Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

3 truyện ngắn của Guy de Maupassant

3 trả lời, 18 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.09.2020 10:38:22 bởi hoi_ls>
TRUYỆN NGẮN_GUY DE MAUPASSANT
 
Nguồn: Tạp chí Kiến thức Ngày nay
Đánh máy: hoi_ls

 
VỢ NGƯỜI LÍNH KỴ BINH
 
Guy de Maupassant
(Phan Mỹ My Lan dịch)
 
            I.
            Sau cuộc bại trận Bourbaki tại miền Đông nước Pháp, quân đội tan rã, hao hụt và xơ xác buộc phải rút về Switzerland. Lệnh rút quân chỉ trong thời gian ngắn để một trăm năm mươi ngàn người thoát được cái chết trước mắt. Đói, lạnh thấu xương, chân không ủng lội tuyết qua những con đường núi ghồ ghề làm chúng tôi tơi tả. Khổ sở nhất là vì chúng tôi không có lều, thức ăn hầu như cạn kiệt, luôn ở vị trí tiên phong khi hành quân đến Belfort, và tụt hậu khi thê thảm quay về. Quân đoàn chúng tôi được điểm danh là một ngàn hai trăm quân vào ngày 1 tháng giêng, nay chỉ còn hai mươi hai tên yếu đuối, gầy gò, lê thành hàng dài trực chỉ biên giới Thụy Sĩ.
            Nơi đây chúng tôi được an toàn và có thể nghỉ ngơi. Mọi người thông cảm với đoàn quân không may của nước Pháp, thế là chúng tôi được chăm sóc tốt. Như được hồi sinh, ngay cả người đã từng giàu có và hạnh phúc trước cuộc chiến cũng tuyên bố rằng họ chưa hề có được cảm giác thoải mái như vậy. Nghĩ coi: có thức ăn hàng ngày và được ngủ mỗi tối.
            Cuộc chiến vẫn tiếp diễn ở miền đông nước Pháp, bất kể đang đình chiến. Besancon vẫn kiểm soát quân đội, và sau đó trả thù bằng cách cướp phá Franche Comte. Thỉnh thoảng có tin chúng đến gần sát biên giới, và Thụy Sĩ thành lập một hàng quân giám sát giữa chúng tôi và địch quân.
            Điều này làm chúng tôi đau lòng, và khi đã hồi phục sức khoẻ, nỗi khát khao được chiến đấu lại cháy bỏng trong mỗi người. Thật hổ thẹn và căm phẫn khi chỉ cách chúng tôi chừng chưa đầy mười dặm Anh, quân Đức đang nghênh ngang láo xược trong khi chúng tôi, bị câu thúc, đành bất lực.
            Một ngày nọ, viên đại uý gọi năm sáu tên trong bọn tôi, nói về vấn đề này, rất lâu và vô cùng căm phẫn, ông ta là một người tốt, đã từng là thiếu uý ở Zouaves, cao, gầy và rắn rỏi như thép, và trong suốt chiến dịch, ông ấy đã nhiều lần áp đảo bọn Phổ.
            Ông ta chịu hết nổi tình trạng ì ạch, bực tức với ý nghĩ bị cầm chân và ở không.
“Đồ chết tiệt!” ông ta nói với chúng tôi, “tụi bây không thấy đau khi biết tụi lính kỵ binh chỉ ở cách chúng ta có hai giờ đi đường? Tụi bây không điên tiết khi tụi ăn mày dơ bẩn đó đi lại như chủ nhân ông trên đất nước chúng ta, trong khi sáu người dũng cảm bọn ta có thể giết cả bọn rác rưởi đó bất cứ lúc nào. Tao không thể chịu được nữa, tao phải đi đến đó”.
            “Nhưng sắp xếp việc này như thế nào, thưa đại úy?”
            “Như thế nào hả? Việc này không khó! Chỉ khó vì chúng ta quen với việc ăn không ngồi rồi suốt sáu tháng qua, và một bước ra khỏi rừng cũng bị tụi lính Thụy Sĩ canh giữ. Ngày mà tụi bây muốn trở về nước Pháp, tao sẽ sắp xếp cho”.
            “Có thể đó; nhưng ở Pháp chúng ta có thể làm gì khi không có vũ khí?”
            “Không vũ khí hả? Ơn chúa, chúng ta sẽ có được khi qua đến bên kia!”
            “Ông đã quên hiệp ước rồi à”, một người lính khác nói; “chúng ta sẽ làm tổn thương quân Thụy Sĩ, nếu Manteuffel biết được họ đã cho tù nhân trở lại nước Pháp”.
            ‘‘Thôi đi”, viên đại uý nói, “toàn là lý do vớ vẩn. Ý tao muốn đi và giết tụi Phổ; đó là tất cả những gì tao quan tâm. Nếu tụi bây không muốn, tốt, nói ngay.Tao cũng chẳng sao khi đi một mình; tao không cần ai đi cùng hết”.
            Đương nhiên chúng tôi phản đối, vả vì không thể làm viên đại uý thay đổi, chúng tôi buộc phải hứa là sẽ cùng đi với ông. Chúng tôi rất yêu mến ông ấy, không thể bỏ rơi ông trong khi hoạn nạn, vì ông không bao giờ để chúng tôi rơi vào cảnh khốn cùng, và thế là cuộc hành trình được xác định.
 
 
            II.
            Viên đại úy đã có kế hoạch riêng, và đã nghiền ngẫm từ lúc nào. Một người dân trong vùng quen biết ông ta từ trước sẽ cho mượn một chiếc xe ngựa và sáu bộ quần áo nông dân. Chúng tôi có thể trốn dưới đống rơm và sau xe, nơi chất phô mai Gruyere, thứ sẽ bán ở Pháp. Viên đại úy nói với lính gác là mình sẽ mang theo hai người bạn để bảo vệ hàng trong trường hợp có ai đó muốn cướp, điều này xem ra cũng hợp lý. Một sĩ quan Thụy Sĩ nhìn chiếc xe ngựa một cách ranh mãnh, nhưng cũng chỉ để tạo ấn tượng đối với binh sĩ của anh ta. Tóm lại, không một viên cảnh binh nào hay người nào có thể biết được.
            “Lên đường”, viên đại uý hô to khi vung chiếc roi ngựa, ba người trong bọn chúng tôi yên lặng hút thuốc. Tôi gần như ngạt thở trong cái hộp chỉ có lỗ thông hơi trước mặt và suýt chết cóng vì trời lạnh kinh khủng.
            “Lên đường”, viên đại uý lại nói, và chiếc xe ngựa chất đầy phô mai Gruyere đi vào nước Pháp.
            Phòng tuyến của bọn Phổ canh gác rất cẩu thả, vì bọn chúng tin tưởng vào sự khám xét của quân Thụy Sĩ. Viên hạ sĩ nói thứ tiếng của miền Bắc nước Đức, trong khi đại uý của chúng tôi lõm bõm tiếng Đức của vùng Four Cantons, và thế là họ chẳng hiểu nhau. Tuy nhiên, viên hạ sĩ, giả vờ như mình thông minh, và để khiến chúng tôi tin rằng hắn ta hiểu hết, đã cho chúng tôi tiếp tục chuyến đi, và sau khi đi được bảy giờ, liên tục dừng tại các trạm kiểm soát, chúng tôi đi đến một ngôi làng nhỏ, hoang tàn vì chiến tranh, vào lúc chập tối.
            Chúng tôi sẽ làm gì đây? Vũ khí duy nhất của chúng tôi là chiếc roi ngựa của viên đại úy, quân phục là những bộ đồ của nông dân, và quân lương là phô mai. Tài sản duy nhất chúng tôi có là đạn dược, những thùng đạn được giấu trong những tảng phô mai lớn. Đạn có khoảng một ngàn viên, mỗi người được hai trăm, nhưng chúng tôi cần súng, và phải là súng saxơpo. May thay, viên đại úy là người dũng cảm và đầy sáng tạo, và đây là kế hoạch ông ta vạch ra: Trong khi bọn ba người chúng tôi vẫn trốn trong một căn hầm trong ngôi làng bị bỏ hoang, ông ta và một người trong bọn tiếp tục đi đến Besancon với chiếc xe trống.
            ... Thị trấn đã bị phong toả, nhưng người ta vẫn có thể vào bằng cách đi qua cao nguyên rồi men theo những con đường mòn và khe núi trượt xuống vì nó nằm giữa các ngọn đồi. Họ để chiếc xe ngựa lại Omans, giữa những người Đức, và trốn ra khỏi xe vào lúc đêm tối. Qua hôm sau, họ đến Besancon, nơi có rất nhiều súng saxơpo. Có khoảng bốn mươi ngàn khẩu trong xưởng chế tạo vũ khí, và tướng Roland, một lính thủy đánh bộ dũng cảm, bật cười vì kế hoạch liều lĩnh của viên đại uý nhưng vẫn giao cho ông ta sáu khẩu và chúc “may mắn”. Tại nơi ấy, viên đại uý cũng tìm gặp vợ của mình, người
đã sát cánh với chúng tôi trong suốt cuộc chiến trước chiến dịch miền Đông, chỉ vì bệnh nên đã không tham gia trận Bourbaki. Bà ta đã bình phục. Tuy thời tiết ngày càng rét mượt và vô vàn thiếu thốn trước mắt, bà vẫn khăng khăng cùng đi với chồng. Viên đại úy đành nhượng bộ, và cả ba, viên đại úy, vợ ông ta, và một người trong bọn bắt đầu cuộc hành trình.
            So với lúc trở về, lúc đi chẳng là gì cả. Họ buộc phải đi vào ban đêm để tránh gặp bất kỳ ai vì mang theo sáu khẩu súng họ sẽ bị nghi ngờ. Nhưng chỉ sau một tuần, viên đại úy và hai cộng sự đã trở về. Chiến dịch bắt đầu.
 
