Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Dân Chủ Pháp Trị - Nguyễn Hữu Liêm

8 trả lời, 88 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 15.09.2016 08:23:04 bởi Sun Ming>
Nguyễn Hữu Liêm
DÂN CHỦ PHÁP TRỊ
Luật Pháp, Công Lý, Tự Do và Trật Tự Xã Hội
 
BIỂN MỚI xuất bản
VĂN NGHỆ phát hành. (C) 1992. San Jose, California, USA.
Mọi trích dẫn xin vui lòng đề xuất xứ

📎 f47696e796751...b1c178a4f
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 15.09.2016 07:08:24 bởi Sun Ming>
MỤC LỤC
- Lời nói đầu
- Về tựa đề “Dân Chủ Pháp Trị”
- Tại sao viết?
Chương Một: Ý Nghĩa và Bối Cảnh Lý Luận
- Bối cảnh Việt Nam
- Về tiền đề: Bằng cơ sở lý luận Tây phương
- Về tiền đề: Thế tất yếu của Pháp trị
Chương Hai: Luật pháp và Trật tự Xã hội
- Nguyên tắc Trật tự
- Trật tự nào?
- Trật tự Pháp chế cho Việt Nam
- Giữa phép vua và lệ làng
- Giữa miền, vùng, địa phương
- Giữa các tôn giáo
- Giữa các sắc dân
- Trật tự hành chánh công quyền
- Một trật tự pháp trị
Chương Ba: Luật pháp và Công lý
- Đi tìm nội dung Công lý: Marx đối Rawls
- Công lý pháp chế
Chương Bốn: Cán cân Công lý và Trật tự
- Hợp đề công lý và Trật tự
- Một mô thức trật tự công lý cho Việt Nam
Chương Năm: Luật pháp và Tự do
- Giữa chính quyền và công dân
- Giữa cá nhân và xã hội
Chương Sáu: Luật pháp và Đạo đức
- Đạo đức là nền tảng biện minh cho luật pháp
- Cho ước vọng tiến hóa
- Nhìn lại Á Đông và Việt Nam
Chương Bảy: Luật pháp và Kinh tế
- Luật gia và Kinh tế gia
- Chức năng luật pháp với kinh tế
- Hợp đồng và khế ước
- Quyền sở hữu tài sản
- Định chế công ty và tổ chức kinh tế
- Luật lao động
- Luật thuế khóa
- Thiết chế cơ chế kinh tế
- Quy chế Kinh Doanh Thống Nhất
- Công lý kinh tế: Từ lý tưởng thưở trước
- Về đạo đức của con người Cộng sản
- Đến chính sách kinh tế cho thực tế đương thời
- Nhìn tới ngày hôm nay
Chương Tám: Luật pháp và Quốc gia
- Hiến pháp và quốc gia
- Những nguyên tắc hiến pháp
- - Xác định và phân quyền
- - Công dân quyền
- - Bổn phận công dân
- - Tu chính hiến pháp
- - Chính thống và biện minh cho quyền hạn cưỡng chế
Chương Chín: Luật pháp và Chính trị
- Một quan điểm về chính trị
- Một bản chất chính trị phải vượt qua
- Về Hàn Phi Tử
- Chính trị dân chủ
- Định chế kỷ cương và hòa giải chính trị
- Nguyên tắc tự chế của luật pháp đối với chính trị
- Luật pháp văn minh hóa chính trị
Chương Mười: Chuyển tiếp chính trị từ Cộng Sản đến Dân Chủ - Chuyển tiếp chính trị chậm tiến
- Kinh tế chuyển hóa chính trị
- Từ Cộng Sản đến Dân Chủ bằng Pháp Luật
- Kinh nghiệm Ba Lan
Chương Mười Một: Luật pháp và Lịch sử
- Hãy nhìn lại ý nghĩa lịch sử
- Và Lịch sử Việt Nam
Chú Thích
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.09.2016 08:29:18 bởi Sun Ming>
LỜI NÓI ÐẦU
 
Bệ hạ có thể ngồi trên lưng ngựa mà chinh phục, chứ không thể cai trị thiên hạ được.
Trần Bình (tâu Hán Cao Tổ, Trung Hoa)
 
VỀ TỰA ĐỀ “DÂN CHỦ PHÁP TRỊ”
 
“Dân chủ” thuộc lãnh vực cơ chế chính trị. Dân chủ biểu hiện mức độ mà công dân của một nước trực tiếp tham dự vào tiến trình chọn lựa nhân sự và chính sách quốc gia và xã hội. Dân chủ là định hướng chính trị, thể hiện tính chất quyền lực hành xử bởi đa số tích cực của quốc dân.
Trong khi đó “Pháp trị” thuộc lãnh vực bản chất xã hội – guồng máy nào, năng động nào, giá trị nào có thực chất chủ động cá nhân, tập thể và sinh hoạt liên hệ.
Một quốc gia có thể chế chính trị dân chủ rộng mở, có luật pháp thành văn và cơ cấu thực thi; nhưng bản chất cai quản và kỷ luật của xã hội không thuộc về quy chế pháp lý mà là kinh tế, bạo lực, thần quyền, giai cấp, vô trật tự.
Do đó, một quốc gia dân chủ nhưng không nhất thiết được cai trị bởi luật pháp. Chúng ta có thể nhìn thấy hiện tượng này ở các nước như Ấn Độ, Mễ Tây Cơ… là những quốc gia có những nền chính trị dân chủ rộng mở, đa nguyên; nhưng pháp luật lại không đóng được vai trò thượng tôn và cai trị xã hội.
Một số quốc gia khác không có thể chế chính trị dân chủ, nhưng pháp luật lại đóng vai trò quan trọng và phổ cập trong mọi vận hành xã hội. Trường hợp của Nam Phi và Tân Gia Ba… có thể được xếp vào trường hợp này. Phần lớn các quốc gia tiền tiến Âu-Mỹ, Nhật Bản, Úc Đại Lợi đã tiến lên được cấp độ chính trị dân chủ và xã hội pháp trị. Phần lớn còn lại là hầu hết những quốc gia phải đối đầu với sự trộn lẫn giữa độc tài và vô pháp đang vùng vẫy để đi tìm chính trị dân chủ trước rồi đến pháp trị sau. Tiến trình dân chủ hóa chính trị có thể nhanh chóng và đột biến; nhưng pháp trị hóa xã hội là một tiến trình xây dựng cơ chế và tinh thần xã hội dân sự (civil society) vốn đòi hỏi thời gian, ổn định chính trị, phát triển kinh tế, trưởng thành về tổ chức, thăng tiến về văn hóa và dân trí.
Cuốn sách này nhấn mạnh đến khía cạnh pháp trị trong lãnh vực cơ chế và giá trị của luật pháp đối với các lý tưởng và nhu cầu quốc gia và công dân. Chính trị dân chủ được bàn luận ở đây trong bối cảnh tương quan đến pháp luật. Dân chủ mà chúng tôi nói đến là một thể chế chính trị cộng hòa, rộng mở, đa dạng, mang bản chất cấp tiến và khách quan dưới sự cai quản của cơ chế pháp luật. Dân chủ, từ đó, chỉ là một bản chất quy chế chính trị do luật pháp xác định.
TẠI SAO VIẾT?
 
Cuốn sách này được bắt đầu viết vào tháng Sáu, 1990, khi tôi đang ở California và chuẩn bị lên đường đi Việt Nam. Tôi đã hủy bỏ chuyến đi để ở nhà nghiên cứu và viết. Có nhiều lý do. Tôi nhớ lại hồi tháng Sáu, 1988, khi tôi đến thăm gia đình, bà con ở vùng kinh tế mới Đa Tẻ, Đa Kộ, Đa Hoại, Lâm Đồng, trong một đêm tối ngồi nói chuyện chơi với bà con bên gốc cây mít, có người hỏi tôi làm thế nào để Việt Nam được như Mỹ, như Nhật? Tôi trả lời, đại ý rằng, Việt Nam đang bị giam hãm bởi hai trở lực chính: Đó là ý thức hệ và sự gia tăng dân số quá nhanh. Người đó hỏi tiếp là riêng về phần tôi sẽ giúp được gì cho Việt Nam? Tôi trả lời rằng về khả năng vật chất thì tôi chỉ giúp nổi gia đình; còn để về nước đóng góp thì chưa có được vì nhiều lý do. Tôi hỏi lại bà con là tôi nên làm gì? Có người trả lời rằng chính tôi phải biết điều đó. Tôi cảm thấy một áp lực mạnh của tình trạng đất nước và hoàn cảnh bà con, bạn bè. Phần lớn bạn bè chỉ trên dưới ba mươi mà có năm, sáu đứa con. Có thằng bạn, có tới bảy đứa, nheo nhóc, ốm yếu. Tôi hỏi đến thì được trả lời đại ý rằng vì đời sống khổ quá, đẻ nhiều con để “làm của.” Đứa nào cũng nghèo, không có gạo mà ăn nhưng suốt ngày hút thuốc lá, uống rượu say sưa, mê mải số đề, cầu cơ, bói toán. Tôi thấy cả một tương lai rất là bi đát cho Việt Nam nếu chiều hướng này không được thay đổi.
Khi nghiên cứu các vấn đề luật pháp ở Việt Nam hiện nay thì tôi thấy từ nhân sự, cơ chế cho đến văn kiện và nội dung pháp lý còn quá phôi thai. Tôi chia sẻ những nỗi khó khăn lớn của những người trí thức, những luật gia đang cố gắng vẫy vùng trong giới hạn chật hẹp của biên giới chính trị để đóng góp cho một sự chuyển mình đến một ý thức và giá trị pháp chế của lý trí, nhân bản và khách quan.
Tôi tự hỏi lại chính mình có thể giúp được gì cho quê hương và dân tộc. Tôi nghĩ là mỗi người phải đóng góp ít nhiều tích cực cho sự chuyển hướng chung. Từ đó, tôi chuẩn bị viết sách. Cuốn sách này là kết quả đầu tiên của nỗ lực đóng góp cho Việt Nam – một tổ quốc không chỉ là trừu tượng, mà là một thực tế quê nghèo của bà con, bạn bè, thân nhân, của đồng bào, của kỷ niệm mà tình cảm không nguôi ngoai được.
 
CẢM TẠ
 
Ở đây tôi xin cảm tạ sự giúp đỡ, khuyến khích của nhiều người. Người đầu tiên và vợ tôi, Trần Hồng Vân, đã khuyến khích, chịu đựng trong suốt những năm trường luật, đã sửa dấu “hỏi”, “ngã” (mà tôi không tài nào viết đúng được); của Kỹ sư Trần Mạnh Hòa đã giúp tôi về phần kỹ thuật điện toán cũng như đề nghị sử dụng một số chữ cho thích hợp; của Tiến sĩ Ngô Văn Tân đã vui vẻ cho mượn một số sách luật khoa và chính trị; của Tiến sĩ Lê Hiếu Liêm (Lý Khôi Việt) đã đọc bản thảo, phê bình, khuyến khích; của anh Văn Hưng, người bạn chân tình đã không ngừng khuyến khích; của anh Lê Bá Sanh, chủ biên tạp chí Sài Gòn Nhỏ ở San Jose cũng như anh Trần Minh đã giúp đỡ phần kỹ thuật; của Tiến sĩ Nguyễn Tâm trong suốt thời gian cùng làm việc đã quản trị văn phòng luật sự cho tôi có thì giờ đi thư viện để viết; cũng như của Thi sĩ Trần Nghi Hoàng đã khuyến khích; Giáo sư Tạ Văn Tài cho mượn sách nghiên cứu luật và đặt mua sách lịch sử; của Luật sư Nguyễn Quốc Lân đã cho mượn các sách luật Việt Nam, chị Hồ Thị Quảng, giáo sư Trần Kiêm Đoàn (Thầy giáo quốc văn của tôi ở Trường Trung học Nguyễn Hoàng, Quảng Trị), của Giáo sư Nguyễn Châu đã cố vấn về từ ngữ. Anh David Nguyên Trần, chị Bích Quyên, và nhiều bạn bè thân hữu đã khuyến khích tinh thần.
Tôi cũng nghĩ đến nước Mỹ với nhiều cảm tình vì đã cho tôi nhiều cơ hội học hỏi, nhiều “khoảng trống” để trưởng thành, nhiều rộng lượng để tự sửa chữa. Tôi mong sao cho các thế hệ kế tiếp của Việt Nam được quốc gia và xã hội cho nhiều cơ hội, khoảng trống và rộng lượng để được trưởng thành và tiến hóa; mà trong đó, mỗi người Việt Nam được cơ hội và điều kiện để phát triển tối đa tiềm năng của cá nhân – với quốc gia và xã hội là cơ chế cung cấp bối cảnh và phương tiện cho tất cả công dân.
Tôi xin dâng cuốn sách này lên bàn thờ lăng cố Lê Mậu Doãn, người khai sáng năm làng Bích La ở Quảng Trị từ mấy thế kỷ trước, và ông nội tôi, Nguyễn Hữu Địch, một anh hùng đầy đức độ, bản lãnh và tích cực, ông “Bộ” của làng với vai trò hòa giải, châm cứu, khuôn trưởng Chùa, cúng tế lăng tẩm cho đến những ngày cuối cùng của cuộc đời.  
Và trên hết, với tất cả chân tình, tôi xin dâng hiến nội dung sách này cho Tổ quốc và dân tộc Việt Nam.
San Jose, Califonia
Tháng Mười, 1991
NHL

 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.09.2016 08:31:07 bởi Sun Ming>
CHƯƠNG MT
 
Ý NGHĨA VÀ BỐI CẢNH LÝ LUẬN
Out of the timber so crooked as that from which man is made nothing entirely straight can be built. (Từ khúc gỗ cong vẹo mà con người đã được tạo nên không có gì thẳng thắn có thể kiến thiết được.) Immanuel Kant (1784)
 
The rational reorganization of society would put an end to spiritual and intellectual confusion, the reign of prejudice and superstition, blind obedience to unexamined dogmas, and the stupidities and cruelties of the oppressive regimes which such intellectual darkness bred and promoted. (Sự xây dựng lại xã hội trên căn bản lý trí sẽ chấm dứt tình trạng nhầm lẫn và loạn động của đời sống tinh thần và trí thức cùng với thời đại thành kiến và dị đoan, mù quáng tin theo những chủ nghĩa vô lý, và sự ngu xuẩn và bạo tàn của những chế độ chính trị từ bóng tối của thảm nạn trí thức trên.) Isaiah Berlin (1990)
 
Ở cuối thế kỷ XX này, ở các xã hội chủ tiền tiến, người dân đã phần lớn quen với từ ngữ, ý niệm, bối cảnh và sự ràng buộc, giới hạn của luật pháp. Luật pháp là cơ chế cai quản con người, gia đình, xã hội, quốc gia và thế giới. Dĩ nhiên không phải cho đến giờ này con người mới thấy được nhu cầu của luật pháp nếu xã hội muốn tồn tại như là một tập thể có trật tự và có chủ đích. Ngay Việt Nam chúng ta, từ thuở lập quốc vào đầu thế kỷ thứ XV Lê Lợi đã tuyên bố, “Từ thuở xa xưa, muốn cai quản quốc gia phải có pháp luật. Không có luật thì nước sẽ loạn”(1). Tuy nhiên với bối cảnh lịch sử và điều kiện xã hội cũng như bản chất văn hóa chính trị của Việt Nam thời đó, dân tộc Việt chưa bao giờ thực sự sống trong luật pháp, cảm nhận và được điều kiện hóa bởi luật pháp như là những điều kiện và tiêu chuẩn giới hạn đã được nội tâm hóa để hành xử và sinh sống cho cá nhân cũng như đối với xã hội và quốc gia.
 
Một quốc gia muốn có một căn bản pháp trị có một nền tảng giá trị tập thể để công dân công nhận ngôi vị và chức năng của luật pháp mà họ phải bị cai quản. Hơn nữa công nhận luật pháp bởi ý thức còn chưa đủ. Công dân một nước phải công nhận luật pháp như là những tiêu chuẩn, khuôn thức giới hạn tự do cá nhân. Như theo The Duke of Argryll của Anh quốc viết vào giữa thế kỷ thứ XIX:
 
Cả thế giới bao quanh chúng ta và trong mỗi con người đều được cai quản bởi Luật. Tinh thần chúng ta bị chi phối bởi Luật – cho dù tinh thần con người rất là linh thiêng, vô hình và rất tự do. Như trong đêm tối, tinh thần cảm nhận được những bức tường giới hạn mọi hướng đi mà không cần suy nghĩ. Cảm tính này đang lớn lên trong nội tại của con người. Nó lớn lên với kiến thức; nó là niềm hạnh phúc, là phần thưởng, là mục đích tối hậu cho khoa học.(2)
 
Luật pháp là “dấu ấn của văn hóa,” như Trần Bạch Đằng viết gần đây(3). Luật pháp hiện thực hóa ý chí quốc gia (nation-state), là sản phẩm của lý trí trong tiến trình văn minh nhân loại. Nó đánh dấu, và biểu trưng cho mức độ trưởng thành của một đơn vị chính trị, dân tộc, quần chúng. Luật pháp trong các xã hội dân chủ pháp trị không còn là công cụ của kẻ cai trị. Luật pháp là yếu tố cần thiết cho sự ổn định và phát triển quốc gia. Trong một thể chế dân chủ, luật pháp là những quy tắc, điều lệ, khuôn phép, tiêu chuẩn được thiết lập từ sự đồng thuận của đa số công dân qua cơ chế chính trị.
 
Cho nên, khi nói tới luật, ở đây chúng ta chỉ nói đến “luật pháp” (positive law) – “phép nhà nước đặt ra… bắt buộc mọi người tuân theo.”(4) Luật bao gồm nhiều phạm trù. Luật tự nhiên – những quy tắc liên hệ trật tự, “ảnh hưởng tự nhiên của sự vật này đối với sự vật khác.”(5) Như Charles de Montesquieu viết, “mọi thứ đều có luật của nó. Trời đất có luật riêng, vật thể có luật riêng… và con người có luật con người.”(6)
 
Luật con người mà Montesquieu nói đến là luật thành văn. Marcus Cicero của Ý Đại Lợi, trước Tây lịch đã lên tiếng ca ngợi Luật là lý trí cao nhất đã nằm sẵn trong tự nhiên muôn vật. Theo Cicero, “Có gì linh thiêng trong trời đất hơn là lý trí? Lý trí cao cả và quý hóa nhất, hiện diện trong con người và Thượng đế vì tài sản chung giữa con người và Thượng đế là lý trí”. Bởi vì luật pháp là sản phẩm của lý trí, nên “luật là sức mạnh tự nhiên gầy dựng bởi Thượng đế”, vẫn theo Ciceron “qua sự sáng tạo con người có khả năng tư duy.” (7) Thomas Aquinas, một triết gia luật học nổi tiếng vào thế kỷ thứ XIII ở Ý Đại Lợi, cũng đồng ý, cho rằng, “Nguyên tắc thứ nhất của lý trí thực tiễn là cứu cánh hạnh phúc cho con người.” (8) Luật pháp vì phục vụ cá nhân và xã hội là chiếc cầu đưa con người tới cơ hội của cuộc đời, mà trong đó cá nhân được phát huy tối đa tiềm năng của mình. Aristotle của 300 năm trước Tây lịch, Hy Lạp, cho rằng, “chủ ý của nhà làm luật là hướng dẫn con người đến với đức hạnh.” (9) Những nhà làm luật và những triết gia luật học, theo triết gia Eugene Ehrlich của Đức, là, “những vĩ nhân cao cả nhất của nhân loại.” (10)
 
Nhưng luật pháp là gì? Trên căn bản lịch sử lâu dài, ngay cả một nước chậm tiến như Việt Nam, cũng đã có một nguồn gốc luật pháp cổ xưa, từ thuở mới giành được độc lập từ Trung Hoa. Tuy vậy, Việt Nam và Tây Âu vẫn chưa có một định nghĩa đích xác cho danh từ Luật (Law). Lịch sử triết luật Tây phương đã cống hiến rất nhiều trường phái về luật học (schools of jurisprudence). Chủ thuyết sử luật, xã hội học, quyền lợi, luật tự nhiên, luật lý tưởng, thuần lý thuyết, phân tích học, và luật học thực dụng. Nói theo H. Hart, một luật gia nổi danh của Anh quốc cận đại, thì, “không có gì có thể vắn, gọn, để cung cấp một định nghĩa thỏa mãn được câu hỏi trên.” (11)
 
Chúng ta có thể tìm định nghĩa bằng cách đặt câu hỏi trên bình diện khác. Tại sao phải có luật pháp? Câu trả lời cho câu hỏi này sẽ mở rộng hơn, cung cấp nhiều bối cảnh và ý nghĩa, tạo nội dung phong phú vì mỗi câu trả lời phải đúng vào hoàn cảnh của thời gian xã hội. Từ đó, chúng ta sẽ có một rừng định nghĩa đầy màu sắc, đặc tính, hỗ tương cho nhau.
“Luật pháp là gì?” tìm ý nghĩa ngôn ngữ, cho người tiếp nhận một khái niệm trừu tượng. Trong khi đó “tại sao” nhấn mạnh đến chức năng tính (functionalism) của luật pháp. Từ câu hỏi “tại sao” chúng ta phải hỏi tiếp những câu hỏi khác, chi tiết hơn. Điều kiện và mục đích của pháp luật? Giới hạn, biên giới và những yếu tố cần thiết cho hiệu năng thực thi luật pháp? Thời gian và không gian cũng như là cơ chế, cơ cấu và giá trị thời đại? Mức độ ước vọng của đơn vị công dân chịu chấp nhận giá trị luật pháp và yếu tính cưỡng chế?
Để khai phá rộng hơn, chúng ta mở lớn những trường phái lý luận Tây phương để đặt sự phân tích luật pháp trong bối cảnh thích hợp. Có hai trường phái tượng trưng trong lịch sử luật học, cố gắng xếp đặt vị thế và ý nghĩa của luật pháp cho thích hợp. Trường phái thứ nhất là “tiến hóa lý trí luận” (evolutionary rationalism) và “kiến trúc lý trí luận” (constructivist rationalism) (12).
 
Tiến hóa luận cho rằng lý trí là sản phẩm của tiến trình biến hóa mà trong đó cơ chế xã hội được nảy sinh. Trong khi đó kiến trúc luận, phát xuất từ triết học Descartes, tin rằng lý trí là một đơn vị độc lập có khả năng xếp đặt và chủ động xã hội theo suy nghĩ của mình. Nói một cách khác hơn, tiến hóa luận chủ trương rằng sản phẩm của lý trí, bao gồm luật pháp, là kết quả của tiến trình biến hóa nhân loại. Luật pháp phát xuất một cách tự nhiên từ nhu cầu của hoàn cảnh. Tức là, nó là một sự tự xuất, tự phát như cỏ hoa dại mọc trên khoảng đất trống có đầy đủ yếu tố thực vật cần thiết. Luật pháp là sự chuyển mình của lý trí để đáp ứng và thỏa mãn dần dần nhu cầu xã hội; luật pháp không phải là sản phẩm từ sự chuẩn bị, thiết kế - mà là tác phẩm của những phản ứng và nó luôn thay đổi theo thời gian và không gian. Trái lại kiến trúc luận cho rằng những cấu trúc, cơ chế xã hội đã được chủ động và thiết kế bởi lý trí. Con người, với đầu óc dự tưởng đã bắt tay xây dựng thế giới khách quan theo một mô hình đã được họa sẵn. Luật pháp, từ đó được thiết kế để chuẩn bị cho bối cảnh và nhu cầu tương lai.  
Phạm trù lý thuyết của tiến hóa luận được phác họa như sau: Thực tế của hiện hữu, của vũ trụ xác nhận bản chất phức tạp và muôn mặt nhưng vẫn đồng nhất trong một mẫu số chung nằm suốt trong tất cả các hiện tượng; một nội lực căn bản điều động tất cả, trói buộc chung vào một hệ thống cơ bản và có cứu cánh; rằng một nguyên tắc chung chi phối tất cả những chi tiết ngổn ngang, thể hiện qua muôn vạn hình thức hiện hữu. Đứng trước trường phái và cơ sở lý luận này, con người chuẩn bị cho sự nối tiếp của tiến hóa hơn là cách mạng bất chợt; chấp nhận sự thay đổi dần dần, từng giai đoạn, từng bước cho cơ chế và cơ cấu tương đồng với đổi thay giá trị và tình cảm – hơn là chủ động đổi thay nhảy vọt. Luật pháp chia sẻ và hòa sắc với bản chất của giai đoạn với những điều kiện và khó khăn gặp phải. Lý luận này chủ trương xã hội nào thì luật pháp đó.
Đối nghịch với trường phái trên, kiến trúc luận không công nhận một mẫu số chung cho tất cả các hiện tượng của hiện hữu. Sự khác biệt của hiện tượng phát xuất từ sự khác biệt của thiết kế và phát triển. Xã hội là kết quả của chủ động do lý trí dẫn đầu. Hay nói cách khác, chỉ có ý thức tích cực của con người, sử dụng tối đa tiềm năng của trí thức mới thay đổi được hiện tại và kiểm soát được tương lai.
Tiến hóa luận nhấn mạnh đến bản chất đáp ứng của con người. Trước hết, con người nhận ra những khiếm khuyết chung quanh mình. Chúng ta nỗ lực, theo nhu cầu của môi trường sống, trong giới hạn của thời gian và không gian, thay đổi chính mình và cơ chế thích ứng với nhu cầu. Một cơ chế quan trọng mà nhân loại đã kiến tạo là luật pháp. Luật pháp, từ đó, là công cụ để đáp ứng, là khí cụ để giải quyết vấn đề, là phương tiện để đạt đến một dự phóng lý tưởng. Luật pháp là phương tiện cho một cứu cánh xã hội. Sự điều hành của luật pháp nằm trong chiều hướng có mục đích và bị giới hạn bởi bản chất của mục đích đó. Luật là giải pháp cho một vấn đề. Giải pháp này phản ảnh bản sắc của điều kiện và nhu cầu mà nó bị chi phối. Luật pháp có tính chất nhìn lại quá khứ - nếu lý luận trong phương pháp này. Luật pháp được kiến tạo nhằm tu bổ cái khiếm khuyết của hiện tại và quá khứ hơn là nhằm chuẩn bị hiện thực hóa một mô hình của trí thức cho tương lai. Cơ chế luật pháp là sản phẩm của nhu cầu cải cách để đáp ứng với tính khẩn cấp của ngày hôm nay. Luật pháp mang bản chất thực dụng, là hoa trái của hoàn cảnh thực tế, hơn là sản phẩm của dự tưởng thuần trí thức. Bản chất của luật pháp là cưỡng chế, vì vậy, dè dặt phải được nhấn mạnh khi mưu toan đặt để một guồng máy cưỡng chế cho tương lai. Tương lai không thể biết đến một cách chính xác; do đó, luật pháp phải thử nghiệm hiện tại trước.
Ý nghĩa của luật pháp chỉ có thể giải thích trong bối cảnh và điều kiện xã hội. Luật pháp phát sinh vì con người, của số đông, của tương quan, của năng động quần chúng, của tập thể. Con người ở đây phải được giả định trên cái thớt của tiền đề tiêu cực: Bản chất của con người là ích kỷ và loạn động, năng lực của xã hội là mâu thuẫn và tranh chấp. Nhu cầu từ đó xác định: Con người phải được giáo hóa và cai quản; xã hội phải được thiết kế trên một trật tự chấp nhận được.
Nhưng luật pháp cũng được cấu tạo trên viễn kiến rằng những mẫu số chung cho động cơ con người và cấu trúc xã hội sẽ vẫn còn tiếp tục trong tương lai. Xã hội sẽ phát triển theo nhiều phân nhánh khả thi; nhưng những giả định về màu sắc tiến hóa có thể được hình dung và tiên đoán. Từ đó, tiến hóa luận dựa trên viễn kiến đồng nhất giữa hiện tại và tương lai, sử dụng lý trí để kiến tạo guồng máy cai quản điều hướng con đường đi tới của xã hội. Luật kinh doanh, hợp đồng khế ước vẫn phải bị chi phối bởi những giả định về động cơ tư lợi của cá nhân liên hệ. Luật hiến pháp xây dựng trên sự chấp nhận căn bản rằng chính quyền sẽ vẫn còn đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tập thể và cá nhân. Nói theo Morris R. Cohen, một luật gia Hoa Kỳ, thì luật pháp tự nó cũng chứa đựng nhiều bất công và bất tiện, nhưng con người thà rằng bị đau khổ vì luật pháp còn hơn là đối chọi với tương lai trong sự bất thường của đời sống bất quy tắc(13).
 
Dĩ nhiên luật pháp không cung cấp được hết tất cả những giải đáp cho tương lai. Luật pháp chỉ cho phép con người dự phóng về chặng đường đi tới với một mức độ cao nhất của sự ổn định về lề lối khách quan mà xã hội mong mỏi con người phải hành động trên căn bản lý trí. Đối diện với lý trí là phạm trù tự do của năng lực ý chí cá nhân và những yếu tố bất thường trong bối cảnh tập thể. Do đó, sự gặp gỡ giữa tiến hóa luận và kiến trúc luận là một hợp đề giữa khả thể (possibility) và khả tri (predictability). Tiến hóa luận đặt nặng giá trị về thực tế của hiện tại, trong khi kiến trúc luận nhấn mạnh đến dự phóng tương lai. Cả hai đều cho chúng ta một nội dung về ý nghĩa: Luật pháp là những định chế kiến tạo bởi lý trí nhằm cai quản vận hành và tương quan giữa cá nhân đối với xã hội, giữa hiện tại đối với tương lai, giữa đồng nhất lý trí đối với tự do ý chí, giữa khả thể đối với khả tri.
Luật pháp còn phải giải quyết hai vế của biện chứng chủ thể và khách quan. Chủ thể là ước vọng của cá nhân; khách quan là điều kiện vật thể và tinh thần cộng đồng. Luật pháp của các quốc gia chậm tiến là sự áp đặt khách quan để hòng giáo hóa chủ thể thấp kém và bất thường. Trong khi đó, ở các quốc gia pháp trị tiền tiến, luật pháp là sự thể hiện ý chí và ước vọng chủ quan của số đông đối với bối cảnh khách quan. Lịch sử pháp lý của Âu Mỹ là tiến trình đi từ áp đặt khách quan của giai tầng thống trị lên đến giai đoạn thể hiện ước vọng chủ quan trong chính trị dân chủ. Tuy nhiên, mỗi thời đại chứa đựng một giá trị chủ thể cho đầu mối cưỡng chế xã hội. Mâu thuẫn giữa các giai tầng tập thể nhằm nắm được cơ chế áp đặt giá trị chủ quan là bản chất của chính trị cách mạng đồng thời là đầu mối của chiến tranh, thay đổi và tiến hóa. Vấn đề là biện minh của giá trị chủ quan. Từ nỗ lực đi tìm biện minh con người đã khai sinh những ý niệm và chủ thuyết về tính chính thống (legitimacy), chính đáng (propriety) và chính lý (rationality). Luật pháp là cơ chế chính lý, mang giá trị chính thống, nhằm thỏa mãn nhu cầu tổ chức của xã hội một cách chính đáng.
Một triết gia đã biện giải chặt chẽ căn bản của luận đề trên là Immanuel Kant. Theo Kant, ý chí cá nhân là quan năng của những nguyên tắc thực dụng, là đầu mối của những chọn lựa. Tác động chọn lựa là của tự do ý lực (free-will) quyết định bởi lý trí. Kant phân biệt tác động tự do ý lực của con người khác với thú vật vì bản chất quyết định hành động của con người vốn mang bản chất độc lập của trí thức và ý lực vượt ra khỏi phạm trù của bản năng. Khi ý lực cá nhân trở nên khả năng lý trí toàn điện để trở thành thực dụng đối với đời sống thì con người đã đạt được tự do trong bản chất tích cực. Nhưng ý lực và tự do cá nhân là vấn đề chủ thể không nhất thiết đồng thuận với phạm trù khách quan và phổ cập (universal), cho nên, lý trí con người chỉ có khả năng kiến tạo quy luật thuần mang tính cưỡng bách và cấm đoán. Kant gọi những quy luật này là quy tắc tự do – khác biệt với quy tắc thiên nhiên. Theo Kant, quy tắc tự do là quy luật đạo đức. Khi quy luật đạo đức chỉ có chủ đích và khả năng cai quản hành vi khách quan thì những quy luật này là pháp chế. Nếu pháp chế mang chức năng cai quản nguyên tắc nội tâm của hành vi thì nó là đạo đức (morality). Sự đồng thuận giữa hành vi và pháp lý là pháp luật; giữa hành vi và đạo đức là luân lý (ethics)(14).
 
Nỗ lực của luật pháp là sự đi tìm đồng thuận giữa hai phạm trù chủ quan và phổ cập. Hòa giải được hai phạm trù này là sự kết hợp giữa cá nhân và hoàn cảnh khách quan.
Chiều hướng tiến hóa của cá nhân, trong truyền thống triết học Tây phương, là nỗ lực vươn về phổ cập tính, hòa nhập chính mình trong mẫu số chung của xã hội để kiến tạo trật tự tập thể. Luật pháp là quy tắc chủ định để duy trì đồng nhất tính trên phạm trù hành vi và tác động khách quan bắt buộc cá nhân phải đi theo dòng nước chính của số đông và có thế lực nhất. Thế nhưng, biện minh của thế lực xã hội để áp đặt giá trị chủ quan của mình bằng sự phổ cập hóa đã từng đặt nền móng chính thống trên ý niệm luật tự nhiên. Luật tự nhiên là năng động nguyên tắc của tạo hóa tạo nền tảng đầu tiên về quy luật vận hành của đời sống nội tâm và thế giới vật thể. Luật tự nhiên phát xuất từ nhiều nguồn gốc: từ tâm hồn, từ suy luận thông thường và từ nỗ lực giải thích những căn bản hiện tượng mà khoa học chưa có khả năng trả lời. Nhưng dù bắt đầu bằng nguồn gốc nào, biện minh tính của luật tự nhiên vẫn là sáng tạo từ lý trí chủ quan của thành phần năng động và khả năng cao của xã hội và văn minh liên hệ. Từ đó, cái gọi là phổ cập tính mà luật pháp muốn con người vươn tới là giá trị và quan niệm chủ quan về luật tự nhiên của một thành phần, không nhất thiết là của đa số quần chúng trong một đơn vị xã hội.  
Nhưng câu hỏi có thể nêu lên ở đây: Nếu đa số im lặng về giá trị chủ quan thì tiếng nói chủ động của thiểu số có mang biện minh chính thống của phổ cập tính hay không? Hãy nhìn vào triết học chính trị của Khổng Tử về quan niệm “thiên tử”; hãy nhìn về triết học Platon với “minh triết quân vương” (philosopher-king). Thế kỷ XX đã chứng kiến làn sóng phế bỏ biện minh phổ cập và sử tính của truyền thống này với triết học chính trị Marxism. Tuy nhiên, khuyết điểm lớn của Marxism là tự bản chất chủ nghĩa này không vươn ra khỏi bản chất duy phản kháng của thế kỷ XIX. Đến cuối thế kỷ XX này thì Marxism chỉ còn lại là một vết tích lớn tang thương – nó không những đã không kiến tạo được giá trị cơ chế nào vĩnh cửu, ngược lại, Marxism càng củng cố thêm giá trị phổ cập của truyền thống pháp lý Tây phương.
 
Luật học, trong chiều hướng phân tích này, bao gồm sự đi tìm giá trị năng động của thời đại. Năng động này là sự tranh chấp và chuyển hóa ảnh hưởng cả về tầm mức lẫn bản chất nội dung của phổ cập tính. Phạm trù luật học này là triết học tích cực chứa chấp trong những tiêu chuẩn và quy luật cưỡng bách của quốc gia đối với công dân. Luật pháp qui định lề lối và bản chất kỷ luật của xã hội trong bối cảnh chung của luân lý, tập tục và sắc thái tâm tính của cá nhân và tập thể.
Luật pháp là cơ chế thể hiện ý lực tích cực về những phạm trù hữu hình và hiển nhiên. Nó bao gồm những mệnh lệnh cấm cản đến những nguyên tắc quyền hạn và tiêu chuẩn. Luật tài sản chẳng hạn thể hiện quyền lợi của giai tầng giàu có, luật chính trị thể hiện quyền lợi của thành phần thế lực. Nói như Edward A. Parry thì, “giai tầng giàu có thì có cả đống sách luật soạn ra để bảo vệ quyền lợi của họ; nhưng thành phần nghèo khó, vốn là số đông, thì luật pháp chẳng cho họ bao nhiêu” (15). Đây là hệ quả đương nhiên của luật thành văn (positive law) chỉ nhằm giải quyết những vấn đề hiện tại mà không chứa đựng một nội dung tu chính và cải cách nhắm hướng về tương lai. Đây là vấn nạn lớn mà Marxism cố gắng vùng vẫy thoát ra khỏi để đi tìm một cơ chế tích cực tổng quan và phổ cập mà thể hiện được quyền lợi và giá trị của thành phần nghèo khó. Marxism muốn biến thể năng động tập thể để thay đổi bản chất phổ cập tính mà truyền thống pháp lý Tây Âu cũng như của cả thế giới bằng cách thử thách tư cách và đạo đức lịch sử cũng như biện minh tính của luật thành văn và cơ chế của nó - vì theo Marx, tất cả chỉ là sản phẩm của thượng tầng văn hóa của giai cấp chủ nhân nắm trong tay cơ hội và phương tiện sản xuất.
 
Nhưng Marxism không kiến tạo được một nền tảng giá trị có tính cách vượt giai cấp, phi thời gian và không gian để thay thế truyền thống luật pháp Tây Âu và luật tự nhiên. Luận đề rốt ráo của nội dung triết luận mà Marxism phải trả lời là gốc rễ năng động của giai cấp vô sản. Marxism đã đúng khi nhấn mạnh đến giá trị tự do tích cực của cơ hội đến từ sự vượt thắng của cá nhân đối với hoàn cảnh khách quan. Nó đòi hỏi một giải pháp cách mạng toàn diện nhằm cung cấp một bối cảnh tổ chức và xã hội thoát ra khỏi những phạm trù cơ chế và giá trị bất công, vô lý. Marxism là đặc trưng của kiến trúc lý trí luận – một nỗ lực kiến tạo tương lai bằng mô hình tri thức vượt qua truyền thống, điều kiện và bối cảnh hiện hành. Cái khó khăn, cũng như lịch sử đã chứng nghiệm sự sụp đổ của Marxism, bắt nguồn từ thực chất rằng gốc rễ năng động của đa số quần chúng không phải là sự khao khát sống trong xã hội vô giai cấp hay sự vắng mặt của chính phủ và luật pháp. Đó là chưa kể đến sự thật kinh hoàng của giai đoạn chuyển tiếp “quá độ” mà những người Cộng sản cực đoan theo đuổi như là một biện minh cho mô hình viễn tượng. Giai đoạn “quá độ” là giai đoạn phủ nhận luật pháp bằng chính trị tiêu cực của bạo lực, đảng trị và tuyên truyền. Marxism thể hiện giá trị chủ động tổ chức trên giá trị cưỡng chế tuyệt đối. Lịch sử của giai đoạn “quá độ” này là thể trạng phủ định giá trị quy tắc để đi tìm cơ chế vượt qua quy tắc – một công trình sáng tạo và thể hiện đời sống đạo đức nội tâm trên sự tái phối trí toàn diện cơ cấu xã hội và kinh tế.
Marxism là một tham vọng kiến tạo lớn trước tấm thảm kịch của văn minh và lịch sử nhân loại đang ở vào giai đoạn chuyển tiếp nhanh chóng mà giá trị và cơ chế luật pháp Tây phương chưa thể đáp ứng kịp. Đây là một triết học tích cực nhằm hóa giải bản chất lưỡng nghi và mâu thuẫn giữa ước vọng và thực tế, giữa bản năng và giới hạn của văn minh. Tuy nhiên một sự thiếu sót lớn của triết học Marxism là một tiền đề giản dị và sát với thực tế hơn: Năng động của người nghèo khổ và giai cấp vô sản dung chứa tiềm ẩn ước vọng và giá trị tổ chức của tầng lớp trung lưu tư sản. Họ chỉ muốn một sự chuyển hóa xã hội và kinh tế mà không phủ nhận nội dung ước vọng trung lưu tư sản vốn mang bản chất phổ cập cho toàn thể nhân loại. Ở đây có nghĩa là một tiến trình cách mạng từ những căn bản có sẵn để tiến đến một đời sống kinh tế vật chất tương đối, một khoảng trống tự do tích cực nhưng vừa phải, và một cơ chế xã hội cung cấp cơ hội tiến thân cho những ai chịu khó cố gắng. Quần chúng muôn đời vẫn không thể được thần thánh hóa một cách nhảy vọt được; cho nên, một xã hội mà trong đó chính quyền và luật pháp không cần đến nữa là một viễn ảnh không thực.
Khi còn nói đến luật pháp là chúng ta phải nói đến cơ chế thành văn cơ cấu thực thi nội dung và tinh thần ngôn ngữ đã được kiến tạo. Hai thực thể không thể thiếu vắng trong luật học là chính quyền và công dân. Bản chất của luật pháp là tính cưỡng chế bằng quy tắc. Vượt ra khỏi những phạm trù thiết yếu này là vượt ra khỏi khuôn khổ pháp luật mà chúng ta muốn nói đến ở đây. Nghiên cứu luật pháp là nỗ lực phân tích để thấu hiểu tương quan và thực tế giữa công dân đối với chính quyền qua môi giới luật pháp. Người học luật và làm luật đem phạm trù lý tưởng, triết học vào bối cảnh trong thực tế lý luận này. Nghĩa là, đứng trên những gì có sẵn và những gì có thể, luật pháp là sự thể hiện ước vọng tự do bằng sự tự cai quản chính mình để hòng vượt ra khỏi tình trạng bị cai trị bởi cá nhân, bạo lực hay là trạng thái tinh thần tiêu cực, sợ hãi hay loạn động và ngu xuẩn.
 
