Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

THỜI THANH XUÂN (Truyện vừa - Trương Hiền Lượng) - HẾT 🔒

10 trả lời, 23 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 07.09.2020 04:48:05 bởi hoi_ls>
 
THỜI THANH XUÂN
Tác giả: Trương Hiền Lượng
Biên dịch: Thái Nguyễn Bạch Liên
Nguồn: Tạp chí Kiến thức Ngày nay

Đánh máy: hoi_ls

 
 
Lời giới thiệu
 

Trương Hiền Lượng sinh năm 1936 tại Nam Kinh, nguyên quán huyện Hu Di, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Ông là nhà văn nổi tiếng đương đại. Đã sáng tác văn học từ thời kỳ trung học, năm 1957 với bài thơ “Đại phong ca”, Trương Hiền Lượng bị quy oan là Hữu phái, làm công nhân nông nghiệp ở nông trường Nam Lương - Ngân Xuyên, bắt đầu một cuộc đời 18 năm cải tạo, quản chế, chuyên chính và lao lý.
            Năm 1976 trở lại văn đàn, làm biên tập viên tạp chí “Ninh Hạ văn nghệ”. Năm 1980, năm 1983 với “Linh, nhục” và “Xeo-ơn-pu-la-khơ”, Trương Hiền Lượng lần lượt hai lần nhận giải toàn quốc về truyện ngắn ưu tú và “Cây lục hóa” đoạt giải truyện vừa, nhưng có lẽ nhà văn nổi tiếng nhất bởi tác phẩm “Một nửa đàn ông là đàn bà” đã được độc giả Việt Nam nhiệt liệt hoan nghênh.
            Sau đây xin giới thiệu truyện vừa “Thời thanh xuân” của ông đến bạn đọc.
            “Thời thanh xuân” đã được đăng trên “Tuyển tập truyện vừa xuất sắc nhất năm 2000 của Trung Quốc” (quyển thượng) do “Tuyển san tiểu thuyết” thuộc Hội Nhà văn Trung Quốc bình chọn.