 
            III.
            Ngay đêm đầu tiên trở về viên đại úy đã hành động, và lấy cớ đi do thám quanh vùng, ông ta xuống đường lớn.
            Phải nói rõ là ngôi làng nhỏ chúng tôi chọn đóng quân gồm toàn những căn nhà xấu xí nghèo nàn và hoang tàn đã lâu. Nó nằm trên một con dốc đứng, cuối làng là một khoảnh đất cây cối rậm rạp. Dân làng sinh sống bằng nghề kiếm củi. Họ thả củi rơi theo sườn dốc, xuống đồng bằng, làm thành bó và mỗi năm ba đợt bán cho những lái buôn. Chợ củi nhóm họp tại hai căn nhà nhỏ bên đường lớn, nơi sinh hoạt công cộng. Viên đại uý đi xuống đó qua một trong những khe núi.
            Ông ấy đi khoảng nửa giờ. Khi chúng tôi đang mong ngóng tại đầu khe, một tiếng súng vang lên. Viên đại úy đã ra lệnh chúng tôi không được xao động, và chỉ đi về phía ông ấy khi nghe tiếng kèn trumpet. Cái kèn này làm bằng sừng dê và có thể nghe được trong vòng ba dặm; nhưng vẫn chưa có động tĩnh gì; và mặc dù đứng ngồi không yên, chúng tôi buộc phải im lặng chờ, bên cạnh súng ống sẵn sàng.
            Việc đi xuống những khe sâu này chẳng thành vấn đề; chúng tôi chỉ cần nghiêng người trượt xuống; nhưng đi trở lên thì khó khăn hơn nhiều; phải rướn người lên bám vào những nhánh cây, đôi khi phải bám víu bằng cả hai tay hai chân với tất cả sức lực. Một giờ sinh tử đã qua, ông ấy vẫn chưa về; khu rừng vẫn yên ắng. Vợ viên đại úy bắt đầu mất bình tĩnh. Ông ấy đang làm gì? Tại sao ông ta không gọi chúng tôi? Có phải phát súng chúng tôi đã nghe là từ phía quân địch, và phải chăng thủ lãnh của chúng tôi, chồng của bà ta, đã bị giết hoặc bị thương? Chúng tôi không còn suy nghĩ gì được nữa, riêng tôi tưởng tượng ra rằng hoặc ông ta đã chết, hoặc việc đã thành; lo lắng và tò mò muốn biết ông ta đã làm gì.
            Thình lình chúng tôi nghe tiếng kèn, và quá ngạc nhiên thay vì nó vọng từ dưới lên, như mong đợi, nó lại vang lên từ ngôi làng ở phía sau. Thế là thế nào? Thật bí ẩn, nhưng chúng tôi đều nghĩ rằng ông ta đã bị giết, và tụi Phổ thổi kèn để dụ chúng tôi vào ổ phục kích, vì vậy chúng tôi quay lại, mắt quan sát kỹ trong khi tay đặt trên cò súng, len lỏi giữa những nhánh cây. Vợ ông ấy, mặc cho chúng tôi van nài, vượt lên như một con hổ cái. Nghĩ rằng phải báo thù cho chồng, gắn thêm một lưỡi lê trên súng, bà khuất bóng vừa lúc chúng tôi lại nghe tiếng kèn. Một lúc sau chúng tôi nghe bà ấy kêu to:
            “Đến đây! Đến đây! Còn sống! Là ông ấy đấy!”
            Chúng tôi vội vã chạy đến, và trông thấy viên đại úy đang phì phèo tẩu thuốc vào làng, nhưng lạ chưa kìa, ông ta đang ngồi trên lưng ngựa.
            “Tụi bây coi, có việc nè. Tao lại lên lưng ngựa. Tao hạ đo ván một tên kỵ binh ở đằng kia, và lấy ngựa nó; tao nghi tụi chúng nó đang canh giữ khu rừng, nhưng tụi nó lại nhậu say bí tỉ. Một đứa trong bọn, canh cửa, chưa kịp trở tay thì tao đã cho nó một viên vào bụng, và rồi, trước khi đứa khác kịp ra, tao phóng lên ngựa vọt như tên bắn. Gần một chục đứa theo sau; nhưng tao đã đi đường tắt xuyên qua rừng. Tao bị trầy sướt chút đỉnh, chẳng sao cả, và bây giờ, các đồng đội, chú ý và thận trọng! Bọn kẻ cướp sẽ không nghỉ ngơi bao giờ chúng chưa bắt được và cho ta ăn đạn. Tiến lên, chúng ta vào vị trí”.
            Chúng tôi tản ra. Một người trong bọn chốt ngay tại giao lộ; tôi tại cổng con đường chính chạy từ khu đất bằng phẳng vào làng, viên đại uý và vợ, ngay trong làng, gần nhà thờ với ngọn tháp được dùng để quan sát và cũng là nơi phòng thủ cuối cùng.
            Ở điểm gác chưa bao lâu chúng tôi đã nghe tiếng súng, nối tiếp là tiếng súng khác, và rồi tiếng thứ hai, thứ ba. Tiếng đầu tiên rõ ràng từ khẩu sacxơpo - âm thanh sắc cạnh như tiếng roi quất - còn ba tiếng kia là từ súng cạc bin của quân kỵ binh.
            Viên đại úy giận dữ. Ông ấy đã ra lệnh cho chốt đầu để quân địch đi qua, theo sau từ xa nếu chúng đi hướng về làng, và chỉ kết hợp với tôi khi chúng đã vào. Rồi chúng sẽ lọt vào giữa hai làn đạn, không một tên chạy thoát, vì, như đã tuyên bố, sáu người bọn tôi sẽ hạ được mười tên Phổ, khi cần.
            “Cái thằng chết liệt Piedelot đã khuấy động bọn chúng”, viên đại úy nói, “và tụi nó sẽ không ngu dại vô tròng. Tao chắc là nó đã bị bắn rồi vì chúng ta có được tin gì của nó đâu. Đáng đời; tại sao nó không luân lệnh tao?”. Một lúc sau ông ta càu nhàu: “Tao tiếc cho nó quá; nó thật can đảm và bắn rất cừ!”.
            Viên đại úy đoán đúng. Chúng tôi đợi đến chiều, không thấy tên kỵ binh nào; bọn chúng đã rút lui sau đợt tấn công đầu; nhưng xui xẻo là Piedelot cũng chẳng thấy đâu cả. Anh ấy đã bị giết hay bị bắt làm tù binh? Đêm xuống, viên đại uý đề nghị chúng tôi đi tìm, và ba người trong bọn chúng tôi ra đi. Tại ngã tư chúng tôi tìm thấy một khẩu súng gãy và ít máu, mặt đất chung quanh bị giẫm nát; nhưng chúng tôi không tìm thấy người bị thương hoặc chết, dù đã tìm kỹ từng bụi cây, và quay về lúc nửa đêm, chẳng có thông tin gì về người đồng đội kém may mắn.
            “Thật lạ”, viên đại úy càu nhàu. “Bọn chúng chắc hẳn phải giết nó rồi quăng vào bụi đâu đó; bọn chúng không thể bắt nó làm tù binh vì nó sẽ kêu cứu. Tao không hiểu gì cả’’. Ngay khi ông ấy nói, ánh lửa sáng bùng lên từ cái quán ăn trên con đường chính, rọi sáng cả một góc trời.
            “Quân vô lại! Hèn nhát!”, ông ấy hét lên. “Tao cá là tụi nó đốt hai căn nhà ở khu chợ để trả thù, và rồi bỏ đi chẳng kèn chẳng trống. Chúng thoả mãn vì đã giết người và đốt nhà. Được. Không dễ vậy đâu”.
            “Nếu cứu được cả Piedelot nữa thì may quá”, một người trong chúng tôi nói.
            Bọn năm người chúng tôi khởi hành, lòng đầy căm phẫn lẫn hy vọng. Sau hai mươi phút chúng tôi xuống đến dưới khe, không còn nhìn thấy khi cách cái quán trên dưới một trăm thước. Đám cháy phía sau nhà, và những gì chúng tôi thấy chỉ là ánh lửa hắt vượt lên trên mái nhà. Vậy nhưng chúng tôi đi khá chậm, vì sợ lọt vào ổ phục kích, rồi thình lình chúng tôi nghe cái giọng quen thuộc của Piedelot. Nhưng nó lạ lắm, vừa buồn lại vừa run rẩy, nghèn nghẹt như anh ấy đang cố gào lớn hết sức trong khi miệng bị nhét giẻ. Giọng khàn đặc và hỗn hển, không ngừng kêu “Cứu! Cứu!”.
            Không còn suy nghĩ gì nữa, chúng tôi nhảy vọt hai bước ra sau quán, chứng kiến một cảnh tượng khủng khiếp.
 
