một người mẫu tuyệt vời.
 
Ông đi quanh tôi một hồi, phóng những tia nhìn đen như than, phì bụi đen từ hai lỗ mũi. Bóp cổ một kẻ thù vô hình bằng những móng tay đen, ông tuyên bố: "Nghệ thuật là kết tội, xuất biểu, đam mê. Nghệ thuật là một cuộc đấu tranh đến cùng giữa chì than và giấy trắng."
 
Giáo sư Kuchen dẫn tôi đến một xưởng vẽ, tự tay nhấc tôi lên một cái bục quay và xoay nó đi một vòng, không phải để làm tôi chóng mặt, mà để phô bày những kích thước của Oskar từ mọi phía. Mười sáu cái giá vẽ vây quanh tôi. Vị giáo sư thở ra than giảng giải ngắn gọn cho các đồ đệ của mình: điều ông cần là xuất biểu, luôn luôn xuất biểu, một biểu hiện đen ngòm của tuyệt vọng. Tôi, Oskar đây, ông nhấn mạnh, là hình ảnh vỡ nát của con người, một sự buộc tội, một thách thức, phi thời gian nhưng lại biểu hiện sự điên loạn của thế kỷ chúng ta. Để kết luận, ông gầm lên bên trên những giá vẽ: "Tôi không muốn các em ký họa con người tàn tật này, sự dị dạng này của thiên nhiên, tôi muốn các em lột da anh ta, đóng đanh câu rút anh ta trên thánh giá, đóng đinh anh ta lên giấy bằng chì than!"
 
Đó là hiệu lệnh bắt đầu. Mười sáu cây chì than rào rạo đằng sau mười sáu cái giá vẽ, chì than chộp lấy cái thần thái của tôi, có nghĩa cái bướu của tôi, bôi đen nó, đè nó lên mặt giấy. Các sinh viên của Giáo sư Kuchen nhìn cái thần thái của tôi đen tối đến nỗi họ không thể tránh khỏi phóng đại kích thước cái bướu của tôi: nó không chịu vừa khớp trên mặt giấy mặc dầu họ lấy những tờ mỗi lúc một rộng khổ hơn.
 
Giáo sư Kuchen bèn cho mười sáu tay nghiền chì than một lời khuyên quý báu: đừng bắt đầu bằng việc đi công-tua" cái bướu của tôi - xem ra nó quá tải chất biểu hiện đến nỗi không khổ giấy nào chứa nổi - mà trước hết hãy phác cái đầu của tôi ở phần năm trên cùng của tờ giấy, càng lệch về bên trái càng tốt.
 
Mái tóc đẹp của tôi óng ánh một màu nâu hạt dẻ. Họ biến tôi thành một tên di-gan tóc xoã xượi. Không ai trong bọn họ nhận thấy Oskar có đôi mắt xanh. Trong một lần nghỉ giải lao - mọi người mẫu đều được quyền nghĩ mười lăm phút sau khi làm mẫu ba phần tư tiếng đồng hồ - tôi ngó thử mười sáu bức ký họa. về mọi mặt, diện mạo thây ma của tôi gào lên lời kết tội, nhưng khỗng ở đâu tôi thấy cái ánh xanh rờ rỡ của cặp mắt tôi; ở chỗ đáng lẽ phải là một sự lấp lánh quyến rũ, tôi chỉ thấy những vòng xoáy lở tở đen kịt của chì than.
 
Tuy nhiên, bản chất của nghệ thuật là tự do. Phải có cái nhìn rộng lượng. Những người con trai và con gái này của Nữ thần Nghệ Thuật, tôi tự nhủ, đã nhận ra Rasputin nơi mày. Nhưng liệu có bao giờ họ phát hiện ra Goethe đang nằm ngủ trong tâm hồn mày để đánh thức ông dậy, thể hiện ông trên mặt giấy, không phải bằng chì than vũ bão, mà bằng một nét bút kiềm chế và nhạy cảm? cả mười sáu sinh viên kia, cho dù họ có thể là những tài năng, lẫn ông giáo sư Kuchen có độc một ngón võ chì than đều không thể tạo ra được một chân dung Oskar khả chấp nhận. Có điều, tôi làm được khá tiền và được đối đãi trân trọng sáu giờ mỗi ngày. Quay mặt về phía cái bồn rửa luôn luôn tắc hay một tấm rèm, hoặc nhìn qua cửa sổ xưởng vẽ thấy trời xanh hơi vẩn mây, tôi ngồi mẫu sáu tiếng một ngày, phô một sắc diện trị giá một mark tám mươi một giờ.
 
Trong vòng mấy tuần, các sinh viên vẽ được một số ký họa thú vị. Sự "xuất biểu" trở nên có mức độ hơn, các kích thước của cái bướu hợp lý hơn; thậm chí đôi khi họ đưa được cả người tôi vào bức vẽ, từ đầu đến chân, từ khuy áo trên ngực cho đến chỏm sau của cái bướu. Thi thoảng, còn có chỗ cho một bối cảnh; bất chấp cải cách tiền tệ, những người trẻ tuổi này vẫn không quên chiến tranh: đằng sau tôi, họ dựng những cảnh đổ nát với những lỗ hổng, xưa là cửa sổ, đen ngòm như những lời tố cáo. Hoặc giả họ thể hiện tôi như một người tỵ nạn đói khát, bơ vơ giữa những thân cây bị bom xén cụt; hoặc nét chì than của họ giam tôi lại, lồng lộn rạch chằng chịt những dây thép gai tua tủa đằng sau tôi và dựng những tháp canh đầy đe doạ bên trên tôi; họ cho tôi mặc quần áo tù và đặt vào tay tôi một cái bát không, những cửa sổ ngục tối đem lại một chất duyên giàu tính đồ họa. Và tất cả những cái đó đều nhân danh sự biểu hiện nghệ thuật.
 
Nhưng vì đó là một gã di-gan Oskar tóc đen được tạo ra để nhìn vào tất cả những cảnh khốn cùng này bằng đôi mắt đen như than, chứ không phải đích thị bản thân tôi với đôi mắt xanh, nên tôi cứ đứng (hoặc ngồi) yên không nhúc nhích mặc dù tôi thừa biết dây thép gai không phải là một đề tài thích hợp để vẽ. Tuy nhiên, tôi lấy làm mừng khi các điêu khắc gia mà, như mọi người đều biết, vốn không cần đến bối cảnh phi thời gian, yêu cầu tôi làm mẫu khoả thân cho họ.
 
Lần này không phải một sinh viên mà đích thân một ông thày đặt vấn đề với tôi. Giáo sư Maruhn là bạn của ông thày nghiền chì than Kuchen. Một hôm, tôi đang đứng bất động trong xưởng họa riêng của Kuchen, một phòng u ám đầy những ký họa chì than được đóng khung, để cho ông râu đen với nét phóng bút đen không ai bắt chước được ngả tôi trên mặt giấy, thì Giáo sư Maruhn tạt vào. Một người thấp, chắc nịch trạc ngũ tuần mà chiếc áo blu trắng gọn gàng có thể khiến ta tưởng lầm là một bác sĩ phẫu thuật nếu không có chiếc bê-rê bụi bặm giúp ta nhận dạng ông đích thị là nghệ sĩ.
 
Maruhn, như tôi có thể thấy ngay, là người yêu thích hình khối cổ điển, ông hoàn toàn không ưng vóc dáng của tôi và bắt đầu trêu chọc Kuchen: phải chăng Kuchen chưa thoả mãn với những mẫu di-gan đã khiến ông có cái biệt danh Ga-tô Di-gan, nên giờ đây lại thử đến những mẫu dị dạng? Sau thời kỳ Di- gan bán khá tốt, liệu ông thày nghiền chì than có ôm ấp hy vọng là thời kỳ người lùn sẽ còn bán ngon lành hơn?
 
Điếng người vì những lời châm trích của bạn, Giao sư Kuchen biến nỗi cay cú đó thành những nét chì than giận dữ: trong tất cả những chân dung Oskar của ông, đây là bức đen tối nhất. Toàn một màu đen kịt trừ một chút hé sáng nhờ nhờ trên gò má, mũi, trán và bàn tay - Kuchen bao giờ cũng vẽ bàn tay tôi rất to, sưng đẫn vì thấp khớp, như gào lên biểu cảm, và đặt chúng vào trung tâm những cuộc giao hoan chì than của mình. Tuy nhiên, trong bức vẽ này (về sau rất được ngưỡng mộ tại nhiều cuộc triển lãm), mắt tôi xanh, có nghĩa là cái ánh u tối mọi khi đã nhường chỗ cho một sắc độ sáng hơn rõ rệt. Oskar cho rằng sự đột biến này là do tác động của Maruhn vốn không mê lối xuất biểu đen kịt, mà là người thuộc phái cổ điển, nhạy cảm với sự rạng ngời mang tinh thần Goethe của đôi mắt tôi. Chỉ có thể là đôi mắt của Oskar đã thuyết phục con người yêu sự hài hoà cổ điển này chọn tôi như là mẫu thích hợp cho điêu khắc - điêu khắc của ông.
 
Xưởng làm việc của Maruhn sáng, bụi bặm và trống trơn không một thành phẩm hoàn tất nào. Nhưng khắp chỗ đều thấy khung cốt cho những tác phẩm điêu khắc dự định, được suy tính hoàn hảo dến mức chỉ riêng những thanh sắt, dây thép và ống chì trần trụi chưa đắp đất nặn đã hứa hẹn sự hài hòa trong tương lai.
 
Tôi ngồi mẫu khỏa thân mỗi ngày năm giờ và ông trả tôi mỗi giờ hai mark. Một vòng phấn trên bục đánh dấu chỗ tôi phải cắm rễ bàn chân phải. Một đường thắng dứng tưởng tượng kéo từ mu bàn chân lên phải qua chính giữa hai quai xanh của tôi. Chân trái "cử động tự do". Nhưng đó chỉ là một cách nói. Tôi phải hơi gập đầu gối và hơi ngả chân này sang một bên với một vẻ lơ đễnh, nhưng không được phép cử động. Nó cũng phải cắm rễ trong một vòng phấn vạch trên bục.
 
Tôi ngồi mẫu cho Maruhn nhiều tuần. Trong suốt thời gian đó, ông không sao tìm được cho tay tôi một tư thế cố định như tư thế chân, ông bắt tôi thử mọi cách: cánh tay trái buông thõng, cánh tay phải vắt lên trên đầu; cả hai tay khoanh trước ngực hay bắt chéo dưới cái bướu; hai bàn tay chống nạnh; vô số phương án và nhà điêu khắc thử tất, đầu tiên với tôi, rồi với bộ khung sắt với những ống chì dẻo uốn được.
 
Khi, cuối cùng, sau một tháng cố gắng căng thẳng, ông quyết định lấy đất nặn tượng tôi, hoặc với hai tay chắp sau đầu, hoặc không có tay, thì ông đã kiệt sức vì làm đi làm lại bộ khung cốt đến nỗi không thể làm gì thêm nữa. ông bốc một nắm đất nặn, thậm chí có khi đã vươn tới để đắp nhưng rồi lại buông nắm đất chưa ra hình thù gì xuống hộp. Rồi ông ngồi thừ ra nhìn tôi và bộ khung tượng tôi, run bần bật như lên cơn sốt: bộ khung quá là hoàn hảo.
 
Ông thở dài, cam chịu, nói ông bị đau đầu và, không hề oán giận Oskar, bỏ cuộc, ông nhấc bộ khung tượng gù lưng với một chân cố định, một chân cử động tự do, với cánh tay ống chì và ngón tay dây thép giơ lên chắp sau cổ sắt, và đặt nó vào trong góc cùng với tất cả các bộ khung cốt sớm hoàn chỉnh khác của ông. Lặng lẽ, không chút giễu cợt, ý thức rõ sự vô dụng của bản thân chúng, những gióng gỗ - còn gọi là bướm - lẽ ra phải đỡ lớp đất nặn, khẽ rung lên trong cái lồng rộng là cái bướu của tôi.
 
Sau đó, chúng tôi uống trà và trò chuyện khoảng một giờ, được tính là thời gian ngồi mẫu. ông kể về những thời kỳ trước khi mà, cường lực và không chút ức chế như một chàng Michelangelo trẻ tráng, ông đã phủ hàng toa đất nặn lên bao bộ khung và hoàn thành vô số tác phẩm điêu khắc, mà phần lớn đã bị phá huỷ trong chiến tranh. Tôi kể ông nghe về hoạt động của Oskar với tư cách là thợ đẽo đá và thợ khắc chữ trên bia mộ. Chúng tôi tán gẫu một lát rồi ông đưa tôi đến ngồi mẫu cho các sinh viên của ông.
 
Nếu tóc dài là dấu hiệu chỉ giới tính, thì sáu trong số mười học trò của Giáo sư Maruhn có thể coi là gái. Bốn cô xấu thì có tài. Còn lại hai, xinh đẹp, hoạt bát và nhởn nhơ: những cô gái đích thực. Tôi không bao giờ bối rối khi làm mảu khỏa thân. Trái lại, Oskar còn thích trí trước vẻ kinh ngạc của hai nữ điêu khắc gia xinh đẹp và nhởn nhơ khi họ nhìn thấy tôi trên bục lần đầu và không khỏi đôi chút hoang mang nhận thấy rằng mặc dầu gù và nhỏ con, Oskar được trang bị một bộ phận sinh dục mà khi cần, có thể đọ được cái khoản ấy của bất kỳ ai khác.

Vướng mắc của các sinh viên có phần khác với cái trục trặc của ông thày. Trong hai ngày, họ đã làm xong bộ khung; với sự cuồng nhiệt của thiên tài, họ đắp luôn đất nặn lên những ống chì gắn vội và vụng, nhưng hình như họ đã không đặt đủ bướm gỗ vào cái bướu, vì lớp đất ẩm vữa trát lên một gã Oskar nom như một đãy núi gập ghềnh, thì trái núi Oskar ấy, hay đúng hơn, mười trải núi đã bắt đầu rụn xuống. Đầu tôi rơi xuống giữa hai chân, lớp đất nặn bong ra khỏi các ống chì, cái bướu của tôi xệ xuống gần ngang tầm đầu gối. Bấy giờ tôi mới thấy rõ giá trị của ông thày Maruhn: những bộ cốt của ông hoàn hảo đến nỗi không cần phải đắp da đắp thịt dung tục cho chúng.
 
Bốn nữ điêu khắc gia xấu nhưng có tài khóc khi Oskar-đất-nặn tách ra khỏi Oskar-khung. Hai nữ điêu khắc gia xinh đẹp nhưng nhởn nhơ cười khanh khách khi lớp da thịt dề rữa nát rụng một cách đầy ý nghĩa biểu tượng khỏi xương cốt tôi. Tuy nhiên, sau mấy tuần, cả lớp cũng cho ra được một số tác phẩm điêu khắc coi được, thoạt tiên bằng đất, rồi bằng thạch cao và giả cẩm thạch. Chúng được trưng bày tại cuộc Triển lãm kết thúc học kỳ và tôi có dịp làm những so sánh mới giữa các nữ điêu khắc gia xấu nhưng có tài với hai cô xinh đẹp nhưng nhởn nhơ. Trong khi các cô xấu nhưng có tài thể hiện đầu, chân tay và cái bướu của tôi hết sức cẩn thận nhưng mặt khác, do e thẹn, lại hầu như lờ cái bộ phận sinh dục của tôi đi hoặc cách điệu nó một cách ngớ ngẩn, thì các cô xinh đẹp mắt xanh to tròn, ngón tay thon thả nhưng vụng về không mấy chú trọng đến những khớp và kích thước của thân thể tôi, mà mô phỏng cái bộ tam sự bề thế của tôi hết sức cụ thể. Nhưng tuy đang mải đề tài này, tôi cũng không nên quên bốn nhà điêu khắc nam giới: họ trừu tượng hóa tôi; dùng những tấm ván nhỏ phăng, có rãnh, họ biến tôi thành một khối vuông. Còn cái vật mà các cô xấu xao lãng và các cô xinh thể hiện với một tính chân thật nhục thể, thì họ, với trí tuệ nam nhi, họ nhìn nó ra hai khối vuông nhỏ giống nhau đội một trụ chữ nhật dài: dương vật theo quan điểm hình học không gian.
 
Phải chăng vì đôi mắt xanh của tôi hay vì những máy sưởi pa-ra-bôn mà các sinh viên đặt quanh Oskar khỏa thân: dù thế nào đi nữa, một số họa sĩ trẻ đến gặp hai cô sinh viên điêu khắc xinh đẹp phát hiện ra một nét đẹp hội hoạ hoặc ở màu xanh của mắt tôi hoặc ở làn da đỏ như tôm hùm ửng lên toả sáng của tôi. Thế là họ giành lấy tôi, mang lên lớp hội họa đang có giờ học ở tầng trên.
 
Thoạt đầu, các hoạ sĩ, dưới ấn tượng quá mạnh do đôi mắt xanh của tôi gây nên, nhìn tôi thành toàn xanh. Nước da hồng hào của Oskar, mái tóc nâu lượn sóng, cái miệng tươi tắn hồng hồng của hắn - tất cả chìm ngập trong những sắc xanh ma quái; đây đó, chỉ để đẩy nhanh quá trình thối rữa, một sắc xanh ve chết chóc, một màu vàng lộn mửa len lách vào giữa những mảng da thịt xanh lơ.
 
Oskar không được thêm màu nào khác cho đến tuần vũ hội hóa trang khi, giữa những hoạt động hội hè tổ chức trong tẩng hầm của Trường Mỹ thuật, hắn phát hiện ra Ulla và đưa nàng đến với các họa sĩ để làm nguồn cảm hứng cho họ.
 
Có phải vào hôm Thứ Hai Giải Tội? Phải, đúng vào ngày Thứ Hai Giải Tội, tôi quyết định tham gia các cuộc vui, góp thêm một gã Oskar hoá trang vào đám đông sặc sỡ sắc màu.
 
Khi Maria thấy tôi đứng trước gương, nàng bảo: "Tốt nhất là anh ở nhà đi. Họ sẽ giẫm bẹp anh mất." Tuy vậy, nàng vẫn giúp tôi chuẩn bị bộ đồ hoá trang, cắt những mảnh vải để bà chị Guste, bằng đường kim hoạt bát, chắp lại thành một bộ trang phục hề. Ý định đầu tiên của tôi là đóng vai một chú lùn của Velasquez. Tôi cũng thích xuất hiện dưới dạng một Narses hay Hoàng tử Eugene. Cuối cùng, khi tôi đứng trước tấm gương lớn mà hình ảnh phản chiếu trong đó hơi bị xệch xẹo do một vết nứt dài từ góc này sang góc kia còn lại từ hồi chiến tranh, khoác lên người cả bộ đồ loang lổ, lùng thùng, xẻ tà, với những cái chuông nhỏ leng keng, khiến Kurt con trai tôi cười ngặt nghẽo đến nỗi ho sù sụ không dứt, tôi khẽ tự nhủ, không lấy gì làm vui thích lắm: "Nào, Oskar, bây giờ thì mày là anh hề Yorick rồi. Nhưng đâu là đức vua cho mày pha trò trêu chọc?"
 
Trên chuyến xe diện đưa tôi đến Ratinger Tor, gần Trường Mỹ thuật, tôi mau chóng nhận thấy là Oskar-Yorick không làm cho đám dân đã cười - tất cả những gã cao-bồi và vũ công Tây Ban Nha đang cố quên đi công việc linh tinh thường nhật. Không, tôi làm họ sợ. Họ né tránh tôi, thành thử mặc dù tàu chật, như nêm, tôi vẫn dễ dàng tìm được một chỗ ngồi. Bên ngoài Trường Mỹ thuật, cảnh sát vung những chiếc dùi cui thật chẳng có liên quan gì với trò trá hình của hội hoá trang.
 
Hội trường của sinh viên mỹ thuật chật cứng mà vẫn có nhiều người cố chen vào.
 
Khi Oskar rung những chiếc chuông nhỏ, đám đông dãn ra như Biển Đỏ và một viên cảnh sát với con mắt được nghề nghiệp mài sắc, thấy ngay kích cỡ thực của tôi. Y nhìn xuống, chào theo kiểu nhà binh và ve vẩy chiếc dùi cui tháp tùng tôi xuống hầm, nơi diễn ra các trò vui. Khi tôi tới, nồi đã đặt trên lửa nhưng chưa đến độ sôi hẳn.

Không nên tưởng rằng một cuộc hội hè của nghệ sĩ thì mọi nghệ sĩ đều vui chơi thoải mái. Phần lớn nghệ sĩ thật sự, sinh viên của trường, vẻ mặt lo âu và nghiêm trang mặc dầu được tô son vẽ phấn, đứng sau những quầy trang trí vui mắt nhưng rất chông chênh, bán bia, rượu schnaps, sâm-banh và xúc xích, kiếm thêm tí tiền ngoài. Phần lớn những người vui chơi nhảy múa thật sự là đám dân thường một năm mới có một lần được dịp đú đởn chè chén và vung tiền tung tẩy như các nghệ sĩ.
 
Sau khoảng một giờ xục xạo các cầu thang, xó xỉnh, gầm bàn, làm kinh động những cặp dường như đang sắp tìm thấy khoái thú trong điều kiện thiếu tiện nghi, tôi kết bạn với hai cô gái Trung Quốc đến từ Lesbos - hay tôi có nên nói là hai cô Lesbian1 từ Trung Quốc sang? Họ rất quấn quít nhau. Mặc dầu họ thám hiểm nhau không thiếu chỗ nào, họ vẫn không xâm phạm đến những vùng gay cấn của tôi và cho tôi thưởng thức một màn có những pha khá thú vị. Chúng tôi cùng uống sâm- banh và cuối cùng, được tôi cho phép, họ dùng cái bướu của tôi vào một thí nghiệm mà kết quả tỏ ra rất mỹ mãn. Điều đó một lần nữa chứng minh thuyết của tôi là đúng: một cái bướu có thể mang lại hạnh phúc cho đàn bà.
 
Tuy nhiên, lâu dần, những giao tiếp này làm tôi càng lúc càng thêm buồn bã. Nhiều ý nghĩ đến quấy nhiễu tôi, tôi băn khoăn lo lắng về tình hình chính trị; tôi lấy sâm-banh vẽ lên mặt bàn sự phong tỏa Berlin và cầu hàng không bằng vạch chấm chấm. Nhìn hai cô gái Tàu không kết nhập được với nhau, tôi hết hy vọng vào việc thống nhất nước Đức và làm một điều không hợp với tôi chút nào. Oskar, trong vai Yorick, bắt đẩu tìm hiểu ý nghĩa cuộc đời.
 
Khi các cô bạn gái của tôi không nghĩ thêm được gì khác để khoe, họ bắt đầu khóc, để lại những vệt lộ liễu trên lớp son phấn Đông phương của họ. Tôi đứng dậy trong bộ trang phục lùng thùng, xẻ tà, rắc phấn và xủng xoẻng chuông. Hai phần ba thằng tôi muốn về nhà, nhưng một phần ba còn lại vẫn hy vọng biết thêm được một kinh nghiệm hội hè nữa. Chính lúc đó tôi chợt thấy trung sĩ Lankes, có nghĩa là anh ta gọi tôi trước.
 
Quý vị còn nhớ chứ? Chúng tôi gặp nhau trên Phòng tuyến Đại Tây Dương mùa hè năm 1944. Anh ta canh giữ công sự bê-tông và hút thuốc lá của sư phụ tôi Bebra.
 
Cầu thang đầy những cặp ôm ấp hôn hít nhau. Tôi cố lách qua. Tôi vừa mới châm lửa thì có người chọc ngón tay vào tôi và một cựu trung sĩ từ thời chiến tranh cất tiếng: "Này, anh bạn, còn thừa mẩu nào không?"
 
Chả có gì là lạ nếu tôi nhận ra anh ta ngay: khẩu khí quen thuộc ấy, lại thêm trang phục vẫn là bộ đồ xám đã chiến. Nhưng dù có thế đi nữa, chắc tôi cũng chẳng hơi đâu nhắc lại mối quan hệ quen biết cũ nếu cô gái ngồi trên đùi xám dã chiến của tay trung sĩ và họa sĩ bê-tông không phải đích thực là Nảng Thơ hiện thân.
 
Hãy để tôi nói chuyện với chàng họa sĩ trước, rồi sẽ tả Nàng Thơ sau. Không những tôi cho anh ta một điếu thuốc lá, mà còn châm lửa cho anh ta nữa. Và khi anh nhả cuộn khói đầu tiên, tôi nói: "Trung sĩ Lankes, anh có nhớ không? Đoàn văn công tiền tuyến Bebra? Man rợ, huyền bí, chán ngắt?"
 
Chàng họa sĩ giật bắn người khi nghe tôi nói vậy, anh ta vẫn giữ được điếu thuốc trên tay nhưng Nàng Thơ thì ngã nhào khỏi đầu gối anh ta. Tôi đỡ kịp và trao lại cho anh ta cô gái chân rất dài, say mềm, chắc mới chỉ qua tuổi vị thành niên ấy. Trong khi hai chúng tôi, Lankes và Oskar, ôn lại kỷ niệm xưa với đôi ba nhận xét miệt thị đối với trung uý Herzog mà Lankes gọi là một thằng điên, đồng thời nhắc đến cả sư phụ Bebra của tôi cũng như các nữ tu sĩ đi bắt cua giữa đám "măng tây Rommel", tôi vẫn ngỡ ngàng nhìn Nàng Thơ. Nàng đến như một thiên thần, đầu đội một chiếc mũ làm bằng các-tông loại dùng để đóng gói trứng xuất khẩu. Mặc dù rất say, đôi cánh rũ xuống, nàng vẫn toả ra cái duyên của một cư dân trên trời.
 
"Đây là Ulla," Lankes giới thiệu. "Cô ấy học khâu may, nhưng bây giờ lại muốn thành họa sĩ, nhưng tôi bảo ném cái ý định ấy đi cho quỷ, bởi làm nghề may còn kiếm được chút đỉnh, chứ nghệ thuật thì ăn cám à!"
 
Oskar, vốn đã kiếm khá tiền nhờ nghệ thuật, liền tình nguyện nhận sẽ giới thiệu Ulla với các nghệ sĩ ở Trường Mỹ thuật, chắc chắn họ sẽ lấy nàng làm người mẫu và nguồn cảm hứng. Lankes phấn khích với đề xuất của tôi đến nỗi rút liền một lúc ba điếu thuốc của tôi, nhưng bù lại, mời tôi đến thăm xưỏng vẽ của anh ta nếu tôi không phản đối trả tiền tắc-xi.
 
Thế là chúng tôi lấy tắc-xi đi liền, để lại hội hoá trang sau lưng. Tôi trả tiền tắc-xi và Lankes hâm chút cà-phê trên bếp cồn mời chúng tôi; cà-phê làm Nàng Thơ hồi lại. Sau khi trút nhẹ bao tử với sự giúp đỡ của ngón tay trỏ của tôi, nàng gần như tỉnh táo.
 
Mãi đến lúc đó tôi mới thấy cái vẻ luôn luôn ngỡ ngàng trong cặp mắt xanh nhạt của nàng và nghe thấy giọng nói của nàng - một giọng hơi líu lo, có phần lanh tanh như sắt tây, nhưng không phải thiếu sức quyến rũ làm ta xúc động. Lankes cho nàng biết đề xuất của tôi là nàng đi làm mẫu vẽ cho Trường Đại học Mỹ thuật, nói ra cách như ra lệnh chứ không phải là gợi ý. Thoạt đầu, nàng không chịu, nàng không muốn làm người mẫu hay Nàng Thơ cho các họa sĩ khác, mà chỉ thuộc về riêng Lankes thôi.
 
Thế là, như các họa sĩ tài năng đôi khi vẫn làm thế, anh ta tát đánh đốp một cái vào mặt nàng, rồi hỏi lại nàng một lần nữa và khanh khách cười mãn nguyện khi nàng vừa khóc y như cách thiên thần khóc, vừa tuyên bố ý nguyện của mình muốn trở thành người mẫu với thù lao hậu hĩnh, thậm chí là Nàng Thơ, của các họa sĩ Trường Đại học Mỹ thuật.
 
Nên nhớ rằng Ulla cao một mét bảy lăm, người cực kỳ thon thả, mềm mại và mỏng manh, khiến ta nhớ đến tranh của Botticelli [2] hay Cranach, [3] hay cả hai. Chúng tôi cùng làm mẫu khỏa thân. Thịt tôm hùm có cùng màu với làn da mịn màng phủ một lớp lông tơ như trẻ con của nàng. Tóc nàng màu vàng rơm, hơi thưa nhưng dài. Lông cửa mình nàng hung hung và xoăn, thu gọn trong một hình tam giác nhỏ. Ulla cạo lông nách đều đặn mỗi tuần một lần.
 
Như có thể thấy trước, các sinh viên mỹ thuật bình thường không biết xoay sở thế nào với chúng tôi. Họ vẽ cảnh tay nàng quá dài, đầu tôi quá to và không tài nào nhét vừa chúng tôi vào bất kỳ khổ giấy nào. Chỉ đến khi Ziege và Raskolnikov [4] phát hiện ra chúng tôi, thì những bức họa lột tả đúng bản chất của Oskar và Nàng Thơ mới ra đời - nàng ngủ, tôi làm nàng choàng tỉnh dậy: thần đồng nội và nữ thần sông núi.
 
Tôi ngồi; nàng với cặp vú nhỏ bao giờ cũng hơi phập phồng, cúi xuống vuốt tóc tôi: Giai nhân và quái vật.
 
Nàng nằm, tôi ỏ giữa hai chân nàng, mân mê cái mặt nạ một con ngựa có sừng: Người đàn bà với con kỳ lân.
 
Tất cả nhưng cái đó theo phong cách của Ziege hay Raskolnikov; cái thì nhiều màu, cái thì với những sắc xám tinh tế vờn bằng một ngọn bút nhỏ (Raskolnikov) hoặc với những quệt bay mạnh mẽ thiên tài (Ziege). Một số bức gợi lên vầng bí ẩn bao quanh Ulla và Oskar; đó là tác phẩm của Raskolnikov, tay này, với sự đóng góp của chúng tôi, đã đi đến siêu thực. Mặt Oskar trở thành một vành tròn màu vàng mật ong tựa như mặt cái đồng hồ lớn nhà chúng tôi dạo xưa; trong cái bướu của tôi, xòe nở những bông hồng máy cho Ulla hái; hoặc giả người Ulla mở phanh ở giữa, một đầu là nụ cười, đầu kia là đôi chân dài, và Oskar ngồi trong bụng nàng, giữa gan và lá lách, lần giở một cuốn sách tranh. Đôi khi, họ cho chúng tôi mặc giả trang, Ulla thành một Columbine và tôi thành một diễn viên kịch câm mặt rầu rĩ phủ một lớp trắng mờ. Chính Raskolnikov - được mệnh danh như vậy vì anh ta không ngừng nói đến tội ác và hình phạt, phạm tội và chuộc tội - là người đẻ ra tác phẩm tiêu biểu nhất: tôi ngồi trên đùi trần trắng muốt như sữa của Ulla, một đứa trẻ dị tật - nàng là Đức Mẹ Đồng Trinh, còn tôi là Jêxu hài đồng.
 
Bức tranh này, lấy tên là "Madonna 49", được trưng bày tại một số cuộc triển lãm. Dưới dạng áp-phích, nó cũng gây hiệu quả; nó lọt vào tầm mắt trưởng giả của nàng Maria khả kính nhà tôi và làm nổ ra một xì-căng-đan gia đình. Tuy nhiên, nó đã được một kỹ nghệ gia ở vùng Rhine mua với giá rất cao và hiện dược treo trong phòng họp của một hãng kinh doanh lớn, hẳn là có ảnh hưởng không nhỏ đối với ban giám đốc.
 
Những thứ quái dị tài tình mà người ta tạo ra trên cơ sở cái bướu và khổ người khác thường của tôi làm tôi thấy vui vui. Ulla và tôi nhận được rất nhiều yêu cầu làm mẫu chung với thù lao hai mark năm mươi/giờ cho mỗi người. Ulla rất vui thích với công việc mới của mình. Giờ đây, khi nàng mang tiền về đều đặn, bàn tay sần chai của Lankes chỉ tát nàng khỉ nào cảm hứng trừu tượng của anh ta đòi hỏi một tâm thái cuồng giận. Anh ta có thể không dùng nàng làm người mẫu, nhưng cả với anh, Ulla cũng là một thứ Nàng Thơ, vì chỉ bằng cách bợp tai nàng, bàn tay anh mới hoàn thành sức sáng tạo thực sự của nó.
 
Sự mỏng manh uỷ mị của Ulla - thực chất, đó chính là phẩm chất bền vững của một thiên thần - lắm lúc cũng khiến tôi nổi xung muốn bạo hành. Nhưng tôi tự kiềm chế và hễ khi nào ý muốn lấy roi quật nàng trở nên quá mạnh, tôi lại đưa nàng ra một hiệu bánh ngọt. Hoặc giả, với chút hợm hĩnh rởm do tiếp xúc thường xuyên với cánh nghệ sĩ, tôi trưng nàng ra như một loài cây hiếm, được tôn lên bởi sự tương phản với khổ người dị thường của tôi, trên đại lộ Kỏnigs tấp nập để thiên hạ há hốc mồm ra nhìn. Cùng lắm thì tôi mua cho nàng đôl bít tất tím nhạt và đôi găng tay hồng.
 
Với Raskolnikov, lại là một chuyện khác. Gã không bao giờ đụng đến người nàng, nhưng duy trì với nàng những quan hệ thân mật nhất. Gã đặt nàng ngồi xuống bục quay, hai chân dạng thật rộng. Trong những lần như vậy, gã không vẽ, mà ngồi sững trên một cái ghế đẩu cách mấy bước, nhìn chằm chằm vào chỗ kín của nàng và, bằng một giọng thầm thì cuồng nhiệt, khàn đi vì xúc động, nói về phạm tôi và chuộc tội. Bộ phận kín của Nàng Thơ trở nên ướt và dãn rộng ra, và sau một hồi nhìn ngắm đồng thời nghe mình nói, Raskolnikov đủ độ khoái và xuất. Bấy giờ gã bèn nhảy bật dậy khỏi ghế và quệt những nhát bút hùng vĩ lên "Madonna 49" trên giá vẽ của mình.
 
Đôi khi Raskolnikov cũng nhìn chằm chằm vào tôi, nhưng vì những lý do khác. Hình như gã thấy tôi thiếu một cái gì. Gã nói về một sự trống hụt giữa những ngón tay tôi và ấn vào tay tôi hết vật này đến vật khác mà trí tượng tượng siêu thực của gã nghĩ ra. Chẳng hạn, gã trang bị cho Oskar một khẩu súng lục, bảo Oskar-Jêxu nhằm vào Madonna. Hoặc tôi phải giơ một cái đồng hồ cát hay một tấm gương ra trước mặt Ulla, khiến nàng biến dạng khủng khiếp vì đó là gương cầu lồi. Rồi thì kéo, xương cá, ống nghe điện thoại, đầu lâu, đồ chơi trẻ con như máy bay, xe tăng, tàu chiến... nhưng không gì lấp nổi chỗ trống. Oskar sợ nhất là một ngày nào đó, gã họa sĩ sẽ triềng ra cái vật duy nhất trên đời được tạo ra dành cho tôi. Khi, cuối cùng, gã mang cái trống đến thật, tôi la lên: "Không!"
 
Raskolnikov: "Cầm lấy cái trống, Oskar. Tôi nhìn thấu gan ruột anh.
 
Tôi, run bắn: "Không bao giờ nữa. Mọi chuyện đó đã kết thúc rồi."
 
Raskolnikov, dữ dằn: "Không có gì là kết thúc cả, mọi sự quay trở lại, phạm tội, chuộc tội, lại phạm tội tiếp."
 
Tôi, với chút hơi sức cuối cùng: "Oskar đã chuộc tội, hãy tha đừng bắt nó cầm trống.Tôi sẽ cầm bất cứ cái gì anh bảo cầm, bất cứ cái gì trừ cái trống."
 
Tôi khóc ròng khi Nàng Thơ Ulla cúi xuống tôi. Mắt nhòa lệ, tôi không thể ngăn nàng hôn tôi, tôi không thể ngăn Nàng Thơ cho tôi cái hôn ghê gớm ấy. Tất cả những ai trong số quý vị đã được Nàng Thơ hôn, chắc chắn sẽ hiểu rằng một khi bị đóng dấu bôi nụ hôn ấy, Oskar sẽ mang cái án quyết phải cầm lại cái trống mà hắn đã vứt bỏ từ nhiều năm trước, cái trống mà hắn đã chôn trong cát của nghĩa trang Saspe.
 
Nhưng tôi không đánh trống. Tôi chỉ ngồi mẫu - nhưng như thế đã là quá nhiều - và được vẽ thành Jêxu-chú-bé-đánh-trống ngồi trên đùi trần của Madonna 49.
 
Maria trông thấy tôi như vậy trên một tấm áp-phích quảng cáo cho một triển lãm mỹ thuật. Nàng giấu tôi, đến triển lãm xem bức tranh. Hẳn nàng đã đứng đó rất lâu để tích tụ nỗi uất giận vì khi nhắc đến chuyện ấy, nàng đã quật tôi bằng cái thước kẻ học trò của Kurt. Từ mấy tháng nay, nàng đã kiếm được một việc làm lương khá hậu ở một cửa hàng đặc sản loại sang, thoạt đầu làm nhãn viên bán hàng, sau nhờ có khả năng rõ rệt, được giao cho giữ quỹ. Giờ đây, nàng đã là một công dân khả kính của Tây Đức, chứ không còn là một mụ buôn bán chợ đen từ bên Đông sang tỵ nạn nữa. Cho nên nàng có thể mắng tôi là đồ con lợn, đồ ma cô, đồ suy đồi một cách khá tự tin. Nàng còn đi đến chỗ quát lên rằng nàng không cần cái đồng tiền bẩn thỉu tôi làm ra bằng cái nghề bẩn thỉu ấy, và do đó, cũng không cần cả tôi nữa.
 
Mặc dầu Maria mau chóng rút cái nhận xét cuối cùng ấy và chỉ hai tuần sau lại nhận một khoản lớn từ tiền thù lao ngồi mẫu của tôi coi như chi phí ăn ở, tôi vẫn quyết định thôi không ở chung với nàng, với chị Guste của nàng và con trai Kurt của tôi nữa. Ý định đầu tiên của tôi là đi xa, đến Hamburg hay có khi ra miền biển, nhưng tuy không phản đối việc tôi dọn đi, Maria, cùng với chị Guste hùn vào, đã thuyết phục tôi nên tìm thuê một cái buồng quanh đây để khỏi quá xa nàng và Kurt, dù sao cũng vẫn là ở Düssendorf.
 
[...]
______
Chú thích:
[1] Chơi chữ: Lesbian là người vùng Lesbos, đồng thời cũng có nghĩa: phụ nữ đồng tính luyến ái.
[2] Alessandro di Mariano Lilipepi, thường gọi là Sandro Botticelli (1445-1510) danh họa Italia thời Phục Hưng. Hai bức Mùa XuânSự ra đời của thần Vệ Nữ tôn vinh vẻ đẹp nữ, được kế trong số những kiệt tác của ông.
[3] Lucas Cranach (1472-1553), danh họa Đức thời Phục Hưng. Thần Vệ Nữ và Thần Ái Tình là một trong những kiệt tác thể hiện vé đẹp nữ của ông.
[4] Tên của nhân vật chính trong tiểu thuyết Tội ác và hình phạt của đại văn hào Nga F. Dostoievsky.
 
...! Tràn đầy mà rỗng lặng
Biển vô lượng thủy triều
Đường về tâm hết động
Tuyệt chiêu là vô chiêu !...

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 20.07.2016 16:26:03 bởi tducchau>
[...]
 
 
BA MƯƠI
 
À, phải, cuộc trốn chạy, cuộc đào tẩu của tôi. Hãy còn chuyện đó để kể với quý vị. Tôi chạy trốn để nâng cao giá trị lời tố cáo của Vittlar. Một cuộc đào tẩu, tôi nghĩ, trước hết đòi hỏi một nơi đến. Đi đâu, ôi Oskar, mày sẽ trốn đi đâu? Những hàng rào chính trị, cái gọi là Tấm Màn sắt chặn đường tôi chạy sang phía Đông. Không thể tìm đến náu dưới bốn cái váy của bà ngoại tôi, Anna Koljaiczek, bốn cái váy cho đến nay vẫn xoè ra chở che trên những cánh đồng khoai tây Kashubes, mặc dù tôi vẫn tự bảo, nếu vạn nhất phải trốn, thì những cái váy của bà ngoại tôi vần là nơi đáng tin cậy nhất.
 
Nhân tiện cũng xin nói rằng hôm nay là sinh nhật lần thứ ba mươi của tôi. Ở tuổi ba mươi, người ta buộc phải xử trí với những vấn đề nghiêm túc như chuyện đào tẩu với tư cách một người lớn chứ không thể như một chú bé. Khi mang chiếc bánh cắm ba mươi cây nến vào, Maria nói: “Hôm nay, anh ba mươi tuổi rồi, Oskar. Đã đến lúc phải có lý trí một chút.”
 
Klepp, bạn Klepp thân mến của tôi, như thường lệ, tặng tôi mấy đĩa nhạc jazz và dùng năm que diêm để thắp ba mươi cây nến trên cái bánh sinh nhật. “Cuộc đời bắt đầu từ tuổi ba mươi!” Klepp nói.
 
Hắn mới hai mươi chín.
 
Vittlar, bạn Gottfried thân yêu nhất với lòng tôi, tặng tôi kẹo và cúi trên những chấn song giường tôi nói với cái giọng the thé của hắn: “Khi Jêxu ba mươi tuổi, Người lên đường và thu nạp các tông đồ quanh mình.”

Vittlar bao giờ cũng thích làm mọi sự trở nên rắc rối với tôi. Chỉ vì tôi bước vào tuổi ba mươi, hắn muốn tôi rời khỏi giường và thu nạp môn đồ. Thế rồi luật sư của tôi đến, vung một tờ giấy và oang oang chúc mừng. Treo cái mũ ni-lông vào cọc giường tôi, ông ta tuyên bố với tôi và tất cả các khách dự sinh nhật của tôi: “Thật là một sự trùng hợp đẹp đẽ làm sao! Hôm nay, thân chủ của tôi mừng sinh nhật lần thứ ba mươi; và đúng hôm nay, tôi nhận được tin vụ án Ngón Tay Đeo Nhẫn mở lại. Người ta đã tìm ra một manh mối mới. Xơ Beata, bạn của Xơ Dorothea, các vị còn nhớ chứ...”
 
Đúng là cái điều tôi vẫn sợ trong nhiều năm nay kể từ khi tôi đào tẩu: là họ tìm ra kẻ sát nhân thật, mở lại vụ án, tuyên bố tôi trắng án, cho tôi ra khỏi bệnh viện tâm thần này, lấy đi cái giường êm ấm của tôi, đẩy tôi ra ngoài phố Tạnh, mưa gió, và buộc một gã Oskar ba mươi tuổi phải thu nạp môn đồ quanh bản thân gã và cái trống của gã.
 
Thì ra là Xơ Beata, vì ghen bầm gan tím ruột, đã giết Xơ Dorothea của tôi.
 
Có lẽ quý vị còn nhớ chứ? Có cái tay bác sĩ Werner ấy ở giữa hai nữ y tá, một tình huống rất chi là thông thường trong đời sống củng như trong phim. Một vụ xấu xa. Beate yêu bác sĩ Werner. Bác sĩ Werner lại yêu Dorothea. Và Dorothea thì chẳng yêu ai cả, trừ phi là yêu vụng nhớ thầm Oskar bé nhỏ. Werner ngã bệnh. Dorothea săn sóc giả vì giả được sắp xếp điều trị ở khoa nàng. Beata không chịu nổi. Cô ta dụ Dorothea đi dạo chơi và giết hay - nếu quý vị ưng chữ này hơn - thủ tiêu nàng trong một ruộng lúa mạch đen gần Gerresheim. Gìơ thi Beata có thể thoải mái chăm sóc bác sĩ Werner. Nhưng xem chừng cô ta chăm sóc giả theo một cách hơi đặc biệt thành thử giả không đỡ mà trái hẳn lại. Có lẽ cô y tá cuồng si này nghĩ: chừng nào chàng còn ốm, chàng còn thuộc về mình. Phải chăng cô ta cho giả quá nhiều thuốc? Phải chăng cô ta cho giả uống nhầm thuốc? Dù sao đi nữa, bác sĩ Werner đã chết, nhưng khi làm chứng trước toà, Xơ Beata không nói gì về chuyện quá nhiều thuốc hay nhầm thuốc và không một lời nào về cuộc đi dạo với Xơ Dorothea. Còn Oskar, cũng không thú nhận điều gì nhưng lại sở hữu một ngón tay tang vật ngâm trong một cái bô-can, thì bị kết tội là hung thủ trong vụ án ruộng lúa mạch. Nhưng xét vì Oskar không hoàn tòan ý thức về hành động của minh, nên họ chuyển tôi đến bệnh viện tâm thần để theo dõi quan sát. Dù sao mặc lòng, trước khi họ kết tội gã và gửi gã đến nhà thương điên, Oskar đã đào tẩu vì tôi muốn bằng sự biến mất của mình làm tăng giá trị lời tố cáo của Vittlar bạn tôi.
 
Vào thời điểm tôi chạy trốn, tôi hai mươi tám tuổi. Cách đây mấy giờ, ba mươi ngọn nến tỉnh bơ nhỏ giọt trên chiếc bánh sinh nhật của tôi. Hôm tôi chạy trốn cũng vào tháng chín như hôm nay. Tôi sinh ở cung xử Nữ mà. Nhưng lúc này tôi đang nói về cuộc chạy trốn, chứ không phải về lúc tôi ra đời dưới hai bóng đèn điện.
 
Như tôi đã nói, hướng tẩu thoát sang phía Đông cũng như về rúc váy bà ngoại tôi đều đã khép lại rồi. Do vậy, như tất cả những người khác hiện nay, tôi buộc phải trốn sang phía Tây. Oskar, tôi tự nhủ, nếu cái mớ bòng bong chính trị ngăn mày đến với bà ngoại mày, thì tại sao không chạy sang với ông ngoại mày hiện đang sống ở Buffalo, Mỹ? Hãy chọn Châu Mỹ làm đích đến, rồi xem mày đi dược đến đâu.
 
Ý nghĩ này về ông ngoại Koljaiczek đang ở Mỹ đến với tôi trong khi tôi còn nhắm mắt và con bò đang liếm tôi trên đồng cỏ gần Gerresheim. Bấy giờ chắc vào khoảng bảy giờ sáng và tôi tự nhủ: các cửa hàng mở cửa vào tám giờ. Tôi cười khanh khách chạy đi, để cái trống lại với con bò cái, nghĩ bụng: Gottfried rất mệt, chắc hắn không đến trình cảnh sát trước tám giờ hay tám rưỡi cũng nên. Hãy tận dụng chút lợi thế ban đầu này của mày. Ở cái khu ngoại ô Gerresheim ngái ngủ này, tôi phải mất mười phút mới gọi được một cái tắc-xi qua điện thoại. Xe đưa tôi đến nhà Ga Trung Tâm. Dọc đường tôi đếm lại tiền có trong tay; tôi phải đếm lại từ đầu mấy lần vì tôi không nhịn được cười, những chuỗi cười sớm mai tươi trong. Rồi tôi giở hộ chiếu ra xem và thấy rằng nhờ những cố gắng của Văn phòng Hoà nhạc, tôi có Visa vào cả Pháp lẫn Mỹ. Ts Dösch vẫn luôn hy vọng rằng một ngày kia, Oskar Trống sẽ chấp nhận đi lưu diễn ỏ hai nước đó.
 
Voilà [1], tôi tự nhủ, ta hãy vù sang Paris, nghe có lý đấy. Có thể hình dung chuyện này xảy ra như trong phim – Gabin [2] hút tẩu thuốc truy lùng tôi đến cùng, ráo riết không khoan nhượng nhưng đôn hậu và thông cảm. Nhưng ai sẽ đóng vai tôi? Chaplin [3]? Picasso? Cười ngất, kích thích bởi những ý nghĩ về cuộc đào tẩu, tôi vẫn còn vỗ đùi đen đét, khi người tài xế đòi 7 DM. Tôi trả tiền rồi ăn điểm tâm trong nhà hàng Ga. Tôi để bảng giờ tàu bên cạnh đĩa trứng “la cóóc” và tìm được một chuyến tàu thích hợp. Sau khi điểm tâm xong, tôi còn thì giờ đổi ngoại tệ và mua một cái va-li da nhỏ loại hảo hạng. Sợ phải triềng mặt ỏ phố Jülicher, tôi sắm luôn một lô sơ-mi đắt tiền nhưng rộng thùng thình, hai bộ đồ ngủ màu xanh nhạt, bàn chải, kem đánh răng vân vân chất dầy va-li. Vì không cần phải tiết kiệm, tôi mua một vé hạng nhất và lát sau, thấy mình chễm chệ trên một chiếc ghế nhồi nệm tiện nghi cạnh cửa sổ trong toa hạng nhất, chạy trốn mà khoẻ de không tốn sức gì hết. Nệm ghế giúp tôi suy nghĩ. Khi tàu chuyển bánh, chính thức khai trương cuộc đào tẩu của tôi, Oskar bắt đầu đưa mắt nhìn xung quanh, tìm một cái gì để mà sợ; bởi vì tôi tự bảo không phải không có lý: chạy trốn mà không sợ thì sao gọi là chạy trốn được? Nhưng, Oskar, mày có thể sợ cái gi đến độ phải trốn chạy nếu như đến cả cảnh sát cũng chỉ khiến mày bật lên những chuỗi cười sớm mai tươi trong?
 
Phải chăng là do tiếng tàu chạy xinh xịch nhịp nhàng, tiếng bánh xe nghiến trên đường ray? Dần dà bài hát hình thành vả một lúc trước khi tới Aachen, tôi đã hoàn toàn nhận ra nó. Những lời đơn điệu. Chúng chiếm lĩnh tôi trong khi tôi ngả người trên nệm ghế hạng nhất. Sau Aachen - tàu qua biên giới lúc mười rưỡi - chúng vẫn ở trong tôi, càng lúc càng rõ và ghê rợn hơn, đến nỗi tôi những muốn cảm ơn các nhân viên thuế quan đã mang đến sự thay đổi. Họ tỏ ra quan tâm đến cái bướu của tôi hơn là tên tôi trong hộ chiếu, và tôi nghĩ thầm: ôi cái tên Vittlar! Cái đồ lười chảy thây! Đã gần mười một giờ rồi mà hắn vẫn chưa mang cái bô-can đến cảnh sát trong khi tôi vì hắn mà phải bận rộn với cuộc chạy trốn này từ tinh mơ sáng, tự lên dây cót mình đến nấc khiếp sợ chỉ cốt để tạo một cái cớ cho cuộc trốn chạy. Nước Bỉ. Ôi, tôi đã khiếp sợ biết bao khi đường ray hát: Đâu rồi mụ Phù Thuỷ đen như hắc ín? Đây rồi mụ Phù Thuỷ đen độc ác. Ha-ha-ha...
 
Hôm nay tôi ba mươi tuổi. Tôi sẽ được toà xử lại và xem chừng sẽ được trắng án. Tôi sẽ bị ném ra đường phố và ở khắp nơi, trên tàu hoả và trên tàu điện, những lời hát đó vẫn sẽ vang lên trong tai tôi: Đâu rồi mụ Phù Thuỷ đen như hắc ín? Đây rồi mụ Phù Thuỷ đen độc ác.
 
Tuy nhiên, ngoài nỗi sợ mụ Phù Thuỷ Đen mà tôi chờ đợi sẽ xuất hiện ở mỗi ga, chuyến đi khá thú vị. Một mình tôi chiếm cả buồng toa - nhưng có thể mụ đang ở buồng bên cạnh đằng sau vách ngăn cũng nên - tôi làm quen với các nhân viên thuế quan của Bỉ rồi của Pháp, thỉnh thoảng ngủ gà ngủ gật và thức dậy với một tiếng kêu nhỏ. Trong một cố gắng nhằm xua đuổi mụ Phù Thuỷ, tôi lật giở số báo Der Spiegel mua ở sân ga Düssendorf. Làm sao mà họ biết lắm thế, nhiều nguồn tin thế, tôi nghĩ thầm. Thậm chí tôi còn thấy một bài về ông bầu của tôi, Ts Dösch phụ trách Văn phòng Hoà nhạc “Phương Tây”, xác nhận một điều mà tôi đã biết: Oskar Trống là trụ cột của hãng Dösch (kèm theo một ảnh chân dung rất đạt của tôi). Và lúc này “trụ cột” Oskar đang hình dung sự sụp đo tất yếu của Văn phòng Hoà nhạc sau khi tôi bị bắt.
 
Cả đời, tôi chưa bao giờ sợ mụ Phù Thuỷ Đen. Mãi đến cuộc đào tẩu này, khi tôi muốn sợ, mụ mới luồn lách vào dưới làn da của tôi. Và mụ ở lì đó cho tới ngày hôm nay, sinh nhật lần thứ ba mươi của tôi, mặc dù phần lớn thời gian, mụ ngủ miết. Mụ dùng một số hình thức khác nhau. Chẳng hạn, đôi khi chỉ một cái tên “Goethe” cũng khiến tôi thét lên và chui vào chăn. Từ thủa bé, tồi đã cố gắng hết mình để học vị thi bá, vậy mà sự bình tĩnh uy nghiêm của ông vẫn làm tôi sởn gai ốc. Ngay lúc này, mất hết vẻ sáng láng và cổ điển, cải trang thành một mụ phù thuỷ đen còn dữ dằn hơn Rasputin nhiều, ông đang dòm qua chấn song giường tôi và hỏi, nhân dịp tôi tròn ba mươi tuổi: “Đâu rồi mụ Phù Thuỷ đen như hắc ín?” - làm tôi sợ cứng người.
 
Ha-ha-ha, con tàu dưa Oskar-kẻ-trốn-chay đến Paris hát. Tôi đã sẵn sàng giáp mặt cảnh sát Quốc tế khi tàu chầm chậm vào ga Bắc, Gare du Nord như người Pháp gọi. Nhưng không có ai chờ tôi, chi có một người phụ khuân vác nồng nặc mùi rượu đến nỗi dù có thiện ý đến mấy, tôi cũng không thể nhầm hắn là mụ Phù Thuỷ Đen được. Tôi đưa hắn cái va-li và để hắn vác đến cách cửa ga vài bước. Cảnh sát và mụ Phù Thuỷ, tôi nghĩ bụng, chắc chả thấy cần phí tiền mua vé ké làm gì, họ sẽ dợi cho mày ra cửa rồi mới áp sát và bắt mày. Vậy tốt nhất là mày cứ lấy lại va-li trước khi qua cửa. Nhưng cảnh sát không có ở đó để xách đỡ va-li hộ tôi, thành thử tôi phải hoàn toàn tự lực một mình tha nó đến ga xe điện ngầm.
 
Tôi sẽ không nói nhiều về cái mùi đặc biệt của xe điện ngầm: cả thế giới đều biết nó rồi. Gần đây tôi có đọc đâu đó rằng người ta chế nó thành một thứ nước hoa đựng trong lọ có bơm xịt. Có điều là: giống như tàu hoả, xe điện ngầm cũng hỏi mụ Phù Thuỷ Đen ở đâu, tuy với một tiết tấu khác. Tôi còn nhận thấy một điều nữa: các hành khách khác hắn cũng sợ mụ không kém gì tôi, vì tất cả đều đổ mồ hôi hột. Tôi định tiếp tục đi xe điện ngầm đến cửa Italie rồi từ đó lấy tắc-xi ra sân bay Orly. Đã không được bị bắt ở Ga Bắc, thì Orly, một sân bay nổi tiếng thế giới, với mụ Phù Thuỷ cải trang thành chiêu đãi viên hàng không, tôi nghĩ, sẽ là nơi tuyệt vời để được-bị bắt ở đó. Có một chặng đổi tàu, may mà va-li- của tôi rất nhẹ. Xe điện ngầm đưa tôi về phía nam và tôi ngầm nghĩ: mày sẽ xuống đâu, Oskar? Lạy Chúa, biết bao nhiêu điều có thể xảy ra trong một ngày, sáng nay, một con bò cái liếm mày ở gần Gerresheim, mày vui vẻ và chẳng biết sợ là gì, và bây giờ mày đang ở Paris - mày sẽ xuống quãng nào, mụ ta, đen kịt và gớm ghiếc, sẽ đến đâu để gặp mày? ở Quảng trường Italie? hay Cửa Italie?
 
Tôi xuống tàu ở Maison Blanche, ga cuối trước Cửa Italie, nghĩ bụng: chắc hắn họ nghĩ mình nghi họ đợi ở Cửa Italie. Nhưng Mụ biết mình nghĩ gì và họ nghĩ gì. Với lại, tôi đã chán ngấy rồi. Cuộc chạy trốn và những cố gắng để duy trì nỗi sợ làm tôi rất mệt. Oskar hết muốn đi tiếp đến sân bay. Đến lúc này, gã lại thấy Maison Blanche độc đáo hơn Orly. Cái ý này của gã cũng có lý. Vì ga này có một cầu thang cuốn. Một cái cầu thang cuốn, tôi tin vậy, có thể làm cho tôi phấn chấn và tiếng chạy rịch-rịch của nó sê ăn với câu hát “Đây rồi mụ Phù Thuỷ đen độc ác. Ha-ha-ha!
 
Oskar hơi bối rối. Cuộc chạy trốn của gã, và cùng với nó, câu chuyện của gã, sắp kết thúc. Liệu cái cầu thang cuốn ở ga xe điện ngầm Maison Blanche có đủ cao, đủ dốc, đủ tượng trưng để hạ màn cho những hồi ức này một cách xứng hơp không?
 
Nhưng còn có buổi sinh nhật lần thứ ba mươi của tôi nữa. Với những ai thấy cái cầu thang cuốn là ồn quá và những ai sợ mụ Phù Thuỷ Đen, tôi xin đề nghị lấy buổi sinh nhật lần thứ ba mươi của tôi làm phương án kết thúc, thay thế, bởi lẽ: Trong tất cả các lần sinh nhật, chẳng phải lần thứ ba mươi là có ý nghĩa nhất sao? Nó có Ba trong đó và nó báo hiệu Sáu Mươi mà do vậy Sáu Mươi trở nên không cần thiết. Khi ba mươi cây nến cháy lung linh trên chiếc bánh sinh nhật của tôi sáng nay, tôi có thể khóc vì vui sướng và phấn khởi nhưng tôi xấu hổ trước mặt Maria: ở tuổi ba mươi, người ta đã mất quyền được khóc.
 
Ngay khi tôi giẫm lên bậc đầu tiên của cầu thang cuốn - nếu như có thể nói một cái cầu thang cuốn có bậc nào gọi lả thứ nhất - và nó bắt đầu đưa tôi lên, tôi bỗng cười phá. Mặc dù sợ, tôi vẫn cười hay chính vì sợ mà tôi cười. Nó từ từ lên dốc - và kìa, họ đang đợi trên đầu dốc. Còn đủ thì giờ hút một điếu thuốc. Trên tôi hai bậc, một cặp tình nhân trơ tráo vần vò nhau. Dưới tôi một bậc, một bà già đội một chiếc mũ với những hoạ tiết trang tri hình quả, mà tôi ngờ là mụ Phù Thuỷ mặc dù không có căn cứ gì xác đáng. Vừa hút thuốc, tôi vừa cố hết sức tưởng tượng ra những điều mà một cái cầu thang cuốn có thể gợi ý. Oskar là Dante trên đường từ địa ngục trở về; trên kia, ở đầu cầu thang cuốn, những phóng viên năng nổ của báo Der Spiegel đang đợi gã. “Thế nào, Dante” họ hỏi, “dưới ấy ra sao?” Rồi tôi lại là thi bá Goethe và các phóng viên hỏi tôi cuộc đến thăm các Mẹ có thú vị không. Nhưng rồi tôi thấy chán các thi sĩ và tôi tự nhủ: đó không phải là phóng viên báo Der Spiegel mà cũng chẳng phải là mật thám đang rình trên đó. Đó là Mụ, phải, mụ Phù Thuỷ. “Đây rồi mụ Phù Thuỷ đen độc ác. Ha-ha-ha!
 
Song song với cầu thang cuốn, có một cấu thang thông thường cho người từ trên mặt phố xuống ga métro. Hình như bên ngoài đang mưa vì những người đi xuống nom có vẻ ướt. Điều đó làm tôi lo lo. Tôi đã không đủ thì giờ mua một cái áo mưa trước khi rời Düssendorf. Tuy nhiên, ngước nhìn lên một lần nữa, Oskar thấy những quý ông quàu quạu kia có cầm ô dân sự - nhưng điều đó chứng tỏ rành rành sự tồn tại của mụ Phù Thuỷ Đen?

Tôi sẽ xưng hô với họ như thế nào? tôi tự hỏi, từ từ tận hưởng điếu thuốc của mình trong khi cái cầu thang cuốn từ từ khuấy lên trong tôi những tình cảm cao thượng và làm giàu thêm kiến thức của tôi: người ta trẻ lại trên một cái cầu thang cuốn và trên một cái cầu thang cuốn người ta càng lúc càng già đi. Tôi có sự lựa chọn như sau: bước ra khỏi cầu thang cuốn như một đứa bé lên ba hay như một ông già sáu mươi, gặp các ngài Interpol, chưa kể Mụ Phù Thuỷ Đen, như một nhi đồng hay như một lão trượng.
 
Hẳn là đã muộn rồi. Cái cọc giường của tôi nom có vẻ mệt rũ. Và Bruno gã y tá của tôi đã hai lần ghé một con mắt nâu hoảng loạn vào lỗ nhòm. Bên dưới bức tranh màu nước vẽ cỏ lông ngỗng, chiếc bánh sinh nhật của tôi còn nguyên chưa cắt với ba mươi ngọn nến của nó. Có lẽ Maria đã ngủ. Ai đó - tôi nghĩ là Guste, chị gái Maria - chúc tôi may mắn trong ba mươi năm tiếp theo. Tôi thèm muốn ngủ ngon được như Maria. Còn Kurt, chú bé học sinh gương mẫu bao giờ cũng nhất lớp, Kurt con trai tôi đã chúc tôi những gì nhân dịp sinh nhật nhỉ? Khi Maria ngủ, các đồ đạc xung quanh nàng cũng ngủ theo luôn. Tôi nhớ ra rồi: Kurt chúc tôi mau chóng bình phục nhân dịp sinh nhật lần thứ ba mươi. Nhưng điều tôi tự chúc là một xíu giấc ngủ ngon của Maria: tôi mệt và cạn hết chữ rồi. Cô vợ trẻ của Klepp làm bài thơ mừng sinh nhật ngớ ngẩn nhưng đầy thiện ý tặng cái bướu của tôi. Hoàng tử Eugene cũng dị dạng nhưng điều đó không ngăn nổi ông chiếm thành phố và pháo đài Belgrade. Hoàng tử Eugene cũng có hai người cha. Hôm nay, tôi ba mươi tuổi nhưng cái bướu của tôi thì trẻ hơn. Louis XIV là cha hờ của Hoàng tử Eugene. Trong nhiều năm qua, nhiều người đàn bà đẹp ngoài phố đã sờ vào cái bướu của tôi, họ nghĩ nó sẽ mang lại may mắn cho họ. Hoàng tử Eugene dị dạng và vì thế ông chết một cái chết tự nhiên. Nếu Jêxu có một cái bướu thì chắc bọn họ đã chẳng đóng đinh Người lên Thánh giá. Liệu tôi có cần, chỉ vì lý do tôi đã ba mươi tuổi, lên dường và thu nạp môn dồ quanh mình?
 
