#7 —
24.03.2020 10:12
(đã sửa)
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 24.03.2020 17:18:47 bởi Thanh Vân>
LỜI THỀ CÒN ĐÓ TRƠ TRƠ
Cuộc tình duyên tưởng tượng của tôi giòng giã được hai tháng thì lại một sự tức cười nữa xảy ra. Chắc có ngài đã lẩm bẩm : ‘‘Đến lắm sự xảy ra: Thế mà anh ta bảo đời anh ta phẳng lỳ như cảnh, bùn lầy nước đọng. Còn như có tức cười hay không thì chưa chắc vì từ đầu chuyện đến đây, ta không thấy một mảy may tức cười nào, tuy anh ta luôn luôn khoe khoang như vậy !’’
Vâng. Mà có lẽ thực. Nói tức cười - cũng hơi quá. Họa chăng có vẻ khôi hài một chút.
Nhưng dù nó đáng tức cười hay nó chỉ có vẻ khôi hài cũng không quan hệ gì lắm, quý hồ nó có xảy ra là đủ rồi.
Mà nó có xảy ra, xảy ra ở dưới ánh sáng mặt trời chứ không phải ở trong trí tưởng tượng nữa.
Hôm chủ nhật ấy, cũng như mọi chủ nhật khác, vừa ở trường ra, tôi đã cùng mấy anh em bạn vào lượn chơi trong hiệu Gô-đa tuy chẳng bao giờ tôi chịu mua một vật gì. Cuộc du hành của chúng tôi có hai mục đích: mục đích thứ nhất là đi ngắm nghía cho thích mắt những đồ hàng đẹp đẽ mà chúng tôi không có tiền mua.
Còn mục đích thứ hai mà chúng tôi không ai thú với ai, là nhìn các cô thiếu nữ đi mua hàng. Trong bọn chúng tôi, có nhiều người tự hào cho rằng, trái ngược lại, đó chính là mục-đích của các cô kia vào Gô- đa để chấm lấy ý trung-nhân trong sinh viên Cao đẳng, thứ hàng cao giá của các cô. Nhưng tôi vẫn ngờ lắm. Tính tôi hay rất ngờ, nhất là từ ngày tôi được làm quen với tấm ái tình trong trẻo của cô Thi. Tôi cho rằng cái chức ‘‘sinh viên Cao đẳng’’ không làm siêu nổi lòng các cô, cũng như cái học vấn mênh mông của tôi cũng không thể giữ nổi trái tim cô bạn gái.
Song ngờ thì ngờ, tôi vẫn phải tỏ cho anh em bạn biết tôi cũng như bọn họ ; cũng tin rằng chúng tôi là những cái đích để cho cặp mắt sắc sảo kia bắn trúng. Hơn nữa, tôi cũng lắm ra bộ theo đuổi một cô mà tôi vờ quyến luyến. Là sinh viên trường Cao đẳng mà không liếc gái, không táo tợn đối với phái đẹp thì anh em sẽ liệt mình vào hạng ‘‘mọi rợ’’ ngay. Mà tôi xin thú thực cái tính tự cao của tôi chẳng muốn để tôi bị liệt vào hạng ‘‘mọi rợ’’ một tí nào.
Cái cô được hân hạnh lọt vào con mắt giả dối của tôi buổi sáng hôm ấy, sự tình cờ run rủi lại con một quan phủ, khiến anh Hoàng Ngọc yên trí ngay rằng cô là người yêu của tôi, tuy tên cô ta bắt đầu bằng chữ T một chữ cái ở sau chữ B những gần 20 bậc. Song anh Ngọc nhất định cho chữ B là mỹ tự của cô T.
Lúc bấy giờ cô T đang đứng chọn đồng hồ đeo tay. Tôi ngả mũ chào, vì tôi có cùng người bạn anh cô đến chơi nhà cô một lần. Cô lạnh lùng đáp lễ Đáng lẽ tôi nên hiểu mà lảng ngay đi mới phải. Nhưng không, sự ngây thơ, dại dột của tôi xui tôi đứng gần đấy mà dõng dạc bảo người bán hàng lấy cho xem một cái đồng hồ đeo tay xinh xắn giá năm trăm quan. Tôi tấm tắc khen đẹp và ngỏ ý mnốn mua, tuy trong túi không có một xu nhỏ. Anh Ngọc vớ ngay được một dịp tốt để thử khoa tâm lý; anh đăm đăm nhìn cô T cất tiếng hỏi tôi:
- Anh mua để tặng cô B. phải không?
- Khô... ng.
Tỏi trả lời một cách kín đáo, bí mật. Cô T ý chừng hiểu, vì cô nguýt dài chúng tôi một cái, rồi nhẹ nhàng rời đi nơi khác. Khoa tâm lý của anh Hoàng Ngọc cho đó là một sự giấu giếm vụng về của một cô mới biết yêu và càng chắc chắn rằng cô T với B cùng là một người, nhất là khi khoa tâm lý ấy lại thấy tôi chỉ đáp lại bằng cái mỉm cười vơ vẩn.
Nhưng T với B quả là hai người. Mà, - một sự ngẫu nhiên gớm ghê - B tôi tưởng tượng ra lại có thực : cô Bảo. Kể thì chẳng thiếu gì tên bằng chữ B, sự đó có chi lạ. Song có ai dám ngờ rằng cô B ấy lại dính líu cùng tôi một cuộc tình duyên thứ hai thê thảm gấp mấy cuộc tình duyên thứ nhất. Có lẽ tâm linh báo cho tôi biết trước nên tôi tưởng tới tên người tương lai sắp sửa làm cho tôi ê chề khổ sở chăng?