 
            IV.
            Piedelot đang bị thiêu sống. Anh ấy quằn quại giữa đống lửa, bị cột chặt vào cọc, ngọn lửa liếm quanh. Khi nhìn thấy chúng tôi, anh ấy không còn hơi sức để kêu nữa: đầu ngoẹo đi, trông như đã chết. Chỉ trong chốc lát chúng tôi dập tắt đống lửa, gạt mớ than hồng và cắt dây trói cho anh.
            Tội quá! Trông anh ấy thật thảm thương. Chiều hôm trước anh ấy đã bị đánh gãy tay trái, và có vẻ như bị đánh rất nhiều vì khắp người đầy thương tích máu me. Lửa đã bắt đầu bén người anh ấy làm bỏng hai mảng lớn, một ở chỗ kín và một bên đùi phải, tóc và râu đều cháy xém. Tội Piedelot quá!
            Căm hờn làm nghẹt thở, chúng tôi muốn liều lĩnh đương đầu với hàng trăm tên lính Phổ để trả thù cho anh ấy. Nhưng bọn hèn nhát đã cao chạy xa bay, để lại tội ác. Giờ đây biết kiếm chúng ở đâu. Vợ viên đại úy săn sóc cho Piedelot, cô băng bó vết thương thật tốt và ông ấy thì nôn nóng lay anh, vài phút sau anh ấy tỉnh dậy.
            “Chào đại úy; chào các anh”, anh ấy nói. “A! tụi khốn! Hai mươi đứa bất ngờ xuất hiện”.
            “Hai mươi, mày nói sao?”
            “Vâng, cả một đoàn, và đó là lý do vì sao tôi kháng lệnh và bắn bọn chúng. Vì chúng có thể giết cả bọn chúng ta. Thế là tôi ngăn chúng lại. Chúng sợ và không dám vượt qua giao lộ vào làng. Chỉ là một bọn chết nhát. Bốn đứa bắn tôi chỉ với khoảng cách gần hai mươi mét, y như bắn vào bia, rồi dùng gươm chém tôi, tay gãy. Tôi chỉ sử dụng lưỡi lê bằng một tay”.
            “Nhưng tại sao mày không kêu cứu?”
            “Tôi không nên làm vậy, vì tất cả các anh sẽ đến; và rồi chẳng cứu được tôi cũng như bảo vệ chính mình, năm sao chọi lại hai mươi”.
            “Nhưng mày biết là tụi tao không thể để mày bị bắt, người anh em khốn khổ ơi”.
            ‘Tôi thà chết một mình, không muốn các anh đến đây, vì cũng như lọt vào một trận phục kích”.
            “Được rồi, không nói đến việc này nữa. Mày thấy đỡ hơn không?”
            “Không, tôi không thở được, tôi chẳng còn sống bao lâu nữa. Đồ súc vật! Chúng trói tôi vô cây và đánh đến sống dở chết dở. Tôi thà cắn lưỡi chứ chẳng kêu la trước bọn chúng. Nay tôi có thể nói tôi đau đớn lắm và rơi nước mắt cho nhẹ lòng. Cám ơn các anh, những người bạn tốt của tôi”.
            “Piedelot khốn khổ! Chúng tôi sẽ trả thù cho bạn, tin chắc như vậy đi!”
            “Vâng, vâng, tôi mong như vậy. Đặc biệt, có một con mụ là vợ của tên lính kỵ binh mà đại úy giết hôm trước. Nó mặc quân phục, và hôm qua nó là người hành hạ tôi nhiều nhất, đề nghị thiêu sống tôi, và chính nó đã nổi lửa. A! Đồ phù thuỷ, đồ đốn mạt! Tôi đau đớn lắm!” và anh ta ngã vật ra hổn hển thở, co quắp trong đớn đau. Trong khi vợ viên đại úy lau mồ hôi trán cho anh ta, chúng tôi đau buồn, khóc tức tưởi như những đứa trẻ. Tôi chẳng kể những giây phút cuối đời của anh ấy. Anh ấy chết nửa giờ sau đó, và đã chỉ chúng tôi hướng đi của bọn chúng. Chôn cất xong, chúng tôi lên đường đuổi theo, lòng mang nặng oán thù.
            “Nếu cần, chúng ta cũng liều mạng với hết thảy quân Phổ”, viên đại úy nói; “để trả thù cho Piedelot. Phải bắt cho bằng được bọn vô lại đó. Chúng ta phải thề, đây là lệnh, nếu tôi chết trước khi kiếm ra bọn chúng: Bắn ngay tất cả tụi tù binh, và với con mụ đó, phải hành hạ nó cho đến chết”.
            “Không bắn vì nó là phụ nữ”, vợ viên đại uý nói. “Nếu anh còn sống, em chắc rằng anh sẽ không bắn phụ nữ. Hành hạ nó là đủ rồi; nhưng nếu anh bị giết trong cuộc truy đuổi này, em xin một điều là được đấu với mụ ta; chính em sẽ giết mụ, hoặc nếu em bị giết người khác có thể làm gì thì tuỳ”.
            “Chúng ta sẽ lăng trì nó! Thiêu sống nó! Xé xác nó ra! Trả thù cho Piedelot!”.
            “Nợ máu phải trả bằng máu”.
 
 
            V.
            Sáng hôm sau chúng tôi bất ngờ xông vào một tiền đồn của bọn ky binh cách đó khoảng dưới hai mươi cây số. Bị tấn công thình lình, bọn chúng không kịp trèo lên ngựa, cũng không kháng cự được, chỉ một chốc chúng tôi đã có năm tù binh, ngang bằng với lực lượng. Viên đại uý tra hỏi, và từ đó chúng tôi đoán đó là bọn hôm qua. Thế là chúng tôi lục soát. Một người được cử xác định giới tính tụi tù binh. Khỏi nói, chúng tôi quá vui khi tìm ra một trong bọn chúng là mụ đàn bà đã đày đoạ bạn mình.
            Bốn tên kia bị bắn ngay; chúng tôi chú mục vào con mụ này. Xử nó thế nào đây? Mọi người đều muốn bắn nó. Căm phẫn và lòng mong muốn báo thù cho Piedelot khiến chúng tôi quên mất nó là phụ nữ. Nhưng một phụ nữ khác, vợ viên đại uý, đã nhắc nhở chúng tôi. Tạm thời quyết định cầm tù nó.
            Người vợ khốn khổ ấy đã bị tổn thương sâu sắc vì hành động nhân ái này.
            Hôm sau chúng tôi nghe được tin đình chiến lan rộng đến cả miền Đông nước Pháp, và thế là phải chấm dứt trận chiến nho nhỏ của riêng mình. Hai người trong bọn có quê quán ở vùng bên, đã về nhà. Chúng tôi còn lại bốn: viên đại úy, vợ, và hai gã đàn ông. Chúng tôi thuộc vùng Besancon, nơi vẫn bị bao vây cho dù đã đình chiến.
            “Chúng ta nghỉ tại đây”, viên đại uý nói. “Tao không tin là chiến tranh lại kết thúc kiểu này. Quỷ tha ma bắt! Chắc chắn vẫn còn tụi Phổ ở lại Pháp, và đây là lúc để xem xem tụi nó ghê gớm tới đâu. Mùa xuân sắp về. Lệnh đình chiến chỉ là cái bẫy cho tụi nó, và một buổi sáng đẹp trời nào đó chúng ta lại tấn công chúng. Chúng ta phải sẵn sàng, chúng ta có con tin - cứ ở lại đây”.
            Chúng tôi đóng quân. Trời lạnh kinh khủng, và chúng tôi không ra ngoài nhiều, luôn phải cắt ra một người canh gác con mụ tù đó.
            Mụ ta mặt mày sưng xỉa, không nói một lời, ngay cả về người chồng đã bị giết. Mụ không ngừng nhìn viên đại úy với ánh mắt dữ tợn, và chúng tôi cảm nhận mụ đang khao khát báo thù. Với chúng tôi, sự yếu đuối trong việc trả thù cho Piedelot dường như đã trở thành nỗi đau nhức nhối.
            Trời ạ! Chúng tôi, những người biết báo thù cho đồng đội, đáng lẽ phải nghĩ rằng mụ ta cũng biết báo thù cho chồng, và cảnh giác trước việc này. Đúng là mỗi đêm đều có cắt phiên gác. Thoạt đầu chúng tôi trói mụ bằng một sợi thừng dài vào băng ghế to bằng gỗ sồi dính vào tường. Nhưng dần dần, thấy mụ không tìm cách trốn thoát, và dù biết mụ đang căm hờn, chúng tôi không còn cẩn trọng như trước, cho phép mụ ngủ đâu đó, không còn trói nữa. Có gì phải sợ? Mụ ta ở cuối phòng, luôn có người canh gác tại cửa, giữa là vợ viên đại uý và hai người đàn ông thường nằm.
            Mụ ta đơn độc và không vũ khí, sao có thể chống lại bốn người, thế chẳng có gì nguy hiểm cả.
            Một đêm khi chúng tôi đang ngủ, nhằm phiên gác của viên đại úy, vợ người lính kỵ binh nằm thu mình trong góc, lặng lẽ hơn mọi hôm, và lần đầu mụ ta cười từ khi bị bắt giữ. Thình lình, vào nửa đêm, chúng tôi bị dựng dậy vì một tiếng thét thất thanh. Mò mẫm, chúng tôi chạm phải một cặp đang lăn tròn chiến đấu trên mặt đất, lập tức nhào vô tách bọn họ ra ngay. Mụ ta vừa cười vừa hét, và ông ấy nấc lên hấp hối. Tất cả xảy ra trong bóng tối.
            Hai người túm mụ lại, và khi đèn thắp sáng, một cảnh hãi hùng bày ra trước mắt. Viên đại úy nằm trên sàn trong vũng máu, một vết thương toang hoác ở cổ họng. Vài phút sau, ông ta qua đời.
            Vợ viên đại úy không rơi một giọt nước mắt. Mắt đã khô, cổ họng cứng lại, bà ta không rời khỏi mụ vợ tên lính kỵ binh, ánh mắt lạnh lùng dữ tợn.
            “Con mụ này là của tôi”, thình lình bà ta lên tiếng. “Tuần trước các anh đã thề để tôi xử mụ ta, nếu mụ giết chết chồng tôi; nay các anh phải giữ lời. Cột chặt mụ ta ở góc lò sưởi rồi đi đi, đi cho xa. Tôi tự trả mối thù này. Để xác đại úy lại đây, chỉ có ba người, anh ấy, tôi, và mụ ta ở đây”.
            Chúng tôi tuân lệnh, bỏ đi. Bà ta hứa sẽ viết cho chúng tôi ở Geneva, vì chúng tôi sẽ quay lại đó.
 