Đó là cái loại ý tưởng đến với ta khi đứng trên một cái cầu thang cuốn. Nó đưa tôi lên mỗi lúc một cao. Phía trước tôi và bên trên tôi, đôi tình nhân trơ tráo. Đằng sau và bên dưới tôi, bà già đội mũ. Bên ngoài, trời đang mưa và trên đầu cầu thang, các thám tử của Interpol. Các bậc cầu thang cuốn có những thanh mỏng gối nhau. Đi cầu thang cuốn là dịp tốt để nhìn nhận lại mọi điều: Mày từ đâu tới? Mày đi đâu? Mày là ai? Tên thật mày là gì? Mày theo đuổi cái gì? Những mùi xưa xộc đến bủa vây tôi. Mùi va-ni tươi trẻ của Maria. Mùi dầu cá xác-đin mà mẹ tôi hâm lên và uống nóng sốt cho đến khi mẹ lạnh toát và được đặt xuống huyệt lấp đất lên. Mặc dù Jan Bronski xức đẫm nước thơm Cologne, cái mùi chết yểu vẫn rỉ qua tất cả những khuyết áo của ông. Cái hầm kho cửa hàng rau quả của Greff đã có mùi khoai tây vụ đông. Và một lần nữa, mùi giẻ lau bảng phơi khô của học sinh lớp một. Và Roswitha của tôi sực mùi quế và hạt hồi. Tôi bồng bềnh trôi trên một đám mây axít cácbôlic khi ông Fajngold rẩy thuốc tẩy uế lên cơn sốt của tôi. A, và cái mùi Thiên Chúa giáo của Nhà Thờ Thánh Tâm, tất cả những áo lễ không bao giờ được hong ra khí trời, đám bụi lạnh và tôi, trước ban thờ bên cánh trái, chỉa cái trống của tôi, cho ai?
 
Đó là cái loại ý tưởng đến với ta khi đứng trên một cái cầu thang cuốn. Hôm nay, họ muốn đè tôi xuống, họ muốn đóng đinh tôi lên thánh giá. Họ bảo: mày đã ba mựơi tuổi. Vậy mày phải thu nạp môn đồ. Hãy nhớ lại mày đã nói gì khi người ta bắt mày. Hãy đếm những ngọn nến trên chiếc bánh ga-tô sinh nhật của mày, ra khỏi cái giường này mà đi thu nạp môn đồ. Tuy nhiên, có ối khả năng còn để ngỏ cho một gã đàn ông ba mươi tuổi. Tôi có thể, chẳng hạn, nếu người ta thực sự ném tôi ra khỏi bệnh viện, cầu hôn Maria lần thứ hai. Cơ may của tôi bây giờ khá hơn nhiều rồi. Oskar đã gây dựng cơ sở làm ăn buôn bán cho nàng, gã vẫn còn kiếm được ối tiền với những đĩa nhạc của gã và gã đã già dặn, chín chắn hơn. Đến tuổi ba mươi, một người đàn ông cũng nên lấy vợ.
 
Hoặc giả tôi cứ sống độc thân và chọn hẳn lấy một nghề, mua một mỏ đá vôi, thuê một số thợ đá và trực tiếp giao dịch với những người xây dựng. Đến tuổi ba mươi, một người đàn ông cũng nên khởi đầu sự nghiệp.
 
Hoặc giả, trong trường hợp công việc kinh doanh của tôi lụn bại do sự cạnh tranh của bê-tông đúc sẵn, tôi có thể lại cộng sự với Nàng Thơ Ulla, và cánh sát cánh, chúng tôi sẽ đem lại cảm hứng cho các hoạ sĩ. Thậm chí một ngày nào đó, tôi có thể biến Nàng Thơ thành một người dàn bà lương thiện, cô gái tội nghiệp với tất cả những cuộc đính hôn chớp nhoáng ấy. Đến tuổi ba mươi, một người đàn ông cũng nên lấy vợ thôi.
 
Hoặc giả nếu tôi thấy chán Châu Âu, tôi có thể di cư sang Mỹ sang Buffalo, giấc mơ xưa của tôi: tôi sẽ đi tìm ông ngoại tôi, nhà triệu phú Joe Colchis, xưa là Joseph Koljaiczek, kẻ đốt nhà. Đến tuổi ba mươi, một người đàn ông nên nghĩ đến chuyện ổn định cuộc sống riêng.
 
Hoặc giả tôi có thể buông xuôi, để cho họ đóng đinh tôi trên Thánh giá. Chỉ bởi lẽ tôi đã ba mươi, tôi phải lên đường và sắm vai Đấng Cứu Thế mà họ thấy ở nơi tôi; ngược với lý trí sáng suốt, tôi bắt cái trống của mình mang một ý nghĩa lớn hơn thực chất của nó, biến nó thành một biểu tượng, lập một giáo phái, một đảng, hay có khi chỉ là một nơi họp hội.
 
Những ý nghĩ ấy đến với tôi trên cầu thang cuốn bất chấp cặp tình nhân bên trên tôi và bà già đội mũ bên dưới tôi. Không biết tôi đã nói rằng cặp tình nhân dứng trên tôi hai bậc chứ không phải một bậc, rằng tôi đã để cái va-li của mình giữa họ và tôi? Thanh niên ở Pháp đến là kỳ. Trong khi cầu thang cuốn đưa chúng tôi lên, cô gái cởi cúc áo blu-dông da của cậu con trai, rồi đến sơ-mi và mân mê làn da trần mười tám tuổi của cậu. Nhưng động tác của cô có vẻ rất chi là “công vụ”, hoàn toàn không gợi dục đến nỗi tôi ngờ rằng chính phủ đã thuê họ để giữ tiếng cho Paris như là thành phố của tình yêu công khai không hổ thẹn. Nhưng khi họ hôn nhau thì nỗi nghi ngờ ấy biến mất vì cậu ta gần như chết nghẹn với cái lưỡi của cô ta và vẫn còn ho khi tôi giập điếu thuốc vì tôi muốn gặp những thám tử với tư cách là người không hút thuốc.
 
Bà già đứng dưới tôi với chiếc mũ - điều tôi muốn nói là mũ bà ngang tầm với đầu tôi vì hai bậc đủ bù cho vóc người thấp bé của tôi - chẳng làm gì đáng chú ý, ngoại trừ việc bà cứ lẩm bẩm một mình, nhưng mà phần lớn những người già ở Paris đều làm thế cả. Cái tay vịn bọc cao-su cũng lên cùng với chúng tôi. Quý vị có thể đặt tay lên đó cho nó trượt thoải mái. Tôi ắt đã làm thế nếu tôi mang găng. Mỗi viên gạch hoa trên tường phản chiếu một giọt điện. Những dây cáp và ống màu kem cùng lên với chúng tôi. Xin đừng nghĩ rằng cái cầu thang cuốn này gây tiếng động khủng khiếp. Bất kể tính chất cơ khí của nó, đây là một dụng cụ nhẹ nhàng, dễ chịu. Mặc đầu mụ Phù Thuỷ khua loẻng xoẻng, tôi vẫn thấy ga métro Maison Blanche là một nơi thú vị. Gần như ở nhà. Tôi cảm thấy hoàn toàn thoải mái trên cái cầu thang cuốn này: bất luận nỗi khiếp sợ của tôi, bất luận mụ Phù Thuỷ, tôi vẫn sẽ tự coi mình là sung sướng nếu như những người trên cầu thang cuốn này không phải hoàn toàn xa lạ, mà là bạn bè, thân quyến của tôi, sống và chết: mẹ tội nghiệp của tôi giữa Matzerath và Jan Bronski; Mamăng Truczinski, con chuột nhắt tóc bạc, với các con của bà Herbert, Guste, Fritz, Maria; Greff-Rau-Quả và Lina lôi thôi lếch thếch của ông; và dĩ nhiên là Bebra và Roswitha bé nhỏ và duyên dáng - tất cả những người đã đóng khung cuộc đời đầy nghi vấn của tôi, những người đã mắc cạn nơi cuộc đời tôi. Nhưng trên đầu cầu thang, tôi những muốn được thấy, thế vào chỗ các nhân viên Interpol, đối cực thật sự của mụ Phù Thuỷ Đen: bà ngoại Anna Koljaiczek đứng đó như một trái núi và khi cầu thang dừng lại, săn sàng đón nhận tôi và tùy tùng của tôi vào dưới những chiếc váy của bà, vào giữa trung tâm trái núi.
 
Nhưng đó lại là hai quý ông không mang vảy mà khoác áo mưa kiểu Mỹ. Và đến cuối chặng lên thang, tôi đành phải mỉm cười bằng cả mười đầu ngón chân trong giày mà nhận ra rằng cặp tình nhân trơ tráo đứng trên tôi và bà già lạu bạu đứng dưới tôi chỉ là những thám tử bình thường.
 
Tôi còn phải nói thêm gì nữa: ra đời dưới hai bóng điện, chủ tâm không lớn nữa từ tuổi lên ba, được tặng cái trống, hát vỡ thuỷ tinh, ngửi mùi va- ni, ho khù khụ trong nhà thờ, quan sát kiến, quyết định lớn, chôn trống, di tản sang miền Tây, bỏ miền Đông, học nghề khắc đá, làm mẫu vẽ, bắt đầu trở lại đánh trống, thị sát bê-tông, kiếm tiền, lưu giữ ngón tay, cho đi ngón tay, cả cười mà trốn chạy, lên thang cuốn, bị bắt, bị kết án, bị tống vào nhà thương điên, chẳng bao lâu nữa sẽ được trắng án, hôm nay kỷ niệm sinh nhật lần thứ ba mươi và vẫn còn sợ mụ Phù Thuỷ Đen.
 
Tôi vứt điếu thuốc. Nó rơi vào một đường rãnh trên bậc cầu thang cuốn. Sau khi được chở trên thang cuốn lên dốc bốn mươi lăm độ, Oskar bước ba bước nữa theo chiều ngang rồi để cho cặp thám-tử-tình-nhân-trơ-tráo và thám-tử-bà-nội đẩy từ cầu thang cuốn sang một sàn bằng đứng tại chỗ. Khi các quý ông Interpol tự giới thiệu và gọi gã là Matzerath, gã bèn trả lời theo dòng suy tư trên thang cuốn, đầu tiên bằng tiếng Đức: “Ich bin Jesus (Ta là Jêxu)”, rồi chợt nhớ ra họ là nhân viên quốc tế, bằng tiếng Pháp và cuối cùng bằng tiếng Anh: “I am Jesus.”
 
Tuy nhiên, tôi vẫn bị bắt dưới cái tên Oskar Matzerath. Không hề chống cự, tôi tự đặt mình dưới sự che chở của các nhân viên Interpol và, vì trời đang mưa trên Đại lộ Italie, dưới những cái ô của họ. Nhưng tôi vẫn còn sợ. Mấy lần tôi lo lắng nhìn quanh và mấy lần tôi thấy đây đó - phải, đó là một trong những tài của mụ - cái bộ mặt lạnh lùng dễ sợ của mụ Phù Thuỷ Đen giữa những khách bộ hành trên đại lộ và sau đó trong đám đông xúm quanh xe chở tù nhân.
 
Tôi cạn lời rồi. Tuy nhiên, tôi không thể không tự hỏi Oskar sẽ làm gì sau khi tất yếu phải ra khỏi bệnh viện tâm thần. Cưới vợ? Tiếp tục sống độc thân? Di cư? Làm mẫu vẽ? Mua một mỏ đá? Thu nạp môn đồ? Lập một giáo phái?
 
Tất cả những khả năng giờ đây mở ra trước một gã đàn ông ba mươi tuổi đều cần được xem xét, nhưng làm sao mà xem xét được chúng nếu thiếu cái trống của tôi? Vậy tôi sẽ đánh lên cái bài ca nhỏ đã trở nên ngày càng thật hơn đối với tôi, mỗi lúc một thêm hãi hùng. Tôi sẽ gọi mụ Phù Thuỷ Đen tới, hỏi ý kiến mụ và sáng mai tôi sẽ có thể nói cho Bruno, tay y tá trông nom tôi, biết gã Oskar ba mươi tuổi này dự định sẽ sống theo phương thức nào dưới bóng một con ngoáo ộp mà tuy mỗi ngày một đen hơn, vẫn là người bạn cũ thường nhát tôi ở cầu thang hầm kho, thường “hù-ù-ù!” tôi trong hầm than khiến tôi không thể nhịn cười, nhưng dù sao nó vẫn đó, nói chuyện bằng ngón tay, ho khặc khặc qua lỗ khoá, rền rĩ trong bếp lò, rít kèn kẹt cùng với cánh cửa, nhả khói lên từ những ống khói khi những con tầu kéo còi trong sương mù, khi một con ruồi vo ve hàng giờ giãy chết giữa hai lần cửa so kép, hoặc khi lươn đòi mẹ và mẹ tội nghiệp đòi lươn và khi mặt trời chỉm xuống đằng sau Tháp Zoppot nhưng vẫn le lói ánh hổ phách trong ngần. Herbert nhằm ai khi anh tấn công bức tượng gỗ? Và đằng sau ban thờ chính - thử hỏi Thiên Chúa giáo còn là cái gì nếu không có mụ Phù Thuỷ Đen trùm bóng đen của mình lên mọi phòng xưng tội? Chính bóng mụ đã đổ dài khi những đồ chơi của Sigismund Markus bị đập tan tành. Bọn nhóc trong sân nhà chúng tôi, Axel Mischke và Nuchi Eyke, Susi Kater và Hänschen Kollin, chúng biết cả: vì chúng hát gì khi nấu món cháo gạch của chúng? “Đâu rồi mụ Phù Thuỷ đen như hắc ín. Đây rồi mụ Phù Thuỷ Đen độc ác. Ha-ha-ha! Tội của mụ. Và mụ nữa. Tội của mụ là chính, Mụ, Mụ, Mụ! Đâu rồi mụ Phù Thuỷ đen như hắc ín?... ” Bao giờ mụ cũng có mặt, ở đâu mụ cũng có mặt, kể cả trong bột sủi sủi bọt hồn nhiên và xanh ngắt; mụ ở trong tủ quần áo, trong tất cả các tủ quần áo tôi từng chui vào. Rồi mụ mượn bộ mặt chéo ba góc của Lucy Rennwand làm mặt mình, ăn xúc-xích cả da và tống cả băng Quét-Bụi lên tháp nhẩy cầu: còn mình Oskar ở lại, gã quan sát đàn kiến và gã biết: chính bóng mụ đã nhân lên thành côn trùng đen đi tìm của ngọt. Mọi từ ngữ: được ban phước, đau buồn, đầy duyên sắc, đồng trinh của đồng trinh... và mọi thứ đá: ba-dan, tufa, đi-o-rít, ổ đá điệp, minh ngọc thạch rất mịn... và tất cả thuỷ tinh vỡ vụn, thuỷ tinh trong, thuỷ tinh thổi đến mỏng như tờ giấy... và tất cả những cửa hàng tạp hoá, những gói bột và đường nửa ‘pao’ và một ‘pao’. Sau nữa, bốn con mèo, trong đó có một con tên là Bismarck, cái bức tường phải quét vôi mới, những người Ba Lan tán dương cái chết, những thông cáo đặc biệt, ai đánh chìm cái gì lúc nào, những củ khoai tây rơi xuống từ bàn cân, những áo quan thuôn đằng chân, những nghĩa trang tôi đã đến, những phiến đá tôi đã quỳ lên, những xơ dừa tôi đã nằm lên... những con chó con trộn vào bê-tông, nước hành làm chảy nước mắt, chiếc nhẫn trên ngón tay và con bò cái liếm tôi... Xin đừng hỏi Oskar mụ là ai! Tôi đã cạn lời. Đầu tiên mụ ở đằng sau tôi, về sau mụ hôn tôi mọc bướu, nhưng giờ đây, bây giờ và mãi mãi, mụ ở trước mặt tôi, sáp lại gần.
 
Luôn ở đằng sau tôi, Phù Thuỷ Đen   ĐEN
Nay ở trước mặt tôi, đối mặt tôi        ĐEN
Lời đen, áo đen, tiền đen                 ĐEN
 
Không còn là bài ca trẻ con thường hát:
Đâu rồi mụ Phừ Thuỷ đen như hắc ín?
Đây rồi mụ Phù Thuỷ Đen độc ác
Ha -ha -ha!
 
______
Chú thích
[1] Tiếng Pháp trong nguyên bản: thế đấv.
[2] Jean Alexis Moncorge tức Jean Gabii (1904-1976), diễn viên điện ảnh Pháp, từng đóng trên một trăm phim, trong đó nhiều phim đã trở thành kinh điển như Ông già biệt danh Le Moko của J.Duvivier; Bến cảng Sương Mù của Marcel Carné... 
[3] Sir Charles Spencer lức Charlie Chaplin (1889-1977), người Mỹ gốc Anh, diễn viên, đạo diễn, nhà sản xuất phim, một trong những gương mặt văn hoá lớn nhất của thế kỷ XX, được mệnh danh là vua hề Charlot. Các phim của ông đã trở thành kinh điển của điện ảnh thế giới như Thời hiện đại, Đổ xô đi tìm vàng, Chú Nhóc, Tên độc tài, Ánh đèn sân khấu,  
 
...! Tràn đầy mà rỗng lặng
Biển vô lượng thủy triều
Đường về tâm hết động
Tuyệt chiêu là vô chiêu !...

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 20.07.2016 17:38:33 bởi tducchau>
[...]
 
 
CHUYẾN XE ĐIỆN CUỐI CÙNG HAY THỜ CÚNG MỘT CÁI BÌNH
 
 
Chà, cái giọng ấy - the thé, ngạo nghễ, kiểu cách! Mà hắn lại nằm ềnh trên chạc một cây táo nữa chứ. “Ông có con chó nhỏ hay thật,” hắn nói.
 
Tôi hơi ngỡ ngàng: “Ông làm gì trên ấy?”
 
Hắn uể oải vươn vai: “Đây chỉ là những trái táo để nấu thôi, tôi đảm bảo với ông thế, ông không việc gì mà sợ.”

Hắn đã bắt đầu làm tôi khó chịu: “Ai cần biết ông có loại táo gì? Và ông nghĩ là tôi sợ cái gì?”
 
“À, thế đấy!” Cái giọng the thé của hắn gần như một tiếng rít. “Là vĩ ông có thể tưởng lầm tôi là con Rắn ở vườn Địa Đàng bởi từ thời đó đã có thứ táo để nấu.”
 
Tôi, cáu kỉnh: “Cái thứ ngụ ngôn tầm phào”
 
Hắn, giảo quyệt: “Tôi đồ rằng ông nghĩ chỉ có táo ăn tươi mới bõ bèn để người ta phạm tội, phải không?”

Tôi sắp sửa bỏ đi. Tôi không mảy may muốn bàn cãi về các loại táo ở vườn Địa Đàng. Bấy giờ, hắn bèn lẹ làng nhảy từ trên cây xuống, thử một phương án tiếp cận trực tiếp hơn. Hắn đứng bên hàng rào, cao và lả lướt: “Con chó của ông tìm thấy cái gì trong ruộng lúa mạch?”
 
Không hiểu sao tôi lại nói: “Một hòn đá.”
 
“Và ông gói hòn đá bỏ vào trong túi?” Chao, hắn định thẩm vấn tôi chăng!
 
“Tôi thích mang đá trong túi.”
 
“Tôi thấy nó có vẻ giống một cái que hơn.”
 
“Cũng có thể thế. Nhưng tôi vẫn nói đó là một hòn đá.”
 
“A-ha! Vậy đó là một cái que?”
 
“Này chứ tôi bất cần: que hay đá, táo nấu hay táo tươi....”
 
“Một cái que nhỏ mềm?”
 
“Con chó muốn về nhà. Tôi phải đi đây.”
 
“Một cái que có màu da thịt?”
 
“Ông hãy lo chăm chút những quả táo của ông thì hơn. Đi nào, Lux!”
 
“Một cái que mềm nhỏ, màu da thịt, đeo một chiếc nhản?”
 
“Ông muốn gì tôi nào? Tôi chi là một người dắt chó di dạo. Một con chó tôi mượn để đi dạo cùng tôi.”
 
“Tuyệt. Này, tôi cũng muốn mượn một cái gì đó. Liệu ông có thể cho tôi đeo thử chiếc nhẫn xinh đẹp kia một giây thôi, chiếc nhẫn lấp lánh trên cái que và biến nó thành một ngón tay đeo nhẫn? Tên tôi là Vittlar, Gottfried von Vittlar. Tôi là người cuối cùng của dòng họ chúng tôi.”
 
Như vậy đó tôi và Vittlar bắt quen với nhau. Trước khi ngày tắt, chúng tôi đã thành bạn và đến nay tôi vẫn gọi hắn là bạn tôi. Mới cách đây mấy hôm thôi, khi hắn vào thăm tôi, tôi nói: “Gottfried thân mến, mình rất mừng rằng người tố cáo mình với cảnh sát là cậu chứ không phải là một thằng cha căng chú kiết nào khác.”
 
Thiên thần, nếu có thật, ắt phải giống như Vittlar: dài, thướt tha, linh hoạt, ẻo lả, sẵn sàng ôm cái cột đèn cằn cỗi nhất hơn là một cô gái sôi nổi.
 
Mới thoạt nhìn thì khó mà thấy được Vittlar. Tuỳ theo môi trường xung quanh, hắn có thể làm cho mình nom giống như một sợi chỉ, một thằng bù nhìn, rơm, một cái cọc chống dây phơi quân áo hay một cành cây. Chính vì thế mà tôi không nhận thấy hắn khi tôi ngồi trên chiếc trống cáp và hắn nằm trên cây táo. Lux cũng không sủa vì chó vốn không trông thấy, đánh hơi thấy thiên thần và do đó, dĩ nhiên là không sủa thiên thần.
 
“Gottfried thân mến,” mới hôm kia, tôi hỏi hắn,”cậu có vui lòng gửi cho mình một bẳn sao cái tờ khai cậu trình cảnh sát hai năm trước đây không?” Chính tờ khai này đã khiến tôi phải ra toà và nó làm cơ sở cho lời chứng sau đó của Vittlar.
 
Đây là bản sao dó. Tôi để hắn nói như hắn đã làm chứng chống lại tôi trước toà:
 
Vào cái ngày hôm ấy, tôi, Gottfried Vittlar, đang nằm trên chạc một cây táo mọc ở rìa vườn cây của mẹ tồi, mỗi năm nó ra đủ quả để chất đầy bảy vại táo ngâm. Tôi nằm nghiêng, hông bên trái vừa khít đáy chạc hơi bị rêu. Chân tôi hướng về phía nhà máy thuỷ tinh Gerresheim. Lúc ấy tôi đang nhìn cái gì? Tôi nhìn thắng trước mặt, chờ một cái gi xẩy đến trong tầm nhìn của tôi.
 
Bị cáo, nay là bạn tôi, lọt vào tầm nhìn của tôi. Một con chó cùng đi với y, chạy quanh y, ứng xử như một con chó. Tên nó, như sau đó bị cáo cho tôi biết, là Lux, nó là giống rottweiler và có thể thuê được ở một “cửa hàng cho thuê chó” gần nhà thờ Thánh Roch.
 
Bị cáo ngồi lên một cái trống cáp rỗng từ hồi chiến tranh vẫn nằm bên ngoài khu vườn nói trên thuộc sở hữu của mẹ tôi, Alice Vittlar. Như quý toà biết, bị cáo là một người nhỏ bé. Hơn nữa, nếu nói cho chính xác triệt để, y là một kẻ dị dạng. Điều đó làm tôi chú ý. Điều làm tôi ngạc nhiên hơn nữa là ứng xử của y. Con người bé nhỏ thanh lịch ăn mặc sang trọng ấy bắt đầu gõ lên cái trống cáp gỉ, thoạt tiên bằng ngón tay, rồi bằng hai nhành cây khô. Nếu ta ghi nhận rằng bị cáo là một người chơi trống chuyên nghiệp, rằng, như đã được xác định rõ, y đã hành nghề ở mọi nơi mọi lúc; nếu ta xét thêm nữa rằng một cái trống cáp, như cái tên của nó nói lên, có thể xui khiến người ta gõ lên nó, thì ta hoàn toàn có lý để khắng định rằng vào một ngày hè oi bức, bị cáo Oskar Matzerath ngồi trên một cái trống cáp bên ngoài vườn cây của bà Alice von Vittlar, đã tạo nên những âm thanh có tiết tấu chặt chẽ bằng hai nhành liễu cái dài cái ngắn.
 
Tôi xin chứng thêm rằng con chó Lux đã biến vào trong một ruộng lúa mạch đen một lúc, phải, lúa đã sắp gặt được. Nếu hỏi nó biến đi bao lâu, tôi sẽ không trả lời được vì khi tôi đã nằm trên chạc cây táo, tôi mất hết khái niệm về thời gian. Tuy nhiên nếu tôi nói rằng con chó đã biến đi rất lâu, có nghĩa là tôl thấy nhớ nó, vì tôi thích bộ lông đen và đôi tai rũ của nó.
 
Nhưng bị cáo thì không thấy nhớ nó - tôi nói vậy là có cơ sở.
 
Khi con chó Lux từ ruộng lúa mạch chín trở về, nó gặm một cái gì đó trong miệng, tôi nghĩ đó là một cái que, một hòn đá hay có lẽ, mặc dâu điều này hơi phi lý, một cái hộp thiếc hay một cái thìa sắt tây. Chỉ đến khi bị cáo lấy cái chứng cứ phạm tội từ mõm con chó ra tôi mới dứt khoát nhận ra nó đích thị là nó. Nhưng từ lúc con chó cọ cái mõm còn ngậm vật kia vào ống quần của bị cáo - cụ thể là ống quần bên trái - cho đến khi bị cáo nắm giữ được nó, nhiều phút đã trôi qua - chính xác là bao nhiêu thì tôi không dám nói liều.
 
Con chó cố hết sức lôi kéo sự chú ý của ông chủ tạm thời của nó; tuy nhiên, bị cáo vẫn tiếp tục đánh trống theo cái cách đơn điệu, ám ảnh, gây hoang mang và có thể nói là trẻ con của y. Chỉ đến khi con chó dùng đến thủ đoạn bất nhã, thục mõm vào chỗ giữa hai cẳng của bị cáo, y mới buông hai nhành liễu và đá con chó một cái bằng chân phải - điều này thì tôi hoàn toàn chắc chắn. Con chó văng đi một nửa vòng, trở lại, run rẩy như một con chó, và một lần nữa chĩa mõm với cái vật ngậm trong đó. Không buồn đứng dậy, bị cáo với tay - lần này là tay trái - moi giữa hai hàm con chó. Nhả được vật tìm thấy, con chó Lux lùi lại vài bước. Bị cáo vẫn ngồi, cầm vật nọ trong tay, nắm tay lại, mở ra, nắm lại và khi mở ra lần nữa, tôi trông thấy có cái gì lấp lánh. Khi bị cáo đã quen mắt với vật kia, y cầm nó bằng ngón cái và ngón trỏ giơ lên ngang tầm mắt.
 
Mãi đến lúc ấy, tôi mới nhận dạng được vật ấy là một cái ngón tay và một lát sau, nhờ cái ánh lấp lánh, xác định cụ thể hơn là một ngón tay đeo nhẫn. Tôi không ngờ mình đã thành người đặt tên cho một trong những vụ án hình sự lý thú nhất của thời kỳ hậu chiến. Quả thật, tôi, Gottfried Vittlar, đã luôn luôn được nhắc đến như là nhân chứng ngôi sao trong Vụ án Ngón Tay Đeo Nhẫn.
 
Vì bị cáo vẫn ngồi yên không động đậy, tôi cũng làm theo như vậy. Thực tế, sự bất động của y truyền sang tôi. Và khi bị cáo cẩn trọng gói cái ngón tay cùng chiếc nhẫn vào một chiếc mù-soa mang sẵn trong túi ngực, tôi cảm thấy rộn lên một mối thiện cảm với con người ngồi trên cái trống cáp: y thật là gọn gàng và quy củ; đây quả là một con người mà tôi muốn quen biết.
 
Cho nên chính tôi đã gọi y khi y sắp sửa nhằm hướng Gerresheim ra về cùng con chó thuê của y. Tuy nhiên, phản ứng đầu tiên của y là bực bội, gần như kiêu kỳ. Cho đến giờ tôi vẫn không hiểu tại sao, chỉ vì tôi nằm trên cây, y lại coi tôi như một con rắn tượng trưng và thậm chí còn ngờ những quả táo dùng để nấu của mẹ tôi là thuộc loại táo ở vườn Địa Đàng.
 
Cũng có thể một thói quen ưa thích của Kẻ Cám Dỗ là nằm trên chạc cây. Trong trường hợp của tôi, đó chả là buồn chán, một tâm trạng mà tôi dễ dàng rơi vào, một tuần mấy lần nó khiến tôi phải tìm một tư thế ngả lưng trên cái cây nói trên. Có lẽ buồn chán, tự thân nó, là cái ác tuyệt đối. Bây giờ tôi xin hỏi: động cơ nào đã thúc đẩy bị cáo đến Gerresheim ở ngoại vi Düssendorf vào cái ngày oi bức ấy? Sự cô đơn, như về sau y nói với tôi. Nhưng chẳng phải cô đơn và buồn chán là hai chị em sinh đôi sao? Tôi nêu lên những điểm này chỉ để giải thích tâm lý bị cáo chứ không phải để dồn y đến chân tường. Bởi vì điều làm tôi thích y, bắt chuyện với y và cuối cùng, kết bạn với y, chính là cái dạng đặc biệt của cái ác nơi y và cách đánh trống của y, nó hòa tan cái ác thành tiết tấu. Thậm chí cả việc tôi tố cáo y, cái hành động dẫn tới việc chúng tôi phải ra trước toà đây, y với tư cách là bị cáo, tôi với tư cách là nhân chứng, cũng là một trò chơi do chúng tôi bày đặt ra, một phương cách giải trí và giải nỗi buồn chán và cô đơn của chúng tôi.
 
Sau một chút lưỡng lự, bị cáo, theo yêu cầu của tôi, rút chiếc nhẫn ra khỏi ngón tay đeo nhẫn - nó tuột ra không mấy khó khăn - và deo thử vào ngón út tay trái tôi. Hoá ra vừa hin và tôi rất hài lòng. Có lẽ khỏi cần phải nói là trước khi đeo thử nhẫn, tôi đã xuống khỏi chạc cây. Đứng hai bên bờ rào, chúng tôi tự giới thiệu với nhau và trò chuyện một lúc, bàn đến nhiều đề tài chính trị thời sự khác nhau, rồi y đưa tôi chiếc nhẫn. Y giữ lại ngón tay mà y nâng niu hết sức cẩn thận. Chúng tôi nhất trí rằng đó là một ngón tay dàn bà. Trong khi tôi cầm chiếc nhẫn để cho ánh sáng lấp lánh trên đó, bị cáo dùng tay trái gõ lên hàng rào một nhịp điệu nhảy sôi động. Hàng rào gỗ bao quanh khu vườn của mẹ tôi rất ọp ẹp, nó rung lên, kêu răng rắc dưới nhịp gõ của bị cáo. Tôi không biết chúng tôi đứng đó bao lâu, nói chuyện bằng mắt. Giữa chừng trò tiêu khiển ngây thơ đó, chúng tôi chợt nghe thấy tiếng máy bay ở độ cao trung bình. Có vẻ như chiếc máy bay chuẩn bị hạ cánh xuống Lohhausen. Mặc dù cả hai đều tò mò muốn biết nó hạ cánh bằng hai hay bốn động cơ, chúng tôi vẫn không ngắt quãng cuộc trao đổi bằng mắt, không nhìn lên chiếc máy bay. Sau này, khi có dịp chơi lại trò này, chúng tôi đặt cho nó một cái tên: chủ nghĩa khổ hạnh của Leo-Cà-Lăm. Hóa ra Leo-Cà-Lăm là tên một người bạn thường hay chơi trò này với bị cáo ở các nghĩa trang nhiều năm trước đây.
 
Sau khi chiếc máy bay đã tìm được chỗ hạ cánh - bằng hai hay bốn động cơ, tôi cũng không rõ - tôi trả lại chiếc nhẫn. Bị cáo xỏ nó vào ngón tay đeo nhẫn, gói lại trong chiếc mù-soa và đề nghị tôi cùng đi với y một đoạn đường.
 
Đó là ngày hai bảy tháng bảy năm 1951. Chúng tôi đi bộ đến tận trạm cuối xe điện ở Gerresheim nhưng chiếc xe chúng tôi lên là một chiếc tắc-xi. Từ bữa ấy, bị cáo luôn có dịp để đãi tôi hết sức hào phóng. Chúng tôi vào thành phố và bảo tài xế tắc-xi đợi bên ngoài cửa hàng cho thuê chó gần nhà thờ Thánh Roch. Trả con Lux xong, chúng tôi đi dọc thành phố, qua Bilk và Oberbilk tới Nghĩa trang phía Tây. Tới đây, me-xừ Matzerath phải chi ra hơn hai mươi mark tiền tắc-xi. Rồi chúng tôi đến xưởng khắc đá bia mộ của Korneff.
 
Nơi này bẩn kinh người và tôi lấy làm mừng khi ông thợ đá hoàn thành món hàng đặt của bạn tôi - mất khoảng một tiếng đồng hồ. Trong khi bạn tôi say sưa giảng giải cho tôi về các dụng cụ và các loại đá khác nhau, ông Korneff, không một lời bình luận, bắt tay vào đổ một tượng thạch cao sao đúng hình ngón tay nọ - không có nhẫn. Tôi lơ đãng nhìn ông làm việc. Trước hết, ngón tay phải được chuẩn bị; nghĩa là thoa mỡ khắp và đặt một sợi dây dọc theo gờ của nó. Sau đó, ông đắp thạch cao xung quanh và dùng sợi dây cắt làm hai phần trước khi thạch cao kịp rắn lại. Tôi vốn làm nghề trang trí, nên không lạ gì việc làm khuôn thạch cao. Tuy nhiên, khi ông Korneff cầm ngón tay đó lên, nó bỗng có một vẻ gì đó phi thẩm mỹ; dù sao cảm giác ấy cũng biến mất khi chiếc khuôn hoàn tất. Bị cáo lấy lại ngón tay, chùi sạch mỡ và trả tiền ông thợ đá. Thoạt đầu, ông Korneff không muốn nhận tiền vì ông coi Matzerath như bạn đồng nghiệp, ngoài ra còn nêu rõ rằng dạo xưa Oskar (ông gọi Matzerath thế) đã nặn cho ông mấy cái nhọt mà chẳng lấy xu nào. Khi cốt tượng đã rắn lại, ông thợ đá mở khuôn đúc, đưa bản sao đó cho Matzerath và hứa sẽ làm thêm cho y vài cái nữa trong mấy ngày tới. Đoạn, ông tiễn chúng tôi ra tận phố Bittweg, đi qua dãy bia mộ dăng hàng của ông.
 
Một chuyến tắc-xi thứ hai đưa chúng tôi về Ga Trung Tâm. Tại đây, bị cáo đãi tôi một bữa ăn tối thịnh soạn ở tiệm ăn ga hảo hạng. Qua giọng điệu như người nhà của y với các bồi bàn, tôi suy ra: y hắn là khách thường xuyên ở đây. Chúng tôi ăn thịt bò hấp với củ cải ngựa tươi, cá hồi sông Rhine, và phó-mát, tất cả “đưa cay” cho một chai sâm-banh. Khi câu chuyện quay trở lại đề tài cái ngón tay, tôi khuyên y coi đó như vật sở hữu của một người nào khác, nên gửi nó đến văn phòng của Thất Lạc và Tìm Được, nhất là khi y đã có bản sao thạch cao của nó. Bị cáo đáp lại rất kiên quyết rằng y tự coi mình là chủ sở hữu chính đáng, vì vào dịp y ra đời, người ta đã hứa sẽ cho y một ngón tay như thế - đã đành là bằng mật mã với chữ dùng cụ thể là “dùi trống”; hơn nữa, một số sẹo dài bằng ngón tay trên lưng anh bạn Herbert Truczinski của y đã báo trước ngón tay đeo nhẫn này; sau cùng, cái vỏ đạn y tìm thấy ở nghĩa trang Saspe cũng có kích thước và ý nghĩa hàm ẩn của một ngón tay đeo nhẫn trong tương lai.
 
Mặc dù mới dầu, tôi cười những lập luận của người bạn mới, tôi vẫn phải tbừa nhận rằng một người sắc sảo ắt có thể thấu hiểu tính liên quan kết nối đó: dùi trống, sẹo, vỏ đạn, ngón tay đeo nhẫn.
 
Một chiếc tắc-xi thứ ba đưa tôi về nhà sau bữa ăn tối. Chúng tôi hẹn gặp lại và ba ngày sau, một bất ngờ đón chờ tôi khi tôi đến thăm chỗ ở của bạn tôi.
 
Trước hết, y đưa tôi đi xem phòng. Đầu tiên, y chỉ thuê một phòng, một cái xó tồi tàn trước kia dùng làm buồng tắm, nhưng về sau, khi những cuộc biểu diễn độc tấu trống mang lại cho y tiền bạc và danh vọng, y đã thuê thêm một xó thứ hai nữa, không có cửa sổ, mà y gọi là phòng của Xơ Dorothea, và cuối cùng, thuê nốt một phòng thứ ba trước đó là chỗ trọ của một me-xừ Münzer nào đó, một nhạc công và cộng sự của bị cáo. Tất cả lên tới một khoản kếch sù, vì chủ nhà, ông Zeidler, biết rõ sự phát đạt của Matzerath và quyết tâm không bỏ lỡ cơ hội lợi dụng.
 
Chính phòng Xơ Dorothea là nơi bị cáo chuẩn bị sự bất ngờ. Trên mặt đá của bàn rửa mặt kiêm bàn trang điểm có gương soi, sừng sững một cái bình, loại bô-can đựng bệnh phẩm, bằng cỡ những bình mà mẹ tôi, Alice von Vittlar, đựng nước táo chế từ những trái táo nấu của chúng tôi. Nhưng trong bình này không phải là nước táo mà là cái ngón tay đeo nhẫn ngâm trong cồn. Bị cáo hãnh diện phô với tôi những cuốn sách khoa học dày cộp mà y đã tham khảo để bảo quản ngón tay. Tôi lơ đãng lật giở những trang sách, chỉ dừng lại ở những hình minh họa; nhưng phải thừa nhận rằng bị cáo đã làm rất tốt, giữ được nguyên vẹn vẻ ngoài của ngón tay. Phát biểu với tư cách nhà trang trí, tôi cũng nói với y rằng cái bình thuỷ tinh với nội dung của nó đặt dưới tấm gương, đã đạt hiệu quả trang trí mỹ mãn.
 
Khi thấy tôi có thiện cảm vì chiếc bình, bị cáo cho tôi biết thỉnh thoảng y vẫn cúng và cầu nguyện nó. Trí tò mò nổi dậy, tôi đề nghị y đọc cho nghe thử một lời cầu nguyện làm ví dụ. Đổi lại, y cũng có một thỉnh cầu: đưa giấy, bút cho tôi, y đề nghị tôi ghi lại lời cầu nguyện của y. Trong khi y cầu nguyện, tôi có thể hỏi và y sẽ trả lời trong phạm vi hiểu biết tối đa của y.
 
Sau đây xin ghi lại một số lời của bị cáo, những câu hỏi của tôi, những câu trả lời của y: Thờ cúng một cái bình: tôi thờ cúng. Ai, tôi? Oskar hay tôi? Tôi, một cách sùng kính; Oskar, một cách lơ đãng. Dốc lòng mãi mãi, không ngại nhắc đi nhắc lại. Tôi, sáng suốt vì không có kỷ niệm; Oskar, sáng suốt vì đầy kỷ niệm. Tôi, lạnh, nóng, âm ấm. Có tội nếu xét hỏi kỹ. Vô tội nếu không xét hỏi. Có tội vì, sa ngã vì, miễn tội, trút tội lên, tranh đấu tới, giữ cho khỏi, cười chê về, khóc cho, về, không, báng bổ ra miệng, lặng lẽ báng bổ, tôi không nói, tôi không im lặng, tôi cầu nguyện, tôi thờ phụng. Cái gì? Một cái bình thuỷ tinh. Bình loại gì? Một cái bô-can. Bảo quản cái gì trong đó? Một cái ngón tay. Ngón tay gì? Ngón tay đeo nhẫn. Ngón tay của ai? Tóc vàng. Ai tóc vàng? Người tầm thước. Cao một mét sáu mươi? Một mét sáu ba. Đặc điểm nhận dạng? Một nốt ruồi, ở đâu? Nách. Trái, phải? Phải. Ngón đeo nhẫn bên tay nào? Trái. Đính hôn? Có, nhưng chưa cưới. Tôn giáo? Tin Lành. Còn trinh? Còn trinh. Năm sinh? Không biết. Nơi sinh? Gần Hanover. Tháng nào? Mười hai. Cung Nhân Mã hay Nam Dương? Nhân Mã. Tính cách? Nhút nhát. Tốt tính? Siêng năng, bẻo lẻo. Biết điều? Tiết kiệm, thực tế, nhưng vui vẻ. Rụt rè? Thích ăn vặt, trực tính và bảo thủ. Xanh xao, mơ lãng du, kinh nguyệt không đều, lười nhác, thích đau khổ và nói chuyện về đau khổ, thiếu đầu óc tưởng tượng, thụ động, chờ xem cái gì sẽ xẩy đến, biết chăm chú lắng nghe, gật đầu đồng ý, khoanh tay, cụp mặt xuống khi nói, mở to mắt khi người ta nói với mình, xám nhạt với nâu gần đồng tử, nhẫn do sếp tặng, sếp có vợ, thoạt đầu không muốn nhận, rồi nhận, trải nghiệm khủng khiếp, xơ dừa, Xa-tăng, ê hề trắng, đi du lịch, di chuyển, trở về, không thể dừng, ghen nữa, nhưng vô cớ. Bệnh mà không, chết mà không, phải, không, chẳng biết, tôi không thể tiếp tục. Hái hoa dại khi sát nhân tới, không, sát nhân cặp kè với nàng suốt... Amen? Aimen.
 
Tôi, Vittlar Gottfried, kèm lời cầu nguyện này vào đây chỉ vì, mặc dù có vẻ rất rối rắm, những dữ kiện liên quan đến chủ nhân chiếc nhẫn có rất nhiều điểm trùng hợp với lời chứng về người phụ nữ bị sát hại, Xơ Dorothea Köngetter. Tuy nhiên, tôi không định gieo nghi ngờ .đối với lời khai của bị cáo rằng y không giết Dorothea Köngetter, thậm chi chưa bao giờ trực diện nhìn thấy cô ta.
 
Điều minh chứng cho bị cáo là sự sùng kính tột bậc của bạn tôi khi y quỳ xuống vừa đánh trống (cái trống kẹp giữa hai đầu gối) vừa cầu nguyện trước cái bình.
 
Trong một năm tiếp theo hoặc hơn nữa, tôi còn có nhiều dịp được thấy bị cáo cầu nguyện và đánh trống vì ít lâu sau, y đề nghị tôi đi theo y trong những chuyến lưu diễn với tiền lương rất hậu và tôi chấp nhận. Y đã ngừng diễn một thời gian dài, nhưng sau khi tìm được ngón tay đeo nhẫn, lại bắt đầu tái xuất. Chúng tôi đi khắp Tây Đức và nhận được nhiều lời mời sang biểu diễn ở miền Đông và cả ở nước ngoài nữa. Nhưng Matzerath muốn khoanh lại trong biên giới Cộng Hoà Liên Bang Đức; như lời y nói, y không muốn “mắc vào cái vòng bon chen quốc tế”. Y không bao giờ đánh trống hoặc cầu nguyện trước bình trước khi biểu diễn. Nhưng sau khi xuất hiện trước công chúng và sau một bữa tối linh đình kéo dài, chúng tôi rút về phòng khách sạn, bấy giờ y mới đánh trống và cầu nguyện trong khi tôi hỏi và ghi chép; sau đó, chúng tôi so sánh đối chiếu với những bài cầu nguyện của những ngày trước và tuần trước. Những bài cầu nguyện thay đổi về độ dài. Đôi khi lời chữ va nhau chan chát; vào những hôm khác, nhịp điệu lại trôi chầm chậm, gần như suy tưởng. Tuy nhiên, những bài cầu nguyện tôi gom được (mà tôi sẽ kèm theo để trình quý Toà) không chứa thông tin gì nhiều hơn bản ghi đầu tiên mà tôi gộp vào lời khai này.
 
Trong năm ấy, giữa những chuyến lưu diễn, tôi đã làm quen sơ sơ với một số bạn bè và bà con của Matzerath. Tôi đã gặp mẹ kế của y, bà Maria Matzerath, mà bị cáo tôn thờ tuy có phần kiềm chế. Cũng trong buổi chiều hôm ấy, tôi làm quen với Kurt Matzerath, em cùng cha khác mẹ của bị cáo, một chú bé mười một tuổi có giáo dục. Bà Augusta Köster, chị gái bà Maria Matzerath, cũng gây ấn tượng tốt dối với tôi. Như lời bị cáo tâm sự với tôi, quan hệ của y với gia đình trong những năm hậu chiến đầu tiên, còn trên cả mức căng thắng. Mãi đến khi Matzerath giúp mẹ kế của mình mở một cửa hàng đặc sản lớn bán cả các loại quả nhiệt đới và thường xuyên trợ giúp tài chính mỗi khi gặp khó khăn trong kinh doanh, quan hệ giữa họ mới trở nên thực sự hữu hảo.
 
Matzerath cũng giới thiệu với tôi một số dồng nghiệp cũ của y, phần lớn là nhạc công jazz. Mặc dù thấy ông Munzer, mà bị cáo gọi một cách thân mật là Klepp, thuộc “tip” người vui vẻ, dễ thương, cho đến nay, tôi vẫn chưa đủ mong muốn hoặc nghị lực để phát triển mối quan hệ ấy.
 
Mặc dầu, nhờ sự rộng rãi của bị cáo, trong thời gian ấy, tôi không cần hành nghề chính của mình, lòng yêu nghề vẫn khiến tôi tranh thủ, giữa hai chuyến lưu diễn, trang trí một vài mặt cửa hàng. Bị cáo quan tâm đến công việc của tôi với tình bằng hữu. Nhiều khi, đêm đã khuya, y vẫn đứng ngoài phố, xem tôi thi thố chút tài mọn. Thỉnh thoảng, công việc xong xuôi, chúng tôi rong chơi phố phường, nhưng tránh Khu Phố cổ vì bị cáo, theo lời y giải thích, không chịu nổi khi nhìn thấy những ô cửa sổ tròn hoặc những biển chữ kiểu Gô-tích cổ. Trong một cuộc dạo chơi như vậy - tôi sắp tới phần kết của lời khai này - chúng tôi đi xuyên suốt Unterrath đến xưởng xe điện. Lúc đó đã quá nửa đêm.
 
Chúng tôl đứng đó, hoà hiếu với thế giới và với nhau, nhìn những chuyến xe điện cuối cùng về xưởng dúng giờ quy dịnh. Quang cảnh thật dễ chịu. Xung quanh, thành phố mờ tối. Xa xa - vì hôm đó là thứ sáu - tiếng la lối của một gã thợ quá chén. Ngoài ra là im lặng vì những chuyến xe điện cuối cùng về xưởng, kể cả khi chúng rung chuông và rít ở những khúc cua, cũng không làm ầm mấy tí. Phần lớn các xe chạy thẳng vào xưởng. Nhưng cũng có một số đậu ở ngoài, quay đầu về đủ mọi hướng, trống không nhưng vẫn sáng đèn như vào hội. Ai đã nẩy ra cái ý ấy? Cả hai chúng tôi, nhưng tôi là người nói lên trước: “Này, bạn thân mến, cậu thấy thế nào?” Matzerath gật đầu, chúng tôi thủng thắng bước lên, tôi đứng vào chỗ người lái và lập tức cảm thấy thoải mái. Tôi nhẹ nhàng khởi động, nhưng dần dần tăng tốc độ. Tôi đâm ra là một tay lái cừ. Matzerath - lúc này ánh đèn sáng chưng của xưởng xe diện đã ở đằng sau chúng tôi - xác nhận sự tài khéo của tôi bằng một câu thế này: “Gottfried, cậu chắc chắn phải được rửa tội là Chính giáo nên mới lái xe điện ngon lành thế!”
 
Quả thật, cái công việc bất thường này làm tôi rất khoái, ở xưởng xe điện, xem ra không ai nhận thấy chúng tôi chạy xe đi vì không thấy ai đuổi theo; với lại, họ có thể dễ dàng ách chúng tôi lại bằng cách cúp diện. Tôi cho xe chạy về phía Flingern; sau Flingern, tôi định rẽ trái ở quãng Haniel rồi đi tiếp đến Rath và Ratingen, nhưng Matzerath đề nghị tôi hướng về Grafenberg và Gerreshetm. Tuy tôi có ngài ngại quãng dốc mé dưới vũ trường Hang Sư Tử, nhưng tôi vẫn chiều ý bị cáo. Tôi vượt qua đoạn dốc, vũ trường đã ở đằng sau chúng tôi, nhưng tôi phải phanh lại vì có ba người đang đứng trên đường ray.
 
Matzerath đã vào trong toa để hút thuốc từ lúc xe đi qua Haniel được một quãng, nên chính tôi, người lái, phải kêu: “Mời lên xe!”Hai người trong bọn đội mũ xanh có băng đen, người thứ ba, kẹp giữa hai người kia, không đội gì cả. Tôi nhận thấy khi lên xe, người thứ ba này bước trượt bậc lên xuống mấy lần, hoặc vì vụng về hoặc vì mắt kém. Hai người bạn hoặc bảo vệ đỡ ông hay nói cho đúng hơn, lôi ông sềnh sệch một cách thô bạo lên sàn lái rồi vào trong toa.
 
Tôi đã cho xe chạy tiếp thì -đột nhiên từ phía sau tôi, từ trong toa, tôi nghẹ thấy tiếng thút thít và một tiếng kiểu như ai bị tát. Nhưng rồi tôi yên tâm trở lại khi nghe thấy giọng quả quyết của Matzerath cự những người mới đến, bảo họ hãy thôi đánh đập một người bị thương, gần như mù vì mất kính.
 
“Không việc gì đến ông,” tôi nghe thấy một trong hai người đội mũ xanh gầm gừ. “Lần này, phải cho nó lãnh đủ. Trò này kéo dài quá đủ rồi.”
 
Trong khi tôi cho xe chạy từ từ về phía Gerresheim, bạn Matzerath của tôi hỏi con người khốn khổ kia đã làm gì nên tội. Thế rồi câu chuyện xoay theo một chiều kỳ lạ. Chúng tôi được đưa ngược trở về những ngày, thực tế là chính ngày đầu chiến tranh: 1 tháng 9 năm 1939. Hình như con người cận thị đến mức gần như mù này đã tham gia phòng thủ một Sở Bưu Chính Ba Lan nào đó với tư cách là tự vệ. Lạ thay, Matzerath, hồi đó hắn chưa quá mười lăm tuổi, mà lại biết vanh vách mọi tình tiết của câu chuyện. Y thậm chí còn nhận ra con người khốn khổ kia là Victor Weluhn, một bưu tá cận thị phát ngân phiếu, bị mất kính trong trận đánh, chạy trốn khi trận đánh còn đang tiếp diễn và thoát khỏi những kẻ đuổi bắt. Nhưng cuộc săn lùng vẫn tiếp tục cho đến khi chiến tranh kết thúc và thậm chí sau đó họ vẫn không bỏ cuộc. Họ đưa ra một tờ giấy ban bố năm 1939, một lệnh hành quyết, cuối cùng, chúng tôi đã tóm được hắn, một gã mũ xanh reo lên; gã kia tán thưởng: “Và mừng ơi là mừng vì đã dứt điểm với cái tội cái nợ này. Tôi đã phải hy sinh mọi thì giờ rảnh rỗi, kể cả những kỳ nghỉ. Một cái lệnh là một cái lệnh và lệnh này đã ban bố từ năm 39. Ông tưởng tôi không có việc gì khác phải làm sao? Tôi còn công việc của tôi chứ.” Hóa ra gã là một tay chào hàng và cộng sự của gã cũng có khó khăn riêng, gã này đã phải bỏ một cửa hàng thợ may phát đạt ở miền Đông té sang đây tỵ nạn và giờ phải bắt đầu lại từ đầu. “Nhưng xong là xong; đêm nay, bọn tôi sẽ thi hành lệnh đó và thế là dứt điểm với quá khứ. May sao lại kịp chuyên tàu cuối!”
 
Vậy là hoàn toàn ngoài ý định của mình, tôi trở thành người lái chuyến xe điện cuối cùng chở hai tên đao phủ và một kẻ bị kết án tử hình đến Gerresheim. Khu chợ Gerresheim vắng tanh và nom hơi xệch xẹo. Đến đây, tôi rẽ phải, định đổ khách ở trạm cuối gần nhà máy thuỷ tinh rồi phóng trở về cùng Matzerath. Ba bến đỗ trước trạm cuối, Matzerath bước ra khoang lái và đặt chiếc cặp trong đó dựng đứng cái bình thờ xuống gần chỗ những người lái xe điện chuyên nghiệp vẫn để cà-mèn thức ăn trưa của họ.
 
“Chúng mình phải cứu anh ta. Đó là Victor, tội nghiệp Victor!” Matzerath có vẻ rất xúc động.
 
“Anh ta vẫn không kiếm được cặp kính vừa mắt. Anh ta cận thị ghê gớm, Chúng sẽ bắn anh ta và thậm chí đến lúc đó, anh ta vẫn sẽ nhìn trệch hướng.”
 
Tôi ngỡ bọn đao phủ không có súng. Nhưng Matzerath đã nhận thấy những cục gồ lên bên trong áo măng-tô của chúng.
 
“Dạo xưa anh ta là bưu tá phát ngân phiếu ở Sở Bưu Chính Ba Lan. Bây giờ anh ta vẫn làm công việc đó ở Sở Bưu Chính Liên Bang. Nhưng chúng săn lùng anh sau giờ làm việc. Chúng vẫn còn lệnh bắn anh ta.”
 
Mặc dù tôi không hiểu hoàn toàn những lời giải thích của Matzerath, tôi vẫn hứa sẽ cùng y dự cuộc hành quyết và nếu có thể, sẽ giúp y ngăn chặn điều đó.
 
Qua nhà máy thuỷ tinh, ngay trước khi tới những khu vườn đầu tiên - nếu có trăng, tôi có thể trông thấy vườn của mẹ tôi với cây táo - tôi hãm phanh và gọi to vào trong toa: “Trạm cuối! Tất cả xuống xe!” Và họ đi ra, mũ xanh băng đen. Một lần nữa Victor lại khốn khổ với cái bậc lên xuống. Rồi đến lượt Matzerath, nhưng trước khi xuống, y lôi cái trống từ bên trong áo măng-tô ra và nhờ tôi giữ gìn chiếc cặp đựng cái bình thờ hộ.

Chúng tôi đi theo những tên đao phủ và nạn nhân của chúng. Đèn trên xe điện vẫn sáng và ngoái lại, chúng tôi vẫn nhìn thấy nó ở đằng xa.
 
Chúng tôi đi men theo những hàng rào vườn. Tôi bắt đầu cảm thấy rất mệt. Khi ba người đi trước chúng tôi dừng lại, tôi thấy là khu vườn của mẹ tôi đã được chọn làm địa điểm hành quyết, cả hai chúng tôi phản đối. Không thèm để ý, chúng đạp đổ hàng rào gỗ, một nhiệm vụ chẳng mấy khó khăn vì bản thân nó cũng sắp tự đổ, và trói Victor vào cây táo ngay phía dưới cái chạc của tôi. Khi chúng tôi tiếp tục phản đối, họ soi đèn pin vào tờ lệnh hành quyết nhàu nát. Nó mang chữ ký của một thanh tra toà án quân sự tên là Zelewski với dòng ghi địa điểm, ngày tháng: Zoppot, ngày 5 tháng 10 năm 1939, nếu tôi nhớ đúng. Ngay cả con dấu cũng có vẻ hợp thức. Tình thế xem ra là tuyệt vọng. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn viện ra mọi lý lẽ: Liên Hợp Quốc, Dân Chủ, phạm tội tập thể, Adenauer, vàn vân. Nhưng một gã mũ xanh gạt phăng mọi ý kiến phản dối của chúng tôi, cho là không có cơ sở pháp lý bởi vì hoà ước chưa được ký, thậm chí chưa được thảo ra. “Tôi cũng bỏ phiếu cho Adenauer như các ông,” gã nói tiếp. “Nhưng lệnh hành quyết này vẫn còn hiệu lực, chúng tôi đã thỉnh thị các cấp cao nhất rồi. Chúng tôi chỉ thi hành bổn phận, và các ông cứ nên đi đường các ông là tốt nhất.
 
Chúng tôi không làm như thế. Khi hai tên mũ xanh lôi tiểu liên từ dưới áo măng-tô ra, Matzerath đặt trống vào tư thế sẵn sàng. Đúng lúc ấy, một vầng trăng đã gần tròn, chỉ hơi lẹm một tí, nhô ra khỏi đám mây. Và Matzerath bắt đầu đánh trống với tất cả nghị lực của tuyệt vọng.
 
Một tiết tấu kỳ lạ, vậy mà nghe ra lại quen thuộc. Liên tục bao lần, chữ O xòe nở: không, không, Polska [1] không mất. Nhưng đó là tiếng nói của Victor, anh ta biết lời bài trống của Matzerath:
 
Conam Obca przemocwziela
Szabla odbierzemy
Chừng nào chúng ta còn sống, Polska không thể chết.
 
Xem ra hai gã mũ xanh cũng biết tiết tấu này, dưới ánh trăng tôi có thể thấy chúng khiếp sợ đằng sau thanh sắt của chúng. Mà chúng sợ cũng là phải thôi. Vì bản hành khúc mà Matzerath và Victor tội nghiệp tấu lên trong khu vườn của mẹ tôi đã đánh thức đoàn kỵ binh Ba Lan sống dậy. Có thể là nhờ ánh trăng, hay có thể là cái trống, vầng trăng và cái giọng rè rè của Victor cận thị tội nghiệp, tất cả gộp lại,  đã làm ngàn vạn ky sĩ ấy trỗi lên từ đất: ngựa hí, vó nện như sấm rền, lỗ mũi phì khói, đinh thúc loẻng xoẻng, xung phong, xung phong!... Không, không hắn thế: không sấm rền, không loẻng xoẻng, không hí cũng không hô xung phong; lặng lẽ họ lướt đi trên những cánh đồng đã gặt bên ngoài Gerresheim, nhưng rõ ràng họ là kỵ đoàn Uhlan của Ba Lan vì những lả cờ hiệu tam giác cắm trên đầu ngọn giáo của họ là màu đỏ-trắng như cải trống của Matzerath; không, chữ cắm không chinh xác, chúng phất phới, chúng bồng bềnh trôi và quả thật cả đoàn kỵ binh đang trôi dưới trăng, có lẽ từ mặt trăng đến, trôi đi, ngoặt sang trái, về phía vườn nhà chúng tôi, dường như không phải bằng máu và da thịt, trôi như những đồ chơi mới lấy trong hộp ra, những bóng ma, có lẽ từa tựa như những tượng nút dây quái đản của người y tá trông coi Matzerath; đoàn kỵ binh Ba Lan bằng nút dây, vô thanh mà dậy sấm, không máu không da thịt mà vẫn Ba Lan, ầm ầm lao tới chúng tôi và chúng tôi nằm rạp xuống đất trong khi vầng trăng và các kỵ sĩ Ba Lan lướt trên chúng tôi và trên khu vườn của mẹ tôi và trên tất cả những khu vườn khác được chăm bón cẩn thận. .Nhưng họ không làm hại đến vườn cây. Họ chỉ mang theo Victor tội nghiệp và hai tên đao phủ và mất hút vào những cánh đồng rộng mở dưới trăng - mất ư, không, chưa mất, họ phóng về phía đông, về phía Ba lan bên kia mặt trăng.
 
Hổn hển, chúng tôi đợi cho đêm lắng xuống, cho bầu trời khép lại và cất di cái vầng sáng duy nhất có thể thuyết phục những kỵ sĩ đã chết từ lâu, thành bụi từ lâu ấy xông lên trong một đợt xung phong cuối cùng. Tôi là người đứng lên trước. Mặc dù tôi không hề đánh giá thấp ảnh hưởng của vầng trăng, tôi chúc mừng Matzerath về màn trình diễn xuất sắc của y; tôi gọi đó là một thắng lợi. Y phẩy tay gạt đi, vẻ mệt mỏi và chán chường: “Thắng lợi ư, Gottfried thân mến? Mình đã có quá nhiều thắng lợi, quá nhiều thành công trong đời rồi. Cái mình muốn bây giờ là không thành công lấy một lần, nhưng cái đó rất khó và đòi hỏi rất nhiều công sức làm việc.”

Cái bài diễn từ này không làm tôi vừa lòng vì tôi thuộc loại cần cù, siêng năng vậy mà chưa bao giờ đạt được chút thành công nhỏ nào chứ chưa nói gì đến thắng lợi. Tôi có cảm giác là Matzerath thiếu lòng biết ơn và tôi bảo y thế. “Cậu rất chi là hợm hĩnh đấy, Oskar ạ,” tôi đánh bạo nói - hồi ấy, chúng tôi đã xưng hô thân mật với nhau. “Tất cả các báo đều nói đến cậu. Cậu đã thành danh, chưa nói chi đến tiền bạc như nước. Nhưng có bao giờ cậu nghĩ rằng đối với mình, một thằng không báo nào thèm nhắc đến, sống bên cạnh một ngôi sao sáng chói như cậu là chẳng dễ dàng gì không? Ôi mình xiết bao khao khát làm được một cái gì lớn lao, duy nhất, ngoạn mục như điều cậu vừa làm, phải, tự làm một mình để được lên báo, được thấy in bằng chữ lớn: Đây là thành quả của Gottfried von Vittlar.”
 
