Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Biên Thùy Một Cõi - Nguyễn Quỳnh 🔒

13 trả lời, 122 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 30.03.2020 18:34:55 bởi Ct.Ly>
Biên Thùy Một Cõi
Nguyễn Quỳnh
Lịch sử Tiểu thuyết
Năm 1955

Nhà xuất bản NGƯỜI BỐN PHƯƠNG SAIGON
 
 
CHƯƠNG NHẤT 
 
Chim sổ lòng 
 
KINH thành Thăng  long, một đêm về mùa hạ. Sang giờ Hợi mấy tiếng trống cầm canh vừa điểm xong, thì xa xa mội hồi tù và rúc lên nghe buồn rầu áo não. Trời tối đen như mực. Ngoài phố lác đác một vài khách bộ hành cầm đuốc lủi thủi đi. Thỉnh thoảng, một toán lính tuần rầm rập qua, kéo lê gươm sền sệt, ánh lửa loang loáng chạy trên hai mặt đường lởm chởm những đá sỏi.
Chung quanh Hoàng cung những chiếc đèn lòng thắp sáng rực, chạy vòng theo bức tường thành trên hai hàng giây kết bằng lụa bạch, trông như một vòng lửa đỏ. Lính túc vệ chia nhau canh gác các ngả đường, hay túm tụm lại nói chuyện phiếm trong các chòi canh, tay vẫn không rời thanh mã tấu. Cách hoàng cung độ vài trăm bước, xế về phía tay trái, là dinh thự của Vũ xuyên hầu Mạc đăng Dung, gồm có những tòa nhà gỗ xây dựng rất kiên cố, rải rác trên một khu đất rộng độ non 2 mẫu. Trên con đường từ dinh Vũ xuyên hầu đến Hoàng cung, cứ cách vài chục bước lại có một tốp lính gác, đèn nến như sao sa, xe ngựa đỗ ngổn ngang từng dẫy dài. Trong Mạc phủ, hàng nghìn ngọn bạch lạp chiếu sáng rực. Hết thẩy các quan đều được triệu tập đến dự tiệc. Mạc đăng Dung ngồi ở trên cao, các tướng sĩ thủ túc đứng hầu xung quanh còn ở dưới các đình thần chia nhau ngồi hai bên thù tiếp. Rượu nửa chừng, mọi người đã ngà ngà say, Vũ xuyên hầu đặt chén rượu xuống bàn khanh khách cười:
- Hạ quan tài hèn chí mọn, được thánh thượng quá yêu giao cho binh quyền, tự lấy làm hổ thẹn lắm. Ngày nay trong nước giặc giã tạm yên, hạ quan đánh Đông dẹp Bắc đã nhiều tinh thần cũng có điều sút kém, muốn lui về vui thú điền viên, bạn cùng mai, hạc, không biết có nên chăng?
Nguyễn Kính là vây cánh của Dung, đứng giậy khom lưng nói:
- Chúng tôi thiểu nghĩ: nước ta kể từ khi Đức thái Tổ (tức Lê Lợi) khởi nghĩa ở Lam Sơn, trong 10 năm quét sạch quân Minh ra khỏi bờ cõi, lên ngôi vua rồi truyền đến Thái Tôn, Thánh Tôn đều là những bậc anh quân tài đức gồm đủ. Kịp đến khi vua Lê uy Mục lên ngôi, làm nhiều điều tàn ác, giết bà Tổ mẫu và các quan triều thần, nên bị Giảng tu Công thí đọat. Thế là điềm nước loạn. Giản tu Công làm vua vì sa sỉ quá nên dân chúng oán hận, rồi bị giết về tay Trịnh duy Sản, kinh thành cũng bị đốt phá tan tành. Đến khi vua Lê chiêu Tông kế nghiệp không biết dùng người hiền, để cho các quan hiềm thù đánh lẫn nhau, gây nên cuộc nội chiến kéo dài 5, 6 năm giời. Lúc đó, nếu vua Lê chiêu Tông không vời đại nhân về trao cho binh quyền thì sự rối loạn không biết bao giờ mới hết, mà dân gian khổ sở đến bậc nào. Ngày nay, đức Cung Hoàng mới lên ngôi được vài năm, việc triều chính còn lủng củng, bốn phương thảo khẩu vẫn chưa tan, trăm quan chẳng ai đủ tài kinh luân để cho Hoàng thượng tin cậy được, chỉ có Đại nhân mà thôi. Nếu Đại nhân cáo quan về nhà, triều đình mất một cột đá chống giời, Hoàng thượng thiếu người phù tá đắc lực, cái cơ nghiệp gây dựng một trăm năm nay có lẽ xụp đổ mất.
Mạc đăng Dung lại cười:
- Hạ quan sinh phải thời đại nhiễu nhương, cũng muốn ghé vai gánh vác non sông, để khỏi phụ lòng tin cậy của quân vương, dẫu có phải lấy da ngựa bọc thây, cũng không dám hé răng oán hận. Khốn nỗi nhiều người thấy hạ quan được thánh thượng sủng ái, đem lòng đố kỵ, thêu dệt lắm chuyện tức cười, và ngờ cho hạ quan manh tâm dòm ngó ngôi cao, Hạ quan e rằng nếu còn    lưu luyến ở triều đường rồi một ngày kia, khi mà lòng yêu của quân vương đã nhạt, hạ quan nhỡ có điều lầm lỗi, lúc bấy giờ các quan xúm lại đàn hạch, thì dẫu có miệng cũng khó biện bạch được nửa lời, công lao hãn mã từ trước tới nay đều vứt đi cả. Âu là hạ quan bắt cnước cổ nhân lấy điều siêu nhiên cao cư làm chủ, tìm nơi gió mát trăng thanh để di dưỡng tính tình, không tha thiết đến cõi đời doanh hư tiêu trưởng này nữa
Lễ bộ thượng thư là Lê tuấn Mậu xưa nay vẫn ghét Dung lộng quyền, nhân cơ hội này cũng lên tiếng:
- Đại nhân  ngời sáng tột bực, ơn mưa mốc của chín bệ hưởng thụ đã nhiều, tưởng nên lui về cố lý là phải. Đình thần dẫu vô tài nhưng cũng có thể giúp chúa thượng   giữ gìn cơ nghiệp được vĩnh cửu.
Nguyễn Kinh quay lại chừng mắt nhìn Lê tuấn Mậu tác sắc nói:
- Mạc hầu trong chỉnh đốn lại việc triều chính, ngoài dẹp loạn Trịnh Tuy, trên Hoàng thượng mến yêu, dưới dân gian ca tụng, sự nghiệp lớn lao có thể ví với Tô hiến Thành thờ vua Cao Tôn được. Ngài còn ở triều đường, thì không những bốn phương xích tử được an cư lạc nghiệp, mà trăm quan cũng có người sáng suốt dìu dắt, dậy bảo. Cơ nghiệp nhà Lê được vững  vàng một phần lớn là nhờ ở tài đức Mạc hầu. Lê thượng thư là người trong tôn thất mà không nhận xét rõ điều lợi, hại, lại a dua với kẻ tiểu nhân để bôi nhọ thanh danh của bậc công thần đệ nhất triều Lê, thật đáng trách lắm.
Bấy giờ các quan phần nhiều là đảng phái của Vũ xuyên hầu, nên nhao nhao lên phản đối Lê tuấn Mậu. Quan tham chính sứ Nguyễn duy Cường, vốn là bạn thân của Lê thượng thư, thấy thế sợ Mục đăng Dung giết mất Mậu vội lựa nhời dàn hòa:
- Lê thượng thư thấy Mạc hầu ngỏ ý muốn cáo quan, nên cũng chiều lòng giãi bầy một vài ý kiến đó thôi, chứ thực ra đối với Mạc hầu cũng chẳng có điều gì hiềm khích. Hiện nay trong nước còn rối ren, chúng ta là thần tử của nhà Lê, chớ vì đảng nọ, phái kia mà thù ghét, chia rẽ nhau, phải đồng tâm hiệp lực, giúp hoàng thượng trị quốc an dàn, mới xứng đáng là kẻ nho giả có khi tiết vậy.
Mạc đăng Dung nín lặng không nói gì. Các quan lại bắt đầu uống rượu vui vẻ. Bỗng nhiên Nguyễn Áng đứng dậy nói:
- Mạc hầu giúp chúa thượng chăn dắt muôn dân, gìn giữ bờ cõi, công lao có thể ví như ông Hoắc Quang thờ vua Chiêu Đế, ông Gia Cát Lượng thờ vua Hậu Chủ, danh tiếng chói lọi sử xanh, ân đức thấm nhuần dân chúng. Khắp nơi bá tính đều làm thơ xưng tụng công đức, chúng tôi sao lục được một bài xin đọc hầu các quan nghe.
Mọi người đều tán thành. Nguyễn Áng đọc:
 
Gặp vận triều Lê mạt,
Nước loạn lạc tứ tung.
Dân gian nheo nhóc khổ.
Trời sinh vị anh hùng.
Khắp nơi đều nức tiếng.
Bình Hà Mạc đăng Dung.
Thi đỗ Đô lực sĩ,
Được vời vào Hoàng cung.
Ra oai trừ nạn nước,
Thờ vua một lòng trung.
Tướng sĩ đều khâm phục,
Dân chúng cũng một lòng.
Ngôi cao đã sẵn có.
 Tôn Mạc thị lên cùng…
 
Đảng phái họ Mạc reo ầm lên tán thưởng. Vương Phủ hướng về phía Đăng Dung ngồi, kính cẩn thưa.
- Mạc hầu tiếng tăm lừng lẫy một thời, thần dân đều mến phục, ý dân tức là ý trời, đại nhân nên thuận theo thiên mệnh lên ngôi cửu ngũ để yên lòng thiên hạ.
Những tiếng hoan hô ầm ĩ, làm cho mấy vị trung thần có mặt tại đó như Ngự sử Nguyễn văn Vận, Hàn Lâm hiệu lý Nguyễn thái Bạt, Lai bộ thượng thư Đàm thận Huy, Tham chính sứ Nguyễn duy Cường…hầm hầm tức giận, toan đứng giậy phản đối; nhưng khi họ nhìn thấy Đô ngự sử Vũ công Duệ vẫn ngồi im thì lại thôi chỉ đưa mắt thầm hỏi nhau.
Vũ công Duệ tay phe phẩy chiếc quạt một lúc rồi gật gù nói :
- Phải ! bài thơ ấy hạ quan cũng có được nghe một lần, nhưng còn thiếu đoạn cuối.
Các quan nhao nhao lên nói:
- Xin quan trạng đọc nốt !
Vũ công Duệ vuốt râu đọc:
Một bọn người bội nghĩa
Giúp Mạc thị làm hung,
Toan mưu đường thoán nghịch
Nghĩ gì đến non sông ?
Cõi Lam Sơn còn đó,
Sao chẳng giữ lòng trung?
Cam tâm phò gian tặc,
Đâu khí phách anh hùng?
 
Mọi người đều tức giận, quát mắng ầm ĩ toan xông vào làm dữ. Bọn Lê tuấn Mậu cùng đứng phắt cả giậy vén tay áo hầm hè... Mạc đăng Dung xưa nay vẫn quý trọng Vũ công Duệ muốn mua chuộc đã lâu, vội chạy lại can hai bên:
- Chúng ta hôm nay đều vui chén quá say, khỏi sao có điều thất thố. Các quan hãy bỏ hết lòng nghi kỵ, chớ khích bác nhau nữa, nhỡ đến tai Hoàng thượng thì có lỗi cả.
Bọn Lê tuấn Mậu bảo nhau bỏ ra về. Mạc đăng Dung không giữ lại, chỉ cười nhạt. Các quan cũng giải tán.
Nguyên Mạc đăng Dung là cháu bảy đời quan Trạng nguyên Mạc đỉnh Chi, quê ở làng Đông Cao, huyện Bình Hà, Hải dương, sau di cư sang ở làng Cổ Chai, (huyện Nghi Dương tỉnh Kiến An bây giờ), Đăng Dung nhà nghèo, làm nghề đánh cá để độ thân, nhưng có sức khỏe và can đảm vô cùng. Cạnh làng có một con sông, nước soáy thành vực thường có giống thuồng luồng làm hại người nên không ai dám qua lại. Một hôm dân mấy làng ven sông hợp nhau lại, bàn nhau tặng giải thưởng 100 quan tiền cho người nào trừ được thủy quái. Mạc đăng Dung túng liền nhận lời. Dân làng mừng rỡ làm rượu thết đãi. Dung về nhà tìm hai con dao thật sắc cởi hết quần áo, chỉ đóng một cái khố nâu, lấy hồng hoàng chu sa thoa khắp người, rồi nhẩy xuống sông lặn một hơi tới đáy, mở mắt nhìn thấy ở chàn đê có một cái hang rất rộng, đoán ngay là hang thuồng luồng định chui vào.
Vừa hay, một con vật to bằng thân cây cau dài bằng ba chiếc đòn gánh ở trong hang phóng vụt ra quấn chặt lấy mình chàng, mùi tanh hôi sặc sụa, rớt rãi nhầy nhụa kinh tởm. Chàng dơ cao hai tay, để cho thuồng luồng quấn, 4, 5 vòng từ ngực trở xuống, rồi mới luồn hai con dao vào hai bên mạng sườn cứa thật mạnh. Thuồng luồng bị đứt làm mười mấy khúc chết ngay, máu phun ra như suối, loang lổ cả mặt nước, Giết xong một con, chàng chui vào hang thì thấy ba con thuồng luồng nhỏ đang đùa rởn với nhau chàng dơ dao chém loạn xạ, giết được hai con còn một con theo giòng nước trốn đi mất. Sục sạo một lúc không thấy gì, chàng mới nhô lên khỏi mặt nước. Xác thuồng luồng nổi cả lên trông như những đốt tre bập bềnh trên làn sóng. Dân làng mừng rở đem kiệu ra đón chàng về, giết lợn mỗ gà thết đãi cẩn thận, tặng 100 quan tiền và thưởng thêm hai bộ quần áo. Từ đó, khúc sông hết giống thuồng luồng.
Đến năm sau, nhân dịp vua Lê uy Mục mở khoa thi kén người vũ dũng, Mạc đăng Dung vào kinh thi đậu Đô lực sĩ và làm đến chức Đô chỉ huy sứ. Tháng chạp năm Kỷ tỵ (1500). Vua Uy Mục bị người anh họ là Giản tu Công giết tự lập làm vua, tức Lê tương Dực, đặt niên hiệu là Hồng Thuận và phong cho Dung tước Vũ xuyên bá. Vua Tương Dực sa sỉ và dâm dật vô cùng; lại triệu người thợ là Vũ như Tô vào cung làm một cái điện 100 nóc, và xây cửu trùng đài để vui đùa với các cung nhân. Hồi ấy dân gian bị bắt ép đi làm phu trong mấy năm giời chết hại vô kể. Nhà vua lại sai đóng thuyền to, rồi kén những con gái đẹp chèo chơi ở Hồ Tây. Các quan can gián cũng không được. Những tay giỏi như Lương đắc Bằng, Nguyễn văn Lang, Lê Trung người thì chết già, người thì chán cảnh triều đình cáo quan về cư an một nơi. Trong nước giặc cườp nổi nên như ong, ở Đông ngàn có Ngô văn Tổng, Sơn tây có Trần Tuân, Hải dương có Trần Cao, quan quân phải đi đánh vất vả, mà không sao dẹp yên được. Vua Tương Dực thì chỉ suốt ngày đêm, vui vầy với cung nhân bỏ mặc công việc triều chính, khinh rẻ các quan, lại nghe lời dèm pha giết hại công thần. Một hôm nhà vua hợp các công khanh ở cửu trùng đài để ban yến, rồi sai các cung nhân mặc toàn siêm y bằng lụa, ra múa hát. Các quan đều che mặt không dám nhìn, nhà vua thì cứ tự nhiên vui cười chè chén. Bây giờ có nguyên quận công là Trịnh duy Sản tỏ vẻ không bằng lòng, quỳ xuống tâu:
- Bệ hạ là chủ muôn dân, nên lấy đức mà trị người, sao lại bầy những trò dâm dật để treo gương xấu cho các quan. Cúi xin bệ hạ cho các vũ nữ lui hết, để yên cho đình thần uống rượu hầu tiếp bệ hạ.
Vua Tương Dực đang lúc say rượu không phân phải trái, thấy Trịnh duy Sản làm mất nguồn hứng thú của mình, liền quát vũ sĩ lôi ra chém, các quan vội xúm nhau vào can. Nhà vua cũng nể Duy Sản là bậc nguyên huân, không nỡ gia hình, nhưng chót đã thi oai đành sai nọc đánh mấy chục roi đuổi ra khỏi cung. Trịnh duy Sản căm tức nuốt giận trở về.
Hôm sau, Lê quang Độ và Trình chi Sâm đến thăm, cầm tay Sản ứa nước mắt nói:
- Đại huynh thân là một vị quốc công, đứng đầu trăm quan, vì can vua mà bị nhục. Có lẽ rồi đây, các quan không ai dám hé răng nói nửa lời, mà triều đình thì đổ nát đến nơi rồi.
Duy Sản thở dài, Lê Quang Độ lên tiếng:
- Nếu không thoát khỏi miệng hùm nọc rắn e rằng cái chết cầm chắc trong tay.
Trình chi Sâm vội hỏi:
- Thoát đi đâu bây giờ?
- Ta bỏ phăng hôn quân đi, chiêu mộ ít binh sĩ cất cứ một phương chống lại nhà Lê. Nếu thiên hạ theo ta thì đại sự dễ như trở bàn tay.
Duy Sản buột miệng nói:
- Như thế không lợi. Sao bằng khởi sự ngay tại Kinh thành thì nắm chắc phần thắng.
Biết lỡ lời, Sản ngồi im. Hai người hiểu ý, khẳng khái đáp:
- Nếu đại huynh nhất quyết, thì chúng tôi xin giúp một tay.
Duy Sản cả mừng. Ba người thề xin giữ bí mật. Được ít lâu, nhân dịp có tên Phùng Chương làm loạn ở núi Tam Đảo, Trịnh duy Sản vờ đem binh đi dẹp, rồi thừa cơ quay lại đánh úp Kinh thành giết được vua Tương Dực. Bấy giờ, Nguyễn hoàng Dụ ở bến Bồ Đề được tin Sản đã giết vua rồi, liền đem quân về đốt phá Kinh Thành và bắt được Vũ như Tô đem chém. Trịnh duy Sản lập người con Cẩm giang Vương tên là Ỷ tức là cháu ba đời vua Thánh Tôn lên làm vua, hiệu Lê chiêu Tông. Nhân thấy bọn giặc Trần Cao ở Lạng Sơn, liền đem quân lên đánh, không may bị chết. Các quan triều thần như Trịnh Tuy, Nguyễn hoàng Dụ, Trần Châu, thì vì tranh cướp nhau địa vị, sinh ra hiềm thù, đánh lẫn nhau. Vua Chiêu Tông can không nổi, đành cho người gọi Mạc đăng Dung về, Nguyễn hoàng Dụ bỏ về Thanh hóa. Dung thấy quyền binh cả ở tay Trần Châu liền tâu với vua Chiêu Tông vu cho Châu có ý làm phản, sai giết đi; rồi lại thu dùng bộ tướng của Châu là Hoàng duy Nhạc, Nguyễn Áng, Nguyễn Kính làm vây cánh. Từ đó Đăng Dung uy quyền mỗi ngày một lớn, lũng đoạn cả Triều Đình.
Vua Chiêu Tông phong cho hắn tước Vũ xuyên hầu để lấy lòng nhưng trong bụng ghét lắm liền âm mưu với Trịnh Tuy định đánh đổ họ Mạc, nhưng việc không thành, phải chạy lên Sơn Tây. Khi Mạc đăng Dung biết vua xuất bôn rồi liền cùng với đình thần tôn Hoàng đệ Xuân lên làm vua tức Lê cung Hoàng. Trịnh Tuy mang Lê chiêu Tông về Thanh Hóa mưu sự khôi phục kinh thành, nhưng chẳng bao lâu bị họ Mạc đánh thua rồi chết. Vua Chiêu Tông bị bắt giết chết.
Dẹp xong bọn Trịnh Tuy, Mạc đăng Dung có công lớn, quyền thế hống hách, tự do ra vào trong cung cấm, đi lại dùng nghi vệ thiên tử. Các quan có ai phản đối đều bị giết. Đình thần thì đại đa số là những hạng hương nguyện xu thời, a-dua theo họ Mạc, lại xui Đăng Dung diệt trừ đảng phái nhà Lê, làm cho triều đình rối ren đổ nát, đi dần dần đến cảnh suy vong.
* * +
 
Năm đinh Hợi (1527) Mạc đăng Dung thấy nhà vua nghi ngờ mình, nên rắp tâm tiếm vị, lại sợ có người mưu sát, nên mỗi khi vào triều thường cho tướng sĩ hộ vệ rất đông, voi ngựa dàn trước mở đường, loa thét quân reo vang ầm khắp phố. Lúc vào bệ kiến, Dung không phải lạy, được ngồi riêng trên sập kê gần ngai vàng con là Mạc đăng Doanh đeo gươm đứng hầu bên cạnh. Những sớ tấu của các quan dâng trình ngự lãm, đều phải qua tay Vũ xuyên hầu kiểm soát. Nhiều khi suốt buổi chầu Đăng Dung tự mình giải quyết mọi công việc.. phê phó công văn, bổ nhiệm hay huyền chức các quan, không hề tâu cho nhà vua biết. Vua Lê cung Hoàng chỉ ngồi làm vì, chán lại về cung.
Một hôm, ngài có vẻ buồn bã, thủng thỉnh đi chơi trong vườn ngự, có viên nội giám là Kim Toàn theo hầu. Ngài vòng qua ngọn giả sơn nhìn thấy một tấm bia vỡ đôi nằm dưới đất liền hỏi:
- Bia nào thế này ?
Kim Toàn cúi xuống nhìn một lúc rồi tâu:
- Đây là một tấm bia chôn đã lâu, có lẽ từ đời đức Thái Tổ thì phải, vì nô tì có nhận được hai chữ ‘‘Thuận thiên’’ khắc ở trên.
Nhà vua giật mình nói :
- Di vật của Thái Tổ sao không trông nom cẩn thận lại đem hủy hoại thế này?
Đoạn ngài thở dài khóe mắt dưng dưng giỏ lệ. Kim Toàn lấy vạt áo lau qua, thấy ở đầu lộ một hàng chữ : ‘‘ Cái văn nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân, điếu phạt chi sư, mạc tiên khứ bạo’’. Đoạn giữa vỡ hết, mất cả chữ, sót lại một dòng: ‘‘Dư phân tích Lam sơn, thê thân hoang giã’’. Những đoạn về sau, chỗ thì mất hết nét, chỗ còn một nửa, lỗ mỗ đoán được vài phần.
Viên nội giám lại tâu:
- Đây là bản Bình ngô đại cáo của Quan phục hầu Nguyễn Trãi làm sau khi đức Thái Tổ đánh đuổi quân Minh ra khỏi bở cõi, thống nhất giang sơn. Cách đây 10 năm, Nguyễn hoằng Dụ đem quân về giết Vũ như Tô đốt phá kinh thành, nên tấm bia vì thế mà bị đỗ vỡ.
Vua ứa nước mắt:
- Trẫm bạc phúc nên trời đất reo tai, sui nên việc quốc gia nhiễu loạn. Ngày nay Mạc đăng Dung lộng hành, ý muốn tiếm vị, các quan đều a dua theo gian đảng, khinh bỉ trẫm và sát hại các người trong hoàng tộc. Khanh là người thân tín của tiên đế liệu có tìm được mưu mẹo gì để gỡ nổi mối nguy nan này không?
Kim Toàn khóc tâu:
- Nô tì chỉ còn biết lấy cái chết để đền ơn bệ hạ.
- Trăm quan dễ không ai biết đến đất Lam Sơn nữa chăng ?
- Đình thần quá nửa là đảng phái họ Mạc; có một số ít người như: Ngô Hoàn, Lê tuấn Mậu, Nguyễn tự Cường, thì tuy trung thành với Lê triều, nhưng thế lực hèn yếu, vây cánh không có, giữ thân mình không xong, còn tưởng gì đến việc giúp người khác, Nô tì xem ra chỉ có hai người đáng tin cậy được.
- Hai người nào?
- Tâu Đô ngự sử Vũ công Duệ, và An thành hầu Nguyễn Kim.
Vua Lê cung Hoàng ngẫm nghĩ một lúc rồi tiếp:
- An thành hầu Nguyễn Kim là con giai Nguyễn Hoàng Dụ, người ấy trẫm biết rồi. Còn Vũ công Duệ là ai ?
- Tâu, Vũ công Duệ quê ở Sơn Tây, đỗ trạng nguyên đời vua Lê thánh Tôn năm nay đã ngoài 50 tuổi, nhưng tinh thần còn quắc thước lắm, và rất trung thành với triều Lê.
- Làm thế nào mà giáp mặt hai người ấy được ?
- Kể thì khó khăn thực, vì đáng phái họ Mac nhan nhản khắp nơi, lỡ một chút là vạ đến ngay trước mắt. Nô tì xin hiến một kế: Nguyên năm Hồng Đức thứ 23 tức là năm Vũ công Duệ đỗ, vua Lê thánh Tôn, vì quý trọng tài học uyên bác của vị trạng nguyên trẻ tuổi, giao cho giữ hết thư tịch kim cố xếp riêng ở một gian phòng trong tư thất. Thỉnh thoảng nhà vua cùng với các quan có chân trong ‘‘Tao đàn nhị thập bát tú’’; lại xem sách hay xướng họa cùng nhau.
Năm cảnh thống thứ 2 vua Lê hiến Tôn truyền cho Vũ công Duệ sưu cầu những sách hay để riêng cho Hoàng thượng dùng, còn những quyển nào văn chương tầm thường thì để ở trong kho ‘‘Bí thư’’ cho các quan xem. Ngày mai bệ hạ nói thác là đến nhà Vũ Ngự sử để đọc sách rồi thừa lúc vắng vẻ, bí mật bảo cho Duệ bàn với Nguyễn Kim trốn vào Thanh hóa hội họp các tướng sĩ của Nguyễn hoàng Dụ và Trịnh Tuy đem quân về diệt họ Mạc. Như thế, vừa kín đáo, vừa nhanh chóng, Mạc đăng Dung dẫu khôn ngoan đến đâu cũng không biết được.
Vua Lê cung Hoàng gật đầu :
—- Khanh quả là người có cơ mưu.
Hôm sau, lúc tan buổi chầu, nhà vua không thấy Mạc đăng Dung, trong bụng mừng thầm liền phán bảo Vũ công Duệ :
- Khanh về nhà tìm quyển ‘‘Thân chinh ký sự’’ của tiên đế Lê thánh Tôn để sẵn trong ngự thư viện, chốc nữa trẩm lại xem. Các quan không phiền ai phải đi bảo giá chỉ cần một mình An thành hầu Nguyễn Kim vào giảng sách thôi.
Vũ công Duệ lạy vâng mệnh.
Lại Bộ thượng thư Đàm thận Huy vốn người tinh tế đã đoán được một vài phần ý định của nhà vua, bèn xuất ban tâu rằng:
- Đời trước tiên đế Lê thánh Tôn đến ‘‘ngự thư viện’’ thì các quan có chân trong ‘‘Tao đàn nhị thập bát tú’’ đều được theo hầu, như thế cốt tỏ cho mọi người biết là nhà vua mục đích đến thư viện để đọc sách, chứ không phải sủng ái rièng gì Vũ công Duệ mà đến chơi nhà. Ngày nay, bệ hạ một mình đến nhà bầy tôi, không cho các quan theo hầu, người ngoài không hiểu ngờ là Vũ công Duệ vì ô mỵ  bệ hạ nên mới được hưởng cái đặc ân đó, khỏi sao có điều dị nghị. Bệ hạ nên truyền mang sách vào nội các đừng có xa giá đến chơi nhà để giữ toàn vẹn thanh danh cho vị nguyên huân của tiền triều.
Đó là lời can gián rất kín đáo của Đàm thận Huy, vì không ai còn lạ gì việc Vũ công Duệ làm thơ phản đối Mạc thị ở bữa tiệc trong lúc mà hai đảng Lê, Mạc đã phân chia rõ rệt và bên nào dùng rình cơ hội thuận tiện để đánh ngã địch thủ chiếm lấy ngai vàng. Mạc đăng Dung lợi chỗ nắm được hết binh quyền và có rất đông các quan cựu thần nhà Lê làm hậu thuẫn. Vua Lê cung Hoàng chắc cũng nhận rõ cái địa vị bấp bênh của mình, nên đứng hẳn về phía đối lập với họ Mạc. Cử chỉ liều lĩnh và thiếu kinh nghiệm của vị vua trẻ tuổi đã thúc đẩy đối phưong cấp tốc làm việc đảo chính và trói buộc bọn ‘‘nho giả’’ vào cái chết thương tâm.
Đàm thận Huy vừa tâu xong, thì Lê tuấn Mậu vội vàng tiếp luôn:
- Bệ hạ nên nghe lời Đàm thượng thư là phải.
Vua tỏ vẻ không bằng lòng, phán:
- Đời xưa, Tông Thái Tổ đêm đêm vẫn đến nhà Triệu Phổ gác chân nằm bàn việc nước, đình thần có chè Triệu Phổ là siểm mỵ quân vương đâu? Ý trẫm đã quyết các khanh chớ nhiều lời.
Đàm thận Huy lại quỳ xuống tâu:
- Bệ hạ muốn đi, xin cho các đình thần theo hầu bảo giá.
Nhà vua cười:
- Trẫm đi đọc sách chứ có đi đánh giục đâu mà phải nhiều người.
Đoạn ngài lên xe. Trăm họ được tin bầy hương án đón tiếp ở dọc đường. Quân dọ thám về Mạc phủ phi báo. Vũ xuyên hầu hợp các mưu sĩ lại bàn. Vương phủ lên tiếng:
- Thánh thượng đến chơi nhà Vũ công Duệ chắc không phải để đọc sách mà để bầy mưu lập mẹo làm hại ta. Nhưng cái lão hủ nho ấy thì làm được quái gì mà sợ. Mặc đăng Dung tiếp:
- Trong triều ta không sợ một ai chỉ gờm có một người mà thôi.
- Ai vậy ?
- An thành hầu Nguyễn Kim.
Nguyễn Áng tiếp :
- Nguyễn Kim hiện nay như chim trong lồng việc gì mà sợ.
Dương chấp Nhất đáp:
- Kể đáng sợ là phải, Hoằng Dụ mất rồi, nhưng các tướng sĩ của hắn còn rải rác ở cả trong Thanh hóa. Nếu Nguyễn Kim đứng vào phe họ Lê làm nội ứng cho quân Thanh thì việc lớn của ta hỏng mất.
- Hay la trừ phăng Nguyễn Kim để giảm bớt vây cánh của họ.
- Cũng không xong nốt. Nguyễn Kim còn ở trong tay ta thì quân Thanh không dám hành động. Nếu ta giết Kim thì họ tất kéo về Thăng Long báo thù, cho cố chủ.
Mạc đăng Dung cúi đầu ngẫm nghĩ. Dương chấp Nhất lại tiếp:
- Tôi là bạn thân của Nguyễn Kim, sẽ dùng ba tấc lưỡi dụ bằng được hắn về phe mình, Nguyễn Kim chịu hàng thì cả giải đất Thanh hóa Nghệ An đều thuộc về ta. Còn việc Lê cung Hoàng thì phải tính ngay đi, nếu chùng chình để chúng gây đủ thế lực, ắt khó khăn về sau.
Mọi người đều khen phải.
Lại nói xe ngự vừa đỗ trước dinh, đã thấy Vũ công Duệ cùng tất cả gia đình quỳ ở   trước hương án đón tiếp. Vua Lê cung Hoàng xuống xe, cầm tay Duệ đi vào ‘‘ngự thư viện’’. Nguyễn Kim theo sau.
Nhà vua xem qua các sách vở một lúc rồi ngồi xuống cẩm đôn dùng trà. Vũ công Duệ dâng tập ‘‘ Thân chinh ký sự’’. Bây giờ trong phòng vắng vẻ, viên nội giám Kim Toàn sẽ đưa mắt làm hiệu. Vua biết ý liền phán hỏi Duệ.
- Khanh đã đọc tập sách này chưa?
- Tâu, hạ thần đã xem qua rồi.
- Khanh hãy nói sơ lược cho trẫm nghe.
- Trong sách này, tiên vương có ngự bút ghi chép những võ công của ngài lúc đi đánh nước Chiêm thành, nước Lão qua và dân Mường.
Vua lại hỏi :
- Nước Lão qua đâu nhỉ?
- Nước Lão qua là nước Thượng lào ở về phía Tây nước ta. Nguyên năm Kỷ hợi (1479) quân Lão qua quấy nhiễu ở biên thùy. Tiên vương Lê thánh Tôn sai quan Thái úy là Lê thọ Vực cùng với các tướng là Trịnh công Lộ, Lê Lộng, Lê nhân Hiếu, Lê đình Ngạn, chia năm đạo binh do ba đường Nghệ an, Thanh hóa, Hưng hóa đánh sang, đuổi được quân Lão qua gần tới nước Diến điện,
- Trận ấy quân ta toàn thắng chứ ?
- Tâu, quân ta không những thắng được Lão qua lúc trở về lại bình được xứ Bồn nam, và giết chết viên tù trưởng Cầm Công âm mưu làm phản, giúp nước Lão qua chống cự với Triều đình.
Vua thở dài :
- Đời ông cha thì oanh liệt thế, sao bây giờ trẫm hèn yếu thế này ? Âu là cũng nhờ được bá quan phù tá đắc lực nên nước phú dân cường. Trẫm muốn noi gương các đấng tiên vương, nhưng còn thiếu Trương tử Phòng đi du thuyết cho chư hầu đánh Sở. Các khanh là người có tâm huyết với nhà Lê, không lẽ chịu khoanh lay nhìn quyền thần hống hách hay sao ?
Vũ công Duệ và Nguyễn Kim cúi đầu nín lặng. Nhà vua đứng giậy gượng cười :
- Đất Thanh hóa có thể là nơi dụng võ, anh hùng hào kiệt còn nhiều. Trẫm cũng muốn về Lam Sơn thăm cố hương, nhưng khốn nỗi thân cá chậu chim lồng chỉ còn chờ lưỡi dao oan nghiệt là kết liễu cuộc đời, còn mong gì con đường giải-thoát? Các khanh sao không bắt chước Mạnh thường Quân, một đêm vượt năm cửa ải nước Tần, lại chịu nép mình dưới cánh tay của người khác, để cầu lấy cái sống thừa thì chả nhục lắm ru!
Ngài nói đọan lên xe ra về. Nguyễn Kim hỏi Vũ công Duệ :
- Ông nghĩ thế nào ?
Duệ đáp :
-  ‘‘ Trung thần bất sự nhị quân’’. Tôi sẽ lấy cái chết để đền ơn nhà Lê.
Duệ hỏi lại :
- Còn ông thì sao?
Kim khẳng khái đáp:
- Tôi sẽ xuất bôn để mưu sự khôi phục nhà Lê.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 26.02.2020 22:30:33 bởi Thanh Vân>
*
* *

Một buổi sáng về mùa xuân, năm Đinh-hợi (1527) Kinh thành vùng chỗi giậy giữa những tiếng quân reo ầm ĩ tiếng pháo lệnh nổ vang trời. Dân chúng chen chúc nhau ở bên vệ đường để xem toán quân của  Vũ xuyên Hầu riễu qua. Khói pháo khét lẹt bốc tỏa ra như đám mây đen nhờ nhờ, bả lả bay trên Hoàng thành. Từng hồi trống rồn rập vang dội khắp nơi, tiếp theo những tiếng loa thét, tiếng chân người rầm rập chạy ở giáo trường ra, đoàn quân cuồn cuộn tiến về phía Hoàng cung.
Đi đầu là một thớt voi trận gồm có 20 con, trên lưng phủ một mảnh chăn gấm mầu sặc sỡ, vòi dơ cao, bốn chân thình thịch chạy đều bước, cát bụi bay mù. Tiếp đến toán lính kỵ mã xếp hàng ba, sồng sộc tiến giữa một rừng gươm đáo sáng lòe. Đi sau là một đoàn quân cảm tử độ 300 người đeo mặt nạ, tay cầm mộc, tay cầm mã tấu, hò hét trợ oai. Rồi đến chiếc kiệu của Mạc đăng Dung, tàn vàng tán tía xúm xít chung quanh, các giáp sĩ chia nhau đi hộ vệ.
Bấy giờ ở trong triều, vua Lê cung Hoàng nghe thấy tiếng pháo nổ ầm ầm hỏi các người hầu cận. Viên nội giám Kim Toàn tâu :
- Mạc hầu tiến triều.
Nhà vua mặt rồng bỗng cau lại, cúi đầu ngầm nghĩ. Ngoài cổng ngọ môn Mạc đăng Dung xuống kiệu cùng với các gia tướng sồng sộc đi vào. Hoàng môn quan ngăn lại nói:
- Chỉ một mình Mạc hầu thôi, các tướng phải ở ngoài.
 Đăng Dung quát to:
- Gia nhân của ta sao nhà ngươi dám cản đường.
Hoàng môn quan sợ hãi, đứng lánh ra một bên, các quân sĩ đã có lệnh từ trước kéo vào trong Hoàng cung chia nhau đi canh gác các nơi. Mạc đăng Dung nghênh ngang bước vào triều đường, các quan đứng giậy đón tiếp. Nhà vua bất đắc dĩ cũng phải bước xuống điện tươi cười chào hỏi:
- Mạc hầu đến vừa lúctrẫm sai người đi triệu.
Đăng Dung cười nhạt :
- Bệ hạ mong gì nhìn mặt tôi, chẳng qua là câu nói lấy lòng.
Vua giật mình đáp:
- Giang sơn nhà Lê được vững chắc cũng là nhờ ở tài kinh Iuân của Mạc hầu. Trẫm mong Mạc hầu như người khát mong nước uống người đói mong cơm ăn xin Mạc hầu chớ nghi ngờ.
Đăng Dung trợn mắt nói:
- Bệ hạ ngoài mặt làm ra vẻ niềm nở, âu yếm, trong bụng thì ghen ghét, thâm thiểm, chỉ tìm cách hại kẻ công thần, thật không phải là độ lượng của vị thiên tử.
Vua run sợ đáp:
- Trẫm không bao giờ có bụng dạ hại ai, xin Mạc hầu chớ nghi oan cho trẫm.
Đăng Dung quay lại nhìn các quan, cất tiếng sang sảng nói :
- Trên 20 năm loạn lạc, triều đình đổ nát dân sự lầm than cơ cực, Dung này xuất thân áo vải, đem chút tài mọn, xoay lại thời thế giữ vững được ngôi báu cho nhà Lê, thiết tưởng từ trước tới nay, dễ mấy người có được công lao sự nghiệp như thế chưa? Dung này trải thờ năm triều, lúc thời bình giúp vua trông nom chính sự, khi loạn lạc thì cùng quân sĩ lăn lộn ở chốn sa trường, sống chết chẳng quản chi, gian lao cũng cắn răng mà chịu. Không ngờ hôn quân chẳng chịu xét công, lại có ý ghen ghét hại ngầm. Đối với Dung này mà hôn quân còn cư sử như vậy, huống chi đối với đình thần thì còn bạc đãi đến thế nào? Ngày nay dân chúng đã chán ghét nhà Lê, muốn cho giang sơn đổi chủ. Dung này thuận lòng dân phế truất hôn quân lập người có tài đức, các quan nghĩ sao?
* * *
Đảng phái họ Mạc reo ầm lên tán thành. Vương phủ xuất ban nói:
- Người có tài đức ở đời này, tưởng chả ai hơn được Mạc hầu. Đình thần chúng tôi xin mời ngài lên nối nghiệp nhà Lê cho yên lòng dân chúng.
Quan tham chính sứ là Đỗ Lâm cầm tờ giấy đứng ra giữa triều đường tiếp:
- Chúng tôi đã giúp nhà vua, thảo sẵn tờ chiếu nhường ngôi cho Mạc hầu, xin đọc các quan nghe :
‘‘Mùa xuân năm Đinh hợi, niên hiệu Thống Nguyên Hoàng đế thứ 10 nhà Lê của nước Đại Việt là Lê cung Hoàng chiếu rằng:
‘‘ Đất nước thịnh suy là do ở kẻ cầm quyền, dân tộc hưng vong chớ vội đỗ cho là thiên mệnh. Đấng vương giả có tài đức thì trăm họ xưng tụng công ơn, kẻ thần tử lúc nước lâm nguy mới tỏ được lòng trung quân ái quốc.
‘‘ Nước Đại Việt ta kể từ khi Đức Thái Tổ phất cờ khởi nghĩa ở đất Lam sơn, lấy tài đức để thắng kẻ hung tàn, mượn uy trời mà trừ quân cường bạo. Mười năm gian lao khổ sở, dựng lên cơ nghiệp nhà Lê, bốn phía hào kiệt tới gần, giúp chúa đuổi người phương Bắc.
‘‘ Xét cho rõ:
‘‘ Đức Thái Tổ sửa sang chính trị làm cho đất nước hùng cường. Đức Thái Tôn bình định Xiêm, Lào, hết sức mở mang bờ cõi. Vua Nhân Tôn ban bố 14 điều luật tư điền. Vua Thánh Tôn thiết lập nhà Tế sinh, cổ xủy thuần phong mỹ tục. Sĩ phu trong
nước hết lòng giúp chúa trị dân, thảo khấu các nơi, thẩy điều noi gương cải thiện.
‘‘ Trẫm thiển nghĩ:
 ‘‘ Từ khi vua Lê uy Mục cầm quyền vì bạc ác nên lòng dân oán hận, Vua Tương Dực sa sỉ hoang dâm gây sự loạn ly đau khổ. Lúc trẫm nối ngôi tiên- đế tự biết trí kém tài hèn, nếu không gặp được Mạc hầu trổ tài an-bang tế-thế thì cơ nghiệp có lẽ vào tay kẻ khác. Nay trẫm thấy lòng dân đã hướng về Mạc Thị, lại mừng vì vận nước hết suy, nên muốn bắt chước Nghiêu, Thuấn đời xưa trao ngai vàng cho người có tài đức.
‘‘ Than ôi ! giang sơn là của chung, há phải riêng gì một họ, đất nước sẵn có vua hiền, Rồng tiên vẫn là cùng giống ;
‘‘ Lòng trẫm đã quyết, Mạc thị chớ từ, xẵ tắc mở hội thanh bình, bá cáo thần dân cùng biết.
                                                            Khâm-Thử 
 
Đỗ Lâm đọc xong bước lên điện dải tờ chiếu lên long án nói:
- Xin bệ hạ ký vào đây.
Vua Lê cung Hoàng, nước mắt chẩy dòng dòng cầm bút ký vào tờ chiếu, rồi nói:
- Trẫm bằng lòng nhường ngôi cho Mạc hầu, xin tha cho tội chết.
Đỗ Lâm một tay cầm tờ chiếu, một tay cầm nghiên mực, đi khắp văn võ bá quan bắt ép phải ký vào ; Mạc đăng Dung cầm gươm đi theo sau, các quan đều răm rấp vâng lệnh. Bến chỗ Đàm thuận Huy ngồi, Đỗ Lâm mỉm cười riểu cợt:
- Quan thượng thư xưa nay vẫn cứng cổ, sao bây giờ nhũn thế ?
Huy nhổ vào mặt Đăng Dung quát to:
- Thằng gian tặc làm việc thoán nghịch khi nào tao thèm theo mày!
Đăng Dung cả giận rút gươm chém Huy đứt phăng đầu, máu phun ra ồng ộc bắn cả vào quần áo các quan. Mọi người sợ xanh xám cả mặt. Lê tuấn Mậu trừng mắt nhìn, mồm sùi bọt, xông đến dằng lấy nghiên mực ở trong tay Đỗ Lâm đập vào mặt Đăng Dung. Dung quát một tiếng đá ngã Iăn xuống đất, rồi bồi thêm một nhát gươm, Mậu đứt làm hai đoạn. Quan sát sứ là Nguyễn tự Cường tức quá chửi ầm lên, bị vũ sĩ lôi ra trước điện lấy dùi đồng đánh vỡ óc, Hàn Lâm Nguyễn thái Bật nhẩy lên cào vào mặt Đăng Dung, mồm lảm nhảm chửi, cùng bị vũ sĩ đánh chết.
Lễ bộ tả thị Lang là Lê võ Cường thì qùy xuống hướng mặt về phía Nam, khóc ầm lên, rồi cắn lưỡi tự tử. Vua Lê cung Hoàng thấy tình hình như thế, vội tụt xuống ngai vàng, toan chạy thì bị Mạc đăng Doanh nắm lại dí gươm vào cỗ, thét:
- Im ngay, hễ cựa cậy thì mất đầu.
Nhà vua đấm vào mặt Đăng Doanh quát:
- Mồ cha bố con thằng nghịch tặc, tao có chết cũng làm ma thiêng rút ruột mày.
Đăng Doanh cả giận đâm chết. Nội giám Kim Toàn rút giầy quật vào mặt Đăng Doanh, cùng bị Doanh đưa một lưỡi gươm kết quả tính mệnh.
Bấy giờ các quan sợ hãi chạy trốn đi mất nhiều chỉ còn trơ lại đảng phái họ Mạc. Vương phủ mời Mạc đăng Dung lên ngai vàng lấy áo Hoàng bào khoác vào người. Đăng Dung ngồi nhận lễ của các quan xong, sai người đem những xác chết đi mai táng, nhìn lại thấy Vũ công Duệ và Nguyễn Kim đang che mặt khóc, liền dụ rằng:
- Hai khanh chớ sợ hãi. Những kẻ kia vì láo sược quá nên bất đắc dĩ trẫm phải ra tay. Trẫm vốn trọng đãi người tài, hai khanh nếu thực dạ giúp trẫm thì sẽ được một đời sung sướng.
Đoạn quay lại bảo con là Mạc đăng Doanh:
- Con mang quân đi lùng bắt hết đảng phái họ Lê, kẻ nào hàng thì tha, kẻ nào ngang ngạnh phản đối thì cho giết chết.
Đặng Doanh quỳ lạy rồi hỏi:
- Tâu phụ vương, còn mẹ Lê cung Hoàng thì xử thế nào?
- Để cùng vô ích, giết đi cho đỡ lo về sau.
Tan buổi chầu, các quan lui về, Nguyễn Kim ủ rũ bước ra khỏi Hoàng cung, trong óc còn nặng chĩu những hình ảnh rùng rợn vừa diễn ra ở chốn Triều đường. Trong khoảnh khắc cơ nghiệp nhà Lê đã bị xụp đổ dưới bàn tay tàn bạo của họ Mạc. Bọn khoa mục trung thành với triều Lê đều chịu để khí tiết của mình tiêu trầm trong cái chết tầm thường. Lòng trung quân tuyệt vọng của hạng sĩ phu đó phản ảnh trạng thái suy vong của xã hội đương thời, và là kết quả dĩ nhiên của bao nhiêu năm tao loạn điêu linh. Trong óc của đám bình dân và giai cấp thống trị, tư tưởng lật đổ nhà Lê đã manh nha từ lâu và chỉ đợi cơ hội thuận tiện để thực hiện. Mạc đăng Dung khôn khéo biết lợi dụng thiên thời mà làm việc thoán nghịch. Dung đã biết trước thế nào cũng có một sự phản ứng của phe đối lập với mình, nhưng trong con mắt của kẻ gian hùng đó, không một cá nhân nào có đủ tài năng khả dĩ làm cho hắn sợ, khi mà hắn đã có một số đông dân chúng chán ghét nhà Lê làm hậu thuẩn. Vì thế mà Mạc đăng Dung đã ngang nhiên chiếm hết quyền bính, thủ tiêu bọn hoàng thân quốc thích, và sau rốt là bắt ép vua Lê cung hoàng thoái vị.
Thế là đã cáo chung một triều đại xây dựng được vừa đúng một thế kỷ, một triều đại đã ghi lại trong lịch sử một thành tích vẻ vang về văn hóa cũng như về quân sự, và thực hiện được những công cuộc cải tạo xã hội rộng rãi lớn lao.
Nguyễn Kim đi vòng qua cái ao ở gần Hoàng cung rồi cứ thẳng đường đi về phía sông Tô lịch. Nghĩ đến cố quân và các bạn đồng liêu bị oan hình, chàng lại ngậm ngùi thương tâm, và lo cho thân mình liệu có thoát khỏi nanh vuốt của kẻ thù không? Lúc này chàng phải tạm ẩn nhẫn nấp bóng họ Mạc để đợi một ngày kia, chàng có thể rời khỏi cảnh cá chậu chim lồng, cát cứ một phương, hòng đem tài lực xoay hẳn lại cục diện đất nước. Chàng chầm chậm bước dằn mạnh gót chân như để trút hết nỗi uất ức, căm hờn xuống mặt đất.
Một luồng gió lạnh thoáng qua, sào sạc trong bụi cây. Nắng xuân dịu dàng lướt qua ngọn cỏ, và nhuộm hồng những mái tranh xam xám nhấp nhô hai bên vệ đường. Dưới bầu trời trong trẻo và tươi sáng, vạn vật hớn hở vùng vẫy trong ánh thiều quang ấm áp như đùa rỡn với gió xuân.
Nguyễn Kim không để ý đến cảnh vật cử cắm cổ đi. Lúc này trong con mắt đẫm lệ của chàng, sắc thái của mùa xuân đang đượm màu tang tóc ghê rợn. Chàng có cảm giác như chung quanh chàng những linh hồn của bọn người đã trả nợ nước dưới lưỡi dao oan nghiệt, đang lởn vởn trên ngọn cỏ, lá cây, như dùng dằng không nỡ rời bỏ cái kinh thành yêu dấu này để sang bên kia thế giới …
Tiếng chân người ngựa rầm rập làm chàng ngẩng mặt lên nhìn: một đoàn tù nhân bị trói đang hấp tấp rẽ vào cái ngõ hẻm, theo sau là một toán lính kỵ mã hùng hổ kéo đi. Đến cầu sông Tô !ịch chàng nhìn thoáng thấy người bạn là Dương chấp Nhất, xăm xăm ở phía trước đi lại, toan lánh mặt, nhưng không kịp. Nhất liền đến vòng tay thi lễ:
- Nhà tiểu đệ gần đây, rước đại huynh vào sơi nước.
Nguyễn Kim gượng cười đáp:
- Xin để khi khác, để phải về ngay có chút việc cần.
Nhất nắm tay bạn tha thiết mời:
- Không mấy khi quan bác đi qua đây đệ có chút tâm sự muốn dãi bầy, xin chớ từ chối.
Nguyễn Kim bất đắc dĩ phải theo Dương chấp Nhất vào chơi nhà. Hai người phân chia chủ khách xong, Nhất hỏi luôn:
- Đại huynh về triều được bao lâu rồi nhỉ?
- Đệ mới về được gần 6 tháng.
- Từ khi lệnh nghiêm đường mệnh chung rồi thì tình hình Tây đô (Thanh hóa) ra sao ?
- Vẫn như thường, duy giặc giã thì chưa dẹp yên được.
Đoạn, Kim thở dài ngồi yên.
Nhất lựa nhời nói:
- Chúng ta bạn bè từ hồi còn để chỏm, tình thân thiết khác gì ruột thịt. Nếu tiểu đệ có dã tâm phản bạn thì đại huynh liệu còn sống đến ngày nay không ? Mạc vương muốn giết đại huynh đã lâu, nhưng đệ can mãi mới nghe.
Nguyễn Kim đáp:
- Xin cám ơn đại huynh.
Nhất lại hỏi:
- Đại huynh về triều để cáo tang hay còn mục đích gì khác?
Kim ngẫm nghĩ một lúc rồi tiếp :
- Đệ muốn xin với triều đình được kế nghiệp cai trị Tây đô.
Nhất cười:
- Nhà Lê đã mất, họ Mạc làm vua. Giải đất Tây đô cũng thuộc về tân quân. Đại huynh muốn vững vàng ở Tây đô thì sao không tâu cho Mạc vương biết ?
Kim ngập ngừng:
- Tiên tổ tôi ăn bổng lộc của nhà Lê, không dễ mỗi lúc mà thay chí hướng được.
Nhất vỗ vai bạn ngắt lời:
- Đại huynh học rộng mà không biết đường tiến lui chỉ bo bo ôm giữ cái tư tưởng cũ rích: ‘‘Trung thần bất sự nhị quân’’  thì thật dại dột quá chừng. Đệ xin mạn phép đại huynh bầy tỏ đôi lời: Kể từ khi Ngô vương Quyền đuổi quân Nam hán, lập nền tự chủ, trải qua các triều : Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, giang sơn đổi chủ bao lần, có phải riêng gì một họ ! nhà nào lên làm vua cũng hết lòng sửa sang việc nước, chăm lo đời sống của nhân dân, mở rộng đất đai về Nam, gìn giữ biên thùy đề phòng giặc Bắc. Hào kiệt trong thiên hạ đua nhau xuất đầu lộ diện đem nhân nghĩa giúp chúa trị dân, sử dụng tài năng làm vẻ vang nòi giống. Nếu ai cũng như đại huynh vì muốn xương - minh lòng trung thành với cố chủ, ẩn núp một nơi thề không chịu giúp tân triều, thì làm gì có trận Chi lăng khiến cho Tống quân mất vía, mà sông Bạch đằng đâu có vinh dự là mồ chôn xác quân Nguyên? Đã là sĩ phu của đất nước thì phải sáng suốt, nhận định kẻ hay người dở, ai có tài đức thì theo người bạc nhược ươn hèn thì bỏ, sao lại vì một lý tưởng chính trị hẹp hòi mà thờ ơ với sự tồn vong của dân tộc? Chẳng qua nhà Lê hết số mới sinh ra vua Tương Dực bạc ác, tham tàn, họ Mạc nối ngôi cũng là thuận theo thiên mệnh. Gia dĩ Mạc vương vẫn trọng dụng các cựu thần của nhà Lê, dầu có tức giận sát hại mấy người cùng vì họ ngoan cố u mê không chịu xét rõ điều hơn thiệt, giữa triều đường buông lời sằng bậy. Đại huynh nên vì dân vì nước, thành thực thỏa hiệp với tân triều, ghé vai gánh vác một phần trách nhiệm trong công cuộc tu tạo giang sơn, thì không những bảo tồn được gia đình, mà còn lưu tiếng thơm về mai hậu.
Nguyễn Kim mừng thầm vì Dưong chấp Nhất đã trúng kế, nhưng cũng còn giả vờ ngần ngại:
- Chả biết tân quân có bao dung cho kẻ hàng thần này không?
- Mạc vương với lệnh nghiêm đường là chỗ cố cựu lẽ nào lại không trọng dụng đại huynh ? Ngài chỉ muốn đại huynh cai trị Tây Đô để tỏ cho thiên hạ biết rõ đức độ của ngài, không như Lê cung Hoàng chỉ hay ghen ghét và hoài nghi. Đại huynh chịu nấn ná đây ít lâu, rồi sẽ được bổ đi nhậm chức.
Nguyễn Kim giả vờ hoan hỷ, hai ba lần cảm tạ, rồi đứng dậy ra về,
*
* *
 