 
            VI.
            Hai hôm sau tôi nhận thư, được viết một ngày sau khi chúng tôi đi khỏi, tại một quán trọ trên đường lớn:
            “BẠN THÂN: Như đã hứa, tôi viết thư này cho anh. Lúc này đây, tôi đang ở quán trọ, nơi tôi vừa giao nạp người tù của mình cho một viên sĩ quan Phổ”.
            “Tôi phải nói anh biết, người phụ nữ khốn khổ này còn có hai con nhỏ đang sống ở Đức. Cô ta đã theo chồng, người mà cô ấy hết mực thương yêu, với mong muốn anh ta tránh được những rủi ro trong chiến tranh, và để các con lại cho ông bà chăm sóc. Hôm qua tôi đã biết được và điều này khiến lòng mong muốn trả thù của tôi chùn bước trước tình người. Chính giây phút tôi vui sướng sỉ nhục cô tạ, đe doạ cô ta bằng những cực hình ghê gớm nhất, để tưởng nhớ Piedelot bị thiêu sống, cô ta nhìn tôi lạnh lùng nói:
            “Người phụ nữ Pháp, bà định xử tôi như thế nào? Bà nghĩ rằng bà đã làm đúng khi trả thù cho cái chết của chồng bà, phải thế không?”
            “Đúng!” tôi trả lời.
            “Được lắm, thế nên, lúc giết ông ta, tôi đã làm những gì bà sắp làm. Tôi trả thù cho chồng tôi, vì chồng bà đã giết anh ấy”.
            “Thế ư”, tôi tiếp “mày đã chấp nhận sự trả thù, chuẩn bị đón lấy”.
            “Tôi không sợ đâu”.
            “Và quả thật trông cô ấy vẫn can đảm. Nét mặt bình tĩnh, ánh mắt nhìn tôi không hề run sợ, trong khi tôi đang chất củi cùng với lá khô và luýnh quýnh cho vào ít thuốc súng để làm cho tang lễ cô ấy thêm rùng rợn.
            “Tôi ngần ngừ một lúc trước khi hành quyết. Nhưng đại uý nằm đó, tái nhợt và đẫm máu, hình như anh ấy đang nhìn tôi với đôi mắt to đờ đẫn, và tôi lại tiếp tục công việc sau khi hôn đôi môi nhợt nhạt của chồng. Thình lình, trong khi ngước đầu lên, tôi thấy cô ta đang khóc, và tôi thật sự ngạc nhiên.
            ‘Thế là mày sợ?” Tôi hỏi.
            “Không, nhưng khi tôi nhìn thấy bà hôn chồng, tôi nghĩ đến chồng tôi, đến tất cả những người tôi thương mến”.
            “Cô ấy tiếp tục khóc, nhưng thình lình nín bặt, bằng giọng nói run rẩy yếu đuối cô ta hỏi:
            “Bà có con chưa?”
            “Một cơn ớn lạnh chạy suốt người tôi, vì tôi đoán người đàn bà khốn khổ này đã có con. Cô ấy bảo tôi nhìn vào một cuốn sổ nhỏ cất trong áo ngực, và tôi đã thấy hình hai đứa bé, một trai và một gái, với khuôn mặt bầu bĩnh, dịu dàng và trong sáng của những đứa trẻ người Đức. Còn có cả hai lọn tóc nhỏ màu sang và một bức thư con trẻ với những chữ tiếng Đức to tướng:
            “Mẹ yêu quí của con”.
            “Tôi không cầm được nước mắt, bạn thân ơi, thế là tôi cởi trói cho cô ấy, và không dám nhìn mặt người chồng xấu số của mình, người không được trả thù cho cái chết tức tưởi, tôi và cô ấy đi xa khỏi nơi đó. Cô ta tự do, tôi đã thả cô ấy, và cô ấy hôn tôi, nước mắt không ngừng tuôn. Giờ tôi sẽ lên lầu với anh ấy đây, hãy đến với chúng tôi, bạn thân nhé, để trông nom hai cái xác của chúng tôi”.
            Tôi lập tức lên đường, và khi tôi đến đã có một nhóm tuần tra Phổ tại đó, Khi hỏi lý do, tôi được biết có một viên đại uý và vợ đã chết trong đó. Tôi nói tên hai vợ chồng; họ nói rằng đã biết, và tôi xin được lo chôn cất cho họ.           
            “Có ai đó đã lo việc này”, họ trả lời. “Vào đi nếu ông muốn, vì ông biết họ, ông có thể cùng với bạn họ lo việc chôn cất”.
            Tôi đi vào. Viên đại úy và vợ đang nằm bên nhau trên chiếc giường, trên người phủ tấm drap. Tôi mở ra và thấy người vợ đã cắt một vết thương lớn trên cổ giống như vết thương của người chồng đã chết.
            Bên cạnh giường, đang nức nở là người đàn bà mà người ta đã nói với tôi là bạn tốt của họ. Đó là vợ người lính kỵ binh. ★
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.09.2020 10:19:23 bởi hoi_ls>
CON TRAI
 
Guy de Maupassant
(Phan Mỹ My Lan dịch)
 