Tôi cảm thấy bị xúc phạm khi Matzerath cười phá lên. Y nằm ngửa, nhấn cái bướu hõm sâu xuống đất tơi, hai tay bứt từng nắm cỏ rồi ném lên trên không và cười như một vị hung thần có thể làm bất cứ điều gì mình thích: “Không có gì đơn giản hơn, bạn ạ. Đây này, cầm lấy cái cặp này. May thay, kỵ doàn Ba Lan chưa xéo nát nó. Mình tặng cậu đấy; trong đó có một cái bình đựng một ngón tay. Cầm lấy. Chạy đến Gerresheim, chiếc xe điện vẫn còn đấy, đèn sáng như ban ngày. Nhảy lên và lái thẳng về Firstenwall, đem cái tặng phẩm của mình đến Sở Cảnh Sát, báo cáo về mình. Và ngày mai, cậu sẽ thấy tên cậu trên tất cả các báo.”
 
Thoạt đầu, tôi gạt phắt đề nghị của y. Tôi viện lý rằng y sẽ không thể sống nổi nếu thiếu cái bình đựng ngón tay ấy. Nhưng y trấn an tôi; y nói y ngấy cái vụ ngón tay này lắm rồi, vả lại y hãy còn mấy bản sao bằng thạch cao, thậm chí y đã đặt làm một phiên bản bằng vàng nữa. Vậy, y nói, xin cậu hãy quyết định đi: cầm lấy cái cặp, lên xe điện và lái về Sở Cảnh Sát.
 
Thế là tôi đi. Khá lâu, tôi còn nghe thấy Matzerath cười sau lưng tôi. Y ở lại đó, nằm ngửa ngắm trời đêm trong khi tôi leng keng lái về thành phố. Mãi đến sáng hôm sau, tôi mới tới trình cảnh sát, nhưng nhờ có Matzerath, tờ trình của tôi đã có tiếng vang rộng rãi và các báo đã nhiều lần nhắc đến tôi...
 
Trong khi đó, tôi, me-xừ Matzerath tốt bụng, nằm cười trong đám cỏ đêm bên ngoài Gerresheim. cười lăn cười lộn dưới cái nhìn của mấy vì sao rất chi là nghiêm nghị, cười đến nỗi cái bướu của tôi khoét sâu hoắm xuống nền đất ấm, và tôi tự nhủ: Ngủ đi, Oskar, ngủ đi một lúc trước khi cảnh sát đến đánh thức mày dậy. Mày sẽ chẳng bao giờ lại được nằm tự do như thế này dưới trăng nữa đâu.
 
Và khi tôi thức giấc, tôi nhận thấy - trước cả khi nhận thấy trời đã sáng bạch - là có một cái gì, một ai đó đang liếm mặt tôi: âm ấm, ram ráp nhưng không ráp lắm, và ươn ướt.
 
Có phải là cảnh sát được Vittlar đánh thức từ sớm và giờ đang liếm mặt đánh thức mày dậy? Dù sao đi nữa tôi cũng chả vội gì mở mắt, cứ để được liếm một lúc: âm ấm, ươn ướt, không ráp lắm, thật dễ chịu, chả cần biết ai đang liếm mình. Hoặc là cảnh sát hoặc là một chị bò cái, Oskar đoán. Đến lúc này, tôi mới mở cặp mắt xanh của mình ra.
 
Đốm đen và trắng, nó phà hơi và liếm, cho đến khi tôi mở mắt.Trời đã sáng bạch, từ quang đến vẩn mây. Và tôi tự nhủ: Oskar, đừng phí thì giờ với chị bò cái này cho dù đôi mắt chị ta nhìn mày có thần tiên đến mấy chăng nữa. Chớ có để cái lưỡi nham nháp của chị ta xoa dịu, vỗ về bằng cách khép trí nhớ của mày lại. Trời sáng rồi, ruồi đang vo ve, mày phải chuồn thôi. Vittlar đang đi trình báo mày, cho nên mày phải chạy trốn. Nó tố cáo ta thật thì ta cũng phải trốn thật. Mặc chị bò ở lại mà rống, chuồn đi thôi. Cách nào thì họ cũng bắt mày, nhưng mà việc quái gì mà lo.
 
Thế là sau khi được một chị bò cái liếm, rửa mặt và chải đầu, tôi chạy trốn. Sau mấy bước đầu của cuộc chạy trốn, tôi phá lên cười những chuỗi cười sớm mai tươi trong. Để cái trống lại với chị bò lúc này đã nằm ềnh ra mà kêu bò-ò-ò, tôi cười khanh khách bước vào cuộc đào tẩu.
 
[...]
______
Chú thích
[1] Nước Ba Lan.
 
...! Tràn đầy mà rỗng lặng
Biển vô lượng thủy triều
Đường về tâm hết động
Tuyệt chiêu là vô chiêu !...

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 21.07.2016 00:57:13 bởi tducchau>
[...]
 
 
NGÓN TAY ĐEO NHẪN
 
 
“Thế đấy,” Zeidler nói. “Vậy là các cậu quyết định thôi không làm việc nữa.” Điều làm ông rầu lòng là Klepp và Oskar cứ ngồi cả ngày chẳng làm gì trong phòng của Klepp hoặc của Oskar. Tôi đã trả tiền thuê tháng mười cho cả hai phòng bằng số còn lại từ khoản tiền ứng trước của Ts Dösch, nhưng tiền đồ tài chính cũng như các mặt khác cho tháng mười một xem ra thật ảm đạm.
 
Tuy nhiên, chúng tôi có ối nơi mời chào. Một số vũ trường và câu lạc bộ đêm muốn thuê chúng tôi. Nhưng Oskar chán ngấy chơi nhạc jazz rồi. Điều đó gây một sự căng thẳng trong quan hệ của tôi với Klepp. Klepp bảo phong cách mới của tôi chẳng có gì liên quan với jazz cả. Hắn nói đúng và tôi không phủ nhận. Hắn nói tôi không trung thành với lý tưởng nhạc jazz. Đầu tháng mười một, Klepp được một người chơi bộ gõ mới, một tay cừ là đằng khác, tên là Bobby ở tiệm Kỳ Lân, đồng thời nhận được một hợp đồng ỏ Khu Phố cổ. Sau đó, chúng tôi lại là bạn thân thiết mặc dầu bấy giờ Klepp đã bắt đầu nói theo luận điệu cộng sản, tuy thực bụng hắn có suy nghĩ thế không thì tôi chưa dám chắc.
 
Cuối cùng, tôi chỉ còn một cửa duy nhất là Ts Dösch. Dù có muốn, tôi cũng không thể quay về sống với Maria: Stenzel đang đâm đơn xin ly hôn với ý đồ biến Maria của tôi thành một bà Maria Stenzel. Thi thoảng tôi khắc một tấm bia cho Korneff hoặc tạt vào Trường Mỹ thuật để được bôi đen kịt hoặc trừu tượng hóa trên giấy hay trên toan. Khá nhiều lần tôi đến thăm Ulla, nhưng không nhằm ý đồ cụ thể gì; ít lâu sau khi chúng tôi từ Phòng tuyến Đại Tây Dương trở về, nàng đã buộc phải cắt đứt lời đính ước với Lankes vì y chẳng làm gì khác ngoài việc vẽ các nữ tu sĩ, thậm chí không còn muốn bợp tai Nàng Thơ Ulla nữa.
 
Tấm danh thiếp của Ts Dösch nằm với tiếng kêu gọi câm lặng của nó trên bàn tôi, bên cạnh cái bồn tắm. Một hôm, sau khi quyết định là không cần gi đến Ts Dösch nữa, tôi xé nó và vứt đi. Tôi kinh hoàng phát hiện ra rằng địa chỉ và số điện thoại trên tấm các ấy đã khắc sâu vào tri nhớ của minh từ lúc nào rồi. Tôi có thể đọc thuộc lòng chùng như đọc một bài thơ. Không những tôi có thể mà tôi còn đọc lên thật sự nữa. Cứ thế liền trong ba hôm. Ban đêm, cái số điện thoại làm tôi mất ngủ. Sáng hôm thứ tư, tôi đến trạm điện thoại gần nhất. Dösch nói như thể lúc nào cùng chờ tôi gọi đến và đề nghị tôi ghé qua trụ sở ngay chiều nay. ông muốn giới thiệu tôi với sếp. Thực tế, sếp đang muốn gặp tôi.
 
Hãng hòa nhạc “Phương Tây” đặt trụ sở trên tầng tám một tòa nhà công vụ mới xây. Sàn rải thảm đắt tiền, crôm bóng loáng khắp chỗ, hệ thống ánh sáng gián tiếp, cách âm, những cô thư ký chân dài thoăn thắt lướt qua tôi trong sột soạt áo váy lụa thoang thoảng mùi khói xì-gà của sếp. Chỉ thêm hai giây nữa, khéo tôi đến phải chuồn mất.
 
Ts Dösch dang rộng tay đón tôi; cũng may mà ông ta không thực sự ôm hôn tôi. Bên cạnh ông, một cô áo thun xanh đang đánh máy. Khi tôi bước vào, cái máy chữ ngừng nhưng gần như ngay lập tức, lại tăng tốc độ để bù lại thời gian đã mất. Dösch báo với sếp là tôi đã đến. Oskar ngồi lên phần sáu mép ngoài bên trái của một chiếc ghế bành lớn bọc da màu đỗ Ăng-lê. Một cái cửa xếp mở ra, cái máy chữ nín thở, một sức mạnh ẩn tàng xốc tôi đứng dậy, những cánh cửa đóng lại sau lưng tôi, một tấm thảm trôi qua căn phòng rộng sáng trưng, chở tôi về phía trước cho đến khi một cái mặt bàn gỗ sồi rộng mênh mông được đỡ bỏi những ống thép bảo tôi rằng: giờ đây Oskar đang đứng trước bàn giấy của sếp - không biết ông ta nặng mấy tạ? tôi tự hỏi. Tôi ngước cặp mắt xanh tìm sếp đằng sau cái mắt bàn gỗ sồi hoàn toàn trống trơn và thấy trong một chiếc ghế-xe lăn có thể nâng cao hạ thấp và ngả ra sau như một chiếc ghế nha sĩ, ông thày và bạn Bebra của tôi, liệt toàn thân, chỉ còn cặp mắt và những dầu ngón tay là, sống động.
 
Ôi, đội ơn Chúa, ông vẫn còn giọng! Và cái giọng ấy nói thế này: “Vậy là chúng ta lại gặp nhau, me-xừ Matzerath. Cách đây bao năm, khi chú còn thích đương đầu với thế giới từ cái tầm cao ba tuổi của chú, ta đã chẳng nói: những người như chúng ta không thể mất nhau, đó sao? Duy có điều ta rất lấy làm tiếc mà nhận thấy rằng chú đã thay đổi kích thước của mình một cách căn bản không hợp lý và bất lợi. Chẳng phải trước kia chú chỉ cao vừa vặn có chín mươi tư phân sao?”
 
Tôi gật đầu, nước mắt lưng tròng. Bức tường đằng sau ghế-xe lăn của thầy - chạy bằng một mô-tơ điện phát ra một tiếng ro ro nhỏ và rền - chỉ có độc một tấm hình: một ảnh chân dung bán thân bằng kích cỡ thật của Roswitha, nàng Raguna vĩ đại của tôi, trong một cái khung phong cách ba-rốc. Bebra không cần theo luồng mắt tôi cũng biết tôl đang nhìn gì. Môi ông, khi ông nói, vẫn gần như không động đậy: “À, phải, Roswitha của chúng ta! Không biết, nếu còn sống, nàng có thích anh chàng Oskar mới của chúng ta không nhỉ? Ta nghĩ là không nhiều lắm. Nàng yêu một Oskar khác kia, một Oskar ba tuổi má bầu bĩnh như một thiên thần mà sao nồng cháy ái ân đến thế! Nàng tôn thờ cậu ta - nàng luôn miệng nói với ta thế không biết chán. Nhưng rồi một hôm, cậu ta không chịu mang đến cho nàng một tách cà-phê; tự nàng phải đl lấy và thiệt mạng. Và nếu ta không nhầm thì đó không phải là tội sát nhân duy nhất mà cậu bé thiên thần Oskar của chúng ta gây ra. Chẳng phải là cậu ta đã đánh trống đưa mẹ tội nghiệp của mình xuống mồ sao, đúng thế không?”
 
Tôi gật đầu. Tôi ngước nhìn Roswitha, đội ơn Chúa, tôi có thể khóc. Bebra lấy đà cho cú đòn tiếp theo. “Và còn Jan Bronski, thư ký bưu chính, mà cậu bé Oskar ba tuổi ưa gọi là ông bố giả định? Oskar nộp ông cho bọn đao phủ bắn chết. Và bây giờ, me-xừ Oskar Matzerath, người đã cả gan thay hình đổi dạng, có lẽ bây giờ chú có thể nói cho ta hay ông bố giả định thứ hai của chú, Matzerath chủ hiệu tạp hóa, giờ ra sao rồi?”
 
Một lần nữa tôi nhận tội. Tôi thừa nhận rằng tôi đã giết Matzerath bởi vì tôi muốn rũ bỏ ông và kể cho quan tòa của tôi hay tôi đã làm ông nghẹt thở đến chết như thế nào. Tôi không trốn sau một khẩu tiểu liên Nga nữa, mà nói: “Chính là em, thưa thày Bebra. Em đã làm thế. Cả cái tội ác đó cũng do em, em không hề vô tội đối với cái chết đó. Xin hãy rủ lòng thương!”
 
Bebra cười, tôi không hiểu vì cái gì. Chiếc ghế đẩy của ông rung lên, một làn gió từ đâu thổi bù mái tóc quỷ lùn xoã trên hàng chục vạn nếp nhăn tạo thành gương mặt ông.
 
Một lần nữa tôi cầu xin lòng thương, nạp vào giọng mình một chất dịu ngọt mà tôi biết là hiệu nghiêm và phủ mặt bằng đôi bàn tay mà tôi biết là đẹp và dễ gây xúc động: “Hãy thương em, thày Bebra thân yêu! Xỉn hãy rủ lòng thương!”
 
Bebra, sau khi đã tự chỉ định là quan toà phán xử tôi và đã sắm vai một cách hoàn hảo, ấn một nút trên cái bảng điều khiển nhỏ mầu trắng ngà kẹp giữa hai tay và hai đầu gối ông.
 
Tấm thảm đằng sau tôi chở tới cô gái mặc áo thun xanh mang theo một cặp hồ sơ. Cô bày những giấy tờ đựng trong cặp hồ sơ lên mặt bàn gỗ sồi ngang tầm vai tôi, nghĩa là quá cao để tôi có thể nhìn thấy cụ thể những gì cô bày ra. Rồi cô đưa tôi một cái bút máy: tôi phải mua lòng từ bi của Bebra bằng chữ ký của tôi.
 
Tuy nhiên, tôi cũng đánh bạo hỏi vài câu. Tôi không thể cứ nhắm mắt mà ký.
 
“Tài liệu trước mặt chú,” Bebra nói, “là một bản hợp đồng làm việc chuyên môn. Phải ghi tên đầy đủ của chú. Chúng tôi cần biết mình giao dịch với ai. Họ và tên: Oskar Matzerath.”
 
Ngay sau khi tôi ký xong, tiếng ro ro của mô-tơ điện liền tăng cường độ. Tôi ngước mắt khỏi chiếc bút máy vừa kịp để nhìn thấy chiếc xe lăn chạy xuyên ngang phòng và biến mất qua một cửa trượt.
 
Quý vị độc giả có thể muốn tin rằng bản hợp đồng sao làm hai bản mang chữ ký của tôi là chứng chỉ bán linh hồn của tôi hoặc buộc tôi làm những tội ác gớm ghiếc. Với sự giúp đỡ của Ts Dösch, tôi chẳng mấy khó khăn để hiểu rằng tất cả những gì Oskar phải làm chỉ là xuất hiện một mình với cái trống trước công chúng và đánh trống như tôi đã đánh hồi lên ba và mới đây, một lần nữa, ở Hầm Hành của Schmuh. Văn phòng Hòa Nhạc “Phương Tây” đảm nhận tổ chức những chuyến đi lưu diễn của tôi và lo việc quảng cáo trước cho thích hợp.

Tôi nhận một khoản ứng thứ hai rất xôm để sống và chi dùng trong thời gian tiến hành chiến dịch quảng cáo. Thỉnh thoảng tôi ghé qua văn phòng cho nhà báo phỏng vấn và chụp ảnh. Ts Dösch và cô gái áo thun xanh rất ân cần, nhưng tôi không lần nào gặp lại Thày Bebra nữa.
 
Ngay cả trước chuyên lưu diễn đầu tiên, tôi đã đủ khả năng đê kiếm một chỗ ở tốt hơn. Nhưng tôi vẫn ở lại chỗ Zeidler vì Klepp. Klepp giận tôi về chuyện giao dịch làm ăn với “bọn tư bản”. Tôi cố hết sức xoa dịu hắn nhưng không nhượng bộ và thế là không còn những cuộc rong chơi vào Khu Phố Cổ uống bia, nhắm dồi tiết tươi với hành. Thay vào đó, để chuẩn bị cho cuộc sống nay đây mai đó, tôi tự đãi mình những bữa ăn tối sang trọng ở nhà hàng Ga.
 
Oskar không đủ chỗ để mô tả dài dòng về thành công của gã. Các áp-phích, bích trương quảng cáo, bơm tôi lên thành một người làm phép lạ, trị bệnh bằng lòng tin, thiếu chút nữa thì thành một Đấng Cứu Thế, tỏ ra hiệu quả khủng khiếp. Tôi khởi đầu ở các thành phố vùng Ruhr, trong những rạp từ nghìn rưởi đến hai nghìn chỗ ngồi. Đèn sân khấu tập trung rọi vào tôi trong bộ đồ xmôkinh, một mình trên nền màn nhung đen. Tôi chơi trống nhưng công chúng của tôi không phải lả những thanh niên mê nhạc jazz. Không, những người đổ xô đến nghe tôi là lớp người từ trung niên trở lên, bao gồm cả các cụ già lụ khụ. Thông điệp của tôi chủ yếu gửi đến những người cao tuổi và họ đáp lại. Họ không ngồi im lặng khi tôi đánh thức cái trống tuổi lên ba của tôi dậy. Họ xả hết niềm khoái thu của mình không phải bằng ngôn ngữ của tuổi họ mà bằng những bi ba bi bô của trẻ lên ba. “Rashu, Rashu!” họ líu lo vậy khi Oskar kể lại bằng trống một đoạn đời kỳ diệu của Rasputin kỳ diệu. Nhưng phần lớn các thính giả của tôi chưa thực sự tới tầm của Rasputin. Thành công lớn nhất của tôi đến từ những tiết mục gợi lại không phải những sự kiện đặc biệt mà là những giai đoạn của thời thơ ấu. Tôi đặt cho các tiết mục đó những cái tên như: Những cái răng đầu tiên của Bể, Cơn ho gà tệ hại, Bít tất ngứa, Nằm mê cháy nhà là tè dầm liền...
 
Những cải đó hấp dẫn người già. Họ bị cuốn hút hoàn toàn. Lợi họ nhức nhối vì cái răng đầu tiên nứt ra. Hai nghìn ông già bà già ho sù sụ khi trống tôi truyền nhiễm chứng ho gà. Tôi đi tất len cho họ và thế là họ gãi sồn sột. Biết bao ông già bà già đã làm ướt đồ lót của mình và cả nệm ghế mình đang ngồi khi tôi cho bọn trẻ con mê thấy cháy nhà. Một lần - tôi không nhớ chính xác là ở Wuppertal hay Bochum, không, đó là ở Recklinghausen - tôi đến với các thợ mỏ già. Buổi biểu diễn do nghiệp đoàn bảo trợ. Suốt đời họ, tôi nghĩ bụng, những người thợ mỏ già này đã lăn lộn với than đen; chắc chắn họ. có thể chịu đựng được một màu đen kinh dị. Thế là Oskar chơi bài Mụ phù thuỷ đen độc ác và kìa, một nghìn rưởi thợ mỏ già dày dạn đã từng trải qua mọi thử thách: xập hầm, khí nổ, ngập lò, đinh công, thất nghiệp, bỗng rú lên những tiếng thét rùng rợn nhất tôi từng nghe thấy. Những tiếng thét của họ - và đây là lý do khiến tôi kể lại chuyện này - phá tan nhiều ô kính cửa sổ được che rèm rất dày. Một cách gián tiếp, tôi tìm lại được cái giọng diệt thuỷ tinh của mình. Tuy nhiên, tôi rất ít dùng đến nó: tôi không muốn làm hỏng công việc của mình.
 
Phải, công việc đang phát đạt. Khi chuyến lưu diễn kết thúc và tôi tính toán với Ts Dösch, hóa ra cái trống thiếc của tôi là một mỏ vàng.
 
Tôi không hỏi đến ông thày Bebra và thậm chí đã từ bỏ mọi hy vọng gặp lại ông. Nhưng ít bữa sau, Ts Dösch báo cho tôi là Bebra đang đợi tôi.
 
Cuộc gặp gỡ thứ hai của tôi với ông thày hoàn toàn khác lần trước. Lần này, Oskar không phải đứng trước cái mặt bàn gỗ sồi. Thay vì, tôi ngồi trong một chiếc xe lăn chạy bằng mô-tơ điện được đặt theo kích cỡ của Oskar. Ts Dösch đã thu băng những tường thuật, bình luận của báo chí về chuyến lưu diễn của tôi và mở máy cho Bebra và tôi cùng nghe. Bebra có vẻ hài lòng. Riêng tôi, những lời tâng bốc của báo chí làm tôi bối rối. Họ dựng tôi thành thần tượng, Oskar cùng cái trống của gã đã trở thành người chữa trị cho cả thể xác lẫn tâm hồn. Và điều chúng tôi chữa giỏi nhất là bệnh mất trí nhớ. Thuật ngữ “chủ nghĩa Oskar” xuất hiện lần đầu tiên và, tôi lấy làm tiếc mà thưa, còn trở đi trở lại nhiều lần nữa.
 
Sau đó, cô áo thun xanh mang trà đến cho tôi và đặt hai viên thuốc lên lưỡi ông thày tôi. Chúng tôi trò chuyện, ông thôi không đóng vai người buộc tội tôi nữa. Lại như bao năm trước ở tiệm cà-phê Bốn Mùa, chỉ khác cái là thiếu signora Roswitha của chúng tôi. Khi tôi không thể không nhận ra là Thày Bebra đã ngủ giữa chừng một câu chuyện dài về quá khứ của tôi, tôi bèn bỏ ra mươi mười lăm phút chơi với chiếc xe lăn của mình, vặn mô-tơ chạy ro ro, băng qua sàn, lượn trái lượn phải. Tôi phải khó khăn mới rời bỏ được cái đồ vật đặc sắc này, những khả năng vô tận của nó đem lại cơ hội cho một tật xấu vô hại.
 
Chuyến lưu diễn thứ hai của tôi rơi vào mùa Vọng trước Giáng Sinh. Tôi dựa theo đó lập chương trình cho phù hợp và được báo chí tôn giáo, Thiên Chúa cũng như Tin Lành, ca ngợi hết lời. Quả vậy, tôi đã biến dược những kẻ lầm lỗi thâm căn cố đế thành một bày trẻ hát những bài thánh ca Giáng Sinh bằng một giọng xúc động, đầy nước mắt. “Jêxu, con sống vì Người; Jêxu, con chết vì Người,” lời hát cất lên từ hai nghìn rưởi tâm hồn già nua mà không ai ngờ còn có được những biểu hiện ngây thơ con trẻ hoặc nhiệt thành tôn giáo như vậy.
 
Chuyến lưu diễn thứ ba của tôi trùng với dịp lễ hội hóa trang và một lần nữa tôi lại chỉnh đốn chương trình. Không một lễ hội hóa trang gọi là cho “trẻ con” nào có thể vui nhộn hơn, ngộ nghĩnh vô tư hơn những buổi tối trong đó các cụ bà run rẩy biến thành những Carmen và những thiếu nữ da dô, trong khi các cụ ông hai tay vẩy súng đòm-đòm, dẫn đầu toán cướp của mình xung trận.
 
Sau lễ hội hóa trang, tôi ký một hợp đồng với một công ty sản xuất đĩa hát. Việc thu thanh được làm trong những phòng cách âm. Không khí vô trùng ở đó mới đầu có làm tôi cảm thấy gò bó, nhưng rồi tôi đề nghị treo lên tường những bức ảnh khổ rất lớn chụp những ông già bà già như ta thường thấy ở các nhà dưỡng lão và trên ghế đá công viên. Bằng cách tập trung chú ý vào những tấm hình đó, tôi có thể đánh trống với niềm xác tín như trong những phòng hoà nhạc đầy hơi ấm tình người.
 
Đĩa bán chạy như tôm tươi. Oskar trở nên giàu có. Điều đó có khiến tôi từ bỏ căn phòng tồi tàn vốn xưa là buồng tắm trong căn hộ Zeidler không? Không. Tại sao? Vì Klepp bạn tôi và cũng vì căn phòng trống không đằng sau cánh cửa lắp kính mờ, nơi Xơ Dorothea đã từng sống từng thở. Oskar làm gì với cả đống tiền của mình? Gã đưa ra một đề nghị với Maria, Maria của gã.
 
Đây là điều tôi nói với Maria: Nếu em cho Stenzel về vườn, nếu em không những quên chuyện định lấy lão làm chồng mà còn dứt khoát tống khứ lão ra khỏi cửa, tôi sẽ mua cho em một cửa hàng đặc sản với thiết bị hiện đại. Bỗi vì xét cho cùng, Maria thân yêu, em sinh ra để làm ăn buôn bán chứ đâu phải dành cho bất kỳ một lão Stenzel vô tích sự não.
 
Tôi đã không lầm về Maria. Nàng bỏ Stenzel và với sự tài trợ của tôi, dựng một cửa hàng đặc sản hạng nhất ở phố Friedrich. Công việc làm ăn phạt đạt và ba năm sau, tức là tuần trước - như Maria hớn hở, và không quên tỏ lòng biết ơn, thông báo với tôi hôm qua - nàng đã mở thêm một chi nhánh ở Ober-Kassel.
 
Đó là vào lúc tôi trở về từ chuyến lưu diễn thứ bảy hay thứ tám nhỉ? Tôi chỉ nhớ chắc đó là tháng bảy, trời rất nóng. Từ Ga Trung Tâm, sau khi thoát khỏi vòng vây các ông bà già săn chữ ký, tôi nhảy lên một cái tắc-xi về thẳng văn phòng hoà nhạc và lúc xuống xe, lại rơi vào vòng vây của một số người săn chữ ký khác - những ông bà lẽ ra nên ở nhà trông cháu. Tôi nhờ báo sếp là tôi đã đến. Những cánh cửa gấp mở ra, tấm thảm vẫn đưa tôi đến trước cái bàn rộng mênh mông, nhưng đằng sau bàn, không có Bebra cũng chẳng có xe lăn nào đợi tôi. Chỉ có nụ cười của Ts Dösch.
 
Bebra chết rồi. ông chết từ mấy tuần trước ông không muốn bọn họ cho tôi biết bệnh tình của ông. Ông đã dặn: không được để bất cứ điều gì, kể cả cái chết của ông, làm ngáng trở chuyến lưu diễn của Oskar. Lát sau, người ta đọc di chúc: phần thừa kế của tôi gồm một khoản tiền khá lớn và bức ảnh chân dung Roswitha treo trên bàn giấy của ông. Đồng thời, tôi cũng bị một tổn thất tài chinh nặng: vì không còn bụng dạ nào mà biểu diễn, tôi huỷ bỏ không báo trước hai chuyến đi - miền Nam nước Đức và Thụy Sĩ - do vậy bị kiện về tội vi phạm hợp đồng.
 
Tôi không chỉ tổn thất về tài chính. Cái chết của Bebra là một đòn nặng đối với tôi. Tôi không thể hồi phục lại trong một sớm một chiều. Tôi cất trống vào tủ khoá chặt lại và nằm lì không ra khỏi phòng. Tệ hơn nữa, anh bạn Klepp của tôi lại chọn đúng thời điểm này để cưới vợ; hắn chọn một cô gái tóc đỏ bán thuốc lá làm bạn đời chỉ vì đã có lần hắn tặng cô ta một tấm ảnh của mình. ít ngày trước lễ thành hôn (mà tôi không được mời đến), hắn trả lại căn phòng và dọn đến Stockum. Oskar trơ thành khách trọ duy nhất của Zeidler.
 
Quan hệ của tôi với Con Nhím đã thay đổi. Giờ đây khi báo chí đăng tên tôi bằng những hàng chữ lớn, ông đối xử với tôi trân trọng. Đổi lại một số tiền lẻ, ông còn cho tôi chỉa khóa căn phòng cũ của Xơ Dorothea mà ít lâu sau đó, tôi thuê luôn để ngăn bất kỳ ai khác làm điều đó.
 
Vậy là nỗi buồn của tôi đã có lộ trình riêng. Tôi mở cửa cả hai phòng, lê thân xác mình từ cái phòng-bồn tắm ra ngoài, đi xuôi tấm thảm xơ dừa đến phòng Dorothea, ngó vào cái tủ quần áo trống không, để cho tấm gương trên bồn rửa mặt nhái mình, tuyệt vọng nhìn cái giường thô không chăn không nệm, rút lui ra hành lang và chạy trốn về phòng mình. Nhưng cả ở đó cũng cô quạnh không chịu nổi.
 
Hẳn là nhắm vào nhu cầu của những người cô độc, một người Đông Phổ bỏ lãnh địa của mình ở miền Masuria tới đây tỵ nạn, một người có đầu óc kinh doanh dám nghĩ dám làm, đã mở một cửa hàng chuyên cho thuê chó cách phố Julicher không xa.
 
Tôi thuê Lux ở dấy, một con chó thuộc giống rottweiler lông đen bóng, lực lưỡng, hơi béo một chút. Tôi bắt đầu làm những cuộc đi dạo với Lux, coi đó là phương án thay thế duy nhất cho lộ trình chạy qua chạy lại giữa cái bồn tắm của tôi và tủ quần áo trống không của Xơ Dorothea.
 
Lux thường dẫn tôi đến bên bờ sông Rhine, sủa tàu thuyền qua lại. Nó cũng hay dẫn tôi đến Rath, đến rừng Grafenberg, sủa các cặp tình nhân. Cuối tháng 7 năm 1951, nó dẫn tôi đến Gerresheim, một khu ngoại ô đã nhanh chóng mất đi tính cách thôn đã của nó nhờ sự hiện diện của một số xí nghiệp trong đó có một nhà máy thuỷ tinh lớn. Qua khỏi Gerresheim, con đường lượn giữa những vườn rau có hàng rào ngăn cách với những đồng cỏ và đồng lúa (hình như là lúa mạch đen) bên ngoài.
 
Hình như tôi đã nói là vào cái hôm Lux đưa tôi đến Gerresheim và qua Gerresheim, vào giữa những vườn rau và đồng lúa, trời rất nóng, phải không nhỉ? Khi những ngôi nhà cuối cùng của khu ngoại ô đã ở đằng sau chúng tôi, tôi cởi xích cho Lux chạy rông. Tuy nhiên, nó vẫn bám gót tôi; nó là một con chó trung thành, một con chó trung thành khác thường bởi xét theo tiêu chuẩn chó thuê, nó phải trung thành với nhiều chủ khác nhau.
 
Nói cách, khác, nó quá ngoan ngoan đối với sở thích của tôi, tôi những muốn thấy nó chạy nhông và thậm chí tôi còn đá nó để xua nó đi. Nhưng khi nó chạy đi, rõ ràng là nó cảm thấy lương tâm cắn rứt. Và nó bèn quay lại, rũ cái đầu đen bóng và ngước nhìn tôi bằng cặp mắt chó trung thành đã đi vào phong dao tục ngữ.
“Chạy đi, Lux,” tôi ra lệnh. “Nhổng đi!”
 
Lux tuân lệnh mấy lần nhưng lần nào cũng chỉ được một thoáng ngắn ngủi đến nỗi cuối cùng, tôi thấy khoan khoái khi thấy nó biến vào cánh đồng lúa mạch đen và ở lì trong đó. Chắc Lux đuổi theo một con thỏ, tôi nghĩ. Hoặc giả có thể đơn giản là nó cảm thấy cần được một mình, được là một con chó, cũng như Oskar đây đang muốn là một con người không có chó nào ở bên, dù chỉ là trong chốc lát.
 
Tôi chẳng để ỳ gì đến xung quanh, cả những vườn rau, cả Gerresheim cũng như cái thành phố đồng bằng đằng sau màn sương mù đều không thu hút mắt tôi. Tôi ngồi xuống một cái trụ gang gỉ từng dùng để quấn dây cáp- từ đây trở đi, tôi sẽ gọi nó là trống cáp; bởi vì vừa ngồi một cái, Oskar đã lấy đốt ngón tay gõ lên trống cáp. Trời nóng thiêu. Bộ com-lê của tôi quá ngốt đối với thời tiết như thế này. Lux đã chạy đi và chưa quay trở lại. Dĩ nhiên, không một thứ trống cáp gang nào có thể thay thế cái trống thiếc nhỏ của tôi, nhưng mặc dù thế, tôi vẫn dần dà trôi ngược về quá khứ. Khi tôi mắc kẹt, có nghĩa khi nihững hình ảnh của mấy năm gần đây, đây những bệnh viện và nữ y tá, cứ một mực trở đi trở lại, tôi liền nhặt hai nhành cây khô và tự nhủ: Hãy chờ một phút, Oskar. Thử xem mày là ai và mày từ đâu tới nào. Và đây, chúng hừng lên, hai cái bóng điện sáu mươi oát lúc tôi ra đời. Giữa hai bóng đèn, chú bướm đêm đánh trống. Đằng xa, cơn giông xê dịch đồ đạc. Tôi nghe thấy Matzerath nói rồi một lát sau, tiếng mẹ tôi. Matzerath hứa cho tôi một cửa hàng, mẹ tôi thì hứa cho đồ chơi; khi nào lên ba, tôi sẽ được một cái trống và thế là Oskar cố làm sao cho ba năm trôi qua thật nhanh. Tôi ăn uống, ỉa đái, lên cân, để cho mọi người bế ẵm, cân kẹo, quấn tã, tắm rửa kỳ cọ, xoa phấn, tiêm chủng và trầm trồ ngắm nghía. Tôi để họ gọi mình bằng tên, cười mỉm theo yêu cầu, cười thành tiếng khi cần thiết, đi ngủ và thức đậy đúng giờ giấc, và khi ngủ phô bộ mặt mà người lớn gọi là mặt thiên thần. Tôi bị đi ỉa chảy mấy lần, cảm lạnh mấy lần, mắc chứng ho gà khá lâu bởi tôi níu giữ nó và chỉ rời ra khi đã nắm vững cái tiết tấu rất khó của nó, tích nhập nó mãi mãi vào trong cổ tay vì, như quý vị biết đấy, “Ho gà” là một cái đinh trong bảng tiết mục của tôi và khi Oskar trình diễn “Ho gà” trước một cử tọa hai nghìn người, thì cả hai nghìn ông bà già đều đồng loạt ho khan hàng tràng không dứt.
 
Lux ư ử dưới chân tôi, cọ mình vào đầu gối tôi. Ôi, cáì con chó thuê mà tôi đã thuê để đánh lừa nỗi cô đơn của mình! Nó đứng đó, bốn chân, vẫy đuôi, dứt khoát là chó, với cái nhìn chó và ngậm một cái gì đó nơi mõm đầy nhớt đãi: một cái que, một hòn đá hay bất kỳ cái gì có thể là hay ho đối với một con chó.
 
Thời thơ ấu của tôi, thời thơ ấu mang nặng ý nghĩa đối với tôi, từ từ truội đi. Cảm giác đau nhức trong lợi, báo hiệu những cái răng đầu tiên, tan dần. Mệt mỏi, tôi ngả người ra sau; một người trưởng thành, lưng gù, ăn mặc kiểu cách tuy hơi quá ấm, có đồng hồ đeo tay, giấy tờ căn cước và một sấp giấy bạc trong ví. Tôi cắm một điếu thuốc vào giữa đôi môi, đưa một que diêm lên châm lửa và giao phó cho thuốc lá nhiệm vụ xua khỏi miệng cái vị đầy ám ảnh của tuổi thơ.
 
Còn Lux thì sao? Lux lại cọ mình vào tôi. Tôi đẩy nó ra và thổi khói thuốc lá vào mặt nó. Nó không thích thế nhưng vần đứng nguyên chỗ, tiếp tục cọ vào tôi. Nó liếm tôi bằng mắt. Tôi dõi nhìn những hàng dây điện tín gần đấy tìm chim sẻ mà tôi coi là phương thuốc chống những con chó quấy rầy. Nhưng không có con sẻ nào và Lux không chịu rời. Nó giũi mõm vào giữa hai ống quần tôi, tìm đúng chỗ ấy, chính xác như thể tay chủ người Đông Phổ đã huấn luyện đặc biệt cho nó cái ngón ấy.
 
Tôi giáng cho nó hai cú gót giày. Nó lùi ra khoảng một mét và run rẩy đứng bốn chân đó, nhưng vẫn tiếp tục vươn về phía tôi cái mõm với chiếc que hay hòn đá gì đó, một cách khăng khăng như thể cái nó đang ngậm trong miệng không phải là cải que hay hòn đá, mà là cái ví (nó vẫn cồm cộm trong túi vét- tông của tôi) hay cái đồng hồ (vẫn đang tích tắc ở cổ tay tôi đây).
 
Vậy thì nó đang giữ cái gì? Cái gì quan trọng đến thế khiến nó nhất thiết phải trình cho tôi xem?
 
Tôi moi giữa hai hàm răng âm ấm của nó và tôi đã có vật đó trong tay. Tôi biết mình đang cầm cái gì nhưng vờ làm vẻ bối rối như thể đang tìm chữ để gọi tên cái vật mà Lux đã mang từ ruộng lúa mạch về cho tôi.
 
Có nhưng bộ phận cơ thể con người mà ta có thể xem xét dễ dàng hơn, chính xác hơn khi nó được tách rời khỏi trung tâm. Đó là một ngón tay. Một ngón tay phụ nữ. Một ngón tay đeo nhẫn. Một ngón tay đeo nhẫn của phụ nữ. Một ngón tay phụ nữ có đeo một chiếc nhẫn đẹp. Ngón tay đã bị chặt ở gĩưa xương khu bàn tay và khớp ngón thứ nhất, độ gần hai phân dưới chiếc nhẫn, vết chặt gọn ghẽ, lộ rõ gân của cơ duỗi.
 
Đó là một ngón tay đẹp, linh hoạt. Mặt đá trên chiếc nhẫn được gắn chắc bằng sáu cái móng vàng. Tôi lập tức nhận ra đó là loại lục ngọc (điều này về sau được xác nhận là đúng). Mặc dầu dưới đầu móng tay có vệt đất bẩn, như tuồng ngón tay buộc phải cào hoặc xục vào đất, móng tay có vẻ như được sửa tỉa, chăm chút rất cẩn thận. Gìơ đây, khi được lấy ra khỏi cái mõm ấm của Lux, ngón tay trở nên lạnh toát. Và cái sắc tai tái vàng bệch của nó càng tăng thêm cảm giác lạnh.
 
Trong nhiều tháng, Oskar mang trong túi ngực một chiếc mù- soa lụa. Gã đặt ngón tay đeo nhẫn lên vuông lụa ấy và nhận xét thấy mặt trong ngón tay từ dưới lên khớp thứ ba, có những đường chứng tỏ đây đã từng là một ngón tay lao động cần cù với một ý thức kiên định về bổn phận.
 
Sau khi gói ngón tay vào chiếc mù-soa, tôi đứng dậy khỏi chiếc trống cáp, vuốt nựng cổ Lux và lên đường về nhà, tay phải cầm chiếc mù-soa bọc ngón tay, dự định làm điều gì đó với vật vừa bắt được. Tôi đi tới hàng rào một khu vườn gần đấy. Đó chính là lúc Vittlar cất tiếng nói với tôi: nằm trên một chạc cây táo, từ nãy hắn đã quan sát tôi và con chó.
 
 
[...]
 
...! Tràn đầy mà rỗng lặng
Biển vô lượng thủy triều
Đường về tâm hết động
Tuyệt chiêu là vô chiêu !...

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 22.07.2016 05:23:47 bởi tducchau>
[...]
 
 
TRÊN PHÒNG TUYẾN ĐẠI TÂY DƯƠNG
 
 
Với pha vừa kể, thực tình tôi chỉ muốn giúp ông thôi. Nhưng Schmuh, chủ nhân và linh hồn của Hầm Hành, không thể tha thứ cho tôi về cái khúc độc tấu trống đã biến những khách xộp của ông thành một lũ trẻ bi bô, vui nhộn, tè ra quần rồi khóc vì tự làm ướt quần, tất cả không cần đến hành.
 
Oskar cố thông cảm với ông. Làm sao ông có thể không sợ sự cạnh tranh của tôi khi mà khách hàng của ông bắt dầu gạt sang bên những củ hành truyền thống để hò Oskar, hò cái trống của Oskar vì tôi có thể dùng trống làm sống lại thời thơ ấu của từng người trong bọn họ, bất kể già yếu đến đâu?
 
Trước đó, Schmuh mới chỉ đuổi các nữ nhân viên coi phòng vệ sinh. Giờ thì đến lượt toàn bộ ban nhạc Bộ Ba Sông Rhine. Thay thế bọn tôi, ông thuê một tay vĩ cầm đi rong mà nếu dễ đãi một chút, người ta có thể coi như một gã Di-gan.
 
Nhưng khi, do việc đuổi chúng tôi, nhiều người trong số những khách hàng trung thành nhất dọa bỏ hẳn Hẩm Hành, Schmuh phải chấp nhận một thoả hiệp: tay vĩ cầm chơi mỗi tuần ba lần, còn chúng tôi mỗi tuần có ba buổi biểu diễn với giá được nâng lên theoo yêu cầu của bọn tôi: hai mươi DM một đêm. Ngoài ra còn có những khoản “puốc-boa” hậu hĩnh. Oskar bắt đầu có một sổ Tiết Kiệm và vui thích thấy tiền lãi tăng lên.
 
Cuốn số tiết kiệm ấy giúp tôi ra khỏi cảnh túng thiếu rất đúng lúc vì sau đó, Tử Thần đến cướp đi ông Ferdinand Schmuh của chúng tôi, có nghĩa là cả việc làm và thu nhập của chúng tôi luôn.
 
Tôi đã kể là Schmuh thường đi bắn chim sẻ. Đôi khi ông đưa bọn tôi đi cùng trong chiếc Mercedes cho chúng tôi xem ông bắn. Mặc dầu thỉnh thoảng có mâu thuẫn do cái trống của tôi liên can cả đến Klepp và Scholle vì họ đứng về phe tôi, quan hệ giữa Schmuh và các nhạc công của ông vẫn là hữu hảo cho đến khi, như tôi đã thông báo, cái chết xen vào giữa chúng tôi.
 
Chúng tôi lên xe. Như thường lệ, bà vợ của Schmuh lái. Klepp ngồi cạnh bà, Schmuh ngồi giữa Oskar và Scholle, đặt cây súng ngang đùi, thi thoảng lại ve vuốt nó. Chúng tôi dừng lại ngay trước khi đến Kaiserswerth. Những hàng cây hai bên bờ sông Rhine: cảnh trí đã sẵn. Vợ Schmuh ngồi lại trong xe, giở một tờ báo ra đọc. Klepp đã mua sẵn ít nho khô, nhai tóp ta tóp tép rất đều đặn. Scholle, vốn trước khi thành nhạc công ghi-ta đã từng là sinh viên khoa gì gì đó, nhớ được bài thơ nào về sông Rhine là đem ra ngâm ráo. Quả thực con sông cũng đang kỳ thơ mộng: ngoài những con thuyền như thường thấy, những vòm lá ven bờ xoã tóc dập dềnh về phía Duisburg và quên bẵng lịch mùa vẫn dang hè đã sớm ngả màu thu. Nếu thi thoảng cây súng của Schmuh không lên tiếng, buổi chiều này ở mé dưới Kaiserwerth có thể gọi là êm ả thanh bình.
 
Khi Klepp ăn hết chỗ nho khô và chùi tay vào cỏ, Schmuh cũng bắn xong. Bên cạnh mười một nắm lông đang lạnh dần, ông đặt nắm thứ mười hai - hãy còn phập phồng, như ông nhận xét. Nhà thiện xạ đã bắt đầu bọc gói những con mồi lại - không hiểu vì lý do bí hiểm gì, bao giờ Schmuh cũng mang chúng về nhà - thì một con chim sẻ đậu xuống một gốc cây bị sóng đánh giạt vào bờ cách chỗ chúng tôi không xa. Con chim lông xám này nom rất nghênh ngáo, rõ ra là một bản mẫu tiêu biểu của loài sẻ, đến nỗi Schmuh không thể đừng được: xưa nay không bao giờ bắn quá mười hai con sẻ trong một buổi chiều, giờ đây ông giường súng bắn con thứ mười ba- đáng lẽ ông không nên làm thế.
 
Sau khi ông đặt con thứ mười ba cạnh mười hai con trước, chúng tôi quay về chiếc Mercedes đen và thấy bà Schmuh đã ngủ. Scholle và Klepp lên ghế sau. Tôi đã sắp ngồi vào cùng họ nhưng lại thôi. Tôi đang muốn đi dạo một tí, tôi nói. Tôi sẽ đáp xe điện, khỏi cần lo cho tôi. Và thế là họ phóng xe đi, Oskar không đi cùng họ hoá ra là khôn.
 
Tôi chậm rãi bước. Tôi không phải đi xa. Có một quãng đường vòng đang sửa. Cạnh đó là một hố sỏi thấp hơn mặt đường độ bảy mét. Và dưới đáy hố sỏi, chiếc Mercedes đen nằm chổng bốn bánh lên trời.
 
Mấy người thợ làm việc ở hố sỏi đã lôi ba người bị thương và xác Schmuh ra khỏi xe. Xe cấp cứu đang trên đường tới. Tôi tụt xuống hố săn sóc những người bị thương một lát, loáng một cái giày tôi đã đầy sỏi. Mặc dầu đang đau, họ vẫn hỏi dồn tôi, nhưng tôi không nói cho họ biết là Schmuh đã chết. Cứng đơ và như thể ngỡ ngàng, ông trân trân nhìn bầu trời gần như phủ đầy mây. Tờ báo gói mẻ săn đã văng ra khỏi xe. Tôi đếm được mười hai con sẻ, nhưng không tìm thấy con thứ mười ba. Tôi vẫn còn đang tìm nó khi chiếc xe cấp cứu lựa đường xuống hố sỏi.
 
Tình trạng bà Schmuh, Klepp và Scholle không có gì nghiêm trọng lắm: những vết bầm, mấy cái xương sườn gãy. Khi tôi vào bệnh viện thăm Klepp và hỏi hắn do đâu mà xảy ra tai nạn, hắn kể cho tôi nghe một câu chuyện kỳ lạ: Khi xe đi ngang hố sỏi, rất chậm vì đường xấu, thì hàng trăm, có khi là hàng nghìn, con sẻ từ các hàng rào, bụi rậm và vườn cây ăn quả ào ra phủ một bóng lớn mênh mông lên chiếc Mercedes, đâm sầm vào kính đằng trước và làm bà Schmuh hoảng hồn. Chỉ bằng sức mạnh của mình, chim sẻ đã gây ra tai nạn và cái chết của Schmuh.
 
Tùy quý vị muốn nghĩ thế nào về câu chuyện của Klepp thì nghĩ. Riêng Oskar thì không tin lắm, nhất là khi đưa đám Schmuh ở Nghĩa trang phía Nam, gã chẳng thấy có nhiều chim sẻ hơn hồi gã tới đây dựng bia mộ mấy năm trước. Khi tôi cùng với những người đưa đám đi theo linh cữu, đầu đội chiếc mũ cao thành thuê, tôi thoáng thấy Korneff ở Khu Chín đang dựng một tấm bia đi-o-rit cho một mộ đôi cùng với một người giúp việc mà tôi không biết. Khi linh cữu Schmuh qua chỗ Korneff trên đường tới Khu Mười mói được quy hoạch, ông thợ làm bia mộ ngả mũ theo đúng quy định của Nghĩa trang, có lẽ vì cái mũ cao thành, ông không nhận ra tôi; nhưng thấy ông xoa xoa gáy, tôi chắc là mấy cái nhọt đang chín hoặc đã chín nẫu.
 
Ôi, những đám ma! Tôi đã buộc phải đưa quý vị đến biết bao nghĩa trang! ở một đoạn nào đó, thậm chí tôi đã nói: những đám ma nhắc ta nhớ đến những đám ma khác. Thôi được, tôi sẽ không kể dài dòng về đám tang Schmuh cũng như về những suy tư hồi cố của Oskar lúc đó. Chỉ cần nói rằng đó là một đám tang bình thường, đàng hoàng và không có gì bất thường xảy ra. Điều duy nhất thực sự cần phải kể là sau khi chôn Schmuh xong - bà vợ goá đang nằm bệnh viện, nếu không, chắc cũng còn thêm chút ít nghi thức nữa - một ông tiến đến bên tôi và tự xưng là Tiến sĩ Dösch.
 
Ông Tiến sĩ Dösch này điều hành một hãng hoà nhạc nhưng không phải là chủ hãng, ông là một khách hàng thường xuyên của Hầm Hành, ông nói với tôi. Tuy tôi không bao giờ để ý đến ông, nhưng ông đã có mặt hôm tôi biến toàn thể khách hàng của Schmuh thành một bày trẻ bi ba bi bô hạnh phúc. Thực tế, bản thân Dösch, như ông tâm sự với tôi, cũng đã gặp lại niềm hạnh phục trẻ thơ dưới ảnh hưởng tiếng trống của tôi và ông đã quyết chí làm một cú lớn với cái mà ông gọi là “ngón nghề búa bổ” của tôi. ông đã được phép đề xuất với tôi một hợp đồng “búa bổ”; tại sao tôi không ký ngay tại chỗ? Bên ngoài lò hoá thân hoàn vũ nơi Leo Schugger đeo găng trắng (ở Düssendorf, anh ta mang tên Wilhem-Nhớt-Dãi) đang đợi những người đi đưa đám, Ts Dösch rút ra một tờ giấy ghi rõ là, đổi lại những khoản chi trả kếch sù, người ký tên dưới văn bản, sau đây gọi là “Oskar Trống”, cam đoan sẽ biểu diễn độc tấu tại những nhà hát lớn trước những cử tọa từ hai đến ba nghìn người. Dösch vô cùng thất vọng khi tôi nói là không thể ký ngay lập tức. Lý do tôi viện ra là cái chết của Schmuh. ông Schmuh, tôi nói, rất gản gũi thân thiết với tôi, tôi không thể ngay lập tức nhận làm việc với một người khác khi ông vừa nằm xuống mồ, xác chưa kịp lạnh, tôi cần có thòi gian để suy nghĩ, có thể tôi sẽ làm một chuyến đi ngắn đâu đó. Khi nào trở về, tôi sẽ tìm Ts Dösch và lúc đó có thể tôi sẽ ký cái tờ giấy mà ông gọi là hợp đồng đó.
 
Tuy nhiên, mặc dù không ký hợp đồng ngay tại nghĩa trang, tình hình tài chính của Oskar vẫn buộc gã phải nhận một khoản ứng trước mà Ts Dösch bỏ vào một. chiếc phong bì kèm theo tấm danh thiếp và kin đáo đưa cho tôi bên ngoài nghĩa trang, nơi ông đậu xe.
 
Và tôi chuẩn bị chuyến đi thật, thậm chí tôi còn tìm được một công ty du lịch nữa. Thực tình, tôi những muốn có Klepp cùng đi, nhưng Klepp đang nằm nhà thương, thậm chí không cười được với bốn cái xương sườn gãy. Tôi cũng muốn rủ Maria đi cùng, nhưng đang kỳ nghĩ hè, nàng sẽ phải mang theo cả bé Kurt. Vả lại, nàng còn đang cặp với lão chủ Stenzel, mà ít lâu nay Kurt đã gọi là bà Stenzel.
 
Cuối cùng, tôi đi với Lankes. Quý vị hắn còn nhớ y với tư cách là trung sĩ Lankes và đôi ba lần là vị hôn phu của Nàng Thơ Illla. Khi, với số tiền ứng trước và cuốn sổ tiết kiệm đút túi, tôi đến xưởng họa của anh ta ở phố Sittarder, tôi hy vọng sẽ gặp Ulla, bạn cùng ngồi mầu với tôi dạo trước; tôi nghĩ có thể mời nàng đi cùng.

Ulla có ở đó. Ngay từ cửa, nàng đã thông báo: bọn em vừa đính hôn. Được hai tuần rồi. Chuyện với Hänschen Krages không ổn, nàng buộc phải cắt đứt. Tôi có biết Hänschen Krages không?
 
Không, Oskar nói, rất tiếc là gã không biết vị hôn phu cũ của Ulla. Rồi Oskar đưa ra đề nghị hào phóng của mình, nhưng trước khi Ulla kịp nhận lời thì Lankes, từ xưởng họa nhảy ra, đã tự đề cử mình vào vai trò bạn đồng hành với Oskar, chẳng những thế còn bợp tai Nàng Thơ trường túc vì tội không chịu ở nhà khiến nàng thất vọng oà khóc.
 
Tại sao Oskar không bảo vệ ý kiến của mình? Tại sao gã không đứng về phe Nàng Thơ nếu quả gã muốn đưa nàng đi cùng? Cho dù triển vọng của một chuyến ngao du với Ulla bên cạnh, Ulla thanh mảnh, Ulla lông vàng rơm loăn xoăn, có hấp dẫn đến mấy, tôi vẫn sợ một sự chung đụng quá gần gũi với một Nàng Thơ. Thà cứ giữ một khoảng cách với các Nàng Thơ, tôi tự nhủ, còn hơn để nụ hôn của các Nàng Thơ trở thành thói quen như một đồ gia dụng. Thôi cứ đi cùng Lankes là khôn ngoan hơn, y sẵn sàng thượng cẳng chân hạ cẳng tay với Nàng Thơ của mình khi nàng định hôn y.
 
Chẳng phải bàn cãi gì nhiều về nơi đến của chúng tôi: dĩ nhiên là Normandie, còn chỗ nào khác nữa? Chúng tôi sẽ thăm lại các công sự giữa Caen và Cabourg, vì đó là nơi chúng tôi đã gặp nhau trong chiến tranh. Khó khăn duy nhất là việc xin Visa.
 
Lankes là tay đá xi-măng. Trong việc vung vãi mầu - cũng phải nói rõ rằng đó là loại sơn rẻ tiền hoặc nhiều khi đi xin được - lên những tấm toan chuẩn bị sơ sài, y hoang phí bao nhiêu, thì trong việc tiêu tiền, dù là tiền đồng hay tiền giấy, y lại bủn xỉn bấy nhiêu. Hút thuốc luôn miệng, nhưng không ai thấy y mua lấy một điếu thuốc lá. Một thi dụ điển hình về tính hà tiện có hệ thống của y: hễ có ai cho một điếu thuốc, hắn lại móc ở túi quần trái ra một đồng mười pfennig; giơ lên một thoáng ra ý công nhận, rồi bỏ sang túi quần phải nhập bọn với những đồng khác - số lượng bao nhiêu tuỳ theo thời gian trong ngày. Như tôi đã nói, y hút suốt ngày và một hôm, đang lúc hồ hởi, y tâm sự với tôi: “Mỗi ngày mình tiết kiệm được khoảng hai mark chỉ nhờ hút thuốc.”
 
Năm ngoái, Lankes mua được một lô đất bị bom ở Wersten bằng tiền tiết kiệm cách ấy, có nghĩa nhờ những điếu thuốc lá của bạn bè và người quen cho.
 
Đó, cái tay Lankes đồng hành với Oskar đến Normandie là như thế. Chúng tôi đáp xe lửa - một chuyến tốc hành. Cả như Lankes thì cứ làm cái bài vẫy xe đi nhờ cho gọn. Nhưng vì y là khách của tôi và tôi là người trả tiền, nên y đành nhượng bộ. Chúng tôi đi ngang qua những hàng dương đằng sau đó là những đồng cỏ có hàng rào bao quanh. Những chị bò nâu và trắng đem lại cho cảnh đồng quê cái vẻ của một tờ quảng cáo sô-cô-la sữa, mặc dầu nêu nhằm mục đich quảng cáo thì lẽ ra phải xoá đi đấu vết tàn phá của chiến tranh. Các thôn làng, kể cả làng Bavent, nơi tôi đã mất Roswitha của tôi, vẫn đang còn rất hoang tàn.
 
Từ Cabourg, chúng tôi đi bộ dọc bãi biển đến cửa sông Orne. Trời không mưa. Đến gần Le Home, Lankes- nói: “Chúng ta đến nhà rồi, anh bạn. Cho mình xin một điếu nào”. Vừa chuyển đồng tiền từ túi nọ sang túi kia, y vừa vươn cái đầu sói của mình về phía một trong những công sự phòng thủ còn nguyên vẹn giữa những cồn cát. Một tay dài nghêu xách hành trang của mình gồm ba-lô, giá vẽ lưu động và cả Chục cái khung, tay kia y kéo tôi về phía các khối bê-tông. Hành lý của Oskar chỉ có một chiếc va-li và cái trống.
 
Ngày thứ ba ở trên bờ Đại Tây Dương - trong hai ngày qua, chúng tôi đã dọn sạch cát tràn vào bên trong Dora-7 cũng như những vết tích gớm ghiếc của các cặp trai gái dùng nơi này làm giường chiếu ái ân và đặt túi ngủ cùng một cái hòm vào đó - Lankes mang về từ bãi biển một con cá thu to tướng, quà của mấy người đánh cá thưởng công cho y đã vẽ chiếc thuyền của họ.
 
Do việc chúng tôi vẫn gọi cái lô cốt này là Dora-7 nên cũng chẳng có gì là lạ nếu Oskar vừa làm cá vừa nghĩ đến Xơ Dorothea. Gan và tinh dịch cá phun đầy cả hai bàn tay tôi. Trong khi đánh vẩy, tôi quay mặt ra ánh sáng, khiến Lankes có cơ hội làm một bức ký họa bằng thuốc nước. Chúng tôi ngồi phía sau lô-cốt, khuất gió. Nắng tháng tám rọi xuống vòm mái bê-tông. Tôi lấy tỏi ướp cá. Bụng cá, nơi một lát trước là tinh dịch và gan ruột, tôi nhồi bằng hành, phó-mát và húng tây; nhưng tôi không vứt tinh dịch và gan đi vì đó là miếng ngon. Tôi nhét cả hai vào giữa hàm cá, chèn một quả chanh để giữ cho miệng cá mở to. Lankes đi thám thính một vòng. Y biến vào trong Dora-4, Dora-3 và cứ thế tiếp tục suốt lượt. Lát sau, y trở về, mang theo nhiều ván gỗ và mấy cái hộp lớn bằng các-tông. Các-tông y giữ để vẽ, còn ván dùng làm củi đốt.
 
Giữ lửa thường xuyên cũng chả khó gì: bãi biển đầy những thanh củi rều khô nhẹ như bấc bị sóng đánh giạt vào, đổ bóng thành nhiều hình thù khác nhau. Tôi đặt lên trên đống than nóng một mảng chấn song ban-công mà Lankes đã tháo dỡ từ một biệt thự bỏ không bên bãi biển. Tôi lấy dầu ô-liu tẩm cá rồi đặt lên mảng chấn song nóng cũng được rưới dầu trước. Tôi vắt chanh lên mình cá xèo xèo và để nó chín từ từ - nướng cá là không bao giờ nên hấp tấp.
 
Bàn ăn của chúng tôi là một tấm các-tông lớn đặt lên mấy cái xô. Chúng tôi có dĩa và đĩa đầy dủ. Để cho Lankes đỡ sốt ruột - y cứ lượn quanh con cá như một con hải âu đói mồi - tôi vào lô-cốt lấy trống ra. Đặt trống vững chãi trên cát, tôi hoà cùng gió, biến tấu trên những âm thanh của sóng vỗ bờ và nước triều dâng. Đoàn văn công tiền tuyến của Bebra đến thị sát bê-tông. Từ Kashubes đến Normandie, Felix và Kitty, hai diễn viên nhào lộn, xoắn vào nhau thành những nút hết cởi ra lại thắt vào trên nóc lô-cốt và cất giọng ném vào trong gió một bài thơ mà hai câu điệp khúc của nó, ngay giữa chiến tranh, đã báo trước một thời kỳ êm ấm tiện nghi sẽ đến:
 
Sống giữa bê-tông thép gai
Vẫn mơ về chốn lâu đài

Kitty ngâm bằng cái giọng vùng Saxe và Bebra, nhà thông thái của tôi, đại úy của Đội Tuyên Truyền, gật đầu tán thưởng; và Roswitha, người đẹp Địa Trung Hải Raguna của tôi, xách chiếc giỏ pich- ních lên, bày dồ ăn trên nóc Dora-7; và cả trung sĩ Lankes cũng ăn bánh mì trắng của chúng tôi, uống ca-cao của chúng tôi và hút thuốc lá của đại uý Bebra...
 
“Này!” Lankes kéo tôi từ quá khứ trở về. “Này, Oskar! Giá mình có thể vẽ cậu đạt như tiếng trống của cậu! Cho mình xin một điếu.”
 
Tôi ngừng trống, cho người bạn đồng hành một điếu thuốc, xem xét con cá và thấy là đã chín tới: hai mắt trắng và trong như nước. Tôi chậm rãi vắt một quả chanh cuối cùng lên khắp mình cá không bỏ sót một chỗ nào; lớp da ngoài ửng đều một màu nâu ngon lành, trừ mấy chỗ nứt.
 
“Tớ đói ngấu,” Lankes nói, nhe hai hàm răng dài nhọn vàng khè và vung cả hai nắm tay, như con vượn, đấm vào ngực qua lần áu sơ-mi kẻ ô.
 
“Đầu hay đuôi?” tôi hỏi và đặt con cá lên một tờ giấy sơn trải trên tấm các-tông thay vì khăn bàn.
 
“Cậu khuyên tớ thế nào?” Lankes giập thuốc lá và vứt đầu mẩu đi.
 