BỐI CẢNH VIỆT NAM
 
Đối diện với Việt Nam ở thập niên cuối thế kỷ XX này là cảm nhận chua xót trước sự phí phạm khủng khiếp của thảm trạng thiếu tổ chức đối với một dân tộc thông minh, năng động và cầu tiến. Nhìn vào Việt Nam, người quan sát có được ưu thế nhờ có một tấm gương lớn kiểu mẫu từ những quốc gia pháp trị tiền tiến. Chính những người Việt Nam phải tự đặt câu hỏi cho chính mình về hiện trạng quá lạc hậu, quá thấp kém của nước nhà trong cộng đồng nhân loại vốn đã tiến quá xa. Đây là bối cảnh suy tư chứa đựng những khuôn khổ lý luận nhiều mâu thuẫn cho người luật gia. Một đằng là đem phạm trù lý thuyết, kinh nghiệm và mô thức tổ chức quốc tế về với hiện trạng Việt Nam. Đằng kia là sự thấu hiểu, chia sẻ và kiên nhẫn được với đống bùn lầy rối bời của con người và xã hội dân tộc. Đối với đời sống tư duy của các luật gia Việt Nam, họ phải cố gắng vươn mình đào sâu vào nội dung và mức độ tiền tiến của triết học và lý luận Tây phương về giá trị và tổ chức pháp luật; đồng thời họ phải truyền đạt được sự hiểu biết thích ứng với con số không to lớn của trình độ pháp trị ở xã hội mình. Con người Việt Nam quá thông minh để chấp nhận ấu trĩ nhưng ấu trĩ của thực tế là điều không thể chối cãi được. Đây là khoảng cách to lớn trong đời sống tư duy và nội tâm của các chuyên gia và trí thức Việt muốn đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Cái hố sâu ngăn cách giữa ước vọng và thực tế bao trùm trong thực chất tâm tính nóng nảy, khinh mạn, coi thường những gì của người Việt của một số lớn những thành phần Việt Nam có cơ hội tiếp xúc với bên ngoài. Cái khó là xây đắp một tinh thần độ lượng, thông cảm, bình thản, chấp nhận tương đối tính và kiên nhẫn để đối diện với thực trạng quá nhiều nan giải.
Luật pháp đòi hỏi nhiều phẩm chất từ con người hơn là chính trị. Chính trị chỉ là vấn đề vận dụng quyền lực, đòi hỏi ít sinh khí trí thức, mang nhiều cảm xúc và có tính cách phân chia và kéo dài sự mâu thuẫn giữa các cấu tầng xã hội. Trong khi đó luật pháp đòi hỏi văn minh tính cao độ từ ý thức công dân để cơ chế luật pháp có thể cầm được cán cân tôn trọng và tín cẩn từ các đối tượng liên hệ. Luật pháp tự nó là một tinh thần sống được thể hiện qua cơ chế tổ chức lý trí mà thực dụng của cán cân công lý không chỉ ở sức mạnh cưỡng chế mà còn là khả năng chinh phục bằng lẽ phải. Trường hợp hiện thực hóa lý thuyết luật pháp là cả một hành trình lớn mà người luật gia phải thấy rằng nếu chưa có căn bản văn hóa thích hợp thì sự kiến tạo xã hội pháp trị còn đòi hỏi vượt qua nhiều khó khăn.  
Một phiên tòa dân sự ở Lâm Đồng năm 1989 liên quan đến một vấn đề tranh tụng đất đai giữa hai gia đình nông dân là một thí dụ. Vì quy tắc bằng chứng, kỷ luật tòa án, nghi thức, thủ tục tố tụng chưa được thiết kế rõ ràng và quen thuộc hóa, phiên tòa đã trở nên đấu trường vô trật tự giữa hai phe, đến nỗi vị chánh án phải bỏ chạy vì bị đánh đập bởi bị cáo. Viên cảnh sát tòa phải bó tay bất lực vì các nhân sự hành hung quá đông, quá cực đoan, nóng nảy và không có một chút lễ độ nào tối thiểu đối với pháp chế, bất chấp tất cả. Đây là vấn đề cả về tổ chức lẫn nhân văn. Lịch sử chiến tranh Việt Nam là một chuỗi dài tiêu cực hóa cái tinh thần công dân cần thiết cho một thể chế và xã hội pháp trị. Tranh chấp và bạo lực, bạo động đã chỉ tạo lên những con người “can trường,” “quyết tử” nhưng không kiên nhẫn, thiếu bình thản, thiếu sức mạnh nội tâm về lẽ phải và công lý, thiếu tính hòa giải và rộng mở. Con người Việt Nam mang nhiều khát vọng chinh phục đối phương, máu hiếu thắng, hiếu chiến. Chúng ta cần thêm một khoảng thời gian nữa để lấy lại cái bình thản tính và văn minh tính để có thể trở nên những cá nhân mang căn bản nhân văn tích cực cho một xã hội pháp trị.
Thật khó mà kiến tạo được những con người khí khái cho lẽ phải, vốn khác với người anh dũng trong chiến tranh. Một chánh án có thể kềm hãm được xúc động cá nhân khi đối diện với dữ kiện để phân xử trên căn bản pháp lý không thiên vị. Một luật sư có khả năng sáng tạo và có kỷ luật dám thử thách giới hạn của pháp lý hiện hành trong tinh thần vừa phải, tự trọng và nghiêm chỉnh. Một can phạm không sợ sệt, run rẩy trước cảnh tù tội đến độ phải đánh mất tư cách. Những con người Việt Nam sẵn sàng trả lời “không” một cách chắc chắn và rõ ràng đối với câu hỏi mà họ không thể trả lời khác hơn. Chúng ta phải công nhận ra những giá trị tích cực xã hội liên quan đến sự thực, dám nói ra lẽ phải, dám đối diện với lương tâm trên căn bản lý trí.
Trong một xã hội làng mạc nông thôn sơ khai, một bà cụ có thể bỏ ra ba ngày đêm đi quanh làng để “réo mồ, réo mả” chửi bới “đứa nào” đã nhẫn tâm ăn cắp con gà mái của bà ta; chứ trong một xã hội pháp trị, điều này không thể chấp nhận được cả về phương diện văn hóa lẫn tổ chức. Những cảnh tượng cha mẹ đánh con cái đến trọng thương, chồng đánh đập vợ tàn nhẫn phải được đưa ra khỏi phạm vi đời sống gia đình để đem đến ánh sáng phân xử pháp luật khách quan, công bình, công lý. Tất cả đòi hỏi một định hướng tổ chức có quy củ và tiệm tiến song song với những phát triển trên các lãnh vực kinh tế, giáo dục và xã hội.
Trách nhiệm và công trình kiến tạo cơ chế trước những vấn nạn trên là gánh nặng lớn cho một quốc gia đang cố gắng vươn mình ra khỏi bóng tối vô tổ chức.
Chúng ta hãy nhìn thử một vấn đề thuần pháp lý ở đây: Quy tắc pháp lý đòi hỏi can phạm hình luật phải khai và khai theo sự thật trước tòa án. Ở đây, cơ chế và thủ tục tổ tụng hình sự phải đối đầu với quy chế “quyền hạn không tự cáo” (the privilege against self-incrimination) trong truyền thống pháp lý Anh-Mỹ. Pháp luật phải chọn lựa hiệu năng xét xử đối với giá trị nhân phẩm của can phạm. Khi bắt buộc phải khai trước tòa, hầu hết các can phạm đều phải nói dối vì tự do, sinh mạng của họ đang bị đe dọa. Ngoài vấn đề giá trị của lời khai, pháp luật có muốn để can phạm bị bắt buộc phải tự đánh mất nhân phẩm và tinh thần tự trọng vì phải ở trong vị thể chẳng đặng đừng? Nói như Erwin N. Griswold của Hoa Kỳ thì quyền hạn không tự cáo “là một dấu ấn lớn của nhân loại cố gắng văn minh hóa chính mình” và là “một thể hiện khát khao đạo đức của cộng đồng”, hay là, “một nhắc nhở thường trực của niềm tin vào giá trị cao cả và nhân bản của mỗi cá nhân.” (16) Nhưng ở Việt Nam, trong giai đoạn này, chúng ta có muốn cơ chế hóa giá trị pháp lý Âu Mỹ này đến mức độ nào? Chúng ta có công nhận, “thà mất đi một cơ hội chứng cớ quan trọng hơn là cơ chế hóa dối trá” không?
 
Luật pháp ở Hoa Kỳ còn đi xa hơn nữa: Thẩm quyền bắt giữ nghi can không có quyền chất vấn họ cho đến khi đã thông báo cho đương sự rằng y có toàn quyền được im lặng và từ chối mọi câu hỏi (quyền Miranda). Ở Việt Nam chúng ta đã trả những giá quá đắt cho sự nhanh chóng của công việc để đưa đến độ tra tấn tàn bạo khi khảo cung - một điều xẩy ra như thường nhật. Đối với những ý niệm quyền hạn ở trên, liệu đây chỉ là những xa xỉ phẩm mà thực tế của chúng ta chưa kham nổi? Tiến trình nào là nhịp cầu bắt được pháp luật Tây phương đối với tình trạng sơ khai của xã hội Việt Nam? Nếu chưa nhận diện được sự chuyển tiếp và liên hệ giữa tiêu chuẩn của ước vọng đối với thực tế khả thi của hoàn cảnh thì chúng ta dễ bị rơi vào phạm trù lý luận quá xa vời thực tế. Điều khó của sự truyền đạt suy luận pháp luật là đem những ý niệm về nguyên tắc và giá trị tiền tiến về với kinh nghiệm thường nhật để tránh cái hố sâu ngăn cách giữa lý thuyết và hành động.
Một trong những thảm kịch “vô pháp, vô tắc” của các quốc gia đang phát triển là sự tách rời kinh nghiệm thường nhật ra khỏi nội dung pháp luật thành văn. Từ đó, luật pháp chỉ được lưu hành như là kinh thánh của lý tưởng và mệnh lệnh đạo đức; trong khi thực tế thì không ai muốn và có khả năng thực thi những mệnh lệnh chứa đựng bên trong. Hiện trạng này đi chung với tình trạng đối cực (dualism) giữa một thiểu số nhỏ trí thức thành phố, được giáo dục ở nước ngoài vốn bị tách rời khỏi đám đông quần chúng nghèo đói và lạc hậu.
Làm thế nào để đem lý luận cao cấp hòng khai mở những tiền đề ý niệm pháp lý sơ đẳng mà không bị rơi vào tình trạng mâu thuẫn, phức tạp và khó hiểu.
 
VỀ TIỀN ĐỀ: BẮT ĐẦU BẰNG CƠ SỞ LÝ LUẬN TÂY PHƯƠNG
 
Sự chuyển hướng đến xã hội dân chủ pháp trị là sự chuyển hóa cả một nề nếp suy tưởng cho mọi tầng lớp dân chúng Việt Nam. Nói theo Paul Mus,cách đây hơn cả nửa thế kỷ, thì đối với Việt Nam, làn sóng văn minh Tây Âu, đặc biệt là văn hóa Pháp, đã phá nát sự quân bình giữa một nhà nước mang nặng tính lễ nghi của triều Nguyễn và cơ chế thôn xóm độc lập và cô lập. Từ đó, Việt Nam bước vào kỷ nguyên chuyển hóa tận gốc rễ mà không có một sự quân bình cần thiết(17). Sau chiến tranh chống Pháp là một tình trạng chiến tranh khác mà nguyên nhân không ít phát xuất từ sự mất quân bình này. Từ đó đến nay, Việt Nam chưa có cơ hội để kiến tạo một trạng thể tích cực để hiện thực ước vọng hiện đại hóa cho đất nước. Tình trạng đảng trị của giai đoạn hậu chiến vẫn phần lớn mang nội dung kéo dài cái tinh thần tiếp tục phong khí thời chiến hơn là tạo dựng được một lề lối suy tư mới. [1]
Khi nói đến nề nếp suy nghĩ mới, chúng ta muốn nói đến nền tảng luận lý (logic), phương pháp luận, khoa học tính của truyền thống pháp chế và luật học Tây phương. Trí thức Việt Nam vẫn còn ngần ngại để thẳng thắn và thành thật công nhận tính ưu thế của văn minh duy lý Tây phương. Thay vì mang tinh thần cảm phục, chấp nhận tính ưu việt của kẻ khác thì họ lại lên mặt khước từ vì tự ái rỗng về Đông phương và “dân tộc.” Chúng ta thường bị “tháp ngà hóa” bằng thái độ tự trang bị cho mình những bức tường trừu tượng để an ủi vị thế cô độc và nỗi cô đơn trong tình trạng vong thân chính trị của chính mình. Từ đó, trí thức không truyền đạt được, thể hiện được ý chí cá nhân qua cơ chế ngôn ngữ và gia tài kiến thức hấp thụ từ Tây phương vốn thiếu yếu tố dân tộc và truyền thống mà bà con, làng xóm, quá khứ, tình cảm, hoài bão nung nấu. Đây là tình trạng chung của nhiều khoa học, đặc biệt nhất là triết học. Trí thức Việt du học ở Âu châu đã từng viết sách triết luận bằng ngoại ngữ ở hàng thượng đẳng và ưu tú trong số ít các triết gia chọn lọc, ví dụ trường hợp Trần Đức Thảo đối với triết học Husserl, nhưng họ lại không thể sống được với triết học đó trong nền tảng tình cảm của một con người Việt Nam với một quá khứ của xóm nhà tranh, vách đất, con trâu, thửa ruộng. Trở ngại phát xuất từ nhiều nguyên nhân. Ngôn ngữ cản trở nhiều nhất. Sự vắng mặt của một tầng lớp độc giả tiêu thụ và một thị trường chu cấp cơ bản kinh tế cho tác giả là một vấn đề khác. Nhưng một hàng rào cao khác là thái độ trí thức của họ. Nếu trình bày nghiêm chỉnh rốt ráo thì tiếng Việt chưa có trưởng thành để có đủ khả năng và sợ rằng không ai hiểu mình. Nếu truyền đạt ở một mức độ giản dị hơn, dễ hiểu hơn thì lại sợ trở nên tầm thường. Trường hợp hai giáo sư triết Lê Tôn Nghiêm và Nguyễn Văn Trung ở Huế và Sài Gòn những năm của thập niên 1960-1970 là những thiện chí đáng khâm phục. Hai vị này chín chắn khai mở vấn đề, nhất là Lê Tôn Nghiêm, cố gắng đi vào rốt ráo tính của chuyên môn để đóng góp cho môn học mà họ đang có trách nhiệm – trong khi tránh được cái ồn ào cám dỗ của bối cảnh văn hóa tràn ngập những tác giả chỉ có viết triết học để “hù dọa” đám độc giả còn non nớt và xa lạ với kho tàng triết học Tây phương. Những sách vở nghiêm chỉnh và rốt ráo viết bời những học giả biết tự trọng bao giờ cũng cần thiết cả, nhất là ở Việt Nam hiện nay.
Về vấn đề ngôn ngữ, như trường hợp của tập sách này, sự diễn đạt ý niệm từ Anh ngữ sang Việt ngữ là một thử thách – nhưng không vì thế mà tôi không bắt tay vào. Nói như John T. McAlister thì khi hành xử tiếng Việt, chúng ta, những người Việt được hấp thụ giáo dục bằng ngoại ngữ, cũng đồng thời cố gắng hòa giải những tình trạng đối tính của thiếu niên, lý luận, tư duy ở trong mỗi con người: Making Vietnamese the language for everything (is) an attempt to pull oneself together. (Biến tiếng Việt thành ngôn ngữ đa diện là nỗ lực tự hoàn chỉnh chính mình.(18) Mọi nỗ lực nghiên cứu, lý luận đều là những khai phá mà luôn luôn vẫn là những bắt đầu.
 
Cuốn sách này là một luận đề luật học hoàn toàn nằm trong ảnh hưởng lý luận, ý niệm Âu Mỹ, nhất là truyền thống pháp lý Anglo-Saxon. Một cuốn sách là một thể hiện thành kiến dưới dạng kiến thức. Chúng tôi không từ chối điểm này. Luận lý Tây phương cho chúng ta thấy rõ những gì chúng ta muốn tìm kiếm, kể cả sự giới hạn của phạm trù ngôn ngữ và tư tưởng duy lý thuần Tây phương. Như Martin Heidegger, một triết gia Đức, đã có lần nói rằng người Đông phương không thể hiểu nổi chính mình nếu không sử dụng phương pháp luận Tây phương. Luận lý Tây phương như là những bản đồ khai sáng những khuôn khổ phức tạp mà người Đông phương cứ ở trong bóng tối của bất lực với ước vọng siêu nhiên hòng vượt qua khỏi phạm trù lý trí để hiểu biết thế giới sự vật và ý niệm. Luận lý, theo Hegel, không thể tách rời khỏi nội dung mà nó muốn chuyên chở vì tự bản chất của “logic” là bản chất của ý nghĩa. Trong phạm trù luật pháp, thủ tục tố tụng, con người thực thi pháp chế chính là bản chất công lý của chế độ pháp trị. Nếu luật pháp chưa giải quyết xong khoa học luận lý, cũng như xã hội nếu chưa có khả năng cung cấp con người có khả năng và tư cách tự trị thì luật pháp vẫn còn ở trong giai đoạn thiếu niên. Sự sáng sủa về ý nghĩa, về ngôn ngữ, về luận lý, về chủ ý pháp lý là điều kiện căn bản của pháp luật.
Từ đó, khai phá ý niệm và thử nghiệm lý luận hay cố gắng diễn tả, truyền đạt suy tưởng trong dạng thức ngôn ngữ chính là sự khai sáng chính mình về những gì được nêu lên.
 
VỀ TIỀN ĐỀ: THẾ THƯỢNG TÔN VÀ TẤT YẾU CỦA PHÁP TRỊ
 
Nỗ lực xây dựng quốc gia và xã hội cần phải xác quyết một định hướng lý tưởng thể hiện được chiều hướng khả thể cho hiện tại. Chúng ta phải thấy được tầm chọn lưạ cho tương lai từ mức độ thấp nhất của xác xuất bất định đến ảo tưởng “utopianism”. Công dân của một quốc gia phải xác định khối nguyên tắc căn bản để bảo đảm được mức độ thành công của sự chọn lựa cơ chế và nội dung xã hội cho tương lai. Chọn lựa cơ chế là chọn lựa chính trị. Nhưng chính trị mà chỉ có nói lên được trừu tượng tính của ước vọng như “dân chủ,” “công bằng,” “no ấm” là mới chỉ có giải quyết được tiền đề viễn tượng của tình cảm mà thôi. Tất cả những khẩu hiệu ồn ào, xúc động của chính trị vẫn mang một nội dung trống rỗng nếu chúng không chứa đựng một khả năng thực thi trên căn bản cơ chế.
Luật pháp là cơ chế quan trọng nhất, hiệu năng nhất để tiến hành chính trị dân chủ, để kiến tạo quy tắc trật tự xã hội, để thực thi lý tưởng công lý, duy trì đạo đức và hiện thực tự do. Đây là một tiền đề đầy khẳng định tính – nhưng cần thiết để xác nhận cơ bản tổ chức và nội dung tư tưởng cho chiều hướng đi tới của quốc gia. Tính khẳng định này có thể nâng cao hơn nữa: Nhân loại đã thử nghiệm, lịch sử đã chứng minh rằng một quốc gia phải có cơ chế pháp trị mới có khả năng đáp ứng nhu cầu tiến bộ. Thiếu vắng luật pháp là sự trống rỗng của cơ bản tổ chức và quy tắc tối thiểu hòng đưa năng lực xã hội đến một mức độ văn minh và văn hóa cao hơn, vượt ra khỏi những vấn đề mà tình trạng chậm tiến đang còn là đầu mối.  
Một Việt Nam trong tương lai, nếu muốn có khả năng cùng tiến bước với cộng đồng thế giới tiến bộ phải là một quốc gia pháp trị. Chúng ta không thể nghĩ khác đi được. Tiền đề pháp trị không những mang bản chất lý luận tích cực mà còn chứa đựng tính bất khả phủ định: Một quốc gia không thể có cơ hội tiến bộ ở thời đại này nếu luật pháp không được thượng tôn – bởi vì cho đến giờ này, chưa có một cơ chế xã hội nào có khả năng, hiệu năng, mang nội dung văn minh, tích cực và cần thiết hơn.
Trên phương diện triết học, luật pháp với bản chất kỷ luật, tích cực của năng lực lý trí có khả năng giải phóng con người ra khỏi những vọng động, bất thường của bóng tối thú tính và sinh mệnh. Thảm trạng lịch sử là thảm trạng của con người. “Bàn tay nào đã tạo thương tích cũng đồng thời chính là bàn tay hàn gắn vết thương,” như Hegel đã có lần nói. Chính con người mới có khả năng, và chỉ có con người mới có thể tự cứu chính mình. Con người vừa là kẻ tạo tác vừa là nạn nhân của bi kịch hiện hữu từ lúc hắn biết sử dụng kiến thức để kiến tạo khách quan. Tuy nhiên, chính vì kiến thức hay lý trí thiếu kỷ luật và khả năng tự chế để vượt thắng bản năng thú vật là đầu mối của tang thương.
Vấn đề không phải là một siêu thể nào đó đã thất bại hay không chịu cứu rỗi nhân loại; nhưng mà chính là con người tự thất bại trong nỗ lực tìm ra siêu thể tính của lý trí. Lý trí là linh thiêng. Lý trí là thực tế. Lý trí là tột cùng và tối hậu của huyền nhiệm và siêu hình. Đây không phải chỉ là những khẩu hiệu của truyền thống tư duy Tây phương, tích lũy cao độ nhất ở thế kỷ XIX qua triết học Hegel, nhưng mà là công lý đã được khám phá và công nhận qua kinh nghiệm tỉnh thức của từng cá nhân và của cả nhân loại.
Tiến hóa của nhân loại mang tất yếu tính của con đường hướng thượng. Nó bao gồm sự tự ý thức về chính mình, về xã hội để vượt ra khỏi đống bùn lầy của thảm trạng đời sống vật thể cũng như bóng tối của bất lực và nô lệ của đời sống tâm linh. Lịch sử tư tưởng và tinh thần của Tây phương là tiến trình vươn thoát ra khỏi phạm trù thần linh của chủ nghĩa Thượng đế, mà cao điểm là truyền thống Cơ đốc. Sự băng hoại đầu tiên của con người, theo truyền thống này, có gốc rễ của ý lực tự do đồng lúc với sự thử nghiệm của lý trí. Tuy nhiên, muốn cứu rỗi, con người không thể lại trở về với bóng tối sợ hãi và nô lệ vào thần linh tính của một tuyệt đối thể toàn năng. Sự cứu rỗi tối hậu là tiến trình tự cứu bằng sự tự chế ý lực tự do bằng ánh sáng lý trí. Ý lực tự do và lý trí là những nấc thang đưa con người qua khỏi chuỗi dài nô lệ của thực tế chính trị đàn áp, bạo tàn – cũng đồng thời cho nhân loại một cán cân quân bình để tự khám phá và tiến hóa trước đại dương sâu thẳm và bát ngát của cá nhân trước những vấn nạn thường trực và lớn lao đối với hiện hữu và vũ trụ mà khả năng trí thức cũng như bối cảnh và nội dung cũng như kinh nghiệm tôn giáo chưa thỏa mãn được.
Sự thể hiện của biện chứng ý lực và lý trí là sự tác động của trừu tượng ý thức để chuyển hướng khách quan. Triết học, đạo học, luân lý học là những phạm trù trừu tượng phải được khách thể hóa để thử nghiệm giá trị tự tại và tiềm năng tiến hóa. Chân lý chính là tiến trình thử nghiệm này. Đông phương bị chậm lại sau Tây phương vì chân lý không chứa đựng một tiến trình thử nghiệm. Người Á Đông mang một bản chất triết học thụ động, thêm vào đó là thái độ tự mãn về hệ thống đạo học mang mãi thể tĩnh lặng. Con người Á Đông là con người của nạn nhân trong guồng máy đạo lý xã hội áp chế, không năng động. Trong khi Tây phương đã bước qua xác chết của Plato cả ngàn năm nay với biết bao hàng lớp triết nhân và tư duy khác thì Đông phương giờ này vẫn còn ôm chân Khổng Tử mà làm nô lệ cho Marx. Người Đông phương vẫn còn đứng bên bờ sông Hằng, lấm lem với bùn đất của dòng nước dơ bẩn, thiếu vệ sinh, nhưng lại mơ hồ thỏa mãn về một chút cứu rỗi nào đó từ huyền thoại của con sông đưa đến. Họ là những anh chàng nhàn rỗi, trống vắng, tự kiêu tìm thú vui thân xác của điếu thuốc cày, câu thơ Đường, hãnh diện với cái “quân tử tính” của mình với đầy trừu tượng thiếu thực tế và bất thường. Họ từ chối Tây phương bằng những vinh danh hão về Đông phương nhưng trên thực tế thì không giữ nổi chiếc áo của mình, không kiến tạo nổi một mô thức chính trị, xã hội cập nhật cho mình. Đông phương, trên nhiều lãnh vực, đã nô lệ và vay mượn Tây phương từ bản chất nhưng lại từ chối món nợ tinh thần này. Mấy ngàn năm văn hiến của Tàu có được gì ngoài cả thế kỷ tôn thờ Marx, một triết gia Tây phương, để tự nô lệ hóa chính mình. Ấn Độ còn gì ngoài một tập thể nhân loại hỗn độn, nghèo đói, bệnh tật đến độ thảm thương, bạo động, mê tín, tang tóc. Việt Nam còn lại gì ngoài một tinh thần vọng ngoại, vong thân và kiệt lực, băng hoại đến tận cùng. Tất cả Đông phương đang cầu cứu Tây phương, bắt chước Tây phương. Tiến bộ bây giờ đã bị đồng nghĩa với Tây phương hóa. Hiện đại hóa đồng nghĩa với sự chạy theo chân Tây phương. Thời đại này chỉ có những kẻ mang ảo tưởng mới hoài vọng tới một Đông phương dưới trí tuệ của một vài “thánh nhân” ngồi trong hang trên đỉnh núi cao nào đó huyền hoặc.
Tất cả đều phải đi theo thực tế. Tất cả là vấn đề của tổ chức trên căn bản lý trí. “Tây phương hoàn toàn thắng Đông phương” và chúng ta phải chấp nhận điều đó để cùng với Tây phương làm việc ngay trước khi quá trễ. Đây là thái độ thành thật, thẳng thắn cần thiết. Tóm lại, xây dựng một mô hình xã hội pháp trị là công tác chính hiện giờ cho tất cả các quốc gia Á Đông.
Và đặc biệt là cho Việt Nam.
 
 
______________
[1] Thí dụ, cho đến năm 1990-1991, khẩu hiệu ở các thành phố Việt Nam vẫn còn sặc mùi chiến tranh mang cực đoan và tuyệt đối tính đến nực cười: “Cương quyết diệt sạch văn hóa phẩm phản động”, “Quét sạch bè lũ phản cách mạng”, “Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm”… Trong một phiên tòa xử một băng đảng ở thành phố Hồ Chí Minh năm 1990, ngoài cổng vào của tòa án có căng biểu ngữ “Tòa xử án bọn băng đảng Trần Văn X.”
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.09.2016 08:28:23 bởi Sun Ming>
 
CHƯƠNG HAI
 
LUẬT PHÁP VÀ TRẬT TỰ XÃ HỘI
 
The problem of social order arises from a deep puzzlement one may experience about the very existence of society… Can we discern beneath the changing forms of association something basic to the social bond? (Vấn đề trật tự xã hội khởi lên từ một công án về kinh nghiệm của cá nhân về sự hiện hữu của xã hội… Liệu chúng ta có khám phá ra được một sợi dây nối kết, liên hợp căn bản của tất cả những hình thức tổ chức bất thường của con người?)
 
Roberto Unger (1976)
NGUYÊN TẮC TRẬT TỰ XÃ HỘI
 
Ý nghĩa thứ nhất: Luật pháp là nguyên tắc của trật tự xã hội khi ước vọng cá nhân luôn bị chìm ngập trong khuôn khổ mâu thuẫn trầm trọng từ bối cảnh xã hội. Từ thực tế và nhu cầu trật tự này chúng ta đối diện với một sự mâu thuẫn cơ bản: Tôi muốn tự do vô giới hạn; nhưng tôi không có quyền xâm phạm quyền tự do của người hàng xóm. Tiền đề tự do của tôi mang tích cực tính và phổ quát; trong khi tiền đề giới hạn của người hàng xóm mang tiêu cực tính và đặc thù. Sự mâu thuẫn giữa biên giới đặc thù, tiêu cực và phổ quát giữa cá nhân và tập thể tạo ra nhu cầu trật tự (order). Trật tự là “một hệ thống của điều lệ.” (19) Nó còn bao gồm rộng lớn hơn: một cơ chế, cấu trúc cai quản mâu thuẫn, dàn xếp xung đột cho một đơn vị quần chúng. Luật pháp là một cơ chế trật tự xếp hành vi con người trong khuôn phép giả định.
 
Nhưng trật tự là một đơn vị năng động. Vì vậy, luật pháp là sự hành xử trật tự(20). Hành xử trật tự là sự kiến tạo và thực thi nguyên tắc nhằm tạo nên đồng nhất tính và sự tương tự của hệ quả khi áp dụng những nguyên tắc đó. Benjamin Cardozo, một chánh án và một luật gia Hoa Kỳ, cho rằng, “giống như một tiến trình tạo hóa, luật pháp là nỗ lực đồng nhất hóa sự tiếp nối” (uniformity of succession). (21)
Marx Weber, nhà xã hội học lừng danh của Đức, cũng nhận xét tương tự. Luật pháp là một hệ thống trật tự (order system) chứa đựng những “bảo đảm căn bản cho những khả năng giá trị thực nghiệm (empirical validity). (22) Một luật gia khác của Đức, dùng lý luận của Immanuel Kant, phán xét rằng:
 
Giá trị của luật pháp căn cứ vào tính vững chắc mà nó chứa đựng. Đây là điều tối cần thiết cho lý tưởng pháp chế để từ đó mà sự ổn định khách quan được tái lập, trật tự được kiến tạo nhằm chấm dứt tiến trình tranh chấp toàn thể của con người. Từ đó, công lý là chủ đích thứ yếu của luật pháp vì cứu cánh khẩn cấp cho pháp chế chính là sự vững chắc, ổn định và trật tự xã hội.(23)
 
An ninh cho những điều kiện xã hội, hỗ trợ cho đổi thay trên nền tảng ổn định là mục tiêu gần nhất của luật pháp. Paul Vinosgradoff, trong cuốn Common Sense in Law (Những ý niệm bình dị trong pháp luật) nói: “Nếu tương quan với xã hội là điều phải có cho cá thể thì trật tự là điều kiện cần thiết.” (24) Nhu cầu khách quan của pháp luật giải phóng tính đặc thù cá nhân ra khỏi cảm nhận chủ quan để đi tìm những phương thức đồng nhất ngoài xã hội. Luật pháp phải chứa đựng khả năng dự đoán (predictability) và đồng đều (regularity). Nếu không, trật tự pháp lý khó có thể tạo dựng. Luật pháp bao hàm sự thông hiểu hành vi cá nhân với một tiền đề phổ quát bao gồm động cơ và hệ quả mà luật pháp, đến một mức nào đó, muốn giáo hóa và nung đúc cho cứu cánh xã hội. Luật pháp mang sứ mạng lớn: tổng quát hóa muôn mặt của đặc thù vốn hỗn độn và khó hiểu để xếp chúng thành những giả định phổ quát, đồng nhất, chuyển đạt đến cá nhân như vừa là mệnh lệnh vừa là khuyến dụ, nhằm mục đích tạo ổn định tình trạng chung. Dĩ nhiên, luật pháp không thể luôn luôn thành công trên sứ mạng này vì khoảng cách giữa thực tế năng động và sự ù lỳ của cơ cấu làm luật. Nhưng, chỉ có luật pháp là cơ chế xã hội đến gần với sự quy định giá trị đồng nhất cho hành vi con người.
Khi nói đến luật pháp là nguyên tắc của trật tự, tức là định nghĩa luật pháp như là sự tập hợp những khuôn phép, điều lệ cho cá nhân nhằm hiểu rõ cấu trúc xã hội đồng thời tiên đoán được chiều hướng phát triển của cấu trúc trên. Vì vậy, luật pháp vừa là tiêu chuẩn vừa là khí cụ kiến tạo ổn định.
Nhưng tại sao phải nhấn mạnh đến ổn định và trật tự?
Trật tự là điều kiện cần thiết cho cá nhân mưu cầu hạnh phúc. Trật tự giới hạn tâm tính, cuồng nhiệt và xúc động bao la của cá nhân. Trật tự cung cấp phương tiện cho kẻ có tham vọng và tài năng. Hơn nữa, dù có lý luận thần học cho rằng xã hội có trật tự tự nhiên, một điều hiển nhiên trước mắt và đối với bản thân chúng ta: rối loạn là bản chất xã hội. Rối loạn phá bỏ hiệu năng và hiệu quả của năng động con người vì cá nhân không còn biết chiều hướng tương lai để đầu tư năng lực, thời gian, tài trí, và vốn liếng. Ngay cả đối với nội tâm, con người cũng không còn tự tin và sự tiếp nối hiện hữu trong cát bụi vô trật tự. Rối loạn là điều kiện cho sụp đổ. Trật tự là điều kiện để xây dựng. Nhân loại ý thức được cái lý tưởng đầu tiên và khẩn cấp: trật tự.
Con người sinh ra và lớn lên đồng với thiên nhiên với những dục vọng sinh vật và năng động phức tạp. Tuy nhiên, con người, khác với các sinh vật khác, khi bị đối đầu với hoàn cảnh khó khăn khách quan thì hắn mang tư duy phi cá thể nhằm phân tích ngoại vật và tìm giải pháp bằng tri thức. Vì có khả năng cao hơn, bằng lý trí, con người nhận diện và thử thách bởi môi trường, mà vì với khả năng cao hơn này, con người phải nhận trách nhiệm hành vi cho chính mình. Nhân loại vẫn phải sống trong “luật” tạo hóa, thiên nhiên; tuy nhiên, phải hành xử sứ mạng của sinh vật có ý thức và phương tiện lý trí. Con người phải thỏa mãn nhu cầu sinh tồn đồng thời mở lối để hiện thực hóa khả năng của mình. Luật pháp là sản phẩm của sự sử dụng khả năng cao hơn này của nhân loại. Nó là khí cụ, kiến tạo bởi lý trí, trong ý thức trừu tượng qua kinh nghiệm. Luật pháp phát sinh cùng với con người và lớn lên với đơn vị của nhiều cá thể. Luật pháp là sự phản tỉnh đồng thời là sáng tạo để củng cố cái tiến trình hiện hữu khó khăn cho nhân loại. Luật pháp vừa giới hạn vừa mở rộng khả năng con người. Nó đặt tiêu chuẩn cho số đông và bắt cá nhân phải công nhận là hắn phải sống và hành xử trên căn bản số đông. Luật pháp bắt con người xa cái khuôn khổ nhỏ bé của cá nhân, xếp đặt lại tương quan mới. Cá nhân phải đương đầu với xã hội với những phức tạp của nó. Con người, qua luật pháp, đã giải quyết được căn bệnh của tài năng: thay vì khổ đau bởi vì được trang bị quá nhiều khí cụ trí thức, hắn đã chuyển hóa được sức mạnh này để tạo điều kiện khách quan nhằm giảm thiểu được khổ đau.
Luật pháp thiết lập trật tự bằng sự xác định tiền lệ khách quan (objective precedents), tiêu chuẩn đương thời (present norms) và điều kiện tiếp nối (determinate sequences). Luật pháp thể hiện ý chí cá nhân trong bản năng sinh tồn và mưu cầu hạnh phúc. Con người muốn quản trị khách quan bằng cách tổ chức xã hội thành một hệ thống khả dĩ có thể chủ động được. Với mục tiêu đó, con người cảm nhận hiện hữu (khổ đau), hiểu xã hội (phức tạp và vô trật tự), kiến trúc hình tượng để chủ động (hệ thống tương quan của các đơn vị) với ý thức và hy vọng rằng, từ đây, ta có thể giảm thiểu được khổ đau bằng cách tổ chức xã hội theo mô thức khách quan mà mọi đơn vị, cá thể khác biệt có thể chấp nhận, hòa giải trong ý thức trách nhiệm.
Ước vọng cho một trật tự khách quan bắt nguồn từ bốn động cơ chính của con người. Thứ nhất, phần lớn mọi tác động đều dựa trên kinh nghiệm hay thứ tự đã được sắp xếp. Thứ hai, con người muốn tiên đoán được hệ quả của tác động từ chính mình. Thứ ba, một yếu tố tâm lý tự nhiên quan trọng khác: sự thưởng ngoạn trật tự. Sự thưởng ngoạn âm nhạc, chẳng hạn, là sự thẩm nhận một trật tự nhân tạo được xếp đặt bởi kiến thức, ý lực và xúc cảm cá nhân. Cuối cùng, là sự cấu trúc tự nhiên của suy luận: trí thức luôn luôn được sáng tạo và phát triển theo sự suy diễn bởi ý niệm (conceptualization) và phân loại (classification).
Cá nhân sống theo thói quen. Chúng ta chứa đựng nhiều tính phản tiến (inertia) hơn là tác động sáng tạo (initiative). Xã hội cũng thế. Con người dễ dàng chịu đựng tình trạng có sẵn (status quo) mặc dù thay đổi có thể đem lại nhiều tốt đẹp. Sigmund Freud, nhà phân tâm học hàng đầu của Tây phương trong cuốn Civilization and Its Discontents (Văn minh và nỗi uẩn ức) cho rằng nỗi ước vọng cho một trật tự xã hội nằm sâu trong tiềm thức sinh vật tính của con người. Đó là khát vọng tái lập lại thứ tự đã sẵn có. Do đó, con người muốn sống với xã hội có tổ chức vì trong đó kinh nghiệm giúp chúng ta biết được những gì có thể xảy ra(25). Khuynh hướng của con người là tiết kiệm năng lực và tranh chấp – ngoại trừ hoàn cảnh không cho phép. Nếu cá nhân mỗi thời khắc của cuộc sống cứ phải đương đầu với bất thường và vô trật tự thì tiến bộ không thể hình thành được.
 
Cá nhân, hơn nữa, sống trực diện chọn lựa liên tục. Mỗi tác động đều được phát xuất từ động cơ tình cảm và ý thức. Trong một xã hội pháp trị, cá nhân được điều kiện hóa trong giới hạn luật pháp. Do đó, dù với đầy xúc cảm, nhưng với ý thức luật lệ, cá nhân dần dần được kềm chế một cách tự nhiên cảm tính vô giới hạn của mình. Từ sự xung đột giữa cảm tính và ý thức, cá nhân chọn lựa con đường giải quyết. Trong những vấn đề khác, đòi hỏi sự phân tích của lý trí, trật tự pháp lý cho thêm những yếu tố vào cán cân đo lường hậu quả để cá nhân chọn lựa. Khả năng dự đoán là cái vốn trí thức mới và cần thiết cho con người.
Hơn nữa, trật tự tạo nghệ thuật và khoa học. Nghệ thuật chuyên chở tình cảm qua phương tiện lý trí. Cũng chừng đó âm thanh, khi được phối trí theo suy tưởng, tạo ra âm nhạc; chừng đó màu sắc, phối trí theo tưởng tượng, tạo bức tranh. Chúng ta không thể thưởng ngoạn nghệ thuật nếu không có một khả năng lý trí để biết được nền tảng trật tự được xếp đặt bởi nghệ sĩ. Trên phương diện khoa học, trật tự lại càng quan trọng. Lịch sử khoa học là lịch sử của kinh nghiệm có trật tự. Kết quả khoa học mà con người thụ hưởng đã trở nên quá hiển nhiên đã trở thành vấn đề không cần tranh luận. Chính từ cái hiển nhiên đó tạo nên một bản tính cho con người: khoa học là tiêu chuẩn để đánh giá vì là nền tảng của tin tưởng. Hay nói rộng hơn, trật tự là nền tảng của suy luận.
Không ai có thể thoát khỏi phạm trù trật tự khi sử dụng lý trí. Cấu trúc tự nhiên của suy luận bao gồm một tiến trình dẫn từ điểm này tới điểm khác. Suy nghĩ phải có cấu trúc diễn đạt. Chúng ta không suy nghĩ nếu không có ngôn ngữ biểu tượng. Ý niệm chủ quan khách quan, phân loại ngoại vật là nền tảng của ý thức. Từ đó, con người cảm nhận ngoại vật bằng ý niệm trật tự. Trật tự ngoại giới như là một điều hiển nhiên. Vô trật tự là điều trái tự nhiên. Xã hội phải có trật tự. Liên hệ cá nhân phải có trật tự. Nghệ thuật, chính trị phải có trật tự. Từ trật tự, ý niệm hiện thực hóa cơ chế nảy sinh để thi hành ước vọng đó. Luật pháp bắt nguồn từ nguồn ước vọng tự nhiên này.
Benjamin Cardozo phối trí tư tưởng trên với định nghĩa rằng, “Luật pháp là sự diễn đạt một nguyên tắc trật tự mà theo đó cá nhân, đối với hành vi và liên hệ của họ trong xã hội, phải tuân theo” (26). Nói rộng hơn, theo F.A. Hayek thì, “Bằng chữ ‘trật tự’ ta phải diễn đạt đó là một trạng thái trong đó nhiều yếu tố và thành phần được kết hợp trong một mức độ mà chúng ta có thể học được từ kinh nghiệm giới hạn và bé nhỏ để hòng hiểu được toàn thể. (27)
Hiểu được toàn thể để làm gì? K.N. Llenwellyn cho rằng, “Công cụ của luật pháp, từ xương tủy, rất là căn bản và vĩnh cửu… Nó là một sự xếp đặt và cải hóa hành vi con người cho xã hội và tập thể có thể hành xử được năng lực chung để sống còn. (28)
 
Năng lực chung đòi hỏi cơ chế quy dẫn khác biệt và hỗn loạn về mục tiêu tổng thể. Mục tiêu tổng thể này chứa đựng nội dung giá trị vốn quyết định bản chất chính trị quốc gia – và quan trọng hơn – mức độ tự do và trưởng thành của xã hội. Mục tiêu tổng thể đòi hỏi một mô thức trật tự nằm thỏa mãn nhu cầu chính trị và xã hội. Mô thức trật tự này là khối quy tắc cưỡng chế khách quan chứa đựng mức độ tự do và phạm trù tác động cho cá nhân trong mối tương quan với xã hội, phạm trù bổn phận và quyền lợi của công dân đối với chính quyền và quốc gia. 
 
TRẬT TỰ NÀO?
 
Trách nhiệm đầu tiên và tối quan trọng của chính quyền là kiến tạo một trật tự chính trị và xã hội để thể hiện quyền lực. Nói như Emil Brunner thì, “Yếu tính (essence) của quốc gia không phải là công lý, mà là quyền lực. Một thể chế chính trị dù bất công nhưng nó vẫn là của quốc gia, nhưng nếu một thể chế bất lực thì không còn có khả năng của một quốc gia nữa” (29). Trật tự chính trị là hệ thống cơ chế thể hiện nhu cầu đầu tiên của quốc gia: độc lập. Cộng đồng thế giới phải căn cứ trên một sự tổ chức của chính quyền, ngoài yếu tố lãnh thổ và công dân, để công nhận thế đứng đủ và cần thiết cho một quốc gia. Đây là sự thể hiện quyền lực khách quan. Nó đòi hỏi hai yếu tố: chính thống chính trị và khả năng độc lập. Chính thống quốc gia và nền tảng độc lập mang bản chất sức mạnh – quan trọng nhất là nhu cầu quốc phòng và đối ngoại.
 