Lại nói Vũ công Duệ về đến nhà, nét mặt buồn bã, cởi mũ quăng xuống đất rồi nằm dài ở trên giường chẳng nói chẳng rằng. Vợ là Đặng Thị thấy tình hình như vậy không hiểu ra sao, rón rén nhặt mũ để lên bàn. Duệ vùng giậy vớ lấy chiếc mũ sé tan ra làm đôi ném ra sân. Đặng thị ngạc nhiên hỏi:
- Phu quân hôm nay làm gi mà nóng nảy thế?
Duệ tức giận quát ầm lên:
- Đàn bà biết gì mà hỏi lôi thôi, bước ngay!
Đặng thị cả sợ vội chạy ra ngoài, Thì vừa gặp con giai là Vũ công Khanh ở đâu về. Đặng Thị hỏi con:
- Ở trong triều có sự gì mà thấy cha con có vẻ không vui, hở con:
Vũ công Khanh thở một lúc rồi đáp:
- Thưa mẫu thân, loạn đến nơi rồi.  
Đặng thị giật mình, hỏi luôn:
- Loạn thế nào?
- Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, chém giết các quan. Hiện nay quân sĩ đi lùng bắt các người đảng phái họ Lê, kinh thành nhốn nháo, dân gian bị bắt rất nhiều.
Đặng thị lạnh toát cả người, đờ mặt ra một lúc rồi sẽ nói:
- Thế thì nhà ta nguy mất.
Vũ công Khanh lắc đầu:
- Xin mẫu thân chớ sợ, con đã dò xét cẩn thận; họ không đụng chạm đến nhà ta đâu, vì xem ý Mạc đăng Dung muốn dụ phụ thân con vào phe hắn.
Đặng Thị ngẫm nghĩ một lát rồi nói:
- Gia đình ta lúc này như cá nằm trên thớt, sống chết chưa biết ra sao. Mạc đặng Dung là kẻ tàn bạo,  chẳng trước thì sau thế nào cùng tìm cách hại bằng được cha con mới nghe. Nếu hàng nó thì yên thân, nhưng nhà ta xưa nay ăn lộc của nhà Lê, có khi nào lại chịu biến tiết đổi lòng. Cha mẹ đã già rồi dẫu có chết cũng không oán hận, nhưng con đang tuổi thanh niên lại có chút tài học không lẽ khoanh tay chịu cho kẻ kia băm vằm mổ sẻ hay sao?
Vũ công Khanh cúi đầu nín lặng, Đặng thị tiếp:
- Con là giọt máu độc nhất của họ Vũ, nếu không may lạc vào tay chúng thì hết người kế tự. Con liệu tìm cách thoát khỏi nơi này, tạm lánh vào Tây đô mưu sự khởi phục nhà Lê. Đi mau kẻo tai vạ đến nơi rồi.
Vũ công Khanh gạt nước mắt đáp:
- Cha mẹ đã định lấy cái chết để tỏ lòng trung thành với nhà Lê, thì con tiếc gì thân để mang tiếng là bất hiếu.
- Mẹ sẽ bầy tỏ lợi hại với cha con, nếu thoát được thì hay nhất, bằng khó khăn quá thì một mình con đi cùng được.
Vũ công Khanh thở dài quay ra. Đặng thị loan vào thì chợt thấy liếng người nói ở cổng rồi một vị quan đại thần đi vào. Đặng thị lẩn vào buồng nghe ngóng. Vương phủ sồng sộc tiến lên nhà trên thấy Vũ công Duệ còn nằm dài trên giường, liền làm ra vẻ thân mật nói:
- Đại huynh mệt hay sao mà nằm ườn ra thế kia?
Duệ không đáp quay mặt vào tường, Vương phủ cầm chân lay gọi:
-  Dậy mau đệ muốn thưa một câu chuyện.
Duệ ngồi dậy chừng mắt, hỏi :
- Anh có giết ta thì giết chứ dụ hàng thì ta không nghe đâu !
Phủ cười:
- Không giết mà cùng không dụ hàng, đệ chỉ muốn nói chuyện với đại huynh thôi.
- Ta không nghe chuyện của anh.
- Sao dại huynh nóng tính thế? Câu chuyện này rất can hệ đến bước hoạn đồ của đại huynh hãy lặng yên mà nghe.
Duệ cười nhạt:
- Ta không thích tiền tài, danh lợi, anh đừng đem bả vinh hoa lừa gạt ta. Bước đi cho rảnh mắt.
- Còn vợ con thì sao ?
- Chết hết thì thôi.
Phủ ngẩm nghĩ một lát rồi nói:
- Đại huynh không màng đến danh lợi thì thôi chẳng ai dám ép, nhưng còn cái ấn ngự sử thì giao trả đây.
Duệ quát to:
- Ấn ngự sử là của triều Lê ban cho ta. Mày là thằng nào mà dám đến đòi lại.
Phủ cũng giận dữ đáp :
- Khắp thiên hạ, đâu đâu cũng là tôi con của nhà Mạc, anh giữ chiếc ấn nhưng liệu có giữ nỗi đầu không?
Duệ vớ lấy cái ấm nước để bên cạnh, ném vào mặt Phủ mắng rằng:
- Đồ phản thần.
Phủ tránh được, chiếc ấm rời xuống nền gạch vỡ tan tành. Duệ xông lại, giơ tay đánh. Phủ lùi vài bước cười nhạt :
- Tên hủ nho chết đến cổ mà vẫn chưa biết!
Đoạn rũ áo đi thẳng.
Duệ vẫn chưa hết giận, sỉ mắng mãi. Đợi cơn nóng đã dìu dịu, Đặng Thị mới ở trong buồng thủng tởinh đi ra, òa lên khóc:
- Phu quân quá nóng, phen này thì khó tránh khỏi cái chết.
Duệ lại càng tức thêm quát:
- Bước đi, đồ tham sinh úy tử.
Đặng Thị gạt nước mắt nói:
- Thiếp không phải sợ mà khóc, sở dĩ thiếp khóc là vì nghĩ đến cái chết không lợi gì cho xã tắc cả. Đã là kẻ trượng phu thì phải có quyền biến, cương nhu tùy lúc, sử dụng tài năng thế nào để xoay hắn lại thời cơ, chuyển bại thành thắng, nếu chỉ biết nhắm mắt liều chết, thì không những thiệt thân mình mà còn có tội với quốc gia nữa.
Duệ trong lúc nóng nẫy làm liều, nhưng thấy vợ giảng giải thì hiểu ngay, liền dấu dịu hỏi:
- Vậy trong trường hợp này, phu nhân bảo ta nên xử sự thế nào cho hợp lẽ ?
- Ba mươi sáu kế chỉ chạy là hơn cả. Phu quân tạm lánh vào Tây Đô, hội họp với các quan cựu thân của nhà Lê để chống nhau với họ Mạc. Nếu thành công thì may, lỡ có thất bại thì cũng không đến nỗi mang tiếng là người vô dụng.
Vừa hay Vũ công Khanh ở đâu nhẩy sổ đến nói:
- Mẹ con nói phải, cha liệu thu xếp đi ngay đêm nay mới kịp.
Vũ công Duệ đành phải nghe theo, liền sai gia nhân gói gém quần áo, đợi đến xâm xẩm tối, ba người thay hình đổi dạng cùng với hai tên gia tướng tâm phúc, đi lẩn với dân chúng lọt được ra khỏi cổng thành.  
 
* * *
 
Dương chấp Nhất đang ngồi hầu chuyện Mạc đăng Dung ở trong cung, thì Vương Phủ vào tâu việc Vũ công Duệ sỉ mắng mình, Đặng Dung xầm nét mặt lại:
- Tên hủ nho láo thực, trẫm không thể nhịn được nữa,
Chấp Nhất gạt đi, tâu:
- Bọn nho giả vốn có tính cố chấp, lại tự phụ mình là chân khoa mục, khinh bỉ kẻ vũ dũng. Lúc này bệ hạ phải tỏ ra có độ lượng biết dung tha thù địch thì bốn phương hào kiệt mới chịu phục tòng. Ta cứ dùng tiền tài danh lợi, duy hệ nhân tâm, lâu ngày lòng hoài niệm Lê triều cùng phải tiêu trầm trong cảnh giầu sang, bọu sĩ phu dù quật cường đến đâu cũng bị đời sống vật chất cám dỗ và thay đổi chí hướng,
Nguyễn Áng tiếp :
- Vũ công Duệ thì không cần, nhưng vợ hắn là Đặng thị tài giỏi vô cùng, nếu không giết đi thì thật đáng lo ngại về sau.
Đăng Dung ngạc nhiên phán hỏi:
- Đặng thị là ai ?
- Đặng thị tên thực là Thúy Nga con gái viên tri phủ ở Sơn vi (Sơn tây) là Đặng Mộc. Nguyên Duệ ở làng Trinh Xá (Sơn tây) hồi còn nhỏ rất thông minh, chơi với trẻ con thường lấy đất nặn hình con voi, lấy 4 con cua làm chân, bắt hai con bướm làm hai tai, cắm con dỉa làm vòi, lấy con giun làm đuôi, thành ra voi đất mà đi được, hai tai vẫy được, vòi co lên ruổi xuống được, đuôi ve vẩy. AI trông thấy cũng chịu là ranh mãnh.
Một hôm, Đặng Mộc đi qua thấy thế, lẩy làm lạ cho gọi lên hỏi chuyện, thì Duệ ứng đổi nhanh nhẹn, trong bụng yêu lắm, liền thưởng cho một quan tiền. Cha mẹ Duệ nhà nghèo, Đặng Mộc xuất tiền ra cho Duệ đi học, nhớn lên Duệ thi hương đổ thủ khoa, rồi kết duyên với Đặng thúy Nga. Năm Hồng đức thứ 23, Duệ đỗ trạng, nguyên lúc ấy mới có 20 tuổi. Đặng thị năm lên 10 theo học một ngngười Tầu, không những thông hiểu lý số mà giỏi cả binh pháp, nếu để người ấy trốn mất thì là một cái họa lớn cho triều đình.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 01.03.2020 08:28:10 bởi Ct.Ly>
Mạc đăng Dung tiếp:
- Hay đem giết đi vậy.
Dương chấp Nhất can rằng:
- Nhân tài trong thiên hạ ít, mười vạn quân dễ kiếm nhưng một tướng giỏi khó tìm. Bệ hạ mới lên ngôi chưa thi ân gì cho dân chúng mà đã sát hại công thần, thật không nên lắm.
Đăng Doanh cũng nói thêm vào:
- Phụ vương nên nghe lời Dương chấp Nhất mở lượng khoan hồng, bỏ lòng nghi kỵ, thì các quan mới đỡ sợ mà thực dạ giúp mình. Phụ vương nên giáng chiếu bổ nhiệm Nguyễn Kim trấn thủ Tây Đô, còn Vũ công Duệ thì chỉ dùng lời lẽ khôn khéo dụ dần.
Mạc đăng Dung khen phải lập tức hạ chiếu cử An thành hầu cai trị Tây đô.
 
Nguyễn Kim nhận được chiếu chỉ, mừng rú lên, liền báo tin cho vợ con biết để sửa soạn đi nhậm chức. Kim lại định sang nhà Vũ công Duệ rủ cùng trốn đi nhưng trưởng nữ là Ngọc Bảo can rằng:
- Phụ thân đang lâm vào cá chậu chim lồng thoát chết được là may, lại mua dây buộc vào mình e rằng khó tránh được tầm con mắt cú vọ. Vả lại Đặng phu nhân không phải là người tồm thường, chắc him sẽ trù-tinh n,ọi việc dâu đấv rồi, chẳng chịu ngửa cô chịu chết đâu.
Nguyễn Uông cũng nói:
- Ta đã nắm chiếu chỉ trong tay, nhanh chân đi nhanh là đắc sách. Nếu trùng trình sợ Mạc Thị đổi lòng thì khó tìm được cơ hội tốt.
Nguyễn Kim nghe lời, hối gia nhân thu xếp hòm xiểng quần áo. Con giai là Nguyễn Hoàng vội can:
- Phụ thân hấp tấp đi ngay thì bị bắt.
Nguyễn Kim ngạc nhiên hỏi :
- Sao vậy ?
- Mạc đăng Dung vốn tính đa sát và hay nghi ngờ, sở dĩ để yên cho cha con ta, một phần lớn là nhờ ở sự bảo tấu của Dương bá phụ: hắn còn lạ gì đất Tây đô là nơi dụng võ của nội tổ (trỏ Nguyễn hoàng Du) tướng sĩ ở đó còn nhiều. Để cho thân phụ về Tây đô, khác nào như thả hổ về rừng, một người quỷ quyệt như hắn khi nào nhẹ dạ như thế được. Con xin đặt hai giả thuyết : một là hắn thử lòng thân phụ, giả vờ cử đi Tây đô để dò xét tâm lý của ta. Nếu ta hấp tấp đi ngay, tức là ta mắc mẹo của hắn; hai là hắn muốn tỏ ra có độ lượng cao cả, bỏ hết thù cũ, lấy danh lợi giàng buộc ta, để cho ta quên phắt nhà Lê mà chỉ biết có nhà Mạc. Bây giờ thân phụ trước hết phải dâng biểu tạ ơn để hắn yên lòng, sau đi chơi các hạn đồng liêu tỏ tình lưu khứ, cốt dềnh dàng, thích thắng đừng lộ vẻ mừng vui. Khi đã vào Tây đô rồi, thì tha hồ kẻ kia có muốn hại cũng không nổi; ta sẽ chiêu mộ binh sĩ, cát cứ một phương mưu sự khôi phục nhà Lê.
Nguyễn Kim chợt tỉnh ngộ vổ vai Hoàng khen:
- Con thật là người có kiến thức rộng rãi sau này có thể hơn cha nhiều.
Nguyễn An thành hầu có ba người con. Nàng Ngọc Bảo là con gái đầu lòng, mới có 15 tuổi, Trưởng nam là Nguyễn Uông, 13 tuổi, giỏi vũ nghệ, cương trực và nóng nẩy khác hẳn với em là Nguyễn Hoàng mới 12 tuổi, tính nết thâm trầm, mưu mẹo quyền biến rất tài tình. An thành Hầu rất quý trọng Hoàng, phàm có công việc gì can hệ đều bàn với Hoàng để Hoàng giải quyết hộ  và cùng nhờ được trí sáng suốt của con, mà Nguyễn Kim thoát khỏi tay Mặc đăng Dung, lập nên cơ nghiệp lâu dài sau này.
Vũ công Duệ đi được hai hôm rồi, đình thần mới biết. Nguyễn Kim sợ vì sự xuất bôn của Duệ mà Mạc vương đổi lòng, vội dâng biểu tạ ơn.
Biểu rằng:
‘‘ Hữu vệ điện tiền tướng quân An thành hầu thần Nguyễn Kim, muội tử bái lạy, kính chúc Hoàng đế bệ hạ muôn tuổi.
‘‘ Hạ thần trộm nghĩ : Kể từ khi Ngô vương Quyền đuổi quân Nam hán, lập nền tự chủ, đến đời Lê mạt nước Đại Việt ta trải qua bao nhiêu biến cố, lúc loạn, lúc bình, khi suy khi thịnh, thời nào cũng có vị anh quân, triều nào cũng có nời hào kiệt. Đến khi Lê cung Hoàng nối ngôi vì bất tài nên lòng dân không phục, đất nước nhiễu nhương, triều đình đổ nát. Bệ hạ thuận theo thiên mệnh khoác áo Hoàng bào, trăm họ ca khúc thanh bình, muôn dân tôn phù thánh chúa. Hạ thần ngu muội trước mắt không biết có núi Thái sơn, tội đáng phanh thây, may được bệ hạ mở lượng hải hà, không nỡ gia đinh, lại dùng vào hạng bề tôi thân tín, ân đức to như trời bể, hạ thần chỉ biết lấy cái chết để tạ lại. Ngày nay thần chịu vương mệnh cai trị Tây đô, con cháu đời đời kế nghiệp, thần nguyện sẽ trung thành với bệ hạ, thu dùng nghĩa sĩ bốn phương để giúp bệ hạ giữ gìn cơ nghiệp lâu dài.’’
Mạc đăng Dung xem biểu xong rất đẹp lòng phán.
- An thành hầu thật không phụ lòng tin cậy của trẫm.
Nguyễn Áng tâu :
- Nguyễn Kim ngoài mặt thì thế, nhưng trong bụng lại khác. Nếu bệ hạ không nỡ giết thì giữ lại kinh thành đừng cởi trói cho chim bằng mà mang họa.
Đăng Dung cười:
- Trẫm làm chủ thiên hạ, đối với mọi người phải lấy tín nghĩa làm đầu, huống hồ trẫm đã hạ chiếu phong tước cho hắn rồi, bây giờ lại nuốt lời thì còn gì uy quyền của vị thiên tử nữa.
Đoạn, không nghe lời Nguyễn Áng, sai nội giám mang cho một tấm gấm, và vàng bạc để đi đường. Trong hàng các quan có người tâu xin cho đuổi bắt Vũ công Duệ. Đặng Dung cười nhạt :
- Tên hủ nho bắt về cũng chẳng dùng được việc gì nhưng để ra ngoài sợ sinh biến, cho đi tróc nã.
Nguyễn Kim nhận được vàng bạc biết Mạc đăng Dung không ngờ mình nữa, cả mừng, liền để mấy hôm đi chơi từ giã các bạn đồng liêu, rồi mới cho gia nhân xếp quần áo, hòm siểng chất lên đầy xe, ra khỏi kinh thành thẳng đường về Tây đô…
 
★+ #
 
Bọn Vũ công Duệ ra khỏi thành, đi được non nửa dậm đường thì trời đã tối mịt. Khanh bàn rằng:
- Nếu ta đi suốt đêm nay thì cũng chưa chắc sớm mai tới địa phận Sơn nam (Nam định) được; vả lại nhỡ gặp lính tuần hỏi giấy má thì phiền phức lắm. Âu là ta tìm hàng quán nào tạm nghỉ rồi sẽ hay.
Vũ công Duệ tiếp:
- Ta trốn đi, Mạc đăng Dung biết tất cho quân truy nã, không may bị bắt về, thật là làm trò cười cho dân chúng. Muốn chắc chắn thì cử tắt bờ ruộng, đi suốt đêm nay để tránh sự kiểm soát của địa phương.
Đặng thị nói:
- Họ Mạc mới tiếm vị, các quân địa phương càng chưa nhận được công văn cáo tri, nên sự kiểm soát cũng chỉ nhằm mục đích phòng ngừa trộm cướp chứ không phải để lùng bắt đảng phái nhà Lê. Chúng ta cứ thẳng đường cái lớn mà đi, lúc nào ngờ có lính tuần đến thì tắt bờ ruộng cũng được. Nếu đi hết đêm nay, thì ít nhất cùng vượt được 20 dặm rồi, truy binh có mọc cánh cũng không theo kịp.
Giữa cảnh đêm trường tịch mịch, năm người như những bóng ma lùi lũi rảo cẳng trên con đường đất gồ ghề. Có lúc họ phải rẽ xuống ruộng lội qua giộc để tránh ngọn đuốc của bọn lính tuần; có khi lại vòng qua một xóm làng, men bờ hào đi. Tiếng chó sủa vang sau lũy tre làm cho họ giật mình, không dám thở mạnh. Tiếng chầy giã gạo ở một căn nhà lá trong xóm đưa ra thình thịch như chân người chạy, thế là cả bọn đã hoảng sợ kẻo nhau chạy bạt mạng, dẫm bừa cả lên chông gai, mảnh sành. Gió lạnh thổi, làm cho thân tre cọ vào nhau bật lên những tiếng kêu lắc cắc. Mưa bụi lất phất bay, buốt như kim châm. Trong bọn, không kể Vũ công Khanh là tay sức lực khoẻ mạnh, còn hai tên gia nhân tuy mệt nhưng còn có thế gắng gượng được, chứ Đặng Thị và Vũ công Duệ thì vì tuổi già, phải vất vả suốt đêm, nên sức đà kiệt chân mỏi gối chồn, mắt hoa đầu váng. Vũ công Khanh thấy thế liền cõng mẹ lên lưng, tay dìu cha, chập choạng trong bóng tối đen, không còn phân biệt phương hướng, thôn lạc nào. Chàng đang đi chân bỗng thụt vào hố, ngồi xệp xuống, vội gọi gia nhân đến nâng giậy, nhưng không thấy tiếng thưa, thành ra chúng đã lủi đi đâu mất, mang theo cả bọc quần áo. Khanh sẽ đặt mẹ xuống đất. Vũ công Duệ rên rĩ nói:
- Mệt lắm.
- Cha cố gượng một chút.
Chàng đứng giậy cõng mẹ lên vai. Người đàn bà thân hình mềm nhũn như sợi bún, tóc xõa chùm cả mặt nhưng hai tay vẫn còn bám được vào vai con. Chàng bế sốc cha lên, bấm chặt mười đầu ngón chân xuống đất cho khỏi trơn rồi lại đi …
Tiếng gà trong xóm đã mấy lần giục giã, ở một vài nơi ánh lửa đã thấy le lói qua lớp màn đen. Rồi dần dần ở chân trời, vẩn lên một mầu trắng bạc, thấp thoáng có làn khói đen nhờ cuồn cuộn bay.
Chàng vẫn kiên, nhẫn đi, trước mặt chàng một trang viện đã hiện rõ sau rặng cây cau cao vút. Chàng nặng nề bước, tòa nhà mỗi lúc một gần, một vẻ mừng thoáng trên khuôn mặt đẫm lệ và mồ hôi. Mắt chàng sáng lên, tim rồn rập đập mạnh. Tới chiếc cổng gạch, chàng cố thu hết tàn lực, bước lên một bực, hai bực, rồi vì mệt quá, chàng ngã gục xuống, quăng cả hai xác thịt trên mặt dất.
Sau hàng rào vang lên mấy tiếng chó sủa …
 
* * *
Cách tỉnh Sơn nam độ 15 dặm về phía Bắc trước Sơn nam gọi là Thiên trường, tức Nam địnhbây giờ) làng Trung lâm do ba làng Bắc Lâm, Cao Lâm. Nam Lâm họp lại, nằm trên bờ một dòng suối và chạy dài mãi đến chân đồi ‘‘Gọp’’. Lưng chừng đồi một cái giếng tục gọi là giếng ‘‘ Vàng’’ nước trong như lọc, đào đã từ lâu bên cạnh một ngôi miếu thờ thổ thần. Sỡ dĩ có tên giếng ‘‘Vàng’’  là do câu chuyện ‘‘ Tàu để của’’  mà sinh ra. Nguyên từ năm Cảnh thống thứ hai đời vua Lê hiến Tôn, làng Trung lâm vẫn có tiếng là trù phú nhất huyện Bình Lục. Dần làng một nửa chuyên về nông nghiệp, một nửa xuất ngoại buôn bán đi vắng quanh năm, chỉ đến gần Tết mới quay về cố hương nghỉ ngơi vài tháng, rồi lại bôn tẩu trên đường thương mại. Ruộng nương của những người này đều giao cho nông dân trông nom chỉ đòi một số thóc bằng một phần mười tổng sổ thóc thu hoạch được trong một năm. Lợi tức thì nhiều mà chi tiêu rất ít, vì sự sinh hoạt của dân quê vốn bình thường giản dị, lại được mấy năm liền phong đăng hòa cốc, thương mại phát đạt nên hai giai cấp nông dân và thương dân đều được nhàn nhã phong lưu. Cái cảnh tiền dư thóc mục kể thì sung sướng thực, nhưng hiềm một nỗi, trong làng không một người nào biết chữ, nên phái thương nhân vẫn chưa được hài lòng. Một vài người đã đề cập đến vấn đề đón thầy giáo hóa con em, để hy vọng sau này may ra có dăm ba người bia đá, bảng vàng, nhưng phái nông dân phản đối kịch liệt, cho rằng sự học không cần thiết bằng bát cơm, manh áo, và bảng vàng bia đá dẫu có quý thật nhưng không phải là nguồn sinh lợi chắc chắn và dồi dào như những thửa đất rộng rãi và phì nhiêu. Câu chuyện ‘‘học’’  vì thế mà không có kết quả. Phái nông dân vẫn giữ vững lập trường của mình cho đến một ngày kia có một người Tàu lù lù đến, giữa lúc dân làng đang tấp nập sửa sang đón mừng tân xuân. Người Tàu này trạc độ ngoài 10 tuổi vai vác một cái bọc to, chân đi đôi hài sảo và đầu đội một cái nón tù-lờ sơn màu vàng nhợt. Khắp mình bụi trắng bám đầy, tỏ ra hắn đã dầu dãi nhiều ngày ngoài trời và trên khuôn mặt xương xương, ghét và mồ hôi đã điểm những vết đen, trắng loang lổ. Hắn tới làng Trung Lâm thì mặt trời đã ngả về chiều, nên không mấy người để ý đến. Hắn ngủ một đêm ở miếu thổ thần và sáng hôm sau đến trình diện xa trưởng ở nhà riêng. Xã trưởng hỏi :
- Chú ở đâu đến, có việc gì?
- Thưa ông chúng tôi ở bên Tầu mới sang.
Giọng nói tuy lơ lớ Tầu nhưng không ngọng nghịu, làm cho xã trưởng ngạc nhiên giương mắt nhìn khách.
- Có lẽ nào? chú mới ở bên Tầu sang sao nói tiếng Việt thạo thế ?
- Thưa ông trước kia tôi ở bên này đã lâu nên thông thạo tiếng Việt; sau vì việc gia đình lại phải về Tàu.
- Bây giờ chú lại sang đây buôn bán phải không?
Người Tàu ngập ngừng một lát rồi đáp:
- Tôi có một việc rất bí mật chưa dám nói hở cho dân làng biết nên phải thân hành đến bàn với ông. Nếu ông giúp cho thì tôi xin biếu ông 5 nén vàng.
- Chú cứ nói, nếu công việc của chú không thiệt hại gì đến quyền lợi gì của dân làng thì ta sẽ giúp dầu một xu cũng không thèm lấy. Trái lại nếu chỉ vì tư lợi mà mọi người phải thiệt thòi thì 5 nén vàng, chứ 50 nén vàng, hay 5 nghìn nén ta cùng chịu.
Người Tàu ngồi xuống ghế, để cái bọc bên cạnh, rồi móc túi lấy một tờ giấy vẽ chi chít những vạch ngang vạch dọc, đưa cho xã trưởng:
- Ông cứ xem đây thì biết.
Xã trưởng nheo cặp mắt, nghiêng đầu ngắm đi ngắm lại, rồi làm ra mặt thạo, gật gù hỏi:
- Bùa trừ tà chú bán bao nhiêu tiền?
Hắn cắn chặt lấy đôi môi như muốn ghim một nụ cười:
- Thưa ông, đây là bản đồ quí xã.
Xã trưởng nét mặt ửng đỏ, cố cãi :
- Bản đồ vẽ vụng quá.
Hắn sè lai gần, ngón tay chỏ ấn xuống mặt tờ giấy, nói:
- Quý xã danh hiệu là Trung Lâm ở về phía Bắc tỉnh Sơn Nam, nằm giữa một cánh đồng rộng độ vài trăm mẫu dất cát phì nhiêu. Cạnh làng ngọn tiểu khê chảy song hành với con sông đào, vòng qua chân đồi ‘‘Gọp’’ rồi đổ rồn nước xuống một cái hồ rộng ước độ mười mẫu.
- Đúng rồi.
- Trong làng, ngoài ra những ngõ hẹp nối liền với nhau chi chít như mạng nhện, lại có một con đường rộng chạy từ đầu làng đến cuối làng, con đường này bắt đầu từ mảnh ao thả bèo đi mãi đến tận đình, rồi ngoặt về phía tay trái, qua cổng chùa xuyên qua hai rặng cây răm bụt thẳng đến chân đồi ‘‘Gọp’’ ,là hết địa phận làng.
- Phải.
- Lưng sườn đồi có một cái giếng sâu 2 trượng, 6 tấc, đường kính 3 thước 4 tấc, thành giếng nổi lên cao hơn mặt đất 1 thước 2 tấc,  đào từ năm Hồng đức thứ 17, đời vua Lê thánh Tôn và cách miếu thổ thần chừng 2 ngũ.
Xã trưởng đứng phắt dạy, nắm lấy áo người Tàu quát:
- Anh là người dọ thám của bọn giặc nào ! nói ngay ?
Hắn cười tiếp:
- Xin tôn ông để tôi nói hết đã nào. Nếu tôi là do thám của giặc thì khi nào lại dại dột thế này.
Xã trưởng chợt nghĩ ra, xin lỗi, ngồi xuống nói.
- Tôi chót nhỡ lời, xin chú kể nốt đi.
- Tôi vốn họ Trương, quê ở Quảng đông, hồi lên 7 tuổi theo thân phụ sang buôn bán ở Thăng long, chính là năm Diên Minh đời vua Lê nhân Tôn. Cha con tôi nhờ giỏi làm ăn mỗi ngày một phát đạt, nên chỉ trong vòng có 5, 6 năm mà trở nên giàu có, vàng bạc, súc tích rất nhiều. Kịp đến khi vua Nhân Tôn thăng hà, Nghi Dân tiếm vị, chém giết nhiều người, kinh thành nhốn nháo, chúng tôi thu xếp đồ tể nhuyễn di cư về Sơn nam cho đến năm Hồng Đức thứ 17 thì ở quí xã có việc tu sửa đình chùa và đào giếng. Chúng tôi ngẫu nhiên đi qua rẽ vào chơi được biết chuyện liền nhận thầu công việc đó.
- Chú lại khiêm cả nghề thợ mộc, thợ nề nữa?
- Chúng tôi biết quái gì, nhưng cũng nhận là vì một mục đích khác. Nguyên chúng tôi sắp sửa về Tàu có chút việc, lại sợ mang nhiều vàng bạc đi đường gian phi trộm cướp như ong sểnh một chút, không những mất hết, mà còn nguy hiểm đến tính mạng. Nhân dịp cơ hội này chúng tôi bàn nhau nhận thầu việc trùng tu đình chùa và đào giếng, để được rảnh tay đem giấu vàng ở đáy giếng, rồi hô thần yểm của. Chúng tôi về Tàu ít lâu thì gia nghiêm mắc bệnh mà qua đời. Tôi vì sinh kế quẩn bách nên phải lần mò sang đây tìm số vàng. Nếu tôn ông hết lòng giúp, cho phép tôi được nán lại quí xã vài hôm, thì ngoài cái số 5 nén vàng kính dâng tôn ông, tôi xin biếu dân làng 5 nén nữa, gọi là một chút để giúp vào việc sửa sang đường  xá đình chùa.
Xã trưởng như mở cờ trong bụng hỏi:
- Số vàng của chú ước lượng bao nhiêu?
 - Độ 100 nén.
Đọan hắn giở tờ giấy thứ hai đưa cho xã trưởng nói:
- Đây là bức họa đồ cái giếng ở đồi ‘‘Gọp’’, kích thước đã ghi sẵn ở dưới.
Xã trưởng nhìn thấy bốn chữ Hán viết ở cuối trang giấy không hiểu, liền hỏi:
- Bốn chữ gì thế này?
- Thưa bốn chữ ‘‘Tỉnh trung thị Nguyệt’’  nghĩa là ở trong giếng trông mặt giăng.
- Viết thế để làm gì?
- Hôm nay là 16 tháng chạp; buổi tối đợi lúc trăng lên cao, thì nhìn xuống giếng thấy hình ảnh chị Nguyệt hiện ở trên mặt nước về phía nào thì cứ đào ở chỗ ấy khắc tìm thấy vàng.
Xã trưởng vỗ đùi, cười:
- Nghĩa lý xâu xa thế thì có giời biết.

Câu chuyện đến đấy là hết. Xã trưởng giữ hắn lại ăn cơm xong, rồi ra đình hồi trống triệu tập các vị hào trưởng lại, kể hết đầu đuôi cuộc hội kiến với người Tàu lúc ban sáng. Mọi người đều vui mừng mong cho chóng tối để xem xét kết quả công việc ra sao.
 
Mặt trời đã xế về Tây và chim dần trong rặng núi. Ánh nắng còn rớt lại trên ngọn cây đã biến mất. Một hồi chuông chùa rõng rạc điểm giữa cảnh tịch liêu của hoàng hôn. Mặt trăng đã nhô lên giữa bầu trời trong xanh, và dải một lượt ánh sáng êm dịu xuống cánh đồng quê. Rồi gương nga mỗi lúc một sáng hơn, cảnh vật như quét một lượt sơn trắng bạc.
Dần sang giờ Hợi, mọi người mới kéo nhau đến đồi ‘‘Gọp’’ người Tàu đứng tựa vào thành giếng, chỉ tay xuống mặt nước bảo với các cụ bô lão :
- Hình mặt trăng hiện về phía tay trái, thì đích là bảo vật chôn ở đó. Không biết nước sâu đến đâu ?
Một cụ đáp:
- Mùa này nước cạn, khéo lắm chỉ ngang bụng chân.
- Tốt quá. Để tôi niệm chú thoái thần đã rồi sẽ cho người xuống mò.
Nói đọan hắn rút ba thẻ hương ở trong bọc ra thổi bùi nhùi châm lửa, rồi xõa tóc ngảnh mặt về phương Bắc, lẩm nhẩm đọc một tràng tiếng Tầu. Xong hắn dậm chân vỗ ngực, thét mấy câu ‘‘Trẫu lớ ! trẩu lớ’’ rồi cắm hương xuống đất, bắt mấy cái phọc quyết chỉ ra tứ phương. Trong lúc hắn phép, các cụ kính cẩn cúi đầu đứng yên lặng như khi đi tế ở đình.
Làm lễ thoái thần xong, hắn lại quì xuống ngẩng mặt lên không trung lễ bốn lễ, rồi mới sai một thanh niên xuống giếng mò. Người này lần từng bực tới đáy giếng, bì bõm một lúc ở dưới nước, thì lôi ở trong hang ra một cái vỏ bằng sành gắn kín.
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 01.03.2020 21:54:22 bởi Thanh Vân>
Ở trên thả dần dần một chiếc thừng có buộc ở đầu một cái dỏ, cho xát tới mặt nước. Chiếc vò vừa đặt vào thì thừng lại kéo lên. Cứ như thế ba bận. Chàng thanh niên chui cả mình vào hang lục soát mãi không thấy gì nữa mới chịu trèo lên miệng giếng.
Hắn xem xét ba cái vò cẩn thận, rồi thưa với mọi người.
- Công việc đến đây là xong, các cụ cho người mang ba cái vò này về nhà ông Xã trưởng. Tôi còn phải ở lại làm lễ tạ thần đã rồi sẽ về sau.
Các cụ đều hí hửng mừng thầm, kéo nhau về ngủ cả ở nhà Xã trưởng để canh giữ ba lọ vàng, trong bụng nơm nớp chỉ sợ có kẻ nào manh tâm phản chắc, lại mở ra ‘‘nhót’’ trước mấy nén thì mang tiếng với khách. Đến sáng rõ người Tầu cũng chưa thấy về. Các cụ đợi cho đến gần trưa, thì chợt một người hấp lấp chạy đến, thở hổn hển nói:
- Chú Tàu đi mất rồi.
Một cụ ngồi nhỏm giậy, tiếp:
- Thế nó bỏ vàng à ?
- Không biết nhưng thành giếng thì vỡ tung ra, gạch đá bữa bãi.
Xã trưởng sinh nghi, liền đập vỡ ba cái vò ra thì toàn là sỏi, tịnh không có một ly vàng nào cả.
Mọi người đều ngã ngửa ra, phàn nàn một lúc rồi kéo nhau ra giếng, thì thấy hòn gạch nào cùng vỡ đôi ra và rỗng ở giữa. Một cụ già chỉ tay nói:
- Nó khôn thật, vàng để trong ruột những viên gạch thì có trời biết.
Một cụ tiếp:
- Thế còn cái câu Tỉnh Trung … gì ..g … nguyện để làm quái gì.
- Thì nó cũng bày vẻ qua loa để cho có vẻ bí mật mà lị.
Một cụ khác ngẫm nghĩ một lát rồi tiếp:
- Tôi thì dốt không hiểu câu : ‘‘ Tung tỉnh hay tỉnh tung’’  là gì, nhưng nó bịa ra để đánh lừa mình bắt mình chầu chực suốt cả đêm để mang mấy cái vò đựng sỏi về, còn nó ở ngoài này tha hồ đào, sới để lấy vàng. Thôi chẳng qua mình dốt và tham nên bị nó lừa. Phen này nhất quyết đón thầy về để cho con cháu ăn mày thánh dăm ba chữ khỏi bị cái nhục dốt nát, Khốn nạn đã ngu thì nó bảo thế nào chả phải nghe.
Này nhé ! nó đến từ chiều hôm trước, giấu mấy cái vò vào hang, thế rồi hôm sau nó đem bốn cái chữ khỉ gió ấy ra lòe mình để cho mình hí hửng vác mấy cái vò về. Thôi cứ dốt là khổ, biết chưa ?
Mọi người thở dài quay ra về. Từ đó các vị hào trưởng vẫn thường sai người đi khắp vùng để tìm một ông thầy nào hay chữ đón về. Nhưng chưa gặp được ai. Mãi đến năm Đoan Khánh nguyên niên đời vua Lê uy Mục mới đón được thầy đồ. Nguyên ông này cùng với vợ con, một hôm đi qua Trung Lâm xin vào ngủ trọ một đêm, bị dân làng vật nài giữ lại để dạy học, thấm thoát được gần 20 năm. Ông đồ không biết tên họ là gì nhưng tính nết điềm đạm, it nói, ít giao thiệp. Xong buổi học, ông chỉ thơ thẩn từ trong nhà ra sân, hoặc lúi húi ở vườn giồng hoa, tía lá. Học trò của ông cũng nhiều người có khoa hoạn, nên thanh danh của ông mỗi ngày một lan rộng khắp vùng. Dân làng Trung Lâm vốn thực thà, chất phác đối xử với thầy rất có thủy chung, gạo nước tiền nong, cung cấp đủ dùng. Ông đồ ở được 10 năm thì các học trò nẩy ra một ý kiến gom góp nhau vào mỗi người một số tiền dựng cho thầy 5 gian nhà gỗ trên một thửa đất công ở đầu làng. Mỗi năm lại tu sửa mở rộng thêm ra, làm cho khu nhà trông có vẻ khang trang mỹ lệ. Năm Thống nguyên đời vua Lê Cung Hoàng, ông vì già yếu, liên giao việc dạy học cho con gái là Bích Lan mới có 19 tuổi. Rồi từ đó ông chỉ ngày ngày ngao du những nơi phong cảnh đẹp, bầu rượu túi thơ dường như muốn rũ sạch bụi trần.
Một buổi sáng, theo lệ thường, ông giậy sớm đi tản bộ trong vườn mặc dầu gió rét và mưa phùn lấm tấm rơi. Nhìn thấy một vùng hoa nở, tức cảnh ngâm một bài thơ.
Mấy hạt mưa xuân lấm tấm rơi,
Đầy vườn đã thấy cảnh hoa cười,
Hai hàng cúc huệ, giương màu thắm,
Bốn dẫy hỏng, lan tsắc tươi.
Liễu, trúc khoe xanh chen mặt đất,
Đơn, nhài đua trắng tỏa hương trời,
Bồng Lai có phải là đây nhỉ ?
Giốc chén quỳnh tương, ngỏ mấy lời.
Đang lúc ông cao hứng ngâm nga, tâm hồn thinh thảng phiêu diêu trong lạc cảnh, thì chợt nghe thấy ở ngoài cổng như có tiếng chân người hì hục bước lên, rồi tiếp đến có tiếng chó sủa vang. Ông vội ngoắt mình trở ra cổng thì được mục kích một cảnh tượng thương tâm : ba cái xác thịt nằm đè lên nhau ở trên bực gạch sắp sửa rơi xuống đất. Ông đồ gọi người nhà ầm lên rồi quên phắt mình là già nua tuổi tác, thò hai bàn tay gầy gò run lập cập, định nâng ba người giậy.
Nếu không có tên gia nhân chạy ra đỡ hộ thì có lẽ ông đã ngã gục nốt rồi. Vừa hay có hai người thợ cầy đi qua, xúm vào đỡ ba người lên rồi ôm vào nhà. Ông đồ sai đặt mỗi người một giường, lấy chăn đắp cẩn thận và truyền đốt lửa để sưởi ấm. Bà đồ chạy lại sẽ hỏi:
- Ai thế ! ông có quen không?
Ông đồ lắc đầu đáp :
- Nào biết ai. Thấy người hoạn nạn thì cứu giúp có kể gì quen mấy không quen.
Được một lúc nhờ có hơi lửa ấm áp, Vũ công Khanh tỉnh dần dần, mở mắt nhìn, Chàng ngạc nhiên thấy mình nằm trên giường, trong một gian nhà rộng rãi, đồ đạc trang hoàng lịch sự. Ở chân giường một lò than hồng tí tách nổ tỏa ra một ánh sáng êm dịu. Nhìn sang hai chiếc giường kê song song ở gian bên kia cách chỗ chàng nằm độ dăm bước, chàng thấy rõ hai đống chăn sù sù, để lộ hai khuôn mặt hốc hác xanh xao mà chàng đã nhận được ai rồi. Có tiếng giầy đi lẹp kẹp ở ngoài, rồi thấy một cụ già lững thững đi vào. Chàng đoán là chủ nhân ngôi nhà này vội ngồi nhỏm giậy.
Cụ già nhìn chàng mỉm cười, hỏi:
- Công tử đã bình phục chưa?
Công Khanh đứng xuống đất chắp tay vái:
- Xin cám ơn lão trượng.
Cụ già cầm lấy tay chàng kéo vào, bảo ngồi xuống giường rồi tiếp:
- Công tử mới khỏi chớ nên dẫm đất vội xin cứ tự nhiên. Lão phu còn nhiều chuyện muốn nói.
Đoạn cụ chỉ tay về phía hai chiếc giường bên kia hỏi:
- Phải chăng là lệnh song thân?
- Thưa vâng.
- Lão phu trông mặt lệnh nghiêm đường quen quá nhưng chưa dám nhận, đợi cho công tử dậy để hỏi cho cẩn thận đã.
Công Khanh im không nói. Cụ già biết ý tiếp luôn:
- Lão phu với lệnh nghiêm đường cùng làm quan với nhau dưới triều vua Lê thánh Tôn cho đến triều vua Lê uy Mục thì lão phu cáo quan về dậy học ở đây. Lão phu họ Lưu tự là Sĩ Tái cùng với Vũ công là bạn đồng khoa.
Công Khanh vẫn ngồi im. Cụ già thở dài vuốt râu nói:
- Hồi vua Lê uy Mục mới lên ngôi, có ý ngờ Lão phu và hai vị quan nữa là Lễ bộ thượng thư Đàm văn Lễ và Đô ngự sử Nguyễn quang Bật phản đối việc phù lập ngài nên giết mất hai người đó, còn lão phu may trốn thoát được.
Lệnh nghiêm đường đang được quyền cao chức trọng sao lại hấp tấp bỏ đi ? hay trong triều đã có điều gì?
Công Khanh lúc bấy giờ mới đem câu chuyện Mạc đăng Dung thoán nghịch kể hết. Sĩ Tái than rằng:
- Tư tưởng tiếm vị của Mạc thị đã manh nha từ lâu, mà các quan không biết tìm cách đề phòng lại chịu chết uổng như vậy: kể thì đáng trách nhưng cũng đáng thương. Lão phu thẹn vì tuổi già sức yếu đã trở nên vô dụng với đời, nên đành chịu giương mắt nhìn quyền thần lộng hành mà không làm gì được, công tử sức lực cường tráng lại là giòng giỏi trung lương, há yên phận làm tôi họ Mạc hay sao ?
Công Khanh cúi đầu, nét mặt ửng đỏ. Vợ chồng Vũ công Duệ được Sĩ Tái trông nom cẩn thận cơm cháo thuốc thang đầy đủ, nên chỉ mươi hôm lại khỏe mạnh như cũ. Đôi bạn già cách biệt nhau đã lâu, nay được gặp mặt, vui mừng siết kể, suốt ngày đêm hết bàn việc quốc sự lại uống rượu ngâm thơ, ngờ đâu vạ đến sau lưng mà vẫn u mê không biết.
 
