Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

SỐ ĐÀO HOA - Khái Hưng 🔒

11 trả lời, 40 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 30.03.2020 18:33:20 bởi Ct.Ly>
Khái Hưng

Số Đào Hoa

SỐ ĐÀO HOA
Truyện một anh chàng xinh trai

TÔI RA ĐỜI

NGÀY, GIỜ tôi ra đời thì hẵn là tôi không biết : sự đó vẫn là một sự cố nhiên. Song thường được nghe mẹ tôi và những người thân yêu tôi thuật lại nên tôi tưởng như có trông thấy  tôi cất tiếng khóc oe oe khi mới bước ra chào ánh sáng mặt trời. (Tôi nói thế cho có văn vẻ, chứ kỳ thực, cái ánh sáng thứ nhất được tôi chào là ánh sáng một ngọn đèn dầu tây, vì tôi ra đời vào hồi nửa đêm), Độc giả quý mến của tôi đã nhận rõ điều ấy rồi, thì tôi có thể kể chuyện tôi như một người kỳ dị, mà vẫn không sợ độc giả cho là một kẻ khoe khoang, hay khoác lác.
Tôi sinh về thời vua Thành Thái. Tôi nhớ rành mạch rằng năm ấy là năm Dần, vì tôi tuổi Dần, cái tuổi mà người ta bảo sẽ được sung sướng và gặp nhiều điều may mắn lạ thường.
Một nếp nhà năm gian hai chái, lủng củng những cột, ở một huyện lỵ, vì cha tôi hồi ấy trị nhậm một huyện ở vùng bể. Một cái rèm vải tây đỏ ngăn hẳn hai gian ra làm buồng ngủ. Một cái giường lát tre kêu kẽo kẹt khi ta hơi se mình. Một cái màn the cũ màu hồng điều. Đó là nơi sinh trưởng của tôi.
Nếu nơi sinh trưởng có ảnh hưởng đến tính tình của con người, thì tính tình tôi hẳn là buồn rầu, ủ rũ. Còn gì buồn tẻ cho bằng một huyện lỵ nhỏ vùi trong một cát làng không có một tính cách gì riêng gọi là hơi phân biệt nó với những làng bao bọc trong lũy tre xanh, và soi bóng xuống mặt nước phẳng lặng của những thửa ruộng lầy bùn ! Mà thực vậy, ngày nay ngắm lại quãng đời dĩ vãng của tôi, tôi thấy nó giống cảnh bùn lầy, nước đọng quá, nghĩa là nó phẳng lỳ, chẳng có một sự dị thường xẩy ra.
Đối với con mắt và khối óc tôi thì đời tôi rất tầm thường- mà tầm thường thật. Nhưng đối với con mắt và khối óc kẻ bàng quang, đối với những người đã trông thấy tôi sống thì trái hẳn, đời tôi là một đời náo động, đầy rẫy những sự biến cố phi thường, nhất là về đường tình ái. Họ ao ước được như tôi, họ kết tôi vào tội làm bại hoại phong hóa...
 
Còn điều gì, còn nết xấu gì mà tôi không có nữa ? Nhưng kỳ thực, có gì đâu : Những sự giả dối đã làm cho đời tôi có cái bóng hào nhoáng và khiến tôi đã chịu những nỗi oan ‘‘Thị Kính’’ * đó mà thôi.
Nỗi oan thứ nhất của tôi, tôi gặp ngay khi mới ra đời được một giây. Tôi vừa cất tiếng khóc thứ nhất thì cái đồng hồ treo trên tường bắt đầu đánh chuông, dè dè buông mười một lần. Tôi không biết tôi có khóc đủ mười một tiếng oe oe không, nhưng mẹ tôi quả quyết bảo tôi rằng, đồng hồ im đánh chuông thì tôi cũng im tiếng khóc.
 
Bà tắm vừa lấy mảnh nứa cắt rốn cho tôi xong thì bà ta nâng tôi lên mà vui mừng reo lớn: ‘‘Con giai’’. Mẹ tôi cảm động quá, ngất đi, và cha tôi sung sướng, tất tả ở nhà ngoài chạy vào : Cậu con trai cả của cha mẹ tôi đã ra đời.
Bà tắm bảo cha tôi:
- Bẩm quan lớn đánh giờ cho cậu cả.
- Giờ gì thế?                                                                                                                                                      
- Bẩm đồng hồ vừa đánh mười một giờ.
Cha tôi hơi lúng túng, vì từ mười một giờ đến một giờ thì về giờ Tý, mà từ mười một giờ trở lên thì lại thuộc giờ Hợi. Vậy tôi sinh vào giờ Hợi hay giờ Tý? Trong lúc khó nghĩ, cha tôi liền sai lính đóng ngựa phi vào làng sở tại tìm ông cử Khôi có tiếng giỏi khoa dịch số đến để bàn bạc cho cẩn thận. Nào phải việc tầm thường! Tuổi cậu con trai cả nối nghiệp tống đường mai sau, tính hồ đồ sao được ?
Ông cử cưỡi ngựa tức tốc tới ngay, song tuy thế ông ta vẫn còn ngái ngủ, vừa ngáp vừa hỏi cha tôi:
- Thưa, sinh cậu cả đúng mười một giờ?
Bà tắm nói tôi vừa khóc oe thì bà ta nghe đồng hồ bắt đầu đánh chuông. Ông cử liền cất giọng thông thái bảo cha tôi:
- Có tiếng khóc rồi mới có tiếng đồng hồ, vậy thì sinh trước mười một giờ, nghĩa là giờ Hợi.
Cha tôi cũng đành cho là tôi sinh vào giờ Hợi, tuy trong lòng phân vân và phàn nàn thầm rằng tôi thực oái oăm, ra đời chẳng chọn giờ cho dứt khoát.
Nhưng lúc ông cử đánh giờ, thì không may cho tôi quá, giờ Hợi lại là giờ quan sát, nghĩa là một giờ rất xấu. Gặp giờ ấy thì tôi khó mà sống được đến ngày nay.                                                        
Cha tôi buồn rầu lo sự, bảo ông cử :
- Hay là ta cứ tính vào giờ Tý?
- Thế sao được.
Cha tôi ngẫm nghỉ:
- Biết đâu cái đồng hồ ấy đã đúng... Phải, biết đâu! Tôi còn cái đồng hồ quả quít nữa kia.
Quả thực cha tôi lên buồng giấy lấy cái đồng hồ bỏ túi xem giờ lại thì nó nhanh hơn cái đồng hồ treo những quá một khắc.
- Đấy, tôi đã bảo đồng hồ treo không đúng mà.
Thế là tôi sinh vào giờ Tý và như vậy, tôi đã tránh được cái giờ quan sát gớm ghê. Ngày nay, tôi
thường nghĩ tới sự cheo leo đó mà còn thấy rùng minh, khiếp sợ. Nếu cái đồng hồ nhỏ của cha tôi không chịu khó chạy mau hơn cái đồng hồ treo một khắc thì còn gì là chuỗi ngày xanh mỏng manh của tôi ! Tôi đã chết ngoẻo từ đời tam hoàng ngũ đế nào rồi còn gì. Nhưng giá cứ thế có lẽ cũng xong, tôi càng khỏi mang cái tiếng hão huyền, cái tiếng có số ‘‘đào hoa’’.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 22.03.2020 20:26:53 bởi Thanh Vân>
SAO ĐÀO HOA CHIẾU MỆNH
 
Sáng hôm sau, cha mẹ tôi bàn nhau để tìm cho tôi một cái tên xứng đáng, Mẹ tôi muốn đặt tên tôi là Đá, hoặc Sắt, vì mẹ tôi bảo những tên ấy rắn rỏi, chắc chắn, vững vàng, khỏe mạnh. Nhưng cha tôi mỉm cười nói rằng : con nhà văn tự không thể có cái tên quá nôm na, mách qué như thế được.
Ấy vì thế mà tên tôi là Văn, Nguyễn Văn.
Ngày nay, tôi thấy tên tôi như thiếu một chữ, thì tôi lại phải chịu rằng mẹ tôi có lý hơn  cha tôi. Thà là Đá, là Sắt còn hơn, chứ ai lại là Nguyễn - Văn bao giờ, vì tôi thường nghe đọc những tên Nguyễn văn nọ Nguyễn Văn kia mà thôi.
Nhưng khi tôi tò mò tra trong tự điền thì tôi thấy chữ Văn có nhiều nghĩa đẹp lắm. Văn là bức tranh, là đồ trang sức, là ỏng ả, là dịu dàng, trong trẻo, sáng sủa. Còn có một nghĩa gì thuộc về nhan sắc mà chữ Văn không có ?
 Có lẽ tên hoa mỹ ấy đã khiến tôi trở nên trang niên thiếu diễm lệ chẳng ? Nếu quả vậy thì quả thực cha tôi gây cho một đời tôi biết bao tai ách : Cái diện mạo tráng lệ của tôi đã gặp toàn những sự chua chát ngoắt ngoéo đến tức cười. Không trách những bà mẹ nhà quê An Nam chỉ tìm những chữ nôm na, xấu xí để đặt tên cho thằng  cu, cái đĩ, nghĩ cũng phải.
 Người thứ nhất trông thấy tương lai khe khắt của tôi là ông cử Khôi, với cái tài đoán số mệnh như thần của ông.
Hai hôm, sau ngày tôi ra đời, ông cử đã soạn xong lá số Tử vi của tôi, biên cẩn thận giờ nào ngày nào, tháng nào, năm nào, những sự hay, sự dở sẽ xẩy  ra trong đời tôi một cách chắc chắn, chắc không thế nào tránh được.

Lá sổ ấy (một quyển vở lệnh đóng bìa đỏ), hiện tôi còn âu yếm trịnh trọng cất trong tủ sách. Thỉnh thoảng tôi cũng có mở ra xem, song tôi võ vẽ biết đọc ít nhiều chữ nho, mà khi nhìn những trang giấy đầy chữ mực, chữ son, và khuyên phẩm loè loẹt, tôi vẫn coi như đứng trước một bức vách vậy.
Tôi chỉ nhớ mang máng rằng năm tôi mười tuổi mẹ tôi ngỏ lời muốn hỏi vợ cho tôi, thì cha tôi gạt đi mà rằng:
- Chà! về đường vợ con thằng cả, bà không vội lo Số Tử vì nó có sao Đào hoa chiếu mệnh thì rồi ngày sau nó chán vợ. Và cung thê thiếp nó có hai sao Nhất, Đồng, thì thế nào mà nó chẳng lấy được vợ hiền.
Sợ mẹ tôi không tin tài dịch toán của mình, cha tôi đọc luôn câu ca lập thành mà cổ nhân đã đặt sẵn để dậy cách đoán mười hai cung tử vi.
‘‘Nhất, Đồng nhiều vợ mà hiền’’.

Giá những bậc mỹ nhân tôi gặp trên đường đời, mà cứ theo số Tử vi đã định đều trở nên những  ‘‘người vợ hiền » của tôi cả, thì đâu đến nỗi ngày nay, ngoài ba mươi tuổi đầu, tôi còn long đong chiếc thân trơ trọi. Hay ít ra, dù chẳng nên bậc vợ hiền đi nữa, những người ấy đã làm cho quãng ngày xanh vô vị của tôi được thêm chút vui tươi êm ấm, dịu dàng, thì tôi cũng cam lòng nhận lời mai mỉa của thế gian.
Nhưng, trời ơi ! nỗi oan uổng của tôi chỉ có một tôi thấu rõ, còn người đời, họ đều tin lá số Tử vi của tôi hơn tin tôi : Họ nhất định cho rằng    những người con gái hiền kia, quả thực, trong một thời gian hoặc dài hoặc ngắn, đã bí mật là những người vợ hiền của tôi ở nơi ẩn dật.
Vậy mục đích tôi chép thiên sử ký này là để tỏ nỗi oan uổng độc địa buộc cho tôi mà thôi.
Ai tin tôi thì tôi cám ơn.
Mà ai muốn mãi mãi tin số Tử vi của tôi hơn tôi, tôi cũng đành chịu, chứ biết sao. Chứng cớ rành rành của khoa dịch số, còn ai mà cãi nổi được?
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
ÁI  TÌNH THỨ NHẤT


 
Thế rồi tôi dần dần lớn, mạnh, đẹp ở trong lòng ấm áp của người vú em mũm mĩm, hồng hào, có duyên. Các chị tôi bảo tôi từa tựa có khuôn mặt người vú nuôi tôi, thì tôi cũng biết vậy. Tôi chỉ nhớ một điều (trí nhớ tôi kể cũng khá đấy chứ) là khi đùa bỡn với tôi, u em thường hôn tôi ở hai bên má mà bảo tôi rằng:
- Nao ôi ! em tôi xấu như con chó!
Đó là một cách khen ngợi tôi lắm lắm đấy.
Ngoài những cái hôn kêu chùn chụt làm cho tôi sung sướng cười chảy nước mắt, tôi lại còn ham mê nghe lời hát du đều đều. trong trẻo của u em nữa. Hễ tôi khóc là u em bế tôi ngồi võng đưa kẽo kẹt và cất tiếng hát liền. Không lần nào nghe được nửa bài hát mà cặp mắt thơ ấu của tôi không nhắm nghiền lại. Ngày nay, tôi thường nghe người ta nói mấy cái tờ báo kia có cái mãnh lực du ngủ độc giả thì tôi không biết đó là lời khen hay lời chê. Song đối với tôi thì những bài hát của u em nuôi là những áng văn thơ tuyệt tác, đầy những lời dịu dàng, êm ấm của ái tình.
U em quả thực là người đã dạy tôi yêu. Nếu có thể gọi được là ái tình, thì thực đó là ái tình thứ nhất của tôi, ái tình ngây thơ, thành thực nồng nàn, đằm thắm. Chẳng thế mà khi tôi được ba năm, cha mẹ tôi cho vú em về, tôi lăn lộn, tôi khóc lóc, tôi kêu gào! Rồi tôi bỏ cơm đến hai bữa, mất ngủ đến hai đêm.
Thiết tưởng không bao giờ con người lại biểu lộ được sự thương yêu, nhớ tiếc một cách mạnh mẽ được đến như thế.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 23.03.2020 14:51:59 bởi Thanh Vân>
 NHƯNG NGUỜI VỢ HIỀN THỨ NHẤT
CỦA TÔI LÀ MỘT ĐỨA CON GÁI CHĂN BÒ

Năm tôi chín tuổi thời vì một chuyện bất hòa trong gia đình, mẹ tôi rời huyện lỵ đem tôi về nhà quê ở với bà tôi. Cha tôi giữ thế nào cũng không được, đành phải đón cho tôi một ông thầy giáo tây, nghĩa là một người học trò lớp nhất trường Pháp Việt.
Muốn cho trường được đông đúc, ông giáo xin phép mẹ tôi dạy thêm hai người học trò ngoài nữa. Trong hai người ấy, thì một người lớn tuổi hơn thầy, mà có lẽ cũng giỏi hơn thầy. Sự hơn kém ấy, tôi nhận thấy một cách rõ rệt vì câu chuyện một bài tính đố mà thầy giáo không làm nổi và người học trò lớn lên bảng làm xong trong năm phút đồng hồ.
Biết sức học của thầy giáo còn xoàng lắm, lập tức tôi sinh ra lười biếng, luôn luôn bỏ sách đi thả diều và nô đùa với lũ trẻ chăn trâu.

Nếu cứ kể riêng về một khoa toán pháp, thì tôi dám quả quyết rằng bọn trẻ chăn trâu giỏi hơn thầy giáo tôi nhiều. Trong một bàn ‘‘luyến’’ có những ô đầy một đống gạch vụn, thế mà chỉ đếm nhầm trong mồm một phút, chúng nó đã biết bốc cửa nào mà đi thì ăn cửa nhà giầu, bốc nhà nào thì ăn cửa quan, bốc cửa nào thì trúng hay gặp ao cá : Bao giờ chúng nó cũng tính đúng như thần, không hề lúng túng, không hề phải làm lại như thầy giáo tôi húy hoáy viết viết, lau lau trên bảng đen.
Vì thế tôi thích món tính luyến đầy thú vị hơn những phép tính cộng, trừ lạt lẽo, và chẳng bao lâu cái trường học thứ hai mà không mấy khi tôi đến trễ đã là nơi cánh đồng cỏ khoáng đãng với những gò đống và những bãi tha ma, với những bạn bè nghèo đói, rách rưới, tục tằn, bẩn thỉu.

Người dạy tôi đánh luyến, đánh chắt, đánh chuyền là một đứa con gái chăn bò: cái Tôm con.
Cái Tôm con tuy già hơn tôi những năm, sáu tuổi, nhưng nó thấp lắm, chỉ đứng cao hơn tôi có một cái đầu, mà người nó thì lại mảnh dẻ, nhỏ nhắn.
Nó yêu tôi ngay từ buổi đầu gặp gỡ. Nó thoáng thấy bóng tôi là nó chạy vội lại rủ tôi đánh luyến. Mà đánh luyến thì bao giờ nó cũng được tôi ít ra là ba, bốn thửa ruộng và ao cá. Vì thế, mỗi lần xong một bàn, tôi lại phải đưa tay ra cho nó búng. Nó nhẹ nhàng nắm bàn tay nhỏ xíu của tôi và se sẽ ‘‘búng yêu’’ vài cái lấy lệ mà thôi. Rồi nó giữ mãi tay tôi trong tay nó, mỉm cười âu yếm nhìn tôi mà bảo cho tôi biết rằng, tôi xinh đẹp, hay xoa đầu tôi , mà khen tóc tơ của tôi mềm và óng ả như tóc con gái vậy. Ngước mắt ngắm mớ tóc rối tung của nó ở dưới cái khăn vuông vải nâu đã rách, tôi không sao nhịn được cười, vì tôi thấy tóc cô con gái chăn bò, bạn tôi, chẳng tơ mà cũng chẳng óng,
Trong các cuộc chơi nghịch với cái Tôm con, tôi sợ nhất là chơi khăng cõng. Vì tôi bé và yếu quá, cõng sao nổi cô bạn

gái của tôi. Cái Tôm con thì lại chỉ hay rủ tôi đánh khăng. Tôi nể nó quá cũng phải bằng lòng gượng. Nhưng tồi xét ra, ván nào nó cũng cố để thua tôi: Hình như nó thích cõng tôi lắm. Hễ không may ra nó được tôi, thì nó chỉ ôm lấy cổ tôi để đi mà thôi: Nó vui sướng cười khanh khách và thở hơi nóng vào bên tai tôi làm cho tôi buồn buồn khó chịu.
Thấy cái Tôm con và tôi yêu nhau như thế, bọn trẻ chăn trâu, chăn bò tinh quái gọi đùa là cặp vợ chồng. Tôi tức quá đến phát khóc. Cái Tôm con thì bẽn lẽn, đỏ hây hai má. Lúc bấy giờ, tôi trông thấy nó đẹp lắm.
Đó, người ‘‘vợ hiền’’ thứ nhất của tôi. Nhưng cuộc xum họp ngắn ngủi của chúng tôi chỉ được có ba tháng. Mẹ tôi thấy tôi lười biếng quá, và cả ngày nghịch ngợm, bẩn thỉu, liền gửi cho tôi trọ học ở nhà một thầy giáo dạy trường Pháp Việt tại tỉnh lỵ.
Tôi buồn rầu, thương nhớ người bạn hiền ở lại một mình. Nhưng hai tháng sau, tôi đã quên hẳn cái Tôm con. Được luôn luôn gần gủi những cô sạch sẽ, xinh đẹp, thơm tho trong các gia đình giầu có, nên khi tưởng đến người bạn xưa, tôi chỉ thấy hiện ra hình ảnh môt kẻ nghèo nàn, rách rưới, ghê tởm.
 
 
 

***
 
HÀ - NỘI
 
Tôi đã toan bắt chước các nhà trứ danh tiểu thuyết mà đề tên mục này là  ‘‘Năm năm sau’’. Nhưng tôi lại không muốn nói dối. Thầy giáo tôi thường dạy : Nói dối là nết xấu nhất, nói thật là nết… cố nhiên … nết tốt nhất’’. Tôi quả quyết chân thật với độc giả cũng như đối với tôi, nên tôi buồn rầu xoá bỏ cái tên đề mục rất kêu của tôi đi. ‘‘Năm năm sau’’.
Vì thực ra, nếu tính ngày tính tháng cho đúng thì không phải năm năm, mà chỉ là bốn năm bảy tháng rưỡi. Nếu tôi không muốn nói dối và viết dài giòng là: ‘‘ Bốn năm bảy tháng rưỡi sau’’ thì tôi e rườm rà, lôi thôi quá.
Vậy, bốn năm bẩy tháng rưỡi sau, trong đời tôi xảy ra một sự... không phải một sự phi thường, vì tôi nói đời tôi chẳng có một sự gì phi thường hết. Song tuy không phi thường mà đó có lẽ cũng là một sự rất quan trọng : Tôi thi đậu Sơ học Pháp Việt.
Đậu sơ học thì hẳn không phải là một công nghiệp ghe gớm. Ai ai cũng biết vậy. Nhưng sự quan trọng nào có ở cái bằng nhỏ mọn, thấp kém. Nó chỉ ở chỗ cái bằng nhỏ mọn, thấp kém ấy đã chia đời tôi ra làm hai phần, tính cách khác hẳn nhau: Phần quê mùa và phần thành thị, vì sau khi thi đậu, tôi được ra Hà-Nội học trường Bảo Hộ mà ngày ấy, hãnh diện với các chị tôi, tôi thường gọi là trường ‘‘Grand Collège’’.
Quãng đời quê mùa của tôi yên lặng bình tỉnh bao nhiêu, thì quãng đời thành thị của tôi ồn ào, rộn rịp bấy nhiêu... ồn ào, rộn rịp như tiếng đập vào thùng sắt tây rỗng. Nhưng tôi xin cứ theo thứ tự ngay thẳng mà tường thuật sau đây những sự đã xảy ra từ khi tôi bắt đầu bước chân đến thành phố Hà-Nội cho tới ngày nay, cái đầu hai thứ tóc của tôi đã nặng chĩu mang bao nỗi truân chuyên, thống khổ.    
Năm ấy, tôi tuy mới mười bốn tuổi, nhưng khuôn mặt đã rắn rỏi, thân thể đã vạm vỡ, khoẻ mạnh bằng một người mười sáu, mười bảy. Về đường tinh thần thì phải tính ngược lại: Tôi không hơn một cậu bé lên mười mấy tí. Ấy là tôi nói về tinh thần. Chứ không nói trí thức, vì kể trí thức thì tôi khá lắm, chẳng thế và kỳ thi tuyển học sinh vào năm thứ nhất trường Bưởi, tôi lại đỗ đầu.
Ngày nay ngẫm lại cái đời học tập của tôi và của anh em bạn tôi mà suy rộng ra, tôi thấy những anh đầu lớp phần nhiều đều có một bộ óc ngây thơ, chất phác như tôi cả. Thi sử ký, địa dư, toán pháp thì nhất, nhưng ra đến ngoài đường, ngoài phố, và về hết các phương điện xã giao, thì so với những ông ‘‘tướng’’ quanh năm ngồi bét lớp kia, mình thua kém xa lắm.
Nhưng hãy kể đến truyện đã.    
Được tin tôi đỗ đầu kỳ thi vào năm thứ nhất trường Bưởi, cha tôi vui mừng đi ngay Hà-Nội đón tôi và tỏ ý bằng lòng tôi lắm. Ông Phán Việt là chủ nhà tôi ở trọ để đi thi cũng chẳng tiếc lời khen ngợi tôi. Ông nói:
- Cậu Văn còn nhỏ mà học đã giỏi thế. Trông cậu mặt mũi có vẻ khôi ngô tuấn tú. Thế nào sau này mà chẳng nối được chí quan lớn.
Tôi bẽn lẽn sung sướng nóng cả mặt.
Thế rồi cha tôi đưa tôi đi xem thành phố Hà-Nội; nhân tiện sắm cho tôi đôi giầy và cái mũ.
Rời phố Giốc hàng Gà là nơi tôi ở trọ, khi đi qua hiệu ‘‘Gô-da’’, tôi trỏ toà nhà đồ sộ ấy và hỏi cha tôi:
- Bẩm, mua ở đây.
Cha tôi lắc đầu :
- Đừng, mua ở đây đắt lắm.
Xe cao-xu bon bon chạy. Tôi lấy làm khoan khoái, ngắm người Hà-Nội, ai ai cũng đẹp, cũng mới mẻ, sạch sẽ như vừa đúc ở khuôn ra, thực khác xa với những nhân vật ở tỉnh tôi, tồi tàn, cũ kỹ, quê mùa. 
 