Nhu cầu kế tiếp cho mục tiêu của trật tự chính trị là khả năng nội trị. Cơ chế chính quyền phải được kiến tạo, trật tự xã hội phải được thiết lập, nội dung hành chính công quyền và cấu trúc quản trị phải được hoàn chỉnh. Kế tiếp, cơ chế giải quyết mâu thuẫn và áp đặt giá trị khách quan và cưỡng chế của chính quyền phải được thiết kế. Đây là những giai đoạn căn bản của trật tự thể chế và tổ chức.
Giai đoạn kế tiếp là phát triển bản chất nội dung của trật tự chính trị. Nó bao gồm hai tiến trình: (1) từ bất công đến công lý, và (2) từ độc tài đến tự do. Hai tiến trình này có tính chất trộn lẫn và khó phân biệt. Tuy nhiên, vấn đề nội dung công lý của trật tự chính trị đòi hỏi nhiều yếu tố nhân văn, lịch sử, kinh tế và thời gian hơn. Một quốc gia có thể có một trật tự tương đối tự do nhưng lại rất bất công – tự do ở đây là tự do tiêu cực (negative freedom). Thực ra, công lý, mà trong đó công bình là một yếu tố, đòi hỏi nhiều giới hạn của tự do tiêu cực. Càng tự do tiêu cực thì công bình càng khó thực hiện. Tự do tích cực (positive freedom) là tự do cơ hội trong bối cảnh và cơ chế kiến tạo và cung cấp phương tiện cũng như tinh thần cho sự phát triển toàn diện của cá nhân và xã hội. Tự do tiêu cực là sự thiếu vắng cưỡng chế khách quan, thiếu quy luật và pháp chế.
Một quốc gia với thể chế chính trị độc tài, chuyên chế sẽ bóp nghẹt chiều hướng phát triển của tự do – cả tiêu cực lẫn tích cực. Chính trị độc tài giới hạn khả thể của tự do tích cực vì cơ hội chính trị cho công dân không được cung ứng thích hợp và rộng mở. Nó giới hạn phát triển nhân văn vì cá nhân không được bảo đảm những quyền hạn và an ninh tối thiểu để họ hành xử tự do. Chính trị độc tài là một khuôn mặt của chậm tiến và lạc hậu. Nó chỉ có sự cưỡng chế bạo lực về chính trị, quyền lực và ý thức hệ nhưng lại hoàn toàn bất lực về việc kiến tạo cơ chế pháp lý tích cực để quản trị xã hội cũng như tạo năng động cơ chế xã hội dân sự để công dân được tự quản, tự chế, và trưởng thành.
Đây là tình trạng ở Việt Nam bây giờ. Vì sự thiếu vắng của một guồng máy luật pháp hiệu năng và tích cực, năng lực cá nhân và xã hội đều bị hướng về tiêu cực tính mà nội dung đạo đức và áp lực làng xóm, láng giềng đã mất hết tất cả những khả năng can thiệp trước sự bất mãn chung về hoàn cảnh sống và thiếu hy vọng về những biện pháp cứu chữa. Đồng thời với thảm trạng này là tình trạng cơ chế hóa thối nát và bất công. Hối lộ, tham nhũng là tính thường nhật của cuộc sống, là chuyện đương nhiên, một hình thức thuế gián thâu và trực thâu, một lệ phí của quy tắc và giấy phép vì không có một chính sách và quy chế lệ phí và thuế khóa hiệu năng. Trước tất cả những tiêu cực tính này, mọi năng động tiến bộ tích cực đều bị kềm hãm. Không những thế, tình trạng này không còn ở thể hiện tượng nữa mà càng ngày càng trở nên tính bản chất của xã hội. Và thời gian, nó xói mòn giá trị biện minh và khả năng quyền lực quốc gia và chính quyền. Khi quyền lực quốc gia mà chỉ có sức mạnh thế giới và đối ngoại nhưng bất lực về vấn đề nội trị tích cực thì cán cân quyền hạn của chính quyền đã bị mất quân bình.
Ảnh hưởng lâu dài không những là sự giảm thiểu khả thi nội trị mà quốc gia còn mất dần sức mạnh đối ngoại khi chính quyền mất đi đạo đức tính của nó đối với thế giới văn minh và tiến bộ.
Nói như thế không có nghĩa là chính trị độc tài hoàn toàn mang tiêu cực tính. Khả năng cao nhất của nó là khả năng áp đặt trật tự và lề lối để bắt đầu một tiến trình tiến bộ và tiến hóa quân bình. Chính trị độc tài là thực tế của lịch sử mặc dù cao trào dân chủ đang lên cao ở giai đoạn này. Điều quan trọng nhất là bản chất chuyển hướng của chính trị này:
Thứ nhất, thay đổi xã hội phải quân bình với sự nâng cao cơ hội phổ quát và rộng mở, đồng đều cho quốc dân;
Thứ hai, bản chất công lý kinh tế phải được tiệm tiến phát huy để đưa đa số dân chúng ra khỏi hoàn cảnh sống vật chất nghèo khổ, bóc lột, nô lệ và tăm tối;
Thứ ba, thể chế chính trị phải được tự cải tổ, hóa giải để bao gồm nhiều hơn những thành phần khác nhau của xã hội;
Thứ tư, một thể chế pháp trị, thượng tôn pháp luật, bình đẳng trước pháp luật phải được kiến tạo để dần dần thay thế cơ chế cá nhân và đảng trị;
Thứ năm, một tinh thần năng động xã hội mà trong đó công dân phải tích cực và sáng tạo kiến thiết cơ chế tự quản qua cơ chế xã hội dân sự (nghiệp đoàn, hội đoàn chuyên môn, vô vụ lợi, từ thiện, truyền thông, địa phương, sở thích, giáo dục, thôn xóm…) để phát triển một hệ thống quyền lợi tranh chấp, mâu thuẫn trong bối cảnh tích cực và quân bình lẫn nhau trong tinh thần pháp luật và xây dựng.
 
Kinh nghiệm Tân Gia Ba, Nam Hàn, Đài Loan, Chí Lợi (Chile) từ 1960-1990 chứng tỏ rằng chính trị dân chủ đa nguyên là hệ quả của bản chất chuyển hướng ở trên. Chúng ta lên án chính trị độc tài không phải chỉ ở hiện trạng trước mắt mà phải nhấn mạnh đến khả năng chuyển hướng của thế chế chính trị này. Cái tệ hại của chính trị Cộng sản theo mô thức Marx-Lenin-Stalin là sự bóp nghẹt cơ hội chuyển hướng. Trung Hoa và Việt Nam đang cố gắng mở lối để giải quyết vấn nạn kinh tế mà thôi trong khi không muốn và không có khả năng giải quyết những nhu cầu chuyển hướng khác - đặc biệt là chính trị - đã và đang tạo ra những khó khăn ngập đầu khác. Chính thống và biện minh của chính trị độc tài có thể được thỏa mãn tương đối và ngắn hạn nếu nhu cầu hoàn cảnh (chậm tiến, lạc hậu, vô tổ chức) đòi hỏi – với điều kiện cơ hội kinh tế được mở rộng và đời sống vật chất được nâng cao. Nên nhớ rằng truyền thống chuyên chính của các chế độ vua chúa Trung Hoa và Việt Nam chưa bao giờ bị thử thách trên căn bản biện minh và chính thống cơ chế, cho đến thế kỷ XX này mà thôi.
 
Làn sóng văn minh và văn hóa chính trị dân chủ của Tây phương sẽ không giải quyết vấn nạn tiến hóa của nhân loại, và Đông phương cũng chẳng nên bắt chước, nếu không chứa đựng được văn hóa pháp trị. Chuyển hướng chính trị từ chuyên chính vương quyền đến đảng trị, sang dân chủ pháp trị, là tiến trình chuyển hướng của bản chất cưỡng chế từ cá nhân, đến thiểu số và ý thức hệ sang với khả năng tự chế trên căn bản đồng thuận và lý trí. Đây là chuyển hướng của bản chất trật tự cơ chế: Từ bất công đến công lý; từ độc tài đến tự do.
 
TRẬT TỰ PHÁP CHẾ CHO VIỆT NAM
 
Luật pháp hành xử trật tự bằng sự kiến tạo giá trị cưỡng chế và tiêu chuẩn ước vọng. Luật pháp duy trì sự liên tục của cán cân quân bình để xã hội tiến hóa. Cái khó của chức năng trật tự là ở vị trí tự điều chỉnh cơ chế và giá trị pháp lý trong giai đoạn chuyển động tiến bộ của đại khối công dân trước lịch sử. Giá trị nào là tinh hoa cần phải duy trì, bảo tồn trước sự đào thải chung khi ý thức nhân văn mới mang tính phổ cập và toàn cầu đang phát huy đến cao độ và được chấp nhận rộng rãi? Không những thế, khi quốc gia bước vào ngưỡng cửa của thời đại mới, những khối quần chúng sẽ tiếp nhận những khuôn thước và phạm trù giá trị khác nhau. Chúng ta hãy nhìn vào Việt Nam ở giai đoạn cuối thế kỷ XX này để đánh giá tổng quan về sứ mạng hành xử trật tự của một cơ chế pháp trị cho quốc gia.
 
GIỮA PHÉP VUA VÀ LỆ LÀNG
 
Phép vua” là luật pháp quốc gia, nếu chúng ta diễn nghĩa rộng và cập nhật hóa. “Lệ làng” là tập tục địa phương. “Phép vua thua lệ làng” là sự ưu tiên cưỡng chế của giá trị và tập tục địa phương trên phép nước đối với một vấn đề trước mắt. Đây là mối tương quan của trật tự xã hội phong kiến. “Phép vua thua lệ làng” nói lên bản chất thiếu vắng “pháp trị” đối với dân làng. Dân làng không sống với cảm nhận và tư cách công dân – ý thức “quốc dân” – của một quốc gia. Họ chỉ thấy mình là một dân cư có tính chất địa phương độc lập cao độ đối với cơ chế quốc gia.
 
Luật pháp, nếu đó là khí cụ chính trị và cai quản để kiến tạo trật tự xã hội, mang tính chất cưỡng bách từ trung ương, từ chính quyền. Mục tiêu cao nhất của chính trị là tạo một sự ổn định để quyền lực cai quản có thể được thực thi. Chính quyền quốc gia đóng vai trò giám thị trong một tập thể quần chúng không ai chịu nhường ai. Tôn giáo, thôn xóm, thứ bậc gia đình, truyền thống dần dần phải nhường cái thước khuôn khổ và kỷ luật cho luật pháp quốc gia. Đây là điều không thể tránh được. Những xã hội nào không quản trị được tiến trình thay đổi này đều rơi vào nguy cơ hỗn loạn, đổ vỡ. Cái mâu thuẫn giữa “phép vua” và “lệ làng” mang bản chất mâu thuẫn tập tục, địa phương đối với toàn thể, của khối quyền lợi tiểu vi đối quyền lợi chung. Trước bối cảnh này, khi hành xử thước khuôn khổ và trật tự, chính quyền trung ương phải có khả năng cơ chế để dàn xếp một hệ thống giá trị tổng thể phản ánh được quyền lợi và giá trị quốc gia, trong khi vẫn linh động bảo tồn những giá trị làng mạc, thôn xóm.
Sự hình thành của luật pháp – chúng ta hãy nói đến một bộ luật cho một vấn đề – là sự kiến tạo cơ chế trong bối cảnh ý thức về một nhu cầu thiết yếu. Nhưng bản sắc của bộ luật này thường được quyết định bởi thiểu số. Thiểu số này là đơn vị quyền lực đại diện cho một giai tầng, một phe nhóm, một thế đứng nào đó. Trong các thể chế chính trị dân chủ rộng mở, các khối này áp lực, vận dụng thế lực của mình để biến diễn đàn giá trị và quyền lợi của họ trở nên khuôn khổ pháp lý quốc gia. Vấn đề này là hiện tượng chung. Vai trò lãnh đạo quốc gia là hòa hợp được những áp lực quyền lợi và giá trị này để duy trì vị thế tổng thể của quốc gia phục vụ quyền lợi và giá trị chung cho toàn thể khối quốc gia. Luật pháp quốc gia vẫn còn phải đối nghịch với tục lệ địa phương trong xã hội nông nghiệp nặng về truyền thống và còn chậm tiến trên mọi phương diện. Cái khó của luật pháp là hòa giải được, hiện thực hóa được những giá trị tập tục trong chiều hướng quyền lợi và quyền hạn quốc gia và nhu cầu chung của tổng thể quốc dân. Do đó, mô hình lý tưởng của luật pháp là một hệ thống quy tắc thể hiện giá trị phổ quát của xã hội mà vẫn duy trì những nét độc đáo của làng mạc thôn xóm. Đây là “phép vua” căn cứ trên “lệ làng” để tránh cảnh tranh chấp thua-hơn. Nhưng lý tưởng này không phải luôn được thể hiện.
Tục lệ hàng xóm đôi khi mang những bản chất thái quá mà quốc dân muốn vượt qua. Ngay cả trong làng xóm đó, tục lệ là sự áp đặt quá khứ lên trên năng động tiến bộ và chuyến hướng của thế hệ mới. Ví dụ tục gả con gái lớn tuổi cho một chú bé trai và bắt người con gái này nuôi nấng người chồng tương lai này cả hai mươi năm. Đây là một sự bóc lột nhân phẩm người phụ nữ đến tột cùng mà nhân danh giá trị nhân bản, luật pháp quốc gia phải cấm đoán hiện tượng tục lệ này. Hay là hiện tượng kỵ giỗ, đình đám, xôi thịt ở ngoài Trung và Bắc. Nhiều gia đình suốt năm thì không đủ ăn mà phải lo hằng chục thứ kỵ giỗ để bà con kéo chiếu trên, xô chiếu dưới. Hay nạn đám tang, ngay cả những người chết bị chết bởi bệnh truyền nhiễm, với trò mổ heo, mổ bò, ăn uống tưng bừng như ngày hội, bắt con cháu mặc đồ tang, bò lăn ra giữa đất khóc theo tiếng kèn, nhịp trống, khát khô cả cổ họng, trong khi mấy ông già mặc khăn đóng áo dài, ngồi trên chiếu phất phơ quạt mo, khen chê tiếng khóc. Hay là tục lệ “cao nấm, ấm mồ” để rồi những thửa ruộng phì nhiêu phải bị dùng để chôn cất bằng một nấm mồ thật to, hủy hoại luôn cả thửa đất vốn rất hiếm. Vấn đề là sự chuyến hóa ý thức cũng như một tiêu chuẩn giá trị khách quan nhằm đánh thức dân làng, nhất là giới trẻ, trước những khốn nạn của cổ tục làng xóm.
Luật pháp phải có khả năng giải quyết những vấn nạn mâu thuẫn này, vì nếu không, thì bạo lực, áp chế từ chính quyền trung ương độc tài sẽ lấy biện minh tiến bộ để thực thi diễn đàn xã hội của họ. Trường hợp chính quyền Cộng sản Việt Nam đối với những cổ tục địa phương chỉ được thể hiện bằng cưỡng chế chính sách nhiều lúc quá khích. Vấn đề là ở mức độ. Sự chuyển hướng về một cơ chế pháp trị có hiệu năng đương đầu với hoàn cảnh này đòi hỏi thời gian, bối cảnh chính trị, và quan trọng nhất là sự trưởng thành của ý thức quần chúng.
 
Một vấn đề khác nữa là luật pháp phải cung cấp cơ chế để ý dân được thể hiện. Nếu luật pháp cấm cản dân làng không được mổ heo bò ăn uống trong các dịp đám tang thì dân làng sẽ phản ứng như thế nào? Ai làm ra luật đó? Cơ chế và thủ tục lập pháp có cho dân làng được thể hiện ước vọng của họ? Liệu chính quyền phải đóng vai trò cha già làm luật cho dân vì muốn lo cho dân, coi dân như đám con cháu chưa biết mình muốn cái gì? Và còn cơ chế cưỡng bách? Nếu dân làng cứ nhe răng ra cười vào luật pháp quốc gia và cứ khua chiêng múa trống mổ heo, giết bò ăn uống linh đình để đưa đám, liệu chi nhánh công lý, pháp chế địa phương có khả năng thi hành luật pháp, trừng phạt hay cấm cản dân làng? Lãnh đạo chính trị và hành chánh phải sẵn sàng tiên phong, khéo léo sử dụng cơ chế chính trị dân chủ để kiến tạo những bộ luật thích hợp nhằm nâng đời sống dân quê lên một mức độ văn minh có thể chấp nhận được. Thoạt đầu dân chúng có thể phản đối, nhưng dần dần thì giá trị phổ quát của quốc dân và quốc gia cũng sẽ chinh phục được họ. Trường hợp Hoa Kỳ với các đạo luật dân quyền ở thập niên 1960-70 hay ở Ấn Độ với bộ luật bình đẳng giai cấp đối với truyền thống đẳng cấp (caste system) thời 1950-60 chứng tỏ sự ưu thắng của giá trị phổ quát quốc gia lên trên niềm tin và giá trị cổ tục địa phương.
Luật pháp còn đóng một vai trò khác trừu tượng và quan trọng hơn nữa. Nó nâng cá nhân ra khỏi khuôn khổ nhỏ hẹp của địa phương, của truyền thống, của giai cấp để biến họ thành một đơn vị trừu tượng mới. Đó là tư thế công dân của một quốc gia: quốc dân. Khi nền kinh tế nông nghiệp cổ truyền đã được chuyển hóa qua một giai đoạn công nghiệp cao hơn, gốc rễ của xã hội, của tục lệ phải lung lay. Cá nhân mới sẽ cảm thấy bất lực và thua thiệt nếu cứ bám vào truyền thống để đối chọi với nặng lực thời đại. Vấn đề di dân sẽ xảy ra. Thành thị sẽ trở nên những trung tâm sinh hoạt chính và quan trọng hơn. Thế hệ mới sẽ hấp thụ giáo dục mới, sẽ làm chủ đổi thay. Người phụ nữ trong làng mạc Việt Nam, vốn là nạn nhân của truyền thống Việt Nam cũng sẽ ý thức được vai trò của họ, để gióng lên tiếng nói của mình, để đấu tranh cho một chỗ đứng bình quyền trước luật pháp, hơn là suốt ngày bị mẹ chồng, em dâu ức hiếp, bị chồng đánh đập, làm việc như nô lệ, lại đẻ một bầy con nheo nhóc.
Thời đại “phép vua thua lệ làng” là giai đoạn bất lực của chính quyền quốc gia, của vua chúa cai trị trong cái ý niệm “thiên tử” mơ hồ, thiếu khả năng cai quản và hành xử vai trò quốc gia đối với tập thể quốc dân. Phải đến lúc Việt Nam phải vượt qua cái ngõ hẹp của tình trạng thiếu hiệu năng này. Phép nước (luật pháp) phải thể hiện được lệ làng trên một căn bản hòa giải, hợp lý và tổng thể. Làng xóm phải bị chi phối và cai quản bởi cơ chế và nội dung pháp lý quốc gia. Trật tự làng xóm phải nằm trong trật tự chung của quốc gia và ngược lại. Công lý phải thể hiện được bối cảnh chung trong tinh thần tôn trọng những cá biệt đến một mức độ cần thiết. (Mặc dù làng mạc, thôn xóm là những cấu trúc xã hội tách biệt và ù lỳ, đầy tục lệ lỗi thời và áp lực. Tuy nhiên, làng mạc Việt Nam là những cấu trúc xã hội dân sự cần thiết cho nền tàng xã hội chung, bảo đảm được ngay cả sự sống còn của quốc gia. Lịch sử của Việt Nam đã cho thấy điều này: Nếu không có làng xóm thì quốc gia Việt Nam đã bị hủy thể dưới các thời ngoại trị. Vấn đề ở đây không phải là từ chối cơ chế và cấu trúc làng xóm. Trái lại, có những yếu tính tổ chức và sinh hoạt có yếu tính dân sự cần phải được phát huy như tình tương thân, tương ái, hội hè thể thao… Nhưng vấn đề là luật pháp quốc gia phải mang tính ưu tiên và hiệu năng đối với làng xóm Việt Nam. (Xin xem chương Luật pháp và Quốc gia.)
 
GIỮA MIỀN, VÙNG VÀ ĐỊA PHƯƠNG
 
Sự khác biệt về cá tính và nhân văn giữa người Việt mang nặng yếu tố địa phương còn cao hơn là giữa tôn giáo, giai cấp, hay cả trình độ giáo dục. Bạn hãy cho tôi biết bạn sinh ra và lớn lên ở đâu, cha mẹ từ tỉnh nào thì tôi sẽ biết được nhiều căn bản cá tánh và triết lý cuộc đời của bạn. Điều này có thể hơi quá đáng, nhưng đây là nhận định chung thường nhật chưa hề được cơ cấu hóa, chính thức hóa bằng khoa học xã hội. Câu hỏi phải được đặt ra ở đây là sự khác biệt này có gây một trở ngại nào cho nhu cầu pháp trị cho Việt Nam hay không? Câu trả lời, theo tôi, là không có vấn đề nào trầm trọng cả.
Nguyên nhân của nạn kỳ thị địa phương Bắc, Nam, Trung phát xuất từ sự khác biệt cá tính, nhân văn và lịch sử đô hộ từ thời Pháp thuộc. Tuy nhiên, xét về phương diện xã hội thì đây không phải là một tệ trạng đáng kể. Về phạm trù chính trị và hội đoàn, thì sự kết tụ phe nhóm, đoàn thể thường mang khuynh hướng địa phương và những vấn đề tự nhiên của những người có cùng giọng nói, cùng cá tính, thường gần gũi với nhau. Người Bắc, theo cảm nhận thông thường, thì “khéo nói,” người Trung thì “chịu khó,” người Nam thì “xuề xòa.” Những sự khác biệt này không mang tính chất hận thù mà các dân tộc khác thường gặp phải. Trên tiến trình lâu dài, sự phân biệt địa phương (hơn là nạn kỳ thị) sẽ mất dần khi xã hội và chính trị thực thi chức năng ít thiên về căn bản cá nhân mà nặng về cơ chế và pháp lý vượt qua khỏi yếu tố duy con người.
Sự tiến hóa nhân văn của nhân loại đi từ đặc thù địa phương đến phổ cập toàn cầu. Khi đất nước chưa được mở mang, cơ hội giáo dục chưa đồng đều, ý thức công dân chưa lên cao, phương tiện truyền thông chưa phổ quát thì địa phương tính là hệ quả tự nhiên của hoàn cảnh sống vốn bị chi phối bởi yếu tố địa lý. Cơ chế pháp luật đóng một vai trò quan trọng trong chiều hướng tiến hóa này. Luật pháp khi cấm cản kỳ thị địa phương trên các lãnh vực nghề nghiệp, giáo dục, kinh doanh sẽ gây ý thức tích cực về căn bệnh chậm tiến của nạn kỳ thị. Công dân sẽ nhân danh luật pháp như là giá trị tối cao để đối chọi với hoàn cảnh mà họ là nạn nhân. Lịch sử phong trào dân quyền của người Mỹ da đen là tiến trình gây ý thức tích cực về ý niệm bình đẳng bằng cách kiến tạo tiêu chuẩn pháp lý cưỡng bách.
Ngoài vấn đề kỳ thị, phân biệt, pháp luật còn phải đương đầu với phạm trù cơ chế và văn hóa của từng vùng. Cấu trúc tổ chức, nhân sự và nội dung pháp lý quốc gia phải linh động thích hợp với địa phương. Quan trọng hơn là phải cho địa phương cơ hội cơ chế và thẩm quyền để tự giải quyết sự khác biệt có tính cách hạn hẹp trong từng giới hạn địa lý. Khi nền kinh tế quốc gia phát triển, cơ hội lao động công nghiệp được rộng mở, thành phần sản xuất nông nghiệp vốn mang bản sắc địa phương sẽ di cư về thành phố, về các vùng nhiều công ăn việc làm, tạo nên giao lưu mới về giá trị để rồi dần dần yếu tố phổ cập quốc gia sẽ có sức mạnh hoán chuyển giá trị, đem con người vượt qua tầm nhìn vấn đề có tính chất địa phương. Chính những thành phần năng động cao sẽ dần chủ động tiến trình pháp chế hóa những tiêu chuẩn liên hệ và giá trị liên vùng địa phương.
Luật pháp giúp đưa người địa phương ra khỏi lũy tre xanh của mình khi họ đối đầu và sống trong những tiêu chuẩn mới mang nhiều khách quan tính của lý trí. Nó giúp con người, trong tiến trình, xóa bỏ những đặc thù quá nhiều yếu tính địa phương. Luật pháp đóng góp cho sự trưởng thành chung của văn hóa cho tầng lớp quảng đại quần chúng để đem họ lên với phạm trù của lý trí – nhất là khi cơ chế pháp trị đặt mỗi công dân trong vị thế của một bồi thẩm đoàn trong một vụ án xét xử trên tiêu chuẩn pháp chế quốc gia.
Tuy nhiên, luật pháp quốc gia phải được kiến tạo trên căn bản thể hiện được ước vọng chung cho từng vùng, từng địa phương. Cơ chế chính trị mà hiến pháp quốc gia phân định phải được xây dựng để cho tiếng nói của từng địa phương, từng miền, vùng có cơ hội được đồng đều thể hiện và tham dự tích cực. Quan trọng nhất là cơ chế đầu phiếu.
Khu vực cử tri phải được phân chia để thành phần quốc hội lập pháp thể hiện được đặc thái khác biệt của địa phương. Sự khác biệt rõ ràng nhất là giữa thôn quê và thành thị. Nếu không phân chia làn ranh cử tri tỉnh-quê rõ rệt thì trong các kỳ bầu cử, các thành phần ứng viên đều bắt nguồn từ thành phố, từ các giai tầng năng động, thế lực giàu có. Tuy nhiên, bản chất quyền lợi và tính cách đại diện giữa thị xã và thôn quê vốn rất khác biệt và nhiều lúc mâu thuẫn lẫn nhau. Bản chất kinh tế thôn quê là làng mạc và làng xóm; trái lại thành phố là công nghiệp, kinh doanh. Do đó, biên giới cử tri – như nguyên tắc voter districting của Hoa Kỳ – phải được thiết kế để phản ảnh được sự khác biệt căn bản này để đại đa số quần chúng nông thôn nghèo khổ, xa xôi, ít thế lực có được tiếng nói của mình ở các cơ chế chính trị dân cử từ địa phương đến trung ương.
Luật pháp đem con người ra khỏi phạm trù địa phương tính bằng cách cống hiến cơ hội cho họ ý thức được những viễn kiến lớn hơn, từ chính trị, văn hóa cho đến kinh tế và quản trị. Cơ hội này là cơ chế chính trị tích cực để họ tham gia vào công trình kiến tạo nền tảng pháp chế tự trị, tự quản. Bạn phải làm ra những quy tắc, những quy luật cưỡng chế cho chính bạn mà bạn phải sống và chịu sự cưỡng chế này vì đã đến lúc bạn trưởng thành rồi, không ai còn lo cho bạn nữa. “Thiên tử” đã về trời, “Đảng và nhà nước ta” cũng đã không còn, “mẫu quốc” và “đồng minh” cũng đã biến mất, chỉ còn lại chính mình trong ý thức quốc dân và dân tộc, để mà phải tự chế, tự quản, tự tồn, tự tiến.
Cơ hội chính trị để xây dựng pháp chế và ngược lại là cơ hội được thể hiện tiếng nói và được lắng nghe cũng như quyền tiếp nhận truyền thông. Đây là bản chất của ước vọng được tiến thân đồng đều. Guồng máy chính trị là khí cụ của pháp luật - hiến pháp - để thể hiện ước vọng chung này. Luật pháp quyết định trật tự chính trị bằng đường lối phát huy năng động của cơ hội đồng đều cho công dân. Năng lực chính trị và kinh tế là động cơ tiến bộ của quốc gia và xã hội. Trật tự chính trị phải thể hiện và đáp ứng năng động này bằng tiến trình quân bình hóa những mâu thuẫn quyền lợi tự nhiên của tập thể quốc dân – mà mâu thuẫn và khác biệt địa phương là một yếu tố quan trọng trong tình trạng chậm tiến của xã hội và chính trị Việt Nam hiện nay.
 
GIỮA CÁC TÔN GIÁO
 
Sự mâu thuẫn giữa các khối quần chúng trên căn bản tôn giáo và mức độ liên hệ là một biến số của trình độ văn hóa xã hội và cơ chế chính trị. Không có gì làm cho con người cực đoan và cuồng nhiệt hơn là tình cảm tôn giáo. Càng chậm tiến thì mức độ cuồng tín càng cao, mâu thuẫn tôn giáo càng lớn. Các quốc gia chậm tiến thường bị những vấn nạn tôn giáo tầm trọng – như trường hợp Trung Đông. Tuy nhiên, ở Ái Nhĩ Lan (Ireland) sự xung đột tôn giáo giữa hai phái Công giáo La mã và Tin lành cũng không kém phần đẫm máu và khốc liệt mặc dù xứ này được coi là văn minh, tiền tiến. Ở Ái Nhĩ lan, yếu tố lịch sử và cơ chế chính trị địa phương đóng vai trò lớn hơn là tình cảm tôn giáo trong vấn đề tranh chấp. Nó khác biệt với sự mâu thuẫn giữa quần chúng Hồi giáo và Ấn Độ giáo. Đối với những tranh chấp trầm trọng, luật pháp gần như phải bó tay. Khi cuồng nộ đã vỡ bờ, súng đạn đã nổ, máu thịt đã rơi thì luật pháp chỉ còn là khối trừu tượng cho ước vọng mà thôi.
Đối với Việt Nam, mâu thuẫn tôn giáo không có mầm mống nổ tung ngòi như các nơi khác, mặc dù dân Việt Nam cũng cuồng tín như các dân tộc chậm tiến khác. Lý do đầu tiên là yếu tố “đồng bào”: Điều này có vẻ lý tưởng và trừu tượng. Tuy nhiên cái niềm tin của gốc rễ giống nòi đã tạo nên những cái nhìn tương đồng về nhân sinh quan dù tình cảm thái độ đôi khi làm họ trở nên cuồng nhiệt quá mức. Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo chưa bao giờ tranh chấp nhau vì yếu tố triết học dung hòa và tương đồng. Yếu tố chính trị cũng như lịch sử của ba tôn giáo này cũng chưa bao giờ là yếu tố mâu thuẫn trầm trọng. Còn Công giáo La mã, Tin lành, Cao đài và Hòa hảo thì chỉ mới du nhập hoặc khai sinh gần đây mà thôi. Tuy vậy, Công giáo và Phật giáo mang yếu tính mâu thuẫn cao nhất trên các yếu tố triết học, con người và lịch sử. Tuy nhiên, mâu thuẫn này chưa trở nên “nợ nần” của máu xương để sự cuồng nhiệt trở nên hận thù khó hòa hoãn. Phần lớn những người Công giáo Việt Nam đều có bà con, họ hàng hay ngay cả chính mình, là gốc Phật giáo. Đã có lúc vấn đề chính trị như thời chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam đã tạo nên những mầm mống khủng hoảng giữa Phật giáo và Công giáo; nhưng may mắn là mức độ chưa có trầm trọng. Thời chính quyền Cộng sản thì cả hai tôn giáo đều ít nhiều trên một số phương diện là nạn nhân. Giai đoạn hậu Cộng sản, khi mà năng động tôn giáo của quần chúng được mở tung dưới cơ chế chính trị mới, thì mâu thuẫn tôn giáo giữa Công giáo và Phật giáo lại có thể bị khơi động. Câu hỏi ở đây: Luật pháp làm được gì để giải hóa mâu thuẫn này?
Phần lớn bản chất mâu thuẫn giữa Phật giáo và Công giáo ở Việt Nam có nguồn gốc chính trị. Luật pháp có thể ngăn chặn và hóa giải mâu thuẫn này bằng các nguyên tắc pháp chế sau:
 
* Phân cách tôn giáo và chính quyền: Tức là áp dụng nguyên tắc hiến pháp Hoa Kỳ the seperation of church and state”. Chính quyền không được nhúng tay vào hai vế, (1) cấm cản, kỳ thị, hay (2) giúp đỡ, đóng góp vào quyền hành xử tự do tín ngưỡng và phát huy tôn giáo của dân chúng. Áp dụng được nguyên tắc này đòi hỏi lãnh đạo chính trị nghiêm chỉnh và một cơ chế luật pháp vững vàng.
 
*  Kiến tạo nguyên tắc giá trị cưỡng chế để tạo áp lực khách quan và đồng thời gây ý thức về căn bệnh này.
*  Thiết kế nguồn gốc cơ chế chính trị và cơ cấu chính quyền để mọi công dân đều có cơ hội đồng đều được thực sự đại diện và thể hiện ước vọng và tiếng nói của họ, nhất là từ các phía quần chúng có tôn giáo khác nhau.
*  Nội dung pháp chế phải thể hiện giá trị quân bình, phổ cập hơn là thành kiến hay giá trị đặc thù của một tôn giáo. Ví dụ quan điểm về vấn đề ly dị của Công giáo La Ma, hay vấn đề ăn chay của Phật giáo, phải không được độc tôn về giá trị khi kiến tạo những bộ luật liên hệ.
Dĩ nhiên, pháp luật không thể chỉ mình nó giải quyết được vấn nạn. Khi văn hóa, xã hội đã được tiến hóa lên đến giai đoạn trưởng thành và thượng tôn lý trí thì mâu thuẫn tôn giáo chỉ còn là một bóng mờ, một “chú thích” của lịch sử mà thôi. Vai trò của pháp luật là chức năng quân bình hóa bằng nguyên tắc và giá trị của tự chế và lý trí để dân tộc ta có cơ hội trưởng thành lên khỏi tình trạng niên thiếu hiện giờ.
 
GIỮA CÁC SẮC DÂN
 
Dân Kinh, vì con số, cộng với nhiều yếu tố khác, chiếm ngự hết cả các khuôn mặt sinh hoạt của quốc gia Việt Nam. Các thiểu số dân miền núi cao nguyên như người Thượng, người Nùng, người Thái thì con số quá ít ỏi. Người Chàm ở duyên hải Trung Nam phần cũng vậy.
Chỉ có người Việt gốc Hoa là vấn đề duy nhất của vấn đề dân tộc thiểu số cho chính trị và luật pháp Việt Nam. Người Hoa kiều là một thiểu số mang nặng yếu tính văn hóa Trung Hoa, khó mà được Việt hóa hoàn toàn, có khả năng kinh doanh lớn. Thời 1975-85, họ đã bị bạc đãi và một số lớn bị trục xuất ra khỏi Việt Nam. Nhưng sức mạnh cộng đồng thiểu số cả về văn hóa lẫn kinh tế vẫn còn mạnh mẽ cho đến hiện giờ và sẽ còn tiếp tục trong tương lai.
Cộng đồng Hoa kiều không có ảnh hưởng gì nhiều đến chính trị quốc gia ngoại trừ một vài vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi kinh doanh của họ. Ví dụ, thời trước 1975, chức quận trưởng, bao gồm khu Chợ Lớn, Sài Gòn đã bao lần bị chi phối bởi ảnh hưởng tài phiệt của người Hoa kiều ở đó. Người Hoa kiều mang năng động tích cực và có khả năng cao về phương diện kinh doanh. Tánh tình thì tương đối hiền lành và trọng chữ tín (theo cảm nhận thông thường) hơn là người Việt Kinh. Người Hoa kiều có hai quan tâm lớn: Kinh doanh và sống trong văn hóa Trung Hoa.
Từ đó, luật pháp có thể đóng vai trò tích cực cho vị thế của dân Hoa kiều mà không có vấn đề nào đặc biệt cả. Một cơ chế pháp trị bảo đảm được quyền tự do kinh doanh, văn hóa, và tạo cơ hội đồng đều về chính trị cho tất cả mọi sắc dân và khối quần chúng sẽ giải quyết hầu hết mọi vấn đề.
Tuy nhiên, người Hoa kiều phải được khuyến khích về với ý thức và nề nếp sinh hoạt quốc dân Việt Nam hơn là cứ mãi quanh co trong phố Tàu, Chợ Lớn. Muốn được thế, phải có một chính sách và cơ chế kinh tế tạo cơ hội và năng động tham gia vào sinh hoạt chung với người Việt mà không bị mặc cảm thiểu số hay thua thiệt. Ngoài ra, luật kinh doanh và hình luật đối với các tệ trạng kinh doanh như đầu cơ, tích trữ, cạnh tranh bất công cũng là những vấn đề giúp người Hoa kiều bước vào văn hóa pháp trị để đóng góp xây dựng trật tự chính trị và xã hội Việt Nam đa dạng, bao gồm và rộng mở.
Chúng ta thấy người Hoa, gốc Minh Hương, đã đóng góp to lớn như thế nào cho sự phát triển kinh tế và xã hội cho các tỉnh miền Tây Nam. Khác với người Hoa ở Chợ lớn, người Việt gốc Hoa ở vùng sông Cửu Long nhận diện họ là người Việt gần như hoàn toàn. Chính là sự rộng mở về văn hóa, tinh thần và cơ hội kinh tế mà sự Việt hóa của người gốc Hoa đã thành công đến mức khả quan. Trong khi đó, các khối dân gốc Khmer ở các tỉnh miền Tây, vì nhiều lý dovăn hóa và kinh tế khác, vẫn còn mang đậm sắc thái người Miên và họ vẫn chưa coi chính họ là công dân Việt Nam một cách cao độ.
 
TRẬT TỰ HÀNH CHÍNH VÀ CÔNG QUYỀN
 
Khả năng và bản chất cơ chế quốc gia thể hiện qua trật tự hành chính công quyền. Ấn tượng đầu tiên của một du khách bước xuống phi cảng của một quốc gia là khả năng và thái độ hành xử quyền hạn tối cao quốc gia (national sovereignty) bởi nhân viên quan thuế qua thủ tục nhập cảnh. Cũng thế, cảm tình chính trị cho một chế độ bắt đầu khi người nông dân đến với trụ sở hành chính công quyền địa phương để giải quyết một vài thủ tục giấy tờ căn bản. Tây phương có câu “God is in the details” (Thượng đế thể hiện qua chi tiết) là vậy. Lý tưởng quốc gia và khả năng theo đuổi của tập thể chính quyền phải được thể hiện qua chi tiết hành chính. Giải quyết nhu cầu hành chính tiểu vi (micro-administration) là hoàn tất từng giai đoạn của trật tự công quyền. Bác đạp xích lô không hề biết và không cần biết những trừu tượng của quyền hạn công dân; nhưng bác chắc chắn biết đến lề lối phép tắc của thủ tục giấy phép hành nghề, quy tắc lưu thông, tư cách và thái độ của nhân viên công sở, cảnh sát công lộ, an ninh địa phương. Tất cả những tất cả đó tích lũy tạo nên tổng thể chính trị và công quyền, thể hiện được bản chất công lý, trật tự và mức độ tự do cho quốc dân.
Chức năng của cơ chế hành chính là thi hành chính sách và luật pháp quốc gia từ trung ương đến địa phương. Định hướng tích cực của chức năng hành chính là sự kiến tạo trật tự bằng quyền hạn lập quy trên căn bản pháp chế.
Thực thi chính sách – khác với thể hiện pháp luật – vốn mang nhiều vấn đề tiêu cực căn bản, đặc biệt là tính bất thường của chính sách. Thí dụ về quyền hạn sở hữu chủ bất động sản. Ở Việt Nam hiện nay, quyền chủ nhà, chủ đất thuộc về phạm trù chính sách chứ hiến pháp quốc gia không công nhận quyền tư sản. Do đó, vấn đề đầu tiên là sự mâu thuẫn giữa chính sách và hiến pháp.
Thứ hai, chính sách không thể làm khuôn thức quy tắc để giải quyết mâu thuẫn – ví dụ, tòa án sẽ gặp rất nhiều khó khăn phân xử quyền hạn mà không khỏi nhúng tay vào phạm trù quyết định chính sách vốn là của phía hành pháp.
Thứ ba, chính sách không có đủ chi tiết, lý luận và nền tảng quyền hạn.
Thứ tư, chính sách cho phép quá rộng rãi mức độ tùy ý và tùy quyền (discretion) của người thi hành và phiên giải chính sách.
Thứ năm, chính sách thường thay đổi mà không ai có thể tiên đoán được đường hướng tương lai của nó.
Thứ sáu, chính sách luôn luôn mang nội dung thiếu quân bình vì cơ chế phát sinh chính sách không đủ khả năng phản ảnh được quyền lợi khác biệt của quần chúng.
Do đó, thực thi hành chính đặt nặng từ căn bản chính sách khó mà kiến tạo được niềm tin vào một liên tục ổn cố, đặc biệt là về trật tự kinh tế. Tại sao tôi phải bỏ tiền ra mua căn nhà khi mà chủ quyền của tôi có thể bị mất trong tương lai gần mà không có khả năng và phương thức bảo vệ bởi luật pháp? Tại sao tôi phải đầu tư, thuê mướn nhân công nếu quy tắc lao động, thuế khóa có thể thay đối với tác hại tiêu cực vào sự nghiệp kinh doanh của tôi? Đến một lúc nào đó, dân chúng không biết ai có quyền lực hơn ai để quyết định sở hữu chủ và các phạm trù quyền lợi của công dân khác. Một thửa đất ở bên sông Sài Gòn, năm 1990, theo nguyên tắc là của Sở Nhà đất thành phố Hồ Chí Minh. Đó là theo “giấy tờ.” Thực chất thì miếng đất động sản này thực sự “được làm chủ” bởi một ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản ở Hà Nội. Đây là trường hợp biểu trưng cho thế đứng khó khăn về lãnh vực hành chính công quyền trong khoảng trống to tát đòi hỏi một cơ chế pháp trị hiệu năng và có giá trị thực chất. Khi không có luật pháp, cá nhân có quyền lực sẽ lạm dụng khoảng trống này. Hành chính công quyền từ đó là khí cụ cho cá nhân, là đầu mối của thối nát và bất lực.
Sự chuyển hóa từ hành chính chính sách đến hành chính pháp lý mà một trong những điều kiện căn bản để kiến tạo dân chủ pháp trị.
 