Sau này tôi mới hiểu là đời không có sự gì ngẫu nhiên hết. Rồi độc giả sẽ hiểu như tôi.
Gần mười giờ, tôi về nhà cô tôi để ăn cơm sáng.
Tôi lên gác và vừa mở cửa sổ nhìn ra ngoài, thì ở một cái gác đối diện nhà cô tôi, một người thiếu nữ đương tỳ tay trên bạo cửa đăm đăm trông sang, như ngồi đó mà chờ đợi ai.
Lần này không phải là lần đầu tiên tôi gặp cô ta, nhưng là lần đầu tôi lưu ý đến cô ta. Mọi khi, đối với tôi cô ta chỉ là một người… một người khách qua đường, không tên không tuổi mà cuộc tình duyên khốn nạn luôn luôn thì thầm khuyên tôi đừng dính líu tới.
Nhưng hôm nay, chẳng biết sao, lòng tôi bồng bột muốn yêu. Có lẽ đó cũng là một sự giả dối. Có lẽ ngày hôm nay, qua một người bạn đã dám ngờ vực rằng cô B chỉ là một tên tôi bịa đặt ra, nên nay chợt trông thấy thiếu nữ kia, tôi lờ mờ nghĩ ngay tới một sự khôn khéo đã cứu vãn lấy tấm danh dự đương lung lay. Phải, nhận được một bức thư của cô kia giữ làm bằng chứng, rồi tuyệt giao với cô ta, như thế thật là tiện lợi và giản dị. Nhưng có được cái bằng chứng ấy, kể cũng khó khăn vất vả.
Tôi đương loay hoay với ý tưởng bất chánh ấy thì hình như cô kia đọc được trong tâm hồn tôi, gật đầu và mỉm một nụ cười tình. Tôi giật mình kinh ngạc. Tôi không ngờ đâu sự nguyện vọng của tôi lại được thực hiện chóng đến như thế, khiến tôi không khỏi lo sợ, mơ màng tưởng tới buổi gặp gỡ dễ dàng ở cửa trường hàng Cót …
May sao chỉ có thế, mới chỉ có một nụ cười vơ vẩn, thì cô thiếu nữ như nghe tiếng gọi, vội vàng quay vào trong nhà. Chờ một lát không thấy cô ta ra, tôi đành xuống nhà ăn cơm.
Buổi chiều, lúc tôi vào trường, đi qua nhà cô láng giềng. Liếc trông vào hàng, tôi vẫn thấy cái nụ cười ban sáng nở trên cặp môi đậm đà và âu yếm, làm cho trí tôi không thể nào quên ngay được nó, phải đem theo nó cùng vào trường Cao Đẳng.
Rồi mấy hôm sau, tôi sinh ra băn khoăn mơ mộng như bị cái nụ cười kia ám ảnh.
Bốn hôm sau, một buổi chiều thứ năm, nhằm vào cuộc nói chuyện của ông Monet ở nhà hội quán Việt Nam Thanh Niên. Tôi cùng mấy anh em trường Cao đẳng sư phạm đến dự thính.
Gần giờ khai diễn tôi bỗng để ý tới một cô thiếu nữ đi lại trước mặt tôi đến ba, bốn lượt và băn khoăn như muốn tìm một chỗ ngồi. Tôi liền đứng dậy lễ phép xin cô ta chiếu cố tạm nhận cái ghế, mà ‘‘tôi có hân hạnh được kính dâng cô’’. Cố nhiên là tôi nói tiếng Pháp để khoe cái giọng tây ‘‘không dấu’’ của tôi. Vả tôi tưởng đối với một cô tân tiến đến nghe một bài diễn văn tiếng Pháp mà đem tiếng mẹ đẻ ra. nói với thì không khỏi, cô ta cho mình là khiếm lễ.
Nhưng tôi kinh ngạc xiết bao, khi cô ta ngồi xuống ghế, ngước mắt cảm ơn tôi bằng một nụ cười cái nụ cười tươi tắn đóng khung trong khuôn cửa sổ bữa nọ. Thì ra cô ta là cô láng giềng ở phố Vải thâm.
Tôi loay hoay tự hỏi: Cô ta đến đây làm cái gì?... Hay lại... Sự nhún nhường, bẽn lẽn không dám cho phép tôi nghĩ trọn câu, vì nó sợ tôi lễn quá mà tưởng rằng cô ta đến đó chỉ vì ‘‘cặp mắt xinh đẹp của tôi’’.
Dẫu sao, tôi cũng không tránh khỏi sự ngượng nghịu vì trong khi ông Monet nói chuyện, hình như cô thính giả để ý đến tôi hơn là. đến bài văn của diễn giả.
Biết đâu chẳng phải lòng tự ái của tôi tưởng tượng ra điều đó. Tôi tự an ủi như thế, là vì không biết sao lúc bấy giờ tôi lại chợt nghĩ đến Thi với cuộc tình duyên khốn nạn của tôi năm xưa. Rồi nhớ lại lời thề của tôi, lời thề không yêu ai nữa.
Tôi đương vờ chú ý lắng hết tinh thần nghe bài diễn thuyết, cốt để tránh luồng hào quang của đôi mắt thôi miên sáng quắc thì tiếng vỗ tay đôm đốp làm tôi giật mình tỉnh giấc mơ màng. Tôi ngơ ngẩn hỏi anh Ngọc đứng bên cạnh:
- Hết rồi à ?
- Hình như thế.
Anh khúc khích cười rồi bấm tôi trỏ phía hàng ghế trước mặt mà thì thầm:
- ... Của anh đấy à?.
- Anh nói cái gì, tôi không hiểu.