 
0
1

            Mãi tới những năm đầu của thập niên 80, lúc đã sống được hơn 50 tuổi, tôi mới biết là có từ ngữ “thời thanh xuân”. Ngày xưa chỉ mới nghe hai chữ “thanh xuân”, lần đầu tiên vào năm lên sáu, chẳng hiểu ý nghĩa là gì. Thầy giáo vỡ lòng của tôi là một vị tú tài cũ người nhà quê vùng Nam Ngạn Trùng Khánh, nhưng ông ta không phải là dân bản địa, mẹ tôi nói rằng, thầy cũng như chúng ta đều từ miền Giang Triết (Giang Tô và Triết Giang - ND) “chạy loạn” đến “bồi đô” (thủ đô kháng chiến của Trung Hoa dân quốc mà thời đó do Tưởng Giới Thạch làm tổng thống - ND) và bị người địa phương Tứ Xuyên gọi chung một loại “hạ giang nhân”. Bây giờ nhớ đến thầy, tôi thực sự khâm phục các họa sĩ vẽ tranh liên hoàn, các nhà hóa trang điện ảnh và phim truyền hình, họ đã tái hiện hình tượng những tiên sinh tư thục sao mà giống thầy giáo vỡ lòng của tôi đến thế. Vẫn cái mũ hình quả dưa đội đầu, khiến tôi không thể nào quên được ông. Thầy chỉ dạy mấy đứa họ hàng gia tộc nhà tôi mà thôi. Không giống như các vị khác bắt trẻ thơ vỡ lòng bằng “Thiên tự văn”, “Bách gia tính”, “Ấu học quỳnh lâm”, mà thầy đưa ngay chúng tôi vào “Đường thi tam bách thủ”. Hình như thầy của tôi rất thích Đỗ Phủ vì vậy mà bài thơ đầu tiên tôi học là “Vọng nhạc”: “Đại Tông phu như hà, Tề Lỗ thanh vị liễu”. Con chữ thứ nhất đã gieo vào đời tôi là “đại”, một chữ “đại” xa xôi, lạnh lẽo, thầy bảo chốn ấy núi Thái Sơn mà cả đời tôi chưa tìm được nó. Rồi một lần thầy đọc: “Kiếm ngoại hốt truyền thu Kế Bắc, Sơ văn thế lệ mãn y thường. Khước khán thê tử sầu hà tại, Mạn quyển thi thư hỷ dục cuồng. Bạch nhật phóng ca tu túng tửu, Thanh xuân tác bạn hảo hoàn hương. Tức tùng Ba Hiệp xuyên Vu Hiệp, Tiện hạ Tương Dương hướng Lạc Dương.”, lời thơ chưa dứt, bỗng thây tôi úp mặt vào sách khóc nức nở, khóc thành tiếng, và cái cảnh “thế lệ mãn y thường” đã diễn ra, vạt áo thầy tôi đầm đìa nước mắt. Lũ trẻ sáu , bảy tuổi chúng tôi thấy thầy khóc hu hu, khóc run bắn cả người bèn cười rú lên và từ đó không còn sợ thầy nữa.
            Nhưng với tôi nhờ thầy mà từ nhỏ đã chịu ảnh hưởng của thi ca, khi lớn lên chẳng may có một dạo còn làm cả nhà thơ nên mới bị trầm luân hơn 20 năm trời đằng đẵng. Đó là một nguyên nhân, điều thứ hai khiến tôi mãi mãi không quên nổi thầy là vì sau ông, tôi chưa hề gặp ai yêu thơ, đọc thơ đến mức ngập đắm trong thơ, có thể nói thầy là kẻ “ghiền thơ”, “si thơ”. Mặc kệ người đời dòm ngó ra sao , mặc kệ hành vi của mình để lại ấn tượng như thế nào, thầy tôi đưa tất thảy tâm, thân vào môi trường thanh điệu, tiết tấu, nhã nhạc du dương rồi ngâm vịnh, rồi lắc đầu, rồi hất ngược mái tóc thổ lộ hết cõi lòng, dám khóc, dám cười, dám đau khổ, dám cuồng say cho chảy tràn bản ngã. Dẫu thầy và vô số những người “hạ giang nhân” đều bị quân Nhật đuổi khỏi quê hương xứ sở, co cụm về đây, nhưng càng lúc tôi càng khâm phục thầy vẫn gìn giữ độc lập về mặt tinh thần. Chỉ lấy hình ảnh thầy khóc trước lũ học trò chúng tôi ra mà bàn thì tôi dám khẳng định thầy thuộc lớp văn sĩ có cốt cách cuối cùng của Trung Quốc. Sau này tôi đi khắp nơi trên thế giới và đất nước Trung Hoa mà vẫn chưa thấy ai có thể dựa vào một hình thức nghệ thuật nào đó để biểu đạt tâm tình và long chân thành của chính mình, chưa thấy ai lại bị những tác phẩm nghệ thuật đánh động đến mức tả tơi, say đắm như vậy. Thế giới không giống nhau, nhân tâm cũng ít nhiều cứng rắn, và cái gọi là sáng tạo “người trong tình dục” của tất cả các nghệ thuật gia, cùng những ai yêu mến nghệ thuật đều không làm tôi rung động.
            Thế nhưng tôi vẫn cứ không hiểu ý nghĩa cửa hai chữ “thanh xuân” là gì, thầy giáo tư thục dạy tôi cũng chưa hề giải thích. Những từ ngữ Kế Bắc, Ba Hiệp, Vu Hiệp, Tương Dương, Lạc Dương... xem qua đã biết là địa danh, phần còn lại tôi chẳng cần tìm hiểu, duy chỉ mối tứ thơ “thế lệ mãn y thường” nước mắt đầm vạt áo là rất hình tượng, tạo ngay cho tôi một lý giải trực quan. Mấy chục năm về sau tôi gặp vô số trường hợp nhỏ lệ, thậm chí không thể cầm nổi nước mắt, nhưng chỉ vài giọt lưng tròng thì trong óc của tôi lại hiện lên hình ảnh ông thầy ấm ức bưng mặt khóc và lũ học trò rú lên cười, thế là đáng lẽ phải khóc, song nghĩ ngợi thế nào đó tôi bỗng nhoẻn miệng cười. Nỗi thống khổ của thầy trong con mắt trẻ thơ chúng tôi trước sau vẫn là sự khôi hài không thể xóa mờ. Nhớ tới thầy, nhắc đến thầy, dẫu là đã trưởng thành, dẫu là sẽ già cả, tôi lại cứ ấu thơ ngay lập tức. Lần thầy khóc một cách đau đớn như thế đã giúp tôi giữ mãi tuổi xuân, đã giúp tôi cải lão hoàn đồng. Cho dù sau này tôi sẽ lý giải sâu sắc hơn cái vẻ cao thượng về tinh thần của thầy, thầy và Đỗ Phủ hợp thành một, thầy là hóa thân của Đỗ Phủ, thì hình ảnh “thế lệ mãn y thường” lần ấy nơi thầy vẫn vĩnh viễn là một kiểu dí dỏm đời người, vẫn chọc cho tôi mỉm cười. Người thầy vỡ lòng vô tình đã gieo lên thửa ruộng cõi lòng tôi một hạt giống trào lộng đủ sức kiềm chế và hóa giải nỗi đau, khiến tôi sống nổi đến hôm nay.