 
 
 
 
CÁI MŨ MỚI CỦA TÔI
 
Nửa giờ sau, xe đỗ trước cửa một hiệu ở xế ngay chợ Đồng xuân. ‘‘Ông tây’’ chủ hiệu, người lùn lùn beo béo, nét mặt láu lỉnh, đon đả ra chào. Tôi đoán chừng ông ta biết cha tôi. Mà ông ta nói tiếng ta lại rất thạo, nghĩa là ông ta biết nhiều chữ mà tôi không biết. Chứ những câu thường ông ta nói nào có giỏi giang gì cho lắm. Chẳng hạn, ông ta bảo tôi: ‘‘Cậu bé điển trai nhỉ!’’ thì thực chữ ‘‘điển trai’’ tôi mới được nghe ông ta dùng là một. Hay khi ông ta nhấc cái mủ của tôi mà chê : ‘‘Đẹp trai thế, đội cái mũ  ‘‘phở’’ này sao được ?’’ thì tôi cũng chỉ hiểu lờ mờ rằng ‘‘phở’’ nghĩa là cũ kỹ xấu xí mà thôi. (Về thời ấy tỉnh tôi chưa có hàng phở’’. Ông ta còn dùng nhiều chữ khác, mới lạ nữa, mà tôi thiết tưởng có lẽ cha tôi cũng không rõ nghĩa.
Khi cha tôi ngỏ lời muốn mua cho tôi một cái mũ; thì  ‘‘ông tây’’ cất tiếng ồm ồm gọi lớn:
- Trịnh! Ra bán hàng.
Một cô con gái tuổi vào lối mười lăm, người xinh xắn, da trắng trẻo, tóc bỏ xõa và cài lược bờm trong đi ra.
Tôi đăm đăm nhìn cô ta, không chớp mắt: cái nhan sắc của cô ta như đã chiếm lấy cả sự ngây thơ lạ lùng của tôi.
Cô ta đến gần tôi, mỉm cười hỏi:
- Thưa cậu mua gì?
Cha tôi đỡ lời:
- Tôi mua cho em cái mũ.
Cô bé lại mỉm cười nhìn cái ‘‘mũ phở’’ tôi đương đội, khiến tôi xấu hổ quá, bất giác bỏ mũ cầm ở tay…
- Thưa ông, mua mũ gì cho cậu… em.
Trời ơi ! cô ta lại gọi tôi là cậu em, tôi người vừa đỗ đầu ?            ...
Về khoa tiếp khách, tôi dám chắc rằng cô Trịnh (đấy, tôi đã nhớ tên cô ta rồi !) chẳng kém ‘‘ông tây chù’’ cô ta mấy tí. Nhưng ông kia cũng đến đỡ lời cho cô:
- Ngài mua mũ dạ?
Rồi không đợi câu trả lời, ông ta quay lại bảo cô Trịnh:
- Em lấy mũ dạ để ngài xem.
Cha tôi nói:
- Bây giờ còn nực, không nên đội mũ dạ. Với lại Văn nó đã có mũ dạ rồi (Tôi chắp vội hai tay về phía sau lưng cốt để giấu kín cái ‘‘mũ phở’’. Ông cho tôi xem cái mũ rơm kia kìa.
Cô Trịnh liền bắc cái thang gấp trèo lên cởi chiếc mũ đan cói, ‘‘ruban’’ có giải, đưa cho cha tôi. Ngắm cái vành rộng và hai cái giải xanh buông thõng xuống bên vai, tôi cho là có vẻ đẹp lắm. Cha tôi hỏi :
- Có vừa không?
- Bẩm, hơi chật.
Cô Trịnh đã thoăn thoắt từ trên thang bước xuống đứng lại sau lưng tôi, chăm chăm nhìn tôi ở trong gương và mỉm cười tấm tắc khen ngợi:
- Đẹp lắm, xinh trai, mà vừa lắm.
Tôi nhắc lại:
- Hơi chật.
- Chật đâu ! (vừa nói, cô Trịnh vừa nhắc lại cái mũ, rồi đưa tay vuốt tóc tôi). Tại đầu cậu chưa ‘‘cúp’’ đấy. Tóc dài thế này, làm gì mà chẳng chật... xén tóc rồi thì vừa vặn.
Cha tôi nói:
- Nhưng cô cứ lấy cho em cái mũ rộng hơn một tí nữa... đề phòng đầu nó to ra.
Tôi ngượng chết đi được. Cha tôi làm như tôi mới lên năm, lên sáu. Mà lúc bấy giờ, tôi lại đứng trước mặt một cô con gái đẹp!
- Thưa ngài, người có nhớn thì nhớn, chứ đầu to ra sao được? Vả lại nếu ngài muốn rộng hơn một chút nữa cũng dễ, em chỉ cho vào nong, nong nó ra một tí là được.
Miệng nói, chân bước, cô Trịnh đi vào nhà trong.
Tôi ngước mắt nhìn lên tủ hàng, không thấy một cái mũ đan nào như thế nữa. Có lẽ đó là đồ hàng còn sót lại từ hai, ba năm trước, và cái mũ đan cuối cùng ấy của ‘‘ông tây lùn’’ cô bán hàng láu lỉnh đã hết sức tìm cách ‘‘ẩn’’ đi cho tôi.
Một chốc cô Trịnh lại mang cái mũ có giải ra đưa tận tay tôi                                                                       
- Bây giờ thì hẳn vừa, cậu đội thử xem.
Cố nhiên tôi cho là vừa để khỏi phải diễn lại cái dáng dấp đáng tức cười của tôi, và trông thấy cái điệu bộ mai mỉa, chế riễu của cô hàng. Rồi trước mặt ông ‘tây lùn’’ vê ria âu yếm nhìn tôi, và cô Trịnh đẹp đẽ với hai bàn tay xinh xắn đương gói mũ vào một tờ giấy rộng, cha tôí ân cần dặn tôi:
- Ngày thường đi học thì Văn chỉ nên đội cái mũ cũ thôi, chủ nhật đi chơi hãy nên dùng đến mũ mới. Hễ tết về mà tao thấy cái mũ này đầy mực thì đừng trách.
Thế thì tôi có khổ không, có nhục nhã không, tôi đã lớn tuổi, lại vừa đỗ đầu mà cha tôi vẫn coi tôi như một đứa con nít. Liếc mắt nhìn vào gương, tôi thấy má tôi hây hây đỏ và mắt tôi long lanh có ngấn lệ. Tôi càng xấu hổ, khi đưa gói mũ cho tôi, cô Trịnh thì thầm hỏi sẽ:
-  Tên cậu là Văn à? Cái tên cũng đẹp nhỉ!
Tôi chỉ muốn ra ngay ngoài đường cắm đầu cút thẳng. Nhưng cha tôi, sau khi trả tiền còn đứng nói chuyện với ‘‘ông tây lùn’’ đến mấy phút đồng bồ, nào khoe tôi mới đỗ đầu, nào khoe tôi học chăm chỉ. Trong khi ấy thì cô Trịnh vẫn nhìn tôi mủm mỉm cười.
Ra đến xe, tôi xin ngay cha tôi cho phép tôi xén tóc, Song trước khi đưa tôi đến hiệu thợ cạo, cha tôi còn lại Chính Hiên mua cho tôi một đôi giầy đã rộng, cổ lại cao, mỗi chiếc có hai cái đanh móng lừa đóng dưới mũi và dưới gót. Tôi chắc rằng đôi giầy ấy quý giá lắm, vì chẳng thế, sao người ta lại trịnh trọng đặt nó vào trong một cái hộp (Cái tên ‘‘giầy hộp’’  vì đó mà sau có nghĩa là giầy đẹp).
Sáng hôm sau, tôi thắng bộ cánh mới, ngờ nghệch, vụng về theo người nhà mang hòm đến cửa trường. Bọn học trò đều nhìn tôi khúc khích cười. Tôi tưởng họ chê tôi ăn mặc diện quá. Bỗng một anh trông có dáng dữ tợn lại gần giật phắt cái mũ mới của tôi mà vất mạnh xuống đất. Tôi vội vàng nhặt lấy phủi bụi rồi toan lảng xa, nhưng anh hung ác kia gật gù đầu, sừng sộ hất hàm bảo tôi:
- Anh mua cái mũ ‘‘bê-rê’’ ấy ở đâu đấy?
Thấy hắn ta ‘du côn’’ quá, tôi sợ hãi, vội trả lời:
- Tôi mua hiệu tây, trước cửa chợ.
- À, ở hiệu tây Núi.
Thế là cả bọn vui mừng, cất tiếng reo:
- À, thằng đội mũ ‘‘bê rê’’ tây Núi!
Thì ra cái mũ của tôi tên là ‘‘bê rê». Rõ khổ! Tôi đỗ đầu mà không biết tên nó là ‘‘bê rê’’ . Hôm ấy, tra tự vị Larousse, tôi mới hay ‘‘béret’’ là mũ trẻ con. Học năm thứ nhất trường ‘‘Grand collège’’ thì hẳn không còn là trẻ con nữa. Vì thế buổi chiều, tôi lại chịu khó mang cái ‘‘mũ phở’’ của tôi vào lớp học, thề rằng từ đây trở đi, cái mũ ‘‘bê-rê’’ trẻ con, tôi sẽ cất kỹ dưới đáy hòm quần áo. Tết về, thấy mũ còn mới nguyên, hẳn là cha tôi sẽ bằng lòng.
 
 
 
 
 
 
VƯỜN HOA KHÔNG ÁNH SÁNG
 
Không ngờ cái thời kỳ náo động n
hất trong cuộc Âu chiến, lại là một thời kỳ rất bình tĩnh trong đời tôi: Năm học khóa 1916 -1917.
Thực ra, tôi cũng chẳng biết có cuộc Âu chiến, nếu một hôm ông giáo dạy chữ Pháp không thuật cho chúng tôi nghe những sự tàn ngược của giặc Đức. Ông dơm dớm nước mắt mà phàn nàn rằng, nhà ông, một tòa nhà to tát, đẹp đẽ ở xứ Normandie đã bị quân Nhật nhĩ Mãn bắn phá không còn một viên gạch lành. Từ hôm ấy, tôi yêu ông và thương ông quá.                                 
Nhưng tuy tôi chỉ hiểu lờ mờ về cuộc chiến tranh của loài người, mà cuộc chiến tranh của loài vật thì tôi lại được
mục kích tinh tường lắm : ‘‘cuộc chọi dế’’.
 
Thời bấy giờ, trong trường Bảo hộ hình như có dịch chơi dế. Bọn học trò lớn bé đua nhau đào đất bắt nào dế oẳn mòn, nào dế crắc, nào dế cắt tẩu. Có kẻ sáng dậy sớm ra nằm sắp, nằm nghiêng đầu, áp tai xuống bãi cỏ hàng nửa giờ để nghe xem tiếng dế ở đâu. Rồi họ nuôi những con vật bé nhỏ mà hăng hái, dữ tợn ấy vào trong một cái hộp ''bích quy’’ đầy cát, đục hang cho nó ở, phủ cỏ lên trên cho được mát. Đêm đêm, tiếng kèn ‘‘khiêu binh’’ kêu dậy khắp trong buồng ngủ.
Không làm gì cho tôi sung sướng bằng được chứng kiến cuộc gặp gỡ của haỉ kẻ thù tí hon ấy. Chúng nó dương bộ râu, ra oai và đưa chân trước lên múa mênh giữ miếng, làm đến nhiều điệu bộ. Con nào can đảm thì xông phăng vào đá liền. Rồi khi thắng trận, đứng phưỡn ngực, cọ càng vào cánh, hát khúc khải hoàn ca.
Tiếc rằng tôi không phải là chàng thứ XIII để thuật cuộc chiến tranh ấy cho có vẻ khoa học, mà cũng không phải là một nhà phóng sự để tả cuộc chiến tranh ấy ra một trang lịch sử. Tôi chỉ là một cậu học trò, dù là cậu học trò đỗ đầu...
Nhưng một hôm, cuộc chơi chọi dế đã khiến tôi lưu ý đến một vấn đề tâm lý ái tình (to tát vậy thay!).
Hôm ấy, một người bạn học tôi thả hai con dế đực vào trong bãi chiến trường. Chúng tôi xúm đông lại coi. Nhưng hai con vật ấy âu yếm chạm bộ râu vào nhau như để ký một bản điều ước đình chiến, rồi cùng lãnh đạm làm ngơ quay mặt đi. Dí đầu chúng nó vào nhau, chúng nó cũng chỉ lui. Có người nghĩ ra một kế: Thả một cô dế cái vào trận địa. Tức thì hai đạo quân choảng nhau liền.
Anh em thích chí vỗ tay cười vang. Tôi cũng cười theo nhưng chẳng hiểu sao lại có chuyện lạ lùng ấy. Phải, sau khi thả con cái vào đó, hai con đực lại đánh nhau? Tôi đem câu chuyện ngây thơ, hỏi anh Ngôn, một người bạn lớn tuổi thì anh cười ngất bảo tôi:
- Vì ái tình chứ còn tại sao nữa.
Từ đó, tôi hết lòng làm thân với anh Ngôn, để cố dò xét cho biết ái tình là thế nào. Và cũng vì sự giao du ấy mà tôi học được nhiều sự mới lạ lắm. Chẳng hạn: người ta ai ai cũng phải có ái tình. Không có ái tình, con người sẽ khô héo.
Bạn tôi lại mở cho tôi xem một quyển sổ con, trong đó anh chép rất nhiều câu châm ngôn về ái tình. Thí dụ:
‘‘Người không ái tình như vườn hoa không ánh sáng’’, hay là : ‘‘ái tình như hạt móc buổi sáng...’’. Còn nhiều câu hay lắm nữa, mà anh Ngôn đều nhận là chính anh nghĩ ra, nhưng tôi đoán chừng anh nói dối,
Tôi lấy làm tức bực quá, Những lời giảng nghĩa cùng là những câu châm ngôn của bạn tôi vẫn không làm cho tôi hiểu thế nào là ái tình, mà nếu quả thực tôi không có ái tình, thì chẳng lẽ tôi chỉ là một cái vườn hoa không ánh sáng, là đóa hoa chết héo vì không sương buổi sáng tưới nhuần?
Tôi chợt nghĩ đến cô Trịnh hiệu ông tây Núi.
Từ hôm nhập học, đã ba, bốn chủ nhật, ra phố chơi tôi bạo dạn đi qua hàng cô ta. Lần nào thấy tôi dừng lại ngắm hàng bầy trong tủ kính, cô ta cũng chạy ra chào tôi, và hỏi sao khi dạo phố, tôi không vâng lời cha mà diện mũ mới cho bảnh trai.
Trời ơi ! Cái mũ ‘‘bê-rê’’: Tôi cắm đầu cút thẳng. Nhưng tôi xem chừng cô Trịnh cũng không ghét gì tôi. Nói đùa tôi mà vẫn cười tươi như đóa hoa. Đó hẳn là đóa hoa đượm hạt móc của anh Ngôn. Còn tôi thì bao giờ gặp cô Trịnh, tôi cũng nóng bừng đỏ cả hai tai. Hay đó là ái tình? Tôi tự hỏi, trong lòng ngờ vực, phân vân...
 
 
 
 
 
CÁI ÁO TƠI
 
Sợ câu chuyện tâm lý ái tình, làm cho độc giả buồn ngủ rũ, tôi vội vàng thuật ra đây vài việc rất đáng tức cười (ấy là tôi tưởng thế) đã xẩy ra trong quãng đời 1916-1917 của tôi. Với lại, tôi cũng cần kể những câu chuyện ngớ ngần ấy để chứng thực cho lòng ngây thơ, khờ khạo của tôi, của một cậu ‘‘ma-bùn’’ đã mười bốn, mười lăm tuổi đầu mà không hiểu ái tình là gì?
Câu chuyện thứ nhất là câu chuyện cái áo tơi.
Mùa rét đến, cha mẹ tôi gửi lên cô tôi, bán hàng ở phố Vải thâm, một cái ngân phiếu mười hai đồng bạc, nhờ đi may cho tôi một cái áo tơi tây. Cô tôi liền đưa tôi đến hiệu Vũ Huy Quang ở phố hàng Bông...
Nhưng trước khi kể câu chuyện cái áo tơi, tôi hãy nói qua về cái áo sa tanh của tôi đã. Rõ tôi kể lôi thôi quá, đương chuyện nọ xọ chuyện kia. Khốn nỗi, đầu đuôi chỉ tại cái áo Sa tanh lót thượng hải. Mặc nó ở tỉnh tôi, tôi thấy nó đẹp lắm và làm cho tôi ra phết người lớn lắm.
Song nay tôi ngắm y phục người Hà thành, đàn ông cũng như đàn bà, đều thấy gọn gàng, hẹp, chẽn, ngắn, mà cái áo sa tanh của tôi lại vừa rộng, vừa dài lê thê. Nhất là ống tay áo thì khổ sở quá, che gần kín hai bàn tay.
Trời tuy đã rét mà tôi không dám mặc nó vào, vì sợ anh em chế nhạo. Tôi chịu khó co ro trong cái áo trắng và cái áo nịt, đến nỗi có kẻ ngỡ rằng tôi quá bủn xỉn để dành áo mới.
Ngày chủ nhật ra chơi phố chẳng lẽ mặc áo trắng, bất đắc dĩ tôi phải đeo cái áo sa-tanh vào người. Nhưng tôi khôn khéo lúc nào cũng ấn hai tay vào túi áo cánh làm như rét lắm. Kỳ thực chỉ cốt để nâng áo sa tanh lên cho vạt cả đ dài, và nhân thể dấu kỹ hai ống tay áo lụng thụng gần như tay áo tế. Vì một việc gì mà phải thò tay ra ngoài thì thực là một sự đau lòng cho tôi lắm.
Ấy bởi thế mà sự dài trong y phục là kẻ thù rất đáng ghét của tôi.
Nay được dịp cô tôi đưa đi may áo, và cha mẹ tôi không có đây mà bắt thợ may cắt dài phòng lớn, tôi bèn lựa lúc vắng cô tôi, tôi thì thầm dặn bác cai thợ cắt áo cho tôi thật ngắn, dù ngắn hơn cái áo sa tanh cũng đành chịu,
 Hôm tôi mặc áo mới đến nhà cô tôi, cô tôi giẫy nẩy lên kêu ngắn quá, rồi tức tốc kéo tuột tôi lên hiệu, để bắt chữa lại. Nhưng than ôi, bác phó may lại quên không chừa vải đề phòng lúc buông gấu.
Cô tôi nhất định, bắt thế nào cũng phải chữa cho dài thêm, (có lẽ cô tôi đã biết tính cha mẹ tôi, sợ sẽ bị cha mẹ tôi kỳ kèo). Bác phó may nhận lỗi xin chữa được.
Quả bác ta chữa được thật, nghĩa là  bác ta can thêm một miếng dạ xuống gấu, mà lại can vụng, khiến vạt áo xoè ra như cái váy đầm, trông đến hay.
Cũng như cái mũ ‘‘bê-rê’’, cái áo tơi của tôi đã làm trò cười cho anh em bạn học. Họ chế riễu tôi mặc ‘‘mốt’’ gái Thượng hải. Có anh lại nói một câu độc địa này nữa:
- Dể thường áo của con gái nuôi tây Núi thải cho nó đấy.
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 23.03.2020 21:28:52 bởi Thanh Vân>
ĂN KEM

Nhưng câu chuyện cái áo tôi chưa thấm vào đâu với câu chuyện ăn kem. Vì nó chỉ tỏ rằng tôi ngốc chứ câu chuyện tôi sắp kể mới thật tả được cái tính ngu khốn ngu nạn của cậu bé nhà quê ra tỉnh, hơn nữa, của chú mán rừng về thăm thành phố Hà Nội.
Tôi trù trừ mãi trước khi hạ bút thuật những lời sau đây, vì thiết tưởng cũng khó lòng có người tin được rằng đó là sự thực. Nhưng quả đó là sự thực. Nếu có cần phải viện toàn danh dự của một cậu học trò đỗ đầu mà thề, tôi cũng mạnh bạo xin thề ngay chẳng chút do dự.
Chủ nhật ấy, tôi vừa nhận được đồng bạc lương tháng nhà cấp cho để tiêu vặt trong khoảng ba mươi ngày.
Anh Thái, người bạn học cũ trường tỉnh nhà với tôi, cũng theo tôi ra chơi đằng cô tôi. Thấy tôi được cô tôi cho đồng bạc, anh liền khen tôi giầu và khuyên tôi nên thết anh một tiệc phở. Tôi ngẫm nghĩ mấy phút rồi bảo anh Thái :
- Không, ta đừng ăn phở. Vì phở soàng lắm, cổng trường cũng có. Ta mua kem ăn đi!
Ngày thường, tôi vẫn nghe anh em khoe ăn kem mát và ngon lắm, nhưng xin thú thực, tôi chưa hề trông thấy mặt mũi kem ra sao. Anh Thái cũng vậy. (Sau này tôi mới rõ). Thế mà, khi tôi hỏi đã được ăn kem chưa, anh lại làm ra mặt thành thạo lắm, đáp liền:
- Kem thì tôi còn lạ gì ! làm bằng trứng gà chứ gì !
- Thế thì may quá, tôi đang sợ không biết mua kem ở đâu.
Rồi chúng tôi lê gót giầy trên vệ đường đi tìm một hiệu bán kem. Vào một cửa hàng tạp hóa hàng Đường (hàng Đường thì hẳn là có kem), tôi gõ tay lên bàn, dỗng dạc nói:
- Tôi mua kem !
Chú khách hỏi:
- Kem con gà, lớ?
Bạn tôi cất giọng quả quyết đáp lại:
- Phải, kem trứng gà.
- Vàng, lớ?
- Phải, vàng.
- Hộp to hay hộp pé?
Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau: tôi hỏi :
- To thì bao nhiêu tiền?
- Hai hào thôi, có mua không?
- Mua.
Vừa ra tới hè, chúng tôi hý hoáy m ngay hộp kem rồi chia nhau mỗi đứa một nửa... ăn.
Trời ơi ! ngày nay nghĩ lại, tôi còn ghê tởm. Kem đánh giầy mà chúng tôi cố nhăn mặt, nhăn mũi nhá được.  Nhá cho biết mùi, chẳng lại mang tiếng ở Hà Nội mà không biết kem là gì. Của đáng tội, tôi cũng thấy khó ăn, nhưng tôi cũng cho là buổi đầu chưa quen (cũng như pho mát ấy mà), tập dần dần rồi lâu mới biết là ăn kem ngon và mát.
Dạ dầy tôi thời ấy kể cũng tốt lắm đấy chứ, vì chiều hôm ấy, tôi chẳng đau bụng đau bão gì hết.
Cứ suy một câu chuyện ăn kem này đủ biết tôi thực cũng đáng không hiểu ái tình là cái gì. Phải chăng, các bạn độc giả?
 
 
 
 
 
 
TIẾN BỘ
 
Tới kỳ nghỉ hè năm 1917 thì tôi đã bước được một bước dài trên con đường…đời. Đó là một cách nói : tôi đã lùi từ đầu lớp xuống gần cuối lớp, từ nguyệt bổng tám đồng bạc xuống không đồng nào, nghĩa là tôi bị tước học bổng.
 Nhưng trong quãng chín tháng ấy, tôi đã biết được rất nhiều điều nên biết, tôi học   được rất nhiều điều nên học. Ngoài những tiểu thuyết tình của Theuriet, của Daudet, của George Sand, những thơ sầu của Musset, của Lamartine, tôi còn được nghe những chuyện ‘‘tán gái’’ của mấy anh học trò lớn, khiến trong tâm hồn tôi nẩy nở ra những cảm giác, những cảm tưởng, những tính tình mới lạ, dịu dàng và vơ vẩn.
Cha tôi thấy tôi bị kém sút thì lấy làm kinh ngạc, vì cha tôi vẫn yên trí rằng tôi học tập siêng năng, nhất là trong ba tháng hè về nghỉ ở nhà, tôi lại chỉ chăm có một việc: đọc sách. Nếu cha tôi biết rằng những sách ấy toàn là tiểu thuyết, đại khái như  ''Cậu Paul và cô Virginie’’  ‘‘ Dưói bóng cây bồ đề’’ hay ‘‘ Tận đáy linh hồn nàng’’ thì sự kinh ngạc kia chắc sẽ không có nữa.
Hết hè, tôi rời trường ra ở ngoài. Không biết tôi nên nói được ra hay phải ra. Mất niên bổng thì cố nhiên là phải ra, trừ khi trả ký túc phí mỗi tháng tám đồng như những trò khác... Nhưng tôi, tôi cho là được ra. Tôi đã chán ngán cái đời bó cẳng ở trong trường lắm rồi. Ra ngoài được chạy nhảy vẫn sướng hơn.
Song cái sướng thường đi liền với cái khổ, độc giả muốn biết vì sao, xin xem dưới đây sẽ rõ:
Tôi trọ nhà cô ở phố Vải thâm. Ngoài số tiền ăn, cha tôi cho tôi mỗi tháng ba đồng, hai đồng lấy  ‘‘các’’ (carte = thẻ) xe điện và một đồng tiêu vặt, Song những ‘‘vặt’’ tôi tiêu hình như nhiều quá đến nỗi tháng nào cũng vậy, chưa quá ngày mồng mười, túi tôi đã nhẹ nhàng khoan khoái lắm. Tôi thì hẳn không được nhẹ nhàng khoan khoái như túi tôi. Vì thế, tôi lập mưu, lập mẹo xin tiền cô tôi nói là để mua sách vở, giấy bút, hoặc để đóng góp làm việc nọ việc kia trong lớp học.
Nhưng vẫn không đủ tiền cho tôi tiêu. Tôi liền nghĩ ra một kế rất giản dị: Hai đồng lấy ‘‘các’’ xe điện, tôi đổi ra tiền ‘‘tiêu vặt’’. Chịu khó cuốc bộ từ phố Vải thâm đến trường Bảo Hộ, công việc ấy nào có khó khăn nặng nhọc là bao ? Kìa như anh phu xe chạy mướt mồ hôi từ sáng đến tối để kiếm vài hào cơm thì đã chết đâu ! Đó là một ý hay, viện ra để tự an ủi, chứ của đáng tội, hồi ấy tôi có thương hại gì anh phu xe ! 
Gần nhà cô tôi có mấy anh em. chị em nhà kia luôn luôn chơi rút bất ‘‘cò con’’ với nhau. Họ thường rủ tôi sang chơi. Thế là hai đồng bạc bớt tiền xe, tiền tháng ‘‘tiêu vặt’’ vào bàn bất hết. Tôi xin thú thực ngay rằng tôi cũng chẳng thiết gì cờ bạc, tôi chỉ muốn ngồi cạnh chị gái bạn học mà thôi. Mà nào cô ả ấy có xinh đẹp chi cho cam. Song dẫu sao cô ta vẫn là con gái, mà tôi muốn yêu như những nhân vật tiểu thuyết yêu nhau...
 
