CHƯƠNG HAI
LUẬT PHÁP VÀ TRẬT TỰ XÃ HỘI
The problem of social order arises from a deep puzzlement one may experience about the very existence of society… Can we discern beneath the changing forms of association something basic to the social bond? (Vấn đề trật tự xã hội khởi lên từ một công án về kinh nghiệm của cá nhân về sự hiện hữu của xã hội… Liệu chúng ta có khám phá ra được một sợi dây nối kết, liên hợp căn bản của tất cả những hình thức tổ chức bất thường của con người?)
Roberto Unger (1976)
NGUYÊN TẮC TRẬT TỰ XÃ HỘI
Ý nghĩa thứ nhất: Luật pháp là nguyên tắc của trật tự xã hội khi ước vọng cá nhân luôn bị chìm ngập trong khuôn khổ mâu thuẫn trầm trọng từ bối cảnh xã hội. Từ thực tế và nhu cầu trật tự này chúng ta đối diện với một sự mâu thuẫn cơ bản: Tôi muốn tự do vô giới hạn; nhưng tôi không có quyền xâm phạm quyền tự do của người hàng xóm. Tiền đề tự do của tôi mang tích cực tính và phổ quát; trong khi tiền đề giới hạn của người hàng xóm mang tiêu cực tính và đặc thù. Sự mâu thuẫn giữa biên giới đặc thù, tiêu cực và phổ quát giữa cá nhân và tập thể tạo ra nhu cầu trật tự (order). Trật tự là “một hệ thống của điều lệ.”
(19) Nó còn bao gồm rộng lớn hơn: một cơ chế, cấu trúc cai quản mâu thuẫn, dàn xếp xung đột cho một đơn vị quần chúng. Luật pháp là một cơ chế trật tự xếp hành vi con người trong khuôn phép giả định.
Nhưng trật tự là một đơn vị năng động. Vì vậy, luật pháp là sự hành xử trật tự
(20). Hành xử trật tự là sự kiến tạo và thực thi nguyên tắc nhằm tạo nên đồng nhất tính và sự tương tự của hệ quả khi áp dụng những nguyên tắc đó. Benjamin Cardozo, một chánh án và một luật gia Hoa Kỳ, cho rằng, “giống như một tiến trình tạo hóa, luật pháp là nỗ lực đồng nhất hóa sự tiếp nối” (uniformity of succession).
(21)
Marx Weber, nhà xã hội học lừng danh của Đức, cũng nhận xét tương tự. Luật pháp là một hệ thống trật tự (order system) chứa đựng những “bảo đảm căn bản cho những khả năng giá trị thực nghiệm (empirical validity).
(22) Một luật gia khác của Đức, dùng lý luận của Immanuel Kant, phán xét rằng:
Giá trị của luật pháp căn cứ vào tính vững chắc mà nó chứa đựng. Đây là điều tối cần thiết cho lý tưởng pháp chế để từ đó mà sự ổn định khách quan được tái lập, trật tự được kiến tạo nhằm chấm dứt tiến trình tranh chấp toàn thể của con người. Từ đó, công lý là chủ đích thứ yếu của luật pháp vì cứu cánh khẩn cấp cho pháp chế chính là sự vững chắc, ổn định và trật tự xã hội.(23)
An ninh cho những điều kiện xã hội, hỗ trợ cho đổi thay trên nền tảng ổn định là mục tiêu gần nhất của luật pháp. Paul Vinosgradoff, trong cuốn
Common Sense in Law (
Những ý niệm bình dị trong pháp luật) nói: “Nếu tương quan với xã hội là điều phải có cho cá thể thì
trật tự là điều kiện cần thiết.”
(24) Nhu cầu khách quan của pháp luật giải phóng tính đặc thù cá nhân ra khỏi cảm nhận chủ quan để đi tìm những phương thức đồng nhất ngoài xã hội. Luật pháp phải chứa đựng khả năng dự đoán (predictability) và đồng đều (regularity). Nếu không, trật tự pháp lý khó có thể tạo dựng. Luật pháp bao hàm sự thông hiểu hành vi cá nhân với một tiền đề phổ quát bao gồm động cơ và hệ quả mà luật pháp, đến một mức nào đó, muốn giáo hóa và nung đúc cho cứu cánh xã hội. Luật pháp mang sứ mạng lớn: tổng quát hóa muôn mặt của đặc thù vốn hỗn độn và khó hiểu để xếp chúng thành những giả định phổ quát, đồng nhất, chuyển đạt đến cá nhân như vừa là mệnh lệnh vừa là khuyến dụ, nhằm mục đích tạo ổn định tình trạng chung. Dĩ nhiên, luật pháp không thể luôn luôn thành công trên sứ mạng này vì khoảng cách giữa thực tế năng động và sự ù lỳ của cơ cấu làm luật. Nhưng, chỉ có luật pháp là cơ chế xã hội đến gần với sự quy định giá trị đồng nhất cho hành vi con người.
Khi nói đến luật pháp là nguyên tắc của trật tự, tức là định nghĩa luật pháp như là sự tập hợp những khuôn phép, điều lệ cho cá nhân nhằm hiểu rõ cấu trúc xã hội đồng thời tiên đoán được chiều hướng phát triển của cấu trúc trên. Vì vậy, luật pháp vừa là tiêu chuẩn vừa là khí cụ kiến tạo ổn định.
Nhưng tại sao phải nhấn mạnh đến ổn định và trật tự?
Trật tự là điều kiện cần thiết cho cá nhân mưu cầu hạnh phúc. Trật tự giới hạn tâm tính, cuồng nhiệt và xúc động bao la của cá nhân. Trật tự cung cấp phương tiện cho kẻ có tham vọng và tài năng. Hơn nữa, dù có lý luận thần học cho rằng xã hội có trật tự tự nhiên, một điều hiển nhiên trước mắt và đối với bản thân chúng ta: rối loạn là bản chất xã hội. Rối loạn phá bỏ hiệu năng và hiệu quả của năng động con người vì cá nhân không còn biết chiều hướng tương lai để đầu tư năng lực, thời gian, tài trí, và vốn liếng. Ngay cả đối với nội tâm, con người cũng không còn tự tin và sự tiếp nối hiện hữu trong cát bụi vô trật tự. Rối loạn là điều kiện cho sụp đổ. Trật tự là điều kiện để xây dựng. Nhân loại ý thức được cái lý tưởng đầu tiên và khẩn cấp: trật tự.
Con người sinh ra và lớn lên đồng với thiên nhiên với những dục vọng sinh vật và năng động phức tạp. Tuy nhiên, con người, khác với các sinh vật khác, khi bị đối đầu với hoàn cảnh khó khăn khách quan thì hắn mang tư duy phi cá thể nhằm phân tích ngoại vật và tìm giải pháp bằng tri thức. Vì có khả năng cao hơn, bằng lý trí, con người nhận diện và thử thách bởi môi trường, mà vì với khả năng cao hơn này, con người phải nhận trách nhiệm hành vi cho chính mình. Nhân loại vẫn phải sống trong “luật” tạo hóa, thiên nhiên; tuy nhiên, phải hành xử sứ mạng của sinh vật có ý thức và phương tiện lý trí. Con người phải thỏa mãn nhu cầu sinh tồn đồng thời mở lối để hiện thực hóa khả năng của mình. Luật pháp là sản phẩm của sự sử dụng khả năng cao hơn này của nhân loại. Nó là khí cụ, kiến tạo bởi lý trí, trong ý thức trừu tượng qua kinh nghiệm. Luật pháp phát sinh cùng với con người và lớn lên với đơn vị của nhiều cá thể. Luật pháp là sự phản tỉnh đồng thời là sáng tạo để củng cố cái tiến trình hiện hữu khó khăn cho nhân loại. Luật pháp vừa giới hạn vừa mở rộng khả năng con người. Nó đặt tiêu chuẩn cho số đông và bắt cá nhân phải công nhận là hắn phải sống và hành xử trên căn bản số đông. Luật pháp bắt con người xa cái khuôn khổ nhỏ bé của cá nhân, xếp đặt lại tương quan mới. Cá nhân phải đương đầu với xã hội với những phức tạp của nó. Con người, qua luật pháp, đã giải quyết được căn bệnh của tài năng: thay vì khổ đau bởi vì được trang bị quá nhiều khí cụ trí thức, hắn đã chuyển hóa được sức mạnh này để tạo điều kiện khách quan nhằm giảm thiểu được khổ đau.