“Với tư cách là bạn,” tôi nói, “cậu nên lấy khúc đuôi. Với tư cách là đầu bếp, mình chỉ có thể khuyên cậu lấy khúc đầu. Mặt khác, nếu mẹ mình (bà ấy trùm ăn cá) ở đây lúc này, bà sẽ bảo: Cậu Lankes ạ, hãy lấy khúc đuôi rồi cậu sẽ biết mình được cái gì. Một mặt nữa, bác sĩ thường hay khuyên bố mình...”
 
“Tớ không quan tâm đến bác sĩ,” Lankes nói, vẻ hoài nghi.
 
“Bác sĩ Hollatz khuyên bố mình bao giờ cũng nên ăn đầu cá thu.”
 
“Vậy thì tớ sẽ lấy khúc đuôi. Tớ thấy là cậu đang tung hỏa mù cho tớ hoang mang.”
 
“Càng bở cho Oskar. Đầu chính là cái mình khoái nhất.”
 
“Được, đã thế, tớ sẽ lấy khúc đầu.”
 
“Khổ thân Lankes, cậu thấy khó chọn quá, hả?” tôi nói.”Thôi được, khúc đầu phần cậu, mình lấy cái đuôi vậy.” Tôi hy vọng cuộc đối thoại của chúng tôi chấm dứt ở đây.
 
“Ê, này,” Lankes nói. “Tớ đoán là tớ đã thắng cậu một không.”
 
Oscar thừa nhận là Lankes đã thắng gã một không. Phải, tôi biết y sẽ ăn không ngon phần của mình nếu không biết chắc rằng y đã thắng tôi một không, bởi đó mới là gia vị thiết yếu. Tôi gọi y là đồ ma-lanh ma cuội, đồ con hoang may mắn, rồi chúng tôi bắt đầu đả.
 
Y vớ lấy khúc đầu. Tôi vắt nốt miếng chanh còn lại lên lớp thịt trắng của khúc đuôi; nó tở ra và mấy củ tỏi mềm như bơ rời ra.
 
Vừa mút kiệt từng chiếc xương, Lankes vừa liếc nhìn tôi và khúc đuôi cá. “Cho mình nếm thử phần đuôi của cậu tí.” Tôi gật đầu, y nếm và có vẻ phân vân mãi cho đến khi Oskar nếm thử một miếng đầu cá và một lần nữa khẳng định rằng như thường lệ, Lankes bao giờ cũng giành được miếng béo bỏ nhất.
 
Chủng tôi nhắm vang Bordeaux đỏ với cá. Tôi hơi tiếc: giá trong tách uống cà-phê của chúng tôi lúc này là vang trắng thì hơn. Lankes gạt phắt đi, hồi y là một trung sĩ ở Dora-7 này, bọn y chả bao giờ được uống gì khác ngoài vang đỏ. Cả đến khi cuộc đổ bộ bắt đầu cũng vẫn thế. “Chao, lúc ấy, bọn này xỉn hết! Kowalski, Scherbach và cả thằng bé Leuthold đều chẳng nhận thấy có gì không ổn. Bây giờ bọn nó cùng nằm cả ở một nghĩa trang, phía bên kia Cabourg ấy. Mạn kia, gần Arromanches, là quân Anh, còn ở khu vực chúng tôi là bọn Canada, có đến hàng triệu tên. Bọn mình chưa kịp ngoắc dây đeo quần lên, chúng đã xuất hiện, miệng nói: uHao a íu?"

Lát sau, y vừa nhổ xương cá vừa vung dĩa: “Này, cậu có đoán được mình gặp ai ở Cabourg hôm nay không? Herzog, trung uý Herzog, cái thằng điên mà các cậu gặp trong chuyến thị sát ấy. Cậu còn nhớ hắn ta không?”
Cố nhiên là Oskar có nhớ trung uý Herzog. Vừa tiếp tục ăn, Lankes vừa kể cho tôi hay là năm nào Herzog cũng trở lại Cabourg mang theo bản đồ và dụng cụ đo đạc vì ý nghĩ về những công sự này làm hắn mất ngủ. Hắn cũng dự định ghé qua Dora-7 để đo đạc một chút.
 
Chúng tôi vẫn còn đang ăn - dần dần xương sống cá đã lộ ra - khi trung uý Herzog xuất hiện. Quần soóc kaki thò hal bắp chân mập, giày ten-nít, một túm lông ngực lộ ra qua cổ sờ-mi lụa để mở. Dĩ nhiên là chúng tôi vẫn ngồi. Lankes giói thiệu tôi là Oskar, bạn thời bình và chiến hữu thời chiến của y, và gọi Herzog là trung uý về hưu Herzog.
 
Viên trung uý về hưu lập tức thị sát Dora-7. Hắn bắt đầu từ ngoài và Lankes không phản đối gì. Herzog ghi đầy những bảng kê và quan sát cảnh quan đất và biển bằng một cái ống nhòm. Rồi hắn vuốt ve những lỗ châu mai của Dora-6 một lúc, âu vếm như mân mó vợ mình. Khi hắn ngỏ ý muốn thị sát bên trong Dora-7, biệt thự của chúng tôi, nhà nghỉ hè của chúng tôi, Lankes không chịu: “Herzog này, ông mắc chứng gì thế? Mà cứ quanh quẩn lọ mọ với đám bê-tông này? Nếu là mười năm trước thì còn là thời sự, chứ giờ thi passé [1] rồi.”
 
“Passé” là từ ưa thích của Lankes. Y có thói quen chia mọi sự trên đời làm hai loại: thời sự và passé. Nhưng viên trung úy về hưu thì không cho cái gì là passé cả; theo hắn, các báo cáo, tường trình còn chưa rõ ràng, nhiều con số cần được đinh chính lại, con người cần phải luôn luôn xác định lại mình trước sự phán xét của Lịch sử và chính vì thế nên hắn muốn thị sát bên trong Dora-7. “Lankes, tôi hy vọng là tôi đã nói rõ để anh hiểu.”

Bóng Herzog đổ vắt qua “bàn ăn” với món cá của chúng tôi. Hắn định đi vòng qua chúng tôi để tới cửa vào lô- cốt mà phía trên vẫn còn mang những trang trí bằng bê-tông do bàn tay sáng tạo của trung sĩ Lankes.
 
Nhưng Herzog không đi quá được “bàn ăn” của chúng tôi. Đứng phắt dậy, tay vẫn nắm dĩa nhưng không dùng đến nó, Lankes đẩy trung uý về hưu Herzog ngã sóng soài trên cát. Rồi lắc đầu, tiếc bữa ăn bị gián đoạn, Lankes túm lấy áo sơ-mi của viên trung uý, lôi sềnh sệch đến chân cồn cát, để lại một vệt rất thắng, và ném hắn xuống đó. Hắn biến khỏi tầm mắt tôi, nhưng ngán thay, tôi vẫn nghe thấy tiếng hắn. Hắn thu nhặt những dụng cụ đo đạc mà Lankes ném theo và vừa đi khỏi vừa lầm bầm rủa, gọi hồn mọi bóng ma lịch sử bị Lankes vứt bỏ coi là passé.
 
‘Hắn tuy là một thằng điên nhưng không phải hoàn toàn không có lý,” Lankes nói. “Nếu bọn này không quá say xỉn khi bắt đầu nổ súng thì chưa biết chuyện gì sẻ xảy ra với bọn lính Canada kia.”
 
Tôi chỉ còn biết gật đầu đồng tình: ngay ngày hôm trước, tôi đã vớ được trong một cái mai cua rỗng một bằng chứng lịch sử hùng hồn - một chiếc khuy từ một bộ quân phục Canada. Mừng như bắt được một đồng tiền cổ quý hiếm, Oskar cất biến chiếc khuy vào trong ví.
 
Mặc dù ngắn ngủi, cuộc đến thăm của trung uý Herzog đã gợi lại nhiều kỷ niệm. “Cậu có nhớ không, Lankes, khi đoàn văn công của bọn mình đến thăm công sự bê-tông của cậu, chúng ta đã cùng ăn điểm tâm trên nóc lô-cốt? Gío thổi nhè nhẹ, y như hôm nay. Và đột nhiên, có sáu, bảy nữ tu sĩ đi bắt cua giữa đám “măng tây Rommel” và cậu được lệnh phải “dọn sạch” bãi biển và cậu đã chấp hành bằng một cây súng máy.”
 
Phải, Lankes nhớ (y vẫn mút xương). Thậm chí y còn nhớ tên nhiều người trong đó: Xơ Scholastica, Xơ Agneta... y mô tả cô nữ tu mới có khuôn mặt hồng hào nhỏ nhắn với rất nhiều đen bao quanh. Bức chân dung y dựng lên sinh động đến nỗi nó che lấp một phần - nhưng chỉ một phần thôi - hình ảnh, luôn hiện diện trong trí tôi, của một nữ y tá và nữ tu không thuộc cộng đồng giáo sĩ: Xơ Dorothea của tôi. Mấy phút sau - tôi chưa ngạc nhiên đến mức gọi đây là một phép mầu - một nữ tu sĩ trẻ từ mạn Cabourg băng qua các cồn cát đi về phía chúng tôi. Khuôn mặt hồng nhỏ nhắn với rất nhiều đen bao quanh, không cách nào lẫn được.
 
Nàng che nắng bằng một chiếc dù đen giống như loại các ông già thường mang. Cong cong phía trên mắt nàng một vành lưỡi trai bằng xe-lu-lô-ít màu xanh dữ dằn như kiểu các đạo diễn phim ở Hollywood thường mang. Có ai đó giữa những cồn cát gọi nàng, vẻ như có nhiều nữ tu khác ở quanh đây. “Xơ Agneta!” người kia gọi. “Xơ Agneta, Xơ đang ở đâu?”
 
Và Xơ-Agneta nhỏ nhắn mà chúng tôi có thể nhìn thấy bên trên chiếc xương sống cá, trả lời: “Em ở đây, Xơ Scholastica. Chỗ này không có gió.”
 
Lankes cười toét miệng và đắc trí gật cái đầu chó sói của y cứ như thể chính y đã làm nên cuộc diễu hành Thiên Chúa Giáo này, như thể không gì trên đời này có thể làm y sửng sốt vậy.
 
Nữ tu sĩ trẻ chợt trông thấy chúng tôi và dừng sững lại bên lô-cốt. “Ôi!” khuôn mặt hồng hồng ngớ ra, để lộ hai hàm rãng hoàn hảo tuy có hơi nhô ra.
 
Lankes ngoảnh đầu và cổ nhưng thân mình vẫn không động đậy: “Thế nào, Xơ đi dạo đấy ư?”
 
Câu trả lời đến rất nhanh: “Tu viện chúng tôi mỗi năm ra bờ biển một lần. Nhưng với tôi, đây là lần đầu tiên. Trước đây tôi chưa bao giờ thấy đại dương. Thật rộng lớn biết bao!”
 
Điều đó thì quả là không thể phủ nhận. Cho đến nay, tôi vẫn coi những lời nàng mô tả đại dương là duy nhất chính xác.
 
Lankes đóng vai chủ nhân, xắn vào phần cá của tôi một miếng mời nàng: “Xơ có thử một chút cá nướng không? Vẫn còn nóng mà.”
 
Tôi ngạc nhiên thấy y nói tiếng Pháp lưu loát thế và Oskar cũng thử năng lực ngoại ngữ của mình: “Không việc gì phải lo. Hôm nay là thứ sáu mà.”
 
Nhưng ngay cả việc nhắc khéo đến luật lệ dòng tu của nàng cũng không khích được cô gái khéo giấu mình trong bộ đồ tu hành quyết định chia sẻ bữa ăn với chúng tôi.
 
“Trước nay các ông vẫn ở đây đấy ư?” nàng tò mò hỏi. Nàng thấy cái lô-cốt của chúng tôi đẹp và hơi ngồ ngộ. Nhưng rồi chẳng may, bà mẹ nhất và năm nữ tu khác, tất cả đều dù đen và vành lưỡi trai xanh, xuất hiện trên đỉnh cồn cát. Agneta chạy vội đi. Theo tôi hiểu qua những tiếng gắt gỏng ngắt đoạn bởi ngọn gió đông, thì nàng bị mắng té tát và bắt trở lại khuôn phép.
 
Lankes mơ màng. Y đưa chiếc dĩa lộn ngược vào miệng và trân trân nhìn đám người dập dờn trên cồn cát. “Đó không phải những nữ tu mà là những chiếc thuyền buồm.”
 
“Thuyền buồm thì phải trắng chứ,” tôi cãi.
 
“Đó là những thuyền buồm đen.” Cãi lý với Lankes không phải là dễ. “Mé ngoài cùng bên trái là thuyền đô đốc. Agneta là một thuyền hộ tống cao tốc. Trời thuận gió. Đội hình hàng dọc. Từ lá buồm tam giác nhỏ phía trước cho đến cột đằng lái, cột chính, cột giữa, cột đằng mũi, tất cả đều căng buồm, hướng tới chân trời và nước Anh. Thử nghĩ coi: sáng mai, bọn Anh thức dậy, nhìn ra cửa sổ và thấy gì? Hai mươi lăm ngàn nữ tu sĩ, tất cả đều rợp cờ. Và đây, loạt súng đầu tiên...”
 
“Một cuộc chiến tranh tôn giáo mới,” tôi đỡ lời y. Thuyền đô đốc, tôi gợi ý, nên đặt tện là Mary Stuart hay De Valera, hay hơn nữa là Don Juan. Một Armada [2] mới, cơ động hơn trả thù cho Trafalgar. Khẩu hiệu xung trận là “Giết sạch bọn Thanh giáo!” và lần này thì bọn Anh không có sẵn một Nelson [3]. Hãy bắt đầu cuộc đổ bộ. Anh Quốc không còn là một cái đảo.
 
Cuộc trò chuyện trở nên quá chính trị đối với Lankes. Y ngắt lời tôi:
 
“Này, các mụ nữ tu nổ máy đi thắng rồi.”
 
“Căng buồm, ” tôi sửa lại.
 
Dù nổ máy hay căng buồm thì họ cũng đang dập dờn trôi về phía Cabourg, tay giương dù che nắng. Chỉ có một người tụt lại sau một tí chút, cúi xuống nhặt một vật gì rồi lại bỏ đấy. Phần còn lại của hạm đội từ từ lướt đi ngược chiều gió về phía những phế tích của khách sạn bãi biển.
 
“Có vẻ như nàng bị hỏng bánh lái hoặc không nhổ neo dược,” Lankes vẫn níu giữ những hình tượng hàng hải của mình. “Này, hình như là Agneta, con thuyền hộ tống nhỏ cao tốc.”
 
Dù là thuyền hộ tống hay gì gì nữa, đó cũng đích thị là Agneta; nàng nữ tu mới đang tiến về phía chúng tôi, vừa đi vừa nhặt vỏ ốc biển và ném đi một số.
 
“Xơ nhặt cái gì ở đằng ấy đấy?” Lankes thừa thấy là nàng đang nhặt gì.
 
“'Vỏ ốc biển,” nàng phát âm mấy tiếng đó rất rõ và lại cúi xuống.
 
“Xơ được phép làm thế ư? Đó chẳng phải là những của cải trần tục sao?”
 
Tôi đỡ lời Xơ Agneta: “Cậu lầm rồi, Lankes. Vỏ ốc biển chẳng có chi là trần tục cả.”
 
“Dù thế nào đi nữa, bất kể từ đất hay từ biển mà ra, chúng cũng vẫn là của cải, mà đã là nữ tu sĩ thì không được có của cải. Nghèo nàn, nghèo nàn và nghèo nữa, đó là phận của các nữ tu. Tôi nói có đúng không Xơ?”
Xơ Agneta mỉm cười: “Tôi chỉ nhặt mấy cái cho vườn trẻ thôi. Bọn trẻ rất thích chơi vỏ ốc biển. Chúng chưa được ra bờ biển bao giờ.”
 
Agneta đứng cạnh cửa vào lô-cốt và ném một tia nhìn vụng trộm kiểu nữ tu vào bên trong.
 
“Xơ thấy căn nhà nhỏ của chúng tôi thế nào?” tôi hỏi, cố làm thân. Lankes thì trực tiếp hơn: “Xơ vào đi, ngó cái biệt thự của chúng tôi một cái. Sẽ không tốn một xu nhỏ nào đâu.”
 
Đôi giày mũi nhọn của nàng ngọ nguậy dưới chiếc váy dài, hất tung cát để gió tiếp tay rắc lên con cá của chúng tôi. Phần nào mất tự tin, nàng nhìn chúng tôi và cái “bàn ăn” đặt giữa chúng tôi bằng cặp mắt rõ ràng là màu nâu nhạt. “Làm vậy chắc chắn là không phải phép.”
 
“Thôi nào, Xơ,” Lankes gạt phắt mọi lời phản đối của nàng và đứng dậy. “Có một điểm quan sát thú vị. Xơ có thể nhìn thấy toàn bộ bãi biển qua những lỗ châu mai.”
 
Nàng vẫn tần ngần. Giày nàng, tôi chợt nghĩ, chắc đầy cát. Lankes khoát tay về phía cửa vào. Họa tiết bê-tông của y hắt bóng sắc nét giàu tính trang trí.
 
Có lẽ cử chỉ mời mọc ân cần của Lankes đã khiến nàng quyết định vào. “Nhưng chỉ một phút thôi nhé!” Và nàng tót vào trong lô-cốt trước cả Lankes. Y chùi tay vào quần - một động tác diển hình của họa sĩ - và ném về phía tôi một lời dọa dẫm trước khi biến mất: “Liệu hồn, đừng có lấy đi miếng nào ở phần cá của tớ đấy.”
 
Nhưng Oskar đã đầy một bụng cá rồi. Tôi rời “bàn ăn”, buông thả mình vào gió cát và tiếng gầm gào của biển. Tôi lấy chân khều cái trống lại và nương tiếng trống tìm cách thoát ra khỏi cái cảnh quan bê-tông này, cái thế giới công sự này, cái loại “rau” gọi là măng tây Rommel này.
 
Thoạt đầu, với chút ít thành công, tôi thử đề tài tình yêu. Một thời, tôi cũng đã từng yêu một xơ. Nói cho rành, không phải một nữ tu mà là một nữ y tá, Xơ Dorothea. Nàng ở trọ trong căn hộ của Zeidler, đằng sau một cánh cửa lắp kính mờ. Nàng rất đẹp nhưng tôi không bao giờ nhìn thấy nàng. Hành lang nhà Zeidler tối quá. Một tấm thảm xơ dừa xen vào giữa hai chúng tôi.
 
Sau khi theo chủ đề này dến đoạn kết lỡ dở trên tấm thảm xơ, tôi thử chuyển mối tình đầu của tôi với Maria thành tiết tấu, đem phủ lên bê-tông như một loài dây leo mọc nhanh. Nhưng lại thấy Xơ Dorothea hiện ra, xen vào mối tình của tôi với Maria. Một mùi axít cácbôlíc từ biển thổi vào, những con hải âu mặc đồng phục nữ y tá vẫy tôi, mặt trời cứ một mực lấp lánh như một chiếc huy hiệu Chữ Thập Đỏ.
 
Nói thật tình, Oskar lấy làm mừng khi tiếng trống của gã bị ngắt quãng. Xơ Scholastica, tức mẹ nhất, trở lại với năm nữ tu kia. Nom họ mệt mỏi, dù ngả nghiêng thiểu não. “Ông có thấy một nữ tu nhỏ bé đâu không? Cô ta mới tu, còn trẻ măng, trước đây chưa từng thấy biển bao giờ. Chắc han cô ta bị lạc. Xơ Agneta, Xơ ở đâu?”
 
Tôi chẳng còn cách nào khác là chỉ cho hạm đội nhỏ này xuôi gió về phía cửa sông Orne, Arromanches và cảng Winston, nơi người Anh đã cướp giật của biển cái hải cảng nhân tạo này. Làm sao có đủ chỗ cho tất cả bọn họ trong lô-cốt được. Trong một thoáng, tôi phải thừa nhận vậy, tôi đã muốn làm cho Lankes ngã ngửa với cuộc đến thăm bất ngờ của họ, nhưng rồi tình bạn, sự ghê tởm, sự hiểm độc, tất cả hòa làm một, đã xui tôi chỉ ngón tay cái về phía cửa sông Orne. Các nữ tu sĩ tuân theo ngón tay cái của tôi và dần dần biến thành sáu vệt đen bồng bềnh xa dần trên ngọn cồn cát. Tiếng họ rền rĩ gọi “Xơ Agneta, Xơ Agneta” vẳng đến tôi càng lúc càng hòa lẫn với gió để rồi cuối cùng chỉm lịm trong cát.
 
Lankes ra trước. Lại cái động tác điển hình của họa sĩ: chùi tay vào quần. Y xin tôi một điếu thuốc, đút vào túi áo sơ-mi và nhào tới con cá đã nguội lạnh. “Cái trò này nó kích thích con tì con vị,” y vừa nói vừa liếc trộm, đả sang khúc đuôi là phần của tôi. Rồi y nằm ềnh ra dưới nắng.
 
“Cô ta lúc này hẳn là đang khổ sở lắm,” tôi lên giọng kết tội, nhấm nháp hai tiếng khổ sở.
 
“Làm sao? Có cái gì mà phải khổ sở?”
 
Lankes không thể quan niệm được cái cách cải thiện quan hệ con người của y lại có thể làm ai khổ sở.
 
“Giờ cô ta đang làm gì?” tôi hỏi vậy nhưng thực bụng lại muốn hỏi y một điều khác.
 
“Khâu vá,” Lankes nói, khoa dĩa làm hiệu. “Làm toạc án cô ta chút xíu, bây giờ cô ta phải vá lại. ”
 
Cô nàng vá áo bước ra khỏi lô-cốt. Lập tức nàng giương dù và líu lô vui vẻ, tuy nhiên tôi cảm thấy có chút căng thắng nào đó. “Góc nhìn thật tuyệt. Thấy toàn bộ bãi biển và cả đại dương nữa.”
 
Nàng dừng lại bên tàn dư của con cá.
 
“Tôi ăn được không?”
 
Cả hai chúng tôi cùng gật đầu.
 
“Không khí biển làm người ta mau đói,” tôi động viên nàng. Nàng gật đầu, gỡ cá bằng đôi bàn tay sần đỏ, nứt nẻ vì công việc nặng nhọc ở tu viện và tống đầy miệng. Nàng ăn nghiêm trang, vẻ tập trung đăm chiêu, như thể vừa nhai cá vừa nghiền ngẫm về một cái gì nàng vừa nếm trải trước khi ăn cá.
 
Tôi nhìn mé dưới mũ trùm đầu của nàng. Nàng đã để cái vành lưỡi trai xanh kiểu ký giả lại trong lô-cốt. Những giọt mồ hôi nhỏ, bằng nhau trằn trặn, sắp hàng trên vầng trán nhẵn mịn của nàng; đóng khung trong chiếc mũ trùm trắng hồ bột, vầng trán ấy có một vẻ gì hao hao giống Đức Mẹ Đồng Trinh. Lankes lại xin một điếu thuốc tuy y chưa hút điếu trước. Tôi vứt cho y cả gói. Trong khi y nhét ba điếu vào túi áo sơ-mi và cắm một điếu thứ tư lên miệng, Xơ Agneta quay người, vứt chiếc dù ra xa rồi chạy lên cồn cát - đến lúc đó, tôi mới nhận thấy nàng đã cởi giày từ lúc nào không biết - và biến về phía sóng xô bờ.
 
“Cứ để cô ta chạy,” Lankes lên giọng tiên tri nói. “Rồi cô ta sẽ trở lại hoặc có thể sẽ không trở lại.”
 
Tôi chỉ có thể ngồi yên được một lúc nhìn Lankes hút thụốc. Rồi tôi trèo lên nóc lô-cốt phóng mắt nhìn ra bãi biển. Nước triều đã dâng lên ngập gần hết bãi biển, chỉ còn chừa lại một khoảng rất nhỏ.
 
“Thế nào?” Lankes hỏi.
 
“Nàng đang cởi quần áo.” Y chỉ moi được ở tôi có thế. “Có lẽ nàng định bơi một chút cho mát.”
 
Tôi thấy tắm vào lúc triều lên thế này là nguy hiểm, nhất là ngay sau khi ăn. Nàng đã lội đến đầu gối; lưng cúi về phía trước, nàng dấn mỗi lúc một sâu. Vào cữ này, nước hắn là chẳng ấm áp gì, nhưng hình như điều đó không làm nàng bận tâm Nàng bơi, nàng bơi giỏi, nhiều kiểu khác nhau và bố nhào qua những con sóng.
 
“Cứ để cô ta bơi, còn cậu hãy xuống khỏi cái lô-cốt ấy di.” Tôi ngoái lại đằng sau và thấy Lankes nằm xoài trên cát, phì phèo hút thuốc. Cái xương sống cá trấn ngự “bàn ăn”, trắng lấp lánh dưới nắng.
 
Khi tôi nhảy xuống, Lankes mở đôi mắt hoạ sĩ và nói: “Lạy Chúa, một bức tranh tuyệt vời! Nữ Tu Sĩ Lúc Triều Dâng.”
 
“Đồ quái vật,” tôi quát. “Ngộ nhỡ nàng chết đuối thì sao?”
 
Lankes nhắm mắt lại: “Thì ta gọi nó là: Nữ Tu Sĩ Chết Đuối.”
 
“Và nếu nàng trở lại và phục xuống dưới chân cậu?”
 
Mắt mở to, gã họa sĩ mần tuồng: “Thì cả nàng lẫn bức tranh sẽ được đặt tên là Nu Tu Sĩ Sa Ngã.”
 
Với y, bao giờ cũng là cực này hay cực kia, đầu hay đuôi, chết đuối hay sa ngã. Y lấy hết thuốc lá của tôi, ném viên trung uý về hưu khỏi cồn cát, ăn phần cá của tôỉ, dẫn một cô gái nhỏ dành cho Chúa vào bên trong một cái lô-cốt, và trong khi nàng còn đang bơi ngoài biển, khua bàn chân to cục mịch phác thảo hàng loạt tranh trong không khí. Thậm chí y còn đặt sẵn tên và định khổ trước: Nữ Tu Sĩ lúc Triều Dâng, 260cm X 160cm, Nữ Tu Sĩ Chết Đuối, Nữ Tu sĩ Sa Ngã, Hai Mươi Lăm Nghìn Nữ Tu Sĩ. Nữ Tu Sĩ ở Trafalgar. Nữ Tu Sĩ Đánh Bại Tử Tước Nelson. Nữ Tu Sĩ Chống Chọi với Gió. Nữ Tu Sĩ trước Gió. Rất nhiều đen; trắng lem nhem và xanh lạnh. Cuộc Đổ Bộ hay Man Rợ, Huyền Bí, Chán Ngắt.
 
Và khi chúng tôi trở về vùng Rhine, Lankes đã thực sự bắt tay vào vẽ những bức tranh đó, khổ thấp-rộng ngang hoặc cao-hẹp ngang. Y vẽ hàng loạt nữ tu sĩ, kiếm được một tay lái tranh rất mê tranh nữ tu sĩ, triển lãm bốn mươi ba bức về đề tài này, bán được mười bảy bức cho các nhà sưu tầm, doanh nghiệp, bảo tàng và một người Mỹ. Một số nhà phê bình nghệ thuật thậm chí còn cho là có thể ví y, Lankes, với Picasso.
 
Chính thành công của Lankes đã thuyết phục tôi phải lục tìm tấm danh thiếp của Ts Dösch, ông bầu hoà nhạc, bởi lẽ không phải chỉ có nghệ thuật của Lankes là kêu gào đòi bánh mì. Đã đến lúc Oskar, nghệ sĩ trống lên ba, cũng phải chuyển những kinh nghiệm thời chiến cũng như thời tiền chiến thành những đồng tiền vàng loẻng xoẻng của thời hậu chiến.
 
 
[...]
______
Chú thích
[1] Tiếng Pháp: thời đã qua, quá khứ, dĩ vãng.
[2] Hạm đội Tây Ban Nha tấn công Anh Quốc.
[3] Tử tước Horatio Nelson (1758-1805), đô đốc hải quân Anh, một trong những danh tướng vĩ đại của nước nàv. Chiến công hiển hách nhất của ông là trận thủy chiến ở mũi biển Trafalgar thuộc bờ biển Tây Nam Tây Ban Nha (21-10-1805) trong dó ông đã đánh bại hạm đội Tây Ban Nha và hạm dội Pháp, đem lạt quyền bá chủ trên biển cho hải quân Anh. Ông đã hy sinh oanh liệt trong trận thắng lịch sử này.
 
...! Tràn đầy mà rỗng lặng
Biển vô lượng thủy triều
Đường về tâm hết động
Tuyệt chiêu là vô chiêu !...

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 22.07.2016 14:56:10 bởi tducchau>
[...]
 
 
HẦM HÀNH
 
 
Chúng tôi yêu những đồng cỏ ven sông Rhine; vừa hay Ferdinand Schmuh, chủ tiệm ăn và hộp đêm, cũng yêu thích cái rẻo từ Düssendorf đến Kaiserswerth trên hữu ngạn con sông này. Chúng tôi thường hay tập nhiều nhất ở mạn phía trên stockum. -Trong khi đó, Schmuh xách một cây súng cỡ nhỏ xục các bụi rậm và hàng rào ven sông săn chim sẻ. Đó là sở thích, là thú tiêu khiển của ông. Những khi gặp chuyện buồn bực trong kinh doanh, Schmuh thường bảo vợ ngồi vào sau tay lái chiếc Mercedes và họ đi dọc sông lên quá Stockum, đỗ xe ở đó. Mũi súng chúc xuống đất, ông sải đôi chân bẹt xuyên các đồng cỏ; bà vợ lẽo đẽo theo sau, tuy trong bụng chỉ muốn ngồi lại trong xe. Cuối cuộc việt đã tay đôi, ông đặt vợ ngồi trên một phiến đá phẳng phiu thoải mái bên bờ sông rồi biến vào trong các hàng rào. Trong khi bọn tôi chơi ragtime, [1] ông cũng đòm-đòm trong các bụi rậm. Trong khi chúng tôi tấu nhạc, Schmuh bắn chim sẻ.
 
Mỗi khi Scholle - cũng như Klepp, gã này quen tất cả các chủ tiệm bar trong thành phố - nghe thấy tiếng súng trong bụi rậm, gã lại thông báo:
 
“ Schmuh đang bắn chim sẻ đấy.”
 
Vì Schmuh không còn sống, tôi có thể ghi đôi lời cáo phó ở đây luôn: Schmuh là một thiện xạ và có lẽ cùng là một thiện nhân; vì mỗi lần đi săn chim sẻ, ông để đạn trong túi trái áo ngoài, còn túi phải thì đầy thức ăn cho chim mà ông phóng tay phân phát cho lũ sẻ, không phải trước, mà là sau khi đã bắn đòm-đòm, và ông không bao giờ bắn quá mười hai con trong một buổi chiều.
 
Một buổi sáng lành lạnh tháng mười một năm 1949, khi Schmuh hãy còn sống và bọn tôi đã tập được vài tuần trên bờ sông Rhine, lần đầu tiên ông nói với chúng tôi; giọng ông oang oang và xẵng đến mức không thể coi là tự nhiên: “Làm sao tôi có thể bắn chim được khi mà tiếng kèn trống của các cậu làm chúng sợ bay đi hết?”
 
“Ôi,” Klepp nói ra cách xin lỗi, giơ cây sáo ra như bồng súng chào, “Ông quả là con người hào hoa thẩm nhạc tuyệt vời, tiếng súng của ông hòa nhịp hoàn hảo với những giai điệu của bọn tôi. Tôi hết sức kính phục, thưa ông Schmuh!”
 
Schmuh hài lòng thấy Klepp biết tên mình và khi ông hỏi làm sao hắn biết, Klepp làm ra vẻ bất bình: “Dào, ai mà chả biết ông Schmuh. Ra phố, lúc nào chả nghe thấy người ta nói với nhau: Schmuh kìa, Schmuh đang đi ngả kia, anh hay chị có thấy Schmuh vừa nãy không, hôm nay Schmuh đi đâu nhỉ, Schmuh đi săn chim sẻ...”
 
Được tôn lên thành một nhân vật quần chúng như vậy, Schmuh bèn mời thuốc lá chúng tôi, hỏi tên chúng tôi và xin được thưởng thức một bài trong bảng tiết mục của chúng tôi. Đáp ứng yêu cầu, chúng tôi chơi một bản taigơ rách, thế là ông gọi bà vợ đang ngồi trên một phiến đá, trầm tư với dòng nước sông Rhine. Cuộn mình trong chiếc măng-tô lông thú, bà tới nhập bọn với chúng tôi và chúng tôi lại chơi tiếp, lần này là bài “Xã hội thượng lưu”. Khi bản nhạc vừa dứt, bà nói trong chiếc măng-tô lông thú: “Chao, Ferdy, đây chính là cái mình cần cho Hầm.” Hình như ông cũng đồng ý. Quả vậy, ông có cảm giác như chính ông đã đi tìm chúng tôi khắp nơi và giờ đây đã thấy. Tuy nhiên, Schmuh vẫn trầm ngâm lựa mấy miếng đá bẹt ném thìa lia trên mặt sông như để có thì giờ suy nghĩ, tính toán, trước khi đưa ra đề nghị: liệu chúng tôi có đồng ý chơi ở Hầm Hành từ chín giờ tối đến hai giờ sáng, mỗi người mười mark một đêm... chậc, cho là mười hai mark đi ... có được không? Klepp nói mười bảy để cho Schmuh hạ xuống mười lăm là vừa, nhưng Schmuh chỉ dừng ở mức mười bốn rưỡi và thế là ngã giá.
 
Nhìn từ mặt phố, Hầm Hành cũng giống như nhiều hộp đêm mới, nghĩa là chỉ khác những quán bar hoặc quán rượu cũ ở chỗ giá cao hơn. Lý do đặt giá cao hơn: cách trang trí nội thất “tân kỳ” - những hộp đêm này thường tự mệnh danh là “câu lạc bộ nghệ sĩ” - và một phần cũng bởi cách đặt tên độc đáo: Phòng Ravioh [2] (kín đáo và thanh lịch), Húy Kỵ (bí ẩn và hiện sinh), Ớt Bột ( cuồng nhiệt) và tất nhiên cả Hầm Hành nữa.
 
Hai chữ Hầm Hành và “chân dung” hồn nhiên đến mức xót xa của một củ hành được vẽ bởi một bàn tay cố tình làm ra vụng về trên một tấm biển tráng men treo theo cách cổ xưa của người Đức vào một cái giá bằng sắt uốn trước cửa nhà. Cửa sổ duy nhất được lắp những ô kính tròn màu xanh chai. Cánh cửa ra vào bằng sắt sơn chống gỉ hẳn đã được dùng làm cửa hầm phòng không trong những năm chiến tranh. Người gác cửa đứng bên ngoài khoác một tấm da cừu quê mùa. Không phải bất cứ ai cũng được phép vào Hầm Hành. Nhất là vào những ngày thứ sáu, ngày phát lương, nhiệm vụ của người gác cửa là đẩy lùi một số khách từ Khu Phố Cổ mà Hầm Hành là quá đắt đối với họ. Bên trong cạnh cửa sơn chống gỉ, những người được phép  vào sẽ thấy năm bậc bê-tông, rồi đến một chiếu nghỉ rộng khoảng một mét vuông, ở đó tấm áp-phích quảng cáo một cuộc triển lãm tranh Picasso điểm vào một nét độc đáo mang tính nghệ thuật. Xuống bốn bậc nữa là phòng gửi mũ áo với tấm biển các-tông nhỏ “Xin trả tiền sau”; thật vậy, gã thanh niên ở quầy (thường là một sinh viên mỹ thuật để râu) không chịu nhận tiền trước: Hầm Hành đắt đã đành nhưng còn là nơi có hạng nghiêm túc.
 
Đích thân chủ nhân chào đón từng vị khácih bằng những cử chỉ kiểu cách, những cái nhướn mày ý nhị như thể thụ pháp cho khách vào một nghi thức huyền bí nào đó. Như chúng ta đã biết, tên chủ nhân là Ferdinand Schmuh; ông là một người thỉnh thoảng đi săn chim sẻ và có con mắt tinh tường nhanh chóng nhận ra lớp người mới phất lên ở Düssendorf (và cả ở những nơi khác nữa, nhưng không nhanh bằng) sau cải cách tiền tệ.

Hầm Hành - ở đây, ta thấy cái nét chân chính thiết yếu cho một hộp đêm thành công - đúng là một tầng hầm thật, ẩm ướt và lạnh giá dưới chân, đó là một thứ hình ống dài khoảng mười tám mét, rộng bốn mét, được sưởi ấm bằng hai cái bếp lò chân chính. Tuy nhiên xét cho cùng, về một mặt nào đó, Hầm Hành không phải là một cái hầm. Trần đã bị bóc đi để cho câu lạc bộ thực sự bao gồm cả căn hộ cũ ở tầng trệt, cửa sổ duy nhất không phải đích thực là một cửa sổ tầng hầm, mà là cửa sổ cũ của căn hộ tầng trệt. Nhưng vì người ta có thể nhìn ra ngoài bằng cửa sổ ấy nếu không có những ô kính đít chai mờ xỉn, vì có một đường hầm với một cầu thang rất dốc và rất độc đáo nên người ta vẫn có lý khi gọi Hầm Hành là một tầng hầm “chân chính”, cho dù nó không phải là một tầng hầm đích thực - vả lại tại sao nó lại phải là thế?
 
Oskar quên không nói với quý vị rằng cái cầu thang dẫn đến đường hầm không phải là một cầu thang đích thực mà tựa như một thứ thang lên ca-bin tàu biển vì ở hai bên các bậc dốc rất nguy hiểm của nó, có hai cái dây phơi quần áo hết sức độc đáo để vịn vào; cầu thang hơi lắc lư một chút nhằm tạo cảm giác như đang viễn du trên đại dương và thêm lý do để đặt giá cao.
 
Hầm Hành được chiếu sáng bằng đèn đất giống như loại đèn axêtylen của thợ mỏ, nó toả một mùi các-bua (lại thêm một lý do để tăng giá) và đưa khách vào không khí một đường hầm mỏ, một mỏ bồ-tạt ở độ sâu chín trăm mười mét dưới lòng đất chẳng hạn: những người thợ bạt vỉa mình trần cuốc vào đá để khai một vỉa mới; người thợ gạt vun đá vụn lại, tời quay ro ro, chất đầy các xe goòng; tít đằng sau, ở chỗ đường hầm ngoặt về phía khoang Priedrichshall 2, một đốm sáng lay động: đó là viên đốc công trưỏng, y đến với một tiếng chào Gluck auf! vui vẻ, tay vung vẩy một cái đèn đất giống hệt những đèn đất treo trên các bức vách thô mộc không trang trí, quét vôi trắng một cách cẩu thả của Hầm Hành, tạo nên một không khí độc đáo với thứ ánh sáng và mùi khen khét đặc biệt của chúng, thêm lý do để đặt giá cao.
 
Ghế ngồi là những cái hòm tầm thường bất tiện, phủ bằng bao đựng hành, tuy nhiên những bàn gỗ bào nhẵn bóng, sạch bong lại đưa khách từ hầm mỏ trở về một quán trọ nông dân yên bình như ta thường thấy trên phim.
 
Tất cả chỉ có vậy! Nhưng còn quầy bar? Không có quầy bar. Bồi bàn, cho xem thực đơn nào! Chẳng có bồi bàn mà thực đơn cũng không nốt. Thực tế, chẳng có ai khác ngoài chúng tôi, Bộ Ba Sông Rhine. Klepp, Scholle và Oskar ngồi dưới cái cầu thang Vốn xưa là một cái thang ca-bin tàu biển. Chúng tôi đến vào lúc chín giờ, lấy nhạc cụ ra khỏi túi và bắt đầu chơi vào quãng mười giờ. Nhưng lúc này mới chín giờ mười lăm, hẵng khoan nói về bọn tôi. Bây giờ, hãy quan sát Schmuh đã, con người thỉnh thoảng đi săn chim sẻ bằng một cây súng cỡ nhỏ.

Khi Hầm Hành vừa đầy khách - đầy một nửa coi là đầy - ông chủ Schmuh bèn quàng khăn vào. Tôi nhắc đến chi tiết này vì việc quàng khăn là một nghi thức đầy ý nghĩa. Đó là một chiếc khăn lụa đặc biệt được đặt riêng cho ông, màu xanh cô-ban, với họa tiết là những củ hành màu vàng kim. Hầm Hành chưa thực sự “mở” khi Schmuh chưa quàng khăn.
 
Các khách hàng - doanh thương, bác sĩ, luật sư, họa sĩ, ký giả, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh, những nhân vật nổi tiếng trong giới thể thao, quan chức trong chính quyền tỉnh và thành phố, tóm lại, một mẫu tiêu biểu của cái giới ngày nay tự xưng là trí thức - đi cùng với vợ, nhân tình, nữ thư ký, họa sĩ trang trí nội thất và có khi với bồ đực, ngồi trên những hòm gỗ phủ bao tải. Trước khi Schmuh quàng khăn vào, mọi người trò chuyện nho nhỏ, gượng gạo, thiếu hào hứng. Những con người này muốn nói chuyện, muốn trút bầu tâm sự, nhưng dường như không cách gì tạo đà được; dù hết sức cố gắng, họ vẫn không nói ra được điều cốt yếu, vẫn men men ở bên rìa. Tuy nhiên, họ rất háo hức thổ lộ can tràng, muốn bộc bạch tim gan, muốn riêng lần này quên hết đầu óc lý trí, phơi trần sự thật không tô vẽ, con người thực bên trong. Đây đó, đôi câu về một sự nghiệp lỡ dở, một cuộc hôn nhân đổ bể, vừa thốt ra đã kìm lại ngay. Có thể hiểu rằng cái ông đầu to, gương mặt thông minh, đôi bàn tay mềm mại gần như mịn màng ngồi đằng kia đang gặp khó khăn với con trai vì cậu này bất mãn với quá khứ của cha. Hai bà mặc áo cổ lông chồn, nom vẫn còn hấp dẫn dưới ánh sáng các-bua, tuyên bố họ đã mất niềm tin, nhưng không nói rõ là niềm tin vào cái gì. Cho đến nay, chúng tôi vẫn không biết gì về quá khứ của ông đầu to cũng như về loại khó khăn mà cậu con trai đã gây ra cho ông vì cái quá khứ mập mờ đó; cũng ví như khi đẻ trứng - mong quý vị bỏ qua cho cách so sánh này - người ta bảo: dặn đi, dặn đi...”
 
Những nỗ lực “dặn” trong Hầm Hành chỉ đem lại kết quả nghèo nàn cho tới khi Schmuh xuất hiện với chiếc khăn đặc biệt của ông. Sau khi cảm ơn các vị khách ưu nhã đã chào đón ông bằng một tiếng “A!” hoan hỉ, ông biến mất vài phút đằng sau một tấm rèm ở cuối Hầm, nơi có phòng vệ sinh và buồng kho.
 
Nhưng tại sao người ta lại “A!” lên một tiếng còn hoan hỉ hơn lúc trước, một tiếng “A!” như tiếng thở phào nhẹ nhõm, khi ông chủ xuất hiện trở lại? Chủ nhân một câu lạc bộ đêm thành công biến sau một tấm rèm, lấy một cái gì đó trong buồng kho, khẽ rầy la người nữ nhân viên coi phòng vệ sinh đang ngồi đọc một tờ họa báo, xuất hiện trở lại trước tấm rèm và được chào mừng như Đấng Cứu Thế, như ông chủ huyền thoại từ Australia trở về!

Schmuh trở lại với một cái giỏ trên tay và đi vào giữa đám khách. Cái giỏ được phủ một chiếc khăn kẻ ô xanh và vàng. Trên chiếc khăn, la liệt những thớt gỗ nhỏ đẽo thành hình lợn và cá. Ông trao những thứ đó cho khách kèm theo những lời chúc tụng và những động tác cúi chào chứng tỏ rõ ràng là ông đã lớn lên ở Budapest và Vienna. Nụ cười của Schmuh giống như nụ cười trên một phiên bản của một phiên bản từ một bức Mona Lisa được coi như là bản gốc.
 
Tuy nhiên, các vị khách coi bộ rất nghiêm túc khi nhận những thớt gỗ nhỏ nọ. Một số người đánh đổi với người bên cạnh vì lẽ người thích lợn, kẻ lại thích cá (nom nó bí ẩn hơn!). Họ hít hít những miếng gỗ, chuyền quanh. Schmuh, sau khi phân phát cho khách ở đường hầm, chờ cho tất cả những thớt gỗ đã yên chỗ.
 
Bấy giờ - và mọi con tim đều ngóng đợi - ông lật chiếc khăn lên, rất giống một nhà ảo thuật: bên dưới, lại một chiếc khăn nữa và trên đó, là những con dao bếp nhưng mới thoạt nhìn thì khó mà nhận ra ngay.
 
Cả những thứ này, ông cũng phân phát suốt lượt. Nhưng lần này ông đi tua nhanh hon, khuấy lên sự căng thẳng hồi hộp cho phép ông đặt giá cao; ông không chúc tụng nữa và không để cho khách có thì giờ đổi dao cho nhau; động tác của ông biểu hiện một sự vội vàng có tính toán. “Vào vạch, chuẩn bị,” ông hô. Đến hai tiếng “Xuất phát,” ông giựt chiếc khăn ra khỏi giỏ, vục tay vào giỗ và chìa ra, phân chia, phân phát cho đám đông... những củ hành - hệt như những củ hành vẽ trên chiếc khăn của ông, vàng kim, hơi cách điệu, những củ hành tầm thường, không phải loại củ đẹp như hoa uất kim hương, mà là loại các bà nội trợ vẫn mua ngoài chợ, loại các bà hàng rau quả vẫn bán, loại các gia đình nông dân - chồng, vợ hay người làm mướn - vẫn trồng và thu hoạch, những củ hành như ta có thể thấy trên những tranh tĩnh vật của các bậc thày hạng hai của Hà Lan. Vậy là những củ hành loại đó, Schmuh đem phân chia giữa đám khách cho đến khi mỗi người đều có một củ và không còn nghe thấy tiếng động nào khác ngoài tiếng bếp lò ro ro và tiếng đèn đất xè xè. Bởi vì tiếp theo nghi thức trang trọng phân phối hành là im lặng. Giữa im lặng đó, Ferdinand Scbmuh cất tiếng: “Xin mời quý bà quý ông!”. Và ông vắt một đầu khăn lên vai trái như một vận động viên trượt tuyết trước khi xuất phát. Đó là hiệu lệnh.
 
Người ta bắt đầu bóc hành. Nghe nói hành có tới bảy lớp vỏ. Quý bà quý ông bóc hành bằng dao bếp. Họ bóc lớp vỏ thứ nhất, thứ ba, lớp màu vàng rơm, lớp màu vàng kim, lớp màu nâu gỉ sắt, hay chuẩn hơn, màu hành, họ bóc cho đến khi củ hành trở nên trong như thuỷ tinh, xanh xanh, trăng trắng, âm ẩm, tiết ra một thứ nước dinh dính, cho đến khi hăng sè mùi hành. Rồi họ thái nó như thái hành, khéo léo hay vụng về, trên những mảnh thớt nhỏ hình lợn hoặc cá; họ thái dọc thái ngang cho đến khi nước hành tóe ra, bốc hơi - các ông già không thạo sử dụng dao bếp phải thận trọng để khỏi cắt phải tay, mặc dầu vậy một số vẫn bị đứt tay lúc nào không biết - các bà thì khéo hơn, nhất là những bà nội trợ quen làm những món ăn có hành; nhưng trong Hầm hành của Schmuh, không làm món ăn và ai muốn ăn thì đến chỗ khác, đến quán Cá chẳng hạn, vì ở Hầm Hành, người ta chỉ thái hành thôi. Nhưng tại sao lại là hành? Bởi vì đó là tên của câu lạc bộ này. Hầm Hành có đặc sản riêng của nó: hành. Và hơn nữa, hành thái nhỏ, khi ta nhìn thật gần... nhưng thôi, nói vậy là đủ. Các vị khách của Schmuh đã thôi không nhìn nữa, họ không thể nhìn thấy gì nữa, bởi vì mắt họ giàn giụa nhưng không phải vì tim họ đầy tràn. Không, không phải hễ tim đầy tràn thì tất yếu mắt phải lã chã giọt châu, một số người không bao giờ nhỏ được một giọt nước mắt, nhất là ở thế kỷ của chúng ta, cái thế kỷ mà bất luận mọi đau buồn và thống khổ, chắc chắn sẽ bị hậu thế coi là thế kỷ ít nước mắt nhất. Chính cái sự hạn hán nước mắt ấy đã thúc đẩy những người còn hạch nước mắt đến Hầm Hành của Schmuh, ở đó ông chủ phát cho họ một cái thớt nhỏ xíu - hình lợn hoặc cá - một con dao bếp với giá tám mươi pfennig và một củ hành bình thường trồng ở vườn với giá mười hai mark để cho họ thái nhỏ ra, nhỏ nữa, nhỏ mãi, kỳ đến khi nước hành bắt đầu phát huy hịêu quả. Hiệu quả gì? Hiệu quả mà thế giới này cùng với tất cả những đau thương của nó không tạo nên được: giọt nước mắt người tròn trĩnh. Phải, nước hành làm người ta khóc. Cuối cùng thì họ lại có thể khóc được. Khóc đến nơi đến chốn, không kiềm chế, khóc như điên. Nước mắt trào ra, cuốn đi tất cả. Mưa ập đến. Sương trong. Oskar hình dung những cửa cống mỏ, nhưng con đập vỡ tung trong dòng lũ mùa xuân. Tên nó là gì nhỉ, cái dòng sông cứ mùa xuân đến lại tràn bờ mà chính phủ chẳng làm gì để ngăn lại?
 
Sau trận lũ lụt trị giá hai mươi mark tám mươi ấy, những con người đã có dịp khóc thoải mái, bắt đầu mở miệng nói. Vẫn còn dè dặt như thể ngỡ ngàng về sự sống sượng của những lời lẽ do chính mình nói ra, những người vừa khóc giờ bộc bạch tâm can với những người ngồi bên cạnh trên những chiếc hòm tuềnh toàng phủ bao tải, tự nguyện để cho họ hỏi han, lộn trái mình từ trong ra ngoài như lộn áo. Nhưng Oskar, mắt ráo hoảnh, cùng với KLepp và Scholle ngồi sau cái cầu thang vốn là thang lên ca-bin tàu biển, sẽ kín miệng; trong toàn bộ những thổ lộ, tự thú, tự kết tội lọt vào tai, gã sẽ chỉ kể câu chuyện về cô Pioch bao lần mất đi mất lại người tình là ông Vollmer khiến tim thành chai và mắt cạn khô đến nỗi cần phải thường xuyên tới Hầm Hành của Schmuh.

Chúng tôi gặp nhau trên tàu điện, cô Pioch kể sau khi đã khóc thỏa thích. Tôi vừa ở hiệu sách về (cô là chủ một hiệu sách rất tốt mà cô tự điều hành lấy). Tàu chật ních và Willy - tức là ông Vollmer - giẫm lên chân phải tôi, ảnh giẫm mạnh đến nỗi tôi không đứng nổi trên cái chân đó nữa và chúng tôi yêu nhau ngay từ cái nhìn đầu tiên. Tôi cũng không đi được nữa nên ảnh đưa tay cho tôi vịn, tháp tùng tôi, đúng hơn là bế tôi về nhà. Và từ hôm ấy, ảnh âu yếm chăm sóc cái móng chân tím bầm lại dưới gót chân ảnh. Ảnh yêu tôi, chứ không chỉ riêng ngón chân tôi, cho đến khi cái móng bong ra khỏi ngón - cái ngón cái bên phải ấy - và không có gì ngăn nổi một cái móng mới mọc thế vào chỗ ấy. Ngay hôm cái móng chết rụng đi, tình yêu của ảnh bắt đầu nguội lạnh, cả hai chúng tôi đều đau khổ vì chuyện ấy. Chính vào thời gian này - cách nào đó, ảnh vẫn còn yêu tôi vì chúng tôi có nhiều điểm hợp nhau - Willy đã nảy ra ra cái ý ghê gớm. ấy. Hãy để anh, ảnh van nài, giẫm lên ngón cái chân trái em cho đến khi nó tím bầm 'lại. Tôi thuận tình và ảnh giẫm. Một lần nữa, ảnh lại yêu tôi hết mình và tình yêu đó kéo dài - đến khi móng cái của tôi, tức thị là bên chân trái, rụng đi như một chiếc lá úa. Và thế là mối tình của chúng tôi lại sang thu. Willy muốn tái diễn với ngón cái chân phải của tôi mà móng của nó đã mọc đầy lại. Nhưng tôi không chịu. Nếu tình yêu anh dành cho em thật sự mãnh liệt, tôi nói, thì nó phải bền lâu hơn một cái móng chân. Anh có vẻ như không hiểu nổi và bỏ tôi. Mấy tháng sau, chúng tôi gặp nhau trong một cuộc hoà nhạc.Tình cờ, có một ghế trống bên cạnh tôi và sau giờ giải lao, ảnh đến ngồi vào đó. Người ta chơi bản Giao hưởng số chín [2]. Khi chương hợp xướng bắt đầu, tôi rút chân phải ra khỏi giày và giơ ra trước ảnh. Ảnh lấy hết sức bình sinh dận lên đó, vậy mà tôi không hề làm điều gì ảnh hưởng đến buổi hoà nhạc. Bảy tuần sau, Willy lại bỏ tôi. Chúng tôi còn có hai lần tái hồi ngắn ngủi nữa; thêm hai lần tôi chìa ngón chân ra, đầu tiên là chân trái, rồi đến chân phải. Bây giờ cả hai ngón chân cái của tôi đều tàn phế. Móng không mọc lại được nữa. Thi thoảng Willy đến thăm tôi. Run rẩy vì thương cảm cho tôi và cho chính mình, ảnh ngồi dưới chân tôi trên thảm và, bằng con mắt cạn khô cả lệ lẫn tình yêu, trân trân nhìn hai nạn nhân mất móng của cuộc tình chúng tôi. Đôi khi tôi bảo: Lại với em, Willy, rồi chúng ta cùng đến Hầm Hành của Schmuh khóc một chầu cho đã. Nhưng cho đến nay, ảnh vẫn không chịu. Tội nghiệp trái tim đau của ảnh không biết đến sự an ủi của nước mắt.

Về sau - điều này Oskar tiết lộ chỉ để thoả mãn trí tò mò của quý vị mà thôi - ông Vollmer (tiện thể xin nói là ông ta bán ra-đi-ô) cũng có đến Hầm Hành. Họ cùng khóc và hình như, theo Klepp nói với tôi vào buổi đến thăm hôm qua, họ vừa mới làm lễ thành hôn.
 
Những bi kịch cơ bản của kiếp nhân sinh, những nỗi niềm chất chứa trong lòng được hành đem lại chút xả hơi trong khoảng từ thứ ba đến thứ bảy – Hầm Hành đóng cửa vào chủ nhật. Nhưng những trận khóc dữ dội nhất lại diễn ra vào thứ hai, khi mà Hầm của chúng tôi được dành riêng cho lớp trẻ: hằng tuần, vào ngày thứ hai, Schmuh phục vụ sinh viên với nửa giá. Khách lui tới thường xuyên nhất là nam nữ sinh viên y khoa hoặc dự bị đại học y khoa. Một số sinh viên mỹ thuật, đặc biệt những cô cậu dự định sau này sẽ dạy vẽ, cũng chi vào hành một phần thu nhập chính của mình. Nhưng, tôi thường tự hỏi, các cô cậu còn đang học năm cuối trung học lấy tiền đâu cho khoản chi này?
 
Lớp trẻ có cách khóc khác. Họ có những vấn đề hoàn toàn khác với các bậc cha anh, nhưng điều đó không có nghĩa là thi cử là nguồn gốc duy nhất tạo nên những lo âu của họ. Ôi, có biết bao chuyện xung đột giữa cha và con trai, mẹ và con gái đã được thổ lộ trong Hầm Hành! Khá nhiều thanh niên cảm thấy người đời không hiểu mình, nhưng phần lớn đã quen, chả việc gì phải khóc. Oskar lấy làm mừng khi thấy tuổi trẻ vẫn còn có thể khóc vì tình yêu, chứ không phải chỉ vì không thoả mãn tình dục. Gerhard và Gudrun là một thí dụ.
 
Hồi đầu, họ ngồi ở tầng dưới; mãi về sau, họ mới cùng nhau khóc trong đường hầm. Nàng cao lớn, lực lưỡng, một vận động viên bóng ném và sinh viên hóa học. Tóc búi sau gáy. Cặp mắt hiền mẫu màu xám luôn nhìn thắng trước mặt khiến tôi nhớ đến những áp-phích của Hội Phụ Nữ trong thời chiến.
 
Mặc dầu trán nàng mịn màng, trắng như sữa và ngời ngời sức khoẻ, bất hạnh lại ở chính mặt nàng. Hai má nàng, cái cằm rắn rỏi tròn trĩnh của nàng cho đến cục hầu đều mang dấu vết tệ hại của một bộ râu um tùm bất trị mà cô gái tội nghiệp không sao cạo tiệt đi được. Làn da nhạy cảm của nàng phản ứng mạnh mẽ với lưỡi dao cạo: Gudrun khóc vì những nốt đỏ, những vết nứt nẻ, những mụn trên da mặt, vì bộ râu không ngừng mọc lại. Họ không gặp nhau trên xe điện như cô Pioch và ông Vollmer, mà trên xe lửa. Chàng ngồi trước mặt nàng, cả hai đều trở về từ đợt nghỉ giữa hai học kỳ. Chàng lập tức yêu nàng bất chấp bộ râu. Nàng thì vì bộ râu, không dám yêu chàng, nhưng lại ngưỡng mộ cái mà chàng coi là bất hạnh của mình: cái cằm không râu, nhẵn thín như đít trẻ con, khiến chàng rất bẽn lẽn trước các cô gái. Tuy nhiên, Gerhard lại bắt chuyện với Gudrun và đến lúc xuống tàu ở ga Düssendorf, chí ít họ cũng đã kết bạn với nhau. Sau đó, họ gặp nhau hằng ngày. Họ nói chuyện này chuyện khác và chia sẻ với nhau nhiều ý nghĩ, nhưng không bao giờ đả động đến bộ râu vắng thiếu hay bộ râu ngoan cố hiện diện quá đáng. Gerhard rất ân cần với Gudrun; biết da nàng nhạy cảm, chàng không bao giờ hôn nàng. Tình yêu của họ do vậy vẫn trong trắng, mặc dù cả hai đều không quá coi trọng sự trong trắng bởi nàng theo ngành hóa học còn chàng thì học y. Khi một người bạn gợi ý họ nên đến Hầm Hành, họ mỉm cười khinh mạn với cái vẻ hoài nghi đặc trưng của những người làm nghề hóa và y. Nhưng rồi, cuối cùng, họ cũng đến, nhằm mục đích lấy tài liệu như họ cam đoan với nhau. Chưa bao giờ Oskar thấy những người trẻ tuổi khóc như thế. Họ đến hoài. Họ nhịn ăn để dành sáu mark bốn mươi là phí tổn cho mỗi buổi và họ khóc về bộ râu thiếu vắng và bộ râu hiểm họa cho làn da con gái mềm mại. Đôi khi họ tìm cách tránh xa Hầm Hành. Một hôm thứ hai, họ không đến, nhưng thứ hai sau, họ lại trở lại. Miết dúm hành thái nhỏ giữa những ngón tay, họ thú nhận là họ đã định hà tiện sáu mark bốn mươi, thử làm điều đó trong phòng mình bằng một củ hành rẻ tiền nhưng kết quả không như vậy. Cần có một cử tọa. Khóc tập thể dễ hơn nhiều: nó đem lại cho ta một ý thức thực sự về tình anh em trong đau buồn khi mà bên phải bên trái ta và ở đường hầm trên đầu ta, các bạn sinh viên của ta đều đang khóc đến rã con tim.
 
Đây cũng là một trường hợp trong đó Hầm Hành không những đem lại nước mắt mà còn dần dần chữa trị thành công, vẻ như nước mắt đã cuốn đi mọi mặc cảm ức chế và kéo họ lại gần nhau. Chàng hôn đôi má lởm chởm của nàng, nàng âu yếm xoa cái cằm nhẵn thín của chàng và rồi một hôm, họ thôi hẳn không còn là khách của Hầm Hành, họ không cần nó nữa. Mấy tháng sau gặp lại họ ở phố Königs-Allee, thoạt đầu Oskar không nhận ra. Anh chàng Gerhard nhẵn nhụi giờ phất phơ một bộ râu vàng hung, còn đám bụi rậm xưa um tùm trên mặt Gudrun chỉ còn là một vệt lông tơ loáng thoáng trên môi trên, rất hợp với nàng. Gằm và má nàng nhẵn mịn, ngời ngời, sạch mọi dấu vết cỏ dại. Vẫn còn đi học nhưng đã cưới, một cặp vợ chồng sinh viên hạnh phúc. Oskar có thể hình dung năm mươi năm sau họ nói chuyện với các cháu nội ngoại. Bà Gudrun: “Đó là vào cái hồi ông nhà mình chưa có râu.” Và ông Gerhard: “Dạo ấy, Bà nhà mình đến là khổ vì bộ râu và thứ hai nào ông Bà cũng đến Hầm Hành."
 
Nhưng, quý vị hẳn sẽ hỏi, thế thì ba gã nhạc công còn ngồi dưới chân thang ca-bin hay cầu thang để làm gì? Một cái cửa hàng hành đầy những tiếng khóc than, rền rĩ và nghiến răng kèn kẹt thì cần gì đến một ban nhạc chính quy được trả lương một cách chính quy?
 