 
            Hai người bạn già tản bộ trong khu vườn đầy hoa. Xuân về, muôn loài tưng bừng sức sống.
            Một người là thượng nghị sĩ, người kia là học sĩ trong Hàn lâm viện của Pháp. Cả hai đều nghiêm nghị, nói năng chừng mực và lý luận chính xác. Họ được trọng vọng và nổi danh trong xã hội.
            Thoạt đầu họ nói về chính trị, trao đổi ý tưởng; không chỉ về chính kiến mà còn về con người, về nhân cách, cái mà họ xem còn vượt trội hơn cả khả năng.
            Họ hồi tưởng lại những gì đã qua, rồi yên lặng bước, mệt vì không khí ấm dần.
            Từng thảm hoa quế trúc trải ra trước mắt, hương thơm ngọt ngào. Trăm loài hoa khoe sắc, toả hương trong làn gió nhẹ. Gió mang đám mây phấn hoa vàng gieo rắc khắp nơi, thoang thoảng mùi hương mật như những túi bột thơm.
            Ông nghị sĩ dừng bước, hít thở hương phấn hoa, vàng như ánh dương, bụi phấn vương vấn lững lờ trong không trung, ông nói:
            - Người ta cho rằng những bụi phấn thơm ngát này tạo nên sự sống cho hàng trăm loài hoa quanh đây. Nó toả trong không trung và đậu lại ở những cây hoa cái, tạo gốc rễ từ một tế bào, như chúng ta đa làm, bất tử như con người, và người này sẽ thay thế người khác, theo cùng một cách, giống với người trước.
            Và, đứng trước cây keo rực rỡ, phân hoa rơi rụng theo từng cơn gió thoảng, ông nghị sĩ tiếp:
            - Này anh, nếu anh xem cái cách con chúng ta phát triển, anh sẽ ngạc nhiên vô cùng. Có đứa sinh ra thật dễ dàng, lớn lên và trưởng thành mà không hề phiền hà gì đến người khác.
            - Chúng ta cũng vậy mà.
            - Vâng, tôi không chối cãi điều này; đôi khi chúng ta để con cái tự do, ông thượng nghị sĩ nói, nhưng chúng ta ý thức điều mình làm, và điều đó khiến ta hơn những người khác.
            - Không, ý tôi không phải thế, người kia lắc đầu nói.
            - Anh biết đó, có người có con mà không hề biết là mình có, những đứa trẻ - không cha - mà anh ta đã cho ra đời không ý thức, cũng như sự sinh sản của những cây hoa này.
            - Nếu phải đếm những chuyện tình đã qua, chắc hẳn chúng ta bối rối như cây keo này khi tính toán nó có bao nhiêu hậu duệ, phải không anh?
            - Từ tuổi mười tám đến bốn mươi, thật sự, chỉ những mối quen biết thoáng qua, chúng ta có thể quen từ hai trăm đến ba trăm phụ nữ.
            - Này, bạn thân, với con số này anh có thể tin chắc rằng anh không có đứa con nào với ít nhất một người? Và tin rằng trên đường phố, hay trong nhà giam, có một gã đê tiện, một tay giết người nào đó lại không là con của chúng ta, hoặc một cô gái trong nhà chứa, hoặc nếu may mắn, một cô phụ bếp?
            - Anh xem, cũng thế, hầu hết các cô, mà chúng ta gọi là “gái điếm” có một hoặc hai con không cha nhìn nhận, được sinh ra từ cái giá mười hay hai mươi quan. Trong mọi việc có được và mất. Những đứa trẻ như cây cỏ hoang sơ này cấu thành “cái mất”. Ai đã tạo ra chúng? Anh, tôi, chúng ta đều đã làm điều này, chúng ta, “những người đàn ông lịch lãm”! Chúng ta là kết quả của những bữa tiệc vui nho nhỏ, những chiều giải trí, và những giờ mà cơ thể tràn trề sinh lực của ta trỗi dậy cho những quan hệ bất chính.
            - Những tên trộm cướp, những thành phần xấu xa đó, thực ra, là con của chúng ta. Điều này chẳng là gì cả nếu chúng ta cũng thuộc lớp hạ lưu.
            - Tôi sẽ kể anh nghe một câu chuyện khủng khiếp. Nó khiến tôi hối hận triền miên, và hơn thế nữa, một sự ngờ vực dai dẳng, âm ỉ, hành hạ tôi mọi lúc.
            Khi hai mươi lăm tuổi, tôi đã làm một chuyến đi bộ xuyên Brittany cùng một người bạn, nay là thành viên của nội các.
            Sau mười lăm hoặc hai mươi ngày đi qua Cotes - du - Nord và một phần của Finistere, chúng tôi đến Douarnenez. Từ đó, chúng tôi đi một mạch đến mũi đất hoang sơ Raz gần vịnh Les Trepaases và qua đêm ở một ngôi làng nhỏ.
            Sáng hôm sau, một cơn mệt mỏi khác lạ đã khiến bạn tôi liệt giường; tôi nói giường theo thói quen, vì đơn giản chúng tôi chỉ nằm trên hai ổ rơm.
            Tôi chưa hề rơi vào tình huống thế này. Tôi dựng anh ấy dậy và chúng tôi đến Andieme lúc bốn hoặc năm giờ chiều hôm ấy.
            Hôm sau anh ta khá hơn một chút, và chúng tôi lại lên đường. Nhưng rồi trên đường đi anh không thể chịu đựng nổi một cơn đau khủng khiếp, chúng tôi chỉ đến được Pont Labbe.
            Ở đây, ít ra là có được một quán trọ. Bạn tôi nằm mê man, và người bác sĩ đến từ Quimper bảo rằng anh ấy sốt cao nhưng không tìm ra được bệnh gì.
            Anh biết Pont Labbe không? Không à? Nó nổi bật nhất vùng Breton Brittany, kéo dài từ mũi đất Raz đến Morbihan. Nó mang đậm tính cách của người dân ở đây, nhiều truyền thuyết và phong tục tập quán vẫn còn lưu truyền. Ngay cả bây giờ, vùng đất này cũng không thay đổi mấy. Tôi nói “ngay bây giờ” vì, trời ạ, tôi đến đó mỗi năm!
            Một lâu đài cổ nghiêng bóng những bức tường và tháp canh xuống mặt hồ êm đềm, chỉ một thoáng xôn xao vì những cánh chim dại lướt qua. Nó chảy thông ra một con sông tàu thuyền neo lại xa xa thị trấn. Trên những con đường nhỏ với nhà cửa cổ xưa, đàn ông mang những cái nón thật to, thắt lưng thêu bốn lớp, lớp này tiếp lớp khác; cái trong cùng, to bằng bàn tay, chỉ để che khoảng xương vai, va cái ngoài cùng vừa chấm thắt lưng.
            Con gái, cao lớn, xinh đẹp và tươi tắn. Ngực họ nén chặt như mặc áo giáp, áo thì cũng rất lạ, từ trên cổ dài xuống chân. Trên trán là hai dải băng thêu dài, lẫn vào trong mái tóc được vấn lại trong chiếc nón lưỡi trai, thường được thêu trang trí chỉ màu vàng hoặc bạc.
            Cô bồi phòng tại quán trọ chưa đầy mười tám tuổi, mắt xanh nhạt với hai đồng tử màu đen bé xíu, hàm răng trắng nhỏ đều khít, phô ra khi cô cười, trông chắc chắn như có thể nghiền cả đá granite.
            Cô ấy không biết một chữ tiếng Pháp, chỉ dùng tiếng Breton như những đồng nghiệp của cô.
            Vì bạn tôi không khá lên bao nhiêu, và mặc dù không biết rõ anh ấy bệnh gì, bác sĩ vẫn không cho anh tiếp tục chuyến đi, bắt phải hoàn toàn tịnh dưỡng. Tôi ở đó nhiều ngày với anh, và cô bồi phòng nhỏ không ngừng đến, khi thì đem cơm cho tôi, khi thì các loại thuốc bằng lá cây cho anh ấy.
            Tôi chọc ghẹo cô ấy tí chút, có vẻ cô cũng vui vui, nhưng chúng tôi không hề nói chuyện, vì không thể hiểu nhau.
            Nhưng có một tối, sau khi ở lại khá khuya với anh bạn, tôi quay về phòng. Tôi đi ngang qua cô gái khi cô ấy đang về phòng mình, đối diện phòng của tôi, và không suy nghĩ, chỉ đùa chứ không có ý gì khác, tôi thình lình túm lấy eo cô ta, và trước khi cô ấy kịp hoàn hồn, tôi đã quẳng cô vào phòng, chốt cửa lại.
            Cô ấy nhìn tôi, sửng sốt và sợ hãi, không dám la lên vì xấu hổ và có thể bị đuổi việc, trước tiên là vì chủ quán trọ, có thể, là cha cô ấy.
            Thoạt tiên tôi chỉ giỡn chơi. Cô ấy phòng thủ quyết liệt, thoát ra cửa, rút chốt và chạy biến.
            Vài ngày sau đó tôi không hề gặp cô ấy. Cô ấy không để tôi đến gần. Nhưng khi bạn tôi bình phục và chúng tôi lại chuẩn bị cho cuộc hành trình, cô ấy đã đến phòng tôi vào giữa đêm, trước lúc chúng tôi lên đường.
            Cô ấy nhảy vào lòng tôi và ôm tôi cuồng nhiệt, cho tôi tất cả sự dịu dàng và khát vọng của một người phụ nữ trong khi cô ấy không thể nói được một từ nào trong ngôn ngữ mẹ đẻ của tôi.
            Một tuần sau tôi đã quên đi cuộc phiêu lưu này, rất thường xảy ra với những người hay đi đây đó. Những người bồi phòng thường chỉ làm vui du khách theo kiểu đó.
            Năm ba mươi tuổi tôi có nghĩ đến việc này và có ý định trở lại Pont Labbe.
            Nhưng mãi đến năm 1876 tôi mới tình cờ đến Brittany để tìm kiếm một số dữ liệu viết sách.
            Dường như không có gì đổi thay. Những bức tường xám của toà lâu đài vẫn đổ bóng xuống mặt hồ bên ngoài tỉnh lỵ; quán trọ vẫn thế, dù nó đã được sửa chữa, đổi mới cho hiện đại hơn. Khi vào quán, tôi được hai cô bé người Breton khoảng chừng mười tám tuổi đón tiếp, tươi trẻ và xinh xắn, mặc áo bó sát, đội mũ màu ánh bạc và mang một dải băng thêu trên trán.
            Khi ấy vào khoảng sáu giờ chiều. Tôi ngồi ăn cơm, và trong khi người chủ quán đang ân cần phục vụ, tự dưng tôi buộc miệng hỏi:
            - Ông có biết những người chủ cũ của ngôi nhà này không? Cách đây ba mươi năm tôi đã có dịp ở đây khoảng mười ngày.
            - Đó là cha mẹ tôi, thưa ông, ông ta đáp.
            Rồi tôi kể lý do vì sao chúng tôi đã lưu lại nơi đây, bạn tôi đã bị trễ vì vướng bệnh. Ông ấy không đợi tôi nói xong.
            - Vâng, tôi còn nhớ rất rõ. Khi ấy tôi vào khoảng mười lăm, mười sáu tuổi, ông nghỉ tại căn phòng cuối dãy và bạn ông nghỉ tại căn phòng này là phòng tôi, trông ra đường.