Nhưng một sự ngẫu nhiên (cũng như sự ngẫu nhiên ở cửa trường hàng Cót), làm tôi hiểu ngay.
Cô thính giả xinh đẹp đi lại chỗ tôi đứng và hỏi tôi một cách rất thản nhiên:
- Ông ấy nói những gì thế, thưa ông?
- Ông có thể giảng nghĩa qua cho em hiểu với không?
May sao anh Hoàng Ngọc, bạn tâm lý học của tôi cứu giúp tôi ra khỏi được sự khó khăn. Anh mỉm một nụ cười rất tươi mà trả lời rằng:
- Thưa cô, diễn gia nói chuyện về nơi tụ họp của anh em thanh niên Đông Dương.
- Ồ, thế thì chắc hay lắm nhỉ?
Tôi lấy làm bực mình quá, vì bao nhiêu mắt đổ dồn cả vào chỗ chúng tôi đứng. Cáu tiết tôi hỏi sõng:
- Thưa cô, vậy ra cô không hiểu tiếng Pháp?
Cô kia chẳng chút thẹn thùng, ngượng nghịu, trả lời vắn tắt:
- Không.
Tôi toan nói một câu mai mỉa, đại khái: ‘‘Vậy cô đến. đây làm cái trò gì ?’’. Nhưng tính nhút nhát và dễ cáu kỉnh của tôi làm cho tôi chỉ nóng rát mặt lên mà đứng tắc tị như một con cá chép. May sao cô kia lại tiếp luôn:
- Em cứ tưởng ông đốc diễn thuyết bằng tiếng ta.
Anh Ngọc đáp:
- Cô lầm rồi. Thứ năm sau, ông Trần Trọng Kim mới nói chuyện bằng tiếng Việt Nam.
- À ra thế. Vậy thứ năm sau tôi lại đến vậy.
Rồi cô mỉm cười chào chúng tôi.
Tôi thoát nạn, trong lòng mừng thầm và tự hỏi ‘‘Có lẽ chủ nhật và thứ năm mình không dám về nhà nữa chăng?.
CÔ BẢO
Tôi ra tới đường, khoan khoái dễ thở, nhất là đưa mắt ngó tứ phía lại không thấy bóng người thiếu nữ đâu nữa.
Trước khi trở về trường, tôi chia tay cùng anh Ngọc, nói xuống phố có chút việc, kỳ thực tôi chỉ cốt để anh Ngọc ngờ rằng tôi đến nơi hẹn hò nói chuyện với tình nhân. Quả nhiên anh ngờ thực, liếc mắt nháy tôi và thì thầm:
- Đi tìm cô ả ban nãy phải không?
Tôi bắt tay không nói gì, khiến anh Ngọc càng thêm, ngờ vực. Rồi tôi lên xe trỏ phía trước mặt bảo kéo, vì tôi cũng chẳng định đi đâu, quí hồ lượn vài vòng để về trường có thể khoe khoang đi với bạn tình là được rồi.
Qua phố Hàng Bồ, tôi bảo anh xe đỗ lại, vào một hiệu khách mua gói thuốc lá. Tôi đương trả tiền bỗng thấy động ở túi đồng hồ. Tôi quay lại: Cô thính giả ban nãy đã cầm chiếc khăn thêu của tôi và nhoẻn miệng cười hỏi một cách ỡm ờ:
- Ai tặng anh thế?
Nhẩm đọc hai chữ, cô ta nỏi tiếp:
- Cô V…hay cô B… hay cô A… tôi biết rồi. Cô B. vì tên anh là Văn.
Cô ta lại rủ tôi đi chơi, nhưng tôi quả quyết từ chối nói phải về trường ngay để ăn cơm chiều.
- Cũng được. Vậy anh cho em cái khăn này nhé?
Cô vừa nói vừa dúi vào tay tôi một cái phong bì. Tôi ấn vội bức thư vào túi, rồi ngả đầu chào, hấp tấp ra xe. Nhưng cô ta đã chịu buông tha đâu, còn theo ra đường xoắn suýt hỏi:
- B… là ai thế anh?
Tôi trả lời vơ vẩn mãi không xong, đành đem chuyện thực ra kể qua cho cô nghe. Cô ta cười khanh khách, chẳng biết đó là cái cười vui thú hay cái cười chế nhạo.
Tôi tưởng thế là thoát nạn. Nhưng tôi lầm. Cô kia nhất định tiễn tôi ra đến tận xe mà thì thầm bảo cho tôi, biết rằng tôi với cô thực có duyên tiền định, vì tên cô là Bảo, nghĩa là cô biệt hiệu B. thêu trong chiếc khăn.
Tôi tin cô lắm. Mà tôi không tin sao được?
Tối hôm ấy, dưới ánh đèn điện trong giờ học tối, tôi mở bức thư của cô Bảo ra đọc cố nhiên là tôi không giấu nổi anh Ngọc. Và tôi cũng không có ý giấu anh ở trong Cao đẳng nhận được thư tình vẫn là một cái danh dự thèm muốn.
Bức thư ấy dài lắm, không tiện chép ra đây, chỉ xin độc giả biết cho rằng tác giả nó là một cô rất thơ mộng, rất lãng mạn và rất có tài thêu dệt những câu cẩm tú, vừa kêu vừa đẹp (vì chữ cô Bảo đẹp lắm)
Tôi phục lăn, mà anh Ngọc, tuy không bình phẩm, nhưng tôi chắc cũng phải tấm tắc khen thầm, vì có đoạn tả cái sầu man mác trong lòng anh đọc đi đọc lại đến ba lần.