 
 
 
 
CÔ THI
 
Một sự xảy ra.
Nếu sự đó không xảy ra, thì không biết rồi cô Quý (tên chị gái bạn tôi) và tôi có yêu nhau không. Ngày nay, tôi thường tự hỏi tôi câu ấy, và tôi vẫn còn lấy làm ngờ.
Nhưng sự kia đã xẩy ra thì bất tất phải bàn đến sự không xẩy ra làm gì.
Sự xẩy ra ấy là sự gặp gỡ của tôi với cô Thi : Một cuộc gặp gỡ cảm động, ngây thơ, rất đáng tức cười, mà rất  đỗi đau đớn.
Tôi kéo bộ được mấy tháng, thì lòng tôi sinh chán nản nhất là thân thể tôi lại mệt nhọc vì những đêm thức khuya đánh bạc.
Tới mùa rét! mưa phùn, gió bấc (vào khoảng đầu năm 1918) sự chán nản kia thực trở nên sự khổ thống nan kham cho tôi. Trước tôi còn cố ẩn núp bám sau mui xe ngựa để tránh mưa mà đi đến trường bằng một cách rẻ tiền. Song từ hôm bị một roi của anh ‘‘sà-ích’’ , tôi đâm ra sợ hãi, rụt rè.
Nhưng vì thế mà tôi lại nghĩ ra được một cách khác, giản dị hơn: là những hôm mưa gió, tôi không đến trường nữa, đi lang thang dưới mái hiên các cửa nhà hàng, chờ cho hết giờ học sẽ ung dung cắp sách về nhà. Tối đến chỉ việc viết một bức thư đứng tên chú dượng xin ông đốc trường tha lỗi cho ‘‘thằng cháu’’ đã không đi học được, vì bị sốt rét hay đau bụng, hay đi lỵ, bay mắc một bệnh gì đó (tôi liều liệu thay đổi bệnh cho được có vẻ thành thực). Dưới thư, tôi ký tháu tên chú dượng tôi. Ông đốc hẳn là không biết tên ký của chú tôi, người không hề ký tên bao giờ.
Một hôm đi lang như thế, tôi ngẫu nhiên đến trước cửa trường hàng Cót trước giờ nhập học. Và ngẫu nhiên tôi gặp một cô dương cặp mắt đen láy, đăm đăm nhìn tôi như có tình lưu luyến.
Chiều hôm ấy, tôi lại ngẫu nhiên gặp cô nữ học sinh. Lần này, cặp mắt đen lay láy đã  ‘‘tòng phạm’’ với cặp môi tươi thắm mà chào tôi bằng một nụ cười thân mật. Cái nụ cười ấy, một giờ sau tôi hiểu ngay là nụ cười biểu đồng tình: cô nữ học sinh, cũng như tôi, là một đảng viên trong phái trốn học.
Thế rồi từ đó, chúng tôi luôn luôn cùng nhau sốt rét và đi lỵ, nghĩa là chúng tôi thường rủ nhau đi chơi vườn Bách thú.
Đưa gái đi chơi Bách thú. Hân hạnh ấy đã mấy người được? Nhưng hồi đó tôi cho là một sự không may, một sự ‘‘tai hại’’ vì tôi chẳng biết khi đi với gái thì phải làm những [sub], [/sub]phải cử động sao, nói năng thế nào, cho khỏi ra một anh chàng quých với cái diện mạo, dáng dấp khờ khạo, ngờ nghệch. Đến nỗi hơn một tháng sau tôi chỉ ao ước cuộc giao du của chúng tôi chóng kết liễu.
Tôi ngnĩ thế, song tôi lại không thể thôi không đến gần cửa trường nữ học đón bạn tôi được. Mà bạn tôi thì không hề bao giờ có cái ý tưởng muốn kết liễu cuộc giao du thân mật.
Tôi thiết tưởng dẫu ai vào địa vị tôi, cũng phải lúng túng như tôi. .
Cứ tưởng tượng một đôi bạn trẻ mới mười sáu tuổi đầu - mười  sáu thời ấy chỉ bằng mười ba, mười bốn ngày nay - đi cách nhau ngoài ba thước, yên lặng nhìn xuống đường và thỉnh thoảng liếc nhau mỉm cười, độc giả cũng thấy cái vẻ khôi hài của cuộc phiếm du kia.
Một đôi khi có nói chuyện, thì chuyện nào có ra chuyện:
- Hôm nay, mát trời nhỉ!
- Cô giáo em đánh phấn vụng quá.
- Lão giáo học bắng nhắng tệ.
- Này cậu ạ, hôm qua con Mùi nó lại viết lên bảng hai chữ Văn, Thi làm em tức quá, phát khóc.
Nồng nàn lắm cũng chỉ đến:
- Thế nào tôi cũng xin phép nhà tôi lấy được cô. Nếu tôi không lấy được cô, thì tôi thề không lấy ai.
Một đêm trằn trọc không ngủ được, tôi băn khoăn suy nghĩ, nhủ thầm:
- Chẳng lẽ chỉ có thế? Chẳng lẽ ái tình chỉ có thế ?
Tôi bèn lập tâm hỏi anh em bạn học lớn tuổi xem vào địa vị ấy thì phải cư xử ra sao. Tôi làm thân với một anh đã nổi tiếng là rất có nhiều hạnh phúc về đường tình ái (điều đó cũng khả nghi lắm). Môt lần nửa cợt nửa thật, tôi hỏi anh ta:
- Muốn yêu một người con gái thì phải làm thế nào ?
Anh kia muốn lên mặt thành thạo dạy tôi một bài tâm lý ái tình:
- Con gái họ cũng thích mình như mình thích họ, nhưng họ bẽn lẽn không dám biểu lộ ngay ái tình của họ ra. Vậy mình phải tỏ cho họ biết rằng mình yêu họ chứ. Mình phải bạo dạn bắt đầu trước. Chẳng hạn,  bây giờ anh gặp một người còn gái đẹp, anh không quen biết, mà anh muốn yêu, thì trước hết anh phải tìm cách làm  quen với người ta chứ. Chẳng hạn  (lần thứ hai)  gặp người ấy ở ngoài đường, anh vờ vô ý đâm sầm vào người ta, rồi tha thiết, tươi cười, xin lỗi Chẳng hạn (lần thứ ba) người ta cũng tươi cười, tha lỗi cho anh, thế là xong. Nếu không anh lại vô ý lần thứ hai, vô ý lần thứ ba, thứ tư đâm vào người ta rồi xin lỗi, thế là thế nào người ta cũng phải lưu ý đến anh, cảm động vì anh.
Điều đó thì tôi khó lòng mà tin được, vì đến lần thứ tư, không khéo người ta sẽ tha lỗi cho mình bằng một cái tát tai. Và bài học ấy cũng không ích lợi gì cho tôi: Thi với tôi không còn thời kỳ vô ý đâm sầm vào nhau nữa. Thì ra đã vượt qua được một quãng khó khăn trên đường tình ái mà vẫn không biết. Tôi lại hỏi:
- Còn cách nào khác nữa không …anh?
- Còn nhiều cách, chẳng hạn (lần thứ tư), cách gửi thư. Cách này hơi khó, vì viết những bức thư đằm thắm, tha thiết, âu yếm, có vẻ thành thực. Tôi coi bộ anh thì khó lòng mà thi hành được cách ấy.
Cái cách khó khăn ấy, tôi có ngờ đâu lại chính Thi dạy tôi.
Một độ, tôi bỏ bẵng đến hơn hai tuần lễ không đến cửa trường hàng Cót đón bạn: Tôi bận học để thi lên lớp, vì dầu sao tôi cũng chẳng quên rằng nếu không được lên lớp thì dễ bị cha tôi mắng, ghét và như thế, tôi sẽ có thể làm ngăn trở mất cuộc nhân duyên của tôi.
Một hôm bài vở xong xuôi, và kết quả đã được mỹ mãn, tôi lại đến gần trường nữ học tìm Thi để khoe. Nhưng gặp tôi, Thi chỉ ứa nước mắt, quay mặt đi thẳng về phía trường.Tôi chạy theo   toan kêu van xin lỗi thì thấy Thi bỏ rơi một bức thư.
Tôi vội vàng nhặt lên mở ra coi: Trong thư có vài giòng vắn tắt như sau này:
 
Hỡi người tệ bạc,
Bngười ta trơ trọi một thân, một mình trong gn một tháng trời chẳng thèm đoái hoài tới. Thế mà bảo yêu đấy ! Thôi ! Thà đừng yêu còn hơn.
 
                                                                                               THI
 
 
 
 
 
GIẤC MỘNG ÊM ĐỀM
 
 
Thế là hôm ấy,  tôi thức đến quá nửa đêm loay hoay gọt dũa bức thư trả lời. Thực không bài luận văn nào tôi viết được kỹ càng, chu đáo như bức thư tình thứ nhất của tôi. Vả lại, làm văn, dù là Pháp văn đi nữa, đã có mẫu mực thầy dạy cứ thế mà theo, còn thư tình thì tôi có học bao giờ mà biết. Vì thế, ba lần tôi viết xong, ba lần tôi đọc lại, ba lần tôi xé đi.
Một lẽ nữa, khiến tôi húy hoáy trong năm, sáu giờ đồng hồ mới được một trang giấy là bởi mấy hôm trước, anh Ngôn có cho tôi coi bức thư anh viết cho một cô, ý chừng một cô mộng tưởng. Thấy trong thư có nhiều câu ca lục bát, tôi yên trí ngay rằng thư tình bao giờ cũng phải xen lẫn vận văn nào mới có vẻ đậm đà, âu yếm.
Tôi liền mở quyển Kiều, đọc một lượt và lấy bút chì gạch những câu tình tứ mà tôi muốn trích, muốn lấy. Như thế cũng đã mất mấy tiếng đồng hồ rồi. Bức thư của tôi đại khái như thế này:
 
Cô Thi yêu quí của tôi ơi,
Hôm qua được chút thơm rơi, tôi lấy làm vui mừng khôn xiết kể. Thực là:
Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu,
Tôi trộm nghĩ :
‘‘ Kiếp tu xưa ví chưa đầy,
‘‘Phúc nào đọ được giá này cho ngang’’.
 
Từ ngày trộm liếc dung nhan, tôi ngày đem mơ tưởng, năm canh biếng giấc, sáu khắc quên ăn. Lúc nào tôi cũng tự hỏi :  ‘‘Không biết đài gương có soi đến dấu bèo cho chăng ?...
 
(Kể thì tôi cũng biết nó soi đến rồi).
Nhưng thôi, tôi chẳng muốn lợi dụng lòng tín nhiệm của độc giả mà bắt phải nghe từ đầu đến cuối áng văn tình tuyệt tác thứ nhứt ấy. Cho đến cả tập thư tôi gửi cho cô Thi, tôi cũng đành để nó nằm yên trong ngăn ký ức, chỉ xin độc giả lấy trí tưởng tượng mà ức đoán sự ngộ nghĩnh, của một công trình thư tín vận, từa tựa như mẫu văn trên đây,
Cứ như thế trong nửa năm trời, Chúng tôi luôn luôn cùng nhau dạo chơi vườn Bách Thảo một cách lý tưởng, rồi tối lại về viết cho nhau những bức thư lý tưởng.
  Kể ái tình lý tưởng thì cũng thú lắm, Thực là một giấc mộng dịu dàng, êm ái, Song tiếc rằng ở đời này không có giấc mộng nào liên miên, bất tuyệt hết. Đã có mộng thì tất phải có tỉnh mộng, dù là giấc chiêm bao hay giấc mộng tình lý tưởng, Mà tỉnh giấc chiêm bao thì mình chỉ có cái cảm tưởng nhờ tiếc không đâu, chứ tĩnh giấc mộng tình vớ vẫn thì có khi mình lại đau đớn, khổ sở vì nỗi oan uổng độc địa. Chính tôi đã gặp nông nỗi ấy.
Bây giờ hồi tưởng lại, tôi mới hiểu là lỗi tại tôi, hay đúng hơn lỗi tại sự thật thà, khờ khạo của tôi : khối óc tiêm nhiễm tiểu thuyết của tôi yên trí rằng ái tình chỉ có thế, chỉ có đi dạo chơi ở vườn Bách Thảo, và nói chuyện với nhau hay ngồi gần nhau độ nửa thước đã là quá lắm rồi, đã là vượt qua giới hạn của ái tình rồi.
Cũng có một đôi khi tôi lờ mờ nghĩ đến những cái hôn nồng nàn trong tiểu thuyết, nhưng tôi chỉ thoáng nghĩ đến mà thôi. Còn như làm thế nào để hôn được, hôn được thì sẽ có cảm giác như sao, những câu hỏi ấy không hề bao giờ lởn vởn trong tâm trí tôi. Tôi xin thề rằng những tính tình cao thượng, trong trẻo và ngây thơ luôn luôn bảo hộ cho linh hồn tôi và nâng bổng hẳn trí thức tôi lên từng quang đãng, khiến mắt tôi ngắm vật gì cũng đẹp hơn trước, và mùi thơm của các hoa tôi ngửi, như có nhiễm đầy vẻ thần tiên, huyền bí. Ngoài ra tôi không có một ý nghĩ gì khác nữa.
   
Thi có những cảm giác, cảm tưởng như tôi chăng? Tôi không biết. Tôi chỉ nhận thấy cặp mắt Thi nhiều lần nhìn tôi đăm đăm, long lanh khác thường. Có khi Thi nhích lại gần tôi như muốn nói thầm một điều gì âu yếm, khiến tôi nhút nhát, lo sợ, sẽ xê ra. Lúc đó, mắt Thi bỗng hơi lim dim nhắm lại, rồi Thi lạnh lùng, im lặng có dáng hờn giận, buồn rầu.
Năm ấy, Thi trượt kỳ thi Sơ học Pháp - Việt. Sự đó chẳng có chi lạ. Tôi viết thư an ủi, lời lẽ thành thực, thiết tha. Trong thư, tôi hứa sẽ học thành tài để sau này làm cho người vợ yêu quý của tôi được hoàn toàn sung sướng.
Rồi tôi về nhà nghĩ hè. Hôm từ biệt nhau lần cuối cùng (mà cuối cùng thật) ở vườn Bách Thảo, Thi khóc lóc thảm thiết. Còn tôi, tôi cũng cố dơm dớm ít nước mắt. Vì quả thực, lúc xa cách Thi, không biết nên buồn hay nên vui.
Buồn thì kể cũng buồn, mà mừng thì có lẽ không phải không đáng mừng. Tôi tự cho là tôi ở vào một cảnh ngộ khó khăn nan tiến nan thoái: Đi bên cạnh một người con gái đẹp, vẫn là một sự đáng tự hào. Song rồi làm gì nữa mới được chứ? Chuyện nói mãi cũng hết. Mà dáng điệu thì chỉ sợ ngờ nghệch, vụng về, quê kệch. Thành thử tôi phải giữ gìn từng tí, rất là khổ sở. Biết bao lần về nhà soi gương, tôi ôn lại những cử chỉ của tôi ở trước mặt Thi xem có khó coi không: hoặc nhách mép mỉm cười, hoặc nhắc lại những câu nói với Thi. Nếu tôi thấy tôi có duyên thì hôm ấy tôi yêu tôi lắm, tôi trọng tôi lắm - Chẳng may trong khi nói chuyện với Thi, tôi lỡ lời thốt ra một câu mà tôi cho là xuẩn ngốc, thì tôi buồn tới một tuần lễ. Đến nỗi giữa đêm băn khoăn, trằn trọc không ngủ được, tôi suy nghĩ mãi về câu nói hớ ấy rồi buột mồm tôi lớn tiếng tự mắng: ‘‘Rõ mình khỉ quá !’’
Vì thế khi từ biệt Thi về nhà nghỉ hè, tôi như thoát nạn, tôi như cất được một gánh nặng trên vai, trong lòng khoan khoái vui mừng.
Nhưng ở nhà được vài hôm, tôi lại nhớ Thi lắm. Tâm hồn tôi trở nên trống trải, và đời tôi lạnh lẽo hết thi vị.
Thấy tôi kém ăn, kém ngủ, kém vui, mẹ tôi săn sóc, hỏi han. Một hôm tôi khóc nức nở thú hết với mẹ tôi, và xin mẹ tôi cho phép tôi lấy Thi. Mẹ tôi an ủi tôi, viện đủ mọi lẽ để khuyên tôi không nên lấy ‘‘cái con người ấy’’.
- Con phải biết nếu nó phải lòng con thì nó cũng có thể phải lòng người khác. Con cứ yên tâm, mẹ đã giấm cho con một đám đẹp gấp mấy kia, mà lại biết làm ăn, trông coi việc đồng áng.
Tôi trả lời quả quyết:
- Bẩm, trừ Thi ra, con nhất định không lấy ai. Mà Thi cũng đã thề với con, nếu không lấy được con, Thi sẽ tự tử.
- Con tin gì lời thề của nó.
Tôi giận mẹ tôi quá, không nói chi nữa. Từ đó, tôi càng khổ sở, người gầy sọp hẳn đi, nhất là thư từ Thi gửi cho tôi lại một ngày một thưa, rồi gần một tháng sau, tôi chẳng nhận được một cái nào nữa.,
Thế rồi sao nữa ? Chắc độc giả có ngtrời nóng ruột vội hỏi tôi câu ấy. Câu trả lời, đáng lẽ tôi dã nói thẳng ngay với độc giả, để khỏi làm thêm khô héo trái tim tôi, nếu nền mỹ thuật của khoa kể chuyện không bắt buột tôi phải viết cho có đầu, có đuôi, có phá, có thừa, có luận, có kết.   
Bây giờ đã đến đoạn kết câu chuyện tình, tôi xin buồn rầu mà thưa với độc giả rằng : thế rồi... thế rồi tôi cũng như khi xưa tôi đánh luyến gặp ao cá hay gặp cửa nhà quan. Một kẻ sung sướng hơn tôi đã được trẩy những hoa quả ở cây mà tôi mất công trồng tỉa, vun sới.
Nếu chỉ có thế thì cũng chẳng nên phàn nàn. Song nào chỉ có thế. Tôi lại còn bị oan uổng ê chề nữa kia.
Hết hè tôi vui vẻ ra Hà Nội, trong lòng mừng thầm sắp được gặp mặt Thi. Tôi nhẩm lại sẵn trong trí những câu oán trách những lời tình tứ để đem ra nói với Thi.
Nhưng vừa chân ướt chân ráo bước vào sân trường, tôi đã được nghe câu chuyện ghê gớm, làm tôi tê tái cả người như bị giội một thùng nước đá lên đầu : Thi bỏ nhà đi theo tình nhân, mà anh chàng tình nhân quý hóa ấy chẳng phải ai xa lạ, chính là... tôi. Nếu lúc bấy giờ tôi còn giữ được hồn thơ lai láng thì tôi tất phải ngâm câu Kiều:
   
Tin đâu sét đánh ngang tai.
 (có lẽ không đúng)

Trời ơi ! Thi theo trai ! có thể như thế được chăng ?
Người vợ hiền chưa cưới của tôi theo trai ? Mà ‘‘trai’’ ấy lại không phải tôi, có thể vô lý như thế được chăng?
Chỉ thiếu một chút là tôi ngất đi.
Anh em bạn thấy tôi kinh ngạc thì cho là tôi vờ. Vì họ biết rằng tôi với Thi “yêu’’ nhau, và họ nhất định quả quyết rằng tôi đã quyến rũ Thi đi ở ẩn một nơi nào trong gần một tháng.   
Tôi cãi sao được? Tập thư tình của tôi còn kia; Và nếu nhà Thi không phát đơn kiện tôi, là chỉ vì không muốn bị vỡ lở câu chuyện không hay ấy ra làm gì đó thôi.
Thì ra Thi đã bội ước, đã trái lời thề. Hay Thi đoán được rằng cha mẹ tôi không cho phép tôi lấy Thi ? Song Thi không tự tử, - vì tự tử kể cũng khó đấy chứ - Thi chỉ yêu một người khác và yêu một cách thiết thực chứ không lý tưởng như trước nữa.
Hoặc giả ái tình lý tưởng của tôi đối với trái tim kia khao khát sự yêu đã là một cốc rượu khai vị uống trước bữa cơm ngon lành để thêm đói thì cũng chưa biết chừng.
Cố nhiên là tôi thất vọng. Rồi tôi thề với tôi rằng (lại thề) tôi sẽ không yêu ai nữa.
Song nỗi oan, tôi khó lòng mà biện mà bạch được. Sự quyến rũ đê hèn, người đời họ đã chép vào lịch sử của tôi rồi, còn làm thế nào mà xóa đi được. Cả đến người anh cô Thi cũng chẳng xét được nỗi éo le, cay đắng cho tôi, luôn luôn đe nạt tìm tôi để đánh một trận nên thân cho bỏ ghét.
Ngoài những sự nhỏ nhen vừa kể trên này ra, thì sự ‘‘rủi ro’’ thứ nhất về đường tình ái cũng là một điều hay cho tôi vì đã làm cho tôi tỉnh ngộ và trở nên đỡ ngây thơ. Chẳng thế mà hai năm sau thi bằng thành chung, tôi lại đậu được thứ mười tuy nuốt phải một góc điểm về bài tập đọc tiếng An Nam. Ông giám khảo môn ấy nào phải ai xa lạ : chính là ông anh cô Thi, anh người tình lý tưởng của tôi.
Muốn biết tôi đã tỉnh ngộ hẳn chưa, và nỗi oan uổng đã buông tha tôi ra chưa, xin xem những mục sau sẽ rõ.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
CHÁN ĐỜI

Trong luôn hai năm tôi đã đóng vai chán đời. Hễ anh em, ai nói đến chuyện tình ái thì tôi cố làm ra có vẻ mặt buồn rầu mà buông một tiếng thở dài thật não nùng, đau đớn.
Một vài người bạn thân đem lòng thương hại tôi và an ủi tôi bằng những lời thành thực. Nhưng tôi, quả tôi không thành thực một chút nào. Vì được cái tin chẳng lành mới xảy ra được một tháng, tôi đã quên hẳn Thi. Mà cũng không có lý do gì khiến tôi không quên Thi được, Có sự liên lạc gì dàng buộc tôi với Thi đâu?
Song tôi cho rằng nếu tôi không làm ra bộ nhớ tiếc, oán trách Thi, thì tôi sẽ trở nên một người tệ bạc, hơn nữa, tôi sẽ là một người không có cảm tình, nghĩa là một đứa trẻ con. Vì thế, lúc nào có anh em đông đủ, tôi cũng ngậm ngùi ngước mắt. nhin trời hay cúi nhìn đất bằng cặp mắt mơ mộng giả dối.
Những thơ ca tôi thích ngâm nga nhất là các bài  ‘‘Kỷ Niệm’’ và ‘‘Những Đêm’’ đầy lời ta thán. Tiểu thuyết Werther là cuốn sách gối đầu giường của tôi.
Một lẽ nữa khiến tôi tự bắt buộc tôi phải có những tư tưởng thất vọng về tình: Tôi muốn tỏ cho anh em bạn biết rằng không những tôi không quê mà tôi còn có thể tự hào đã từng trải cuộc đời hơn mọi người khác.
Sự từng trải ấy tôi tả bằng diện mạo và dáng điệu sầu bi. Tôi lại tả bằng những câu thơ cảm động cóp nhặt trong các áng văn xưa. Tôi còn nhớ mấy câu rất kêu mà rất sầu, tôi viết trong những giờ học chữ nho:

Dương mắt coi chi buổi bạc tình...
Tình ái đời nay như thế cả,
Yêu người, người lại phụ ta ngay...
Nghỉ đời mà ngán cho đời nhỉ,
Tình ái toàn là giả dối thôi...