            Chỉ khi ấy hồi ức về cô bồi phòng nhỏ trở về sống động trong trí. Tôi hỏi:
            - Ông có nhớ cô bồi phòng nhỏ bé xinh xinh làm công cho cha mẹ anh, và là người, nếu tôi nhớ không lầm, có đôi mắt xinh đẹp và hàm răng trắng đều?
            - Vâng, thưa ông; chị ấy chết khi sinh con một thời gian sau đó.
            Và, chỉ tay ra sân nơi một người đàn ông gầy gò, què quặt đang xới phân bón, ông ấy thêm:
            - Kia là con trai của chị ấy.
            Tôi cười:
            - Anh ta không đẹp trai và không giống mẹ mình. Chắc hẳn là giống cha.
            - Có thể thế, người chủ quán đáp, Nhưng không ai biết nó là con của ai. Chị ấy chết mà không nói với một ai, và không ai ở đây biết chị ấy từng có bạn trai. Mọi người rất ngạc nhiên khi nghe chị ấy có thai, và không ai tin cả.
            Tôi ớn lạnh cả người, lòng trĩu nặng như có một nỗi đau nào đó đang đe doạ. Và tôi nhìn gã đàn ông trong sân. Hắn ta vừa lấy nước cho ngựa uống, kéo lê hai cái xô khi bước, khó nhọc vì chân thấp chân cao, áo quần tả tơi, trông dơ bẩn đến kinh tởm, tóc dài cháy nắng, cứng ngắc như những sợi thừng rơi hai bên mặt gã.
            - Nó chẳng được việc gì, người chủ quán tiếp, chúng tôi chỉ nuôi vì thương hại nó. Có thể nó khác đi nhiều nếu được nuôi nấng như những người khác. Nhưng chúng tôi có thể làm gì, thưa ông? Không cha, không mẹ, không tiền! Cha mẹ tôi tội nghiệp nó, nhưng nó không phải là con cháu, ông biết đó.
            Tôi không nói gì.
            Tôi ngủ trong căn phòng cũ, và suốt đêm dài tôi nghĩ về con người tàn tật dơ bẩn này, tự hỏi: “Giả sử nó là con tôi? Có thể tôi đã gây ra cái chết của người con gái đó và đã tạo nên sinh vật này? Có thể lắm chứ”.
            Tôi quyết định nói chuyện với người này và tìm ra chính xác ngày sinh của gã. Nếu cách nhau khoảng hai tháng thì tôi có thể yên tâm không dằn vặt mình nữa.
            Hôm sau tôi cho gọi gã đến. Nhưng gã không biết nói tiếng Pháp. Dường như gã chẳng hiểu gì, hoàn toàn không biết đến tuổi của mình. Một cô bồi phòng cho tôi biết thế. Gã đứng trước mặt tôi như một tên ngốc, xoay xoay chiếc nón trong đôi tay xương xẩu, gớm ghiếc, miệng cười ngu ngơ. Gã vẫn mang máng giống mẹ ở khoé miệng cười và cặp mắt.
            Người chủ quán đã kiếm ra giấy khai sinh của sinh vật khốn khổ này.
            Ngày gã ra đời là 8 tháng 26 ngày, sau ngày tôi ở tại Pont Labbe, vì tôi nhớ chính xác đã đến Lorient vao ngày 15 tháng 8. Khai sinh ghi "Cha vô danh”. Tên mẹ Jeanne Kerradec.
            Tim tôi đập mạnh. Tôi không thể thốt nên lời, cảm thấy nghẹt thở. Tôi nhìn con thú ấy, và gã, bối rối vì cái nhìn của tôi, thôi không cười nữa, quay đầu chực bỏ đi.
            Suốt ngày tôi lang thang bên dòng sông nhỏ, tìm lời đáp trong hồi ức đớn đau. Nhưng hồi ức thì có ích gì? Tôi không thể chắc chắn điều gì cả. Trong nhiều giờ tôi cân nhắc liệu có khả năng tôi là cha, căng thẳng vì những giả thiết không thể lý giải, chỉ là sự ngờ vực dai dẳng, rồi đưa đến một bản án đau xót gã là con của tôi.
            Tôi bỏ bữa, quay về phòng.
            Trằn trọc mãi, tôi thiếp đi với một giấc mơ khủng khiếp. Tôi thấy gã cười vào mặt và gọi tôi là “Cha". Rồi gã hoá thành con chó và cắn mắt cá chân tôi, tôi gắng sức chạy thật nhanh, gã vẫn theo bén gót, không ngừng sủa và mắng nhiếc tôi. Rồi gã xuất hiện trước các đồng nghiệp của tôi ở Học viện, những người này đang tụ tập ở đây để quyết định xem tôi có phải cha của gã. Một người trong họ la lên:
            “Không nghi ngờ gì nữa! Xem gã giống ông ta chưa kìa”. Và, quả thật, tôi thấy gã quái vật ấy rất giống tôi.
            Tôi thức giấc với ý nghĩ này và với mong muốn điên cuồng là nhìn thấy gã một lần nữa và xem xem chúng tôi có những điểm giống nhau chăng.
            Tôi gặp gã khi gã sắp hoà vào đám đông đi lễ - hôm ấy là chủ nhật - và tôi cho gã năm quan tiền trong khi lo lắng nhìn chăm chăm vào gã. Gã lại cười ngây ngô, cầm lấy tiền, bối rối trước cái nhìn của tôi, rồi chạy mất - sau khi lắp bắp vài từ không rõ, chắc hẳn là “cám ơn”.
            Ngày lại qua trong nỗi đau như đêm trước, tôi đi kiếm người chủ quán, và rất cẩn trọng, khéo léo, tôi nói với ông ta là tôi quan tâm đến sinh vật khốn khổ này, bị mọi người ruồng bỏ, sống trong tận cùng xã hội, và tôi muốn làm cho gã một điều gì đó.
            Nhưng người này nói: ồ, thưa ông, xin đừng nghĩ đến điều này, gã không đáng đâu, ông chỉ chuốc thêm phiền nhiễu mà thôi. Tôi thuê gã dọn chuồng ngựa, và đó là tất cả những gì gã có thể làm. Tôi cho gã ăn và ngủ chung với ngựa. Gã không cần gì hơn nữa. Nếu ông có cái quần cũ nào đó, ông có thể cho gã, nhưng rồi nó sẽ rách bươm sau một tuần.
            Gã khốn khổ về đến nhà chiều hôm ấy, say be bét, suýt chút thì nổi lửa đốt căn nhà, giết chết một con ngựa bằng cái cuốc chim và chỉ thôi khi nằm lăn ra ngủ trong vũng bùn dưới trời mưa. Đó là vì món tiền tôi cho.
            Ngày hôm sau họ năn nỉ tôi đừng cho gã đồng nào nữa. Rượu làm gã điên, và ngay khi gã có hai xu trong túi, gã quẳng ngay vào quầy rượu. Người chủ quán nói thêm: “Cho gã tiền cũng như giết gã". Chưa bao giờ trong đời gã có nhiều hơn vai xu được du khách quẳng cho, và gã không biết nơi nào khác để tiêu tiền ngoài quán rượu.
            Tôi ngồi hàng giờ trước quyển sách mở rộng, giả vờ đọc, nhưng thực ra để nhìn con vật ấy, con trai tôi! Con trai tôi! Cố gắng tìm xem gã có nết nào giống tôi. Sau khi xem xét kỹ tôi như thấy cái nền trán ấy, cái sống mũi ấy giống với tôi, và nhanh chóng tôi tin chắc rằng giữa chúng tôi có sự giống nhau đã được che giấu trong quần áo và trong khuôn mặt khuất sau mái tóc.
            Tôi không thể ở đó mà lòng không trỗi dậy ngờ vực, nên bỏ đi, trái tim tan nát, để lại cho người chủ quán một ít tiền ngõ hầu làm nhẹ đi cuộc sống của gã giúp việc.
            Sáu năm nay tôi đã sống với ý nghĩ này trong đầu, với sự ngờ vực khủng khiếp, kinh tởm. Và mỗi năm một sức mạnh không cưỡng được lại kéo tôi về Pont Labbe. Mỗi năm tôi đày đoạ mình bằng hình ảnh con thú ấy đang xới phân bón, tưởng tượng ra rằng gã giống tôi, và cố gắng luôn vô hiệu, giúp gã chút gì đó. Và mỗi năm tôi trở lại, ngờ vực hơn, day dứt hơn, và lo lắng hơn.
            Tôi gắng kiếm người dạy dỗ gã, nhưng gã chỉ là một tên ngốc vô vọng. Tôi gắng làm cho cuộc sống gã ít khốn khổ hơn. Gã là một tên nát rượu không cải tạo được, tiêu tất cả tiền được cho vào rượu, và đủ khôn ngoan để bán quần áo mới đi mua rượu.
            Tôi gắng gợi lòng thương của người chủ quán, để ông ta trông nom gã, trả công ông ta vì việc này. Người chủ quán, rốt cuộc rất ngạc nhiên, khôn khéo nói: “Thưa ông, tất cả những gì ông làm cho nó chỉ là huỷ hoại nó thôi. Nó phải được canh như canh tù. Ngay khi nó rảnh, hay an nhàn, nó trở nên nguy hiểm. Nếu ông muốn làm điều thiện, không thiếu những đứa trẻ bị bỏ rơi biết nhận thức và biết ơn sự quan tâm của ông”.
            Tôi có thể nói gì đây?
            Nếu tôi để lộ một chút ngờ vực của mình, gã ngốc này sẽ trở nên xảo trá ngay, để tống tiền tôi, làm tổn thương và huỷ hoại tôi. Gã có thể gọi “Cha” như trong cơn ác mộng.
            Và tôi tự nói với mình rằng tôi đã giết người mẹ và huỷ diệt sinh vật này, con ký sinh trùng nơi chuồng ngựa, được sinh ra và lớn lên chỉ biết có phân ngựa; con người mà, nếu được nuôi dưỡng như người khác, chắc hẳn đã có cuộc sống bình thường như bao người.
            Và anh không thể tưởng tượng được cái cảm giác lạ lùng, bối rối, không chịu nổi đến với tôi khi gã đứng trước mặt và tôi nghĩ rằng gã đã được sinh ra từ con người của tôi, rằng gã thuộc về tôi thông qua sự ràng buộc cha con, và với quy luật di truyền, gã chính là tôi, trong máu thịt, có cùng tế bào gây bệnh, cùng một chất men trước mọi xúc cảm.
            Tôi mang nặng khát khao không ngừng được nhìn thấy gã; và hình ảnh của gã làm tôi đau đớn. Từ cửa sổ phòng, tôi nhìn gã thu dọn và đẩy xe đầy phân ngựa, tự nói: “Kia là con tôi”.
            Và đôi khi tôi khao khát được ôm chầm lấy gã, tôi chưa hề đụng đến bàn tay dơ bẩn ấy.
            Ông học sĩ im lặng. Bạn ông thì thầm:
            - Vâng, quả thật, chúng ta phải quan tâm nhiều hơn đến những đứa trẻ không cha.
            Một cơn gió làm lay động những chùm hoa vàng, mang theo mùi hương ngan ngát mà hai người đàn ông lớn tuổi khát khao đón lấy.
            Ông thượng nghị sĩ thở dài: “Cái tuổi hai mươi lăm thật đẹp, ngay cả khi có những đứa con như vậy”. *
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
MỘT CUỘC PHIÊU LƯU Ở PARIS
 