MỘT TRẬT TỰ PHÁP TRỊ
 
Khi đời sống nhân dân của quốc gia đến giai đoạn ý thức được tư thế độc lập và chủ quyền của đất nước, thì tập thể nhân dân này phải được trưởng thành để hành xử nhu cầu tự trị cho chính mình. Cơ chế quốc gia và xã hội để thể hiện nhu cầu này là một hệ thống trật tự pháp trị.
Nhu cầu trật tự mang tính chất khẩn cấp hơn nhu cầu công lý và tự do. Đây là biện minh cả về thực tế và lịch sử chính trị cũng như cho các thể chế độc tài muốn nhấn mạnh nhu cầu ổn định để tước đoạt những quyền hạn căn bản khác. Một trật tự có chính đáng hay không tùy thuộc vào khả thể và khả năng cung cấp cơ hội công lý và kiến tạo tự do. Tự do phải được phát huy trên căn bản trật tự để tích cực tính của tự do được xây dựng. Đối với hai nhu cầu trật tự và năng động tự do, một tiến trình cân bằng khôn khéo phải được chọn lựa để hai đối lực tự nhiên này không trở nên một mâu thuẫn triệt tiêu.
Một bản chất pháp chế cho dân tộc Việt Nam, mang yếu tính Việt Nam, phải được thể hiện để trật tự quốc gia được quân bình, hiệu năng và sinh động. Trật tự pháp trị cho Việt Nam mang bản chất cấu trúc xã hội Đông Á, khác với những giá trị xã hội Âu Mỹ. Giữa hai thái cực, một bên là Hoa Kỳ, một xã hội pháp trị cứng ngắc và thái quá, một bên là Đông Á, với mô hình Nhật Bản, thì Việt Nam phải ở gần với mô hình Nhật Bản nhiều hơn.
Bản chất xã hội, con người vốn khác biệt giữa Hoa Kỳ và Đông Á, do đó, nội dung pháp chế cho Việt Nam phải phản ánh được nhận thức này. Một bình luận gia Nhật Bản đã nói đến sự khác biệt giữa Nhật và Mỹ về vấn đề này như sau:
 
Lịch sử Nhật Bản, vốn quá khác biệt với lịch sử Hoa Kỳ. Nhật Bản không kiến tạo cá nhân là đơn vị căn bản của xã hội. Hiếm có trường hợp cá nhân Nhật vượt ra khỏi xã hội để sống cho chính mình. Ngày nay, cũng như ngày xưa, đơn vị căn bản của xã hội Nhật không phải là những “nguyên tử” cá nhân, mà là những nhóm “tế bào.” “Nhóm tế bào” này hợp thành gia đình và làng xóm. Người ta có thể coi gia đình là những “đơn nhân” (monomers) và làng xóm là những “hợp nhân” (polymers). Cá nhân sống như một phần tử bất khả phân trong tập thể và trong bối cảnh cộng đồng chung. Nền tảng đạo lý để gìn giữ cộng đồng là “hòa đồng.” Những giá trị của người Mỹ như “tự do cá nhân,” “công bằng cơ hội,” “chính sách cửa rộng mở” (open-door policy) được coi là những “protein ngoại lai” được du nhập vào xã hội cổ truyền của Nhật Bản mà thôi.(30)
 
Từ đó, nội dung và cơ chế pháp luật của Nhật được kiến tạo trên căn bản nhận thức này – nhấn mạnh đến tính chất giải hòa và yếu tố cộng đồng làng mạc hơn là bản chất “đối nghịch hệ thống” (adversarial system) vốn là của pháp chế Hoa Kỳ. Nhưng theo giáo sư Frank K. Upham thì cơ chế pháp trị của Nhật Bản, vì nhấn mạnh và dựa trên căn bản giá trị cộng đồng, thực ra là mặt nạ của thế lực lớn nhằm đè bẹp năng động và quyền lợi của các nhóm nhỏ yếu thế, và nhất là hạn chế tự do và phạm trù độc đáo cá nhân, những con người muốn thử thách truyền thống và giá trị tập thể.(31)

Kinh nghiệm Nhật Bản cũng là một kinh nghiệm nhận thức cho Việt Nam. Hiến pháp của Nhật sau Thế chiến thứ Hai được viết theo mô hình của Đức và Anh mặc dù dưới áp lực của quân chiếm đóng Mỹ. Tiến trình chính trị và yếu tố lịch sử của giai đoạn sau thế chiến của Nhật cũng đã trải qua muôn ngàn khó khăn nhưng họ cũng kiến tạo nên cho chính quốc gia mình một cơ chế và nội dung pháp trị độc đáo và thích ứng cho dân tộc và hoàn cảnh của họ.
Việt Nam, và người Việt, ở giai đoạn cuối thế kỷ XX này vốn mang bản chất chuyển
tiếp:
Chính trị: Từ độc tài đảng trị đến thử nghiệm dân chủ pháp trị; Văn hóa: Từ lạc hậu, nặng xúc cảm đến phân tích lý trí;
Giá trị: Từ làng mạc đến thị thành, từ địa phương đến phổ cập, từ Á Đông sang Âu
Mỹ;
Con người: Từ chức năng tập thể đến ý thức cá nhân, từ tòng phục vô ý thức đến chủ động tự do.
Tiến trình chuyển tiếp này đang xảy ra nhanh chóng, sâu đậm và toàn thể. Sau thất bại lịch sử của giai đoạn thử nghiệm Cộng sản, năng động biến hóa của con người Việt Nam đang hướng về phổ cập tính của toàn cầu trên căn bản giá trị tổ chức và khoa học Âu Mỹ (dân chủ pháp trị, kinh tế thị trường, cá nhân chủ nghĩa, nhân chủ nhân văn). Đây là bản chất của lịch sử Việt Nam hiện nay. Tất cả các hiện tượng chính trị, tổ chức, văn hóa, kinh tế đều chỉ thể hiện bản chất năng động chuyển tiếp này.
Giai đoạn chuyển hướng này của Việt Nam đã kéo dài cả thế kỷ nay từ lúc người Pháp bắt đầu đem giá trị Tây Âu đến, dù tốt hay xấu, với dân tộc chúng ta. Những phản ứng chính trị từ các phong trào dân tộc độc lập, du học, dân chủ, Marxism đều là những làn sóng khác nhau của người Việt nhằm tìm một cái “đích-đi-đến” mong vượt qua những mất thăng bằng của lịch sử trước giai đoạn vươn mình. Tuy nhiên sự cân bằng này vẫn chưa đạt được vì những phản ứng trên vẫn còn chưa kiến tạo được một cơ chế quản trị được đổi thay – một trật tự năng động nhưng quân bình.
Đó là thể chế dân chủ pháp trị.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.09.2016 08:25:22 bởi Sun Ming>
CHƯƠNG BA
 
LUẬT PHÁP VÀ CÔNG LÝ
 
Justice requires that freedom, equality, and security be accorded to human beings to the greatest extent consistent with the common good. (Công lý đòi hỏi rằng tự do, công bằng và an sinh phải được cung ứng cho con người đến mức tối đa nhưng tương xứng với giá trị xã hội.) Edgar Bodenheimer (1962)
 
Ý nghĩa kế tiếp: Luật pháp là cơ chế để thực hiện công lý. Nếu trật tự khách quan là cơ chế mà con người muốn thiết lập thì công lý là nội dung của trật tự đó. Công lý (justice) là một ý niệm nội dung đạo đức cho một tác động, một vấn đề, một bối cảnh, một tổ chức. Công lý có hai vế: công bằng và hợp lý[link=#page32]1[/link]. Một trật tự pháp chế có thỏa mãn được hai nhu cầu công bằng và hợp lý hay không còn tùy theo trình độ ý niệm về công lý của cá nhân và hay đơn vị xã hội đó.
 
Một hệ thống tổ chức – hay nói cách khác, một trật tự xã hội (ví dụ, hệ thống pháp lý) – có thể hoàn tất và thể hiện được cứu cánh hay không là tùy vào nội dung của trật tự đó. Về phương diện luật pháp, một hệ thống pháp lý có thể được tổ chức chặt chẽ, cơ cấu hoàn chỉnh, có khả năng hành xử đúng luật; tuy nhiên, nếu nội dung luật pháp và hậu quả của sự hành xử nội dung đó không thực hiện được cảm nhận và tiêu chuẩn công lý của con người và xã hội liên hệ thì hệ thống pháp lý đó chưa đáp ứng được mục đích hiện hữu của nó.
Cứu cánh của công lý là hiện thực hóa ý niệm và cảm nhận về giá trị công bằng và lý trí cho đại đa số quần chúng trong một đơn vị xã hội để nhằm sử dụng được năng lực đạo đức và động cơ ý thức của họ cho một mục đích chung. John Rawls, một triết luật gia (legal philosopher) nổi tiếng Hoa Kỳ hiện nay, trong luận đề rất ảnh hưởng đến triết học luật pháp khoảng hai thập niên qua, A Theory of Justice (Một lý thuyết về công lý), nói, “Một xã hội công lý xác định biên giới và bối cảnh cho cá nhân để họ nỗ lực, và đồng thời cung cấp một nền tảng quyền hạn, cơ hội hiệu quả nhất cho mục đích tối hậu của xã hội đó” (32).
 
Một trong những chiều hướng biến hóa rõ rệt nhất của xã hội, nhất là Tây phương, là sự lớn mạnh của chức năng luật pháp khi nó chi phối và thay thế vai trò truyền thống của các cơ chế giá trị khác như tôn giáo, học đường và gia đình. Đây là sự lớn mạnh của tổ chức trên phương diện chính trị dân chủ. Với sự trưởng thành của những quốc gia, bối cảnh xã hội và kinh tế của họ vượt ra khỏi sự ngự trị và chi phối của giá trị truyền thống và cổ tục. Khi mà, nói theo Tây phương, “chiếc bánh của tục lệ bị sụp đổ” thì đến lúc luật pháp phải lên ngôi để lấp vào khoảng trống đó.
Từ hai thế kỷ qua, cơ chế chính trị, trong đó có luật pháp, dần chủ động chiều hướng tiến hóa của xã hội Tây phương. Chính quyền, với sức mạnh luật pháp, chiếm địa vị độc tôn của quyền lực. Quyền lực này được thực thi qua nội dung pháp luật với cơ cấu của nó. Mọi tổ chức khác, gia đình, tôn giáo, nghiệp đoàn, hàng xóm, băng đảng đều bị đặt nằm trong giới hạn của luật pháp quốc gia. Từ đó, giá trị đạo đức thể hiện nội dung luật pháp – khác với trong quá khứ khi mà luật pháp chỉ là sự cơ chế hóa đạo đức. Ở Hoa Kỳ, chồng đánh vợ là một tội hình. Người vợ lên án hành động này một phần vì luật pháp lên án nó. Trật tự gia đình không còn mang đẳng cấp của truyền thống mà lại có căn bản giá trị pháp lý. Xung đột nội bộ của gia đình đều được các cơ quan công quyền giải quyết trên tiêu chuẩn pháp luật khách quan.

Khi nói đến công lý, chúng ta phải nói tới công lý của thời đại, xã hội và bối cảnh nào. Công lý là một ý niệm lý tưởng trừu tượng chủ quan tùy thuộc vào yếu tố khách quan mà ý niệm đó được nảy mầm. Công lý là tiêu chuẩn tổng quan của nguyện vọng cá nhân khi họ đối đầu với những bất thường, bất thiện của xã hội. Con người muốn có một xã hội công lý trong đó luật pháp bảo đảm được tự do, công bình, an ninh, cơ hội và giá trị cá nhân. Xã hội phải có đủ khoảng trống để cho con người phát triển, khai sáng và sử dụng ý lực cá nhân trong giới hạn vừa phải và cần thiết của luật pháp.
Vì thế, ước vọng của thời điểm nào đánh dấu giá trị của xã hội đó trên phương diện công lý. Tất cả những danh từ, tên gọi để đo lường mức độ đạo đức xã hội này đều phát xuất từ chủ quan tính ở thời gian và không gian đó. Nói theo G.W. Hegel, trong cuốn Philosophy of Right (Triết học pháp quyền), thì dù gì đi nữa, mỗi cá nhân là “mỗi đứa con của thời đại của họ.” (33)
 
Công lý là một diễn đạt về một lý tưởng tốt đẹp, một bối cảnh sinh sống đạo đức mà trong đó xã hội thể hiện được hy vọng và ước muốn của cá nhân. Công lý thiết lập được tiêu chuẩn cho pháp luật: Luật pháp phải công minh, rõ ràng, không thiên vị, phải được đối xử công bằng, ngang nhau trước pháp luật – như câu nói “Equal justice under law” của truyền thống pháp luật Anglo-Saxon.
Luật pháp Hoa Kỳ, với mục tiêu trên, đã phát sinh hai nguyên tắc pháp chế cho ý niệm công lý. Đó là: “Quy thức pháp lý” (due process) và “bình đẳng pháp lý” (equal protection). Về “due process” thì Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ, trong vụ án Griswold v. Connecticut, 38 U.S. 475 (1965), phân loại: (1) Substantive due process (quy thức pháp lý bao gồm giá trị nội dung công lý) và (2) Procedural due process (quy thức pháp lý của thủ tục tố tụng). Theo truyền thống pháp lý Hoa Kỳ thì một số lớn những ý niệm công lý có thể được thực thi qua hình thức thủ tục pháp lý. Đó là thực tế của những vụ tố tụng ở Hoa Kỳ hiện nay. Ví dụ, để bảo đảm quyền bất khả xâm phạm của cá nhân tránh khỏi bị xét hỏi vô cớ, hình luật Hoa Kỳ, bằng thủ tục và luật bằng chứng tố tụng, ước định cho những bằng chứng, thâu lượm được bằng phương cách vi phạm nguyên tắc hiến pháp không có thể được sử dụng trước tòa.
Để tiến đến những bước tiến lớn như luật pháp Hoa Kỳ, một quốc gia phải có được một lịch sử pháp chế liên tục. Trước hết, một ý niệm, một lý tưởng về công lý (ví dụ: tự do cá nhân đối chọi với bạo lực của chính quyền) phải được công nhận. Tiếp theo, cơ chế và cơ cấu (institution and system) phải được thiết kế để thực thi lý tưởng công lý đó. Khi hệ thống luật pháp đã được thiết kế và điều hành thì chính lịch sử của hệ thống luật pháp ấy, bằng kinh nghiệm, sẽ xếp đặt thứ tự giá trị công lý bằng sự hành xử sức mạnh pháp luật của nó.
Đến giai đoạn trưởng thành của một quốc gia dân chủ pháp trị, “công lý pháp luật” (legal justice) sẽ đóng vai trò chủ động đối với “công lý đạo đức” (moral justice). Công lý pháp luật thỏa mãn yếu tính tổng quát và cần thiết để giải quyết một cách ổn thỏa, tiết kiệm, hợp lý nhất cho mọi tranh chấp trong xã hội. Trong khi đó, công lý đạo đức chỉ là quan niệm và ý tưởng chủ quan của các tầng lớp khác biệt trong xã hội. Vì công lý pháp luật có tính cưỡng chế, công lý đạo đức phải phục tùng dù công lý đạo đức đang được đa số công dân chấp nhận. Ví dụ điển hình ở Hoa Kỳ là vấn đề phá thai. Luật Mỹ cho phép phá thai (trong giới hạn); tuy nhiên, một số đông dân Mỹ cho đó là vô đạo đức (“sát nhân”). Nhưng cũng nên nhớ rằng, nếu công lý đạo đức là động cơ của một nỗ lực chính trị có hiệu năng thì luật pháp sẽ thể hiện nó bằng cách hợp thức qua công lý luật pháp. Lịch sử phát triển luật pháp Tây phương là tiến trình điều chỉnh những xung đột giữa hai phạm trù công lý ở trên.
Công lý luật pháp phải mang ba yếu tính căn bản: (1) phải có cứu cánh tính, (2) mang khả năng giải quyết có hiệu lực nhu cầu cần thiết của hiện tại, và (3) mở lối và linh động thay đối với điều kiện, giá trị, năng động mới. Công lý luật pháp không được mang giá trị tuyệt đối vì đây không phải là giáo lý tôn giáo. Hơn nữa, giá trị tuyệt đối mang mầm móng biện minh cho chuyên chế và độc tài. Công lý là một tiến trình, mang giá trị tương đối, một nỗ lực quân bình giữa ổn định và đổi thay, tự do và bình đẳng, cá nhân và công chúng, tự do kinh doanh và kinh tế tập trung, đạo đức cá nhân và nhu cầu tập thể.

Nếu luật pháp không đảm trách được, không thực hiện được ba yếu tính căn bản trên thì xã hội sẽ bị bế tắc đối với những nhu cầu của nó. Cách mạng và bạo động chính trị chắc chắn sẽ là hệ quả. Thực tế lịch sử cho ta thấy công lý là một lý tưởng mạnh nhất để tạo ra những năng lực cách mạng trong những thế kỷ gần đây, đặc biệt là cao trào chủ nghĩa Cộng sản. Tuy nhiên, lịch sử cũng cho thấy rằng mức độ công lý mà con người đạt được luôn luôn khiếm khuyết, tạo thêm nhiều bất công, và mãi lùi về sau cái lý tưởng công lý mà họ tìm kiếm.
Những vấn nạn lớn lao không phải ở chỗ xác nhận lý tưởng công lý như là một cứu cánh và nội dung của trật tự xã hội. Cái mà nhân loại phải vật lộn là sự lựa chọn ý niệm công lý thích nghi – công lý nào? Của ai? Là gì? Có thể giải quyết nhu cầu công lý bằng một cuộc cách mạng toàn diện vì căn bản cơ cấu xã hội là bất công – như Marxism? Hay chỉ có thể đáp ứng tiệm tiến, từng phần?
Trên quan điểm Tây phương thì “tất cả đức hạnh đều bao gồm trong công lý” như hiền nhân Hy Lạp Theoynis nói. Trong cuốn Republic (Nền cộng hòa), Plato phác họa một cơ chế chính trị đặt nặng giá trị tập thể. Công lý, theo đó, là sự liên hệ tốt đẹp giữa các bộ phận của xã hội. Chính trị của Plato là chính trị giai cấp. Công dân phải biết chỗ đứng của mình, lo việc của mình tốt đẹp, và giữ phận. Quan niệm này cũng giống phần nào ý niệm trật tự công lý của Khổng Tử ở Trung Hoa. Ở đây, công lý của Plato, điều luật, phép tắc được thiết kế để phục vụ xã hội, vị trí cá nhân đã có trong xã hội. Mỗi cá nhân đều được sinh ra và thích hợp cho chỗ đứng của họ đang có sẵn. Người thì được sinh ra để cai trị, kẻ sinh ra đi buôn, đi lính. Một người chỉ có khả năng đi buôn mà làm chính trị là bất công. Luật pháp, do đó, nhấn mạnh đến khác biệt giữa giai cấp, tầng lớp, cá nhân. Mục tiêu của luật pháp là giúp đỡ công dân làm đúng bổn phận mà họ đã có vị trí sẵn. Khái niệm của Plato có căn bản chuyên chính, đặt trọng tâm vào trật tự chính trị, xã hội lên trên tự do cá nhân. Cá nhân chỉ là một bộ phận nhỏ của quốc gia và phải hy sinh chính họ để phục vụ lý tưởng chung. Plato từ chối sự khác biệt giữa cứu cánh cá nhân đối với chủ đích của quốc gia. Chỉ có thực tế quốc gia chứ không có thực tế cá nhân. Tự nhiên tính bắt buộc một trật tự cao hơn – a stable whole, collective of a higher order: the state (một trật tự tổng thể và cao cả: quốc gia)2.
 
Đồ đệ của Plato, Aristotle, thì có quan niệm khác về công lý. Theo Aristotle, công lý phải bao gồm bình đẳng. “Công lý là sự phân chia có mức độ (proportion). Hay nói rộng hơn, hỗ tương là công lý” (reciprocity is justice). Công lý của Aristotle công nhận mỗi cá nhân có quyền bình đẳng tự nhiên. Mỗi cá nhân có quyền được hưởng theo khả năng và nhu cầu. Đây là công lý phân hành (distributive justice). Aristotle còn quan niệm thêm về công lý hoàn chỉnh (corrective justice) trong đó, ai làm sai được sửa đúng, ai bị mất mát phải được bồi thường.(34)
 
Tuy nhiên, Aristotle vẫn chỉ là con đẻ của thời đại của ông mà thôi. Ông chấp nhận sự cai trị chuyên chế của người có tài, có đức, một “minh triết quân vương” (philosopher king) theo quan điểm của Plato, được quyền độc tôn, chuyên chính. Aristotle cho rằng bất bình đẳng là tự nhiên, vì nó không vi phạm nguyên tắc công lý. Chế độ nô lệ đối với ông không đi ngược với ý niệm công lý – bao gồm bình đẳng – của ông.(35)
 
Cho đến thế kỷ thứ XIX, thì quan niệm trên bị đả phá mạnh mẽ bởi Karl Marx. Marx cho rằng bất công kinh tế là nguồn gốc của tất cả bất công khác. Một trật tự kinh tế mới trong đó phương tiện sản xuất phải được nằm trong tay của quần chúng là cần thiết để giải quyết nhu cầu công lý của thời đại.(36) Mỗi khi nguồn gốc bất công – giai cấp, bất bình đẳng kinh tế, chính quyền – được loại bỏ, thì công lý được hiện thực. Công lý của Marx, trên phương diện kinh tế được thu gọn bằng câu sau đây của Louis Blanc: “Produce according to his abilities; consume according to his needs” (Sản xuất theo khả năng; tiêu thụ theo nhu cầu) (37). Trong tiền đề kinh tế này, công lý luật pháp không còn là cơ chế cưỡng ép của kẻ mạnh. Công lý sẽ đi theo luật tự nhiên (natural law). Nhân loại không cần đến luật pháp vì họ đã giã từ bối cảnh sống còn (realm of necessity) để đi vào phạm trù tự do.  
Trong khi đó, Immanuel Kant dùng đòn cân tự do để đánh giá một hệ thống pháp luật. Từ căn bản giá trị tự do, một quyền bất khả xâm của con người, Kant định nghĩa công lý là “sự tổng hợp những điều kiện mà trong đó ý lực (will) cá nhân được hòa nhập vào ý lực của tập thể trên căn bản mà tự do được công nhận như là cứu cánh tối hậu.” (38) Kant khác với Aristotle trên lãnh vực ưu tiên giá trị. Cái nhìn của Kant có tính chất siêu hình (metaphysical) hơn là thực dụng. Triết luận của Kant cũng được phổ biến với những luận đề của triết gia Anh Herbert Spencer. Trong cuốn Justice (Công lý) xuất bản ở New York năm 1891, Spencer nhấn mạnh rằng cái giá trị cao nhất của công lý là tự do, chứ không là bình đẳng.(39) Mỗi cá nhân, Spencer lý luận, có quyền hưởng đạt những gì có được từ khả năng và phẩm chất của họ. Cá nhân phải có quyền thăng tiến chính mình, làm chủ tài sản, tự do chọn lựa nghề nghiệp, tự do đi lại, tự do tư tưởng và tôn giáo. Spencer cho rằng những quyền hạn và tự do trên chỉ bị giới hạn bởi ý thức cá nhân, tôn trọng quyền lợi và tự do của kẻ khác. Tự do của mỗi người bị giới hạn bởi tự do của quần chúng. Nói tóm lại, công lý là quyền hạn con người được “tự do hành xử theo ý lực chính mình với điều kiện không xâm phạm vào tự do của tha nhân.” (40) 
Lý thuyết về công lý, như được trích dẫn sơ lược ở trên, phần lớn chứa đựng hai yếu tố bình đẳng và tự do. Sự hiện diện của tự do và bình đẳng thường dẫn đến những tranh chấp giá trị. Vai trò của luật pháp là lựa chọn một mức độ có thể chấp nhận được cho hai yếu tố đó trong bối cảnh khó khăn của xã hội vốn đầy mâu thuẫn và khác biệt. Một xã hội quá nhấn mạnh đến tự do sẽ dẫn đến rối loạn và bất công. Nhưng nếu bình đẳng là mục đích phải đạt được bằng mọi giá thì năng động tính cho sáng tạo và tiến bộ sẽ bị chèn ép.
 
Triết gia William Sorley, trong cuốn The Moral Life (Đời sống đạo đức) xuất bản năm 1911, đề nghị những phương pháp sau đây để giải quyết mâu thuẫn tự do và bình đẳng.
 
(1)  Một hệ thống giáo dục phổ thông để tạo sự phát triển đồng đều và toàn diện cho quần chúng.
(2)  Cung cấp cơ sở sản xuất, phương tiện vật chất, công ăn việc làm cho mọi người, và
(3)  Kiến tạo môi trường tinh thần cũng như vật thể khuyến khích sáng tạo và trưởng thành của cá nhân(41).
 
Mô thức xã hội mà Sorley đề ra nhấn mạnh đến cơ hội công lý, khuyến khích tự do. Trong khi đó, John Rawls, trong tác phẩm A Theory of Justice, đề nghị một mô thức phục vụ công lý trên hai nguyên tắc:
(1)  Mỗi cá nhân có quyền hạn tối đa trên lãnh vực tự do tương xứng với tự do của tha
nhân; và
(2)  Những bất quân bằng về xã hội và kinh tế phải được xếp đặt để được lợi ích tối đa cho mọi người, và trong đó, địa vị và chức phận xã hội đính kèm phải được mở rộng cho tất cả(42).
 
Theo Rawls, hai nguyên tắc này không có ưu tiên ngang nhau. Nguyên tắc thứ nhất phải được đặt trọng tâm hơn. Theo ông, tự do căn bản của công dân là tự do chính trị bao gồm tự do đảng phái, ứng cử, bầu cử, ngôn luận, tổ chức và hội họp; tự do về tư tưởng, truyền thông, tôn giáo; tự do kinh doanh, tài sản; tự do không bị bắt bớ, vu khống một cách vô phép, bất hợp pháp. Những quyền tự do căn bản trên, nếu được xác định và tôn trọng thì mục tiêu công lý của luật pháp được giải quyết xong hơn một nửa.
Nguyên tắc thứ nhì, theo Rawls, áp dụng vào sự phân phối lợi tức và giàu có và sự phân quyền trong xã hội để xếp đặt một cơ cấu quyền hạn và trách nhiệm hiệu năng và mở rộng cho mọi người. Dù rằng sự phân phối lợi tức và giàu có không cần phải đồng đều, nó phải cho sự đồng lợi của mọi người. Rawls còn cho thêm một giá trị công lý khác, đó là sự tự trọng (self-respect), mà ông ta cho là một yếu tố quan trọng trong cán cân hành xử luật pháp. Chủ đề chính của Rawls, ngoài những phác họa trên, là: Ý niệm công lý không giới hạn những yếu tố bất bình đẳng; tuy nhiên, công lý đòi hỏi rằng chỗ đứng của mọi cá nhân đều được cơ hội trở nên tốt đẹp hơn(43). Rawls cho rằng cá nhân có được tự do hay không hoàn toàn được quyết định bởi mức độ quyền hạn và trách nhiệm mà cơ chế xã hội đó giao phó. Tự do là một khuôn mẫu của tổ chức xã hội.(44)
 
Dĩ nhiên, tự do và bình đẳng không chỉ là hai phẩm chất quan trọng của công lý. Truyền thống triết học chính trị Tây phương từ Plato đến Hegel, Hobbes, Bentham đều đặt ưu tiên trật tự quốc gia lên trên tự do và bình đẳng. Theo Thomas Hobbes thì luật cao nhất của nhà nước là bảo vệ hòa bình và trật tự xã hội. Nếu xã hội có hòa bình thì con người được an ninh về bản thân, tài sản và công ăn việc làm. Do đó, an ninh xã hội là nguyên tắc tối cao của công lý(45). Luận đề của Hobbes không giải quyết được nhu cầu công lý cho một xã hội đã có trật tự và an ninh – ví dụ một quốc gia dưới chế độ chuyên chế. Hobbes cũng quên là ưu tiên an ninh sẽ bị đe dọa nếu tự do và bình đẳng không có cơ hội phát huy.
 
Cũng tương tự như vậy là triết luận về pháp luật của Jeremy Bentham. Luật pháp, theo Bentham, phải tập trung vào công tác bảo vệ an ninh cá nhân và tài sản của họ. Đối với ông, tự do và bình đẳng là thứ yếu.(46) Chân lý của Bentham, cũng như của Hobbes và Plato, là công cụ tri thức của giai tầng xã hội muốn giữ nguyên tình trạng đương thời - social status quo.
 
Nhưng khi lịch sử đã mở rộng cửa thì nguyên tắc an ninh và trật tự dần dần nhường chỗ cho tự do và bình đẳng. Trong các quốc gia dân chủ tư bản, bối cảnh đa nguyên chính trị tạo cơ hội gạn lọc và đào thải giá trị công lý theo đà phát triển của đời sống kinh tế. Ở các quốc gia này, tự do và bình đẳng, nhất là tự do cá nhân, chiếm ưu tiên trên diễn đàn công lý. Ví dụ, lịch sử pháp luật Hoa Kỳ là một tiến trình mở rộng căn bản tự do cá nhân đối với chính quyền trên văn kiện “Bill of Rights”. Thí dụ, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ trong án lệnh Roe V. Wade, 410 U.S. 113 (1973) đã sáng lập quyền “riêng tư cá nhân” (right to privacy) mặc dù hiến pháp Mỹ không đề cập đến quyền này.
Trong khi đó ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc công bằng được đặt ưu tiên trong khi tự do bị đặt vào hàng thứ yếu, trên thực tế, bị đè bẹp. Nhìn lại để so sánh, kinh nghiệm lịch sử đã cho chúng ta thấy rằng chỉ có nền kinh tế chính trị tư bản, dân chủ pháp trị là tạo được nhiều cơ hội nhất cho sự phát huy giá trị tự do và cơ hội bình đẳng. Lý do của sự thành công này ở các quốc gia dân chủ Tây phương bắt nguồn từ sự công nhận một tiền đề lý tưởng căn bản: mặc dù xã hội thiếu bình đẳng về tình trạng; nhưng nếu cá nhân có tự do và bình đẳng về cơ hội thì mức độ bất bình đẳng tình trạng sẽ được điều chỉnh, giảm bớt và dần dần với năng động tự do tích cực, cấu trúc xã hội sẽ thỏa mãn những nhu cầu công lý. Điều này phải được làm sáng rõ: Thí dụ trong mục tiêu phát huy công lý kinh tế, chính quyền muốn mức độ bất công về tài sản và lợi tức phải được điều chỉnh, giảm bớt. Nếu sử dụng nguyên tắc công lý phân hành (distributive justice) thì chính quyền có thể đánh thuế (một hình thức tịch thu) nặng vào kẻ giàu và trực tiếp phân phối cho người nghèo. Nhưng, giải pháp này kém hiệu năng vì nó sẽ làm cho giới giàu mất năng lực sản xuất. Nếu áp dụng nguyên tắc công lý tự do, chính quyền nhấn mạnh đến bình đẳng cơ hội để khuyến khích năng động tính của mọi giai cấp – cộng với một chế độ thuế khóa lũy tiến hiệu quả – thì chiếc bánh kinh tế sẽ to hơn cho mọi người cùng hưởng, đồng thời với mức độ tự do cá nhân cũng được nâng cao. Một xã hội phải khuyến khích kẻ có tài năng, chịu khó học hỏi, sáng tạo, làm việc, dành dụm; đồng thời phải trừng phạt một cách gián tiếp (bị nghèo khổ) cho giới lười biếng, hoang phí. Dĩ nhiên, thành phần bị những bất lợi không phải lỗi ở họ (tàn tật, già yếu…) phải được đối xử nhân đạo. Không gì khuyến khích hiệu quả động cơ kinh tế mạnh hơn là “nếu có gan làm giàu thì có cơ hội hưởng; làm biếng thì khổ không ai lo.” Công lý từ đó sẽ được đánh giá bằng sự tiến bộ của mọi người – hay số đông. Công lý phải tương xứng với nỗ lực cá nhân. Nếu tôi làm việc gấp ba người hàng xóm, trong khi mọi yếu tố khác quân bình, mà tôi cũng chỉ hưởng bằng người ấy, thì đó chính là bất công. Đây cũng là quan niệm của Justinian mà cuốn Corpus Juris Civilis phát họa, “Công lý là ý lực thường trực và vĩnh cửu thưởng lệ cá nhân theo giá trị của họ” (47). Hay nói theo Emil Brunner của Swiss thì, “Ai, hoặc cái gì, thưởng lệ cá nhân theo sự xứng đáng của họ (his due), người đó, hay cái đó, có công lý; một thái độ, một cơ chế, một bộ luật, một mối liên hệ khi nó đối xử một cá nhân theo gì đáng để họ được trao nhận, là có công lý” .(48)
 
ĐI TÌM MỘT NỘI DUNG CÔNG LÝ: MARX ĐÔI RAWLS
 
Cả Karl Marx lẫn John Rawls, hai triết gia của hai thế kỷ khác nhau, đều cùng nhìn vấn nạn công lý trong viễn ảnh của nội dung đạo đức xã hội. Nội dung đạo đức này thể hiện qua bối cảnh tổ chức đang gán đặt những cơ chế và cấu trúc bất công lên con người. Cơ chế xã hội không những giới hạn và áp bức, mà còn áp đặt giá trị, nắn tạo động cơ cá nhân, tạo dựng cá tính, gây ý thức chọn lựa và phạm trù ước vọng cho con người. Do đó, nếu cơ chế bất công thì xã hội còn mãi mãi bất công vì hệ quả và tác động văn hóa cũng như ý thức bắt nguồn từ cấu trúc tổ chức của nó. Marx và Rawls đều nhấn mạnh đến giá trị cao cả của phẩm cách con người được sống trên căn bản cá nhân với quyền tự chủ cho sinh mạng và đời sống của mình. Cả hai đều công nhận rằng muốn công lý được thể hiện thì cơ chế và cấu trúc xã hội phải được tái kiến tạo và tái tổ chức. Nghĩa là phải bắt đầu bằng một cơ sở công lý tích cực bằng sự lãnh đạo của chính quyền.
Tuy nhiên, Marx thì mang nhiều triệt để tính, từ phân tích giá trị cơ chế xã hội cho đến nội dung đạo đức của một tiến trình khả thể cho lịch sử nhân loại. Trong khi đó, Rawls thì vừa phải hơn, đứng trên căn bản và điều kiện có sẵn, mang ít cách mạng tính, muốn thể hiện công lý bằng chính sách xã hội để mong thực thi một đạo đức công lý có tính chất phân hành.
Cả hai đều mang viễn kiến tích cực. Nhưng viễn kiến của Marx, trên thực tế đã trở nên tiêu cực khi tiến trình thể hiện lý tưởng xã hội vô giai cấp, vô chính phủ, Marxism chỉ thực hành được công lý tiêu cực qua cơ chế “chuyên chính vô sản” mà chính sách của nó bắt nguồn từ động cơ công lý trả thù (retributive justice).
 
Rawls, trong luận đề chính A Theory of Justice vừa mới được nói đến ở các trang trước, giả định đa nguyên tính của xã hội và con người với những phạm trù trách nhiệm và bổn phận tự nhiên của cá nhân đối với tập thể, trong đó, mỗi chúng ta phải có ý thức tích cực về công lý đồng lúc với chủ động tác thành để thực hiện nó. Nhưng Rawls không có xác định căn bản tổ chức và cơ chế để hiện thực hóa nội dung công lý của ông. Từ căn bản viễn kiến Marxism, Rawls bị rơi vào khuyết điểm nặng nhất là lý thuyết công lý của ông thiếu một nội dung chủ động tích cực về phương diện cơ chế nhằm giải quyết vấn nạn đạo đức công lý một cách triệt để và tận gốc rễ.
 
Rawls quan tâm đến cơ chế chính trị nhiều hơn là những cấu trúc xã hội khác vốn tràn ngập và chi phối cá nhân trực tiếp và trường kỳ. Vấn nạn có thể được nêu lên ở đây rằng nếu chính trị dân chủ đa nguyên chỉ có thể duy trì một cơ chế công nghiệp mà trong đó giới lao động không được thể hiện năng động cá nhân – “dân chủ kinh tế” – thì liệu mô thức công lý của Rawls có giá trị phổ quát và thực chất nào không?
Những chỉ trích này chỉ có giá trị nếu thực tế cho phép mô thức của Marxism được thể hiện. “Dân chủ kinh tế” mang nội dung tổ chức khác biệt đối với dân chủ chính trị. Một nhóm nông dân dưới một chế độ Cộng sản có thể “được cho” làm chủ một nông trường tập thể, nhưng bản chất “chủ nhân” của họ đối với nông trường này là con số không to tướng, họ là nạn nhân của sự thiếu hiệu năng sản xuất, guồng máy hành chính ù lỳ, bất công, đám cán bộ ngu dốt, cường hào, ác bá.
Ở các nước dân chủ tư bản, dân chủ kinh tế được hiện thực qua các hình thức chủ nhân cổ phần của các công ty tư nhân hay dưới hình thức nghiệp đoàn. Ngoài ra, sự chọn lựa tiêu thụ trên thị trường là cơ chế “bỏ phiếu” hiệu quả nhất đối với vấn đề phẩm chất và giá cả cũng như liên quan đến diễn đàn chính trị ảnh hưởng đến quyền lợi của một khối tiêu thụ nào đó – như phong trào bảo vệ môi sinh hiện nay ở Hoa Kỳ đang áp lực các công ty tư nhân phải điều hướng chính sách công nghệ của mình cho thích hợp với diễn đàn của họ.  
Tuy nhiên, vấn đề quan trọng nhất của dân chủ kinh tế là cơ hội làm chủ chính mình trên phương diện kinh tế bằng sự mở rộng cơ hội làm ăn buôn bán, mưu toan đời sống cá nhân độc lập với mệnh lệnh tập thể. Đây có thể là yếu tính quan trọng nhất của cái gọi là “dân chủ kinh tế.”
Vai trò luật pháp phải đóng tư thế tích cực để giải quyết vấn nạn công lý kinh tế mà Marxism nêu lên – đặc biệt là công lý lao động. Những bộ luật lao động, công nghiệp tiền tiến trong một bối cảnh và khả năng kinh tế cho phép sẽ tạo những nền tảng công lý chấp nhận được ở một thời điểm nào đó. Công nhân chỉ lao động một số giờ trong ngày, trong tuần, với số lương và quyền lợi tối thiểu, có bảo hiểm sức khỏe và thất nghiệp. Luật cấm lao động thiếu nhi, hay an toàn môi trường công xưởng, ví dụ, là những vấn đề đã được giải quyết xong trong các xã hội dân chủ tư sản.
Tuy vậy nhưng những mệnh đề công lý tích cực mà Marx và Rawls nêu lên đều có tính chất quyết định nội dung và chiều hướng của luật pháp. Rawls nhấn mạnh độc lập và tự do cá nhân nhiều hơn là Marx. Marx cho rằng cái tiền đề và phạm trù tự do sẵn có (và ngay cả trong tương lai nữa nếu không có được một cuộc cách mạng tổng thể trên mô thức Marxism) chỉ là phó sản ý thức và hoàn cảnh của cấu trúc kinh tế và chính trị hiện hành. Marx muốn thiểu số cá nhân cách mạng chủ động thay đổi cả ý thức về tự do cho quần chúng – một chủ đích đồng nhất hóa khái niệm công lý theo đúng với một tiền đề đạo đức trừu tượng và tuyệt đối. Còn Rawls thì chấp nhận nền tảng hiện tại của dân chủ tư sản để đánh giá một thứ tự ưu tiên cho những tự do căn bản cộng với những phạm trù công bằng và bất công để giải quyết từng phần bằng cơ chế chính trị dân chủ mà thôi.
Công lý của Rawls là sự chọn lựa một mô thức phân phối tự do và phân giải bất công để mỗi cá nhân đều có đồng đều cơ hội chính trị và kinh tế trong bối cảnh chấp nhận được. Mô thức của Rawls là công lý phân hành mà xã hội phải hoàn tất để thiết kế một trật tự tốt đẹp – a well-ordered society.
Mặc dù Rawls nhấn mạnh đến tự do cá nhân, thứ tự ưu tiên của tự do chỉ có quan trọng khi một nền tảng đời sống vật chất đã được chu cấp thỏa mãn. Rawls điều kiện hóa tự do và sẵn sàng chấp nhận sự chuyển hóa của nguyên tắc công lý và tự do khi xã hội và con người đã tiến hóa ra khỏi nấc thang ý thức và hoàn cảnh hiện tại. Rawls nói,
 
Giả định ở đây là nếu cá nhân ở trong vị thế có thể hành xử khả quan những tự do căn bản, thì họ sẽ không chấp nhận trao đổi một mức độ tự do thấp hơn để lấy một tầm mức gia tăng về đời sống kinh tế nếu cá nhân đó đã có được một cơ bản kinh tế nào đó rồi. Chỉ có khi mà hoàn cảnh xã hội không cho phép sự kiến tạo của những quyền hạn này thì cá nhân mới cảm nhận được sự giới hạn. Sự phủ nhận quyền công bằng về tự do chỉ có thể được chấp nhận chỉ khi nào tối cần thiết nhằm gia tăng phẩm chất của văn minh để bình đẳng tự do có thể được thừa hưởng bởi mọi người. Thứ tự của hai nguyên tắc công lý ở trên là khuynh hướng chung lâu dài của quan niệm công lý mà sẽ được theo đuổi dưới hoàn cảnh thuận tiên. Đến một thời điểm nào đó trong tiến trình lịch sử của một trật tự xã hội tốt đẹp, một hình thức nguyên tắc công lý mới sẽ được kiến tạo từ đó. (49)
 
Theo Rawls thì xã hội phải phân định những giá trị vốn phải giải quyết bằng cơ chế. Những giá trị này là “social goods” (công sản) – những biến số quyết định của ý niệm công lý. Rawls nói tiếp,
 
Tất cả những công sản chung của xã hội – tự do và cơ hội, lợi tức và phú cường, và những căn bản của giá trị tự trọng – phải được phân phối bình đẳng ngoại trừ sự phân phối bất bình đẳng của một số của những công sản này nhằm để thỏa mãn nhu cầu của thành phần yếu thế trong xã hội.
 
Cơ chế phân hành công sản phải theo một hệ thống nguyên tắc thứ tự ưu tiên như sau,  
Quy tắc ưu tiên thứ nhất (ưu tiên tự do): Những nguyên tắc công lý phải được xếp đặt theo thứ tự ngôn từ (lexical order) và do đó tự do chỉ bị giới hạn khi cần thiết để bảo vệ những tự do khác mà thôi. Có hai trường hợp: (a) một tự do nhạt (less-extensive liberty) phải củng cố được tự do tổng thể cho mọi người, (b) một tự do bình đẳng ở mức độ thấp phải được chấp nhận bởi thành phần đang có ít tự do.