Khi một đợt khách đã khóc xong và trút vợi nỗi lòng, chúng tôi cầm lấy nhạc cụ và bắc một cây cầu nhạc đưa họ trở lại trò chuyện bình thường như mọi ngày. Chúng tôi giúp cho họ thanh thản rời khỏi Hầm Hành và nhường chỗ cho đợt khách mới. Bản thân Klepp, Scholle và Oskar thì chẳng khoái gì hành. Với lại, trong hợp đồng có một điều khoản cấm chúng tôi “dùng” hành theo cách của khách hàng. Dù sao đi nữa, chúng tôi cũng không cần đến nó. Scholle-ghi-ta chẳng có lý do gì để đau buồn, lúc nào hắn cũng có vẻ sung sướng và mãn nguyện, kể cả khi hai dây đàn của hắn bựt đứt cùng một lúc giữa chừng một bản rag. Còn Klepp thì cho đến nay, bản thân khái niệm khóc, cười vẫn là một điều nhập nhằng đối với hắn. Nước mắt làm hắn bật cười. Tôi chưa từng thấy ai cười dữ như Klepp trong đám tang bà dì vẫn giặt quần áo và bít tất cho hắn trước khi hắn lấy vợ. Nhưng Oskar thì sao? Oskar có nhiều lý do để khóc. Chẳng phải là gã cũng cần đến nước mắt để cuốn trôi đi ký ức về Xơ Dorothea và cái đêm dài vô bổ trên tấm thảm xơ dừa còn dài hơn cả đêm, đó sao? Và Maria thân yêu của tôi nữa? Rành là nàng cũng là một nguyên nhân khác gây cho tôi buồn tủi. Chăng phải là Stenzel, lão sếp của nàng, tha hồ di đi về về căn hộ ở Bilk bất cứ lúc nào hắn thích đó sao? Chẳng phải Kurt con trai tôi đã quen gọi lão chủ hiệu tạp hoá ấy mới dầu là “bác Stenzel” sau đó là “ba Stenzel” đó sao? Và còn những người nằm sâu trong cát của nghĩa trang Saspe hoặc đất sét của nghĩa trang Brenntau: mẹ tội nghiệp của tôi, Jan Bronski ngốc dại và đáng yêu và Matzerath, người biểu đạt tình cảm bằng những món xúp? Đúng ra phải khóc thương tất cả những người ấy. Nhưng Oskar thuộc số người may mắn còn có thể khóc mà không cần đến hành. Đã có cái trống giúp tôi. Nó chỉ cần dạo mấy nhập phách rất đặc biệt là khiến Oskar tan thành nước mắt không hơn mà cũng chẳng kém những gọt nước mắt mà người ta phải trả giá rất cao ở Hầm Hành mới nặn ra được.
 
Còn ông chủ Schmuh, ông cũng chẳng bao gờ dùng đến hành. Trong trường hợp của ông, những con chim sẻ ông bắn ở những hàng rào, bụi rậm ngoài trời là cách xả hơi. Thi thoảng, sau khi bắn, Schmuh xếp mười hai con chim sẻ chết thành hàng trên một tờ báo, tưới nựớc mắt trên những nắm lông nhỏ ấy trước khi thân chúng kịp lạnh và, vẫn không ngừng khóc, rắc thức ăn cho chim trên những đồng cỏ ven sông và ném thìa lia trên mặt sông, ở Hầm, ông còn có một cách khác để trút vợi nỗi đau buồn, ông đã nhiễm thói quen mỗi tuần một lần xỉ vả tàn tệ chị lao công coi phòng vệ sinh bằng những từ cổ lỗ như “đồ giăng há”, “gái thanh lâu khốn kiếp”, “tú bà”... Người ta có thể nghe thấy ông quát: “Xéo đi cho khuất mắt, đồ quái vật nhơ bẩn!” Ông đuổi thẳng chị ta tại trận và thuê một người khác. Nhưng chẳng bao lâu ông đâm bí, không tìm đâu ra người trong coi phòng vệ sinh nữa. ông đành phải thuê lại những người ông đã đuổi. Họ mừng rỡ chấp nhận: những lời chửi rủa của Schmuh chẳng nghĩa lý gì, mà ở đây họ kiếm được tốt tiền. Khách hàng ở Hầm Hành – hẳn là do khóc nhiều - vào phòng vệ sinh luôn xoành xoạch và hơn nữa, người đa lệ thường có chiều hướng hào phóng hơn kẻ mắt ráo hoảnh. Nhất là các quý ông, sau khi xin lỗi “ra ngoài một lát” bằng một giọng nghẹn ngào nước mắt, họ thường dễ thọc tay sâu vào ví. Một nguồn thu nhập khác của các nữ nhân viên coi phòng vệ sinh là bán những chiếc mù-soa trứ danh in hình củ hành với dòng chữ: Trong Hầm Hành. Món hàng này đắt như tôm tươi vì sau khi dùng để lau nước mắt, chúng trở thành vật lưu niệm hấp dẫn và còn có thể chít lên đầu hoặc làm cờ hiệu cho các khách thường xuyên của Hầm Hành treo ở kính chiếu hậu xe hơi của mình, bằng cách đó đem tiếng tăm của Hầm Hành của Schmuh, vào những kỳ đi nghỉ, tới Paris, Côte d’Azur, Roma, Ravenna, Rimini, thậm chí đến cả Tây Ban Nha xa xôi.
 
Ban nhạc chúng tôi cùng các bài nhạc của mình còn có một nhiệm vụ khác: đôi khi một số khách “chơi” liền tù tì hai củ hành, dẫn tới một sự bùng nổ có thể dễ dàng biến thành một cuộc truy hoan. Schmuh đòi hỏi phải kiềm chế; khi các quý ông bắt đầu tháo cà-vạt và các quý bà quý cô bắt đầu cởi áo cánh, ông liền hạ lệnh cho chúng tôi khởi nhạc xen vào ngăn chặn sự khuấy động bản năng dâm đãng. Dù sao, bản thân Schmuh cũng phải gánh phần lớn trách nhiệm về những tình huống gay cấn này do cái thói quen tệ hại là phục vụ tiếp một củ hành thứ hai cho những vị khách quá nhạy cảm.
 
Cuộc bùng nổ dữ dội nhất, theo trí nhớ của tôi, đã có ảnh hưởng tới toàn bộ sự nghiệp của Oskar, nếu không muốn nói là một bước ngoặt quyết định. Vợ Schmuh, bà Billy sôi nổi, không hay đến Hầm nhưng mỗi lần đến, bà đều đi cùng những người bạn mà Schmuh không ưa lắm. Một đêm, bà xuất hiện cùng Woode, nhà phê bình âm nhạc và Wackerlei, một kiến trúc sư có thói quen hút tẩu. Cả hai người này đều là khách quen, nhưng nỗi buồn của họ thuộc loại đáng chán nhất. Woode khóc vì lý do tôn giáo - y luôn luôn cải giáo hoặc tái cải giáo từ đạo này sang đạo khác. Còn Wackerlei, người hút tẩu, thì đến giờ vẫn còn than tiếc một chức giáo sư mà lão đã từ chối hồi đầu những năm 20 chỉ vì một ả Đan Mạch phóng đãng sau đó đã bỏ lão để lấy một gã người Nam Mỹ và đẻ sáu con với gã; điều này vẫn còn gây buồn bực cho Wackerlel, khiến cho cái tẩu của lão cứ tắt hoài tắt huỷ. Chính cái tay Woode quỷ quyệt đã thuyết phục bà Schmuh thái một củ hành. Bà thái, nước mắt trào ra và bà bắt đầu giãi bày. Bà phanh phui Schmuh, kể những chuyện mà Oskar vì tế nhị sẽ không nhắc đến. Phải mấy vị khách lực lưỡng hợp sức lại mới ngăn nổi Schmuh khỏi xông vào vợ mình - xin đừng quên rằng trên mỗi bàn đều có dao bếp. Dù sao mặc lòng, Schmuh cũng bị cưỡng chế cho đến khi bà Billy hớ hênh có thể chuồn khỏi cùng hai người bạn Woode và Wackerlei.
 
Schrmuh rất đỗi bối rối. Điều đó biểu hiện rõ ở cái cách ông không ngừng đưa cả hai tay lên sửa đi sửa lại chiếc khăn quàng in hình những củ hành. Mấy lần ông biến vào sau tấm rèm và chửi rủa chị nhân viên coi phòng vệ sinh. Cuối cùng, ông trở lại với một giỏ đầy và bằng một giọng hân hoan cuồng loạn, tuyên bố với khách rằng ông, Schmuh đây, đang lên cơn hào phóng và sẽ đãi không một chầu hành cho tất cả. Nói rồi, phân phát luôn.

Đối với Klepp, mọi trạng huống của con người, dù đau đớn đến mấy, cũng chỉ là một trò đùa hay ho, nhưng lần này, hắn cảm thấy nghiêm trọng và cầm cây sáo lên trong tư thế sẵn sàng. Bởi vì chúng tôi biết việc cho những con người ở trạng thái căng thẳng cao độ này liên tiếp hai suất tháo dòng lũ nước mắt có khả năng cuốn băng tất cả, là nguy hiểm biết nhường nào.
 
Thấy chúng tôi cầm nhạc cụ ở tư thế sẵn sàng, Schrmuh bèn cấm chúng tôi không được chơi, ở các bàn, dao bếp bắt đầu làm việc. Những lớp vỏ ngoài đẹp đẽ bị vứt bỏ vung vãi, dao xắn vào lớp thịt hành trong nhờ nhờ với những vệt xanh nhạt. Lạ thay, nước mắt không bắt đầu từ phía nữ. Những quý ông ở tuổi tráng niên - ông chủ một xưởng xay bột lớn, một chủ khách sạn cùng bồ trai son phấn nhẹ nhàng, một ông quý phái trong hội đồng của một hãng kinh doanh quan trọng, cả một bàn gồm các nhà sản xuất y phục nam về dự hội nghị ở thành phố, tay kép hói mà ở Hầm, người ta thường gọi là ông Kèn Kẹt vì bao giờ ông ta cũng nghiến răng kèn kẹt khi khóc - tất cả đều lã chã nước mắt trước các bà các cô. Nhưng cả bên nam lẫn bên nữ đều không trút những giọt nước giải thoát và xả hơi như với củ hàqh đầu tiên. Đây là một cơn khóc co giật, điên dại. Kèn Kẹt nghiến răng nghe rợn đến đông cả máu; nếu ông ta đang ở trên sàn diễn, khéo cả rạp cùng nghiến răng với ông mất. Ông chủ nhà máy xay rũ cái đầu tóc hoa râm chải mượt trên mặt bàn. Ông chủ khách sạn hòa những co giật của mình với những quằn quại của cậu bồ trẻ thanh tú. Schmuh đứng cạnh cầu thang thả chiếc khăn rủ xuống, dõi nhìn đám người gần như lồng lộn với một niềm thoả mãn hiểm độc. Đột nhiên một bà đứng tuổi xé toạc áo nịt ngực trước mặt anh con rể. Cậu bồ trẻ của ông chủ khách sạn, vốn đã được chú ý do vẻ hấp dẫn hơi khác thường, cởi áo phô cái mình trần da đồng hun và nhảy lên bàn biểu diễn một điệu múa có lẽ của một nước phương Đông nào đổ. Cuộc truy hoan đang dậy men. Nhưng mặc dầu khởi đầu khá dữ dội, nó vẫn buồn tẻ, thiếu cảm hứng không bõ mất công mô tả chi tiết.
 
Schmuh thất vọng, cả Oskar cũng nhướn mày lên ngán ngẩm. Một vài màn thoát y vũ tươi mát; mấy chàng xuất hiện với đồ lót nữ; mấy nàng thắt cà-vạt và mang đai đeo quần; một hai cặp kéo nhau xuống gầm bàn; Kèn Kẹt nhai một cái xú-chiêng và có vẻ như đã nuốt chửng một phần.
 
Huyên náo dễ sợ, những tiếng gào, hú chẳng có thực chất gì đằng sau. Cuối cùng, ngán ngẩm và có lẽ cũng sợ cảnh sát đến. Schmuh rời bỏ vị trí bên Gầu thang, cúi xuống phía chúng tôi, khẽ thúc vào Klepp, rồi vào tôi và rít lên qua kẽ răng: “Nổi nhạc lên! Vì Chúa, hãy chơi một cái gì cho chúng dừng lại đi!”
 
Nhưng sự tình lại xoay ra thế này: vốn tính dễ chiều, Klepp đang khoái. Hắn cười lăn cười lộn, không làm gì được với cây sáo của mình. Scholle, vốn coi Klepp như thày mình, bắt chước mọi hành động của Klepp, cho chí tiếng cười. Còn lại có mình Oskar - nhưng Schmuh có thể trông cậy vào tôi đây! Tôi kéo cái trống từ dưới gầm ghế lên, uể oải châm một điếu thuốc và bắt đầu dạo trống.
 
Không hề có ý tứ gì trước, tôi vẫn làm cho thính giả hiểu mình. Tôi quên đi mọi lề lối chơi nhạc quán bar. Tôi cũng không chơi jazz. Tôi không muốn người ta coi tôi là một thằng cha mê cuồng bộ gõ. Phải, tôi là một tay trống tốt, nhưng không phải một gã jazz-cuồng. Hẳn nhiên là tôi thích jazz, nhưng tôi cũng thích cả những điệu van-xơ thành Vienna nữa. Tôi biết chơi cả hai, nhưng tôi còn chơi được cả cái khác nữa. Khi Schmuh yêu cầu tôi đưa trống tôi vào cuộc, tôi không chơi những gì tôi đã học được, tôi chơi bằng trái tim tôi. Đây là một chú bé Oskar ba tuổi cầm dùi trống lên. Trống tôi trở ngược về xưa, gợi lên hình ảnh thế giới trong con mắt một đứa trẻ lên ba. Và điều đầu tiên tôi làm đối với những con người hậu chiến không quậy nổi một cuộc truy hoan thật sự này là thắng cương cho họ. Tôi cầm cương đưa họ về phố Posadowski-Weg, đến vườn trẻ của Cô Kauer. Được rồi, nhong nhong, hàm dưới họ đã trễ xuống, họ nắm tay nhau, xoay đầu ngón chân vào trong và chờ tôi, Người Thổi Sáo Dụ Chuột. Tôi rời vị trí dưới cầu thang và đi lên dẫn đầu. “Nướng, nướng, nướng bánh” - đó là tiêu mẫu đầu tiên của tôi. Nhận thấy mình đã thành công - một niềm vui trẻ thơ bao trùm khắp chỗ - tôi quyết định cho họ một mẻ sợ bạt vía. “Đâu rồi mụ phù thuỷ đen như hắc ín?” Và tôi gõ trống vẽ lên hình ảnh mụ phù thuỷ đen độc ác thỉnh thoảng vẫn làm tôi khiếp hãi trong thời thơ ấu và những năm gần đây càng làm tôi sợ hơn: to đùng, đen như than, mụ lồng lộn khắp Hầm Hành. Bằng cách ấy, tôi đã đạt kết quả mà Schmuh phải cần đến hành mới đạt được. Các vị khách nam và nữ khóc những giọt nước mắt trẻ thơ to tròn. Họ sợ tái xanh tái tử, run cầm cập, xin tôi rủ lòng thương. Thế là để trấn an họ và một phần để giúp họ mặc lại quần áo - nhung, lụa, xa-tanh - và đồ lót, tôi gõ tiếp: “Lơ, lơ, lơ, áo tôi màu lơ,” và “Đỏ, đỏ, đỏ, quần áo tôi màu đỏ,” hoặc “Xanh, xanh, xanh...” và “Vàng, vàng, vàng...” Khi tôi điểm hết các màu quen thuộc, thì những người được tôi chăm sóc đều đã y phục chỉnh tề. Tôi bèn sắp xếp họ thành một đám rước, dẫn họ đi qua Hầm Hành như thể diễu qua đường Jeschkentaler-Weg. Tôi dẫn họ trèo lên Gò Erbsberg, vòng quanh tượng đài Gutenberg xấu dễ sợ. Trên đồng cỏ Thánh Jean, trống tôi làm nở rộ những bông cúc tương tư cho các quý bà quý ông tha hồ hái trong niềm vui hồn nhiên ngây thơ. Rồi cuối cùng, muốn đem lại cho tất cả những người có mặt, kể cả ông chủ Schmuh, một cái gì giúp họ nhớ lại thời đi vườn trẻ, tôi cho phép tất cả bọn họ tè. Chúng tôi đang đến gần Khe Núi của Quỷ, một nơi hắc ám, vừa đi vừa nhặt hạt giẻ gai và trống tôi nói: bây giờ, các con có thể mở vòi. Và họ bèn lợi dụng thời cơ. Tất cả các quý ông quý bà, ông chủ Schmuh, cả chị nhân viên coi phòng vệ sinh ở phía sau, tất cả đều tưới, tè-è-è, tè-è-è-tè-è-è, họ cúi gập người, lắng nghe cái âm thanh mình đang phát ra ướt đẫm quần trong quần ngoài. Chỉ đến khi tiếng nhạc đó bặt dần - Oskar chỉ đệm theo khe khẽ bằng một nhịp rền xa vắng để làm bật hiệu quả cái âm thanh tuổi thơ ấy - tôi mới nện một tiếng bùm! lớn, chuyển qua khúc vui xả láng. Khắp chung quanh tôi, mọi người reo hò, cười khanh khách, bi bô những chuyện không đâu như trẻ con.
 
Tan tành ô cửa kính
Uống bia tươi với đường
Cô Hạt Mít má phính
Thổi kèn dưới hàng dương
 
Tôi dẫn họ ra phòng gửi quần áo, ở đó một gã sinh viên ngỡ ngàng giao trả áo ngoài cho đám học sinh mẫu giáo của Schmuh; rồi, theo tiết tấu của bài đồng dao quen thuộc “Các cô thợ giặt cần mẫn”, tôi dạo trống đưa họ lên các bậc bê-tông, qua trước mặt người gác cổng khoác tấm da cừu quê mùa. Tôi tạm biệt các học sinh mẫu giáo dưới bầu trời đêm mùa xuân 1950 lành, lạnh, chi chít sao như trong truyện thần tiên tựa hồ được tạo nên cho phù hợp với hoàn cảnh. Quên lối về nhà, hồi lâu họ tiếp tục những trò nghịch ngợm con nít trong Khu Phố Cổ cho đến khi, chung cuộc, cảnh sát phải giúp họ nhớ ra tuổi tác, nhân thân, số điện thọai và địa vị xã hội của mình.
 
Cười thoải mái và vuốt ve cái trống, tôi quay về Hầm Hành, ở đó Schmuh vẫn đang vỗ tay, dạng chân đứng cạnh cầu thang, hai ống quần ướt sũng, dường như cảm thấy trong vườn trẻ của cô Kauer cũng sung sướng như trên đồng cỏ ven sông Rhine khi xách súng đi bắn chim sẻ ở tuổi thật của mình.
 
[...]
______
Chú thích
[1] Mội hình thức nhạc jazz rất giậm giật.
[2] Món ăn Ý gồm thịt băm và phó-mát cuộn bột, gần như bánh cuốn của ta.
[3] Tác phẩm bất hủ của L. Beethoven.
 
...! Tràn đầy mà rỗng lặng
Biển vô lượng thủy triều
Đường về tâm hết động
Tuyệt chiêu là vô chiêu !...

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 22.07.2016 15:54:15 bởi tducchau>
[...]
 
 
TRÊN TẤM THẢM XƠ DỪA
 
 
Phải, vào cái ngày tôi vừa kể lại đó, Oskar đã đem lại cho Klepp đầy đủ lý do để ra khỏi giường. Hắn hoan hỉ tung hê mớ chăn nệm hôi hám mốc meo; hắn cho phép nước máy chảy tràn trên người hắn, hắn là một con người mới thuộc dạng lúc nào cũng sôi nổi hô "A-lê, hấp!" và "Thế giới là của chúng ta!". Vậy mà bây giờ, khi mà đến lượt Oskar được ưu tiên nằm lì trên giường, tôi lại nghĩ thế này: Klepp đang cố trả miếng tôi, hắn đang tim cách đẩy bật tôi ra khỏi cái giường cũi của bệnh viện tâm thần này vì tôi đã khiến hắn phải rời khỏi cái giường kiêm bếp nấu spaghetti của hắn.
 
Mỗi tuần một lần, tôi phải chịu đựng cuộc đến thăm của hắn, nghe những thuyết giảng về jazz và tuyên ngôn âm nhạc- cộng sản của hắn. Trong những ngày nằm lì trên giường, với tư cách là một kẻ bảo hoàng, hắn đã một lòng một dạ với hoàng gia Anh, thế mà tôi vừa tách rời hắn khỏi cái giường và trường phái kèn túi Elisabeth, hắn liền trở thành một đảng viên đóng nguyệt phí đều đặn. Vừa uống bia và nhậu dồi tiết, hắn vừa rao giảng cho những con người vô thưởng vô phạt đứng tựa ở quầy chăm chú nghiên cứu các nhãn chai về những lợi ích của cố gắng tập thể, của một ban nhạc jazz làm việc toàn phần, của một nông trường tập thể Xô-viết.
 
Vào thời chúng tôi, một kẻ mơ mộng chẳng thể làm được nhiều nhặn gì. Một khi ra khỏi cái giường chở che, Klepp có thể trở thành một tovarich, thậm chi một tovarich bất hợp pháp, bởi thế lại càng thêm phần hấp dẫn. Jazz là tôn giáo thứ hai trong tầm khả năng của hắn. Ba nữa, vốn được rửa tội theo Tin Lành, hắn có thể cải giáo thành tín đồ đạo Thiên Chúa.
 
Cần phải thừa nhận là Klepp tỉnh táo: hắn để ngỏ các con đường vào mọi tôn giáo. Sự thận trọng, da thịt đầy đà bóng bẩy của hắn và một ý thức hài hước tồn tại được nhờ sự tán thưởng đã tạo cho hắn một bí quyết ranh ma để kết hợp những giáo huấn của Cách mạng với huyền thoại jazz. Nếu một ngày kiạ, tình cờ hắn gặp một linh mục cánh tả thuộc loại linh mục-công nhân, nhất là nếu ông ta có một bộ đĩa nhạc Dixieland, quý vị sẽ thấy một tay Cách mạng mê nhạc jazz đến chịu thánh lễ vào ngày chủ nhật, đem cái mùi thân thể mô tả trên đây của hắn hòa với hương thơm của một nhà thờ lớn Tân Gô-tích.
 
Trấn giữa tôi và một số phận như vậy là cái giường này, mà Klepp đang tìm cách nhử tôi thoát ra bằng những hứa hẹn chộn rộn tình yêu đời, hắn liên tiếp, gửi hết kiến nghị này đến kiến nghị khác đến toà án và cộng tác mật thiết với luật sư của tôi để yêu cầu một phiên xử mới: hắn muốn Oskar được trắng án, được trả tự do - hắn muốn người ta cho tôi xuất viện - chỉ vì lý do duy nhất là hắn thèm muốn cái giường của tôi.
 
Mặc dù thế, tôi vẫn không hề hối tiếc là trong thời gian trọ ở cán hộ của Zeidler, tôi đã biến một người bạn nằm dài thành một người bạn đứng, khoa tay giậm chân và thậm chí thi thoảng còn chạy nữa. Ngoài những giờ trầm tư dành cho Xơ Dorothea, đời sống riêng của tôi hiện nay hoàn toàn vô tư lự. "Này Klepp," tôi vỗ vai hắn, "chuyện lập ban nhạc jazz ấy ra sao rồi?" Thế là hắn bèn xoa cái bướu của tôi mà hắn cưng gần bằng cái bụng của hắn. "Oskar và tôi," hắn thông báo với toàn thế giới, "chúng tôi sắp lập một ban nhạc jazz. Chúng tôi chỉ còn thiếu một tay ghi-ta cừ mà khi cần có thể chơi cả băng-jô luôn."
 
Hắn có lý. Chỉ trống và sáo thì chưa đủ, cần có thêm một nhạc cụ giai điệu thứ hai. Một công-Crờ- bát gẩy, xét về phương diện thuần túy thị giác, cũng khả dĩ nhưng người chơi đâu có dễ kiếm. Cho nên chúng tôi ráo riết lùng một nhạc công ghi-ta. Chúng tôi đi xem phim thường xuyên, chụp ảnh mỗi tuần hai lần như tôi đã kể và vừa nhậu bia với dồi tiết và hành vừa làm đủ mọi trò ngu xuẩn với những tấm ảnh hộ chiếu của mình. Chính vào đận ấy, Klepp đã gặp cô nàng Ilse tóc đỏ của hắn, quá nhẹ dạ tặng cô ta tấm ảnh và chỉ vì vậy mà phải cưới cô ta. Nhưng chúng tôi vẫn không tìm được người chơi ghi-ta.
 
Trong thời gian làm mẫu vẽ, tôi đã thu lượm được một số kiến thức về thành phố cổ Düssendorf với những ô cửa sổ tròn, những mùi phó-mát, mù-tạc và bia, với cái ấm cúng đặc trưng vùng Hạ Rhine của nó, nhưng chỉ với Klepp, tôi mới trở nên thân quen với nó. Chúng tôi tìm người chơi ghi-ta ở khắp vùng xung quanh Nhà thờ Thánh Lambert, ở mọi quán bar và đặc biệt là ở tiệm Kỳ Lân phố Ratinger- Strasse, vì Bobby, người đứng đầu ban nhạc khiêu vũ ở dó, thỉnh thoảng vẫn để chúng tôi hoà sáo và trống cùng họ: anh ta thán phục ngón trống của tôi, tuy anh ta cũng là một nhạc công bộ gõ không xoàng mặc dù thiếu một ngón ở bàn tay phải.
 
Chúng tôi không tìm được tay ghi-ta nào ở tiệm Kỳ Lân, nhưng tôi đã có một số cơ hội thực hành. Với kinh nghiệm hồi ở đoàn văn công tiền tuyến, lẽ ra tôi đã có thể nhanh chóng quen tay trở lại nếu thỉnh thoảng Xơ Dorothea không làm tôi lỡ nhịp.
 
Phân nửa những ý nghĩ của tôi vẫn hướng về nàng. Thế cũng được nếu như nửa còn lại tập trung hoàn toàn vào cái trống. Nhưng sự thể lại xoay ra như vầy: những ý nghĩ của tôi bắt đầu với cái trống để rồi kết thúc với chiếc huy hiệu Chữ Thập Đỏ của Xơ Dorothea. Klepp đã xuất sắc bù đắp những hụt hẫng của tôi bằng tiếng sáo của hắn; song hắn lo lắng khi thấy tôi chìm đắm tới nửa trong suy tư. "Cậu đói à? Để tớ gọi ít dồi nhé?"
 
Con mắt của Klepp nhìn thấy một cơn đói cào cấu đằng sau mọi buồn khổ trên đời này. Mọi nỗi đau của con người - hắn tin thế - đều có thể chữa được bằng một suất dồi tiết. Dạo ấy, Oskar đã phải ngốn biết bao dồi tiết cùng những lát hành chiêu bằng bia để làm cho bạn Klepp tin rằng mình buồn vì đói chứ không phải vì Xơ Dorothea.
 
Thường thường cứ sáng sớm, chúng tôi rời căn hộ của Zeidler và ăn điểm tâm ở Khu phố cổ. Tôi thôi không đến Trường Mỹ thuật nữa trừ những khi cần tiền đi xem xi-nê. Nàng Thơ Ulla, giờ đây đã đính hôn lần thứ ba hay thứ tư với Lankes, không còn thời gian dành cho trường nữa vì Lankes đang có những đơn đặt hàng công nghiệp quan trọng đầu tiên của mình. Nhưng Oskar không thích ngồi mẫu mà không có Ulla, vì khi tôi làm mẫu một mình, bao giờ họ cũng bóp méo tôi khủng khiếp và vẽ tôi bằng những màu đen tối nhất. Và như vậy tôi giao phó mình trọn vẹn cho bạn Klepp của tôi. Tôi cũng có thể đến thăm Maria và bé Kurt, nhưng căn hộ ấy không mang bình yên lại cho tôi: me-xừ Stenzel, sếp và lão bồ có vợ của nàng, luôn luôn có mặt ở đó.
 
Một hôm vào đầu mùa thu năm 1949, Klepp và tôi rời phòng mình và gặp nhau ở hành lang, gần cánh cửa lắp kính mờ. Chúng tôi đã sắp sửa ra khỏi căn hộ thì Zeidler mở hé cửa phòng khách và gọi chúng tôi.
 
Ông đẩy một cuộn thảm lớn nhưng hẹp ngang và muốn nhờ chúng tôi giúp ông rải trong hành lang. Đó là một tấm thảm xơ dừa dài tám mét hai mươi nhưng hành lang chỉ dài có bảy mét bốn mươi lăm. Klepp và tôi phải cắt đi bảy mươi lăm phân thừa ra. Chúng tôi phải ngồi bệt để làm việc đó vì cắt xơ dừa đâu phải chuyện dễ. Khi chúng tôi cắt xong thì tấm thảm lại hụt mất hai phân nhưng bề ngang thì vừa khít. Tiếp đó, Zeidler nói là ông không cúi xuống được nên nhờ chúng tôi đóng đinh để cố định tấm thảm trên sàn. Oskar nảy ra sang kiến là vừa đóng đinh vừa kéo căng thảm ra, nhờ đó bù lấp được chỗ hụt chỉ còn hở tí chút không đáng kể. Chúng tôi dùng đinh đầu bẹt và rộng vì đầu nhỏ dễ tuột qua mắt dệt thô của xơ dừa. Cả Oskar lẫn Klepp đều không lần nào nện búa phải ngón cái mình. Tuy nhiên, chúng tôi có làm quằn một số đinh, nhưng đó không phải lỗi tại chúng tôi mà do chất lượng đinh kém - số đinh này lấy từ đống dự trữ của Zeidler, nghĩa là được chế tạo trước cuộc cải cách tiền tệ. Khi đã cố đinh được nửa tấm thảm, chúng tôi đặt búa xuống bắt chéo nhau và tia về phía Con Nhím đang giám sát công việc của chúng tôi một cái nhìn tuy không đòi hỏi một cách trắng trợn nhưng lộ rõ vẻ thèm khát, ông liền biến vào phòng ngủ kiêm phòng khách của mình và trở lại với một chai rượu shnaps cùng ba trong bộ ly uống rượu trứ danh của mình. Chúng tôi nâng ly chúc cho sự lâu bền của tấm thảm. Cạn ly thứ nhất xong, chúng tôi nhận xét - lại với giọng thèm muốn hơn là đòi hỏi - rằng cái giống xơ dừa này đến là mau làm người ta khát khô cổ. Tôi dám chắc rằng những cái ly này hẳn sẽ vui sướng có cơ hội được chứa schnaps mấy lần liền trước khi bị một cơn thịnh nộ quen thuộc của Con Nhím biến thành thủy tinh vụn. Khi Klepp vô ý đánh rơi một chiếc ly xuống thảm, nó chẳng những không vỡ mà thậm chí không phát ra một âm thanh nào. Tất cả chúng tôi đều trầm trồ ca ngợi tấm thảm. Khi bà Zeidler, từ nãy vẫn đứng ở cửa phòng khách kiêm phòng ngủ xem chúng tôi làm, phụ họa với chúng tôi khen tấm thảm xơ dừa có khả năng bảo vệ được những chiếc ly rơi khỏi hư hại, thì Con Nhím liền nổi đóa. Ông giậm chân trên phần thảm chưa được đóng đinh cố định, vớ lấy ba chiếc ly và biến vào phòng ngủ kiêm phòng khách. Tủ ly lanh canh - ông đang lấy thêm ly: ba cái chưa đủ - và một lát sau, Oskar nghe thấy tiếng nhạc quen thuộc và mường tượng ra cái bếp lò gạch men nhà Zeidler, tám cái ly uống rượu vỡ tan dưới cửa gang của nó, Zeidler cúi xuống lấy chổi và xẻng hót bụi, Zeidler hót sạch tất cả những gì Con Nhím đập phá. Bà Zeidler vẫn đứng ở cửa phòng trong khi những chiếc ly loảng xoảng, choang choang đằng sau bà. Bà rất quan tâm đến công việc của chúng tôi; trong khi Con Nhím đang lôi đình thịnh nộ thì chúng tôi lại cầm búa lên. Ông không quay trở lại, nhưng ông đã để lại chai schnaps. Thoạt đầu, chúng tôi hơi bối rối khi luân phiên nhau tu rượu thẳng từ chai trước mặt bà Zeidler. Nhưng bà gật đầu với chúng tôi một cái đầy vẻ thân thiện, khiến chúng tôi cảm thấy thoải mái; tuy nhiên, chúng tôi không hề nghĩ đến chuyện đưa chai mời bà tợp một hớp. Dù sao, chúng tôi cũng đã hoàn thành công việc tươm tất, đinh đóng cách nhau đều đặn. Khi Oskar quai búa ngay bên ngoài phòng của Xơ Dorothea, những ô kính mờ cứ mỗi nhát lại kêu lanh tanh. Điều đó làm hắn đau nhói, đến nỗi có lúc phải buông búa xuống. Nhưng khi qua khỏi cánh cửa kính mờ, hắn và cả cái búa đều cảm thấy dễ chịu hơn.
 
Mọi sự đều phải đi đến kết thúc và chuyện cái thảm dài này cũng vậy. Những cái đinh đầu to bẹt chạy từ đầu này đến đầu kia, lút sâu vào ván sàn đến tận cổ, chỉ nhú đầu trên mặt xơ dừa xoắn rối, lờm xờm. Hài lòng với bản thân, chúng tôi diễu qua diễu lại trong hành lang, thích thú với chiều dài của tấm thảm, tấm tắc tự khen về công việc của mình, nhân tiện nhấn mạnh rằng trải và cố định một tấm thảm như thế này với cái bụng rỗng trước khi điểm tâm đâu phải là chuyện dễ. Cuối cùng, chúng tôi cũng đạt mục đích: bà Zeidler mạo hiểm bước lên tấm thảm mới toanh, trinh nguyên, đi vào bếp rót cà-phê và tráng mấy quả trứng cho chúng tôi. Chúng tôi ăn trong phòng tôi. Bà Zeidler lật đật đi khỏi: đã đến giờ bà phải đến văn phòng Mannesmann làm việc. Chúng tôi để ngỏ cửa, vừa nhai vừa chiêu cái mệt của mình bằng cách ngắm công trình của mình, tấm thảm xơ chạy dài tới chúng tôi như một dòng sông.
 
Tại sao lại lắm lời thế về một tấm thảm rẻ tiền chỉ có đôi chút giá trị trao đổi trước cuộc cải cách tiền tệ? Câu hỏi đặt ra là có lý. Oskar đã đón trước và xin trả lời: chính trên tấm thảm dài này, đêm hôm sau, Oskar đã gặp Xơ Dorothea lần đầu tiên.
 
Khi tôi trở về nhà, bụng đầy bia và dồi tiết, chắc đã gần nửa đêm. Tôi đã để Klepp ở lại Khu phố cổ tiếp tục tìm người chơi ghi-ta. Tôi rờ thấy lỗ khóa căn hộ Zeidler, tìm thấy tấm thảm dài trong hành lang, tìm thấy dường qua trước cánh cửa lắp kính mờ tối om tới phòng mình và, sau khi cởi bỏ quần áo ngoài, tìm thấy giường mình. Tôi không tìm thấy bộ đồ ngủ, nó ở trong chậu giặt nhà Maria, thay vì tôi tìm thấy mảnh thảm thừa ra mà chúng tôi đã cắt bỏ, đặt nó xuống cạnh giường, rồi nằm lên giường nhưng chẳng tìm đâu thấy giấc ngủ.
 
Khỏi, cần phải kể với quý vị những gì Oskar đã nghĩ hoặc không phải đích thực là nghĩ mà chỉ vần vò trong đầu trong khi hắn không tìm thấy giấc ngủ. Giờ đây, tôi nghĩ tôi đã phát hiện ra lý do khiến tôi mất ngủ. Trước khi lên giường, tôi đã đứng chân không trên tấm thảm giường mới, tức là cái miếng dư cắt từ tấm thảm dài. Xơ dừa đâm qua làn da trần và luồn vào mạch máu thành thử sau khi đã nằm một hồi lâu, tôi vẫn cảm thấy như mình đang đứng trên xơ dừa và vì thế không tài nào ngủ được; bởi vì không gì rấm rứt, làm khó ngủ và kích thích suy nghĩ bằng đứng chân không trên một chiếc chiếu xơ dừa.
 
Hồi lâu sau nửa đêm, Oskar vẫn ở trạng thái vừa đứng trên thảm vừa nằm trên giường. Vào quãng ba giờ sáng, hắn nghe thấy tiếng một cánh cửa rồi một eánh cửa nữa. Có lẽ, tôi nghĩ, đó là Klepp trở về không kiếm được tay ghi-ta nào nhưng bụng thì đầy dồi tiết. Tuy nhiên tôi biết không phải Klepp đã mở cánh cửa thứ nhất rồi cánh cửa tiếp theo. Giả dĩ, tôi nghĩ, mày đã nằm không chán chê trên giường cho xơ dừa cắn gan bàn chân rồi, thôi thì cứ ra béng khỏi giường đứng thực sự trên thảm xơ cạnh giường chứ không phải trong tưởng tượng nữa xem sao. Oskar làm đúng như thế. Và đây là những hậu quả. Vừa chạm gan bàn chân vào thảm, cái mảnh bảy lăm phân ấy liền nhắc tôi nhớ đến gốc gác của nó là tấm thảm dài bảy mét bốn mươi ba phân ngoài hành lang. Phải chăng vì tôi thương cái miếng dư thừa bị cắt rời này hay vì tôi đã nghe thấy tiếng mở cửa và đoán là Klepp song lại không tin vậy? Oskar trần truồng, bởi lúc vào giường không tìm thấy bộ đồ ngủ, cúi xuống, mỗi tay túm lấy một đầu miếng thảm, dạng hai chân ra cho đến khi hắn không còn đứng trên thảm nữa mà lạ trên sàn, kéo mảnh thảm bảy lăm phân lên phía trước tấm thân trần một mét hai mốt của hắn. Như vậy là che được tươm tất sự lõa lồ, nhưng từ đầu gối đến vai lại nằm trong vùng ảnh hưởng của xơ dừa. Và ảnh hưởng ấy càng tăng lên khi hắn rời căn phòng tối om với tấm lá chắn xơ dừa để ra hành lang cũng tối om và đặt chân lên tấm thảm mẹ.
 
Ư, nếu tôi có bước vội đi đến nơi duy nhất không có xơ dừa dưới sàn là buồng vệ sinh để tìm sự an toàn, thì có gì là lạ?
 
Nơi này cũng tối như ngoài hàng lang hoặc trong phòng Oskar, ấy thế mà cũng có người: một tiếng kêu khẽ, giọng nữ, chứng tỏ điều đó. Tấm ‘da’ xơ dừa của tôi đụng phải đầu gối một người ngồi. Khi thấy tôi không hề nhúc nhích để rời buồng vệ sinh - vì đằng'sau tôi là sự đe dọa của xơ dừa - người ngồi đó bèn cố đẩy tôi ra. “Ông là ai? Ông muốn gì? Ông đi đi!” Đó không thể là giọng của bà Zeidler, Có một cái gì rền rĩ trong mấy tiếng “Ông là ai?” ấy.
 
“Vậy ra là Xơ Dorothea, Xơ thử đoán xem là ai nào,” tôi đánh liều lấy giọng đùa cợt hòng giảm nhẹ cái hoàn cảnh gặp gỡ oái ăm của chúng tôi. Nhưng nàng chẳng có bụng dạ nào mà đoán. Nàng đứng dậy, vươn tay ra về phía tôi trong bóng tối, định đẩy tôi ra ngoài hành lang, nhưng nàng nhằm quá cao, vào khoảng không trên đầu tôi. Nàng chỉnh cho thấp xuống, nhưng lần này vần không trúng tôi mà đụng phải cái tạp-dề xơ dừa của tôi. Nàng lại thốt ra một tiếng kêu khe khẽ - Ôi, tại sao đàn bà cứ phải kêu luôn mồm thế nhỉ? Có vẻ như Xơ Dorothea đã tưởng lầm tôi là kẻ nào đó vì nàng bắt đầu run cầm cập và thì thào: “Ôi trời, quỷ sứ!” Tôi bật ra một tiếng cười khẽ không kìm nổi nhưng không có ác ý. Nhưng nàng lại nghĩ đó chính là tiếng cười gằn của quỷ sứ. Cái từ quỷ sứ làm tôi phật ý và khi nàng hỏi lại lần nữa với một giọng rất sợ hãi: “Ông là ai?” Oslar bèn đáp: “Ta là Xa-tăng đến thăm Xơ Dorothea đây!” Và nàng: “Ôi trời, tại sao vậy?”
 
Tôi từ từ nhập vai và Xa-tăng là người nhắc vở cho tôi:  “Vì Xa-tăng phải lòng Xơ Dorothea!” “Không, không, không, tôi không muốn!” nàng kêu lên. Một lần nữa, nàng cố tìm cách thoát thân nhưng một lần nữa lại ôm chầm phải tấm lá chắn xơ dừa ma quỷ - chiếc áo ngủ của nàng chắc là rất mỏng. Mười ngón tay nàng cũng vớ phải đám rừng rậm cám dỗ và nàng bỗng ngã xỉu. Nàng ngã giúi về đằng trước. Tôi đỡ kịp nàng bằng chiếc áo thảm của mình, giữ được nàng ở tư thế thẳng đứng cho đến khi đi đến một quyết định phù hợp với vai trò Xa-tăng của mình. Tôi nhẹ nhàng và thận trọng đỡ nàng khuyu gối xuống nhưng không để cho chạm tới sàn gạch hoa lạnh của buồng vệ sinh, mà là trên tấm thảm dài ngoài hành lang. Đoạn tôi đặt nàng nằm ngửa trên thảm, đầu quay về hướng tây, tức là về phía phòng Klepp. Toàn bộ chiều dài mặt sau lưng nàng (nàng phải cao ít nhất là một mét sáu mươi) tiếp xúc với tấm thảm dàl. Tôi phủ lên nàng cùng một chất liệu ấy, nhưng tôi chỉ có trong tay bảy mươi lăm phân. Thoạt tiên, tôi đặt mép trên mảnh thảm dưới cằm nàng, nhưng như vậy, mép dưới lại xuống quá thấp, tới tận đùi nàng. Tôi phải nhích nó lên độ năm phân nữa; giờ thì nó phủ lên miệng nàng, nhưng còn để hở mũi để nàng thở. Nàng không chỉ thở, mà hổn hà hổn hên. khi Oskar nằm lên cái vừa nãy là thảm chân giường của hắn để cho hàng nghìn sợi xơ bắt đầu rung chuyển: thay vì tìm cách đụng chạm trực tiếp ngay với Xơ Dorothea, hắn muốn trước hết dựa vào tác động của xơ dừa đã. Một lần nữa hắn thử gợi chuyện, nhưng Xơ Dorothea vẫn còn đang hơi xỉu. Nàng chỉ thều thào: “Ôi trời, ôi trời” và cứ hỏi đi hỏi lại tên và gốc gác của Oskar. Có một thoáng rùng mình run rẩy giữa thảm dưới và thảm trên khi tôi xưng danh và phát âm hai tiếng Xa-tăng với một tiếng rít qua kẽ răng rất chi là Xa-tăng và cho biết địa chỉ của mình là Địa ngục kèm theo một vài động tác mô tả ngoạn mục. Đồng thời, tôi quẫy thật mạnh trên mảnh thảm chân giường của mình để cho nó tiếp tục chuyển động: những gì tai tôi nghe thấy chứng tỏ rành rành là xơ dừa đem đến cho Xơ Dorothea một cảm giác y hệt như cảm giác mà bột sủi đã gây cho Maria thân yêu của tôi năm xưa; điều khác biệt duy nhất là bột sủi đã giúp cho tôi giường cao cột buồm chiến thắng, còn ở đây, trên mảnh thảm xơ dừa, tôi đã thất bại nhục nhã: tôi không sao cắm neo được. Cậu bạn nhỏ của tôi, vào thời kỳ bột sủi cũng như sau đó, luôn luôn hiên ngang đứng thẳng, đầy quyết tâm và tham vọng, thì nay lại rũ đầu xuống; trên lớp xơ dừa đây, cu cậu cứ xun lại, mềm oặt, chẳng phản ứng gì. Cả những lập luận thuần tuý trí tuệ của tôi lần những tiếng thở dài và rên rĩ xen giữa những lời nài nỉ hổn hển “Nào, Xa-tăng, tới đi!” của Xơ Dorothea đều không thể kích động được cậu, Tôi cố an ủi nàng bằng những hứa hẹn. “Xa-tăng đang tới đây!” tôi nói bằng giọng rất Xa-tăng. Đồng thời, tôi đối thoại với tên Xa-tăng đã cư ngụ trong tôi từ buổi tôi chịu lẽ rửa tội. Tôi cự nự: Đừng có phá đám làm hỏng cuộc vui, Xa-tăng. Tôi khẩn khoản: Mình xin cậu đấy, Xa-tăng, đừng làm nhục mình như thế. Và dỗ dành: Thật chẳng giống cậu tí nào. Nghĩ lại đi, hãy nhớ đến Maria, hoặc hơn thế nữa, đến bà goả Greff, hoặc đến cái đận hai đứa mình đú đởn với nàng Roswitha yêu dấu của mình giữa Paris hoa lệ như thế nào! Trước sau, Xa-tăng chỉ lặp đi lặp lại một câu trả lời buồn bã: Mình không hứng, Oskar ạ. Khi mà Xa-tăng không hứng, Đức Hạnh ắt chiến thắng. Chẳng phải cả đến Xa-tăng thi thoảng cũng có lúc mất hứng sao?

Viện dẫn những tục ngữ tương tự, Xa-tăng từ chối hỗ trợ tôi. Tôi vẫn day hoài mảnh thảm đến trợt cả da Xơ Dorothea tội nghiệp, nhưng tôi yếu dần đi. “Nào, Xa-tăng,” nàng hổn hển, “ôi, làm ơn, tới đi!” Cuối cùng, đáp lại lời thỉnh cầu của nàng, tôi thọc một mũi tấn công tuyệt vọng, ngớ ngẩn, hoàn toàn vô căn cứ dưới mảnh thảm: tôi nhằm vào hồng tâm bằng một khẩu súng không lắp đạn. Nàng tìm cách giúp Xa-tăng của mình, rút hai cánh tay từ dưới mảnh thảm ra ôm lấy tôi, sờ thấy cái bướu của tôi, thấy làn da ấm nóng hơi người và không chút xơ xớp của tôi. Nhưng đó không phải là tên Xa-tăng mà nàng đang cần. Thay vì thầm thì: “Nào, Xa- tăng, tới đi!” nàng đằng hắng và nhắc lại câu hỏi ban đầu nhưng với một giong hoàn toàn khác: “Lạy Chúa, ông là aí, ông muốn gì?” Tôi chỉ còn nước thu sừng lại mà thừa nhận rằng theo giấy tờ căn cước, tên tôi là Oskar, láng giềng của nàng, Xơ Dorothea, và rằng tôi yêu nàng bằng cả trái tim mình.
 
Nếu một tâm hồn độc ác nào nghĩ rằng Xơ Dorothea sẽ nguyền rủa và đẩy tôi xuống tấm thảm dài, thì Oskar có thể khẳng định với một niềm thoả mãn pha chút buồn tủi rằng: Xơ Dorothea cất tay khỏi cái bướu của tôi rất chậm rãi, thậm chí có thể nói là tư lự nữa, tựa hồ một cử chỉ vuốt ve tiếc nuối, buồn vô hạn. Nàng bắt đầu khóc, thổn thức nhưng vừa phải thôi. Tôi hầu như không nhận thấy lúc nàng lách ra từ dưới mảnh thảm và tôi, khiến tôi lăn xuống sàn. Tấm thảm nuốt hết tiếng bước chân nàng trong hàng lang. Tôi nghe thấy tiếng cửa mở rồi đóng lại, tiếng chìa khóa xoay trong ổ; rồi trên cánh cửa kính mờ, sáu ô vuông sáng lên từ bên trong và trở nên hiện thực.
 
Oskar nằm đấy, đắp mảnh thảm thừa còn sót chút hơi ấm Xa-tăng. Mắt tôi dán vào những ô vuông sáng. Thi thoảng, một cái bóng lướt trên mặt kính mờ. Nàng đang đi đến tủ quần áo, tôi tự bảo, và bây giờ lại ra bồn rửa mặt. Oskar liều giở một ngón ma quái cuối cùng. Kéo theo mảnh thảm thừa, tôi bò tới cánh cửa đó, gại vào mặt gỗ, rướn người lên một chút, hoa hoa một bàn tay cầu khẩn trên hai ô kính dưới cùng. Xơ Dorothea không mở cửa; nàng vẫn tất bật đi đi lại lại giữa tủ áo và bồn rửa. Tôi biết và phải thừa nhận sự thật là: Xơ Dorothea đang gói ghém hành lý, chuẩn bị chạy trốn, phải, trốn khỏi tôi.
 
Cả đến chút hy vọng le lói rằng khi rời khỏi phòng, nàng sẽ để lộ gương mặt dưới ánh điện cho tôi được thấy, cũng tiêu tan. Đầu tiên, đèn tắt sau lớp kính mờ, rồi tôi nghe thấy tiếng chìa khóa, tiếng cửa mở, tiếng giày trên tấm thảm dài - tôi với tay về phía nàng, chạm phải mộ£ chiếc va-li, một cẳng chân đi tất. Nàng đá một cái vào ngực tôi bằng một chiếc giày bộ hành mà tôi đã thấy trong tủ áo, và khi Oskar thốt lên lời khẩn cầu cuối cùng: “Xơ Dorothea,” thì cánh cửa căn hộ đóng sầm: một người đàn bà đã bỏ tôi.
 
Tất cả những ai hiểu nỗi đau của tôi giờ đây sẽ bảo: Đi ngủ thôi, Oskar. Tội vạ gì cậu phải nán lại trong hành lang sau cái pha nhục nhã ấy? Bốn giờ sáng rồi. Cậu nằm trần như nhộng trên một tấm thảm xơ chẳng có gì đắp ngoài một mảnh thảm thừa lờm xờm. Tay và đầu gối cậu trầy cả da, tim cậu rớm máu, của quý cũng đau buốt, hổ nhục kêu không thấu trời. Cậu đã làm ông Zeidler thức giấc. Ông ta lại đánh thức vợ. Chỉ một phút nữa, họ sẽ ra khỏi giường, mở cửa cái phòng ngủ kiêm phòng khách và trông thấy cậu. Đi ngủ thôi, Oskar, đồng hồ sắp điểm năm tiếng rồi.
 
Đó cũng đích thị là những lời tôi tự khuyên mình. Nhưng tôi chỉ run bần bật và nằm im. Tôi cố hình dung lại thân thể của Xơ Dorothea. Tôi chẳng cẳm thấy gì khác ngoài xơ dừa, chỗ nào cũng là xơ dừa, kể cả giữa hai hàm răng tôi. Thế rồi một vệt sáng rọi vào Oskar: cánh cửa phòng ngủ kiêm phòng khách nhà Zeidler hé mở. Bên trên cái đầu nhím của Zeidler là cái đầu đầy những ống cuộn tóc bằng kim loại của vợ ông. Họ trố mắt nhìn, ông chồng húng hắng ho, bà vợ cười rinh rích, ông gọi tôi, tôi không trả lời, bà tiếp tục cười rinh rích, ông bảo bà im đi, bà hỏi có gì không ổn với tôi, ông bảo thế này thì không ra sao cả, bà nói đây là một ngôi nhà khả kính, ông dọa tống cổ tôi, nhưng tôi lặng thinh vì sự tình chưa tới cực hạn. Hai vợ chồng Zeidler mở cửa, ông bật đèn hành lang, họ tiến về phía tôi, mắt gườm gườm, gườm gườm, ông ta đang điên tiết và lần này chắc ông không trút nó lên những chiếc ly uống rượu, ông cúi xuống tôi và Oskar chờ cơn thịnh nộ của Con Nhím. Nhưng Zeidler không có dịp xả cơn giận khỏi lồng ngực: có tiếng ồn ào ở chỗ cầu thang, tiếng rờ rẫm tìm chìa khóa rồi tiếng ổ khóa lách cách và Klepp bước vào, kéo theo một người cũng say khướt như hắn: Scholle, tay ghi-ta bao lâu tìm kiếm.
 
Hai gã trấn an vợ chồng Zeidler, cúi xuống Oskar, không hỏi han gì mà chỉ nhấc tôi lên, tôi và cái mảnh thảm ma quỷ của tôi, khiêng cả về phòng tôi.
 
Klepp chà xát người tôi cho ấm lên. Tay ghi-ta nhặt quần áo của tôi và cả hai mặc cho tôi, lau nước mắt cho tôi. Nức nở. Bên ngoài cửa sổ, rạng đông. Chim sẻ. Klepp quàng cái trống vào cổ tôi và triềng cây sáo gỗ của hắn ra. Nức nở. Tay ghi-ta cầm cây đàn của mình lên. Lũ chim sẻ. Bạn bè bao quanh tôi, đặt tôi giữa bọn họ, dắt gã Oskar vẫn nức nở nhưng không chống lại ra khỏi căn hộ, ra khỏi ngôi nhà ở phố Jiilicher-Strasse, đi về phía lũ chim sẻ, dắt gã tách xa khỏi ảnh hưỏng của xơ dừa, dắt tôi qua những con phố bình minh, qua vườn Hofgarten đến Cung Thiên văn và bờ sông Rhine với dòng nước xám xuôi về phía Hà Lan cùng những con thuyền phất phới quần áo trên dây phơi.
 
Buổi sáng tháng chín mù sương đó, từ sáu giờ đến chín giờ, Klepp nghệ sĩ sáo, Scholle nghệ sĩ ghi-ta và Oskar, nghệ sĩ bộ gõ ngồi trên bờ bên phải sông Rhine. Chúng tôi chơi nhạc, tập dượt cho vào “phom”, uống chung một chai, nhìn sang những cây dương ở bờ bên kia, và chiêu đãi những chiếc sa-lan chở than từ Duisburg đang hì hụi ngược dòng bằng những khúc jazz cuồng nhiệt hoặc những điệu nhạc buồn Mississippi. Đồng thời chúng tôi tìm một cái tên cho ban nhạc jazz vừa ra đời.
 
Khi một chút nắng pha màu vào màn sương sớm và tiếng nhạc của chúng tôi đã cồn cào cơn thèm lót dạ, Oskar đứng dậy - giờ đây, đã có cái trống ở giữa ngăn cách bản thân gã với cái đêm hôm trước - lấy ở trong túi áo măng-tô ra ít tiền để chi vào bữa điểm tâm và tuyên bố với các bạn tên của ban nhạc mới thành lập; “Bộ Ba Sông Rhine”, cả bọn nhất trí và chúng tôi rủ nhau đi ăn sáng.
 
[...]
 
...! Tràn đầy mà rỗng lặng
Biển vô lượng thủy triều
Đường về tâm hết động
Tuyệt chiêu là vô chiêu !...

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 22.07.2016 17:11:38 bởi tducchau>
[...]
 
 
KLEPP
 
Vậy là tôi đang ở trong hành lang với một mớ tóc vàng nhạt trong ví. Trong một giây, tôi thử sờ mớ tóc qua lần da thuộc, qua lần lót của áo vét, qua áo gi-lê, sơ-mi và may-ô; nhưng tôi đã quá mệt mỏi và cái kiểu tự thỏa mãn tình dục một cách buồn bã ấy khiến tôi không nhận ra rằng vật báu của mình chang là gì khác hơn những thứ rơi rụng mắc lại ở một chiếc lược.
 
Chỉ đến lúc đó Oskar mới tự thú nhận với mình rằng hắn đã định tìm những thứ thuộc một loại hoàn toàn khác. Điều tôi thực sự muốn là bằng chứng về sự hiện diện của bác sĩ Werner đâu đó trong phòng Xơ Dorothea, dù chỉ là một lá thư hay một trong những chiếc phong bì mà tôi quá biết. Tôi chẳng tìm thấy gì cả. Đến cả một cái phong bì cũng không, nói chi đến một tờ giấy có chữ viết trên đó. Oskar thú thật rằng hắn đã lấy từng cuốn tiểu thuyết trinh thám trên ngăn để mũ xuống, giở từng tờ, tìm những dòng đề tặng và những thẻ đánh dấu trang. Tôi cũng tìm xem có tấm ảnh nào chăng, vì Oskar biết phần lớn các bác sĩ ở Bệnh viện Marien, đành rằng chỉ biết mặt chứ không biết tên - nhưng không có tấm ảnh nào của bác sĩ Werner cả.
 
Có vẻ như bác sĩ Werner chưa hề biết phòng của Xơ Dorothea hoặc nếu y đã từng đến thì cũng không lưu lại được dấu vết gì. Oskar có đủ mọi lý do để hài lòng. Chẳng phải tôi có thuận lợi lớn so với bác sĩ Werner đó sao? Chẳng phải việc không có dấu vết gì của y là bằng chứng xác thực là quan hệ giữa bác sĩ và nữ y tá chỉ giới hạn trong phạm vi bệnh viện, có nghĩa mang tính thuần túy nghề nghiệp và nếu như có gì mang tính cá nhân giữa họ, thì đó chỉ là đơn phương?
 
Tuy nhiên, lòng ghen của Oskar vẫn đòi có một cái cớ nào đó. Cho dù một dấu vết nhỏ nhất của bác sĩ Werner sẽ là một đòn choáng váng đối với tôi, nó cũng sẽ đồng thời đem lại cho tôi một niềm thoả mãn bội phần lớn hơn so với cuộc phiêu lưu nhỏ, ngắn ngủi của tôi trong tủ áo.
 
Tôi không nhớ tôi đã trở về phòng mình như thế nào. Tuy nhiên, tôi nhớ là có nghe thấy một tiếng ho giả vờ cốt để lôi kéo sự chú ý, từ đằng sau cửa phòng me-xừ Münzer ở cuối hành lang. Cái xừ Münzer này là gì đối với tôi? Tôi chẳng đang bù đầu với Xơ Dorothea đó sao? Đâu phải lúc bận mình thêm với xừ Münzer này - ai mà biết cái gì ẩn giấu đằng sau cái tên ấy? Và như vậy Oskar không để tai đến tiếng ho mời chào ấy, hay đúng hơn, tôi không hiểu người ta muốn gì tôi, và chỉ đến khi về phòng rồi, tôi mới vỡ nhẽ ra là cái tay Münzer ấy, con người hoàn toàn xa lạ chẳng có nghĩa gì đối với tôi ấy, đã ho để nhử tôi đến phòng y.
 
Tôi phải thừa nhận điều này: hồi lâu, tôi đâm tiếc là đã không phản ứng với tiếng ho đó, vì phòng tôi dường như bỗng trở nên quá chật đồng thời lại quá lớn đến nỗi một cuộc trò chuyện, dù gượng gạo và buồn tẻ nhất, với xừ Münzer ho giả vờ, ắt cũng làm cho tôi thấy dễ chịu. Nhưng tôi không thể huy động can đảm để thiết lập một quan hệ muộn mằn - chẳng hạn tôi có thể ra hành lang dắng một tiếng ho đáp lại - với cái tay ở đằng sau cánh cửa cuối hành lang. Tôi thụ động nộp mình cho những góc cạnh tàn nhẫn của cái ghế bếp. Như bất cứ khi nào ngồi vào ghế, tôi cảm thấy bồn chồn không yên. Tôi cầm một cuốn sách tham khảo về y học ở giường lên, rồi lại ném cuốn sách đắt tiền ấy xuống đất thành một xấp giấy nhàu nát và đến bên bàn nhấc lấy món tặng phẩm của Raskolnikov - cái trống. Tôi cầm nó trong tay nhưng tôi không thể xuống dùi cũng như Oskar không thể trút xuống cái mặt tròn láng sơn trắng những giọt nước mắt khả dĩ đem lại cho tôi chút nguôi dịu phi tiết tấu.
 
Đến đây, tôi có thể khởi đầu một tiểu luận về sự ngây thơ bị đánh mất, một so sánh giữa hai Oskar - chú bé đánh trống mãi mãi ba tuổi và gã gù không giọng, không nước mắt, không trống. Nhưng như vậy sẽ là một sự đơn giản hóa quá đáng và không đúng sự thật: ngay từ thời kỳ đánh trống, Oskar đã nhiều lần đánh mất rồi lại thu hồi sự ngây thơ của mình, hoặc giả chờ cho nó mọc trở lại, vì sự ngây thơ có thể ví với một loại cỏ sum suê - hãy thử nghĩ về những bà nội bà ngoại ngây thơ đã từng là những hài nhi hằn học, bỉ ổi - không, không phải những suy nghĩ phi lý về sự ngây thơ và sự ngây thơ bị đánh mất đã làm Oskar nhảy bật lên từ chiếc ghế bếp: không, chính tình yêu của tôi đã ra lệnh cho tôi đặt cái trống lại chỗ cũ mà không đánh và rời khỏi phòng, hàng lang và căn hộ để hối hả đến Trường Mỹ thuật mặc dầu cuối chiều mới đến giờ hẹn của tôi với Giáo sư Kuchen.

Khi Oskar loạng choạng ra khỏi phòng, bước vào hành lang, cố tình mở cửa ra vào căn hộ thật ầm ĩ, tôi để một lúc nghe ngóng phía cửa phòng xừ Münzer. Không thấy tiếng ho. Xấu hổ, kinh tởm, vừa no đến chán ngấy vừa đói cuồng, vừa chán sống vừa khát khao sống, tôi gần như muốn oà khóc khi rời khỏi căn hộ và ngôi nhà ở phố Jiilicher -Strasse.
 
Mấy ngày sau, tôi thực hiện một kế hoạch bao lâu ấp ủ mà tôi đã gạt bỏ nhiều lần đến nỗi giờ đây nó được chuẩn bị kỹ đến từng chi tiết. Hôm ấy, tôi có cả một buổi sáng rảnh rỗi. Mãi đến ba giờ, Oskar và Ulla mới phải ngồi mẫu cho Raskolnikov. Tôi sẽ là Ulysse khi trở về tặng nàng Penelope một cái bướu, hẳn là đã mọc lúc nào đó trong khi chu du cùng trời cuối đất. Tôi đã hoài công thuyết phục gã họa sĩ từ bỏ cái ý này. Trong một thời gian, gã đã khai thác thành công các thần và á thần Hy Lạp, và Ulla cảm thấy hoàn toàn thoải mái với các đề tài thần thoại. Tôi đành nhượng bộ và để cho người ta vẽ mình thành Vulcan, thành Pluton cùng với Proserpine và cuối cùng, chiều nay, là một chàng Ulysse gù. Nhưng vì tôi quan tâm nhiều hơn đến những sự kiện ban sáng, nên Oskar sẽ không kể cho quý vị nghe Nàng Thơ Ulla-Penelope nom như thế nào. Thay vào đó, xin thưa:

Sáng hôm đó, yên tĩnh ngự trị trong căn hộ Zeidler. Con Nhím đang trên đường cùng với những cái tông-đơ của mình, Xơ Dorothea đi làm ca ngày và đã rời nhà từ sáu giờ sáng, và bà Zeidler hãy còn nằm trên giường khi thư từ đến vào lúc sau tám giờ một chút.
 
Tôi lập tức điểm qua một lượt. Không có gì cho tôi: Maria viết từ hai hôm trước. Nhưng ngay từ cái liếc mắt đầu tiên, tôi đã phát hiện ra ngay một cái phong bì đóng dấu bưu điện thành phố và mang tự dạng không thể lẫn được của bác sĩ Werner.
 
Trước hết, tôi trả bức thư lại với những bức khác gửi cho ông Münzer và bà Zeidler, quay về phòng và chờ đến khi bà Zeidler ra cửa, mang cho ông Münzer bức thư của ông ta, vào bếp rồi trở lại phòng ngủ của mình và đúng mười phút sau rời căn hộ vì ngày làm việc của bà ở Công ty Mannesmann bắt đầu từ chín giờ.
 