            Sau đó vào trường chính quy, qua tiểu học, lên sơ trung, từ ngữ “thanh xuân” này càng gặp đi gặp lại nhiều lần, nhưng chẳng có thầy cô nào giải thích ý nghĩa của nó, hình như “thanh xuân” cũng giống như động từ “ăn” vậy, không cần giảng dạy thì người người đều hiểu nó là gì rồi. Nhất là lúc học cao trung, “đem thanh xuân hiến dâng cho Tổ quốc” đã trở thành khẩu hiệu mà mỗi thanh niên đều phải tôn thờ và hành động. Lại như câu nói “có duyên mới ở Lư Sơn” truyền miệng trong học sinh trung học thời bấy giờ, làm cho người ta cảm thấy “thanh xuân” chẳng quí báu gì, âu cũng là một giai đoạn nào đó trong đời mà thôi. Nhưng thử hỏi chỉ cần hiến dâng cho tổ quốc đoạn đời ấy là đủ, rồi sau này đến tuổi trung niên, già cả, toàn bộ thời gian còn lại hoàn toàn thuộc về mình hay sao, tổ quốc không yêu cầu các đoạn đời khác của anh, ngoài cái thời “thanh xuân” quý báu, có đúng như vậy không? Kể ra thì cũng chưa có mấy ai nghiên cứu kỹ càng, sâu sắc những vấn đề vừa nêu, nhưng nhìn lại càng lúc tổ quốc càng yêu cầu nhiều hơn và cuộc đời của mỗi người cơ hồ không thuộc về bản thân mình nữa, vậy thì chỉ đề xuất hiến dâng mỗi tuổi “thanh xuân” phỏng có ý nghĩa gì đặc biệt.
            Bước vào những năm 80, người Trung quốc bỗng nhiên và bắt đầu phát hiện rằng mình còn có cái gọi là “tự ngã”. Trong không khí xã hội khá thoải mái vì vừa thoát khỏi  sự căng thẳng của chính trị, nhận thức về bản thể cũng dần dần chuyển biến từ tư tưởng “đấu tranh giai cấp” sang việc chú ý nhiều hơn đến tâm sinh lý của con người. Đầu tiên xã hội có cảm giác phổ biến là cần bổ túc những bài học trên phương diện tri thức tính học, vì thế ngoài hai chữ “thanh xuân”, trên báo chí tập san thường xuất hiện từ ngữ “thời thanh xuân” kèm theo nhiều nghiên cứu, thảo luận. Dù là nói theo cách nào đi nữa thì “thời thanh xuân” nhất định phải thừa thãi “thanh xuân”. Dù có người giữ mãi “thanh xuân”, hoặc giả quá lứa già rồi mà vẫn sung sức để nhen cháy lại “thanh xuân” thì không thể không thừa nhận là ở “thời thanh xuân” người ấy nhiều “thanh xuân” nhất, đủ “thanh xuân” nhất. Nhưng cái gọi là “thanh xuân” mà Đỗ Phủ đã chỉ ra hay như “thanh xuân” trong câu thơ “Cuồng phu phú quý tại thanh xuân” của Vương Duy có lẽ không phải là “thanh xuân” bấy lâu nay chúng ta thường nói dâng hiến nó, lại càng khác với “thời thanh xuân” xuất hiện trên các cuốn sách “thanh niên cần đọc”. Từ góc độ sinh lý học, thời thanh xuân” được giải thích là một giai đoạn tất yếu phải kinh qua của mỗi người khi phát dục, là một hiện tượng đơn thuần tự nhiên. Vào giai đoạn đó, ngoài sinh lý có vô vàn những biến đổi, tiêu chí chủ yếu về tâm lý của mỗi người là bắt đầu đem lòng ái mộ, yêu đương và tính dục với người khác giới, nói theo ngôn ngữ chăn nuôi mà một thời gian dài tôi từng tiếp xúc là “động tình”.
            Các học giả thuộc trường phái lãnh đạo thì cho rằng “thời thanh xuân” là một giai đoạn rất quan trọng trong đời, cũng giống như thời thơ ấu, và nó sẽ quyết định tâm lý, tính cách và phẩm chất sau này của chúng ta. Những chuyên gia tội phạm học thậm chí còn có thể thông qua tình tiết thất bại trong “thời thanh xuân” của phạm nhân mà phân tích nguyên nhân gây án như thế nào. Điều này khiến tôi lấy làm thích thú trong việc tự phân tích bản thân mình, nhưng kết quả cho thấy chẳng rõ “thời thanh xuân” của tôi đã bắt đầu từ lúc nào, và cũng không có biểu hiện gì chứng tỏ rằng nó từng kết thúc. Hình như cuộc đời tôi chưa hề qua cái “thời thanh xuân”, hay nói đúng hơn, “thời thanh xuân” đã đi suốt cuộc đời tôi nhưng là những chuỗi ngày hệt như bao tấm thép xanh xám, cứng đờ, lạnh lẽo, tẻ nhạt trải ra, trải mãi cho tới tận hôm nay.
 