Quy tắc ưu tiên thứ nhì (ưu tiên công lý lên trên hiệu năng và quyền lợi): Mức độ cơ hội cho thành phần yếu thế phải được phát huy cao hơn. (50)
 
Một chỉ trích thường được nêu lên là với mô thức như mới được trình bày ở trên, Rawls đã chấp nhận tình trạng bất bình đẳng kinh tế và điều kiện bất công của xã hội như là một điều mà không ai có thể cách mạng hóa tổng thể và tận gốc rễ được – do đó, phải dung chứa nếu muốn tối đa hóa mức độ tự do. Chỉ trích này đến nhiều nhất là từ trường phái Marxism, vì theo họ, nếu điều kiện bất bình đẳng mà không giải quyết trước như là một điều kiện để phát huy công lý, thì cơ hội tiến thân sẽ không có được đồng đều. Do đó, tự do chỉ có lợi cho kẻ có thế lực, giàu có; trong khi đó nó chỉ là một danh từ trống rỗng, không nội dung cho giới nghèo khổ, ngu dốt, yếu thế. Cho dù Rawls có sẵn sàng hy sinh ít nhiều tự do của thành phần thế lực để tạo cán cân quân bình cơ hội cho giai tầng thất thế, không có gì bảo đảm được công lý cơ hội sẽ được cao hơn. Lý do phần lớn là ở nơi sự bất khả phân của bản chất tự do cho mọi thành phần trong xã hội ở một mức độ nào đó. Ví dụ, chính sách equal employment opportunity (công bằng cơ hội việc làm) ở Hoa Kỳ qua công thức quota (tỉ lệ) đã không giúp đỡ được gì nhiều trong hai thập niên qua trong nỗ lực khuyến khích tinh thần tự lực của người Mỹ da đen. Thành phần giàu có vẫn học ở trường tốt hơn, cơ hội kinh tế vẫn là của kẻ có thế lực kinh tế mà thôi. Hay nói cách khác, trong tinh thần chỉ trích này thì, tự do kinh tế, giáo dục, chính trị chỉ đào sâu hố bất công mà thôi. Do đó, chọn lựa tự do là ưu tiên cao hơn, như mô thức của Rawls, đối với lý tưởng công bình trong bối cảnh bất bình đẳng của hiện trạng, không thể giải quyết được nhu cầu công lý xã hội.
Rawls trả lời những chỉ trích này như sau:
 
Tính trạng thiếu khả năng để hành xử quyền hạn và cơ hội vì nghèo đói và ngu dốt, hay thiêu phương tiện, cũng là những biến số giới hạn tự do. Nhưng nó chỉ ảnh hưởng đến giá trị tự do mà thôi. Do đó, với một hệ thống công l1y căn cứ trên hai nguyên tắc trên, tự do và bình đẳng có thể được hòa giải.(51)
 
Rawls giải thích thêm,
 
Tự do và mức độ giá trị của tự do có thể được phân biệt như sau: Tự do thuộc phạm trù hệ thống toàn thể cho mọi công dân; trong khi đó, mức độ giá trị của tự do chỉ nhằm nói đến khi tự do được áp dụng cho hoàn cảnh riêng của từng thành phần, từng cá nhân tỉ lệ thuận với khả năng thực thi tổng thể tự do đó… Khi hai nguyên tắc công lý được thực thi hỗn hợp thì mức độ giá trị tự do cho thành phần yếu thế phải được phát huy tối đa mới hòng thỏa mãn cứu cánh công lý. (52)
 
Mô thức công lý của Rawls dầu thế nào cũng đã bị ảnh hưởng nhiều bởi triết học Marx, đặc biệt là trên phương diện bình chú xã hội. Tuy nhiên, Rawls, với ưu thế của thời tính qua kinh nghiệm tác hại của mô hình công lý Marxism ở các quốc gia Cộng sản, đã nhận ra được những sai lầm và tiêu cực tính của Marxism. Từ đó, Rawls muốn giải quyết cứu cánh công lý trên nguyên tắc tiệm tiến mà ít nhấn mạnh đến nhu cầu cách mạng cơ chế để hòng thực thi mô hình của mình. Rawls không có mô hình cơ chế nào hơn là cơ chế dân chủ tư sản đa nguyên và pháp trị Tây Âu.  
Tuy nhiên, nếu chính trị dân chủ không có khả năng để thực thi mô thức công lý của Rawls thì mệnh lệnh công lý nào sẽ phải sử dụng và theo thứ tự ưu tiên nào? Cách mạng Marxism đã được nhân loại thử nghiệm và đào thải. Vấn đề của Rawls đưa ra không phải chỉ giới hạn ở phạm trù tự do chính trị và kinh tế mà còn phải bao gồm cả mức độ tiến hóa và văn minh nhân loại. Rawls nhìn vấn đề chỉ ở mức quốc gia trong khi vấn nạn công lý là của nhân loại và toàn cầu. Kinh nghiệm của Rawls nằm trong ý nghĩa và bối cảnh dân chủ tư sản tiền tiến, nhìn thấy mệnh đề công lý qua điều kiện xã hội để giải quyết cho xong những vấn đề sinh tồn khẩn cấp và căn bản của con người. Dĩ nhiên Rawls không đề cập đến công lý ở bối cảnh khác, thường nhật hơn, như những hoàn cảnh đói kém khủng khiếp, những ý đồ tàn độc của bạo lực, mà ở đó những hành vi của những con người bình thường để sống còn có rất ít giá trị công lý cũng như tự do – ngay cả những hành vi có tính cách tội phạm ở hoàn cảnh bình thường có thể mang đủ nội dung biện minh nếu cá nhân có ý chí hành động theo chủ ý của mình. Marxism khác với Rawlsism là ở phạm trù tâm thức này.
Mô thức công lý của Rawls đối với Marx, cả hai, chiếm ngự hai đầu của chiều hướng thử nghiệm khả thể chính trị và văn minh Tây phương. Marxism phát sinh từ dự phóng trí thức (intellectual projection) căn cứ trên ý thức sử định luận – mọi hiện tượng phải chỉ được đánh giá trên căn bản lịch sử. Trong khi đó Rawlsism là kết quả của phân tích kinh nghiệm (empirical analysis). Cả hai chủ thuyết nhấn mạnh đến sức mạnh chủ động và tích cực tính của nền tảng đạo đức lý trí luận (moral rationalism) đặt ưu tiên ở giá trị nhân bản. Sự khác biệt sâu sắc, ngoài căn bản tâm thức, giữa hai mô thức, là mức độ tôn trọng con người hiện tại và hiện hữu. Marxism từ chối con người đang là (presently is) để mong đem họ tới một phạm trù khả thể đạo đức cao hơn. Trong khi đó, Rawlsism chấp nhận con người đang có, với tất cả những hiện trạng liên hệ, và chỉ mong họ được đi song song với tốc độ cải cách của cơ chế mà thôi.
Dĩ nhiên, mô thức của Rawls cần phải linh động và thay đổi cho từng hoàn cảnh xã hội và lịch sử. Bản chất của một mô thức phải chứa đựng được linh động và thực tế tính mới mong giải quyết được vấn nạn mà từ đó đã phát sinh ra mô thức. Mỗi giai đoạn lịch sử chứa đựng một nhịp độ khẩn cấp khác nhau cho nhu cầu công lý. Từ đó, con người phải chấp nhận một giới hạn nào đó trong bối cảnh hiện thời để kiên nhẫn – nhưng quyết tâm – giải quyết bằng phương thức quân bình và vừa phải của lý trí ôn hòa. Mô thức của Rawls khó mà có thể áp dụng ở các quốc gia mà bất công áp bức còn quá nặng nề, dân chúng còn quá lạc hậu và đói kém. Khi con người chưa có đủ cơm ăn, áo mặc, chưa có được ý thức tự do căn bản, thì ước vọng tinh thần có tính chất trừu tượng, một khát khao cho một mức độ hiện hữu cao cấp – “a developed existence” như William A. Galston nói đến(53) - là một xa xỉ trừu tượng cao vời chưa có thể được đề ra.
 
CÔNG LÝ PHÁP CHẾ
 
Nội dung công lý phải được thể hiện qua định chế. Một trong những định chế quan trọng nhất là luật pháp. Dĩ nhiên công lý không luôn luôn đòi hỏi một tiền đề pháp chế. Chúng ta có những cảm nhận công lý hay bất công từ kinh nghiệm tự nhiên. Đời sống xã thôn Việt Nam cũng chứa đựng một mức độ và màu sắc công lý trong khi hoàn toàn không có một cơ chế pháp trị. Tuy nhiên, khi ý thức và nhân văn con người đã vượt qua giai đoạn tĩnh lặng vốn nặng yếu tính thần linh thì công lý phải được điều kiện hóa bởi pháp chế.
Frederick Nietzsche, khi nói câu lừng danh: “Thượng đế đã chết” ông đã phải thêm rằng luật pháp phải thay thế Ngài để hành xử công lý. Theo Nietzsche thì công lý hay bất công chỉ có sau khi luật pháp đã được kiến tạo (“’Just” and ‘unjust’ exist only after the institution of the law.” (54) Tiền đề này của Nietzsche nhấn mạnh đến một chủ thể lãnh đạo xã hội mà “cá-nhân-phi-thường” (Ubermensch) của Nietzsche tương đồng với phạm trù ý thức hệ Marxism: Đạo đức chủ quan được dự phóng để rồi được áp đặt bởi thiểu số xuất sắc cho đám quần chúng thoái hóa và lạc hậu. Nhưng Nietzsche khác với Marx ở điểm rằng kẻ xuất sắc sẽ làm luật để hướng dẫn xã hội. Công lý hay bất công, từ đó, phát xuất từ chủ quan tính của luật pháp này mà thôi. Trong khi đó, Marx chủ trương cai trị bằng bạo lực chuyên chính của thiểu số qua chính sách bất thường và tự tác cá nhân. Ít nhất, Nietzsche đã đặt một nền tảng tư duy mang bản chất lý trí mặc dù có nhiều tham vọng vượt thắng chính mình, như chàng Zarathustra đã kêu lên, “Con người là cái mà phải được vượt qua” (“Man is something that is to be surpassed”). (55) 
Cả Nietzsche lẫn Marx đều mang ước vọng siêu hình để mong giải quyết vấn nạn hiện hữu. Cả hai đều mang bản chất tham vọng trí thức khi đối diện với giới hạn ngặt nghèo của đời sống thực thể. Marx thì nghèo khổ. Nietzsche thì đau ốm liên miên. Marx và Nietzsche là hai hiện tượng quan trọng trong làn sóng vật lộn nhằm thoát ra khỏi phạm trù triết học lý tưởng lý trí của Hegel. Đối với Hegel, luật pháp là sự thể hiện của tuyệt đối thể (Thượng đế) qua lý trí. Nhưng lý trí không thể vượt qua thế giới hiện thời cũng như cá nhân không thể nhảy qua chính mình. Luật pháp, theo Hegel, là của quốc gia. Mà quốc gia là cấu trúc của lý trí. Luật pháp là lý lẽ của sự hiện hữu của quốc gia. Ngoài quốc gia ra, con người không có nơi đứng nào cả. Cá nhân là con số không khi không có quốc gia. Marx và Nietzsche, từ chối Hegel, muốn phủ nhận lý trí tính của hiện tại nhằm phá bỏ ý niệm về tuyệt đối thể để đem nhân chủ tính cho con người và mỗi cá nhân.
Nhưng kết quả được gì?
Marx đem thảm họa kinh hoàng cho lịch sử trong suốt thế kỷ thứ XX. Nietzsche đem tâm linh Tây phương đối diện với hư vô để từ đó con người Tây phương bị bàng hoàng và khủng hoảng trước vấn nạn hiện sinh mà không giải quyết được nhu cầu công lý.
Marx phủ nhận giá trị pháp chế, ca ngợi bạo lực. Nietzsche tôn thờ cái lý lẽ của siêu nhân để hòng vượt qua hiện tại. Cả hai đều bị rơi vào hố sâu lịch sử khi tuyệt đối tính của Marxism và hư vô tính của Nietzsche chỉ là những ảo tưởng huyền nhiệm của nhân loại trong thời đại chuyển tiếp mà thôi.
Bài học từ kinh nghiệm triết học này là:
Nếu xã hội chưa thể hiện được ước vọng nhân bản và công lý bằng giá trị và vận hành của cơ chế lý trí thì khát vọng huyền nhiệm của Marx lẫn Nietzsche đều không thể được giải quyết – bởi vì khát vọng huyền nhiệm và khát vọng thực tế, cả hai là một kết cấu của con người, phát xuất từ con người, mà nhu cầu thể xác phải giải quyết trước và căn bản như là một điều kiện cần thiết. Thỏa mãn nhu cầu huyền nhiệm, do đó, đòi hỏi giải quyết thực tế cơ chế xã hội. Cho dù cả mười Khổng Tử, Thích Ca, Jesus, Marx, Rawls đều không giải quyết được vấn nạn đau khổ cho con người nếu không có cơ chế xã hội hiện thực hóa lý tưởng của họ. Chính nhân loại, nhất là ở các nước chậm tiến và nghèo đói, vẫn lẩn quẩn trong vòng khổ đau, bất công, tội ác không phải là vì thiếu lý tưởng công lý và đạo đức mà là vì nhu cầu cơ chế chưa được giải quyết xong.
 
***
 
Sự thể hiện công lý qua cơ chế pháp trị là điều không tránh khỏi. Cơ chế pháp trị cung cấp cơ hội thử nghiệm công lý cho con người và xã hội để họ nhận ra khuyết điểm lý tưởng, tạo cơ hội tu bổ và cải cách. Nó là dòng suối giải tỏa ứ đọng tình cảm quần chúng, nguôi ngoai hóa mức độ nhiệt thành chính trị quá mức của tập thể, nhằm tạo một cán cân quân bình cho quốc gia, để giải quyết từng vấn đề theo ưu tiên mà chính trị dân chủ đề ra.
Ở thời đại này, con người đã đánh mất uy quyền tối thượng của tôn giáo đối với những hệ thống mệnh lệnh giá trị đạo đức nhằm giáo hóa và kêu gọi con người thực thi nền tảng công lý tự nhiên. Luật pháp kiến tạo tiêu chuẩn công bình, hợp lý, khách quan với sức mạnh cưỡng chế. Với tất cả những tác dụng vận hành của nó, luật pháp đóng vai trò quan trọng trong tiến trình giáo dục công dân về một ý thức xã hội trên căn bản tôn trọng cá nhân với nền tảng hỗ tương. Công lý được nhận thức như là trách nhiệm tương quan giữa cá nhân và tập thể để kiến tạo bối cảnh xã hội thích hợp cho mỗi người được sống và hành xử cuộc đời mình trên ý thức tương xứng và tích cực. Khi đạo lý của người xưa dạy, “Đừng làm những gì đối với với tha nhân mà chính ta không muốn tha nhân làm như thế đối với mình” thì luật pháp, cũng trong nội dung đạo đức hỗ tương đó, xác định, “Mức độ tự do của bạn khi vung cánh tay tùy theo cái lỗ mũi của người hàng xóm đang ở gần hay xa bạn”; hay là, “Tự do của bạn được tôn trọng tối đa đến mức độ mà sự hành xử nó không vi phạm tự do của người khác.” Mệnh lệnh luật pháp nhấn mạnh tính hỗ tương (tự do của tha nhân) đồng thời cưỡng bách bạn tôn trọng sự hiện hữu của tính hỗ tương đó bằng sự đe dọa trừng phạt thích ứng.

Trong các xã hội chậm tiến, ý thức công lý vẫn còn xa lạ. Con người ở đó mang nội dung đạo lý trong tinh thần trách nhiệm với thần linh siêu hình hay chỉ là một khát vọng trả thù cho những tổn thương cá nhân – chứ không mang ý thức tương quan để giải quyết nhu cầu công bằng nhằm duy trì cán cân quân bình về hành vi và tác động giữa con người với nhau. Cơ chế luật pháp giải quyết công lý không những chỉ kiến tạo cơ hội tự do cho cá nhân, giảm thiểu bất công xã hội, mà còn mang tính chất tối hậu của những vấn nạn công lý mà quần chúng với giá trị đạo đức không thể giải quyết được. Đạo lý có thể nói, “Hãy lấy ân báo oán,” hay, “Đưa má phải ra nếu má trái bị đánh,” nhưng không ai công nhận những lời khuyên này có hiệu năng thực tế. Trong khi đó, luật pháp đem kẻ vi phạm hình luật ra trừng phạt, đặt vấn đề tội phạm trên căn bản cá nhân (dòng họ, con cháu không có liên quan trách nhiệm) để kết án, xử án, tuyên án trừng phạt tương xừng, khách quan, hợp lý. Cán cân công lý đã được lấy lại cân bằng. Oán ân chấm dứt.
Công lý không có cơ chế thực thi là lý tưởng không có cơ hội khả thi. Cơ chế này gồm những bộ luật từ hiến pháp thiết lập nền tảng chính trị quốc gia, thể hiện ý chí tự do và phạm trù khả thể của chính quyền đối với xã hội, đến những bộ luật kinh tế tạo năng động cơ hội và thực thể giàu có vật chất, hay những bộ hình luật, thương luật, hành chính luật để hành xử ý niệm công lý.
Nội dung luật pháp thiết kế nền tảng tỉnh thức từ lý trí, dung hợp, vừa phải, thích ứng để đưa vị thế con người lên vai trò chủ động - từ cá nhân đến tư thế công dân, từ ngôi vị tùy vào tình trạng thụ động (giai cấp, tôn giáo…) sang tư cách pháp nhân công bằng trước cán cân quyền hạn của công lý. Cá nhân đã từ lâu bị nô lệ từ nền đạo lý thần quyền áp chế đến những cấu trúc chính trị bạo lực. Những guồng máy nô lệ không tạo được cơ hội cho con người ý thức được tình trạng nô lệ của chính mình. Từ đó, sự thiếu vắng của một cơ chế lý trí nhằm hợp thức hóa tư cách và biện minh cai trị cũng là một cản trở lớn lao cho nhân loại có thể sử dụng lý trí để giải phóng cho mình. Trường hợp nô lệ dưới các chế độ độc tài Cộng sản là một trường hợp đặc biệt, vì ở đó, nền tảng chính thống của chế độ được tồn tại cả về sức mạnh bạo lực cũng như về biện minh lý luận. Do đó, tiến trình chuyển hóa ra khỏi nô lệ tính dưới xã hội Cộng sản xảy ra nhanh chóng hơn.
Cho đến khi luật pháp được kiến tạo, con người bị nô lệ trong bóng tối của sự trống trải của ý thức chủ động tích cực. Luật pháp đặt câu hỏi “Tại sao?”. Tại sao tôi bị xử án? Tại sao giết người là vi phạm nghiêm trọng? Tại sao phải tôn trọng nhân quyền? Tại sao phải đóng thuế, đi quân dịch? Đến lúc nào đó thì con người phải ý thức đến câu hỏi ngược lại “Tại sao không?” Tại sao tôi bị bạc đãi mà xã hội không cho tôi quyền hạn thực thi công lý? Tại sao chính trị không được rộng mở? Tại sao dòng sông không được trong sạch? Tại sao tôi nghèo mà không được có cơ hội kinh tế?
Từ khả năng đặt câu hỏi, cá nhân kiến tạo tư tưởng và phác họa lý tưởng, xô đẩy họ vào con đường hành động, tìm cách trả lời những câu hỏi đó cho chính mình, theo ý mình, và bởi chính mình. Thế giới khách quan, đời sống nội tâm, của quốc gia, gia đình, của cơ hội, của quyền hạn, của trách nhiệm đều là một phần của riêng tôi đồng thời là của mọi người – jointly and severally. Tôi là chủ nhân của quốc gia này, chính quyền này, tổ quốc này. Chỉ có tôi, nhân danh chính tôi, qua ý thức “quốc dân,” tôn trọng tổ quốc đến mức độ mà tôi chấp nhận qua ý thức, qua lẽ phải của công lý, của nhu cầu của chính bản thân tôi. Tôi không muốn nô lệ cho trừu tượng “tổ quốc linh thiêng” nào cả nếu con người như tôi vẫn còn nô lệ bởi tập thể chủ nghĩa, phẩm giá nhân cách vẫn chưa được tôn trọng, hay là chính chúng tôi vẫn còn bất lực chưa có đủ ý chí để bắt buộc cơ chế quốc gia tôn trọng mình.

Ý thức được những điều đó là hạt giống đã nảy mầm cho tiến trình tiến hóa chính trị để kiến tạo tự do, để đẩy bóng tối nô lệ vào quá khứ, để thấy rằng, nếu có lý tưởng thì phải thiết lập cơ chế thể hiện qua một nội dung lý trí – mà pháp luật đóng vai trò thượng tôn.
 
Trách nhiệm cao nhất là trách nhiệm tự do. Gánh nặng bao gồm và trĩu đòn hơn cả là gánh nặng tự do. Tự do không những chỉ là sự thiếu vắng kềm kẹp, áp bức – mà là mức độ khả năng tự chủ, tự quản cho chính mình. Mức độ này là bản chất của cơ chế quản trị. Chúng ta có thể đánh giá nấc thang tự do của một xã hội qua khả năng và bản chất của chính quyền và cơ chế pháp chế liên hệ.
Mà công lý, nếu không gì hơn, là một nội dung của bản chất tự do được thể hiện qua cơ chế và tiến trình thực thi pháp luật.
 
____________________________
1 Từ điển tiếng Việt, của Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (1988), định nghĩa “công lý” là “Cái lẽ phù hợp với đạo lý và lợi ích chung.” Tuy nhiên, ở đây chúng tôi muốn nói chữ “lý” là “lý trí.”
 
2 Trong cuốn The Open Society and Its Enemies (Xã hội mở và những kẻ thù) Karl Popper cho rằng chủ thuyết này của Plato mở đầu cho ý thức “historicism” (sử định luận), phát sinh ra triết học Hegel và sau đó là Marxism.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.09.2016 08:22:31 bởi Sun Ming>
CHƯƠNG BN
 
CÁN CÂN CỦA CÔNG LÝ VÀ TRẬT TỰ
 
Justice is the completion of law, that is, justice represents the ideal form of the order that man seeks to create both through law and through the whole complex of his social institutions.
(Công lý là sự thành đạt của luật pháp. Có nghĩa rằng, công lý đại diện cho một hình thức trật tự xã hội lý tưởng mà con người cố gắng kiến tạo cả bằng phát triển luật pháp cũng như qua những cơ chế xã hội phức tạp khác.) Iredell Jenkins (1980)
 
HỢP ĐỀ CÔNG LÝ VÀ TRẬT TỰ XÃ HỘI
 
Trong các chương trước, chúng tôi phác họa nền tảng lý thuyết căn bản của ý niệm luật pháp. Luật pháp, trước hết, là một nguyên tắc trật tự. Luật pháp còn là cơ chế để thực hiện công lý. Hay nói cách khác, luật pháp có mục đích kiến tạo một trật tự nhằm thực hiện công lý. Công lý pháp chế (legal justice) không thể có nếu không có một trật tự pháp lý (legal order). Ngược lại, một trật tự pháp lý không thể thực hiện được công lý thì trật tự đó không thể đứng vững, phát triển vì thiếu yếu tố chính thống.
Giá trị trật tự thường mâu thuẫn với giá trị công lý. Một chế độ độc tài, với một hệ thống pháp luật khắt khe có thể đạt được một trật tự pháp lý nhưng không chứa đựng một mức độ công lý có thể chấp nhận được. Do đó, cứu cánh của pháp luật là thực hiện được một hợp đề vượt qua khỏi mâu thuẫn đó – một trật tự xã hội thỏa mãn được nhu cầu công lý. Một xã hội duy trì được tính đều đặn của mối tương quan giữa các cơ phận và cá nhân bằng nền tảng luật pháp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và tiến bộ. Nền tảng pháp luật này cần phải linh động và rộng mở để quy nạp giá trị công lý xã hội đồng thời điều kiện hóa ý niệm công lý mới cho hoàn cảnh mới. Trật tự và công lý là hai mặt của một đồng tiền – bổ túc và cần thiết lẫn nhau.
Trên phương diện cơ cấu luận, trật tự pháp lý đòi hỏi một hệ thống pháp luật có tổ chức, hiệu năng, công bằng và phổ thông. Hệ thống này nhằm thực thi nội dung pháp luật thành văn đang hiện hành. Pháp luật thành văn là một tập hợp của quy chế, điều lệ, quy thức có tính cưỡng bách. Chúng tôi tạm gọi nó là Bộ luật. Bộ luật này là văn kiện thể hiện được nguyện vọng của quốc dân đối với trật tự và công lý – để trừng phạt kẻ vi phạm hình luật; bồi thường thiệt hại cho người bị kẻ khác xâm phạm tài sản và quyền lợi; thiết kế quy chế cho tương quan kinh doanh, thừa kế, di sản, hôn nhân… Bộ luật tối cao của quốc gia là hiến pháp tạo nền tảng chính thống cho chế độ chính trị, tư cách của chính quyền, và bản chất luật pháp cho xã hội. Bộ luật cũng xác định cơ cấu tổ chức, thủ tục truy tố, hành xử, thực thi phán lệnh, kháng án. Cơ chế luật pháp, bao gồm bộ luật và cơ cấu, là một tiến trình giải quyết xung đột, thiết lập an ninh trật tự, gầy dựng công lý và tạo sự quân bình và công bằng cho tương quan xã hội. Bản chất trật tự quyết định mức độ công lý. Ngược lại, giá trị công lý quyết định nền tảng và cơ chế cho trật tự pháp luật.
Trong truyền thống pháp chế Âu Mỹ, công lý được thể hiện qua những ý niệm sau:
Thứ nhất: “Công bằng pháp luật cho mọi người,” mà truyền thống Anglo-American
gọi là “equal justice under law.” Mọi người, bất chấp chức vụ, giai cấp, địa vị trong chính trị hay xã hội, đều phải được đối xử công bằng trước pháp luật. Đây là một chức năng của trật tự công lý – biện minh cho vai trò của pháp luật khi nó cung cấp và thể hiện công lý cho kẻ yếu thế. Người dân “thấp cổ, bé miệng” có thể trông cậy vào luật pháp để có thể dựa vào đó để hành xử công lý trong xã hội. Nếu không được như thế thì luật pháp chỉ là phương tiện cai trị của kẻ mạnh – và công lý chỉ còn là một nhân tố què quặt chờ sụp đổ.
Thứ hai: Pháp luật phải hành xử tương tự đối với những bối cảnh tương tự. Đây là nội dung của chủ thuyết tiền lệ pháp lý (stare decisis): quyết định và phán lệnh của tòa án đối với một vụ án phải có giá trị tiền lệ và cưỡng chế đối với những vụ án tương tự sau đó. Chủ thuyết “tiền lệ pháp lý” có mục đích tạo sự ổn định pháp chế để cho xã hội có khả năng dự đoán hậu quả pháp luật, để tạo một bản đồ hướng dẫn và cai quản chánh án, tạo một giá trị tương xứng và đồng đều cho những nhu cầu đòi hỏi sự nhúng tay của luật pháp. Ổn định pháp chế tạo một bối cảnh công lý trong đó con người có thể dựa vào đó để chọn lựa kinh tế. Nó còn tạo nên những tiêu chuẩn mà xã hội có thể trông vào.
Thứ ba: Luật pháp phải đồng đều, hơn nữa, pháp chế cần phải liên tục. Như Roscoe Pound, một luật gia Hoa Kỳ, nói, “Luật pháp phải ổn định, tuy nhiên nó không thể đứng yên.”(55) Liên tục và ổn định tạo giá trị lâu dài vì nếu không thì luật pháp chỉ là những phản ứng nhất thời đối với những vấn đề nhất thời. Liên tục, đồng đều, ổn định là những yếu tố cần thiết cho một hệ thống pháp luật mạch lạc. Vì, “luật pháp với tư cách của một hướng dẫn viên cho hành vi sẽ là vô nghĩa nếu không ai biết nó là gì và sẽ như thế nào,” như Benjamin N. Cardozo đã nói.(56) Chính luật pháp, khi nó là một nguyên tắc trật tự, phải có một quy tắc trật tự cho chính nó. Đó là một trật tự nội tại.
Thứ tư: Tuy nhiên, luật pháp phải được phát triển, linh động và đổi thay. Vấn đề ở đây là mức độ của khả năng linh động. Luật pháp không thể ù lì để biện minh cho trật tự mà giá trị ổn định của nó đã đổi thay quá mức. Luật pháp không thể miễn nhiễm trước đổi thay của lịch sử vì luật pháp phải thể hiện giá trị mới. Nền tảng biện minh của luật pháp phải được cập nhật. Trong một xã hội đang trải qua những cuộc cách mạng trên đủ mọi phương diện, luật pháp cũng phải trải qua những thay đổi lớn lao. Cái khó khăn là sự quân bình được giữa yếu tính ổn định, đồng đều, liên tục, kiên cố đối với yếu tính linh động, đáp ứng và rộng mở. Luật pháp là cement để giữ các cấu trúc xã hội với nhau. Đồng thời phải còn là sợi dây giữa quá khứ và hiện tại, để chuẩn bị cho những tiến bộ của tương lai. Do đó, luật pháp là cơ chế hòa giải không những cho những xung đột của hiện tại mà còn có trách nhiệm giữa những xung đột của quá khứ, hiện tại, tương lai, giữa những khác biệt thế hệ, giữa những khác biệt mang thời gian tính.
 
Trong những quốc gia dân chủ, luật pháp là khí cụ của chính trị, thể hiện nguyện vọng công lý và trật tự của thời đại. Bởi thế, đổi thay nội dung luật pháp phần lớn đến từ phía lập pháp – cơ chế làm luật của quốc gia. Tuy nhiên, một số lớn về những quyết định pháp lý có tính cách cải tổ về nội dung công lý cũng đến từ tòa án. Ví dụ, Tối cao Pháp viện của Hoa Kỳ trong những án lệ quan trọng, đã tạo ra những cuộc cách mạng công lý lớn lao mà điển hình là quyền phá thai của phụ nữ và các vấn đề kỳ thị chủng tộc. (Vấn đề phá thai: Roe V. Wade, 410 U.S. 113 (1973). Vấn đề kỳ thị chủng tộc, ví dụ Brown V. Board of Education, 347 U.S. 483 (1954); Hay, Regents of University of California V. Bakke, 438 U.S. 265 (1978). Một trong những lý do mà phía tòa án càng ngày càng làm nhiều luật – thay vì thi hành luật – cũng vì bản chất bảo thủ và ù lì của cơ chế lập pháp và hành pháp không dám đối đầu với vấn đề lớn của hiện tại. Các chánh án của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ, vì được bổ nhiệm suốt đời, không phải tranh cử, không sợ bị chỉ trích khi đưa ra những án lệnh cách mạng đã tạo ra những làn sóng dao động xã hội lớn.
 
Thứ năm: Luật pháp phản ảnh được tầm mức thay đổi của xã hội. Luật pháp thể hiện cái chọn lựa của thời đại đối với hai nhu cầu quan trọng lớn – công lý và trật tự. Thay đổi luật pháp phải cân nhắc xem thử mỗi bước đi của cán cân công lý, xã hội sẽ được hưởng gì và bị thiệt hại như thế nào.  
Luật pháp là guồng máy cai quản chiều hướng đi tới xã hội – một bộ phận chính cho chiếc xe lịch sử khỏi bị nhào xuống hố nếu không vận hành đúng theo nhịp độ của thời đại và hoàn cảnh trong những giá trị khắt khe và mâu thuẫn nguy hiểm của bản chất tập thể.
 
***
 
Ý niệm công lý mang ý thức con người khi đối diện với bản chất khổ đau của hiện hữu, khổ đau cho chính mình, và khi đối diện với sự khổ đau của tha nhân, của những con người cùng chia những mẫu số chung về tổ chức và số phận của quốc gia và dân tộc. Một trật tự xã hội chỉ có thể có giá trị nếu nó mang chức năng tiến hóa vượt qua trạng huống và tình cảnh khổ đau của tập thể và cá nhân.  
Khổ đau cao nhất là sự bất công. Trong luận đề “The Disintegration of the Western Idea of Justice” (Sự phá sản của ý tưởng công lý của Tây phương) viết vào thập niên 1940-50, Emil Brunner, một triết gia Đức đã kêu lên,  
Cả thế giới đang kêu gào công lý. Tất cả mọi khổ đau đều cay đắng - nhưng khổ đau bất công lại càng đắng cay gấp bội. Bản chất khổ đau của số phận con người kết hợp nhân loại; nhưng khổ đau vì bất công là nguồn gốc của tan vỡ. Có loại khổ đau có nguyên nhân tự nhiên của đời sống thú vật – nhưng khổ đau vì bất công là phản tự nhiên. Đau khổ bất công (unjust suffering) không những cướp mất ước vọng hạnh phúc của con người, mà còn phá hủy trật tự cố hữu; nó tàn tạ hóa tinh thần sống; nó tiêu mòn cá nhân từ bên trong. Bất công lý là sự đau khổ thật sự (real suffering) chứ không phải là những sai trái mà kẻ khác tạo ra. Chỉ có con người biết đến thứ khổ đau này, vì chỉ có nhân loại ý thức được trạng huống trật tự mà con người phải có được với tư cách là một cá thể có quyền hạn và nhân cách phải được tôn trọng. (57)
 
Ý thức vùng lên của con người thường bắt nguồn từ cảm nhận so sánh về trạng huống thực tế và khả thể trước mặt. Chúng ta có thể cùng chịu và đồng chấp nhận khổ đau vì số mệnh - nhưng chúng ta không thể thụ động trước sự đau khổ bị áp đặt bất công. Có thể nói đây là động cơ cách mạng và thay đổi mạnh nhất. Nếu một sự hỗn loạn và chiến tranh đổ máu xảy ra để hòng được công lý – dù chỉ là lý tưởng – con người vẫn thường chấp nhận. Do đó, trật tự phải mang nội dung công lý. Nếu không, trật tự này trống rỗng, không mang giá trị biện minh và chính thống. Trật tự chỉ là phương tiện để cơ chế xã hội và con người có cơ hội vận hành chuyển hóa sự tiến lên của đời sống cá nhân và tập thể cho đời sống vật chất lẫn tinh thần.
Trật tự nào mang bản chất nội dung hầu thỏa mãn được nhu cầu công lý và tiến bộ? Trật tự pháp luật. Pháp luật mang giá trị tiêu chuẩn khách quan, mang cơ chế linh động đáp ứng, đổi thay trên nền tảng vững chắc của lý trí, và đặt mọi người, mọi đối tượng, ngay cả kẻ cầm quyền, chính quyền, người làm luật, thi hành luật dưới sự cai trị của tiêu chuẩn khách quan này. Không những thế, pháp luật là sự thể hiện của ý chí và ý lực tổng thể của xã hội đó. Do đó, luật pháp nước nào thể hiện bản chất xã hội, con người và ý niệm và cảm nhận công lý của quốc dân đó.
Cách mạng, chiến tranh là những chuyển động nhất thời và mang bản chất tiêu cực – đổ phá và bạo động. Thời đại hậu cách mạng, sau chiến tranh phải có cơ chế tích cực để xây dựng lý tưởng công lý. Lý tưởng này có thể đạt được trong sự tiến hóa chung của cơ chế và cơ cấu pháp luật song song với sự tiến hóa đều của xã hội. Tiến hóa phải mang giá trị tích lũy và đòi hỏi nhiều thời gian. Công lý tuyệt đối phải chỉ được đề ra như là một định hướng chính trị, pháp luật tổng quan, chứ không thể hiện thực hóa cấp thời.
Luật pháp cung cấp giá trị định chế, hòa giải tranh chấp, thực thi công lý cho xã hội. Tất cả những vai trò chức năng này đòi hỏi một nền tảng trật tự. Những chức năng này còn là những yếu tố trật tự chính nó. Trật tự pháp lý là trật tự chức năng của cơ chế, cơ cấu và quy tắc tập thể để hiện thực hóa lý tưởng công lý và tiến bộ cho con người và xã hội. Tất cả những phạm trù sinh hoạt và cơ cấu, định chế xã hội phải bị và chịu sự cai quản và chi phối của luật pháp. Guồng máy kinh tế cần nguyên tắc kinh tế tổng quan, quy tắc tài chính, tiền tệ, ngân hàng, khế ước, lao động. Guồng máy hình luật cần quy tắc cấm cản, trừng phạt, thủ tục truy tố, kháng án, giam cầm, quyền biện hộ. Cơ chế tôn giáo phải theo quy luật thuế khóa, bất động sản và những ràng buộc ngăn cấm cần thiết. Đời sống gia đình cá nhân phải tuân theo tiêu chuẩn pháp lý, đối xử giữa cha mẹ, con cái, anh em trên căn bản pháp nhân ngang hàng và đồng tư cách trên nền tảng trách nhiệm đạo đức và nội bộ hỗ tương.
Trật tự pháp lý đi từ vai trò hỗ tương đến vai trò chủ động đối với trật tự thiên nhiên. Nhưng khó mà có một mô hình (model) hay mô thức (formula) bao gồm và phổ quát cho một trật tự tự nhiên cho nhân loại. Yếu tố nào giữa được giềng mối giao hảo? Giá trị nào tạo thứ bực giữa cá nhân? Tại sao có chủ quan mệnh lệnh và đối thể chấp hành? Người ta nhận thấy có đạo đức, tục lệ, bạo lực, hay ý thức về nhu cầu thiết yếu duy trì những tương quan đó. Nhưng đạo đức, tục lệ thì thay đổi, nền móng cổ tục không thể tiếp tục đứng vững. Bạo lực thì phải có nền tảng biện minh đạo đức (ví dụ, chuyên chế phong kiến Trung Hoa đối với Khổng giáo).
Chính cái nền tảng ý thức về nhu cầu tổ chức là nền móng căn bản cho một cơ chế dân chủ pháp trị. Giai đoạn lịch sử thời đại và thế kỷ này mang bản chất hoán chuyển giá trị từ biện minh bạo lực bằng đạo đức để tiến về ý thức cần thiết của sự đồng thuận, đồng tác động để sinh sống. Chủ nghĩa Marxism và Fascism là những biện pháp chính trị dùng lý tưởng đạo đức để biện minh cho bạo lực hòng hoàn tất một lý tưởng trật tự công lý. Marxism và Fascism là di sản tự nhiên của văn minh phong kiến và chuyên chế của nhân loại. Nó là sự nối dài của bóng tối chậm tiến, thụ động, ngu dốt, thiếu trưởng thành của những tập thể con người thiếu ý thức và năng động làm chủ vận mệnh của mình. Nó là sự thể hiện của sự chấp nhận vai thế bị trị, nô lệ trong chuỗi dài đấu tranh để thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn của sự cương tỏa bất công của thiểu số tài năng, hay giàu có, hay may mắn, biết tổ chức, có thế lực, tiếp tục lừa dối những biện minh đạo đức láo toét để đè bẹp năng động tự do và công lý, tiến bộ của con người.
Trật tự Marxism là sự hóa thân nửa mùa của giai đoạn chuyển tiếp từ trật tự tự nhiên, lạc hậu đến trật tự pháp trị. Trật tự độc tài của biện minh “chuyên chế vô sản” của Marxism thừa hưởng gia sản “philosopher-king” của biện minh chính trị của Plato thời Hy Lạp. Cả hai đều phục vụ một thiểu số nào đó có biện minh đạo đức và khả năng để cầm quyền – tức là có chủ quyền độc tài, chuyên chính. Cả hai đều nhân danh lý tưởng cho con người, cho quốc dân. Nhưng Marxism hơn Platonism ở điểm là Marxism công nhận giá trị đa số và bình đẳng. Bình đẳng được nhấn mạnh là nguyên tắc chính trị hàng đầu của Marxism. Do đó, Marxism là một sự tiến bộ từ chuyên chế phong kiến, hay Platonism. Tuy nhiên, Marxism chỉ bước được nửa đường khi thiểu số áp đặt giá trị thiểu số lên đa số. Tệ hơn nữa là người Marxists vẫn chủ trương đấu tranh bằng phương cách phân loại tập thể xã hội ra từng giai cấp để tiêu hủy – một tiến trình lịch sử duy tiêu cự và nguy hiểm. Tức là sử dụng bất công để đạt được công bằng, công lý; sử dụng chuyên chính để đạt được dân chủ cho phe mình. Marxism là một nỗ lực, nói như triết gia Karl R. Popper, “trong tiến trình dai dẳng để xây dựng một xã hội tốt đẹp” (58). “Xã hội” mà Popper nói tới, hay người Marxists nhân danh, là cái nội dung công lý toàn thể và tuyệt đối. Trật tự Marxism là trật tự đặt tuyệt cao giá trị tập thể (collectivism) lên trên giá trị năng động và phạm trù độc đáo của cá nhân (individualism). Bước ngoặt hư hỏng của Marxism là sự áp đặt ưu tiên giá trị này. Tác hại của Marxism là cả một chuỗi dài của vết xe lịch sử đầy đau thương, máu lệ, và bất công rùng rợn. Và công lý vẫn không hiện thực được. Từ trong lòng những xã hội Marxism là những ngòi nổ chậm phá tung cái trật tự Marxism đang được duy trì ở một vài quốc gia nhỏ bé, chậm tiến bằng bạo lực trong bối cảnh thụ động và tê liệt của tập thể quốc dân ở đó. Từ bất công, những con người Marxists đứng lên đi đấu tranh. Câu khẩu hiệu, “Ở đâu có bất công ở đó còn đấu tranh” còn có ý nghĩa hơn nữa đối với những xã hội bị cai trị bởi chủ nghĩa này. Người Marxists thành công kiến tạo được một trật tự xã hội tạm thời. Nhưng vì thiếu nội dung công lý và tiến bộ, trật tự này thiếu căn bản biện minh.  
Do đó, sự đào thải Marxism là bước tiến đi về một trật tự pháp luật – một hợp đề này là tác phẩm của ý thức chung về sự thiết yếu của một quy luật tập thể, hiện thực hóa giá trị cá nhân, đồng trị, đồng bị trị.
 
MÔ THỨC TRẬT TỰ CÔNG LÝ CHO VIỆT NAM
 
Việt Nam thừa hưởng một di sản xã hội duy tiêu cực từ lịch sử phong kiến chuyên chế, nô lệ thuộc địa, đế quốc, quân phiệt, Cộng sản, chiến tranh và lạc hậu. Để thiết kế một trật tự công lý cho Việt Nam, từ đó, đòi hỏi những cơ chế thích ứng được với trình độ văn hóa, dân trí, xã hội cũng như bối cảnh tổ chức công quyền và phẩm chất cá nhân trong hệ thống hành xử pháp chế.
Đa số quần chúng Việt Nam của thời đại hiện tại vẫn chưa có ước vọng cao cấp về chính trị lẫn kinh tế. Từ đó, tiền đề công lý chính là nội dung và cũng là bản chất của những xếp đặt chính trị cũng như khả năng kinh tế mà chính quyền phải thực thi để mong thỏa mãn mức độ ước vọng và khát khao mà trong hoàn cảnh của đất nước, với đầy những thử thách và giới hạn khắt khe, không có chính quyền nào có thể có một phép lạ thỏa mãn được nhu cầu thời đại một cách khẩn cấp. Tuy nhiên, chúng ta phải coi chừng cái khoảng cách giữa ước vọng và thực tế để đừng cho nó biến thành một hố sâu nguy hiểm trong giai đoạn chuyển tiếp để đi đến thời hậu Cộng sản.
 