Trong nhiều bài, tôi còn ví tôi như con cuốc than hè, như con ve sầu khóc hoa, hay như con chim uyên mất bạn...
Nhưng bài thơ mà anh em bạn thích nhất lại là một bài văn dịch mà họ tưởng lầm là nguyên tác của tôi:

Trần thế lòng ta chán sạch rồi,
Chẳng mong chi nữa ở trên đời,
Hỡi ơi lưu vực nơi quê cũ,
Cho trú một ngày đợi chết thôi.

Thực tôi được anh em bạn học kính trọng một cách đặc biệt là nhờ về ái tính thất vọng của tôi cũng có, mà nhờ về những áng thơ sầu cũa tôi cũng chẳng phải không. Như vậy, Thi quả là ân nhân của tôi; vì đã làm cho tôi trở nên người ‘‘hợp thế thái’’ lắm.
Được thể, tôi càng nặn mãi cái lòng chán đời của tôi ra. Có khi ngồi một mình đương vui vẻ, tươi cười, có bạn thân đến chơi, tôi vội sa sầm ngay nét mặt lại. Có khi gặp tiết thu, tôi ngồi hàng giờ ở bờ hồ Tây để cố gọt rũa một bài thơ, khóc mùa thu, khóc trời thu, khóc người tình xưa đến mùa thu không trở lại.
Ấy là sang tháng tám, ứiáng chín ta, tôi cũng gọi tiết thu cho có vẻ nên thơ, chứ thực ra mùa thu nào có gì đâu là sầu, là trời ảm đạm, là mưa phùn mù mịt, là tiếng nhạn kêu sương. Làn không khí vẫn trong trẻo sáng sủa, mà lắm khi về buổi chiều, trời vẫn còn nóng nực như mùa hè vậy.
Nhưng đối với trái tim  ‘‘bị thương’’  của tôi, đối với tâm hồn ‘‘đa tình, đa tứ’’ của tôi, thì mùa thu phải là mùa thu của Lamartine, mùa thu của Đỗ Phủ, Lý Bạch. Tô Đông Pha. Tôi phải tưởng tượng ra một mùa thu na ná như thế.
Song loay hoay nghĩ mãi vẫn không tìm được văn để tả, ‘‘Mùa thu’’ hay “Cái hồ’’. Sau chẳng đừng được, tôi phải
tạm dịch bài thơ Hồ của Lamartine vậy. Trong đó, tôi thích, nhất đoạn:

Này cây, này cỏ, này trời
Này nơi nghỉ mát của người tri âm
Nước còn cuộn, còn ầm tiếng gió,
Cảnh xưa còn, người cũ ở đâu?
Gượng cười, gượng nói càng sâu.
Vắng tri âm có vui đâu bao giờ ?

Tri âm thì hẳn là Thi, Đọc thơ, tôi cảm thấy tôi giận Thi lắm. Thà Thi chết như Elvire, chứ Thi còn sống thì bài  văn dịch của tôi đổ quách. Tôi liền nghĩ đến dịch bài  ‘‘Kỷ Niệm’’ của Musset. Mượn lời tác giả mắng tình nhân và nhiếc móc Thi. Nhưng bài ấy dài mà khó dịch quá. Tôi đành bỏ, và cũng từ đó, tôi bỏ mất cái thứ ngâm nga, than vãn. Rõ tiếc!






   
SINH VIÊN CAO ĐẲNG


Phải, sự chán đời của tôi là giả dối. Nói cho đúng thì có lẽ chính tôi lại bị tôi lừa dối. Vì vẫn có hai cá nhân, hai bản ngã trong một tôi: Cá nhân thành thực, bé nhỏ, ngây thơ, và cá nhân kiểu cách, chứa đầy những sự kiêu sức khoa trương.
 Cái tội số hai che lấp, lấn át hẳn cái tội số một trong những lúc tôi muốn hãnh diện tỏ với anh em rằng tôi là người đã từng nếm vị tân khổ của ái tình và nó bắt tôi phải vờ đeo cái mặt nạ chán đời cho được hợp với chủ nghĩa yếm thế của tôi.
Rồi khi vào học trường Cao đẳng, vì nó, tôi lại bỏ cái mặt nạ ghét đời mà đeo cái mặt nạ yêu đời.
Là vì hoàn cảnh sui nên, sự chán đời của tôi không còn hợp thời nữa. Chung quanh tôi chỉ toàn có những người vui vẻ, tươi cười, đùa bỡn, đằm thắm, tha thiết với đời sống hiện tại. Họ như nồng nàn đem cả tâm hồn ra mà học, mà yêu, mà muốn, mà ao ước dù sự ao ước chỉ vẩn vơ, mơ mộng,
Cố nhiên là tôi bị lôi kéo vào trong cái luồng quan niệm mới về cuộc đời hoạt động của bọn họ, như khúc củi khô bị dòng nước sông chảy cuồn cuộn lôi phăng đi.
Rồi tôi cũng vui vẻ, tươi cười, đùa bỡn đằm thắm, thiết tha với sự sống. So tôi thời ấy với tôi thời còn ở trường Bảo hộ thì thực là hai người, hai tâm hồn khác hẳn nhau. Khi trước là tâm hồn một cậu học trò mà ngày nay là tâm hồn một trang sinh viên Cao đẳng.
Chỉ một cái tên sinh viên Cao đẳng cũng làm cho tôi cao già lên rồi. Chủ nhật cùng anh em ra phố dạo chơi, tôi tưởng như các cặp mắt tò mò nhìn tôi đều lưu ý tới cái danh hiệu Cao đẳng của tôi. Chẳng may cho cô thiếu nữ nào vô tình để mắt vào tôi: Tôi yên trí ngay rằng cô ấy yêu tôi. Nhưng lại may mà tôi luôn luôn nghĩ đến lời thề độc địa của tôi, nên đối với phái phụ nữ, tôi chỉ rửngr rưng như không. Phải, hơi đâu mà yêu họ, rồi như Thi, họ lại tệ bạc với mình.

Song, có điều này, tôi lấy làm một hổ thẹn, một sự thua anh, kém em: Là trong trường Cao đẳng, nhất là trong trường Cao đẳng sư phạm mà tôi đương theo học, mọi người đều khoe khoang có một cô tình nhân ở ngoài phố hay ít ra cũng tỏ cho anh em bạn biết rằng mình đương theo đuổi một cô rất xinh đẹp, rất tình tứ. Thế mà tôi, tôi không có tình nhân, thì phỏng có thể tha thứ được không?
   
 Không, không thể như thế được. Tôi chẳng chịu làm trò và để bạn chế giễu mãi tôi hiền lành như cơn gái.
Song nghĩ đến cuộc dư phiếm của tôi với Thi, tôi lại lo ngại, Tôi không muốn quay về cái thời kỳ ái tình lý tưởng ấy nữa...
Một hôm, vụt có một ý tưởng hay, tôi bỗng bật cười, lên tiếng khiến anh em xúm lại hỏi vặn xem có điều gì thú mà tôi thích chí như thế. Tôi nghiễm nhiên trả lời:
- Thú lắm, các anh ạ, tôi có tình nhân ngộ nghĩnh lắm.
Ngộ nghĩnh nhất là cô tình nhân ấy không xương, không thịt. Muốn tránh cuộc tình duyên lý tưởng thứ hai,
tôi đã quả quyết bắt đầu một cuộc tình duyên tưởng tượng. Quý hồ anh em bạn nhận cho rằng tôi đã làm chủ nhân một trái tim dịu dàng, mềm mại là được rồi.
Phải, cần gì phải yêu cô Lan, cô Liên hay cô Thi mới là yêu. Thì ta cứ yêu ngay một cô vu vơ, bịa đặt ra, cũng chẳng khác gì kia mà. Vả lại biết đâu các anh em bạn ta lại không nói khoác. Họ bảo họ có, ta đã chắc gì họ có, cứ suy lần nầy ta vừa  ‘‘bẫy’’ họ đã bị vào cạm ngay, thì đủ rõ rằng những lời phô trương khó lòng mà tin hẳn được.
Từ đỏ, mỗi hôm tôi phải bỏ phí ra một giờ để mơ mộng hay viết thư cho người tình tưởng tượng cưa tôi. Anh Hoàng Ngọc thì thầm khoe với tôi rằng người yêu của anh là con một bà án và là em một quan huyện.  Tôi cũng cố lấy giọng bí mật mà ngỏ khẽ cho anh hay rằng người tình của tôi là con gái yêu của một quan phủ. Những lời bịa đặt ấy, tôi phải ghi ngay vào một quyển sổ con, sợ nhỡ sau này quên nhãng, tôi nól sai đi chăng, thì còn gì là danh giá của tôi nữa.
Muốn cho tấm ái tình vô hình của tôi được có vẻ hữu hình, tôi đã chẳng quản sự tiêu pha tốn kém. Một buổi chiều chủ nhật tôi trở về trường, trong túi đựng đồng hồ có thò lên một mẩu khăn tay thêu. Thấy anh em tò mò nhìn, tôi vờ ấn vội xuống để giấu cái vật kỷ niệm yêu quí ấy đi, Nhưng chậm quá rồi: Một anh đã sấn vào ôm chặt lấy tôi cho một anh khác lôi cái khăn thêu kia mà hô to lên rằng:
- Đẹp lắm, mà thơm lắm chúng mày ạ.
Một anh hỏi tôi :
- Ai tặng anh đấy ? Hai chữ V.B quặp lấy nhau là Văn với gì nữa thế ?
Tôi kín đáo đáp lại :
- Chẳng là gì cả.
Có ai ngờ đâu rằng câu trả lời của tôi chỉ là một cầu nói thực. Vì thực vậy, người tặng khăn cho tôi chẳng là ai hết, nếu không là một bác thợ thêu mà tôi đã thuê làm. Còn chữ B âu yếm ôm lấy chữ V thì giá bác phó có tinh nghịch thay phăng ngay X, Y hay Z  vào cũng chẳng làm cho nó sai nghĩa đi mấy tí.
Thế là sự trí trá khôn khéo của tôi đã đặt tôi ngang hàng với anh em    bạn trường Cao Đẳng, trừ ra họ trí trá khôn khéo và cũng mừng thầm rằng được đứng ngang hàng với tôi về đường tình ái! Điều đó thực khó lòng mà biết chắc được.
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 24.03.2020 17:18:47 bởi Thanh Vân>
LỜI THỀ CÒN ĐÓ TRƠ TRƠ

 
Cuộc tình duyên tưởng tượng của tôi giòng giã được hai tháng thì lại một sự tức cười nữa xảy ra. Chắc có ngài đã lẩm bẩm : ‘‘Đến lắm sự xảy ra: Thế mà anh ta bảo đời anh ta phẳng lỳ như cảnh, bùn lầy nước đọng. Còn như có tức cười hay không thì chưa chắc vì từ đầu chuyện đến đây, ta không thấy một  mảy may tức cười nào, tuy anh ta luôn luôn khoe khoang như vậy !’’

Vâng. Mà có lẽ thực. Nói tức cười - cũng hơi quá. Họa chăng có vẻ khôi hài một chút.
Nhưng dù nó đáng tức cười hay nó chỉ có vẻ khôi hài cũng không quan hệ gì lắm, quý hồ nó có xảy ra là đủ rồi.
Mà nó có xảy ra, xảy ra ở dưới ánh sáng mặt trời chứ không phải ở trong trí tưởng tượng nữa.
Hôm chủ nhật ấy, cũng như mọi chủ nhật khác, vừa ở trường ra, tôi đã cùng mấy anh em bạn vào lượn chơi trong hiệu Gô-đa tuy chẳng bao giờ tôi chịu mua một vật gì. Cuộc du hành của chúng tôi có hai mục đích: mục đích thứ nhất là đi ngắm nghía cho thích mắt những đồ hàng đẹp đẽ mà chúng tôi không có tiền mua.

Còn mục đích thứ hai mà chúng tôi không ai thú với ai, là nhìn các cô thiếu nữ đi mua hàng. Trong bọn chúng tôi, có nhiều người tự hào cho rằng, trái ngược lại, đó chính là mục-đích của các cô kia vào Gô- đa để chấm lấy ý trung-nhân trong sinh viên Cao đẳng, thứ hàng cao giá của các cô. Nhưng tôi vẫn ngờ lắm. Tính tôi hay rất ngờ, nhất là từ ngày tôi được làm quen với tấm ái tình trong trẻo của cô Thi. Tôi cho rằng cái chức ‘‘sinh viên Cao đẳng’’ không làm siêu nổi lòng các cô, cũng như cái học vấn mênh mông của tôi cũng không thể giữ nổi trái tim cô bạn gái.

Song ngờ thì ngờ, tôi vẫn phải tỏ cho anh em bạn biết tôi cũng như bọn họ ; cũng tin  rằng chúng tôi là những cái đích để cho cặp mắt sắc sảo kia bắn trúng. Hơn nữa, tôi cũng lắm ra bộ theo đuổi một cô mà tôi vờ quyến luyến. Là sinh viên trường Cao đẳng mà không liếc gái, không táo tợn đối với phái đẹp thì anh em sẽ liệt mình vào hạng ‘‘mọi rợ’’ ngay. Mà tôi xin thú thực cái tính tự cao của tôi chẳng muốn để tôi bị liệt vào hạng ‘‘mọi rợ’’ một tí nào.

Cái cô được hân hạnh lọt vào con mắt giả dối của tôi buổi sáng hôm ấy, sự tình cờ run rủi lại con một quan phủ, khiến anh Hoàng Ngọc yên trí ngay rằng cô là người yêu của tôi, tuy tên cô ta bắt đầu bằng chữ T một chữ cái ở sau chữ B những gần 20 bậc. Song anh Ngọc nhất định cho chữ B là mỹ tự của cô T.

Lúc bấy giờ cô T đang đứng chọn đồng hồ đeo tay. Tôi ngả mũ chào, vì tôi có cùng người bạn anh cô đến chơi nhà cô một lần. Cô lạnh lùng đáp lễ Đáng lẽ tôi nên hiểu mà lảng ngay đi mới phải. Nhưng không, sự ngây thơ, dại dột của tôi xui tôi đứng gần đấy mà dõng dạc bảo người bán hàng lấy cho xem một cái đồng hồ đeo tay xinh xắn giá năm trăm quan. Tôi tấm tắc khen đẹp và ngỏ ý mnốn mua, tuy trong túi không có một xu nhỏ. Anh Ngọc vớ ngay được một dịp tốt để thử khoa tâm lý;  anh đăm đăm nhìn cô T cất tiếng hỏi tôi:

- Anh mua để tặng cô B. phải không?

- Khô... ng.

Tỏi trả lời một cách kín đáo, bí mật. Cô T ý chừng hiểu, vì cô nguýt dài chúng tôi một cái, rồi nhẹ nhàng rời đi nơi khác. Khoa tâm lý của anh Hoàng Ngọc cho đó là một sự giấu giếm vụng về của một cô mới biết yêu và càng chắc chắn rằng cô T với B cùng là một người, nhất là khi khoa tâm lý ấy lại thấy tôi chỉ đáp lại bằng cái mỉm cười vơ vẩn.

Nhưng T với B quả là hai người. Mà, - một sự ngẫu nhiên gớm ghê -  B tôi tưởng tượng ra lại có thực : cô Bảo. Kể thì chẳng thiếu gì tên bằng chữ B, sự đó có chi lạ. Song có ai dám ngờ rằng cô B ấy lại dính líu cùng tôi một cuộc tình duyên thứ hai thê thảm gấp mấy cuộc tình duyên thứ nhất. Có lẽ tâm linh báo cho tôi biết trước nên tôi tưởng tới tên người tương lai sắp sửa làm cho tôi ê chề khổ sở chăng?

Sau này tôi mới hiểu là đời không có sự gì ngẫu nhiên hết. Rồi độc giả sẽ hiểu như tôi.

Gần mười giờ, tôi về nhà cô tôi để ăn cơm sáng.

Tôi lên gác và vừa mở cửa sổ nhìn ra ngoài, thì ở một cái gác đối diện nhà cô tôi, một người thiếu nữ đương tỳ tay trên bạo cửa đăm đăm trông sang, như ngồi đó mà chờ đợi ai.

Lần này không phải là lần đầu tiên tôi gặp cô ta, nhưng là lần đầu tôi lưu ý đến cô ta. Mọi khi, đối với tôi cô ta chỉ là một người… một người khách qua đường, không tên không tuổi mà cuộc tình duyên khốn nạn luôn luôn thì thầm khuyên tôi đừng dính líu tới.

 

Nhưng hôm nay, chẳng biết sao, lòng tôi bồng bột muốn yêu. Có lẽ đó cũng là một sự giả dối. Có lẽ ngày hôm nay, qua một người bạn đã dám ngờ vực rằng cô B chỉ là một tên tôi bịa đặt ra, nên nay chợt trông thấy thiếu nữ kia, tôi lờ mờ nghĩ ngay tới một sự khôn khéo đã cứu vãn lấy tấm danh dự đương lung lay. Phải, nhận được một bức thư của cô kia giữ làm bằng chứng, rồi tuyệt giao với cô ta, như thế thật là tiện lợi và giản dị. Nhưng có được cái bằng chứng ấy, kể cũng khó khăn vất vả.

 Tôi đương loay hoay với ý tưởng bất chánh ấy thì hình như cô kia đọc được trong tâm hồn tôi, gật đầu và mỉm một nụ cười tình. Tôi giật mình kinh ngạc. Tôi không ngờ đâu sự nguyện vọng của tôi lại được thực hiện chóng đến như thế, khiến tôi không khỏi lo sợ, mơ màng tưởng tới buổi gặp gỡ dễ dàng ở cửa trường hàng Cót …

May sao chỉ có thế, mới chỉ có một nụ cười vơ vẩn, thì cô thiếu nữ như nghe tiếng gọi, vội vàng quay vào trong nhà. Chờ một lát không thấy cô ta ra, tôi đành xuống nhà ăn cơm.


Buổi chiều, lúc tôi vào trường, đi qua nhà cô láng giềng. Liếc trông vào hàng, tôi vẫn thấy cái nụ cười ban sáng nở trên cặp môi đậm đà và âu yếm, làm cho trí tôi không thể nào quên ngay được nó, phải đem theo nó cùng vào trường Cao Đẳng.
Rồi mấy hôm sau, tôi sinh ra băn khoăn mơ mộng như bị cái nụ cười kia ám ảnh.
Bốn hôm sau, một buổi chiều thứ năm, nhằm vào cuộc nói chuyện của ông Monet ở nhà hội quán Việt Nam Thanh Niên. Tôi cùng mấy anh em trường Cao đẳng sư phạm đến dự thính.
Gần giờ khai diễn tôi bỗng để ý tới một cô thiếu nữ đi lại trước mặt tôi đến ba, bốn lượt và băn khoăn như muốn tìm một chỗ ngồi. Tôi liền đứng dậy lễ phép xin cô ta chiếu cố tạm nhận cái ghế, mà ‘‘tôi có hân hạnh được kính dâng cô’’. Cố nhiên là tôi nói tiếng Pháp để khoe cái giọng tây  ‘‘không dấu’’ của tôi. Vả tôi tưởng đối với một cô tân tiến đến nghe một bài diễn văn tiếng Pháp mà đem tiếng mẹ đẻ ra. nói với thì không khỏi, cô ta cho mình là khiếm lễ.
Nhưng tôi kinh ngạc xiết bao, khi cô ta ngồi xuống ghế, ngước mắt cảm ơn tôi bằng một nụ cười cái nụ cười tươi tắn đóng khung trong khuôn cửa sổ bữa nọ. Thì ra cô ta là cô láng giềng ở phố Vải thâm.
Tôi loay hoay tự hỏi: Cô ta đến đây làm cái gì?... Hay lại... Sự nhún nhường, bẽn lẽn không dám cho phép tôi nghĩ trọn câu, vì nó sợ tôi lễn quá mà tưởng rằng cô ta đến đó chỉ vì ‘‘cặp mắt xinh đẹp của tôi’’.   
Dẫu sao, tôi cũng không tránh khỏi sự ngượng nghịu vì trong khi ông Monet nói chuyện, hình như cô thính giả để ý đến tôi hơn là. đến bài văn của diễn giả.
Biết đâu chẳng phải lòng tự ái của tôi tưởng tượng ra điều đó. Tôi tự an ủi như thế, là vì không biết sao lúc bấy giờ tôi lại chợt nghĩ đến Thi với cuộc tình duyên khốn nạn của tôi năm xưa. Rồi nhớ lại lời thề của tôi, lời thề không yêu ai nữa.
Tôi đương vờ chú ý lắng hết tinh thần nghe bài diễn thuyết, cốt để tránh luồng hào quang của đôi mắt thôi miên sáng quắc thì tiếng vỗ tay đôm đốp làm tôi giật mình tỉnh giấc mơ màng. Tôi ngơ ngẩn hỏi anh Ngọc đứng bên cạnh:
- Hết rồi à ?
- Hình như thế.
Anh khúc khích cười rồi bấm tôi trỏ phía hàng ghế trước mặt mà thì thầm:
- ... Của anh đấy à?.
- Anh nói cái gì, tôi không hiểu.
Nhưng một sự ngẫu nhiên (cũng như sự ngẫu nhiên ở cửa trường hàng Cót), làm tôi hiểu ngay.
Cô thính giả xinh đẹp đi lại chỗ tôi đứng và hỏi tôi một cách rất thản nhiên:
- Ông ấy nói những gì thế, thưa ông?
- Ông có thể giảng nghĩa qua cho em hiểu với không?
May sao anh Hoàng Ngọc, bạn tâm lý học của tôi cứu giúp tôi ra khỏi được sự khó khăn. Anh mỉm một nụ cười rất tươi mà trả lời rằng:
- Thưa cô, diễn gia nói chuyện về nơi tụ họp của anh em thanh niên Đông Dương.
- Ồ, thế thì chắc hay lắm nhỉ?
Tôi lấy làm bực mình quá, vì bao nhiêu mắt đổ dồn cả vào chỗ chúng tôi đứng. Cáu tiết tôi hỏi sõng:
- Thưa cô, vậy ra cô không hiểu tiếng Pháp?
Cô kia chẳng chút thẹn thùng, ngượng nghịu, trả lời vắn tắt:
- Không.
Tôi toan nói một câu mai mỉa, đại khái: ‘‘Vậy cô đến. đây làm cái trò gì ?’’. Nhưng tính nhút nhát và dễ cáu kỉnh của tôi làm cho tôi chỉ nóng rát mặt lên mà đứng tắc tị như một con cá chép. May sao cô kia lại tiếp luôn:
- Em cứ tưởng ông đốc diễn thuyết bằng tiếng ta.
Anh Ngọc đáp:
- Cô lầm rồi. Thứ năm sau, ông Trần Trọng Kim mới nói chuyện bằng tiếng Việt Nam.
- À ra thế. Vậy thứ năm sau tôi lại đến vậy.
Rồi cô mỉm cười chào chúng tôi.
  
Tôi thoát nạn, trong lòng mừng thầm và tự hỏi ‘‘Có lẽ chủ nhật và thứ năm mình không dám về nhà nữa chăng?.
 