Luật pháp thiết lập trật tự bằng sự xác định tiền lệ khách quan (objective precedents), tiêu chuẩn đương thời (present norms) và điều kiện tiếp nối (determinate sequences). Luật pháp thể hiện ý chí cá nhân trong bản năng sinh tồn và mưu cầu hạnh phúc. Con người muốn quản trị khách quan bằng cách tổ chức xã hội thành một hệ thống khả dĩ có thể chủ động được. Với mục tiêu đó, con người cảm nhận hiện hữu (khổ đau), hiểu xã hội (phức tạp và vô trật tự), kiến trúc hình tượng để chủ động (hệ thống tương quan của các đơn vị) với ý thức và hy vọng rằng, từ đây, ta có thể giảm thiểu được khổ đau bằng cách tổ chức xã hội theo mô thức khách quan mà mọi đơn vị, cá thể khác biệt có thể chấp nhận, hòa giải trong ý thức trách nhiệm.
Ước vọng cho một trật tự khách quan bắt nguồn từ bốn động cơ chính của con người. Thứ nhất, phần lớn mọi tác động đều dựa trên kinh nghiệm hay thứ tự đã được sắp xếp. Thứ hai, con người muốn tiên đoán được hệ quả của tác động từ chính mình. Thứ ba, một yếu tố tâm lý tự nhiên quan trọng khác: sự thưởng ngoạn trật tự. Sự thưởng ngoạn âm nhạc, chẳng hạn, là sự thẩm nhận một trật tự nhân tạo được xếp đặt bởi kiến thức, ý lực và xúc cảm cá nhân. Cuối cùng, là sự cấu trúc tự nhiên của suy luận: trí thức luôn luôn được sáng tạo và phát triển theo sự suy diễn bởi ý niệm (conceptualization) và phân loại (classification).
Cá nhân sống theo thói quen. Chúng ta chứa đựng nhiều tính phản tiến (inertia) hơn là tác động sáng tạo (initiative). Xã hội cũng thế. Con người dễ dàng chịu đựng tình trạng có sẵn (status quo) mặc dù thay đổi có thể đem lại nhiều tốt đẹp. Sigmund Freud, nhà phân tâm học hàng đầu của Tây phương trong cuốn
Civilization and Its Discontents (
Văn minh và nỗi uẩn ức) cho rằng nỗi ước vọng cho một trật tự xã hội nằm sâu trong tiềm thức sinh vật tính của
con người. Đó là khát vọng tái lập lại thứ tự đã sẵn có. Do đó, con người muốn sống với xã hội có tổ chức vì trong đó kinh nghiệm giúp chúng ta biết được những gì có thể xảy ra
(25). Khuynh hướng của con người là tiết kiệm năng lực và tranh chấp – ngoại trừ hoàn cảnh không cho phép. Nếu cá nhân mỗi thời khắc của cuộc sống cứ phải đương đầu với bất thường và vô trật tự thì tiến bộ không thể hình thành được.
Cá nhân, hơn nữa, sống trực diện chọn lựa liên tục. Mỗi tác động đều được phát xuất từ động cơ tình cảm và ý thức. Trong một xã hội pháp trị, cá nhân được điều kiện hóa trong giới hạn luật pháp. Do đó, dù với đầy xúc cảm, nhưng với ý thức luật lệ, cá nhân dần dần được kềm chế một cách tự nhiên cảm tính vô giới hạn của mình. Từ sự xung đột giữa cảm tính và ý thức, cá nhân chọn lựa con đường giải quyết. Trong những vấn đề khác, đòi hỏi sự phân tích của lý trí, trật tự pháp lý cho thêm những yếu tố vào cán cân đo lường hậu quả để cá nhân chọn lựa. Khả năng dự đoán là cái vốn trí thức mới và cần thiết cho con người.
Hơn nữa, trật tự tạo nghệ thuật và khoa học. Nghệ thuật chuyên chở tình cảm qua phương tiện lý trí. Cũng chừng đó âm thanh, khi được phối trí theo suy tưởng, tạo ra âm nhạc; chừng đó màu sắc, phối trí theo tưởng tượng, tạo bức tranh. Chúng ta không thể thưởng ngoạn nghệ thuật nếu không có một khả năng lý trí để biết được nền tảng trật tự được xếp đặt bởi nghệ sĩ. Trên phương diện khoa học, trật tự lại càng quan trọng. Lịch sử khoa học là lịch sử của kinh nghiệm có trật tự. Kết quả khoa học mà con người thụ hưởng đã trở nên quá hiển nhiên đã trở thành vấn đề không cần tranh luận. Chính từ cái hiển nhiên đó tạo nên một bản tính cho con người: khoa học là tiêu chuẩn để đánh giá vì là nền tảng của tin tưởng. Hay nói rộng hơn, trật tự là nền tảng của suy luận.
Không ai có thể thoát khỏi phạm trù trật tự khi sử dụng lý trí. Cấu trúc tự nhiên của suy luận bao gồm một tiến trình dẫn từ điểm này tới điểm khác. Suy nghĩ phải có cấu trúc diễn đạt. Chúng ta không suy nghĩ nếu không có ngôn ngữ biểu tượng. Ý niệm chủ quan khách quan, phân loại ngoại vật là nền tảng của ý thức. Từ đó, con người cảm nhận ngoại vật bằng ý niệm trật tự. Trật tự ngoại giới như là một điều hiển nhiên. Vô trật tự là điều trái tự nhiên. Xã hội phải có trật tự. Liên hệ cá nhân phải có trật tự. Nghệ thuật, chính trị phải có trật tự. Từ trật tự, ý niệm hiện thực hóa cơ chế nảy sinh để thi hành ước vọng đó. Luật pháp bắt nguồn từ nguồn ước vọng tự nhiên này.
Benjamin Cardozo phối trí tư tưởng trên với định nghĩa rằng, “Luật pháp là sự diễn đạt một nguyên tắc trật tự mà theo đó cá nhân, đối với hành vi và liên hệ của họ trong xã hội, phải tuân theo”
(26). Nói rộng hơn, theo F.A. Hayek thì, “Bằng chữ ‘trật tự’ ta phải diễn đạt đó là một trạng thái trong đó nhiều yếu tố và thành phần được kết hợp trong một mức độ mà chúng ta có thể học được từ kinh nghiệm giới hạn và bé nhỏ để hòng hiểu được toàn thể.
(27)
Hiểu được toàn thể để làm gì? K.N. Llenwellyn cho rằng, “Công cụ của luật pháp, từ xương tủy, rất là căn bản và vĩnh cửu… Nó là một sự xếp đặt và cải hóa hành vi con người cho xã hội và tập thể có thể hành xử được năng lực chung để sống còn.
(28)
Năng lực chung đòi hỏi cơ chế quy dẫn khác biệt và hỗn loạn về mục tiêu tổng thể. Mục tiêu tổng thể này chứa đựng nội dung giá trị vốn quyết định bản chất chính trị quốc gia – và quan trọng hơn – mức độ tự do và trưởng thành của xã hội. Mục tiêu tổng thể đòi hỏi một mô thức trật tự nằm thỏa mãn nhu cầu chính trị và xã hội. Mô thức trật tự này là khối quy tắc cưỡng chế khách quan chứa đựng mức độ tự do và phạm trù tác động cho cá nhân trong mối tương quan với xã hội, phạm trù bổn phận và quyền lợi của công dân đối với chính quyền và quốc gia.
TRẬT TỰ NÀO?
Trách nhiệm đầu tiên và tối quan trọng của chính quyền là kiến tạo một trật tự chính trị và xã hội để thể hiện quyền lực. Nói như Emil Brunner thì, “Yếu tính (essence) của quốc gia không phải là công lý, mà là quyền lực. Một thể chế chính trị dù bất công nhưng nó vẫn là của quốc gia, nhưng nếu một thể chế bất lực thì không còn có khả năng của một quốc gia nữa”
(29). Trật tự chính trị là hệ thống cơ chế thể hiện nhu cầu đầu tiên của quốc gia: độc lập. Cộng đồng thế giới phải căn cứ trên một sự tổ chức của chính quyền, ngoài yếu tố lãnh thổ và công dân, để công nhận thế đứng đủ và cần thiết cho một quốc gia. Đây là sự thể hiện quyền lực khách quan. Nó đòi hỏi hai yếu tố: chính thống chính trị và khả năng độc lập. Chính thống quốc gia và nền tảng độc lập mang bản chất sức mạnh – quan trọng nhất là nhu cầu quốc phòng và đối ngoại.