Để cho an toàn, Oskar vẫn đợi và chỉ sau khi mặc quần áo rất đủng đỉnh, đánh móng tay với vẻ hết sức bình tĩnh (thực ra là tự diễn với mình), mới quyết định hành động. Tôi vào phòng bếp, đặt một siêu nhôm đổ nước đầy đến nửa lên cái bếp ga lớn nhất trong ba cái, mở ga hết cỡ nhưng giảm dần khi nước bắt đầu sôi. Rồi thận trọng giữ sao cho ý nghĩ thật sát với hành động, tôi bước tới trước phòng Xơ Dorothea, lấy bức thư mà bà Zeidler đã nhét một nửa xuống dưới cánh cửa lắp kính mờ, quay về phòng bếp và thận trọng giơ mặt sau bì thư lên hơi nước sôi cho đến khi có thể bóc ra không xuy xuyển chút nào. Khỏi phải nói là Oskar đã tắt ga trước khi mạo hiểm giơ bức thư của bác sĩ Werner lên trên siêu nước.
 
Tôi không đọc thư của tay thày thuốc ở trong bếp, mà về nằm dài trên gường đọc. Thoạt đầu tôi hơi thất vọng vì cả câu chào mở đầu "Dorothea thân mến" lẫn công thức kết thúc "Với tình cảm chân thành" đều không rọi chút ánh sáng nào vào mối quan hệ bác sĩ - nữ y tá này.
 
Đọc hết bức thư, tôi cũng không thấy một từ âu yếm thật sự nào. Bác sĩ Werner tỏ ý tiếc là hôm trước đã không nói chuyện được với Xơ Dorothea mặc dù y đã trông thấy nàng từ cửa khu điều trị riêng cho nam giới. Vì những lý do mà bác sĩ Werner không rõ, Xơ Dorothea đã quay đi khi thấy y nói chuyện với Xơ Beata - bạn thân của Dorothea, như chúng ta còn nhớ. Bác sĩ Werner chỉ xin được giải thích: cuộc nóì chuyện của y với Xơ Beata hoàn toàn chỉ có tính chất chuyên môn. Xơ Beata là người sôi nổi, nhưng, như Xơ Dorothea biết đấy, y bao giờ cũng hết sức giữ khoảng cách. Việc đó không phải là dễ, Dorothea chắc cũng hiểu thế vì nàng còn lạ gì tính Beata. Có nhiều lần Xơ Beata không hề giấu giếm tình cảm của mình mà y không bao giờ đáp lại. Câu cuối thư là thế này: "Xin hãy tin tôi, cô có thể thoải mái ghé chỗ tôi bất cứ lúc nào." Mặc dù cái giọng khách sáo lạnh lùng của câu này gần như là kênh kiệu, tôi không mấy khó khăn để nhìn thấu gan ruột bác sĩ Werner và nhận ra tờ giấy này thực sự là cái gì: một bức thư tình.
 
Tôi nhét trả lá thư vào phong bì như cái máy. Quên mọi ý thức vệ sinh sơ đẳng, tôi thè lưỡi nhấp ướt nắp phong bì mà có lẽ Werner cũng đã liếm. Rồi tôi phá lên cười. Vừa cười vừa lần lượt vỗ trán, vỗ chỏm đầu một lúc, tôi mới mở cửa ra hành lang và nhét nửa lá thư xuống dưới cửa phòng Xơ Dorothea.
 
Tôi vẫn đang ngồi xổm với một hay hai ngón tay còn đặt trên bức thư, thi có tiếng xừ Münzer ở cuối hành lang, ông ta nói chậm và nhấn giọng như đọc chính tả. Tôi có thể nghe rõ từng chữ một: "Thưa ông hảo tâm, ông có thể mang cho tôi ít nước được không?"
 
Tôi đứng dậy. Tôi thoáng nghĩ rằng chắc ông ta ốm. Nhưng rồi tôi lập tức hiểu ra rằng người đàn ông đằng sau cánh cửa không ốm, rằng Oskar vớ lấy cái ý ấy chỉ cốt có cớ để mang nước đến cho ông ta mà thôi.
 
Thoạt đầu, tôi định mang chỗ nước vẫn còn ấm đã giúp tôi bóc bức thư của bác sĩ Werner. Nhưng rồi tôi đổ số nước đã dùng ấy vào bồn rửa, vặn nước mát vào siêu và mang cả siêu lẫn nước tới cánh cửa mà đằng sau đó có tiếng người kêu tôi và kêu nước, mà có lẽ chỉ kêu nước mà thôi.
 
Oskar gõ cửa, bước vào và vấp ngay phải cái mùi rất đặc trưng của Klepp. Bảo cái mùi này chua chua, tức là bỏ qua tính đậm đặc và dịu ngọt của nó. Không khí bao quanh Klepp chẳng có gì chung với, chẳng hạn, cái mùi dấm của phòng Xơ Dorothea. Nói nó chua-ngọt cũng sai. Cái tay Münzer này, hay Klepp, như về sau tôi gọi hắn, cái con người to béo, lười nhác nhưng không phải không hoạt động, dị đoan, mau đổ mồ hôi, hàng tháng không tắm nhưng chưa đến độ cù bơ cù bất này, cái tay thổi sáo và cla-ri-nét cho dàn nhạc jazz này mà bao giờ cũng có chuyện này hay chuyện khác ngăn không cho chết, phải hắn ta đã và bây giờ vẫn đang có cái mùi của một thây ma không ngừng hút thuốc lá, mút kẹo bạc hà và ăn tỏi. Dạo ấy, hắn đã phả ra cải mùi như vậy, bây giờ hắn vẫn phả ra và thỏ ra cải mùi ấy. Những ngày thăm bệnh nhân, hắn đến tôi, mang theo niềm vui sống và ý thức về sự phù du cùng với cái mùi ấy như một cơn lũ tràn ngập không gian, đến nỗi ngay sau khi Klepp rối rít chào tạm biệt, hứa sẽ đến nữa và rời khỏi phòng là Bruno phải mở toang mọi cửa ra vào và cửa sổ.
 
Giờ đây, Oskar nằm bẹp giường. Bữa ấy, trong căn hộ Zeidler, tôi thấy Klepp đang vui vẻ thối rữa trên những dư tàn của một cái giường. Cách hắn một với tay - tôi quan sát - một cái đèn cồn kiểu cổ nom rất ba-rốc, khoảng mười hai, mười ba gói mì spaghetti, mấy hộp dầu ô-liu, mấy tuýp xốt cà chua, một ít muối thô và ướt gói trong giấy báo và một két bia mà hóa ra là có nhiều chai âm ấm. Hắn nằm đái vào những chai bia không, rồi, như hắn tâm sự với tôi khoảng một giờ sau, lại đậy nắp những cái chai xanh xanh mà dung lượng cũng ngang ngang dung lượng của hắn và phần lớn đều đầy đến miệng. Để tránh mọi hiểu lầm phát sinh từ những cơn khát đột ngột, hắn để riêng những chai đó sang một bên, thận trọng phân biệt chúng với những chai bia còn xứng đáng được gọi là thế. Mặc dù có vòi nước máy trong phòng - với chút ít tinh thần sáng tạo, hắn có thể đái vào bồn rửa - hắn quá lười, hay đúng hơn, quá bận rộn với bản thân, để đứng dậy, để rời cái giường mà hắn đã tốn bao công phu chỉnh đi chỉnh lại cho vừa với người hắn, và để thay nước mới vào xoong spaghetti của mình.
 
Vì Klepp - tôi muốn nói Münzer - bao giờ cũng cẩn thận nấu mì spaghetti trong cùng một lượng nước ấy, một lượng nước dùng đun đi đun lại, càng ngày càng đặc quánh mà hắn giữ như giữ con ngươi của mắt, nên thường khi hắn có thể, với sự giúp đỡ của số chai bia dự trữ, nằm dài bốn ngày liền hoặc hơn thế. Tình hình chỉ trở nên gay cấn khi nào nước dùng spaghetti của hắn đã cạn thành một thứ cặn nhầy dinh dính mặn chát, cố nhiên khi đó, Klepp có thể để mình đói đến chết, nhưng vào những ngày ấy, hắn lại thiếu cơ sở tư tưởng cho loại ứng xử này; hơn nữa, khổ hạnh của hắn được phân định từng chu kỳ bốn-năm ngày một. Nếu không, bà Zeidler, người thường mang thư đến cho hắn hay một xoong spaghetti lớn hơn, có thể dễ dàng giúp hắn càng độc lập hơn với thế giới bên ngoài.
 
Vào cái hôm Oskar vi phạm bí mật thư tín, Klepp đã nằm độc lập trên giường được năm ngày, cặn nước dùng spaghetti của hắn đã đủ dính để dán áp-phích trên đường phố. Đó là tình cảnh hắn khi hắn nghe thấy bước chân phân vân của tôi ngoài hành lang, bước chân đầy bận tâm về Xơ Dorothea và thư từ giao dịch của nàng. Nhận thấy lần trước Oskar đã không phản ứng gì với tiếng ho giả vờ, hôm tôi mở bức thư tình đam mê một cách lạnh lùng của bác sĩ Werner, hắn bèn ném giọng mình vào cuộc và nói: " Thưa ông hảo tâm, ông có thể mang cho tôi ít nước được không?"
 
Và tôi lấy cái siêu, đổ nước ấm đi, vặn vòi cho nước chảy vào đầy nửa siêu, rồi thêm một tí nữa và mang nước mới đến cho hắn vớ tư cách là "ông hảo tâm" như hắn gọi. Tôi tự giới thiệu: Matzerath, thợ đẽo đá và khắc chữ trên đá.
 
Cũng lịch sự như ai, hắn cất nửa người trên lên vài độ, xưng danh là Egon Münzer, nhạc công jazz, nhưng đề nghị tôi cứ gọi là Klepp, vì cha hắn đã mang cái tên Münzer trước hắn rồi. Tôi rất thông cảm với yêu cầu này: tôi thích người ta gọi tôi là Koljaiczek hơn, hay đơn giản là Oskar. Tôi giữ cái tên Matzerath hoàn toàn là vì khiêm nhường. Năm thì mười họa tôi mới quyết định xưng là Oskar Bronski. Do đó, tôi không khó khăn gì để gọi cái gã trai to béo nằm dài ấy - mới nhìn tưởng ba mươi, nhưng thực ra còn trẻ hơn - bằng cái tên mộc mạc là Klepp. Còn hắn thì gọi tôi là Oskar vì không vặn lưỡi để phát âm Koljaiczek được.
 
Chúng tôi trò chuyện, mới đầu đều cố sao cho thoải mái và bám lấy những đề tài phù phiếm nhất. Hắn có tin, tôi hỏi, vào sự tiền định không? Có. Hắn có tin rằng tất cả mọi người phải chết không? Có, hắn cảm thấy chắc chắn là tất cả mọi người cuối cùng đều phải chết, nhưng hắn không dám chắc rằng ai cũng phải được sinh ra. Hắn tin chắc rằng bản thân hắn sở dĩ sinh ra là do một lầm lẫn nào đó. Một lần nữa, Oskar lại cảm thấy một mối đồng cảm với hắn. Cả hai chúng tôi đều tin có trời, nhưng khi Klepp nói "trời", hắn cười khẩy một tiếng và gãi gãi bên dưới tấm mền đắp: rõ ràng là ngay từ bây giờ, ở dưới trần, Klepp tiên sinh đã mưu tính những trò tinh quái mà hắn sẽ thực hiện ở trên trời. Khi bập vào đề tài chính trị, hắn bỗng trở nên say sưa; hắn đọc vanh vách tên của khoảng ba trăm gia đình quý tộc Đức mà hắn sẵn sàng giao ngay toàn bộ nước Đức vào tay họ, chỉ trừ miền Hanover mà Klepp hào hiệp nhượng cho Đế chế Anh Cát Lợi. Khi tôi hỏi hắn ai sẽ cai quản nơi trước kia là Thành phố Danzig Tự Do, hắn nói xin lỗi, hắn chưa bao giờ nghe nói về nơi ấy, nhưng ngay cả như thế, vẫn có thể đề cử một vị bá tước vùng Berg, thuộc dòng dõi gần như trực hệ - hắn có thể bảo đảm vậy - của chính Jan Wellem. Cuối cùng, (trước đó, chúng tôi đã thử định nghĩa khái niệm về sự thật và đã tiến triển rõ rệt) nhờ khéo léo xen vào vài câu hỏi, tôi được biết Klepp tiên sinh đã là khách trọ của vợ chồng Zeidler từ ba năm nay. Chúng tôi tỏ ý tiếc là đã không gặp nhau sớm hơn. Tôi nói đó là lỗi tại Con Nhím đã không thông tin cho tôi đầy đủ về vị khách trọ nằm lì ở giường, cũng như ông ta chẳng nói gì về Xơ Dorothea, ngoài một điều là có một nữ y tá ở đằng sau cánh cửa lắp kính mờ.
 
Oskar không muốn ngay từ đầu đã bắt me-xừ Münzer tức Klepp chia sẻ những điều phiền muộn của mình. Cho nên tôi không hỏi gì về người, nữ y tá. Thay vì, tôi hỏi Klepp về chính hắn: "Nhân nói đến y tá," tôi nói, "ông có ốm không đấy?"
 
Một lần nữa, Klepp nhấc mình lên một độ, nhưng khi thấy rõ là mình sẽ không bao giờ đạt đến vuông góc, hắn lại buông mình xuống và nói riêng với tôi lý do thật sự khiến hắn nằm lì ở giường: hắn đang cố khám phá xem sức khỏe của mình là tốt, trung bình hay kém. Hắn hy vọng vài tuần nữa là có thể xác định nó vào loại trung.
Thế rồi điều đó xẩy đến. Đó chính là điều tôi sợ, nhưng hy vọng rằng một cuộc trò chuyện dài và lan man có thể giúp tôi tránh khỏi. "A, ông bạn thân mến, ông vui lòng ăn với tôi đĩa mì spaghetti chứ?" Làm sao mà từ chối được! Chúng tôi ăn spaghetti bằng nước mới tôi mang đến. Tôi những muốn đem cái xoong nấu mì của hắn ra bồn rửa kì cọ cho thật sạch, nhưng tôi sợ, không dám hé răng. Klepp xoay nghiêng người và lặng lẽ nấu với những động tác chắc chắn của một kẻ mộng du. Khi mì đã chín, hắn gạn hết nước sang một cái hộp không lớn rồi hầu như không thay đổi tư thế nửa người trên, với tay xuống gầm giường lôi ra một cái đĩa bết mỡ và cặn xốt cà chua. Sau một thoáng lưỡng lự, hắn lại với tay xuống gầm giường, moi ra một tờ báo vo viên lau qua cái đĩa, rồi lại ném tờ báo vào gầm giường. Hắn hà hơi vào cái đĩa còn nhờn như để thổi đi nốt một hạt bụi cuối cùng và sau rốt, với một cử chỉ học đòi quý phái, đưa cho tôi món ăn kinh tởm nhất tôi từng thấy và mời Oskar thưởng thức.
 
"Tiền chủ hậu khách," tôi nói. Nhưng vô phương, hắn là một ông chủ hoàn hảo. Sau khi đưa tôi một chiếc cùi-dìa và một chiếc dĩa nhờn đến nỗi dính cả vào ngón tay tôi, hắn chất lên đĩa tôi một tảng mì tướng, bên trên đó, với một cử chỉ quý phái khác, hắn bóp thêm một con giun xốt cà chua đóng tuýp, cuối cùng, rưới dầu hộp lên toàn bộ mớ lầy nhầy đó. Bản thân hắn thì ăn luôn ở xoong. Hắn pha dầu và xốt cà chua vào phần của mình, rắc hạt tiêu, rồi trộn đều lên và ra hiệu cho tôi cũng làm thế. "Ôi, ông bạn thân mến," hắn nói khi tất cả đã sẵn sàng, "tôi xin lỗi vì không có pho-mát Parma. Dù sao cũng chúc ông ngon miệng."
 
Cho đến hôm nay, Oskar vẫn không thể hiểu được làm sao tôi có thể gom đủ can đảm để sử dụng cùi dìa và dĩa của hắn. Thật kỳ kạ, tôi lại thấy món spaghetti ngon. Thực tế, món spaghetti của Klepp từ đó trở thành một chuẩn mực nấu ăn để tôi làm căn cứ đánh giá mọi thực đơn bày ra trước mặt tôi.
 
Trong khi ăn, tôi đã kín đáo quan sát khá kỹ căn phòng của người nằm lì. Điểm hấp dẫn chủ yếu là một cái lỗ ống khói để ngỏ, ngay dưới trần, qua đó gió lọt vào phòng như một hơi thở đen. Có hai cửa sổ và bên ngoài, gió ào ào. Có vẻ như đây chính là những luồng gió đã thốc những đám mây mồ hóng qua ống khói lò sưỏi, xâm nhập căn phòng và phủ lên đồ đạc. Vì đồ đạc chỉ có cái giường ở giữa và mấy tấm thảm cuộn lại, phủ giấy gói hàng nên có thể nói chắc rằng trong phòng không có gì bị nhuốm đen hơn chiếc khăn trải giường xưa trắng bốp, cái áo gối dưới đầu Klepp và một cái khăn mặt mà Klepp bao giờ cũng vớ lấy phủ lên mặt mỗi khi gió xua một đám mây mồ hóng vào phòng.
 
Cả hai cửa sổ, giống như những cửa sổ phòng khách nhà Zeidler, đều nhìn ra phố Julicher- Strasse, hay chính xác hơn, nhìn ra vòm lá xanh của cây hạt dẻ đứng trước cửa nhà. Bức hình duy nhất trong phòng là tấm ảnh màu chụp nữ hoàng Anh Elisabeth, có lẽ cắt từ một tờ họa báo hàng tuần. Dưới tấm ảnh, những chiếc kèn túi treo ở một cái móc, mà mô-típ trang trí Xcốt-len vẫn còn có thể nhận ra dưới lớp mồ hóng. Trong khi tôi ngắm tấm ảnh màu, mà lòng nghĩ không phải đến Elisabeth và Philip của bà, mà là đến Xơ Dorothea tội nghiệp bị giằng xé giữa Oskar và bác sĩ Werner, thì Klepp cho tôi biết hắn là một người ủng hộ trung thành và nhiệt tình của Hoàng gia Anh và vì thế đã theo một lớp kèn túi do các nhạc công của một trung đoàn Xcốt-len thuộc Quân đội Chiếm đóng Anh; tình cờ thế nào Elisabeth lại là đại tá ở trung đoàn này, khiến hắn càng có lý do để nhận những nhạc công kia là thày. Klepp đã thấy bà trên phim thời sự mặc váy ngắn Xcốt-len, đang điểm binh trung đoàn này.
 
Kỳ lạ thay, đến đây, con người Chính giáo trong tôi bắt đầu ngọ nguậy. Tôi nói tôi không tin là Elisabeth biết gì về âm nhạc kèn túi, chêm vào một đôi câu về việc hành hình tàn bạo và bất công đối với Mary Stuart theo Chính giáo, và tóm lại, muốn để Klepp hiểu rằng, theo ý kiến tôi, thì Elisabeth điếc nhạc.
 
Tôi chờ đợi một cơn thịnh nộ của anh chàng bảo hoàng này. Nhưng hắn mỉm một nụ cười kẻ cả và đề nghị tôi giải thích: liệu tôi có cơ sở để vỗ ngực là người có thẩm quyền về âm nhạc?
 
Một hồi lâu, Oskar nhìn Klepp trừng trừng. Vô tình, hắn đã làm xòe một tia lửa trong tôi và từ đầu tôi tia lửa ấy vọt sang cái bướu. Cứ như thể tất cả những cál trống xưa tả tơi, kiệt quệ của tôi đã quyết định tiến hành một cuộc Phán Xét Cuối Cùng cho riêng chúng vậy. Cả ngàn cái trống tôi đã ném vào đống đồng nát và cái trống tôi đã chôn ở nghĩa trang Saspe bỗng hồi sinh, lại trỗi dậy, tráng kiện; âm vang của chúng tràn ngập cả người tôi. Tôi bật dậy khỏi giường, xin Klepp thứ lỗi cho một lát thôi và lao ra khỏi phòng. Vượt qua cánh cửa lắp kính mờ của Xơ Dorothea - nửa bức thư vẫn thò ra - tôi chạy về phòng mình, nơi cái trống Raskolnikov tặng tôi hồi gã vẽ bức "Madonna 49" đang đợi tôi. Tôi vớ lấy trống và cặp dùi. Tôi quay lại hoặc bị lái quay lại, rời phòng, lao nhanh qua căn phòng cấm, bước vào căn bếp spaghetti của Klepp như một kẻ viễn du trở về nhà. Tôi ngồi xuống giường và, không đợi yêu cầu, đặt cái hình trụ tròn sơn trắng-đỏ của mình vào tư thế. Mới đầu cảm thấy hơi lóng ngóng, tôi xoay xoay đôi dùi một lúc, làm vài động tác nhỏ trên không. Rồi nhìn xuyên qua một gã Klepp ngỡ ngàng, tôi buông một đầu dùi xuống mặt trống như thể hú họa và ôi chao! trống đáp lại Oskar, và Oskar đưa chiếc dùi thứ hai vào cuộc. Tôi bắt đầu chơi, kể lại mọi chuyện theo trình tự: bắt đầu là lúc bắt đầu.

Con bướm giữa hai bóng điện dóng trống báo giờ tôi ra đời.
 
Cầu thang hầm kho mười sáu bậc, tùng, tùng, tùng, cú ngã trong buổi sinh nhật lần thứ ba đã thành huyền thoại của tôi.
 
Thời khóa biểu của trường Pestalozzi, tùng các các.
 
Tháp Công Lý, các tùng tùng. Tôi ngồi cùng cái trống dưới những khán đài chính trị.
 
Lươn, hải âu, những tiếng đập thảm ngày Thứ Sáu Thánh.
 
Cỗ áo quan của mẹ tội nghiệp, thuôn đằng chân.
 
Bản saga về cái lưng đầy sẹo của Herbert Truczinski.
 
Khi tôi bắt vào chủ đề cuộc phòng thủ Sở Bưu Chính Ba Lan, tôi nhận thấy một chuyển động ở đầu giường: khẽ liếc mắt, tôi thấy Klepp ngồi dậy, lấy một cây sáo gỗ kỳ cục từ dưới gối, đặt lên môi và thổi lên những âm ngọt ngào và phi phàm và hoà hợp với tiếng trống của tôi đến nỗi tôi có thể dẫn Klepp đến nghĩa trang Saspe giới thiệu với Leo Schugger và sau khi Leo Schugger kết thúc điệu nhảy của anh ta, Klepp giúp tôi làm cho bột sủi của mối tình đầu của tôi sủi bọt vì hắn; thậm chí tôi còn dẫn Klepp vào tận rừng sâu của bà Lina Greff; tôi khiến cái máy - đánh trống của Greff-Rau-Quả với vật đối trọng bảy mươi lăm kí chơi khúc kết hoành tráng của nó; tôi hoan nghênh Klepp đến Đoàn văn công tiền tuyến Bebra, làm cho Jêxu nói và đánh trống, buộc Störtebeker cùng các chiến hữu Quét Bụi của gã lao từ cầu nhảy xuống - và Lucy ngồi bên dưới. Tôi để đàn kiến và đám lính Nga chiếm cái trống của tôỉ. Nhưng tôi không đưa Klepp trở lại nghĩa trang Saspe khi tôi vứt cái trống xuống huyệt sau Matzerath, mà bắt vào chủ đề chính bất tận của tôi: những cánh đồng khoai tây Kashubes dưới mưa tháng mười, bà ngoại tôi ngồi với bốn chiếc váy; và thiếu chút nữa, tim Oskar biến thành đá khi tôi nghe thấy mưa tháng mười tí tách từ cây sáo của Klepp khi mà dưới mưa và bốn tầng váy, sáo của Klepp phát hiện ra Joseph Koljaiczek người-phóng-hỏa và ca mừng việc thụ thai mẹ tội nghiệp của tôi.
 
Chúng tôi chơi mấy giờ liền. Sau một số biến tấu trên chủ đề ông ngoại tôi chạy trốn trên những bè gỗ, chúng tôi, mệt lử nhưng sung sướng, kết thúc cuộc hoà nhạc của mình bằng một khúc tụng ca, một khúc ca nói lên niềm hy vọng rằng có lẽ một phép màu nào đó đã cứu thoát người phóng hoả.
 
Trước cả khi nốt cuối cùng rời hắn cây sáo, Klepp nhảy bật lên khỏi chiếc giường ấm của mình. Những mùi thây ma theo hắn, nhưng hắn mở toang cửa sổ, nhét giấy báo vào cái lỗ ống khói, xé nát bức ảnh của nữ hoàng Anh Elisabeth, tuyên bố kỷ nguyên bảo hoàng đã chấm dứt, vặn nước vào bồn rửa mặt và tắm: phải, Klepp tắm, chẳng có gì mà hắn sợ không dám gột đi. Đây không phải là tắm đơn thuần, mà là một cuộc tẩy rửa. Và khi kẻ tẩy rửa thôi dội nước và đứng trước mặt tôi trần truồng, mập mạp, ròng ròng, dương vật thỗn thện lệch lẹo, và phây phây sức trẻ, nhấc tôi lên, nhấc bổng tôi lên - vì Oskar trước nay vẫn nhẹ cân - khi hắn phá lên cười và tiếng cười vút lên trần nhà, thì tôi hiểu rằng không phải chỉ cái trống của Oskar vươn dậy từ cái chết, mà cả Klepp cũng hồi sinh. Và chúng tôi chúc mừng nhau và hôn lên má nhau.
 
Cùng hôm ấy - đến tối, chúng tôi ra ngoài uống bia nhắm dồi tiết với hành - Klepp đề xuất ý kiến là chúng tôi nên cùng nhau lập một ban nhạc jazz. Tôi đề nghị để tôi suy nghĩ một thời gian, nhưng Oskar thì đã quyết định từ bỏ những hoạt động ngồi mẫu và đẽo đá để trở thành người chơi bộ gõ trong dàn nhạc jazz.
 
[...]
 
...! Tràn đầy mà rỗng lặng
Biển vô lượng thủy triều
Đường về tâm hết động
Tuyệt chiêu là vô chiêu !...

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 22.07.2016 23:32:24 bởi tducchau>
[...]
 
 
TRONG TỦ ÁO
 
Xin đừng tưởng rằng cả đời Oskar chỉ toàn duyên nợ với các nữ y tá. Nói cho cùng, tôi có nghề chuyên môn của tôi. Tôi phải nghỉ việc khắc chữ bia mộ vì học kỳ hè ở Trường Mỹ thuật đã bắt đầu. Một lần nữa, Ulla và tôi lại nhận được những khoản thù lao hậu hĩnh cho việc ngồi yên cho các sinh viên mỹ thuật lột tả bằng những phương pháp cũ hay mới và theo con mắt nhìn tinh tường hay mù loà của họ. Nhiều người triệt phá sự tồn tại khách quan của chúng tôi, gạt bỏ và phủ nhận chúng tôi, phủ lên mặt giấy hay mặt toan những đường nét, hình tứ giác, hình xoáy trôn ốc, tạo những mô-típ giấy phủ tường trong đó có đủ mọi thứ trừ Oskar và Ulla, hay căng thẳng và bí ẩn; họ đặt cho những thứ nhố nhăng ấy những cái tên rất kêu như: Bện ngược lên, Tụng ca trên Thời gian, Màu Đỏ trong Không Gian Mới.
 
Cái cách này được các sinh viên trẻ chưa biết vẽ nét đặc biệt ưa chuộng. Chúng tôi may mắn hơn trong tay những người bạn cũ ở xưởng của Kuchen và Maruhn, chưa kể hai sinh viên hàng đầu Ziege và Raskolnikov.

Trong quãng đời trần thế của mình, Nàng Thơ Ulla tỏ ra rất thích nghệ thuật ứng dụng. Lankes đã bỏ nàng, nhưng trong niềm say mê đối với những hoa văn giấy phủ tường mới, nàng mau chóng quên anh ta. Nàng cho những sáng tạo trang trí trừu tượng của một hoạ sĩ đứng tuổi tên Meitel là rất dễ thương, ngộ nghĩnh, xinh xẻo, tuyệt vời và thậm chí sang trọng. Nàng lập tức đính hôn với Meitel, con người đặc biệt thích những hình khối ngòn-ngọt dìu-dịu như kiểu những quả trứng lễ Phục sinh, nhưng thôi cái đó chả đáng kể. Từ đó đến nay, nàng còn có nhiều dịp đính hôn khác. Và bây giờ - như nàng thông báo hôm kia, khi đến thăm tôi - một lần nữa, nàng lại đang ở ngưỡng cửa của cái mà bao giờ nàng cũng gọi là một quan hệ nghiêm túc và lâu bền.
 
Vào đầu học kỳ, Ulla chỉ muốn làm mẫu cho những "khuynh hướng mới" - một kích thích tố mà Meitel, tay họa sĩ trứng-Phục-sinh, tiêm cho nàng; quà đính hôn ông ta tặng nàng là một mớ thuật ngữ mà nàng đem ứng dụng những khi trò chuyện về nghệ thuật với tôi. Nàng nói về tương quan, chòm sao, điểm nhấn, phối cảnh, cấu trúc hạt, quá trình hòa quyện, hiện tượng xói mòn. Nàng vốn hằng ngày chỉ ăn chuối và nước cà chua, mà lại nói nào là tế bào nguyên sinh, nào là những nguyên tử màu mà trên đường đi phẳng năng động của chúng, đã tìm thấy được thế tự nhiên trong trường lực của chúng, nhưng không dừng lại ở đó; không, chúng vẫn tiếp tục và vân vân... Đó là cái giọng điệu nàng dùng khi trò chuyện với tôi trong những giờ nghỉ hoặc khi chúng tôi thi thoảng ra phố Ratinger- Strasse làm một tách cà phê. Ngay cả khi màn đính hôn của nàng với tay họa sĩ trứng-Phục-sinh đã kết thúc, ngay cả khi, sau một đợt giao tình chớp nhoáng với một cô gái đồng tính luyến ải, nàng bắt bồ với một sinh viên của Kuchen và trở lại với thế giới khách quan, nàng vẫn duy trì cái mớ từ vựng ấy, mà để vận dụng nó, khuôn mặt nhỏ bé của nàng căng thẳng đến nỗi hai nếp nhăn hồ như cuồng tín hằn sâu hai bên khoé miệng nàng.
 
Đến đây, tôi phải thừa nhận rằng cái ý vẽ Nàng Thơ trong trang phục nữ y tá cùng với Oskar không phải hoàn toàn là của Raskolnikov. Sau "Madonna 49", gã đưa chúng tôi vào "Bắt cóc nàng Europa" trong đó tôi là con bò tót. Ngay sau "Bắt cóc" là đến "Hề chữa bệnh cho nữ y tả."
 
Chính một chữ của tôi đã nhóm lửa cho trí tưởng tượng của Raskolnikov bùng cháy. Mặt lầm lầm, tóc đỏ, bộ dạng nham hiểm, gã vừa rửa bút vẽ vừa ngẫm ngợi. Nhìn chằm chằm vào Ulla, gã bắt đầu nói về phạm tội và chuộc tội. Đến đây tôi khuyên gã vẽ tôi như là hiện thân của phạm tội và Ulla như là hiện thân của chuộc tội. Vẻ phạm tội nơi tôi thì rành rành rồi, tôi nói. Còn Chuộc Tội, tại sao lại không mặc cho nàng như một nữ y tá?

Nếu bức tranh tuyệt hảo này về sau mang một cái đầu đề khác, sai lạc, thì đó là việc của Raskolnikov. Bản thân tôi thì muốn gọi nó 1à " Cám dỗ" vì tay phải tôi đang riết chặt và xoay một quả đấm cửa, mở cửa một căn phòng trong đó Nữ Y Tá đang đứng. Hoặc giả có thể là "Quả đấm cửa", vì nếu ai đề nghị tôi nghĩ hộ một cái tên mới cho sự cám dỗ thì tôi sẽ khuyên dùng chữ "quả đấm cửa, bởi vì những cái núm lồi lên ấy ở những cánh cửa là để làm gì nếu không phải để cám dỗ chúng ta, bởi vì cái quả đấm ở cánh cửa lắp kính mờ của phòng Xơ Dorothea chính là bản thân sự cám dỗ đối với tôi bất cứ lúc nào. Con Nhím đang trên đường, Xơ Dorothea ở bệnh viện và bà Zeidler ở công ty Mannesmann.
 
Bấy giờ, Oskar bèn ra khỏi căn phòng có cái bồn tắm của mình, tiến đến phòng Xơ Dorothea và nắm lấy quả đấm cửa.
 
Cho đến khoảng giữa tháng sáu - mà hầu như ngày nào tôi cũng thử làm vậy - cánh cửa vẫn cưỡng lại tôi. Tôi đã bắt đầu nghĩ rằng công việc của Xơ Dorothea đã khiến nàng ngăn nắp đến nỗi tôi nên từ bỏ hy vọng là có lúc nào đấy, nàng lãng đi không khoá cửa. Và chính vì thế mà, một hôm khi cánh cửa mở ra dưới sức đẩy của tôi, phản ứng đần độn, như máy của tôi là đóng nó lại.
 
Trong mấy phút, Oskar đứng ngây đuỗn trong một bộ da trở nên quá chật, bối rối trước bao ý nghĩ linh tinh nhất khiến hắn hầu như không cách nào sắp xếp lại cho rành mạch được.
 
Chỉ sau khi tôi chuyển những ý nghĩ của mình sang một luồng khác - Maria và người yêu của nàng, Maria có bồ, bồ cho nàng một bình cà-phê, tối thứ bảy anh ả đến vui chơi ở Apollo, Maria gọi bồ là ông trong giờ làm việc vì bồ là sếp, là chủ nhân của cửa hàng nơi nàng làm việc - chỉ sau khi xem xét Maria và bồ của nàng dưới nhiều góc độ khác nhau, tôi mới tạo được chút trật tự trong đầu óc tội nghiệp của mình... và mở cánh cửa lắp kính mờ.
 
Trước đó, tôi đã hình dung là căn phòng này không có cửa sổ vì chẳng bao giờ phần trên trong mờ của cửa vào để lộ chút dấu vết gì của ánh sáng ban ngày. Với tay sang bên phải, hệt như ở phòng tôi, tôi thấy công-tắc đèn. Chiếc bóng điện bốn mươi oát thừa đủ cho cái khoang nhỏ xíu không đáng gọi là phòng này. Tôi hơi rầu lòng khi đối diện với tượng bán thân của mình trong gương. Tuy hình ảnh lộn trái của hắn chẳng có gì hay ho, Oskar vặn không né ra: hắn đang bị hút hồn bởi những đồ vật trên bàn trang điểm trước tấm gương.
 
Có những vệt xanh-đen ở lớp men trắng của bồn rửa mặt. Mặt bàn, với lỗ khoét để gắn bồn xuống cho vừa khít đến thành, cũng có khuyết tật. Góc bên trái khuyết một miếng và miếng khuyết ấy nằm trên mặt bàn dưới tấm gương, phô với gương những đường vân của nó. Những vệt keo bong trên gờ nâu chứng tỏ một cố gắng vụng về nhằm gắn lại mảnh vỡ. Những ngón tay thợ đẽo đá của tôi bỗng thấy ngứa ngáy. Tôi nghĩ đến chất mát-tít do Korneff làm lấy có thể biến những miếng cẩm thạch vỡ vụn thành những phiến bền vững thích hợp để làm đẹp mặt tiền của những cửa hàng thịt lớn.
 
Khi những ý nghĩ quen thuộc đó đã làm tôi quên đi cái hình ảnh méo mó tệ hại của tôi trong gương, tôi có thể gọi tên cái mùi xộc vào mũi tôi ngay khi bước vào phòng.
 
Đó là dấm. Sau này, và lại mới cách đây mấy tuần, tôi biện hộ cho cái mùi chua loét ấy bằng cách đoán chừng là hôm trước, chắc Xơ Dorothea gội đầu và đã pha dấm vào nước gội. Tuy nhiên, chẳng có chai dấm nào trên bàn trang điểm. Tôi cũng không phát hiện thấy dấm trong bất kỳ chai lọ nào có dán nhãn khác. Hơn nữa, tôi thường tự hỏi, lẽ nào Xơ Dorothea lại phải cầu kỳ xin phép Zeidler đun nước trong bếp rồi lại mang về phòng mình để gội đầu trong khi bệnh viện có đầy vòi hoa sen và buồng tắm hảo hạng? Tuy nhiên, cũng có thể là nữ y tá trưởng hoặc ban quản trị bệnh viện đã cấm các nữ y tá dùng một số thiết bị vệ sinh ở trong bệnh viện; có lẽ Xơ Dorothea quả đã buộc phải gội đầu ở cái bồn tráng men này, trước cái gương xảo trá này.
 
Tuy không có chai dấm nào, nhưng lại có rất nhiều chai lọ khác trên mặt bàn đá. Một gói bông và một gói khăn vệ sinh đã dùng hết nửa khiến Oskar hết muốn tìm hiểu xem những cái lọ nhỏ kia đựng những gì. Nhưng tôi vẫn cho rằng trong đó chẳng có gì khác ngoài những thứ mỹ phẩm thông thường hoặc pom-mát vô hại.
 
Xơ Dorothea đã cắm cái lược trong bàn chải tóc. Tôi phải so đo một lúc rồi mới quyết định rút nó ra xem cho kỹ. Thật may là tôi đã làm thế, vì chính lúc này, Oskar khám phá ra điều quan trọng nhất: tóc nàng màu vàng, có lẽ là vàng tro, nhưng ta không thể rút ra kết luận vội vàng từ những sợi tóc chết mắc vào một cái lược. Chỉ cần nói Xơ Dorothea tóc vàng là đủ.
 
Thêm vào đó, số tóc mắc giữa những răng lược nhiều đến phát sợ, nó mách tôi rằng Xơ Dorothea bị bệnh rụng tóc; điều này hẳn khiến nàng rất buồn. Chắc là tại cái mũ y tá của nàng, tôi nghĩ bụng, nhưng tôi không lên án nó, bởi lẽ làm sao một bệnh viện có thể vận hành tốt được nếu không có những chiếc mũ y tá?
 
Dù cái mùi dấm có khó chịu đến mấy đối với Ọskar, việc Xơ Dorothea bị rụng tóc, vẫn chỉ khuấy lên trong tôi một tình cảm duy nhất: tình yêu pha lẫn với thương cảm, ân cần. Đặc điểm của tâm trạng tôi lúc đó là tôi nghĩ ngay đến nhiều loại thuốc mọc tóc mà tôi đã nghe giới thiệu và tôi nhất quyết kiếm cho Xơ Dorothea một vài thứ trong số đó ngay khi gặp cơ hội đầu tiên. Mơ tới cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa chúng tôi sẽ diễn ra dưới một bầu trời mùa hè ấm áp giữa cánh đồng lúa dập dờn, tôi bứt những sợi tóc mồ côi khỏi cái lược, xếp thành một túm, buộc lại với nhau. Tôi thổi sạch chút bụi và gầu, rồi thận trọng cất vật báu của mình vào một ngăn ví sau khi rốc bỏ những gì để trong đó từ trước.
 
Cất ví vào túi áo xong, tôi mới nhấc cái lược lên - vừa rồi tôi phải để nó trên mặt bàn vì hai tay đều bận - giơ lên ánh sáng của ngọn điện trần, xem xét hai hàng răng, bên to thưa bên nhỏ dày, và nhận thấy thiếu hai cái răng nhỏ. Tôi không cưỡng nổl sự cám dỗ lấy móng ngón trỏ tay trái gại lên đầu những răng to và trong khi chơi nghịch thế, Oskar vui thích thấy óng lên mấy sợi tóc mà hắn cố tình để lại nhằm tránh mọi nghi ngờ.

Cuối cùng tôi cắm lại chiếc lược vào bàn chải và rời bàn trang điểm để khỏi quá thiên lệch. Trên đường tới giường Xơ Dorothea, tôi vấp phải một cái ghế trên đó có vắt một chiếc xú-chiêng - đã giặt nhiều đến sờn và bạc cả mép, tôi nhận xét.
 
Oskar không có gì ngoài hai nắm tay để làm căng đầy hai chỗ lõm. Không vừa. Quá cứng, quá gân guốc, chúng xa lạ và khổ sở trong hai cái bát úp ấy mà tôi vui lòng dùng cùi-dìa xúc ngày này qua ngày khác để tìm hiểu xem chúng đựng cái gì; tôi cũng sẵn sàng chấp nhận thi thoảng nôn oẹ một chút, bởi vì món gì ăn quá nhiều chả làm cho dạ dày óc ách, nhưng sau khi nôn lại thấy dịu ngọt, dịu ngọt đến nỗi khiến người ta khao khát được nôn - nôn như là dấu ấn của tình yêu.
 
Tôi nghĩ đến bác sĩ Werner và rút hai nắm tay ra khỏi xú-chiêng. Nhưng rồi bác sĩ Werner biến mất và tôi có thể đến gần chiếc giường của Xơ Dorthểa. Vậy ra đây là giường của nàng! Đã bao lần Oscar thử cố hình dung ra nó và đây, nó cũng chỉ là thứ cấu trúc xấu xí bằng gỗ, sơn màu nâu, y hệt cái khung gỗ làm nền cho những giờ nghỉ ngơi, hoặc đôi khi mất ngủ của tôi. Điều tôi vẫn thường ước cho nàng là một cái giường kim loại sơn trắng với những núm đồng, một cái khung nhẹ bỗng chứ đâu phải cái vật cồng kềnh vắng mọi hơi thở của tình yêu này. Không động cựa, đầu nặng như chỉ, trống vắng đam mê, thậm chí không còn sức mà ghen, tôi đứng một lúc nhìn cái ban thờ của giấc ngủ này. Rồi tôi ngoảnh đi để khỏi phải nhìn thêm cái hình ảnh ghê tởm ấy. Không bao giờ Oskar có thể hình dung Xơ Dorothea với những giấc ngủ của nàng trong nấm mồ gớm ghiếc này.

Tôi quay về bàn trang điểm, có lẽ với ý định mỏ thử những lọ mà tôi đoán là đựng pom-mát. Nhưng trên đường đi, cái tủ áo ra lệnh cho tôi phải chú ý đến kích thước của nó, ghi nhận nước sơn của nó là nâu đen, theo dõi đường chỉ của nó và cuối cùng, mở nó ra; vì ở đâu lại có thứ tủ áo không đòi hỏi được mở ra?
 
Không có khóa; hai cánh cửa tủ được ngoắc hờ vào nhau bằng một cái đinh bẻ cong; tôi xoay đứng nó lên và lập tức, không cần tôi giúp thêm, hai cánh tủ bung ra với một tiếng thở dài, cho tôi một tầm nhìn rộng đến nỗi tôi phải bước lùi lại để nhìn được bao quát toàn bộ. Oskar không muốn đắm vào những chi tiết như ở bàn trang điểm, cũng không muốn để thành kiến ảnh hưởng đến nhận định như trong trường hợp cái giường. Không, hắn quyết hiến mình cho cái tủ áo đã dang rộng hai tay đón hắn với cái tươi mát của Ngày Đầu cuộc Sáng Thế.

Tuy nhiên, Oskar, nhà thẩm mỹ thâm căn cố đế, không thể hoàn toàn dẹp mọi phê phán: một cha man rợ nào đã cưa chân tủ một cách vội vàng, làm mặt gỗ vỡ toác nhiều mảnh và đặt biệt cái tủ bị xước mặt xuống sàn.

Bên trong tủ cực kỳ ngăn nắp. Bên phải có ba giá gỗ sâu chất đầy quần áo lót và blu - trắng, hồng và xanh nhạt mà Oskar đoán chắc là rất bền màu. Hai cái túi vải sơn màu đỏ và xanh lá cây treo ở phía trong cửa bên phải, một cái đựng những bít tất bị tuột chỉ, cái kia đựng những đôi Xơ Dorothea đã mạng lại. Tôi cảm thấy những đôi bít tất này chất lượng cũng ngang ngửa với những đôi mà ông chủ và bồ của Maria tặng nàng, nhưng dệt dày hơn và bền hơn. Bên trái treo những bộ đồ đồng phục nữ y tá hồ bột trắng bóng, ở ngăn đựng mũ, phía trên cùng, đẹp và giản dị, dăng hàng một loạt mũ mềm nữ y tá mỏng mảnh, tránh xa những bàn tay bất cẩn. Tôi chỉ liếc qua đám quần áo dân sự xếp bên trái chồng đồ lót. Những đồ rẻ tiền chọn một cách đại khái xác nhận hy vọng thầm kín của tôi: Xơ Dorothea không mấy quan tâm đến bộ phận trang phục này của mình. Cũng một cảm giác tương tự toát ra từ ba bốn cái mũ hình chậu cài hoa giả, vứt thành một chồng lộn xộn bên cạnh những mũ mềm, nom như một chiếc bánh ga-tô làm hỏng. Ngăn đựng mũ cũng có mươi mười hai cuốn sách gáy màu dựa vào một hộp giày đựng đầy len vụn.
 
Oskar phải bước lại gần hơn và nghiêng nghiêng đầu mới đọc được đầu đề sách. Tôi lấy lại tư thế đầu thẳng đứng với một nụ cười rộng lượng: vậy ra Xơ Dorothea của chúng ta đọc tiểu thuyết trinh thám, về khu vực dân sự của tủ quần áo, nói chừng nấy là đủ rồi. Bị những cuốn sách dụ dỗ đến gần, tôi không lùi bước; trái lại, tôi rúc đầu vào tủ và thôi cưỡng lại ý muốn càng lúc càng tăng là thuộc về nó, trở thành một bộ phận của tủ quần áo, nơi Xơ Dorothea trao gửi một phần không nhỏ sự hiện diện hữu hình của mình.
 
Tôi thậm chí không cần phải xê dịch đôi giày gót bằng ở sàn tủ, đã đánh bóng kỹ và đang chờ được ra ngoài. Như để mời tôi vào, mọi vật trong tủ được xếp gọn đến nỗi Oskar có thể náu vào giữa mà không làm nhàu một thứ gì. Khấp khởi đầy chờ đợi, tôi luồn vào và ngồi xổm đó.
 
Tuy nhiên, mới đầu, tôi chưa thấy yên trí lắm. Oskar cảm thấy như bị đồ đạc xung quanh và cái bóng điện theo dõi. Muốn thời gian mình lưu lại nơi này được thân mật hơn, tôi cố đóng cửa tủ lại. Điều đó đâu có dễ, chốt cài mòn dơ, hai cánh không chịu đóng lại tử tế. Ánh sáng vẫn lọt vào, nhưng không đủ để quấy rối tôi. Mùi trở nên tập trung hơn. Một mùi sạch sẽ, cũ kỹ, không còn là mùi dấm mà là mùi một thứ sản phẩm chống sâu mọt nào đó, một mùi dễ chịu.
 
Oskar làm gì khi hắn đã ngồi trong tủ áo? Hắn gục đầu vào bộ đồng phục gần nhất của Xơ Dorothea; điều đó mở ra mọi khía cạnh đời sống. Tay trái tôi, có lẽ nhằm tìm một cái gì để ngả người dựa vào, quài ra đằng sau, qua mớ quần áo dân sự, chệch hướng, chới với, chộp vội lấy một cái gì nhẵn mượt và dẻo, và cuối cùng - vẫn giữ cái vật nhẵn mượt - thấy một thanh chống ngang dùng để đỡ ván sau của tủ, nhưng cũng sẵn sàng đỡ tôi luôn thể. Tay đã rảnh, tôi đưa nó ra đằng trước xem nó tìm thấy cái gì đằng sau tôi.
 
Tôi thấy một cái dây lưng da đen, nhưng trong bóng tối nhập nhoạng như thế này, người ta có thể dễ dàng nhầm tưởng một cái gì khác là một cái dây lưng. Nó cũng có thể là một cái gì hoàn toàn khác, một cái gì cũng nhẵn mượt và dài, một cái gì tôi đã thấy trên đập chắn sóng ở Neufahrwasser hồi lên ba khi còn là thằng bé đánh trống bất trị; mẹ tội nghiệp của tôi mặc chiếc măng-tô mùa xuân màu xanh nhạt với lớp vải phủ ngoài màu quả mâm sôi, Matzerath mặc ba-đờ-xuy nâu, Jan Bronski áo cổ nhung, Oskar đội mũ lính thuỷ với dải băng thêu dòng chữ vàng S.M.S.Seidlitz; ba-đơ-xuy và áo cổ nhung nhảy từng bước thoăn thắt đằng trước hai mẹ con, mẹ đi giày cao gót không nhảy được từ hòn đá này sang hòn kia đến chỗ lão cửu vạn ngồi dưới chân nhà đèn tín hiệu với sợi dây phơi quần áo và cái bao khoai tây đầy muối và những gì ngọ nguậy.
 
Nhìn thấy cái bao và sợi dây phơi, chúng tôi hỏi lão già ngồi dưới chân nhà đèn tại sao lão lại câu bằng một sợi dây phơi quần áo, nhưng cái lão già người vùng Neufahwasser hay Brösen này chỉ cười và nhổ bã thuốc nâu lầy nhầy xuống nước, miếng bã thuốc cứ nhấp nhô tại chỗ bên đập chắn sóng cho đến khi một con hải âu đớp lấy mang đi; bởi vì một con hải âu sẵn sàng đớp bất cứ cái gì dưới ánh mặt trời, không như chị bồ câu kén cá chọn canh, càng không như một nữ y tá – chẳng lẽ người ta có thể ăn bất kỳ cái gì trắng dưới một cái mũ rồi ném vào một cái tủ áo, như thế chả hóa ra đơn giản lắm sao? Và với những gì đen cũng vậy, bởi vì hồi ấy tôi không sợ mụ phù thuỷ Đen độc ác, tôi ngồi không chút sợ hãi trong tủ áo, rồi lại không phải trong tủ áo, mà là trên đập chắn sóng ở Neufahrwasser cũng không chút sợ hãi, một đằng tôi cầm một chiếc dây lưng da đen, đằng kia lại là một cái gì khác cũng đen và trơn nhưng không phải một chiếc dây lưng. Vì tôi đang ở trong tủ áo, nên tôi tìm cái để so sánh, bởi tủ áo buộc người ta phải so sánh, gọi mụ phù thuỷ Đen bằng tên của mụ, nhưng hồi đó, mụ chả có nghĩa gì đối với tôi, tôi đi quá xa trên đề tài trắng, hầu như không thể phân biệt một con hải âu với Xơ Dorothea, tuy nhiên tôi loại trừ bồ câu, cả đực lẫn cái, và những thứ dớ dẩn như thế khỏi ý nghĩ của tôi, nhất là vì đó không phải là dịp lễ Ngũ tuần, mà là ngày Thứ Sáu Thánh khi chúng tôi đến Brösen rồi đi tiếp ra đập chắn sóng - vả lại, làm gì có bồ câu ở đập chắn sóng, nơi lão cửu vạn người Neufahrwasser ngồi với cái dây phơi của lão, ngồi và nhổ bã thuốc. Và khi lão cửu vạn người Brösen kéo sợi dây cho đến lúc sợi dây dừng lại và chỉ rõ tại sao kéo nó ra khỏi dòng nước lợ của sông Mottlau lại khó nhọc đến thế, khi mẹ tội nghiệp của tôi vịn tay lên vai và cổ áo nhung của Jan Bronski, vì mặt mẹ tái xanh đi như phó-mát xanh, vì mẹ muốn bỏ đi nhưng vẫn phải nhìn lão cửu vạn ném cái đầu ngựa xuống những hòn đá, nhìn những con lươn nhỏ xanh màu nước biển chui ra khỏi cái bờm ngựa và lão kéo những con to hơn đen hơn ra khỏi đầu ngựa. Ai đó xé toạc một cái giường nệm lông chim, nhưng đó chỉ là một cách khác để nói là lũ hải âu ào xuống và bắt đầu, bởi vì cái giống hải âu, khi có ba bốn con là có thể dễ dàng làm gọn một con lươn nhỏ, con to thì hơi khó. Lão cửu vạn banh miệng con ngựa ra, ấn một miếng gỗ vào giữa hai hàm răng, làm cho con ngựa cười và luồn cánh tay lông lá vào rờ rẫm và dấn thêm vào, như tôi trong tủ áo, và lôi ra hai con lươn một lúc, như tôi trong tủ áo vừa lôi ra một chiếc dây lưng. Lão quăng chúng lên không trước khi quật chúng vào đá cho đến khi mẹ tội nghiệp của tôi tháo hết bữa ăn sáng của mình, bao gồm cà-phê sữa, lòng trắng và lòng đỏ trứng, một ít mứt và mấy miếng bánh mì trắng. Bữa điểm tâm thịnh soạn đến nỗi bọn hải âu liền nghiêng cánh xuống thấp một tầng nữa và đâm bổ - đó là chưa kể những tiếng kêu và việc hải âu có con mắt hung tinh mang họa thì ai cũng biết. Không ai đuổi chúng đi được, huống hồ là Jan Bronski vốn sợ hải âu chết khiếp, chỉ biết giơ cả hai tay che cặp mắt xanh. Chúng cũng chẳng thèm để ý đến tiếng trống của tôi mà cứ nhồi nhét trong khi tôi giận dữ đồng thời cũng phấn hứng tạo ra nhiều tiết tấu mới trên trống. Nhưng mẹ tội nghiệp của tôi thì chả thiết gì nữa, mẹ đang quá bận: mẹ nôn khan, nôn khan hoài mà không ói thêm được gì, mẹ có ăn gì mấy đâu vì mẹ đang tìm mọi cách để giảm cân, một tuần hai lần đến tập thể dục ở Hội Phụ Nữ, nhưng không ăn thua vì mẹ vẫn ăn giấu và quyết tâm của mẹ bao giờ cũng có những lỗ hổng. Còn cái lão người Neufahrwasser, khi tất cả những người có mặt đều tưởng đã xong, không còn gì nữa, thì lão, bất chấp mọi lý thuyết, lại lôi ra một con lươn cuối cùng từ tai con ngựa. Con này mình đầy vữa trắng bỏi nó đã xục xạo óc con ngựa. Nhưng lão cửu vạn quay tít nó cho đến khi những mảnh vữa rụng hết, cho đến khi con lươn phô lớp láng bóng của nó và lấp lánh như một cái dây lưng bằng da thật. Điều tôi muốn nói là Xơ Dorothea thắt một cái dây lưng hệt như vậy khi nàng mặc đồ dân sự đi chơi, không đeo huy hiệu Chữ Thập Đỏ.
 
Chúng tôi lên đường về nhà mặc dù Matzerath muốn nán lại chờ một con tàu Phần Lan một nghìn tám trăm tấn đang vào cảng. Lão cửu vạn bỏ cái đầu ngựa lại đập chắn sóng. Lát sau, con ngựa chuyển sang màu trắng và bắt đầu kêu. Nhưng nó không kêu như ngựa, mà kêu như một đám mây trắng phàm ăn đang xà xuống một cái đầu ngựa. Như vậy càng hay, vì bây giờ người ta không phải trông thấy con ngựa nữa mặc dù vẫn có thể hình dung ra cái gì ở bên dưới đám mây trắng đang lồng lộn điên cuồng kia. Con tàu Phần Lan cũng chuyển hướng chú ý của chúng tôi; nó chở gỗ và gỉ như cái hàng rào ở nghĩa trang Saspe. Nhưng mẹ tội nghiệp của tôi chẳng buồn quay lại nhìn con tàu Phần Lan cũng như đám hải âu. Mẹ đã quỵ hẳn. Mặc dầu trước kia, mẹ không những chơi trên dương cầm mà còn hát "Bay đi, hải âu bé bổng, hãy bay tới Heligoland", từ giờ mẹ sẽ không bao giờ hát bài đó hoặc bất cứ bài nào khác nữa. Mới đầu, mẹ không chịu ăn cá nữa, nhưng rồi bỗng nhiên mẹ xoay ra ăn rất nhiều cá, cá to cá béo, nhiều đến nỗi một hôm, mẹ không muốn, không thể ăn thêm gì nữa, ớn tất cả, ớn lươn và ớn sống, đặc biệt là ớn người, có lẽ ớn cả Oskar nữa; dù thế nào đi nữa, từ một người ham ăn chơi không từ bỏ một cái gì, mẹ bỗng trở nên thanh đạm, tiết chế và yêu cầu chôn mình ở Brenntau. Tôi đã thừa hưỏng ở mẹ sự kết hợp của hai nét cá tính đó: xả láng và thanh đạm. Tôi muốn đủ mọi thứ, nhưng không có thứ gì mà tôi không nhịn được, trừ lươn xông khói; dù đắt đến đâu, cũng phải kiếm bằng được, tôi không thể sống thiếu chúng. Một ngoại lệ thứ hai là Xơ Dorothea mà tôi chưa từng trông thấy, mà cái dây lưng da của nàng chưa thực sự làm tôi say mê - vậy mà tôi không tài nào dứt mình ra khỏi nó được, nó bất tận, nó nhân bội lên, và với bàn tay còn rảnh, tôi cởi khuy quần để làm sáng lại hình ảnh của Xơ Dorothea đã bị con tàu buôn Phần Lan và đám lươn lúc nhúc làm nhòa đi.
 
Cuối cùng, với sự giúp đỡ của đàn hải âu, Oskar rũ bỏ được sự ám ảnh của con đập chắn sóng và tìm lại được thế giới của Xơ Dorothea giữa những bộ đồng phục để không nhưng vẫn hấp dẫn của nàng. Nhưng khi, rốt cuộc, tôi có thể thấy nàng trước mặt và phân biệt được vài nét, thì đột nhiên cửa tủ mở toang với một tiếng kẹt, ánh đèn làm tôi loá mắt khiến tôi phải cố gắng mới không làm bẩn chiếc blu treo gần tôi nhất.
 
Chỉ cốt để tạo một sự chuyển tiếp, một sự thư giãn sau những phút ở trong tủ áo mà tôi không ngờ lại căng thẳng đến thế, tôi bèn làm cái điều bao năm nay tôi không làm: tôi gõ mấy nhịp, không lấy gì làm xuất sắc, trên vách sau khô khốc của tủ. Rồi tôi chui ra, soát lại bên trong một lần nữa và yên trí rằng mình đã không gây lộn xộn gì, kể cả cái dây lưng cũng vẫn giữ nguyên độ bóng; không, có một vài vết mờ mờ cần hà hơi lên và cọ đi trước khi, một lần nữa, cái dây lưng lại trở thành một vật có thể gợi đến những con lươn một lão cửu vạn bắt được trên đập chắn sóng ở Neufahwasser nhiều năm trước đây.
 
Tôi, Oskar, ngắt dòng điện khỏi cái bóng bốn mươi oát đã theo dõi tôi suốt cuộc đến thăm và ra khỏi phòng Xơ Dorothea.
 
[...]
 
...! Tràn đầy mà rỗng lặng
Biển vô lượng thủy triều
Đường về tâm hết động
Tuyệt chiêu là vô chiêu !...

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 23.07.2016 00:21:48 bởi tducchau>
[...]
 
 
CON NHÍM
 
Chỉ đến khi trở thành kẻ đi thuê lại phòng Oskar mới học được nghệ thuật trở ngược lại quá khứ bằng cách đánh trống. Giúp tôi trong việc này, không phải chỉ là căn phòng, mà còn có Con Nhím, cái kho chứa quan tài trong sân và xừ Münzer - đó là chưa kể Xơ Dorothea.
 
Quý vị có biết tích Parsifal không? Tôi cũng không thuộc lắm. Tôi chỉ nhớ nhất câu chuyện về ba giọt máu trên tuyết. Chuyện này chắc có thật vì nó giống chuyện tôi như đúc. Mà có lẽ đó là chuyện của bất kỳ ai có một ý tuồng.
 
Tôi vẫn còn là một tên đầy tớ của nghệ thuật. Tôi để cho người ta vẽ tôi xahh lơ, xanh ve và theo các sắc độ của đất; tôi để người ta ký họa tôi bằng chì than và đặt trước nhiều bối cảnh; cùng với Ulla, tôi đem lại cảm hứng cho Trường Mỹ thuật trong suốt học kỳ đông cũng như học kỳ hè tiếp theo, nhưng tuyết đã rơi để nhận ba giọt máu và vừa nhìn thấy ba giọt máu ấy, Oskar liền biến thành đá như anh chàng điên Parsifal mà Oskar biết rất lơ mơ nên chẳng cần phải cố gắng lắm cũng có thể đồng nhất được với anh ta.
 
Hình ảnh tôi phác ra tuy vụng về nhưng, theo tôi nghĩ, khá rõ ràng. Này nhé: tuyết là bộ đồng phục nữ y tá; chữ thập đỏ mà phần lớn các nữ y tá đều mang ở giữa cái kẹp hoa cài cổ áo, đối với tôi, là ba giọt máu.
 
Tôi ngồi đó, hút hồn, mắt nhìn trân trân.
 
Nhưng trước khi tôi có thể ngồi trong căn phòng trước kia là buồng tắm của căn hộ Zeidler, tôi phải săn tìm phòng để thuê đã. Học kỳ đông sắp hết; một số sinh viên không định quay trở lại sau đợt nghỉ lễ Phục sinh, sẽ giả phòng trọ. Người cộng sự của tôi, Nàng Thơ Ulla, đã giúp tôi đắc lực. Nàng đưa tôi đến văn phòng quản lý nhà ở cho sinh viên, tại đó, người ta cho tôi một số địa chỉ kèm theoo một giấy giới thiệu của Trường Đại học Mỹ thuật.
 
Trước khi đi xem các phòng cho thuê, tôi đến thăm ông thợ đẽo đá Korneff tại xưởng của ông ở Bittweg. Đã lâu tôi không gặp ông. Tôi đến vì quý mến ông, nhưng cũng để kiếm chút việc làm trong đợt nghỉ nữa. Tôi có một số giờ ngồi mẫu tư - một mình hoặc cùng với Ulla - nhưng chừng nấy khó mà đủ để nuôi tôi trong thời gian sáu tuần, với lại, tôi còn phải kiếm thêm để trả tiền thuê phòng nữa.
 
Tôi thấy Korneff vẫn như xưa, chả thay đổi gì - một cái nhọt chưa chín và hai cái sắp khỏi, ông đang cúi trên một khối đá gra-nít Bỉ mà ông đã đẽo thô và giờ đang bắt vào mài nhẵn. Chúng tôi nói chuyện một lúc; tôi bắt đầu mân mê mấy cái đục khắc chữ ra cách gợi ý và nhìn quanh xem có tấm đá nào đã được cắt gọt và mài nhẵn chờ được khắc chữ. Có hai tấm, một bằng đá vôi điệp, một bằng cẩm thạch Silesia, có vẻ như đã được bán và đang chờ một chuyên gia khắc chữ. Tôi chúc mừng Korneff đã vượt qua được thời kỳ khó khăn sau cải cách tiền tệ. Tuy nhiên, ngay cả trong thời kỳ đó, chúng tôi cũng đã tìm được an ủi trong ý nghĩ Tà: một cuộc cải cách tiền tệ, dù có mạnh mẽ, thiết yếu và lạc quan đến đâu chăng nữa, cũng không thể ngăn người ta chết và đặt bia mộ.
 