****
Nguyên từ khi dứt được nhà Lê, Mạc đăng Dung muốn phục lòng dân, thả hết các tù phạm, xá thuế ba năm, tư giấy đi các nơi để báo cáo cho thiên hạ biết và cái niên hiệu là Minh Đức, phàm các luật lệ của nhà Lê đều giữ như cũ, lại sai mở kho thóc phát trẩn cho dân nghèo, trọng dụng các quan cựu thần. Duy đối với Vũ công Duệ, Mạc đăng Dung lại cương quyết hơn, cho họa hình gửi đi các địa phương và treo giải thưởng 1000 nén vàng với cái tước Quận công cho người nào bắt sống được. Trong vòng hai tháng giời, công văn bay đi khắp nơi như bươm bướm, các quan phủ huyện vì sợ chết cũng có, vì muốn cũng cổ địa vị của mình nên cúi đầu răm rắp vâng mệnh và dâng sớ về triều tỏ lòng trung thành với họ Mạc. Công văn về tới huyện Bình Lục, quan huyện là Nguyễn Dương họp các nha thuộc lại bàn. Viên thơ lại là Đào Quỹ vốn là tay quỉ quyệt, cất tiếng nói trước:
- Bắt Vũ công Duệ, Đại nhân muốn dùng văn hay dùng võ ?
Nguyễn Dương ngạc nhiên hỏi:
- Thế nào là văn với võ?
Đào Quỹ đáp :
- Nếu dùng võ thì đại nhân cứ việc sai lính huyện, hợp lực với các hương dũng canh phòng những bến đò, chợ búa kiểm soát hành khách đi lại. Đồng thời phái quân dọ thám về các thôn lạc, lục soát từng nhà một, bắt xã trưởng phải kê khai danh sách gia đìm có người nào lạ mặt phải trình báo ngay.
- Còn dùng văn thì thế nào?
- Nếu đại nhân muốn dùng văn thì cứ dấu phắt việc triều đình truy nã Vũ công Duệ, yên lặng như không.
Nguyễn Dương ngắt lời:
- Nếu vậy một trăm năm nữa cũng không bắt nổi hắn.
Đào Quỹ mỉm cười một cách ranh mãnh:
- Thế mà bắt được mới tài tình chứ!
Hắn ghé vào tai huyện quan thì thầm một lúc.
Dương cả mừng khen:
- Dùng võ thì sợ náo động nhân tâm, âu là ta dùng văn vậy.
Ngay hôm ấy, các nha lại tức tốc thảo công văn gửi về các làng báo cáo việc vua Lê thoái vị nhường ngôi cho họ Mạc, giấu kín việc Vũ công Duệ bị truy tầm, và kèm theo tờ sức của huyện quan:
‘‘ Năm Minh Đức thứ nhất, quan Tri huyện Bình lục sức cho dân chúng biết :
‘‘ Nhân dịp tân quân mới lên ngôi, bản chức có mở một cuộc thi thơ vào ngày ng mười tháng ba vào khoảng giờ mão, ở huyện lỵ để mừng thánh chúa ra đời. Có ba giải thuởng trị giá 500 lạng bạc chia ra như sau:
‘‘ Giải nhất 200 lạng với một tấm gấm.
‘‘ Giải nhì 100 lạng với một tấm lụa.
‘‘ Giải ba 50 lạng với hai chục bá Giang Tây
‘‘ Các bài thi gồm có :
 ‘‘ Thứ nhất: một bài thơ đường luật (bằny chữ Hán hay Nôm tùy ý).
‘‘ Thứ nhì : một vế câu đối nôm
‘‘ Hỡi các vị tao nhơn mặc khárh, hãy hưởng ứng cuộc thi của bản chức để mua vui  trong dịp đầu xuân’’.
Tri huyện Nguyễn Dương
 
Tờ sức vừa tung ra, dân chúng náo nức mong cho chóng ‘‘đến ngày đó, để được dự một cuộc vui hiếm có.
Lưu bích Lan đi chợ biết chuyện, về kể lại cho cả nhà nghe. Vũ công Duệ hỏi:
- Huyện quan là người thế nào?
Sĩ Tái đáp:
- Hắn là chân cử nhân xuất thân, chữ nghĩa cũng khá nhưng tâm địa hẹp hòi. Hắn chịu bỏ ra 500 lạng bạc để treo giải thưởng, không ngoài cái  mục đích siểm mỵ Mạc đăng Dung.
Duệ thở dài:
- Bọn khoa mục ngày nay không giữ được cái khí tiết thanh cao của nho giả đời Trần, đại đa số là những hạng hương nguyện, xu thời.  
Đáng tiếc thay!
Vũ công Khanh cũng tức giận nói:
 - Huyện quan là người có học lại là thần tử nhà Lê đã không biết tuẫn tiết theo quân vương, lại còn đem thân cúi luồn kẻ khác. Hôm nay con sẽ đến tận nơi dùng câu văn sỉ mắng hắn, xem hắn có hồi tâm mà bỏ cái thói xiểm nịnh ấy đi không.
Đặng thị mắng con:
- Mày còn trẻ tuổi đã biết gì mà dám phê bình các bạc tiền bối. Mày định gây vạ cho chúng ta chắc?
 Khanh sợ hãi lủi đi mất.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 08.03.2020 23:12:55 bởi Thanh Vân>
Phù Lê diệt Mạc
 
THẤM thoát đã đến ngày 10 tháng 3, cổng huyện mở rộng để dân chúng ra vào tự do, và ở giữa cung đường, một cái hương án kê ngảnh mặt về phương Bắc, dưới hai hàng cờ sí nghiêm trang. Phía trên một tấm lụa hồng phủ kín cả mặt tường, có viết bốn chữ: ‘‘Thánh hoàng vạn tuế’’ nét bút già dặn tươi tốt. Hai bên hành lang dải một lượt chiếu cạp điều có bầy văn phòng tứ bảo, và trên mỗi chiếc chiếu lại đặt một bộ khay chén và một cái ấm gan gà song ẩm. Ở ngoài cổng, trên con đường từ huyện đến chợ, hàng quán nào cùng quét vôi sạch sẽ, bầy biện gọn gàng, khách khứa đi lại
tấp nập. Liền ngay chỗ một cây đu đã được giồng trên một khu đất rộng, và chung quanh, hàng quà hàng bánh, thò lò sóc đĩa, ngồi la liệt bên cạnh những cây tầm gửi thấp lè tè.
Khách đi xem mỗi lúc một đông, thôi thì đủ các hạng người! dân cầy, lái buôn, thầy tướng, thầy bói. Giữa đám nâu sồng, bọn văn nhân tài tử tha thướt trong bộ y phục lượt là chen vai thích cánh với các cô thôn nữ khép nép sau chiếc nón rộng vành.
Sang đến giờ Mão, hồi trống vừa dứt thì tiếng loa ậm oẹ gọi ở đằng xa: ‘‘Xin mời quí vị vào lĩnh đầu bài’’. Làn sóng người lại đổ xô về phía cổng huyện. Nguyễn Dương đứng ở trên thềm cất  tiếng nói:
- Bản chức có mấy lời, yêu cầu dân chúng hãy lặng yên mà nghe.
Mọi ngngười đều im phăng phắc Nguyễn Dưong tiếp:
- Bản chức mở cuộc thi này không ngoài mục đích là muốn mua vui trong dịp ngày xuân, và có cơ hội tiếp súc với các bậc anh tài trong huyện. Tác giả những bài thơ trúng thức, không những được lĩnh thưởng, lại còn được mời vào dự tiệc, và sẽ có lính hộ tống về nhà. Vậy thì, muốn cho cuộc thi chóng có kết quả, bản chức dùng cách phạt roi những kẻ vô tài mới bập bẹ dăm ba chữ toan nhẩy lên địa vị thi nhân. Những người có chân tài hãy nên vào dự thi, hay nếu xét mình sức học còn non nớt thì đừng vì một chút hư danh mà bị nhục. Vị nào muốn dự thi, lần lượt đi qua đây vào hành lang sẽ có người đón tiếp.
Huyện quan vừa nói xong thì ở trong đám đông người, có tiếng phản đối thốt ra ở miệng mội chàng thiếu niên:
- Khinh người bằng nửa con mắt.
Hàng trăm con mắt đều quay lại đổ rồn vào chàng. Có tiếng sì sào bàn tán.. Huyện quan cõ lẽ không nghe thấy, Iiền lại tiếp :
- Nào... xin mời các hạ nhập cuộc nào...
Lời nói đanh thép của viên tri huyện đã làm cho nhiều người chùn chân. Có lắm anh võ vẽ dăm ba chữ và thuộc lòng được mấy chục bài thơ cổ, nên cũng tấp tểnh đi, lại hy vọng may vớ trúng bài cũ thì vừa được thuởng, vừa được tiếng với đời. Mà dù có hỏng nữa thì cũng chẳng ai biết. Không ngờ huyện quan lại cho những điều kiện ngặt nghèo quá nên anh nào cùng hoảng sợ, bấm nhau chuồn dần. Có anh đeo cả ống quyển đi, cốt để huênh hoang với mấy cô gái làng bên, nhưng thực ra óc rỗng tuếch, thấy nghe chừng khó nuốt, nên vội vàng dấu phăng cái ống quyển vào cạp quần, rồi lẩn vào đám người đi xem cút mất. Rút cục chỉ còn lác đác có vài chục người dự thi. Chàng thiếu niên ban nẩy cũng thủng thỉnh đi vào. Chàng đó là ai ? Chính là Vũ công Khanh.
Nguyên Vũ công Khanh vốn tính nóng nẩy ghét cái thái độ xu thời của huyện quan, nên rắp tâm muốn làm nhục bằng được mới nghe. Sáng sớm hôm ấy chàng xin phép cha mẹ đi lên huyệu để dự thi. Vũ công Duệ cũng muốn thử sức học của con nên bằng lòng cho đi. Chỉ có Đặng thị can rằng:
- Nó hãy còn ít tuổi, chưa có kinh nghiệm về cách xử thế, lại phải cái tính nóng làm liều, có khi gây vạ nữa.
Lưu sĩ Tái vuốt râu, cười:
- Đó cũng là một việc hay, cấm đoán con trẻ làm gì?
Đặng thị bất đắc dĩ gọi con lại dặn dò:
- Con muốn đi mẹ cũng bằng lòng, nhưng phải nhớ mấy điều. Phàm ở đời, xử sự cương nhu từng lúc, chớ có thị kỳ mà mang họa. Tri huyện Nguyễn Dương chưa biết bụng dạ thế nào đừng dùng văn chương chăm biếm người ta. Nếu đầu bài thi đá động đến việc Mạc đăng Dung, Lê cung Hoàng thì cứ nộp giấy trắng thoái bộ là hơn. Trong lúc này, tính mệnh con người như cỏ rác, phải thận trọng lời ăn tiếng nói có giữ được như thế mới xứng đáng là người kiến cơ.
công Khanh vâng lời ra đi. Đặng thị vẫn chưa yên tâm, lại gọi Lưu bích Lan ra bảo :
- Cháu lên huyện xem đầu bài thi ra sao rồi về báo cho bác biết.
Bích Lan vâng lời.
Lại nói Nguyễn Dương đợi cho các người ứng thi vào hết rồi mới bảo Đào Quỹ nhận từng mặt xem có ai giống Vũ công Duệ không ?
Đào Quỹ nhìn đi nhìn lại hai ba lượt thật kỹ lưỡng thấy nét mặt Vũ công Khanh hao hao giống Vũ công Duệ, trong bụng có ý ngờ, liền nghĩ được một mẹo, tươi cười chạy đến vòng tay thi lễ:
- Đệ trông đại huynh quen quá, hình như đã gặp một vài lần.
Công Khanh nghiêng mình đáp lễ nói:
- Thật quả, đệ chưa có hân hạnh quen biết đại huynh.
- Đại huynh quí danh có phải là Hoàng Vũ ở Sơn Nam không ?
- Đệ quê ở SơnTây.
Biết lỡ lời, Công Khanh tiếp luôn.
- Đệ là Trình Khanh.
Đào Quỹ mỉm cười:
- Đệ trông nhầm xin đại huynh tha lỗi cho.
Đoạn quay đi. Tri huyện sai pha trà mời mọi người uống, rồi đưa cho mỗi người một tờ giấy trong có viết đầu bài thi, rồi lại cho niêm yết ở cổng huyện.
Vũ công Khanh dở ra xem thấy viết : ‘‘Lưu bị tức vị Hán trung vương, thất ngôn bất cú, tự vương vận’’.
Chàng ngẫm nghĩ một lúc cầm bút thảo một bài thơ nôm :
Hàn mạt sui nên buổi nhiểu nhương,
Người thời xưng bá kẻ xưng vương ?
Giành nhau đất nước ba chân vạt,
Cắt đứt non sông vạn dậm đường.
Nối chí những mong về cõi Thục,
Phô tài riêng một giải biên cương
Tào man khéo biết tay anh kiệt (1)
 Nghiệp chúa ngày nay đã tỏ tường,
Tiếp đến một vế câu đối,
Mở hội thanh bình dân chúng trung thành tôn Mạc Thị
 
Chú thích :
(1)  Tào Tháo ngồi uống rượu với Lưu Bị có nói một câu : ‘‘anh hùng trong thiên hạ chỉ có sứ quân với tháo mà thôi’’.
 
Chàng đọc xong tức lộn ruột, nghĩ thầm :
‘‘ Đây là mộ thái độ siểm nịnh của nhà nho biến tiết, để ta cho thằng này một bài học’’,
Đoạn viết:
Gây thời nhiễu loạn bầy lang bội nghĩa diệt Lê Gia.
 Làm xong, chàng đứng giậy nộp giấy, nhìn lại thấy các thí sinh còn đang nằm dài trên chiếu, hí hoáy viết. Đào Quỹ vốn để ý từ lâu đến Vũ công Khanh nên núp ở một nơi, đem bức chân dung của Vũ công Duệ, ngắm đi ngắm lại mãi, thấy giống lắm thì cả mừng đóan chắc là con giai Vũ công Duệ. Đến khi Khanh nộp hài, hắn giả vờ tươi cười mời vào hậu dinh sơi nước rồi lên tìm Nguyễn Dương. Hai người dở ra đọc. Nguyễn Dương gật gù nói:
- Bài thơ hay ở chỗ không cần nhắc lại mấy chữ trong đầu đề, mà cũng rõ nghĩa, kể cũng khá đấy, hiềm vì ý tưởng trong bốn câu thực và luận trùng điệp, nên giá trị cũng giam đi đôi chút.
Đọc đến vế câu đối, Dương tái mặt:
- Thằng này láo thực muốn mất đầu.
Đào Quỹ cười khà khà:
- Thế là mục đích của ta đạt được rồi. Bắt thằng này tức là thấy Vũ công Duệ.
Tri huyện ngạc nhiên hỏi:
- Sao vậy?
- Tôi đã để ý xem diện mao hắn thấy giống bức chân dung của Vũ công Duệ, vậy đích hắn là Vũ công Khanh rồi. Xét lời lẽ bài thơ thì rõ ràng là tâm sự một cựu thần không chịu nép mình thờ kẻ khác, có ý muốn trốn đi một nơi khôi phục cho nhà Lê. Đến vế câu đối thì thật không ngờ gì nữa, Hình như tác giả của nó trong lúc bồng bột, đã trút hết nổi oán hờn xuống câu văn, nên mới có những lời thóa mạ trắng trợn như thế. Ta cứ bắt tra hỏi anh này là biết được tung tích của cha mẹ hắn.
- Nếu bắt hắn thì lộ chuyện, mà vợ chồng Vũ côug Duệ trốn mất.
- Hắn xưng tên là Trình Khanh, nhưng đó là một tên giả. Hắn ở làng Trình xá (Sơn tây) nên lấy họ Trình để che mắt thế gian. Nếu tra hỏi hắn trú ngụ ở đâu, thì chưa chắc hắn đã chịu nói thực. Ta dùng mẹo này: Đại nhân mời hắn ra đứng trước công chúng tuyên bố trúng giải nhất trong cuộc thi văn chương, đồng thời tôi cho nha thuộc đi lẫn giữa quần chúng hỏi dò địa chỉ của hắn, thế nào chả có người biết mà nói ra. Đoạn một mặt ta giữ hắn lại dự tiệc một mặt ta bí mật cho lính về nhà bắt hết quyến thuộc mang về huyện.
- Nhỡ không phải thì sao?
- Nếu không phải thì vế câu đối kia cũng đủ cho ta sơi ngon vài ba nghìn bạc rồi.
Bấy giờ các thí sinh đã lục tục nộp hết bài. Tri huyện nào có để ý gì đến văn thơ nhưng cũng giả vờ đưa mắt xem qua, rồi mời hết cả bọn cùng Vũ công Khanh ra đứng trước công huyện sai hồi trống cho dân chúng kéo đến. Trước mặt hàng nghìn con người, Tri huyện chỉ Công Khanh nói:
- Bản chức xin giới thiệu với quí khán giả, một văn nhân lỗi lục ở huyện nhà đã chiếm giải nhất trong cuộc thi thơ vừa rồi.
Vừa hay có mấy người làng Trung Lâm đứng vẫn vơ ở đấy, thấy thế vổ tay reo ầm lên:
- Hân hạnh cho xã Trung Lâm quá.
Co tiếng nhao nhao hỏi:
- Ở đâu? Ở đâu?
- Ở xã Trung Lâm, câu ấy là cháu cụ đồ ở xã Trung Lâm.
Tri huyện biết rõ địa chỉ của Công Khanh rồi, liền mời chàng vào dự tiệc. Khanh thì yên chí là lời văn của mình đã làm cho tri huyện hồi tâm nên mới có sự đón tiếp niềm nở như thế, chàng tự đắc, vững tâm theo nha thuộc vào hậu dinh. Tri huyện sai viên quân cơ cấp tốc đem 50 tên lính về làng Trung Lâm.
Lại nói Bích Lan lúc trưa lảng vảng ở cổng huyện thấy đầu bài thi đã niêm yết vội chạy ra đọc qua một lượt nhớ hết, lập tức quay về nói cho Đặng thị biết. ĐặngThị dật mình than rằng:
- Con ta nguy mất!
Đoạn vào nói chuyện với chồng. Vũ công Duệ nói :
- Phu nhân thử bói một quẻ xem cát hung ra sao?
Đặng thị lấy tiền reo, mặt biến sắc:
- Chúng ta trốn mau không chết cả bây giờ.
Lưu sĩ Tái ngạc nhiên hỏi:
- Việc gì ?
- Con tôi vì sơ ý nên bị lộ hình tích. Huyện quan sắp cho quân về truy nã. Phải đi ngay mới thoát được.
Sĩ Tái khảng khái đáp:
- Vậy ta thu xếp cùng đi.
Công Duệ cầm tay bạn ngập ngừng:
- Đại huynh còn gia tư điền sản, theo chúng tôi sao được!
Sĩ Tái cười :
- Có phải của tôi đâu! của dân làng thì lại giả dân làng. Mà dầu có phải của tôi chăng nữa thì lúc cần bỏ cũng không tiếc.
Lưu Bích Lan thấy không nói gì đến Công Khanh sẽ hỏi Đặng Thị.
- Thế còn anh Khanh thì có việc gì không?
- Nó sẽ thoát được không lo.
Mọi người thu xếp quần áo tiền nong, rồi ăn mặc trá hình là khách thường, tắt đường về Sơn Nam.
Năm người đi đã lâu rồi, lính huyện mới đến. Vào trong nhà thấy vắng bóng người, đồ đạc vẫn y nguyên, viên quản cơ sục sạo một lúc không thấy gì, biết họ đã trốn hết, đành phải trở về tay không. Nguyễn Dưong tức giận vô cùng, sai trói Công Khanh
lại, dùng hình cụ tra tấn mãi chàng mới chịu xưng. Hắn liền dâng biểu về triều báo việc bắt được Công Khanh và tư giấy đi khắp nơi truy tầm vợ chồng Vũ công Duệ.
■* * *
* *
Tấm phản lim rít lên mấy tiếng rồi từ từ mở để lộ một cửa hang đen ngòm như miệng của con quái vật khổng lồ. Một mùi khăn khẳn như mùi chuột chết ở trong đưa ra làm cho tên lính phải lùi vài bước đưa tay lên bịt chặt lấy mũi. Vũ công Khanh đứng sau nhăn mặt lại nói một cách hằn học:
- Thối bỏ mẹ đi, ai chịu được.
Người lính nắm vai chàng kéo lên, rồi đẩy chàng vào cửa hang. Khanh cúi gò lưng, đập đập chiếc gông vào cánh cửa lim mấy cái làm cho rệp lả tả rụng xuống mặt đất, rồi vươn cái cổ mần đỏ, nhìn tên lính nói:
- Gãi hộ một tí, ngứa quá.
Hắn không đáp đẩy phạm nhân ngã chúi vào trong bóng tối, đóng sập cửa, khóa lại. Khanh lăn trên mặt đất đầu chạm phải một vũng bùn, mình đè lên hai cánh tay bị trói chặt. Hơi lạnh bốc lên, thấm dần vào các thớ thịt làm cho chàng rét run lên, và có cảm giác như toàn thân bị ngâm trong nước lạnh. Chàng nhoai mình mấy cái cố gượng ngồi giậy rồi giương mắt nhìn, nhưng chỉ thấy một mầu đen dày đặc. Một mùi hôi thối ghê tởm thoang thoảng đưa lại làm cho chàng chực nôn oẹ mấy lần. Chàng dán mũi vào tường cố tìm xem có khe nào hở để hít lấy một ít khí giời ở ngoài lọt vào, nhưng mặt tường bằng đá nhẵn thín, không một vết nứt rạn. Chàng bị uế khí làm nghẹt thở, máu như bị ứ lại, đầu choáng váng, lồng ngực nặng chĩu như sắp bị tắc, chàng vội nằm soài xuống, vục mặt vào đống bùn để tránh khỏi thở cái không khí tanh tưởi ấy. Chợt có tiếng chân người đi lại, rồi thấy hai bàn tay quờ quạng sờ vào mình chàng, tiếp theo một giọng nói khàn khàn ở trong cuống họng đưa ra:
- Chân tay đều bị xích cả.
Khanh vừa ngẩng mặt lên thì má chàng đụng phải một cái đầu người. Chàng chưa kịp hỏi thì đã thấy tiếng nói:
- Người là ai ?
Lại còn phạm nhân nữa trong tù ! Chàng vụt thấy tâm hồn nhẹ nhàng, khoan khoái, vì nhận thấy mình không nỗi phải trơ trọi giữa nơi bần thỉu này. Một người bạn chia sẻ nỗi đắng cay trong             ngục tối, còn gì sung sướng cho bằng! Bao nhiêu cái đau đớn về xác thịt sau một trận tra tấn phủ phàng, bao nhiêu cái lo sợ về tương lai rùng rợn, đều bị tiêu tan hết. Nếu hai tay chàng không bị trói thì chàng đã ôm choàng lấy con người đó, áp da thịt chàng vào da thịt hắn, và để cõi lòng mở tung ra đón lấy cái hơi thở của người bạn cùng chung một cảnh huống đau thương,
- Người là ai ? sống hay chết ?
Hai chiếc gông chạm vào nhau, nẩy tiếng kêu lách cách, Một bàn tay sờ vào mặt chàng, Khanh sẽ nói:
- Tôi.
- Tôi là ai.
- Vũ công Khanh.
- Mắc tội gì ?
- Phản đối họ Mạc.
Giọng nói người ấy bỗng hạ thấp xuống:
- Mạc nào? có phải Mạc đăng Dung không? Làm sao mà phản đối người ta?
- Anh chưa biết chuyện gì à?
- Chưa! Tôi bị giam trong này hơn 2 năm giời, chả biết gì cả.
Khanh rùng mình nghĩ đến cái sống nhục nhã của người ấy trong tù ngục hai năm dòng dã. Chàng sẽ nói:
- Mạc đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, kẻ nào phản đối đều làm vào tình trạng thế này.
Người ấy thở dài:
- Lại một cuộc đảo chính nữa, thật là trò múa rối.
Chợt có tiếng lách cách ở ngoài, ánh sáng lùa vào trong hầm. Một cái cửa sổ to bằng hai bàn tay vừa mở ra thì có tiếng người nói chõ vào:
- Chuyện gì mà lắm thế? Sướng nhỉ!
Khanh bấy giờ mới đưa mắt nhìn bạn. Râu tóc của hắn chùm kín cả đầu và mặt, chỉ còn lộ hai con mắt. Quần áo rách hết, buộc túm miếng nọ vào miếng kia lôi thôi như sơ mướp. Cả cái thân hình tồi tàn ấy không dấu nổi một sức lực vạm vỡ đầy sinh khí đã bộc lộ ra ở hai cánh tay rắn chắc và ở chiếc lồng ngực phồng phồng như độn vải.
Cánh cửa sổ đóng sập xuống, người ấy ghé vào tai Khanh thì thầm:
- Vào trong này nói chuyện kín đáo hơn.
Đoạn hắn ôm phắt Khanh lên vùn vụt đi trong bóng tối đen, như ta đi ngoài trời, rồi dắt Khanh vào cái ổ rơm. Khanh ngac nhiên hỏi:
- Chân anh không bị xích à?
- Có, nhưng tôi tập được cách đi rất thạo nên không bao giờ bị vướng xích, và nhanh nhẹn như người thường.
- Anh bị tội gì?
- Để thong thả tôi sẽ kể chuyện cho anh nghe. Làm điếu thuốc cho đỡ thèm.
Hắn lại biến đi một lúc rồi mang đến một cây bùi nhùi, thổi lửa châm vào một đĩa đèn dầu. Ánh sáng nhóe lên, lụi xuống mấy lần, rồi sèo sèo cháy, tỏa ra một hơi nóng êm dịu.
Khanh ngạc nhiên thấy trước mặt mình hiện ra một gian buồng, đồ đạc tuy cũ kỹ sơ sài, nhưng với cái ổ rơm rải một chiếc chiếu rách và một tấm phản gỗ bầy nào hỏa lò, ấm siêu, củi đóm. . . Chàng có thể hình dung ngay một gia đình nghèo ở thôn quê đang sống yên vui trong căn nhà ấm cúng. Nhìn con mắt ngơ ngác của Khanh hắn cười, nói:
- Tôi tuy ở tù, nhưng đế vương lắm.
- Ở tù mà lại còn đế vương!
- Chứ gì! Huyện quan bắt buộc phải cung cấp đủ cho tôi những thứ cần dùng và để tôi tự do đi lại trong hầm.
- Anh là ông gì mà gớm thế?
Hắn cầm điếu cầy châm lửa rít một hơi ngửa mặt nhả làn khói một cách khoan khoái rồi tiếp:
- Chả làm ông gì cả, nhưng làm trái ý tôi thì tôi trốn phăng.
- Chân xích, cổ gông, lại bị giam ở nơi kín đáo như thế này thì đến con kiến cũng không thoát được huống chi là người.
Hắn ưỡn ngực đáp:
- Thấm vào đâu! xích với gông thì tôi chỉ dùng hai ngón tay bẻ là gẫy. Còn gian hầm này úi chà! tôi đấm một quả vỡ tan cánh cổng lim, tên lính nào nho nhoe tôi bóp chết như một con nhái.
- Sao anh không trốn đi, lại chịu sống trong cảnh tối tăm bẩn thỉu này?
- Lần thứ nhất tôi đào hầm trốn, huyện quan mang lính vây bắt bị tôi đánh thua chạy liểng siểng.
Sau hắn dùng mẹo, lừa cho tôi uống rượu say rồi tóm được. Tôi ngồi tù được vài hôm, lại phá cửa xông vào tư thất huyện quan để giết hắn, nhưng hắn chạy được, tôi cứ đường hoàng về nhà. Hắn lại đem quân đi tróc nã tôi, nhưng đánh nhau dòng dã một tháng giời, hắn không làm gì nổi đành phải cho người đến điều đình với tôi.
- Điều đình thế nào?
- Hắn ‘‘mời’’ tôi vào ngục, một là để cho Triều đình khỏi bắt tội hắn, hai là để gây uy tín với dân. Hắn bằng lòng để tôi tự do đi lại trong ngục thất, không phải đi làm vất vả như các phạm nhân khác, ngoài ra đồ ăn thức uống quần do thuốc men đều phải thu cấp đầy đủ. Còn về phần tôi, thì cứ chịu khó làm tù nhân cho đến bao giờ được ân xá thì ra.
- Sao quần áo anh rách rưới thế?
- Hắn tặng tôi bộ nào tôi lại đem cho các phạm nhân khác, nên hắn tức mình không cấp nữa. Hễ tôi đòi thi hắn đổ lỗi cho lính lấy cắp rồi ra oai đánh đập lính. Sau tụi lính phải vào van lạy tôi mãi, tôi mới thôi, đành chịu mặc rách vậy.
Đang lúc ấy, cánh cửa lim mở rộng ra, rồi có tiếng nói chõ vào:
- Ông Minh ra mà lấy cơm.
Hắn đi ra, nhìn thấy mâm cơm chỉ có một cái bát và một đôi đũa, liền hỏi :
- Sao có một xuất cơm thôi? Hai người cơ mà?
Có tiếng đáp :
- Còn tên kia hãy bắt nhịn đói một hôm.
Hắn giận dữ nói:
- Hôm nay ta mời khách, anh phải mang đủ hai xuất, nếu không nghe, ta lên tận cung đườrng hỏi huyện quan.
Có tiếng chân người đi rồi một lúc lại thấy đến.
Hắn tươi cười:
- Có thế chứ!
Cánh cửa từ từ khép lại. Hắn bưng mâm đặt trên phản gỗ, sới cơm, so đũa cẩn thận, rồi mời:
- Nào... chúng ta ăn cơm đã, sẽ nói chuyện sau.
Dưới ánh đèn lù mù, hai người ung dung ngồi ăn. Mâm cơm có cả rau, thịt ngon lành, đủ tỏ là hắn được biệt đãi.
Hắn vừa ăn vừa súc cơm cho Khanh, Nhìn thân hình bạn, Khanh thở dài nói:
- Dù sao đời sống trong ngục cũng thiếu thốn và lam lũ vất vả. Anh cứ trốn phắt đi nơi khác chứ đợi ân xá của triều đình thì đến bao giờ.
Cặp mắt ứa lệ, hắn đáp:
- Tôi muốn vào tù, tự đày đọa tấm thân để ăn năn tội lỗi, vì tôi là kẻ sát nhân, vì tôi đã giết mẹ tôi để trả thù cho cha tôi.
Khanh toan hỏi nữa, nhưng vì thấy bữa cơm sắp xong, nên lại thôi. Hắn dọn dẹp cẩn thận, rồi lấy ấm siêu đun nước. Giữa hai chén chè thơm đậm, hắn bắt đầu kể lại tấn thảm kịch đã sẩy ra trong gia đình hắn cách đây hơn 20 năm.
‘‘ Hồi ấy – lời tên tù – tôi mới lên 7 tuổi, chính Ià năm Cảnh thống đời vua Lê hiến Tôn. Thầy tôi Ià Cao Lộc người làng Tam Đa huyện Bình Lục, lấy mẹ tôi người cùng làng. Gia đình tôi được đủ bát ăn, một phần lớn là nhờ ở tài buôn bán của mẹ tôi. Thầy tôi thì ngày hai bữa rượu xong lại nằm khoèo hay xà vào đám bạc chơi cò con cho đỡ buồn. Mẹ tôi vốn là bậc hiền phụ, đối với thầy tôi rất mực chiều đãi, nên trong nhà lúc nào cũng được yên ổn vui vẻ. Mẹ tôi đi buôn nên quen rất nhiều, khách khứa đi lại luôn luôn, có khi ngủ lại một vài đêm là thường.
‘‘ Trong bọn khách đàn ông có một người tên là Hai Cân trạc độ 30 tuổi, đối với thầy tôi rất thân mật, hay cho tôi quà bánh, nên tôi cũng yêu mến quyến luyến hắn, và gọi hắn là chú. Tôi có ngờ đâu hắn đã lợi dụng tình thân thiết đó để quyến rũ mẹ tôi, và làm tan nát gia đình tôi.
Người tù nghỉ một lát, uống ngụm nước rồi lại tiếp:
‘‘À quên, tôi chưa xưng danh cho anh biết tôi là Cao Minh và đang theo học một ông đồ ở trong làng. Anh nên rõ rằng hồi ấy, người đi học chữ Hán còn hiếm lắm, gia đình nào thật sung túc mới dám nghĩ đến việc cho con cái theo đòi cửa Khỗng sân Trình. Mẹ tôi quí tôi lắm, nên chịu thương chịu khó, thắt lưng buộc bụng dành dụm được một chút vốn liếng để giả tiền học cho con. Ngoài ra bao sự chi tiêu hàng ngày đều do bàn tay mẹ tôi cáng đáng cả. Một buổi trưa hôm ấy tôi thấy mâm cơm để trên giường, theo lệ thường, tôi quẳng sách vào một chỗ, rồi xà vào toan sới cơm ăn. Mẹ tôi ở đâu đến, gạt phắt lôi ra, đoạn bưng mâm cơm đi. Tôi cố giữ tay mẹ tôi lại, nằn nì:
-  ‘‘ Con đói lắm, mẹ cho con ăn.
‘‘ Mẹ tôi lườm một cái đáp:
-  ‘‘ Đồ hư, bố mày mệt nằm trong buồng, không vào hỏi thăm, chỉ vục đầu vào bát cơm.
‘‘ Cả ngày hôm ấy, tôi chỉ được ăn một cái bánh trưng mua ở chợ, trong bụng đói như cào nhưng không dám kêu ca gì, vì cả nhà còn đang bận rộn chữa chạy cho thầy tôi. Mới đầu tôi không hiểu tại sao mẹ tôi lai cấm không cho tôi ăn cơm, sau này lớn lên, tôi suy nghĩ mãi về cái cử chỉ lạ lùng của mẹ tôi lúc bấy giờ, thì tôi hiểu ngay. Nhưng than ôi! muộn lắm rồi. Chiều hôm ấy thầy tôi lên cơn đau bụng kịch liệt rồi chết. Ai cũng bảo là người bị ngộ độc, nhưng không hiểu ở trường hợp nào. Ma chay cho thầy tôi xong, mẹ tôi không đi chợ nữa, ở nhà giồng giọt mấy sào đất để sinh nhai. Tám tháng sau mẹ tôi tái giá. Mẹ tôi lấy ai? anh có đoán được không? lấy Hai Cân anh ạ, thật là một sự bất ngờ. Trong làng có nhiều dư luận trái ngược nhau về cái chết của thầy tôi, nhất là sau khi mẹ tôi đột ngột tái giá, thì những lời sì sào bàn tán phút chốc bùng lên như ngọn lửa trong lò. Ở làng được ít lâu, thì gia đình tôi dọn ra huyện ly. Hai Cân đối với tôi rất tốt, nhưng không hiểu sao, tôi ghét hắn quá, có lẽ vì hắn mà tình thân yêu của mẹ tôi đối với tôi không được đằm thắm như trước...
Đến đây, chợt nghe có tiếng người lao xao ở ngoài cửa, chân dẫm thình thịch như vồ nện đất. Cao Minh vội đi ra nấp sau cánh cổng lim lắng tai nghe một lúc rồi vào. Khanh hỏi:
- Cái gì ầm ầm thế ?
- Phạm nhân đi làm về, trời sắp tối rồi.
Minh cầm chai dầu đổ thêm vào đĩa đèn, rồi gẩy ngọn bấc cho cao. Chàng rót nước uống rồi kể tiếp:
‘‘ Thấm thoát đã gần 15 năm, tôi nhớn lên, lấy vợ và dọn ra ở riêng. Ba năm sau vợ tôi qua đời. Tôi buồn vì cảnh gia đình nên thu xếp ít tiền nong lên Thăng Long buôn bán. Một mình ở nơi phồn hoa đô hội, trong tay sẵn có đồng tiền, tôi đâm ra chơi bời, ngày đêm mê mệt ở đám yên hoa, không bao lâu vốn liếng hết sạch. Tôi đang nghĩ cách xoay tiền thì gặp được người làng là Ba Lục mở ngôi hàng thịt lợn ở cửa Đông. Chúng tôi gặp nhau, tay bắt mặt mừng hết chuyện buôn bán đến chuyện chơi bời, lan man bàn đến gia cảnh của tôi. Ba Lục nói một câu trắng trợn làm cõi lòng tôi se lại:
‘‘- Thầy anh bị chết nhanh chóng quá.
‘‘-Tôi cũng cho là thầy tôi dùng phải thức ăn để ôi, lại vì uống rượu nhiêu nên bịnh tình càng nặng.
‘‘ Ba Lục bĩu môi
‘‘- Làm gì có thức ăn để ôi ! Thầy anh bị người ta đánh thuốc độc chết ?
‘‘ Tôi dật mình chố mắt nhìn :
‘‘ - Ai đánh thuốc độc chết ?
‘‘ - Hai Cân chứ ai !
‘‘ Máu tôi sôi lên sùng sục, mắt tôi đỏ ngầu như tiết, tôi gặng hỏi:
‘‘- Ai bảo anh thế?
‘‘- Ông lang Canh được mời đến xem bịnh cho thầy anh nói thế chứ ai !
‘‘-  Ông lang Canh bây giờ ở đâu?
‘‘ - Ở cách đây dăm nhà.
‘‘ Tôi đứng phắt giậy cầm tay Ba Lục nói:
‘‘- Anh đi với tôi đến nhà ông lang Canh.
‘‘ - Ba Lục chót nhỡ nhời, sợ lôi thôi đến mình lắc đầu quầy quậy:
‘‘ -  Chịu thôi anh đến đó mà hỏi.
‘‘ Tôi chừng mắt nhìn hắn:
‘‘ - Anh có đến không ?
‘‘ Ba Lục nhìn nét mặt tôi hung dữ quá, hoảng sợ vội dắt tôi đi. Đến nơi tôi được ông lang Canh cho biết rõ là thầy tôi ăn phải một thứ thuốc độc rất mạnh, nên ba giờ sau, là thở hơi cuối cùng, chữa cũng không kịp; còn thủ phạm vụ mưu sát này là ai thì ông ta không biết.
‘‘Ở nhà ông Lang ra, tôi ủ rủ như người sắp phải tội tử hình. Tôi bắt đầu phân tách tỉ mỷ các cử chỉ bí mật của mẹ tôi lúc cấm tôi không được ăn cơm, sự vắng mặt của Hai Cân sau khi cha tôi qua đời, và cuối cùng là việc mẹ tôi đột ngột tái giá. Dựa theo dư luận của quần chúng, và kinh nghiệm của tôi đã thu lượm được sau 15 năm sống chung với Hai Cân tôi có thể đi tới một kết luận là: Hai Cân và mẹ tôi đã đồng lòng mưu hại cha tôi để được tự do kết hôn với nhau.
‘‘Tôi yên trí như vậy nên hôm sau tôi thu xếp về Bình lục. Tôi đi bộ từ sáng đến tối mịt mới tới nơi. Tôi vừa bước chân vào cổng thì chợt nghe thấy tiếng người quát tháo ở trong nhà, xen lẫn với tiếng. khóc của mẹ tôi. Tôi dừng lại nấp sau cánh cửa để nghe. Tiếng đàn ông gắt:
- ‘‘Mày còn thương tiếc nó thế, thì lấy tao làm gì.
 ‘‘Tiếng mẹ tôi rên rĩ:
- ‘‘ Ông quyến rũ tôi, sui tôi giết chồng. Bây giờ nhan sắc tôi đã tàn tạ, ông lại ra lòng rẻ rúng tôi và bắt tôi phải nạp thiếp mua hầu cho ông.
‘‘ Có tiếng quát:
-  ‘‘Mày định vu oan cho tao à ? Đồ gái đĩ già mồm. Rồi tiếp đến những tiếng huỳnh huỵch. Mẹ tôi kêu rú lên như cầu cứu.
‘‘Thế là tấm màn bí mật phủ trên cái chết ai oán của cha tôi ngót 20 năm nay đã bị xé toang ra. Tôi không nén nổi sự tức giận, tôi run lên vì tức giận, tôi gầm lên một tiếng, đạp tung cánh cửa xông vào. Mẹ tôi sợ quá, nín khóc. Tôi nắm lấy Hai Cân, sòe bàn tay bóp chặt lấy cổ hắn. Mẹ tôi níu lấy tay tôi, nói một giọng van lơn:
-  ‘‘Con ơi, tha cho hắn. Chính mẹ đã giết cha con.            Hắn vô tội. Con chớ            làm cho mẹ phải góa bụa hai lần.
Câu nói đó càng làm cho máu tôi sôi lên. Tôi đẩy mẹ tôi ngã lăn xuống đất quát:
-  ‘‘ Đồ sát nhân.
‘‘ Bàn tay tôi khớp mạnh lại, hắn rảy rụa mãi rồi mới chịu chết. Tôi ném cái thây cứng đờ dưới chân giường. Mẹ tôi òa lên khóc, ôm lấy xác hắn, và dùng hết những câu tục tằn để thóa mạ tôi. Tôi nổi nóng phát điên người, trí óc không còn đủ sáng suốt để suy xét nữa. Mắt tôi mờ đi. Tôi như con thú dữ khát máu, lồng lộn muốn cấu xé mồi ngon. Trong khi đó, mẹ tôi vẫn luôn miệng chưởi rủa, gọi cả tên của cha tôi lên mà lăng mạ. Tôi thét luôn một tiếng, rút phăng con dao đeo bên mình, nhắm đúng ngực mẹ tôi đâm thẳng xuống. Mẹ tôi vừa rú lên, thì một dòng máu đã phụt lên mặt tôi, làm tôi choáng váng, điên cuồng, ngã gục bên cạnh cái tử thi đẫm máu... Lúc tôi tỉnh giậy thì đã thấy mình bị trói chặt và bị giam trong ngục’’.
Cao Minh kể xong, ngồi lặng yên, nhìn cái bấc đèn sèo sèo cháy. Gian hầm lại trở nên tịch mịch. Cái tĩnh mịch rùng rợn, ghê người. Ngoài cổng huyện ba tiếng trống cầm canh, đều đều rơi trong khoảng không gian mù mịt.
*
★ *
- Anh đưa bát mật đây cho tôi, nhanh lên gần được rồi.
Đầy một chảo sườn lợn đang reo trên bếp lò, hành mỡ thơm nực cả gian hầm. Minh cầm bát mật trút cả xuống, rồi cầm đũa đảo lộn lên. Khanh nhìn những miếng sườn còn dính máu đỏ lòm gắt :
- Anh làm thế này không được.
Minh dừng đũa nhìn bạn hỏi:
- Tại sao lại không được ? làm chả chìa thì phải có tí ngọt ngọt mới đúng vị chứ!
- Đáng lẽ anh phải để cho sườn chín vàng đã rồi mới đổ mật vào thì hơn. Anh vội cho mật vào thì mật đã cháy đen mà sườn còn sống.
Minh chép miệng:
- Ừ nhỉ, quên đi mất. Đã chót rồi thì làm thế
nào bây giờ ?
- Nó cháy đen lại ăn đắng lắm.
- Úi chào ăn được tuốt.
- Anh xem còn miếng nào sống không?
- Có mấy miếng hung hung đó thôi còn chín hết.
- Thôi được bắt ra.
Minh gắp một miếng sườn còn sống bỏ tót vào miệng nhai:
- Một miếng sống bằng đống miếng chín. Anh cứ vẽ vời mãi. Đã chết ngay đấy mà sợ.
Khanh đổ sườn vào bát, bầy lên mâm, bên cạnh đĩa trứng tráng. Minh cầm chai rượu rót ra hai chén đầy, rồi mời:
- Anh uống đi, rượu với chả chìa khoái biết mấy.
Hai người ngất ngưởng ngồi bên mâm rượu, hết chén này đến chén khác, chuyện nở như gạo rang. Khanh hai tay không bị trói như trước nữa, lại học được cách đi của Minh, nên chân bị xích mà vẫn bước nhanh. Đó cũng là nhờ ở sự can thiệp rất ráo riết của Minh với huyện quan vậy. Chợt có tên lính đẩy cửa gọi:
- Ông Minh lên quan đòi.
Minh đang ngà ngà say, cau mặt gắt:
- Chẳng đòi hỏi gì cả. Lão gia còn đang ‘‘tửu’’ đây.
Tên lính đợi một lúc không thấy Minh ra liền bỏ đi, một lúc đến giục :
- Ông được triều đình ân xá rồi, lên mà nhận giấy để mai về?.
Minh dừng chén rượu hỏi lại:
- Có thật không?
- Ai dám nói dối ông.
Vừa hay viên quản cơ sồng sộc đi vào, tay cầm bỏ đuốc. Hắn nhìn thấy hai người đang uống rượu mỉm cười, vỗ vai Minh:
- Tôi có lời mừng ông. Tân quân giáng chiếu ân xá các phạm nhân. Bắt đầu từ ngày mai ông được trả lại sự tự do, và về nhà làm ăn.
- Tất cả chứ?
- Những phạm nhân kết án hay chưa kết án nặng nhẹ đều tha hết, chỉ trừ những người bị bắt vì tội phản đối tân triều thì phải giữ lại mà thôi.
Nói xong viên quản cơ đi ra. Khanh thở dài.
- Tôi đến chết rũ xương trong này thôi.
Minh cúi đầu ngầm nghĩ một lát, rồi ghé vào tai bạn hỏi:
- Anh có muốn thoát khỏi đây không ?
- Khốn nạn! tôi còn bố mẹ già, chưa biết đã bị bắt rồi hay lưu lạc phương trờĩ, trong ruột lúc nào cùng xót như cào, chỉ mong thoát khỏi nơi tù ngục mà thôi. Anh có cách nào giúp tôi không?
- Trốn thì rất dễ, nhưng phải đi ở chỗ khác, chứ còn quanh quẩn ở đây thì mất mạng ngay.
- Tôi vì sơ ý nên mới bị chúng tóm được chứ thực ra ở trận tiền thì dẫu một đội quân cùng chưa chắc đã làm gì nổi.,
Minh cả mừng hỏi:
- Thoát khỏi rồi, anh đi đâu?
- Tôi sẽ vào Thanh Hóa tung hoành một phen cho họ Mạc biết tay.
- Đó cũng là chí hướng của tôi. Làm trai trong thời buổi nhiễu nhương này, lại thêm có chút tài nghệ không nhẽ lại giữ mãi tính nhút nhát quanh quẩn với gia đình thì chả đáng thẹn với cố nhân lắm ru!
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
Sáng hôm sau, Cao Minh lên cung đường nhận giấy ân xá, rồi xuống ngục thất từ giã Khanh đi. Chàng vừa khỏi được vài bước thì lính canh sộc vào khóa chặt hai tay Khanh lại. Khanh ngạc nhiên hỏi:
- Sao dở mặt chóng thế?
- Huyện quan nể ông Minh mới cho anh hưởng cái đặc ân không phải cùm tay, chứ riêng đối với anh thì khác.
Cả ngày hôm ấy. Khanh chỉ được có một nắm cơm con. Chặp tối, chàng lại bị tra tấn một lần nữa. Khanh cố nhịn đau nghiến răng hỏi:
- Ta đã thú nhận cả rồi, sao còn đánh mãi?
Viên cai ngục quát:
- Ta được lệnh đánh chết mày, nhưng còn nhẹ tay để cái phúc về sau đó. Nếu mày không chịu khai rõ chổ ở của Vũ công Duệ, thì còn bị đòn.
Khanh mừng thầm là bố mẹ đã chạy thoát được, và có lẽ đã tới Thanh hóa rồi. Muốn đỡ phải bị cực hình,               chàng đành phải hạ giọng ôn tôn nói:
- Ông đánh mãi tôi cũng thế thôi, vì trong khi bị bắt giam, tôi có hiểu tình hình bên ngoài ra sao đâu?
Thầy mẹ tôi còn ở nhà cu đồ Lưu sĩ Tái hay đi nơi nào, tôi cũng không được rõ. Ông làm ơn cho phép tôi lên phân trần với huyện quan.
Viên cai ngục cười gằn:
- Mày nói dễ thế ! mày nên biết rằng nếu xử đúng lý ra thì mày không bị            đòn là phải, nhưng nếu xử về ‘‘tình’’ thì tội mày nặng lắm, chết cũng đúng.
- Thế nào là xử tình.
Viên cai ngục nheo cặp mắt nhìn Khanh một cách khinh bỉ:
- Mày còn trẻ người non dạ nên chẳng biết mô tê gì cả. xử tình là lấy tình thân thiết mà xử với nhau, khỉ con ạ, dốt như bò.
Khanh vẫn chưa hiểu:
- Tôi đối với ông vẫn một lòng kính trọng, có điều gì là thất lễ đâu?
Hắn chề môi, lấy ngón tay dí vào đầu Khanh dằn từng tiếng:
- Con khỉ cộc đuôi, dốt ơi là dốt. Của này có đập vỡ óc ra            cũng thế thôi. Lắng tai mà nghe cho rõ:
- Đã bước chân vào đây thì ông trời con cũng phải kính trọng tao, nếu ngỗ ngược thì roi ông quất cho gẫy gối tối mặt, biết chưa? Khi tao thi hành nhiệm vụ, tức là tao xử ‘‘lý’’ thì dù mày có nhũn như con chi chi tao cũng phết bừa nhưng nếu mày biết dùng ‘‘tình’’  nghĩa là ‘‘tiền’’ đối với tao, thì tao lại lấy ‘‘ tình’’  xử lại, và bất chấp cả cái ‘‘lý’’ nhỏ mọn kia nữa. Mày đã biết chưa, khỉ con ạ!
Khanh bấy giờ mới hiểu. Chàng chợt nhớ ra là Minh lúc đi có đưa cho chàng một gói bạc vụn để phòng khi có việc dùng đến; chàng liên hất đầu bảo cai ngục:
- Tôi quên khuất đi mất, té ra thất lễ với ông. Tôi có ít bạc vụn để ở đầu giường xin biếu ông gọi là một chút lòng thành.
Viên cai ngục cầm dĩa đèn soi qua ổ rơm, rồi lột chiếu thấy một gói giấy thì cả mừng, hỏi lại:
- Có phải đây không?
- Phải ?
Hắn đút gói bạc vào bộc, rồi mở trói cho Khanh:
- Bác muốn dùng gì cứ bảo tôi sẽ có đủ.
Thấm thoát đã được mười hôm, Khanh đợi mãi không thấy Minh đến cứu, đã sốt ruột. Chàng ngờ là bọn thất tín, nên cũng định tự mình tìm cách tháo thân, nhưng khổ một nỗi đường lối trong huyện không thuộc, và hai chân thì bị xích khóa chặt, co ruỗi khó khăn. Cái tư tưởng vượt ngục mới thoáng hiện trong óc lại vụt biến mất, vì chàng không đủ can đảm và sáng suốt để làm một việc mạo hiểm như thế. Chàng nhận thấy mình hèn nhát quá, và ngay đến cái vũ nghệ mà chàng đã khổ công luyện tập trong bấy nhiêu lâu cũng thành ra vô ích, khi mà ta chỉ cần một chút khôn khéo, mềm dẻo là có thể vượt khỏi bước hiểm nghèo. Chàng lại hối hận vì không nghe lời khuyên can của mẹ, để đến bị bắt trong một trường hợp không ‘‘anh hùng’’ tí nào.
Cả một kho kinh nghiệm về cách xử thế mà chàng đã học được ở trong sách, chàng chưa được đem áp dụng lần nào, và đến khi có cơ hội để áp dụng thì lại rất vụng về. Chàng đã cương khi mà phải nhu, và lúc cần phải cương nghĩa là phải đem hết sức mạnh của mình để đối phó với kẻ thù thì chàng lại nhút nhát, sợ hãi. Thật là một sự trái ngược trong cái hành vi thiếu tâm lý, của một chàng thiếu niên mới được va chạm đến đời sống, và cũng là thói thường của kẻ đã quá tin tưởng ở tài năng nông cạn của mình.
Buối tối hôm ấy, Khanh nằm co ro trên chiếc ổ rơm ; nghĩ đến cha mẹ, đến thân thế, chàng bất giác mủi lòng khóc rưng rức như đứa trẻ con vừa bị trận đòn đau. Chàng không còn hy vọng thoát khỏi nơi tù ngục và rầu lòng chờ cái ngày mà lưỡi dao oan nghiệt sập đến, kết liểu tuôi xuân tươi đẹp.
Một hồi trống cầm canh vang lên trong cảnh đêm khuya, tiếp theo mấy tiếng tù và rúc ngoài xa.
Sau đó, cảnh vật lại chìm vào trong cảnh yên lặng. Bỗng cánh cửa hầm hé mở để một luồng gió lạnh lùa vào. Một cái bóng vụt chạy vào nhẹ như chiếc lá, rồi có tiếng người nói:
- Minh đây, anh cứ yên để tôi mở khóa.
Một bàn tay sờ vào chân chàng, lách cách một lúc thì dây xích tung ra. Minh kéo chàng ghé vào tai hỏi:
- Anh có đi được không?
- Được.
Hai người lách ra khỏi cửa hầm cánh cửa từ từ khép lại. Trong cảnh tối tăm mù mịt; hai cái bóng nối đuôi nhau vùn vụt qua một thửa ruộng đất bỏ hoang rồi vượt bức tường thấp chạy vòng quanh huyện. Chớp mắt đã lần vào trong bầu trời đen kịt...
 