0
2

            Tôi nghĩ mình cũng như bất cứ một ai đều phải có, đều phải đi qua cái “thời thanh xuân”, nếu không, thì làm sao mà từ ấu thơ lại có thể trong chốc lát nhảy sang giai đoạn trung niên rồi già cả được. Thật không cam lòng một khi không tìm ra “thời thanh xuân” của đời người. Thiên hạ có, chỉ mình tôi không có, trừ phi là bệnh tật, chứ đâu phải sự kiện gì đáng để tự hào! Còn cái chuyện nhàn nhã tìm kiếm một vật gì đó căn bản không cần tìm kiếm lại chứng tỏ rằng, bản thân tôi đã già lắm rồi, già tới mức vô phương cứu chữa. Giờ đây nhớ lại, nếu theo cách mà người ta thường nói là manh động “thời thanh xuân”, là biểu hiện của “động tình” thì đối với tôi có thể xem là lúc mới năm sáu tuổi, cùng ban bè chơi trò “mèo bắt chuột” và lần ấy đã bắt đầu để lại dấu ấn. Địa điểm xảy ra sự kiện vẫn là làng quê Nam Ngạn - Trùng Khánh, hình như nơi ấy có một cái sân rất lớn và một cái nhà rất rộng, ẩn chứa bao điều cổ xưa với cây cối rậm rạp và không khí ẩm ướt, khiến người ta sợ hãi. Sau này mỗi lần tưởng nhớ, trong não trạng của tôi đều hiện lên những hình ảnh cực lớn, từ con đường bên núi đến bãi cỏ xanh um hai bờ sông suối. Tôi không chỉ một lần trở về thăm nơi chốn cũ, và cứ mỗi lần như vậy lại kinh ngạc mà phát hiện ra rằng, những gì của hôm nay sao nhỏ bé hơn ngày xưa đến thế, cây cối đã chẳng sinh trưởng cao to mà còn co lại nhỏ nhoi. Tôi cũng đã đến Nam Ngạn - Trùng Khánh, với lòng thành kính, và như một nhà khảo cổ tìm kiếm địa chỉ xưa, nơi mà tôi đã có những biểu hiện “động tình”, và manh động của cái “thời thanh xuân”, nơi vườn lớn nhà rộng ấy. Nhưng tất cả không còn nữa. Tất cả đều biến mất. Ngay như bùn đất cũng chẳng lưu giữ nổi một chút hương vị nào đó của xa xăm, giống như cảnh tượng tàn khốc do chiến tranh gây nên. Ở đấy giờ đây đã bị những tòa nhà mới xây thay thế sạch sành sanh. Tôi bỗng bâng khuâng tự hỏi, hay là ta không có quá khứ, chế ngự cuộc đời này đều do một ảo giác mà thôi. Tôi đứng bên vệ đường, con đường nhựa vào mùa hè hơi bốc lên nóng ráp, nhìn trước ngó sau tìm về lối cũ, tất cả chỉ là những chiếc ô tô lớn bé lao nhanh, xả khói mịt mù, tôi hít chúng và như một chiếc lá vàng khô rụng xuống cuộn bay trên mặt lộ.
            Thế mà nhục cảm ấy đến bây giờ vẫn vô cùng mềm mại, ấm áp và rạo rực, hoàn toàn tương phản với cảnh tượng âm u ẩm ướt của khu vườn. Nó chạm vào người tôi, khiến tôi đê mê, và cảm giác thân hình như có thêm rất nhiều máu, thịt, rồi một bộ phận nào đó trong cơ thể bỗng chực trào sôi, nảy nở. Cảm giác nhục thể đó đã bắt đầu nhập vào tôi, biến tôi thành một con người sinh vật, là một phần của cuộc sống, cùng tôi phát triển, trưởng thành. Ngày xưa cứ mối lần nó tiết ra là một bộ phận nào đó trào sôi, nảy nở, về sau tuổi tác lớn dần, từ bộ phân ấy cảm giác nhục thể râm ran lan tỏa toàn thân, mỗi dây thần kinh đều mềm nhũn, đều nóng lên như uống xong ly rượu.
            Cho đến bây giờ tôi mới hiểu hóa ra cuộc đời thật chẳng ra sao, người mang nhục thể và làn da đó đương nhiên phải là nữ tính, một cô bé lớn hơn tôi khá nhiều tuổi, người láng giềng mà tôi nên gọi là “chị”. Thế nhưng đầu óc tôi quả tối tăm mê muội, không tài nào nhắc nổi tên chị là gì, không tài nào mường tượng nổi thân hình chị ra sao, khác hẳn với ấn tượng sâu sắc do thầy giáo vỡ lòng để lại trong tôi những ngày thơ ấu. Hình như mọi nhân vật của ký ức dần dần đều biến thành phù hiệu hoặc mã số, thời gian kéo dài khoảng cách giữa hiện tại và thời điểm xảy ra sự việc, khiến tất cả những cái gì có thể nắm chắc trong tay bỗng bay vèo. Thầy giáo vỡ lòng sở dĩ cho đến tận hôm nay vẫn còn trong ký ức tôi là do phù hiệu cái mũ hình quả dưa và chòm râu dài đen; ngược lại nhục thể là cảm giác, một loại cảm giác cứ nhạt nhòa dần rồi cuối cùng chẳng còn gì nữa. Đấy chính là nỗi bi ai theo tôi tới già; mọi vật, thậm chí những người thân yêu nhất của ta đều vô tông vô ảnh, rồi đến lượt ta cũng thế, cũng biến thành phù hiệu hoặc mã số trong ấn tượng của người khác. Tôi đã quan sát không chỉ người già mà hầu như tất cả đều dần dần nhiễm phải chứng si dại và yếu đuối, khác nhau chẳng qua là ở mức độ mà thôi, cuộc sống cưỡng bức người ta hướng tới chữ “không” mà Phật học thường nói.