 
 
 
CÔ BẢO
Tôi ra tới đường, khoan khoái dễ thở, nhất là đưa mắt ngó tứ phía lại không thấy bóng người thiếu nữ đâu nữa.
Trước khi trở về trường, tôi chia tay cùng anh Ngọc, nói xuống phố có chút việc, kỳ thực tôi chỉ cốt để anh Ngọc ngờ rằng tôi đến nơi hẹn hò nói chuyện với tình nhân. Quả nhiên anh ngờ thực, liếc mắt nháy tôi và thì thầm:
- Đi tìm cô ả ban nãy phải không?
Tôi bắt tay không nói gì, khiến anh Ngọc càng thêm, ngờ vực. Rồi tôi lên xe trỏ phía trước mặt bảo kéo, vì tôi cũng chẳng định đi đâu, quí hồ lượn vài vòng để về trường có thể khoe khoang đi với bạn tình là được rồi.
Qua phố Hàng Bồ, tôi bảo anh xe đỗ lại, vào một hiệu khách mua gói thuốc lá. Tôi đương trả tiền bỗng thấy động ở túi đồng hồ. Tôi quay lại: Cô thính giả ban nãy đã cầm chiếc khăn thêu của tôi và nhoẻn miệng cười hỏi một cách ỡm ờ:
- Ai tặng anh thế?
Nhẩm đọc hai chữ, cô ta nỏi tiếp:
- Cô V…hay cô B… hay cô A… tôi biết rồi. Cô B. vì tên anh là Văn.
Cô ta lại rủ tôi đi chơi, nhưng tôi quả quyết từ chối nói phải về trường ngay để ăn cơm chiều.
- Cũng được. Vậy anh cho em cái khăn này nhé?
Cô vừa nói vừa dúi vào tay tôi một cái phong bì. Tôi ấn vội bức thư vào túi, rồi ngả đầu chào, hấp tấp ra xe. Nhưng cô ta đã chịu buông tha đâu, còn theo ra đường xoắn suýt hỏi:
- B… là ai thế anh?
Tôi trả lời vơ vẩn mãi không xong, đành đem chuyện thực ra kể qua cho cô nghe. Cô ta cười khanh khách, chẳng biết đó là cái cười vui thú hay cái cười chế nhạo.
Tôi tưởng thế là thoát nạn. Nhưng tôi lầm. Cô kia nhất định tiễn tôi ra đến tận xe mà thì thầm bảo cho tôi, biết rằng tôi với cô thực có duyên tiền định, vì tên cô là Bảo, nghĩa là cô biệt hiệu B. thêu trong chiếc khăn.
Tôi tin cô lắm. Mà tôi không tin sao được?
Tối hôm ấy, dưới ánh đèn điện trong giờ học tối, tôi mở bức thư của cô Bảo ra đọc cố nhiên là tôi không giấu nổi anh Ngọc. Và tôi cũng không có ý giấu anh ở trong Cao đẳng nhận được thư tình vẫn là một cái danh dự thèm muốn.
Bức thư ấy dài lắm, không tiện chép ra đây, chỉ xin độc giả biết cho rằng tác giả nó là một cô rất thơ mộng, rất lãng mạn và rất có tài thêu dệt những câu cẩm tú, vừa kêu vừa đẹp (vì chữ cô Bảo đẹp lắm)
Tôi phục lăn, mà anh Ngọc, tuy không bình phẩm, nhưng tôi chắc cũng phải tấm tắc khen thầm, vì có đoạn tả cái sầu man mác trong lòng anh đọc đi đọc lại đến ba lần.
Cuối thư, tác giả không ký tên (Trong những thư sau, người tình của tôi mới chịu ló cái tên Bảo ra). Chỉ thấy biên thêm những giòng chữ nhỏ:
“Bức thư này em viết trong một đêm đông, ngồi than thầm với bóng, trước ngọn đèn ủ rũ buồn tênh. Đã mấy lần em định gửi cho anh, nhưng đều không có dịp may mắn. Em đợi chiều mai anh đến nghe diễn thuyết ở nhà hội quán thanh niên (vì em chắc thế nào anh cũng đến), em sẽ trao cho anh cùng một lúc với trái tim đau đớn của em”.
Tôi sung sướng, không phải sung sướng vì tấm ái tình mới mẻ kia mà tôi đã bắt đầu ghê sợ, nhưng mà sung sướng được anh em ca tụng là một tay có tài về khoa tán gái. Thực ra khoa tán gái của tôi thì họa chăng chỉ có cô Thi, và tôi biết được chắc chắn nó cao đến bực nào. Song được anh em khen ngợi thì can chi mà chẳng nhận. Có ngờ đâu hãnh diện một lúc mà sau mang khổ một đời.
Anh Ngọc giục tôi trả lời ngay bức thư, nhưng tôi tỏ ý muốn tuyệt giao với Bảo (kỳ thực đã giao bao giờ đâu mà tuyệt giao). Anh khuyên tôi không nên thế. Tôi liền đem chuyện tình riêng khốn nạn cùng Thi thuật lại cho anh nghe và tôi không quên ôn lại cả câu thề độc địa của tôi. Anh Ngọc liền bảo tôi:
- Anh tưởng tuyệt giao mà tránh được sự phiền muộn à? Thực anh không có một chút kinh nghiệm gì về ái tình, Anh phải biết người con gái kia yêu anh, mà bị anh ruồng rẫy hay không lưu ý tới sẽ trả thù anh một cách xứng đáng, sẽ bịa đặt ra chuyện nọ chuyện kia để hại anh, Chi bằng dù chẳng thích mặc lòng, anh cứ vờ làm ra mặt ưng thuận rồi nhạt dần thì hơn. Như thế, mình không mất lòng mà mình cũng chẳng thiệt gì.
Tôi tấm tắc thần phục khoa tâm lý phụ nữ của anh Ngọc rồi tôi nhờ anh thảo giúp cho bức trả lời, vì tôi thú thật với anh rằng lời văn “xích độc” của tôi rất kém Anh cũng chẳng nề hà, nhận lời giúp tôi ngay. Sáng hôm sau, anh trao cho tôi một bức thư dài tới bốn trang đặc. Tôi toan cứ thế bỏ phong bì gửi cho cô Bảo nhưng anh Ngọc ngăn cản bảo tôi phải chép lại cẩn thận đã, Anh gật gù tự khen:
- Bức thư này thì phải biết!
Rồi anh đọc cho tôi nghe một lượt. Quả thực tôi thấy lời văn có thể so sánh được với văn cô Bảo, cũng mơ mộng, cũng bóng bẩy rất nên thơ.
Nhưng còn phải chép lại. Tôi rất ngại điều đó, nhất là chữ tôi lại xấu lắm, nghệch ngoạc như gà bới vậy. Tôi liền nói khéo với anh Trấn (ngày nay anh làm quan ở hạt Nghệ An) và nhờ anh viết giúp.
Cố nhiên là tôi mong câu chuyện đến đó kết liễu.
Nhưng không, nó còn dây dưa hàng tháng, hàng năm, và làm cho tôi tủi nhục đến tận ngày nay không mở mặt mở mày được.
Chiều hôm ấy, lúc sắp ăn cơm, người coi cổng đến tìm tôi, nói có một cô chờ tôi ở cổng trường để hỏi một việc rất cần. Tôi cuống quýt lo sợ, vì tôi đoán ra ngay là cô thính giả ở phố Hàng Vải thâm.
Quả không sai, cảm lời tình tứ trong thư cô vội vã đến thăm tôi, để tỏ nỗi yêu đương đằm thắm. Tôi cố giữ nét mặt vui tươi mà nghe cô than thở niềm riêng, vì nhớ lời anh Ngọc dặn, tôi chẳng dám làm phật lòng cô.
Từ đó, cách vài hôm, cô Bảo lại đến trường, khi mang cho hoa quả khi mang cho bánh trái, mang cho khăn thêu và áo gối. Anh em bạn thân cũng mừng rằng tôi có một người tình rộng rãi, và mỗi lần thấy bóng cô ả ở cổng trường các anh ấy lại bấm tôi:
- Kia, chị mày mang quà đến cho mày kia!
Về phần tôi thì thỉnh thoảng tôi cũng có trả lời những bức thư nồng nàn của cô Bảo, nghĩa là tôi nhờ anh Ngọc ráp hộ và anh Trấn chép giùm.
Cuộc tình duyên cách bức của chúng tôi thấm thoát đã được ba, bốn tháng, bỗng một hôm, cô tôi bắt gặp tôi ngồi ở cửa sổ trên gác nói chuyện bằng điệu bộ với cô láng giềng. Cô tôi im lặng làm ngơ, nhưng chờ khi ăn cơm xong, gọi tôi vào trong nhà, ôn tồn bảo tôi:
- Cháu phải lòng con bé trước cửa đấy à?
Tôi thẹn thùng không. Cô tôi chau mày nói tiếp:
- Chết, không nên, cháu ạ! Người ta có chồng, sao cháu lại thế?
Tôi sửng sốt trả lời:
- Chắc cô lầm đấy. Tên cô là Bảo kia mà.
Cô tôi gắt:
- Làm gì có cô Bảo cô biếc nào ở cái nhà ấy. Con Nhung đấy. Chồng nó học ở trường con tây, cô còn lạ gì. Vậy cháu thôi đi nhé, chẳng thiếu gì con gái đẹp. Cháu không nên dính dáng vào đám này, mà mang tai, mang tiếng chết. Cô xem ra nó lẳng lơ, đong đưa lắm đấỵ. Cháu phải liệu hồn, mà xa lánh nó ra.
Tôi nghe lời cô tôi nói, choáng váng tê mê cả người. Thì ra ngoài thiếu nữ kia dám đội cái tên Bảo vu vơ để lừa dối minh. Tôi quả quyết tuyệt giao. Tôi thề với tôi như thế (thề lần thứ ba rồi đấy) Rồi cơm sáng vừa xong, tôi lẩn thẩn vào trường.
Buổi chiều, khi người canh cổng mỉm cười và bảo tôi có cô mọi ngày hỏi thăm, tôi không tiếp, dặn người canh cổng ra nói tôi ốm. Anh Ngọc và anh Trấn kinh ngạc hỏi tôi vì duyên cớ gì, tôi lại vội vàng tuyệt tình nhự vậy. Tôi đem lời cô tôi thuật lại cho hai anh nghe và nói tôi đã quả quyết tuyệt giao. Hai anh vừa ngợi khen tôi, vừa tỏ ý khinh bỉ con người gió trăng bậy bạ.
Luôn ba hôm, cô ả đến thăm tôi, luôn ba hôm, tôi không ra tiếp. Hôm thứ tư, tôi nhận được một bức thư của cô ta, lờì lẽ thống thiết bi ai. Cô ta than phiền, oán trách người chồng ngu xuẩn của cô ta, mà cô ta cam đoan với tôi rằng thế nào cô ta cũng bỏ.
Tôi lo lắng đưa bức thư cho Ngọc xem và hỏi anh phải đối phó ra sao.
Anh ngẫm nghĩ một lúc rồi viết bức thư phúc đáp, lời lẽ trang nghiêm và đầy những ý tưởng luân lý và triết lý, để khuyên người thiếu phụ kia một lòng đoan chính với chồng.
Hôm sau, bức thư của cô ả càng sầu thảm hơn. Trong thư, cô ta lại dọa tôi nếu chín giờ tối hôm đó, tôi còn lánh mặt cô ta nữa thì cô sẽ đâm đầu xuống hồ Gươm tự tử, trách nhiệm nặng nề sau này tôi phải gánh lấy,
Chẳng dừng được, anh Ngọc phải khuyên tôi tiếp cô ả một lần cuối cùng.
Buổi tối hôm ấy, tôi còn nhớ là một buổi tối mùa đông mưa phùn gió lạnh. Tôi đứng chờ ở bên hàng rào sắt. Anh Ngọc và anh Trấn ngồi xổm dưới đất, ẩn núp ở sau bức tường giậu, vì hai anh sợ tôi do dự, trù trừ không nỡ rứt tình, nên ngồi đó để đợi chứng thực cuộc hội kiến tối hậu của chúng tôi.
Trong cái màn mưa bay, tha thướt ánh sáng lờ mờ cây đèn điện đứng sững bên vệ đường, một cái xe cao su sấn tới. Xe đỗ. Người thiếu phụ mà tôi đã tưởng lầm là cô Bảo, vội vàng mở áo tơi xe bước ra,
Gặp mặt tôi, cô ả mừng rỡ, đưa cho tôi một gói rất lớn Tôi xua tay từ chối. Ở dưới chân tôi, anh Ngọc kéo ống quần tôi thì thầm:
- Phải quả quyết!
Thì tôi vẫn quả quyết. Nhưng người thiếu phụ thấy tôi lạnh lùng thản nhiên liền nức nở khóc, khiến tôi e rằng tôi sẽ làm trò cười cho khách qua đường Tôi chau mày gắt:
- Bà về ngay đi, tôi không thể nói chuyện với bà được nữa. Chồng bà mà biết thì khổ cả cho bà lẫn tôi.
Nghe xong, người kia càng khóc to, rồi thổn thức bảo tôi:
- Em cần gì nó biết…. vì em đã nhất định bỏ nó rồi kia mà.
Nặng không xong, tôi quay ra nhẹ, tìm lời dỗ dành an ủi, khuyên can, và tôi nói thêm rằng nếu cô ta không đến trường thăm tôi nữa, để cho tôi được tĩnh tâm theo đuổi sự học thì tức là cô làm ơn cho tôi nhiều lắm. Còn cái gói to mà nặng cô biếu tôi thì tôi ôn tồn gửi lại cô. Tôi cũng chẳng biết trong gói có những gì, nhưng dù đó là vật nhỏ mọn đến đâu chăng nữa, lương tâm tôi cũng vẫn ngăn cản tôi không cho tôi nhận, vì nó đã biết người kia là gái có chồng.
Thế rồi người đàn bà khốn khổ gạt nước mắt từ biệt tôi.
 
 
 
 
 
SANG PHÁP
 
Bắt đầu từ đó, tôi ăn không ngon, ngủ không yên luôn luôn bị lương tâm cắn rứt Kể thì tội tôi cũng không to gì cho lắm vì nào tôi có biết đâu rằng người ta có chồng. Hơn nữa, nào tôi đã “chỉ non thề biển” gì với người ta cho cam. Chẳng qua chỉ vì quá hãnh diện với anh em trong phút chốc, mà tôi đã chuốc cái vạ tầy đình vào thân.
Cố nhiên là những ngày chủ nhật và thứ năm, tôi không dám ra nhà cô tôi nữa. Cho cả đến hiệu Gô-đa tôi cũng không dám bén mảng tới, vì tôi chắc rằng đến đó thế nào cũng gặp mặt người thiếu phụ.
Nhưng tôi giữ gìn bao nhiêu, “người ta” càng táo bạo bấy nhiêu. Hình như “người ta” không coi dư luận vào đâu nữa. Chẳng thế mà biết bao lần, những hôm chủ nhật và thứ năm, vừa thò đầu ra cổng trường định đi chơi phố, tôi đã thoáng thấy bóng người đàn bà đứng nhìn tôi sau một gốc cây lớn ở vệ đường bên kia. Nhiều khi anh em bạn lại làm cho tôi thêm cuống quýt hổ thẹn, vì họ kêu la inh ỏi cái câu độc địa:
“Kìa… Chị thằng Văn đã đến đón no& kia rồi!”
Thực nếu ở cái đời người này mà có thể gọi được là một sự khốn nạn, khổ sở, đau đớn thì cuộc tình duyên “khôi hài” của tôi với người đàn bà có chồng ở phố Vải thâm là một: nhất là từ hôm sự bí mật đã nổ bung ra vì những lời bẽo lẻo của mấy người bạn. Rồi chẳng bao lâu, cả trường Cao đẳng đều biết rằng tôi phải lòng một người đàn bà có chồng. Họ khen ngợi khoa chim gái của tôi, coi tôi như một chàng Don Juan, Họ mỉa mai khinh bỉ tôi, liệt tôi vào hàng công tử bột đê hèn. Thôi, chẳng còn ai là không biết tên tôi, Có kẻ thấy tôi hiền lành bẽn lẽn (mà tôi hiền lành, bẽn lẽn thực) thì cho ngay là tôi khéo đóng vai nhu mì trong hạng giả đạo đức. Nói tóm lại, họ cho tôi là một người kỳ dị, bí mật rất nên xa lánh.
Cái “đại danh” của tôi từ trường lan ra phố rất mau. Không đâu là không biết đến, là không bàn đến chuyện một cậu Cao đẳng chim vợ người. Rồi cái tin kia dần dần sai lạc đi, vì người ta thêm thắt bịa đặt mãi ra. Sau cùng, câu chuyện ngã ra thế này: Một sinh viên Cao đẳng tên là Văn chim vợ một người bạn rất thân, thường mời anh kia về nhà chơi bời ăn uống.
Tôi lặng lẽ chịu những lời hình phạt. Đó là bởi cái tính nhút nhát, thẹn thùng tự nhiên của tôi. Nhưng người ta không cho là thế, người ta lại bảo: Yên lặng là thú nhận.
Thế rồi… sau hết cả mọi người, anh chồng khốn nạn, khốn nạn như anh tình nhân khốn nạn này, biết tin có vợ ngoại tình. Sự bất hòa trong gia đình tất sao chẳng có.
Hôm nghỉ tết, tôi lén ra nhà cô tôi trước khi về Thanh, thì kinh hãi xiết bao, tôi được tin người thiếu phụ trước cửa đã bỏ nhà đi trốn, mang theo một số tiền hơn bảy trăm bạc.
Hẳn là tôi không buồn phiền như khi xưa được tin Thi theo trai. Nhưng tôi lại lo sợ nếu người ta ngờ diệt cho tôi quyến rũ người đàn bà dại dột kia thì danh giá tôi còn ra chi.
Tôi mang theo cái ý tưởng hoài nghi ấy về tận đến Thanh (tỉnh Thanh là quê tôi, và khi ấy, đã trí sĩ, cha mẹ tôi về ở đấy) Cha mẹ tôi vui mừng gặp con. Tôi đem việc học hành ra trình bày. Lòng tôi vui vẻ, hớn hở vì cái không khí quê hương nhắc tôi nhớ tới bao nhiêu kỷ niệm buổi ngây thơ, và làm tôi quên hẳn được những sự nhỏ nhen, bẩn thỉu mà người ta muốn rẩy vào người tôi.
Nhưng sự vui hão huyền, không cỗi rễ của tôi chẳng được bao lâu đã mất. Sáng hôm sau, nhân hỏi thăm cô tôi, cha tôi lại nói chuyện đến những người quen biết ở Hà Nội, nhất là ở hai phố Vải thâm, Phúc Kiến, nơi mà cha tôi có nhiều người quen biết thường mời đến nhà đánh tổ tôm, khi cha tôi ra chơi Hà thành:
- Con có biết ông tham  V … ở phố Phúc Kiến không?
- Bẩm, không.
- Hôm qua, con gái ông ta đến chơi, nói có biết cô con và con. Chẳng hiểu nó về Thanh làm gì thuê cái nhà rộng rãi ở ngay trước cửa nhà ta.
- Bẩm, thế à? Nhưng con bận học quanh năm trong trường, có mấy khi ra phố mà quen ông tham nào đâu.
Mẹ tôi nói:
- Có lẽ nó lầm.
Nhưng, quả thực “nó” không lầm. Vì ngay lúc ấy, “nó” đã dẫn thân đến ngay trước mặt cha mẹ tôi, khiến tôi suýt nữa chết ngất. “Nó” nào phải ai xa lạ, chính là người đàn bà có chồng ở phố Vải thâm. Thì ra cha mẹ tôi không biết rằng “nó” đã “xuất giá tòng phu” mà vẫn tưởng “nó” còn là con gâi “quý tử” của ông tham Phúc Kiến.
Tôi cố nén lòng căm tức, ngồi hầu cho hết câu chuyện, rồi khi cô ả trở về, tôi chạy một mạch đến nhà bưu chính, đánh luôn một bức điện tín nặc danh cho chồng cô ả biết rằng cô ta hiện nay ẩn núp ở Thanh Hóa! Tôi chỉ sợ cô ta nấn ná ở đây thì ba ngày Tết trở nên ba ngày địa ngục cho tôi.
Quả nhiên tối hôm ấy, bên nhà trước cửa có tiếng cãi cọ, rồi sáng hôm sau, sáng hôm ba mươi Tết, tôi thấy cái nhà ấy vắng ngắt bóng người. Ý chừng, anh chồng đã đến lôi chị vợ về Hà Nội.
Nhưng sáng mồng hai Tết, tôi nhận được một bức thư ở Huế gửi ra. Tôi lo ngại ngắm nghía phong bì, vì tôi không quen biết ai ở Huế hết, mà chữ viết ngoài bì thì hình như quen quen… Thôi chết, hay là…
Tôi vừa ngần ngừ vừa xé phong bì ra thì quả thực đó là thư của cô Bảo (Tôi nói thế là vì dưới thư có ký: em Bảo của anh). Trong thư, người đàn bà lãng mạn cho tôi biết rằng người ấy hiện ở Huế, trong một gia đình quý phái và nóng lòng đón tôi để cùng nhau hưởng hạnh phúc ái tình,
Cố nhiên tôi không trả lời, và hết ba ngày Tết, tôi vội xin phép cha mẹ ra ngay Hà Nội, nói để học cho kịp kỳ thi lên lớp. Cha mẹ tôi tấm tắc khen ngợi tôi rồi để cho tôi đi, nào có ngờ đâu rằng tôi trốn một người tình bất đắc dĩ.
Nửa tháng sau, vô tình, tôi ôn lại một lần nữa cái cảnh hội kiến khôi hài, mà lần này cũng vào quá chín giờ tối như lần trước. Dưới màn mưa tầm tã, người đàn bà đứng nhí nhảnh nói chuyện, dẫu tôi nhất định không nghe, nằng nặc đuổi người ta về, Nhưng tuy tôi nói không nghe, mà vẫn nghe, tuy tôi biết người ta khổ sờ vì nỗi bị chồng và nhà chồng khinh bỉ.
Rồi người đàn bà lại như lần trước, đưa cho tôi một gói rất to, nói là nhà tôi ở Thanh gửi ra cho tôi. Tôi không nhận, vì tôi biết đích rằng người ấy nói dối. Tôi vừa tiếp được bức thư cha tôi gửi ra mắng nhiếc tôi và bắt tôi phải cự tuyệt ngay lập tức. (Về sau tôi mới biết rằng người chồng cô ả vào Thanh mách cha mẹ tôi)
Đêm hôm ấy, tôi không nhắm mắt, suốt sáng loay hoay với những tư tưởng hắc ám.
Vì lúc từ biệt tôi, người thiếu nữ nói với tôi một câu rất tối nghĩa ghê gớm, mà có lẽ suốt đời tôi, tôi không bao giờ quên:
- Được! Anh là một người rất đáng khinh. Bây giờ giá anh lạy van tôi để tôi yêu anh, tôi cũng không thèm nhìn mặt anh nữa vì anh là một người khốn nạn có những tính tình khốn nạn, trái ngược với lời thành thực viết trong những bức thư nồng nàn mà anh gửi cho tôi. Bây giờ vì anh, tôi đã trở nên một người đàn bà hết hy vọng thì tôi cũng chẳng nên sống trên đời này nữa.
Dứt lời, người đàn bà lên xe đi thẳng. Mưa vẫn tầm tã rơi trên đường đá loang loáng ánh đèn điện, Tôi quay vào lớp học, ngồi bưng mặt khóc.
Tôi khóc, không phải tiếc cuộc tình duyên đoạn tuyệt vì tôi có tình duyên gì với người thiếu phụ. Tôi khóc, không phải vì tôi tự khinh bỉ tôi. Tôi chẳng làm gì đáng tự khỉnh bỉ tôi. Tôi chẳng làm gì đáng khinh bỉ: Lời thành thực giả dối trong những bức thư nồng nàn kia nào tôi có viết ra đâu, mà có khi tôi cũng không đọc tới nữa. Tôi khóc, chỉ vì tôi thương cho số phận tôi gặp toàn những sự chẳng may.
Anh em bạn xúm lại an ủi tôi bằng những lời bông đùa làm cho tôi bật buồn cười rồi tôi cười mãi mà nhớ đến lá số tử vi của tôi, nhớ đến câu lập thành về cung thê thiếp của tôi: “Nhất, Đồng nhiều vợ mà hiền”.
Nhưng tôi im bặt tiếng cười, khi nghe anh Trấn dọa rằng chuyến này tôi đến ngồi tù, vì một là người đàn bà kia đi tự tử, hai là người ấy sẽ bị phu xe bóc lột và giết chết. (Cách mấy hôm trước, ở vườn Bách thú, cũng vào quãng chín, mười giờ tối, vừa xảy ra một cái án mạng như thế) Thế là đàng nào tôi cũng bị tội. Tôi thì tôi không lo lắm, vì dẫu tôi có ngồi tù đi nữa, cũng là đáng kiếp cho tôi. Nhưng tôi chỉ lo người đàn bà kia tự tử hay bị giết chết. Nếu sự đó xảy ra thì thực tôi sẽ hối hận suốt đờí.
May mà sự đó không xảy ra!
Thế rồi trong gần nửa năm trời không dám thò mặt ra phố. Vì tôi hổ thẹn lắm, đi tới đâu cũng bị người ta thì thầm chỉ trỏ. Dẫu tôi không nghe rõ lời người ta bình phẩm, tôi cũng đoán chắc rằng đó không phải là những lờì khen ngợi.
Mãi về sau, tôi mới rõ vì đâu mà có những lời thì thầm ấy. Nguyên cha tôi có quen thân với ông đốc học trường thuốc, nên những ngày nghỉ, tôi thường lui tới nhà ông. Thấy thế, một ông nhà giầu nhờ tôi xin với ông đốc cho con ông vào học trường thuốc. Nể lời, tôi cũng xin liều hộ, và tôi không quên nói với ông đốc rằng người học trò kia là em họ tôi. Cũng tưởng xin phiệu như thế thì chẳng ăn thua gì, ai ngờ lại được ông nhà giầu kia tạ ơn tôi trăm bạc. Gặp lúc túng tiền tôi nhận ngay, rồi đi sắm sửa quần áo thực là sang trọng.
Anh em bạn và những người quen thuộc, cho đến cả cô tôi và các em con cô tôi đều yên trí ngay rằng tôi lấy tiền trong số bảy trăm bạc của người thiếu phụ mà may mặc sắm sửa, vì ai ai cũng biết tôi kiết lắm, thường không có một xu dính túi.
Nhưng bị mọi người khinh bỉ không đau đớn cho tôi bằng hôm nghỉ hè về nhà nhận thấy nét mặt lãnh đạm của cha tôi. Trong hơn tháng trời tôi không được cha tôi hỏi qua một câu. Hơn nửa, cha tôi không thèm nhìn tới mặt tôi mà cha tôi cho là “một thằng khốn nạn”
Năm sau, tôi đã hầu quên câu chuyện thương tâm. Một hôm ra chơi nhà cô tôi. Tôi được nghe đoạn kết tấn bị hài kịch: Người thiếu phụ lạy van xin lỗi chồng, nhưng người chồng không sao tha thứ được, đến nỗi vợ hắn sinh đứa con gái đầu lòng, hắn cũng ngờ vực là con tôi. (Lạy trời! Trời biết cho rằng kẻ có tội này không phải là cha đứa bé vô tội). Rồi bực tức, người chồng bỏ sang Pháp thề rằng không đậu cao hơn tôi thì nhất định không về nước. Nhưng than ôi! Mới được mấy tháng, phần vì yếu đuối không chịu nổi thủy thổ xứ lạnh, phần vì đau đớn vì nỗi vợ con không ra gì, người ấy đã bỏ mạng bên Pháp.
Về phần tôi, tôi cũng không còn lạc thú gì chờ đợi tôi ở nước nhà nữa. Sống với lòng khinh bỉ của mọi người thì sống mà làm chi. Tôi liền xin phép cha mẹ tôi sang Pháp. Hiểu thấu tình cảnh chua chát của tôi và biết rằng nếu để tôi ở nhà thì không học được nữa, cha mẹ tôi bằng lòng cho tôi đi tây.
Thoát nạn!
Đó là lời reo mừng của tôi khi tôi ngồi một mình trên toa xe lửa vào Vinh. Nhưng chỉ hôm sau là tôi hiểu ngay rằng cái “Số Đào Hoa” tàn tệ còn giàng buộc mãi con người vô duyên.
Vào tới Huế, vừa thuê xong buồng ở nhà khách sạn, thì người bồi đến bảo tôi có ai gọi máy nói, Một phút sau, tôi đã biết rằng người ở đầu giây bên kia là một người đàn bà ở cách tôi chỉ độ vài trăm thước và rất kính phục cái đại danh của tôi. Tôi vừa sợ hãi, vừa buồn cười, nghĩ thầm đến cái đại danh khốn nạn của tôi.
Nửa giờ sau, quả có một người đàn bà trắng trẻo, béo tốt, đi ô tô đến khách sạn thăm tôi và bảo cho tôi biết rằng chồng nàng là bạn thân của tôi. Rồi nàng ngồi thuật lại cho tôi nghe những “công trình ghê gớm” của tôi về đường tình ái mà chính tôi, tôi cũng không hay.
Chiều hôm ấy, như người đi trốn, tôi hấp tấp ra Tourane, tuy mãi hôm sau mới có chuyến tàu đi Pháp. Tôi sợ cái bà tự xưng là vợ bạn tôi, đem ô tô đến tiễn tôi như lời bà đã hứa. Rồi mấy tháng sau, tôi bắt đầu thấy cái không khí tự do ở bên Pháp.
Đến đây là hết những trang lịch sử của một đời tình ái.
Trước khi từ biệt nhau, tôi xin độc giả tha lỗi cho tôi đã làm mất biết bao nhiêu thì giờ quý báu.
Tôi lại xin bà X… xá cho tôi cái tội vô tình làm hại một đời bà. Ngày nay thực là ngày xám hối của chúng ta. Bà thì mồ côi cả hai bên cha mẹ, ở góa nuôi con, tôi thì chiếc thân phiêu lưu, rày đây mai đó. Chúng ta còn kéo dài mãi cái đời vô vị của chúng ta để làm gương cho bọn hậu sinh mơ mộng.
Sau hết, tôi không quên cảm ơn Khái Hưng, người đã vì tôi, vì những sự khờ khạo đáng thương, mà chép ra đây một quãng đời đau đớn của tôi.
Đời còn dài, và độc giả và Khái Hưng, và tôi, chúng ta còn có lần gặp nhau.
Rồi, anh Khái Hưng ơi, một đêm dưới ánh đèn lờ mờ trong phòng lạnh lẽo…
 