Cuối thư, tác giả không ký tên (Trong những thư sau, người tình của tôi mới chịu ló cái tên Bảo ra). Chỉ thấy biên thêm những giòng chữ nhỏ:
“Bức thư này em viết trong một đêm đông, ngồi than thầm với bóng, trước ngọn đèn ủ rũ buồn tênh. Đã mấy lần em định gửi cho anh, nhưng đều không có dịp may mắn. Em đợi chiều mai anh đến nghe diễn thuyết ở nhà hội quán thanh niên (vì em chắc thế nào anh cũng đến), em sẽ trao cho anh cùng một lúc với trái tim đau đớn của em”.
Tôi sung sướng, không phải sung sướng vì tấm ái tình mới mẻ kia mà tôi đã bắt đầu ghê sợ, nhưng mà sung sướng được anh em ca tụng là một tay có tài về khoa tán gái. Thực ra khoa tán gái của tôi thì họa chăng chỉ có cô Thi, và tôi biết được chắc chắn nó cao đến bực nào. Song được anh em khen ngợi thì can chi mà chẳng nhận. Có ngờ đâu hãnh diện một lúc mà sau mang khổ một đời.
Anh Ngọc giục tôi trả lời ngay bức thư, nhưng tôi tỏ ý muốn tuyệt giao với Bảo (kỳ thực đã giao bao giờ đâu mà tuyệt giao). Anh khuyên tôi không nên thế. Tôi liền đem chuyện tình riêng khốn nạn cùng Thi thuật lại cho anh nghe và tôi không quên ôn lại cả câu thề độc địa của tôi. Anh Ngọc liền bảo tôi:
- Anh tưởng tuyệt giao mà tránh được sự phiền muộn à? Thực anh không có một chút kinh nghiệm gì về ái tình, Anh phải biết người con gái kia yêu anh, mà bị anh ruồng rẫy hay không lưu ý tới sẽ trả thù anh một cách xứng đáng, sẽ bịa đặt ra chuyện nọ chuyện kia để hại anh, Chi bằng dù chẳng thích mặc lòng, anh cứ vờ làm ra mặt ưng thuận rồi nhạt dần thì hơn. Như thế, mình không mất lòng mà mình cũng chẳng thiệt gì.
Tôi tấm tắc thần phục khoa tâm lý phụ nữ của anh Ngọc rồi tôi nhờ anh thảo giúp cho bức trả lời, vì tôi thú thật với anh rằng lời văn “xích độc” của tôi rất kém Anh cũng chẳng nề hà, nhận lời giúp tôi ngay. Sáng hôm sau, anh trao cho tôi một bức thư dài tới bốn trang đặc. Tôi toan cứ thế bỏ phong bì gửi cho cô Bảo nhưng anh Ngọc ngăn cản bảo tôi phải chép lại cẩn thận đã, Anh gật gù tự khen:
- Bức thư này thì phải biết!
Rồi anh đọc cho tôi nghe một lượt. Quả thực tôi thấy lời văn có thể so sánh được với văn cô Bảo, cũng mơ mộng, cũng bóng bẩy rất nên thơ.
Nhưng còn phải chép lại. Tôi rất ngại điều đó, nhất là chữ tôi lại xấu lắm, nghệch ngoạc như gà bới vậy. Tôi liền nói khéo với anh Trấn (ngày nay anh làm quan ở hạt Nghệ An) và nhờ anh viết giúp.
Cố nhiên là tôi mong câu chuyện đến đó kết liễu.
Nhưng không, nó còn dây dưa hàng tháng, hàng năm, và làm cho tôi tủi nhục đến tận ngày nay không mở mặt mở mày được.
Chiều hôm ấy, lúc sắp ăn cơm, người coi cổng đến tìm tôi, nói có một cô chờ tôi ở cổng trường để hỏi một việc rất cần. Tôi cuống quýt lo sợ, vì tôi đoán ra ngay là cô thính giả ở phố Hàng Vải thâm.
Quả không sai, cảm lời tình tứ trong thư cô vội vã đến thăm tôi, để tỏ nỗi yêu đương đằm thắm. Tôi cố giữ nét mặt vui tươi mà nghe cô than thở niềm riêng, vì nhớ lời anh Ngọc dặn, tôi chẳng dám làm phật lòng cô.
Từ đó, cách vài hôm, cô Bảo lại đến trường, khi mang cho hoa quả khi mang cho bánh trái, mang cho khăn thêu và áo gối. Anh em bạn thân cũng mừng rằng tôi có một người tình rộng rãi, và mỗi lần thấy bóng cô ả ở cổng trường các anh ấy lại bấm tôi:
- Kia, chị mày mang quà đến cho mày kia!
Về phần tôi thì thỉnh thoảng tôi cũng có trả lời những bức thư nồng nàn của cô Bảo, nghĩa là tôi nhờ anh Ngọc ráp hộ và anh Trấn chép giùm.
Cuộc tình duyên cách bức của chúng tôi thấm thoát đã được ba, bốn tháng, bỗng một hôm, cô tôi bắt gặp tôi ngồi ở cửa sổ trên gác nói chuyện bằng điệu bộ với cô láng giềng. Cô tôi im lặng làm ngơ, nhưng chờ khi ăn cơm xong, gọi tôi vào trong nhà, ôn tồn bảo tôi:
- Cháu phải lòng con bé trước cửa đấy à?
Tôi thẹn thùng không. Cô tôi chau mày nói tiếp:
- Chết, không nên, cháu ạ! Người ta có chồng, sao cháu lại thế?
Tôi sửng sốt trả lời:
- Chắc cô lầm đấy. Tên cô là Bảo kia mà.