            Nhưng rõ ràng là tôi đã từng có cái thời khắc ấy, đã từng có cái cảm giác ấy. Nó không phải là bẩm sinh, đẻ ra là đã sẵn trên mình, dù nó là phù hiệu hay mã số thì cũng đáng là phần sau của vật chất thực thể. Tôi còn nhớ, chị kéo chân kéo tay tôi, vội vội vàng vàng, thở gấp gáp và chạy loạn xạ qua mấy gian nhà. Khu vườn âm u nọ nay có chị em tôi bỗng trở nên hoạt náo. Chúng tôi quả là những con chuột rụt đầu tìm chỗ trốn, và cuối cùng đã chọn được cái tủ khá lớn làm nơi ẩn nấp. Kỳ lạ thay, tôi nhớ rất rõ cái tủ ấy, màu nâu tím và ngập một mùi thơm của long não. Thế rồi từ đó về sau, màu nâu tím và hương thơm long não cứ như chất men kích dục đối với tôi, nhưng đồng thời chúng đã phủ xuống đời tôi một bức màn ngăn cản, cho đến bây giờ tôi vẫn không vượt nổi sắc màu và hương vị định mệnh đó. Mỗi lần gặp gỡ tưởng đã có thể hội hợp thì ngay lập tức phạm sai lầm tuột mất, bao lần diễm ngộ đều tan biến bởi cái màu nâu tím và hương thơm long não ngày xưa.
            Chị kéo tôi chui vào tủ và tiện tay khép luôn cánh cửa. Trời đất bỗng tối sầm. Cả thế giới chỉ còn hai người, chị và tôi. Chúng tôi thở phào nhẹ nhõm vì lúc nãy hốt hoảng sợ “mèo” bắt, nên đã chạy bán sống bán chết, nhưng giờ thì tự do rồi, chẳng phải lo gì nữa, và nhận biết đôi môi chị ghì chặt lên má tôi, hơi thở vừa nóng lại vừa ướt, phả lên mặt tôi một luồng khí ấm tê tê, nhột nhạt. Khoảng cách gần nhau như thế này đã có một sức hút kỳ lạ, hút tôi không thể không sát vào người chị, giữa màn đen kịt bất giác tôi gục đầu lên ngực chị. Sau này tất nhiên là với các phụ nữ khác tôi đã có những cự ly nguy hiểm tương tự, nhưng hầu như không hề lặp lại khung cảnh mung lung, vô ý thức, xao động rất tự nhiên kiểu đó, khiến tôi nhận thức được rằng tất cả những hành vi, ngôn ngữ có ý thức, có dụng ý, có quá trình cháy bỏng mà người ta thường nói là “luyến ái” đều hoàn toàn vô vị, chẳng qua vì “động tình” nên thiên hạ mới đắm say. Còn với chữ “duyên”, thực chất phải là ngẫu nhiên, tùy cơ, tùy ý.
            Chị dang hai tay ôm lấy tôi. Bên ngoài khí trời đã là rất nóng, trong tủ lại càng nóng hơn, mảnh vải che thân mỏng manh giờ này có cũng như không. Lớn lên “hiểu đời” tôi thường chú ý chất lượng vải vóc, nhưng chưa hề tìm thấy loại nào mỏng đến mức bằng không giống thứ quần áo chị em tôi đã mặc. Giữa chị và tôi mồ hôi chảy trơn như mỡ và chẳng rõ là của ai, nhưng thật là mát và có tác dụng như chất keo dính kết hai người thành một. Điều này khiến tôi đi tới quyết định một đời về sau là không ân ái, ôm ấp với phụ nữ nào mà da dẻ khô khốc.
            Hai chúng tôi đều sợ “mèo” bắt nên đã dựa vào nhau, trở thành một cộng đồng sinh vật sống. Và chúng tôi càng ôm chặt nhau hơn. Bây giờ nhớ lại, hành vi tư thế của tôi và chị hồi ấy thật chẳng quy củ, trật tự chút nào, ai đời giữa tối tăm vắng vẻ mà hai nhục thể dám hòa quyện, quấn quýt đến mức thành một. Và rồi cái thời khắc, đúng là chỉ lúc đó chị em tôi mới hoàn toàn đạt tới sự cấu kết, hợp đồng, lý giải mà không thể nói cho ai hay, cuối cùng bỗng điểm vang. Bàn tay chị mân mê khắp người tôi, mạnh mẽ, nóng bừng, ở mỗi chỗ dừng lại, chị bóp chặt. Còn tôi, như cá gặp nước, sung sướng tột bậc và thể hội thế nào là “thân thiết”. Ôi chữ Hán quá ư vĩ đại, đặt vào đây từ “thiết” đã khiến “thân” thân thiết cực kỳ. Tôi rơi vào trạng thái vô ý thức, trạng thái phản xạ bản năng, nhưng vẫn nhớ lời thầy giáo vỡ lòng từng dạy khi viết câu đối, phải đối dưới đối trên, đối ý đối lời mà “đối lại” với chị rất chỉnh không chút sai sót. Cũng từ bấy tôi bắt đầu phát hiện ra rằng thế gian này còn có một loại nhục thể và làn da khác nữa mà đặt tay lên đó ta sẽ cảm thấy thoải mái, hưng phấn, rạo rực, tạc vào trái tim bé nhỏ non nớt của tôi một dấu ấn hằn sâu mãi mãi.
            Luật chơi “mèo bắt chuột”qui định đến lúc mà “mèo” không bắt nổi “chuột” thì “chuột” phải ra trình diện, nhận phần thắng và sau đó đổi ngôi làm “mèo”, nghĩa là tôi và chị không thể nấp với nhau mãi mãi, đành tách chia từ một thành hai. Làm thế nào để có thể tách đôi, và sau khi tách những chuyện gì đã xảy ra, tôi hoàn toàn quên hết . Bây giờ tôi có thể hư cấu, có thể tưởng tượng, nhưng bất kỳ một sự bổ sung nào cũng đều dư thừa, vô bổ. Phải chăng “sự kiện” này là “nghi thức” bước vào thời thanh xuân của tôi, là cái “bớt” tinh thần để lại trên người tôi, không tài nào xóa nổi. Còn chị, người con gái chỉ còn trong ký ức của tôi, không mang phù hiệu hay mã số gì cả, chị đã thuần túy thoát thân từ tình thân cháy bỏng, mà không vợn chút “thời thanh xuân” hay “tính dục”, tôi dám khẳng định cho chị mình như vậy. Gió vô tình thổi lên làn xuân thủy, nước đã vì xuân phong mà gợn sóng chau mày. Nước tưởng gió có ý tứ gì đây, gió nói rằng, đùa một chút mà thôi. Nhưng sau đó, sau lần đùa vui ấy, gió bay đi, nước trơ trọi một mình, chẳng gợn sóng, chẳng chau mày, biến thành tử thủy, trận cuồng phong kia mãi mãi chỉ là ký ức, ký ức chôn chặt trong lòng đầm nước chết thảm thương.
 