Ưu tiên khẩn cấp và cao nhất hiện nay cho Việt Nam là một trật tự xã hội khả dĩ có thể tối đa hóa tiềm năng kinh tế để giải quyết những nhu cầu sống còn vật chất căn bản cho quốc dân. Do đó, một mô hình trật tự công lý phải nhấn mạnh để ưu tiên kinh tế này – đồng thời nhận thức được mức độ tự do chính trị khả dĩ có thể có được và tối thiểu trong hoàn cảnh dân nghèo, trình độ thấp mà xã hội đang đối đầu. Đây là một chọn lựa khó khăn. Bản chất trật tự chính trị sẽ quyết định khả năng và khả thi kinh tế để ảnh hưởng đến tầm mức công lý cho xã hội. Một thể chế chính trị thiếu cởi mở, mang tính chất độc đoán trung ương có thể có khả năng duy trì ổn định xã hội nhưng sẽ thất bại về tác động hiệu lực và năng động kinh tế. Tuy nhiên, trong trường hợp ngược lại, một thể chế chính trị thiếu khả năng cung cấp một nền tảng cơ chế ổn định – đặc biệt là một cơ chế pháp lý vững chắc và nghiêm chỉnh – thì tác động về kinh tế cũng sẽ tiêu cực như trường hợp chính trị độc tài.  
Nhu cầu trật tự công lý cho Việt Nam hiện nay mang bản chất chuyển tiếp và dung hòa. Tất cả mọi mô thức cực đoan, nhấn mạnh quá cao một ưu tiên trong khi đè nén ước vọng ưu tiên khác sẽ tạo sự mất quân bình vốn rất cần thiết để đưa quốc gia vào giai đoạn xây dựng những cơ chế xã hội và công quyền cấp cao.
Một mô thức trật tự công lý cho Việt Nam hiện nay có thể được công thức hóa tổng quát như sau:
a. Ưu tiên thứ nhất: Tính hiệu năng và tích cực cần thiết để phát triển kinh tế căn
bản.
b.   Ưu tiên thứ nhì: Khả năng duy trì nền tảng ổn định nhưng quân bình.
c.  Ưu tiên thứ ba: Phát huy nội dung công lý của trật tự quốc gia.
d.   Ưu tiên thứ tư: Nâng cao mức độ tự do cấp cao (chính trị, đảng phái…) thích hợp
với hoàn cảnh kinh tế và xã hội cho phép.
Những yếu tố tổng quan:
 
(1)  Thứ tự ưu tiên phải được linh động hoán chuyển để tối đa hóa tiềm năng của tất cả các lãnh vực ưu tiên.
(2)  Tất cả các ưu tiên hỗ tương và không có loại trừ lẫn nhau.
(3)  Sự khác biệt giữa các ưu tiên không mang tính chất lâu dài và không được tạo một tầm chênh lệch quá lớn.
(4)  Năng động chính sách và pháp chế giữa các ưu tiên phải mang càng nhiều yếu tính dân chủ – luật pháp phải cai quản chính sách, do quốc hội dân chủ kiến tạo – tùy theo hoàn cảnh khả thi và nhu cầu thiết yếu cho từng chỉ tiêu.
(5) Chính sách càng lâu dài, càng rộng lớn và bao gồm thì sự khác biệt giữa các thứ tự ưu tiên càng giảm xuống.
Chủ yếu của mô thức này là sự định hướng tiến bộ về mọi mặt cho quốc gia và quốc dân trong hoàn cảnh và điều kiện có thể được. Chúng ta muốn đưa Việt Nam lên ngang hàng với nấc thang trung bình của cộng đồng thế giới dân chủ tiến bộ và rộng mở. Nhưng điều thiết yếu là phải nhận ra bản chất thực tế của một dân tộc đang còn ở trong tình trạng rất chậm tiến và thoái hóa về mọi mặt. Nhu cầu của đa số dân Việt hiện nay là cơm ăn, áo mặc, một nơi ở tối thiểu, và nhu cầu y tế căn bản. Những nhu cầu căn bản này, sở dĩ vẫn còn ở mức độ khẩn cấp như hiện nay phát xuất từ sự chọn lựa chính trị và cơ chế phản tiến bộ của khối lãnh đạo Hà Nội. Dĩ nhiên, chiến tranh và lịch sử lạc hậu cũng đóng góp khá lớn cho tình cảnh này. Nhưng nguyên nhân chính và tối hậu là nguyên nhân chính trị.
Tuy nhiên, để giải quyết ứ đọng chính trị và khai mở hướng đi cho dân tộc, gia tăng và hiệu năng hoá năng động kinh tế, chúng ta không thể đi tìm một mô thức chính trị cực đoan mà động cơ chỉ để thoả mãn tình cảm chính trị tiêu cực phát xuất từ sự bất mãn của quá khứ và lịch sử. Ước vọng tối hậu của dân tộc là ước vọng tự do. Nhưng nói như thế mà thôi thì chỉ có giá trị trừu tượng mang tính chất khẩu hiệu. Tự do, như đã được trình bày ở trong các chương khác, chỉ là bản chất của trật tự xã hội. Càng văn minh tiến bộ thì luật pháp càng chặt chẽ, cá nhân càng bị cai quản, giới hạn và đòi hỏi nhiều kỷ luật hơn.
Do đó, chọn lựa chính trị của thời đại là chọn lựa một trật tự dân chủ pháp trị để kiến tạo một nền tảng tự do và công lý tích cực cho nhu cầu phát triển kinh tế, nâng cao mức sống vật chất tối thiểu cho toàn thể quốc dân.
Để đi đến chọn lựa chính trị mà công trình là sự khởi đầu xây dựng lại nền tảng cơ chế, cấu trúc công quyền và xã hội, chúng ta phải nhận ra bản chất năng động của ước vọng mà quần chúng Việt Nam đang có:
 
Thứ Nhất: Đa số dân Việt là nông dân. Theo những ước lượng gần đây thì tỉ số là 85 phần trăm tổng số dân số đang ở nông thôn, theo đuổi sinh sống bằng nông nghiệp, lâm sản hay ngư nghiệp.
Thứ Hai: Trình độ dân trí rất thấp. Đại đa số chỉ có trình độ tiểu học, chỉ biết đọc, biết viết căn bản.
Thứ Ba: Đa số dân chúng nông thôn này chưa có ý thức cao cũng như chưa mang năng động ước vọng chính trị dân chủ đa nguyên,
Thứ Tư: Ước vọng của tập thể quần chúng nông dân là kinh tế tư sản,
Thứ Năm: Quần chúng nông thôn đang có khuynh hướng đi về các trung tâm đô thị để thỏa mãn ước vọng kinh tế và tiến bộ.
Trái ngược với tầng lớp đa số quần chúng nông thôn ở trên, thì lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, một tập thể lớn lao người Việt ở nước ngoài sẽ gây một ảnh hưởng cao độ đối với tiến trình tiến hoá văn minh Việt Nam. Tập thể Việt kiều này sẽ:
 
(a)  Tạo năng động ý thức chính trị dân chủ khẩn cấp,
(b)  Nâng cao ước vọng kinh tế tư bản và thị trường,
(c)  Du nhập giá trị nhân văn và xã hội Tây phương,
(d)  Đóng góp lớn vào năng động kinh tế chung, đặc biệt là ngoại thương,
(e)  Sẽ dần dần chiếm nhiều ảnh hưởng kinh tế.
Việt Nam sẽ phải đối chọi với hai lực kéo và đẩy đó: Giữa chậm tiến nông thôn đối với năng động rộng mở của giới Việt kiều. Nhu cầu chính trị, từ đó, là sự tổng hợp được hai luồng năng lực này để tạo nên một hợp đề năng động quân bình và hỗ tương. Sự cẩn thận là để tránh những hệ quả mà một trật tự kinh tế và xã hội bất bình đẳng và thiếu công lý khi cơ chế quốc gia không có khả năng quản trị được đổi thay trong bối cảnh này.
Tập thể Việt kiều là tài sản lớn lao và quan trọng của quốc gia kể cả về khả năng kinh tế tài chánh cho đến nguồn nhân lực trí thức cũng như kỹ thuật cao, năng động kinh doanh lớn. Số đông Việt kiều, đặc biệt là giới trẻ, đã hấp thụ được những giá trị văn minh và văn hoá dân chủ, tự do tích cực từ Tây phương. Thế hệ này sẽ là lượng máu tươi mát và khoẻ mạnh mang khả năng thay thế bản chất tiêu cực và thổi nát về phương diện nhân văn và tâm tính của phần lớn người Việt bị ô nhiễm bởi hoàn cảnh xã hội và lịch sử khó khăn.
Nhưng ngược lại, giới Việt kiều cũng sẽ tạo nhiều vấn đề xã hội cho Việt Nam. Cũng một số đông sẽ trở về với bản chất văn hoá du mục, thiếu yếu tố lâu dài, không có cơ bản chữ tín, thiếu gốc rễ đạo đức căn bản. Tuy nhiên, đây là vấn đề tự nhiên của tập thể mà bản chất của nó luôn luôn không thể mang yếu tính đồng nhất.
Chính sách di trú và Việt kiều phải thể hiện được bản chất rộng lượng của quốc dân và tích cực tính của thái độ chung. Hãy cho mọi người từ nông thôn đến thành thị đến Việt kiều có cơ hội sống trong tư thế công dân của một Việt Nam mới, bao dung và rộng mở hơn. Tương lai chúng ta sẽ cùng gặt hái được nhiều hoa trái từ tất cả mọi tầng lớp.
Việt Nam sẽ cũng phải đối đầu với mâu thuẫn lớn giữa quyền hạn và năng động kinh tế giữa hai tập thể nông thôn và Việt kiều.
Sự chọn lựa một trật tự công lý phải thể hiện được một chính sách mà trong đó:
-  Trọng tâm ưu tiên là tập thể dân chúng nông thôn,
-  Ưu tiên tiến bộ phải đặt nặng về kinh tế cho nông thôn.
-  Phát huy năng động kinh tế và quyền hạn hỗ tương.
-  Phát huy khả năng tích cực của vai trò công dân trong tiến trình xây dựng cơ chế xã hội dân sự (civil societies) như giáo dục, tôn giáo, văn hoá, truyền thông, chuyên môn, kinh doanh, để mỗi khối quyền lợi của quốc dân đồng có khả năng tự sinh, tự quản và mang tinh thần hỗ tương xây dựng, tích cực, quân bình đối với chính quyền cũng như đối với lẫn nhau.
Giai đoạn cuối thế kỷ XX này cống hiến cho Việt Nam một cơ hội lớn để chủ động lại giá trị dân tộc trong tiến trình kiến tạo một văn minh mới thích hợp và cập nhật hoá. Giá trị dân tộc Việt ở thời đại này mang bản chất đáp ứng tích cực với trào lưu văn minh thế giới, rộng mở và phổ cập. Kinh nghiệm lịch sử cũng như ý thức hệ đã cho chúng ta những bài học tổng hợp để toàn thể quốc dân cùng đi tới một hợp đề mới để tìm hướng đi cho thế kỷ tới.
Đã có nhiều vũng lầy ứ đọng bước chân lịch sử và con người Việt Nam. Tất cả đều là những hiện tượng chậm tiến mà nguyên nhân chính là sự thiếu cơ hội, khả năng, và ý chí xây dựng một cơ chế chính trị và xã hội quân bình để mở lối cho dân tộc. Tây phương đã thảm nạn hoá Việt Nam; nhưng đồng thời cũng đã cho Việt Nam nhiều bài học và cơ hội tỉnh thức.
 
Và bài học quan trọng nhất ở thời đại này là sự ưu tiên kiến tạo một cơ chế quốc gia theo kinh nghiệm Tây phương để thỏa mãn ước vọng tự do và để thực thi công lý: Dân chủ pháp trị.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.09.2016 08:20:35 bởi Sun Ming>
CHƯƠNG NĂM
 
LUẬT PHÁP VÀ TỰ DO
 
Freedom is the overcoming the external and which coerces me... But freedom is also the overcoming of one’s own arbitrariness. Freedom coincides with the inwardly present necessity of the true... The demand upon liberty is, therefore, to act neither from caprice nor from blind obedience, but from judgement.
(Tự do là sự vượt thắng chướng ngại khách quan và những gì trói buộc... Nhưng tự do còn có nghĩa là sự vượt thắng chính mình. Tự do đồng nghĩa với sự thiết yếu của đời sống nội tâm... Do đó, cái yêu cầu của tự do là sự tác động, không từ phóng túng hay phục tùng mù quáng, mà phải có từ phán đoán.) Karl Jaspers (1949)
 
Freedom does not just happen, it has to be created.
(Tự do không phải ngẫu nhiên mà có, nó phải được kiến tạo.) Ralf Dahrendorf (1990)
 
Tự do là một khát vọng chính trị, hay lịch sử, nhưng ít khi chúng ta nghĩ đến tự do là một cứu cánh của luật pháp. Tuy nhiên theo truyền thống triết học chính trị Tây phương thì tự do là một ý niệm nền tảng cho những biện minh về luật pháp, công lý và trật tự xã hội. John Locke cho rằng “cứu cánh của luật pháp không phải để phá bỏ hay giới hạn, nhưng mà để bảo vệ và phát huy tự do.”(59) Rousseau nói lên điều hiển nhiên rằng, “Con người sinh ra tự nhiên được tự do nhưng mà khắp mọi nơi họ đều bị xiềng xích, gông cùm.”(60) Kant tuyên bố rằng tự do “là quyền căn bản nguyên thủy và duy nhất mà mỗi người có được vì họ là một phần tử của nhân loại."(61)
 
Tự do không phải chỉ là quyền hạn và khả năng hành động theo ý muốn - như triết gia Anh John Stuart Mill quan niệm trong luận đề lừng danh On Liberty (Tự Do Luận) xuất bản vào khoảng giữa thế kỷ trước.(62) Tự do theo quan niệm của Mill bị giới hạn vào khuôn khổ tự do tiêu cực: Cá nhân sống và hành động mà không bị trói buộc. Triết luận về đề tài tự do của Mill cũng như của Locke, Rouseau và Kant chỉ nói lên cái khát vọng của cá nhân muốn ra khỏi vòng kìm kẹp của chính quyền và nhà nước. Nhưng quan niệm tự do này là di sản của truyền thống triết học “luật tự nhiên” (natural law) của Tây phương. Truyền thống này cho rằng con người sinh ra trong môi trường thiên nhiên và bối cảnh xã hội đã cung cấp cho những quy luật tự nhiên và quyền lợi có sẵn. Đây là lý luận có tính chất thần học vượt qua khỏi thực tế. Nhân loại, trên thực tế, luôn luôn đã bị sinh ra trong sự vắng mặt của tự do. Tây phương chứng kiến lịch sử của họ là một chuỗi dài nô lệ và bóc lột dã man cho đến lúc gần đây. Đông phương chấp nhận độc tài, quân chủ, bóc lột như là một phần của tự nhiên, của tạo hóa. Cho nên nói rằng có một tự do tự nhiên nào đó mà nhân loại đã bị tước đoạt chỉ là sự diễn đạt của khát vọng từ thực tế tàn nhẫn hơn là nói lên sự thật.
 
Cho dù có một nền tảng luật tạo hóa, luật này cũng không giải quyết được cái vấn nạn công lý, trật tự xã hội khi mà cấu trúc của đời sống đã hoàn toàn đi ra khỏi bối cảnh tự nhiên. Nói như Lloyd L. Weinreb, trong cuốn Natural Law and Justice (Luật Tự Nhiên Và Công Lý) thì,
 
Cái khuyết điểm của luật tự nhiên không phải chỉ ở chỗ rằng nó không thể chứng minh được những chuyển biến tự nhiên hoàn tất được một trật tự quy tắc (normative order) - có nghĩa rằng nó có công lý. Luật tự nhiên chỉ là những quan niệm trống rỗng, không diễn tả được rõ ràng như thế nào là một trật tự xã hội có công lý. Từ đó, chúng ta chỉ có nhận diện mà không thấu hiểu, tin vào Thượng đế mà không biết đến ân huệ nào đã được ban cho.(63)



Chúng ta có thể quan niệm rằng con người là sản phẩm tự nhiên của tạo hóa; do đó, những gì con người tạo ra, ngay cả luật pháp, là một phần của tự nhiên. Nhưng nói như thế thì không còn gì để gọi nhân tạo hay không tự nhiên được nữa.
Tự do là một lý tưởng tích cực của nhân loại. Tự do là cấu trình của nỗ lực nhân loại muốn thoát ra cái giới hạn của nhà nước, chính quyền đối với cá nhân. Nói theo G. W. Hegel thì “Lịch sử thế giới không gì hơn là một tiến trình của ý thức tự do.”(64)
 
Vì tự do là một sản phẩm của xã hội trưởng thành, tự do bao gồm hai mặt: (1) Tự do tiêu cực: Sinh sống, hiện hữu, hành động không bị giới hạn bởi xã hội, và (2) Tự do tích cực: Cơ hội và phương tiện để phát huy tiềm năng của con người. Tự do tiêu cực là tự do thiếu tổ chức. Tự do tích cực là tự do dựa vào cơ chế cũng như sự can thiệp của xã hội cho cá nhân được thăng tiến và phát triển. John Stuart Mill quan niệm tự do trong khuôn mặt tiêu cực đó - một thể loại tự do “làm gì thì làm.”
 
Trong khi đó Bronislaw Malinowski, trong cuốn Freedom and Civilization (Văn Minh Và Tự Do) định nghĩa tự do tích cực bao hàm “điều kiện cần thiết và đủ để cấu tạo một mục đích, hiện thực hóa mục đích này qua hành động hiệu quả trong bối cảnh văn hóa có tổ chức, và sự thưởng đạt cái kết quả đó."(65)
 
Để hiểu rõ thêm về ý nghĩa hai chữ tự do, chúng ta hãy nhìn vào một trường hợp điển hình gần đây trong cộng đồng di dân Việt Nam ở Hoa Kỳ. Dân làng chài lưới, ngư dân vùng Thuận An, Thừa Thiên, đã ồ ạt di dân sang Hoa Kỳ trong những năm 1984-1987. Hãy cho rằng số ngư dân này “đi tìm tự do.” Nếu thế thì họ phải có “ít tự do khi họ ở Việt Nam” và được hưởng “nhiều” tự do khi họ đến Hoa Kỳ. Tuy nhiên, nhìn kỹ hơn, chúng ta thấy rằng vấn đề không giản dị như thế. Ngư dân Thuận An khi còn ở Việt Nam không có “tự do” tư tưởng, hội họp, chính trị. Tuy nhiên, số người này rất ít khi sử dụng những tự do xa xỉ này. Đối với họ, những tự do trừu tượng trên không cần thiết. Họ chỉ muốn được làm ăn, giàu có. Vì Việt Nam là một xã hội lạc hậu, luật hàng hải và ngư nghiệp gần như không có. Cho nên thực tế là số ngư dân Thuận An gần như không bị giới hạn bởi luật pháp. Họ gần như muốn gì làm đó ở ngoài biển khơi. Họ muốn đánh cá nào tùy ý, đánh bao nhiêu, dùng loại lưới nào, bán cho ai... đều không bị cấm.[link=#page52]1[/link]
 
Nhưng khi đến Hoa Kỳ thì nghề nghiệp của họ bị giới hạn bởi hàng trăm thứ luật, từ loại lưới, loại thuyền, thời gian đánh cá, phương thức bắt cá, loại cá nào, giấy phép... Một ngư dân hành nghề trong mạng lưới chằng chịt của luật lệ Hoa Kỳ, giới hạn hành động của họ đến mức tối đa. Thế thì, có người hỏi, họ đâu có thể gọi là đi “tìm tự do” được?
Trường hợp này, có thể có lý luận cho rằng ngư dân Thuận An, khi qua Mỹ bị “mất” tự do tiêu cực. Họ bị mất đi cái khả năng “muốn làm gì thì làm.”
Tuy nhiên ngư dân Thuận An đi tìm một tự do khác: tự do tích cực. Họ đi tìm cơ hội được phát triển toàn diện nghề nghiệp của họ. Dù luật pháp chằng chịt, nhưng xã hội Hoa Kỳ cung cấp nhiều cơ hội để số ngư dân này thỏa mãn ước vọng kinh tế - và cả chính trị nữa. Ở Việt Nam không đủ máy móc, tàu bè. Đánh cá về không bán được bao nhiêu. Hành nghề thì phải như giành giựt, sống trong “luật rừng.” Con cái họ không có cơ hội được học hỏi và sống đầy đủ phương tiện vật chất. Dù họ được tự do làm gì tùy ý nhưng họ bị đe dọa bởi cái khoảng trống luật pháp đó. Họ chưa cần đến tự do tư tưởng chính trị nhưng họ muốn con cháu họ được hành xử nó.
Tự do không những là từ chính quyền mà còn từ phía khác. Ở Việt Nam, người giàu có phải rào nhà cửa bằng ba lớp thép gai vẫn còn sợ bị mất cắp. Qua đến Hoa Kỳ, nhà cửa họ, sân cỏ họ không cần bao chặt như pháo đài. (Dĩ nhiên, tôi muốn nói đến một mức độ nào đó thôi, ở Hoa Kỳ, nhiều nơi, trộm cắp nhiều hơn ở Việt Nam). Người Việt Nam qua Mỹ đi tìm cái tự do tích cực đó - tự do của cơ hội, tự do được bảo vệ bằng luật pháp công minh.
Tự do chỉ có thể nhìn ở mức độ vì nó là sản phẩm của tổ chức. Một xã hội càng trưởng thành, mức độ tự do cao hơn. Tự do, từ đó, là một bản sắc của công lý và trật tự. Tự do là chu vi hành động mà trong đó cá nhân được phát huy tối đa tiềm năng của mình. Khí cụ để bảo vệ tự do, ngoài luật pháp, còn có kinh tế, giáo dục và đạo đức. Tự do phát triển trong bối cảnh xã hội tổ chức, trưởng thành, phồn thịnh, luật pháp nghiêm minh và hiệu năng, và tinh thần lành mạnh.
Nhưng quan trọng hơn cả, tự do là cứu cánh của một cơ chế dân chủ pháp trị. Công lý và tự do là hai khuôn mặt của đồng tiền trong một trật tự xã hội trưởng thành. Tự do càng tăng cao về mức độ thì công lý phải bành trướng. Tự do thiếu công lý thì tự do què quặt, thiếu quân bình. Tự do này chỉ là biểu tượng của hỗn độn trong đó cá nhân bị phóng túng, thiếu kỷ luật và thiếu cơ hội.
Công lý chỉ được nâng cao nếu chu vi hành động và chọn lựa cho cá nhân được mở rộng. Bất công kinh tế có thể được điều chỉnh và giảm thiểu nếu luật pháp bắt buộc xã hội cung cấp cơ hội và phương tiện giáo dục, công ăn việc làm, tiến thân cho giới nghèo khổ, bị bạc đãi, bị bất lợi. Khi luật pháp cưỡng bách xã hội mở rộng phạm vi cơ hội và chọn lựa cho cá nhân, luật pháp mở rộng cánh cửa tự do. Ở xã hội lạc hậu về kinh tế như Việt Nam, cái đòn gánh, xiềng xích giữ chặt con người vào gian khổ, từ chối cá nhân tự do kinh tế mà dân các nước tiền tiến đã từ lâu có, còn tệ hại hơn độc tài chính trị. Khi mở rộng cánh cửa tự do cho cá nhân, luật pháp đóng vai trò hành xử công lý.
Tự do còn là điều kiện cần thiết cho một trật tự xã hội. Cảm nhận thông thường cho rằng tự do luôn luôn mâu thuẫn với trật tự. Tuy nhiên, chúng ta muốn nói đến một bản chất trật tự nào đó. Trật tự (order) phải bao gồm quân bình (equilibrium). Vì không có trật tự nào có thể ổn định tuyệt đối và mãi mãi. Trong các quốc gia với chế độ độc tài chuyên chế, xã hội có thể có trật tự dưới guồng máy bạo lực nhưng xã hội đó không thể quân bình được. Bản chất của tổ chức, con người và giá trị là phải đổi thay. Đổi thay bao hàm một ý nghĩa hoán chuyển của vị trí đối với tất cả từ trừu tượng đến thực nghiệm, vật chất đến tinh thần. Đổi thay, hay tiến bộ, nếu chúng ta muốn nói đến ngôn từ thông thường, đòi hỏi ý lực (will), sáng tạo, chủ động, cơ hội và phương tiện. Những yếu tố này phải vùng vẫy để vượt ra khỏi cái lực trì trệ (inertia) của cổ tục, truyền thống, và bản chất an phận của xã hội, bên cạnh sự đàn áp của chính quyền. Khi sáng tạo và chủ động không có cơ hội để hành xử thì năng lực tiến bộ bị đè bẹp. Nhưng với thời gian, năng lực đổi thay ngấm ngầm nung nóng đối nghịch với cơ chế già nua của chuyên chế, độc tài. Mâu thuẫn này tạo ra những năng lực chuyển động tiêu cực. Hệ quả của nó là sự nổ tung của xã hội, đánh mất cái trật tự thiếu quân bình để con người có thể gây dựng lại một trật tự mới. Bản chất của lịch sử của hầu hết các quốc gia thiếu dân chủ đa nguyên đều chứa đựng cái trật tự thiếu quân bình nói trên. Đặc biệt và biểu trưng nhất là trường hợp của Trung Hoa. Vòng lẩn quẩn đầy thảm họa của người Tàu được phác họa tổng quát như dưới đây bởi Mary Wright trong cuốn The Last Stand of Chinese Conservatism (Thế Đứng Cuối Của Khối Bảo Thủ Trung Hoa):
 
Ngắn gọn, vấn đê như sau: Một triều đại mới được tạo dựng chứa đựng nhiều năng lực, sinh động với sự hợp tác của nhiều nhân tài cộng tác kiến tạo nên một trật tự chính trị mới. Theo tiến trình, một thời đại huy hoàng dược tạo dựng... Nhưng thời đại vàng son này đã chứa sẵn hạt giống của mục nát. Giai cấp thống trị dần dần mất đi ý lực và khả năng để theo đuổi tiêu chuẩn đạo đức Khổng giáo... Đạo đức chính trị bị tụt dốc, thối nát tràn đầy... Niềm tin vào trật tự hiện đại biến mất và dân chúng bắt đầu nổi loạn. Thường những cuộc nổi loạn của “giặc cướp” thành công biến họ thành lực lượng có chính nghĩa. Một thời đại mới bắt đầu và đi theo con đường của các triều đại trước.(66)
Liệu người Tàu có khả năng thay đổi lịch sử của họ tiếp tục đi theo vết lằn của chiếc xe đổ? Câu trả lời nằm trong bối cảnh văn hóa chính trị của họ. Hoàng Lãng Chí, một nhà xã hội học Trung Hoa hồi thế kỷ thứ XVIII đã nhận ra vấn đề này và tự hỏi, “Trời đất có biện pháp nào không?” Nhưng ông tự trả lời, “Than ôi, Trời đất chỉ cho ta lụt lội, hạn hán, dịch truyền nhiễm và những thiên tai khác mà thôi!” Rồi ông chợt khám phá ra, “Thế thì chính quyền có biện pháp không?”(67)
 
Vấn đề là ở chỗ đó. Phải từ bỏ cái tinh thần gán đặt trách nhiệm vào Trời Đất, tạo hóa, thiên nhiên. Cần phải ý thức: Thảm họa có thể giảm thiểu hay loại bỏ bằng tổ chức - chính quyền. Tôi muốn nói một chính quyền với nỗ lực bảo vệ và phát huy tự do cá nhân để năng lực sáng tạo được sử dụng hầu đưa đẩy xã hội đi theo một tiến trình lịch sử mới. Trung Hoa tiếp tục theo bánh xe đổ vì chính trị đè bẹp năng lực tự do cá nhân. Khi người Tàu khám phá ra chủ nghĩa Marx-Lenin, ý thức được vai trò của chính quyền đối với lịch sử thì họ lại chọn sai ý thức hệ. Chủ nghĩa Marx-Lenin lại còn bóp chặt lực tự do của người Tàu hơn bao giờ. Chính trị Trung Hoa, do đó, vẫn mang cái mầm mống của thảm họa của các triều đại trước. Văn hóa chính trị mục nát dần, bất lực trước sự vươn lên tự nhiên của năng lực tự do, tạo ra ngòi nổ chậm để chuẩn bị phá nát cái trật tự không được quân bình hiện nay.
Trách nhiệm của chính quyền là cung cấp một cơ chế để phát huy sáng tạo. Khí cụ hàng đầu là xây dựng một nền luật pháp bảo vệ và phát huy tự do cá nhân. Khi năng lực của cá nhân được phổ biến, sự hoán chuyển của trật tự sẽ đòi hỏi khả năng quân bình chuyển động mà nếu không có luật thì chuyển động sẽ mất trật tự và dẫn đưa quốc gia đến con đường sụp đổ. Cái khó khăn của luật pháp là ở chỗ đó.
 
Giữa Chính Quyền và Cá Nhân
 
Tuy nhiên khi nói đến luật pháp là nói đến chính quyền. Giữa chính quyền và cá nhân luôn có sự đối chọi liên tục xảy ra để tranh chấp giữa chu vi tự do của cá nhân đối với biện minh cưỡng chế bởi chính quyền. Nói như Charles De Montesquieu thì vấn đề của triết học chính trị, và bản chất tiến thoái lưỡng nan của nó, là sự hòa giải giữa sự tự do và cưỡng bách. Montesquieu còn đi xa hơn nữa khi cho rằng lịch sử tư tưởng chính trị Tây phương từ thời Machiavelli của Ý Đại Lợi (1469-1527) cho đến nay là sự đi tìm biện minh cho sức mạnh và quyền hạn luật pháp và quyền lực.(68) Vấn đề gần như quá hiển nhiên khi con người không muốn bị kiềm tỏa khi sống trong xã hội đang có nhu cầu ổn định và trật tự. Tự do tiêu cực - làm theo ý muốn - bị giới hạn khi khát vọng công lý, công bằng, và nhu cầu trật tự đứng ngang hàng với giá trị tự do. Tự do cá nhân, đoàn thể, tôn giáo nếu không được kiểm soát và giới hạn bởi luật pháp sẽ trở thành những thảm họa cho tự do của kẻ khác. Tự do kinh tế không bị cai quản bởi luật kinh doanh sẽ trở nên những đe dọa cho những thành phần thiếu cơ hội - nạn đầu cơ thị trường, độc tôn sản xuất, cạnh tranh bất công. Tự do tôn giáo là hang ổ của lạm dụng, bóc lột của giới tu sĩ. Chúng ta có thể nêu hàng ngàn vấn đề khác. Vì thế, cá nhân ý thức ra rằng tự do không luật pháp còn nguy hiểm hơn. Để rồi, cá nhân giao lại cho chính quyền, với sự đồng thuận của công dân, chọn một chu vi vừa phải để giới hạn tự do của cá nhân, đoàn thể trong cơ chế luật pháp. Đây là ý thức tự chế cần thiết để bảo đảm an ninh cho cá nhân vừa còn tạo nền tảng cho tự do tích cực mà trong đó cơ hội được mở rộng, tiến bộ được thực hiện, quân bình được duy trì.
 
Tiến trình chọn lựa mức độ, chu vi, và biên giới giữa cá nhân và quốc gia, không bao giờ hoàn tất. Sự chọn lựa này dai dẳng và liên tục trên hai phương diện. Thứ nhất, tự do cá nhân đối với nhu cầu tập thể, xã hội; và thứ hai, sự chọn lựa, bởi cả cá nhân lẫn xã hội, giữa những mục tiêu và giá trị mâu thuẫn lẫn nhau. Về cá nhân và cơ hội, tự do hành nghề, chẳng hạn, phải được cai quản nhưng trên phương tiện nào? Muốn hành nghề bác sĩ y khoa phải tốt nghiệp đại học, thực tập. Nhưng nghề y tá hương thôn thì đòi hỏi những gì? Nhu cầu y tế nông thôn phải được cứu xét đối với nhu cầu bảo vệ dân quê khỏi những “lang băm.” Nhưng nếu đòi hỏi tiêu chuẩn thì “mấy ông chích thuốc dạo” hành nghề bất hợp pháp sẽ đầy dẫy, hoặc là không có người để hành nghề trên. Liệu bác sĩ phải bị bắt buộc hành nghề ở những vùng nông thôn, hẻo lánh trong thời gian vừa phải như là điều kiện cho bằng cấp và giấy phép? Tự do ngôn luận không giới hạn đối với tội phỉ báng, mạ lỵ. Tự do lái xe đối với luật giao thông. Tự do xây cất đối với luật nhà cửa, xây dựng, khu phố. Luật pháp phải thể hiện được ước muốn chung đối với nhu cầu và thực tế. Luật pháp hình tượng hóa một mẫu số chung cho cá nhân trong một xã hội dị biệt và phức tạp. Ý niệm của “một cá nhân vừa phải” (a reasonable person) trong tư tưởng luật pháp Anh-Mỹ đại diện cho nỗ lực này. Cá nhân phải hy sinh cái đặc thù của họ để đồng thuận vào cái vừa phải và cần thiết đại diện cho số đông. (Cho một tiêu chuẩn pháp lý, cá nhân bị đồng hóa. Tuy nhiên, luật pháp bảo vệ bản chất độc đáo của cá nhân.) Nếu chính quyền quận Triệu Hải, Quảng Trị muốn cai chế tốc độ trên cầu Ga, sông Thạch Hãn, chẳng hạn, họ phải phác họa một “người lái xe vừa phải” trong những điều kiện của cầu cống, đường sá, kỹ thuật ở đó. Những thanh niên nóng nảy, ẩu tả không thể sử dụng như là một mẫu số để làm luật được.
Thực ra, cá nhân không phải luôn luôn muốn tự do tối đa. Họ muốn được giao phó trách nhiệm, bổn phận, gánh nặng xã hội. Tòng quân trong nhu cầu cấp bách của chiến tranh là một sự tước đoạt tự do, nhưng công dân nhiều lúc hưởng ứng. Đây là sự trưởng thành của cá nhân trong bối cảnh của tổ chức. Cái cần thiết của luật pháp là mọi sự cưỡng chế mà tác dụng là giới hạn tự do đều phải mang đủ biện minh. Biện minh đầu tiên là dân chủ tính của sự cưỡng chế. Biện minh kế tiếp là nhu cầu cần thiết đòi hỏi sự hy sinh tự do cá nhân cho nhu cầu tập thể. Biện minh thứ ba là sự hy sinh này vừa phải, công bằng, và chấp nhận được. Ví dụ, bổn phận quân dịch, như nói ở trên, phải được thực thi qua một bộ luật, thông qua bởi quốc hội dân chủ, đáp ứng nhu cầu quốc phòng, và những đòi hỏi quân dịch đều có thể chấp nhận được ví dụ như mọi người đều phải bị cưỡng bách công bằng, thời hạn tòng quân vừa phải, khi trở lại đời sống dân sự sẽ có thêm cơ hội và phương tiện.
Sự mâu thuẫn giữa tự do và cưỡng chế, giữa quyền hạn và giới hạn không phải chỉ có giữa cá nhân và quốc gia. Mỗi cá nhân và quốc gia còn phải chọn lựa những ưu tiên để cai chế và chọn mức độ giới hạn cho những lãnh vực khác biệt và loại trừ lẫn nhau. Cá nhân và tập thể (quốc gia) phải chọn lựa chế độ chính trị trên kinh nghiệm lịch sử, nhân tâm của thời đại, và tương lai khả thi. Ngân sách quốc phòng phải tranh chấp với số tiền cho an sinh xã hội. Mô thức ngân hàng đối với nhu cầu và thực tế của tài chánh và tiền tệ. Tất cả phải được thể hiện qua luật pháp. Giữa những chọn lựa mà không ai chắc chắn chọn lựa nào hơn cái kia, những chọn lựa trừu tượng, phần lớn đều đi theo cảm tính có đặt căn bản trên phán đoán thực dụng. Luật pháp thực thi những chọn lựa đó và bắt cá nhân thực nghiệm, đôi khi với giá đắt và hy sinh cao. Nhưng thực nghiệm để vượt qua được những lỗi lầm (“trial and error process”) là cần thiết để luật pháp có thể học được kinh nghiệm để cập nhật hóa.
Cho đến những luật lệ địa phương, sự chọn lựa giữa những mục tiêu đối chọi nhau là vấn đề thường trực. Những quyết định pháp luật này phần lớn đều trung lập. Một trường hợp điển hình, quyết định đặt một đèn giao thông ở ngã tư một thành phố là một thực thi luật pháp, cai chế hành vi lái xe và đi bộ qua ngã tư đó. Chính quyền địa phương có thể chọn một công thức thời gian cho đèn giao thông thay đổi tùy theo lưu lượng giao thông và những điều kiện khác. Đèn xanh cho một con đường là đèn đỏ cho đường kia. Bao lâu đèn xanh cho trục lộ này đòi hỏi sự chờ đợi của người sử dụng trục lộ kia. Sự chọn lựa này phải được căn cứ trên kinh nghiệm. Chính quyền địa phương phải có cơ chế để thay đổi, đáp ứng với nhu cầu mới của thực tế giao thông sau khi đèn đã được hoạt động. Nếu không, sự vi phạm luật giao thông sẽ xảy ra, gây tai nạn, dân chúng coi thường luật lệ, bất mãn pháp luật.
Sự chọn lựa giữa những ưu tiên như vừa nói đại diện cho sự giới hạn của tự do. Ở ngã tư trên, nếu không có luật lệ cai quản mọi người đều có thể có tự do để đi qua đó; nhưng liệu có nhiều tự do hơn không? Tôi đã từng thấy ờ Sài Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh) vào những năm 89-90, có những ngã tư, vì không có đèn hay cảnh sát giao thông, xe cộ dính vào nhau, giành giựt để qua ngã tư, cuối cùng là giao thông nghẹt cứng, không ai đi được. Đó là chưa nói đến nguy hiểm vì tai nạn. Ngay khi chính quyền chọn lựa một công thức thời gian cho đèn giao thông ở đó, tự do chọn lựa cũng bị giới hạn vì những nhu cầu đòi hỏi đối nghịch nhau.
Nói như Leon Trosky của Nga thì những ai muốn cuộc đời im lặng hãy đừng sinh vào thế kỷ hai mươi này. (69) Đây là khoảng thời gian của chuyển động, của sự bành trướng đến mức tối đa khả năng xâm phạm vào phạm trù cá nhân bằng bạo lực, luật pháp, kỹ thuật và nhu cầu sinh tồn của cá nhân đó. Mặc dù không đến nỗi như George Orwell diễn tả trong cuốn “1984,” nhưng những người muốn cô độc không còn chỗ đứng nữa. Ngày xưa, cá nhân có thể, như Phạm Thiên Thư, lãng mạn, “lên non tìm động hoa vàng ngủ say,” nhưng bây giờ thì hết. Rừng núi không còn là của thiên nhiên nữa. Kỹ nghệ lâm sản có thể đi vào non sâu để chặt gỗ. Máy bay, hóa chất có thể hủy hoại bất cứ đâu. Dấu chân người đầy dẫy khắp nơi. Tự do cá nhân bây giờ đồng nghĩa với những gì cho phép bởi xã hội vì bản chất và ý thức hiện hữu đã đổi thay. Ý thức phóng túng của con người đã bị điều kiện hóa bởi ý thức công lý. Bản năng tung hoành bị bóp chặt bởi sự gia tăng của nhu cầu cá nhân và sự tùy thuộc của họ vào xã hội. Không còn lãnh thổ nào mà không bị con người chiếm làm sở hữu với những quyền hạn trừu tượng, giới hạn thực tế bao trùm. Người leo núi quốc tế phải xin phép vài ba quốc gia, chờ cả nửa năm, tốn một số tiền khá lớn, là hội viên hội leo núi, trang bị đủ thứ kỹ thuật cần thiết. Cá nhân được leo lên đỉnh núi an toàn, bớt lao khổ hơn nhưng đồng thời họ lại buộc vào lưng hàng ngàn sợi dây giới hạn cá nhân một cách chằng chịt.
 
Tự do, từ đó, là hợp đề giữa giới hạn và quyền hạn, giữa tùy thuộc và chủ động, giữa phóng túng và cơ hội. Tại sao người leo núi, đeo dây thừng lưng chừng cao thẳm giữa rừng núi, lại cảm thấy mình tự do? Tại sao một tài xế lái xe giữa sa mạc lại cảm thấy mình bị tù đày bởi thiên nhiên? Câu trả lời nằm trong ý thức và cảm nhận. Tự do là “a state of mind” (trạng thái tinh thần) của cá nhân ở một thời điểm nào đó. Nó là một sự thỏa mãn cảm tính để cho cá nhân thấy bản ngã chính mình chủ động được ngoại cảnh. Mà ý thức và cảm nhận đều là sản phẩm của xã hội và thời gian, vì vậy chức phận của luật pháp là tạo một tiến trình để điều chỉnh một sự quân bình cần thiết giữa cá nhân và xã hội để cho con người bị điều kiện hóa theo giá trị luật pháp, mô hình tập thể mới. Mục đích là để cho cá nhân không còn bực tức vì cảm thấy mình bị giới hạn. Như trường hợp lái xe trên xa lộ, người tài xế lái trong giới hạn tốc độ mà không cảm thấy bị trói buộc. Họ ngừng lại một cách tự nhiên ở đèn đỏ, giữa đêm khuya vắng, không xe cộ, không cảnh sát, mà vẫn cảm thấy tự nhiên. Sự tôn trọng luật pháp đã trở thành một tự tánh, mà khi ngừng lại ở đèn đỏ, người tài xế hành xử tự do của mình trong sự trưởng thành của ý thức cá nhân đối với xã hội.
 
Giữa Cá Nhân và Xã Hội
 
Sự trưởng thành của xã hội đòi hỏi sự trưởng thành của luật pháp. Luật pháp phải được hệ thống hóa, chi phối rộng lớn các mặt sinh hoạt quốc gia, trở nên tiêu chuẩn hành động của cá nhân, và xác định giá trị tập thể khi khuôn khổ đạo đức và giá trị cổ truyền không còn quan hệ hay hiệu lực. Song song về sự trưởng thành của cơ cấu và hiệu năng, luật pháp phải được cá nhân nội-tâm-hóa ý thức luật pháp như là một phần của tư tưởng, suy nghĩ khi chọn lựa hành động hằng ngày.
Khi công nhận luật pháp như là một phần tử, một yếu tố cần thiết và tự nhiên khi hành xử quyền hạn của mình, cá nhân đó được tự do. Luật pháp không còn bị giới hạn, mà là bổ túc vì, như đã nói, tự do là một sản phẩm của tổ chức, một bản sắc của công lý và trật tự xã hội.
Tự do, ở mức độ có ý thức, là tự do của lý trí. Tự do này đã vượt qua khỏi phạm trù phóng túng của bản năng sinh vật trong mỗi cá nhân khi sống trong xã hội lạc hậu, kém tổ chức. Tự do của lý trí hòa hợp với những dàn xếp của lý trí khác có sẵn trong xã hội. Vì luật pháp là sản phẩm của lý trí, tự do và luật pháp bổ túc cho nhau. Cái này cần phải có cái kia. Tự do hiện diện đòi hỏi hiệu năng của luật pháp. Luật pháp chỉ có thể phát huy để nhận ra rằng hiện hữu của cá nhân là điều kiện của tổ chức với mức độ tương quan rất cao và phức tạp giữa con người đối với tập thể. Luật pháp sẽ bất lực nếu cá nhân không chủ động ý thức tự do.  
Luật pháp là cơ chế để điều chỉnh và trừng phạt những hiện tượng bất thường của xã hội mà thôi. Nếu số đông của xã hội là nạn nhân của luật pháp thì nền tảng luật pháp thiếu biện minh, vô giá trị và sẽ bị sụp đổ.
Luật pháp giới hạn nhưng đồng thời bảo vệ và phát huy tự do. Trường hợp điển hình là sự bảo vệ cá nhân đối với số đông xã hội - cái mà Tây phương gọi là “the tyranny of majority” (độc tài của số đông). Một trong những mục tiêu của luật hiến pháp của các quốc gia dân chủ là bảo vệ thiểu số khỏi sự đàn áp của đa số. Vì nền tảng của chính trị dân chủ là đa số cai trị, cho nên thiểu số sẽ bị ức hiếp. Hiến pháp của quốc gia công nhận, mặc dù ở một thời điểm nào đó, số đông có thể sẵn sàng hy sinh nguyên tắc phổ quát đó để thỏa mãn quan niệm của họ. Chúng ta nhìn thấy vấn đề này trong lịch sử luật hiến pháp Hoa Kỳ. Vào những thập niên 1940-1960, miền Nam nước Mỹ công nhận và hợp thức hóa sự kỳ thị chủng tộc đối với người Mỹ da đen. Luật lệ của họ, lập nên bởi đa số công dân là Mỹ da trắng, bắt buộc xã hội chấp nhận sự bất công đó mặc dầu hiến pháp của Hoa Kỳ từ lâu đã công nhận sự bình đẳng của công dân không phân biệt màu da và chủng tộc. Ở nhà hàng, người Mỹ đen phải ngồi ở một góc. Đi xe buýt, người Mỹ đen phải ngồi ở đằng sau xe. Nếu đi theo nguyên tắc chính trị dân chủ thì nạn kỳ thị chủng tộc bất công này không thể hủy bỏ được vì lúc đó đa số công dân Mỹ muốn như vậy. Nhưng, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ, căn cứ trên nguyên tắc phổ quát của hiến pháp Mỹ đã vô hiệu hóa cơ chế kỳ thị trên bằng những án lệnh căn cứ trên luật hiến pháp. Người Mỹ da đen được giải phóng nhờ luật pháp. Họ đã được tự do hành xử quyền hạn và khả năng cá nhân, vượt ra khỏi sự cai trị của số đông. Nhưng cái quan trọng không phải dừng lại ở chỗ rằng người Mỹ đen được hưởng mức độ tự do cao hơn. Luật Hiến pháp Hoa Kỳ đã thành công trong suốt mấy thập niên qua khi biến những giá trị phổ quát - bình đẳng - thành giá trị nội tại, hiển nhiên cho người da trắng. Ở thời điểm này, nếu người Mỹ da trắng có cơ hội chính trị, sử dụng số đông để thiết lập lại những cơ chế kỳ thị chủng tộc, họ cũng không có đủ đa số để làm được, vì ý thức về giá trị con người và xã hội đã đổi thay, đã được điều kiện hóa bởi luật hiến pháp, mà lúc đầu họ đã phản đối quyết liệt. Người Mỹ trắng không còn cảm thấy rằng luật hiến pháp giới hạn sự tự do “được kỳ thị” nữa. Ngay cả “quyền kỳ thị,” họ cũng cảm thấy không còn, nên tự do đó không cần thiết, coi như không có nữa.
 