★ * * *
Họ đông như một lủ kiến chen chúc nhau trên con đường cỏ ngoằn ngoèo qua những khu rừng rậm rạp. có lúc họ đi thành hàng dài, nối đuôi nhau, kẻ trước người sau, như một toán quân đang tiến ra mặt trận. Khi đến một thung lũng rộng rãi, họ tản mát khắp cánh đồng cỏ cao ngập đầu người, hay tụ hợp trên bờ suối để nấu ăn. Từng đàn trâu bò chậm chạp lách qua những thân cây cao vút, thỉnh thoảng lại rống lên những tiếng kêu rầu rĩ.
Đàn bà địu con đằng sau lưng, một tay sách lồng gà, một tay dắt trẻ con; nặng nề rẽ đám cỏ gianh. Đàn ông gánh một bên là gạo, một bên là đứa bé ngồi gọn trong chiếc thúng, kiên nhẫn bước đều như không biết mõi, mặc dầu họ đã đi như thế hơn nửa tháng giời ở trong rừng thẳm. Họ là những nông dân của hai tỉnh Thanh hóa Nghệ an, đã hưởng ứng lời kêu gọi của vị trung thần Nguyễn Kim, bỏ cả nhà cửa ruộng nương tản cư sang đất Lào, để tỏ lòng bất phục nhà Mạc. Họ đã vượt qua không biết bao nhiêu là suối rừng, bỏ xa rất nhiều thị trấn. Một số ít người vì kiệt lực quá không đi được, thà chịu bỏ xương trong rừng chứ nhất định không quay lại cố hương. Cũng có dăm ba gia đình khi qua các làng mạc, thấy sự sinh hoạt của người Lào cũng dễ chịu, liền ở đấy sinh cơ lập nghiệp. Những người còn lại, đại đa số là thủ hạ cũ của Nguyễn hoàng Dự hay là con cháu của các vị trung thần, nên cũng vì mối thù thâm căn cố đế mà đi theo Nguyễn Kim. Họ đều là những người có một năng lực làm việc dồi dào, một chí hướng bất di bất dịch, một niềm tin tưởng vững chắc về sự trung hưng của nhà Lê. Lòng trung thành của họ với cố -triều đã chỗi giậy một cách mãnh liệt, giữa lúc trạng thái xuy vong của nhà Lê đã diễn đến màn chót.
Nguyên từ khi Nguyễn Kim thoát được vào Thanh hóa, có tụ tập được một ít tướng tá cũ, hô hào dân chúng nổi lên chống với Mạc đăng Dung. Phàm các thôn lạc, chợ búa đều có đảng viên của các nhà Lê lén lút vào để tuyên truyền. Hồi bấy giờ nhà Mạc mới cướp được chính quyền nên thế lực còn mỏng mảnh, dân chúng vẫn chưa quên sự nghiệp của vị anh hùng đất Lam sơn, nên nhiều người bảo nhau thu thập tài sản trốn vào trong rừng. Ở một vài nơi những tay vong mạng mượn danh nghĩa ‘‘Phù Lê diệt Mạc’’  đánh phá các quận huyện làm cho lương dân bị thiệt hại lây mà không biết kêu ca vào đâu được. Ngoài ra lại còn bọn nho giả tuy không dám ra mặt đương đầu với kẻ thù, nhưng ngấm ngầm cho người đi reo rắc mầm phản kháng vào óc dân chúng bằng những bài thơ, câu hát xưng tụng nhà Lê và mạt sát họ Mạc. Đại khái như bài ‘‘Tiếng gọi quốc dân’‘ của một nhà nho vô danh ở Sơn nam:
 
Nhớ lại thuở quân Minh bạc ác,
Làm nước ta loạn lạc tứ tung.
Lam sơn nổi vị anh hùng,
Thanh gươm rửa mối thù chung giống nòi.
Triều Lê thị bầy tôi hào kiệt,
Giúp anh quân dựng nghiệp lâu dài.
Sĩ phu đua trí khoe tài.
Phương nam riêng một góc trời xênh xang.
Lộc nước đã vẻ vang mày mặt,
Lòng trung quân phải đặt lên trên,
Ơn vua chưa chút báo đền,
Mạc đăng Dung nở tiếm quyền cướp ngôi.
Bầy lang sói gây thời nhiễu loạn.
Giết Cung Hoàng ai oán lương dân,
Giang sơn gió bụi cát lầm,
Cỏ cây dường cũng âm thầm xót sa.
Hỡi những kẻ tài ba xuất chúng,
Hỡi những người trí dũng viên thông.
Đứng lên đoàn kết một lòng.
Phù Lê diệt Mạc nên công mới là.
 
Bài ca được truyền từ miệng người này sang tai ngưừi khác, không mấy chốc đã lan tràn khắp nơi. Suốt từ Thanh hóa trở ra Bắc, dân chúng đua nhau hát, rồi lại bảo nhau chôn thóc lúa để phòng khi quân Lê nổi lên thì có lương thực cho lính dùng. Kinh thành Thăng long nhốn nháo, tưởng như cảnh tao loạn sắp khởi diễn, chợ búa có lúc lác đác chỉ dăm ba người bầy hàng chán không có ai mua lại dọn về.
Mạc đăng Dung thấy vậy liền hỏi kế các quan.
Nguyễn Áng lên tiếng:
- Bệ hạ nhân đạo quá nên dân chúng đâm nhờn. Đảng phái nhà Lê vẫn ngấm ngầm hoạt động reo rắc sự hoang mang. Nếu ta không cương quyết thì đại sự hỏng hết.
Vương Phủ tiếp :
- Bệ hạ tha cho Nguyễn Kim về Tây đô là một điều thất sách. Ngày nay hắn rảnh tay ở nơi cố quận, tha hồ mà làm mưa làm gió, nếu không trừ đi thật đáng lo ngại về sau.
ĐăngDung phán hỏi:
- Nên dùng cách nào bây giờ?
Nguyễn Áng tâu:
- Muốn tỏa chiết lòng phản kháng của dân chúng ta phải bắt đầu dùng chánh sách khủng bố mới được. Bệ hạ giáng chiếu xuống các quan văn võ địa phương được toàn quyền xử dụng những biện pháp cần thiết để phòng ngừa hay trừng trị những kẻ làm tay sai cho nhà Lê. Một mặt bệ hạ sai tướng đem quân vào Thanh hóa bắt Nguyễn Kim mang về rồi cắt người trấn thủ ở đấy. Công việc này Dương chấp Nhất phải đảm nhiệm vì chính hắn đã nhiều lần đứng lên bảo tấu cho Nguyễn Kim.
Mạc đăng Dung khen phải.
Mật chỉ của Mạc triều gửi đi khắp nơi, các quan lại thi nhau áp dụng chính sách tàn bạo đối với dân chúng. Ở lương thôn các điều hào lạm dụng quyền thế, uy hiếp người lành, quân lính tuần phòng tha hồ xách nhiễu khách thương, làm đình trệ hết cả việc buôn bán. Các nhà giam chật ních những phạm nhân, đường xá vắng tanh, chùa chiền hiu quạnh. Dân sự lo ngày hai bữa cơm chưa xong, lại phải đề phòng bao nhiêu sự bất trắc xảy ra nên đâm ra chán nản, tiêu cực, thốt ra những lời thở than đau khổ như:
 
Canh ba trống đã điểm thùng,
Mời anh trở giậy ta cùng đi thôi.
Lính tuần ầm ĩ mé ngoài,
Kìa ông họ Mạc đuổi hoài họ Lê.
 
Hay là:
 
Ông Lê thì gác,
Bà Mạc đi tìm,
Tìm người như thể tìm chim.
Ông bà lục đục dễ tìm được ai ?
Con lạy cả hai,
Con van cả hai,
Dân tôi kém cỏi vô tài,
Ông đánh cũng chịu bà sai cũng làm.
 
Hay là tả cảnh đêm khuya trong ngục thất:
 
Một cái gòng.
Nó tròng vào cổ,
Một cái ổ
Tám chín thằng nằm.
Ngoài song lấp ló trăng rằm.
Tiếng khuya mõ (1) điếm, tiếng ầm trống canh
 
 Đó là trạng thái đảo huyền của dân quê giữa thời Lê, Mạc tranh chấp. Đảng phái nhà Lê bị lùng bắt ráo riết, nên chỉ ngấm ngầm hoạt động trong bóng tối. Họ Mạc nắm chính quyền lại liên minh với quân phiệt thẳng tay đàn áp bọn cựu quý tộc, dần dần gây được thanh thế với dân chúng, nên chỉ trong vòng ít lâu mà khắp giải đất chạy từ Thanh hóa ra đến biên thùy Hoa Việt, sự an ninh đã được tái lập. Đang khi ấy thì vị trung thần Nguyễn Kim cũng lâm vào một trạng thái bất ổn, vì quân sĩ họ Mạc dưới quyền chỉ đạo của Dương chấp Nhất đã chiếm được thành Tây Đô trước sự kháng chiến rời rạc và yếu ớt của đoàn nghĩa binh. Nguyễn Kim đành phải đem gia đình tạm lánh vào rừng. Tướng thủ túc là Ninh Chấp bàn rằng:
- Thế lực của Mạc đăng Dung mạnh lắm ta chưa làm gì được. Tướng quân hãy tạm lánh sang Ai Lao nương nhờ Quốc vương Xa Đẩu rồi sẽ liệu.
 Nguyễn Kim ngần ngừ đáp:
- Ai Lao đối với ta không có cảm tình, biết bụng dạ họ thế nào mà sang.
Nguyễn Uông xen vào một câu:
- Ta chỉ nên tin ở lực lượng của mình thì hơn, chứ ỷ lại vào ngoại bang thì cái họa rước voi về dầy mồ không khéo khó thoát được.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 15.03.2020 22:56:23 bởi Thanh Vân>
Ninh Chấp cãi lại :
- Ta còn nắm được một ít dân chúng trong tay việc gì phải nhờ binh lực của nước ngoài. Ta chỉ cốt mượn đất của họ làm cơ sở để gây sức mạnh và tránh con mắt dò xét của họ Mạc, chứ mong gì họ giúp ta.
Nguyễn Kim đang phân vân chưa dám quyết định ra sao, thì thứ nam là Nguyễn Hoàng đã nói :
- Phụ thân muốn vấn kế sao không tìm đến nhà ẩn sĩ ở Hải dương.
Nguyễn Kim ngơ ngác hỏi,
- Nhà ẩn sĩ nào?
- Người này không những học hành uyên bác mà lại giỏi cả về khoa lý số có thể biết được cả việc tương lai, hiện nay đang mở trường dậy học ở huyện Vĩnh lại tỉnh Hải - Dương. Người ấy là Nguyễn bỉnh Khiêm học trò quan cố Bảng nhãn Lương đắc Bằng.
Nguyễn Kim cả mừng vỗ vai con:
- Cha quên khuấy đi mất.
Đoạn, gọi một tên gia tướng tâm phúc là Lý Vũ sai mang thư về Hải dương. Lý Vũ mặc trá hình là một tiều phu, đi tắt đường ra Bắc dòng giã 5 ngày mới đến huyện Vĩnh lại, hỏi dò tìm đến nơi.
Nguyễn bỉnh Khiêm hiệu là Bạch Vân cư sĩ người làng Trung am, sinh về năm Tân hợi (1491) tức là năm thứ 21 đời Hồng đức (niên hiệu vua Lê thánh Tôn) ông là con Nghiêm quận công Văn Định và mẹ là Nhữ Thị con gái quan Hộ bộ thượng thư Nhữ văn Lan. Lúc nhỏ rất thông minh, khi lớn lên ông vào Thanh hóa thụ giáo quan Bảng nhãn Lương đắc Bằng. Ông không những nho học đã uyên thâm, lại thông hiểu cả lý số, nhân thời buổi nhiễu nhương không muốn ra làm quan, về làng mở trường dạy học. Năm ông 36 tuổi thì sẩy ra việc Mạc đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, và từ đó vị nho giả hình như chán cảnh đời, sống không lý tưởng, không hoài bảo, bên cạnh ngọn giả sơn và mấy luống hoa giồng trong vườn.
Lỹ Vũ đến nơi, nhầm lúc ông đang dạy học. Vũ trình bức thư, ông xem qua không nói gì, chỉ bảo học trò truyền cho Vũ xuống nhà nghỉ ngơi. Đêm hôm ấy Vũ trằn trọc mãi không ngủ được, nhân thấy sáng trăng liền ngồi dậy đi bách bộ ở ngoài sân, chợt thấy có bóng người đứng trên thềm. Chàng nhận ngay đó là thầy đồ, vội lại gần vái rồi thưa rằng:
- Chủ nhân tôi đang lúc tiến thoái lưỡng nan đỏ mắt mong lời vàng ngọc của tiên sinh, dám xin tiên sinh chỉ giáo.
Nguyễn bỉnh Khiêm cười đáp:
- Ban ngày có học trò, ta không tiện nói.
Ta gửi túc hạ mấy lời về nói với An thành Hầu: ‘‘ Hãy chịu ẩn nhẫn để đợi thời cơ, khi ra đến Sơn nam phải phòng kẻ tiểu nhân mưu hại. Trong thư An thành Hầu có mời ta đến giúp sức, nhưng ta xưa nay chỉ đọc sách chứ không thạo về việc vũ bị thì có đến cũng vô ích mà thôi’’,
Đoạn, Khiêm cầm gậy trúc trỏ ngọn giả sơn tiếp:
- Rừng núi hiểm trở rất tốt cho sự dụng võ. Ta tính số Thái ất đã biết rõ thời cuộc rồi. Túc hạ cầm lá thư này  về đưa cho An thành Hầu, và mai nên đi  sớm, bất tất phải đợi ta làm gì.
Lý Vũ lạy, nhận thư, rồi xuống nhà. Sáng hôm sau Lý Vũ đi sớm, gấp đường về Thanh hóa đệ trình bức thư và nhắc lại lời nói của Nguyễn bỉnh Khiêm, Nguyễn Kim dở ra xem, chỉ thấy một bài đường luật nghĩa lý mờ mịt khó hiểu. Thơ rằng:
 
Non sông nào phải buổi bình thời.
Thù đánh nhau chi khéo nực cười, 
Cá vực chim rừng ai khiến đuổi,
Núi xương, sông huyết thảm đầy vơi.
Ngựa phi chắc có hồi quay cổ,
Thú dữ nên phòng lúc cắn ngươi,
Ngán ngẩm việc đời chi nói nữa
Bên đầm say hát nhởn nhơ chơi.
 
Kim đọc to cho các tướng cùng nghe. Mọi người còn đang ngẫm nghĩ thì Hoàng đã lên tiếng:
- Bốn câu đầu ám chỉ vào thời cuộc hiện tại, tức là việc thoán nghịch của họ Mạc đã gây nên cảnh núi xương sông máu. Đúng lắm rồi. Hai câu luận ám chỉ vào phụ thân. Câu ‘‘ngựa phi chắc có hồi quay cổ’’  nghĩa là phụ thân dẫu có phải xuất bôn để mưu đại sự thì rồi sẽ có ngày được về cố hương, mà nhà Lê cũng có cơ phục hồi quyền thống trị. Câu ‘‘ Thú dữ nên phòng lúc cắn người’’  khuyên phụ thân nên đề phòng sự mưu hại của kẻ khác.
Ninh Chấp cười nói:
- Cứ như ý tôi thì cái tư tưởng diễn đạt trong bài thơ này là cái tư tưởng tiêu cực của nhà nho hèn nhát, bất lực trước sự biến chuyển của thời cuộc. Bốn câu đầu ám chỉ vào cuộc tranh chấp Lê Mạc; tôi cũng đồng ý. Hai câu luận vẩn vơ quá chừng. Cái dụng tâm của tác giả là muốn làm cho hai câu đó thật bí mật để nâng cao giá trị của bài thơ, và bắt buộc người ta ngẫm nghĩ, phân tách nghiên cứu, rồi rút cuộc muốn gán cho nó một ý nào cũng được. Công tử bảo ‘‘ngựa phi chắc có hồi quay cổ’’  là ám chỉ vào tướng công. Tôi bảo không phải. Câu đó có thể ám chỉ vào tôi, vào công tử, hay vào một người nào khác. Còn hai câu kết thật là phơi trần cái hoài bão ‘‘cao cả’’ của nhà nho ẩn dật. Đấy không phải là một hy vọng trông thấy đất nước được phục hưng sau một thời kỳ tao loạn, đây không phải là tấm lòng tha thiết với sự tồn vong của dân tộc, mà là một cử chỉ lãnh đạm đối với tổ quốc, với giống nòi. Đang lúc quyền thần tiếm vị gieo rắc bao sự tang tóc đau thương, đang lúc toàn dân còn muốn trỗi giậy để rửa hận cho nhà Lê, thì hạng nho giả thoải hóa học đòi chủ nghĩa ‘‘siêu nhiên cao cư’’  của Lão Trang đứng hẳn ra ngoài vòng tranh đấu của dân tộc. Họ đã không hiểu rõ cái nhiệm vụ của giai cấp mình trong giai đoạn lịch sử này, mà chịu sống hèn nhát bên cạnh khóm cúc; cụm hoa, lại còn cổ xúy cái lối chơi ủy mị như đàn ngọt hát hay, nhởn nhơ bên đầm, túi thơ bầu rượu. Chính cái tính bạc nhựợc của họ đã gián tiếp giúp cho Mạc đăng Dung thực hiện mộng đế vương; chính vì cái lối chơi ‘‘nước đôi’’, của họ mà bao nhiêu lương dân bị giết oan. Chúng ta không cần dựa vào cái lực lượng mỏng manh của họ để chống với kẻ thù. Chúng ta đã có một khối rất mạnh làm hậu thuẫn, cái khối đó là dân chúng kiên nhẫn và trung thành...
Ninh Chấp nói xong thì các tướng nhao nhao mỗi người thêm vào một câu. Có người thì cho là Nguyễn bỉnh Khiêm kín đáo khuyên Kim nên cư ẩn một nơi đợi cơ hội tốt sẽ hành động. Người nói nên đề phòng quân địch đánh úp vì cả giải đất Thanh- hóa đã lọt vào phạm vi kiểm soát của nhà Mạc. Lại có người bàn nên tập trung quân đội lại đánh một trận nếu được thì hay, bằng thua thì trốn sang Ai Lao. Đang lúc Nguyễn Kim phân vân chưa biết ngả về phe nào, chợt thấy quân vào báo có một người đàn bà già và một thiếu nữ xin vào yết kiến có việc cơ mật. Kim cho vào. Hai người vòng qua sân, bước lên thềm. Kim thoáng nhìn người, đàn bà già nét mặt hơi quen quen, nhưng chưa nhận rõ là ai, toan cất tiếng hỏi thì người ấy đã òa lên khóc. Các tướng đều sửng sốt không hiểu thế nào. Người đàn bà nín khóc nói:
- Tôi là chính thất của Đô ngự sử Vũ công Duệ, tướng công còn nhớ không?
Nguyễn Kim bấy giờ mới nhớ ra, vội đứng giậy vái chào. Các tướng lĩnh đứng đấy người nào cũng từng biết tiếng Vũ công Duệ và Đặng Thị, nên đều kính cần cúi đầu. Nguyễn Kim mời Đặng Thị ngồi, rồi hỏi:
- Vũ ngự sử hiện nay ở đâu?
Đặng Thị rầu rĩ đáp:
- Gia quân đã mất rồi.
Nguyễn Kim dật mình, ứa nước mắt hỏi:
- Sự tình thế nào, xin phu nhân cho tôi biết.
Đặng Thị bắt đầu kể từ khi đến nương nhờ Lưu sĩ Tái, việc Vũ công Khanh bị bắt thế nào, nhất nhất đều nói hết. Đoạn nghỉ một lát rồi tiếp:
- Vì bị Nguyễn Dương sức giấy truy tầm ngặt quá nên chúng tôi phải trốn tránh trong rừng thật là muôn phần cơ cực, Lưu sĩ Tái vì già yếu không chịu được lam sơn chướng khí nên mắc bệnh từ trần rồi đến lượt Lưu phu nhân cũng nối gót mà qua đời. Chúng tôi hỏi dò đường về đến Ninh Bình đáp thuyền qua cửa Thần phù. Gia quân thất vọng vì thấy sự nghiệp đã tan vỡ, lại thấy dân chúng đất Bắc, đa số hướng về Mạc thị, nên đâm ra yếm thế, nhiều lúc tỏ ra không thiết sống nữa. Nhân hôm ấy lợi dụng lúc thuyền xa bến, gia quân đeo chiếc ấn ngự sử vào cổ rồi nhẩy xuống nước tự trầm. Các chân sào có quăng lưới vớt, nhưng sống gió to quá thuyền trôi mãi không sao giữ được tay lái, đành chịu vậy.
Nguyễn Kim thở dài:
- Thật là một bậc trung thần có khí tiết.
Đặng thị tiếp:
- Chúng tôi vào Thanh hóa, định tìm tướng công để nương nhờ cho qua cái tuổi già, nhưng Thanh Hóa đã bị tướng nhà Mạc là Dương chấp Nhất chiếm mất rồi, nên phải lén lút thăm dò mãi mới tìm đến đây.
Nguyễn Kim chỉ thiếu nữ hỏi:
- Còn cô, này là ai ?
- Thưa, Lưu bích Lan con gái của Sĩ Tái.
Kim vốn biết Đặng thị kiến thức rộng rãi, liền đưa bài thơ của Nguyễn bỉnh Khiêm ra hỏi ý kiến. Đặng thị đọc qua cúi đầu ngẫm nghĩ một lát rồi đáp:
- Hồi Mạc đăng Dung làm việc thoán nghịch tôi có bói một quẻ Dịch biết rằng khi số nhà Mạc đang vượng, chưa thể làm gì được. Tướng công nên cho quân sĩ sang Ai Lao tạm ẩn náu ít lâu đợi khi nào gặp tay anh kiệt đến giúp thì đại sự mới thành.
Nguyễn Kim ngạc nhiên hỏi:
- Còn vị anh kiệt nào nữa ?
- Việc trời bí hiểm lắm, không thể nói trước được.
Nguyễn Kim nghe theo, liền truyền cho quân sĩ thu xếp hành trang, hộ tống bá tính vượt biên thùy sang Ai Lao.
 
*  *  *
 
Mùa thu năm Đinh-Hợi (1527) Nguyễn Kim sang tới kinh thành Ai Lao vào bệ kiến quốc vương Xạ  Đẩu, bầy tỏ ý kiến của mình. Quốc vương bằng lòng để Kim ở trong nước, và sai người đem lương thực chu cấp cho đám dân lưu vong. Ngoài ra Quốc vương lại cho phép người Việt được chọn đất làm nhà, hoặc cầy cấy giồng giọt. Chỉ trong vòng một tháng mà những túp lều xinh xắn, gọn gàng đã mọc lên như bát úp, bao bọc quanh kinh thành. Dân Việt Nam vốn sẵn tính cần cù, nhẫn nại, nên khi đặt chân đến đâu là tổ chức ngay công việc làm ăn, gây dựng cơ nghiệp lâu dài. Sự tín nghĩa trong việc đổi chác thực phẩm, sự lễ phép, thực thà, trong việc đối ngoại, đó là những đức tính quí báu cổ truyền đã giúp cho đời sống của họ được dễ dàng và thêm phần sung-thiện. Họ phải lìa bỏ quê hương là một sự bất đắc dĩ, nhưng tâm hồn họ tràn ngập một hy vọng được về xum họp ở mảnh ruộng đia làng sau một thời kỳ lạc lõng nơi đất khách. Trong lúc chờ đợi họ vẫn thực hiện bổn phận ‘‘làm người’’ một cách chu đáo, nghĩa là họ không chịu ỷ lại vào người khác để sống. Suốt ngày họ khom lưng trên thửa đất cỏn con, vun, sới, giồng rau, nhặt cỏ, lê gót chân trên con đường cát bụi, gồng thuê gánh mướn để kiểm lấy bát gạo, hay ngâm mình dưới nước để mò cua, bắt ốc bán lấy tiền.
Cuộc đời của họ tuy cực nhọc vất vả, nhưng cõi lòng họ vui sướng, vì họ nhận thấy ở trong cái thiếu thốn, cái điêu đứng, cái nhọc nhằn của kẻ tha phương, cá tính dân tộc Việt Nam đã phát huy được sắc thái riêng biệt của nó với tất cả cái gì đẹp đẽ nhất, cao cả nhất, mạnh mẽ nhất của sự sống...
Một hôm, Nguyễn Kim đang ngồi bàn với các tướng sĩ về tình hình nước nhà, thì chợt thấy một viên quan đến triệu vào hoàng cuug có việc cần. Nguyễn Kim đứng dậy vào nhà trong thay áo sắp sửa đi thì Đặng Thị sẽ bảo:
- Tiên sinh đi chuyến này lành ít dữ nhiều, phải thận trọng lời nói lắm mới được.
Kim ngẩn người nói:
- Có lẽ nào. Quốc vương đối với tôi vẫn ân cần tử tế, sao lại giở mặt chóng thế được?
- Bất tất phải nói nhiều, tiên sinh vào sẽ biết, Hễ Quốc vương có giở đến chuyện tiên đế Lê thánh Tôn bình nước Lão qua và xứ Bồn nam thì cứ nói là hai nước đó gây hấn trước cho nên bắt buộc Nam quốc phải động binh. Nếu Quốc vương có làm mặt giận đuổi đi thì đừng nói gì cả, cứ ra về sẽ có mưu kế sau này.
Nguyễn Kim không hiểu thế nào, nhưng cũng liều đi. Tại sao tự nhiên lại có việc này? thật là một sự bất ngờ. Nguyên Quốc vương Xạ Đẩu vốn là người nhu nhược, lại không am hiểu việc nước, nên quyền chính đều ở trong tay thừa tướng Tân lý Vụ. Hồi Nguyễn Kim sang Ai lao xin nương nhờ Xạ Đẩu thì lúc ấy Lý Vụ bận đi kinh lý vắng. Đến khi Lý Vụ về thấy người Nam nhan nhản ở kinh thành cả sợ tưởng nước đã bị chiếm đóng, vội đến tìm Quốc vương hỏi chuyện.
Khi đã biết rõ đầu đuôi, Tân- lý Vụ ngẩn người nói:
- Bệ hạ nuôi ông tay áo, vạ đến nơi rồi.
Xạ Đẩu ngạc nhiên hỏi:
- Sao vậy ?
- Người Nam vốn quỉ quyệt, tin làm sao được. Trước kia, mấy lần họ định sang chiếm đất của ta nhưng vì nước ta sông, núi, hiểm trở, lam sơn chướng khí thì nhiều, nên họ lại phải thôi. Xem như Chiêm thành thì đủ biết. Dân Chiêm vô tội, chỉ vì hèn yếu mà bị họ đè nén, lại dùng lối tầm gửi lấn ngành, làm cho đất Chiêm dần dần thu hẹp lại. Nước Ai lao ta đất rộng người thưa, chính là một mồi ngon của họ. Vua Lê thánh Tôn đem năm đạo quân sang đánh Lão qua và Bồn nam cũng vì muốn thực hiện cái mộng bá chủ phương Nam. Ngày nay bệ hạ cho mấy vạn dân Nam sinh cơ lập nghiệp ở đây, lâu ngày ‘‘Khách biến vi chủ’’ cái họa tuyệt chủng khó lòng mà tránh khỏi. Da dĩ người Nam vốn là một dân tộc anh hùng đã từng đương đầu với Trung Quốc mà có bao giờ chịu lùi bước đâu ? Nguyễn Kim không phải là tay vừa, tướng sĩ của hắn người nào cũng mạnh khoẻ như hùm beo cả. Hắn bị Mạc đăng Dung đánh đuổi nên phải sang ẩn náu bên ta. Một mai hắn đủ thế lực trở về cố quốc, đánh họ Mạc, được thì hay nhất, nhỡ ra thua, hắn lại quay về đây ở lì nhất định không đi nữa thì ta tính làm sao ? Đối với họ Mạc thì hắn đành chịu kém, chứ đối với nước ta dân tình còn lạc hậu, quân sĩ ô hợp, tướng tài không đủ lấy vài viên, nếu hắn dở mặt thì chỉ trong một ngày là toàn quốc bị chiếm đóng.
Xạ Đẩu đờ người ra không nói được câu nào. Tân Lý Vụ lại tiếp:
- Còn một lý do nữa khiến cho ta không thể dung cho Nguyễn Kim ở đây được. Hiện nay hắn là đối thủ của Mạc đăng Dung, vì trong bọn cựu thân của nhà Lê, dễ chỉ có hắn là tay kiệt  liệt hơn cả.
Nếu họ Mạc biết hắn ẩn núp ở bên này, thì rồi có lúc cử binh sang tróc nã. Nguyễn Kim dù được dù thua nước ta cũng tan tành, thật là tự mình cõng rắn cắn gà nhà, vừa thiệt hại sinh mệnh của cải vừa làm cho tình bang giao thêm phần khó khăn.
Xạ Đẩu càng sợ hỏi:
- Sự đã rồi, khanh bảo trẫm định đối phó bằng cách nào ?
- Bệ hạ cho gọi Nguyễn Kim vào đây, để hạ thần dùng lời lẽ thăm dò ý tứ của hắn. Nếu hắn quả không có bụng dạ nào dòm ngó nước ta, thì hạ thần sẽ tìm cách tống đi là xong. Trái lại, nếu hắn lòng lang dạ sói tìm cách lấn dần, thì bệ hạ giết phăng đi, rồi đêm nay lừa cho người Nam ngủ say, đem quân ra đánh úp một trận thì không còn lo gì hậu hoạn nữa.
Xạ Đẩu khen phải, liền sai một viên quan đến với Nguyễn Kim vào triều.
Nguyễn Kim nghe lời Đặng thị dặn, sắp sẵn câu trả lời, rồi cứ vững tâm đến hoàng cung.
Quốc vương mời ngồi. Kim đưa mắt nhìn thấy lố nhố các quan toàn là những người quen mặt cả, tựu trung có một vị ngồi hàng đầu nom sắc mặt hầm hầm mà chàng chưa gặp bao giờ. Kim đoán là thừa tướng Tân lý Vụ, nên cúi đầu thi lễ:
—     Hạ quan kính chào thừa-tướng.
Tân lý Vụ cũng đáp lễ:
- Hạ quan ở xa vẫn biết tiếng An thành hầu, nay mới được hội diện, thật hân hạnh quá chừng.
Nguyễn Kim khiêm tốn đáp:
- Hạ quan gặp lúc quốc biến, gia vong, phải sang nương nhờ quí quốc, tự lấy làm hổ thẹn vô cùng. Thừa tướng đứng đầu trăm quan, giúp Đại vương cai trị muôn dân, hôm nay vời hạ quan vào chắc có điều hay dậy bảo.
Tán lý Vụ cười nhạt hỏi:
- Bên quí quốc họ Mạc làm việc thoán nghịch, dân áo vải còn biết chỗi dậy kháng cự đến cùng, thế mà tiên sinh mang tiếng là giòng giỏi trung thần lương tướng, đã không biết lấy cái chết để đáp lại ân tình của nhà Lê, lại chạy trốn ẩn nấp một nơi cầu lấy cái sống thừa, thì không hiểu ý định của tiên sinh ra sao? Xin bầy tỏ cho hạ quan được rõ.
Nguyễn Kim đáp:
- Họ Mạc bội nghịch, đến cỏ cây còn oán giận huống chi là giống người có tâm huyết. Hạ quan ăn bổng lộc của nhà Lê, sống chết với nhà Lê, có lẽ nào lại đội trời chung với họ Mạc. Xưa kia Bá Di, Thúc tề vì phản đối nhà Chu mà vào ăn ở núi Thú dương hái rau vi ăn. Ngày nay hạ quan cùng một nhóm dân trung nghĩa bỏ đất của nhà Mạc sang nương nhờ quí quốc để mưu sự phục thù, chẳng qua cũng muốn bắt chước cái khí tiết của cổ nhân đó thôi, còn như tìm một cái chết không lợi gì cho nước thì chúng tôi không làm.
- Một giải đất Thanh hóa của lệnh nghiêm đường không đáng là nơi để tiên sinh dụng võ hay sao mà phải chui rúc ở xứ mọi rợ này?
Các quan đều che mặt cười, Nguyễn Kim biết là lời nói đuổi khéo, bèn thưa rằng:
- Hồi trước hạ quan cũng đã hoạt động ở Thanh hóa nhưng vì thế lực còn mỏng manh nên bị tướng nhà Mạc là Dương chấp Nhất đánh thua, phải chay lạc lõng sang quí quốc. Tệ bang với quí quốc, xưa nay hai bên chưa có xảy ra sự gì bất hòa, thì dẫu hạ quan có tạm nương náu ít lâu, tuy cũng phiền phức thật, nhưng cũng là một sự bất đắc dĩ. Nếu thừa tướng không dung, hạ quan xin đi nơi khác.
Tân lý Vụ thấy mình chót quá lời, cũng có ý thẹn, bèn giả vờ nói:
- Hạ quan thấy tiên sinh vì đại nghĩa mà phải bôn ba lưu lạc, nghĩ cũng thương tình muốn giúp một ít quân, tiên sinh nghĩ thế nào?
Nguyễn Kim cúi đầu, thưa:
- Hạ quan xin cảm tạ tấm lòng hào hiệp của thừa tướng. Hiện nay hạ quan tuy quân đơn tướng ít, nhưng không dám ỷ lại vào thế lực ngoại bang để mưu sự thành bại. Ở tệ quốc, trung thần nghĩa sĩ còn nhiều, hạ quan gọi một tiếng là hàng vạn người theo chỉ hiềm chưa có cơ hội đó thôi.
- Thế ngộ thua thì tiên sinh tính sao?
- Không may mà thất bại, thì ba thước đất ở Thanh hóa là nơi yên giấc ngàn thu của hạ quan, có lẽ nào cứ bôn ba lưu lạc mãi quê người.
Tàn lý Vu biết rõ chí hướng của Nguyễn Kim nên không nói nữa, chỉ đưa mắt làm hiệu cho quốc vương biết. Xa Đẩu hỏi thử:
- Dân Chiêm thành thường chê người Nam là hội tín, quả nhân cũng nhận thấy đúng một vài phần. Tiên sinh nghĩ sao?
- Đại vương thấy đúng ở chỗ nào ?
- Đời nhà Trần, quân Nam đục thuyền để cho hàng tướng là Ô mã Nhi bị chết đuối. Thế là một chuyện. Vua Trần anh Tôn đã gả Huyền Trân công chúa cho quốc vương Chiêm Thành rồi nhân lúc vua Chiêm mất, sai tướng sang thăm viếng, thừa cơ cướp công chúa mang về. Thế là lấy không được hai châu Ô, Lý. Trận Chi Lăng, Bình định vương dâng thơ trá hàng lừa cho Liễu Thăng vào trọng địa rồi giết. Như thế chả là bất nhân bất nghĩa lắm ru !
Nguyễn Kim cười đáp
- Đại vương ở xa không biết rõ sự thực,để hạ thần bày tỏ cho đại vương nghe. Việc của nhà Nguyên vu cho người của tệ quốc đục thuyền làm chết đuối Ô mã Nhi thật là vô căn cứ. Chẳng qua Nguyên chúa muốn che lấp cái nhục nhã ở Bạch đằng giang nên bắt bẻ qua loa để giữ thể diện chứ muốn giết Ô mã Nhi nào có khó gì! Chỗ trận tiền khi mà quân giặc đã tan tác chạy dài thì chỉ một ngọn giáo vung lên là kết liểu đời viên tướng Mông cổ, hà tất phải dùng cái kế đục thuyền? Còn như việc gả bán Công chúa Huyền Trân, thì khi vua Chiêm thăng hà, tiên đế Trần Anh Tôn có sai Trần khắc Chung sang viếng tang, đó là lấy tình thông gia sử sự như vậy. Theo tục nước Chiêm, thì các hoàng hậu phi tần phải tự thiêu mình để theo quân vương, công chúa Huyền Trân cũng phải chịu theo tục lệ đó để danh tiết được toàn vẹn. Nhưng dân Chiêm lại cho công chúa là ngngười dị chủng, nhất định liệt công chúa vào hạng thị tì, không cho cái vinh dự được ngồi lên giàn hỏa. Đó là một điều sỉ nhục cho nước tôi. Dân Chiêm đã không biết mình, xử sự trái lẽ, lại còn trách móc lôi thôi, thì không biết họ tránh móc nỗi gì ? Hạ thần hãy đặt câu hỏi: Nếu công chúa Huyền Trân sợ chết
trốn về nước thì khi qua bao nhiêu cửa ải dùng cách nào thoát được, nếu không có sự đồng ý của quân Chiêm ? Chẳng qua người Chiêm xưa nay vẫn ác cảm với Nam quốc, không làm gì được ở trận tiền, nên lấy sự phân biệt nòi giống để làm nhục lại, đó là một lối trả thù của kẻ yếu đối với kẻ mạnh. Quốc vương chúng tôi cũng nhận thấy thế, nhưng vẫn lấy lượng cả đối đãi để    cho     tình hữu nghị            khỏi bị thương tổn.
Còn như Liễu Thăng bị chết ở Chi lăng thật là đáng kiếp lắm. Binh pháp có câu ‘‘Binh bất yếm trá’’, kẻ làm tướng cầm biết bao nhiêu sinh mệnh con ngngười, phải biết quyền biến, mẹo mực như thần, hư hư thực thực, cốt sao diệt được địch thủ mà không tổn hại quân mình là được. Liễu Thăng thân làm một ông tướng đã từng lăn lộn
ở sa trường mà còn giữ cái tính kiêu ngạo, khinh người như cỏ rác, coi rẻ tính mệnh của ba quân, để đến nỗi chết một cách tầm thường, thì đủ biết Nguyên chúa dùng người rất bậy bạ. Như thế mà Đại vương lại bảo người Nam chúng tôi là bất nhân, bất nghĩa, thì không biết những kẻ chỉ quen đi xâm lấn nước người, Đại vương liệt họ vào hạng người nào ?
Xạ Đẩu mặt có sắc thẹn, ngồi im. Một vị quan đại thần lên tiếng:
- Tiên sinh khéo ngụy biện, nhưng không che được cái lỗi của mình. Tiên sinh bảo quân Nguyên xăm lăng nhưng chính ra Nam chúa gây hấn trước, nên mới khinh bỉ sứ thần. Việc chiếm đất của Chiêm và đánh nước Lão qua thì lỗi tại ai?
Kim thản nhiên trả lời :
- Kể từ khi Nam quốc được tự chủ, thì trong sự giao thiệp với Trung quốc, các vua chúa nước tôi vẫn giữ lễ thần tử. Sứ thần của Trung quốc dù sao cũng chỉ là một vị quan thôi nếu xét về chức tước hãy còn kém bậc các vua chư hầu. Sài Thung là một viên quan nhỏ được ủy sang tệ quốc để nối việc bang giao, mà lại lên mặt khinh rẻ mọi người, thì dầu nhũn nhặn đến đâu cũng phải tức. Đã thế Nguyên chúa lại nghe lời hắn sui giục, ý muốn thôn tinh nước Nam làm quận, huyện, nên cất quân sang đánh làm cho Nam chúa chúng tôi bất đắc dĩ phải động binh. Phàm có việc bình định nước Lão Qua và nước Chiêm thành là vì hai nước đó không tự lượng sức mình, hay quấy rối ở biên thùy, làm trở ngại sự thông thương, nên quân Nam vì tự vệ mà phải lâm vào vòng chiến. Vua Chiêm thua trận tự dâng đất cầu hòa. Còn nước Lão qua chịu thần phục không cắt đất, thì chúa chúng tôi có thèm đòi đâu.
Dân Nam đối với mọi người đều lấy tín nghĩa làm đầu, không sợ kẻ mạnh, nhưng không bắt nạt kẻ yếu, đời sống giản dị bình thường ghét sự sa hoa đàng điếm. Mấy tháng giời, chúng tôi nương nhờ quí quốc, tính nết thế nào, chắc các hạ đã rõ, bất tất phải biện bạch nhiều.
Mọi người thấy Nguyễn Kim đối đáp nhanh nhẹn thẩy đều sợ hãi, ngồi im không dám hỏi nữa.
Quốc vương Xa Đẩu nghĩ một lát rồi phán:
- Kinh thành đất hẹp không phải là nơi dụng võ. Quả nhân muốn mời tiên sinh đến nơi khác, tiên sinh có ưng không?
- Cái đó xin tùy lượng của đại vương.
- Tiên sinh hãy tạm về nhà, quả nhân sẽ có cách giúp.
Nguyễn Kim lạy rồi ra về kể chuyện cho Đặng Thị biết. Đặng thị cả mừng nói:
- Tôi dùng mẹo này sẽ đánh lừa được họ.
Đoạn gọi Nguyễn Uông ra dỉ tai một lúc. Uông tức khắc đi loan báo cho các tướng sĩ đều biết. Ngày hôm sau khắp kinh thành đồn rầm lên là Mạc đăng Dung sắp cất quân sang bắt Nguyễn Kim. Tin đó đưa đến tai Quốc vương Ai Lao. Xa Đẩu cả sợ liền vời Tàn lý Vụ vào hỏi kế.
Lý Vu bàn rằng :
- Nếu để quân Mạc sang đây thì nguy cho ta lắm. Bất nhược ta dùng mẹo này vừa không mất lòng Nguyễn Kim mà nhà Mạc cũng không trách ta vào đâu được.
- Mẹo gì?
- Ở về phủ Trấn Nam có đất Sầm Châu rất hiểm trở và lại giáp giới với Thanh Hóa, bệ hạ cho Nguyễn Kim ra đó. Nếu có xẩy ra sự lôi thôi thì chỉ ở biên thùy, Mạc đặng Dung không lấy cớ gì mà kéo quân xâm phạm nước ta được.
Xạ Đẩu gật đầu khen.
- Thật là diệu kế.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 17.03.2020 16:14:20 bởi Thanh Vân>
Ngay hôm ấy Xạ Đẩu truyền cho Nguyễn Kim phải cấp tốc di cư về Sầm Châu và ban cho đủ lương thực để quân dân dùng trong lúc hành trình. Về đến Sầm Châu, Đặng Thị họa địa đồ, rồi cho quân lính cứ chiếu theo đó mà đóng dinh trại, lại tìm chỗ đất rộng rãi làm nhà cho dân chúng ở, chia ra từng làng, xóm. Phàm những nơi ách tắc trong rừng đều đặt quân canh gác, đào giếng khơi ngòi, đắp đường xá để tiện việc thông thương, chiêu mộ dân bản xứ đến lập đồn điền. Không đầy nửa năm mà đất Sầm Châu đã biến thành một thị trấn to tát, người ngựa đi lại rầm rập, quân sĩ luyện tập suốt ngày để chờ thời khởi sự,
Một hôm Đặng Thị bàn rằng:
- Chúng ta sướng xuất khẩu hiệu ‘‘Phù Lê diệt Mạc’’ thì phải tìm một người dòng dõi họ Lê tôn lên làm Minh Chủ mới có thể danh chính ngôn thuận được. Tiên sinh nên truyền hịch đi khắp nơi để mọi người hiểu rõ công việc mình làm, chắc chắn thế nào cũng có người trong hoàng phái tìm đến.
Nguyễn Kim nghe lời, liền thảo tờ hịch gửi đi.
‘‘Hỡi dân chúng toàn quốc.
Nước đang lúc hưng thịnh thì sinh ra lắm điều hay, khi đã rối ren thì có nhiều việc gở
‘‘Xem như đời Hồng đức luôn 5 năm mưa gió thuận hòa, dân chúng an cư lạc nghiệp, Sĩ phu đua nhau dùi mài kinh sử, các xứ mọi rợ thấy đều sợ uy thiên tử mà lại chầu. Đến đời vua Lê uy Mục thì ở đất Sơn nam có giống châu chấu làm hại mùa màng, từng đàn chim sẻ ở mạn Bắc bay về che kín cả kinh thành trong hai tiếng đồng hồ. Đêm đêm, thường nghe thấy tiếng khóc rầu rĩ ở góc thành Đông, dân chúng xôn xao cho là điềm sắp có loạn. Hồi ấy ở Hải dương dân chết đói rất nhiều, con sông ở làng Cổ chai tự nhiên nhuộm máu (1) trong nửa ngày mới tan hết. Quan Ngự sử xem thiên tượng có đóan là điềm hung tinh giáng trần gây việc tai ương. Từ khi vua Lê uy Mục dùng Mạc đăng Dung thì trong nước không bao giờ được yên, lúc thì lụt lội mất mùa, khi thì hỏa tai, đói kém, dân chúng nhục nhã điêu linh, triều đình lung tung đổ nát. Ngày nay Mạc đăng Dung tiếm vị làm nhiều việc bạo nghịch, khiến cho cỏ cây cũng phải câm hờn, các trung thần nghĩa sĩ ẩn náo một nơi, chịu cảnh ngậm sầu nuốt tủi. Xét cho kỹ ra thì luân lý của dân ta vốn gốc ở đạo nho, con người ở trong gia đình lấy chữ hiếu làm đầu, ngoài xã hội thì chỉ có đấng quân vương là trọng, cho nên hễ có giữ được trung hiếu thì con người mới đáng quí. Cường thần Mạc đăng Dung không giữ vẹn đạo thần tử, dẫu có được hống hách một thời, nhưng sự nghiệp cũng như Tào, Măng mà thôi. Xem như Hồ quý Ly khôn khéo bao nhiêu mà cũng không thoát được lưới trời, rút cục lại phải gửi xác ở chốn quê người, trăm năm bia miệng chê bai,
 
(1) Có lẽ thuồng  luồng ở khúc sông đó bị Mạc đăng Dung giết. 
  
nghìn thu xử xanh sỉ vả.
‘‘Ta nay khởi nghĩa ở đất Sầm châu, ngày quên ăn, đêm quên ngủ, nghĩ căm giận cho họ Mạc hung tàn, sót thương cho Lê hoàng bị giết. Dân chúng chớ nghe lời đường mật của loài Mạc cẩu phải đứng lên giết hết kẻ thù, trai gái đoàn kết một lòng, giang sơn thu vê một mối.
‘‘ Cõi Lam sơn còn đó, ai người hoài niệm Lê triều? Đất nước tao loạn điêu linh nghĩa sĩ hãy vùng chỗi giậy ’’.
NGUYỄN KIM
 
Những tờ hịch được tung ra khắp nơi, ai nấy đều nức lòng đón chờ ngày khởi sự trong khi ấy quân lính họ Mạc vẫn ra tay đàn áp dân chúng làm cho tình thế càng ngày càng trầm trọng.
 