VĂN
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0

ĐI NAM KỲ

 
- Anh Cán xin đi Nam kỳ!
Câu chuyện đồn ran trong sở Lục lộ.
Từ ông Tham Tê cho đến chú loong toong Bé, ai ai cũng đều lấy làm ngạc nhiên về cái tin quái gở.
- Chả có lẽ.
- Thì thứ hai sau anh ấy đáp tàu vào Nam kia kìa.
- Lạ nhỉ.
Mà lạ thực, suốt hai mươi năm ông ký Cán làm việc ở sở Lục lộ, ít khi ông ra khỏi thành phố Hà Nội, chẳng biết Yên Phụ ở về phía nào, làng Bạch Mai đường gần hay xa. Sao nay lại có ý tưởng ngông cuồng xin đi xa lắc xa la như thế. Cũng chẳng phải có điều gì làm mất lòng quan trên mà phẫn trí. Trong hai mươi năm trời, từ mười bẩy tuổi cho tới nay băm bẩy, từ khi lương còn hai mươi lăm đồng cho đến tăng gần tám chục. Ông ký Cán vẫn làm tròn bổn phận, sổ không cộng sai một cột, tiền không hề thiếu một hào. Đối với quan trên ông là người được việc, cùng anh em đồng sự là người bạn tốt, hiền lành ít nói.
Ông Tham Tê thì thầm với ông Phán Cơn:
- Có lẽ từ ngày vợ nó chết, nó buồn bực, phát cáu.
- Khô…ông, nó lấy con đầu Lan đã gần hai năm nay. Buồn gì mà buồn.
 
* * *
Đầu Lan ở Tuyên Quang về Hà Nội, mở nhà hát ở phố Khâm Thiên được một tháng thì tình cờ gặp ông ký Cán. Hồi đó, nhân vợ mới chết, ông ký tháng ngày âu sầu phiền não, nên anh em thương hại đến rủ đi đập trống cho khuây khoả. Ai ngờ duyên trăm năm ông tơ định sẵn từ xưa, chẳng bao lâu đầu Lan đã trở nên bà Ký.
Về nhà ông Ký, Lan tỏ ra con người đảm đang đứng đắn, làm lụng suốt ngày, nên được chồng yêu thương vị nể. Duyên càng đượm tình càng nồng trong khoảng một năm trời tình keo sơn như ngày thêm khăng khít.
Bỗng hơn tháng nay, Lan đổi hẳn tính nết. Trước chăm chỉ bao nhiêu thì nay lười biếng bấy nhiêu, khi chồng ở nhà thì chỉ ngủ. Chồng đến sở là nhảy tót đi chơi, sáng gần mười một giờ, chiều gần năm giờ mới về. Trước thùy mị, ngọt ngào biết mấy, nay thì cau có gắt gỏng suốt ngày. Chửi mắng đầy tớ lèm bèm, bắt bẻ vẽ họe chồng từng tý.
Chồng thấy vợ thế, càng chiều. Lạ gì hạng người nhu nhược. Bao nhiêu lỗi thường cho là ở mình cả. Có khi lẩn thẩn ông Ký nghĩ quanh: Nó quen sung sướng, được bao công tử chiều chuộng xưa nay. Lấy mình là một sự bất mãn. Ta còn có vẻ gì đẹp trai nữa mà bảo nó thích được. Thôi, ta cố làm cho nó bằng lòng, vận mạng nó đã gửi vào tay ta kia mà.
Từ đó ông Ký cố đi kiếm thêm việc ngoài làm cho rộng tiền tiêu, chịu khó lần mò tìm đến xin việc các nhà buôn mượn thầy giáo trông coi việc học cho con. Như thế có tháng kiếm được đến ba bốn chục bạc… Trong khi ấy thì Lan vẫn buồn… Khốn nạn, còn biết làm thế nào cho vui lòng người yêu chẳng đừng được, ông Ký ngỏ lời hỏi vợ:
- Vậy mợ muốn gì?
Lan nũng nịu:
- Em chỉ muốn đi Saigon.
* * *
Thế là ông Ký Cán đệ đơn xin đổi đi Nam Kỳ. Hôm nay ở sở về, ông Ký cầm chiếc phong bì vàng to tướng hớn hở bảo vợ:
- Được rồi.
- Được cái gì?
- Đi Saigon.
- Thế à cậu. Trời ơi cậu yêu em quá. Thế bao giờ đi hở cậu.
- Thứ hai sau.
- Chết, thu xếp sao kịp. Xin hoãn được không cậu?
- Không được.
- Nhưng còn bát họ đằng bà tham Công, mãi cuối tháng người ta mới…hay cậu vào trước, em thu xếp xong vào sau.
Ông Ký ngần ngừ:
- Thôi cũng được.
Trong tuần lễ trước ngày ly biệt, vợ chồng ông Ký âu yếm nhau không siết kể. Ông Ký thấy vậy cảm động:
- Mình yêu tôi quá!
- Chả yêu mình còn yêu ai! Rõ lẩn thẩn lắm!
- Ba bốn tháng nay tôi không được mình yêu như thế, tôi đã ngờ mình chán tôi rồi.
- Không nên ngờ hão biết chưa?
Hai cái hôn theo liền câu mắng yêu làm ông Ký càng cảm động nước mắt chảy trên hai gò má.
****
Nửa tháng sau, trong phòng ngủ nhà ông tham Ái, Lan đứng trước tủ gương chải đầu, tủm tỉm cười với bóng, có vẻ tự đắc rằng mình vẫn đẹp.
- Cậu.
Trên giường Hồng Kông, cậu tham ngủ mệt vẫn không thưa.
Lan đến bên lấy tay lay mạnh:
- Dậy đi làm chứ cậu, gần bẩy giờ rồi.
Ông Tham Ái thức choàng, ngồi nhỏm dậy, như người tỉnh giấc chiêm bao
- Cái gì thế mợ?
- Bẩy rưỡi rồi, dậy đi làm, này cậu… cậu có biết vì sao em yêu cậu không?
- Không.
- Tại cậu ngoan, dể bảo nên em yêu nhé. Vậy em bảo cậu dậy sao cậu còn nằm lỳ ra đây.
- Ừ…thì dậy này.
- Cậu ạ, hôm nay nó đến nơi rồi đấy nhỉ? Đến Saigon ấy mà.
- À, gớm thằng cha gàn quá. Không biết nó đi Nam Kỳ làm cái thớ gì thế?
- Nhưng nó không gàn, không ngu thế thì dễ thường cậu đã lấy được em, Cậu ạ!... Em mà không lấy được cậu thì nay em khổ quá nhỉ? Cậu nhỉ.
- Em Lan báu cậu quá.
***
Ông Tham Ái làm việc tại phòng giấy phủ Toàn quyền, lương ngoài trăm tám, hèn gì mà Lan chẳng thích hơn ký Cán, thích hơn ngay từ ba tháng trước khi ký Cán đi Nam Kỳ… Và Tham Ái là người hoàn toàn đủ nết tốt: trai trẻ, chưa vợ, bồ côi cha mẹ, Lan lẩm bẩm thường nói một mình:
- Lấy nó thì tha hồ làm mẹ nó.
Được chưa gần nửa năm, Lan gần như làm mẹ thật.
Mà có khó gì đâu, chỉ đem cái chính sách đã thi hành với người chồng thứ nhất: yêu rồi… lấn.
Nhưng thường trong tình giới hai cái tính tình ấy không thể đi đôi với nhau được. Người nào mình đã lấn nổi thì khó lòng mà yêu được. Lúc đó những tính xấu của người yêu sao hiện ra lắm thế. Nào những nó nhu nhược, nó gàn, nó nói ngang như cua. Đến cái tình ân ái nồng nàn của ai, mình cũng cho là một tật xấu: “Gớm! thằng cha si tình ngu ngốc bực mình chết đi được”.
Tới trình độ ấy, thì bao cảm tình đã đổi ra lãnh đạm rồi, mà từ lãnh đạm đến ác cảm chỉ có một bước.
Đến nỗi ăn ở với nhau có chín tháng, trong buồng ngủ ông Tham Ái đã xảy ra tấn bị hài kịch sau này:
Lan nũng nịu nói với chồng:
- Cậu ơi, cậu có còn yêu em nữa không?
- Em không trông thấy à? Bây giờ cậu yêu em, lại gắp trăm gấp nghìn ngày cậu mới biết em.
- Thế cậu có chiều em không?
- Chả chiều em thì chiều ai?
- Em muốn gì cậu cũng cho nhá.
- Cũng cho
- Cậu có biết tại sao ít lâu nay em hay buồn bã gắt gỏng không?
- Tại em không yêu cậu nữa.
- Không phải nhá. Tại em chỉ muốn đi Saigon. Vậy cậu làm giấy xin đổi vào trong ấy cho em theo vào nhá, cậu nhá!
- Đi Nam Kỳ.
- Ừ, đi Nam Kỳ nhá, cậu nhá.
Ông Tham ngẫm nghĩ… thở dài nói một mình.
- Đi Nam Kỳ.
 
1932
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0

LINH HỒN THI SĨ

 
Sau khi giết vua Thuận Tôn, sau khi giết bọn tôi trung của vua là Trần Nguyên Hãn, và Trần Khắc Trung, Hồ Quý Ly liền bỏ Thiếu Đế mà lên nối ngôi trời, oai quyền hống hách lẫy lừng khắp đất nước Nam. Sự bạo ngược của họ Hồ lấn át, giày xéo nhân dân như giày xéo đám cỏ cho xác xơ, khô héo, khiến ai nấy đều khiếp sợ và ép mình như quy phục…
Nhưng một người ngang nhiên không chịu khuất. Người ấy là thi sĩ Trần Can.
* * *
Trần Can, thân hình mảnh dẻ, yếu ớt, nhưng văn thơ chàng viết ra, âm điệu rất hùng tráng, ý tưởng rất mãnh liệt. Trong văn giới, người ta đã bịa đặt ra những chuyện hoang đường để tán tụng tác phẩm có tính cách cái thế của chàng: Nào khi chàng cất cao giọng ngâm khúc anh hùng ca, tả những võ công huân nghiệp phi thường của các bậc danh tướng đời xưa, thì người ta nghe có tiếng loảng xoảng gươm giáo xô sát nhau, ở trong văn phòng đã như thốt nhiên biến thành nơi chiến địa. Nào trong giấc mơ màng, chàng gặp Hạng Võ hiện hồn lên cùng chàng ngồi uống rượu, mà ngợi khen chàng và hát cho chàng nghe những bài chính khí và dũng cảm.
Người ta còn kể nhiều câu chuyện huyền bí về thi nghệ của chàng.
***
Một buổi chiều thu, Hồ Quý Ly cưỡi ngựa dạo chơi trong kinh thành Tây đô, tàn quạt rợp đường phố.
Qua một tửu quán, sang sáng ở trong hàng đưa ra mấy câu hát có khí phách hào hùng, khảng khái, Quý Ly quay lại hỏi một viên vệ tướng:
- Đứa nào dám cả tiếng hát những lời hỗn xược? Vào điệu cổ nó ra đây!
Tức thì viên vệ tướng dẫn trăm quân vệ binh sấn vào tửu quản lôi ra một trang thanh niên dũng sĩ. Hồ Quý Ly quát hỏi:
- Bài ca phản quốc đó ai dạy mi?
Chàng niên thiếu quá say không biết người đứng trước mặt mình là Hồ Quý Ly liền phì cười đáp lại:
- Người tất phải ngu dốt, đần độn lắm mới không nhận ra mấy câu thơ ấy là của đại thi hào Trần Can
Lời nói xấc láo làm cho kẻ kia mất đầu tức khắc.
* * *
Chém xong dõng sĩ, Hồ Quý Ly trở về triều họp quần thần lại mà phán rằng:
- Ta là Hoàng đế, ân huệ trùm khắp nước Đại Ngu, cười một tiếng cả nước vui mừng cười theo, quát một tiếng cả nước run sợ kinh hãi, khúm núm cúi đầu, cho kẻ nào sống, kẻ ấy được sống, bắt ai chết, kẻ ấy phải chết. Cớ sao ngày nay tên văn sĩ ngông cuồng Trần Can lại dám cả gan làm thơ tán tụng bọn tiền quân cùng lũ tướng tép nhà Trần, để giảm oai quyền của ta và làm tiêu tan nhuệ khí đại binh ta. Phải hỏa tốc đi bắt nó về triều hành hình ngay trước sân rồng cho ta được hả lòng tức giận.
Quan đô sát ngự sử vội vàng đặt gối bày lời gián nghị:
- Muôn tâu thánh thượng, việc này hạ thần xin can. Giữa công việc bình trị, không nên giết hoài kẻ sĩ nhất là kẻ sĩ đó lại là Trần Can, một người có đại tài nhân dân mến phục.
Nghe dứt lời tâu, Hồ Quý Ly nổi cơn thịnh nộ, hạ lịnh chém đầu quan đô sát ngự sử, rồi xuống chiếu tìm bắt Trần Can trị tội.
 
***
Sau khi bãi triều, Quý Ly hầm hầm rảo bước vào hậu cung, sát khí hiện đầy trên nét mặt.
Thoáng lọt tai giọng hát bổng trầm. Hồ dừng lại lắng nghe, đó là lời ca oán trách não nùng của một ả cung tần mới tuyển.
Quý Ly vốn là một nghệ sĩ rất biết và thích thưởng thức những bài thơ, bài ca có chân giá trị. Vì vậy khúc hát đầy lời trong sáng, có âm điệu du dương, tả những cảnh khoáng đãng, phong quang, những tính tình tự do, phiêu lãng làm cho người nghe phải tấm tắc khen thầm tác giả.
Nhưng hạng bạo quân bao giờ cũng đặt lòng tự tôn, tự ái lên trên lòng phục thiện lân tài. Mà trong bài hát kia, những ý tự do, vùng vẫy, luôn luôn, xen lẫn, đối chọi với những ý xiềng xích, trói buộc, như thế thực là xúc phạm tới lòng tự tôn tự ái của Quý Ly, nhất là thi sĩ lại ví bọn cung phi với con chim trong lồng ngắm khoảng trời xanh mà hối tiếc một đời ân ái.
Lòng phẫn nộ sôi sùng sục, khác nào lửa cháy đổ thêm dầu, Quý Ly tuốt thanh bảo kiếm cầm lăm lăm ở tay, chạy thẳng vào tây cung, tới buồng có tiếng ca ngâm ai oán.
Nhưng, kinh ngạc xiết bao! Trước tấm nhan sắc lộng lẫy của mỹ nhân, lòng bạo ngược của vua biến mất, khác nào bị mặt trời buổi sáng chiếu rọi, đám sương mù u ám không trung.
Quý Ly vứt bảo kiếm xuống đất, ngây người đứng nhìn rồi tươi cười hỏi:
- Ái khanh hát bài gì thế?
Cung phi kinh hãi quỳ xuống thưa:
- Muôn tâu bệ hạ tha tội cho thần thiếp.
Quý Ly lại gần người yêu, đỡ dậy mà dịu dàng bảo rằng:
- Tha thì cố nhiên là trẫm tha, nhưng ái khanh phải trình thực trẫm hay, ai làm ra bài ca mà ái khanh vừa hát đó?
Cung phi se sẽ nói:
- Muôn tâu bệ hạ, thi sĩ là một người học trò nghèo ẩn dật.
- Tên nó?
Cung phi ngần ngừ lo sợ, cúi đầu đứng im.
- Ái khanh cứ nói, dù người đó là ai đi nữa, trẫm cũng ân xá.
Thì thào như hơi gió thoảng, cái miệng xinh xắn âu yếm đọc tên:
- Trần Can.
Tức thì Quý Ly chau mày hét lớn:
- Ai chứ, Trần Can thì nó phảỉ chết!
Cung phi nằm phục xuống đất kêu van:
- Muôn tâu thánh thượng, thánh thượng mà ra lệnh hành hình kẻ sĩ, thì chính thần thiếp đây can phạm tội giết người. Vậy nếu thánh thượng không mở lượng hải hà mà tha thứ cho Trần Can thì xin trước hãy chém đầu thần thiếp.
 
* * *
Cái nhan sắc nghiêng thành của cung phi đã bảo toàn được tính mệnh thi sĩ.
Nhưng trong túp lều tranh đầy hoa và ánh sáng. Trần Can vẫn viết những thi ca, âm điệu hùng tráng, ý tưởng mãnh liệt để ca tụng công đức của các danh tưóng đời Trần và mạt sát những hạng bầy tôi bất trung cướp nước
Nhưng Quý Ly một ngày một khôn khéo. Nên hiểu rằng về phương diện chính trị, về cách thu phục lòng người, sự mềm dịu, ngọt ngào công hiệu hơn sự hung tàn, kịch liệt. Và nghĩ thầm: “Chém giết mãi, bao giờ cho hết kẻ phản đối! Chặt đầu này, đầu khác mọc. Mà những tên kia sẽ trở nên bất tử, và tác phẩm của chúng vẫn cứ lưu truyền về đời sau. Nào có ích gì cho ta”.
Liền theo mưu kế Thái sư, sai quan đem vàng, bạc, gấm vóc, đến nơi lều tranh tặng Trần Can mà úy lạo rằng:
- “Bệ hạ trọng tài hiền sĩ nên ban thưởng để làm gương cho văn nhân trong nước”
Trần Can nhất định từ chối không nhận mảy may.
* * *
Ba lần Quý Ly mua chuộc lòng Trần Can, ba lần Trần Can từ tạ. Trần Can không nhận cung nữ và tước vị, cũng như chàng không nhận bạc, vàng, gấm vóc. Mà thi ca chàng viết ra càng nhiều, càng nhiễm ý tưởng chua chát, gay go!
Lần thứ tư, Quý Ly sai quan đến nơi lều tranh bảo cho Trần Can biết rằng, nếu không thôi ngâm vịnh thì sẽ bị mất đầu. Trần Can lạnh lùng đáp lại:
- Đầu ta có thể rời mình, nhưng linh hồn ta thì gươm nào chém được!
Viên quan đem lời ấy về tâu với Quý Ly, Quý Ly uất ức than thầm:
“Trời ơi! Toàn nước Đại Ngu ta thu vào trong bàn tay sắt dễ như chơi, thế mà linh hồn một tên hàn sĩ, ta há không khuất phục nổi chăng?
…Nhưng khúc hát đầy lời trong sáng có âm điệu du dương, tả những cảnh khoáng đãng phong quang, những tính tình tự do phiêu lãng vẫn văng vẳng ở tây cung đưa ra.
* * *
Quý Ly vào tây cung vui vẻ bảo cung phi:
- Ái khanh hát hay lắm. Nhưng kẻ làm ra bài hát không còn nữa.
Cung phi ngây cười, đờ mắt đứng nhìn, chưa dám hỏi, Quý Ly tiếp luôn:
- Nó chết rồi… vừa… hành hình xong!
Cung phi bỗng ngất người nằm vật xuống đất,  mồm ú ớ nói mê. “Trời ơi! Anh Trần Can…”
Quý Ly sung sướng vì đã đoán được tâm lý Cung Phi, lãnh đạm mỉm cười đứng nhìn như cái xác không hồn:
- Được rồi! Được rồi!
Ngay buổi trưa hôm ấy, viên đao phủ điệu đến sân rồng một người bé nhỏ: đó là thi sĩ Trần Can. Ngồi chót vót trên ngai cao, Quý Ly cười hỏi:
- Mi không sợ ngục thất! Vậy mi có sợ lưỡi gươm sắc kia không?
Trần Can chỉ cười mát mà không trả lời.
Quý Ly nói tiếp:
- Nhưng mi đừng tưởng ta giết mi một cách giản dị như thế đâu. Và ta không muốn để mi chết uổng mạng mà không cho mi đạt lời nguyện vọng cuối cùng. Vậy mi có ao ước điều gì, ta cho phép mi tâu.
Trần Can vẫn giữ nét mặt tươi tắn đáp lại:
- Tôi chỉ ao ước có một điều này: là sau tôi, không ai bị giết oan nữa.
Quý Ly cười khanh khách:
- Nhưng trước mi thì được chứ?
Liền cho điệu Cung phi ra. Trần Can nhác trông thấy mặt bỗng tái xanh, chân tay run lẩy bẩy. Viên đao phủ vừa giơ đao chém, thi sĩ vội kêu:
- Chém tôi thì cứ chém, sao nỡ hành hình Cung phi vô tội, đã vô tình ngâm những tác phẩm của tôi.
Quý Ly xuống lệnh cởi trói cho hai người, rồi ôn tồn bảo Trần Can:
- Ta sẵn lòng ân xá cho cung phi và cả nhà ngươi nữa, nhưng ngươi phải theo một điều khoản này… là từ nay ngươi thôi không được làm một bài thơ nào hết. Vậy ngươi có ưng thế chăng?
Trần Can đành phải tuân lời, làm tờ cam đoan.
Chàng không muốn vì chàng mà kẻ khác chết oan, nhất là kẻ ấy đã đem tấm ái tình trong sạch, mơ mộng, chân thành mà kính thờ chàng trong đáy tâm can, cho dẫu ngày nay đã trở nên một vị hoàng phi sủng ái.
***
Giữ lời cam đoan, hai năm ròng. Trần Can không viết. Cây bút cắm trong ống xứ ngọn thỏ đã se. Tập hoa tiên xếp trong thi đồng mầu hồng đã bạc. Mà cây đàn nguyệt treo trên tường giây tơ đã đứt từ lâu, nhện giăng mạng đầy trên các phím…
…Bỗng hôm nay, mồng một Tết nguyên đán, ngồi trước khóm cúc, cành đào, phảng phất mùi hương trầm gợi nguồn thi tứ, Trần Can cảm thấy những tính tình xưa bồng bột trong lòng, nào yêu nào ghét, nào căm tức oán hờn.
Chàng liền đem rượu ra uống thật say và lấy giấy tơ mới lựa vặn đàn xưa, rồi tay gẩy, miệng hát một bài ca trường thiên để tả nỗi lòng bấy lâu đau đớn.
Bao ý tưởng nung nấu trong trí nghĩ, hôm nay phát ra lời thơ, càng thêm sắc sảo, mạnh mẽ, dù ở những đoạn tả sự lầm than của trăm họ.
Về đoạn cuối lời văn càng lâm ly thống thiết. Thi sĩ nói thẳng với bạo quân, đại ý:
“Hỡi Hồ Quý Ly! Ta đã để cho ngươi cắt đứt lòng trung với vua của ta, ta đã để cho ngươi chiếm đoạt trái tim vàng của ta. Nhưng còn linh hồn ta, ta cam đoan rằng muôn nghìn năm không ai ức chế nổi, tấm linh hồn tự do của nhà thi sỉ tự do”.
Hát xong, Trần Can lấy bút mực chép lại bài ca vào giấy hoa tiên, rồi uống thuốc độc tự tử.
Chung quanh tiếng pháo nổ ran như để tiễn mừng linh hồn Trần Can đã thoát ly ra ngoài vòng kiềm tỏa.
 