0
3

            “Nghi thức” diễn ra trong tủ đối với tôi là vô cùng quan trọng, vì đến tận bây giờ tôi vẫn cho rằng đó là lần đầu tiên trong đời, tôi giao lưu với người khác giới, được người khác giới vuốt ve và ngược lại được vuốt ve người khác giới. Mà cũng là lần đầu tiên tôi đã động tình. Nếu bảo rằng đó là thời điểm bắt đầu “thời thanh xuân” của tôi, thì thật mang tiếng. Tài trí không hơn ai, thần đồng cũng chẳng phải, nhưng lại nhạy cảm quá nhanh, quá sớm với người khác giới, quả là xấu hổ. Nhưng có điều như đã kể ở trên, từ sau lần “nghi thức” ấy, “thời thanh xuân” của tôi đình trệ một thời gian dài, không chút tiến triển, giống như ngôi sao sa nhỏ bé, vừa sáng lên đã vụt tắt, rơi vào khoảng không chẳng ai biết là đâu. Và cũng từ lần tao ngộ đó, tình cảm của tôi hình như bị ức chế, còi cọc, đối với người khác giới không những không ham muốn, mà ngược lại còn thờ ơ, xa lánh. Thật là một thất bại nặng nề trong thời thơ ấu.
            Cảm giác kỳ lạ từ trong tủ bước ra chẳng gìn giữ được lâu, dần dà mờ nhạt. Phải bốn , năm chục năm sau mới khôi phục trở lại và càng lúc càng mãnh liệt. Mãnh liệt tới mức cứ mỗi tối lên giường đi ngủ tôi lại chui vào tủ, hồi tưởng chuyện xưa một lần, cơ hồ trở thành bài luyện tập hàng ngày. Con người khi về già thường muốn lẩn tránh ở nơi yên tĩnh, đắm mình vào hồi ức, tưởng nhớ, nhặt lại những gì mà xưa kia đã đánh mất.
            Ta sinh ra và không ngừng bôn tẩu, bỏ lại sau lưng mình vô số thời gian và sự sống, như dây chuyền đeo cổ sút dây rơi vương vãi dọc đường từng hạt từng hạt cảm thụ. Những hạt cảm thụ đó chỉ được phát hiện là ngọc sáng khi người ta đã về già. Đối với người già, thế giới hiện thực hầu như không thu hút mê hoặc họ bằng thời gian và sự sống của quá khứ. Họ quay ngược trở lại dòng đời và không ngừng nhặt lấy những hạt ngọc sáng một thời từng vương vãi. Lưng họ còng xuống có lẽ cũng vì thế và hồi ức trở thành niềm hưởng vọng tương tai...
            Lần tiếp theo có thể gọi là “thời thanh xuân” hay biểu hiện “động tình” của tôi đã xảy ra bảy năm sau đó. Bảy năm, thoạt nghe có vẻ là một quãng thời gian dài. Nhưng lần ấy tôi mới chỉ 13 tuổi, thế mà sớm gây nên nợ đời. Nhớ lại tuổi 13 là nhớ lại hình ảnh người bạn tốt đã xa. Anh là một nhà văn nổi tiếng kiêm biên kịch điện ảnh, chính anh khiến tôi giữ trọn ký ức với nàng một cách thủy chung. Giờ đây, lúc đang cầm bút viết ra bao điều hèn mọn của đời mình, tôi vẫn cảm thấy nàng vô cùng mỹ lệ. Gáy nàng, dưới bờ tóc, là một làn da trắng ngần, mãi mãi chói ngời và tôn quý như ánh sáng phát ra từ cặp ngà voi, càng về sau càng có giá trị như văn vật cổ xưa, khiến tôi yêu cuộc sống, khiến tôi không thể buông tay vứt bỏ thế giới này.
            Sau khi kháng chiến chống Nhật thắng lợi, cả nhà chúng tôi hồi cư về quê cũ Nam Kinh. Ông nội tôi ở Nam Kinh có một đại hoa viên nổi tiếng, phỏng theo kiểu nhà vườn Tô Châu những năm 20, và tôi đã sinh ra tại một góc nào đó của đại hoa viên này. Thập niên 30, lúc tôi chào đời, lâu đài đình các trong khu vườn nhà nội đâu đâu cũng nghe tiếng các tao nhân mặc khách ngâm vịnh. Nội tôi có hằng hà sa số là sách, những cuốn thơ, từ viết tay, đóng xén tinh tế, đẹp như  sách tự xuất bản thời nay. Kháng chiến chống Nhật bùng nổ, kho sách ấy đã cùng nội tôi và gia đình từ Nam Kinh chuyển đến Trùng Khánh, rồi bây giờ lại từ Trùng Khánh dọn về Nam Kinh. Tôi là con đầu cháu trưởng, nên nội rất dụng công chăm sóc, hướng dẫn tôi bước theo, nối nghiệp thi ca. Cụ thường nói “giấy rách phải giữ lấy lề” hệt như thầy giáo vỡ lòng của tôi từng dạy.
            Trở về Nam Kinh tôi đã biết được hàng lô chữ Hán, một tập sách tựa đề “Thù xướng” luôn giữ kín trong căn phòng ẩm mốc, nay trở thành con thuyền đưa tôi vượt qua bao sóng gió của biển cả thơ, từ. Lần đầu tiên tôi kinh ngạc đê mê vì hiểu ra rằng những câu nói vần điệu hợp nên các áng thi ca. Thi ca khiến tôi thất vọng và cũng lại giúp tôi tràn đầy tự tin. Âu cũng giống như trò chơi, thách thức tôi hãy thử sức. Trong đám thi nhân có Đỗ Phủ và những người như thầy giáo tư thục của tôi thuở nhỏ, nhưng không thiếu những kẻ nhỏ nhen, đê tiện. “Thù xướng” đã hưởng ứng lời kêu gọi của chủ nhân mà tồn tại hàng mấy chục năm giữa bao bão tố trong giới tư tưởng, lý luận và văn nghệ Trung Hoa. Sống ở căn phòng ẩm mốc, tôi bị ô nhiễm bởi văn chương chữ nghĩa, nhưng lại thu về chiến quả: sức miễn dịch tinh thần khá là mạnh mẽ. Vì thế, sau này dù có phải đứng trước bao xưng hiệu vĩ đại đến đâu, dù có phải nghe bao lời uyên thâm như kinh thánh, tôi vẫn cứ bình tĩnh, thản nhiên, không một chút cuồng si.
            Tôi được đưa tới trường trung học của một nơi có tên gọi là Trù Thị Khẩu. Tên như vậy nhưng kỳ thực chỗ này chẳng thấy chợ búa gì cả, chỉ là cái gò đất nhỏ mọc đầy cỏ xanh. Ngôi trường uy nghiêm ngự trên đỉnh gò giống như con hổ xám phủ phục nhìn đám học trò đi lại dưới chân gò. Tòa kiến trúc này để lại cho tôi một ấn tượng khó phai mờ. Tôi đã từng ngã gãy chân khi cầm cái ô che mưa nắng, nhảy dù từ lầu ba xuống bãi cỏ lồi lõm. Đây có thể xem là biểu hiện “thời thanh xuân” của mình, vì hành vi anh hùng ấy chỉ nhằm mục đích thu hút sự chú ý của nàng, cô bạn học ngồi hàng ghế trước. Nhưng sau một tháng trời nằm bẹp ở nhà, khi tôi trở lại trường, nàng vẫn thờ ơ, không tỏ thái độ mừng vui vì sức khoẻ của tôi vừa được bình phục, càng chẳng khâm phục trước chiến công oanh liệt, rằng bạn mình đã dũng cảm nhảy dù, bị thương, lui về hậu tuyến. Từ đấy tôi thề sẽ chẳng bao giờ diễn trò cho bọn con gái. Chúng là một lũ người theo chủ nghĩa hiện thực rất triệt để, chẳng hiểu, chẳng thèm thưởng thức những gì lãng mạn pha chút ngu si. Song nghĩ lại cũng chỉ tại một vùng da dẻ trắng ngần đằng sau gáy của nàng mà tôi dám bộc lộ sự mạo hiểm tinh thần, loại tinh thần chẳng những giúp tôi vượt qua bao cửa ải, lại còn theo tôi mãi tới già.