* *
 
Vũ công Khanh đang chạy bỗng vấp phải một hòn đá ngã sóng soài trên mặt đất, kêu rú lên. Cao Minh vội đứng lại sờ soạng nắm được tay bạn, kéo giậy, khẽ hỏi:
- Có việc gì không ?
- Chỉ đau soàng thôi, không việc gì.
Hai người lại cắm cổ chạy một mạch đến bờ sông thì dừng lại. Khanh nhìn làn nước bạc lấp lánh trong bóng tối, hỏi :
- Làm thế nào mà vượt được khúc sông này ?
- Có thuyền rồi, không lo.
Minh vừa hú lên một tiếng thì đằng xa có tiếng, người hú đáp lại. Khanh cả mừng :
- Anh tìm được thuyền ở đâu thế?
- Của Đào Tứ, tên gia nhân cũ của tôi. Hắn rất trung thành, không ngại.
Tiếng mái chèo đập xuống nước mỗi lúc một gần, rồi một chiếc thuyền nan rẽ đám bụi lau đỗ vào bờ.
- Xuống ngay đi khuya rồi.
Hai người bước vào khoang. Thuyền lại lừng lững trôi đi. Khanh lấy tay khoắng xuống sông, vớt nước lên rửa mặt. Lần thứ nhất, sau một thời gian trong ngục, chàng được làn nước mát tưới lên da thịt. Chàng cảm thấy một cái gì êm dịu chạy dần dần trong thớ thịt làm cho chàng run lên vì sung sướng. Hai tay chàng miết trên da mặt: từng viên ghét như hạt đỗ xanh lả tả rụng xuống nước, đem theo cả cái hôi hám, bẩn thỉu của mấy tháng bị trói buộc, giam cầm. Rửa ráy xong, chàng ngồi ưỡn ngực buông thõng chân xuống, ngửa mặt nhìn những ngôi sao lấp lánh trên không trung. Hình như lúc này chàng đang cố hít thật nhiều cái không khí trong trẻo để bù vào những lúc phải hãm mình trong bốn bức tường kín mít, và chàng đã say sưa mê mẩn như uống phải một cốc rượu nồng. Cảnh vật tuy bị chìm đắm vào trong bóng tối đen, nhưng không phải cái tối đen rùng rợn ghê sợ của ngục thất nhỏ hẹp, mà là cái tối đen của vũ trụ bao la rộng rãi trong đó con người vẫn được tự do vùng vẫy. Chàng đã quen với đời sống tối tăm, chàng cũng không mong ban ngày chóng trở lại, vì chưa chắc ánh sáng đã mang lại cho chàng một cảm giác êm dịu hơn thế này. Hình ảnh một con chim vượt bay qua, hay một bụi cây lù lù trên bờ sông, tiếng vang của chiếc chày giã gạo trong xóm, một tiếng quẫy mạnh của con cá dưới gầm thuyền, những thứ đó đã hòa vào tâm hồn chàng một âm điệu nhịp nhàng, làm cho Khanh đã cảm thấy một cách thấm thía, sâu sa, cái giá trị sâu rộng của đời sống ở ngoài trời.
Tới bến, ba người nhẩy lên. Đào Tứ cúi lôi chiếc thuyền, Minh cũng giúp một tay. Hai người loay hoay một lúc thì kéo được lên, bốn cánh tay nhấc bổng chiếc thuyền rồi khênh đi. Khanh theo sau.
Trên con đường ruộng mấp mô ba người cứ lùi lũi rảo bước như cái bóng ma, không ai nói với ai một câu nào. Đi đã khá lâu, Khanh thấy hơi mỏi, nóng ruột hỏi:
- Chưa đến nhà ư ?
Đào Tứ thản nhiên đáp:
- Chưa!
Gà đã gáy lần thứ hai, xa xa thấp thoáng có ánh đèn. Ba người đến một cái đồi, chơ vơ có một túp nhà lá, rồi dừng lại trước một cái cổng tán,
Đào Tứ để chiếc thuyền xuống đất, hai tay kéo cái cổng dựng lên, đoạn mời hai người vào. Cánh liếp vừa hé ra, hai chàng bước qua cái ngưỡng cửa, nhìn thấy một bọn độ mười người vừa đàn ông vừa đàn bà đang ngồi châu đầu vào nhau chung quanh chiếc chiếu. Có tiếng sì sào lẫn với mấy câu văng tục nổi lên giữa lúc hai chàng vừa tiến sát đến cái vòng ánh sáng vàng vọt của chiếc dĩa đèn đặt trên mảnh gỗ con đóng ở tường ném ra. Một người đàn ông ngẩng mặt lên nheo cặp mắt nhìn, rồi kêu to:
- À! Ông Minh,
Cả bọn đều nhao nhao nói theo:
- Hay quá, mời ông vào một chân.
Minh lắc đầu:
- Canh bạc về sáng, chả chơi,
Bốn đồng liền lại lóc cóc nhẩy múa trong bát, mọi người lặng lẽ nhìn những thỏi bạc nằm trên chiếu, và suy nghĩ nước bạc. Một người đàn ông trạc độ 50 tuổi ở dưới bếp đi lên, tay cầm cái ấm sành và mấy cái bát, đặt lên giường rót nước mời:
- Hai ông sơi nước chè tươi nóng.
Minh nhìn ông già cười, hỏi:
- Ông không đánh à?
Đào Hòa - tên ông già - thở dài đáp:
- Có nhưng đen quá, cháu nướng nhẵn cả rồi.
Đang lúc ấy, ở trong đám bạc, bỗng thấy một người đàn bà chân rẫy đành đạch, mồm chu chéo:
- Thế là thằng ôn vật làm tao thua cái nữa.
Đào Tứ cãi lại:
- Con đã can u đừng đánh nữa, u không nghe. Đã thua lại đổ tội cho người khác.
- Tao đánh thì mặc xác tao, việc gì mày cứ đứng bên cạnh ếm mãi.
 Đào Hòa cất giọng khàn khàn nói:
- Đen thì nghỉ.
Người đàn bà ném thỏi bạc về phía ‘‘lẻ’’ rồi vùng vằng nói:
- Thua cái này thì thôi.
Nhà cái vừa mở bát mọi người đều reo ầm lên:
- Sấp hai.
Đào Tứ quay đi thở dài:
- Thế là đi đời.
Người đàn bà sỉa sói vào mặt con:
- Tiền của tao thì tao chơi, việc gì đến mày? có giỏi sao không vào mà đánh.
- U hay cáu thì chơi làm gì ?
- Tao lại phải cáu với thứ mày à! Ngửa tư cái trước thì ai chả đánh lẻ, không ngờ nó lại nhẩy sang sấp hai. Bà đánh bạc già đời còn hớ nước gì nữa.
- Thế sao vẫn trần như rộng?
Người đàn bà dí ngón tay vào trán con, nghiến răng nói :
—     Tại mày ếm mãi tao, nên tao mới thua, thằng ôn vật ạ. Đen là tại mày biết chưa ?
Mọi người đều cười ầm lên, nói pha trò mấy câu. Đào Tứ chạy ra thì thầm với cha một lúc. Đào Hòa nhăn nhó sẽ nói:
- Hết cả rồi.
Minh biết ý liền móc túi lấy mấy lạng bạc đưa cho ông già:
- Chúng tôi còn nghỉ lại đây một ít lâu, ông cầm lấy món tiền này để mua gạo. Hết cứ bảo tôi đưa thêm, chỗ người nhà đừng ngại...
Đào Hòa cầm tiền hai ba lần cảm tạ. Các con bạc thấy gần sáng cũng giải tán, lục tục ra về. Khanh tìm chiếc ổ rơm, nằm lăn ra đánh một giấc ngủ say sưa...
Thấm thoát được gần hai tháng. Minh nấn ná đợi cho bạn thật khoẻ đã rồi mới tính đến chuyện vào Thanh Hóa. Suốt ngày hai chàng chỉ nằm khàn tán chuyện hão, hoặc rủ nhau đi chơi quanh vùng để giải trí. Một hôm, hai người vừa về tới cổng, chợt thấy có tiếng ầm ĩ ở trong nhà, xen lẫn với những câu gắt gỏng tục tĩu. Minh đẩy cửa vào thì được mục kích một cảnh tượng đau lòng : Đào Tứ bị trói nằm trên mặt đất đang rên rĩ khóc, chiếc gậy tre gẫy đôi vứt bên cạnh. Trên giường Đào Hòa mặt giận hầm hầm luôn miệng sỉ vả. Chu Thị - mẹ Đào Tứ - thì cứ đấm thùm thụp vào lưng con, vừa đánh vừa chửi không tiếc lời. Minh vội chạy lại can và đỡ Đào Tứ giậy. Bây giờ Chu Thị mới chịu dừng tay, đứng thở hổn hển, nhưng mồm vẫn lảm nhảm chửi. Minh hỏi:
- Có sự gì mà hai ông bà nóng giận đến thế được?
Đào Hòa ấp úng trả lời :
- Nó hỗn láo quá, nếu không trừng trị thì sau này còn dạy thế nào được.
- Nó hỗn láo thế nào?
- Úi chào! chỉ đàn đúm với quân vô lại chẳng chịu làm ăn gì cả. Tôi khuyên bảo, nó cãi lại, nên tức mình cho một trận.
Minh ngạc nhiên, vì biết rõ Đào Tứ không phải là hạng người hư đốn như thế. Tuy sinh trưởng ở một gia đình bần bách, và hoàn toàn thiếu giáo dục, Đào Tứ cũng đủ đức tính của một người con hiếu thảo. Hắn có một tâm hồn chất phác dản dị, và vui vẻ với cái nghèo của hắn. Gia đình chỉ vỏn vẹn có 3 người mà thật là một gánh nặng cho hắn, vì đồng tiền kiếm được bao nhiêu cũng vẫn không điều hòa được mực sống hằng ngày. Tiền vừa lọt vào tay là ném hết cả vào đám bạc. Bố mẹ hắn đã không biết thương con, lại cho là mình có cái quyền được xử dụng đồng tiền theo ý muốn, và nhất định tìm cái thú vui của tuổi già trong cuộc đỏ đen. Ở xã hội Việt Nam ta, bất cứ vào thời đại nào, cái hiểm tượng ấy không phải là không có, nhưng trong hàng nghìn vạn gia đình họa may mới thấy một. Nhất là ở thôn quê, ít khi đã thấy người đàn bà chỉ miệt mài trong quân bài lá bạc, vì đời sống vật chất đã trói buộc họ vào những công việc liên tiếp hàng ngày. Ở đây ta nhận thấy một gia đình đã vượt ra khỏi khuôn khổ tốt đẹp của một hệ thống tập quán cổ truyền, khác nào như một chấm đen điểm trên màu tươi sáng của bức tranh xã hội thử thời.
Đào Tứ đã sống trong gia đình ấy, dưới hai áp lực mạnh nhất và ghê gớm nhất. Hắn chỉ biết cúi đầu theo, và trận đòn vừa qua có lẽ nguyên do vì tiền mà ra cả
Khanh cũng đoán như vậy, nên đưa mắt thầm hỏi ý bạn. Mình không nghĩ thế. Ít lâu nay chàng nhận thấy trong cái cử chỉ ngượng nghịu của đôi vợ chồng già, một sự gì bí mật gian trá và... hung ác vô cùng. Nhiều khi chàng bắt chợp được Chu thị nhìn trộm Khanh luôn luôn, và căn cứ ở cái nhìn ‘‘bất lương’’ ấy, chàng có cảm tưởng như một sự khác thường sắp sẩy ra. Chàng quyết tâm dò xét đến nơi nên sáng hôm sau, chàng gói ghém quần áo vào một bọc to rồi đưa cho Đào Hòa:
- Chúng tôi phải vắng nhà vài hôm, ông giữ hộ bọc quần áo.
Đào Hòa mặt tái hẳn đi, hoảng hốt hỏi:
- Hai ông đi đâu bây giờ?
- Chúng tôi có chút việc, chiều mai lại về?.
Chu thị ở dưới nhà nói vọng lên :
- Hai ông giận gì chúng cháu.
Minh cười:
- Đâu phải thế! ở nhà bó cẳng, đi chơi vài hôm cho khuây khỏa đôi chút.
- Đào Hòa đã nắm được bọc quần áo, yên chí là hai chàng thế nào cũng về, nên vui mừng đáp:
- Vâng, hai ông đi chong chóng về, kéo ở nhà mong đợi.
Khanh chưa rõ định kiến của bạn, thấy bạn đi cũng đi theo sau. Minh dắt Khanh đi một quãng xa rồi mới quay lại hỏi :
- Anh đã hiểu được mưu mẹo của tôi chưa?
Khanh lắc đầu. Minh tiếp:
- Đào Tứ thì rất tốt nhưng bố mẹ hắn gian giảo lắm không tin được.
- Gian giảo thế nào?
- Nhất là Chu Thị, môi mỏng dính, lem lém suốt ngày, bất lương ra mặt.
- Sao anh hay nghi ngờ thế?
- Anh tưởng ai cũng thực thà như anh chắc? anh có biết rằng anh đang bi truy nã rất ngặt không? hình anh đã dán khắp nơi, và ai cũng muốn bắt anh để lấy số tiền thưởng. Vợ chồng Chu Thị dạo này cờ bạc thua luôn, lại thấy nét mặt anh giống bức họa, khỏi sao nẩy ra tư tưởng bắt anh để lấy công?
- Thế thì có liên can gì đến trận đòn của Đào Tứ hôm qua?
- Chắc rằng vợ chồng Chu Thị bàn với con dùng mưu bắt anh, nhưng Đào Tứ không nghe nên mới tức giận mà đánh đập hắn ; chứ tiền tiêu dùng trong nhà, tôi đã chi đủ hàng ngày rồi, còn thiếu thốn gì mà phải vòi vĩnh.
Khanh bấy giờ mới sực nghĩ ra, nhưng chàng bỗng phá lên cười:
- Tôi cứ thách đấy, đến cả một đội quân tôi cũng không coi ra mùi, huống chi có mấy anh lính quèn.
- Tối hôm nay, ta bí mật về dò la xem vợ chồng Chu Thị có hở chuyện gì không? Nếu đúng như lời tôi dự doán, thì ta đào tẩu là hơn hết. Hành động không khéo léo, nhỡ phải đụng chạm với quan quân địa phương thì khó khăn cho mình sau này. Ta không sợ họ, nhưng tránh được họ thì tránh, hà tất phải đọ sức với họ làm gì. Một mai, ta có đủ binh lực trong lay, thì không nói gì đến toán lính tẹp nhẹp ở Sơn Nam, ngay đến đại quân của Mạc đăng Dung cũng chỉ vài trận là quét sạch hết.
Khanh gật đầu khen phải. Buổi tối hôm ấy, hai chàng lần mò về nhà Đào Hòa, khoét vách nhìn vào thấy vợ chồng Chu Thị đang ngồi ở trên giường sì sào bàn tán, còn Đào Tứ nằm lăn trên ổ rơm. Một lúc sau, Chu Thị hình như đã thỏa thuận được với chồng, gọi con bảo:
- Mày đã nghe rõ chưa? thằng bất hiếu bất mục kia.
Đào Tứ chòm giậy gắt:
- Chết thì thôi không bao giờ con chịu làm thế!
Chu Thị nén giận dùng lời lẽ ngọt ngào mơn trớn con.
- U đã nhìn kỹ rồi, hắn giống như in bức ảnh dán ở cổng huyện. Nếu bắt được hắn thì món tiền thưởng 100 lạng vàng lọt đi đâu được, gia đình ta sẽ dọn về Thăng long ở, buôn bán làm ăn. Hiện nay Chúa thượng đang kén người khoẻ mạnh đi trấn giữ các địa phương, u đem tiền lo cho con một chức quan nhỏ, lúc bấy giờ tha hồ mà lên xe xuống ngựa thầy u đỡ vất vả mà con cũng được vinh hiển. Con nghe lời u thì trăm sự đều hay nếu cứ ngang ngạnh mãi thì thầy u từ con, không thèm nhìn mặt đứa con bất hiếu nữa.
- Làm thế là bất nhân bất nghĩa.
Chu thị bĩu môi, nói:
- Mày với người ta ân thâm nghĩa trọng gì?
- Nhà ta mấy đời hầu hạ ông Minh, nghĩa tớ thày sao lại đang tâm sử nhọ như thế được.
- Mày dở lắm con ạ! Người ta khác, ông Minh khác, việc của ta làm có can dự gì đến ông Minh.
- Nhưng người ta là bạn ông Minh, lại là giòng giỏi trung thần. Nên che chở cho người ta mới phải là người có Iương tâm chứ !
Đào Hòa sì một cái, tiếp:
- Trung gì ? Chẳng trung gì bằng trung ‘‘tiền’’ nhiều tiền tha hồ mà tiêu pha.
Đào Tứ ngắt lời:
- Thày u kiết mướp mồng tơi, mà còn cào cấu vay mượn để đánh bạc, huống hồ lại sẵn tiền thì không biết tung tẩy đến thế nào?
Chu Thị cầm chiếc bát đập xuống đất vỡ tan ra từng mảnh, liến thoắng thề:
- Nếu u còn đánh bạc thì chết như thế này.
Đào Tứ phì cười:
- U đập bát lần này là mấy trăm lần rồi nhưng nào có chừa được. Thôi cứ an phận nghèo là hơn. Nghèo mà trung hậu còn hơn giầu mà bất lương.
Chu Thị thấy nói mãi không chuyễn, tức mình gắt:
- Mày có nghe tao không?
- Nghe thế nào?
- Bắt gian tặc rồi về Thăng long.
- Ai là gian tặc, mà về Thăng long làm gì?
- Bố mày là gian tặc, thằng trời đánh thánh vật kia ơi, cứ trêu tức bà mãi.
Đào Tứ khẳng khái nói:
- Con dốt nát không biết xuy xét thế nào là phải trái, nhưng con thấy nhiều người nói Mạc đăng Dung là gian tặc đã cướp ngôi nhà Lê, và giết vua Lê, ai cũng oán giận cả. Con nhất định không theo Mạc đăng Dung.
Chu Thị gầm lên một tiếng xông đến nắm lấy tóc Đào Tứ dìm đầu xuống, rồi cứ mặt mà tát mãi. Đào Tứ để cho mẹ đánh chán tay, rồi mới dịu dàng nói:
- Thầy u chỉ tham vàng nên mới nhẫn tâm làm hại người trung thần, chứ thực ra thầy u cùng chả biết Mạc đăng Dung là ai. Hắn là thằng giặc, thầy u đã rõ chưa? Hiện nay dân chúng đang chán ghét hắn. Ông Nguyễn Kim ở Thanh Hóa đang chiêu mộ binh lính để đánh họ Mạc, mai kia con cũng đi đầu quân.
Chu Thị sỉa sỏi:
- Được rồi mày cứ đi, bà không cần, mày bỏ cả bố mẹ đi theo người dưng nước lã.
- Con rất quý thầy u, nhưng không quý họ Mạc.
- Họ Mạc nó có băm vằm mổ sẻ mày không?
- Nó băm vằm con thế nào được? chỉ một cánh tay này đánh ngã hết.
Hắn vung tay vẽ một cái vòng tròn. Đào Hòa cũng về bè vời vợ, hầm hầm nói:
- Mày theo Lê tao theo Mạc xem thằng nào được thằng nào thua.
- Con theo lẽ phải chứ không a dua nhắm mắt theo liều.
Chu Thị thấy con găng quá cùng hơi chờn chợn, bèn hạ thấp giọng:
- Ai mớm nhời cho mày, mà mày ghê gớm như vậy? Thế nào là lẽ phải.
- Nhà Lê đời đời làm vua có đến một trăm năm nay, đánh Tầu, đuổi Chiêm Thành, dân chúng ai cũng phục. Còn Mạc đặng Dung là anh đánh cá đột nhiên nhẩy lên làm vua, rồi chém giết lung tung, thì hỏi theo Lê phải hay theo Mạc phải?
Chu Thị toan nói thì Đào hòa đã gạt phắt đi:
- Bà cãi vã với nó làm gì cho bẩn miệng? Mày theo ai thì theo, tao không cần. Bước đi khỏi nhà này tao với mày bây giờ là thù địch rồi.
- Thầy u nhất định theo Mạc?
- Nhất định.
Đào Tứ cười sằng sặc nói:
- Nếu thầy u để cho ông Khanh thoát khỏi nơi này, thì con không đi theo ai cả, bằng lòng ở lại nuôi thầy u cho đến già.
- Tao phải bắt hắn giải quan.
- Nhất định chứ?
- Nhất định.
- Thế thì con đi ngay bây giờ.
Đoạn Đào Tứ vớ lấy cái nón đội vào đầu, ngoắt lưng trở ra. Đào Hòa cầm cái ấm sành ném theo. Tứ tránh được; ấm rơi xuống đất vỡ tan ra.
Minh đứng ngoài cũng nổi nóng, giơ chân đạp cánh liếp bật tung ra, rồi nhẩy vào trong nhà. Vợ chồng Chu Thị nhìn Minh hoảng sợ, toan chạy. Minh thét to:
- Đứng lại.
Đào Tứ níu lấy áo Minh, năn nỉ, xin:
- Ông tha cho thầy u cháu.
Nhìn thấy Đào Tứ, Minh không nỡ, nhưng muốn cho Chu Thị một bài học, chàng rút dao chỉ mặt hai người mắng:
- Đồ vô nhân bạc nghĩa, tao còn để dành cái mạng đó, thế nào cùng có ngày.
Đoạn chàng vung dao, hớt một mảng tóc ở đầu Chu thị làm cho mụ sợ quá kêu rú lên ngã gục xuống đất. Đào Tứ chạy lại ôm lấy mẹ khóc ầm lên. Cao Minh vớ lấy bọc quần áo rồi nhẩy ra ngoài kéo Khanh đi. Hai người vừa đi hết thửa ruộng thì chợt có tiếng gọi đằng sau, vội dừng chân lại. Một ngngười chạy theo, vừa thở vừa nói:
- Hai ông đợi cháu với.
Minh nhận ngay là tiếng nói của Đào Tứ hỏi:
- Anh theo chúng tôi làm gì?
- Cháu muốn vào Thanh hóa với hai ông.
Minh ngẫm nghĩ mội lát, rồi đáp:
- Còn bố mẹ ở nhà, anh đi thế nào được?
- Cháu đã nhất định rồi.
Khanh reo lên:
- Hay quá ! vậy chúng ta rảo bước lên.
Ba người đi suốt đêm hôm ấy, đến sáng mới nghỉ một lát để ăn cơm. Ròng rã ba hôm thì họ đến Thanh hóa, thấy đã bị quân Mạc chiếm mất rồi, liền trá hình là tiều phu lẩn lút ở trong rừng sáu bảy tháng giời, họ sống trong khe núi, dưới một túp lều nhỏ, thỉnh thoảng lại gánh củi ra chợ bán để lấy tiền đong gạo và nghe tin tức. Một hôm, Minh bắn được một con hươu sả thịt mang ra chợ, thấy một đám đông người đang xúm xít đứng trước một từ giấy dán ở cột lều. Chàng lách mình vào xem thì ra là tờ hịch của An thành Hầu Nguyễn Kim. Chàng biết vậy, vội vàng bán tống táng cho hết chỗ thịt hươu, mua một ít gạo và chai rượu sách về, báo tin cho bạn biết. Khanh mừng quá dục thổi cơm ăn, rồi ba người tìm đường vào Sầm châu. Đặng thị thấy mặt con òa lên khóc. Khanh hỏi thăm tin tức của cha, Đặng Thị thổn thức nói:
- Cha con đã nhẩy xuống cửa Thần phù tự trầm rồi.
Khanh khóc, ngất đi mấy lượt, làm cho ai cũng phải thương cảm, xúm vào khuyên giải. Nguyễn Kim được thêm ba vị tráng sĩ, trong bụng rất mừng, truyền cho các quân sĩ cơ nào đội ấy ráo riết luyện tập đợi thời khởi sự.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 18.03.2020 23:25:06 bởi Thanh Vân>
CHƯƠNG HAI
Trịnh Kiểm
 
Năm Nhâm Thìn (1531) tức là năm Đại chính thứ hai (niên hiệu của Mạc đăng Doanh), tình hình trong nước đã thấy bớt sôi nổi. Các phần tử nhà Lê không thấy hoạt động mạnh như trước, và những cuộc khủng bố cũng dịu dần. Dân chúng lại tiếp tục sống một cuộc đời bình thản trong cảnh tươi đẹp của đồng ruộng.
Người dân Việt có lẽ đã quen với những biến cố chính trị thường xảy ra Iuôn luôn trên đất nước nên lòng trung thành của họ cũng theo thời cuộc mà co rãn, tư trào của họ cũng theo chiều mà xoay hướng cốt sao được yên ổn nơi quê hương là mãn nguyện rồi. Nói như vậy không phải là phủ nhận tấm lòng yêu nước chân thành của họ đâu? Không, họ rất tha thiết với sự tồn vong của giống nòi, và coi rẻ cái chết khi phải bảo vệ giang sơn. Trong khối óc dản dị của họ, kẻ thù chính của toàn dân hồi bấy giờ là quân Minh, là cái khối khổng lồ Trung Quốc, là cái chế độ thực dân sâu mọt của đế quốc phương Bắc đã trói buộc họ trong nô lệ hơn 10 thế kỷ. Ở họ, tư tưởng tranh đấu chỉ được mơ rộng và kích thích một cách hiệu quả nhất là khi có cuộc xâm lăng của ngoại bang. Cho nên trải qua các triều Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, những cuộc đảo chính tiếp diễn trên 500 năm đối với họ là những sự trạng không quan trọng lắm, nhà nào nắm quyền thống trị thì tuy luật lệ hành chính có thay đổi qua loa, nhưng rút lại cũng chưa mang lại cho dân những phương tiện sinh hoạt nào khả dĩ gọi là tốt đẹp được. Thời đại nào họ cũng bị giai cấp thống trị bóc lột đến xương tủy và xô đẩy họ vào vòng chinh chiến liên miên với các nước lân cận, và nếu có đoạt được thắng lợi về quân sự thì nền kinh tế trong nước cũng kiệt quệ, nông nghiệp không phát triển được đều hòa, người dân áo vải vẫn phải ngửa cổ ra chịu sưu cao thuế nặng, tạp dịch phu phen. Gặp được những vị anh quân như Lý thánh Tôn, Lý nhân Tôn, Trần thánh Tôn, Lê thánh Tôn... lúc nào cũng thương dân như con, thông cảm với dân những nỗi đau khổ, thì họ còn đỡ bị đè nén, rầy vò. Không may phải các bạo chúa như Lê uy Mục, Lê tương Dực đã sa sỉ hoang dâm, lại hay nghi ngờ đa sát, thì đời sống của họ chỉ
những lo cùng phiền, còn nói chi đến chuyện phát triển nông nghiệp và thương nghiệp được.
Đã bị chìm đắm trong vòng tối đen, ngu dốt, lại khổ vì áp lực của bọn sĩ phiệt, bắt buộc phải khom lưng trên cánh đồng lầy để cung cấp thóc gạo cho giai cấp địa chủ quí tộc, dân quê đâm ra chán nản, tiêu cực , sống không Iý tưởng, không tương lai, dưới sự đe dọa của thiên nhiên như lụt lội, hạn hán, hỏa tai bão táp. Vì thế mà sau cuộc đảo chính do Mạc đăng Dung gây ra, một số dân hoài Lê tuy có bồng bột nổi lên phản kháng, nhưng rồi lại im ngay trước sự khủng bố ráo riết của họ Mạc. Họ chịu trở lại với cuộc đời tầm thường của họ dưới bóng tre xanh, thỏa hiệp với tân triều và hy vọng vươn tới một mực sống sán Iạn hơn. Mạc đăng Dung đã đi sâu vào tâm lý công cộng của toàn dân, nên dầu có phải bắt buộc dùng chính sách đàn áp trong một thời gian, nhưng rồi lại nới tay ngay, và lung lạc bọn sĩ phu bằng cách truy tặng cho những người đã tuẫn tiết theo nhà Lê. Đối với giai cấp nông dân, họ Mạc khôn khéo, chiều theo nhu cầu và nguyện vọng của mọi người là định chỉ việc thu thuế trong ba năm, phát thóc gạo và vải, giải tán một nửa số binh lính tại ngũ, đặt quan hệ ngoại giao với Trung quốc, Chiêm Thành, Ai Lao. Làm như thế cốt tỏ cho dân chúng biết chiến tranh đã chấm dứt và triều Mạc đã được các nước lân bang chính thức công nhận.
Mạc đăng Dung làm vua đến năm Canh dần (1529) thì nhường ngôi cho con là Mạc đăng Doanh còn mình về Cổ chai làm Thái Thượng hoàng. Năm Tân mão (1530) Đăng Doanh mới lấy niên hiệu là Đại chính Nguyên niên, và năm sau thì ban bố việc mở khoa thi để kén nhân tài. Chỉ dụ của vua Mạc gửi về huyện Vinh Lộc (Thanh hóa) huyện quan là Trương hoằng Sử lập tức sai thảo công văn đi các thôn xã báo cáo cho dân chúng biết. Hôm ấy lại nhằm vào phiên chợ Sài, mọi người thấy dán ở tường một tờ giấy hồng điều to bằng nửa chiếc chiếu vội đổ sô lại xem, nhưng chẳng ai đọc được chữ gì, chỉ đứng giương mắt nhìn chán rồi lại đoán phỏng. Bấy giờ có một người ở làng Sóc Sơn thấy thế liền chạy vội đi tìm một chàng thiếu niên đang bán củi ở góc chợ:
- Bác lại đây xem hộ cái này một tí, nhanh lên. Chàng thiếu niên vừa bán xong gánh củi, đang đếm tiền thấy gọi liền đáp:
- Tôi còn bận đi mua vài thứ, chốc nữa lại.
Người ấy cố lôi bằng được:
- Cần biết ngay bây giờ. Một tí thôi mà.
Chàng thiếu niên buộc tiền cẩn thận vào cạp quần rồi theo người làng đến chỗ dán tờ cáo thị. Chàng rẽ đám đông, tiến vào, đọc lo cho mọi người nghe:
‘‘Tri huyện Vĩnh Lộc sức hạ toàn dân tri tất : Binh thân niên, tức Đại chính lục niên, Thánh Thượng chi chuẩn khai khoa thủ sĩ, tuyển dụng nhân tài. Sĩ tử hoặc trúng Trạng nguyên, Bảng nhỡn, Thám Hoa tịnh Tiến sĩ tam thập nhân. Kỳ luật lệ trường quy y như cựu. Tu tiên sức toàn dân tri chiểu…’’
Tri huyện 
 
Có tiếng nhao nhao hỏi:
- Bác dịch nôm cho anh em hiểu qua loa.
Chàng thiếu niên rõng rạc nói:
-  ‘‘ Quan tri huyện Vĩnh Lộc sức cho dân chúng biết rằng đến năm Bính thân, tức năm Đại Chính thứ 6, nhà vua có mở khoa thi kén nhân tài. Những người đỗ chia ra như sau: Trạng nguyên, Bảng nhỡn, Thám Hoa và 30 Tiến sĩ. Các luật lệ trong trường quy vẫn như cũ. Vậy sức cho dân chúng biết trước.’’
Chàng đọc xong, mọi người bấy giờ mới để ý đến chàng. Không ngờ rằng một người rách rưới như thế kia mà xem nổi một tờ cáo thị bằng Hán văn, nhất là ở một thời đại mà chỉ những hạng quí tộc mới đủ điều kiện để theo đuổi sự học. Người ta nhao nhao hỏi tên chàng và quê hương của chàng, nhưng chàng đã lẩn đi đâu mất. Vậy chàng thiếu niên đó là ai ? Chàng họ Trịnh tên Kiểm, người làng Sóc Sơn huyện Vĩnh Lộc, phủ Quang Hòa (Thanh Hóa) Tổ họ Trịnh xưa kia quê ở làng Tiên Trung cùng phủ, làm ăn rất phát đạt, truyền đến Trịnh Lục là thân phụ Trịnh Kiểm thì dần dần sa sút, Trịnh Lục còn giữ lại được ba gian nhà gỗ thì đến năm Đoan Khánh thứ hai (niên hiệu vua Lê uy Mục) bị cướp đốt cháy sạch. Vợ chồng hết đường sinh kế, đành phải di cư sang làng Sóc Sơn cấy nhờ ruộng của một nhà phú hộ để lấy thóc ăn. Năm sau thì Trịnh Kiểm oe oe tiếng khóc chào đời. Vợ chồng tuy có buồn vì gia đình bần bách nhưng lại mừng vì được một giai vui vầy trong lúc sớm hôm. Trịnh Kiểm nhớn lên mặt mũi khôi ngô, thân hình tráng kiện, nên được Trịnh Lục yêu quý lắm. Năm Kiểm lên 6, người cha bắt đầu khai tâm cho con. Kiểm rất thông minh học đâu nhớ đấy, lên 10 tuổi đã biết làm thơ. Một hôm có người bạn đến chơi, Trịnh Lục gọi con ra khoe:
- Thằng bé này ngày sau, tuy không chắc chiếm được Trạng nguyên, Bảng nhỡn, nhưng cái Tiến sĩ thì cầm chắc trong tay.
Ông bạn đáp:
- Thời buổi loạn ly này, võ cần hơn văn, Thơ phú có hay thực nhưng không đuổi được giặc. Nên cho con trẻ xoay nghề cnng kiếm thì hơn.
Lục cười:
- Thế nhân trọng văn khinh võ, kẻ cầm thanh gươm lăn lộn ở sa trường tính mệnh như nghìn cân treo sợi tóc. Chỉ có khách văn nhân dùng ngọn bút mà trị dân đã nhàn nhã ung dung lại quyền cao lộc cả.
- Ở đời, sức khỏe là cần nhất. Đối với người lương thiện, thì dùng lời lẽ phải trải là có thể hàng phục được, còn đối với kẻ hung bạo không dùng sức mạnh không xong. Xem như hồi nhà ông bị cướp thì đủ biết. Nếu ông có vũ nghệ để đối phó với chúng thì có lẽ gia đình không đến nỗi phải phiêu bạt đi nơi khác để kiếm ăn.
Trịnh Lục chợt tỉnh ngộ ra, liền nói:
- Tôi không biết vũ nghệ thì dạy cháu làm sao được.
- Ở làng bên có Hoàng vũ Cử mở trường dạy võ, sao ông không cho cháu sang học?
Trịnh Lục nghe lời, chọn được ngày tốt cho con sang thụ giáo Hoàng vũ Cử. Thấm thoát được 5 năm, Lục mắc bệnh qua đời. Kiểm thôi học ở nhà, đi làm nuôi mẹ. Ngày ngày Kiểm vào rừng kiếm củi bán lấy tiền, thừa thì giờ lại luyện tập vũ nghệ để đợi thời tiến thân. Hôm ấy chàng gánh củi ra chợ bán, gặp người làng gọi đến đọc hộ tờ cáo thị xong, chàng vội đi đong ít gạo rồi về?.
Trịnh Kiểm tới nhà thì trời hãy còn sớm chạy vào buồng hỏi thăm mẹ. Trịnh mẫu nằm trên giường thấy con về mừng quá hỏi:
- Con có bán được khá tiền không?
Kiểm vâng, rồi kể cho mẹ biết Mạc triều sắp mở khoa thi, rồi tiếp:
- Con có chút học thức cũng muốn một phen xuất đầu lộ diện, nhưng quyết không chịu làm quan với họ Mạc.
Trịnh mẫu ngạc nhiên hỏi:
- Sao lại thế?
- Họ Mạc làm việc thoán nghịch, sĩ phu trong nước đều căm giận, con là người đọc sách há lại không biết lẽ phải hay sao?
- Cha con mất đi để cho hai mẹ con ta phải lâm vào cảnh bần hàn. Ngày nay con đã khôn lớn, cũng nên tìm cách tiến thân, chớ có a dua theo đòi người ta mà làm mai một tài ba đi. Vả lại sự thay đổi triều chính là thường; họ nào làm vua thì ta cũng là thần tử, cũng phải đóng thuế, đi phu có khác chút gì đâu ? Mẹ nay đã già, tính mệnh như ngọn đèn trước gió, chỉ mong sao con sớm thành gia thất và có công danh là mãn nguyện rồi. Con nên nghe lời mẹ ôn nhuần kinh sử để góp mặt với đời, có được như thế, thì mẹ dẫu nhắm mắt cũng không oán hận gì.
Kiểm vốn là người con có hiếu, không dám trái lời mẹ, liền đáp:
- Ba năm nữa mới có khoa thi, đã vội gì. Con sẽ làm cho mẹ được hài lòng.
Nhìn thấy trời đã sắp tối. Kiểm đứng dậy:
- Con đi thổi cơm để mẹ sơi nhé!
Trịnh mẫu sẽ nói:
- Mẹ thấy người khó ở, không ăn cơm.
Kiểm sờ vào trán mẹ thấy hâm hấp sốt thì cả sợ:
- Mẹ sốt sao không nói cho con biết.
- Con đừng ngại, mẹ chỉ mệt qua loa rồi sẽ khỏi.
Kiểm xuống bếp thổi cơm ăn xong, đến tối thì bà mẹ lại lên cơn sốt li bì. Kiểm vô kế khả thi, chỉ ngồi cạnh giường mà khóc. Suốt đêm Trịnh mẫu rạo rực, vật vã trên chiếu, gần sáng thì chợp mắt rồi ngủ mãi đến gần trưa mới tỉnh giậy. Kiểm sờ đầu mẹ thấy mát, cả mừng hỏi:
- Mẹ có ăn cháo không?
Trịnh mẫu phều phào nói:
- Mẹ thèm... thịt gà... con... con...
Kiểm đờ người, ngồi lặng yên. Trong lưng không có lấy mội đồng một chữ nào thì tìm đâu ra gà ? Tình thương mẹ rào rạt cỏi lòng chàng đứng dậy sẽ mở cửa, chạy sang người hàng xóm là Trương Còm hỏi vay một con gà. Trương Còm lạnh lùng giả nhời :
- Có con gà mái đang ấp không cho vay được.
Kiểm trông thấy ba bốn con gà dò đang ăn thóc ở ngoài sân, cố năn nỉ:
- Bác cho vay một con gà dò, mai tôi đền cho bác một gánh củi.
Trương Còm lừ mắt:
- Bé quá ăn làm sao được, anh sang bác Lâm hỏi may ra được.
Kiểm nhảy ba bước sang nhà bác Lâm ngập ngừng nói giữa hai giọt lệ:
- U em mệt muốn ăn cháo gà, bác cho em vay một con, tính bao nhiêu tiền mai em bán được củi sẽ giả.
Bác Lâm giai đã rõ tình cảnh của Kiểm, nghĩ ái ngại toan cho vay, thì bác gái đã le te ở dưới bếp lên, lắc đầu quầy quậy, đáp:
- Gà nhà tôi phải dùng có việc, nếu có tiền ngay thì tôi bán cho.
Kiểm cố van lạy:
- Mai em giả, bác làm ơn...
Bác gái cong cớn:
- Chịu thôi, tiền trao, cháo múc. Đưa tiền đây thì có ngay.
- Em thề với bác là mai em sẽ giả,
- Bánh đúc thì đổ lên sàng.. Thuận thiếp, thiếp bán, thuận chàng, chàng mua. Đưa tiền đây, thích con nào tha hồ mà bắt.
Kiểm lủi thủi ra về, cố lục lọi xem trong nhà có cái gì có thể đem bán được, nhưng khốn thay ! Ngoài mấy chiếc chiếu rách ra và vài cái nồi đất thì không còn tìm đâu ra thứ đáng lấy một đồng kẽm. Đang lúc phân vân, chàng chợt nhớ đến thanh kiếm rỉ của thầy học làm quà cho, mà chàng vẫn dùng để chẻ củi, vội cầm phắt đi sang nhà bác Lâm.
- Em gửi tạm bác thanh kiếm này lấy con gà, mai em có tiền xin chuộc.
Bác Lâm gái bĩu môi rẫy nẩy nói:
- Ối eo ôi ! tôi mang cái khỉ gió này về để đâm cổ mổ hầu ai ?
- Gọi là của làm tin thôi mà! chả có bác để chẻ củi cũng được.
- Tôi lạy bố trẻ là hết, bố định sui chồng tôi đi ăn cướp chắc? Thôi, mời bố đi chỗ khác.
Kiểm biết không sao được, buồn rầu đi sang mấy nhà bên cạnh. Đến đâu chàng cũng bị sua đuổi hất hủi, và nhận được những lời mỉa mai chua chát.
Chàng về nhà giương cặp mắt ai oán nhìn thân hình gầy còm cọ quậy trong chiếc chiếu rách, rồi nghĩ đến cái nhục vừa qua, chàng vừa thương mẹ, vừa thương mình, ôm mặt nức nở khóc. Chàng cất tiếng khóc não nùng, ai oán không phải đi gợi lòng thương cảm của người đời, vì chàng đã nhận thấy người đời phần nhiều là ích kỷ và bạc ác, mà để cho bao nỗi căm hờn được theo nước mắt trút ra ngoài. Trời tối dần... xa xa còi mục đồng rộn rã trong cảnh hoàng hôn. Tiếng võng kẽo kẹt ở hàng xóm vọng sang; điểm theo mấy câu hát ru con, làm chàng nín khóc. Chàng thấy bụng đói như cào vì suốt cả ngày còn mãi đi vay gà, chưa được hột cơm nào. Chàng lấy bùi nhùi tuổi lửa châm đèn. Trịnh mẫu ngủ thiếp đi một lúc rồi tỉnh giậy cựa mình gọi:
- Con cho mẹ xin hớp nước.
Kiểm ra múc một bát nước lã mang vào đỡ đầu cho mẹ uống. Bà cụ uống xong lại hỏi:
- Con có vay được gà không? Mẹ thèm quá.
Kiểm bất đắc dĩ phải nói dối:
- Con vay được rồi, định để làm thịt cho mẹ xơi.
Trịnh mẫu cười:
- Người la thường nói: hễ người ốm thèm thức gì mà được ăn thì khỏi bệnh. Mẹ thèm thịt gà muốn dùng thử xem có nghiệm không.
Kiểm xuống bếp, ngồi thừ mặt ra ngẫm nghĩ.
Một cơn bão lòng đang tàn phá tâm hồn trong sạch của người thiếu niên. Lúc này chàng không thể ghìm nổi một hành động bất lương vì tình mẫu tử quá mạnh. Chàng vùng đứng giậy bước ra ngoài sân, trời tối đen như mực. Nhà nào cùng đóng cửa kín mít, thấp thoáng một ánh đèn ở sau bụi cây ném ra, nhợt nhạt như sắp tắt. Chàng co chân toan đi, thì chợt có tiếng chó sủa bên cạnh, làm chàng dật mình nép sau bức tường. Đợi một lúc không thấy gì khác, chàng ngó đầu nhìn trước nhìn sau như sợ có người rình, rồi yên chí, chàng nhảy vụt qua bức tường đất vào trong sân nhà bác Lâm.  Có tiếng gà vỗ cánh phành phạch trong chuồng vài cái rồi im. Vài phút sau chàng nhẩy qua tường ra, chạy biến về nhà ném con gà đã bi bóp chết vào bếp...
 
* * *
 
Buổi chiều hôm sau, lúc Kiểm vừa đi chợ bán củi về thì ở bên nhà bác Lâm có tiếng chửi đứa ăn cắp gà ầm ĩ. Chàng lờ đi như không biết, hấp tấp vào thăm mẹ. Trịnh mẫu thấy con vào sẽ hỏi:
- Hôm qua con lấy gà ở đâu cho mẹ ăn hả con?
Kiểm thản nhiên đáp:
- Con sang làng bên vay gà của Hoàng tiên sinh.
- Có thật không?
- Khi nào con dám nói dối mẹ,
Bên cạnh bác Lâm gái cứ chõ sang nhà Kiểm mà sa sả chửi mãi đến tối mịt mới thôi.
Đêm hôm ấy, Kiểm lại mò sang nhà Trương Còm, rồi những ngày hôm sau, lần lượt đến các nhà trong xóm. Ròng rã gần một tháng, cả khu ấy đều rạo rực lên vì mất gà. Trước họ còn ngờ là bị cáo bắt, nhưng sau họ để tâm dò xét thì biết rõ Kiểm là thủ phạm. Một hôm Trương Còm, họp mấy người lại bàn cách bắt quả tang.
Bác Lâm lên tiếng:
- Chúng mình sắp sẵn lấy mỗi người một thanh tre dực rình ở góc chuông gà, hễ thấy hắn lần mò vào nhà nào thì hú lên làm hiệu, rồi đổ xô ra phang cho một trận.
Tư Tấn bàn thêm:
- Ta trói lại cho nếm thử một trận đòn rồi giải quan trị tội.
Hai Khoan cậy có sức khỏe vung cánh tay lên nói :
- Nó sơi của tôi mất hai con, phen này thì biết tay.
Hơn ba mươi trai tráng đợi đến khuya mới chia nhau đi canh phòng các ngả đường, mỗi người cầm một cái gậy tre to bằng cổ tay. Tất cả đều hăng hái nghiến răng kèn kẹt, mắt trợn lên, như sắp sửa lao mình vào cảnh máu rơi thịt nát. Giờ phút nghiêm trọng đã tới. Dưới ánh trăng lờ mờ, một cái bóng đen vụt từ trên tường nhà Tư Tấn bay xuống sân, nhẹ như chiếc lá rơi. Tư Tấn ngồi rình ở góc chuồng gà trông thấy vội hú lên một tiếng, rồi nhẩy xổ ra đang thẳng tay nhắm cái bóng đen bổ xuống một gậy, Kiểm tránh được, phi thân đá trúng tay địch thủ.
Tư Tấn đau quá rời chiếc gậy, ù té chạy kêu gọi ầm ĩ. Mọi người đang núp ở các ngả đường chạy xô lại mở toang cổng ngỏ đứng vây chặt lấy Kiểm, luôn miệng thét: ‘‘đánh ! đánh !’’ nhưng chẳng ai dám vào chỉ Iởn vởn ở ngoài hò hét thị uy. Hai Khoan biết võ vẽ dăm ba miếng  múa gậy xông vào. Trịnh Kiểm lẩn tránh qua loa rồi thừa cơ dằng được gậy đá Hai Khoan ngã sóng soài xuống đất.
Hắn kêu ầm lên:
- Anh em ơi ! nó đánh chết tôi rồi.
Thế là cả bọn không ai bảo ai rùng rùng kéo nhau chạy hết. Kiểm thấy việc đã bại lộ vội chạy biến mất. Kiểm đi đã lâu rồi, mọi người mới dám lò dò đến, thấy Hai Khoan đang ngồi bó chân, xúm lại hỏi thăm. Trương Còm khì khì cười.
- Nói khoác nữa đi. Không gẫy chân là may.
Hai Khoan hậm hực đáp:
- Chúng ta chả nhẽ lại chịu nó à? Mai ta đem việc này lên huyện xem quan xử ra sao.
Một người nói:
- Dâm lang đạo tặc, có bắt được nó đâu mà kiện với cáo.
- Không bắt được thì mới kiện : chứ bắt được thì cho nó một trận đòn là ổn, việc gì phải nhờ đến pháp luật.
      Mọi người đều khen phải, bảo nhau ra về.
Sáng hôm sau, ở huyện Vĩnh lộc, quan huyện là Trương hoằng Sử vừa thăng đường đã thấy một bọn độ hai chục người già có, trẻ có, kéo nhau đứng lố nhố cả ở dưới sân. Hoằng Sử cho lính ra hỏi. Hai Khoan đại diện cho mọi người, bước lên cung đường quỳ xuống làm lễ, kể lại việc Trịnh Kiểm ăn trộm gà, đoạn nghỉ một lát rồi tiếp:
- Bẩm quan, anh ta cậy có sức khoẻ đè nén chúng con xin quan lớn minh xét cho chúng con nhờ.
Hoằng  Sử ngoảnh lại hỏi viên thơ lại đứng hầu bên cạnh.
- Trịnh Kiểm là đứa nào?
Viên thơ lại vốn quen biết Trịnh Lục đã lâu, không nỡ nói thẳng, bèn lựa nhời thưa:
- Trịnh Kiểm nhà nghèo nhưng rất có hiếu với mẹ. Hắn tính nết thuần hòa, chưa chắc đã dám làm bậy, việc này có lẽ do thù oán sinh ra.
Huyện quan gật đầu, truyền biên khẩu cung của bên nguyên, đoạn tự tay thảo trát sai hai tên lính kỵ mã về Sóc sơn bắt Trịnh Kiểm. Lính đi một lúc thì dẫn Kiểm về huyện. Hoằng Sử nhìn thấy chàng thiếu niên độ 20, 21 tuổi, quần áo tuy rách rưới, nhưng mày thanh mắt sáng, đi đứng khoan thai, không có vẻ gì là gian phi đạo tặc, thì cho là có sự thù oán, nhưng cũng giả vờ đập bàn quát hỏi:
- Tên kia, có thế nào phải khai cho thực, đừng để phải dùng đến hình cụ.
Trịnh Kiểm quỳ xuống, cúi đầu không nói gì,
Hoằng Sử nhanh ý, đoán ngay là Kiểm có dúng tay vào việc này, nhưng thấy người khôi ngô, tuấn nhã không nỡ làm tội, liền nghĩ được, một mẹo:
- Tên kia có lẽ sợ quá mà không nói được, vậy cho sang phòng thơ lại để lấy cung.
Kiểm biết ngay huyện quan có lòng nhân, muốn gỡ tội cho mình, bèn thưa rằng:
- Xin thuợng quan cho giấy bút để tiểu dân cung khai.  
Hoằng Sử ngạc nhiên hỏi:
- Người cũng biết chữ à?
Kiểm thưa vâng. Nha lại đem giấy bút lại. Chàng không cần nghĩ ngợi thảo bài thơ nôm:
Gia biến sui nên chịu cảnh nghèo,
Nho phong nếp cũ vẫn còn theo.
Nhà xiêu, vách ngả bao cơ cực.
Bụng đói tay run hóa phải ‘‘trèo’’ (1)
Thờ  mẹ những mong tròn chữ hiểu,
Làm con đàu quản sự gieo neo.
Một phen chót đã gây điều nhục.
Sóng cả nhờ xin vớt cánh bèo.
 
Hoằng Sử xem xong tự nghĩ : ‘‘Đây là cảnh huống đáng thương của kẻ hậu nho bị rồn vào bước đường cùng. Hắn đã cầu xin sự giúp đỡ, lẽ nào ta mại làm ngơ!
 