Tiên đoán của chúng tôi đã ứng nghiệm. Thiên hạ tiếp tục chết và tiếp tục đặt bia. Ngoài ra, cuộc cải cách tiền tệ còn mang đến những "com-măng" trước đây chưa từng có: nhiều chủ hàng thịt đặt lát mặt trước và đôi khi cả bên trong cửa hàng bằng cẩm thạch trang trí; một số ngân hàng và cửa hàng bảch hóa tổng hợp, để lấy lại uy tín, buộc phải sửa sang và trang tri lại những mặt tiền bằng đá cát kết và tufa bị hư hại trong chiến tranh.
 
Tôi khen Korneff cần mẫn xoay sở và hỏi ông có thể một mình đảm đương tất cả công việc không. Mới đầu, ông trả lời qua quít, sau rồi ông thừa nhận rằng đôi lúc ông cũng ước có bốn tay thợ và cuối cùng, ông đề nghị tôi đến làm việc với ông nửa thời gian, giá cả như sau: khắc chỉm trên đá vôi, bốn lăm pfennig/chữ cái, trên gra-nít và đi-o-rít, năm lăm pfennig/chữ cái, còn khắc nổi thì có thể từ sáu mươi đến bảy lăm.
 
Tôi mần luôn một tấm đá vôi điệp. Nhanh chóng lấy lại được ngón nghề, tôi khắc: Aloys KLifer, 3 tháng 9 năm 1887 -16 tháng 6 năm 1946. Tôi đã khắc xong ba mươi chín chữ cái và con số trong đúng ba giờ và được trả mười bảy mark năm lăm pfennig.
 
Chừng nấy là hơn một phần ba số tiền thuê phòng hằng tháng mà tôi ước tính mình có thể kham nổi. Tôi quyết định chi vào khoản này không quá bốn mươi mark vì Oskar vẫn cảm thấy có bổn phận phải đóng góp vào ngân sách gia đình ở Bilk.
 
Văn phòng quản lý nhà ở đã có nhã ý cho tôi bốn địa chỉ. Lựa chọn đầu tiên của tôi là Zeidler, số 7 phố Jiilicher-strasse vì chỗ đó gần Trường.
 
Đầu tháng năm, vào một ngày ấm áp lãng đãng sương mù, điển hình của vùng hạ Rhine, tôi xuất hành với kha khá tiền mặt trong túi. Maria đã là bộ com-lê nên nom tôi cũng bảnh. Mặt tiền trát vữa xtuých-cô long lở, trước cửa là một cây hạt dẻ bụi bám đầy. Vì phố Julicher-strasse đã đổ nát đến một nửa, nên khỏi phải nói đến nhà bên cạnh hoặc đối diện, ở bên trái là một đống gạch vụn um tùm cỏ và bồ công anh, đây đó lòi ra những dầm sắt hình chữ T, khiến ta có thể đoán ở đây đã từng có một ngôi nhà bốn tầng. Bên phải, một ngôi nhà bị phá huỷ một phần nay đã được sửa đến tầng ba, nhưng vẻ như vốn xây dựng đã cạn; mặt tiền bằng gra-nít đen Thuỵ Điển mài bóng bị nứt rạn nhiều chỗ, cần chữa khẩn cấp. Dòng tên "Schornemann, Hãng Mai Táng" thiếu nhiều chữ cái, tôi không nhớ là những chữ gì. Cũng may, hai cành cọ khắc trên mặt đá gra-nít nhẵn như gương vẫn còn nguyên vẹn, góp phần giữ cho cửa hàng một vẻ tôn nghiêm khả kính nào đó.
 
Hãng này đã tồn tại bảy lăm năm nay. Kho quan tài của hãng ở trong sân, đối diện cửa sổ phòng tôi.
 
Tôi thường hay nhìn sang vì thấy có nhiều điều để suy ngẫm. Những hôm thời tiết tốt, tôi quan sát đám thợ khuân một vài cỗ quan tài từ hăng-ga ra và đặt lên giá cưa để làm tươi lại nước láng bóng. Tôi vui thích nhận thấy tất cả những chỗ ở cuối cùng ấy đều thuôn đằng chân theo cách cổ truyền quen thuộc.
 
Đích thân Zeidler mở cửa khi tôi bấm chuông. Ông đứng giữa khung cửa, béo lùn, thỗ khò khè, nom giống như một con nhím, ông đeo cặp kính dày như đít chai, phần dưới mặt lấp dưới một lớp dày đặc bọt xà-phòng cạo râu, chiếc chổi thoa xà-phòng còn áp trên má. ông có vẻ là một tay nghiện rượu và qua giọng nói, tôi đoán ông là người vùng Westphalie.
 
"Nếu cậu không thích phòng này thì cứ nói ngay đi, đừng chần chừ. Tôl đang cạo mặt và sau đó còn phải rửa chân."
 
Rõ ràng Zeidler không thích khách sáo. Tôi nhìn căn phòng một lượt. Dĩ nhiên là tôi không thích: đó là một cái buồng tắm không sử dụng được nữa, tường một nửa lát gạch men màu ngọc lam, một nửa phủ giấy với những họa tiết dẹo dọ. Nhưng tôi để bụng không nói ra. Bất kể lớp bọt xà phòng đang khô đi và chân ông chưa được rửa, tôi hỏi Zeidler xem có thể đưa cái bồn tắm ra ngoài không, nhất là nó lại không có ống tiêu nước.
 
Zeidler mỉm cười lắc cái đầu nhím muối tiêu và cố xoa chổi cho lên bọt mà không được. Đó là câu trả lời của ông. Tôi bèn tuyên bố là tôi sẵn sàng thuê căn phòng với cái bồn tắm ở trong với giá bốn mươi mark một tháng.
Khi chúng tôi trở ra cái hành lang hình ống, lờ mờ sáng đủ đe soi rõ mấy cánh cửa có lắp kính một phần và sơn mầu khác nhau, tôi hỏi còn ai khác ỏ đây.
 
"Vợ và khách trọ."
 
Tôi vỗ vỗ vào một cánh cửa kính mờ chỉ cách cửa vào căn hộ độ một bước chân.
 
"Đó là một nữ y tá," Zeidler nói. "Nhưng không bận gì đến cậu đâu. Cậu sẽ không bao giờ thấy chị ta dâu. Chị ta chỉ về dây để ngủ thôi và đôi khi cũng không ngủ nhà nữa."
 
Tôi không muốn nói với quý vị rằng Oskar nghe thấy mấy tiếng "nữ y tá" là đã run lên rồi. Hắn gật dầu, không dám hỏi về những khách trọ khác, mà ghi nhận vị trí căn phòng với cái bồn tắm của mình: bên tay phải, cuối hành lang.
 
Zeidler đặt một ngón tay lên ve áo tôi: "Cậu có thể nấu nướng trong phòng nếu cậu có bếp cồn. Tôi cũng sẵn sàng để cậu dùng nhà bếp, nếu cái bếp lò không quả cao đối với cậu."
 
Đó là lời bóng gió đầu tiên của ông đến khổ người của Oskar, ông liếc qua giấy giới thiệu của Trường Mỹ thuật cấp cho tôi. Giấy do Giao sư Reuser, giám đốc, ký và hình như có tác động tích cực đối với ông. Tôi nhất trí với mọi lời dặn dò "nên" và " không nên" của ông, ghi vào tri nhớ là phòng bếp ở cạnh phòng tôi phía tay trái và hứa sẽ thuê giặt quần áo ở ngoài: ông sợ hơi nước làm hỏng giấy phủ tường. Đó là điều mà tôi có thể hứa chắc như đinh đóng cột: Maria đã đồng ý giặt giũ cho tôi.
 
Đến đây, đáng ra tôi đã có thể rút, nói là đi lấy đồ lề và làm tờ khai đăng ký hộ tịch ở quận cảnh sát. Nhưng Oskar không làm thế. Hắn không thể rời căn hộ này. Chẳng vì lý do gì, hắn yêu cầu ông chủ nhà tương lai chỉ cho hắn buồng vệ sinh, ông chủ hất ngón tay cái về phía một cái cửa gỗ dán khiến người ta nhớ đến những năm chiến tranh và hậu chiến. Thấy cử chỉ của Oskar có vẻ như đang cần sử dụng nó - tức là buồng vệ sinh - Zeidler, mặc dầu mặt đang ngứa ran vì xà-phòng cạo râu rụng từng mảng, vẫn với tay bật đèn cho hắn.
 
Một khi vào trong rồi, tôi cảm thấy bực mình vì Oskar đâu có cần đi vệ sinh. Tôi bướng bỉnh đợi cho đến khi Oskar dặn ra được tí nước. Do áp suất bọng đái không đủ mạnh và còn vì cái vành gỗ để ngồi lại cao quá nên tôi phải rất cẩn thận không để ướt nó hoặc dây ra sàn đá hoa. Ngay cả như thế, tôi vẫn phải lấy mù-soa lau vài giọt xớt ra cái vành gỗ mòn bóng và lấy đế giày xoá đi mấy vệt tệ hại trên sàn đá hoa.
 
Zeidler không lợi dụng lúc vắng tôi để rửa mặt cho sạch lớp bọt xà-phòng đã cứng lại. Ông ưng chờ ngoài hành lang hơn, có lẽ vì ông đã cảm thấy gã hề trong tôi. "Cậu ngộ thật đấy. Dùng buồng vệ sinh trước cả khi ký hợp đồng thuê nhà."
 
Ông tiến lại gần tôi với cái chổi thoa xà-phòng bết cứng, chắc đang nghĩ một câu đùa ngớ ngẩn nào đó. Nhưng ông không nói gì, chỉ mở cửa cho tôi. Trong khi Oskar đi giật lùi về phía cầu thang, để mắt canh chừng Con Nhím khi đi qua ồng, tôi ghi nhận cửa buồng vệ sinh ở giữa cửa buồng bếp và cánh cửa kính mờ mà đằng sau đó, một nữ y tá thường qua đêm nhưng không phải bao giờ cũng ngủ nhà.
 
Chiều muộn hôm ấy, khi Oskar trở lại với đồ lề gồm cả cái trống mới, quà tặng của Raskolnikov, người vẽ Đức Mẹ Đồng Trinh, tay vung tờ khai đăng ký hộ khẩu, thì một Con Nhím mày râu nhẵn nhụi và chân chắc cũng đã rửa sạch sẽ, dẫn tôi vào phòng khách.
 
Phòng khách có mùi xì-gà tắt và xì-gà châm đi châm lại nhiều lần. Cũng có mùi thảm, có lẽ là thảm quý, rải chồng nhiều lớp khắp phòng. Còn cả mùi lịch cũ nữa. Nhưng tôi không trông thấy cuốn lịch nào, vậy chắc đó là mùi thảm. Kể cũng lạ, những cái ghế bàn bọc da tiện nghi lại chẳng có mùi gì cả. Điều này làm tôi thất vọng: tuy chưa bao giờ ngồi vào một chiếc ghế da, nhưng Oskar lại có sẵn một ý niệm tiên nghiệm về mùi da đậm nét đến nỗi hắn ngờ thứ da bọc ghế này là giả.
 
Ngồi trên một trong những chiếc ghế bào nhẵn bóng, không mùi và bọc bằng da thật, như về sau tôi có dịp xác minh, là bà Zeidler. Bà mặc một bộ đồ xám chẳng vừa người bà mấy tí. Cái váy tốc lên quá đầu gối để lộ đến ba đốt tay quần lót. Vì bà không hề sửa lại trang phục và hình như vừa khóc- Oskar cảm thấy thế - nên tôi không dám lên tiếng chào hoặc tự giới thiệu mình. Động tác cúi đầu của tôi lặng lẽ và đến nấc cuối, lại quay sang Zeidler: ông đang chĩa ngón tay cái giới thiệu vợ mình kèm theo một tiếng ho khẽ.
 
Phòng rộng và vuông vắn. Bóng cây hạt dẻ trước nhà làm cho nó to ra và bé đi. Tôi để chiếc va-li và cái trống ở gần cửa và, giấy tờ đăng ký trong tay, tiến lại gần Zeidler đang đứng cạnh cửa sổ. Oskar không nghe thấy tiếng chân của chính mình vì hắn đang bước trên bốn lần thảm - về sau tôi mới đếm - bốn tấm thảm cỡ nhỏ dần rải chồng lên nhau. Với những mép viền màu sắc khác nhau, có tua hay không tua, chúng tạo thành một mô hình màu kỳ lạ: tấm dưới cùng màu đỏ-nâu và bắt đầu từ gần chân tường; tấm tiếp theo, gần như xanh lá cây, bị đồ đạc che lấp phần lớn - tủ buýp-phê, tủ kính đầy ly uống rượu, và cái giường cưới rộng thênh thang; tấm thứ ba xanh lơ chạy từ góc này sang góc kia; tấm thứ tư màu vang đỏ trải dưới cái bàn ăn có tấm nối dài phủ khăn vải sơn và bốn cái ghế bành bọc da với những ri-vê đồng cách quãng đều đặn.
 
Vì còn có nhiều thảm không phải để treo mà lại treo trên tường cùng nhiều tấm khác cuộn lại xếp trong góc, nên Oskar đồ rằng Con Nhím, trước cải cách tiền tệ, buôn thảm và sau đó bị kẹt không bán tháo được.
 
Bức tranh duy nhất là chân dung Bismarck lồng khung kính treo ở tường ngoài, giữa hai tấm thảm hình như là phương đông. Con Nhím ngồi trong một cái ghế bành dưới vị Thủ tướng sắt mà ông có đôi nét hao hao giống, ông cầm lấy tờ giấy đăng ký từ tay tôi, lật cả hai mặt xem xét kỹ bằng con mắt lanh lợi, phê phán và sốt ruột. Bà vợ hỏi nhỏ ông có gì không ổn chăng. Câu hỏi làm ông lên một cơn lôi đình, nom lại càng giống vị Thủ tướng. Chiếc ghế khạc ông ra. Đứng trên bốn tấm thảm, ông giơ ngang tờ giấy, hít không khí vào đầy người, đầy áo gi-lê. Ông nhảy phắt một cái lên tấm thảm thứ nhất và thứ hai, nhìn xuống bà vợ lúc này đã vớ vội lấy đồ khâu, và tuôn ra một thôi một hồi đại loại như sau: Cô muốn hỏi cái gì? Ở cái nhà này không ai được nói ngoài tôi! Câm cái mồm cô đi và đậy nó lại!
 
Vì bà Zeidler im cái mồm và bình thản khâu tiếp, một vấn đề nảy sinh với Con Nhím trong khi ông đang giậm chân trên những tấm thảm: làm sao cho cơn thịnh nộ của mình lên cao trào rồi kết thúc nó một cách lô-gích. Chỉ một bước, ông đã ở cạnh tủ kính đựng đồ gốm sứ, thuỷ tinh; ông mở cửa tủ mạnh đến nỗi làm tất cả mọi thứ rung lên kêu lanh tanh. Rất cẩn thận xoè rộng ngón tay với một độ chính xác cơ khí, ông chọn tám chiếc ly uống rượu, nhấc chúng nguyên vẹn không xây xát ra khỏi tủ, rón rén như một gia chủ định mua vui cho bản thân và cho bảy vị khách bằng một trò khéo tay - đi về phía cái lò bếp bằng gạch tráng men xanh lục và rồi, bỗng nhiên tung hê đi mọi dè giữ thận trọng, ném cả mớ hàng mỏng manh của mình vào cái cửa gang lạnh của lò bếp.
 
Điều kỳ lạ nhất là trong suốt màn trình diễn đòi hỏi một độ ngắm chính xác ấy, Con Nhím vẫn không rời mắt kính khỏi vợ; bà này đã đứng dậy ra cạnh cửa số bên tay phải mình để xâu kim. Chỉ không đầy một giây sau khi ông tiêu diệt tám chiếc ly, bà cũng kết thúc thành công cái thao tác tinh tế đòi hỏi một bàn tay vững vàng ấy. Rồi bà quay trở lại ghế và ngồi xuồng, chiếc váy lại tốc lên, để lộ ba đốt tay quần lót hồng. Con Nhím đã theo dõi những cử động của vợ mình - đi ra cửa sổ, xâu kim, trở lại ghế - bằng cái nhìn hiểm ác nhưng phục tùng. Bà vừa ngồi lại thì ông đã tới sau lò bếp, lấy xẻng và chổi hót những mảnh vỡ, trút vào một tờ báo đã đầy những ly uống rượu bị đập nát. Chắc không còn đủ chỗ cho một cuộc nổi đóa thứ ba nữa.
 
Nếu quý vị độc giả đồ rằng Oskar đã nhận ra cái bản ngã diệt thuỷ tinh ngày xưa của mình ở Con Nhím diệt thuỷ tinh, thì xin thưa rằng quý vị đã không hoàn toàn nhầm. Tôi cũng đã từng thích chuyển những cơn điên khùng của mình thành hành động đập nát thuỷ tinh nhưng dạo ấy, không ai thấy tôi dùng đến chổi và xẻng hót bụi bao giờ!
 
Sau khi xoá bỏ những dấu vết cơn lôi đình của mình, Zeidler lại ngồi xuống. Một lần nữa, Oskar chìa tờ khai đăng ký mà Con Nhím đã buộc phải vứt xuống cho rảnh cả hai tay để xử lý đám ly uống rượu.
 
Zeidler ký vào tờ khai và nói cho tôi hiểu rằng ông muốn trật tự phải ngự trị trong căn hộ của ông, nếu ai muốn làm gì tuỳ thích thì sẽ đi đến đâu, ông thừa kinh nghiệm để biết. Phải, ông đã làm công việc chào hàng mười lăm năm nay cho một hãng tông-đơ1, tôi có biết tông-đơ là cái gì không?
 
Oskar làm mấy động tác qua đó, Zeidler kết luận rằng tôi có đủ thông tin về vấn đề tông-đơ. Mái tóc "cua" húi rất gọn của Zeidler đủ đảm bảo độ tin cậy của mặt hàng, cũng như tính hiệu quả của ông với tư cách người chào hàng, Sau khi giải thích cho tôi về thời gian biểu của mình - một tuần trên dường, một tuần ở nhà - ông không quan tâm gì đến Oskar nữa. Càng giống nhím hơn bao giờ hết, ông ngồi đu đưa trong chiếc ghế da nâu nhạt kẽo kẹt, mắt kính lấp lánh, và vì một lý do nào đó hoặc chẳng vì gì cả, ông lầm rầm: yayayaya. Đã đến lúc tôi phải đi khỏi.
 
Trước hết, Oskar cáo từ bà Zeidler. Tay bà lạnh, mềm nhũn như không xương nhưng khô. Từ ghế của mình, Con Nhím vung tay ra hiệu cho tôi đi ra cửa, nơi Oskar để đồ lề tư trang. Tôi đã xách mọi thứ lên, thì tiếng ông vang đến: "Cậu có cái gì buộc vào va-li thế?"
 
"Đó là cái trống của tôi."
 
" Cậu tính chơi trống ở đây ư? "
 
"Không nhất thiết. Dạo xưa, tôi chơi thường xuyên."
 
"Riêng với tôi thì chả sao, cậu cứ việc chơi, vả lại, tôi vắng nhà suốt ấy mà."
 
" Rất có thể tôi sẽ không bao giờ đánh trống nữa."
 
" Thế cái gì khiến cậu cứ bé mãi thế?"
 
" Một tai nạn không may làm tôi không lớn được nữa."
 
" Chà, tôi chỉ hy vọng cậu đừng gây rắc rối gì cho chúng tôi - lên cơn hoặc những chuyện đại loại như thế."
 
"Tình trạng sức khỏe của tôi đã tăng tiến đều đặn trong mấy năm vừa qua. Ông xem tôi dẻo khéo như thế nào đây."
 
Thế là Oskar liền biểu diễn cho vợ chồng Zeidler xem vài ba miếng nhào lộn sơ đẳng mà hắn đã học mót được trong thời kỳ văn công. Bà Zeidler cười rinh rích trong khi ông Zeidler có cái vẻ như một con nhím sắp sửa vỗ đùi đen đét. Rồi tôi ra hành lang, đi qua cánh cửa lắp kính mờ, cửa buồng vệ sinh rồi cửa bếp và mang đồ lề kể cả cái trống vào phòng tôi.
 
Đó là vào đầu tháng năm. Từ hôm đó trở đi, tôi bị cám dỗ, ám, ngợp bởi sự bí ẩn của người nữ y tá. Tình cảm của tôi đối với các nữ y tá là một thứ bệnh có lẽ không cách gì chữa trị nổi vì ngay cả bây giờ, khi tất cả đã lùi xa sau lưng, tôi vẫn phản đối Bruno, người chăm nom tôi, khi gã nói rằng chỉ nam giới mới có thể là những y tá thích hợp, rằng mong muốn được săn sóc bởi các nữ y tá chỉ là một triệu chứng nữa của bệnh tật mà thôi. Trong khi - vẫn theo lời Bruno - nam y tá chăm sóc bệnh nhân với lương tâm nghề nghiệp và đôi khi chữa khỏi bệnh, thì nữ y tá, vì họ là phụ nữ, thường dùng sức quyến rũ để đưa người bệnh, đôi khi đến chỗ bình phục, đôi khi đến một cái chết được pha phách chút gia vị khiêu dâm.
 
Phải, người chăm sóc tôi, Bruno, nói thế. Có thể anh ta có lý, nhưng tôi rất không muốn thừa nhận thế. Một kẻ cứ hai, ba năm lại được các nữ y tá trả lại cuộc sống một lần thì không thể không tri ân; hắn ta không thể cho phép bất kỳ gã nam y tá cộc cằn nào, cho dù gã có dễ thương đến mấy, bôi nhọ hình ảnh các nữ y tá thân yêu của tôi, nhất là khi động cơ duy nhất của gã chỉ là đố kỵ nghề nghiệp.
 
Điều ấy bắt đầu từ cú ngã của tôi xuống cầu thang hầm rượu vào dịp sinh nhật lần thứ ba của tôi. Tôi nghĩ bà tên là Xơ Lotte, người vùng Praust. Xơ Inge, phụ việc cho bác sĩ Hollatz, đã chăm sóc tôi nhiều năm. Sau cuộc phòng thủ Sở Bưu Chính Ba Lan, tôi rơi vào tay nhiều nữ y tá cùng một lúc. Tôi chỉ còn nhớ tên một người trong số đó: Xơ Erni hay Berni gì đó. Những nữ y tá vô danh ở Lüneburg, rồi ở Bệnh viện Đại học Hanover. Tiếp đến là các nữ y tá của Bệnh viện thành phố Düssendorf, trước nhất là Xơ Gertrude. Và bây giờ, không cần tôi phải đi bệnh viện, Nàng tự đến. Trong tình trạng sức khỏe tốt nhất, Oskar rơi vào tay một nữ y tá là khách trọ ở căn hộ Zeidler. Từ bữa đó trở đi, thế giới của tôi đầy những nữ y tá.
 
Sáng sớm, khi đi làm, có nghĩa: đến khắc chữ ở xưởng của Korneff, bến xe điện của tôi có tên là: Bệnh viện Marien. Bên ngoài cái cổng gạch và trên bãi đất đầy nghẹt hoa, các nữ y tá đi đi về về. Nhiều khi tôi ngồi cùng toa xe điện, hoặc cùng đứng chờ ở bến, với nhiều nữ y tá kiệt lực, hay chí ít, có vẻ mệt lử. Thoạt đầu, tôi không thích ngửi mùi của họ, rồi chẳng bao lâu, tôi lại kiếm tìm nó, cố xích lại những bộ đồng phục của họ, càng gần bao nhiêu càng tốt.
 
Rồi ở Bittweg. Những buổi đẹp trời, tôi làm việc ngoài trời giữa những bia mộ bày hàng và trông thấy họ, từng tốp hai hoặc bốn người, khoác tay nhau đi qua: họ đi dạo vào giờ nghỉ, buộc Oskar phải rời mắt khỏi tấm gra-nít của mình để nhìn lên, chểnh mảng công việc, mặc dù với mỗi cái ngước mắt, tôi mất hai mươi pfennig.
 
Áp-phích điện ảnh: dân Đức bao giờ cũng mê những phim về nữ y tá. Maria Schell quyến rũ tôi đến các rạp chiếu bóng. Nàng mặc đồng phục nữ y tá, cười và khóc; những ngày của nàng đầy những quên mình tận tụy; nàng tươi cười chơi một bản nhạc u trầm đầu vẫn đội chiếc mũ y tá. Về sau, trong một cơn tuyệt vọng, nàng đã gần như định xé tan chiếc áo ngủ. Nhưng sau lần tự tử không thành, nàng hy sinh tình yêu của mình - chàng bác sĩ do Borsche đóng - tiếp tục trung thành với nghề nghiệp và giữ chiếc mũ cùng chiếc kẹp hoa Chữ Thập Đỏ. Trong khi trí não hữu thức của Oskar cười và văng hàng tràng những lời tục tĩu dè bĩu bộ phim, thì mắt Oskar lại khóc giàn giụa; tôi tha thẩn, mù dở, trong một sa mạc những nàng tiên từ thiện vô danh mặc áo trắng, kiếm tìm Xơ Dorothea, người thuê căn phòng đằng sau cánh cửa lắp kính mờ trong căn hộ Zeidler. Và đó là tất cả những gi tôi biết về nàng.
 
Đôi khi, tôi nghe thấy tiếng chân nàng khi nàng từ ca trực đêm trỏ về nhà. Cũng có khi tôi nghe thấy nàng vào lúc chín giờ tối, sau ca ngày. Oskar không phải bao giờ cũng ngồi lại trên ghế khi hắn nghe thấy nàng ở ngoài hành lang. Rất nhiều lần tay hắn xoay xoay quả đấm cửa. Ai mà cưỡng được? Ai mà không ngẩng đầu lên ngó xem cái gì đang xảy ra, mà có khi nó xảy vì chính mình cũng nên? Ai mà có thể ngồi yên trên ghế khi mà mọi âm thanh bên cạnh dường như nhằm độc một mục đích là làm cho mình bật dậy?
 
Tệ hơn nữa là cái im lặng. Chủng ta đã từng thấy sức mạnh của im lặng liên quan đến bức tượng gỗ người đàn bà nọ - im lặng và thụ động. Người gác bảo tàng đầu tiên nằm đó, trong vũng máu của mình. Và mọi người ai cũng nói là Niobe đã giết anh ta. Ông giám đốc tìm một người gác mới thay thế, vì bảo tàng cần tiếp tục mở cửa. Khi người gác thứ hai chết, mọi người la làng rằng Niobe giết anh ta. Ông giám đốc phải khó khăn lắm mới tìm được một người thứ ba - hay có khi đã là người thứ mười một? Dù sao chăng nữa, một hôm, cái người gác mà ông đã phải vất vả thế mới tìm được ấy lại chết. Và mọi người lại la: Niobe, Niobe với nước sơn xanh và đôi mắt hổ phách; Niobe bằng gỗ, lõa lồ, không thở, không đổ mồ hôi, không run rẩy, không nóng cũng chẳng rét; Niobe không bị mọt vì do bởi giá trị lịch sử của mình, nàng đã được phun thuốc chống mọt. Vì nàng, một nữ phù thuỷ đã bị thiêu sống, người đẽo tượng bị chặt tay, nhiều hải thuyền bị đắm, nhưng nàng vẫn nổi và sống sót. Niobe bằng gỗ nhưng lửa không bén được, Niobe giết người và vẫn nguyên giá trị. Học sinh, sinh viên, một ông linh mục và hàng lô người gác bảo tàng, tất cả đã làm mồi cho sự im lặng của nàng. Anh bạn Herbert Truczinski nhảy nàng và chết. Nhưng Niobe vẫn khô khốc, chỉ đắp dày thêm im lặng.
 
Khi người nữ y tá rời phòng mình, dãy hành lang và căn hộ của Con Nhím vào sáng sớm, khoảng sáu giờ, tất cả trở nên rất yên tĩnh, mặc dù khi có mặt ở nhà, nàng không hề gây một tiếng động nhỏ nào. Không thể chịu nổi im lặng, Oskar phải cựa mình cho giường mình cọt kẹt vài tiếng, hoặc kéo ghế hay lăn một quả táo về phía cái bồn tắm.
 
Khoảng tám giờ, có tiếng sột soạt. Đó là người bưu tá bỏ thư và bưu thiếp qua khe cửa ngoài. Không chỉ Oskar, mà cả bà Zeidler cũng chờ đợi tiếng động này. Bà làm thư ký ở văn phòng Công ty Mannesmann, đến chín giờ mới phải di làm. Bà dành ưu tiên cho tôi. Oskar là người ngó vào mớ sột soạt trước. Tôi đi rất khẽ mặc dù biết là đằng nào bà cũng nghe thấy và để ngỏ cửa phòng để khỏi phải bật đèn. Tôi nhặt tất cả thư từ cùng một lúc. Đều đặn mỗi tuần một lần, Maria gửi thư thông báo đầy đủ về bản thân nàng, thằng bé và chị Guste của nàng. Sau khi giấu nó vào túi áo ngủ, tôi điểm nhanh qua phần còn lại. Tất cả những gì gửi cho vợ chồng Zeidler hay cho một ông Münzer nào đó ở cuối đãy hành lang, tôi để trả lại xuống sàn. Còn thư của Xơ Dorothea, tôi lật đi lật lại, sờ, ngửi và xem kỹ địa chỉ người gửi.
 
Xơ Dorothea không nhận được thư thường xuyên, nhưng vẫn là nhiều hơn tôi. Họ tên đầy đủ của nàng là Dorothea Köngetter, nhưng tôi chỉ gọi nàng là Xơ Dorothea và đôi khi quên cả họ - thực ra, một nữ y tá thì đâu có cần đến họ. Nàng thường nhận được thư mẹ ở Hildesheim. Còn có những bưu thiếp gửi từ khắp Tây Đức, phần lớn là ảnh những bệnh viện phủ đầy dây trường xuân, do các nữ y tá cùng học với nàng gửi, rõ ràng là để đáp lại thịnh tình của Xơ Dorothea luôn cố gắng giữ liên lạc với các bạn cũ.
 
Hầu hết những giao lưu ấy, như Oskar mau chóng nhận thấy, đều qua quít và chẳng tiết lộ điều gì quan trọng. Tuy nhiên, chúng cũng rọi chút ánh sáng vào quá khứ của Xơ Dorothea: nàng đã làm việc tại Bệnh viện Vincent ở Cologne, tại một nhà thương tư ở Aachen, và ở Hildesheim, nơi mẹ nàng vẫn đang sinh sống. Có thể suy ra là hoặc nàng quê quán ở vùng Hạ sắc-xông, hoặc cũng như Oskar, nàng là một người tỵ nạn từ Đông Đức và đã định cư ở đây sau chiến tranh. Tôi cũng khám phá ra rằng Xơ Dorothea làm việc ở Bệnh viện Marien gần đây, rằng nàng có một người bạn thân tên là Beata vì các bưu thiếp luôn luôn nhắc đến và gửi lời hỏi thăm Xơ Beata.

Việc nàng có một người bạn gái làm tôi nảy ra những ý ngông cuồng. Tôi soạn những bức thư cho Beata; trong một bức, tôi nhờ cô nói hộ cho tôi, trong bức tiếp theo, tôi lại không nói gì đến Dorothea cả, ý đồ của tôi là tiếp cận Beata trước, rồi chuyển qua Dorothea sau. Tôi thảo năm, sáu bức thư và thậm chí đã bỏ vài bức vào phong bì, đề tên người nhận. Nhiều lần tôi đã ra bưu điện, nhưng rút cục vần chưa gửi bức nào.
 
Tuy nhiên, có lẽ trong cơn điên dại của mình, tôi hẳn đã thực sự gửi đi một trong những bức thư khẩn cầu ấy cho Xơ Beata, nếu một sáng thứ hai - đó là ngày Maria bắt dầu dan díu với ông chủ Stenzel của mình, mà lạ thay, chuyện này khiến tôi dửng dưng như không - tôi không thấy trên sàn, dưới cái khe bỏ thư, cái bức thư đã biến nỗi đam mê của tôi từ yêu thành ghen.
 
Dòng tên và địa chỉ trên phong bì cho tôi biết người viết thư là một ông bác sĩ Erich Werner ở Bệnh viện Marien. Thứ ba, lại một bức nữa. Thứ năm: bức thứ ba. Tôi phải nói thế nào về tâm trạng mình cái hôm thứ năm ấy nhĩ? Oskar chệnh choạng đi về phòng, gieo mình xuống một trong những chiếc ghế bếp đã góp phần biến cái buồng tắm thành phòng ở, và rút lá thư hằng tuần của Maria từ trong túi áo ngủ ra - mặc dù đã có người tình mới, Maria vẫn tiếp tục thông báo cho tôi đúng kỳ, rõ ràng, đầy đủ. Oskar thậm chí còn mở phong bì, đưa mắt trên những dòng thư mà chẳng đọc thấy gì. Hắn nghe thấy tiếng bà Zeidler ngoài hành lang gọi ông Münzer. Ông này không trả lời. Nhưng chắc ông có nhà, vì thấy bà Zeidler mở cửa phòng ông, đưa bức thư và tiếp tục nói với ông.
 
Bà Zeidler vẫn nói nhưng tôi không nghe thấy bà nữa. Tôi phó mặc mình cho cái điên loạn của lớp giấy phủ tường, cái điên loạn thẳng đứng, nằm ngang, chéo góc, cái điên loạn cong, nhân lên nghìn lần. Tôi thấy mình là Matzerath, ăn miếng bánh bổ dưỡng dễ sợ của kẻ mọc sừng. Và gạt mọi liêm sỉ hay áy náy, tôi thể hiện Jan Bronski của tôi như một kẻ quyến rũ, hoá trang thành Xa-tăng, lần lượt thay đổi trang phục, lúc thì áo bành-tô truyền thống có cổ nhung, lúc thì chiếc blu trắng của bác sĩ Hollatz, và có khi lại là chiếc blu cũng trắng của bác sĩ Werner, nhưng lúc nào cũng quyến rũ, hủ hoá, mạo phạm, lăng nhục, gây dằn vặt và đau khổ - tóm lại, làm tất cả những gì phù hợp với một kẻ quyến rũ.
 
Hôm nay, tôi có thể mỉm cười khi nhớ lại cái ý đến với tôi lúc đó, cái ý cũng vàng khè và điên loạn như lớp giấy phủ tường: tôi quyết định học y. Tôi sẽ mau chóng tốt nghiệp. Tôi sẽ thành một bác sĩ, tất nhiên là ỗ Bệnh viện Marien. Tôi sẽ vạch trần bác sĩ Werner, chứng minh sự kém cỏi về chuyên môn của hắn ta, thậm chí chứng minh rằng do cẩu thả vô trách nhiệm, hắn đã gây ra cái chết của một bệnh nhân trong một ca mổ khí quản: hoá ra cái tay Werner này chưa bao giờ học ở trường y. Hắn đã học mót vài ba kiến thức y học trong khi làm hộ lý ở một bệnh viện dã chiến trong thời kỳ chiến tranh. Thế là gã lang băm vào nhà đá. Và Oskar, mặc dù trẻ măng, trở thành bác sĩ trưởng. Một Giáo sư Sauerbruch mới, với Xơ Dorothea bên cạnh, một đoàn môn đồ áo trắng theo sau, đi dọc những hàng lang đầy vang âm, thăm các bệnh nhân, quyết định các ca phẫu thuật vào phút cuối. Thật may làm sao bộ phim ấy không bao giờ thực hiện được!
 
[...] 
______
Chú thích:
[1] Dụng cụ xén lóc, dạo xưa là đồ nghề chính của thợ cắt tóc.
 
...! Tràn đầy mà rỗng lặng
Biển vô lượng thủy triều
Đường về tâm hết động
Tuyệt chiêu là vô chiêu !...

0
FORTUNA BẮC
Hồi đó, chỉ những người có chút gì đáng giá để lại sau khi từ giã cõi đời này, mới có khả năng sắm cho mìn một tấm bia mộ. Không cần phải là một viên kim cương hay một dây chuyền ngọc trai. Với năm bì khoai tây, anh có thể có một tấm bia xấu xí nhưng khá to bằng đá vôi Grenzheim. Một tang đài gra-nít trên ba đế cho một mộ đôi đã mang lại đủ tiền cho chúng tôi mua vải may hai bộ com-lê có cả gi-lê. Vợ goá của ông thợ may bán vải cho chúng tôi, vẫn thuê một thợ phụ; bà ta đồng ý may cho chúng tôi hai bộ com-le với giá công là một bờ viền bằng đá đô-lô-mít quanh mộ.
Một tối, sau khi làm việc, Korneff và tôi đáp chuyến xe điện số 10 đến Stockum, vào tiệm của bà goá Lennert để lấy các số đo. Oskar hồi đó mặc một bộ đồng phục bộ binh thiết giáp do Maria sửa lại, nom đến lố bịch. Khuy áo đã phải dịch đi nhưng vẫn không cài được do hình dạng đặc biệt của tôi.
Bộ com-lê mà tay thợ phụ Anton may cho tôi, màu xanh thẫm có xọc nhỏ và lần lót màu xám nhạt; áo vét cài thẳng, độn vai nghiêm chỉnh không giả tạo, không cốt che giấu cái bướu mà tôn nó lên nhưng không quá đáng; quần gấu vắt nhưng không quá cao. Mẫu mực của tôi về y phục vẫn là Sư phụ Bebra, do đó không may đỉa để luồn thắt lưng, mà đính khuy cho đai đeo; gi-lê đóng đằng sau, mờ đằng trước, lót màu hồng già. Tất thảy mất năm lần thử.
Trong thời gian Anton còn đang may bộ com-lê cài chéo của Korneff và bộ cài thẳng cho tôi, một tay buôn bán giày dép đến đặt chúng tôi một cái bia mộ cho vợ ông ta bị chết trong một cuộc oanh tạc hồi năm 43. Thoạt đầu, ông ta gạ đổi tem phiếu cung cấp, nhưng chúng tôi đòi lấy hàng. Với một bia cẩm thạch Silesia viền “phăng-te-di” cộng thêm lắp đặt, Korneff kiếm được cho ông một đôi giày dạ hội nâu sẫm kèm một đôi dép đế da và cho tôi một đôi giày đen cao cổ cỡ số 5 kiểu cũ nhưng cực mềm bó rất em hai mắt cá chân yếu ớt của tôi và tuy hơi cổ nhưng nom vẫn sang trọng.
Đặt một xấp reichmark lên bàn cân mật ong, tôi nhờ Maria mua hộ hai cái sơ-mi trắng có xọc nhỏ và hai cái cà-vạt, một xám nhạt, một nâu sẫm. “Còn lại bao nhiêu”, tôi nói, “cho Kurt và cô, Maria thân mến, người chỉ lo cho kẻ khác và không bao giờ nghĩ đến bản thân mình”.
Đang cơn hào phóng, tôi tặng Guste một cái dù cán bằng xương thật và một bộ bài xì-cạt gần như mới vì chị thích bói bài mà mỗi lần muốn thử xem bao giờ Köster về, phải sang mượn hàng xóm, chị rất ngại.
Maria làm ngay việc tôi nhờ, không chút chậm trễ. Với số tiền còn lại – khá nhiều – nàng sắm cho mình một chiếc áo mưa và cho Kurt một chiếc cặp học sinh giả da, bề ngoài thì xấu xí nhưng được việc. Ngoài sơ-mi và cà-vạt, nàng còn mua thêm ba đôi bít tất mà tôi quên không dặn.
Khi Korneff và Oskar đến lấy hai bộ com-lê, chúng tôi rất bối rối khi ngắm mình trong gương, song người nọ đều thấy người kia là oách. Korneff hầu như không dám quay cái cổ chằng chịt sẹo nhọt. Đôi vai khòng khòng làm tay ông thông về đằng trước và ông cố uốn thẳng đôi đầu gối vòng kiềng. Còn về phần tôi, bộ đồ mới mang lại cho tôi một vẻ vừa ma quái vừa trí thức, nhất là khi tôi khoanh tay trước ngực, khiến chiều ngang phía trên càng bè ra, và dùng chân phải yếu hơn làm trụ đỡ trọng lượng toàn thân mà nhướn chân trái một cách hờ hững. Mỉm cười với Korneff và vẻ ngỡ ngàng của ông, tôi bước đến sát tấm gương, sát đến độ có thể hôn cái hình ảnh lộn trái của mình trong đó, nhưng tôi chỉ hà hơi cho nhoà mặt mình đi và nói với giọng bỡn cợt: “Ê, Oskar, mày hãy còn thiếu cái cài cà-vạt.”
Một tuần sau, vào chiều chủ nhật, khi đến thăm các nữ y tá của mình ở Bệnh viện thành phố, phô bộ cánh mới bảnh bao (không phải là không có chút hợm hĩnh), tôi đã có một chiếc trâm cài cà-vạt bằng bạc có gắn một viên ngọc trai.
Các cô nàng thân yêu há hốc miệng khi nhìn thấy tôi ngồi trong phòng y tá. Đó là vào cuối mùa hè năm 1947. Tôi khoanh tay trước ngực theo cách truyền thống và vân vê đôi găng tay da. Đã hơn một năm nay, tôi phụ việc cho Korneff, trở thành bậc thày trong kỹ thuật đi nét và đục rãnh. Tôi bắt chéo chân, thận trọng không để nhàu “li” quần. Chị Guste đôn hậu chăm sóc bộ com-lê của tôi như thể nó được đặt may cho Köster, người sẽ thay đổi mọi sự khi trở về. Helmtrud muốn sờ mặt vải và dĩ nhiên tôi chiều ý nàng. Mùa xuân 47, chúng tôi đã mừng sinh nhật lần thứ bảy của Kurt bằng rượu trứng cất lấy và bánh ga-tô cũng của nhà làm (hết gần một ký bơ đấy. Kìa, ăn đi chứ, lấy miếng này này) và tôi tặng nó một cái áo măng-tô màu xám. Trong khi đó, Gertrude đến nhập bọn và tôi đưa kẹo mời suốt lượt – số kẹo này cùng với gần mười kí đường nâu là giá của một tấm bia đó đi-o-rít đấy. Bé Kurt, theo tôi thấy, quá ư ham đi học. Cô giáo nó – trẻ và hấp dẫn, khác hẳn cái mụ Spollenhauer – khen nó lắm; cô bảo nó thông minh nhưng hơi nghiêm trang. Các cô y tá mà được mời ăn bánh kẹo thì cứ là vui như sáo! Khi đứng riêng một lát với Gertrude, tôi hỏi ngày chủ nhật rỗi rãi nàng làm gì.
“Như hôm nay chẳng hạn, tôi xong việc lúc năm giờ. Nhưng,” Gretrude nói, vẻ cam chịu, “thành phố mình chả có gì giải trí hay ho cả.”
Tôi cứ nói thử xem. Phản ứng của nàng: “Ích gì?” Nàng cho rằng ngủ bù cho đã còn hơn. Tôi ngỏ lời mời thẳng thắn, không úp mở nữa và khi thấy nàng vẫn lưỡng lự, bèn kết luận: “Hãy phát huy sáng kiến một tí nào, Xơ Gertrude. Chúng ta chỉ có một thời trẻ trung. Tôi biết một người có rất nhiều tem bánh ngọt.” Tôi minh hoạ ý cuối cùng này bằng một cái vỗ nhẹ mang tính cách điệu lên túi ngực mình và mời nàng một cái kẹo nữa. Lạ thay, tôi thấy hơi sợ sợ khi cô gái vùng Westphalie lực lưỡng ngoại cỡ đối với tôi này nói cái tủ thuốc: “Thôi được, nếu anh thích thế. Vậy thì sáu giờ nhé, nhưng không phải ở đây. Quảng trường Cornelius được không?”
Cứ làm như tôi tính chuyện hẹn gặp Xơ Gertrude hay bất kỳ ai khác ở ngay trong hành lang hoặc gần cổng bệnh viện không bằng! Đúng sáu giờ, tôi đợi nàng dưới cái đồng hồ Quảng trường Cornelius vẫn chưa chịu chạy đúng giờ do hậu quả chiến tranh. Nàng đến đúng giờ, như tôi có thể kiểm định bằng cái đồng hồ bỏ túi không đắt tiền lắm mà tôi đã mua trước đó mấy tuần. Suýt nữa tôi đã không nhận ra nàng. Nếu tôi nhìn thấy nàng trước đó một lát, chẳng hạn vào lúc nàng bước xuống từ xe điện cách đây khoảng năm chục bước, trước khi nàng kịp thấy tôi, thì có lẽ tôi đã lặng lẽ chuồn thẳng; bởi vì Xơ Gertrude đã đến không phải dưới dạng Xơ Gertrude trong bộ đồ trắng cài huy hiệu Chữ Thập Đỏ, mà trong một bộ đồ dân sự may cực xấu, phải, một cô Gertrude Wilms quê ở Hamm hay Dortmund, hay một thị trấn nào đó nằm giữa Dortmund hay Hamm.
Nàng không nhận thấy vẻ thất vọng của tôi, mà nói với tôi rằng nàng suýt đến trễ vì đúng lúc trước năm giờ, bà y tá trưởng, đơn thuần vì thích hành người khác, đã giao cho nàng một việc gì đó.
“Vậy thì, cô Gertrude, tôi có thể đưa ra một vài gợi ý không? Trước hết, ta hãy thư giãn một lúc trong một hiệu bánh ngọt và sau đó  thì tuỳ ý cô: ta có thể đi xem phim, vì bây giờ đã muộn không kịp mua vé xem kịch nữa. Hay là đi nhảy?”
“À, phải, ta đi nhảy đi,” nàng phấn khởi reo lên. Khi, với một vẻ sợ hãi gần như không giấu nổi, nàng nhận ra rằng, mặc dù ăn vận bảnh bao, tôi chẳng có thớ gì để là bạn nhảy xứng hợp với nàng, thì đã quá muộn.
Với một cảm giác thoả mãn nham hiểm – ai bảo nàng không đến trong bộ đồng phục nữ y tá mà tôi xiết bao yêu thích? – tôi duyệt phương án đó. Do thiếu đầu óc tưởng tượng, nàng mau chóng quên nỗi sợ hãi của mình và cùng tôi đả bánh ga-tô – tôi ăn một còn nàng ăn ba – những cái bánh hình như làm bằng xi-măng. Sau khi tôi thanh toán bằng tiền mặt và tem bánh ngọt, chúng tôi đáp chuyến xe điện đi Gerresheim vì, nếu đúng như lời Kornefff, thì ở mạn dưới Grafenberg, có một vũ trường.
Chúng tôi thả bộ từ từ đi nốt quãng đường cuối vì xe điện dừng ở chân dốc. Một tối tháng chín như thường thấy tả trong sách. Đôi xăng-đan gỗ của Gertrude, loại có thể mua không cần tem, kêu lách cách như cối xay bên bờ suối. Âm thanh đó làm tôi cảm thấy vui. Những người từ trên dốc đi xuống ngoái lại nhìn chúng tôi. Gertrude có vẻ bối rối. Tôi thì quen rồi, không buồn để ý. Nói cho cùng thì chính những tem bánh ngọt của tôi đã thết nàng ba cái bánh xi-măng ở hiệu bánh ngọt Kürsten.
Vũ trường Wedig còn có tên phụ là Hang Sư Tử. Trước khi chúng tôi rời cửa bán vé, đã thấy tiếng cười khúc khích và khi chúng tôi bước vào, nhiều cái đầu quay lại nhìn. Xơ Gertrude, vướng víu trong bộ đồ dân sự, suýt ngã nhào trên một cái ghế gấp nếu một gã bồi và tôi không kịp đỡ. Gã bồi chỉ cho chúng tôi một bàn gần sàn nhảy. Tôi gọi hai ly giải khát có đá và dặn nhỏ cho riêng gã bồi bàn nghe: “Nhưng xin giỏ mấy giọt rượu vào.”
Hang Sư Tử gồm chủ yếu một phòng rộng chắc trước kia là một câu lạc bộ đu quay. Trần nhà hư hại nặng, trơ rui mè đã được trang trí bằng những cờ đuôi nheo và dây hoa từ vũ hội hoá trang năm ngoái. Những ánh đèn màu được giảm độ sáng lia vòng tròn, rọi phản quang trên những mái tóc bết sáp bóng của những thanh niên buôn bán chợ đen, một số ăn mặc rất mốt, và trên những áo vải mỏng của các cô gái mà hình như tất cả đều quen biết nhau.
Khi nước giải khát được bưng ra, tôi mua của gã bồi bàn mười điếu thuốc lá Mỹ, mời Gertrude một và gã bồi một; gã này dắt điếu thuốc vào mang tai. Sau khi châm lửa cho người bạn nhảy, tôi triềng chiếc bốt hổ phách của Oskar ra, cắm một điếu Camel vào và hút một nửa. Các bàn xung quanh chúng tôi lắng xuống dần. Gertrude đánh bạo ngước mắt nhìn. Khi tôi rập nửa điếu Camel còn lại vào cái gạt tàn, bàn tay thành thạo của Gertrude chộp lấy nó, nhét vào cái xắc bằng vải sơn của mình.
“Để phần cho chồng chưa cưới của tôi ở Dortmund,” nàng nói. “Anh ấy hút như điên.”
Tôi lấy làm mừng vì mình không phải là chồng chưa cưới của nàng và cũng vì nhạc đã bắt đầu nổi lên.
Ban nhạc năm người chơi bản “Đừng quây kín em”. Những con đực đi giày đế crếp lao qua sàn nhảy không đụng nhau để xí bạn nhảy và những cô này, khi đứng dậy, gửi xắc cho bạn gái giữ hộ.
Một số cặp nhảy lão luyện lướt ngọt như ba-lê. Nhai kẹo cao-su rất nhiều thỉnh thoảng, một tốp trai chợ đen ngừng nhảy mấy nhịp để trao đổi bằng thổ ngữ vùng Rhine điểm dăm ba từ lóng Mỹ, trong khi các cô bạn nhảy sốt ruột nhún chân tại chỗ. Những vật nho nhỏ chuyển từ tay người này qua tay người khác: dân chợ đen chân chính không biết có giờ nghỉ.
Chúng tôi bỏ qua bài đầu và cả bài fox-trot tiếp theo nữa. Thỉnh thoảng, Oskar quan sát chân bọn nam. Khi ban nhạc bắt vào bài “Rosamund”, người hắn mời nhảy là một nàng Gertrude rất đỗi hoang mang.
Nhớ lại tài khiêu vũ của Jan Bronski và biết mình thấp hơn Xơ Gertrude gần hai cái đầu, tôi đã quyết định chọn một bài tăng-gô: tôi ý thức rõ là hai chúng tôi sẽ nảy một nốt kệch cỡm và tôi quyết nhấn mạnh thêm cái nốt đó. Với thái độ cam chịu, nàng để tôi dẫn bước. Tôi giữ chắc mông nàng, ba mươi phần trăm len; má áp vào coóc-xê, tôi đẩy toàn bộ trọng lượng nàng lùi lại và dấn theo bước nàng. Gạt phăng các chướng ngại bằng cánh tay dang thẳng, chúng tôi băng chéo qua sàn nhảy, từ góc nọ sang góc kia. Mọi sự tốt hơn tôi dám hy vọng. Tôi đánh bạo đưa vào một vài thay đổi. Má vẫn dính vào áo chẽn ngực của nàng, tay vẫn đặt phía trên mông nàng, tôi xoay quanh nàng, không từ bỏ tư thế cổ điển của tăng-gô, có nghĩa là tạo ra cái cảm giác như người nữ sắp ngã ngửa ra đằng sau và người nam sắp ngã đè lên, tuy không ai ngã thật cả vì họ là những vũ công hoàn hảo.
Chẳng mấy chốc, chúng tôi đã có cổ động viên. Tôi nghe thấy những tiếng reo: “Mình đã bảo cậu mà, đó chính là Jimmy! Này, hãy ngắm nhìn Jimmy! Hê-lô Jimmy! Come on Jimmy! Let’s go, Jimmy!
Tiếc thay, tôi không thể nhìn thấy mặt Gertrude và đành chỉ hy vọng rằng nàng thoải mái chấp nhận những tràng vỗ tay như là một sự tôn vinh đầy thiện ý. Nói cho cùng, một nữ y tá phải làm quen với những tán tụng nhiều khi vụng về của bệnh nhân chứ.
Khi chúng tôi về chỗ ngồi, những bàn xung quanh vẫn còn vỗ tay. Ban nhạc năm người tấu liền ba hồi tán thưởng rộn rã trong đó người chơi bộ gõ tỏ ra cố gắng vượt bậc. Những tiếng hô: “Jimmy!” Và: “Cậu có thấy cặp ấy không?” Đến đây, Xơ Gertrude đứng dậy, ấp úng nói là đi vệ sinh, cầm cái xắc đựng mẩu thuốc lá dành cho vị hôn phu ở Dortmund và, mặt đỏ như gấc, rẽ lối giữa đám bàn ghế, va vấp lung tung, hối hả về phía nhà vệ sinh nữ ở gần cửa ra vào.
Nàng không quay lai nữa. Trước khi đi, nàng đã làm một hơi dài cạn ly nước của mình, một cử chỉ rõ ràng có nghĩa tạm biệt: Xơ Gertrude đã bỏ rơi tôi.
Còn Oskar? Một điếu thuốc lá Mỹ cắm ở chiếc bót hổ phách, hắn gọi một ly schnaps không pha trong khi gã bồi kín đáo nhấc đi cái ly đã cạn của Xơ Gertrude. Hắn quyết giữ nụ cười bằng mọi giá, nụ cười có thể là hơi buồn nhưng vẫn là một nụ cười. Tay khoanh lại và chân bắt chéo, hắn ve vảy một chiếc giày đen nhỏ xinh cỡ số 5 và tận hưởng sự ưu việt của kẻ bị bỏ rơi.
Đám trẻ khách quen của Hang Sư Tử rất dễ thương. Đang có một bài swing và mỗi lúc lướt qua trên sàn nhảy, họ lại nháy mắt với tôi. “Hello,” đám con trai nói và các cô gái: “Take it easy (Vô tư đi).” tôi vẫy cái bót thuốc lá cảm ơn những kẻ gìn giữ tính nhân đạo chân chính và mỉm cười rộng lượng với người chơi bộ gõ khi anh ta dóng một hồi giòn giã và biểu diễn một tiết mục trên trống, chũm choẹ và phách tam giác, làm tôi nhớ thời “khán đài” xa xưa của mình. Bài tới, anh ta thông báo, sẽ đến lượt quý bà quý cô mời bạn nhảy.
Một tiết mục cuồng nhiệt, “Jimmy Mãnh Hổ”, hẳn là dành cho tôi, mặc dù không ai ở Hang Sư Tử này có thể hay biết về sự nghiệp phá rối các cuộc mít-tinh quần chúng của tôi. Một cô bé tóc nhuộm đỏ ngúng ngoáy đến trước mặt tôi, tạm ngừng nhai kẹo cao-su mà thì thầm vào tai tôi bằng một giọng khàn hút thuốc: “Jimmy the Tiger (Jimmy Mãnh Hổ)”. Tôi là bạn nhảy lựa chọn của cô. Giữa những đe doạ của rừng thẳm, chúng tôi nhảy điệu Jimmy. Trong khoảng mười phút, Mãnh Hổ bước trên những móng vuốt nhung. Lại một hồi trống tán thưởng, vỗ tay và một hồi nữa; bởi vì cái bướu của tôi diện oách, và chân tôi thoăn thoắt và tôi tạo nên một hình ảnh xuất sắc trong vai Jimmy Mãnh Hổ. Tôi mời cô gái hâm mộ tôi về bàn và Helma – đó là tên cô ta – hỏi liệu Hannelore, bạn gái cô, có thể đến ngồi cùng không. Hannelore trầm lặng, ngồi yên chỗ và uống rất nhiều. Helma thì nghiện thuốc lá Mỹ và tôi phải gọi bồi bàn lấy thêm thuốc.
Một buổi tối thú vị. Tôi nhảy “Hey Bob A Re Bop,” “In the Mood,” “Shoeshine Boy”, tán gẫu giữa hai bài nhảy và thết đãi hai cô gái; họ không đòi hỏi gì nhiều và kể với tôi rằng họ làm việc ở Trạm điện thoại liên tỉnh trên Quảng trường Graf-Adolf, rằng bọn con gái ở Trạm tối chủ nhật nào cũng kéo đến Wedig rất đông. Bản thân họ cũng đến đây đều đặn nếu không có phiên trực và tôi cũng hứa sẽ đến đây luôn vì Helma và Hannelore rất dễ thương và vì các nữ điện thoại viên không điện thoại xem ra thật dễ kết thân – một câu đùa mà họ đủ thông minh để cười tán thưởng.
Sau đó một thời gian dài, tôi mới trở lại thăm Bệnh viện thành phố. Khi đó, Xơ Gertrude đã chuyển sang bộ phận phụ khoa. Tôi không bao giờ gặp lại nàng, nếu không kể những lần vẫy chào nhau từ xa. Tôi trở thành một khách quen được biệt đãi ở Hang Sư Tử. Các cô gái “bám càng” tôi nhưng không quá đáng. Thông qua họ, tôi làm quen với một số người trong đội Quân Chiếm đóng Anh và học lỏm được dăm chục từ tiếng Anh. Tôi kết bạn với vài nhạc công, nhưng tôi cố tự kiềm chế, có nghĩa lánh xa những cái trống và tự bằng lòng với việc khắc chữ ở xưởng của Korneff.
Trong suốt mùa đông 1947-48 khắc nghiệt, tôi giữ liên lạc với những cô gái điện thoại. Không tốn kém bao nhiêu, tôi kiếm được chút ấm áp từ cô nàng Hannelore trầm lặng ngồi yên chỗ, mặc dù chúng tôi chưa bao giờ đi quá giai đoạn giao lưu bằng tay chưa hứa hẹn gì sâu sắc hơn.
Mùa đông, Korneff chăm lo việc củng cố trang thiết bị. Các dụng cụ phải rèn lại, một số khối đá tồn đọng được cắt xén phẳng phiu, sẵn sàng để khắc chữ. Korneff và tôi bổ sung kho dự trữ đã vơi đi trong mùa thu và chế biến một số bã vôi vỏ điệp thành đá nhân tạo. Tôi cũng thử tay nghề dùng máy đột làm đôi ba chế tác điêu khắc đơn giản – những phù điêu với hình đầu thiên thần, đầu Đức Chúa Jêxu đội mũ gai và những con chim bồ câu của Đức Chúa Thánh Thần. Khi tuyết rơi, tôi xúc tuyết và khi không có tuyết, tôi làm tan băng cho thông ống dẫn nước đến máy mài.
Cuối tháng 2-1948, ít lâu sau Lễ Tro[1], tôi đã sút cân trong dịp vũ hội hoá trang và hẳn là nom khá thư sinh vì một số cô gái ở Hang Sư Tử gọi đùa tôi là Bác sĩ – những nông dân đầu tiên từ tả ngạn sông Rhine đến coi mặt hàng của chúng tôi. Korneff không có nhà: như mọi năm, ông đi trị bệnh thấp khớp bằng cách làm việc trong một lò cao ở Duisburg. Khi, sau hai tuần, ông trở về, khô đét và hết nhọt, tôi đã bán được với giá hời ba tấm bia, trong đó có một tấm cho hầm mộ ba người. Korneff bán được hai tấm bằng đá vôi điệp Kirchheim. Và đầu tháng ba, chúng tôi bắt đầu mang bia đi dựng – một tấm bằng cẩm thạch Silesia ở Grevenbroich, hai tấm đá vôi điệp Kirchheim ở một nghĩa địa làng gần Neuss, tấm đá cát kết đỏ với những đầu thiên thần của tôi ở nghĩa trang Stomml. Đến cuối tháng ba, chúng tôi chất lên xe tấm đi-ô-rít với đầu Đức Chúa Jêxu đội mũ gai cho hầm mộ ba người và lái rất từ từ - vì chiếc xe ba bánh bị quá tải – về phía Kappes-Hamm, có nghĩa là phải qua sông Rhine ở Neuss. Từ Neuss qua Grevenbroich đến Rommerschen, rồi rẽ trái theo đường đi Bergheim Erft. Bỏ Rheidt và Niederaussem lại sau lưng, chúng tôi tới Oberaussem không gãy một cái trục. Nghĩa trang nằm trên một ngọn đồi thoai thoải dốc về phía làng.
Ôi, một toàn cảnh hùng vĩ! Dưới chân chúng tôi là vùng than mềm Erftland. Tám ống khói của nhà máy Fortuna rít lên như sắp nổ tung. Hàng núi cứt sắt, bên trên là những đường dây của hệ thống chuyên chở bằng xe điện cáp. Cứ ba phút, một đoàn xe không hoặc đầy than coke, nhỏ như một thứ đồ chơi, chạy về phía nhà máy hoặc từ đó lao đi. Một đồ chơi khác lớn hơn, một đồ chơi của người khổng lồ, là đường dây cao thế vắt qua một góc của nghĩa trang, dăng hàng ba, ro ro băng về phía Cologne. Những đường dây khác hối hả chạy tới chân trời theo những hướng khác nhau, Bỉ và Hà Lan – trung tâm của thế giới.
Chúng tôi dựng bia cho gia đình Flies.
Người đào huyệt và gã giúp việc – cái gã thay thế vai trò của Leo Schugger ở nghĩa trang này – đi qua với những đồ nghề của họ. Cách đó ba dãy, họ bắt đầu đào một cái huyệt chuẩn bị di chuyển người nằm đó – những khoản bồi thường chiến trang trôi trên đường dây điện cao thế - gió mang đến cái mùi điển hình của một cuộc cải táng trước thời hạn – không đến nỗi lộn mửa, mới là tháng ba mà. Giữa những đống than coke, những cánh đồng mùa xuân xanh rờn. Người đào huyệt đeo cặp kính gẫy gọng phải buộc lại bằng dây thép, y đang bàn cãi điều gì với gã Leo Schugger của mình. Rồi còi nhà máy Fortuna rú lên đúng một phút, làm chúng tôi hào hển nín thở, nói chi đến người đàn bà mà hài cốt sắp bị di rời, chỉ có những đường dây cao thế là vẫn tiếp tục công việc. Tiếng còi nhà máy lảo đảo, ngã lộn nhào và chìm nghỉm – trong khi từ những mái đá xám của ngôi làng bốc lên những cuộn khói báo giờ ăn trưa, kế theo là những hồi chuông nhà thờ: cầu nguyện và làm việc, công nghiệp và tôn giáo, những bạn tâm giao. Đổi ca ở nhà máy Fortuna. Chúng tôi mở gói xăng-đuých thịt lợn hun khói, nhưng việc cải táng không thể chậm trễ và dòng điện cao thế 220.000 volt không ngừng tuôn chảy về các cường quốc thắng trận để thắp sáng những ngọn đèn của Hà Lan, trong khi ở đây luôn luôn bị cắt điện – nhưng người đàn bà chết lại được thấy ánh mặt trời.
Trong khi Korneff khoan hai cái lỗ một mét rưỡi để đổ móng, bà ta được mang lên thở không khí tươi mát. Bà ta nằm dưới đó trong bóng tối chưa lâu lắm, mới từ mùa thu năm ngoái, vậy mà đã tiến kịp những cải thiện đang được thực hiện khắp nơi. Việc tháo dỡ các nhà máy công nghiệp ở các vùng Ruhr và Rhine đã tiến triển như mọi thứ, trong cái mùa đông mà tôi đã phung phí ở Hang Sư Tử, người đàn bà này đã có những bước tiến quan trọng và giờ đây, khu chúng tôi đang đổ bê-tông và đặt cái đế bia vào chỗ, thì người ta phải thuyết phục bà vui lòng cho họ bốc từng bộ phận của bà lên. Nhưng cái loại tiểu bằng kẽm là thế, mục đích của nó là giữ sao cho còn nguyên, không mất gì hết, kể cả bộ phận vặt vãnh nhất của bà. Cũng như khi người ta phát không than ở Fortuna, bọn trẻ con chạy theo sau những xe moóc đầy tú ụ và nhặt những bánh than rơi ra, bởi vì Giáo chủ Frings đã tuyên bố từ bục giảng kinh: “Thật tình, ta nói với các con, ăn cắp than không phải là một tội lỗi”. Nhưng người đàn bà này đâu có còn cần than để đốt lửa. Tôi không nghĩ rằng bà ta thấy rét trong cái không khí tháng ba này, bà hãy còn khối da tuy nhiều mảng bị toạc và thủng lỗ chỗ, nhưng bù lại, có những mảnh vải còn sót và tóc nữa, không những thế tóc vẫn nguyên nếp dợn sóng. Các bộ phận của áo quan cũng đáng được chuyển và thậm chí có những mẫu gỗ cũng muốn đi theo sang nghĩa trang kia, ở đó sẽ không có những nông dân hoặc thợ mỏ từ Fortuna: nó nằm trong thành phố, nơi lúc nào cũng có cái để giải trí, với mười chín rạp chiếu bóng cùng hoạt động một lúc. Bởi vì, như người đào huyệt nói với chúng tôi, bà ta không phải người ở đây mà là sơ tán đến thôi: “Bà ta người Cologne và bây giờ người ta đưa bà ta về Mülheim ở bờ bên kia sông Rhine”. Lẽ ra y còn nói nữa nếu còi nhà máy không rú lên lần nữa, cũng đúng một phút. Lợi dụng lúc còi đang rú, tôi lại gần huyệt; tôi muốn chứng kiến cuộc cải táng này. Tôi xách theo một vật; khi tôi tới cạnh cái tiểu bằng kẽm thì hoá ra là cái xẻng của tôi và tôi bèn cho nó hoạt động luôn, không phải để tương trợ, mà là vì tôi có nó sẵn trong tay. Tôi xúc lên một vật gì bị đánh rơi xuống đất. Cái xẻng này trước kia thuộc về Sở Lao động của Reich. Và cái tôi xúc lên bằng cái xẻng của Sở Lao động là hay đã từng là ngón tay giữa và ngón tay đeo nhẫn – đến giờ tôi vẫn tin là thế - của người đàn bà sơ tán. Chúng không rơi ra, mà bị người đào huyệt tàn nhẫn chặt đứt. Tôi có cảm giác đó là những ngón tay đẹp và khéo léo. Cũng như vậy, cái đầu bà ta (lúc này đã được đặt trong tiểu) vẫn giữ được một vẻ cân đối đều đặn nào đó trong suốt mùa đông 47-48, một mùa đông khắc nghiệt như quý vị chắc còn nhớ, và có thể nói là đẹp, cho dù đó là một sắc đẹp đang tàn. Hơn nữa, cái đầu và những ngón tay của người đàn bà này gần gũi với tôi, người hơn là vẻ đẹp của Fortuna Bắc. Có thể nói tôi khoái cái cảnh quan công nghiệp ấy như tôi thưởng thức tài diễn xuất của Gustaf Gründgens ở nhà hát – một vẻ đẹp bề mặt mà tôi không bao giờ tin, mặc dù chắc chắn là đầy tính nghệ thuật, trong khi tác động do người phụ nữ sơ tán này gây ra lại quá tự nhiên. Cứ cho rằng những đường dây cao thế 220.000 volt, cũng như Goethe, cho tôi một cảm giác vũ trụ, nhưng những ngón tay của người đàn bà này lại xúc động tâm can tôi.
Tôi bắt đầu hình dung bà như một người đàn ông bởi vì như thế phù hợp với điều tôi sắp quyết định và với trí tưởng tượng đang biến tôi thành Yorick và bà thành Hamlet (một nửa bà vẫn còn nằm trong huyệt, nửa kia đã xếp vào cái tiểu bằng kẽm). Và tôi, Yorick, hồi V, gã hề: “Tôi biết anh ta, Horatio.” Lớp I, tôi, như trên mọi sân khấu của thế giới này, đưa cho Hamlet mượn cái sọ của tôi để cho một Gründgens hay Sir Laurence Olivier nào đó trong vai Hamlet có thể suy tư trên đó: “Ôi, Yorick tội nghiệp! Đâu rồi những câu đùa rí rỏm của ngươi? Những tung tăng nhảy nhót của ngươi?” Vậy tôi, Oskar, giữ những ngón tay của Hamlet trên lưỡi xẻng Sở Lao động, đứng trên mặt đất rắn của vùng than mềm Rhine giữa những mồ mả của công nhân mỏ, nông dân và gia đình họ, và nhìn xuống những mái nhà lợp đá xám của làng Oberaussem. Khu nghĩa trang của làng này trở thành trung tâm thế giới đối với tôi, trong khi Fortuna Bắc đứng đó như một á thần đáng sợ, đối thủ của tôi. Cánh đồng là cánh đồng Elsenor Đan Mạch; vùng Erft là vùng Belt của tôi, những gì thối rữa quanh đây là thối rữa trong vương quốc Đan Mạch – và tôi là Yorick. Những thiên thần cao thế dàn hàng ba tải điện 220.000 kilovolt, ca hát trong dây cáp trên đường tới chân trời, tới Cologne, tới con quái vật phong cách Gô-tích của nó[2] - những vị khách nhà trời trên những cánh đồng củ cải. Nhưng đất chỉ giao lại than và thi thể, không phải của Yorick mà của Hamlet. Còn những người khác, không có vai trong vở kịch, thì bị chôn hẳn – “Còn lại là im lặng” – bị đè dí dưới những bia mộ như chúng tôi đang đặt tấm bia đi-o-rít này đè lên gia đình Flies vậy. Nhưng đối với tôi, Oskar Matzerath Bronski Yorick, một kỷ nguyên mới đang hé mở, và bất giác, tôi liếc nhìn những ngón tay mòn vẹt của Hamlet trên lưỡi xẻng của tôi một lần nữa – “Anh ta béo và thở hổn hển” – tôi nhìn như thế trong khi Gründgens, Hồi III, Lớp I, loay hoay với câu hỏi hiện hữu hay không hiện hữu; nhưng tôi gạt bỏ lối diễn đạt ấy mà đặt câu hỏi một cách cụ thể hơn: Con trai tôi và những viên đá lửa của con trai tôi, những ông bố giả định dưới trần và trên trời của tôi, được biến thành bất tử trên những tấm ảnh, những vết sẹo chằng chịt trên lưng Herbert Truczinski, những giỏ thư  thâm máu ở Sở Bưu Chính Ba Lan, Châu Mỹ - nhưng Châu Mỹ là cái quái gì so với chuyến xe điện số 9 đi Brösen? Tôi đem đối lập cái mùi va-ni đôi lúc vẫn còn thoang thoảng đâu đây của Maria với những hoang tưởng của tôi về bộ mặt tam giác của Lucy Rennward; tôi nhờ ông Fajngold, người tẩy uế cả cái chết, tìm giúp cái huy hiệu Đảng đã biến mất trong khí quản của Matzerath. Và, sau rốt, quay sang Korneff, hay đúng hơn về phía những cột điện cao thế, tôi nói – phải, tôi đã quyết định, nhưng trước khi nói ra, tôi cảm thấy cần tìm một lời thoại kịch khả dĩ khiến Hamlet thành đáng ngờ, song lại hợp thức hoá tôi, Yorick, thành một công dân – vậy thì nhân Korneff đang gọi tôi vì đã đến lúc gắn bia vào đế, tôi quay sang ông và, thôi thúc bởi mong muốn trở thành một công dân lương thiện, tôi nói, hơi bắt chước Gründgens mặc dù ông không bao giờ đóng Yorick, nói qua lưỡi xẻng: “Lấy vợ hay không lấy vợ, đó là vấn đề.”
Sau cơn khủng hoảng ấy ở khu nghĩa trang đối diện với nhà máy Fortuna Bắc, tôi thôi đi nhảy ở Hang Sư Tử, cắt đứt mọi liên lạc với các cô gái điện thoại mà ưu điểm chủ yếu của họ là khả năng thiết lập những mối liên lạc.
Tháng năm, tôi đưa Maria đi xem chiếu bóng. Sau đó, chúng tôi đến một nhà hàng và ăn khá ngon. Chúng tôi trò chuyện tâm tình với nhau. Maria lo phát ốm vì nguồn của Kurt đang cạn dần, vì công việc kinh doanh mật ong đi xuống, vì tôi, mặc dầu “yếu đau quặt quẹo” – theo chữ dùng của nàng – vẫn phải gánh vác cả gia đình hàng mấy tháng nay. Tôi an ủi Maria, nói với nàng rằng Oskar lấy làm sung sướng được hết khả năng của mình, rằng Oskar không thích gì hơn là được gánh vác một phần trách nhiệm nặng nề; tôi khen nàng dạo này đẹp ra và cuối cùng, nói lời cầu hôn.
Nàng xin khất để có thời gian suy nghĩ. Hàng tuần liền, đáp lại câu hỏi Yorick của tôi chỉ là im lặng và thoái thác; chung cuộc, chính cuộc cải cách tiền tệ đã mang lại câu trả lời.
Maria nêu ra vô số lý do. Nàng vuốt ve tay áo tôi, gọi tôi là “Oskar thân yêu”, nói tôi quá tốt để sống ở cái thế giới tệ hại này; nàng xin tôi thông cảm và hãy mãi mãi là bạn nàng, chúc mọi điều tốt đẹp nhất cho tiền đồ của tôi, dù tôi tiếp tục làm thợ đá hay làm gì khác. Nhưng khi tôi hỏi dồn và muốn trắng đen rõ ràng thì nàng từ chối không chịu lấy tôi.
Và thế là Yorick không trở thành một công dân tốt, mà thành một Hamlet, một thằng điên.