 
1934

Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0

ADA KWABEN

 
Một giờ đêm tại Hạp Bắc. Suốt hai dãy phố Tsin Tsang cửa đóng kín mít. Ngoài đường tối đen như mực. Tuy thế, trận không chiến còn dữ dội như buổi sáng, song tiếng súng nghe vẫn liên thanh. Thỉnh thoảng quả trái phá rơi nổ, làm rung động một góc thành. Theo liền tường nhà đổ, tiếng mái nhà sập.
Trong một căn phòng rộng, hai rặng giường gỗ kê sát. Trên mỗi giường có một bệnh nhân, người thì đầu quấn băng, người thì hoặc tay hoặc chân bó vải. Đó là khách sạn Leas Toung mà bộ tham mưu Trung Hoa tạm dùng làm bệnh phòng, để chữa lính và tù binh, bị thương, vì nhà bệnh viện Hiệp Bắc đã bị trái phá Nhật hủy từ hôm trước.
Ngay chỗ cửa vào, bên chiếc bàn ăn trên đặt cây đèn tù mù, một viên thiếu tá trẻ tuổi đang hỏi chuyện một tên lính:
- Thế ngươi thấy quan đốc tờ ngỏ ý kiến ra sao.
- Bẩm sau khi mổ lấy viên đạn ra, và quấn băng đâu đấy, ngài truyền rằng không ngại gì chỉ để hắn…
- Lão nói trung úy Matsudo.
- Bẩm, quan đốc tờ truyền rằng chỉ để trung úy Matsudo nghỉ yên trong năm tiếng đồng hồ là bệnh thuyên giảm.
Lúc ấy có tiếng giở mình sột soạt trên một chiếc giường bệnh, chú lính chỉ tay nói:
- Bẩm! Dễ thường Trung úy đã thức giấc.
 
Viên thiếu tá Trung Hoa rón rén lại gần, nhưng bệnh nhân giở mình, quay mặt vào phía tường ngủ lại, tiếng thở nghe mạnh và đều. Viên thiếu tá… thở dài quay ra.
 
* * *
 
Bẩy giờ sáng hôm sau. Tiếng súng đã im, quân Nhật vây đánh thành Hạp Bắc luôn mấy hôm không thành công, như đã rút về Thượng Hải.
Bên giường Matsudo, viên thiếu tá tối hôm trước ngồi hút thuốc lá như chờ trung úy thức giấc.
Bỗng một tiếng súng đại bác nổ ở vùng ga Hạp Bắc. Matsudo mở choàng mắt, Viên Thiếu tá đứng phắt dậy tươi cười hỏi bằng tiếng Nhật.
- Anh dễ chịu rồi chứ?
Trung úy nhìn chòng chọc vào Thiếu tá, không trả lời
- Anh Matsudo anh quên em rồi à?
Trung úy vẫn không trả lời.
- Em là Ly-jem-Pan đây mà!
Trung úy vẫn trơ như sắt đá, mi không hề chau, mắt không hề chớp, hai tiếng lạnh lùng, thong thả khẽ khẽ:
- Không quen.
- Có lẽ anh bị thương loạn óc, mất trí khôn chăng? Anh quên được em à?
. . . . . .. . . . .
Em là Ly-jem-Pan là người chồng chưa cưới của cô Ada đây mà!
- Anh là người Trung Hoa, ta không thể quen anh được!
- Còn em thì em vẫn nhớ anh là anh người yêu của em, chỉ vì thế nên em mới đau đớn khổ sở.
Matsudo sau một nụ cười khinh bỉ:
- Ta chỉ biết có một điều: ta là dân Nhật Bản,
***
Matsudo và Ly-jem-Pan là anh em bạn thân cùng tòng học và cùng tốt nghiệp một năm tại trường võ bị Đông Kinh.
Suốt trong bốn mươi năm trời không mấy chủ nhật là Ly-jem-Pan không ra chơi nhà Matsudo. Nhiều lần ông cụ, bà cụ Matsudo giữ lại ăn cơm chuyện trò rất là thân mật lâu dần coi Ly-jem-Pan như người trong nhà vậy.
Matsudo có người em gái, tiểu tự là Ada Kwaben, nghĩa là bông hoa đẹp. Đọc cái tên cô cũng đủ tưởng tượng được cái nhan sắc diễm lệ của cô”
Buổi đầu, thì cô Ada cũng chỉ coi Jem-Pan như một người anh mà thôi. Song vì con gái bên Nhật, họ tuy thùy mị đứng đắn mà không rút rát, rụt rè như con gái Việt Nam ta, nên sự thân mật kia chẳng bao ìâu mà trở nên tình âu yếm
Khi đã tốt nghiệp ở trường võ bị, Jem-Pan cùng Ada đưa nhau lên xin ông bà Matsudo cho phép lấy nhau. Ông bà bằng lòng viết thư sang Thượng Hải hỏi ý kiến ông bà thân sinh ra Jem-Pan và dự định sửa soạn các công việc ăn hỏi thì bỗng có tin Nhật đem quân sang đánh Đông tam tỉnh.
Cũng tưởng hai nước chẳng bao lâu rồi sẽ gác việc can qua mà sự hòa bình sẻ trở lại trên dẻo đất Á Đông. Ai ngờ việc binh một ngày một lan rộng mãi ra.
Một hôm Jem-Pan buồn rầu hỏi Ada:
- Nước tôi cho tôi xuất dương sang tòng học bên quý quốc là cốt sau này tôi lập công giúp nước. Nay chẳng may hai nước có việc can qua, mà cứ theo tình thế hiện thời, thì thế nào tôi cũng phải đem thân ra nơi chiến trường tôi lấy làm lo ngại cho sự nhân duyên đôi ta.
Cô Ada trả lời:
- Việc nhân duyên là việc nhỏ việc quốc gia mới là việc lớn.
- Cô vô tình đến thế kia à?
- Không phải vô tinh. Song khi ở nhà trường cũng như khi ở nhà, thầy học và cha mẹ tôi đều dậy thế. Tôi cũng biết rằng anh không yêu tôi và tôi không ghét anh, nhưng nếu vì hai nước mà chúng ta hy sinh ái tình thì chúng ta càng đáng kính phục chớ sao.
- Tôi chẳng cần ai kính phục.
- Anh hèn nhát đến thế kia à?
- Không phải tôi hèn nhát, nhưng tôi yêu cô.
- Anh phải biết một người con gái Nhật Bản con nhà tử tế không bao giờ chịu kết duyên với một người hèn nhát!
- Nhưng nào tôi có hèn nhát! Cô phải biết tôi là con nhà binh, rất tôn trọng sự can đảm.
- Đem ái tình ra so sánh với quốc gia thì không là hèn nhát, còn là gì?
- Vậy bây giờ cô khuyên tôi nên xử trí ra sao?
- Anh hỏi lương tâm anh ấy?
- Xin cảm cô, tôi xin tự liệu.
***
Cách đây ba tháng trong một trận dạ chiến ở Hạp Bắc, quan hai Matsudo đem toán binh thứ tư xông vào cướp ga Hạp Bắc bị phục binh của Ly-jem-Pan nổi lên đâm chém. May có Jem-Pan nghe rõ tiếng bạn nên hết sức bảo hộ mới toàn được sinh mạng, chỉ bị có mấy viên đạn trúng cánh tay mà thôi
Hai tuần sau, có tin đình chiến, thời Matsudo hiện điều trị tại nhà thương Shanghai cũng cần được bình phục. Matsudo thấy Jem-Pan săn sóc đến mình, không những không cám ơn mà còn lấy làm căm tức.
Một buổi chiều, người khán hộ coi buồng Matsuđo không thấy bệnh nhân đâu. Rồi sáng hôm sau các nhật trình đều đăng tin Matsudo ra chiến địa bắn súng lục tự sát. Thì ra Matsudo tự kết vào tội Harakiri vì chàng cho rằng được sống sót là nhờ có em gái sắp kết duyên với một người bên địch, thì không còn mặt mũi nào trở về quê hương nữa.
Jem-Pan nghe tin bạn chết trong lòng thương xót vô cùng liền gửi điện tín về bên Nhật báo tang.
Tối hôm ấy, Jem-Pan lang thang trong các phố Trung Hoa, định đi tìm thú vui giải muộn, Bỗng nhìn vào một hàng cao lâu thấy một người con gái Tầu khuôn mặt, điệu bộ y hệt như Ada. Chàng liền sụp mũ xuống tận tai, rồi vào hàng ngồi ở một bàn giơ ngón tay trỏ ra hiệu gọi cô hầu bàn.
Cô Ada vô tình lại gần thì Jem-Pan cất mũ cúi đầu chào. Cô Ada vội sẽ để ngón tay lên mồm ra hiệu cho bạn im đi, rồi khẽ bảo:
- Chốc nữa lên gác số…sáu nói chuyện!
Một lát khi uống hết cốc rượu, Jem-Pan sắp sửa vẫy Ada đi theo mình, thì thấy chủ nhà khách sạn đến hỏi:
- Có phải ông thuê buồng số sáu không?
- Phải.
- Vậy mời ông cứ lên.
Rồi quay lại bảo Ada:
- Đưa ông lên buồng số sáu.
Khi hai người tới buồng, Ada nhẹ nhàng đóng cửa rồi hai tay thọc vào trong bọc, thong thả nói:
- Nay tôi không phải là người yêu mà cũng không phải là bạn của ông nữa, ông chính là người thù của tôi, vì ba cớ: một là trong trận Hạp Bắc, công của ông đứng đầu, hai là chính ông sai giết anh tôi nói là anh tôi tự tử, ba là tôi cải dạng làm một người hầu bàn để do thám, việc ấy, ngoài tôi ra không ai được biết vì có thể hại đến mấy vạn quân Nhật. Nay ông biết, ông không thể sống được!
Dứt lời Ađa rút súng ngắm trúng tim Jem-Pan mà bắn luôn hai phát. Jem-Pan nghe giọng nói dữ tợn của bạn gái lấy làm ngạc nhiên, nên chưa kịp phòng bị đã ngã quay xuống ván.
Ada vứt súng cúi xuống xem Jem Pan đã tắt thở chưa, thì Jem-Pan còn ngoắc ngỏai dùng hết sức tàn ghì lấy bạn vừa hôn vừa nói:
- Tôi yêu cô đến tận phút cuối cùng và sẵn lòng tha thứ cho cô và cả nước cô. Nhân loại trường thọ! Ada Kwa.
Jem-Pan chưa nói dứt câu, ngã vật ra tắt thở.
Hai hàng nước mắt đầm đìa trên hai má Ada.
Nàng bỗng như điên, ôm choàng lấy tử thi bạn khóc.
Lúc đó có tiếng ồn ào phá cửa phòng.
Ada đứng phắt dậy quay ra cười nhạt, rồi lạnh lùng cúi xuống nhặt súng lục tự đặt vào tim quả quyết nổ cò.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0

HOÀNG OANH

 
Trong lầu Vọng Nguyệt bên hàng triện lan can, công nương Hoàng Oanh họ Số ngồi thêu đôi chim nhạn bay. Thỉnh thoảng nàng lại nghỉ tay đặt cái khung thêu dựa vào lưng ghế rồi lùi ra mấy bước, nghiêng đầu đứng ngắm: Đôi chim nhạn thêu bằng chỉ mầu đen bóng nổi bật lên nền chỉ xanh mờ, loang loáng phản chiếu ánh mặt trời trông như đương hoạt động, vỗ cánh bay liệng trên tầng mây cao. Hoàng Oanh mỉm cười sung sướng nói một mình:
- Dăm tháng nữa, ta sẽ được cùng Hoàng Thái tử liền cánh bay liệng trên từng mây ân ái.
Có tiếng hài bước ra hiên, Hoàng Oanh quay lại. Bà Thái sư nhìn con khẽ gật, có vẻ tự đắc:
- Con thêu khéo quá, cha mẹ tuy chưa có con trai nối dõi, nhưng sinh con gái như con, hơn sinh con trai vô hạnh.
Hoàng Oanh bẽn lẽn, cúi mặt, hai má đỏ hây hây. Còn phu nhân thì trong lòng sung sướng, cười nheo cặp mắt già
Luôn hai năm nay, trong khi Thái tử Chế Mân sang làm con tin bên triều đình nước Việt Nam, phu nhân chẳng quên những sự đi lại trong cung để hầu chuyện Thái hậu và Hoàng hậu Thái sư rất được Chiêm Hoàng kính trọng mà phu nhân cũng được Thái Hậu và Hoàng hậu mến yêu.
Có chí nguyện cao xa, phu nhân đã ngấp nghé ngôi quốc mẫu cho con gái yêu sau này. Cái ngôi báu ấy thực là xứng đáng với sắc tuyệt vời, với đức hạnh tuyệt vời của công nương Hoàng Oanh.
Số phu nhân nghĩ thế thì lại gần con vỗ má, bảo nàng rằng:
- Bức hình mà con tự họa lấy, hôm qua mẹ đã đem vào nộp Hoàng hậu rồi.
Hoàng Oanh vờ hỏi:
- Bẩm mẹ để làm gì thế?
- Còn để làm gì nữa. Để gửi sang bên nước Việt Nam dâng Chế Thái tử chứ còn để làm gì.
Hoàng Oanh càng xấu hổ, cặp má càng đỏ hây.
Nhưng trên cành cây dương liễu, con chim thước cất giọng mỉa mai.
 
* * *
Một buổi chiều, Số phu nhân ở cung điện nhà vua trở về, nét mặt có vẻ buồn rầu thờ thẫn. Hoàng Oanh nhẹ nhàng bước xuống thềm đón chào vồn vã. Nàng lo sợ. Mọi lần thân mẫu nàng được vào yết kiến Thái hậu và Hoàng hậu thì khi trở về bao giờ cũng hớn hở tươi cười. Sao lần này vẻ mặt lại ủ rũ như kia. Hay là… nàng ngập ngừng hỏi mẹ.
- Bẩm mẹ trong cung có chuyện gì lạ không?
- Không con ạ.
Bà chẳng muốn làm phiền lòng Hoàng Oanh, thực ra, ở Kinh thành Đồ Bàn vừa xảy ra một sự phi thường, một sự ghê gởm,
Chiều hôm nay, Hoàng hậu cho vời Số phu nhân vào cung để bàn một việc quan trọng: Số phu nhân vừa là em vừa là một người bạn tâm phúc của Hoàng hậu, nên khi Hoàng hậu có điều gì khó nghĩ thường cho tìm để vấn kế.
Số phu nhân lấy làm kinh ngạc xiết bao, khi Hoàng hậu đưa cho coi bức hình của Hoàng Oanh có bôi nhèm hai vết mực ở hai bên má. Trời ơi bức hình ấy, con gái phu nhân soi gương tự họa lấy trong mấy tháng mới xong, tốn hết bao tư lự, để gửi sang thành Thăng Long tặng Thái tử, thế mà kẻ nào lại đám cả gan vẽ mực lên như vậy?
Mồ hôi chảy xuống thành giọt: Số phu nhân tinh thần ngây ngất, tâm hồn tán loạn, đưa mắt nhìn Hoàng hậu và trù trừ không dám hỏi. Hoàng hậu như hiểu sự nghi ngấm ngầm của bà Thái Sư, cất lời phủ dụ:
- Em đừng ngại, Thái tử là người rất có hiếu. Thế nào ta bảo cũng phải nghe; kể về tài sắc, đức hạnh thì khắp trong nước còn tìm đâu ra được một thiếu nữ có thể sánh kịp Hoàng Oanh. Và sự gửi trả ảnh, ta cũng còn ngờ lắm. Thái tử ta xem ra yêu mến Hoàng Oanh lắm. Sự này tất có điều ám muội.
Số phu nhân cúi đầu làm lễ tạ ơn. Hoàng hậu đỡ dậy rồi ban cho một tấm hình Thái tử mà phán rằng:
- Em cứ nói với Hoàng Oanh rằng Thái tử gửi về cho Hoàng Oanh giữ làm kỷ niệm. Còn việc hôn nhân của Thái tử, ta định sao tất phải nên vậy. Mà Hoàng Oanh thì ta rất bằng lòng, vì đáng làm con dâu ta lắm.
Tuy được lời ủy lạo của Hoàng hậu, Số phu nhân vẫn chưa yên tâm. Xong bà cũng cố gượng vui mà báo tin mừng cho con và đưa cho nàng bức hình của Thái Từ.
Hoàng Oanh sung sướng, ôm chặt bức hình vào lòng.
Nhưng trên cành cây dương liễu, con chim thước vẫn cất tiếng mỉa mai.
* * *
 
Ở cửa biển Đồ Bàn, nhân dân tấp nập đứng ngóng trông. Họ vừa thấy một chiếc thuyền bông vào cảng, trên cột buồm có phất phới bay lá quốc kỳ Việt Nam. Họ còn đương lo sợ, nhớn nhác nhìn nhau, ồn ào đua nhau chạy đi báo quan coi cảng, thì chiếc thuyền đã vùn vụt tới nơi và đã buông neo ngay ở bến Hoàng Kiều.
Một đồn mười, mười đồn trăm, chỉ trong khoảnh khắc là cái tin Việt Nam lại đem binh vào nước bay tới khắp chốn kinh đô.
Đó chỉ là tin đồn sai, dân Chiêm Thành vì đã bị nước láng giềng ở phía Bắc mấy lần đánh đại bại, nên nay chỉ thoáng thấy bóng cờ Việt Nam là đã rụng rời, khiếp sợ. Kỳ thực chiếc thuyền bồng đẹp đẽ kia chỉ đưa đến thành Đồ Bàn một viên văn quan của nước Việt Nam tên là Trần Khắc Trung cùng đi với một quan thân thần theo hầu Thái tử Chế Mân.
Nhân dân vẫn thì thào: “Sao Thái tử lại chưa về”. Hay ngài bị giam bên Việt Quốc.
Thái tử là một trang thiếu niên tuấn tú, được dân, thân yêu mến, kính trọng, nhất là dân thần bên phái đẹp. Ngày ngày họ mong Thái tử hồi hương để được nhìn vẻ mặt khôi ngô của ngài. Thế mà sau hai năm, ngài ở bên ngoại quốc, nhân dân biệt không tin tức, nay chỉ thấy một mình người bầy tôi cùng đi với viên sứ thần Việt trở về nước, thì ai không lo sợ rằng đã xảy ra sự chẳng lành.
Nhưng trong khi nhân dân kinh đô bàn tán lẽ nọ lẽ kia, thì ở trong tríều, Chiêu hoàng đương tiếp sứ thần Việt Nam.
Trái với sự phỏng đoán của quần thần là nước Việt Nam muốn gây cuộc can qua; Trần Khắc Trung chỉ dâng ít phẩm vật quý trong nước, để đáp lại cái lễ long trọng mà vua Chiêm Thành đã cho Thái tử Chế Mân thân mang sang Việt Nam cống hiến đức Trần Anh Tông.
Chiêm hoàng sắp sửa lui triều thì Trần Khắc Trung xin tâu chuyện riêng. Chuyện riêng ấy là việc hôn nhân của Thái tử Chế Mân cùng Huyền Trân Công Chúa, con gái yêu của Đức Anh Tôn.
Chiều hôm ấy, trong khi Hoàng Oanh ngồi bên hàng triện lan can trong lầu vọng nguyệt, vui vẻ thêu trên đôi mặt gối cho xong cặp nhạn tung trời liền cánh, thì trên cành dương liễu, con chim thước vẫn cất giọng mỉa mai.
* * *
Ở thành Thăng Long, kinh đô Việt Nam, Thái tử Chế Mân và Huyền Trân Công Chúa đã vui vầy cầm sắt.
Buổi đầu, Thái tử cũng nhớ tưởng tới người xưa, tới người bạn xinh đẹp dịu dàng mà ngài đã gặp nhiều lần ở nhà Thái sư. Từ hôm mất tranh họa hình Hoàng Oanh, Thái tử buồn rầu, kém ăn kém ngủ và luôn luôn gắt gỏng, trọng phạt các quan cận thần.
Song tuổi trẻ vẫn là tuổi ham mê khoái lạc và dễ quên những bạn xa xăm, nên chẳng bao lâu mà Thái tử Chế Mân tự an ủi với người vợ mới, nhất là người vợ ấy lại là Huyền Trân Công Chúa, một pho nhan sắc diễm lệ hiếm có ở đời.
Trong khi ấy, bí mật vẫn lặng lẽ bao trùm thành Đồ Bàn, nhân dân vẫn thì thào bàn tán về cuộc du lịch của Thái tử ở bên nước Việt Nam. Bà Thái sư vẫn năng vào hầu chuyện Thái hậu và Hoàng hậu, và trong lòng vẫn hy vọng chứa chan. Mà hai bà Thái hậu và Hoàng hậu vẫn không biết gì về việc hôn nhân của cháu, của con ở bên ngoại quốc.
Một mình Thái sư lấy làm sung sướng, Vì việc nước, Thái sư đã khuyên vua bằng lòng cho phép Thái tử đẹp duyên cùng công chúa Việt Nam. Thái sư đã đặt lòng yêu nước lên trên lòng yêu con. Ông đã toan ngỏ cho con biết để con khỏi uổng công mong đợi, nhưng ông lại sợ lộ việc lớn. Việc ông làm, ông chỉ muốn hiểu có một nghĩa: Chính trị. Ông chỉ nhận thấy rằng cuộc hôn nhân của Thái tử Chế Mân với Huyền Trân Công Chúa sẽ gây nên kết quả hay cho sự bang giao với nước láng giềng mạnh gấp mấy nước mình. Còn con ông làm Hoàng hậu hay làm vợ một thư sinh, sự đó không quan hệ.
Nhưng… lòng âu yếm, trí ngây thơ, chiều chiều bên hàng triện lan can trong lầu vọng nguyệt, Hoàng Oanh thêu gấp trên đôi mặt gối cho chóng xong cặp nhạn liền cánh tung trời. Nhưng… trên cành dương liễu con chim thước vẫn cất tiếng mỉa mai.
* * *
Ngoài cửa biển Đồ Bàn, nhân dân Chiêm Thành đông như kiến cỏ, đứng hoan hô Thái tử Chế Mân đã về nước, tiếng reo vang động cả một góc trời.
Khi họ thấy Thái tử ở trên thuyền rồng bước xuống sánh vai cùng bà Công chúa Việt Nam lộng lẫy nguy nga trong bộ y phục Chiêm Thành thì họ chỉ kinh ngạc trong giây phút, rồi vui cười, họ thi nhau tung hô:
- Thái tử vạn tuế! Vương phi vạn tuế!
Trong đám đông người, một thiếu nữ cực kỳ diễm lệ ngã ngất trong lòng một ông quan già. Đó là Hoàng Oanh và Số Thái sư.
Thái sư ghé tai con thì thầm:
- Con nên đặt Quốc gia lên trên ái tình. Con nên thương cha. Về nhà cha sẽ giảng nghĩa cho con hay.
* * *
Chiều hôm ấy, ngồi bên hàng triện lan can trong lầu vọng nguyệt Hoàng Oanh vừa thêu xong, đôi chim nhạn tung trời liền cánh, thì Thái sư bước lên hiên. Tươi cười, nàng nói:
- Thưa cha, cha vì con làm ơn dâng lên Thái tử và Vương phi đôi gối.
Ứa hai hàng lệ, Thái sư ôm con vào lòng.
Mà trên cành cây dương liễu, giọng mỉa mai của con chim thước đã biến thành lời an ủi chân thành.
 