(1) ý nói trèo tường ăn trộm gà.
Đoạn, chàng đập bàn gọi:
- Nguyên đơn đâu?
Trương Còm ‘‘dạ’’ một tiếng quỳ mọp người xuống.
Hoằng Sử quát:
- Các ngươi họp bè đảng làm việc vu khống đáng tội gì?
Trương Còm mình run như giẽ, lấp bấp thưa:
- Bẩm... bẩm.. câu chuyện có thực.
Hoằng Sử cười nhạt:
- Lấy tang chứng đâu mà dám nói là Trịnh Kiểm ăn trộm gà?
- Bẩm... chúng con rình mãi mới bắt được.
- Chính tay nhà người bắt được quả tang?
- Bẩm... không ạ. Chúng con tất cả 30 người đều trông rõ mồn một.
- Trông rõ thế nào?
- Bẩm chúng con trông rõ hắn vào nhà Tư Tấn.
- Sao các ngươi không bắt để giải huyện có được không?
- Bẩm... anh ấy khoẻ lắm, chúng con không ai địch nổi.
Hoằng Sử đập bàn quát:
- Chúng mày những 30 thằng mà chịu thua một mình nó à? Thật là câu nói hồ đồ khó tin.
Bản chức đã hiểu rõ nguồn gốc câu chuyện này, các người hãy lắng tai mà nghe: Trịnh Kiểm là người biệt xã di cư sang Sóc sơn, họ hàng thân thích không có ai, nên chúng mày xúm nhau vào ức hiếp nó, vu cho là đạo tặc để bỏ tù rồi tìm cách chiếm  đoạt gia sản của nó. Đó là một hành động khôn khéo của bọn điêu hào, bản chức còn lạ gì? Đối với hạng chúng mày chỉ quen làm ác để trục lợi, bản chức không thể nhân nhượng được, quân bay đâu mang hình cụ ra đây;
Bọn Trương Còm thấy gọi đến hình cụ, mặt tái xanh cắt không được hột máu, vội quỳ cả xuống lạy như tế sao. Hoằng Sự bản tâm chỉ muốn gỡ tội cho Trịnh Kiểm nên dọa mấy câu cho chúng sợ, chứ không nở sử ác làm gì, nên dịu lời hỏi:
- Các người đã biết tội chưa?
- Bẩm chúng con biết tội rồi,
- Còn gây sự với Trịnh Kiểm nửa không?
- Bẩm... thôi ạ!
- Đã biết hối lỗi, bản chức cũng khoan dung một lần.
Cho về.
Bọn Trương Còm phải một phen hú vía, vội lạy tạ ơn rồi bảo nhau chuồn thẳng. Hoằng Sử sai lính vào lấy một đĩnh bạc lớn, đưa cho Kiểm, rồi nghiêm nét mặt nói:
- Làm trai ở thời buổi này, thiếu gì cách tiến thân mà phải làm cái nghề đốn mạt ấy! Bản chức cũng biết rằng tráng sĩ phải nuôi mẹ già; mà nhà lại nghèo, nên bất đắc dĩ phải dúng tay vào việc bất lương, nhưng đó không phải là hành động của người quân tử. Hiện nay đức Kim thượng đang khao khát hào kiệt, bản chức muốn tiến tráng sĩ lên bề trên, tráng sĩ nghĩ thế nào?
Trịnh Kiểm từ chối
- Tiểu dân hãy còn mẹ già không dám rời khỏi nhà một bước, xin thượng quan hiểu tình cho.
Hoằng Sử cười, nói:
- Bản chức không dám ép, tráng sĩ hãy lui về, khi nào đắc chí, chớ có quên buổi gặp gỡ hôm nay.
Trịnh Kiểm nhận bạc, hai ba lần cảm tạ, rồi lui ra. Trịnh mẫu ở nhà mong tin con, toan chống gậy lên huyện thì vừa hay Kiểm về. Trịnh mẫu hỏi tình hình, Kiểm kể lại đầu đuôi xong, dơ thỏi bạc cho mẹ xem, rồi tiếp:
- Từ giờ mẹ cũng đừng đòi ăn thịt gà nữa. Cứ thích những của oái oăm ấy mãi, thì lấy đâu được.
Tối hôm ấy, bọn Trương Còm họp nhau lai bàn cách đối phó với Trịnh Kiểm. Hai Khoan hầm hầm nói:
- Lấy sức không thắng được, dùng luật pháp cũng không ăn thua gì, chúng mình chả nhẽ chịu để nó bóp cổ à?
Trương Còm giơ bộ mặt tiu nghỉu đáp:
- Chẳng chịu thì ăn thịt được nó chắc?
Tư Tấn nắm quả đấm vung lên không khí:
- Ta sẽ dùng kế khác.
Mọi người nhao nhao lên hỏi. Tư Tấn tiếp:
- Nếu con mụ già còn sống thì đàn gà của chúng mình cũng ‘‘sài mòn’’ hết. Ta cứ ‘‘tiêu’’  phăng đi là hơn.
- Tiêu là thế nào ?
- Nghĩa là cho về với Diêm Vương.
Trương Còm lè lưỡi:
- Thôi, con van bố trẻ. Nếu giết con mụ già thì thằng Kiểm nó đốt cả làng, rồi đầu chúng mình cũng rụng hết.
Tư Tấn cười đáp:
- Nếu để cho nó biết thì còn gì nữa. Rất kín đáo và nhẹ nhàng như ru ngủ.
Hắn vạch sẵn kế hoạch cho mọi người nghe, rồi tiếp:
- Trước hết, ta phải tỏ tình thân thiện với hắn đã để sau này hắn khỏi nghi ngờ. Các bác cứ theo tôi
Tư Tấn nói xong đứng giậy đi. Cả bọn theo sau.
Trịnh Kiểm đang ở nhà thấy lũ Trương Còm sang, ngạc nhiên, đứng thủ thế. Tư Tấn cười, nói:
- Không, bác chớ ngại, chúng tôi đến xin lỗi bác đây. Kể ra chúng tôi cũng quá tệ với bác thật, nhưng sự đã rồi, không sao được. Vậy chúng tôi định thế này: bác nhà nghèo chả có gì, mà bà cụ lại thích ăn thịt gà, chúng tôi muốn để bác nuôi rẽ hai đôi gà thau tháu đã mọc lông đuôi, đến khi nhớn, thì bác giả chúng tôi một đôi, còn một đôi, để phần bác. Ăn hết hai con, bác lại lấy hai đôi khác, cứ lần lượt từng nhà, bắt đầu từ bác Trương Còm đến Hai Thông thì hết khu này, rồi lại quay trở lại, cứ như thể mãi. Bác nghĩ thế nào?
Trịnh Kiểm ngần ngừ đáp:
- Lấy thóc đâu cho gà ăn?
- Bác đổi củi cho chúng tôi muốn lấy thóc hay lấy gạo cũng được.
Kiểm bằng lòng, mọi người vui vẻ ra về. Từ đó nhà Kiểm lại có hai đôi gà nuôi. Chưa đầy một tháng, bốn con gà đã chui vào bụng bà lão. Kiểm sang nhà Tư Tấn nằn nì xin mãi mới mang được hai đôi về, thì nửa tháng sau lại thịt nhẵn. Nhiều khi, Kiểm bị mẹ thúc giục dữ quá, đành phải ăn trộm gà của hàng xóm. Bọn Trương Còm biết vậy nhưng vì đã có ý định riêng, nên bảo nhau lờ đi như không biết.
Một hôm Kiểm theo lệ thường dậy sớm vào rừng đẵn củi. Để cho Kiểm đi lâu rồi, Tư Tấn chạy sang nhà Trịnh mẫu gọi:
- Cụ có lấy tôm không ?
Trịnh mẫu tưởng thực hỏi:
- Tôm ở đâu, bác Tư?
- Ở cái ao con cạnh đình làng, họ đánh được nhiều lắm, cụ ra mà vớt.
Trịnh mẫu vội cầm cái dá, chống gậy ra đi.
Bây giờ dân làng còn đang bận việc ở ngoài đồng nên đường xá vắng vẻ. Bà cụ đi trước Tư Tấn theo sau. Qua cái vực ở dia làng, hai người bỗng thấy một con gà mái ở đâu bay đến rơi xuống vực, hai cánh phành phạch vỗ mặt nước làm sủi cả bọt trắng xóa. Tấn giả vờ nhìn trước nhìn sau, rồi sẽ nói:
- Không biết gà của ai, cụ cầm dá xuống vớt lấy mang về thịt, tội quái gì. Nước nông đấy mà, chỉ đến bụng chân thôi.
Bà cụ nghe bùi tai, liền nhặt một cành rong đứng trên bờ khều con gà. Tấn đứng sau giơ tay đẩy mạnh một cái, bà cụ kêu lên một tiếng, lao cả thân hình xuống vực, chìm nghỉm …
Đến chiều, Kiểm về không thấy mẹ, gọi ầm lên. Hàng xóm đổ ra đi tìm hộ, lội cả xuống ao để mò nhưng không thấy, chỉ riêng có cái vực là họ không để ý tới. Hình như họ đã dặn nhau từ trước, nên làm qua loa che mắt Kiểm, cho đến tối mịt thì về hết. Kiểm ngờ là mẹ bị mưu sát, nhưng không nói ra, chỉ ôm mặt khóc.
Đêm hôm ấy, trời đổ con mưa to, gió ào ào thổi, cành cây gẫy kêu răng rắc. Gian nhà của Kiểm bị bóc hết mái, nước mưa rồn rập chảy như thác ngập cả nền đất. May còn lại gian bếp chưa việc gì, Kiểm tạm trú cho qua cơn kinh khủng. Sáng hôm sau tạnh mưa, mọi người lũ lượt kéo ra đường thấy cây cối ngả nghiêng, nhà cửa bị đổ như bát úp. Một điều khiến cho ai cùng phải ngạc nhiên là cái vực con ở dia làng đã biến mất, và nổi lên một cái gò đất gọn gàng, xinh xắn như được một bàn tay bí mật nào vun đắp rất cẩn thận, công phu. (1)
(1)          Một thầy địa lý Tàu xem ngôi mộ của mẹ Trịnh Kiểm có nói : ‘‘Không phải vương, không phải bá, quyền khuynh thiên hạ, truyền được 200 năm thì vạ tự trong nhà mà ra’’.
Kiểm vừa buồn vì mẹ mất tích, vừa buồn vì nhà cửa bị đổ hết, nên nẩy ra cái tư tưởng muốn đi nơi khác để mưu sinh. Chàng bây giờ mới hiểu rằng bọn Trương Còm, Tư Tấn vẫn để ý thù chàng, nên mới thủ tiêu mẹ chàng một cách bí mật như thế. Nếu còn nấn ná ở làng thì rồi biết đâu chả đến lượt chàng? Nhận được tin Nguyễn Kim đang chiêu mộ binh lính ở Sầm châu chàng nhất quyết ra đi để tránh khỏi nanh vuốt của kẻ thù, và để đáp lại tiếng gọi của vị trung thần.
 
* * *
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 20.03.2020 22:52:07 bởi Thanh Vân>
*
★ *
Cao Minh ném một thanh củi vào đống lửa, rồi giục Khanh:
- Anh thử ra xem có gì không?
Khanh vuôn vai, ngáp mấy cái, thản nhiên đáp:
- Tôi đã bảo Đào Từ  đứng đón trên núi, nếu có đã phi báo ngay.
Khanh cầm ấm chè tươi rót ra bát, uống hết; trong lúc ấy Minh cũng vớ lấy chiếc điếu cầy châm lửa hút, làm bật những tiếng sòng sọc, ròn rã, vui tai. Ngọn lửa hồng đang reo trong bếp, nhờ được sức gió ở ngoài lùa qua khe cửa vào bốc cháy ngùn ngụt khiến hai người bị nóng rát cả mặt phải ngồi lùi lại xa độ vài bước. Minh sòe bàn tay  lẩm nhẩm đếm, rồi nói:
- Chúng ta ra đây là mồng 6 tháng 9, mà bây giờ đã 25 tháng 1 vị chi là được 2 tháng 20 ngày. Còn 10 hôm nữa là hết kỳ hạn, chả biết có được về không?
Khanh cười,đáp:
- Cứ là già đời ở cái đất Khương Lang này. Bao giờ An thành Hầu tiến quân ra Thanh, Nghệ, thì mới có hy vọng thoát..
Kể ra chúng ta chỉ phải đóng ở đây có 3 tháng thôi, rồi lại đến phiên tướng khác. An thành hầu quân lệnh rất nghiêm, có lẽ nào sai lời được mà sợ.
- Biết đâu mà dám chắc ! Khương Lang là cổ họng của Sầm Châu, giáp giới với Thanh Hóa. Nếu quân Mạc úp được Khương Lang, thì Sầm Châu lâm vào thế có, quân lính như ở trong bị, chỉ còn một cách chạy sang Ai Lao mới thoát chết được.
Minh cầm cái que gẩy gẩy mấy hòn than hồng nói:
- Một nơi quan trọng như thế này mà cho có 500 quân để canh giữ, thì không biết chủ tướng nghĩ thế nào?
- Quân cốt giỏi chứ không cần nhiều. Chúng ta đóng binh ở một vị trí rất cao, có thể trông suốt được mấy dậm đường. Trước mặt có sông án ngữ, sau lưng rừng rậm bát ngát, quân Mạc bên kia hành động như thế nào ta đã biết rồi. Giặc có gan tầy trời cũng không dám mạo hiểm sang đây.
- Biết đâu ! nó rồn cả lực lượng vây chặt đồn của ta, thì có chạy lên mây!
Khanh cười:
- Tướng Mạc là Dương chấp Nhất không phải là vô dụng đâu. Hắn cũng biết thừa là chúng ta đang hoạt động bên này, muốn đánh lắm nhưng không dám sang vì hai lẽ. ..
- Anh cứ nói hết đi.
- Lẽ thứ nhất là Khương Lang thuộc về địa phận Ai Lao. Chưa có lệnh của Mạc đăng Dung, hắn không dám dấy binh sợ đụng chạm đến quân lực của ngoại bang. Lẽ thứ hai, từ Khương Lang về Sầm châu, rừng núi trùng trùng điệp điệp, dân cư thưa thớt, tiến sâu quá sợ bị phục binh thì hết đường tháo lui. Hắn chủ trương ngăn cản không cho quân ta tiến ra, cốt để cho ta hết đường tiếp tế lương thực chịu bó tay ở só rừng. , .
Minh gật gù tiếp:
- Cứ kể ra thì lực Iượng của ta còn mỏng manh lắm khó lòng mà đương đầu với địch. Vài năm nữa, chính quyền của họ Mạc đã vững vàng, tư tưởng hoài Lê cũng tiêu trầm, dân chúng không chịu làm hậu thuẫn cho ta thì một nắm quân nhỏ ở Sầm châu này chẳng những không làm được trò trống gì mà rồi cũng chết dần chết mòn hết.
Khanh cau mặt đáp:
- Hiện nay số quân của An thành hầu cũng được hơn 5000 người và rất đông các tướng tá cũ, có thể tấn công ngay Thanh hóa. Nhưng mục tiêu chính của chủ tướng không phải là Tây Đô mà là Thăng long, vì có lấy được Thăng long thì chiến tranh mới kết liễu được. Quân Mạc đóng rải rác khắp miền Bắc, thế mạnh như hùm beo, lại liên minh với dân Mường Mán để tăng cường lực lượng, làm cho ta tiến thoái lưỡng nan, không hiểu rồi ra ai thắng ai bại?
- Việc tôn phù Đức ông Lê duy Ninh (tức Lê trang Tôn) có ảnh hưởng gì đến dân chúng không?
- Dân chúng hãy còn tưởng nhớ đến nhà Lê, thì ta cần phải bầu một người dòng dõi họ Lê làm minh chủ, mới đủ gây uy tín với mọi người. An thành Hầu làm việc này rất hợp với chính nghĩa, và do đó thu hút được rất nhiều người trong Hoàng phái.
Minh lạnh lùng, nói:
- Bọn quí tộc chỉ quen sống một đời ký sinh, ít năng lực làm việc, thì có ích gì cho ta?
- Anh nhầm lắm. Họ là phái thượng lưu trí thức, đã cầm quyền thống trị non một trăm năm nay, và là một lực lượng đáng sợ cho họ Mạc. Họ không những giàu tiền của, mà lại giàu cả kinh nghiệm về cách cai trị. Chả thế mà Mạc đăng Dung, lúc tiếm vị đã muốn thu dùng họ để làm vây cánh, vì họ Mạc phải dựa vào thế lực của giai cấp này để kiện toàn nên hành chính và gây thanh thế với dân. Họ bỏ nhà Mạc đem vàng bạc, châu báu theo An thành hầu, và cũng nhờ có số vàng này mà nuôi được quân sĩ, cát cứ một phương, nghiễm nhiên thành một đối thủ lợi hại của nhà Mạc.
Hai người đang mải nói chuyên, chợt thấy Đào Tứ chạy thình thịch vào reo ầm lên:
- Hai ông ra mà xem, lương thực đã tới nơi rồi.
Khanh và Minh vội đứng dậy, mở cửa ra ngoài nhìn xuống chân núi: Một đoàn xe độ mươi chiếc vừa Ió ra khỏi con đường cái lớn và tiến về phía đồn Khương Lang. Người lính kỵ mã đi đầu nhìn thấy một bọn lố nhố đứng trên núi, bèn thổi một hồi tù và báo hiệu. Minh tháo cái vỏ ốc đeo bên cạnh sườn để lên miệng thổi. Quân sĩ trong đồn nhận được hiệu lệnh kéo ùa ra, trông thấy xe lương reo ầm lên như bắt được của. Khanh đem ba chục lính xuống núi đón. Hai bên vừa gặp nhau, Khanh bỗng mừng rú lên, vì thấy trong đám quân tải lương có cả Đặng phu nhân, Lưu Bích Lan, Ngọc Bảo và anh em Uông, Hoàng, Đặng Thị gò cương ngựa, nói:
- Hôm nay mẹ ra thăm con, để xem xét công việc của con, nhân tiện để biết qua địa thế chỗ con đóng binh.
Khanh xuống ngựa lạy mẹ, đoạn thi lễ với mọi người. Uông cầm tay Khanh cười :
- Xem cách lập trại, đủ biết tài thao lược của đại huynh. Thật là may cho xã tắc.
Khanh đáp:
- Đệ ở Khương Lang, khác nào như đứng gần miệng hố, nên rút rát cũng không được. Lệnh nghiêm đường đã có lòng tin giao phó cho trọng trách án ngữ chỗ này, đệ cố hết sức làm đủ bổn phận đó thôi.
Đoạn chàng quay lại hỏi Lưu Bích Lan:
- Cô nương dạo này chắc võ nghệ tấn tới lắm thì phải!
Nguyễn Hoàng nhanh miệng đáp:
- Chị tôi tuy không trói nổi cọp, nhưng giá gặp những tay đối thủ nào có cái thân hình gầy gò như đại huynh thì đánh ngã như chơi.
Mọi người đều cười ầm lên. Bích Lan có vẻ bẽn lẽn. Ngọc Bảo quát em, rồi xin lỗi Khanh:
- Em nó còn ít tuổi, ăn nói chưa biết giữ gìn, xin công tử chớ để tâm.
Khanh nghiêng mình thưa:
- Bạn bè đùa bỡn nhau là thường, chúng tôi đâu dám bắt lỗi công tử.
Đặng Thị truyền quân lính đẩy xe lên núi, rồi tự mình thúc ngựa đi trước. Mọi người đều theo sau. Đến nơi Đặng Thị ngồi nghỉ dùng trà xong dắt các tướng đi xem dinh trại.
Một rẫy tường đất dầy độ hai gang tay chạy vòng quanh mỏm núi rộng hơn hai mẫu đất, ôm lấy một khu nhà xây theo hình bán nguyệt, ở giữa là một cái sân phẳng, dùng làm nơi luyện tập võ nghệ. Tường cao 5 thước, cứ cách một trượng lại đắp một cái chòi canh. Cách tường độ vài thước, những cọc tre nhọn hoắt cắm chi chít chung quanh trại chạy thoai thoải xuống gần chân núi trông như lưng con dím khổng lồ.
Một con đường đánh thẳng từ chân núi lên đến đỉnh, hai bên giồng toàn những cây ớt quá chín đỏ. Ở trong trại, những đường hầm sâu ngập đầu người chạy ngang dọc như mang nhện. Các nhà làm cho lính ở đều thấp hơn mặt tường, lúc nào cũng dự bị sẵn đồ cứu hỏa như gầu, câu liêm, chum nước, thang tre. Ở chòi canh lính gác luôn luôn để mắt đến dọc sông, hễ có sự gì khả nghi thì phải rúc tù và báo hiệu cho những toán lính đi tuần. Trên những ngọn núi đối diện với đồn Khương Lang, Vũ công Khanh đều đặt rất nhiều trạm gác, và cắt lính thường trực.
- Ở đây có bao nhiêu quân sĩ ?
- Thưa mẹ, có 500 quân, và 30 tên hướng đạo người Lào vừa mới mộ được.
- Con dùng cách nào để liên lạc với các trạm gác ở đằng xa?
- Có hai cách dùng: Một là đốt lửa, hai là đánh trống. Trạm gần nhất nhận được tin đốt dinh liệu báo cho trạm bên cạnh, rồi cứ như thế mãi.
- Giặc đánh thì con làm thế nào?
- Con chỉ có 500 quân đã phải phân tán đi các nơi thì không đủ lực lượng để bầy mặt trận. Khi giặc đến, lính canh ở các trạm gác sẽ rút lui hết vào rừng để mai phục, còn quân ở đồn chính thì chia làm hai toán, một nửa xuống hầm chống cự, một nửa hợp lực với toán lính trạm dụ địch vào chổ hiểm để tiêu diệt dần. Đồng thời 5 tên lính kỵ mã phải cấp tốc về phi báo ở Sầm châu để lấy binh cứu viện.
 Đặng Thị cười nhạt:
- Mày ngu lắm con ạ. Dương chấp Nhất là một vìên tướng giỏi nhất của ngụy triều, không khi nào lại dại dột rồn hết cả lực lượng để đánh một cái đồn nhỏ síu này làm gì. Nó chỉ cho vài trăm quân đánh cầm chừng ở đây thôi, còn đại binh kéo tuột về Sầm châu thì quân tế tác dẫu có về phi báo cũng không kịp sửa soạn. Cách tổ chức, sự phòng thủ như thế này chỉ có hiệu lực đối với đám cướp nhỏ, chứ đối với quân Mạc thì là cái trò chơi của trẻ con.
Khanh cả sợ hỏi:
- Xin mẹ dạy bảo cho.
- Con đào hầm, đắp lũy muốn kháng cự với giặc chứ gi? Chớ dại dột như vậy.  Đó không phải là cái ‘‘dũng’’ của vìên tướng tài mà là cái ‘‘liều’’ của kẻ vô mưu. Con định đem một nắm quân đối chọi với bầy lang thì chỉ đưa nhau đến cái chết vô ích, rút cục vẫn không lợi gì cho chiến lược và chiến thuật cả. Từ đây về Sầm Châu không hơn một ngày đường, con chỉ nên cho đặt những trạm gác liên lạc, cách nhau nửa dậm một để dễ truyền tin tức. Khi giặc vượt qua sông, con cho quân rút lui dần dần, cắm cờ và đốt lửa để làm nghi binh. Giặc hoang mang chưa biết rõ lực lượng của ta, một là dừng tiến, hai là rút lui về. Thời gian đó cũng đủ cho ta tập trung được quân đội và mở cuộc tấn công rồi.
Khanh mồ hôi toát ra như tắm, nói:
- Tí nữa thì con làm hỏng cả vìệc quân cơ.
Tối hôm ấy, Đặng thị để cho mọi người ngủ yên cả rồi gọi Khanh dậy, giắt ra ngoài trại. Mặt trăng đã lêp cao, cả bầu trời sáng rực không tí gợn mây đen. Dăm ba người lính tuần đi qua mặt hai người, dừng lại chào rồi lặng lẽ bước thẳng. Nhìn sang ngọn núi đằng trước, cây cối mọc chi chít, cành lá rì rào lả lướt trước gió, hiện ra một cảnh tượng âm u tịch mịch. Dưới chân núi, con sông lượn khúc quanh co, mặt nước phẳng lặng phản chiếu những tia sáng trắng bạc.
Đặng Thị vịn vào vai con thủng thỉnh đi. Khanh sẽ hỏi mẹ:
- Mẹ xem An thành hầu, có thành công không?
- Nếu tình trạng hiện tại của hai phe đối lập cứ kéo dài mãi, thì chỉ vài năm nữa họ Nguyễn sẽ nắm phần ưu thế.
- Mẹ nói rõ cho con được hiểu?
- Muốn có một ý niệm rõ rệt về sự thắng bại sau này của hai tay đối thủ, thì ta phải xét xem lòng dân theo bên nào, bỏ bên nào. Nước ta dưới triều vua Lê uy Mục và Lê tương Đực, dân chúng bị đàn áp, bóc lột đến xương tủy, làm cho lòng người công phẩn, giặc cướp nỗi lên như ong, đồng ruộng bỏ hoang, nhà cửa tàn phá, cơ sở nông nghiệp vì thế mà bị lung lay, nền thương mại cũng bị ảnh hưởng lây và kém phần hoạt động. Ngoài ra nông dân còn bị một thế lực nữa kìm hãm lại; thế lực của giai tầng thống trị. Quan lại ở các địa phương đã không thông cảm nỗi đau khổ của dân chúng, lại liên minh với bọn quí tộc để cũng cố địa vị và để tự do thi hành chính sách bóc lột. Trạng thái hỗn độn ấy đã trực tiếp giúp Mạc đăng Dung thành công. Mạc đăng Dung xuất thân ở đám nông dân, nên được giai cấp này triệt để ủng hộ. Ở một vài nơi, cũng có ít nhiều phản ứng, nhưng lại bị rập tắt ngay vì quần chúng được giác ngộ không ủng hộ giai tầng quí tộc nữa và muốn cho đế chế phải xụp đổ dưới bàn tay của họ Mạc. Nhưng Mạc đăng Dung lại đi ngược với nguyện vọng của nông dân, nên một khi cướp được ngôi của nhà Lê rồi, thì bắt đầu mơn trớn bọn quí tộc, thu dùng các quan cố thần triều Lê tức là bọn khoa mục, ý muốn khôi phục cho họ cái địa vị cũ để làm tay sai cho mình trong công cuộc củng cố ngai vàng.
Cử chỉ ‘‘phản bội’’ của họ Mạc đã làm cho nông dân thất vọng, nên lại muốn bỏ Mạc đăng Dung để theo nhà Lê. Nguyễn Kim đã đi sát với tư trào của mọi người bằng cách tôn phù Vua Lê trang Tôn, và do đó, lôi cuốn được khá đông dân chúng. Ta chắc rằng nếu Nguyễn Kim động binh thì giải đất Tây Đô không cần phải khó nhọc mà chiếm được.
Khanh ngẫm nghĩ một lúc rồi nói:
- Chỉ sợ họ Mạc thua lại saug cầu cứu Trung quốc thì khó khăn cho ta lắm.
Đặng Thị gật đầu:
- Con nói phải lắm.
Đang mãi nói chuyện, Đặng Thị chợt nhìn sang bên kia sông thấy xa xa ngọn lửa bốc lên ngùn ngụt sáng rực một góc trời, liền hỏi:
- Chúng đốt lửa để làm gì thế?
- Thưa mẹ, chúng theo lệnh của Dương chấp Nhất đốt rừng làm nương. Ban ngày chúng vỡ đồi giồng giọt, ý muốn lập nghiệp lâu dài.
Ngọn lửa mỗi lúc một cao, thoáng có tiếng nổ lép bép, lại nhờ sức gió, lem lém cháy lan rộng mãi. Mới đầu chỉ thấy có một chỗ, sau dần dần nổi lên nhiều đám cháy nhỏ. Từng làn khói đen tỏa lên không trung lẩn trong bóng tối. Thấy đêm đã khuya, Đặng Thị bảo con đưa về. Qua cổng trại, phu nhân chợt nghĩ đến một việc tươi cười bảo Khanh:
- Con đã lớn, mẹ muốn tính việc hôn nhân cho con vậy có nên không?
Khanh cúi đầu không đáp. Đặng Thị lại hỏi:
- Trong hai người Ngọc Bảo, Bích Lan, con bằng lòng ai? Theo ý của mẹ thì Bích Lan nhu mì, hiền hậu hơn. Ngọc Bảo có qui tướng thật, nhưng tính tình nghiêm khắc quá, mẹ đã ngỏ lời với Bích Lan và nàng đã bằng lòng.
Khanh không phản đối và cũng không tỏ vẻ ưng thuận. Vừa lúc ấy, ba tiếng trống cầm canh rõng rạc rơi đều đều trong cảnh đêm khuya âm thầm.
 
*
* *
Sáng hôm sau, Đặng Thị đang sửa soạn ra về, thì thấy hai tên quân dẫn một chàng thanh niên đi vào, thưa với Vũ công Khanh:
- Bẩm tướng quân, chúng tôi đi tuần bắt được một tên dọ thám của họ Mạc, xin dẫn trình để tướng quân định đoạt.
Khanh nhìn chàng thanh niên trạc độ 21, 22 tuổi, mặt mũi khôi ngô, sức lực cường tráng, toàn thân lộ ra khí phách anh hùng, có ý ngờ là không phải gian tế liền hỏi:
- Tráng sĩ tên là gì?
Chàng thanh niên cúi đầu, thưa;
- Bẩm, tiểu dân họ Trịnh tên là Kiểm, người làng Sóc Sơn tỉnh Thanh Hóa.
- Tráng sĩ có phải là dọ thám của họ Mạc không ? Cứ thực tình mà khai chớ để ta phải tra tấn.
Kiểm thản nhiên đáp:
- Tiểu dân vì không phục ngụy triều nên mới bỏ quê hương sang đây, sao lại gọi là dọ thám được ?
- Tráng sĩ đã có lòng nhớ đến nhà Lê, thì cứ đường hoàng sang quy thuận, việc gì mà phải lén lút như thế?
- Sáng hôm nay, tiểu dân thả bè chuối vượt qua sông, đi được non nửa dậm đường thì bị bắt giải lên đồn. Tiểu dân đoán là có sự ngộ nhận của lính tuần nên không hề chống cự.
- Tráng sĩ định đi đâu?
- Tiểu dân định về Sầm Châu yết kiến An thành Hầu.
Đặng Thị thấy Trịnh Kiểm ứng đối nhanh nhẹn, trong bụng khen thầm, liền hỏi thử:
- Tráng sĩ bất tất phải về Sầm châu làm gì cứ ở đây giúp con ta giữ Khương Lang hễ lập được chiến công, ta sẽ nói với Nguyễn Hầu đề bạt cho. Trịnh Kiểm quay lưng toan đi. Khanh ngạc nhiên hỏi:
- Tráng sĩ đi đâu?
- Ở đây để mua lấy cái chết à?
Khanh giật mình, tiếp:
- Xin tráng sĩ dạy cho biết.
- Khương Lang chỉ cách địa phận Thanh Hóa có một con sông nhỏ, mà để một nắm quân canh gác thì còn đánh chác gì? Nếu giặc lấy số đông uy hiếp thì liệu có thoát chết không?
Khanh rút gươm đập xuống bàn, quát:
- Mày chính là do thám của giặc. Quân bay bắt nó lại.
Quân sĩ hai bèn đổ xô ra. Kiểm cười ầm lên khoan thai đáp:
- Nếu ta là do thám của giặc thì anh chết đã lâu rồi, còn đâu đến ngày nay mà làm oai nữa. Lúc bước chân sang đây, ta ngắm nhìn cách bố trí phòng thủ của anh, biết ngay anh không phải là viên tướng thông hiểu binh pháp. Khương Lang là một địa điểm quan trọng đứng làm bức bình phong cho Sầm châu mà canh phòng sơ sài như thế kia thì mất đến nơi rồi. Ở chỗ này, một là tập trung hẳn một lực lượng hùng hậu để phòng thủ, hai là cho đóng lẻ tẻ trong rừng làm kế nghi binh. Giặc nhiều thì ta cứ án binh bất động, xem chúng hành động thế nào rồi sẽ liệu. Giặc ít thì ta đánh. Giặc đóng ở đây thì ta dùng phục binh quấy rối và tỉa dần. Giặc lấy sức mạnh lan tràn mãi thì ta phải hủy đường xá rồi rút lui.
Nếu ta xây đồn, đắp lũy ra mặt chống nhau với địch mà chỉ có một nắm quân ốm yếu thế kia thì chỉ mua lấy cái chết mà không có ích gì cho chiến sự cả. Anh cầm trong tay vận mệnh hàng nghìn con người mà lại dại dột hớ hênh như vậy thì còn mưu đồ đại sự sao được. Anh nên biết rằng Dương chấp Nhất không phải là người hèn đâu? Hắn chưa thèm ra tay đó thôi nếu sơ ý để mất Khương Lang thì Sầm châu như cá nằm trong rọ, sớm chiều cũng đều mất nốt mà thôi.
 
Vũ công Khanh cả sợ vội cúi đầu xin lỗi:
- Chúng tôi ngu dại, chót phạm đến túc hạ. xin túc hạ dạy bảo cho.
Kiểm nhũn nhặn đáp:
- Cái ‘‘dại’’ của tướng quân đã gián tiếp giúp An Thành Hầu được ngồi vững vàng ở Sầm Châu đó. Dương chấp Nhất đã biết rõ mọi hành động của tướng quân bên này, nhưng khinh thường nên không thèm đọ sức. Nếu tướng quân lại khôn khéo biết cách tổ chức sự phòng thủ, thì có lẽ hắn sợ mà tiến binh trước rồi.
Đặng Thị cũng hỏi:
- Vậy theo ý tráng sĩ thì ta có nên phá hủy đồn Khương Lang mà rút vào rừng không?
- Rất không nên. Nếu phá hủy đồn mà rút lui vào rừng thì giặc biết ngay là mình ít quân phải bỏ Khương Lang, chúng tràn sang thì nguy mất. Bất nhược ta cứ để nguyên như cũ nhưng quân sĩ trong đồn thì cho đóng ở trong rừng, bỏ trống đồn, cốt nhất là phải tổ chức ngay một hệ thống liên lạc chặt chẽ với Sầm Châu, để khi hữu sự thì truyền thông tin tức cho nhanh chóng. Nếu giặc sang thấy đồn bỏ trống, mà ở trong rừng phấp phới có bóng cờ chưa rõ lực lượng của ta thế nào, không dám tiến ngay. Ta lợi dụng lúc giặc hoang mang, ngày đêm đốt lửa làm nghi binh, giặc tất phải rút lui.
Đặng Thị khen thầm :
- Người này hơn con ta nhiều lắm.
Nguyễn Uông thấy Trịnh Kiểm còn ít tuổi, ăn  mặc rách rưới, có ý không phục, cười nhạt:
- Nói thì giỏi lắm, chẳng biết có đúng không.
Kiểm thản nhiên đáp:
- Đúng hay không đúng lúc lâm sự mới rõ. Trong bụng tôi đã xếp sẵn kế hoạch dụng binh hiềm vì chưa có cơ hội thi thố đó thôi.
Nếu tôi cầm quân thì lấy Tây Đô như trở bàn tay, không việc gì phải dụt dè ở só rừng.
Uông cả giận rút gươm quát:
- Mày là thằng dân ốm đói mà dám mở miệng khoác lác à?
Kiểm cười:
- Trong rừng cây cối tuy nhiều, nhưng lim gu thì hiếm. Người sống nhan nhản khắp đồng núi nhưng toàn là hạng người ‘‘ngợm’’ cả. Ta đi đã nhiều chưa gặp được ai đáng gọi là hào kiệt mà chỉ thấy đại đa số là hạng kiêu bạc dớ dẫn mà thôi,
Uông vung gươm chém. Kiểm tránh được, nói :
- Ta ngưỡng mộ chí hướng cao cả của Nguyễn Kim nên không ngại đường xa, lần mò tìm vào. Ta chưa được tiếp xúc với chủ tướng, nhưng xem tính tình bọn thủ hạ thì đủ biết các ngươi không có hy vọng làm được sự nghiệp lớn lao, rồi đến chết già ở só rừng này.
Uông càng tức, cứ lăn sả vào đâm, Kiểm chỉ lẫn tránh không thèm đánh giả lại. Mọi người đổ xô vào lôi Uông ra, rồi xin lỗi Kiểm. Đặng Thị cũng quát mắng Uông. Ngọc Bảo kéo em ra ngoài sẽ dỉ tai:
- Lúc này đang cần người, em phải nhũn nhặn, biệt đãi người anh tài mới hòng thu được nhân tâm. Nếu việc này đến tai thân phụ, thì em khó tránh khỏi tội.
Uông vùng vằng đáp:
- Nhưng em ghét cái tính khinh người của nó lắm.
Ngọc Bảo dịu dàng tiếp:
- Con ngựa hay thì bất kham. Người anh tài vẫn ngang tàng bướng bỉnh. Vua Văn Vương đời xưa muốn cầu hiền phải trai giới ba ngày, lặn lội mấy lần đến sông Vị mới gặp được mặt Khương tử Nha. Thân phụ chúng ta đang mưu đồ đại sự, mong hào kiệt như người khát nước mong được uống, người đói mong được ăn. Một tên quân dễ kiếm, một tướng giỏi khó tìm. Nếu em muốn nối nghiệp thân phụ thì phải bắt đầu từ
bây giờ lấy tình thân thiết đối đãi với các tướng sĩ sử dụng lòng nhân để thu nạp hiền tài sao lại dại dột gây sự thù oán với mọi người để mang tiếng là hẹp lượng như vây!
Uông nể lời chị đành phải thôi. Đặng Thị truyền quân sĩ sửa soạn lên đường, và bảo Trinh Kiểm:
- Tráng sĩ theo ta về Sầm châu, yết kiến An thành Hầu.
Kiểm vâng lời. Dọc đường Kiểm hỏi dò quân sĩ mới biết chàng thiếu niên cãi nhau với mình là Nguyễn Uông, trưởng nam của Nguyễn Kim, trong bụng hối hận vì chót lỡ lời.
Bấy giờ đang về đầu thu, lá vàng lác đác rụng, ánh nắng dịu dàng buông xuống vạn vật một hơi nóng ấm áp dễ chịu.
Đoàn xe chậm chạp lăn bánh trên con đường gồ ghề, khúc khuỷu, người ngựa chen chúc nhau giữa hai rặng lau sậy um tùm, uể oải, phờ phạc như một toán quân bại trận đang bị lạc lõng trong rừng. Vừa qua khỏi khúc suối, họ bắt đầu leo sườn núi, đi nối đuôi nhau thành một dẫy dài, mỗi lúc một lên cao, dần dần lên tới đỉnh núi. Trông xuống dưới, cây cối mọc chi chít, phong cảnh tịch mịch âm u. Từ đỉnh núi, đoàn người lại theo con đường nhỏ đổ xuống. Gần tới chân núi, con ngựa của Ngọc Bảo đang cưỡi bỗng tự nhiên kêu rống lên co chân phóng. Ngọc Bảo cố sức ghìm lại không được, ngựa theo đà xuống dốc lao nhanh như tên. Cả bọn hoảng sợ kêu rầm lên. Kiểm thấy vậy,          liền chạy vụt theo, hai chân thoăn thoắt lướt trên cỏ, một chốc đuổi kịp, chàng nắm lấy đuôi ngựa lại. Ngọc Bảo lúc bây giờ đã mệt lả đi sắp sửa ngã
thì Kiểm đến đỡ lấy nàng. Cái thân hình mềm mại vừa rơi vào hai cánh tay ấy thì một cảm giác lạ lùng vụt xâm chiếm tâm hồn chàng làm cho mặt chàng nóng bừng, hai chân run rẩy quả tim rồn rập đập mạnh, cõi lòng rối loạn, hoang mang. Lần đầu tiên, chàng đuợc gần gụi một sắc đẹp, bản năng tình dục bỗng chỗi giậy với một sức mãnh liệt và cố lôi kéo chàng vào vòng tội lỗi. Nhưng Trịnh Kiểm chế ngự ngay được ngọn lửa lòng, chàng đã vượt khỏi cái thế giới tầm thường của dục tình để vươn tới lĩnh vực cao cả của lý trí. Tâm hồn chàng đã kết tinh bằng những cái tinh hoa của ‘‘con người’’  nên bất cứ ở trường hợp nào, chàng cùng biểu dương được một tinh thần cao cả, một hành động siêu việt một ý tưởng thấm nhuần luân lý Khổng Mạnh.
Chàng đặt Ngọc Bảo nằm trên bãi cỏ xanh bên vệ đường. Dần dần nàng phục hồi được sinh khí, hơi thở đều đều, cặp mí mắt động đậy rồi hé mở, nàng tỉnh hẳn. Nhớ lại phút nguy hiểm vừa qua, nàng rùng mình, và khi nhìn thấy Trịnh Kiểm đứng bên cạnh, nàng hiểu ngay là chính chàng thiếu niên đó đã cứu nàng thoát chết. Nàng sửa soạn lại xiêm áo cho gọn gàng, rồi quì xuống nói:
- Thiếp muôn vàn cảm tạ tráng sĩ,
Kiểm giơ tay đỡ nàng giậy. Ngọc Bảo vừa vuốt lại làn tóc sõa bên vai, vừa đưa mắt nhìn Trịnh Kiểm. Chàng có một bộ mặt dắn dỏi, một thân hình vững chắc đầy sinh lực, một vẻ đẹp hùng tráng của con người được tắm gội trong sương gió, một sức mạnh bền bĩ của kẻ biết dùng hai bàn tay gân guốc để mưu sinh.
Sống bên cạnh chàng, một tâm hồn dù bạc nhược đến đâu cũng trở nên mạnh mẽ, một trí óc đen tối cũng thành ra sáng suốt thông minh, và trên địa hạt tư tưởng cũng như trong cách hành vi, người ta đều rập theo khuôn mẫu của chàng để có thể đối phó một cách hiệu quả với tất cả cái gì đã cản trở mọi hoạt động trên đường đời gai góc. Ngọc Bảo có cảm tưởng như cần phải sống bên cạnh một người như thế để cầu lấy sự che chở. Nàng đã một lần được cứu sống và tự thấy ghê sợ khi nghĩ đến tấm thân yếu ớt bị trơ trọi trước một hiểm tượng hay một sự dọa nạt của thần chết. Cả hai người đều im lặng không ai nói với ai một lời nào. Trịnh Kiểm hình như đang say sưa với cái đẹp hùng vĩ của thiên nhiên, nên lãnh đạm với cái đẹp dịu dàng của người thiếu nử. Lòng chàng thiếu niên đã mở tung ra để đón lấy hương vị của rừng núi; trong khi ấy lòng của nàng thiếu nữ cũng sao xuyến trước cử chỉ lạnh lùng của chàng thiếu niên...
Đoàn xe cọc cạch tiến gần đến nơi, Uông nhẩy xuống ngựa hỏi thăm chị, và không hề ngỏ một lời cảm ơn Trịnh Kiểm. Đặng Thị thấy Ngọc Bảo vô sự, cả mừng, luôn luôn khen Kiểm. Mọi người lại bắt đầu đi, đến tối thì tới Sầm châu. Đặng Thị đưa Kiểm vào ra mắt An thành Hầu và kể lại câu chuyện ở dọc đường. Nguyễn Kim vỗ vai Kiểm:
- Tráng sĩ đã cứu được con ta, cái ơn to ấy không bao giờ dám quên.
Kiểm lạy tạ lui ra. Kim bàn với Đặng Thị muốn dùng Kiểm làm tướng thủ túc, Uông gạt đi nói:
- Người ấy mới đến, tâm địa chưa biết thể nào. Nhỡ phải quân do thám của họ Mạc thì nguy.
Đặng thị cười:
- Ta đoán chắc Kiểm không phải người do thám của đối phương. Hắn có tài, tướng công nên trọng dụng để khuyến khích kẻ khác.
Nguyễn Kim đang phân vân thì Hoàng đã tiếp:
- Nếu phụ thân phong ngay cho hắn làm tướng sợ ba quân không phục, hãy cho hắn cai quản bọn mã phu xem tài cán thế nào rồi sẽ định công phong thưởng,
Nguyễn Kim khen phải.
 
* * *
 
Năm Đinh Dần (1537) An thành Hầu thấy binh lương đã đầy đủ, ý muốn cất quân, liền tâu với vua Lê trang Tôn hội họp các tướng sĩ lại để hỏi mưu kế. Tiên phong là Ninh Chấp lên tiếng:
- Quân sĩ luyện đã thành thuộc, chỉ mong được ra trận đánh giặc, nếu ta chùng chình không chịu tiến binh, sợ lòng người sinh biến thì khó khăn về sau này.
Phó tướng Lý Vũ tiếp:
- Bộ binh thì đủ rồi, nhưng chiến mã còn thiếu, để sang năm hãy xuất quân thì hơn.
Mưu sĩ Trần Chung nói:
- Năm ngoái nước Ai Lao giúp ta 200 chiến mã cộng với 300 mới mua được, và 100 con của dân chúng ủng hộ, như thế là 600 con rồi. Ngoài ra lại có 200 con khác dùng về việc chuyển vận lương thực ở đường rừng kể như thế cũng tạm đủ cho việc hành quân. Còn lực lượng thủy binh, thì tuy còn ít, nhưng lúc này chưa cần lắm.
Nguyễn Hoàng cũng tiếp:
- Từ đây ra Thanh hóa chỉ cách một con sông nhỏ, quân sĩ có thể vượt qua bằng bè chuối hay thuyền nan cũng được. Đánh ở rừng núi thì cần bộ binh, khi ra tới Thanh hóa thì kỵ binh phải đi đầu dọn đường cho toán quân cảm tử xung phong và hỗ trợ các đơn vị đánh thành. Nếu chiến mã ít quá thì số quân kỵ tung vào chiến địa sẽ kém đi, bộ binh cũng chỉ hoạt động trong phạm vi nhỏ hẹp không đủ sức mạnh để uy hiếp đối phương được.
Nguyễn Kim cúi đầu ngẫm nghĩ một lát rồi rút lệnh tiễn đưa cho Lý Vũ, truyền lệnh:
- Tướng quân ra gọi Trịnh Kiểm vào bản soái hỏi có việc cần.
Lý Vũ cầm cờ lệnh ra khỏi dinh một lúc rồi dẫn Trịnh Kiểm vào đứng dưới trướng.
Nguyễn Kiểm cất tiếng hỏi:
- Chiến mã được bao nhiêu con?
Trịnh-Kiểm thưa :
- Bẩm nguyên soái, ngựa đủ điều kiện ra trận thì chỉ chọn được 500 con. Ngựa dùng tải quân nhu được: 250 con. Còn 50 con thì liệt vào đơn vị bổ xung.
- Nhà ngươi đã luyện lập thành thuộc chưa ?
- Bẩm hoàn toàn cả.
- Nhà ngươi ra diễn thử để bản soái cùng các tướng ra xem.
Kiểm cúi đầu lui ra. Nguyễn Kim cùng các tướng cũng theo ra khỏi dinh, đứng trên đồi cao để chứng kiến cuộc tập trận
Trịnh Kiểm trèo lên chòi dựng giữa một thửa đất rộng độ mươi mẫu. Chung quanh thửa đất những nếp nhà tranh mọc san sát theo hình cánh cung là nơi để các chiến mã ở. Chàng cầm lá cờ phe phẩy mấy cái, bỗng tứ phía, trống trận nổi lên ầm ầm, tiếng chiêng rồn rập họa theo vang đội cả một khu rừng. Lá cờ lệnh tự nhiên thấy quay tít như chong chóng, tiếp đến ba tiếng pháo nổ như xé không khí, rồi một đoàn kỵ binh ở trong rừng đổ ra mạnh như thác lũ. Đoàn chiến mã phi đến gần chòi canh thì rẽ làm hai hàng, rồi làm bốn, làm tám, làm mười sáu, chớp mắt đã thành một cái vòng tròn to rộng cứ theo hiệu lá cờ mà riễu vòng quanh giáo trường, Bỗng một hồi pháo liên thanh nổ, lá cờ lệnh biến mất, đoàn kỵ binh phi như hay đến chụm lại trước chòi rồi tỏa ra như sung rụng, chia làm hai phe. Cuộc tranh đấu bắt đầu. Hồi trống trận vừa nổi lên, những chàng kỵ mã lao vào nhau nom rùng rợn kinh người. Những vệt gươm sáng lóe vung lên hạ xuống nhanh như chớp, tiếng ngựa hý quân reo hòa với tiếng gió rừng làm cho ta có cảm tưởng như là đứng trước một sự tàn sát thật sự. Trống trận vứa dứt hồi, lá cờ hiệu lại bắt đầu phe phẩy, toán kỵ binh tiến theo một con đường vòng tròn rút lui dần ra khỏi giáo trường. Suốt cả buổi tập, không một con ngựa nào lạc hàng ngũ, nhanh chậm tiến lui đều giờ đúng kỷ luật. Các tướng đều vỗ tay tán thưởng. Nguyễn Kim vào trong dinh ngồi, Trịnh Kiểm đứng dưới trướng đợi lệnh. Nguyễn Kim vui vẻ nói:
- Nhà ngươi giỏi lắm, bản soái sẽ trọng thưởng.
Đoạn, cho Kiểm ngồi ngang hàng với các tướng và ban cho chén nước trà. Mọi người đồng thanh xin Nguyễn Kim xuất quân.
Nguyễn Kim hỏi Trịnh Kiểm:
- Tráng sĩ nghĩ thế nào?
Kiểm đứng lên thưa rằng:
- Nguyên soái tiến binh để diệt tặc thần, thật là hợp với nguyện vọng của dân chúng, nhưng nguyên soái muốn thắng hay muốn bại?
Nguyễn Kim ngạc nhiên hỏi:
- Ra trận chỉ cốt lấy thắng sao nhà ngươi lại hỏi lẩn thẩn như vậy?
- Binh pháp có câu: ‘‘Tri kỷ, tri bỉ, bách chiến, bách thắng’’. Vậy nguyên soái đã biết rõ mình và biết rõ địch chưa?
Nguyễn Kim lặng yên không nói, đưa mắt nhìn các tướng. Ninh Chấp cướp lời :
- Lực lượng của ngụy triều tuy có hơn ta thực; nhưng hiện nay quân Minh đã tập trung cả ở Nam Quan sắp tiến đánh họ Mạc. Ta khởi quân đánh ra Mạc đăng Dung bị ép vào giữa ắt phải thua.
Kiểm thản nhiên hỏi:
- Quân Minh sang chuyến này có phải thực tâm giúp ta diệt trừ họ Mạc không?
Ninh Chấp quả quyết đáp:
- Người trong Hoàng phái trốn được sang Tàu cũng nhiều, nên cố kêu cầu Minh chúa cho quân sang giúp. Các đấng tiên vương đối với Minh triều vẫn giữ đạo thần tử thì sự hỗ trợ kia có chi là lạ.
- Tướng quân còn nhớ chuyện Trần thiêm Bình với Hồ quý Ly không?
Ninh Chấp nín lặng. Trịnh Kiểm tiếp:
- Cừu Loan sang chuyến này có ý mềm dẻo chớ không hùng hổ đâu, vì còn sợ dẫm phải bước chân cũ của Vương Thông. Hắn chỉ đàn quân ở biên thùy để dọa bố con Mạc đăng Doanh đó thôi. Nếu ta dấy binh, Mạc đăng Doanh ắt phải phạn tán lực lượng ra cự địch. Cừu Loan ở bên kia chỉ khoanh tay ngồi nhìn hai bên chọi nhau, đợi cuộc nội chiến kết liễu rồi mới ra tay. Mạc có thắng được Lê thì Mạc cũng kiệt quệ. Lê có thắng được Mạc thi Lê cũng bước dần vào cảnh suy vong. Lúc bấy giờ hắn mới kéo quân sang, đem lời lẽ khôn khéo phủ dụ dân chúng, tung tiền gạo thu phục nhân tâm. Dân ta đã kiệt quệ vì cuộc nội chiến tàn khốc còn hơi sức đâu mà  gây sự với ngoại bang, đành phải nhắm mắt theo liều để cầu lấy yên ổn. Thành ra hắn không mất một mũi tên, không rỏ một giọt máu mà làm chủ giải đất này, lại đem ách nô lệ quàng lên cổ dân tộc ta, làm cho muôn đời nghìn kiếp cũng không ngóc đầu lên được.
Nguyễn Kim gật đầu hỏi:
- Vậy ta nên đối phó với họ như thế nào?
- Hắn đã khôn ngoan thì ta cũng chẳng dại gì. Nguyên soái cứ án binh bất động xem thời cuộc biến chuyển về mặt nào rồi sẽ liệu. Nếu Cừu Loan đánh họ Mạc thì ta cứ yên tâm xem trai cò mổ nhau, mình đứng giữa đóng vai ông lão câu cá. Cừu Loan thua, ta đánh Mạc. Nếu Mạc thua, ta đánh Cừu Loan. Đem quân sinh lực để huy hiếp đám tàn binh thì mười phần ăn chắc cả mười.
- Nếu họ Mạc hàng quân Minh để rảnh tay đối chọi với ta thì làm thế nào?
- Trịnh Kiểm cười, đáp:
- Nếu đúng như lời của Nguyên soái tiên đoán thì may cho ta lắm, vì một khi Mạc đăng Dung hàng quân Minh rồi, Cừu Loan mừng vì tránh khỏi cuộc chiến tranh ắt rút quân về. Lúc bấy giờ ta nhanh tay chiếm ngay Thanh Hóa, Nghệ An làm ‘‘căn bản’’ chiêu mộ binh sĩ tích trữ lương thực, chia hẳn giang sơn ra làm hai. Từ Thanh hóa giở ra, tạm nhường cho họ Mạc làm chủ quyền, đợi khi nào thế lực đầy đủ sẽ tiến quân ra Bắc thu nốt Thăng long thì giang sơn mới có cơ thống nhất được.
Nguyễn Kim cả mừng vỗ vai Trịnh Kiểm:
- Túc hạ mẹo mực như thần, dẫu Trương tử Phòng đời Hán cũng không hơn được.
Buổi chiều hôm ấy, An thành hầu vào nói chuyện với vợ là Đào Thị về Trịnh Kiểm, đoạn tiếp:
- Ta chỉ chê hắn xuất thân ở đám bình dân không phải là giòng giõi khoa mục, nên chẳng dám kén hắn làm rể sợ thiên hạ chê cười. Một người tài giỏi như thế mà bỏ thì đáng tiếc quá.
Đào thị cười, đáp:
- Xưa nay các vị anh hùng khai quốc phần nhiều đều ở trong đám bình dân cả. Ông Dương diêu Nghệ gả con gái cho Ngô Quyền là một người dân áo vải, chắc có ngờ đâu con rể sau này, lại thành nghiệp đế vương ? Vua Lê thái Tổ chỉ là một người nông phu mà làm chủ được thiên hạ, khai sáng cơ nghiệp một trăm năm. Nếu tướng công muốn tìm những giòng giõi quí tộc để kết thân gia, thì thiếp sợ rằng vì cái hư danh ấy mà con gái chúng ta sẽ mang lụy suốt đời.
Đặng Thị cũng xen vào một câu:
- Người anh hùng ví như cây trầm, cây quế giữa rừng, chỉ có con mắt tinh đời mới biết được. Xưa nay kẻ có tài thường hay mai danh ẩn tích, đợi thời cơ mới chịu xuất đầu lộ điện. Họ là tiều phu, ngư phủ, thảnh thơi trên núi ven sông. Có khi là người hành  khất vơ vẩn bên đường, hay một tiểu tốt vô danh trà trộn trong đám muôn nghìn quân sĩ. Xem như Trịnh Kiểm thì đủ biết. Hắn không phải là người hèn đâu, nếu không được trọng dụng, hắn phẫn chí bỏ đi thì đáng tiếc thực. Ta thử đem khách má đào ràng buộc anh hùng xem sao?
Nguyễn Kim thấy Đặng phu nhân cùng đồng ý với mình, thì cả mừng. Từ đó đối đãi với Trịnh Kiểm như khách quý. Nguyễn Uông nghe được tin ấy vội đến hỏi cha:
- Thân phụ sao lại có ý  kiến lạ lùng như vậy? Trịnh Kiểm dẫu có chút tài mọn nhưng là một anh cùng đinh kết duyên với chị con khác nào như gà sánh với phượug.
Nguyễn Kim cười đáp:
- Chị con được kết duyên với người ấy là hạnh phúc lắm rồi. Ta chỉ e hắn không bằng lòng.
Uông nén giận, nói:
- Hòn ngọc liên thành lại trao vào tay lái buôn, con nghĩ xấu hổ lắm.
Kim vuốt râu:
- Ngọc dẫu quí thật nhưng không quí bằng người anh tài. Ngay cả đến vũ trụ bao la rộng rãi thế kia mà còn chịu nằm trong tay người anh hùng, huống hồ là một người đàn bà? Cha đã quyết rồi con chchớ nói lôi thôi nữa, sợ có hại đến tình em vợ anh rể,
Uông đỏ mặt, nói:
- Một tên chăn ngựa hèn mạt mà một  bước nhảy lên địa vị tế huynk của con thật là quá đáng. Cha không sợ thiên hạ dị nghị hay sao ?
Nguyễn Kim sầm nét mặt, đáp:
- Hàn tín lúc hàn vì, chịu nhẫn nhục luồn khố Đồ thư, thế mà khi cầm quân đánh Sở làm cho Hạng Vương phải thua trận rồi chết. Đinh bộ Lĩnh là một đứa trẻ chăn trâu, Lý công Uẩn ở chùa làm con nuôi nhà sư, Lê thái Tổ mặc áo vải đi cày, đó chẳng phải là những người xuất thân ở chỗ tầm thường, chỉ nhờ tài Iực mà dựng nên được nghiệp chúa ư? Nếu con chỉ căn cứ ở dòng máu, địa vị để dùng người, thì nghĩa sĩ bốn phương không khi nào chịu theo giúp cho con ta đâu!
- Thân phụ yêu tài hắn thì tâu với Hoàng thượng phong quan tước cho hắn, việc gì mà ép uổng người ngọc phải sánh đôi với kẻ thất phu!
Nguyễn Kim quát to:
- Thằng con bất hiếu dám cả gan tranh biện với bố, bước đi cho rảnh mắt.
Uông hậm hực lui ra, kể chuyện với Hoàng rồi nức nở khóc:
- Thân phụ tự bôi nhọ thanh danh, làm nhục ta quá lắm.
Hoàng khuyên giải anh:
- Thân phụ đã muốn thế, anh chớ có nhiều lời nữa. Nhỡ đến tai Trịnh Kiểm thì sau này lại thêm khó xử.
Uông nghiến răng nói:
- Tao với nó một còn, một mất, không khi nào lại đội trời chung.
Đoạn vùng vằng đi. Hoàng nhìn theo thở dài.
Đến tháng 10 năm ấy, Nguyễn Kim gả Ngọc Bảo cho Trịnh Kiểm. Hôm cử lễ thành hôn Uông vắng mặt. Kiểm cũng biết Uông bất bình với mình, nhưng lờ đi. Lúc động phòng, Ngọc Bảo rót một chén rượu mời chồng, vừa cười vừa nói:
- Em Uông nó dại dột hay cố chấp, xin phu quân chớ để tâm.
Kiểm uống hết chén rượu, đáp:
- Người anh hùng không hay để ý đến sự nhỏ nhặt. Vả lại đã là anh em trong nhà thì còn thù oán gì nữa. Tôi cũng chiều ý phu nhân, tha thứ cho cậu em ngang tàng.
Ngọc Bảo cúi đầu :
- Xin phu quân giữ lời hứa.
 