Nhu cầu kế tiếp cho mục tiêu của trật tự chính trị là khả năng nội trị. Cơ chế chính quyền phải được kiến tạo, trật tự xã hội phải được thiết lập, nội dung hành chính công quyền và cấu trúc quản trị phải được hoàn chỉnh. Kế tiếp, cơ chế giải quyết mâu thuẫn và áp đặt giá trị khách quan và cưỡng chế của chính quyền phải được thiết kế. Đây là những giai đoạn căn bản của trật tự thể chế và tổ chức.
Giai đoạn kế tiếp là phát triển bản chất nội dung của trật tự chính trị. Nó bao gồm hai tiến trình: (1) từ bất công đến công lý, và (2) từ độc tài đến tự do. Hai tiến trình này có tính chất trộn lẫn và khó phân biệt. Tuy nhiên, vấn đề nội dung công lý của trật tự chính trị đòi hỏi nhiều yếu tố nhân văn, lịch sử, kinh tế và thời gian hơn. Một quốc gia có thể có một trật tự tương đối tự do nhưng lại rất bất công – tự do ở đây là tự do tiêu cực (negative freedom). Thực ra, công lý, mà trong đó công bình là một yếu tố, đòi hỏi nhiều giới hạn của tự do tiêu cực. Càng tự do tiêu cực thì công bình càng khó thực hiện. Tự do tích cực (positive freedom) là tự do cơ hội trong bối cảnh và cơ chế kiến tạo và cung cấp phương tiện cũng như tinh thần cho sự phát triển toàn diện của cá nhân và xã hội. Tự do tiêu cực là sự thiếu vắng cưỡng chế khách quan, thiếu quy luật và pháp chế.
Một quốc gia với thể chế chính trị độc tài, chuyên chế sẽ bóp nghẹt chiều hướng phát triển của tự do – cả tiêu cực lẫn tích cực. Chính trị độc tài giới hạn khả thể của tự do tích cực vì cơ hội chính trị cho công dân không được cung ứng thích hợp và rộng mở. Nó giới hạn phát triển nhân văn vì cá nhân không được bảo đảm những quyền hạn và an ninh tối thiểu để họ hành xử tự do. Chính trị độc tài là một khuôn mặt của chậm tiến và lạc hậu. Nó chỉ có sự cưỡng chế bạo lực về chính trị, quyền lực và ý thức hệ nhưng lại hoàn toàn bất lực về việc kiến tạo cơ chế pháp lý tích cực để quản trị xã hội cũng như tạo năng động cơ chế xã hội dân sự để công dân được tự quản, tự chế, và trưởng thành.
Đây là tình trạng ở Việt Nam bây giờ. Vì sự thiếu vắng của một guồng máy luật pháp hiệu năng và tích cực, năng lực cá nhân và xã hội đều bị hướng về tiêu cực tính mà nội dung đạo đức và áp lực làng xóm, láng giềng đã mất hết tất cả những khả năng can thiệp trước sự bất mãn chung về hoàn cảnh sống và thiếu hy vọng về những biện pháp cứu chữa. Đồng thời với thảm trạng này là tình trạng cơ chế hóa thối nát và bất công. Hối lộ, tham nhũng là tính thường nhật của cuộc sống, là chuyện đương nhiên, một hình thức thuế gián thâu và trực thâu, một lệ phí của quy tắc và giấy phép vì không có một chính sách và quy chế lệ phí và thuế khóa hiệu năng. Trước tất cả những tiêu cực tính này, mọi năng động tiến bộ tích cực đều bị kềm hãm. Không những thế, tình trạng này không còn ở thể hiện tượng nữa mà càng ngày càng trở nên tính bản chất của xã hội. Và thời gian, nó xói mòn giá trị biện minh và khả năng quyền lực quốc gia và chính quyền. Khi quyền lực quốc gia mà chỉ có sức mạnh thế giới và đối ngoại nhưng bất lực về vấn đề nội trị tích cực thì cán cân quyền hạn của chính quyền đã bị mất quân bình.
Ảnh hưởng lâu dài không những là sự giảm thiểu khả thi nội trị mà quốc gia còn mất dần sức mạnh đối ngoại khi chính quyền mất đi đạo đức tính của nó đối với thế giới văn minh và tiến bộ.
Nói như thế không có nghĩa là chính trị độc tài hoàn toàn mang tiêu cực tính. Khả năng cao nhất của nó là khả năng áp đặt trật tự và lề lối để bắt đầu một tiến trình tiến bộ và tiến hóa quân bình. Chính trị độc tài là thực tế của lịch sử mặc dù cao trào dân chủ đang lên cao ở giai đoạn này.
Điều quan trọng nhất là bản chất chuyển hướng của chính trị này:
Thứ nhất, thay đổi xã hội phải quân bình với sự nâng cao cơ hội phổ quát và rộng
mở, đồng đều cho quốc dân;
Thứ hai, bản chất công lý kinh tế phải được tiệm tiến phát huy để đưa đa số dân
chúng ra khỏi hoàn cảnh sống vật chất nghèo khổ, bóc lột, nô lệ và tăm tối;
Thứ ba, thể chế chính trị phải được tự cải tổ, hóa giải để bao gồm nhiều hơn những
thành phần khác nhau của xã hội;
Thứ tư, một thể chế pháp trị, thượng tôn pháp luật, bình đẳng trước pháp luật phải
được kiến tạo để dần dần thay thế cơ chế cá nhân và đảng trị;
Thứ năm, một tinh thần năng động xã hội mà trong đó công dân phải tích cực và sáng
tạo kiến thiết cơ chế tự quản qua cơ chế xã hội dân sự (nghiệp đoàn, hội đoàn chuyên môn, vô vụ lợi, từ thiện, truyền thông, địa phương, sở thích, giáo dục, thôn xóm…) để phát triển một hệ thống quyền lợi tranh chấp, mâu thuẫn trong bối cảnh tích cực và quân bình lẫn nhau trong tinh thần pháp luật và xây dựng.
Kinh nghiệm Tân Gia Ba, Nam Hàn, Đài Loan, Chí Lợi (Chile) từ 1960-1990 chứng tỏ rằng chính trị dân chủ đa nguyên là hệ quả của bản chất chuyển hướng ở trên. Chúng ta lên án chính trị độc tài không phải chỉ ở hiện trạng trước mắt mà phải nhấn mạnh đến khả năng chuyển hướng của thế chế chính trị này. Cái tệ hại của chính trị Cộng sản theo mô thức Marx-Lenin-Stalin là sự bóp nghẹt cơ hội chuyển hướng. Trung Hoa và Việt Nam đang cố gắng mở lối để giải quyết vấn nạn kinh tế mà thôi trong khi không muốn và không có khả năng giải quyết những nhu cầu chuyển hướng khác - đặc biệt là chính trị - đã và đang tạo ra những khó khăn ngập đầu khác. Chính thống và biện minh của chính trị độc tài có thể được thỏa mãn tương đối và ngắn hạn nếu nhu cầu hoàn cảnh (chậm tiến, lạc hậu, vô tổ chức) đòi hỏi – với điều kiện cơ hội kinh tế được mở rộng và đời sống vật chất được nâng cao. Nên nhớ rằng truyền thống chuyên chính của các chế độ vua chúa Trung Hoa và Việt Nam chưa bao giờ bị thử thách trên căn bản biện minh và chính thống cơ chế, cho đến thế kỷ XX này mà thôi.
Làn sóng văn minh và văn hóa chính trị dân chủ của Tây phương sẽ không giải quyết vấn nạn tiến hóa của nhân loại, và Đông phương cũng chẳng nên bắt chước, nếu không chứa đựng được văn hóa pháp trị. Chuyển hướng chính trị từ chuyên chính vương quyền đến đảng trị, sang dân chủ pháp trị, là tiến trình chuyển hướng của bản chất cưỡng chế từ cá nhân, đến thiểu số và ý thức hệ sang với khả năng tự chế trên căn bản đồng thuận và lý trí. Đây là chuyển hướng của bản chất trật tự cơ chế: Từ bất công đến công lý; từ độc tài đến tự do.