            Nàng luôn phục trang màu đen và do đó vùng da kia càng trắng. Bước vào những năm 80, thời trang màu đen được khôi phục, trở thành một sắc màu giao lưu quốc tế, vì vậy mà khắp nơi đều như có hình ảnh nàng, cứ chấp chới trước mắt tôi. Tôi chưa một lần được chạm vào làn da trắng muốt của nàng, nhưng kỳ lạ thay tôi nhớ rất kỹ, nhớ như in hình dáng nàng, nhất là cái khu vực tam giác mê hồn. Vẻ đẹp đâu cần nhiều, giống như những lời cảnh báo, càng ngắn càng tỏ ra sắc bén. Mái tóc đen huyền chưa đủ, làn da trắng ngần vẫn còn thiếu, hóa ra cái đẹp ẩn chứa trong tóc, trong da. Một vẻ đẹp bỗng xuất hiện dưới cây bút người họa sĩ lúc anh ta đạt cảm hứng, một vẻ đẹp tự nhiên gặp gỡ chứ không hề mất công bỏ sức truy tìm. Chính nàng, người con gái ấy đã dạy tôi hãy từ phía sau mà tận hưởng nữ tính và tất cả những gì trên thế gian, nàng giúp tôi lý giải bài văn “Bối ảnh” một cách sâu sắc hơn các bạn đồng học. Và từ đó tôi thích thú tiếp cận với những hoạt động diễn biến bên trong, đằng sau sự vật, không nhẹ dạ cả tin trước cái mã bề ngoài, nói theo ngôn ngữ hiện đại ngày nay là ưa khám phá phát hiện bí mật. Tôi thường nghĩ mình có khả năng “nghe trộm” và theo lý thuyết “hai điểm” chắc là do “thời thanh xuân” thôi thúc mà thôi.
            Suy ngẫm lại thì sự vật trên thế giới này đâu có nhiều lắm, thế mà còn lâu mới đạt tới mức độ bão hòa. Cái gọi là “vô số” của tất cả động thực vật đều mang một giá trị tuyệt đối rõ rang, duy chỉ mỗi bí mật là bùng nổ khắp hoàn cầu, hợp thành “lỗ đen” của vũ trụ. Lấy ví dụ đối với vùng tam giác “bông tai, vòng cổ và quần áo” của nàng, tôi như kẻ mơ màng, si dại, mãi đến hôm nay, sau 50 năm, mới dám công bố cùng mọi người. Hồi ấy, đâu khoảng một học kỳ trước sự cố ngã gãy chân, động cơ thúc giục tôi tích cực đi học đơn giản chỉ là vùng tam giác trắng ngần, trắng tới mức hoa cả mắt ở gáy của nàng. Mẹ tôi ngạc nhiên vì bài vở của tôi không sót một tiết nào cả, gãy chân nằm ở nhà mà vẫn tơ tưởng tới chuyện học hành, luôn nhớ trường nhớ lớp. Thầy giáo cũng bảo là tôi rất chăm chỉ nghe giảng, thế nhưng trừ môn tập làm văn ra, tất cả đều dưới điểm trung bình. Tôi nghĩ phải chăng đó là lý do đầu tiên khiến tôi miễn cưỡng trở thành một nhà văn như hôm nay.
            Cổ nàng với vòng kiềng lấp lánh đã kích thích dục vọng nơi tôi, thằng con trai 13 tuổi. Nhiều lần tôi đã định thò tay sờ mó cái vùng tam giác trắng ngần ấy. Nó như một phi trường, như một bến cảng có sức vẫy gọi mãnh liệt đối với tôi, một cánh bay vô định trên không, một mảnh thuyền chòng chành giữa biển. Không chỉ một lần nhảy dù từ tầng ba rơi xuống gãy chân, mà hôm nào cũng vậy, tôi đều hồn xiêu phách lạc, ngơ ngẩn ngóng trông phần gáy của nàng. Chuông reo hết giờ ra chơi, vào học tiếp tiết sau, tôi lẹ làng ngồi ngay ngắn ở vị trí của mình, chẳng phải chờ thầy. Không may hôm nào nàng nghỉ học thì thần trí của tôi như lìa khỏi xác, bay đi tận đâu đâu, 45 phút đi qua chẳng rõ đã học cái gì, trái tim tôi tựa hồ trống vắng bởi chỗ ngồi trước mặt tôi giờ đã hư không. Nhưng thời đó tôi không hề có cái cảm giác rạo rực “động tình” kiểu như trong tủ ngày xưa, có lẽ là do da dẻ nàng trơn tru quá, không một tỳ vết, nó hoàn chỉnh, nó kết tinh chặt chẽ, trở thành khối đá hoa cương lạnh lẽo cách xa người trần đến hàng vạn dặm.
            Bây giờ nhớ lại, có thể nói đấy là lần đầu tiên trong đời tôi đã lĩnh hội được mùi vị “ái mộ”, so với “động tình” nó được nâng lên một cấp, đạt tới cõi thơ, không liên can đến nhục cảm mà thuộc về phạm trù khác của nhân sinh. Vùng tam giác trắng ngần ẩn hiện dưới chân những sợi tóc huyền đen gợi cho tôi một cách lý giải hoàn toàn mới tứ thơ “hương vụ vân mấn thấp” của Đỗ Phủ và tôi tin rằng, so với thầy giáo tư thục khả kính và tao nhã ngày xưa, mình đã phần nào hiểu Đỗ Phủ sâu hơn. Cái vùng cổ nhô lên, hơi cong một tí nơi nàng lúc đậm lúc nhạt, khi trắng khi mờ quả là sương khí mông lung, hương thơm hòa quyện. Tôi đã nhận ra như thế, cho nên hai chữ “hương vụ” của họ Đỗ không như nhiều người giải thích là “mùi thơm” khứu giác mà phải hiểu rằng nhà thơ muốn chỉ một cõi mông lung thị giác tựa hồ như “sương khói” vậy. Tương tự chữ “thấp” ở đây cũng không nên hiểu là ẩm ướt bình thường, ý nghĩa sâu xa của nó là trạng thái trơn tru, mát lạnh, thoải mái của xúc giác. Cảm xúc tinh tế như vậy trước khóm tóc mai nơi người con gái hẳn chưa có ai sánh bằng Đỗ Phủ. Ngài quả là một đấng vĩ nhân trong  lãnh vực tận hưởng vẻ đẹp nữ tính.
            Thế là so với cái thời tôi và người chị láng giềng ôm nhau trong tủ kín, giờ đây tôi đã thành thục, chín chắn hơn nhiều.
 