*  *  *
 
ĐEM TỚI CHƯƠNG NẦY

Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 21.03.2020 10:44:05 bởi Thanh Vân>
Rạch đôi sơn hà 
 
NĂM Canh tý (1540) một buổi sáng về mùa đông, trên con đường từ Chi lăng về Lạng sơn, hàng nghìn dân phu đang hì hục sửa chữa những đoạn đường hỏng. Mỗi người đội một chiếc nón lá cũ kỹ, quần áo bùn lấm be bét, lủng lẳng bên sườn một cái giỏ đựng cơm. Từng đoàn xe chở đầy đất ở mạn Bắc Giang đi lên nối đuôi nhau thành một dẫy dài. Non tuần lễ nay, suốt ngày đêm, họ như đàn sâu lũ kiến, khom lưng trên mặt đường gồ ghề khúc khuỷu, đào sới, lấp, đập, trong khi những tốp lính tay cầm roi mây, thỉnh thoảng lại quất túi bụi trên lưng họ, tiếp theo những câu nguyền rủa tục tằn. Đàn bà váy sắn quai cồng, súc đất ở xe đổ vào những chỗ thấp. Bọn đàn ông cầm cào san phẳng ra rồi lấy vồ nện cho chặt xuống.
Giời rét như cắt ruột mà mồ hôi vẫn tầm tã chảy trên màu da mặt đen sạm. Chốc chốc lại thấy một tên lính phi ngựa qua, rồi lẩn sau rặng cây. Đám dân phu vẫn hăng hái làm việc, những cánh tay tới tấp giơ lên hạ xuống, những tiếng vồ thình thịch vang lên trong cảnh âm thầm của núi rừng.
Trên chiếc chòi canh lập ở dia đường, quan Phòng ngự sử châu Quảng Nguyên là Hồ Thích đang cùng với quan chuyển vận sứ huyện Lạng giang là Nguyễn Trừng ngồi uống nước trà. Nguyễn Trừng cầm ấm nước rót ra chén mời :
- Bác uống đi, chè này mua ở Thái nguyên về pha được nước lắm.
Hồ Thích uống cạn chén, gật gù đáp:
- Kể cũng khá đấy, nhưng còn kém chè Hưng Hóa thơm và đậm nước hơn.
Hai người vừa uống chè vừa nhìn xuống đường. Một toán lính tuần đi qua, những chiếc roi mây lại vùn vụt quất lên lưng bọn dân quê khốn nạn. Hồ Thích động lòng thương thở dài:
- Ba hôm nữa liệu có xong không để cho dân đỡ khổ.
Nguyễn Trừng rầu rầu nét mặt:
- Nếu không làm ác thì công việc không chạy, chẵng qua cũng là sự bắt buộc cả.
Hồ Thích nói :
- Hạ tuần tháng này, Thượng hoàng sẽ khởi hành đi Lạng Sơn. Chúng ta còn phải vất vả nhiều về sự đón rước ở dọc đường.
Trừng sẽ hỏi:
- Thấy nói Thượng hoàng định theo Đô Đốc Cừu Loan về Kim Lăng, để xin hàng, liệu có đúng không?
- Về Kim Lăng thì không chắc nhưng xin hàng thì chắc rồi.
Trừng thở dài:
- Chưa đánh nhau trận nào mà đã hàng ngay, sao Thượng hoàng sợ quân Minh đến thế được?
Thích cười:
- Lấy gì mà đánh? bao nhiêu lực lượng đều rồn mạn trong để giữ Nguyễn Kim, còn ở ngoài này một ít quân ốm yếu trông thấy giặc đã run như cầy sấy thì làm gì được.
- Bác ở Quảng Nguyên có biết rõ tình hình Lạng sơn ra sao không?
- Quân Minh đóng ở Nam quan chỉ đợi lệnh là vượt biên thùy. Hiện nay dân chúng ở Lạng sơn đều di cư về Trung châu hết, chỉ trơ có cái thành nhỏ với nắm quân canh giữ mà thôi.
Đoạn Hồ Thích lấy ở trong túi ra một tờ giấy gập tư đưa cho Nguyễn Trừng:
- Bác xem tờ hịch của Cừu Loan thì biết.
Tờ hịch rất dài, trong có một đoạn lời lẽ vừa kiêu vừa nhũn, Trừng lẩm nhẩm đọc:
‘‘Kể từ khi Lê Hoàng (chỉ Lê-Lợi) thụ phong tước An Nam Quốc Vương nối ngôi nhà Trần, miền Nam vẫn được phồn thịnh đời đời thần phục Thiên triều. Trải qua 100 năm, các vua kế nghiệp đều giữ vẹn đạo thần tử đem luân lý phong tục của Trung quốc giáo hóa cho dân Nam, khiến cho uy đức của Thiên tử vang dội cả ở những nơi mọi dợ. Ngày nay Mạc đăng Dung thí quân tiếm vị, làm cho người Nam oán giận cầu cứu Minh triều sui nên Bản phiên vì công lý mà phải động binh, cũng không ngoài cái mục đích giúp Lê, diệt Mạc.
‘‘ Dân Nam nghe cho rõ: Bản phiên chỉ cốt bắt tên nghịch tặc Mạc đăng Dung mang về Kim Lăng làm tội, còn binh lính và lương dân vì sợ chết mà theo giặc thì tha cho hết. Quân của Thiên triều đi đến đâu, một hạt thóc, một lá rau không thèm tơ hào của dân. Nhưng kẻ nào bị giặc sui giục, dám chống cự lại thì sẽ bị chu di cả ba họ. Ai bắt được cha con Mạc đăng Dung sẽ được thưởng 2 vạn lượng bạc, nếu để chúng chạy thoát đi nơi khác thì Bản phiên sẽ san phẳng cả thành trì và làm cỏ cả nhân dân...’’
Trừng đọc xong, cười nhạt:
- Lời lẽ khoác lác tệ.
Thích đáp:
- Vì sợ quân Minh kéo sang thực nên Thượng hoàng phải dâng biểu xin hàng. Nay mai ngài sẽ thân chinh lên Nam quan gặp Cừu Loan để nộp sổ điền thổ và số
 dân đinh...
Đang lúc ấy bỗng thấy tiếng người cười ầm ầm ở dưới đường. Hồ Thích ngó đầu ra xem, tiếng cười lại im bặt, nhưng ở đám đông đưa lên một giọng hát trong trẻo :
Tay anh cầm vồ
Anh giơ anh đập  
Em cầm xẻng đất,
Em hất xuống đường.
Nắm cơm, hạt muối, chai tương,
Bên rừng con vượn đêm trường cm canh. 
 
Mọi người nhao nhao lên tiếng khen hay:
- Bên nữ xướng trước, bên nam họa lại đi.
- Phải rồi họa lại đi.
Một người đàn ông cất tiếng hát:
Đôi ta hì hục.
Lục cục lào cào  
Anh đào, em lấp  
Anh cất, em bưng
Măng tre, nước suối, lọ vừng
Gió khua hốc đá, chim rừng líu lo.
 
- Hay! Hay !
- Đối nhau chan chát.
Hồ Thích cau mặt thở dài:
- Tình cảnh dân quê nghĩ cũng đáng thương, Nguyễn Trừng hỏi:
- Nghe nói Nguyễn Kim hoạt động ở Thanh  Hóa và lăm le muốn chiếm Tây Đô không biết Thượng Hoàng đối phó bằng cách nào?
- Dương chấp Nhất ở Tây Đô cũng đủ tài chế ngự nổi Nguyễn Kim, chỉ có mặt Bắc đáng lo ngại thì đã tạm yên rồi. Có điều khiến cho ta phải nghĩ ngợi, là một khi nước ta đã lệ thuộc vào Trung Quốc thì không biết Minh triều sẽ đối xử với dân ta ra sao? Một là Minh đế vẫn để nguyên cho họ Mạc cầm quyền chỉ đặt quan giám sát thì ta còn dễ thở đôi chút. Hai là người Minh lại bắt chước chính sách của Hoàng Phúc, Trương Phụ đặt quan Tàu cai trị ở các quận huyện thì thật là nhục nhã vô cùng.
- Nước ta từ khi Ngô Quyền gây được nền tự chủ đến nay có dư 600 năm. Chúng ta quen sống tự do, không may bị trói buộc vào vòng nô lệ thì chỉ có chết mới thoát được cảnh thống khổ. Họ sang thì ta đánh chứ sợ gì. Trong những cuộc tranh chấp của hai dân tộc, người Nam chúng ta chưa hề chịu nhường bước người Trung Quốc, có lẽ nào vì tờ hịch nhảm nhí kia mà Thượng-hoàng đã vội đem giang sơn gấm vóc này hiến cho ngoại bang? Cái nhục của mười thế kỷ bị đô hộ tưởng đã gột rửa sạch rồi, ai ngờ chỉ vì sự nhu nhược của một người mà mấy triệu dân phải sa đọa vào vòng nô lệ.
Hồ Tớich vội bịt miệng bạn lại:
- Ấy chết tai vách mạch rừng, bác phải thận trọng lời nói đôi chút, kẻo mất đầu bây giờ.
Nguyễn Trừng tức giận nói:
- Thà rằng chết đi còn hơn sống để nhìn Tổ quốc bị quân Minh giày séo mà không dám hành động gì. Chúng ta là người có học sao lại chịu uốn lưng thờ giặc để kiếm ngày hai bữa cơm, chả đáng hổ thẹn với tiền nhân lắm ru.
Đang lúc ấy thì bỗng có 3 tiếng trống điểm, mọi người reo ầm lên thu xếp sẻng cuốc vào một chỗ rồi đi ăn cơm. Nguyễn Trừng lặng lẽ nhìn đám dân phu biến dần sau rặng cây...
Trưa hôm sau, giữa lúc Hồ Thích đang vẩn vơ ngồi nhìn đàn chim bay lượn trên chòi chợt thấy một tên lính kỵ mã phi đến thét to:
- Thượng hoàng sắp tới, dân chúng phải lui hết.
Bọn phu không ai bảo ai, vác sẻng cuốc ù té chạy vào trong rừng. Chớp mắt quãng đường vắng tanh, không một bóng người qua lại. Hồ Thích sợ  toát mồ hôi, hỏi một tên lính kỵ mã:
- Trong công văn nói cuối tháng Thượng hoàng mới khởi hành, sao lại sớm quá thế?
Tên lính cau có đáp:
- Có tin quân Minh đã vượt biên thùy, nên Thượng hoàng phải cấp tốc đi ngay. Ngài không sửa soạn nghênh tiếp lại còn dềnh dàng lý sự mãi.
- Ở giữa rừng thì lấy đâu được hương án để bầy đồ bái vọng ?
- Cái đó tùy ngài, chúng tôi không biết.
Đoạn hắn phóng ngựa đi thẳng. Hồ Thích luống cuống gọi mãi Nguyễn Trừng không thấy đâu, vội quay về trạm thay mặc phẩm phục cầm hốt đứng đợi bên đường. Một lúc lâu mới thấy Trừng lù lù đến, Thích gắt ầm lên:
- Bác đi đâu mà để tôi gọi hết hơi chẳng thấy ? Thượng hoàng sắp đến nơi rồi, còn dẫn điệu mãi.
Trừng cười:
- Tôi đang bận thảo một bài biểu nên đến chậm.
Thích ngạc nhiên hỏi:
- Bài biểu gì?
- Tôi can Thượng hoàng đừng hàng quân Minh nữa.
Thích lạnh toát cả người, lắp bắp nói:
- Bác muốn mất đầu chắc?
Trừng khẳng khái đáp:
- Đầu tôi có thể mất được, nhưng lòng ái quốc của tôi không mất được. Bác cứ mặc tôi, đằng nào cũng một lần chết. Tôi muốn chết lắm để khỏi trông thấy quân Minh đặt chân lên giải đất này.
Nói đoạn, Trừng ngoắt ngay đi, mặc cho Hồ Thích đứng tần ngần bên vệ đường. Gần về chiều thì Mạc đăng Dung tới nơi. Một toán lính cung thủ cưỡi ngựa đi đầu mở đường, rồi đến kiệu của Mạc đăng Dung, các quan tùy tùng cưỡi ngựa đi chung quanh đông có tới vài trăm người. Đến trạm canh, Mạc đăng Dung nhìn qua rèm ngự thấy một người mặc triều phục, đầu trần quỳ ở bên đường, hai tay dâng biểu, thì ngạc nhiên hỏi:
- Tên kia có việc gì?
Nguyễn Trừng rập đầu nói:
- Thần là Nguyễn Trừng, chức Chuyển vận sứ huyện Lạng giang, có tờ biểu dâng trình ngự lãm.
Quan giám sát ngự sử là Vũ như Quế, cầm tờ biểu, vén rèm ngự đưa vào. Mạc đăng Dung xem xong cả giận, mắng:
- Nhà ngươi là một viên quan nhỏ sao dám phê bình công việc của Triều đình? Quân sĩ đâu, trói nó lại giải về kinh định tội.
Trừng kêu ầm lên:
- Thần tuy chức nhỏ, phận hèn, nhưng cũng là mệnh quan của Triều đình; vả lại đang lúc Quốc gia lâm nạn, kẻ thất phu còn phải lo mưu giải cứu, huống hồ người có học thức? Xin thượng hoàng nghe lời hạ thần, trở về Kinh đô sắp sửa binh mã để quyết chiến với giặc. Hạ thần nguyện sẽ làm tên quân dắt ngựa hầu Thượng Hoàng, dẫu có chết cũng cam lòng.
 
Mạc đăng Dung ném tờ biểu xuống đất quát:
- Tên hủ nho ăn nói càn rỡ tội đáng chết. Quân bay đâu, đem nó ra chặt đầu đi.
Quân sĩ xúm vào lôi Trừng ra. Trừng không kháng cự cười nhạt:
- Mày cướp ngôi nhà Lê, lại bán rẻ đất nước cho quân Minh. Sau này, dân chúng sẽ moi gan, lôi ruột mày.
Đoạn, Trừng cắn lưỡi chết. Mạc đăng Dung sai vứt thây ở bên đường rồi thúc quân đi.
Hồ Thích nấp ở gần đấy, đợi cho quân sĩ đi hết mới dám ra, chôn cất cho Trừng cẩn thận, rồi thay đổi thường phục tìm đường vào Thanh Hóa...
Mạc đăng Dung đi suốt đêm tới Lạng Sơn, đến sáng, tự trói mình cùng với các quan sang Nam Quan yết kiến Cừu Loan. Quân Minh dẫn mọi người vào dinh. Đô đốc Cừu Loan thấy Mạc đăng Dung xin hàng mừng lắm, nhưng cũng giả vờ làm mặt giận quát:
- Bản phiên đóng binh ở Nam Quan từ năm Đinh dậu (1537) nghĩa là cách đây đã 3 năm, sao bây giờ nhà ngươi mới chịu ra hàng?
Đăng Dung rập đầu kêu:
- Bẩm Đô Đốc, năm Đinh dậu, chúng tôi đã cho Nguyễn văn Thái sang dâng biểu xin hàng rồi, và Thiên triều đã ưng thuận.
Cừu Loan cau mặt đáp:
- Nhà người nói vô lý quá. Nếu Hoàng đế thuận cho hàng thì đã giáng chiếu cho ta biết, và sai sứ thần sang phong chức, chứ sao lại im lặng thế được? chẳng qua, nhà ngươi coi thường binh lực của Thiên triều nên mới có cái thái độ úp mở như vậy,
Mac đăng Dung run sợ, thưa:
- Chúng tôi ở nước mọi rợ, xưa nay không hiểu vương Iễ, xin Đô đốc chấm chước cho.
Cừu Loan toan mắng nữa, nhưng thấy quan Tán lý quân vụ là Mao bá Ân đưa mắt làm hiệu, thì dịu dọng nói:
- Nhà ngươi có thực bụng hàng không?
Mạc đăng Dung khóc, đáp:
- Chúng tôi cai trị đất mọi rợ, sống chết là ở trong tay Đô đốc, khi nào dám man trá để mang tội với Thiên triều.
- Vậy nhà ngươi muốn kêu gì?
- Chúng tôi xin dâng năm động là Tê phù, Kim lạc, Cổ xung, Liễu cát, La-phù và đất Khâm- chàn, để chuộc tội. Ngoài* fa lại vàng, bực, châu báu, cùng các sô đinh điền.
Cừu Loan đưa mắt nhìn 5 mâm vàng bầy ở trên sập, sẽ nói:
 
- Đây là đồ cống hiến đưa về Kim lăng phải không?
Mạc đăng Dung lê dần hai đầu gối đến gần chỗ sập của Cừu Loan ngồi, thưa rằng:
- Bẩm Đô đốc, chúng tôi cắt năm động dâng Thiên triều, còn chỗ vàng này là của riêng chúng tôi biếu Đô đốc.
Cừu Loan toét miệng cười:
- Nam chúa có lòng tốt, bản phiên rất cám ơn. Xin tạm lui về, đợi khi nào có chiếu chỉ của Hoàng thượng sẽ hay.
Mạc đăng Dung vâng vâng dạ dạ lui ra.
Cừu Loan bàn với Mao bá Ôn:
- Họ Mạc hèn nhát lắm, hay ta thôn tính phăng nước Nam làm quận huyện, để đỡ lo ngại về sau.
Ôn gạt đi:
- Người Nam không phải là giống hèn, vốn sẵn có tinh thần thượng võ và trí óc lớn lao không chịu ép mình làm nô lệ mãi đâu. Ta không tốn một mũi tên, mà thu được năm động là may lắm rồi, nếu ta làm quá, họ chổi cả dậy, thì nguy hiểm vô cùng.
- Mạc đăng Dung đã ở trong tay ta rồi, thì còn lũ dân đen kia, bảo thế nào mà chả phải nghe. Cơ hội này rất tốt, nếu ta bỏ lỡ e hối hận về sau.
- Mạc đăng Dung hèn nhát đã đành, nhưng ở nước Nam có một mình Mạc đăng Dung đâu ? Tôi nghe nói Nguyễn Kim cũng không phải là tay vừa, đang hoạt động ở Sầm châu, và chỉ rình ra Bắc. Nếu ta không khéo, nhỡ để dân chúng hợp tác với Nguyễn Kim đánh lại ta, thì rồi lại chịu cái số phận như Vương Thông, Mã Kỳ mà thôi.
Cừu Loan khen phải, dâng biểu về Kim lăng. Minh đế sắc phong cho Mạc đăng Dung chức Đô Thống sứ, hàm nhị phẩn, và ban thưởng cho Cừu Loan. Mạc đăng Dung cả mừng sang cảm ơn Cừu Loan, rồi về Thăng Long. Đến nửa đường Mạc đăng Dung nghe tin Nguyễn Kim đang đánh phá ở Nghệ An, cả sợ vội thúc quân gấp đường về. Gần tới Thăng long, lại được tin quân Lê đã rút lui rồi.
 
 
* **
*
 
 
Lại nói Nguyễn Kim ở Sầm Châu vẫn thường cho quân do thám về Thăng long xem xét tình hình nên việc Mạc đăng Dung định hàng nhà Minh đều biết rõ cả. Khi Mạc phúc Hải nối ngôi cha là Mạc đăng Doanh (năm Canh-Tí 1540) được mấy tháng thì ở Nam Quan, quân Minh rục rịch muốn vượt biên thùy. Mạc đăng Dung ở Cố Chai được tin ấy cấp tốc về Thăng long thu xếp các sổ đinh điền, vàng bạc châu báu, cùng với các quan lên Lạng Sơn, tự trói mình chịu tội. Nguyễn Kim nóng muốn biết tin tức, thì vừa hay Hồ Thích về tới Sầm châu xin vào yết kiến, thưa rằng:
- Nước sắp bị quân Minh đô hộ rồi, Tướng quân đã biết chưa?
Kim thản nhiên hỏi:
- Nhà ngươi làm quan chức gì với ngụy triều ?
- Bẩm chúng tôi là Hồ Thích chức Phòng ngự sử châu Quảng Nguyên.
Kim cười nhạt:
- À ra quan Phòng ngự sử, vậy ngài vừa nói nước nào bị quân Minh đô hộ?
Họ Thích biết là nói mai mỉa, ung dung đáp:
- Nước Đại Vìệt ta, chứ nước nào ? Mạc đăng Dung định đem giang sơn dâng cho Minh Triều và nhờ thế lực quân Minh để chế ngự tướng quân. Nếu tướng quân không nhân dịp lúc này mà chiếm lấy Thanh, Nghệ thì cũng khó lòng mà yên thân ở Sầm châu được.
- Ông đang làm quan của nhà Mạc, lại vào đây làm gì ?
- Họ Mac hèn nhát, đến đứa trẻ lên ba cũng nổi lòng công phẫn huống chi là kẻ thức giả
- Nếu Mạc đăng Dung chưa hàng quân Minh thì có lẽ ông vẫn quên nhà Lê. ông khéo léo biết lợi dựng thời cơ để tiến thân như thế mới đáng gọi là kẻ thức giả.
Hồ Thích khoan thai đáp:
- Lúc họ Mạc tiếm vị, các bầy tôi trung thành với nhà Lê, người thì lấy nghiên mực đập vào mặt nghịch thần, người thì chửi mắng gian tặc, thẩy đều bị chết cả. Duy có tướng quân chịu nhẫn nhục, thoả hiệp với triều Mạc để rồi tìm cách trốn đi, mưu sự khôi phục nhà Lê. Hồi bấy giờ, thiên hạ không hiểu cho là tướng quân biến tiết đổi lòng, cam tâm thờ giặc. Thanh Hóa là đất của lệnh nghiêm đường, tướng tá còn nhiều, tướng quân chỉ hô một tiếng là hàng vạn người theo, thế mà ở chốn Triều đường phải chịu khoanh tay nhìn Mạc đăng Dung lộng hành, vì tướng quân tự biết bị cô lập giữa bọn người khát máu. Trường hợp ‘‘đợi thời’’ của tướng quân hồi ấy, có khác gì của chúng tôi bây giờ.
Hạng nho giả có khí tiết, nhưng ít tinh thần tranh đấu, thì chỉ biết phản động lại thời cuộc bằng một thái độ tiêu cực, nghĩa là ẩn dật một nơi, rồi ký thác tâm sự hoài Lê vào câu thơ chén rượu. Còn như chúng tôi vì sinh kế quẩn bách, nên bất đắc dĩ phải ra làm quan với ngụy triều nhưng vẫn không quên được cố chủ, chỉ mong có dịp được quay về Lam sơn mà thôi. Tướng quân cùng vì nhà Lê mà chịu nhẫn nhục thờ họ Mạc ít lâu, đã không thấu rõ cái hoài bão của chúng tôi, lại lớn tiếng trách móc, thì ra tướng quân chỉ biết mình chứ không biết người. Đến như Nguyễn bỉnh Khiêm là một tay cự phách trong làng nho, khí tiết cao cả, thiên hạ trọng vọng như thần thánh, mà còn uốn lưng thờ họ Mạc thì còn nói chi kẻ tài trí dung thường này, đã nặng tình với gia đình lại mờ mắt vì danh lợi.
Nguyễn Kim cười ầm lên, đứng dậy xin lỗi:
- Tôi vui đùa một chốc, xin túc hạ chớ giận.
Đoạn mời Hồ Thích ngồi, rồi hỏi:
- Tình hình dân chúng miền Bắc thế nào? xin túc hạ cho biết.
- Dân chúng tuy bắt buộc phải theo nhà Mạc nhưng vẫn tưởng nhớ đến nhà Lê. Một chứng cớ hiển nhiên là năm Đinh dậu (1537) dân chúng thấy Mạc đăng Dung cho Nguyễn văn Thái sang Kim lăng xin hàng Minh đế, thì nổi lòng công phẫn rủ nhau vào Nghệ an sinh cơ lập nghiệp, rõ ràng là phản đối thái độ của Ngụy triều. Hồi ấy ở dân gian, bỗng thấy trẻ con nhao nhao lên hát câu này để chế riễu Mạc đăng Dung:
 
Có một ông to,
Vừa bò vừa khóc,
Theo anh vác bọc,
Hồng hộc chạy quàng.
Chạy từ đất Việt chạy sang,
Chạy từ cửa Ải Nam quan chạy về.
Chạy đi chạy lại ê chề.
Chạy qua đất Sở, chạy về đất Ngô.
Nghìn năm gây dựng cơ đồ,
Nỡ xô thành phách, nở vò non sông.
Rồi đây cát lở bụi tung,
Ùn ùn chật đất đầy đồng quân Minh.
Quán chợ đầu đình,
Rập rình người ngựa,
Còn đầy cái vựa,
Thóc chửa xay xong.
Con dắt, con bé, con bồng,
Một đoàn cha mẹ vợ chồng cùng đi.
Lam sơn đất cũ còn ghi,
Mây dùn cửa ải, tinh kỳ xa xa.
 
Nguyễn Kim lạ hỏi:
- Còn triều đình thì thế nào?
- Chốn triều đình gian đảng thi nhau khuynh loát các quan, bầy ra một cảnh tượng vô cùng hỗn độn. Quan Trạng Nguyên Nguyễn bỉnh Khiêm vốn được Mạc đăng Doanh coi như bậc Á phụ, nhiều lần dâng sớ xin chém mấy tên gian nịnh mà không được, nên tỏ vẻ chán nản, trầm muộn, cáo quan về nơi cố lý. Mạc đăng Doanh mất đi, đến Mạc phúc Hải thì càng đồi bại nữa.
- Lúc này đã nên xuất quân chưa ?
- Nên lắm. Thời cơ đã đến, ta làm ngay đi. Trước chiếm Thanh, Nghệ làm căn bản, đợi khi thế lực đầy đủ, sẽ tiến ta Bắc thì đại sự tất thành,
Nguyễn Kim gật đầu. Sáng hôm sau, Kim hợp các tướng lại bàn cách tiến binh. Ninh Chấp đứng lên thưa:
- Tôi xin đem 500 quân đi tiên phong do đường Khương Lang ra lấy Thanh Hóa.
Lý Vũ cũng xin đi. Trịnh Kiểm bàn rằng:
- Dương chấp Nhất ở Tây Đô dùng quân rất giỏi, mẹo mực như thần. Mặt Thanh Hóa ắt được phòng  thủ kỹ lưỡng lắm, nếu ta đi đường Khương Lang sẽ vấp phải sức kháng chiến rất mạnh của đối phương.
Con xin bầy mẹo này: một đằng nhạc phụ sức giấy cho vợ chồng Vũ công Khanh ở Khương Lang sắp sửa thuyền bè, làm như sắp qua sông, để đánh lừa giặc; một đằng con xin mang 500 quân luồn rừng ra chiếm Nghệ An, nhạc phụ mang đại binh đi sau. Nghệ An mất rồi thì Thanh Hóa thế cô, sớm muộn cũng đến mất nốt.
Nguyễn Kim ngảnh nhìn Hồ Thích hỏi:
Hồ Thích gật đầu:
- Thật là diệu kế.
Nguyễn Kim lập tức cho thi hành mưu kế. Vũ công Khanh ở Khương Lang, một hôm cùng với Lưu bích Lan, Cao minh, Đào Tứ ngồi nói chuyện xuông, thì nhận được mật lệnh phải sắp sửa thuyền bè, để cho quân sĩ vượt qua sông.
Cao Minh vỗ tay reo ầm lên:
- Phen này tất được trông thấy Thăng Long.
Vũ công Khanh cũng mừng rỡ nói:
- Chả nhẽ lại chịu chết già ở só rừng !
Đoạn, truyền cho quân sĩ đốt cả dinh trại ở trong rừng, lấp hết hầm hố, rồi kéo nhau lên đóng ở đồn đã bỏ trống mấy năm nay. Suốt mấy hôm, quân Lê ghép bè chuối, thả thuyền xuống sông, cắm cờ hiệu nhà Lê lên mui, tới tấp rộn rịp sửa soạn cuộc đổ bộ. Ở bên kia quân xích hậu dò thấy, vội về Tây Đô phi báo, Dương chấp Nhất họp các tướng lại bàn kế cự địch. Phó tướng là Ngô Cát nói:
- Nếu để giặc xâm nhập Thanh Hóa thì mất ảnh  hưởng với dân chúng. Bất nhược ta đánh trước thì hơn.
Dương chấp Nhất nghe lời, sai Ngô Cát đem 1000 quân đi trước, còn tự mình thống lĩnh đại binh kéo sau. Suốt từ Tây Đô đến bờ sông giáp giới Khương Lang, cứ cách vài dặm lại lập một dinh trại, ngày đêm đốt lửa làm hiệu. Tiền quân Mạc đóng cách sông vài dặm đã được non một tuần lễ mà vẫn chưa thấy quân Lê hành động gì, liền báo tin cho chủ tướng biết. Dương chấp Nhất sinh nghi, cúi đầu ngẫm nghĩ một lúc, rồi gọi một viên tướng thủ tức là Triệu Đại đến dặn rằng:
- Nhà người đi gấp đường vào Nghệ an nói với quan trấn thủ là Vương Cẩm phải đề phòng quân Lê đánh úp. Nhanh lên kẻo không kịp.
Triệu Đại vâng lệnh lên ngựa đi, chiều hôm sau đã về, mặt tái mét cắt không được hột máu, đứng thở một lúc, rồi nói ;
- Nghệ an mất rồi,
Dương chấp Nhất rụng rời chân tay hỏi:
- Mất bao giờ?
- Bẩm mất đã hai hôm nay. Quan trấn thủ là Vương Cẩm trốn mất tích. Thành trì đã lọt vào tay tướng Lê là Trịnh Kiểm.
Quân Mạc nghe được tin ấy, nháo nhác cả lên. Ngô Cát bàn rằng:
- Nếu để mất Nghệ an thì Tây Đô cũng nguy đến nơi rồi. Tướng quân phải đánh chiếm ngay lại mới được.
Tổng quản là Phùng Ích nói:
- Nếu ta rút quân đi, thì bên kia quân Lê tất tràn sang đuổi theo. Giặc ở Nghệ An đánh thốc về, ta bị kẹp ở giữa thì hết lối chạy.
Dương chấp Nhất đang phân vân chưa biết tính sao chợt thấy quân sĩ đưa một người vào. Nhất nhìn ra thì là Nguyễn Áng, vội đứng dậy mời ngồi. Áng nói:
- Thượng hoàng đã dâng 5 động cho Minh đế xin hàng, thế là mặt Bắc tạm yên. Tôi[sub] [/sub]đến đây được tin Nghệ an đã bị quân Lê chiếm rồi, đại huynh nghĩ thế nào?
Dương chấp Nhất mừng rỡ, đáp:
- Thật là may cho Mạc triều.
- May thế nào?
- Sở dĩ quân Lê dám hoạt động mạnh như vậy là do sự rắc rối ở biên thùy Hoa Việt. Đến nay tình thế đã ổn định, quân Lê có gan tày trời cũng không dám ở Nghệ an. Đại huynh hãy nán ở lại đây vài hôm nữa, xem lời tôi nói có đúng không?
 
Nguyễn Áng bán tín, bán nghi, đành phải ở chơi vài hôm để nghe tin tức.
Lại nói chuyện Trịnh Kiểm và Ninh Chấp, Lý Vũ đem 500 quân luồn rừng dòng dã hai ngày đêm thì tới Nghệ An. Trịnh Kiểm cho Ninh Chấp 200 quân trá hình là dân quê, lọt được vào trong thành. Đến đêm Ninh Chấp phóng hỏa đốt cháy mấy cái lều cỏ ở chân thành, đánh tan quân canh rồi mở cổng cho quân Lê vào. Vương Cẩm chưa biết giặc nhiều ít thế nào không dám nghênh chiến, ôm đầu chạy trốn. Quân Mạc đổ xô chạy tan tác, dẫm lên nhau chết vô kể. Trịnh Kiểm chiếm được thành, treo bảng an dân, rồi phi báo về hậu tuyến. Chiều hôm sau thì đại binh tới nơi. Nguyễn Kim mở tiệc ăn mừng, định cho quân sĩ nghĩ ngơi vài ngày rồi sẽ kéo đi chiếm Thanh Hóa. Đến hôm thứ năm, Nguyễn Kim cùng Hồ Thích cưỡi ngựa đi chơi trong thành để xem xét tình hình dân chúng. Nhìn thấy cửa nhà san sát, bá tính vui vẻ làm ăn. Nguyễn Kim tươi cười nói:
- Trăm họ vẫn tưởng nhớ đến nhà Lê, xã tắc lại có cơ trung hưng. Ta ra quân chuyến này chắc hẳn là thành công.
Hồ Thích đáp:
- Lòng trời vẫn tựa nhà Lê. Nên nghĩa sĩ trong thiên hạ theo giúp rất nhiều. Cứ cái đà này mà tiến thì chỉ trong một tháng nữa, đất Bắc sẽ trở lại với cố chủ.
* * *
Hai người thủng thỉnh cho ngựa rẽ vào chợ thấy kẻ mua người bán rất sầm uất, hàng hóa, củi gạo bầy chật ních cả lối đi. Đang lúc ấy bỗng một toán trẻ con vỗ tay reo hò, đi theo một người điên quần áo lôi thôi lếch thếch, mồm nói lảm nhảm. Hai người dừng ngựa lại xem. Người điên tay cầm quạt phe phảy, chỉ Đông chỉ Tây, cười sằng sặc một lúc rồi hát:
Đàn chim vỗ cánh;
Mây kéo đen trời
Ầm ầm lá rụng tơi bời
Đầu tường gió thổi lưng trời mưa xa
Rập rìu mớ bẩy mớ ba
Trách người ăn nói sai ngoa chẳng cùng.
 
Đoạn lại ngửa mặt cười. Khi đi qua chỗ Nguyễn Kim đứng, người điên lè lưỡi, rụt cổ, chắp tay vái lung tung, rồi chỉ vào mặt Nguyễn Kim thét to:
- Ải ! ải... quân khốn kiếp! Ngọc Hoàng sai tao mang thiên binh vạn mã xuống bắt mày. Tao bắt cái phọc quyết đánh ngã Thái bạch kim tinh, tao niệm thần chú là sang được Tây Chúc…cử binh tróc nã cái ông. . . Lưu Bị.
Bọn trẻ lại cười ầm lên. Người điên loạng choạng đi lẩn vào trong đám đông. Hồ thích sẽ bảo Nguyễn Kim:
- Tôi trông anh chàng này không có gì là điên cả, có lẽ là do thám của quân Mạc cũng nên.
Nhân có mấy tên lính đứng vẩn vơ ở góc đường, Thích sai đi bắt người điên mang về dinh, Hồ Thích vỗ vai hắn, cười hỏi:
- Anh là ai ? Đừng vờ vĩnh nữa, ta biết rồi.
Hắn cũng cười, đáp:
- Ông quả là có con mắt tinh đời.
Vừa hay Trịnh Kiểm ở đâu đến, nhìn hắn một lúc rồi buột miệng kêu:
- Tưởng ai, té ra Trương hoàng Sử.
Hoàng Sử chào Kiểm :
- Biết tướng quân vừa lập được công to nên phải đến mừng.
Đoạn quay lại vái Nguyễn Kim thưa:
- Chúng tôi là Trương hoàng Sử, tri huyện Vĩnh lộc, kính chào Nguyên soái.
Nguyễn Kiểm tủm tỉm cười, hỏi:
- Tiên sinh bầy trò ra thế này để làm gì?
- Tôi ở Vĩnh Iộc được tin Nguyên soái đã chiếm Nghệ an, vội đến tìm, giãi bầy vài ý kiến. Trong thành, ngoài thành, quân sĩ canh phòng cẩn mật, giá có gặp mặt chủ soái cũng khó khăn, nên bất đắc dĩ phải dùng cái mẹo nhỏ này, xin chớ cho là lạ.
- Xin tiên sinh cứ dậy.
- Nguyên soái có nhận thấy tình hình nguy lắm không?
Kim ngạc nhiên đáp:
- Lão phu mới xuất quân đã thắng lợi chỉ nay mai chiếm nốt Thanh hóa, sao lại gọi là nguy ngập được.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 21.03.2020 17:11:39 bởi Thanh Vân>
- Mạc đăng Dung hàng nhà Minh cốt để rảnh tay quay về phương Nam đối phó với nhà Lê. Nguyên soái dầu chiếm được Nghệ an nhưng chưa chắc đã đánh ngay được Thanh hóa vì Dương chấp Nhất còn ở trong tay hàng vạn quân, lương thực dồi dào, có thể cầm cự được 6, 7 tháng. Nguyên soái định dùng Nghệ an làm căn bản nhưng mấy năm nay mùa màng không được tốt lắm, thóc gạo chỉ đủ cung cấp cho quân sĩ dùng vài tháng thôi. Nếu Dương chấp Nhất dùng lối cố thủ, kéo dài cuộc chiến đấu đợi cho quân tiếp viện đến mới phản công, thì lúc bây giờ lương thực hết, quân sĩ mỏi mệt, Nguyên soái chạy đâu thoát?
Nguyễn Kim tỉnh ngộ, vội hỏi:
- Theo ý tiên sinh thì nên làm thế nào?
- Nguyên soái nên rút lui ngay về Sầm châu để bảo toàn lực lượng, đợi thời cơ thuận tiện sẽ tiến ra đánh chiếm cả Thanh, Nghệ một lúc, để cho giặc đầu đuôi không tiếp ứng được. Thanh, Nghệ đã lọt vào tay thì việc Bắc phạt mới có kết quả.
Nguyễn Kim cả mừng vái Hoằng Sử:
- Xin cảm tạ tiên sinh.
Ngay đêm hôm ấy, Nguyễn Kim ra lệnh cho quân sĩ cơ nào đội ấy bí mật rút lui về Sầm châu. Kim muốn mời Hoằng Sử nhập bọn với mình.
Sử từ chối đáp:
- Tôi phải về Vĩnh Lộc, khi nào nguyên soái ra Thanh Hóa lần thứ hai, tôi sẽ làm nội ứng cho.
Đoạn, Sử từ biệt đi. Cái tin quân Lê rút lui đưa về Tây Đô, Dương chấp Nhất vỗ vai Nguyễn Áng nói:
- Tôi đoán có sai đâu. Nhưng rồi chúng lại ra, mà lần sau này thì không những Nghệ An mà Thanh Hóa cũng bị đe dọa nữa.