Cô tôi gắt:
- Làm gì có cô Bảo cô biếc nào ở cái nhà ấy. Con Nhung đấy. Chồng nó học ở trường con tây, cô còn lạ gì. Vậy cháu thôi đi nhé, chẳng thiếu gì con gái đẹp. Cháu không nên dính dáng vào đám này, mà mang tai, mang tiếng chết. Cô xem ra nó lẳng lơ, đong đưa lắm đấỵ. Cháu phải liệu hồn, mà xa lánh nó ra.
Tôi nghe lời cô tôi nói, choáng váng tê mê cả người. Thì ra ngoài thiếu nữ kia dám đội cái tên Bảo vu vơ để lừa dối minh. Tôi quả quyết tuyệt giao. Tôi thề với tôi như thế (thề lần thứ ba rồi đấy) Rồi cơm sáng vừa xong, tôi lẩn thẩn vào trường.
Buổi chiều, khi người canh cổng mỉm cười và bảo tôi có cô mọi ngày hỏi thăm, tôi không tiếp, dặn người canh cổng ra nói tôi ốm. Anh Ngọc và anh Trấn kinh ngạc hỏi tôi vì duyên cớ gì, tôi lại vội vàng tuyệt tình nhự vậy. Tôi đem lời cô tôi thuật lại cho hai anh nghe và nói tôi đã quả quyết tuyệt giao. Hai anh vừa ngợi khen tôi, vừa tỏ ý khinh bỉ con người gió trăng bậy bạ.
Luôn ba hôm, cô ả đến thăm tôi, luôn ba hôm, tôi không ra tiếp. Hôm thứ tư, tôi nhận được một bức thư của cô ta, lờì lẽ thống thiết bi ai. Cô ta than phiền, oán trách người chồng ngu xuẩn của cô ta, mà cô ta cam đoan với tôi rằng thế nào cô ta cũng bỏ.
Tôi lo lắng đưa bức thư cho Ngọc xem và hỏi anh phải đối phó ra sao.
Anh ngẫm nghĩ một lúc rồi viết bức thư phúc đáp, lời lẽ trang nghiêm và đầy những ý tưởng luân lý và triết lý, để khuyên người thiếu phụ kia một lòng đoan chính với chồng.
Hôm sau, bức thư của cô ả càng sầu thảm hơn. Trong thư, cô ta lại dọa tôi nếu chín giờ tối hôm đó, tôi còn lánh mặt cô ta nữa thì cô sẽ đâm đầu xuống hồ Gươm tự tử, trách nhiệm nặng nề sau này tôi phải gánh lấy,
Chẳng dừng được, anh Ngọc phải khuyên tôi tiếp cô ả một lần cuối cùng.
Buổi tối hôm ấy, tôi còn nhớ là một buổi tối mùa đông mưa phùn gió lạnh. Tôi đứng chờ ở bên hàng rào sắt. Anh Ngọc và anh Trấn ngồi xổm dưới đất, ẩn núp ở sau bức tường giậu, vì hai anh sợ tôi do dự, trù trừ không nỡ rứt tình, nên ngồi đó để đợi chứng thực cuộc hội kiến tối hậu của chúng tôi.
Trong cái màn mưa bay, tha thướt ánh sáng lờ mờ cây đèn điện đứng sững bên vệ đường, một cái xe cao su sấn tới. Xe đỗ. Người thiếu phụ mà tôi đã tưởng lầm là cô Bảo, vội vàng mở áo tơi xe bước ra,
Gặp mặt tôi, cô ả mừng rỡ, đưa cho tôi một gói rất lớn Tôi xua tay từ chối. Ở dưới chân tôi, anh Ngọc kéo ống quần tôi thì thầm:
- Phải quả quyết!
Thì tôi vẫn quả quyết. Nhưng người thiếu phụ thấy tôi lạnh lùng thản nhiên liền nức nở khóc, khiến tôi e rằng tôi sẽ làm trò cười cho khách qua đường Tôi chau mày gắt:
- Bà về ngay đi, tôi không thể nói chuyện với bà được nữa. Chồng bà mà biết thì khổ cả cho bà lẫn tôi.
Nghe xong, người kia càng khóc to, rồi thổn thức bảo tôi:
- Em cần gì nó biết…. vì em đã nhất định bỏ nó rồi kia mà.
Nặng không xong, tôi quay ra nhẹ, tìm lời dỗ dành an ủi, khuyên can, và tôi nói thêm rằng nếu cô ta không đến trường thăm tôi nữa, để cho tôi được tĩnh tâm theo đuổi sự học thì tức là cô làm ơn cho tôi nhiều lắm. Còn cái gói to mà nặng cô biếu tôi thì tôi ôn tồn gửi lại cô. Tôi cũng chẳng biết trong gói có những gì, nhưng dù đó là vật nhỏ mọn đến đâu chăng nữa, lương tâm tôi cũng vẫn ngăn cản tôi không cho tôi nhận, vì nó đã biết người kia là gái có chồng.
Thế rồi người đàn bà khốn khổ gạt nước mắt từ biệt tôi.
SANG PHÁP
Bắt đầu từ đó, tôi ăn không ngon, ngủ không yên luôn luôn bị lương tâm cắn rứt Kể thì tội tôi cũng không to gì cho lắm vì nào tôi có biết đâu rằng người ta có chồng. Hơn nữa, nào tôi đã “chỉ non thề biển” gì với người ta cho cam. Chẳng qua chỉ vì quá hãnh diện với anh em trong phút chốc, mà tôi đã chuốc cái vạ tầy đình vào thân.