[1] Ngày đầu tiên của tuần chay, rơi vào thứ tư.

[2] Chỉ nhà máy điện Cologne.


 
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 24.07.2016 16:27:20 bởi tducchau>
[...]
 
 
ĐÁ LỬA VÀ BIA MỘ
 
Béo, vui tánh, luôn buồn ngủ. Guste Truczinski, khi trở thành Guste Köster, chả cần phải thay đổi gì, nhất là vì sự kết hợp của chị với Köster lại quá đỗi ngắn ngủi: họ đính hôn được hai tuần thì anh phải xuống tàu biển lên Mặt trận Bắc cực; khi anh về nghỉ phép, họ làm lễ cưới và qua với nhau mấy đêm, phần lớn là dưới hầm tránh máy bay. Mặc dầu không có tin tức gì về Köster từ sau khi quân đoàn Courland đầu hàng, mỗi khi có ai hỏi về chồng mình, Guste đều chỉ ngón cái về phía bếp mà trả lời chắc như đinh đóng cột: "À, anh ấy bị bắt làm tù binh ỏ bên Nga. Khi anh ấy trở về, nơi đây sẽ có không ít thay đổi."
 
Những thay đổi mà chị ám chỉ, có liên quan đến Maria và nhất là bé Kurt. Được xuất viện, tôi chào tạm biệt các nữ y tá và hẹn khi có dịp sẽ tới thăm. Rồi tôi đáp xe điện đến Bilk, nơi hai chị em và Kurt con trai tôi đang ở. Ngôi nhà chung cư dừng lại ở tầng tư; phần còn lại, bao gồm mái, đã bị lửa thiêu. Bước vào căn hộ tầng ba, tôi thấy Maria và con trai tôi đang bận rộn với những hoạt động chợ đen. Kurt, giờ đã sáu tuổi, đang tính toán trên đầu ngón tay. Ngay cả trong chợ đen, Maria vẫn trung thành với Matzerath của mình. Nàng buôn bán mật ong tổng hợp. Nàng đong mật ong từ những thùng không dán nhãn và cân hàng trên cái cân trong bếp. Tôi chưa kịp làm quen với căn hộ chật cứng, nàng đã xếp tôi vào việc đóng gói.
 
Kurt ngồi sau "quầy" của nó - một cái hòm xà- phòng. Nó nhìn về phía ông bố khỏi bệnh trở về, nhưng đôi mắt xám lạnh băng lại như tập trung vào một cái gì quan trọng bên kia tôi. Trước mặt nó, là một tờ giấy trên đó nó đang cộng những dãy số tưởng tượng. Chỉ trong đúng sáu tuần học trong những gian lớp quá đông và không đủ ấm, nó đã có cái vẻ của một người tự lập rất bận rộn.
 
Guste Köster đang uống cà-phê - cà-phê thứ thiệt, như Oskar nhận thấy khi chị đưa mời tôi một tách. Trong khi tôi đóng gói mật ong, chị quan sát cái bướu của tôi với vẻ tò mò kèm theo một cái nhìn thương hại về phía cô em gái. Chị phải khó khăn lắm mới ngồi yên, không vuốt ve cái bướu của tôi, vì như tất cả phụ nữ, chị tin rằng sờ, vỗ hoặc vuốt ve một cái bướu sẽ đem lại may mắn. Đối với Guste, may mắn có nghĩa là sự trở về của Köster và anh ấy sẽ thay đổi tất cả. Thay vì, chị dằn lòng vỗ vỗ tách cà-phê và trút một tiếng thở dài kèm theo bài kinh mà trong nhiều tháng sau, tôi còn phải nghe mỗi ngày mấy lần: "Khi nào Köster về, tất cả sẽ thay đổi trong nháy mắt. Chú có thể tin chắc thế!"
 
Guste phản đối chợ đen nhưng không chống việc uống cà-phê thứ thiệt đổi được bằng mật ong tổng hợp. Khi có khách hàng đến, chị rời phòng khách, lạch bạch đi vào bếp ở đó chị cố tình khua xoong chảo ra ý phản đối.

Khách hàng không thiếu. Vào lúc chín giờ, ngay sau bữa điểm tâm, chuông cửa bắt đầu réo: ngắn - dài - ngắn. Cứ mười giờ tối là Guste ngắt chuông điện, bất chấp sự phản đối thường xuyên của Kurt, bởi việc học hành lấn quá nhiều sang thời gian kinh doanh của nó.
 
"Có mật ong tổng hợp không?" Khách hỏi.
 
Maria khẽ gật đầu và hỏi lại: "Một phần tư hay nửa pao? " Nhưng cũng có người không cần mật ong. Họ nói: "Đá lửa?" Thế là Kurt - nó học đan xen hôm buổi sáng, hôm buổi chiều - ra khỏi những dãy số, luồn tay dưới chiếc áo "pul" tìm một cái túi vải và ném cái giọng thách thức trẻ con của nó vào phòng khách: "Ba hay bốn? hay lấy cả năm viên đi. Kẻo nó lên đến hai bốn bây giờ. Tuần trước, có mười tám, mà sáng nay cháu phải lấy hai mươi đấy. Nếu bác đến hai tiếng trước, ngay sau lúc tan học thì cháu có thể để cho bác hai mốt."
 
Trong một phạm vi dài sáu khối nhà và rộng bốn khối, Kurt là người buôn bán đá lửa duy nhất. Nó có "nguồn cung cấp" riêng mà nó không tiết lộ cho ai biết mặc dù nó không ngừng nhắc đến cái "nguồn" đó. Ban đêm, trước khi đi ngủ, thay vì đọc kinh, nó nói: "Tôi có một nguồn cung cấp."
 
Với tư cách là cha, tôi đòi quyền được biết "nguồn" của con trai mình. Nó thậm chí không buồn làm ra vẻ bí mật khi nói: "Tôi có một nguồn cung cấp." Nếu giọng nó có biểu hiện một cái gì, thì đó là tự hào và tự tin. "Con kiếm đâu ra những viên đá ấy?" Tôi sẵng giọng. "Nói ngay cho ta 'biết!"
 
Cái điệp khúc của Maria dạo ấy, mỗi khi tôi gặng hỏi về cái "nguồn", là: "Để cho thằng bé yên nào. Trước hết đó không phải việc của anh; thứ hai, nếu ai có trách nhiệm hỏi, thì đó là tôi; thứ ba, đừng có làm như thể anh là cha đẻ của nó. Mấy tháng trước, thậm chí anh còn không mở miệng được nữa là."
 
Khi tôi tỏ ra quá đỉa, một mực đòi truy cho ra "nguồn" của Kurt, Maria bèn đập tay xuống thùng mật ong và phẫn nộ đến tận khuya, nàng làm một thôi một hồi vào mặt cả tôi lẫn Guste đôi khi cũng về hùa với Oskar: "Đẹp mặt các người nhỉ! Định phá việc làm ăn của thằng bé đấy hẳn. Hừ, cắn cả vào bàn tay cho mình ăn! Nghĩ đến tí chút ca-lô-ri Oskar được trợ cấp ốm, đớp hai ngày hết xoẳn mà thấy buồn nôn! Không, thực ra là buồn cười chứ!"
 
Oskar không thể phủ nhận điều đó: dạo ấy, tôi ăn như thuồng luồng và chính nhờ có Kurt và "nguồn" của nó mang lại nhiều lời hơn mật ong, mà Oskar hồi phục được sức khoẻ sau chế độ ăn còm cõi ở bệnh viện.
 
Oskar đành im miệng, xấu hổ. Với món tiền tiêu vặt mà bé Kurt hào phóng chi cho, hắn thường ra khỏi căn hộ ở Bilk càng nhiều càng tốt để tránh phải đối mặt với nỗi nhục của mình.
 
Ngày nay, có nhiều kẻ giàu xụ phê phán phép màu kinh tế,[1] họ thường lên giọng hoài cổ - và càng ít nhớ về tinh hình ngày xưa bao nhiêu, họ lại càng tỏ ra hoài cổ bấy nhiêu - mà than: "Ôi, những ngày tốt đẹp trước khi có cuộc cải cách tiền tệ! Mọi người sống hay biết bao! Bụng lép kẹp vẫn xếp hàng chờ mua vé xem hát. Và những cuộc liên hoan bất chợt ngẫu hứng với mấy chiếc bánh quy mặn và một chai rượu khoai tây, mới tuyệt làm sao! Còn vui gấp mấy những pạc-ti linh đình, la liệt ca-vi-a và sâm-banh bây giờ."
 
Đó là cái mà quý vị có thể gọi là chủ nghĩa lãng mạn của những thời cơ bị mất. Tôi có thể hòa giọng cùng than với họ nếu tôi muốn, bởi vì vào những ngày mà "nguồn" của Kurt tuôn trào, tôi bỗng trở nên ham học và tích lũy được một số kiến thức văn hoá hầu như miễn phí. Tôi theo những lớp học ban đêm, trở thành khách thường xuyên của British Center còn gọi là " Die Brücke (cây cầu)", tranh luận với cả những người đạo Thiên Chúa lẫn Tin Lành về trách nhiệm tập thể và chia sẻ cảm giác phạm tội của tất cả những ai tự nhủ mình: "Hãy làm phần việc của mình bây giờ đi; rồi khi tình hình bắt đầu khả quan hơn thì ta đã dứt điểm rồi và lương tâm ta sẽ yên ổn."
 
Dù sao đi nữa, chính nhờ những lớp học đêm mà tôi đã gom nhặt được chút học vấn hiện có. Tôi phải thú nhận ngay rằng nó chưa đi đến đâu mà những lỗ hổng thì thật là vĩ đại. Tôi bắt đầu đọc nghiến ngấu; giờ đây lớn rồi, tôi không còn thỏa mãn với một thế giới quá ư đơn giản hoá chia đều giữa Goethe và Rasputin, hoặc với những thông tin có thể lựa ra từ những số tạp chí Lịch Hàng Hải của Kohler từ 1904 đến 1916. Tôi không còn nhớ tôi đã đọc những gì. Tôi đọc trong cầu tiêu. Tôi đọc trong khi xếp hàng mua vé xem hát, giữa những cô gái để tóc bím kiểu rô-cô-cô cũng đang đọc. Tôi đọc trong khi Kurt bán những viên đá lửa của nó và trong khi bản thân tôi đang đóng gói mật ong tổng hơp. Và khi cắt điện, tôi đọc dưới ánh sáng của những ngọn nến cũng từ "nguồn" của Kurt mà ra.
 
Tôi lấy làm xấu hổ mà thưa rằng những gì tôi đọc dạo ấy không hề tồn đọng trong tôi, nó vào mắt này, ra mắt kia. Tôi chỉ giữ lại được một số cách đảo câu, vài ba câu cách ngôn, thế thôi. Còn nhà hát? Một số tên diễn viên: Hoppe, Peter Esser, Flickenschildt và cái cách phát âm chữ r rất đặc biệt của nàng. Tôi nhớ một vài sinh viên kịch nghệ ở những nhà hát thể nghiệm tìm cách cải tiến lối phát âm chữ r của Flickenschildt. Tôi nhớ Gründgens trong vai Tasso, ông có mặc đồ đen, nhưng bỏ vòng nguyệt quế do Goethe chỉ định, viện cớ là lá nguyệt quế làm hỏng tóc ông. Và vẫn Gründgens cũng vận đồ đen trong vai Hamlet. Và Flickenschildt quả quyết rằng Hamlet béo. Cái sọ của Yorick gây ấn tượng rất mạnh đối với tôi vì từ đó mà Gründgens rút ra những nhận xét kỳ diệu. Họ diễn Draussen vor der Tür [2] trong những rạp hát không có hệ thống sưởi trước những cử tọa như bị bắt mất hồn; đối với tôi, Beckmann trong vai người đàn ông mang mục kỉnh vỡ chinh là Köster, chồng của Guste, người sẽ thay đổi tất cả khi trở về và sẽ vĩnh viễn làm cạn "nguồn" của Kurt con trai tôi.
 
Giờ đây, khi tất cả đã ở sau lưng, tôi biết rằng một cuộc nhậu sau chiến tranh chỉ là một cuộc nhậu và do đó, kèm theo một cảm giác ngất ngây khó chịu; một triệu chứng của cái ngất ngây đó là những việc làm tốt hay xấu mà mới ngày hôm qua còn tươi nguyên và sống động, nay đã thành lịch sử. Giờ đây, một lần nữa, tôi lại có thể đánh giá những gì Gretchen Scheffler đã dạy tôi giữa những vật lưu niệm du lịch và những đồ đan, móc của bà: không quá nhiều Rasputin, Goethe vừa phải thôi, Lịch sử thành phố Danzig của Keyser, trang bị vũ khí của một chiến thuyền nằm sâu dưới đáy biển từ bao lâu nay, tốc độ (tính bằng hải lý) của tất cả các ngư lôi hạm Nhật Bản đã tham gia trận Tsushima, chưa kể Belisarius và Narses, Totila và Teja như được thể hiện trong Cuộc đấu tranh vì thành Roma của Felix Dahn.
 
Mùa xuân năm 1947, tôi bỏ lớp học ban đêm, British Center, ông mục sư Niemöller và từ hàng ban-công thứ hai, tạm biệt Gründgens vẫn đóng Hamlet trong chương trình.
 
Chưa đầy hai năm trôi qua kể từ khi bên huyệt Matzerath, tôi quyết định lớn, thế mà tôi đã hết thú đời sống người lớn. Tôi mơ về cái kích thước ba tuổi đã mất của mình. Tôi lại muốn cao chín mươi tư xăng-ti-mét một lần nữa, thấp hơn bạn và thày Bebra của tôi, thấp hơn Roswitha yêu quý đã ra đi. Oskar nhớ cái trống của  mình. Tôi làm những cuộc đi dạo dài, thường là kết thúc ở trước Bệnh viện thành phố. Bất kể thế nào, mỗi tháng tôi cũng phải đến Giáo sư Irdell một lần, ông coi Oskar là một "ca" lý thú. Với những khoảng cách đều đặn, Oskar đến thăm các nữ y tá hắn đã quen trong thời gian điều trị, và ngay cả những lúc họ không có thì giờ dành cho hắn, những bộ đồng phục trắng hối hả của họ, tượng trưng cho sự bình phục hay cái chết, cũng đem lại cho hắn một cảm giác gần như là hạnh phúc.
 
Các nữ y tá niềm nở với tôi, họ đùa với cái bướu của tôi một cách trẻ con nhưng không hề tinh quái, đãi tôi những món ngon lành và kể cho tôi nghe những chuyện dây cà ra dây muống, ru ngủ một cách dễ chịu về những phức tạp trong đời sống bệnh viện. Tôi lắng nghe, góp ý kiến và thậm chí còn có thể làm trọng tài cho một số cuộc cãi vã nho nhỏ của họ, vì tôi được cảm tình của nữ y tá trưởng. Vào những ngày đó, Oskar là người đàn ông duy nhất giữa trên dưới hai mươi nữ y tá, nói cách khác, hai mươi cô gái không còn trẻ lắm ngụy trang dưới những bộ đồng phục nữ y tá - kể cũng lạ, hắn thành một đối tượng để khao khát.
 
Như Bruno đã tả, Oskar có đôi bàn tay đẹp, biểu cảm, mái tóc lượn sóng, và đôi mắt Bronski xanh thăm thẳm, đầy sức chinh phục. Rất có thể, Sự hấp dẫn của đôi bàn tay, đôi mắt và mái tóc của tôi lại được tô đậm thêm bởi cái bướu và độ xít xao khó coi giữa cái cằm và bộ ngực hẹp vồng lên. Dù sao đi nữa, không phải ít lân, trong khi tôi ngồi trong phòng các nữ y tá, họ nắm tay tôi, nghịch nghịch những ngón tay tôi, vuốt tóc tôi và nói với nhau lúc ra khỏi phòng: "Cứ nhìn vào mắt anh ta là quên hết tất cả."
 
Vậy là tôi hơn hẳn cái bướu và nếu như tôi còn có cái trống, nếu như tôi có thể tin cậy vào tài đánh trống của những năm trước, rất có thể tôi đã thử tiến hành một cuộc chinh phục ở bệnh viện. Thực tế, tôi cảm thấy thiếu tự tin và không dám chắc về những phản ứng cơ thể của mình và tôi rời khỏi bệnh viện sau những món khai vị tình cảm ấy mà không dám dấn thêm bắt vào hành động chính. Tôi hít thở khí trời, đi dạo trong vườn hoặc quanh hàng rào dây thép, những mắt lưới nhỏ đều đặn của nó làm tâm trí tôi thư thái đến nỗi bật ra thành tiếng huýt gió. Tôi nhìn ngắm những chuyến xe điện đi về hướng Wersten và Benrath hoặc tha thẩn dọc theo lối đi dạo trong công viên bên cạnh đường cho xe đạp, và với một cảm giác buồn chán khoan khoái, tôi mỉm cười với những cố gắng của thiên nhiên đang sắm vai Mùa Xuân và, tuân thủ chương trình triệt để, làm các mầm, nụ nở bung hồ như nghe thấy được.
 
Bên kia đường, người họa sĩ Chúa Nhật của chúng ta ở trên Lời mỗi ngày lại thêm chút màu xanh tươi vào rặng cây của nghĩa trang Wersten. Các nghĩa trang bao giờ cũng hấp dẫn tôi. Chúng được bảo quản tốt, rất rõ nét, lô-gich, cường vượng và sống động. Trong nghĩa trang, người ta có thể huy động can đảm để đi đến những quyết định, trong nghĩa trang, cuộc sống hiện ra với đường viền thật nét - đây tôi không nhằm nói những cạnh viền mộ đâu - và, nếu quý vị muốn, mang một ý nghĩa.
 
Dọc theo tường phía bắc của nghĩa trang, có một con phố tên là Bittweg, lãnh địa của sáu vị sản xuất bia mộ. Có hai hãng lớn: C. Schnoog và Julius Wobel, còn lại đều là những thợ thủ công nhỏ: R. Haydenreich, J. Bois, Kühn & Müller và P. Korneff. Những xưởng và lán với những tấm biển treo từ trên mái xuống, một số mới kẻ, số khác mờ cũ gần như không đọc nổi, cho biết tên hãng và tính chất của sản phẩm: Bia Mộ - Tang Đài và Viền Mộ - Đá Tự Nhiên và Nhân Tạo - Nghệ Thuật Tang Chế. Biển của Korneff long lở đến nỗi tôi phải đánh vần mãi mớí ra: P. Korneff, Thợ Đẽo Đá và Khắc Bia.
 
Giữa xưởng và hàng rào dây thép bao quanh sân, là những dãy tang đài trên bệ đơn hoặc kép, nhiều kích cỡ khác nhau, được tính toán để tô điểm cho mọi loại, từ mộ một hoặc hai hoặc ba người cho đến hầm mộ gia đình cho bốn người. Ngay sau hàng rào, in bóng cái mô-típ mắt lưới của nó những lúc trời nắng, là một bộ các kiểu bia mộ đa dạng: đệm đá vôi cho người ví lép, đá phiến đi-o-rít mài bóng, bia mộ cho trẻ con với độ cao tiêu chuẩn tám mươi xăng-ti-mét bằng cẩm thạch Silesia hơi vẩn, có đường rãnh viền quanh, phía trên có trang trí hoa văn khắc chìm, phần lớn là hình những đoá hồng gẫy. Rồi đến một loạt những phiến đá cát kết xoàng xĩnh thu nhặt từ những mặt tiền của các nhà ngân hàng và cửa hàng bách hoá tổng hợp bị bom. Bày ở chính giữa là mặt hàng vua: một tang đài bằng cẩm thạch Tyrol trắng ngả xanh lơ gồm ba bệ, hai tấm phụ hai bên một bia lớn chạm khắc rất phong phú, thể hiện cái mà người trong nghề gọi là thánh thể. Thánh thể này không có râu, với những nét nổi bật là: đầu đội vòng gai, hai bàn tay xòe mở, và hai đầu gối chếch về bên trái, ba chiếc đinh câu rút và máu chảy cách điệu từ vết thương bên mạn sườn Người, năm giọt, theo tôi nhớ mang máng.
 
Đây không phải là tang đài duy nhất ở phố Bittweg thể hiện một Thánh thể chếch về bên trái - đôi khi có cả chục cái chuẩn bị cho mùa xuân. Nhưng Chúa Jêxu Kirixitô của Korneff đã gây ấn tượng đặc biệt dối với tôi bởi vì, phải, bởi vì Người rất giống tay Lực Sĩ trên Thánh Giá của tôi, bắp thịt cuồn cuộn, ưỡn ngực trên ban thờ chính trong Nhà Thờ Thánh Tâm. Tôi lượn lờ hàng giờ bên hàng rào, lướt một cái que dọc những mắt lưới dây thép, nghĩ về đủ mọi thứ và chẳng về cái gì cụ thể, loay hoay với một đôi điều ước bâng quơ. Một thời gian dài, Korneff không ló mặt. Một cái ống khói bếp lò đầy những đầu gối và khuỷu tay nhô ra khỏi một trong những cửa sổ của xưởng rồi thòi lên mái bằng. Hồi ấy, không thể kiếm được than tốt. Khói vàng phụt lên từng đợt rồi là là xuống lớp giấy lợp mái. Khói lọt ra từ cửa sổ, trườn xuống ống máng và tan lần vào giữa những bia mộ đang làm dở. Bên ngoài cánh cửa trượt của xưởng, một chiếc xe ba bánh phủ mấy lần bạt như thể ngụy trang để tránh những máy bay là thấp tấn công. Những tiếng động từ trong xưởng - gỗ choảng sắt, sắt cắn đá - chứng tỏ ông thợ đẽo đá đang làm việc.
 
Vào tháng 5, không còn những tấm bạt trên chiếc xe ba bánh, cánh cửa trượt để mở. Tôi có thể thấy màu xám trên màu xám trong xưởng, những phiến đá trên bàn cắt, một cái máy mài nom giống như giá treo cổ, những giá đầy mẫu thạch cao và cuối cùng là Korneff. Ông đi khòng khòng, đầu gối bao giờ cũng gập, đầu chúi về đằng trước, cứng ngắc. Gáy ông chằng chịt những băng dính trước màu hồng nay đầy bụi. Ông bước ra khỏi xưởng, tay cầm cào và, biết chắc mùa xuân đã tới, bắt đầu làm vệ sinh. Ông cào thật kỹ giữa những tấm bia mộ, để lại những vệt trên sỏi; thỉnh thoảng ông dừng lại để phủi những lá vàng khỏi một số tang đài. Đang nhìn ông cào giữa những đệm đá vôi và những phiến đi-ô-rít gần hàng rào, tôi bỗng giật mình khi ông đột ngột cất tiếng: "Có chuyện gì đấy, cháu, gia đình không chứa chấp cháu nữa chăng?’"
 
"Cháu thích những bia mộ của bác lắm," tôi đáp. "Không nên nói to điều đó lên," ông nói. "Xui lắm. Nói vậy, khéo rồi có một cái trên đầu mình lúc nào không biết."
 
Mãi đến lúc này ông mới cử động cái cổ cứng ngắc, liếc nhìn tôi, hay đúng hơn, cái bướu của tôi: "Này, người ta đã làm gì cháu vậy? Thế, nằm ngủ không thấy vướng ư?"
 
Tôi để cho ông cười dứt. Rồi tôi giải thích rằng một cái bướu không nhất thiết là một trở ngại, rằng cách nào đó, tôi có thể khắc phục nó, rằng - ông có tin hay không thì tuỳ - một số phụ nữ, thậm chí cả con gái trẻ, lại có cái tật thích bướu và rất vui lòng được thích ứng với những kích thước đặc biệt và khả năng của một anh gù.
Tựa cằm vào cán cào, Korneff ngẫm nghĩ: "Có thể thế. Ta đã nghe nói vậy."
 
Rồi ông kể tôi nghe hồi ông ở mỏ đá ba-dan, có một phụ nữ có cái chân gỗ có thể tháo ra được. Cái đó, theo cách suy nghĩ của ông, cũng tựa như cái bướu của tôi, cho dù cái "đồng hồ ga" của tôi (ông cứ một mực gọi thế) không tháo ra lắp vào được. Hồi ức của ông thợ đẽo đá dài, rộng và triệt để. Tôi kiên nhẫn đợi ông kể hết, đợi cho người đàn bà của ông lắp cái chân trở lại. Rồi tôi hỏi ông có thể cho tôi vào thăm xưởng được không.

Korneff mở cánh cổng ở hàng rào và chỉ cái cào về phía cửa trượt ra ý mời. Sỏi kêu rào rạo dưới chân tôi và lát sau, tôi ngập vào trong mùi xuyn-phua, mùi vôi và mùi ẩm.
 
Những vồ gỗ nặng hình quả lê với những hõm xơ ra chứng tỏ tay quai vồ lão luyện, nhát nào cũng như nhát nào, nằm trên những tấm đá mới đẽo thô. Những dụng cụ đục mới rèn lại, còn xanh nước tôi, các loại đục để làm cẩm thạch, bột đánh bóng sấy khô trên những ghế đẩu vuông và trên những khúc gỗ tròn, một tấm bia mài bóng, vàng rộm, mỡ màng, dành cho một ngôi mộ đôi, đã dựng đứng, sẵn sàng để được chuyển đi.
 
"Đây là cái búa đột, đây là cái đục khum, đây là cái khoét rãnh, còn cái này," Korneff giơ một thanh ván rộng bằng bàn tay và dài khoảng một mét và xem xét kỹ cạnh của nó, "cái này là thước vạch. Ta cũng dùng nó để đập bọn thợ học việc nếu chúng cứ ì thần xác ra."
 
Tôi hỏi, không phải hoàn toàn vì lịch sự: "Vậy bác cũng dùng thợ học việc à?"
 
Korneff cho tôi biết những khó khăn của ông: "Ta có đủ việc cho năm đứa. Song chẳng kiếm được thằng nào. Cái bọn nhãi bây giờ chỉ muốn học kiếm tiền  ngoài chợ đen thôi," Giống như tôi, ông thợ đẽo đá chống những hoạt động chợ đen khiến cho bao thanh niên có triển vọng không học được những nghề hữu ích. Trong khi Korneff chỉ cho tôi những loại đá mài từ thô đến mịn và tác dụng của chúng trên một phiến Solnhof, thì tôi cũng mài một ý nho nhỏ trong đầu. Đá bọt, đá cát kết màu nâu sô-cô-la để mài thô, đá tripoli để mài ba lần, ông tiếp tục giới thiệu, và đây, cái ý nho nhỏ của tôi lại chòi ra nhưng đã nhẵn hơn, bóng hơn. Korneff chỉ cho tôi những mẫu chữ, nói về việc khắc chữ nổi và chìm, về mạ chữ vàng. "Không tốn như mọi người tưởng đâu; với một đồng ê-quy thật, ta có thể mạ cả một con ngựa cùng người cưỡi," ông nói. Điều này khiến tôi nghĩ đến tượng đài vua Wilhelm cưỡi ngựa ở Heumarkt, Danzig mà có thể chính quyền Ba Lan sẽ ra quyết định mạ vàng, nhưng cả ngựa lẫn người cưỡi đều không thể khiến tôi từ bỏ cái ý nho nhỏ của tôi, nó hình như càng lúc càng sáng bóng hơn. Tôi tiếp tục vuốt ve nó, rồi đi đến chỗ phát biểu nó thành lời trong khi Korneff đang giải thích cách vận hành của một cái máy đột ba chân và gõ gõ vào một mô hình Chúa Kirixitô bị đóng đinh trên Thánh Gíá: "Vậy là bác đang nghĩ đến chuyện lấy thợ học việc?" Đó là bản nháp đầu. Cái ý nho nhỏ của tôi đang triển khai. Thực ra, tôi nói như thế này: "Cháu hiểu là bác đang kiếm một thợ học việc. Hay là cháu nhầm?" Korneff xoa xoa lớp băng dính trên những cái nhọt ở gáy. "Có nghĩa là, liệu bác có lấy cháu làm thợ học việc không, bất kể mọi cái khác?" Câu hỏi đặt không khéo và tôi chữa liền: "Bác đừng đánh giá thấp sức khỏe của cháu, bác Korneff thân mến. Chỉ có chân cháu là kém phát triển thôi. Hai cánh tay cháu rất khoẻ." Phấn khởi vì quyết định của chính mình và quyết tâm đi đến cùng, tôi vén tay áo trái lên và đề nghị Korneff nắn thử bắp thịt tôi, nó nhỏ nhưng chắc nịch. Thấy ông không làm gì, tôi bèn nhặt một cái đục nằm lăn lóc trên một miếng đá vôi và đập đập cho phần kim khí nảy lên nảy xuống trên bắp thịt cánh tay tôi. Tôi tiếp tục phô diễn cho đến khi Korneff mở máy mài; một cái đĩa các-bô-răn-đơm chạy sè sè trên bệ của một tấm bia dành cho mộ đôi. Sau một lúc, Korneff, mắt vẫn dán vào máy, quát lên cho át tiếng ồn: "Đêm về nghi cho kỹ đi, con. Công việc khó nhọc đấy. Khi nào nghĩ cho chín thì đến gặp ta. Ta sẽ nhận con nếu con còn cảm thấy thích."
 
Theo lời dặn của Korneff, đêm đêm, tôi suy nghĩ về ý định của mình suốt một tuần. Tôi cân nhắc, so sánh: một bên là những viên đá lửa của Kurt, bên kia là những bia mộ của Korneff. Maria luôn luôn cằn nhằn: "Anh là đồ ăn bám, Oskar. Tại sau anh không thử làm một vụ gì đi? Trà hay cacao, hay sữa bột chẳng hạn." Tôi chẳng thử làm gì sất; thay vì, tôi tận hưởng sự tán thưởng của Guste, chị luôn nêu người chồng Köster vắng mặt như một tấm gương để noi theo và khen thái độ tiêu cực của tôi đối với chợ đen. Điều thực sự làm tôi phiền lòng là thằng con trai Kurt của tôi, nó cứ ngồi đó cộng những cột con số tưởng tượng và phớt lờ tôi hệt như tôi đã phớt lờ Matzerath trong bao năm.
 
Chúng tôi đang ăn trưa. Guste đã ngắt chuông điện để các khách hàng khỏi thấy chúng tôi ăn trứng tráng với thịt sấy. Maria nói: "Anh thấy đấy, Oskar, chúng ta có những của ngon vật lạ mà ăn là vì sao? Vì chúng ta không khoanh tay ngồi rồi." Kurt buông một tiếng thở dài. Đá lửa đã hạ xuống mười tám. Guste lặng lẽ ăn thật lực. Tôi cũng thế, tôi ăn khoái khẩu, nhưng mặc dù khoái khẩu, tôi vẫn cảm thấy khổ sở, có lẽ vì món trứng tráng không thực sự ngon lắm và đột nhiên, khi cắn một miếng sụn, tôi cảm thấy khao khát hạnh phúc đến nỗi má tôi nóng ran. Ngược với trí xét đoán khôn ngoan, bất chấp tính hoài nghi thâm căn cố đế của mình, tôi vẫn muốn hạnh phúc. Tôi muốn hạnh phúc vô biên. Trong khi những người khác vẫn ăn, hài lòng với món trứng tráng, tôi rời bàn, đi đến tủ buýp-phê như thể trong đó có hạnh phúc vậy. Bới đảo ngăn tủ của mình, tôi tìm thấy, không phải hạnh phúc, mà là hai gói thuốc tẩy uế của ông Fajngold đăng sau cuốn album ảnh. Tôi lấy ra - không, không phải hạnh phúc - chiếc vòng hồng ngọc đã được tẩy uế triệt để, chiếc vòng xưa kia thuộc về mẹ tôi, chiếc vòng mà nhiều năm trước đây, vào một đêm đông tuyết rơi không ngớt, Jan Bronski đã lấy từ một tủ kính cửa hàng có một lỗ tròn được khoét trước đó một lát bởi Oskar, hồi đó còn hạnh phúc và có khả năng cắt thuỷ tinh bằng giọng hát của mình. Và với chiếc vòng đó, tôi ra khỏi nhà. Chiếc vòng, tôi cảm thấy, sẽ là sự khởi đầu của tôi, điểm xuất phát của tôi. Tôi đáp xe đến Ga trung tâm, bụng nghĩ nếu mọi sự trôi chảy... và suốt cuộc thương lượng kéo dài, những ý nghĩ ấy luôn luôn ở trong đầu tôi. Nhưng gã cụt tay và gã Xăc-xông mà gã kia gọi là giám định viên, chỉ thấy giá trị vật chất của món hàng của tôi, mà đâu có ngờ rằng họ đã mở ra trước mặt tôi con đường dẫn tới hạnh phúc khi, đổi lấy chiếc vòng của mẹ tội nghiệp của tôi, họ trao cho tôi một cái cặp bằng da thật và mười hai tút thuốc lá Lucky Strikes.
 
Chiều hôm ấy, tôi trở về Bilk. Tôi mở bọc, bỏ ra mười hai tút Lucky Strikes, một gia sản. Tôi thưởng thức sự kinh ngạc của họ, đẩy đống thuốc lá vàng ươm cao như núi về phía họ mà rằng: "Cho các người đấy. Từ giờ trở đi, tôi muốn các người để cho tôi yên. Đổi lấy ngần nấy thuốc lá, như vậy đâu phải là yêu cầu quá đáng. Ngoài ra, tôi muốn một cà-mèn đựng bữa trưa hằng ngày, bắt đầu từ mai. Tôi hy vọng các người may mắn với mật ong và đá lửa của các người," tôi nói không chút giận dữ hoặc hờn oán, "về phần tôi, tôi sẽ thực hành một nghệ thuật khác, hạnh phúc của tôi sẽ được viết - hay để nói một cách chuyên nghiệp hơn - được khắc trên bia mộ."

Korneff lấy tôi vào làm chân phụ việc cho ông với số lương một trăm reichmark một tháng. Không nhiều lắm, nhưng tôi vẫn làm rất chuyên cần. Đến cuối tuần đâu thì rõ ra, là tôi không đủ sức để làm công việc nặng. Tôi được giao chạm nổi một tấm granít Bỉ, vừa đưa từ mỏ đá về, cho một hâm mộ gia đình. Mới một tiếng đồng hồ, tôi đã hầu như không cầm nổi đục nữa, còn tay cầm vồ thì đã tê dại. Tôi cũng phải để lại việc đục thô cho Korneff, nhưng nhờ khéo tay, tôi có thể nhận việc chạm nét nhỏ và viền răng cưa, làm vuông cạnh những tấm đá và hoàn tất những đường viền. Ngồi trên một khúc gỗ tạm làm ghế, tay phải cầm đục, tay trái cầm một chiếc vồ gỗ hình quả lê hay một cái búa đột bằng sắt (mặc dầu Korneff phản đối vì ông muốn luyện tôi thành thuận tay phải); kim khí kêu vang trên đá, sáu mươi tư mũi nhọn của cái búa đột cùng một lúc cắn vào đá cho nó mềm đi. Đây là hạnh phúc; đành rằng chưa sánh được với cái trống của tôi, chỉ là một thế phẩm, nhưng trên đời cũng có cái gọi là hạnh phúc-thế phẩm chứ. Mà có lẽ hạnh phúc chỉ tồn tại ở dạng thế phẩm mà thôi. Có lẽ mọi hạnh phúc chỉ là một thế phẩm cho hạnh phúc. Vậy thì tôi đang ở trong một nhà kho đầy hạnh phúc-thế phẩm: hạnh phúc cẩm thạch, hạnh phúc đá cát kết. Hạnh phúc rắn: đá cara. Hạnh phúc giòn, vẩn mây: minh ngọc thạch. Hạnh phúc của thép crôm cắt vào đá đi-o-rít. Đá đô-lo-mít: hạnh phúc xanh. Hạnh phúc mềm: đá tufa. Hạnh phúc nhiều màu từ sông Lahn. Hạnh phúc xốp: đá ba-dan. Hạnh phúc lạnh giá từ sông Eifel. Như một hỏa diệm sơn, hạnh phúc phun lên và rớt lả tả thành một lớp bụi và sạn bám giữa những kẽ răng tôi.

Tôi tỏ ra khéo nhất trong việc khắc các dòng chữ. Về điểm này, tôi mau chóng vượt Korneff và ông giao cho tôi toàn bộ công việc trang trí - lá ô-rô, hoa hồng gẫy cho mộ trẻ con, những biểu tượng của đạo Thiên Chúa như XP hay IHRI, lòng máng và hạt, trứng và mỏ neo, đường chỉ đơn và kép. Oskar cung cấp bia mộ với mọi kiểu trang trí, giá nào cũng có. Và khi tôi gò mình tám tiếng đồng hồ trên một tấm bia đi-o-rít đã mài bóng, hơi phả vào làm nhòa mặt đá, để khắc lên đó những dòng chữ như: Nơi đây yên nghỉ trong tay Chúa người chồng yêu dấu của tôi - xuống dòng - Cha, anh và chú thân yêu của chúng tôi - xuống dòng - Joseph Esser - xuống dòng - sinh ngày 3/4/1885, mất ngày 22/6/1946 - xuống dòng - Cái Chết là Cánh cửa vào Sự sống - rồi đọc lại những dòng đó, tôi nhận ra một hạnh phúc-thế phẩm, có nghĩa là tôi cảm thấy sung sướng khoan khoái. Để tỏ lòng cảm ơn Joseph đã qua đời ở tuổi sáu mốt và cảm ơn những đám mây đi-o-rít nho nhỏ màu xanh do mũi đục của tôi khuấy lên, tôi đăc biệt bỏ công vào những chữ 0 trên mộ chí của Esser; Oskar rất thích chữ cái 0 và những chữ 0 của tôi bao giờ cũng đều tăm tắp và liền một nét tuy có hơi quá to.
 
Cuối tháng 5, tôi bắt đầu làm thợ phụ việc cho một thợ đẽo đá; đầu tháng 10, Korneff có thêm hai cái nhọt mới ở gáy và đã đến lúc phải dựng cái bia bằng đá t’ra-véc-tin dành cho Herbert Webknecht và Else Webknecht, họ gốc là Freytag, ở nghĩa trang phía Nam. Trước đó, vì không tin ở sức lực của tôi, Korneff không đem theo tôi đến nghĩa trang. Khi ông phải dựng một bia mộ, ông thường mượn một thợ phụ của Julius Wobel (ông này thuê những tám người giúp việc), một tay điếc đặc nhưng làm việc tốt. Đáp lại, Korneff sẵn sàng giúp Wobel một tay trong những trường hợp đột xuất. Năm lần bảy lượt, tôi xin tình nguyện phục vụ ngoài nghĩa trang mà không được; nghĩa trang vẫn giữ nguyên sức hấp dẫn đối với tôi, mặc dầu dạo này tôi không có điều gì cần phải quyết định. May sao, tháng mười là mùa cao điểm ở xưởng của Wobel, ông ta cần tất cả các người làm của mình cho đến kỳ sương giá, nên Korneff đành phải dùng đến tôi.
 
Chúng tôi đặt tấm bia lên những trục lăn bằng gỗ cứng và đẩy nó theo bệ dốc lên phía sau chiếc xe ba bánh. Chúng tôi đặt đế bia ở bên, lấy bao xi-măng không chèn các cạnh, chất dụng cụ, xi-măng, cát, sỏi lên xe cùng các trục lăn và hòm để lát nữa chuyển bia xuống. Tôi đóng ván hậu, Korneff lên xe và nổ máy. Rồi ông thò đâu và cái cổ đầy nhọt ra cửa xe, quát: "Đi nào, nhóc. Lấy cái hộp đồ ăn trưa và lên xe!"
 
Chúng tôi từ từ đi vòng Bệnh viện thành phố. Bên ngoài cổng chính, các nữ y tá như những đám mây trắng, trong đó có một nàng tôi quen, Gertrude. Tôi vẫy, nàng vẫy lại. May sao lại thấy nàng, tôi nghĩ, hôm nào mình phải rủ nàng đi chơi, mặc dù lúc này không thấy nàng nữa vì chúng tôi đã rẽ về phía sông Rhine, mời nàng cùng làm một cái gì, hướng tới Kappeshamm; đi xem chiếu bóng hay tới nhà hát xem Gründgens diễn; a, đây rồi, cái tòa nhà bằng gạch vàng, nhưng không nhất thiết là đi xem hát, khói từ lò hoá thân hoàn vũ bay trên hàng cây vào thu, thay đổi khung cảnh có thể tốt cho Xơ, Gertrude ạ. Lại một nghĩa trang khác, những người sản xuất bia mộ khác: Beutz & Kranich, Pottgiesser, đá tự nhiên, Bohm, nghệ thuật tang chế, Gockehn, trồng cây và tạo cảnh mộ địa; hỏi giấy tờ ở cổng vào nghĩa trang, vào một nghĩa trang đâu có dễ: bia đá t’ra-véc-tin cho mộ số 79, khu Tám, Webknecht Hermann. Người gác đưa hai ngón tay lên mũ chào, để hộp đồ ăn trưa lại chỗ lò hoá thân hoàn vũ để hâm cho nóng, và kìa, đứng trước bình đựng hài cốt là Leo Schugger.
 
"Người đeo găng trắng có phải là Leo Schugger không?" tôi hỏi Korneff.
 
Korneff sờ sờ đám nhọt: "Không, không, ta chưa bao giờ nghe nói đến một cha Leo Schugger nào cả. Đây là Willem-Nhớt-Dãi; anh ta ở luôn đây."
 
Làm sao tôi có thể thỏa mãn với cái thông tin này được? Bản thân tôi đây đã ở Danzig và bây giờ tôi ở Düssendorf, thế nhưng tôi vẫn tên là Oskar: "Ở Danzig có một người luôn quanh quẩn ở các nghĩa trang, nom y hệt người này. Anh ta tên là Leo Schugger; trước khi lai vãng các nghĩa trang, tên anh ta chỉ gọn ghẽ là Leo, một sinh viên của chủng viện."
 
Korneff, tay trái vẫn đặt trên đám nhọt, tay phải vặn lái cho xe vòng quanh lò hoá thân hoàn vũ: "Rất có thể. Ta biết cả một lô bọn họ nom y như nhau, khởi đầu học ở chủng viện rồi bây giờ sống ở các nghĩa trang dưới những cái tên khác nhau. Thằng cha ở đây tên là Willem-Nhớt-Dãi."
 
Chúng tôi vượt qua Willem-Nhớt-Dãi. Anh ta giơ một cái găng trắng vẫy chúng tôi và tôi cảm thấy thoải mái trong Nghĩa trang phía Nam này.
 
Tháng mười, những lối đi trong nghĩa trang, thế giới đang rụng răng, rụng tóc - một cách khác để nói rằng lá vàng từ trên cây vẫn rơi hoài hoài. Im lặng, những con chim sẻ, những người đi dạo, chiếc xe ba bánh của chúng tôi xình xịch chạy về Khu Tám vẫn còn khá xa. Đây đó, mấy bà già xách bình tưới và những đứa cháu nhỏ, nắng trên gra-nít đen Thuỵ Điển, những bia tưởng niệm, những cột gẫy - tổn thất chiến tranh thật hay tượng trưng - một thiên thần xanh xỉn sau một cây thủy tùng hay một cái gì giống như cây thuỷ tùng. Người đàn bà đưa bàn tay cẩm thạch lên che mắt bị chói bởi chính ánh cẩm thạch của chính mình. Chúa Kirixitô đi dép đá ban phước cho hàng cây du và ở Khu Bốn, một Chúa Kirixitô khác ban phước cho một cây dương, những phút mơ mơ màng màng kỳ thú giữa Khu Bốn và Khu Năm: chẳng hạn như biển cả. Biển xô giạt vào bờ nhiều thứ, trong đó có một xác người. Từ phía sòng bạc Zoppot, tiếng vĩ cầm và phút mở đầu rụt rè của một cuộc bắn pháo hoa lấy tiền cứu trợ thương binh hỏng mắt. Oskar, lên ba, cúi xuống vật trôi giạt, hy vọng đó là Maria hay có lẽ là Gertrude, người mà tôi sẽ phải rủ đi chơi một hôm nào đó. Nhưng đó lại là Lucy đẹp, Lucy trắng ngần, như tôi có thể nhận ra trong ánh sáng pháo hoa lúc này đang dồn dập tới cao trào. Ngay cả nếu tôi không nhìn rõ mặt, tôi vẫn có thể nhận ra cô ta bằng vào cái áo đan kiểu Bavaria mà bao giờ cô ta cũng mặc khi đang định làm điều ác. Khi tôi cởi nó ra khỏi người cô, chất len ướt sũng, cả cái áo trong cũng ướt. Đây cũng là một cái áo vét kiểu Bavaria. Và cuối cùng, khi pháo hoa tắt hẳn vàa chỉ còn tiếng vĩ cầm, tôi tìm thấy, dưới một, hai, ba lần len, trái tim cô ta bọc trong một cái áo may-ô thể thao in tên Liên Đoàn Thiếu Nữ Đức, trái tim cô ta, trái tim Lucy, một cái bia mộ be bé lạnh lẽo trên có ghi: Nơi đây yên nghỉ Oskar - Nơi đây yên nghỉ Oskar - Nơi đây yên nghỉ Oskar...
 
"Dậy đi, nhóc," Korneff cắt đứt giấc mơ của tôi, giấc mơ bị sóng biển đánh giạt vào bờ và bừng lên dưới ánh pháo hoa. Chúng tôi rẽ trái và Khu Tám, một khu mới chưa có cây và chỉ lưa thưa mấy tấm bia, trải ra phẳng phiu và đói ngấu trước mắt chúng tôi. Tất cả các mộ ở đây đều giống nhau, quá mới chưa kịp trang trí, nhưng năm ngôi mới thì rất dễ nhận ra nhờ những đống vòng hoa đang rữa chuyển sang màu nâu với những dải băng đẫm nước mưa, bạc phếch.
 
Chúng tôi nhanh chóng tìm ra số 79 ở đầu đãy thứ tư, giáp với Khu Bảy, khu này đã có vẻ ổn định hơn với lác đác những khóm cây lớn nhanh và một số lớn bia mộ. Đa phần bằng cẩm thạch Silesia, hàng lối khá đều đặn. Chúng tôi lại gần số 79 từ phía sau, dỡ các thứ xuống - dụng cụ, xi-măng, sỏi, cát và tấm bia đá t’ra-véc-tin bóng loáng. Chiếc xe ba bánh nẩy mạnh một cái khi chúng tôi lăn tấm bia xuống mấy cái hòm chờ sẵn nó. Korneff rút bỏ cây thánh giá tạm thời, mang tên H. Webknecht và E. Webknecht, khỏi đầu mộ; tôi đưa ông cái khoan và ông bắt đầu khoan hai lỗ - sâu một mét sáu, theo quy định của nghĩa trang - cho hai cột bê-tông trong khi tôi đi lấy nước từ Khu Bảy về để trộn bê- tông. Tôi vừa trộn xong thì ông cũng khoan được một mét rưỡi và bảo thế là xong. Tôi bắt đầu đổ bê- tông vào hai lỗ trong khi Korneff ngồi thở hổn hển trên tấm bia đá t’ra-véc-tin, với tay ra sau gáy sờ mấy cái nhọt. "Chín nẫu rồi," ông nói ,"khi nào sắp vỡ là ta biết ngay." Tôi nhồi bê-tông, đầu trống rỗng. Từ Khu Bảy, một đám tang Tin Lành chầm chậm đi qua Khu Tám sang Khu Chín. Khi họ đi ngang cách chúng tôi ba dãy, Korneff tụt xuống khỏi tấm bia và, y theo quy định của nghĩa trang, chúng tôi ngả mũ chào đám tang, từ ông mục sư đến họ hàng người thân của tang quyến. Đi ngay sau linh cữu, một mình, là một phụ nữ mặc đồ đen, người lệch sang một bên. Những người đi sau bà đều to lớn hơn nhiều và lực lưỡng.
 
Đám tang tới Khu Chín, chỉnh đốn hàng ngũ và bắt đầu tuôn ra cái giọng lên bổng xuống trầm của ông mục sư. Bê- tông đã vón lại và lẽ ra chúng tôi đã có thể đặt đế bia lên. Nhưng Korneff đang nằm sóng soài trên tấm bia đá t’ra-véc-tin. Ông để cái mũ cát-két tụt xuống dưới trán, kéo cổ áo vét và áo sơ-mi xuống, phơi cái gáy ra, trong khi từ Khu Chín, tiểu sử của người chết vẳng tới chúng tôi. Tôi phải trèo lên tấm bia và ngồi lên lưng Korneff. Chỉ liếc mắt một cái là tôi nắm ngay được tình hình. Có hai cái gần như chồng lên nhau. Một người đến chậm với một vòng hoa to tướng hớt hơ hớt hải lao về phía Khu Chín và bài thuyết giảng lê thê đang đi đến kết thúc. Tôi giựt một cái, lột miếng cao dán, lấy một chiếc lá dẻ gai chùi lớp pom-mát sát trùng và xem xét hai cái nhọt bọc. Chúng to gần bằng nhau, màu nâu hắc ín ngả sang vàng. "Hãy cầu nguyện," ngọn gió từ Khu Chín nói. Coi đó như một hiệu lệnh, tôi quay đầu sang một bên và cùng một lúc vừa bóp vừa kéo chiếc lá dẻ gai xuống dưới những ngón tay cái. "Cha chúng ta..." Korneff rên rỉ: "Đừng ấn, kéo đi" Tôi kéo. "... nhân danh Người." Korneff hòa cùng lời cầu nguyện: "... cầu sao Nước Chúa tới." Kéo không ăn thua, tôi lại nặn. "... xong xuôi theo ý người, ở trên Lời cũng như dưới..." Thật là một phép lạ: không hề nổ. Và lại: "... cho chúng con ngày hôm nay." Và Korneff lại bắt kịp: " ... tội lỗi và không rơi vào cám dỗ." Nhiều mủ hơn tôi nghĩ. "Nước Chúa và quyền năng và sáng danh." Tôi nặn nốt chỗ mủ."... và đời đời, a-men." Trong khi tôi nặn nhát cuối cùng, Korneff: "A-men," và kéo lần cuối: "A-men." Trong khi bên Khu Chín, người ta đang nói lời phân ưu, Korneff nói một tiếng a-men nữa. Vẫn nằm bẹp trên tấm bia đá t’ra-véc-tin, ông trút một tiếng thở dài nhẹ nhõm. "A-men," rồi tiếp liền: "Có còn chút bê-tông nào để lót đế không?" Có, tôi vẫn còn. Và ông: "A- men."
 
Tôi rải nốt những xẻng bê-tông cuối cùng để nối hai cái cột. Rồi Korneff tụt xuống khỏi dòng chữ mài bóng và Oskar đưa ông xem những cái lá dẻ gai mùa thu và đống mủ cùng màu của hai cái nhọt. Chúng tôi đội lại mũ và, trong khi đám tang bên Khu Chín giải tán, bắt tay vào dựng tấm bia đánh dấu ngôi mộ của Hermann Webknecht và Else Webknecht, mà hồi con gái mang họ bố là Freytag.
 
[...]
______
Chú thích
[1] Chỉ cuộc cái cách tiền tệ ở Tây Đức năm 1948. Việc đưa đồng Deutsche mark thav thế đồng reichmark đã có một ảnh hưởng tâm lý rất tốt đối với các nhà kinh doanh Đức và được coi là một bước ngoặt trong công cuộc tái thiết và phát triển kinh tế sau chiến tranh ở Tây Đức.
[2] Trước cửa, một vở kịch của Wolgang borchest mô tả tình cảnh cùng quẫn tuyệt vọng của các tù binh chiến tranh trở về sau Thế chiến II.
 
FINAL!
 
...! Tràn đầy mà rỗng lặng
Biển vô lượng thủy triều
Đường về tâm hết động
Tuyệt chiêu là vô chiêu !...

0
«« « 1 2 » »»