HẾT
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0

CÁI THÙ BA MƯƠI NĂM

 
Tối hôm ấy, nhà ông Nghị Tài chèo hát linh đình: Ông Nghị ăn mừng cậu Giang đậu cử nhân luật ở Pháp mới về.
Ngoài sân, gánh chèo dựng rạp buông màn ra trò chung quanh người đứng xem chật ních.
Bỗng trong đám đông người có tiếng thét:
- Khuya rồi! Không được trống hát nữa để cụ lớn an giấc
Rồi người nọ ẩy người kia, om sòm, rối rít. Một gia nhân ở trên gác xuống, ra sân nói to:
- Thằng nào cấm hát?
Có tiếng đáp lại:
- Thằng này.
Người kia sấn lại. Rồi một bên, năm sáu người ùa vào bênh, một bên thì bọn người nhà ông Nghị kéo ra giúp sức, thành ra một cuộc ẩu đả loạn xạ, tiếng gậy đập chen lẫn tiếng chó sủa. Những người đi xem thấy vậy kéo nhau chạy tán loạn, xéo bừa cả lên trống chiêng, thanh la, não bạt, làm đứt cả màn, đổ cả rạp dựng bằng bốn bức phên tre nứa.
Trong đám ồn ào có tiếng ai nói to:
- Chúng mày lui không được đánh nhau.
Bọn người nhà ông Nghị vừa lùi ra vừa bảo nhau:
- Cậu Cử! Cậu Cử!
Một người trẻ tuổi vận âu phục sấn tới, ôn tồn nói với bên địch:
- Anh em là người nhà cụ Thượng ở bên cạnh, đấy à? Có phải trống chiêng làm mất giấc ngủ của cụ lớn thì tôi chọ họ nghĩ hát. Nhưng lần sau, anh em có điều gì, nên cứ nói với tôi, hay cụ tôi, là được như ý ngay, can gì phải dùng đến võ lực.
Bọn khởi chiến thấy con chủ nhân phân phải nhã nhặn, cùng nhau lui cả.
Muốn biết duyên do câu chuyện ẩu đả ấy, ta phải lùi lại ba mươi năm.
Năm ấy ông Nghị còn là bác xã Tài, ra tranh chức phó lý trong làng. Vì có chuyện bất bình, em quan thượng Bùi (hồi đó đương là Tổng đốc Hải Dương) viết thư cho anh kể xấu xã Tài. Quan thượng nghe lời em, liền can thiệp tới việc bầu cử, nên xã Tài không được lên ăn trên ngồi trốc ở chốn đình chung.
Phần bực tức, phần xấu hổ, phần có ý định riêng, xã Tài bán sạch nhà cửa vườn ruộng độ ngót nghìn bạc, rồi đưa vợ con ra Hà Nội ở, thề rằng khi nào có thể rửa được hờn xưa mới lại quay về làng cũ.
Ra Hà Nội, xã Tài tìm đến một người bà con đang làm thầu khoán giãi bầy hết tâm can, và ngỏ ỷ quả quyết làm giầu. Hồi đó nhằm lúc nhà nước làm con đường xe hỏa Hà Nội - Lạng Sơn, bác xã nhờ công việc thầu gỗ mà lên như diều. Rồi bác ta xoay đủ nghề: nghề thầu khoán làm nhà, đắp đê, vận tải, cho vay cầm đồ, buôn sơn cho chí cả nghề buôn thuốc phiện. Lòng quả quyết rửa hờn giúp bác xã thêm hăng hái, can đảm có khi tàn nhẫn, man trá, lừa đảo vô nhân đạo.
“Nhưng không hề gì, rồi một ngày kia ta giầu có, ta sẽ làm điều thiện để chuộc tội với trời. Bây giờ mục đích ta chỉ có một là làm giầu”,
Mười năm sau bác giầu.
Hai mươi năm sau bác có cửa hàng năm sáu chục muôn, lại thêm vẻ vang cái chức mà Hà thành cho bác: Ông Nghị.
Ông Nghị liền sắp sửa khởi công báo thù.
Vào hồi ấy thì gia thế quan thượng Bùi ra sao?
Quan thượng hồi hưu đã lâu, ông con cả đương Tri phủ Hoài Đức, sinh được một trai tòng học tại trường Cao đẳng sư phạm và một gái năm ấy mới lên tám tuổi, ông Phủ cho theo học ở trường Hàng Cót.
Ông Nghị Tài nghĩ thầm: “Như thế thì tuy mình có hơn người ta chữ phú, người ta vẫn hơn mình chữ quí. Nay dẫu về làng huyênh hoang của cải cũng chẳng chuộc nổi cái tiếng xấu xa hai chục năm về trước. Mà nay thì mình đã người năm mươi tuổi còn thế nào chạy chọt được chức nọ chức kia. Phẩm hàm quyên thì ai trọng!
Nhưng ông Nghị còn hy vọng. Người con thứ tư, năm nay mười bốn tuổi, học hành chăm chỉ, tính chất thông minh, sau này thế nào cũng làm nên, ông Nghị mừng thầm “nó sẽ làm quan vì ta muốn thế”.
*  * *
Một buổi chiều, một chiếc ô tô hòm vào phủ. Ông Phủ còn đương bỡ ngỡ chưa biết khách nào, thì ông Nghị Tài đã ở xe bước xuống, vái chào rồi xưng tên tuổi quê quán:
- Bẩm quan lớn, tôi mới được biết quan lớn trọng nhậm ở đây, nên đi qua vào thăm. Cũng người làng nước mà mải công việc làm ăn không được gặp quan lớn luôn.
Từ đó hai người đi lại chơi bời rất thân. Khi ông Nghị về phủ, khi ông Phủ ra Hà Nội. Ông Phủ tuy làm quan nhưng tính nết hiền lành mà lại ham chơi nên cũng không có gì. Song từ khi quen ông Nghị thì cái tủ sắt của nhà thầu khoán nghiễm nhiên như cái kho vô tận của mình. Ngỏ lời vay một trăm, là ông Nghị đưa hai ba trăm, chẳng có văn tự, văn khế gì. Ông phủ có nhắc làm giấy cho cẩn thận thì ông nghị gạt vội đi.
- Chỗ người làng người nước với nhau, quan lớn cứ bầy vẽ.
Thành thử sẵn tiền, ông Phủ cứ chơi tràn, hát sướng cờ bạc đủ thứ. Mà cái kết quả của sự chơi bời thái quá thì bao giờ cũng chỉ có một: làm bạn với cô ả phù dung.
Mấy năm sau, ông phủ vì trễ nải, bị đổi lên mạn ngược rồi nhà nước lại bắt phải về hưu.
Khi ông Phủ về làng cùng ở với cha già, thì con trai đã đi giáo học, còn cô Liên đương học năm thứ ba ở trường nữ sư phạm. Thấy con đã lớn tuổi mà coi chừng tính nết quá tự do, nên ông bắt về quê học tập công việc đồng áng.
Hai cha con tuy ở nơi thôn đã, nhưng cảnh phú quý đã quen, không thể bớt ăn bớt tiêu đi được, kẻ hầu người hạ vẫn tấp nập như xưa. Lại thêm cảnh quê buồn thường phải bầy ra cờ bạc rồi đón bạn bè phương xa về chơi, ăn uống tiệc tùng như hội quanh năm.
Ông Nghị Tài hình như cũng chán cảnh phồn hoa, muốn về làng dưỡng lão.
Một hôm ông đến chơi hầu tổ tôm cụ Thượng, chuyện trò, thân mật rồi gợi ý:
- Bẩm cụ lớn, chúng cháu chỉ muốn được ở gần cụ lớn để được hầu tổ tôm luôn. Nay cụ lớn đã ngoài bẩy mươi, mà cháu cũng ngoài sáu chục, chỉ nên đi dưỡng tính tình cho qua ngày tháng.
- Ông Nghị nói rất phải. Đấy, đất của tôi chán ra đấy, Ông muốn ở đâu, thì cứ làm nhà mà ở.
- Bẩm cụ lớn, chúng cháu cứ quen cái lối con nhà buôn, cưa mạch nào đứt mạch ấy. Vậy miếng đất đằng sau nhà cụ lớn bỏ hoang đã lâu ngày, xin cụ lớn làm ơn để lại cho, vẫn biết cụ lớn chẳng thiếu gì, nhưng trước cụ lớn cũng phải mua chứ. Vậy xin hoàn lại số tiền cụ lớn bỏ ra. Chỗ ấy rộng đến hai sào, chúng cháu xin nộp cụ lớn bốn trăm.
Nhờ có ông Phủ nói giúp, lại nhân trong nhà đương lúc túng, nên cụ Thượng miễn cưỡng nhận lời.
Thế là ông Nghị Tài bắt đầu mọc rễ bên cạnh cụ Thượng Bùi.
Ông Nghị mở mang xây dựng nhà cửa lộng lẫy. Rồi nay thêm một tí, mai thêm một tí, dùng lời nói ngọt ngào nịnh hót mua được thực nhiều ruộng vườn, đất cát của nhà cụ Thượng. Và bao giờ ông Nghị cũng phải chịu trả giá rất cao, ít ra là gấp rưỡi, nếu ông Phủ xui cụ Thượng.
- Bẩm tuy không túng bấn, những được giá cao thì cứ bán, bán một chục mẫu ta có thể đủ tiền mua được mười lăm mười sáu mẫu kia mà.
Nhưng bán được tiền nào có mua ruộng, hai cha con chỉ ăn tiêu phung phí hết.
Đến nay thì cụ Thượng Bùi với ông Phủ cơ nghiệp chỉ còn lại mười mẫu ruộng. Chỗ đất ở vào khoảng gần một mẫu, thì đã đợ cho ông Nghị Tài, hẹn sang năm không giả được nợ, thì người cho vay cứ việc cắm.
Đã gần đến ngày trả được thù, ông Nghị liền giở mặt không đi lại chơi bời thân mật nữa, chỉ còn chờ ngày đến cắm nhà. Họ Bùi họ Nguyễn từ đó ghét nhau ra, mặt, bầy đặt chuyện này chuyện khác để trêu tức nhau. Vì thế nên hôm nay bên ông Nghị hát chèo ăn mừng cậu con đậu luật khoa cử nhân ở Pháp về, cũng chỉ là để chọc gan bên hàng xóm, một bọn gia nhân nhà cụ Thượng sinh sự cãi cọ, đánh nhau để phá đám cũng chỉ có một mục đích.
* * *
Sáng hôm sau, cụ Thượng đương ngồi uống chè tầu với ông Phủ ở sập thì người nhà vào trình:
- Bẩm cụ lớn, có cậu cử con Nghị Tài xin vào hầu.
Ông Phủ nhìn cụ Thượng có ý ngần ngại:
- Nó cho con nó sang nhắc nợ chăng, cái món nợ ấy mãi đến sang năm mới tới hạn kia mà.
- Được cứ để cho nó hy vọng cắm nổi nhà ta. Nhưng bây giờ có tiếp con nó không?
- Bẩm cứ cho nó vào. Xem nó đi tây về lố lăng đến bực nào.
Rồi ông Phủ quay ra bảo người nhà.
- Đâu! Bảo cậu ấy vào đây!
Một lát, cử Giang vào kính cẩn cúi đầu lễ. Ông Phủ không mời ngồi, hỏi sẵng:
- Có việc gì thế?
- Bẩm cụ lớn, hôm qua chúng cháu sơ ý, cho đánh trống khuya, làm phiền lòng cụ lớn, vậy chúng cháu sang xin lỗi cụ lớn.
Ông Phủ thấy Giang ăn nói lễ phép, lấy làm ngượng, liền giờ tay mời ngồi, rồi hỏi:
- Cậu ở bên Tây mấy năm?
- Bẩm, ba năm.
Lúc ấy một người con gái, tay bưng cái đĩa tây ở ngoài sồng sộc chạy vào, vừa cười vừa nói:
- Bẩm ông, cái ga tô (gateau= bánh ngọt) hôm nay con làm khéo quá.
Bỗng trông thấy Giang, bẽn lẽn đứng dừng lại, rồi đặt vội đĩa bánh lên bàn, cắm đầu chạy thẳng. Cụ Thượng cười.
Cử Giang thì hai má đỏ bừng đứng dậy xin lỗi lần nữa, rồi cung kính vái chào cáo từ.
Cách mấy hôm sau Giang đi săn, cứ quanh quần bên lũy tre nhà cụ Thượng. Bỗng gặp con gáy, Giang chỉa súng bắn, con chim bị đạn rơi vào trong vườn. Đương lom khom nhìn xem có lối vào nhặt chim thì thấy cô con gái bưng bánh hôm nọ đương ngồi xem sách ở gốc cây ổi. Đánh bạo, Giang cất tiếng chào:
- Thưa cô, cô làm ơn quăng giùm con chim ra cho.
- Ai là người nhặt chim cho anh.
- Thưa cô, nếu cô không nhặt hộ, thì tôi kính dâng cụ Lớn, quan Lớn và cô.
- Ai thèm ăn của của anh!
- Thưa cô, cô đương đọc sách gì đấy?
- Việc gì đến anh! Anh khôn hồn bước ngay, thầy tôi mà trông thấy thì anh bỏ đời.
- Thưa cô, được bỏ đời ở trước mặt cô thì còn gì hân hạnh bằng?
Câu trả lời ngộ nghĩnh làm cô Liên phải cúi đầu xuống tủm tỉm cười, rồi đứng dậy nghiêm trang ra lũy tre nhặt con gáy ném ra ngoài.
- Đây, chim của anh đây, anh muốn sống đi ngay.
- Thưa cô tôi chỉ muốn chết.
- Chết đi, ai cấm. Phải đấy, chết đi! Cả ông Nghị nữa. Sống mà làm khổ cả nhà người ta thì sống làm gí?
Nghe câu nói Giang hết vui cười:
- Thưa cô, tôi ở Pháp mới về được vài hôm nay, không hiểu chuyện chi hết.
- Về hỏi ông Nghị nhà anh ấy.
Dứt lời cô Liên quay mình đi thẳng
Chiều hôm ấy Giang hỏi cha:
- Bẩm thầy, thầy mới có chuyện gì với bên cụ Thượng thế?
- Mới có chuyện gì, có từ ba mươi năm kia.
Ồng Nghị liền đem hết đầu đuôi sự lập thân báo thù ra kể.
Nghe xong câu chuyện, Giang buồn rầu thưa:
- Con tưởng làm được thế này cũng đủ rồi, nên tha cho người làm phúc.
- Tha thế nào được, rồi con sẽ biết.
* * *
Luôn một tháng, chiều nào Giang cũng vác súng đi săn ở lũy tre nhà cụ Thượng Bùi. Mà chiều nào cô Liên cũng xem sách ở dưới gốc cây ổi. Hai người hình như đều có dáng chờ đợi mong nhau. Bây giờ gặp nhau đã mỉm cười, câu chuyện đã thấy vơ vẩn hơn xưa nhiều:
- Thưa cô, cái cây ấy có phải là cây ổi không?
- Phải, cây ổi.
- Thưa cô, ở nhà quê có vui không?
- Buồn chết người đi!
- Thưa cô, tôi thì tôi thích ở nhà quê… Thưa cô, trông cô qua chỗ thủng trong bờ tre như Hằng Nga ngồi trong Nguyệt điện.
- . . .  . . . . .
- Thưa cô, tôi có nhiều tiểu thuyết hay lắm, cô có xem tôi xin đưa sang.
- Cám ơn ông.
Đương dở câu chuyện, thì một tên người nhà hớt hơ hớt hoảng chạy đến:
- Bẩm ông cho tìm cậu có việc cần.
Về đến nhà thì gặp ông Nghị đang đi bách bộ ở vườn hoa, ra dáng tức giận lắm:
- Con đấy à! Thế này thì tức lắm con ạ, nhà ta giầu có, con lại đậu cử nhân mà nó bảo nó không thèm gả cho con nhà thường dân.
- Bẩm ai?
- Cha con ông Thượng chớ ai?
- Chết sao thầy lại hỏi con quan phủ cho con?. Người ta không gả à? Nhưng còn thù xưa của cha?
- Ấy chính vì muốn trả thù nên cha mới hỏi. Con phải biết, họ cậy nhà họ năm sáu đời làm quan, chỉ thông gia với những chỗ môn đăng hộ đối. Nhà ta thì sáu bẩy đời toàn thị ông xã, ông khán, cha nay thông gia với họ cho họ hết lên mẽ.
- Nhưng con không bằng lòng. Dẫu người ta có gả, con cũng không bằng long... Nhưng người nhà cụ Thượng cầm thư sang có việc gì kia kìa.
Ông Nghị mở thơ đọc:
“Ông Nghị,
“Ông là người rất tàn nhẫn, kể ra con ông đậu cử nhân, mà kiểm hạnh lại gấp trăm gấp nghìn kiểm hạnh ông thì cũng đáng lấy cháu tôi đấy. Song việc ông hỏi cháu tôi như một việc mua người, vì ông nói bằng lòng gả thì ông trả lại văn tự. Chỉ bởi lẽ ấy mà tôi từ chối đó thôi Tôi không ngờ đâu ông hèn đến thế”.
Giang đỡ lấy bức thư xem lại một lượt mặt tái mét, chân tay run lẩy bẩy:
- Bẩm thầy cho con xem qua bức văn tự!
- Xem làm gì?
- Con xem có thể tiện cắm nhà ngay được không?
Khi bức văn tự đã lọt vào tay, Giang liền chạy một mạch sang nhà cụ Thượng. Đến cổng gặp cô Liên, Giang cất mũ chào, Liên cười nhạt hỏi:
- Nhà cậu đã được mấy đời làm thất đức rồi?
Mặt đỏ bừng Giang xông đến tận gần sập, chỗ cụ Thượng nằm, nói to:
- Bẩm cụ lớn, Cụ lớn không được phép khinh mạn cha tôi. Cha tôi cho tôi đem bức văn tự sang nộp cụ lớn đây.
- Phải, sang mua người.
- Xin cụ lớn đừng ngại, dẫu cụ lớn có gả cháu gái cụ lớn cho tôi, tôi cũng không bằng lòng kia mà. Nếu cụ lớn còn ngờ, tôi xin xé bức văn tự trước mặt cụ lớn đây này.
Miệng nói, tay xé nát tờ giấy tiến chỉ vất xuống gầm giường.
- Thôi, xin kính chào cụ lớn, xin cụ lớn nhớ cho rằng, dù sinh trưởng ở nơi lều gianh hay ở chốn lâu đài, con người vẫn có thể có tấm lòng cao thượng…, cháu xin thú thực, cháu yêu cô Liên, và ngày đêm vẫn ao ước được cùng sánh duyên cầm sắt, nhưng ngày nay đã xẩy ra chuyện lôi thôi này thì cháu nguyện suốt đời không lấy ai…
Giang nói tới đây như nghẹn lời, quay về nhà, ông Nghị hỏi:
- Con đem văn tự sang hỏi họ đã trả lời ra sao?
Giang lạnh lùng đáp lại:
- Con xé ra rồi
- Con xé văn tự?
- Vâng.
- Thôi! Con giết cha rồi! Giấc mộng ba mươi năm của cha…
- Thưa cha, nhà ta giàu có như thế này làm gì một món nợ năm nghìn.
Ông Nghị vừa khóc, vừa nói:
- Làm gì? Con tính cha lao tâm lao lực xoay trăm phuơng nghìn kế mới đưa nổi họ vào tròng, nay con nỡ phản cha. Thằng khốn kia, xéo ngay mày đừng ở nhà ông một phút nào nữa. Thà rằng ông không có mày!
* * *
Hôm sau, ông Nghị nhận được giấy cụ Thượng mời sang ăn cơm. Trong giấy lại nói mời cả cậu cử Giang. Lúc đó, ông Nghị đã nguôi cơn giận, và đương tìm cách khác báo thù, nên làm ra bộ tha thứ cho con, liền gọi Giang đến bảo:
- Bên ông Thượng mời cha con ta sang ăn cơm, con tính có nên sang không?
- Bẩm ta sang cho họ biết là ta không thèm thù vặt.
- Nhưng nhỡ họ đánh thuốc độc thì sao?
- Khi nào dám? Và con xem cụ Thượng và quan Phủ đều là bực quân tử.
Ông Nghị lẩm bẩm:
- Hừ… quân tử.
Bữa cơm chiều hôm ấy, cụ Thượng và quan Phủ tiếp cha con ông Nghị một cách rất ân cần thân mật. Khi rượu đã ngà ngà, cụ Thượng khoan thai nói:
- Tiệc rượu hôm nay, mục đích là để cảm ơn cái lòng cao thượng của ông Nghị. Song dẫu việc ông làm là phải, bổn phận tôi vẫn là phải trả món nợ năm nghìn. Vậy tôi xin viết lại bức văn tự khác trả ông.
Giang không để ông Nghị kịp trả lời, vội đứng dậy nói luôn:
- Bẩm cụ lớn, việc ấy nhỏ mọn nhắc gì tới nữa. Trong tiệc vui không nên ôn lại chuyện buồn. Và người lớn với nhau có cần gì văn tự vấn khế, một lời của cụ lớn lại không chắc chắn hơn mảnh giấy chăng? Vậy cụ lớn đã hứa rồi cụ lớn sẽ trả, là đủ. Bao giờ cụ lớn có, cụ lớn cho cũng được, không phải viết lại văn tự thêm phiền.
- Cậu ăn nói ra người có học thức lắm. Hôm nay tôi mời ông Nghị và cậu sang đây trước là ngỏ mấy lời cám ơn, sau là để bàn một việc riêng. Cứ lời cậu nói hôm qua thì cậu yêu con cháu Liên và thề rằng nếu không lấy được nó thì suốt đời ở vậy. Mà cháu Liên nghe như nó cũng không chê cậu. Trước tôi có tị hiềm một chút, nhưng ông Nghị ạ, ta nên bỏ hết thù xưa mà bỏ nghĩ tới hạnh phúc của hai trẻ. Chúng nào có làm gì nên tội, ông nghĩ sao?
- Bẩm cụ lớn, cụ còn nhớ câu chuyện xã Tài xin ra làm phó lý không?
Cụ Thượng còn bỡ ngỡ không hiểu, thì Giang vội gạt đi.
- Câu chuyện ngày xưa, thầy ôn lại làm gì? Bẩm cụ lớn, đáng lẽ cháu từ chối là phải. Vì lẽ gì cụ lớn tất phải hiểu. Nhưng cháu lại nghĩ vì cha cháu mà nhà cụ lớn bị sa sút nên cháu xin vâng nhận lời để cố chuộc lại lỗi của cha cháu.
Ông Nghị hầm hầm tức giận:
- Còn tôi, thì tôi không bằng lòng, tôi nhất định không bằng lòng…
- Bẩm nếu thầy nhất định không bằng lòng thì con cũng nhất định không xuất chính. Con xin viện danh dự thề như thế.
Ông Nghị đấu dịu.
Khi về đến nhà, nghĩ đến nỗi trước, đường sau, nghĩ đến tình đôi trẻ, ông Nghị ứa nước mắt, lẩm bẩm:
- Cái thù ba mươi năm chỉ có thế!
 
HẾT
 

Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0