TRẬT TỰ PHÁP CHẾ CHO VIỆT NAM
Luật pháp hành xử trật tự bằng sự kiến tạo giá trị cưỡng chế và tiêu chuẩn ước vọng. Luật pháp duy trì sự liên tục của cán cân quân bình để xã hội tiến hóa. Cái khó của chức năng trật tự là ở vị trí tự điều chỉnh cơ chế và giá trị pháp lý trong giai đoạn chuyển động tiến bộ của đại khối công dân trước lịch sử. Giá trị nào là tinh hoa cần phải duy trì, bảo tồn trước sự đào thải chung khi ý thức nhân văn mới mang tính phổ cập và toàn cầu đang phát huy đến cao độ và được chấp nhận rộng rãi? Không những thế, khi quốc gia bước vào ngưỡng cửa của thời đại mới, những khối quần chúng sẽ tiếp nhận những khuôn thước và phạm trù giá trị khác nhau. Chúng ta hãy nhìn vào Việt Nam ở giai đoạn cuối thế kỷ XX này để đánh giá tổng quan về sứ mạng hành xử trật tự của một cơ chế pháp trị cho quốc gia.
GIỮA PHÉP VUA VÀ LỆ LÀNG
“Phép vua” là luật pháp quốc gia, nếu chúng ta diễn nghĩa rộng và cập nhật hóa. “Lệ
làng” là tập tục địa phương. “Phép vua thua lệ làng” là sự ưu tiên cưỡng chế của giá trị và tập tục địa phương trên phép nước đối với một vấn đề trước mắt. Đây là mối tương quan của trật tự xã hội phong kiến. “Phép vua thua lệ làng” nói lên bản chất thiếu vắng “pháp trị” đối với dân làng. Dân làng không sống với cảm nhận và tư cách công dân – ý thức “quốc dân” – của một quốc gia. Họ chỉ thấy mình là một dân cư có tính chất địa phương độc lập cao độ đối với cơ chế quốc gia.
Luật pháp, nếu đó là khí cụ chính trị và cai quản để kiến tạo trật tự xã hội, mang tính chất cưỡng bách từ trung ương, từ chính quyền. Mục tiêu cao nhất của chính trị là tạo một sự ổn định để quyền lực cai quản có thể được thực thi. Chính quyền quốc gia đóng vai trò giám thị trong một tập thể quần chúng không ai chịu nhường ai. Tôn giáo, thôn xóm, thứ bậc gia đình, truyền thống dần dần phải nhường cái thước khuôn khổ và kỷ luật cho luật pháp quốc gia. Đây là điều không thể tránh được. Những xã hội nào không quản trị được tiến trình thay đổi này đều rơi vào nguy cơ hỗn loạn, đổ vỡ. Cái mâu thuẫn giữa “phép vua” và “lệ làng” mang bản chất mâu thuẫn tập tục, địa phương đối với toàn thể, của khối quyền lợi tiểu vi đối quyền lợi chung. Trước bối cảnh này, khi hành xử thước khuôn khổ và trật tự, chính quyền trung ương phải có khả năng cơ chế để dàn xếp một hệ thống giá trị tổng thể phản ánh được quyền lợi và giá trị quốc gia, trong khi vẫn linh động bảo tồn những giá trị làng mạc, thôn xóm.
Sự hình thành của luật pháp – chúng ta hãy nói đến một bộ luật cho một vấn đề – là sự kiến tạo cơ chế trong bối cảnh ý thức về một nhu cầu thiết yếu. Nhưng bản sắc của bộ luật này thường được quyết định bởi thiểu số. Thiểu số này là đơn vị quyền lực đại diện cho một giai tầng, một phe nhóm, một thế đứng nào đó. Trong các thể chế chính trị dân chủ rộng mở, các khối này áp lực, vận dụng thế lực của mình để biến diễn đàn giá trị và quyền lợi của họ trở nên khuôn khổ pháp lý quốc gia. Vấn đề này là hiện tượng chung. Vai trò lãnh đạo quốc gia là hòa hợp được những áp lực quyền lợi và giá trị này để duy trì vị thế tổng thể của quốc gia phục vụ quyền lợi và giá trị chung cho toàn thể khối quốc gia. Luật pháp quốc gia vẫn còn phải đối nghịch với tục lệ địa phương trong xã hội nông nghiệp nặng về truyền thống và còn chậm tiến trên mọi phương diện. Cái khó của luật pháp là hòa giải được, hiện thực hóa được những giá trị tập tục trong chiều hướng quyền lợi và quyền hạn quốc gia và nhu cầu chung của tổng thể quốc dân. Do đó, mô hình lý tưởng của luật pháp là một hệ thống quy tắc thể hiện giá trị phổ quát của xã hội mà vẫn duy trì những nét độc đáo của làng mạc thôn xóm. Đây là “phép vua” căn cứ trên “lệ làng” để tránh cảnh tranh chấp thua-hơn. Nhưng lý tưởng này không phải luôn được thể hiện.
Tục lệ hàng xóm đôi khi mang những bản chất thái quá mà quốc dân muốn vượt qua. Ngay cả trong làng xóm đó, tục lệ là sự áp đặt quá khứ lên trên năng động tiến bộ và chuyến hướng của thế hệ mới. Ví dụ tục gả con gái lớn tuổi cho một chú bé trai và bắt người con gái này nuôi nấng người chồng tương lai này cả hai mươi năm. Đây là một sự bóc lột nhân phẩm người phụ nữ đến tột cùng mà nhân danh giá trị nhân bản, luật pháp quốc gia phải cấm đoán hiện tượng tục lệ này. Hay là hiện tượng kỵ giỗ, đình đám, xôi thịt ở ngoài Trung và Bắc. Nhiều gia đình suốt năm thì không đủ ăn mà phải lo hằng chục thứ kỵ giỗ để bà con kéo chiếu trên, xô chiếu dưới. Hay nạn đám tang, ngay cả những người chết bị chết bởi bệnh truyền nhiễm, với trò mổ heo, mổ bò, ăn uống tưng bừng như ngày hội, bắt con cháu mặc đồ tang, bò lăn ra giữa đất khóc theo tiếng kèn, nhịp trống, khát khô cả cổ họng, trong khi mấy ông già mặc khăn đóng áo dài, ngồi trên chiếu phất phơ quạt mo, khen chê tiếng khóc. Hay là tục lệ “cao nấm, ấm mồ” để rồi những thửa ruộng phì nhiêu phải bị dùng để chôn cất bằng một nấm mồ thật to, hủy hoại luôn cả thửa đất vốn rất hiếm. Vấn đề là sự chuyến hóa ý thức cũng như một tiêu chuẩn giá trị khách quan nhằm đánh thức dân làng, nhất là giới trẻ, trước những khốn nạn của cổ tục làng xóm.
Luật pháp phải có khả năng giải quyết những vấn nạn mâu thuẫn này, vì nếu không, thì bạo lực, áp chế từ chính quyền trung ương độc tài sẽ lấy biện minh tiến bộ để thực thi diễn đàn xã hội của họ. Trường hợp chính quyền Cộng sản Việt Nam đối với những cổ tục địa phương chỉ được thể hiện bằng cưỡng chế chính sách nhiều lúc quá khích. Vấn đề là ở mức độ. Sự chuyển hướng về một cơ chế pháp trị có hiệu năng đương đầu với hoàn cảnh này đòi hỏi thời gian, bối cảnh chính trị, và quan trọng nhất là sự trưởng thành của ý thức quần chúng.