* ★
NĂM Nhâm Dần (1512) Nguyễn Kim ở Sầm Châu thế lực đã mạnh, ý muốn cất quân về đánh Thanh, Nghệ. Bây giờ Đặng Thị đã qua đời, phàm có việc gì quan trọng, An thành Hầu đều bàn với con rể là Trịnh Kiểm. Nàng Ngọc Bảo trong mấy năm sinh liền hai trai, con trưởng là Trịnh Cối, con thứ là Trịnh Tùng. Kiểm mừng lắm thường khoe với mọi người:
- Thằng Cối có quí tướng thật, nhưng không bằng em. Sau này Tùng có thể nối nghiệp của cha được.
Nguyễn Uông vì có hiềm với anh rể, nên ít khi chịu giáp mặt, chỉ có Nguyễn Hoàng khôn khéo hơn, muốn giữ trọn vẹn tính hòa khí trong gia đình nên rất niềm nở với Trịnh Kiểm. Nguyễn Kim đã nhất quyết tiến binh, nên cuối năm ấy ông sai Trịnh Kiểm cùng bọn Vũ công Khanh, Cao Minh, Đào Tứ, đem 5000 quân đi lấy Thanh Hóa. Còn Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng. Ninh Chấp, Lý Vũ đánh Nghệ an, tự mình thống lĩnh đại binh cùng Hồ Thích rước vua Lê trang Tôn đi sau.
Trịnh Kiểm vâng lệnh kéo quân ra Khương Lang đóng tạm ở đây vài hôm, họp các tướng lại bàn, Vũ công Khanh nói:
- Nếu có ai chịu vào thành làm nội ứng thì lấy Tây Đô rất dễ
Trịnh Kiểm khen phải, sực nhớ đến Trương Hoằng Sử, liền viết một phong thư đưa cho Cao Minh sẽ dỉ tai dặn dò. Cao Minh thưa rằng:
- Xin cho Đào Tứ cùng đi với tôi cho có bạn.
Kiểm bằng lòng. Hai người trá hình là khách thương, thẳng đường về Tây Đô. Bấy giờ tiết trời đã sang đông, gió vàng hiu hắt lạnh buốt xương. Qua các đồn ải, hai người đều nhận xét kỹ lưỡng cách phòng thủ của quân Mạc, nhất nhất đều ghi nhớ hết. Đến Tây Đô, Cao Minh bàn rằng:
- Ở đây, chúng canh phòng cẩn mật lắm, anh phải cẩn thận, nhỡ một tý thì hỏng cả công việc.
Đào Tứ gật đầu. Hai người thủng thỉnh đi lẫn với dân chúng, lọt được vào thành.
Lần đầu tiên, Đào Tứ đặt chân đến nơi đô hội, mắt nhìn thấy nhà cửa san sát, cảnh tượng phố phường sầm uất, xe ngựa nhộn nhịp tưng bừng nên trong bụng vui thích lắm. Hai người đến chợ, tìm một hàng quán gọn ghẽ vào nghỉ ngơi, tắm rửa sạch sẽ, thay đổi quần áo, rồi ra chợ chơi. Đang lúc len lỏi giữa đám đông. Đào Tứ bỗng vấp phải một bà cụ già bán rau ở dia đường, làm bà cụ ngã gục đầu xuống chiếc thúng để trước mặt. Đào Tứ chưa kịp nâng bà cụ giậy thì bị ngay một câu mắng:
- Mắt mù hay sao mà khốn khổ thế?
Đào Tứ dịu giọng xin lỗi:
- Cháu chót nhỡ, xin cụ tha cho.
Bà cụ cứ sa sả mắng, rồi nắm chặt lấy áo của chàng:
- Mày đền bà đi.
- Ồ hay ! đền thế nào?
- Mặc kệ, bà đã ế hàng, mày lại còn ếm mãi.
Đào Tứ toan cãi lại nữa, thì Cao Minh đã lấy trong túi ra một ít bạc vụn đưa cho bà lão:
- Đây ! đồ khỉ già.
Bà lão cười ha hả, ngước mắt nhìn Cao  Minh một lát, rồi bỗng kêu lên:
- Ai như ông Minh.
 Hai chàng sợ tái người, tưởng bị bại lộ hình tích bấm nhau toan lảng đi, thì bà lão đã nắm lấy Đào Tứ :
- Tưởng ai, té ra thằng ôn vật.
Đào Tứ ngắm nhìn bà lão một lúc mới nhận được bà mẹ yêu quí, mà chàng đã cách biệt gần 15 năm nay. Chàng khì khì cười nói:
- U già đi nhiều quá, thay đổi cả nét mặt, thoáng nhìn thì chịu không nhận được là ai.
- Khốn nạn, gần 20 năm giời, còn gì mà chẳng già.
- Sao u lại lạc lõng vào đây ? Thầy con bây giờ ở đâu?
- Câu chuyện còn dài lắm, thôi về nhà sẽ hay.
Đoạn Chu Thị một tay cắp thúng rau, một tay đẩy Đào Tứ đi trước. Thấy Cao Minh có vẻ ngần ngại, Chu Thị sẽ nói:
- Ông không sợ, chúng tôi không phải là người bất lương đâu.
Cao Minh cũng liều bước theo, định bụng nếu Chu Thị dở mặt thì sẽ cho nếm một mũi dao rồi trốn cũng vừa. Ba người rẽ đám đông ra khỏi chợ rồi lần theo bờ ruộng đi. Dọc đường, Chu Thị hỏi con:
- Mày đi đâu mà mất tăm, mất tích 13 năm nay, chả nghĩ gì đến bố mẹ cả?
Thấy chung quanh vắng vẻ, Đào Tứ đáp:
- Cũng muốn về thăm thầy u nhưng sợ bị bắt.
Chu Thị chép miệng:
- Đang lúc cơn đen, vận túng nên mới nghĩ bậy như thế, chứ bây giờ thì chả khi nào.
- Có lẽ u giàu lắm rồi thì phải.
- Chả giàu, nhưng cũng đủ ăn. Tao chừa sóc dĩa rồi.
- Có thật không ?
- Đứa nào nói dối thì trời chu đất giệt.
- Lại thề!
- Rõ khổ lắm ! Mày vẫn chưa tin.
Đào Tứ khì khì cười:
- Ừ thì tin vậy.
- Mày làm nghề gì kiếm ăn?
- Làm nghề đánh nhau!
- Có nghề gì là nghề đánh nhau?
- Con theo ông Nguyễn Kim để đánh nhau với giặc Mạc chứ sao?
- Thế mày vào đây làm gì?
- Con vào làm nội ứng cho quân Lê. U có muốn đi tố cáo thì đi.
Chu thị rụng rời cả tay chân, lắp bắp nói:
- Trời ơi...! thế thì chết cả lũ.
Đào Tứ thản nhiên đáp:
- Chết thế nào được. Quân Lê sắp kéo đến nơi rồi.
Chu Thị rẽ vào đám nhà lá, dừng chân trước cái cổng tán gọi. Có tiếng thưa ở trong nhà, rồi thấy một ông cụ già ra dựng cổng lên. Đào Tứ chạy vào nắm lấy tay bố:
- Thầy còn nhớ con không?
Đào Hòa nheo cặp mắt nhìn chàng thanh niên đoạn reo lên:
- Đào Tứ, cả ông Minh nữa.
Đào Tứ đem hết sự tình nói với cha, rồi móc túi lấy một nén vàng dúi vào tay:
- Nếu thầy u giữ kín cho, thì sau này sẽ có vô khối vàng bạc mà tiêu. Bằng manh tâm làm phản thì ông Minh chẳng để yên cho đâu!
Đào Hòa thở dài:
- Ví túng bẩn nên phải tính bậy, người chứ có phải giống vật đâu mà táng tận lương tâm thế được.
Cao Minh cười hỏi:
- Mấy năm nay ông làm nghề gì để sinh nhai?
- Từ khi ông bỏ đi vợ chồng tôi hối hận mãi, nhưng sự đã rồi, biết làm thế nào? Sau đấy vài tháng, chúng tôi dọn về Thăng Long ở được ít lâu thấy khó kiếm ăn, lại lần mò về Thanh, định tìm thằng Tứ nhưng không thấy. Bốn bàn tay trắng ở nơi khách địa, chúng tôi đành phải gồng thuê gánh mướn để kiếm ăn, sau dư dật đồng tiền mới dựng được gian nhà và làm nghề hàng rau.
- Ông có quen ai ở trong thành không?
- Trước kia tôi cũng có gá bạc một dạo nên quen rất nhiều lính tráng. Tôi được nhiều lần vào dinh quan Tổng trấn là Dương chấp Nhất nên biết rõ đường đất lắm.
- Ai trông nom việc tuần phòng?
- Nghe đâu là Trương hoằng Sử thì phải, ông này trước làm tri huyện Vĩnh Lộc vừa mới đổi về đây được 4, 5 tháng.
- Nhà ông ta ở đâu?
- Tôi cũng chưa biết rõ.
Thấy trời đã trở về chiều, Cao Minh đứng giậy cáo từ, Đào Hòa hỏi:
- Ông đi đâu bây giờ?
- Tôi về nhà trọ...
- Ông nên ở đây với chúng tôi thì hơn, ở nhà trọ dễ bị lộ lắm,
Chu Thị cùng nói :
 - Đêm hôm họ khám xét kỹ lắm. Ông ở đây thì không sợ, vì chúng tôi quen hết cả.
Cao Minh bằng lòng sai Đào Tứ về nhà trọ lấy hành lý. Nghỉ ngơi vài hôm, Cao Minh định đi tìm Hoằng Sử nên ăn mặc rất lịch sự, thủng thỉnh ra phố, hỏi thăm được đến dinh nhờ lính vào thông báo. Một lúc có viên thơ lại ra dần vào. Cao Minh vái Hoằng sử nói:
- Chúng tôi trước ở huyện Vĩnh lộc được đại nhân làm ơn cho một việc, nay vào mừng đại nhân vừa được thăng chức.
Hoằng Sử ngạc nhiên nói:
- Nhà thầy chịu ơn gì của bản chức?
- Bẩm, chúng tôi được đại nhân tặng vàng bạc về phụng dưỡng mẹ già, lại gỡ cho khỏi phải tội, nên vẫn nhớ ơn mãi.
Hoằng Sử hiểu ngay là người của Trịnh Kiểm sai đến, bèn mỉm cười nói:
- Xin mời túc hạ ngồi chơi.
Cao Minh dâng phong thơ lên Hoàng Sử xem xong, châm lửa đốt, rồi sẽ bảo Cao Minh:
- Khi nào đại binh vây được Tây đô, thì ta sẽ dâng thành cho.
Cao Minh cả mừng, chào đi ra, dặn dò Đào Tứ cẩn thận, rồi tức tốc về Khương lang báo tin, Trịnh Kiểm yên trí, đêm hôm ấy bí mật cho quân sĩ vượt qua sông, lợi dụng đối phương chưa kịp phòng bị, chia quân đánh các quận huyện, thế mạnh như vũ bão. Khắp nơi quân Mạc chống giữ rất hăng hái, nhưng vì các con đường liên lạc với Tây Đô đều bị cắt đứt nhiều chỗ, sự tiếp tế rất khó khăn, nên chỉ non một tháng, mà vòng vây dần dần thu hẹp lại, quân Lê còn cách Tây đô vài dậm đường. Dương chấp Nhất mấy lần dâng sớ về Thăng Long xin được quân cứu viện đến thì lại bị Nguyễn Kim đón đánh.
Đang lúc Tây Đô lâm vào thế cô thì tình hình Nghệ An cũng không được sáng sủa lắm. Khắp nơi dân chúng nỗi lên hậu thuẫn cho nhà Lê rủ nhau đi lùng bắt lính Mạc. Tháng chạp năm ấy, Nghệ An thất thủ, Nguyễn Kim mừng lắm, đưa giấy cho Trịnh Kiểm bắt phải lấy Tây đô trước tết Nguyên Đán. Kiểm nhận được tướng lệnh, thúc quân đánh thành rút gấp. Nhưng vì Tây Đô phòng thủ chắc chắn lắm nên quân Lê không làm gì được. Trịnh Kiểm nghĩ được một mẹo, liền cho quân đi phao tin là quân tiếp viện của Mạc phúc Hải sắp kéo đến giải vây Tây đô, rồi chàng rút hết quân sĩ đi nơi khác. Dương chấp Nhất thấy vậy, họp các tướng lại bàn, Trương Hoằng Sử nói:
- Tôi xin đem một toán quân ra thám thính phòng xa địch đánh lửa.
Chấp Nhất bằng lòng. Hoằng Sử đem 300 quân ra khỏi thành được hơn một dậm thì bị Cao Minh đem quân đến vây bắt sống cả, rồi đổi lấy 300 quân Lê cho mặc quần ảo giả quân Mạc.
Hoằng Sử dặn rằng:
- Đêm nay cứ đốt lửa làm hiệu, ta sẽ mở cửa Bắc cho vào.
Đoạn kéo quân trở về. Cao Minh giả vờ đuổi theo, hai bên đánh nhau lộn bậy mãi, đến nhá nhem tối thì rút lui. Hoẳng Sử về đến thành, Dương chấp Nhất hỏi ngay:
- Tình hình quân giặc thế nào?
- Chúng chưa đi hết. Sáng mai ta kéo cả ra đánh một trận ắt được toàn thắng.
 
Đêm hôm ấy, Hoằng Sử đem 300 quân Lê đi tuần phòng. Đến cửa Bắc, chèo lên mặt thành nhìn ra ngoài thấy có đốt lửa, liền hô lên một tiếng, quân Lê xông vào giết chết toán lính canh cổng, rồi mở toang cửa ra. Cao Minh, Vũ công Khanh ở ngoài liền cho nổi hiệu trống thúc quân tiến vào thế mạnh như nước vỡ bờ. Chớp mắt lửa trong thành bốc cháy ngùn ngụt tiếng reo hò ầm ĩ Hoằng Sử dẫn các tướng, Lê đánh tràn vào dinh Trấn thủ. Đào Tứ đang chập chờn nửa ngủ nửa thức, thoáng nghe có tiếng quân reo, chàng thức giậy, nhìn ra ngoài lửa cháy ngất trời, biết là thành đã vỡ, liền cầm lấy thanh gươm bảo mẹ:
- U cứ đóng kín cửa kia lại, con đi bắt giặc đây. Đoạn chạy vụt ra ngoài. Khắp các ngả đường dân chúng nhớn nhác, bồng con bế cái chạy như vịt dẫm lên nhau chết vô kể. Đào Tứ đến dinh Trấn thủ, chèo qua tường vào lùng bắt Dương chấp Nhất. Lúc bấy giờ quân Mạc cũng vất cả binh khí đi lẫn với dân chúng về phía cửa Đông, thoát được ra ngoài rất nhiều. Dương chấp Nhất cởi bỏ nhung phục, thu xếp ít vàng bạc dắt vợ con toan trốn đi, thì sực Đào Tứ xông đến thét to:
- Đứng lại.
Chàng hoa gươm đâm thẳng một mũi. Chấp Nhất bất đắc dĩ phải nghênh chiến, được mươi hiệp thì quân Lê hằng hà sa số kéo đến vây kín xung quanh. Chấp Nhất biết đánh mãi cũng vô ích liền xin hàng. Đào Tứ xông vào dằng lấy gươm trói lại. Vừa hay, Hoằng Sử thúc ngựa đến. Nhất mỉa mai nói:
- Không ngờ ông lại phụ tôi.
Hoằng Sử đáp:
- Tôi rắp tâm hàng Lê đã lâu, bây giờ mới có dịp. Ông là danh tướng nhà Mạc, không đến nỗi phải chịu nhục hình đâu!
Trịnh Kiểm chiếm xong Tây đô, một mặt phái người đi báo tin cho Nguyễn Kim biết, một mặt treo bảng, an dân, và sai Cao Minh đem quân đi tróc nã những lính Mạc đào tẩu. Mấy hôm sau, chợt có tin kinh thành Nghệ An lại bị quân Mạc chiếm mất rồi, Trịnh Kiểm dật mình hỏi nguyên do, thì lên lính thưa rằng:
- Công tử Nguyễn Uông sơ ý để Vương Cẩm lẻn vào chiếm thành, đốt kho lương thực, đánh bật được quận Lê ra ngoài.
- Nguyên soái đi đâu?
- Bẩm, Nguyên soái phải hộ giá Hoàng Thượng đi các châu, huyện để phụ dụ dân chúng.
- Hiện nay tình hình thế nào?
- Tướng Mạc phòng thủ chu đáo lắm, quân Lê đánh mãi không được.
Vì còn mấy ngày nữa thì đến tết Nguyên Đán, nên Trịnh Kiểm cho quân sĩ nghỉ ngơi ăn Tết, đợi ra giêng sẽ cử binh vào Nghệ An.
Năm Quý mão (1543) thì thành Nghệ An lại lọt vào quân Lê, các phủ huyện dần dần lại thu phục được hết. Cả giải đất Thanh Hóa cũng bình định xong, Nguyễn Kim rước vua Lê trang Tôn về đóng ở Tây Đô, cho các tướng vào lạy mừng rồi định công phong thưởng. Nguyễn Kim toan bắt tội Uông, thì Hoàng can rằng:
- Trịnh Kiểm chiếm công đầu, thế cũng đủ cho anh Uông ghen tức rồi. Nếu cha trị tội Uông tức là khơi sâu thêm cái hố ác cảm giữa hai người. Cha lờ đi là hơn.
Nguyễn Kim họp các tướng sĩ lại, bày tiệc ăn mừng. Rượu đến nửa chừng, vua Lê trang Tôn truyền đem Dương chấp Nhất ra chém đầu. Hồ Thích quỳ xuống tâu:
- Dương chấp Nhất là danh tướng của nhà Mạc, giết đi thì tiếc, xin để hắn lập công chuộc tội.
Trịnh Kiểm nói:
- Chấp Nhất ngoài mặt trông có vẻ hiền lành nhưng trong bụng độc ác như hổ lang. Giết hắn đi, tức là chặt được một cánh tay của Mạc phúc Hải, và trừ được một đối thủ lợi hại của ta.
Nguyễn Uông phản đối lại:
- Xưa nay có ai giết hàng tướng bao giờ, đang lúc tranh bá đồ vương, thì người nào cũng vì chủ người ấy, chém tướng cướp cờ là bổn phận của kẻ làm trai sao lại nỡ vì chữ ‘‘tài’’ mà thù ghét nhau như thế được ? Khi Dương chấp Nhất thờ Ngụy triều thì chỉ biết có họ Mạc đáng khen là bậc trung thần. Đến lúc biết cải tà quy chính, bỏ chỗ tối ra chỗ sáng, thì ta nên trọng dụng để tưởng lệ người hào kiệt mới phải, chứ giết đi chả hóa ra hẹp lượng lắm ru !
Ninh Chấp không bằng lòng, nói:
- Dương chấp Nhất theo Mạc đăng Dung từ thuở nhỏ, ngoài thì là nghĩa vua tôi, nhưng trong tình thân như ruột thịt. Hắn bất đắc dĩ mà phải hàng, chứ tư tưởng lúc nào cùng hướng về Mạc thị. Nên giết đi cho khỏi lo về sau.
Các tướng mỗi người bàn một phách, kẻ thì bảo ‘‘nên giết’‘ người thì bảo ‘‘nên tha’’, tranh biện nhau mãi. Vua Lê trang Tôn cũng không dám tự mình quyết định, bèn hỏi ý kiến An thành Hầu. Nguyễn Kim tâu rằng:
- Hồi Mạc đăng Dung thoán nghịch, muốn giết các người trong hoàng tộc, nhưng Dương chấp Nhất can mãi Dung mới chịu nghe. Hạ thần cũng nhờ có hắn che chở nên mới sống sót đến ngày nay. Kể ra hắn đối với nhà Lê thì ân nhiều mà tội ít, xin bệ hạ khoan dung cho một lần để thiên hạ hiểu rõ độ đức cao cả của vị thánh quân.
Vua Lê trang Tôn liền ân xá cho Dương chấp Nhất và cho giữ nguyên chức cũ, tước Lạc trung hầu. Chấp Nhất lạy tạ ơn. Trịnh Kiểm nét mặt có vẻ buồn rầu.
Từ đấy, hai tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, nằm trong thế lực nhà Lê.
 
 
*
* *
 
NĂM Ất-Tỵ (1545) Nguyễn-Kim muốn tiến ra Bắc đánh chiếm Thăng Long, bèn sức giấy đi các phủ huyện kén thêm một vạn quân nữa giao cho Trịnh Kiểm luyện tập. Lại trưng dụng những thợ khéo đóng gấp chiến thuyền, mua ngựa, định do hai đường thủy, bộ đánh Sơn nam. Ông thấy mình đã già yếu, ý  muốn trọn Nguyễn Hoàng để nối nghiệp mình, nhưng lại sợ mếch lòng Uông nên còn dùng dằng chưa dám quyết định ngay.
Nguyễn Uông thì từ khi vợ chết cũng chưa tục huyền, còn Hoàng thì mới thành hôn, được ít lâu. Một hôm, ông đem chuyện gia đình bàn với Dương chấp Nhất, và hỏi ý kiến. Nhất đáp:
- Nếu bỏ trưởng, lập thứ, thì khác nào tự mình gậy mầm loạn trong nhà. Vả lại Uông không có tội gì sao nỡ phế truất đi.
- Tài Hoàng gấp mười Uông, và rất được lòng quân sĩ. Ta cốt chọn người giỏi, chứ kể gì đến trưởng với thứ.
- Uông dẫu không tài bằng Hoàng nhưng cũng không phải là vô dụng, có thể nối nghiệp được.
Nguyễn Kim còn đang ngần ngừ thì Nhất lại nói:
- Nguyên soái còn nhớ chuyện vua Đinh tiên Hoàng bỏ Đinh Liễn mà lập Hạng Lang không?
Kim chợt nghĩ ra, cười:
- Nếu không may ta mất sớm, thì ông nên cố hết sức giúp con ta nhé!
Nhất gạt nước mắt đáp:
- Tôi như người sắp chết đuối, được ông cứu thoát, chỉ mong có dịp để báo đáp ơn sâu, lẽ nào có việc nhỏ mọn như thế mà chẳng hết lòng?
Kim cả mừng. Dương chấp Nhất đem chuyện đó nói với Uông. Uông chắc là thế nào cũng được lập, thường nói với các tướng:
- Các ông theo phụ thân tôi đã gần 20 năm nay, nằm gai nếm mật đã nhiều, đến lúc thành công thì cùng nhau chia hưởng phú quí. Tôi đối với các ông trước sau như một, thề không dám phụ lòng. Nhưng riêng đối với Trịnh Kiểm thì nhất định không chịu đội trời chung. Nếu hắn không chết thì tôi cũng khó sống yên ổn được.
Câu chuyện ấy đến tai vợ chồng Vũ công Khanh. Lưu Bích Lan thuật lại với Ngọc Bảo. Nàng chạy đến khóc với cha:
- Chồng con với em Uông vẫn bất bình với nhau, nếu cha giao binh quyền cho Uông thì chồng con nguy mất.
Nguyễn Kim đáp:
- Để ta liệu xem đã.
- Trước mặt tướng sĩ, Uông vẫn thường đe giết chồng con để trả thù. Nếu Kiểm biết ắt phải tính trước, thì tính mệnh em Uông cũng khó an toàn.
- Ai nói với con thế?
- Vợ chồng Vũ công Khanh.
Nguyễn Kim gọi Khanh hỏi, thì Khanh khai là câu chuyện có thực. Kim lặng yên không nói gì, cho nên lại đình chỉ việc kế nghiệp, và từ đấy lúc nào ông cũng lộ vẻ buồn bã.
Dương chấp Nhất tuy bắt buộc phải hàng nhà Lê, nhưng trong bụng lúc nào cũng tưởng nhớ đến chủ cũ, chỉ rình có dịp là trốn về Thăng long. Trong thời gian lưu trú ở Tây Đô, hắn tìm hết cách gây sự mâu thuẩn giữa các tướng sĩ, và nhất là trong gia đình An thành Hầu, cốt để nội bộ lủng củng, ngờ vực lẫn nhau. Các tướng nửa về phe Uông, nửa về phe Kiểm. Những người thân tín của Kim như Ninh Chấp, Vũ công Khanh thấy tình hình như vậy cố tìm cách dãn hòa nhưng không xong, đành chịu khoanh tay, nhìn hai phe đảng tranh giành quyền lợi. Một hôm Dương chấp Nhất đang ngồi ở thư phòng đọc sách bỗng thấy lính đưa một người vào, nhìn ra thì là Dương Chung, tên gia nhân cũ của mình.
Nhất cho lính lui ra, đóng chặt cửa lại, hỏi:
- Mày ở đâu đến?
- Bẩm con ở ngoài Bắc vào.
- Vợ con ta hiện nay ở đâu?
- Bẩm, ở cả Thăng long.
- Thượng Hoàng có được bình an không?
- Bẩm, Thượng Hoàng mất rồi.
Dương chấp Nhất ứa nước mắt than rằng:
- Ta theo Thượng Hoàng từ thuở hàn vi, được Thượng Hoàng coi như ruột thịt. Ngày nay ngài mất, ta không được nhìn mặt, thật ân hận suốt đời.
Đoạn lại hỏi Dương Chung :
- Vợ con ta có được bình an không?
- Bẩm, phu nhân và các công tử vẫn được Thánh Thượng trọng đãi và nhắc nhở đến tướng công luôn.
Hắn dở học lấy một phong thư đưa cho chủ:
- Thánh thượng ngự bút viết phong thư này bảo con đưa cho tướng công.
Chấp Nhất gạt nước mắt, mở thư thấy vỏn vẹn có mấy dòng:
 
‘‘Trẫm ở ngoài này ng biết Á phụ bt buộc phải hàng giặc, nên ngày đêm chỉ nhìn về phương Nam mà nuốt lệ thở dài. Nếu Á phụ còn nhớ đến đất cũ mà trở về, thì Thượng Hoàng ở dưới suối vàng cũng được vui lòng...’’
 
Nhất đọc thơ xong gục đầu xuống bàn khóc mãi. Dương Chung khuyên giải:
- Tướng công liệu trả lời cho Thánh thượng được yên lòng, chứ khóc mãi cũng chẳng ích gì.
Nhất nín khóc, lấy giấy viết thơ phúc đáp:
 
‘‘Lão thần xấu hổ vì phải hàng giặc, chỉ mong có dịp là về tạ tội trước bệ ngọc. Khi nào có tin giặc tràn đến Sơn Nam là lúc lão thần được thoát cũi sổ lòng. Vắn tắt mấy lời, kính chúc Thánh Hoàng muôn tuổi…’’
 
Dương Chung cất kỹ lưỡng vào bọc, ngủ lại một đêm, rồi sáng hôm sau từ biệt đi. Đến hôm thứ ba bỗng thấy Nguyễn Kim cho lính đến gọi phải đến ngay, Dương chấp Nhất giật mình, tưởng việc đã bại lộ, nhưng cũng liều đi. Tới nơi, thấy Nguyễn Kim đang đứng ở trên thềm, vẻ mặt hầm hầm. Nhất đã chột dạ, vái chào:
- Tướng công cho đòi tôi có việc gì?
Nguyễn Kim gắt :
- Tôi tin ông nên hỏng cả việc.
Nhất tái người, nhưng vẫn cố giữ cho tinh thần khỏi rối loạn:
- Tướng công trách tôi việc gì đó!
Kim dắt tay bạn lên thềm, buồn rầu nói:
- Ông có thực bụng với tôi không?
Nhất cho rằng sự bí mật của mình đã bị phát giác rồi, nhưng vẫn cứng cỏi đáp:
- Tôi xin thề? không dám ở hai lòng.
Kim thở dài, đem chuyện gia đình ra kể cho bạn nghe rồi tiếp:
- Nếu lập Uông sợ Kiểm không bằng lòng, mà lập Hoàng thì Uông bất mãn. Ông là người đa mưu, có tìm được cách gì giải quyết giúp tôi không?
Dương chấp Nhất bấy giờ mới hết sợ đáp:
- Có khó gì việc ấy. Tướng công sai Kiểm đi đánh Sơn nam, hễ chiếm được thì cho trấn thủ ở đó, còn Uông thì giao cho cai trị Tây Đô. Hai người xa nhau thì khác thôi không hục hặc nhau nữa,
Kim gật đầu:
- Ông bàn rất hợp ý tôi.
 
Sang thu năm ấy, Nguyễn Kim cho Trịnh Kiểm mang 3000 quân cùng với Cao Minh, Đào Tứ đi đánh Sơn nam, lại cử Trương hoằng Sử làm mưu sĩ. Trịnh Kiểm lĩnh mệnh điểm quân đi. Ông gọi Nguyễn Hoàng và Ninh Chấp đến dặn:
- Nghệ An là nơi hiểm trở các ngươi ra đấy phải cẩn thận, nếu sơ xuất thì cứ theo quân pháp mà chịu tội.
Hoàng vâng lời. Đoạn ông cởi thanh gươm đeo bên mình đưa cho Uông, nói:
- Tây Đô là huyết mạch của ta, mày nên coi việc nước là trọng, chớ có khinh thị mà mang họa.
Uông lạy, rồi đáp:
- Một mình con sợ không đủ tài điều khiển công việc, xin cha cử vợ chồng Vũ công Khanh giúp con.
Kim bằng lòng. Hôm Kim lên đường, Uông làm tiệc tiễn hành. Đang lúc uống rượu vui vẻ Uông bỗng sụt sùi khóc. Nhất ngạc nhiên hỏi:
- Công tử có việc gì mà âu sầu thế?
Uông đáp:
- Trước kia, cha tôi đi đâu cũng mang tôi đi theo. Từ chén nước đến bát cơm, tôi đều trông nom cẩn thận, không dám giao phó cho đầy tớ. Ngày nay, cha tôi tuổi tác mỗi ngày một cao, gân cốt suy nhược, lại phải vất vả ở chốn sa trường, thì sự ăn uống cũng chả được điều hòa như khi dồi dào sức lực. Rau muối sơ sài thế nào xong thôi, nhưng phải tinh khiết, tươm tất mới có thể dùng được. Tôi lo không có ai trông nom việc bếp nước trong lúc vắng tôi, nên buồn rầu mà khóc.
- Công tử chớ ngại, đã có tôi lo liệu giúp.
- Trăm sự xin nhờ bá phụ.
Tan tiệc, Nguyễn Kim vào triều từ biệt vua và các quan. Vua Lê trang Tôn phán hỏi:
- Nguyên Soái định bao giờ thì trở về?
- Tâu bệ hạ, lão thần đi chuyến này, nhất quyết diệt bằng được họ Mạc và chiếm Thăng Long. Nhanh ra thì 5, 7 tháng, không thì 2, 3 năm, còn ngày về chưa thể định trước được.
- Đêm qua trẫm nằm mơ thấy đánh nhau với Mạc đăng Dung bị hắn chém gẫy một cánh tay. Lúc tỉnh giậy, mình mẩy đau ê ẩm, chả biết điềm lành hay dữ?
- Tâu, mộng mị huyền hoặc, tin làm sao được.
- Hay Nguyên soái để sang năm hãy tiến quân.
- Tâu, lão thần đời ăn lộc của nhà Lê; chỉ mong có dịp là xả thân để đền nợ nước, có lẽ nào lại sợ chết mà làm lỡ cả việc quân.
Vua Lê trang Tôn thấy Kim đã nhất quyết không dám cản ngăn, liền bước xuống ngai vàng cùng các quan ra khỏi Hoàng thành tiễn chân.
 
*  *  *

 

 
Nguyễn Kim thống lĩnh đại binh từ từ tiến ra Bắc. Quân Lê đi đến đâu, trăm họ kéo nhau ra đón tiếp ở hai bên đường rất đông. Trịnh Kiểm đến huyện Yên mô (Ninh Bình) thì dừng lại, lập dinh trại cho quân sĩ nghỉ ngơi và sắm sửa thuyền bè để vượt qua sông tiến ra Sơn nam. Hôm sau thì đại binh của Nguyễn Kim cũng tới nơi chia quân đóng khắp dọc sông, dinh trại san sát, cờ sí rợp trời, khí thế mạnh mẽ lắm,
Đêm hôm ấy, Nguyễn Kim cùng Dương chấp Nhất cưỡi ngựa đi xem địa thế. Chợt thấy một ngọn núi thấp ở trước mặt, hai người cho ngựa chèo lên đỉnh, rồi quan sát chung quanh. Dưới ánh trăng Nguyễn Kim thấy cách đóng binh của Kiểm rất có phương pháp, buột miệng khen:
- Thật là kỳ tài trong thiên hạ.
Dương chấp Nhất nghĩ bụng:
- Nguyễn Kim không phải là tay vừa, lại được Trịnh Kiểm giúp sức, thật đáng lo ngại cho Mạc Vương. Ta phải trừ bớt đi mới được.
Nguyễn Kim thoáng nhìn thấy một chiếc thuyền đậu ở ven sông, thì ngạc nhiên hỏi:
- Thuyền nào mà dám đổ cạnh chỗ quân đóng thế kia?
Nhất thưa rằng:
- Đã vài hôm nay, có một ông lão đánh cá thường ghé thuyền vào bến bán hoa quả cho quân sĩ. Tôi đã sai người đi dò xét cẩn thận, không phải là kẻ gian tế đâu.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
Hai người nói chuyện một lúc nữa, rồi quay về trại. Nguyễn Kim sai đem rượu uống riêng với Chấp Nhất, còn các tướng đều cho ra ngoài cả. Đang lúc ngà ngà say, Nguyễn Kim cảm khái nói:
- Từ khi ta bôn ba ở Ai Lao, cho tới lúc chiếm được Thanh, Nghệ làm căn bản, kể có gần 20 năm, trải bao sự gian lao khổ sở, nhiều phen tưởng khó lòng mà đạt được ý nguyện. Nhưng lòng trời còn tựa nhà Lê, nên các anh hùng hào kiệt bốn phương đều quy tụ cả ở Sầm châu giúp chúa thành nghiệp lớn. Ta tuy đã già nhưng trí còn hăng hái, quật cường, định tâm diệt xong Mạc thị, đem giang sơn trả lại cho Lê Hoàng, rồi cáo lão về cư ẩn nơi cố lý, mặc cho đàn trẻ xoay sở với thời cục. Nếu Mạc phúc Hải biết thế yếu, hàng phục ngay đi, thì ta sẽ rộng lòng thí cho mảnh đất để sống trọn đời mãn kiếp. Bằng cứ giữ mãi thái độ lằng tằng không sớm biết tỉnh ngộ để tránh cho dân chúng cái họa nội chiến, thì sau này đất bằng nổi sóng, đại binh như vũ bão kéo ra Bắc, họ Mạc liệu có thể bám mãi vào thế lực của Minh triều để đàn áp dân chúng nữa không ?
Nói đoạn Kim cười vang lên, tự tay rót rượu uống, rồi cất tiếng hát:
 
Trí làm trai chừ...bốn bể là nhà,
Một thanh gươm chừ... ngang dọc, sơn hà  
Nước Đại Việt chừ... anh hùng ta.
Thành Thăng Long chừ... nổi trận phong ba.
Giang Sơn trẻ mãi không già,
Có cây dưới ánh trăng là rung rinh.
Quán reo ngựa hí quanh mình
Cát lầm bụi trắng, tan tành thịt xương.
Làn khói xanh chừ... bả lả đầu tường,
Một bóng người chừ... thấp thoáng trên đường,
Tiến ra Bắc chừ... một dạ can trường,
Hỏi người xưa chừ... sự nghiệp phi thường.
Tấm lòng bào đáp quân vương,
Nam nhi chết ở chiến trường mới hay.
Dưới làn mưa đạn tên bay,
Máu thù nhuộm đỏ bàn tay anh hùng.
 
Kim hát xong sằng sặc cười mãi.
Chợt Kiểm ở ngoài đi vào, cúi chào hai người rồi nói rằng:
- Đang lúc ba quân hăng hái đánh giặc, sao nhạc phụ lại hát những câu gở như vậy?
Nguyễn Kim đang lúc say rượu gắt:
- Mày bảo thế nào là gở?
- Nhạc phu làm chủ tướng mà lại thốt ra những câu ‘‘ tan tành thịt xương’’ ‘‘ chết ở chiến trường’’ chả là điềm bất thường hay sao?
Kim tức mình mắng:
- Thằng chăn ngựa kia, bước đi, mày biết gì mà nói leo.
Vừa nói xong Kim say quá gục đầu xuống bàn. Dương chấp Nhất nhìn chung quanh vắng vẻ không có ai, một tay che ngọn bạch lạp, một tay lấy thuốc độc bỏ vào chén rượu, đoạn nâng đầu Nguyễn Kim giậy mà thưa rằng:
- Nguyên Soái cạn chén rồi đi ngủ.
Kim đang lúc mơ màng, thấy chén rượu kề vào môi, liền ngửa cổ uống hết. Dương chấp Nhất ôm Kim đặt lên giường, lấy chăn đắp cẩn thận, rồi ra ngoài trại, gặp một bọn lính tuần hỏi, Nhất đáp:
- Nguyên Soái đã đi ngủ rồi.
Lính tuần tưởng thực, bỏ đi. Dương chấp Nhất ra bờ sông, xuống chiếc thuyền đã đón sẵn ở đấy. Lái đò nhổ sào, hai người ra sức bơi, một chốc đã sang đến bờ. Nhất đi suốt đêm về Thăng Long báo tin.
Sáng hôm sau, các tướng giậy đã từ lâu rồi mà Nguyên Soái vẫn chưa ra, vội kéo nhau vào xem, thấy Nguyễn Kim nằn chết cứng đờ ở trên giường, máu mồm, máu mũi ứa ra ướt dầm cả một mảng chăn. Mọi người cả sợ đổ xô tìm Dương chấp Nhất thì không biết đi đâu, hỏi đến chiếc thuyền đánh cá vẫn đậu ở bến cũng mất hút.
 Trịnh Kiểm sai người vào trong xóm mua được chiếc quan tài đem về trại đặt thi thể Nguyên Soái vào trong, lấy hoa thơm rắc lên mình; rồi đậy nắp lại. Xong, đốt nến, thắp hương để các tướng vào làm lễ. Suốt ngày hôm ấy, trong trại, tiếng khóc của ba quân ầm ĩ không lúc nào ngớt, ai nấy đều xót xa thương cảm cho vị anh hùng vì quá tin người mà chết một cách thê thảm như vậy.
Trương Hoằng Sử bàn với các tướng mời Trịnh Kiểm tạm chấp chưởng binh quyền để lòng quân khỏi nhốn nháo. Trịnh Kiểm nhận lời, nói với mọi người:
- Trong quân có tang, đó là điềm bất lợi cho việc hành binh. Ta hãy tạm rút về Tây Đô rồi sau sẽ liệu.
Mọi người biểu đồng tình. Lập tức Kiểm cho kéo lá cờ trắng thật to, rồi đại binh từ từ rút về, đem theo chiếc quan tài.
Dọc đường Sử bàn với Kiểm:
- Nguyên Soái mất rồi, thế nào Uông cũng đòi chiếm lấy binh quyền. Uông đối với tướng quân vốn có sự bất hòa, nếu hắn làm chủ soái thì chẳng để tướng quân yên đâu.
Kiểm ngẩm nghĩ một lúc, rồi hỏi:
- Vậy ta nên làm thế nào?
- Đến đây giáp giới với Thanh Hóa, tướng quân cứ đóng binh lại không đi nữa, cho quan tài về trước. Vua Lê Trang Tôn thấy tình hình như vậy tất hoảng sợ phải nhận cho tướng quân chấp chưởng binh quyền.
Kiểm khen phải, đóng binh lại, cho quan tài về Tây Đô. Vua Lê trang Tôn mặc áo trắng, đi xe mộc ra đón, thân coi việc tang lễ lại tìm Iời an ủi anh em Uông, công việc xong xuôi nhà vua bàn với các quan về thái độ của Kiểm.
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
Hoàng thân Lê Cự lên tiếng:
- Trịnh Kiểm có tài làm tướng, bệ hạ nên giao binh quyền cho hắn là phải.
Nguyễn Uông quỳ xuống tâu:
- Cha mất thì con kế nghiệp, đó là sự thường. Xin bệ hạ giáng chiếu cho hạ thần được cầm quân đánh Mạc.
Vũ công Khanh tiếp:
- Bao nhiêu quân sĩ đều theo Trịnh Kiểm cả, nếu hắn trở mặt thì nguy hiểm vô cùng, Nội trong các hàng tướng tá ở đây, không có ai là đối thủ với hắn cả. Hắn mà quay về với nhà Mạc, thì sớm chiều giải đất này cũng lọt vào tay hắn mà thôi.
Vua Lê trang Ton còn đang lưỡng lự, thì Ninh Chấp lại nói:
- Hiện nay hắn đóng binh chẹn mất con đường ra Bắc. Nếu hệ hạ không quyết định thì vạ lớn đến ngay.
Nhà vua đành phải sai thảo chiếu phong Trịnh Kiểm làm Tiết chế, thống lĩnh thủy bộ chư quân và sai một vị quan đại thần ra vời về. Trịnh Kiểm nhận chiếu chỉ nhổ trại về Tây Đô, vào tạ ơn vua, rồi đến soái phủ để các tướng lạy mừng.
 
Trịnh Kiểm thấy đất Tây Đô chật hẹp, liền sai người xây cung điện ở Vạn Lại (thuộc huyện Thủy Nguyên, Thanh Hóa) rồi rước vua ra đấy ở. Lại chiêu mộ hào kiệt, lập đồn, đắp lũy, nghiễm nhiên làm chúa tể BIÊN THÙY MỘT CỎI, tiềm tàng gây được một sức mạnh lớn lao, có thể đánh bại họ Mạc để thực hiện cái mộng trung hưng nhà Lê.
 
 
 
 
Thay vào đoạn kết
 
NĂM Bính-Ngọ (1546) Nguyễn Uông tự nhiên bị bệnh mà mất. Sau này một vài nhà chép sử cho là Uông bị Kiểm mưu hại và nêu lên hai giả thuyết để bênh vực lập trường của mình:
1 - Kiểm coi Uông như cái gai trước mắt, nên giết đi để khỏi lo ngại về sau.
2 - Kiểm Thấy Uông âm mưu phản lại mình nên vì bản năng tự vệ mà mưu hại địch thủ.
Chúng tôi chưa có đủ tài liệu về cái chết ‘‘đột ngột’’ của Uông, nên không dám hạ bút kết tội ngay Kiểm một cách vu vơ như thế được. Chúng tôi chỉ đứng về phương diện khách quan giải phẫu cái nghi án trong lịch sử (theo lời của vài nhà viết sử) để rồi kết luận một cách vô tư ngõ hầu rọi một chút ánh sáng vào cái ‘‘nghi án’’ đó. Theo giả thuyết thứ nhất thì Kiểm vì muốn đề phòng khỏi bị ám hại, mà giết cậu em vợ. Có đúng không? Trước khi trả lời câu hỏi, tôi xin phân tích cá tính của hai đối thủ vì có biết rõ cá tính đó, thì mới dám buộc tội ai là thủ phạm.
Uông tính nóng, khí khái, nhưng thích nghe lời nói ngọt, lại sẵn có quan niệm phong kiến về dòng máu và địa vị cho nên, mới lần đầu gặp Kiểm, vì lời nói kiêu hãnh của Kiểm (xem chỗ Uông và Kiểm đấu khẩu với nhau ở Khương Lang) rồi đến khi Nguyễn Kim định gả Ngọc Bảo cho Kiểm thì Uông hết sức phản đối, vì Kiểm không phải là giòng giõi giai tầng quí tộc. Một người như Uông tài năng kém cỏi, chỉ ỷ lại vào thế lực của cha để làm con đường tiến thân, thì không thể làm cho ai sợ hãi e dè được. Trái lại, Kiểm giầu năng lực, giầu sáng kiến, biết mình và biết người, cương nhu phải lúc, xử sự không hề hấp tấp vội vàng. Đối với Uông, Kiểm chỉ cần sự nhũn một chút là lung lạc được. Vậy kẻ kình địch của Kiểm không phải là Uông mà chính là Hoàng. Cái tính thâm trầm, gan góc của Hoàng, cái tài dùng người, cảm hóa người của Hoàng, thật đáng cho Kiểm phải gờm, Kiểm đã không nỡ giết Hoàng, thì thèm vì giết Uông? Một người mềm dẻo như Kiểm, đã chịu hạ mình trước huyện quan để cầu xin khỏi tội, thì một khi đã từ cái chức lính chăn ngựa, nhảy lên địa vị giai tế An thành hầu, Kiểm có thể nhịn được cái thái độ ngang tàng của cậu em vợ. Vậy giả thuyết thứ nhất không thể xác nhận được, xét về giả thuyết thứ hai. Uông có thể vì muốn cướp lại binh quyền mà họp bè đảng mưu sự ám hại thù nhân. Vậy ta thử xét xem; lời kêu gọi của Uông cũng đủ cho mọi người chán ghét không chịu hợp tác rồi đừng nói đến cái tài năng nông cạn của chàng nữa. Dù chàng cố tha thiết kêu gọi mọi người giúp đỡ, thì cũng chỉ nhận được lời hứa hẹn xuông tình, vì không ai dại gì theo gót kẻ vô tài, để đưa nhau đến đất chết. Kiểm biết vậy nhưng thấy Uông không có ai hưởng ứng thì cũng không sợ; giá đem giết cũng vô ích chỉ gây thêm thù oán mà để thì cũng chẳng làm nên trò trống gì. Vậy giả thuyết thứ hai cũng không thể xác nhận được. Nhưng còn cái chết đột ngột kia? Ai giết Uông? Chúng tôi xin trả lời sau đây. Uông thấy lời hô hào của mình không có ai đáp lại, tự biết mình cô lập, yếu thế, đâm ra chán nản, trầm muộn, tỏ một thái độ hoàn toàn tiêu cực. Đối với một người như Uông chỉ quen sống một đời ký sinh, một khi đã thất vọng, thì chỉ còn biết ‘‘Sầu thành giục phá tửu vi binh’’, rồi lang thang nay đây, mai đó hòng ký thác tâm sự mình vào giọng hát câu thơ. Người ta còn chép được vài bài thơ của Uông làm lúc rượu say đang vơ vẩn trong rừng!
 
Suối rừng lặng gẩy tiếng đàn,
Trên non cao thẳm, uốn làn khói xanh.
Mơ màng lá rủ đầu cành,
Dưới khe thấp thoáng bóng anh phu tiều.
Một mình giữa cảnh tịch liêu,
Tâm hồn theo ngọn gió chiều bay đi.
 
hay là:
 
Rượu say, say tít, say mềm,
Say luôn cả tháng say liền cả năm.
Say cho sóng đổ cát lầm
Nghiêng vò tưới khắp quan san nghìn trùng.
 
Thật là vô cùng lãng mạn, thật đã biểu dương được cái tư tưởng muốn xa lánh cõi đời của chàng. Rồi thì ngày, đêm, chàng chỉ lấy rượu làm bạn, hết rượu lại thơ, hết thơ lại rượu... cho đến một ngày kia, trong một cơn say sưa quá độ, chàng đã bị ngộ cảm mà qua đời. Thực ra, cái chết bất thần của Uông cùng chẳng làm cho người đương thời ngạc nhiên chút nào, nhưng Hoàng đã lợi dụng cái chết của anh làm phương tiện thoát thân. Hoàng vốn có chí lớn, không chịu nép mãi dưới uy quyền của anh rể, cũng muốn bay nhảy nhưng chưa có dịp. Sử chép rằng : ‘‘Nguyễn Hoàng cho người đến hỏi. Nguyễn bỉnh Khiêm thì nhà ẩn sĩ bảo : ‘‘một giải Hoành Sơn có thể nương thân được muôn đời’’. Nhân xẩy ra việc Uông chết, Hoàng phao tin là Uông bị mưu hại, rồi vào khóc lóc với chị là Ngọc Bảo, nhờ xin với anh rể cho mình vào trấn đất Thuận hóa. Ngọc Bảo tin là thực, sợ Hoàng bị hại nốt nên lựa nhời thưa với chồng. Trịnh Kiểm tức mình vì bị ngờ oan sợ rằng nếu để Hoàng bên cạnh thì nguy hiểm cho bản thân, cũng muốn tống đi cho rảnh mắt, nên bằng lòng cho Hoàng vào Thuận hóa. Sau này xét, đến nguyên nhân việc chiến tranh Trịnh, Nguyễn, nhiều nhà chép sử chủ trì rằng :‘‘Sự oán cừu thâm căn cố đế của hai nhà là một lý do chính của cuộc nội chiến trên nửa thế kỷ’’ Lập luận như thế là sai, vì xét ra Hoàng không có tư thù gì với Kiểm cả. Sở dĩ có cuộc nội chiến tàn khốc kia là vì nền kinh tế nông nghiệp ở ngoài Bắc hồi bây giờ đã đến lúc suy đồi, sự sinh hoạt của dân chúng mỗi ngày một khó khăn, nhà chúa muốn lấy lại thế quân bình cho luật cung cầu bắt buộc phải bành trướng về phương Nam, hòng chiếm lấy miền đồng bằng rộng lớn phì nhiêu. Nguyên từ khi Bình an vương Trịnh Tùng đuổi được nhà Mạc, khôi phục thành Thăng Long, thì tuy có thắng về chính trị quân sự, nhưng lại thua về kinh tế, vì kho tàng đã khánh kiệt, nhà cửa bị tàn phá, ruộng nương hoang phế, tiêu điều. Từ năm Canh Tí (1600) đến năm Ất sửu (1625) Trịnh Tùng còn phải đánh dẹp họ Mạc ở Hải dương, Cao bằng không mấy lúc được rảnh tay để kiến thiết lại nền kinh tế, nên trạng thái sinh  hoạt của quần chúng càng ngày càng hỗn độn. Trong khoảng 25 năm ấy, Nguyễn Hoàng ở miền Nam mở rộng đất đai đến Phú Yên, rồi đến đời chúa Nguyễn phúc Nguyên (tức chúa Sãi) thì miền Nam đã trở nên phồn thịnh. Chúa Sãi thấy mình có thể sống độc lập được nên tuyệt giao với họ Trịnh. Cử chỉ này khiến cho dân Bắc hà lo sợ, vì nếu sự thông thương miền Nam bế tắc lại, thì 10 triệu dân Bắc hà sẽ lâm vào một tình trạng nguy ngập.
Trịnh Tráng cũng biết thế, nên bắt buộc phải gây chiến tranh với chúa Nguyễn, không ngoài cái mục đích là muốn giải quyết nạn nhân mãn và sự sống còn của dân miền Bắc. Tóm lại, cái động lực chính đã thúc đẩy họ Trịnh phải liều chết tiến về phương Nam, là sự muốn phục hưng nền kinh tế đã kiệt quệ vì chiến tranh, của giai cấp quân phiệt đương thời.
 
Từ khi Trịnh Kiểm thiết lập được một góc trời ở phương Nam để làm cơ sở cho sự trung hưng của nhà Lê, thì khắp nơi các hào kiệt kéo nhau về mỗi ngày một đông. Những bậc danh sĩ như Phùng khắc Khoan, Dương hữu Khánh, đều bỏ nhà Mạc vào giúp nhà Lê. Giang sơn bây giờ chia ra làm Nam, Bắc triều, từ Sơn Nam trở ra thuộc về nhà Mạc, từ Thanh Hóa trở vào thuộc về nhà Lê. Hai bên đều lo chỉnh đốn binh mã, xây đắp đồn lũy, sửa soạn một cuộc chiến tranh lâu dài.
 
* * *
Một hôm, Vũ công Khanh nhân lúc nhân rỗi bàn với vợ, muốn về cửa Thần Phù chơi. Bích Lan ngạc nhiên hỏi:
- Cửa Thần phù thuộc về Ninh Bình, vẫn nằm trong phạm vi thế lực của nhà Mạc. Chàng về đấy làm gì?
- Cách đây 20 năm, cha tôi nhảy xuống cửa Thần phù tự trầm. Tôi muốn về tế người một tuần rượu.
Bích Lan chợt nghĩ ra vội đáp:
- Nếu chàng muốn đi thiếp cũng xin theo.
Vũ công Khanh cả mừng, liền ngỏ lời với Trịnh Kiểm. Kiểm bằng lòng. Hai vợ chồng Khanh sắm sửa vàng hương và rượu, rồi lên ngựa đi. Dòng dã 3 hôm lặn lội trong rừng, hai người đã đến cửa Thần phù, thấy trên bờ sông có một ngôi chùa, liền vào nghỉ chân. Sư già đón lên nhà tổ pha trà mời, Khanh hỏi:
- Sư già ở chùa này đã bao lâu?
Sư già chắp tay đáp:
- Mô phật, bần tăng trụ trì ở đây được ngoài 20 năm.
Khanh mở bọc lấy 10 lạng bạc để trên bàn nói:
- Cách đây 20 năm, thân phụ tôi đi qua cửa Thần phù, không may bị đắm thuyền mất tích. Nay tôi muốn nhờ sư già tụng cho vài quyển kinh để linh hồn người được siêu sinh tịnh độ.
Sư già cúi đầu cảm tạ, rồi hỏi:
- Mô phật, xin tín chủ cho biết tên tuổi của lệnh nghiêm đường.
- Thưa, tuổi lúc chết hay tính đến bây giờ ?
- Tuổi lúc chết.
- Vũ công Duệ 53 tuổi.
Sư già ngạc nhiên, nói:
- Vậy công tử là con giai của quan cố Ngự sử Vũ công Duệ.
Khanh sụt sùi.
- Vâng chính tôi.
- Mô phạt ! cái chết của quan Ngự sử thật là thảm thương vô cùng. Chính ngài nhảy xuống sông tự trầm chứ có phải đắm thuyền đâu. Hồi ấy phu nhân cũng có rẽ vào chùa nhờ bần tăng tụng kinh siêu độ rồi. Phu nhân có đề một bài thơ ở tường, công tử lại mà xem.
 
Đoạn, sư già đứng dậy giắt hai người lên Tam Bảo chỉ chỗ đề bài thơ. Nhìn thấy nét mực còn tươi, Khanh ngạc nhiên hỏi:
- Đã 20 năm rồi, sao nét mực không phai là tại làm sao?
- Bần tăng vì cảm tấm lòng trung nghĩa của quan Trạng Nguyên, lại thấy bài thơ rất hay, nên thỉnh thoảng lại đem bút mực ra tô lại cho mới mẻ,
Khanh vái sư già thưa:
- Xin cảm tạ sư phụ.
Đoạn chàng lẩm nhẩm đọc:
 
Một tấm lòng son, một tấm tình,
Ơn vua coi trọng, nhẹ gia đình,
Vui làn sóng cả, chàng không nhục,
Nép chốn phòng không, thiếp cũng vinh.
Một chút trẻ thơ sao nỡ rẻ ?
Còn thân già lão nghĩ mà khinh.
Đầm đầm lệ nhỏ thương người khuất,
Ngán nỗi gia vong, ngán nỗi mình.
 
Chính thất Đặng thúy Nga cẩn đề
 
Đọc xong Khanh òa lên khóc. Bích Lan cũng sụt sùi.
Sư già khuyên giải:
- Công tử khóc mãi cũng vô ích. Sắp sửa vàng hương ra bờ sông với bần tăng.
Hai người gạt nước mắt theo sư già ra ngoài. Nhìn thấy con sông rộng lớn, sóng cồn lô xô đuổi nhau trên mặt nước trắng xóa, Vũ công Khanh trạnh lòng nghĩ đến cái chết thảm thương của cha, lại thổn thức. Sư già chỉ tay nói:
- Công tử cứ chiếu thẳng cây đa ra đến giữa giòng sông, là chổ quan Trạng nguyên tự trầm.
Hai vợ chồng quỳ xuống. Khanh đốt hương bày ba chén rượu xuống đất, đoạn hướng về phía sư già chỉ, lẩm nhẩm khấn. Sư già ngồi xếp vành tròn trên bãi có, hai mắt nhắm lại, tay lần tràng hạt.
Khanh rót rượu vào chén, rồi đọc:
 
Giải tỏ lòng trung với nước non,
Phù Lê diệt Mạc trí không mòn.
Bao phen lận đận bên trời cũ,
Phút chốc bôn ba giải đất còn.
 
Bích Lan đọc theo:
 
Cũng muốn noi theo gương của mẹ,
Chỉn e thiếu sót phận làm con.
 
Sư già cũng đọc luôn:
 
Người xa cõi tục, người xa Phật,
Ba nén hương thơm, một tấc son.
 
Trời đã ngả về chiều. Trên nền trời hồng hồng, một con chim mải miết bay. Gió lạnh lướt qua, xô những làn sóng vào bờ, réo ầm ầm như muốn cuốn tất cả về nơi xa thẳm.
Ba người nhìn nhau yên lặng.
 
Hải dương, mùa xuân Quý-T
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0