 
Guy de Maupassant
TRẦN THANH ÁI dịch
 
 
            Có thứ tình cảm nào dữ dội hơn tính tò mò ở người phụ nữ không? Ồ! Giá mà được biết, được làm quen, được sờ mó những gì mà ta hằng mơ ước! Có việc gì mà họ không làm để đạt được những thứ ấy? Người đàn bà, khi tính tò mò của họ đang trỗi dậy, sẽ phạm phải mọi điều điên rồ, mọi hành động khinh suất, sẽ có đầy đủ lòng quả cảm, và sẽ không lùi bước trước bất cứ một cái gì. Tôi nói về những người đàn bà thực sự đàn bà, những người thừa hưởng được cái tinh thần ba mặt, mà mới nhìn qua dáng vẻ bên ngoài, nó dường như hợp lý và lạnh lùng, nhưng cả ba ngăn bí mật của nó đều được chất đầy, cái thì bằng nỗi lo âu đàn bà luôn luôn xao động, cái thì bằng những mưu mẹo được tô điểm bởi lòng chân thực, cái mưu mẹo của kẻ mộ đạo, ngụy biện và đáng sợ, và cái thì bằng sự gian trá duyên dáng, sự lừa đảo mê hoặc, sự phản trắc ngọt ngào, và bằng tất cả những đặc tính đồi bại khác đã xô đẩy những tình nhân cả tin một cách xuẩn ngốc đến con đường tự vẫn, nhưng lại làm những người tình khác đắm say.
            Người đàn bà mà cuộc phiêu lưu sắp được tôi kể ra đây là một phụ nữ nhỏ bé ở tỉnh lẻ, đến lúc ấy chị vẫn hoàn toàn lương thiện. Cuộc đời của chị bề ngoài rất lặng lẽ, nó trôi qua trong công việc nội trợ, với một người chồng luôn bận bịu, và hai đứa con mà chị đã nuôi nấng như mọi người đàn bà giỏi giang khác. Nhưng con tim chị luôn run rẩy vì một nỗi tò mò không nguôi, một sự thèm muốn cái mới lạ. Chị luôn mơ tưởng đến Paris, và thường đọc ngấu nghiến các tờ báo thời thượng. Các bài tường thuật những ngày hội, những trang phục, những cuộc vui làm nỗi khát khao của chị sôi sục lên; nhưng nhất là chị hay bối rối một cách huyền bí bởi những tin vặt đầy ngụ ý, bởi những câu văn khéo léo nửa kín nửa hở, để hé ra những chân trời lạc thú tội lỗi và bại hoại.
            Từ xó xỉnh của mình, chị nhìn Paris trong cảnh thần tiên của xa hoa lộng lẫy và đồi bại.
            Và trong những đêm dài nằm mơ tưởng, được ru bằng tiếng ngáy đều đều của ông chồng nằm ngủ thẳng cẳng bên cạnh, đầu quấn phu la, chị nghĩ đến những con người tiếng tăm vang lừng mà tên tuổi của họ thường xuất hiện nơi trang đầu của báo chí, như những ngôi sao rực sáng trên bầu trời tăm tối; và chị tưởng tượng ra cuộc sống đến kinh hoàng của họ, với những cuộc sa đọa liên tục, những buổi chè chén theo kiểu thời cổ, dâm đãng một cách đáng sợ, và những khoái lạc tinh tế, phức tạp đến nỗi thậm chí chị cũng không thể tưởng tượng ra được.
            Các đại lộ đối với chị là một thứ hang vực của những đam mê của con người; và mọi ngôi nhà ở đó, chắc chắn có tàng trữ những huyền bí của tình yêu thần kỳ.
            Lúc này, chị cảm thấy già di. Chị già đi mà không hể biết gì về cuộc đời, ngoài những công việc thường ngày, đơn điệu một cách đáng tởm, và tầm thường, mà người ta thường nói đó là hạnh phúc gia đình. Chị vẫn còn xinh, vì khép kín trong một cuộc sống lặng lẽ, như một quả chín mùa đông, được gìn giữ trong tủ kín, nhưng bị gặm nhấm, tàn phá, và khuấy động bởi những ngọn lửa bí ẩn. Chị tự hỏi chẳng lẽ cho đến lúc chết, chị không được nếm thử tất cả những cơn ngây ngất tội lỗi ấy, không được đắm mình trọn vẹn, dù chỉ một lần thôi, vào ngọn sóng của những lạc thú ở Paris hay sao.
            Với một sự kiên nhẫn bền bỉ, chị chuẩn bị một chuyến đi Paris, chị nghĩ ra một cớ, rồi gợi ý cho mấy người bà con mời chị về chơi, và vì chồng chị không thể tháp tùng chị được, nên chị đi một mình.
            Vừa đến nơi, chị đã nghĩ ra được những lý do để có thể vắng nhà hai ngày, hoặc đúng hơn, hai đêm, nếu cần, vì chị vừa gặp lại những người bạn thân ở tận vùng ngoại ô, chị nghĩ bụng như thế.
            Và chị đi tìm. Chị rảo khắp các đại lộ mà chẳng thấy chi, ngoài bọn gái điếm đang lượn lờ. Chị đưa mắt thăm dò các quán cà phê lớn, chăm chỉ đọc mục giao lưu của báo Figaro, đối với chị, nó như một hồi chuông thúc giục, một tiếng gọi của tình yêu vào mỗi buổi sáng.
            Và chị vẫn chưa bắt gặp một mẩu tin nào giúp chị lần theo dấu vết của những buổi tiệc tùng của giới nghệ sĩ, chẳng có chi tiết nào hé cho chị thấy những vùng đất thiêng của sự sa đọa mà chị thường tưởng tượng ra, rằng nó được đóng kín bằng một câu thần chú, như cái sào huyệt của bọn cướp trong truyện "Nghìn lẻ một đêm", và như những hầm mộ La Mã, nơi chứa dựng một cách bí ẩn những huyền bí của một tôn giáo bị bài xích.
            Cha mẹ chị thuộc giới trưởng giả lớp dưới, họ không thể giới thiệu cho chị một người nào trong giới thượng lưu cả, những người mà tên tuổi luôn réo rắt trong đầu chị; và thất vọng, chị đã nghĩ đến chuyện quay về nhà, bỗng sự tình cờ đến giúp chị.
            Một hôm, khi xuôi con đường Ghaussee-d’Antin, chị dừng lại ngắm nghía một cửa hiệu chất đầy đồ trang trí Nhật Bản, màu sắc sặc sỡ đến độ làm cho chị thấy thích mắt. Khi đang xem xét những món đồ xinh xắn bằng ngà voi, những chiếc bình to có nước men lộng lẫy, những tượng đồng kỳ dị, thì chị nghe ở bên trong cửa hiệu, người chủ hết sức cung kính đang chỉ cho người đàn ông mập mạp, lùn tịt, đầu hói, xem một tượng Thần Tài rất to, ông ta nói đây là bức tượng duy nhất. Và trong mỗi câu nói của người bán hàng, cái tên của người mua, một cái tên nổi tiếng, lại vang lên như tiếng kèn. Những khách hàng khác, gồm những phụ nữ trẻ và quý ông thanh lịch, bằng những cái liếc mắt lịch sự và kính cẩn ra mặt, họ chiêm ngưỡng nhà văn nổi tiếng đang say mê nhìn bức tượng bằng gốm kia. Cà hai đều xấu xí, như thể hai anh em cùng một mẹ sinh ra.
            Người chủ nói: "Nếu ông mua, thưa ông Jean Varin, thì tôi xin để lại với giá một trăm ngàn quan, vừa đúng giá vốn của tôi đấy, còn nếu là người khác, tôi bán một nghìn năm trăm quan; nhưng vì tôi quý những khách hàng là nghệ sĩ, nên tôi lấy giá đặc biệt. Tất cả họ đều mua hàng của tôi, thưa ông Jean Varin. Hôm qua, ông Busnach đã mua của tôi một chiếc đĩa cổ. Hôm nọ, tôi đã bán hai chân nến như thế này (đẹp chứ, phải không?) cho ông Alexandre Dumas. Còn bức tượng mà ông đang cầm ấy, nếu ông Zola thấy được, thì ông ấy đã mua rồi, thưa ông Varin".
            Nhà văn rất đắn đo, lúng túng, vừa bị thôi thúc bởi món hàng, vừa nghĩ đến số tiền phải trả, và ông không hề quan tâm đến mọi ánh mắt nhìn mình, như thể ông đang một mình ở trong sa mạc.
            Chị run rẩy bước vào, ánh mắt nhìn thẳng vào ông khách một cách sống sượng, và thậm chí chị không không thèm tự hỏi là ông ta có đẹp trai, có phong nhã, có trẻ trung hay không. Đó chính là Jean Varin, Jean Varin!
            Sau một hồi đấu tranh và phân vân một cách khổ sở, ông ta đặt bức tượng xuống bàn và nói: "Không, đắt quá".
            Người bán hàng lại tăng thêm khoa hùng biện: "Ồ! thưa ông Jean Varin, đắt quá? Cái này chẳng khác nào mua một món hàng đáng hai ngàn quan chỉ với giá một xu mà thôi".
            Nhà văn buồn bã trả lời, vừa nhìn bức tượng có đôi mắt tráng men: "Tôi không phản đối, nhưng nó đắt quá so với túi tiền của tôi".
            Lúc ấy, chị bỗng trở nên táo tợn hơn, chị tiến lên: "Ông bán thứ ấy cho tôi bao nhiêu?"
            Người bán hàng kinh ngạc trả lời: “Một nghìn năm trăm quan, thưa bà".
            “Tôi lấy nó”.
            Từ nãy giờ, nhà văn không thấy chị, bây giờ bỗng quay lại, và ông nheo mắt nhìn chị từ đầu đến chân như một giám khảo, rồi ông phân tích từng chi tiết trên người chị như một người sành sỏi.
            Chị rất duyên dáng, sống động, gương mặt rạng rỡ bởi một ngọn lửa từ trước tới nay vẫn ngủ yên trong lòng chị. Và kế đến, một người đàn bà dám bỏ ra một nghìn năm trăm quan để mua món đồ chơi này ắt không phải là người đến đây lần đầu.