Cố nhiên là những ngày chủ nhật và thứ năm, tôi không dám ra nhà cô tôi nữa. Cho cả đến hiệu Gô-đa tôi cũng không dám bén mảng tới, vì tôi chắc rằng đến đó thế nào cũng gặp mặt người thiếu phụ.
Nhưng tôi giữ gìn bao nhiêu, “người ta” càng táo bạo bấy nhiêu. Hình như “người ta” không coi dư luận vào đâu nữa. Chẳng thế mà biết bao lần, những hôm chủ nhật và thứ năm, vừa thò đầu ra cổng trường định đi chơi phố, tôi đã thoáng thấy bóng người đàn bà đứng nhìn tôi sau một gốc cây lớn ở vệ đường bên kia. Nhiều khi anh em bạn lại làm cho tôi thêm cuống quýt hổ thẹn, vì họ kêu la inh ỏi cái câu độc địa:
“Kìa… Chị thằng Văn đã đến đón no& kia rồi!”
Thực nếu ở cái đời người này mà có thể gọi được là một sự khốn nạn, khổ sở, đau đớn thì cuộc tình duyên “khôi hài” của tôi với người đàn bà có chồng ở phố Vải thâm là một: nhất là từ hôm sự bí mật đã nổ bung ra vì những lời bẽo lẻo của mấy người bạn. Rồi chẳng bao lâu, cả trường Cao đẳng đều biết rằng tôi phải lòng một người đàn bà có chồng. Họ khen ngợi khoa chim gái của tôi, coi tôi như một chàng Don Juan, Họ mỉa mai khinh bỉ tôi, liệt tôi vào hàng công tử bột đê hèn. Thôi, chẳng còn ai là không biết tên tôi, Có kẻ thấy tôi hiền lành bẽn lẽn (mà tôi hiền lành, bẽn lẽn thực) thì cho ngay là tôi khéo đóng vai nhu mì trong hạng giả đạo đức. Nói tóm lại, họ cho tôi là một người kỳ dị, bí mật rất nên xa lánh.
Cái “đại danh” của tôi từ trường lan ra phố rất mau. Không đâu là không biết đến, là không bàn đến chuyện một cậu Cao đẳng chim vợ người. Rồi cái tin kia dần dần sai lạc đi, vì người ta thêm thắt bịa đặt mãi ra. Sau cùng, câu chuyện ngã ra thế này: Một sinh viên Cao đẳng tên là Văn chim vợ một người bạn rất thân, thường mời anh kia về nhà chơi bời ăn uống.
Tôi lặng lẽ chịu những lời hình phạt. Đó là bởi cái tính nhút nhát, thẹn thùng tự nhiên của tôi. Nhưng người ta không cho là thế, người ta lại bảo: Yên lặng là thú nhận.
Thế rồi… sau hết cả mọi người, anh chồng khốn nạn, khốn nạn như anh tình nhân khốn nạn này, biết tin có vợ ngoại tình. Sự bất hòa trong gia đình tất sao chẳng có.
Hôm nghỉ tết, tôi lén ra nhà cô tôi trước khi về Thanh, thì kinh hãi xiết bao, tôi được tin người thiếu phụ trước cửa đã bỏ nhà đi trốn, mang theo một số tiền hơn bảy trăm bạc.
Hẳn là tôi không buồn phiền như khi xưa được tin Thi theo trai. Nhưng tôi lại lo sợ nếu người ta ngờ diệt cho tôi quyến rũ người đàn bà dại dột kia thì danh giá tôi còn ra chi.
Tôi mang theo cái ý tưởng hoài nghi ấy về tận đến Thanh (tỉnh Thanh là quê tôi, và khi ấy, đã trí sĩ, cha mẹ tôi về ở đấy) Cha mẹ tôi vui mừng gặp con. Tôi đem việc học hành ra trình bày. Lòng tôi vui vẻ, hớn hở vì cái không khí quê hương nhắc tôi nhớ tới bao nhiêu kỷ niệm buổi ngây thơ, và làm tôi quên hẳn được những sự nhỏ nhen, bẩn thỉu mà người ta muốn rẩy vào người tôi.
Nhưng sự vui hão huyền, không cỗi rễ của tôi chẳng được bao lâu đã mất. Sáng hôm sau, nhân hỏi thăm cô tôi, cha tôi lại nói chuyện đến những người quen biết ở Hà Nội, nhất là ở hai phố Vải thâm, Phúc Kiến, nơi mà cha tôi có nhiều người quen biết thường mời đến nhà đánh tổ tôm, khi cha tôi ra chơi Hà thành:
- Con có biết ông tham V … ở phố Phúc Kiến không?
- Bẩm, không.
- Hôm qua, con gái ông ta đến chơi, nói có biết cô con và con. Chẳng hiểu nó về Thanh làm gì thuê cái nhà rộng rãi ở ngay trước cửa nhà ta.
- Bẩm, thế à? Nhưng con bận học quanh năm trong trường, có mấy khi ra phố mà quen ông tham nào đâu.
Mẹ tôi nói:
- Có lẽ nó lầm.
Nhưng, quả thực “nó” không lầm. Vì ngay lúc ấy, “nó” đã dẫn thân đến ngay trước mặt cha mẹ tôi, khiến tôi suýt nữa chết ngất. “Nó” nào phải ai xa lạ, chính là người đàn bà có chồng ở phố Vải thâm. Thì ra cha mẹ tôi không biết rằng “nó” đã “xuất giá tòng phu” mà vẫn tưởng “nó” còn là con gâi “quý tử” của ông tham Phúc Kiến.