Một trong những chức năng quan trọng khác của luật pháp là bảo vệ, phát huy tự do cá nhân với bản chất độc đáo cá nhân của họ, hay cho cá nhân cái quyền hạn sử dụng độc đáo tính để đối chọi với giá trị đương thời. Đây là trường hợp sự bảo vệ của luật pháp đối với tư tưởng, ngôn luận, tôn giáo. Trong mấy thập niên gần đây, từ năm 1965, từ án lệnh Griswold v. Connecticut (381 U.S. 479), Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ, viện dẫn tinh thần hiến pháp, để phát huy cái gọi là “quyền tư riêng” (privacy right) - quyền hạn hành xử đời cá nhân của mình, dù không được chấp nhận bởi đạo đức đương thời của xã hội, mà không bị can thiệp bởi tập thể, nếu sự hành xử đó không có hại cho kẻ khác. Đây là một quyền hạn trừu tượng mới, không được xác định trong văn tự hiến pháp Hoa Kỳ, mà Tối cao Pháp viện Mỹ tạo dựng dựa trên tinh thần của hiến pháp mà thôi. Một chánh án Mỹ Louis Brandeis, đã nói lên cái tinh thần này khi ông cho rằng cá nhân không những muốn được tự do hành động mà còn muốn được xã hội đừng đụng chạm, dòm ngó đến họ - The right to be let alone (Olmstead V. United States, 227 U.S. 438, 1928). Brandeis gọi quyền hạn này “quyền hạn rộng lớn nhất, quý giá nhất của con người văn minh.”
Sở dĩ càng ngày càng quyền tư riêng - quyền được sống với chính mình - càng quý giá đối với con người trong các xã hội Âu Mỹ là vì mức độ chi phối xã hội và tập thể đối với cá nhân càng ngày càng lên cao. Trong xã hội tiên tiến, con người bị dồn dập đưa đẩy, chạy theo guồng máy khổng lồ, làm vị thế cá nhân mất đi cái ý nghĩa của nó. Chúng ta không còn thì giờ, năng lực để suy tư. Nhu cầu con người bị biến dạng và tùy thuộc vào xã hội nhiều hơn. Tuy nhiên trong bối cảnh có vẻ như tiêu cực này, cá nhân cũng được hưởng nhiều tự do hơn. Cá nhân có nhiều tự do tư tưởng hơn ở trong các quốc gia dân chủ tiền tiến. Áp lực đạo đức và giá trị của số đông không còn là một gánh nặng cho con người trí thức tiến bộ như ở các quốc gia chậm tiến và khép kín. Sở dĩ có được tình trạng này là từ nhiều yếu tố. Nhưng yếu tố quan trọng hàng đầu là vì luật pháp bắt mọi người công nhận sự khác biệt của cá nhân, dù khác biệt đó làm phật lòng số đông.
Luật pháp tạo lối thoát cho cá nhân đối với sự cai trị của đạo đức. Trong những xã hội cổ truyền, khép kín, cá nhân bị giá trị cổ tục kềm giữ những ước muốn tự do cá nhân đến mức độ đòi hỏi sự nổi loạn của cá nhân mới thoát khỏi màng lưới đạo đức lỗi thời đó. Một xã hội như thế đòi hỏi sự hy sinh quá lớn cho con người muốn sống theo niềm tin của mình. Một em bé sinh ra trong gia đình có truyền thống tôn giáo nào thì như phải tin và theo tôn giáo đó. Tôn giáo và niềm tin là chuyện riêng tư của tinh thần đã biến thành vấn đề tùy thuộc vào tổ chức và chuyện áp đặt tư tưởng, đoàn thể. Một phụ nữ bất mãn, không thể có hạnh phúc với chồng, hoặc bị chồng khinh bạc, đánh đập lại không có quyền ly dị. Ngay cả chuyện chồng đánh vợ tàn nhẫn, vô lý cũng được chấp nhận rộng rãi, như trường hợp ở Việt Nam. Luật pháp phải bước vào để mở lối tự do cho cá nhân trong những trường hợp trên. Luật pháp xác định quyền tự do tôn giáo như là một giá trị xã hội phổ quát có tầm mức cao hơn trật tự, nề nếp của gia đình. Luật pháp công nhận, tạo điều kiện dễ dàng và công bình để người phụ nữ (hay nam nhân) có quyền chấm dứt hôn nhân để thoát khỏi cái “ngục tù của gia đình.” Luật pháp thiết đặt cơ chế trừng phạt và ngăn cản sự hành hung trong gia đình. Cá nhân là đơn vị luật pháp - tư cách pháp nhân - ngang bằng về giá trị trước xã hội chứ không phải là “tài sản” của ngôi thứ trong gia đình, hay sức mạnh kinh tế của thành phần nào đó trong xã hội. Luật pháp, với lý tưởng và hành xử của một cơ chế, sẽ là khí cụ giáo dục và giáo hóa cá nhân, để đem họ về với tiêu chuẩn và giá trị phổ quát. Luật pháp, với thế đứng thượng tôn trong trật tự xã hội, tái lập lại những thứ đẳng đạo đức, và nếu cần, phủ nhận những dấu vết văn hóa đã lỗi thời, phản tiến bộ và thiếu nhân bản. Cá nhân, có thể bám vào giá trị luật pháp, nhân danh luật pháp, để thử thách truyền thống.
Luật pháp còn là vũ khí cho cá nhân có cơ hội hành xử công lý, tự do sống với niềm tin và lẽ phải của mình. Có một lần đang đi trên đường Nguyễn Du ở Sài Gòn, năm 1989, tôi thấy một đứa trẻ khoảng hơn mười tuổi, bị trói chặt vào gốc cây và bị đánh đập tàn nhẫn bởi một nữ nhân đứng tuổi. Cả khu phố đông người qua lại, các người bán hàng, khách mua gần đó nhìn thấy và dửng dưng trước sự la thét cuồng nộ của thằng bé. Nếu một cá nhân trong trường hợp đó muốn can thiệp, họ phải nhân danh giá trị nào?
Nếu giá trị đạo đức, nhân bản được nhân danh thì người phụ nữ kia có thể nhân danh quyền người mẹ đang “dạy dỗ” con của bà. Nếu giá trị trật tự là biện minh thì tiếng xe cộ, la hét của các con buôn còn náo loạn hơn. Trong trường hợp đó, người can thiệp phải sử dụng luật pháp để cho họ một tư cách, một biện minh, một khí cụ hành xử để chấm dứt hình ảnh bất nhân đó. Người can thiệp, với tư cách một công dân, đang trông thấy trước mắt mình một sự vi phạm hình luật, nhân danh hình luật, khuyến cáo, chận đứng, và có thể bắt giữ (như quyền “bắt giữ công dân” - “citizen arrest” - của luật pháp Tây phương) người phụ nữ đó, nộp cho cảnh sát. Khi hành xử luật pháp như trên, người can thiệp có cơ hội sử dụng tự do đạo đức của mình. Luật pháp, từ đó, không còn là một giới hạn, mà là một nấc thang thăng tiến cho căn bản lương tâm và tư cách cá nhân[link=#page58]2[/link].
 
Luật pháp có thể thay thế giá trị đạo đức không? Đây là một tiền đề sẽ được trình bày trong chương tới. Tuy nhiên, chúng ta phải xác nhận là luật pháp có thể (và bắt buộc) giải quyết những vấn nạn đạo đức - có hiệu năng và hiệu quả nhất. Khi đạo đức, ví dụ theo truyền thống Tây phương, nói: “Tội lỗi là sự xa rời những bổn phận mà Thượng đế đã giao cho nhân loại,” (Sin: To depart voluntarily from the path of duty prescribed by God to man - Websters New International Dictionary) thì luật pháp, trong tinh thần đó, xác quyết: “Tội lỗi là sự thất bại trong cái nỗ lực toàn hảo hóa phẩm chất của con người.” (Hans Kelsen, The Morality of Law, (Đạo Đức Của Pháp Luật)).
Luật pháp, trong các xã hội Tây phương hiện đại, thay thế đạo đức trong vai trò khuyến khích ước vọng tiến bộ. Con người có thể sống nhân bản, đi về gần với chân, thiện, mỹ, phần nào đó, nhờ sống trên căn bản luật pháp. Chúng tôi không muốn, bằng những lý luận này, bị rơi vào ngõ bí của thần học cho rằng luật pháp là sự thể hiện ý chí của Thượng đế. Ở đây, chúng tôi muốn nói rằng luật pháp là sự trưởng thành của ý thức đạo đức thể hiện qua sự đồng thuận chung.
Luật pháp giúp đỡ con người hiện thực hóa ước vọng được trưởng thành trên tiêu chuẩn xã hội. Khi tư duy và nhân cách trưởng thành, con người được tự do hơn.
 
_________________
1 Nhưng sau 1975, ngư dân Việt Nam bị đánh thuế rất nặng, và trong nhiều trường hợp, bất công. Nạn tham nhũng, bóc lột, tống tiền lan tràn. Năm 1989-1990, tôi đã đến vùng biển Đà Nẵng, Vũng Tàu, Long Hải... đã chứng kiến cảnh “chủ tàu” xây cất nhà cửa sang trọng cho họ; trong khi dân chài lưới sống trong cảnh khốn cùng.
 
2 Độc giả không đồng ý ở đây có thể lý luận rằng: “Không cần nhân danh luật pháp, một vài bà bán hàng có thể chạy đến, vì thấy “chướng mắt”, ôm lấy người phụ nữ kia la lên “Thôi đi bà ơi! Bà tha cho nó đi!” rồi kéo bà ta đi xa, cởi trói cho đứa trẻ chạy đi. Nhưng đó chỉ là vấn đề đạo đức. Sự thiếu can thiệp ở đây nói lên sự thiếu vắng lương tâm của đám đông - một dấu hiệu của sự xuống cấp đạo đức xã hội Việt Nam gần đây.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.09.2016 08:32:39 bởi Sun Ming>
CHƯƠNG SÁU
 
LUẬT PHÁP VÀ ĐẠO ĐỨC
 
Trị dân cần phải theo số nhiều mà bỏ số ít, vì vậy không nên chăm chú đến đức hạnh mà phải chăm chú đến pháp luật. Hàn Phi Tử (300 (?) trước Tây lịch)
The moral imperative is the demand to become actually what one is essentially and therefore potentially. (Mệnh lệnh đạo đức là sự đòi hỏi con người hiện thực hóa tinh hoa, và do đó tiềm năng của mình.) Paul Tillich (1963)
 
Sau khi đánh đuổi được quân Minh, Trung Hoa, trước khi lên ngôi, Lê Lợi, tức Lê Thái Tổ, dưới danh hiệu Bình Định Vương, tuyên bố,
 
Từ xưa đến nay, trị nước phải có pháp luật, người mà không có phép để trị thì loạn. Cho nên ta bắt chước đời xưa đặt ra pháp luật để dạy các quan dưới đến nhơn dân cho biết thế nào là thiện ác, điều thiện thì làm, điều ác thì tránh, chớ có phạm pháp.(70)
 
Với nền tảng ý thức đó, Lê Lợi chuẩn bị một nền tảng “vương quyền pháp trị” cho triều đại của ông, kết quả là những điều luật được ban hành, trong bộ Quốc Triều Hình Luật. Câu nói trên của Lê Lợi nhấn mạnh đến hai mục đích của luật pháp: trật tự và đạo đức. Câu nói “điều thiện thì làm, điều ác thì tránh” biểu tượng một nội dung mệnh lệnh [normative order] cho giá trị đạo đức đương thời. Đạo đức xã hội được thể hiện bằng câu nói trên nhằm để cho cá nhân ý thức (1) giá trị tiêu chuẩn và (2) mang bổn phận thi hành.
Thời đại của Lê Lợi, thế kỷ thứ XV, là thời đại còn phôi thai đối với khái niệm pháp trị trong xã hội Việt Nam. Ở đó, trách nhiệm của Lê Lợi thật là khó khăn trong sứ mạng khai mở ý thức. Đây là đoạn đầu của một hành trình lớn để xây dựng quốc gia, khi mà đời sống nội tâm của dân tộc Việt còn giản dị, mang nặng ảnh hưởng thần quyền, trật tự xã hội còn ít phức tạp và cơ cấu tổ chức nhà nước chưa trưởng thành. Ở thời điểm đó, câu nói của Lê Lợi được công nhận như một lời khuyên răn của một người cha già, đóng vai trò “thiên tử,” cả về chính trị và đạo đức.
Đó là chuyện của 500 năm trước.
Ngày nay, ở các quốc gia dân chủ pháp trị tiền tiến, luật pháp hợp thức hóa giá trị đạo đức. Khi luật pháp đã ở vị trí thượng tôn, thay thế chức phận đạo đức, thì cá nhân lại phải đương đầu với sự khủng hoảng của giá trị nội tâm khi họ không còn phải đối diện đạo đức như là cơ chế cai quản hành vi của họ nữa. Bản chất của sự khủng hoảng này là sự đi tìm giá trị (value) mới trong sự trung hòa đạo đức (amorality). Tình trạng trung hòa đạo đức trong một xã hội tiền tiến dân chủ pháp trị khác với sự băng hoại của đạo đức trong những xã hội chậm tiến đang trải qua những khủng hoảng chính trị, kinh tế và xã hội. Bản chất khủng hoảng giá trị của con người trong quốc gia tiền tiến có tính cách chức năng đạo đức (functional crisis) hơn là sự ngự trị của tiêu cực, xấu xa. Giáo sư Allan Bloom, trong cuốn The Closing of the American Mind (Sự Khép Kín của Đầu Óc Người Mỹ), diễn tả sự khủng hoảng giá trị này như sau:

 
 
... con người trong cái mệt mỏi hiện tại có thể thoải mái an lành hơn nếu họ tin vào Thượng đế, Trời đất hay giá trị cung cấp bởi lịch sử. Niềm tin trên còn chỗ đứng khi mà vị thế sáng tạo nhân loại được thành kính ngưỡng mộ. Nhưng trong trạng huống kiệt sức của giá trị truyền thống, cá nhân phải được xô về vực thẳm, khủng khiếp trước thảm họa hơn nữa về tương lai của chính mình để cho họ nhận ra được trách nhiệm trước số phận. Họ phải tìm nội tâm để thiết kế điều kiện sáng tạo cho nền tảng giá trị cá nhân.(71)
 
Con người trong một quốc gia dân chủ pháp trị muốn tìm được đối tượng của giá trị, nhưng lại mang khủng hoảng tư duy khi mà điều kiện mệnh lệnh của đạo đức đã trở nên không cần thiết. Đây là giai đoạn trưởng thành của con người vì họ đã bước đến cung cách chủ động giá trị. Họ là con người không tùy thuộc quá khứ, cổ tục.
Đối với tình cảnh “miếng cơm, manh áo,” “ăn sáng lo tối” của dân Việt Nam hiện nay, cơ hội đi tìm giá trị là xa xỉ phẩm, là niềm hoài bão. Cá nhân ở Tây Âu có cơ hội đi tìm giá trị cá nhân cho riêng mình nhờ vào một cơ chế xã hội đã trung hòa mọi áp lực tinh thần, cung cấp được miếng cơm, manh áo tối thiểu và cần thiết để cho họ có thời giờ hơn, có cơ hội và phương tiện, có khoảng trống riêng để sống với chính mình.
Khi so sánh thời đại Lê Lợi đối với khoảng thời gian hiện tại ở Hoa Kỳ như Bloom nói ở trên là hai thái cực của một tiến trình chuyển động lâu dài của văn minh nhân loại. Từ một xã hội mà luật pháp chính là mệnh lệnh nhà vua để củng cố giá trị vương quyền và trật tự xã hội cho đến tình trạng trung hòa của giá trị đạo đức là một chuỗi dài mâu thuẫn giữa giá trị bất thành văn và cơ chế giá trị cưỡng chế quốc gia. Hai thời đại này chia sẻ mẫu số chung của trật tự xã hội. Thời nhà Lê, dân chúng chấp nhận giá trị vương quyền và đạo đức cổ truyền và thân phận làm dân. Ở đó, con người yên lặng đối với thứ tự được xếp đặt trong khoảng trống ý thức quyền hạn và dân chủ. Thời đại của xã hội Mỹ hiện nay thì con người thỏa mãn với trật tự xã hội dân chủ, pháp trị trong ý thức chủ động của cá nhân đối với xã hội, quốc gia và Thượng đế.
Tuy nhiên, con người của thời đại nhà Lê và cá nhân ở Hoa Kỳ hiện nay cùng chia chung những trì trệ của năng lực chuyển động. Thời nhà Lê, con người không ý thức đến vai trò của mình; thời bây giờ, cá nhân có tự do chọn lựa chung nhưng thiếu động cơ để tìm chọn lựa. Cả hai con người chia sẻ cái bất lực của vai trò cá nhân: Một đằng kia cá nhân không có ý thức và vị thế quyền hạn; đằng này thì cá nhân thấy mình không làm gì được đáng kể vì xã hội đã quá tổ chức, bão hòa, và không còn khoảng trống cho cá nhân tung hoành.
Con người nào có hạnh phúc hơn? Có lẽ chúng ta không biết được. Nhưng chiều hướng tiến hóa về tình trạng con người và nhân sinh quan kiểu Mỹ là điều không thể tránh khỏi. Có thể đây là một khẳng định vô căn cứ; nhưng nói như Hans Blumenberg trong cuốn The Legitimacy of the Modern Age (Biện minh của thời cận đại) thì hiện tượng xã hội Tây Âu hiện nay hàm chứa một “internal logic” tiềm ẩn trong hành trình chuyển động của lịch sử. Nói một cách khác thì chúng ta không thể tránh cái màu sắc và bản chất hiện tại, mà xã hội và con người Tây Âu một phần thể hiện được, vì tất cả là kết quả của ý thức tiến hóa tự nhiên của nhân loại.(72) Cái tiền đề ở đây là chúng ta có thể rút ngắn những kinh nghiệm khủng hoảng để vươn qua khỏi hiện tại bằng cách bước qua những hy sinh mà Tây Âu đã chịu đựng. Để từ đây, chúng ta đi tìm một nền tảng đạo đức luật pháp cho Việt Nam.
Đạo đức là cơ chế tinh thần cai quản nội tâm. Luật pháp là cơ chế tổ chức cai quản hành vi. Trước hết chúng ta hãy nhìn đến biên độ chức năng và khả thể của pháp luật đối với đời sống tinh thần và tác động hành vi của con người. Luật pháp không thể trừng phạt ý tưởng dù ý tưởng đó là mầm mống đe dọa trật tự xã hội. Pháp luật dân chủ không thể đi vào bối cảnh ý thức cá nhân vì như thế sẽ đi vào phạm trù độc tài và kiểm soát tư tưởng xảy ra trong các quốc gia lạc hậu chính trị. Con người sống và ý thức trên mặt chuyển động mâu thuẫn giữa hành vi và tư tưởng, giữa thực tế và ảo tưởng, giữa ảo mơ (fantasy) và ước vọng (wish). Luật pháp không thể trừng phạt ảo mơ giết người để thỏa mãn hận thù cá nhân cho đến khi cá nhân đó thực sự thực hành ảo mơ đó. Đây là giới hạn thực tế của một chu vi, chọn lựa trên căn bản khả thi. Vấn đề chứng cớ, vấn đề hiệu quả của luật pháp bắt buộc sự cưỡng chế và trừng phạt khi cần thiết mà thôi. Trong khi đó đạo đức lên án ý thức mang nội dung độc ác hay xúc phạm vào những ý niệm về lẽ phải. Luật pháp chỉ có thể hành xử chức năng của mình khi tư tưởng hay ước vọng đã được thực thi mà thôi. Năng lực đạo đức cai quản mầm mống; trong khi luật pháp quản chế những tác động có hại cho xã hội.
Trong trường hợp giết người, đạo đức xã hội lên án sát nhân và dừng lại ở đó. Do đó, đạo đức bất lực nếu cá nhân giết người và nhe răng cười trước sự lên án của xã hội. Đạo đức tôn giáo lúc đó bước vào và nguyền rủa rằng hắn sẽ bị đày vào địa ngục hay kiếp sau sẽ bị trả báo. Tôn giáo có thể có tác động hơn vì kẻ sát nhân có thể sợ trước cái không chừng và không biết được của tương lai với những vấn đề huyền nhiệm vượt ra khỏi kiến thức thường nhật. Nhưng nếu kẻ sát nhân mang chủ nghĩa vô thần - tương đối luận về đạo đức, thực nghiệm luận về thần quyền và siêu hình - thì tôn giáo đành bó tay.
Đạo đức (xã hội và tôn giáo) tạo nền tảng để cai quản phạm trù thường nhật và đều đặn, tạo mẫu số chung để nhận diện ra bất thường tính để xác định bối cảnh chi phối của luật pháp. Như trường hợp sát nhân trên, luật hình sự khi trừng trị kẻ sát nhân sẽ thể hiện nền tảng đạo đức, thế tục hóa giá trị siêu hình, hợp thức hóa giá trị và mệnh lệnh đạo đức xã hội nhằm vào kẻ vi phạm. Ở đây, kẻ sát nhân sẽ bị trừng phạt công khai, rõ ràng, ngay tức khắc, và xứng đáng theo mức độ tội ác. Luật pháp, nếu hành xử nghiêm minh, công bằng, hiệu năng sẽ ổn định xã hội, tạo điều kiện an sinh, nêu gương cho người khác, và ngay cả cứu rỗi cá nhân đó ngay ở trong “kiếp này.” Biết bao nhiêu người vi phạm tội ác “mala-in-se” (vi phạm đạo đức hiển nhiên) - khi bị xử án sẽ kêu lên, “Vâng, tôi là kẻ có tội, hãy trừng phạt tôi.” Luật pháp cho kẻ đó được thấy cái “quả báo” của hành vi của mình, họ chấp nhận trừng phạt mà không cảm thấy oan ức mà còn cho rằng “mình đã làm thì phải chịu.” Ngoài ra, luật pháp cũng chấm dứt cái chuỗi dài tác động hận thù mà chúng ta thấy ở các xã hội vô pháp mà trong đó, con trả thù cho cha, trò luyện võ, bỏ cả cuộc đời đi tìm kẻ hại sư phụ để báo thù. Luật pháp công khai, phơi bày, và chấm dứt ân oán liên miên mà nạn nhân không thể giới hạn được.
Cũng có rất nhiều trí thức Việt Nam, nhất là giới ở hải ngoại hay đô thị, mang hoài tưởng rằng thôn xóm Việt Nam xưa nay, chỉ cần đạo đức, tục lệ mà vẫn yên lành, an ninh, cho nên không cần luật pháp. Lý luận này bắt nguồn từ sự thiếu kinh nghiệm, hoặc “tính dân tộc” cực đoan. Làng xóm Việt Nam có thể ổn định nếu xã hội Việt Nam cứ ở trong tình trạng đứng yên với kinh tế nông nghiệp, vương quyền quân chủ, không có chiến tranh, không bị văn hóa ngoại lai xâm nhập. Nhưng những điều kiện trên không thể có được. Những năm trước 1965, trước khi chiến tranh Nam - Bắc ảnh hưởng nhiều đến thôn quê Việt Nam, dân quê có thể đem trái cây và thịt gia súc dâng cúng ngoài đình làng, thắp hương, bỏ đó về nhà, hôm sau lấy về. Nhưng về sau này, nạn đánh cắp đồ cúng xảy ra quá trầm trọng, dân làng không còn để qua đêm nữa. Đây chỉ là một trường hợp nhỏ mà thôi. Nạn cắp gà, heo, nạn hiếp dâm và cả giết người, lan tràn trước sự bất lực của thôn xóm vì sự thiếu vắng luật pháp khi mà đạo đức và truyền thống cổ tục không còn năng lực để cai quản con người trước dao động lật ngược tất cả mọi giá trị mà thôn xóm xưa nay đặt nền tảng.
Đạo đức chỉ có thể trừng phạt nếu kẻ vi phạm có tòa án lương tâm cho chính mình. Điều này chỉ có một giá trị giới hạn vì đạo đức thay đổi theo thời gian, địa lý, khác biệt tùy hoàn cảnh và từ cá nhân đến cá nhân. Đạo đức tạo nền tảng bổ sung nhưng không thể thay thế luật pháp trong xã hội tiền tiến được. Đạo đức chỉ có hiệu lực với những vi phạm có tính cách “mala-in-se” - hành vi vô đạo đức mà xưa nay ai cũng công nhận, ví dụ, ăn cướp - nhưng không thể đóng vai trò nào cho những vi phạm “mala-prohibita” - vi phạm luật không mang nội dung đạo đức, ví dụ, luật giao thông. Như đã nói trong những trang sách trước, luật pháp không những chỉ tạo nền tảng ổn định mà còn cung cấp điều kiện để tiến bộ. Đạo đức không nói gì đến lưu thông hàng hải, ô nhiễm môi sinh, quy luật cổ phần cho công ty, thuế lợi tức, thủ tục hình sự cả. Đạo đức có thể tạo nội dung tin tưởng lẫn nhau để ký hợp đồng nhưng không thể giải quyết nếu có sự tranh chấp điều khoản của văn kiện. Đạo đức có thể trả lời những vấn đề rõ ràng; nhưng không thể có sự nhận định từng phần và có tính điều kiện hay khi cả hai bên tranh chấp đều chắc chắn về vị thế của mình mà chỉ cho phía bên kia là sai. Đạo đức là vấn đề của cá nhân, nhưng lại không thể tạo tiêu chuẩn mong mỏi để cho cá nhân đánh giá được hậu quả và chọn lựa hành vi của mình.
Tuy nhiên, mặc dù lý luận như ở trên, chúng tôi vẫn xác nhận là luật pháp không thể hoàn toàn thay thế đạo đức được vì hai phạm trù tác động và chi phối khác nhau. Luật pháp cần nền tảng đạo đức cũng như đạo đức trông cậy vào luật pháp. Đạo đức, như Paul Tillich quan niệm, là sự kêu gọi phát huy khả năng bản thân của cá nhân trong ý thức trách nhiệm đối với xã hội, phát hiện tiềm năng và hiện thực nó đến mức tối đa để mưu cầu hạnh phúc và an lạc cho tâm hồn.(73) Quan niệm này khác với đạo đức có tính cách thần học trong truyền thống “tìm về nước Chúa” trong Cơ đốc giáo hay “giác ngộ, tìm ra Phật tánh” trong Phật giáo. Đạo đức, theo định nghĩa xã hội học, là một nền tảng giá trị có lợi nhiều cho xã hội và phát huy được hướng đi về chân, thiện, mỹ cho con người. Tiêu chuẩn của đạo đức đặt chân đứng trong đời sống nội tâm và không mang sức mạnh trừng phạt bên ngoài, khách quan.
 
Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là đạo đức chỉ có đương đầu với nội tâm, còn luật pháp thì không. Thực tế thì căn bản lý luận pháp lý và tiêu chuẩn định tội của Tây phương đều chứa đựng nhiều yếu tố nội tâm và đạo đức.
Trước hết, luật pháp chỉ quy trách cá nhân nếu hành vi của họ có chủ ý (intent). Trong hình luật, ý niệm này mang nguồn gốc lâu đời với từ ngữ Latin “mens rea” (đầu óc tội phạm). Cá nhân không chịu trách nhiệm cho hành vi của mình, nếu trong hoàn cảnh thông thường, họ không có khả năng chủ động, ví dụ như trường hợp bị cưỡng bức hay điên loạn. Như vậy, chủ ý vô đạo đức phải hiện diện cùng với hành vi phạm pháp là hai yếu tố cần thiết để trừng phạt trong luật pháp. Mức độ trừng phạt cũng tùy theo hoàn cảnh phạm pháp. Giết người có tính toán, có chủ mưu sẽ bị án nặng hơn giết người vì nóng nảy, ghen tuông làm mất trí khôn chủ động. Trong các vấn đề dân luật, ví dụ như luật “Torts” của Hoa Kỳ, chủ ý ác tâm sẽ bị phạt dưới hình thức bồi thường để trừng phạt (punitive damage); hay trong luật bôi nhọ phỉ báng, “ác ý” (malice) là yếu tố cần thiết để phải chịu trách nhiệm. Ví dụ như ở Đức quốc, điều khoản 226 của Dân luật Đức cấm cá nhân hành xử quyền hạn hợp pháp của mình nếu sự hành xử đó chỉ có mục tiêu duy nhất là để hại kẻ khác. Nếu một thương gia mở lên cơ sở kinh doanh không để buôn bán mà chỉ chủ ý phá hoại cơ hội và phương tiện làm ăn của kẻ khác vì thù nghịch cá nhân, thì thương gia này phải chịu trừng phạt dân luật. (Ví dụ, Boggs V. Duncan Shell Furniture Co., N.w. 482 (Iowa, 1913); hay, Dunshee V. Standard Oil Co., 132 N.W. 371 (Iowa, 1911)).
Ngược lại, đạo đức cũng lên án những người mang “tâm Phật” mà không chịu “dang tay cứu độ” trong lúc cần thiết để giúp đỡ kẻ khác một cách dễ dàng. Nói theo William E. Hocking thì, “động cơ đạo đức là vô nghĩa nếu nó không chuyển động được tay chân của cá nhân và cơ cấu xã hội.”(74) Đạo đức không thể tròn đầy cho đến khi nào nó là động cơ của hành động để làm lợi ích cho tha nhân và xã hội. Những nhà tu hành ngồi cầu nguyện trong cơ sở tôn giáo của mình, tránh việc làm, việc thiện, sợ dấn thân, là những người đạo đức tật nguyền, hoặc họ là những kẻ làm biếng, trốn chạy trách nhiệm. (Đối với tôi, hơi quá đáng, thì những vị “Bồ tát” hiện nay ở Việt Nam là những người chịu làm ăn, sản xuất, buôn bán, tạo cơ hội và công ăn việc làm, mở lớn chiếc bánh kinh tế, giảm bớt khổ đau vật chất cho đồng bào).
 
Tuy nhiên, luật pháp và đạo đức tranh chấp nhau trên nhiều phương diện. Nhiều hành vi cá nhân bị lên án bởi đạo đức, nhưng luật pháp thì yên lặng, chẳng hạn, như phản bội tình cảm, hoặc luật pháp cho phép, như sự phá thai ở Hoa Kỳ. Đạo đức đôi khi chỉ là vấn đề của không gian và giá trị nhất thời. Trường hợp làm gián điệp thì được xem là hành vi ái quốc ở một quốc gia lại là phản quốc ở quốc gia khác. Kẻ khủng bố của chiến tuyến này là chiến sĩ tự do của phe kia. Lịch sử chiến tranh không hơn không kém chỉ là những tranh chấp để áp đặt đạo đức của mình lên kẻ khác. Đạo đức là đạo đức của ai, ở đâu mà thôi. Trong những quốc gia (state) không mang đủ yếu tố đồng nhất về dân tộc (nation), vấn đề tranh chấp và mâu thuẫn giữa đạo đức và luật pháp lại là vấn đề trầm trọng. Ở Ấn Độ, người Ấn Độ giáo và tín đồ Hồi giáo muốn áp đặt giá trị, ví dụ về vấn đề thịt heo, thịt bò, lên phía khác, là một vấn nạn khó xử khi tình cảm tôn giáo lạc hậu vẫn ngự trị cái bản chất văn hóa chính trị ở đó. Đạo đức nuôi dưỡng đặc thù tính; trong khi luật pháp phát huy phổ quát tính. Đạo đức Do Thái giáo lên án việc ăn thịt heo không liên quan gì đến giá trị phổ quát vốn xem việc tiêu thụ thịt heo chỉ là vấn đề dinh dưỡng và kinh tế. Tiến trình mâu thuẫn này sẽ bị loại bỏ khi trình độ dân trí được nâng cao để đời sống lý trí và ý thức vượt qua cái ao tù tình cảm của truyền thống, tôn giáo, phe nhóm, dân tộc.
Hiệu lệnh của đạo đức chỉ có tìm thấy trong đời sống tập thể mà trong đó, hiệu lệnh này cần thiết để duy trì trật tự ở thời buổi phôi thai nhằm ngăn chặn hung hăng tính, giảm thiểu bản năng sinh vật trong con người, phát huy nhân bản tính, tạo điều kiện sống chung hòa bình. Đạo đức phát huy cá nhân vượt ra khỏi bản tính ích kỷ, chỉ biết sống cho mình, vì nếu con người sống độc lập, đạo đức trở nên không cần thiết vì đạo đức, như nói ở trên, là giá trị tương quan trong đời sống tập thể mà thôi. Nói như B.F. Skinnner thì “một cá nhân độc lập, cô độc (autonomous man) là một ngoại lệ hạnh phúc” vì hắn không bị trói buộc và không bị điều kiện hóa bởi mệnh lệnh đạo đức tập thể.(75) Mọi cứu cánh của đạo đức đều không những chỉ khuyến cáo vô luân, phát huy từ tâm, ý tốt mà còn tác động, khuyến khích hành động nữa. Vì vậy, đạo đức tạo nên vấn đề “thọc gậy bánh xe” khi mâu thuẫn giá trị giữa phạm trù khác biệt nhau dang tay vào lãnh thổ của kẻ khác khi mà vấn đề chỉ có thể, và nên để, cho luật phát giải quyết.
 
Đạo đức bổ túc cho luật pháp để xây dựng phẩm chất xã hội trên hai mức độ. Thứ nhất là những mệnh lệnh luân lý cần thiết, không thể thiếu được cho một xã hội có trật tự. Đòi hỏi tránh bạo động, gian dâm, cắp của, giết người là những mệnh lệnh đạo đức và cưỡng bách luật pháp. Thứ hai là những đòi hỏi ích lợi như lòng tín cẩn, rộng lượng, hòa giải, trung thành để bổ túc và xây đắp cho sự vững mạnh của trật tự và phẩm chất đời sống. Luật pháp cần đạo đức để bảo cá nhân “đừng làm bậy” cũng như cần đạo đức để khuyên cá nhân “nên làm như thế.” Mức độ bạo động, phạm pháp, gian lận, bội tín sẽ lên một mức không thể chấp nhận được nếu luật pháp không có nền tảng của những mệnh lệnh, đòi hỏi và kêu gọi của đạo đức. Tiếng kêu của lương tâm giải quyết những khoảng trống công lý, trật tự và pháp luật không chi phối. Một món nợ không bằng chứng, mất thời hiệu để tranh tụng có thể được hoàn trả nếu người mắc nợ cảm thấy phải cần trả vì đạo đức, vì công bằng. Nếu món nợ này không được trả, người chủ nợ dù bất lực trước luật pháp vẫn là một nạn nhân có thể dùng những phương tiện tiêu cực khác để “đòi lại” cái bất công đạo đức này. Đạo đức có thể tạo áp lực, tạo dựng giá trị xã hội song song với đời sống luật lệ, vì muốn vươn lên, cá nhân không những chỉ tuân luật lệ, mà còn phải bị chi phối bởi đạo đức đương thời. Đạo đức tạo luống đất màu mỡ cho đồng ruộng pháp lý. Luật pháp là bờ giữ ruộng, nhưng đạo đức là nước để nuôi mạ non. Luật pháp là điều kiện ắt có; đạo đức là điều kiện đủ, để xây dựng và ổn định quốc gia xã hội.
 
ĐẠO ĐỨC LÀ NỀN TẢNG BIỆN MINH CHO LUẬT PHÁP
 
Luật pháp, đặc biệt là hình luật, phải được kiến tạo vì nhiều lý do. Đạo đức cung cấp lý do hiện hữu, giải thích cứu cánh của tính cưỡng chế cho luật pháp. Tạo sao cấm sát nhân? Câu trả lời có thể ngắn gọn, vì vô luân lý, vô đạo đức khi mình đóng vai “Thượng đế,” chủ động sự chấm dứt đời sống của một người khác, ngược với ý muốn của họ. Dĩ nhiên còn nhiều lý do; nhưng đạo đức là biện minh rõ ràng và thường được chấp nhận. Ý niệm công bình và công lý đặt nền tảng đạo đức cho sự trừng phạt luật pháp. Chúng ta có thể hỏi ở đây rằng, có phải đạo đức đòi hỏi ta tha thứ? Có phải đức Phật dạy ta phải “Lấy ân trả oán”? Chúa Jesus “Đưa má phải nếu kẻ khác đánh má trái”? Trả thù, trả đũa, "một mắt đền một mắt," hay "nợ máu trả bằng máu," là công lý có nội dung đạo đức? Đạo đức nào? Tại sao phải trừng phạt?
 
Đạo đức, như đã phân tích trước đây, chỉ là những mức độ giá trị để cai quản cá nhân, đặc biệt là về đời sống nội tâm, đặt khuôn phép cho động cơ cá nhân. Đạo đức có tính chất khẳng định, “Con đừng có giết người” nhưng dừng lại ở đó. Luật pháp, dựa trên khẳng định này, kiến tạo cơ chế để giảm thiểu vi phạm đạo đức đó. Hình luật, thí dụ, khi đối với tội sát nhân, sự trừng phạt nhằm nhiều mục đích:
Thứ nhất, đe dọa (deterrence) những kẻ có ý tưởng phạm pháp.
Thứ hai, để ngăn chặn sự tái phạm - bỏ tù hay xử tử phạm nhân (incapacitation).
Thứ ba, để tu sửa, cải hóa phạm nhân;
Thứ tư, để trừng phạt; Và quan trọng hơn,
Thứ năm, để xác định giá trị đạo đức xã hội.
Đối với tội giết người, chúng ta thí dụ tiếp tục, xã hội muốn xác quyết rằng hành động đó không thể tha thứ vì, có thể nạn nhân (thân nhân) xoá bỏ hận thù, lấy ân trả oán, quên đi án mạng; nhưng xã hội thì không thể bỏ qua. Luật pháp là lương tâm tập thể mang nội dung nhất quyết và kỷ luật. Tội phạm phải được giải quyết trên tiêu chuẩn thực tế, thực nghiệm để thỏa mãn nhu cầu khách quan, vốn khác với đạo đức nội tâm của cá nhân mà tập thể phải chọn lựa. Đây là biện minh đạo đức kiểu Hy Lạp, trong đó “lẽ phải đòi hỏi một cá nhân phải chết còn hơn là cả một tập thể bị hủy hoại.” Biện minh này đối chọi mãnh liệt với tiêu chuẩn đạo đức pháp lý của Imamuel Kant, phác họa trong luận đề The Metaphysical Elements of Justice (Những Yếu Tố Siêu Hình của Công Lý) như sau:
 
Sự trừng phạt pháp lý không thể được dùng như là một khí cụ phục vụ một mục tiêu khác cho xã hội hay cho chính kẻ phạm nhân nhận lãnh trừng phạt đó; nhưng vì lý do duy nhất, trong tất cả trường hợp, là hắn đã phạm tội; vì con người không thể dùng như là một phương tiện cho bất cứ mục đích nào... Tội nhân phải được xác nhận, đầu tiên, là hắn đáng để bị trừng phạt... Luật pháp khi trừng phạt thể hiện mệnh lệnh tối cần... Nếu hắn sát nhân, hắn phải chết. Thế nên, không có trừng phạt, hay biện minh nào khác.(76)
 
Đạo đức pháp lý của Kant có căn bản trên ý niệm “a priori” (“tiên thiên”: phạm trù ý thức không dựa trên, và có trước, kinh nghiệm) về tội ác và sự độc đáo của cá thể (autonomy of human). Kẻ phạm tội phải bị trừng phạt, theo Kant, cho dù cả thế gian đã chết hết, hay đã tha. Quan niệm này tương tự như thuyết “quả báo luân hồi” của Phật giáo. Kẻ giết người bị nướng ở cửa Diêm vương không phải vì nhân loại, hay vì tập thể, hay vì chính hắn. Lửa đốt cháy hắn vì, như luật nhân quả, hắn phạm tội và phải bị trừng phạt. Thế thôi.
Trong khi đó, biện minh trừng phạt của nhà luật học H. Morris, viết trong luật đề On Guilt and Innocence (Luận Về Tội Và Vô Tội) thì trừng phạt pháp lý là một cái giá phải trả, một gánh nặng phải được gánh vác để con người biết đến giá trị tự chế khi đối chọi với khả thể tác động. Morris nhấn mạnh,
 
Phạm nhân, khi thất bại về khả năng tự chế, cho dù hắn có muốn vậy, hắn đã phế bỏ gánh nặng tự nguyện trên vai, và do dó, hưởng được lợi thế đối với tha nhân, những người hành xử tự chế. Sự trừng phạt pháp lý, do đó, là một cơ chế đồng hưởng lợi và trách nhiệm với điều kiện là nếu cá nhân vi pháp phải gánh nặng trách nhiệm trên vai đó.(77)
 
Đối với Morris thì trừng phạt, theo lý luận trên, là vừa phải (reasonable) và công bình (just). Khi bị trừng phạt, tội nhân trả lại xã hội món nợ của hắn, thiết lập lại cân bằng của mối tương quan xã hội. Tha thứ, hay ân xá, có thể tái lập cán cân nhưng đây là trường hợp hiếm có. Vì nếu ân xá, tha thứ trở thành thường nhật, cá nhân sẽ coi thường gánh nặng trách nhiệm để tự chế, mà nếu không có, xã hội sẽ xáo trộn.
 