Một vấn đề khác nữa là luật pháp phải cung cấp cơ chế để ý dân được thể hiện. Nếu luật pháp cấm cản dân làng không được mổ heo bò ăn uống trong các dịp đám tang thì dân làng sẽ phản ứng như thế nào? Ai làm ra luật đó? Cơ chế và thủ tục lập pháp có cho dân làng được thể hiện ước vọng của họ? Liệu chính quyền phải đóng vai trò cha già làm luật cho dân vì muốn lo cho dân, coi dân như đám con cháu chưa biết mình muốn cái gì? Và còn cơ chế cưỡng bách? Nếu dân làng cứ nhe răng ra cười vào luật pháp quốc gia và cứ khua chiêng múa trống mổ heo, giết bò ăn uống linh đình để đưa đám, liệu chi nhánh công lý, pháp chế địa phương có khả năng thi hành luật pháp, trừng phạt hay cấm cản dân làng? Lãnh đạo chính trị và hành chánh phải sẵn sàng tiên phong, khéo léo sử dụng cơ chế chính trị dân chủ để kiến tạo những bộ luật thích hợp nhằm nâng đời sống dân quê lên một mức độ văn minh có thể chấp nhận được. Thoạt đầu dân chúng có thể phản đối, nhưng dần dần thì giá trị phổ quát của quốc dân và quốc gia cũng sẽ chinh phục được họ. Trường hợp Hoa Kỳ với các đạo luật dân quyền ở thập niên 1960-70 hay ở Ấn Độ với bộ luật bình đẳng giai cấp đối với truyền thống đẳng cấp (caste system) thời 1950-60 chứng tỏ sự ưu thắng của giá trị phổ quát quốc gia lên trên niềm tin và giá trị cổ tục địa phương.
Luật pháp còn đóng một vai trò khác trừu tượng và quan trọng hơn nữa. Nó nâng cá nhân ra khỏi khuôn khổ nhỏ hẹp của địa phương, của truyền thống, của giai cấp để biến họ thành một đơn vị trừu tượng mới. Đó là tư thế công dân của một quốc gia: quốc dân. Khi nền kinh tế nông nghiệp cổ truyền đã được chuyển hóa qua một giai đoạn công nghiệp cao hơn, gốc rễ của xã hội, của tục lệ phải lung lay. Cá nhân mới sẽ cảm thấy bất lực và thua thiệt nếu cứ bám vào truyền thống để đối chọi với nặng lực thời đại. Vấn đề di dân sẽ xảy ra. Thành thị sẽ trở nên những trung tâm sinh hoạt chính và quan trọng hơn. Thế hệ mới sẽ hấp thụ giáo dục mới, sẽ làm chủ đổi thay. Người phụ nữ trong làng mạc Việt Nam, vốn là nạn nhân của truyền thống Việt Nam cũng sẽ ý thức được vai trò của họ, để gióng lên tiếng nói của mình, để đấu tranh cho một chỗ đứng bình quyền trước luật pháp, hơn là suốt ngày bị mẹ chồng, em dâu ức hiếp, bị chồng đánh đập, làm việc như nô lệ, lại đẻ một bầy con nheo nhóc.
Thời đại “phép vua thua lệ làng” là giai đoạn bất lực của chính quyền quốc gia, của vua chúa cai trị trong cái ý niệm “thiên tử” mơ hồ, thiếu khả năng cai quản và hành xử vai trò quốc gia đối với tập thể quốc dân. Phải đến lúc Việt Nam phải vượt qua cái ngõ hẹp của tình trạng thiếu hiệu năng này. Phép nước (luật pháp) phải thể hiện được lệ làng trên một căn bản hòa giải, hợp lý và tổng thể. Làng xóm phải bị chi phối và cai quản bởi cơ chế và nội dung pháp lý quốc gia. Trật tự làng xóm phải nằm trong trật tự chung của quốc gia và ngược lại. Công lý phải thể hiện được bối cảnh chung trong tinh thần tôn trọng những cá biệt đến một mức độ cần thiết. (Mặc dù làng mạc, thôn xóm là những cấu trúc xã hội tách biệt và ù lỳ, đầy tục lệ lỗi thời và áp lực. Tuy nhiên, làng mạc Việt Nam là những cấu trúc xã hội dân sự cần thiết cho nền tàng xã hội chung, bảo đảm được ngay cả sự sống còn của quốc gia. Lịch sử của Việt Nam đã cho thấy điều này: Nếu không có làng xóm thì quốc gia Việt Nam đã bị hủy thể dưới các thời ngoại trị. Vấn đề ở đây không phải là từ chối cơ chế và cấu trúc làng xóm. Trái lại, có những yếu tính tổ chức và sinh hoạt có yếu tính dân sự cần phải được phát huy như tình tương thân, tương ái, hội hè thể thao… Nhưng vấn đề là luật pháp quốc gia phải mang tính ưu tiên và hiệu năng đối với làng xóm Việt Nam. (Xin xem chương
Luật pháp và Quốc gia.)
GIỮA MIỀN, VÙNG VÀ ĐỊA PHƯƠNG
Sự khác biệt về cá tính và nhân văn giữa người Việt mang nặng yếu tố địa phương còn cao hơn là giữa tôn giáo, giai cấp, hay cả trình độ giáo dục. Bạn hãy cho tôi biết bạn sinh ra và lớn lên ở đâu, cha mẹ từ tỉnh nào thì tôi sẽ biết được nhiều căn bản cá tánh và triết lý cuộc đời của bạn. Điều này có thể hơi quá đáng, nhưng đây là nhận định chung thường nhật chưa hề được cơ cấu hóa, chính thức hóa bằng khoa học xã hội. Câu hỏi phải được đặt ra ở đây là sự khác biệt này có gây một trở ngại nào cho nhu cầu pháp trị cho Việt Nam hay không? Câu trả lời, theo tôi, là không có vấn đề nào trầm trọng cả.
Nguyên nhân của nạn kỳ thị địa phương Bắc, Nam, Trung phát xuất từ sự khác biệt cá tính, nhân văn và lịch sử đô hộ từ thời Pháp thuộc. Tuy nhiên, xét về phương diện xã hội thì đây không phải là một tệ trạng đáng kể. Về phạm trù chính trị và hội đoàn, thì sự kết tụ phe nhóm, đoàn thể thường mang khuynh hướng địa phương và những vấn đề tự nhiên của những người có cùng giọng nói, cùng cá tính, thường gần gũi với nhau. Người Bắc, theo cảm nhận thông thường, thì “khéo nói,” người Trung thì “chịu khó,” người Nam thì “xuề xòa.” Những sự khác biệt này không mang tính chất hận thù mà các dân tộc khác thường gặp phải. Trên tiến trình lâu dài, sự phân biệt địa phương (hơn là nạn kỳ thị) sẽ mất dần khi xã hội và chính trị thực thi chức năng ít thiên về căn bản cá nhân mà nặng về cơ chế và pháp lý vượt qua khỏi yếu tố duy con người.
Sự tiến hóa nhân văn của nhân loại đi từ đặc thù địa phương đến phổ cập toàn cầu. Khi đất nước chưa được mở mang, cơ hội giáo dục chưa đồng đều, ý thức công dân chưa lên cao, phương tiện truyền thông chưa phổ quát thì địa phương tính là hệ quả tự nhiên của hoàn cảnh sống vốn bị chi phối bởi yếu tố địa lý. Cơ chế pháp luật đóng một vai trò quan trọng trong chiều hướng tiến hóa này. Luật pháp khi cấm cản kỳ thị địa phương trên các lãnh vực nghề nghiệp, giáo dục, kinh doanh sẽ gây ý thức tích cực về căn bệnh chậm tiến của nạn kỳ thị. Công dân sẽ nhân danh luật pháp như là giá trị tối cao để đối chọi với hoàn cảnh mà họ là nạn nhân. Lịch sử phong trào dân quyền của người Mỹ da đen là tiến trình gây ý thức tích cực về ý niệm bình đẳng bằng cách kiến tạo tiêu chuẩn pháp lý cưỡng bách.
Ngoài vấn đề kỳ thị, phân biệt, pháp luật còn phải đương đầu với phạm trù cơ chế và văn hóa của từng vùng. Cấu trúc tổ chức, nhân sự và nội dung pháp lý quốc gia phải linh động thích hợp với địa phương. Quan trọng hơn là phải cho địa phương cơ hội cơ chế và thẩm quyền để tự giải quyết sự khác biệt có tính cách hạn hẹp trong từng giới hạn địa lý. Khi nền kinh tế quốc gia phát triển, cơ hội lao động công nghiệp được rộng mở, thành phần sản xuất nông nghiệp vốn mang bản sắc địa phương sẽ di cư về thành phố, về các vùng nhiều công ăn việc làm, tạo nên giao lưu mới về giá trị để rồi dần dần yếu tố phổ cập quốc gia sẽ có sức mạnh hoán chuyển giá trị, đem con người vượt qua tầm nhìn vấn đề có tính chất địa phương. Chính những thành phần năng động cao sẽ dần chủ động tiến trình pháp chế hóa những tiêu chuẩn liên hệ và giá trị liên vùng địa phương.