            Lúc ấy, chị có một cử chỉ nhã nhặn mê hồn; và quay sang ông, chị nói, giọng run run: "Xin lỗi ông, có lẽ tôi đã hơi sỗ sàng. Có thể ông đã chưa dứt giá".
            Ông ta nghiêng mình: "Tôi đã trả đứt giá rồi, thưa bà".
            Nhưng chị vô cùng xúc động: "Thôi thì, thưa ông, hôm nay hay sau này, nếu ông cần đổi ý, món hàng này sẽ thuộc về ông. Tôi mua nó chỉ vì ông thích nó".
            Ông mỉm cười, vẻ thích thú ra mặt: "Vậy bà đã quen tôi như thế nào?" - ông nói.
            Thế là chị huyên thuyên nói với ông về niềm thán phục của mình, và kể cho ông nghe những tác phẩm của ông.
            Ông tựa khuỷu tay vào một chiếc tủ khi nói chuyện, và hướng đôi mắt soi mói vào chị để tìm cách xét đoán chị.
            Đôi khi, người bán hàng sung sướng vì đã có được một bảng quảng cáo sống, và vì có nhiều khách mới bước vào, nên ông ta kêu lên từ đầu đằng kia của gian hàng: "Này, ông Varin, ông hãy nhìn cái này, đẹp chứ?". Thế là mọi cái đầu ngẩng lên, và chị rùng mình vì thích thú, vì được mọi người thấy chị đang chuyện trò thân mật với một người lừng danh.
            Thế rồi chị ngây ngất, và có một hành động táo tợn tột cùng, như những viên tướng sắp ra lệnh xung phong: "Thưa ông, chị nói, xin ông cho tôi được hưởng một sự thích thú, một thích thú thật to lớn. Xin phép ông cho tôi được tặng ông bức tượng này, như là kỷ niệm của một người đàn bà ngưỡng mộ ông một cách say mê, người đàn bà mà ông chỉ mới gặp có mười phút thôi”.
            Ông ta từ chối. Chị nài nỉ. Ông cự tuyệt, lòng cảm thấy thích thú, và ông cười sảng khoái.
            Chị bướng bỉnh nói: "Vậy thì tôi sẽ mang nó đến nhà ông. Ông ở đâu?"
            Ông ta từ chối cho chị biết địa chỉ, nhưng chị cũng biết, nhờ hỏi người bán hàng; và khi trả xong tiền, chị chạy ngay ra một chiếc xe ngựa thuê. Nhà văn đuổi theo để giữ chị lại, vì không muốn nhận món quà của người mà ông chưa hề quen biết. Ông đuổi kịp, lúc chị vừa nhảy lên xe, và ông cũng nhảy bổ theo, và gần như ngã vào lòng chị, vì chiếc xe đang chuyển bánh; đoạn, ông ngồi xuống bên cạnh chị, lòng cảm thấy rất bực bội.
            Mặc cho ông van nài, khẩn khoản, chị tỏ ra không lay chuyển. Khi họ đến trước cổng nhà, chị ra điều kiện: "Tôi sẽ bằng lòng không để lại món quà này cho ông, nếu hôm nay ông thực hiện tất cả nguyện vọng của tôi".
            Vấn đề có vẻ kỳ cục đến nỗi ông chấp nhận ngay.
            Chị hỏi: "Vào giờ này, hàng ngày ông làm gì?"
            Sau một lúc do dự, ông đáp: "Tôi đi dạo."
            Thế là, bằng một giọng quả quyết, chị ra lệnh: "Vào rừng".
            Rồi họ lên đường.
            Ông ta phải kể tên tất cả những người đàn bà nổi tiếng, nhất là những bà nhơ nhớp, cho chị nghe, cùng với những chi tiết thầm kín về họ, cuộc đời của họ, những thói quen, những tật xấu và nỗi lòng của họ.
            Màn đêm buông xuống, chị nói: "Vào giờ này, hàng ngày ông làm gì?"
            Ông ta trả lời, vừa cười: "Tôi uống một cốc rượu".
            Thế là chị nói tiếp, giọng nghiêm nghị: "Vậy thưa ông, ta đi uống".
            Họ bước vào một hiệu cà phê lớn trên đại lộ mà ông ta thường đi dạo, và là nơi mà ông thường gặp bạn đồng nghiệp. Ông ta giới thiệu chị với mọi người. Chị như điên lên vì vui sướng. Và cái từ này cứ vang lên không ngừng trong đầu chị: "Đây rồi!"
            Thời gian trôi qua, chị hỏi: "Đã đến giờ ăn tối của ông chưa?"
            Ông trả lời: "Vâng, thưa bà”.
            "Vậy thưa ông, ta đi ăn".
            Vừa bước ra khỏi quán cà phê Bignon, chị nói: "Buổi tối, ông thường làm gì?"
            Ông nhìn chị chằm chặp: "Cái đó còn tùy; đôi khi tôi đi xem hát”.
            "Vậy thì thưa ông, ta đi xem hát".
            Họ bước vào rạp Vaudeville, diễm phúc thay, một vinh dự tột đỉnh, nhờ ông mà chị được mọi người trong phòng trông thấy, khi ngồi bên cạnh ông ta, ở dãy ghế ban công.
            Buổi diễn đã dứt, ông ta hôn lên tay chị một cách quí phái: "Thưa bà, tôi còn một việc phải làm nữa là cảm ơn bà về một ngày hạnh phúc". Chị ngắt lời ông: "Vào giờ này, ông làm gì, vào mỗi đêm?"
            “Nhưng... nhưng… tôi về nhà".
            Chị phá lên cười, một giọng cười run run. "Vậy thưa ông, ta về nhà ông".
            Và họ không nói chuyện với nhau nữa. Chốc chốc chị lại rùng mình, run rẩy từ đầu đến chân, vì chị vừa khát khao được bỏ chạy, vừa mong muốn được ở lại, với một nguyện vọng sắt đá tận đáy lòng, là được đi đến cùng.
            Trong cầu thang, chị bám chặt vào tay vịn, vì nỗi xúc động của chị trở nên quá mãnh liệt; và ông ta đi trước, mồm thở hổn hển, tay cầm một que diêm dài.
            Khi đã đặt chân vào phòng ông ta, chị cởi đồ ra thật nhanh, và chui vào giường mà không nói một tiếng; và chị thu người vào sát tường nằm chờ đợi.
            Nhưng chị chất phác như người vợ chính thức của một viên chưởng khế ở tỉnh lẻ, còn ông ta thì lại khó tính hơn một quan Tổng trấn Thổ Nhĩ Kỳ, họ không hiểu nhau gì cả.
            Thế là ông ta ngủ thiếp đi. Một đêm trôi qua lặng lẽ, chị bị những tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ treo tường quấy nhiễu; và nằm bất động, chị nghĩ đến những đêm cùng chồng ân ái; dưới ánh đèn vàng vọt của ngọn đèn Trung Quốc, chị mủi lòng nhìn người đàn ông bé nhỏ nằm ngửa bên cạnh, người tròn lẳn, chiếc bụng phệ làm tấm chăn trương lên như một quả banh căng hơi. Ông ta ngáy như tiếng kèn, những tiếng khèn khẹt kéo dài, những tiếng nghẽn hơi thật buồn cười. Mấy sợi tóc lưa thưa của ông lợi dụng lúc nghỉ ngơi này cũng sổ tung ra kỳ dị, như thể mệt mỏi vì đã ở một chỗ quá lâu trên chiếc đầu trọc mà chúng phải che đậy. Và một giọt nước bọt chảy ra từ khóe miệng hé mở.
            Thế rồi bình minh tỏa một chút ánh sáng qua kẽ hở của các tấm màn che. Chị choàng dậy, rón rén mặc quần áo vào, và lúc đó mở hé cửa ra, chị làm ổ khóa rít lên, và ông ta vừa thức giấc, vừa dụi mắt.
            Ông ta còn nằm lại trong vài giây, trước khi tỉnh táo hoàn toàn; đoạn, khi toàn bộ câu chuyện hiện ra trong trí ông, ông hỏi: "Bà đi đấy à?”
            Chị lúng túng đứng nguyên tại chỗ. Chị lẩm bẩm: "Vâng, trời sáng rồi”.
            Ông ta ngồi dậy và nói: "Nào, bây giờ tới phiên tôi, tôi có vài điều muốn hỏi bà”.
            Chị không trả lời, ông ta nói tiếp: "Từ hôm qua đến nay, bà làm tôi vô cùng ngạc nhiên. Hãy nói thật, hãy cho tôi biết tại sao bà lại làm như thế, vì tôi không hiểu gì cả".
          Chị từ từ tiến lại, đỏ mặt như một trinh nữ. “Tôi muốn biết... cái... cái thói xấu... thế mà... thế mà... chẳng thú vị tí nào cả!"
            Và chị vùng bỏ chạy, chị xuống cầu thang, và đâm bổ ra đường.
            Đội quân quét rác đang quét dường. Họ quét trên vỉa hè, trên mặt đường, vừa đẩy mọi thứ rác rưởi xuống lòng cống rãnh. Bằng một động tác đều đều, động tác của người thợ cắt cỏ trên cánh đồng, họ dồn bùn đất thành một vòng cung trước mặt họ; và từ con đường này sang con đường khác, chị lại thấy họ giống như những con rối được lên dây cót và hoạt động một cách tự động bằng một lò xo giống nhau.
            Và dường như người ta cũng vừa quét đi một cái gì đấy trong lòng chị, vừa đẩy xuống cống rãnh những giấc mơ quá quắt của mình.
            Chị trở về nhà, mồm thở hổn hển, người băng giá, và chỉ còn giữ lại trong đầu cảm giác của những nhát chổi đang quét đường phố Paris mỗi sáng.
            Và khi đã về đến phòng, chị khóc nức nở.*
 
Đăng nhập để trả lời
0
3 truyện ngắn của Guy de Maupassant
 
Đã mang vào thư viện
 
Cảm ơn và chúc hoi_Is cuối tuần vui vẻ




Đăng nhập để trả lời
0