Trong khi đó, J.F. Stephen của Anh quốc, viết trong cuốn A History of The Criminal Law of England (Lịch Sử Hình Luật Anh quốc), thì án lệnh trừng phạt pháp lý là phương tiện để biểu lộ sự lên án, ghét bỏ tội phạm đó.(78) Đây cũng là quan niệm thông dụng của hệ thống pháp luật Anh quốc. Ngoài ra E. Durkheim, triết gia Pháp (1858-1917), cũng trong tinh thần trên, cho rằng mục đích của sự trừng phạt pháp lý là làm lành vết thương tập thể mà tội nhân đã tạo nên. Khi trừng phạt, luật pháp duy trì sự gắn bó của xã hội, củng cố sức mạnh tiềm năng của tập thể, phát huy lương tâm của con người.(79)
 
Nhưng với một cái nhìn độc đáo, hãy lắng nghe Karl Marx:
 
Có phải chúng ta đang lừa gạt chính mình khi gán cho cá nhân gánh nặng “tự do ý lực” (free will) - một phẩm chất của cá nhân - khi mà bối cảnh xã hội phức tạp áp đặt lên cá nhân cái động cơ cho hành vi của họ? Có nên suy tưởng sâu hơn về một chế độ (pháp luật) để thay thế hệ thống hiện tại, cái nguồn gốc sản xuất tội ác, hơn là vinh danh người treo cổ thòng lọng giết bao nhiêu phạm nhân chỉ để dành chỗ trống cho những phạm nhân mới?(80)
 
Theo lý luận này của Marx thì sự trừng phạt pháp lý chính nó là bất công vì nguồn gốc của tội phạm là sự khiếm khuyết của xã hội và hệ thống pháp luật đang hành xử tội phạm đó. Theo Marx thì, tổng quát, tội ác phát xuất từ hai nguyên nhân: [1] Nhu cầu và sự bị tước đoạt và bị bóc lột của thành phần yếu thế trong xã hội, và [2] động cơ tham lam và ích kỷ được phát sinh và củng cố trong xã hội kinh tế tư bản. Đây là cái nhìn duy kinh tế - mọi sự bất thường, tội ác đều vì hoàn cảnh hay bản chất của hệ thống kinh tế đó gây ra. Trong môi trường kinh tế xã hội tư bản, theo Marx, thì con người bị tha hóa đến độ động cơ và hành vi của họ không còn là của chính họ mà là của một nạn nhân, không chủ động được nhân bản tính mà đã bị tước đoạt. Từ đó, tội ác trong xã hội tư bản là chuyện thường, phẩm chất tội ác đó phải có vì con người, đa số, không thể làm gì được hơn. Đây là nội dung chính của Marxism. Từ bối cảnh kinh tế xã hội trên, Marx phác họa đời sống tập thể trong đó ý niệm cộng đồng là hạt nhân chính của tư tưởng. Marxism cho rằng tương quan chân thật, nhân bản và khả năng tự chế đạo đức của con người chỉ có thể thực hiện được trong những cộng đồng chân thực, xây dựng bởi mối liên hệ chân thành, hỗ tương, tôn trọng và kính phục lẫn nhau trên cảm nhận của giá trị nhân bản chung. Lý luận và giấc mơ trên công nhận nền tảng luật pháp như là một cơ chế vận dụng sự hỗ tương (reciprocity), “có qua, có lại.” Nếu nạn nhân của xã hội không thừa hưởng gì cả, không có lợi ích nào khi sống trong xã hội, thì cá nhân đó không mang “gánh nặng” trách nhiệm nào hết, không phải tôn trọng trật tự xã hội đã tước đoạt nền tảng nhân bản của họ.
Theo W.Murphy, một luật gia Mỹ, dựa tên lý luận của William Bonger trong luận đề Criminality and Economic Condition (1916) (Vấn Đề Hình Phạm Và Điều Kiện Kinh Tế) thì điều khẳng định trên đã được chứng minh qua thực tế tội phạm ở Hoa Kỳ. Trong số khoảng hơn một triệu phạm nhân bị truy tố ở Mỹ hàng năm, đa số lớn (khoảng 80%) là thành phần đến từ giai cấp thấp nhất, nghèo khổ nhất - dưới cái 15% đáy tận cùng kinh tế - của xã hội. Chúng ta có thể cho rằng số người này nghèo vì họ “xấu xa”; nhưng theo Murphy, thì chúng ta cũng phải nhìn ngược lại, họ xấu xa vì họ nghèo khổ.(81)
 
Nếu nền tảng biện minh của sự trừng phạt của pháp lý là đạo đức công lý, kẻ ác, kẻ vay phải trả, thì đạo đức này không đủ giá trị để kêu gọi sự trừng phạt những nạn nhân kinh tế, vì đói khổ, mà trở nên tội phạm. Có phải những động cơ tham lam, giành giựt, tham vọng làm giàu đang được cổ súy bởi xã hội? Nếu tôi không có cơ hội và phương tiện để có cơm ăn, áo mặc, thăng tiến cá nhân, thì tôi phải hành xử cái công lý của tôi chứ? Nếu tôi đói, tôi phải cướp giật. Ai làm cho tôi cướp giật? Có phải xã hội này, với lớp son phấn đạo đức giả, cướp trên tay tôi phần cơm áo? Thế sao cái giai tầng đó lại làm luật để bảo vệ cái thế ăn cướp của bọn chúng nữa! Đúng là bất công. Đây là những lý luận đầy xúc động của trí thức Marxist. Murphy lý luận rằng, nếu căn bản lý luận của công lý của Kant và của Rawls là sự hỗ tương, thì kẻ nghèo khổ không có gì để cống hiến cho thế đứng hỗ tương đó cả. Tôi tôn trọng luật pháp, nếu bởi vì dựa trên một tương thuận ngầm với xã hội, để hưởng quyền lợi từ sự ổn định luật pháp; nhưng nếu tôi không có được gì cả khi tôn trọng luật pháp, thì xã hội đã vi phạm sự tương thuận trên trước tiên, cho nên, lỗi không phải từ ở tôi.(82)
Murphy đưa ra một trường hợp biểu trưng của xã hội Hoa Kỳ: Một phạm nhân bị kết án cướp của với vũ khí. Lý lịch cá nhân cho biết rằng hắn là người da đen, nghèo khổ, lớn lên trong gia đình kiết xác, trong khu xóm tận cùng của kinh tế, cơ hội, đầy dẫy tội ác. Hắn, cũng như cha mẹ, anh em, họ hàng của hắn đều thất nghiệp. Thất học từ nhỏ, không có gì, có ai để nhìn lên như là một mẫu người, một mô hình để làm động cơ tiến bộ. Hắn bị tha hóa, từ lúc mới sinh, đối với cơ chế xã hội và luật pháp chung. Hắn không đi đâu xa, không có cơ hội học hỏi tiếp xúc. Những gì hắn thấy và nghe đều bất công và tiêu cực. Hắn sống trong những ổ chuột, đau ốm không có ai chăm sóc. Đi đâu, làm gì cũng bị đe dọa, nhìn xuống, làm phiền bởi cảnh sát khi mà giới công lực chỉ coi dân da đen đều là tội phạm mà không bao giờ cố gắng bảo vệ họ, mặc dù họ có là nạn nhân đi nữa. Hắn không có tiếng nói nào trong hệ thống chính trị, báo chí, truyền thông. Một thằng thấp cổ bé họng, bỏ quên, nghèo đói, bất mãn, tha hóa. Thế thì hắn mang nợ, trách nhiệm với xã hội không? Nợ gì? Trách nhiệm nào? Hắn có được cái khả năng chủ động ý lực tự do (free-will) để phải chịu trách nhiệm cho hành vi của hắn không? Marxism trả lời là “không.”
Nhưng Marxism cống hiến được giải pháp nào? Thả người da đen này ra? Cho hắn đi học, cung cấp phương tiện sinh sống cho ông ta để ông ta bắt đầu “mắc nợ” xã hội, để ý thức được trách nhiệm, chủ động được ý lực của ông? Như thế thì tội phạm lại được tưởng thưởng, khích lệ hay sao? Thế còn những người như ông ta chưa vi phạm luật lệ, thì hãy nên đi cướp của để có cơ hội được chú ý và giúp đỡ? Nếu giúp đỡ, sao không giúp những người nghèo khổ khác chưa vi phạm luật pháp?
Marx và Bonger không trả lời được những vấn nạn trên vì thực tế lịch sử của hầu hết các mô thức chính sách an sinh xã hội để đương đầu với vấn đề tội phạm vốn đã được thử nghiệm ở Hoa kỳ đều thất bại.
Ớ đây, Marx chỉ nêu lên cái luận đề để phân tích căn bịnh xã hội mà không có giải pháp thực tế - ngoại trừ những mô hình đầy tính chất ảo tưởng và utopian. Hãy nhìn tội ác, cướp bóc càng đầy dẫy ở xã hội Việt Nam dưới chủ nghĩa Cộng sản vì sự băng hoại xã hội và kinh tế.
Tuy nhiên, những tiền đề xã hội và tiến trình nạn nhân hóa, tội phạm hóa mà Marx nêu trên là một thực tế lịch sử và chính trị phải giải quyết. Nhưng sự giải quyết đòi hỏi một tổng hợp chính sách kinh tế, xã hội tổng thể chứ không đánh mất thế đứng đạo đức của xã hội khi nhân danh luật pháp để trừng phạt kẻ phạm luật. Dù dưới bất cứ hoàn cảnh, hệ thống kinh tế, xã hội nào, có những tội phạm phải bị trừng phạt, vì thực tế đòi hỏi, và vì cá nhân có khả năng chủ động hành vi của mình, chứ không vì nghèo khổ mà phải ăn cướp. Nên nhớ rằng đa số người nghèo khổ, thấp cổ bé họng, vẫn tôn trọng luật pháp. Ớ đây, luật pháp, khi trừng phạt, có thể cứu xét hoàn cảnh để xử án nặng nhẹ, phải đi theo từng trường hợp khi tuyên án (sentencing). Nhắc lại trường hợp người da đen trong ví dụ ở trên, trước hết, phải bị định tội và chứng giải phạm tội (legal conviction), vì đó là sự xác định cần thiết cái thế đứng đạo đức và chính thống của xã hội đối với vấn đề, trước khi cứu xét hình phạt thích ứng với hoàn cảnh của ông ta.
Tiền đề đạo đức và luật pháp ở trên mà Marxism nêu lên đòi hỏi chúng ta nhìn lại hai phạm trù khác biệt của vấn đề. Đạo đức đương đầu với động lực nội tâm; trong khi luật pháp là một hệ thống tiêu chuẩn khách quan cưỡng bách cá nhân không được vi phạm. Những tương quan giữa hai phạm trù, dù ở mức độ nào, vẫn không thể xóa cải biên giới. Phần lớn luật pháp là sự hợp thức hóa, cưỡng bách giá trị đạo đức. Nhưng trên nhiều lãnh vực, luật pháp mang tính chất trung hòa, không mang màu sắc đạo đức. Trường hợp của luật kinh doanh, luật thuế má, luật giao thông là những chọn lựa cưỡng bách trên nhu cầu duy thực dụng. Có những luật lệ đi ngược lại với đạo đức của một đơn vị quần chúng. Chúng ta hình dung được luật cho phép phá thai ở Hoa Kỳ và Tây Âu đi ngược lại với đạo đức của Thiên Chúa giáo La Mã và phần lớn quần chúng bảo thủ. Vì luật pháp thường chứa đựng ẩn số đạo đức; do đó, muốn xây dựng quy luật cưỡng bách, luật pháp phải tránh đừng để bị mâu thuẫn nặng nề bởi luân lý số đông đặt trên nền tảng đạo đức. 
Marxism đặt trách nhiệm: Chúng ta phải xây dựng lại một nền tảng đạo đức mới để cung cấp biện minh cho luật pháp khi trừng phạt tội phạm là những nạn nhân của hoàn cảnh xã hội và kinh tế. Nhưng, theo trách nhiệm này thì bao giờ xã hội mới có đủ tư cách pháp lý, nếu kinh tế và xã hội là những vấn đề ra khỏi tầm tay, để giải quyết? Xã hội phải chấp nhận tội ác, theo lý luận Marxism, khi xã hội còn bất công? Thành phần xã hội nào phải bị trừng phạt vì họ không là nạn nhân của hoàn cảnh? Đi đến mức độ quá đáng, một phiên tòa sẽ trở thành một trường đấu tranh giai cấp? Chính trị hóa, tình cảm hóa mọi vi phạm luật pháp? Phạm nhân ra trước “vành móng ngựa” sẽ được xét tội trên căn bản lý lịch? Đây là cái mâu thuẫn, khó xử, thiếu thực tế, vô trách nhiệm cho vấn đề luật pháp và tội ác của Marxism. Khi đối xử phạm nhân, ví dụ có lý lịch “vô sản,” thì tòa án Marxism coi hắn không được trang bị bởi sức mạnh chủ động của ý lực tự do, vì thế nên không phạm tội. Có nghĩa là luật pháp coi họ như là những “đứa bé” cần được trông nom. Còn nữa. Người “vô sản” này sẽ được cứu xét lý lịch cho một số tội ác nào đó, ví dụ, nếu hắn lái xe vượt đèn đỏ, đụng chết người, hay gian lận trong lúc trao đổi buôn bán, thì hắn có được giảm án hay tha thứ vì hắn nghèo khổ, bị áp bức? Vì nghèo khổ hay bị áp bức, hay là một thành phần của giai cấp, có quyết định bản chất đạo đức (sức mạnh nội tâm) của cá nhân đó? Hàng ngàn những câu hỏi tương tự sẽ phải đặt ra làm cho căn bản Marxism đối với luật pháp trở thành không giải quyết được.
Marx chưa hề nói tới vai trò của luật pháp như là phương tiện để thực hiện giá trị xã hội phổ quát. Marx và đệ tử của ông đặt nặng vấn đề chuyển hóa chính trị và xã hội trước và coi luật pháp là khí cụ của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh giai cấp. Cái ngõ kẹt của tiền đề chính trị Marxism là nó không giải quyết được thế đứng của luật pháp. Nguyên tắc của cách mạng hay cải cách xã hội là gia tăng cơ hội và phương tiện để hoàn tất ước vọng cá nhân trên căn bản tác động và kinh nghiệm tiệm tiến. Marxism vi phạm nguyên tắc này khi cố gắng thực thi triết lý sử định luận (historicism) để sáng tạo xã hội toàn thể bằng một mô hình trí thức không có căn bản thực nghiệm. Căn bản đạo đức xưa nay, dù chậm tiến hay tiền tiến, dù ở  Đông hay Tây, dân chủ hay độc tài, đều có một nền móng - a priori mà Kant nói tới - bất cứ ở không gian và thời gian nào, những vấn đề đạo đức và luân lý vẫn giống nhau. Nếu Marxism cố thay đổi nền móng xã hội mà bất lực trước giá trị a priori này, tư tưởng và thực hành của nó sẽ phải thất bại.
 
ĐẠO ĐỨC LÀ ƯỚC VỌNG TIÊN HÓA
 
Nếu chúng ta xác nhận rằng mọi sự vật và hiện tượng đều đổi thay, chỉ có sự tiến hóa là không thay đổi, và nếu sử định luận là căn bản tư tưởng để khai phá nhu cầu đạo đức, thì cứu cánh tiến bộ và giải thoát con người phải là biện minh cho những phương tiện của quốc gia và xã hội. Từ nền tảng giả định này, một căn bản đạo đức cho một quốc gia dân chủ pháp trị phải bắt nguồn từ bốn quan điểm tổng quát:
 
Thứ nhất, đạo đức đương thời chưa thể hiện được tinh hoa của căn bản văn hóa ước vọng của đa số. Đối với xã hội đang chuyển tiếp từ lạc hậu sang tiền tiến, đạo đức đương thời chưa bắc được nhịp cầu để hàn gắn cái tình trạng vong thân của cá nhân đối với xã hội (đây cũng là lý luận căn bản của Marxism).
Thứ hai, đạo đức pháp lý đặt trên giá trị tập thể, của lịch sử, mà sứ mạng là chiều hướng đi tới để thỏa mãn ước vọng sinh mệnh và trưởng thành của công dân.
Thứ ba, đạo đức mang giá trị chức năng để phục vụ giá trị tập thể, thỏa mãn nhu cầu và cứu cánh chính trị dân chủ.
Và thứ tư, đạo đức là một đơn vị văn hóa phải bị thay đổi, hoán chuyển, đào thải, chịu đựng mâu thuẫn để biến hóa theo nhịp độ tiến hóa của xã hội.
Với những quan điểm căn bản đó, đạo đức chứa đựng cái nổi bật nhất là năng động tính để thỏa mãn ước vọng. Đạo đức pháp lý không đặt căn bản đúng hay sai; mà chỉ đặt câu hỏi đến giá trị tiêu chuẩn cưỡng chế đó đóng chức năng nào để thỏa mãn chính trị dân chủ của quốc gia và công dân. Khi chính trị thỏa mãn được ước vọng đa số và năng động của công dân thì quốc gia là cơ chế đạo đức để công dân được hiện thực hóa giá trị nhân bản và tự do của họ. Từ đó, đạo đức pháp lý là đạo đức của công dân trên ý thức quốc gia. Biện minh của guồng máy cưỡng chế đạo đức pháp lý là sự đồng thuận chính trị cần thiết thể hiện qua tiến trình luật pháp, hành pháp và tư pháp.
Thứ nhất, chúng ta hãy trở với quan điểm rằng đạo đức đương thời, bất cứ ở lúc nào và ở đâu, vẫn còn thiếu cái tinh hoa phổ thông của đa số. Tức là, một cá nhân vừa phải, một pháp nhân của chính trị dân chủ, chưa tìm được giá trị ước vọng được đáp ứng bởi tiêu chuẩn đạo đức. Từ đó, khoảng ngăn cách xảy ra giữa cá nhân đó với xã hội tạo nên tình trạng vong thân - họ đánh mất giá trị nội tại trước sự xâm lược của hoàn cảnh sống và bối cảnh khách quan. Vấn đề chỉ là mức độ, không có thể chế dân chủ nào có thể hoàn toàn lấp được cái hố khoảng cách này, mà cũng vì nó là cần thiết trong vai trò của động cơ tiến hóa. Luận đề này có gốc rễ sâu xa từ thần học và triết học Tây phương, khai phá rộng lớn bởi Hegel và Marx. Đạo đức xã hội không phải là giá trị tôn giáo dù tôn giáo đó là “quốc giáo” của thể chế chính trị đương thời. Marx chỉ trích rằng những nhà làm luật Cơ Đốc giáo ở thế kỷ của ông không biết phân biệt được phạm trù đạo đức khác xa với giá trị và niềm tin tôn giáo. Dân chúng Tây phương luôn nhầm lẫn rằng những mẫu mực đạo đức phổ quát chung cho nhân loại đều bắt đầu từ tôn giáo. Tôn giáo chấp nhận đạo đức của họ từ niềm tin và không cần có cơ sở lý luận, phạm trù tư duy cũng chỉ hạn hẹp cũng như chu vi của tổ chức và tinh thần độc đoán của giáo lý. Trong khi đó, đạo đức mang giá trị phổ biến, có căn bản của suy tư và lý luận. Theo Marx, đạo đức tôn trọng thế đứng độc lập của tinh thần cá nhân như là đối tượng của một chủ thể tối thượng.(83) Nhưng Marx lại đi vào cái phạm trù ngây thơ của truyền thống triết học luật tự nhiên (natural law) khi quan niệm rằng, muốn hiện thực hóa đạo đức xã hội, người dân cử, đại biểu quốc hội (legislators) không làm luật. Marx nói, “Họ không làm luật, không sáng tạo luật mà chỉ công thức hóa luật tự nhiên mà thôi. Họ biểu hiện cái nội dung tinh thần và giá trị tương quan bằng luật thành văn.”(84) Marx nói như thể rằng có một nền tảng luật pháp rõ rệt nào đó trên căn bản đạo đức phổ quát, không có từ tôn giáo, để nhà làm luật chỉ thành văn bản mà thôi. Marx từ chối trách nhiệm làm luật là công tác sáng tạo một cơ sở đạo đức tập thể bắt nguồn từ kinh nghiệm thực dụng đời sống để thỏa mãn nhu cầu và ước vọng tiến bộ của tập thể.  
Tuy nhiên, Marx đã đúng khi cho rằng đạo đức bắt nguồn từ, và phải có căn bản của, sự độc lập của ý lực và lý trí cá nhân. Cá nhân phải bị và nên đi theo lẽ phải đạo đức - hướng dẫn bởi lý trí và chọn lựa sáng suốt, hơn là sự mù quáng bởi niềm tin. Marx chỉ trích mạnh quan điểm của Hegel cho rằng đạo đức bao gồm hai mặt: tinh hoa đạo đức (ethical essence) và đạo đức thể hiện (ethical existence). Theo Marx thì không có một đạo đức tinh hoa, tức là tiêu chuẩn nào cả, mà chỉ có đạo đức của xã hội mà thôi; rằng đạo đức xã hội chỉ thể hiện và phản ảnh được giá trị của một cá nhân độc lập và tự do khi "Luật pháp là sự thể hiện có ý thức của năng lực tinh thần của công dân.”(85) 
Có nghĩa rằng, luật pháp là cơ phận của chính trị dân chủ trưởng thành hiện thực hóa được ý lực phổ quát và lý tưởng đồng thuận chung của tập thể công dân. Hay nói rộng hơn, luật pháp là đạo đức tập thể và cá nhân. Trong thể chế dân chủ pháp trị, đạo đức và truyền thống cũng như tôn giáo không đóng vai trò cưỡng chế hành vi công dân nữa. Từ đó, đạo đức là hệ thống cai quản con người được thể hiện bởi công dân trên một mẫu số chung thực dụng, vừa phải. Cá nhân không cần phải nhảy qua lại cái hố sâu ngăn cách giữa chính mình và xã hội nữa.
Thứ hai: Giá trị tập thể và ước vọng lịch sử là căn bản của đạo đức pháp lý. Ở đây tôi dựa trên triết học lịch sử của Hegel, trong đó, lý trí của nhân loại được biểu hiện và chủ động theo tiến trình lịch sử, mà trong đó quốc gia (nation-state) là cơ chế để hiện thực hóa tự do tích cực và lý trí (positive và rational freedom). Dĩ nhiên không chỉ có Hegel mà trước đó Machiavelli, Campanella, Hobbes, Spinoza, Grotius cho đến Rouseau, Fichte đều coi quốc gia là sản phẩm ý lực của con người cai quản bởi luật pháp theo tiến trình tiến hóa của tư duy và kinh nghiệm. Trong khi triết học cổ xưa quan niệm rằng quốc gia và cơ chế pháp trị bắt nguồn từ bản năng hợp quần và tham vọng cá nhân; thì triết học cận đại, nhất là từ trường phái Hegel, đặt quốc gia và pháp chế từ Ý niệm tổng thể. Cá nhân chỉ tìm thấy chính mình, tìm được giá trị và tự do từ quốc gia - và chỉ có quốc gia mới cung cấp cơ hội và phương tiện để cá nhân thể hiện được cái độc đáo và độc lập của ý lực của chính mình. (Tôi đồng ý với Hegel phần lớn dựa trên kinh nghiệm bản thân và suy luận về lịch sử Việt Nam. Số phận và sinh mệnh dân tộc Việt hoàn toàn tùy thuộc vào tình trạng chính trị và mức độ kinh tế của quốc gia. Các cơ chế khác như tôn giáo, làng xóm, nội tâm cá nhân đều bị đảo lộn và xô đẩy tàn nhẫn và toàn thể bởi lịch sử chính trị quốc gia. Dân tộc Việt, cá nhân Việt chỉ có cơ hội mưu cầu tiến hóa và hạnh phúc qua cơ chế quốc gia mà thôi).
Trách nhiệm của quốc gia là thỏa mãn ước vọng ý lực cá nhân bằng cơ chế giá trị tập thể. Như Marx nói, “Triết học diễn đạt quyền hạn nhân bản. Nó đòi hỏi quốc gia thể hiện được giá trị nhân bản.”(86) Mà giá trị nhân bản là ước vọng tiến bộ và tiến hóa về chân, thiện, mỹ, về sự thành đạt, thể hiện được tiềm năng toàn hảo hóa của con người.  
Luật pháp xếp nặn hình tượng và chuyển đổi nội dung của cơ sở văn hóa xã hội mà cá nhân nhận diện chính mình và hành xử cuộc sống. Luật pháp tạo ý thức kiêng nể những tiêu chuẩn pháp lý mang tác động như những mệnh lệnh đạo đức mà cá nhân đã từng bị chi phối. Công dân, với thời gian, mang tư duy trong khuôn khổ và chất liệu của một tư duy tập thể. Họ không còn là một cá nhân đơn lẻ, tách biệt, dù luật pháp tôn trọng cái độc đáo, độc lập của vị thế cá nhân và tư cách pháp nhân. Tuy nhiên, sinh mệnh và ý thức của họ dần dần bị tổng thể hóa song song với cái bành trướng của vai trò cá nhân đối với cộng đồng và quốc gia trong sự lớn mạnh của những của tư cách, bổn phận và nhiệm vụ pháp lý mà người công dân đồng ý gánh chịu. Như Hegel nói, “Tinh hoa của quốc gia là đời sống đạo đức,”(87) mà đạo đức pháp lý là những tiêu chuẩn tổng thể, quy nhập tất cả những giá trị xã hội để đáp ứng, thỏa mãn, biểu trưng được ước vọng tiến hóa của cá nhân, xã hội, quốc gia và lịch sử.[link=#page70]1[/link]  
Thứ ba, đạo đức pháp lý mang nội dung chức năng. Trường hợp trách nhiệm pháp lý trong vấn đề thuế vụ thể hiện được giá trị tập thể khi quốc gia bắt buộc công dân phải nộp tiền của do công lao chính mình cho chính quyền để phục vụ nhu cầu chung trong chức năng quản lý của quốc gia. Một án lệnh bắt buộc một cơ quan công quyền phải thuê mướn, tuyển chọn nhân viên trên căn bản công bình, hay một đạo luật bắt buộc cha mẹ phải có bổn phận và trách nhiệm pháp lý đối với con cái vị thành niên, và hàng ngàn trường hợp khác, đều nói lên cái nội dung muốn đạt được một mục tiêu nào đó cho xã hội khi luật pháp sử dụng quyền hạn quốc gia (sovereignty power) để cưỡng bách công dân thi hành. Luật pháp không muốn thỏa mãn những giá trị đạo đức địa phương, tôn giáo, cổ tục khi những giá trị này không đóng vai là những khí cụ xã hội tích cực. Mặc dầu đạo đức xã hội và truyền thống giá trị đặt nền tảng cho cơ chế pháp lý, pháp luật mang nội dung đạo đức riêng và độc lập. Khi đạo đức xã hội và tôn giáo khuyên răn không nên sát nhân, sự khuyên răn này mang căn bản siêu hình lẫn thực dụng, từ ý niệm Thượng đế, nhân quả đến quan niệm triết học; trong khi luật pháp cấm không được sát nhân, với những trường hợp ngoại lệ, như tự bảo vệ, thì cái bắt buộc bằng mệnh lệnh pháp lý không mang tính cách tích cực vì luật pháp không nói rằng “Người công dân phải tôn trọng mạng sống của tha nhân” mà chỉ trừng phạt khi sự vi phạm xảy ra mà thôi. Thí dụ, đạo đức tôn giáo lên án tự tử nhưng luật pháp thì lặng yên vì nhu cầu thực dụng. Bởi vì đối với tôn giáo, mỗi cá nhân, kể cả chính mình là một sinh mệnh của Thượng đế, do đó chính mình không có tư cách đạo đức để chấm dứt cái hiện hữu của thân xác mình. Trong lúc đó luật pháp không trừng trị kẻ tự tử vì nếu tự tử hoàn tất thì đối tượng trừng phạt không còn nữa; nếu không hoàn tất, thì cá nhân đó còn sống, và phải cứu, vì luật pháp không muốn dồn ép cá nhân đi tìm cái chết phải đi đến cùng vì sự đe dọa của luật pháp nếu mình không chết đi.  
Đạo đức xã hội là đạo đức cho cá nhân trong vai trò con người. Đạo đức pháp lý là đạo đức tập thể áp dụng cho mỗi cá nhân trong vai trò công dân. Trường hợp luật pháp quốc gia trừng phạt tội phản quốc thì nó không có mang căn bản đạo đức phổ quát mà chỉ có biện minh không gian và lý tưởng trừu tượng áp dụng tới cá nhân trong chiếc áo công dân của quốc gia đó. Đạo đức xã hội không bắt buộc cá nhân đóng thuế lợi tức nhưng pháp luật tạo một phạm trù tội lỗi cho vấn đề trốn thuế hay khiếm khuyết cho bổn phận công dân này. Có thể đạo đức xã hội cho rằng một công dân trốn thuế vi phạm luân lý (gian lận), nhưng nếu công dân đó, vì một lý do luân lý cao hơn (tiền thuế được sử dụng vào việc sản xuất vũ khí hóa học, chẳng hạn) cố tình không đóng thuế như là một hình thức phản đối, thì đạo đức xã hội không lên án được. Tuy nhiên, luật pháp vẫn trừng phạt công dân trên cho dù lý do “luân lý cao” của công dân đó được công nhận đi nữa.  
Luật pháp mang phạm trù giá trị độc lập cho chính nó. Tinh thần “thượng tôn pháp luật” là một đạo đức riêng. Chúng ta không vi phạm luật giao thông ở một khoảng đường dù lúc đó an toàn, không cảnh sát, mà vẫn làm cho chúng ta, trong tư cách công dân trưởng thành, nhận thấy mặc cảm vi phạm đến tiêu chuẩn giá trị tập thể. Cái đạo đức “tôn trọng luật pháp dù cho bất đồng” đóng vai trò cần thiết trong chế độ dân chủ pháp trị; vì nếu không, mỗi công dân đều chọn lựa luật pháp nào mình thích để tôn trọng mà thôi. Trong các quốc gia tiền tiến, công dân không thể quan niệm rằng họ có thể làm những điều “đúng” mà phải có thể làm những điều “hợp pháp.” Chúng ta có thể tranh luận không cùng về đạo đức xã hội cho một hành vi nhưng tiêu chuẩn hành động phải là luật pháp. “Tôi biết là làm như vậy là đúng nhưng mà vi pháp,” “anh có thể không đồng ý với những gì tôi làm, nhưng vì luật pháp đòi hỏi tôi phải thi hành” là những tiền đề đạo đức công dân trong một xã hội thượng tôn pháp luật.
Thứ tư, chúng ta hãy bàn đến là sự thay đổi của đạo đức pháp lý. Vì mang tính cách chức năng, luật pháp luôn luôn phải cân bằng ba phương diện, theo Iredell Jenkins, của Thiết yếu (Necessity), Khả thể (Possibility) và Chủ đích (Purposiveness).(88) Luật pháp bị thay đổi và đào thải theo nhu cầu xã hội và quốc gia. Luật pháp càng ngày càng đóng vai trò quan trọng thì nhu cầu đáp ứng của nó càng cần thiết vì những gì thiết yếu ở thời điểm này có thể thay đối với kinh tế, chính trị và xã hội càng mở rộng. Trong tinh thần linh động này, đạo đức pháp lý là một nền tảng biện minh tinh thần đi đôi với văn kiện và nội dung pháp luật. Khi tập thể công dân qua cơ chế chính trị dân chủ có khả năng chủ động được cái hướng đi cân bằng của luật pháp thì nền tảng biện minh cũng sẽ được thay đổi theo nhu cầu và thời gian. Vì cứu cánh của luật pháp là thỏa mãn ước vọng tiến bộ của cá nhân và xã hội, luật pháp đóng đúng vai trò của nó chỉ ở trên căn bản của hoàn cảnh và thời điểm mà thôi.
 
NHÌN LẠI Á ĐÔNG VÀ VIỆT NAM
 
Ba thế kỷ trước Tây lịch (300 B.C.E.) một học trò của Tuân Tử của Trung Hoa đã một mình chủ động học thuyết “Pháp Trị Chủ Nghĩa” trong bối cảnh đạo đức “Nhân Trị Chủ Nghĩa” của Khổng giáo, nhằm cổ võ một học thuyết thượng tôn pháp luật, mang nội dung dân chủ chính trị: Người đó là Hàn Phi Tử. Hàn Phi nói:  
Để chỉnh huấn một người dân gian ác dù cha mẹ có giận dữ, sư phụ có dạy bảo, bạn bè có khuyên răn cũng chưa đủ, cần phải có pháp quan và lính tráng tróc nã trừng phạt họ thì họ mới sợ mà cải thiện. Dân chúng được chìu chuộng, lẽ tự nhiên, sẽ hư hỏng (vì họ) chỉ sợ nghiêm khắc... Về sự thưởng, muốn được dân chúng lưu ý, phải rõ ràng và trọng hậu; hình phạt, muốn cho dân chúng sợ phải thật nặng và công minh, không thể trốn tránh được; pháp luật muốn cho dân chúng biết phải tề nhất và bất di dịch.(89)
Hàn Phi nhấn mạnh rằng việc cai trị không thể dựa trên sự tốt thiện của công dân mà phải căn cứ trên pháp luật:  
Nếu nước được thánh nhân cai trị, tất thánh nhân không mong chỗ dân làm điều thiện để mình vui lòng, mà chú trọng ở chỗ dân không làm điều ác. Nếu trăm dân làm điều thiện cho mình vui lòng, tất trong nước không được mười người, nhưng tránh cho dân khỏi làm điều ác, toàn thể dân chúng có thể đạt được kết quả ấy.(90) 
Hàn Phi nêu lên học thuyết chính trị mang nội dung dân chủ pháp trị:
Trị dân cần phải theo số nhiều và bỏ số ít, vì vậy không chăm chú đến đức hạnh mà phải chăm chú đến pháp luật.(91) 
Học thuyết của Hàn Phi đối nghịch trực tiếp với triết học chính trị của Khổng Tử đương thời vốn cho rằng phần đông dân chúng kém tài đức, nên phải lấy thiểu số để cai trị. Theo Hàn Phi Tử thì "thánh nhân quân tử không quá số mười người, mà chọn công chức cần dùng tới quá mấy trăm." Nếu phải chọn thánh nhân quân tử, theo Hàn Phi, để cai trị nhà nước thì không đủ vì "như vậy bộ máy cai trị sẽ không được điều hòa và trong nước sẽ sinh loạn.”(92) Theo Vũ Văn Mẫu thì Hàn Phi chủ trương một vị vua khi trị nước "không cần người giỏi, song phải đặt ra pháp luật công minh; không nhất thiết tin ở người tài đức nhưng dùng thuật để cai trị. Vì vậy, pháp luật sẽ không bị suy vi mà công chức cũng không đồi bại.”(93)
Ở thời điểm đó mà Hàn Phi đã dựng nên học thuyết pháp trị, dám thử thách cả một trật tự xã hội vương quyền tuyệt đối của Trung Hoa, là cả một công trình cách mạng tư tưởng lớn. Nhưng Hàn Phi không được cơ hội để phát huy chủ thuyết của mình dù được Tần Thủy Hoàng muốn thu phục. Lý Tư, một bạn học của Hàn Phi, sợ ảnh hưởng của Hàn Phi, đã dèm pha, tố cáo với Tần Thủy Hoàng, làm cho Hàn Phi bị nghi ngờ và bị cầm tù. Lý Tư tìm cách giết Hàn Phi bằng cách khích động tự ái của Hàn Phi rồi sai người đem thuốc độc vào ngục ép Hàn Phi uống chết rồi đổ lỗi cho rằng Hàn Phi tự tử. Nếu Hàn Phi còn sống, có cơ hội đóng góp vào việc nước thì có thể chiều hướng lịch sử của Trung Hoa đầy thảm họa lẩn quẩn đã đổi thay.
Nền tảng đạo đức Khổng Tử đã cho Trung Hoa một trật tự bất quân bình. Cái nội dung văn hóa quân tử của người Tàu mang nặng tính chất lễ nghi và đạo đức giả. Như tiểu thuyết gia Anthony Grey của Anh viết trong cuốn The Chinese Assassin (Kẻ Ám Sát Tàu) thì The insincere humility was one of the great deceits of old China (Cung cách khiêm tốn giả vờ là một trong những trò lừa dối lớn của Trung Hoa.)(94) Đạo đức và luân lý không thể là khí cụ để trị dân có hiệu quả với những khuyết điểm phong hóa căn bản và lớn lao đó.  
Tuy nhiên nói như thế không có nghĩa là chúng tôi từ chối vai trò của đạo đức trong thuật an dân, trị nước. Hàn Phi của Trung Hoa cũng như Hoàng Đạo của Việt Nam mấy thập niên trước: Trong bối cảnh bất quân bình và ung thối của nền tảng đạo đức cổ truyền, trí thức có trách nhiệm phát động một chủ thuyết trái ngược cực đoan. Nhất Linh cũng nhìn thấy vấn đề này khi cho nhân vật nữ là Loan ở trong "Đoạn tuyệt" được luật pháp tha bổng về tội giết chồng. Nhất Linh đã nhìn thấy luật pháp là cơ chế có khả năng cứu vớt cá nhân ra khỏi cái kềm kẹp của xã hội mang biện minh đạo đức và luân lý bất công.
Luật pháp cần có nền tảng đạo đức và luân lý. Cơ chế pháp lý hiệu năng và hiệu quả đòi hỏi một hợp đề của cả hai. Chúng ta nhìn thấy nhu cầu hợp đề này khi nhìn những xã hội Tây phương, nhất là ở Hoa Kỳ, trong những xóm nghèo, dù luật pháp nghiêm minh, dù là trong xã hội dân chủ pháp trị, tội ác vẫn đầy dẫy vì nền tảng đạo đức không có. Cái mà giữ người con gái dậy thì không lang chạ tình dục với bọn cùng lứa không phải là luật pháp, mà là đạo lý, kỷ cương.
Tuy nhiên, luật pháp phải đóng vai trò thượng tôn vì nó cung cấp cái cơ chế hữu hiệu bằng cách hành xử một thẩm quyền có nguyên tắc và có biện minh. Cha mẹ có thể khuyên răn con cái nhưng không thể trừng phạt người hàng xóm, hay ngay cả khi con cái mình đã lớn. Trong tập thể phức tạp, luật pháp có mệnh lệnh đồng nhất, có tụ điểm của uy quyền quốc gia, tạo thói quen chấp nhận, tuân lệnh và kỷ cương cho cá nhân.
Mặc dù vậy, cái kỷ luật nội tâm trong mỗi con người là tối thượng cần thiết cho ổn định pháp luật vì pháp luật là tiêu chuẩn và mang chức năng đối đầu với những hiện tượng bất thường mà thôi. Như đã nói, nếu luật pháp đóng vai trò tạo cơ hội và phương tiện cho sự tiến hóa của cá nhân và tập thể thì trường học, chùa chiền, nhà thờ, hội đoàn, gia đình đều là những căn bản cần thiết và hỗ tương.
Thực tế của xã hội Việt Nam vào những năm cuối cùng của thế kỷ XX này là sự vắng mặt của luật pháp và sự sụp đổ của giá trị đạo đức cổ truyền. Dân chúng Việt Nam đang sống trong cảm nhận dân tộc mơ hồ nhưng không có nền tảng ý thức công dân. Mao Trạch Đông, trước khi chết (1976) đã tâm sự đúng cái bản chất xã hội Trung Hoa và Việt Nam hiện giờ,  
(Trung Hoa, sau mấy mươi năm Cộng sản) chẳng có gì thay đổi cả. Tám mươi phần trăm dân số vẫn sống bằng nghề nông. Họ chỉ sợ thiên tai, bão lụt, sấm sét. Họ chấp nhận và chịu đựng bất cứ chính quyền nào như họ chấp nhận thiên tai vậy thôi. Phần lớn vẫn mù chữ hoặc mới biết đọc, viết chút ít. Họ vẫn giấu tiền mặt dưới chiếu... Nhữhg nhà lãnh đạo quốc gia đối với họ vẫn còn xa vời như là sấm sét từ trời cao. 
Vâng, dân chúng có thể huy động để xây đắp những công trình lớn bằng bắp thịt, mồ hôi, máu xương. Nhưng tinh thần của họ quá thụ động, chỉ bảo sao làm đó... Cái gánh nặng lãnh đạo Trung Hoa quá to lớn cho một cá nhân nào kham nổi. Sau bao năm nỗ lực, tôi cảm thấy như đang đi dự đám tang của mình - nghe thầm tiếng trầm trồ khe khẽ đằng sau miếng khăn tang thảm nạn. Một số ít chúng tôi leo lên được vị thế quyền lực phải tranh đấu, coi chừng nhau như kiến muốn ngồi trên mũi kim may, được mang đi với cả tỉ người vô hạn.
Không có gì cả! Mặc dù đã đá Khổng Tử, đã xài Marx, xài Lenin, cho đến giờ này và cả ngàn năm qua, Trung Hoa không có gì mới lạ cả.(95) 
“Không có gì mới lạ cả” vì Trung Hoa không chịu học Hàn Phi của chính mình mà lại đi tìm Marx-Lenin. Việt Nam cũng thế, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã bắt đầu một kỷ nguyên pháp trị xa xưa, nhưng rồi tinh thần cách mạng đó cũng bị xô dạt như số phận của người Tàu để rơi vào bến lạ “vô pháp, vô thiên” (không luật lệ, không đạo đức).
Nhưng chúng ta bắt đầu từ đâu?
Tháng 8/1990, tôi ngồi bên vỉa hè ở Sài Gòn uống rượu với bạn bè, ngâm thơ Bùi Giáng:  
Ôi con cháu của Sơn Hà
Của Thanh, Lạc, Lục, Phước, Hòa, Chan, Cơn
Thiêng liêng rất mực linh hồn
Các người hành lịch dặm mòn xa xôi
Về bên Chư phụ Thân rồi
Về quên định mệnh xưa người trần gian
Bên kia Lế Thế thẳm dòng
Mà không khát vọng hoài mong quay về?(96)
 
Tôi xúc động bởi hồn thơ, của lời gọi trở về lại bến bờ quê hương. Nhưng giống như như một cơn mưa bất chợt của miền Nam, tôi nhớ đến Nguyễn Huy Thiệp ở Hà Nội đã nói, “Một trong những thiếu sót lớn của các nhà văn hiện đại ở ta là họ chỉ hiểu biết sâu sắc dân tộc Việt... theo lối nghệ sĩ chứ không theo lối của một nhà tư tưởng.” Các nghệ sĩ chỉ biết bê tha và điên cuồng, như Bùi Giáng hiện nay, vì theo Thiệp, “chẳng qua vì họ đau xót nội tâm quá mà thôi.”(97)
 
Nhưng, chúng ta không thể tìm được gì, làm được gì khi cái phản ứng duy nhất của kẻ sĩ là thụ động, tiêu cực và đau thương bi đát, đó là chưa kể dành nhau “ngồi trên đỉnh nhọn của mũi kim.” Cái mà chúng ta, những người có trách nhiệm với Việt Nam hiện giờ và trong tương lai là phải lấy lại cái nội dung tư tưởng pháp trị mà tổ tiên ta đã khởi xướng để tạo một căn bản giá trị cho xã hội nhằm tạo cơ hội và phương tiện cho sự phát triển quốc gia. Nếu không, chúng ta vẫn mãi gậm nhấm cái mặc cảm tự tôn của kẻ sĩ khi nhìn xã hội “xấu xa quá”; đó là chưa kể đến có ngày sẽ phải uống ly thuốc độc của Lý Tư để mà phải chết đau thương.
 
_________________
1 Triết học về đạo đức quốc gia, trong truyền thống Tây phương có hai trường phái: [1] Trường phái Rousseau và Kant quan niệm dân chủ, pháp trị trong đó luật pháp là sự thể hiện của ý lực phổ quát và tổng thể (general and collective will) để thỏa mãn nhu cầu lịch sử mang phạm trù hành động của cá nhân để tổng hợp được một cơ chế tiến hóa giữa nhu cầu lý trí và ý thức trên căn bản kinh nghiệm của đời sống và thực tế xã hội; [2] Trong khi đó, Hegel, đại diện cho trường phái thứ hai, có căn bản của triết học Plato, đi xa hơn Kant và Rousseau, quan niệm cá nhân, với vai trò công dân, là bánh xe của Thượng đế, của Tinh Thần Tạo Hóa (“Geist”) phải phục vụ quốc gia, để tìm về với “Geist” để ý thức được về chính mình.
 
Hegel cho một nội dung và sứ mạng thần học trong vai trò quốc gia và cá nhân; trong khi đó Kant và Rousseau thì không. Tuy nhiên, về cản bản pháp trị, hai trường phái này, nếu bỏ ra ngoài phạm trù siêu hình, thì không có gì khác nhau.
Đăng nhập để trả lời
0