Tôi cố nén lòng căm tức, ngồi hầu cho hết câu chuyện, rồi khi cô ả trở về, tôi chạy một mạch đến nhà bưu chính, đánh luôn một bức điện tín nặc danh cho chồng cô ả biết rằng cô ta hiện nay ẩn núp ở Thanh Hóa! Tôi chỉ sợ cô ta nấn ná ở đây thì ba ngày Tết trở nên ba ngày địa ngục cho tôi.
Quả nhiên tối hôm ấy, bên nhà trước cửa có tiếng cãi cọ, rồi sáng hôm sau, sáng hôm ba mươi Tết, tôi thấy cái nhà ấy vắng ngắt bóng người. Ý chừng, anh chồng đã đến lôi chị vợ về Hà Nội.
Nhưng sáng mồng hai Tết, tôi nhận được một bức thư ở Huế gửi ra. Tôi lo ngại ngắm nghía phong bì, vì tôi không quen biết ai ở Huế hết, mà chữ viết ngoài bì thì hình như quen quen… Thôi chết, hay là…
Tôi vừa ngần ngừ vừa xé phong bì ra thì quả thực đó là thư của cô Bảo (Tôi nói thế là vì dưới thư có ký: em Bảo của anh). Trong thư, người đàn bà lãng mạn cho tôi biết rằng người ấy hiện ở Huế, trong một gia đình quý phái và nóng lòng đón tôi để cùng nhau hưởng hạnh phúc ái tình,
Cố nhiên tôi không trả lời, và hết ba ngày Tết, tôi vội xin phép cha mẹ ra ngay Hà Nội, nói để học cho kịp kỳ thi lên lớp. Cha mẹ tôi tấm tắc khen ngợi tôi rồi để cho tôi đi, nào có ngờ đâu rằng tôi trốn một người tình bất đắc dĩ.
Nửa tháng sau, vô tình, tôi ôn lại một lần nữa cái cảnh hội kiến khôi hài, mà lần này cũng vào quá chín giờ tối như lần trước. Dưới màn mưa tầm tã, người đàn bà đứng nhí nhảnh nói chuyện, dẫu tôi nhất định không nghe, nằng nặc đuổi người ta về, Nhưng tuy tôi nói không nghe, mà vẫn nghe, tuy tôi biết người ta khổ sờ vì nỗi bị chồng và nhà chồng khinh bỉ.
Rồi người đàn bà lại như lần trước, đưa cho tôi một gói rất to, nói là nhà tôi ở Thanh gửi ra cho tôi. Tôi không nhận, vì tôi biết đích rằng người ấy nói dối. Tôi vừa tiếp được bức thư cha tôi gửi ra mắng nhiếc tôi và bắt tôi phải cự tuyệt ngay lập tức. (Về sau tôi mới biết rằng người chồng cô ả vào Thanh mách cha mẹ tôi)
Đêm hôm ấy, tôi không nhắm mắt, suốt sáng loay hoay với những tư tưởng hắc ám.
Vì lúc từ biệt tôi, người thiếu nữ nói với tôi một câu rất tối nghĩa ghê gớm, mà có lẽ suốt đời tôi, tôi không bao giờ quên:
- Được! Anh là một người rất đáng khinh. Bây giờ giá anh lạy van tôi để tôi yêu anh, tôi cũng không thèm nhìn mặt anh nữa vì anh là một người khốn nạn có những tính tình khốn nạn, trái ngược với lời thành thực viết trong những bức thư nồng nàn mà anh gửi cho tôi. Bây giờ vì anh, tôi đã trở nên một người đàn bà hết hy vọng thì tôi cũng chẳng nên sống trên đời này nữa.
Dứt lời, người đàn bà lên xe đi thẳng. Mưa vẫn tầm tã rơi trên đường đá loang loáng ánh đèn điện, Tôi quay vào lớp học, ngồi bưng mặt khóc.
Tôi khóc, không phải tiếc cuộc tình duyên đoạn tuyệt vì tôi có tình duyên gì với người thiếu phụ. Tôi khóc, không phải vì tôi tự khinh bỉ tôi. Tôi chẳng làm gì đáng tự khỉnh bỉ tôi. Tôi chẳng làm gì đáng khinh bỉ: Lời thành thực giả dối trong những bức thư nồng nàn kia nào tôi có viết ra đâu, mà có khi tôi cũng không đọc tới nữa. Tôi khóc, chỉ vì tôi thương cho số phận tôi gặp toàn những sự chẳng may.
Anh em bạn xúm lại an ủi tôi bằng những lời bông đùa làm cho tôi bật buồn cười rồi tôi cười mãi mà nhớ đến lá số tử vi của tôi, nhớ đến câu lập thành về cung thê thiếp của tôi: “Nhất, Đồng nhiều vợ mà hiền”.
Nhưng tôi im bặt tiếng cười, khi nghe anh Trấn dọa rằng chuyến này tôi đến ngồi tù, vì một là người đàn bà kia đi tự tử, hai là người ấy sẽ bị phu xe bóc lột và giết chết. (Cách mấy hôm trước, ở vườn Bách thú, cũng vào quãng chín, mười giờ tối, vừa xảy ra một cái án mạng như thế) Thế là đàng nào tôi cũng bị tội. Tôi thì tôi không lo lắm, vì dẫu tôi có ngồi tù đi nữa, cũng là đáng kiếp cho tôi. Nhưng tôi chỉ lo người đàn bà kia tự tử hay bị giết chết. Nếu sự đó xảy ra thì thực tôi sẽ hối hận suốt đờí.
May mà sự đó không xảy ra!