Luật pháp giúp đưa người địa phương ra khỏi lũy tre xanh của mình khi họ đối đầu và sống trong những tiêu chuẩn mới mang nhiều khách quan tính của lý trí. Nó giúp con người, trong tiến trình, xóa bỏ những đặc thù quá nhiều yếu tính địa phương. Luật pháp đóng góp cho sự trưởng thành chung của văn hóa cho tầng lớp quảng đại quần chúng để đem họ lên với phạm trù của lý trí – nhất là khi cơ chế pháp trị đặt mỗi công dân trong vị thế của một bồi thẩm đoàn trong một vụ án xét xử trên tiêu chuẩn pháp chế quốc gia.
Tuy nhiên, luật pháp quốc gia phải được kiến tạo trên căn bản thể hiện được ước vọng chung cho từng vùng, từng địa phương. Cơ chế chính trị mà hiến pháp quốc gia phân định phải được xây dựng để cho tiếng nói của từng địa phương, từng miền, vùng có cơ hội được đồng đều thể hiện và tham dự tích cực. Quan trọng nhất là cơ chế đầu phiếu.
Khu vực cử tri phải được phân chia để thành phần quốc hội lập pháp thể hiện được đặc thái khác biệt của địa phương. Sự khác biệt rõ ràng nhất là giữa thôn quê và thành thị. Nếu không phân chia làn ranh cử tri tỉnh-quê rõ rệt thì trong các kỳ bầu cử, các thành phần ứng viên đều bắt nguồn từ thành phố, từ các giai tầng năng động, thế lực giàu có. Tuy nhiên, bản chất quyền lợi và tính cách đại diện giữa thị xã và thôn quê vốn rất khác biệt và nhiều lúc mâu thuẫn lẫn nhau. Bản chất kinh tế thôn quê là làng mạc và làng xóm; trái lại thành phố là công nghiệp, kinh doanh. Do đó, biên giới cử tri – như nguyên tắc
voter districting của Hoa Kỳ – phải được thiết kế để phản ảnh được sự khác biệt căn bản này để đại đa số quần chúng nông thôn nghèo khổ, xa xôi, ít thế lực có được tiếng nói của mình ở các cơ chế chính trị dân cử từ địa phương đến trung ương.
Luật pháp đem con người ra khỏi phạm trù địa phương tính bằng cách cống hiến cơ hội cho họ ý thức được những viễn kiến lớn hơn, từ chính trị, văn hóa cho đến kinh tế và quản trị. Cơ hội này là cơ chế chính trị tích cực để họ tham gia vào công trình kiến tạo nền tảng pháp chế tự trị, tự quản. Bạn phải làm ra những quy tắc, những quy luật cưỡng chế cho chính bạn mà bạn phải sống và chịu sự cưỡng chế này vì đã đến lúc bạn trưởng thành rồi, không ai còn lo cho bạn nữa. “Thiên tử” đã về trời, “Đảng và nhà nước ta” cũng đã không còn, “mẫu quốc” và “đồng minh” cũng đã biến mất, chỉ còn lại chính mình trong ý thức quốc dân và dân tộc, để mà phải tự chế, tự quản, tự tồn, tự tiến.
Cơ hội chính trị để xây dựng pháp chế và ngược lại là cơ hội được thể hiện tiếng nói và được lắng nghe cũng như quyền tiếp nhận truyền thông. Đây là bản chất của ước vọng được tiến thân đồng đều. Guồng máy chính trị là khí cụ của pháp luật - hiến pháp - để thể hiện ước vọng chung này. Luật pháp quyết định trật tự chính trị bằng đường lối phát huy năng động của cơ hội đồng đều cho công dân. Năng lực chính trị và kinh tế là động cơ tiến bộ của quốc gia và xã hội. Trật tự chính trị phải thể hiện và đáp ứng năng động này bằng tiến trình quân bình hóa những mâu thuẫn quyền lợi tự nhiên của tập thể quốc dân – mà mâu thuẫn và khác biệt địa phương là một yếu tố quan trọng trong tình trạng chậm tiến của xã hội và chính trị Việt Nam hiện nay.
GIỮA CÁC TÔN GIÁO
Sự mâu thuẫn giữa các khối quần chúng trên căn bản tôn giáo và mức độ liên hệ là một biến số của trình độ văn hóa xã hội và cơ chế chính trị. Không có gì làm cho con người cực đoan và cuồng nhiệt hơn là tình cảm tôn giáo. Càng chậm tiến thì mức độ cuồng tín càng cao, mâu thuẫn tôn giáo càng lớn. Các quốc gia chậm tiến thường bị những vấn nạn tôn giáo tầm trọng – như trường hợp Trung Đông. Tuy nhiên, ở Ái Nhĩ Lan (Ireland) sự xung đột tôn giáo giữa hai phái Công giáo La mã và Tin lành cũng không kém phần đẫm máu và khốc liệt mặc dù xứ này được coi là văn minh, tiền tiến. Ở Ái Nhĩ lan, yếu tố lịch sử và cơ chế chính trị địa phương đóng vai trò lớn hơn là tình cảm tôn giáo trong vấn đề tranh chấp. Nó khác biệt với sự mâu thuẫn giữa quần chúng Hồi giáo và Ấn Độ giáo. Đối với những tranh chấp trầm trọng, luật pháp gần như phải bó tay. Khi cuồng nộ đã vỡ bờ, súng đạn đã nổ, máu thịt đã rơi thì luật pháp chỉ còn là khối trừu tượng cho ước vọng mà thôi.
Đối với Việt Nam, mâu thuẫn tôn giáo không có mầm mống nổ tung ngòi như các nơi khác, mặc dù dân Việt Nam cũng cuồng tín như các dân tộc chậm tiến khác. Lý do đầu tiên là yếu tố “đồng bào”: Điều này có vẻ lý tưởng và trừu tượng. Tuy nhiên cái niềm tin của gốc rễ giống nòi đã tạo nên những cái nhìn tương đồng về nhân sinh quan dù tình cảm thái độ đôi khi làm họ trở nên cuồng nhiệt quá mức. Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo chưa bao giờ tranh chấp nhau vì yếu tố triết học dung hòa và tương đồng. Yếu tố chính trị cũng như lịch sử của ba tôn giáo này cũng chưa bao giờ là yếu tố mâu thuẫn trầm trọng. Còn Công giáo La mã, Tin lành, Cao đài và Hòa hảo thì chỉ mới du nhập hoặc khai sinh gần đây mà thôi. Tuy vậy, Công giáo và Phật giáo mang yếu tính mâu thuẫn cao nhất trên các yếu tố triết học, con người và lịch sử. Tuy nhiên, mâu thuẫn này chưa trở nên “nợ nần” của máu xương để sự cuồng nhiệt trở nên hận thù khó hòa hoãn. Phần lớn những người Công giáo Việt Nam đều có bà con, họ hàng hay ngay cả chính mình, là gốc Phật giáo. Đã có lúc vấn đề chính trị như thời chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam đã tạo nên những mầm mống khủng hoảng giữa Phật giáo và Công giáo; nhưng may mắn là mức độ chưa có trầm trọng. Thời chính quyền Cộng sản thì cả hai tôn giáo đều ít nhiều trên một số phương diện là nạn nhân. Giai đoạn hậu Cộng sản, khi mà năng động tôn giáo của quần chúng được mở tung dưới cơ chế chính trị mới, thì mâu thuẫn tôn giáo giữa Công giáo và Phật giáo lại có thể bị khơi động. Câu hỏi ở đây: Luật pháp làm được gì để giải hóa mâu thuẫn này?
Phần lớn bản chất mâu thuẫn giữa Phật giáo và Công giáo ở Việt Nam có nguồn gốc chính trị. Luật pháp có thể ngăn chặn và hóa giải mâu thuẫn này bằng các nguyên tắc pháp chế sau:
* Phân cách tôn giáo và chính quyền: Tức là áp dụng nguyên tắc hiến pháp Hoa Kỳ
“
the seperation of church and state”. Chính quyền không được nhúng tay vào hai vế, (1) cấm cản, kỳ thị, hay (2) giúp đỡ, đóng góp vào quyền hành xử tự do tín ngưỡng và phát huy tôn giáo của dân chúng. Áp dụng được nguyên tắc này đòi hỏi lãnh đạo chính trị nghiêm chỉnh và một cơ chế luật pháp vững vàng.