Thế rồi trong gần nửa năm trời không dám thò mặt ra phố. Vì tôi hổ thẹn lắm, đi tới đâu cũng bị người ta thì thầm chỉ trỏ. Dẫu tôi không nghe rõ lời người ta bình phẩm, tôi cũng đoán chắc rằng đó không phải là những lờì khen ngợi.
Mãi về sau, tôi mới rõ vì đâu mà có những lời thì thầm ấy. Nguyên cha tôi có quen thân với ông đốc học trường thuốc, nên những ngày nghỉ, tôi thường lui tới nhà ông. Thấy thế, một ông nhà giầu nhờ tôi xin với ông đốc cho con ông vào học trường thuốc. Nể lời, tôi cũng xin liều hộ, và tôi không quên nói với ông đốc rằng người học trò kia là em họ tôi. Cũng tưởng xin phiệu như thế thì chẳng ăn thua gì, ai ngờ lại được ông nhà giầu kia tạ ơn tôi trăm bạc. Gặp lúc túng tiền tôi nhận ngay, rồi đi sắm sửa quần áo thực là sang trọng.
Anh em bạn và những người quen thuộc, cho đến cả cô tôi và các em con cô tôi đều yên trí ngay rằng tôi lấy tiền trong số bảy trăm bạc của người thiếu phụ mà may mặc sắm sửa, vì ai ai cũng biết tôi kiết lắm, thường không có một xu dính túi.
Nhưng bị mọi người khinh bỉ không đau đớn cho tôi bằng hôm nghỉ hè về nhà nhận thấy nét mặt lãnh đạm của cha tôi. Trong hơn tháng trời tôi không được cha tôi hỏi qua một câu. Hơn nửa, cha tôi không thèm nhìn tới mặt tôi mà cha tôi cho là “một thằng khốn nạn”
Năm sau, tôi đã hầu quên câu chuyện thương tâm. Một hôm ra chơi nhà cô tôi. Tôi được nghe đoạn kết tấn bị hài kịch: Người thiếu phụ lạy van xin lỗi chồng, nhưng người chồng không sao tha thứ được, đến nỗi vợ hắn sinh đứa con gái đầu lòng, hắn cũng ngờ vực là con tôi. (Lạy trời! Trời biết cho rằng kẻ có tội này không phải là cha đứa bé vô tội). Rồi bực tức, người chồng bỏ sang Pháp thề rằng không đậu cao hơn tôi thì nhất định không về nước. Nhưng than ôi! Mới được mấy tháng, phần vì yếu đuối không chịu nổi thủy thổ xứ lạnh, phần vì đau đớn vì nỗi vợ con không ra gì, người ấy đã bỏ mạng bên Pháp.
Về phần tôi, tôi cũng không còn lạc thú gì chờ đợi tôi ở nước nhà nữa. Sống với lòng khinh bỉ của mọi người thì sống mà làm chi. Tôi liền xin phép cha mẹ tôi sang Pháp. Hiểu thấu tình cảnh chua chát của tôi và biết rằng nếu để tôi ở nhà thì không học được nữa, cha mẹ tôi bằng lòng cho tôi đi tây.
Thoát nạn!
Đó là lời reo mừng của tôi khi tôi ngồi một mình trên toa xe lửa vào Vinh. Nhưng chỉ hôm sau là tôi hiểu ngay rằng cái “Số Đào Hoa” tàn tệ còn giàng buộc mãi con người vô duyên.
Vào tới Huế, vừa thuê xong buồng ở nhà khách sạn, thì người bồi đến bảo tôi có ai gọi máy nói, Một phút sau, tôi đã biết rằng người ở đầu giây bên kia là một người đàn bà ở cách tôi chỉ độ vài trăm thước và rất kính phục cái đại danh của tôi. Tôi vừa sợ hãi, vừa buồn cười, nghĩ thầm đến cái đại danh khốn nạn của tôi.
Nửa giờ sau, quả có một người đàn bà trắng trẻo, béo tốt, đi ô tô đến khách sạn thăm tôi và bảo cho tôi biết rằng chồng nàng là bạn thân của tôi. Rồi nàng ngồi thuật lại cho tôi nghe những “công trình ghê gớm” của tôi về đường tình ái mà chính tôi, tôi cũng không hay.
Chiều hôm ấy, như người đi trốn, tôi hấp tấp ra Tourane, tuy mãi hôm sau mới có chuyến tàu đi Pháp. Tôi sợ cái bà tự xưng là vợ bạn tôi, đem ô tô đến tiễn tôi như lời bà đã hứa. Rồi mấy tháng sau, tôi bắt đầu thấy cái không khí tự do ở bên Pháp.
Đến đây là hết những trang lịch sử của một đời tình ái.
Trước khi từ biệt nhau, tôi xin độc giả tha lỗi cho tôi đã làm mất biết bao nhiêu thì giờ quý báu.
Tôi lại xin bà X… xá cho tôi cái tội vô tình làm hại một đời bà. Ngày nay thực là ngày xám hối của chúng ta. Bà thì mồ côi cả hai bên cha mẹ, ở góa nuôi con, tôi thì chiếc thân phiêu lưu, rày đây mai đó. Chúng ta còn kéo dài mãi cái đời vô vị của chúng ta để làm gương cho bọn hậu sinh mơ mộng.
Sau hết, tôi không quên cảm ơn Khái Hưng, người đã vì tôi, vì những sự khờ khạo đáng thương, mà chép ra đây một quãng đời đau đớn của tôi.
Đời còn dài, và độc giả và Khái Hưng, và tôi, chúng ta còn có lần gặp nhau.
Rồi, anh Khái Hưng ơi, một đêm dưới ánh đèn lờ mờ trong phòng lạnh lẽo…
VĂN
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
★
★
★
★
★
0