* Kiến tạo nguyên tắc giá trị cưỡng chế để tạo áp lực khách quan và đồng thời gây ý thức về căn bệnh này.
* Thiết kế nguồn gốc cơ chế chính trị và cơ cấu chính quyền để mọi công dân đều có cơ hội đồng đều được thực sự đại diện và thể hiện ước vọng và tiếng nói của họ, nhất là từ các phía quần chúng có tôn giáo khác nhau.
* Nội dung pháp chế phải thể hiện giá trị quân bình, phổ cập hơn là thành kiến hay giá trị đặc thù của một tôn giáo. Ví dụ quan điểm về vấn đề ly dị của Công giáo La Ma, hay vấn đề ăn chay của Phật giáo, phải không được độc tôn về giá trị khi kiến tạo những bộ luật liên hệ.
Dĩ nhiên, pháp luật không thể chỉ mình nó giải quyết được vấn nạn. Khi văn hóa, xã hội đã được tiến hóa lên đến giai đoạn trưởng thành và thượng tôn lý trí thì mâu thuẫn tôn giáo chỉ còn là một bóng mờ, một “chú thích” của lịch sử mà thôi. Vai trò của pháp luật là chức năng quân bình hóa bằng nguyên tắc và giá trị của tự chế và lý trí để dân tộc ta có cơ hội trưởng thành lên khỏi tình trạng niên thiếu hiện giờ.
GIỮA CÁC SẮC DÂN
Dân Kinh, vì con số, cộng với nhiều yếu tố khác, chiếm ngự hết cả các khuôn mặt sinh hoạt của quốc gia Việt Nam. Các thiểu số dân miền núi cao nguyên như người Thượng, người Nùng, người Thái thì con số quá ít ỏi. Người Chàm ở duyên hải Trung Nam phần cũng vậy.
Chỉ có người Việt gốc Hoa là vấn đề duy nhất của vấn đề dân tộc thiểu số cho chính trị và luật pháp Việt Nam. Người Hoa kiều là một thiểu số mang nặng yếu tính văn hóa Trung Hoa, khó mà được Việt hóa hoàn toàn, có khả năng kinh doanh lớn. Thời 1975-85, họ đã bị bạc đãi và một số lớn bị trục xuất ra khỏi Việt Nam. Nhưng sức mạnh cộng đồng thiểu số cả về văn hóa lẫn kinh tế vẫn còn mạnh mẽ cho đến hiện giờ và sẽ còn tiếp tục trong tương lai.
Cộng đồng Hoa kiều không có ảnh hưởng gì nhiều đến chính trị quốc gia ngoại trừ một vài vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi kinh doanh của họ. Ví dụ, thời trước 1975, chức quận trưởng, bao gồm khu Chợ Lớn, Sài Gòn đã bao lần bị chi phối bởi ảnh hưởng tài phiệt của người Hoa kiều ở đó. Người Hoa kiều mang năng động tích cực và có khả năng cao về phương diện kinh doanh. Tánh tình thì tương đối hiền lành và trọng chữ tín (theo cảm nhận thông thường) hơn là người Việt Kinh. Người Hoa kiều có hai quan tâm lớn: Kinh doanh và sống trong văn hóa Trung Hoa.
Từ đó, luật pháp có thể đóng vai trò tích cực cho vị thế của dân Hoa kiều mà không có vấn đề nào đặc biệt cả. Một cơ chế pháp trị bảo đảm được quyền tự do kinh doanh, văn hóa, và tạo cơ hội đồng đều về chính trị cho tất cả mọi sắc dân và khối quần chúng sẽ giải quyết hầu hết mọi vấn đề.
Tuy nhiên, người Hoa kiều phải được khuyến khích về với ý thức và nề nếp sinh hoạt quốc dân Việt Nam hơn là cứ mãi quanh co trong phố Tàu, Chợ Lớn. Muốn được thế, phải có một chính sách và cơ chế kinh tế tạo cơ hội và năng động tham gia vào sinh hoạt chung với người Việt mà không bị mặc cảm thiểu số hay thua thiệt. Ngoài ra, luật kinh doanh và hình luật đối với các tệ trạng kinh doanh như đầu cơ, tích trữ, cạnh tranh bất công cũng là những vấn đề giúp người Hoa kiều bước vào văn hóa pháp trị để đóng góp xây dựng trật tự chính trị và xã hội Việt Nam đa dạng, bao gồm và rộng mở.
Chúng ta thấy người Hoa, gốc Minh Hương, đã đóng góp to lớn như thế nào cho sự phát triển kinh tế và xã hội cho các tỉnh miền Tây Nam. Khác với người Hoa ở Chợ lớn, người Việt gốc Hoa ở vùng sông Cửu Long nhận diện họ là người Việt gần như hoàn toàn. Chính là sự rộng mở về văn hóa, tinh thần và cơ hội kinh tế mà sự Việt hóa của người gốc Hoa đã thành công đến mức khả quan. Trong khi đó, các khối dân gốc Khmer ở các tỉnh miền Tây, vì nhiều lý dovăn hóa và kinh tế khác, vẫn còn mang đậm sắc thái người Miên và họ vẫn chưa coi chính họ là công dân Việt Nam một cách cao độ.
TRẬT TỰ HÀNH CHÍNH VÀ CÔNG QUYỀN
Khả năng và bản chất cơ chế quốc gia thể hiện qua trật tự hành chính công quyền. Ấn tượng đầu tiên của một du khách bước xuống phi cảng của một quốc gia là khả năng và thái độ hành xử quyền hạn tối cao quốc gia (national sovereignty) bởi nhân viên quan thuế qua thủ tục nhập cảnh. Cũng thế, cảm tình chính trị cho một chế độ bắt đầu khi người nông dân đến với trụ sở hành chính công quyền địa phương để giải quyết một vài thủ tục giấy tờ căn bản. Tây phương có câu “God is in the details” (Thượng đế thể hiện qua chi tiết) là vậy. Lý tưởng quốc gia và khả năng theo đuổi của tập thể chính quyền phải được thể hiện qua chi tiết hành chính. Giải quyết nhu cầu hành chính tiểu vi (micro-administration) là hoàn tất từng giai đoạn của trật tự công quyền. Bác đạp xích lô không hề biết và không cần biết những trừu tượng của quyền hạn công dân; nhưng bác chắc chắn biết đến lề lối phép tắc của thủ tục giấy phép hành nghề, quy tắc lưu thông, tư cách và thái độ của nhân viên công sở, cảnh sát công lộ, an ninh địa phương. Tất cả những tất cả đó tích lũy tạo nên tổng thể chính trị và công quyền, thể hiện được bản chất công lý, trật tự và mức độ tự do cho quốc dân.
Chức năng của cơ chế hành chính là thi hành chính sách và luật pháp quốc gia từ trung ương đến địa phương. Định hướng tích cực của chức năng hành chính là sự kiến tạo trật tự bằng quyền hạn lập quy trên căn bản pháp chế.
Thực thi chính sách – khác với thể hiện pháp luật – vốn mang nhiều vấn đề tiêu cực căn bản, đặc biệt là tính bất thường của chính sách. Thí dụ về quyền hạn sở hữu chủ bất động sản. Ở Việt Nam hiện nay, quyền chủ nhà, chủ đất thuộc về phạm trù chính sách chứ hiến pháp quốc gia không công nhận quyền tư sản. Do đó, vấn đề đầu tiên là sự mâu thuẫn giữa chính sách và hiến pháp.
Thứ hai, chính sách không thể làm khuôn thức quy tắc để giải quyết mâu thuẫn – ví dụ, tòa án sẽ gặp rất nhiều khó khăn phân xử quyền hạn mà không khỏi nhúng tay vào phạm trù quyết định chính sách vốn là của phía hành pháp.
Thứ ba, chính sách không có đủ chi tiết, lý luận và nền tảng quyền hạn.
Thứ tư, chính sách cho phép quá rộng rãi mức độ tùy ý và tùy quyền (discretion) của người thi hành và phiên giải chính sách.
Thứ năm, chính sách thường thay đổi mà không ai có thể tiên đoán được đường hướng tương lai của nó.
Thứ sáu, chính sách luôn luôn mang nội dung thiếu quân bình vì cơ chế phát sinh chính sách không đủ khả năng phản ảnh được quyền lợi khác biệt của quần chúng.
Do đó, thực thi hành chính đặt nặng từ căn bản chính sách khó mà kiến tạo được niềm tin vào một liên tục ổn cố, đặc biệt là về trật tự kinh tế. Tại sao tôi phải bỏ tiền ra mua căn nhà khi mà chủ quyền của tôi có thể bị mất trong tương lai gần mà không có khả năng và phương thức bảo vệ bởi luật pháp? Tại sao tôi phải đầu tư, thuê mướn nhân công nếu quy tắc lao động, thuế khóa có thể thay đối với tác hại tiêu cực vào sự nghiệp kinh doanh của tôi? Đến một lúc nào đó, dân chúng không biết ai có quyền lực hơn ai để quyết định sở hữu chủ và các phạm trù quyền lợi của công dân khác. Một thửa đất ở bên sông Sài Gòn, năm 1990, theo nguyên tắc là của Sở Nhà đất thành phố Hồ Chí Minh. Đó là theo “giấy tờ.” Thực chất thì miếng đất động sản này thực sự “được làm chủ” bởi một ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản ở Hà Nội. Đây là trường hợp biểu trưng cho thế đứng khó khăn về lãnh vực hành chính công quyền trong khoảng trống to tát đòi hỏi một cơ chế pháp trị hiệu năng và có giá trị thực chất. Khi không có luật pháp, cá nhân có quyền lực sẽ lạm dụng khoảng trống này. Hành chính công quyền từ đó là khí cụ cho cá nhân, là đầu mối của thối nát và bất lực.
Sự chuyển hóa từ hành chính chính sách đến hành chính pháp lý mà một trong những điều kiện căn bản để kiến tạo dân chủ pháp trị.
MỘT TRẬT TỰ PHÁP TRỊ
Khi đời sống nhân dân của quốc gia đến giai đoạn ý thức được tư thế độc lập và chủ quyền của đất nước, thì tập thể nhân dân này phải được trưởng thành để hành xử nhu cầu tự trị cho chính mình. Cơ chế quốc gia và xã hội để thể hiện nhu cầu này là một hệ thống trật tự pháp trị.
Nhu cầu trật tự mang tính chất khẩn cấp hơn nhu cầu công lý và tự do. Đây là biện minh cả về thực tế và lịch sử chính trị cũng như cho các thể chế độc tài muốn nhấn mạnh nhu cầu ổn định để tước đoạt những quyền hạn căn bản khác. Một trật tự có chính đáng hay không tùy thuộc vào khả thể và khả năng cung cấp cơ hội công lý và kiến tạo tự do. Tự do phải được phát huy trên căn bản trật tự để tích cực tính của tự do được xây dựng. Đối với hai nhu cầu trật tự và năng động tự do, một tiến trình cân bằng khôn khéo phải được chọn lựa để hai đối lực tự nhiên này không trở nên một mâu thuẫn triệt tiêu.
Một bản chất pháp chế cho dân tộc Việt Nam, mang yếu tính Việt Nam, phải được thể hiện để trật tự quốc gia được quân bình, hiệu năng và sinh động. Trật tự pháp trị cho Việt Nam mang bản chất cấu trúc xã hội Đông Á, khác với những giá trị xã hội Âu Mỹ. Giữa hai thái cực, một bên là Hoa Kỳ, một xã hội pháp trị cứng ngắc và thái quá, một bên là Đông Á, với mô hình Nhật Bản, thì Việt Nam phải ở gần với mô hình Nhật Bản nhiều hơn.
Bản chất xã hội, con người vốn khác biệt giữa Hoa Kỳ và Đông Á, do đó, nội dung pháp chế cho Việt Nam phải phản ánh được nhận thức này. Một bình luận gia Nhật Bản đã nói đến sự khác biệt giữa Nhật và Mỹ về vấn đề này như sau:
Lịch sử Nhật Bản, vốn quá khác biệt với lịch sử Hoa Kỳ. Nhật Bản không kiến tạo cá nhân là đơn vị căn bản của xã hội. Hiếm có trường hợp cá nhân Nhật vượt ra khỏi xã hội để sống cho chính mình. Ngày nay, cũng như ngày xưa, đơn vị căn bản của xã hội Nhật không phải là những “nguyên tử” cá nhân, mà là những nhóm “tế bào.” “Nhóm tế bào” này hợp thành gia đình và làng xóm. Người ta có thể coi gia đình là những “đơn nhân” (monomers) và làng xóm là những “hợp nhân” (polymers). Cá nhân sống như một phần tử bất khả phân trong tập thể và trong bối cảnh cộng đồng chung. Nền tảng đạo lý để gìn giữ cộng đồng là “hòa đồng.” Những giá trị của người Mỹ như “tự do cá nhân,” “công bằng cơ hội,” “chính sách cửa rộng mở” (open-door policy) được coi là những “protein ngoại lai” được du nhập vào xã hội cổ truyền của Nhật Bản mà thôi.(30)
Từ đó, nội dung và cơ chế pháp luật của Nhật được kiến tạo trên căn bản nhận thức này – nhấn mạnh đến tính chất giải hòa và yếu tố cộng đồng làng mạc hơn là bản chất “đối nghịch hệ thống” (adversarial system) vốn là của pháp chế Hoa Kỳ. Nhưng theo giáo sư Frank K. Upham thì cơ chế pháp trị của Nhật Bản, vì nhấn mạnh và dựa trên căn bản giá trị cộng đồng, thực ra là mặt nạ của thế lực lớn nhằm đè bẹp năng động và quyền lợi của các nhóm nhỏ yếu thế, và nhất là hạn chế tự do và phạm trù độc đáo cá nhân, những con người muốn thử thách truyền thống và giá trị tập thể.
(31)
Kinh nghiệm Nhật Bản cũng là một kinh nghiệm nhận thức cho Việt Nam. Hiến pháp của Nhật sau Thế chiến thứ Hai được viết theo mô hình của Đức và Anh mặc dù dưới áp lực của quân chiếm đóng Mỹ. Tiến trình chính trị và yếu tố lịch sử của giai đoạn sau thế chiến của Nhật cũng đã trải qua muôn ngàn khó khăn nhưng họ cũng kiến tạo nên cho chính quốc gia mình một cơ chế và nội dung pháp trị độc đáo và thích ứng cho dân tộc và hoàn cảnh của họ.
Việt Nam, và người Việt, ở giai đoạn cuối thế kỷ XX này vốn mang bản chất chuyển
tiếp:
Chính trị: Từ độc tài đảng trị đến thử nghiệm dân chủ pháp trị;
Văn hóa: Từ lạc hậu, nặng xúc cảm đến phân tích lý trí;
Giá trị: Từ làng mạc đến thị thành, từ địa phương đến phổ cập, từ Á Đông sang Âu
Mỹ;
Con người: Từ chức năng tập thể đến ý thức cá nhân, từ tòng phục vô ý thức đến chủ
động tự do.
Tiến trình chuyển tiếp này đang xảy ra nhanh chóng, sâu đậm và toàn thể. Sau thất bại lịch sử của giai đoạn thử nghiệm Cộng sản, năng động biến hóa của con người Việt Nam đang hướng về phổ cập tính của toàn cầu trên căn bản giá trị tổ chức và khoa học Âu Mỹ (dân chủ pháp trị, kinh tế thị trường, cá nhân chủ nghĩa, nhân chủ nhân văn). Đây là bản chất của lịch sử Việt Nam hiện nay. Tất cả các hiện tượng chính trị, tổ chức, văn hóa, kinh tế đều chỉ thể hiện bản chất năng động chuyển tiếp này.
Giai đoạn chuyển hướng này của Việt Nam đã kéo dài cả thế kỷ nay từ lúc người Pháp bắt đầu đem giá trị Tây Âu đến, dù tốt hay xấu, với dân tộc chúng ta. Những phản ứng chính trị từ các phong trào dân tộc độc lập, du học, dân chủ, Marxism đều là những làn sóng khác nhau của người Việt nhằm tìm một cái “đích-đi-đến” mong vượt qua những mất thăng bằng của lịch sử trước giai đoạn vươn mình. Tuy nhiên sự cân bằng này vẫn chưa đạt được vì những phản ứng trên vẫn còn chưa kiến tạo được một cơ chế quản trị được đổi thay – một trật tự năng động nhưng quân bình.
Đó là thể chế dân chủ pháp trị.