0
4

            30 năm sau, tôi cùng một tốp nhà văn đến Nam Kinh lĩnh thưởng. Tối hôm ấy mọi người đàn đúm với nhau luận bàn nhiều chuyện, cuối cùng vẫn trở lại với đề tài tình yêu muôn thuở, nhưng hạn chế những câu chuyện về mối tình đầu. Đến lượt tôi phát biểu, nghĩ chẳng có gì hơn, tôi bèn rỉ rả nói đến cái cổ của nàng. Nhiều người mới nghe liền phản đối, thế mà cũng gọi là mối tình đầu, rõ chán, ông yêu cái cổ của nàng chứ đâu phải yêu nàng, thôi hãy liệt chuyện này vào mục “tình yêu với một gốc cổ hay một cây cổ”. Tôi phản ứng ngay, vì đơn vị từ “gốc” “cây” mà các bạn nhà văn vừa châm chọc, nó xúc phạm tới đối tượng thẩm mỹ duy nhất còn lưu giữ trong trái tim thời thơ ấu của tôi, và tự nhiên tôi đánh giá rất thấp phẩm hàm của các vị. Chả trách mà trước hai chữ “sáng tác, “viết văn”, một lĩnh vực hoạt động tâm linh cao thượng, người ta thường thêm vào chữ “làm” giống như “làm kinh tế”, “làm chính trị”, thật vô cùng thô thiển. Nhưng về khuya gác tay lên trán, bình tĩnh suy nghĩ và nghiêm túc so sánh với đồng nghiệp thì thực lòng phải thú nhận rằng, trong “thời thanh xuân” sự tiếp xúc của tôi với người khác giới quá ư là ít ỏi, ít ỏi tới mức đáng thương. Nếu tôi cũng như mọi người quan hệ rộng rãi, phóng tầm nhìn xa thì lúc bấy giờ, ngoài cái vùng tam giác mê hồn kia, nhất định vẫn còn nhiều thứ hấp dẫn khác. Nhưng số phận đã an bài như vậy, tính cách tôi nghiêng về những tinh tế nhỏ nhoi mà người khác ít để mắt.
            Một hạt giống nẩy mầm trên mảnh đất khô cằn, giả sử xung quanh đừng có loài cây nào mọc lên nữa, hẳn nó sẽ trở thành đại thụ sừng sững giữa đồi cao. Hoài niệm nhớ nhung vùng tam giác trắng ngần phía sau cổ nàng cũng như thế, là một đại thụ giữa trái tim tôi. Ánh sáng diệu kỳ ấy sau đó tôi chưa bao giờ gặp lại. Những thứ khác đều rất tầm thường không đủ độ khiến tôi phải nheo mắt, và như ông nội, tôi cũng đã “giấy rách phải giữ lấy lề”, dẫu bao năm tháng vào ra đội cải tạo mà vẫn không quên được nàng, người con gái có cái cổ tuyệt mỹ đã hớp hồn tôi. Đấy là một gốc cây nảy mầm, mọc lên và đứng vững trên thửa ruộng cõi lòng tôi, nơi mà đất đai khô cằn và thiếu nguồn khác giới tưới nhuần. Lần này trở lại Nam Kinh, tôi mong muốn tìm về cây đại thụ đó.
            Tôi vẫn nhớ địa chỉ nhà nàng, vì hơn 30 năm trước, vào một buổi tan học, tôi đã lẽo đẽo theo nàng, hoàn toàn không cố ý dò la mà bởi bím tóc dài đong đưa sau lưng nàng đã lôi cuốn tôi đi mãi. Tôi rơi vào trạng thái “thân bất do kỷ”, thân ta đâu còn là của ta nữa, mà một đấng thiêng nào đó đang sai khiến ta. Về sau khôn lớn, trưởng thành, tôi không hề lẽo đẽo theo người đàn bà nào cả, tôi dám nói chắc chắn như thế, vì không ai có mái tóc mà mỗi sợi đã thành tiêu bản, thành “thanh ti”, thành tơ non trong thơ ca của người xưa giống như mái tóc của nàng.
            Ngày thứ hai sau cái đêm tán chuyện mối tình đầu, tôi tách đoàn đi tìm lại cội nguồn, nhìn xem tòa đại hoa viên của ông nội giờ còn hay mất. Đoạn trước tôi đã nhắc đến một người bạn tốt, anh là nhà văn nổi tiếng kiêm biên kịch điện ảnh, có chân trong ban chấm giải lần này. Bạn tôi nhiệt tình phát động mấy người nữa cùng tham gia cuộc “về nguồn” của cá nhân tôi. Theo địa chỉ do tôi cung cấp, người lái xe dễ dàng đưa cả đoàn nhanh chóng tới nơi, nhưng nhà tôi nay đã biến thành xí nghiệp điện cơ. Cái cổng đại hoa viên xưa vẫn thế, có khác chăng là bây giờ treo một câu đối, vế bên phải biển hiệu xí nghiệp, vế bên trái biển hiệu công đoàn và các mảng tường rào thì loang lổ nhiều khẩu hiệu hồi “đạt nhảy vọt” và “văn cách” đã ngả màu, chữ còn chữ mất, mấy thời kỳ lịch sử chồng lên nhau, đè nát bao bi hoan ly hợp của biết bao người. Vào bên trong, cây cối đều bị chặt hết, đại hoa viên bại hoại mà xí nghiệp cũng tiêu đều. Tôi đề nghị cuộc “về nguồn” xin chấm dứt tại đây, vì càng đi càng như tự đào huyệt chôn mình. Mọi người đồng ý và nói đùa, vậy bây giờ chúng ta phải đi tìm “gốc” cổ, “cây” cổ; một cái cổ tuyệt trần nơi người con gái từng làm say lòng ông bạn nhà văn đây.
            Điều khiến tôi ngạc nhiên, không ngờ là cái chợ rau xưa vẫn giữ nguyên bộ mặt của 30 năm về trước, dòng nước bẩn như khe suối từ trong chợ chảy tràn ra mặt lộ rồi mới chịu đổ xuống cống rãnh ven đường. Bên trái cổng chợ vẫn là cửa hàng bán giá đậu. Như ngày nào, giá đậu ở đây nhiều vô kể, không biết đến bao giờ mới bán hết. Tôi bắt đầu gặp lại những cảnh trong mơ, những cọng giá trắng ngần, trắng đến chói mắt, càng làm tôi hồi hộp mong muốn nhìn thấy cái cổ của nàng. Tôi nói với anh bạn và cả đoàn nhà nàng ở chỗ này, gác gỗ phía trên cửa hàng giá đậu, ở cái gian cũ nát màu hồng. Tòa lầu còn giữ được vẻ phong tình thuở xưa, giống như một bức tranh màu nước, dù nay có tàn tạ bởi thời gian. Đã 30 năm rồi chứ ngắn ngủi gì cho cam, vẻ phong tình lại càng thêm sâu nặng. Khung cửa sổ hướng ra đường cái đã được một tấm ni lông che kín, người đi lại nếu có tò mò cũng chẳng nhìn thấy gì trên đó. Tôi kể cho các bạn, rằng mình đã nhiều lần đứng dưới này ngước nhìn lên khung cửa, nhưng hồi ấy chưa che tấm ni lông, ngoài bức màn ngăn cách đó ra, toàn bộ ngôi nhà không một chút đổi thay. Anh bạn bảo tôi hãy khoan lên vội, để anh ta làm nhiệm vụ dò la với cái cớ có một người bạn học cũ hơn 30 năm về trước muốn đến thăm bà, muốn hỏi bà có cho phép hay không.
            Bạn tôi lên lầu chừng mười phút thì hộc tốc chạy xuống và giục mọi người đi thôi. Xe lăn bánh và anh ta mới kể, đúng là có một bà già tên Phương, tôi nhớ quả không sai, nhưng chẳng thấy đâu “vùng tam giác mỹ miều”. Anh nói, tôi chú ý nhiều nhất đến cái cổ của bà, vừa đen, vừa gầy và vài nếp nhăn chứa đầy cáu bẩn. Căn buồng đã chật lại còn ám khói lò than, mùi hôi nồng nặc, khó mà đứng lâu trên đó. Bà cụ đang bón cháo cho đứa cháu ngoại chưa được một tuổi. Bà ta tóc bạc phơ và rối bời, như chẳng hề gội chải, xem ra cuộc sống rất chật vật, chỉ dựa vào nguồn thu bán lại số trà thừa ngoài chợ. Tôi hỏi bà cụ có còn nhớ một người bạn học hồi trung học tên đó, trường đó hay không, bà ngơ ngác chẳng hiểu tôi nói gì và tỏ ra khó chịu. Nghĩa là bao ấn tượng năm xưa về anh không đọng lại một chút trong đầu óc bà cụ, và bà cũng chẳng mấy hứng thú với những gì của xa xưa. Thôi, anh ta an ủi tôi, đành vậy, hãy cứ giữ lấy mộng đẹp của mình, đừng đế hiện thực phá vỡ nó, ở cái tuổi của chúng ta chỉ có giấc mơ mới là quý báu nhất.
           Trên đường trở về khách sạn, tất cả các nhà văn trên xe chẳng ai nói một lời. Nhà văn bây giờ mới thật giống nhà văn, mỗi người được tự do cảm khái, hưởng thụ. Mọi người cảm khái, hưởng thụ ra sao tôi không rõ, riêng tôi cứ nghĩ, thời gian đã mài mòn mất nàng và vùng tam giác trắng ngần nơi cổ nàng. Có lẽ những gì nàng một đời chịu đựng còn ngàn lần tàn khốc và cay đắng hơn tôi. Nghĩ đến đấy, đầu óc tôi nặng trĩu. Vừa rồi một cô bạn học cùng thời từ Mỹ về thăm. Cô ấy từng bôn tẩu ở Đài Loan, sau khi trở thành tay cự phú đã nhiều lần đi thẩm mỹ viện, nhuộm tóc, sửa mi, sửa mắt nhưng vẻ già nua  không thể nào che đậy nổi. Già rồi nhưng cứ một mực ngụy trang. Sự giả dối ấy khiến người đời khó chịu.
            Tôi vỗ mạnh vào đầu gối người bạn tốt và thốt lên hai chữ “cảm ơn”. Tôi hiểu thiện ý của anh, muốn tôi giữ lại một chút kỷ niệm đẹp. Anh bạn nắm chặt tay tôi như muốn nói, chúng ta là tri kỷ, há phải nhiều lời.
 
0
5

            Sau đó không bao lâu bạn tôi qua đời vào đúng tuổi 60. Chắc chắn là anh đã mang đi rất nhiều kỷ niệm, giấc mơ có ý nghĩa đến nhà tang lễ, cùng lên giàn hỏa thiêu. “Cát bụi trở về cát bụi, linh hồn qui lại linh hồn” và kỷ niệm, giấc mơ là hạt nhân của linh hồn, gạn lọc qua cuộc sống hiện thực, bóc ra từ bệnh hoạn khổ đau, cuối cùng là một cái gì đó thuộc về bản thân mình còn sót lại. Đó mới thực là vật bồi táng theo anh. Bạn tôi quý  mến nó đến mức ky cóp, hà tiện, không dám nói ra cho thế gian biết, sống để bụng, chết mang theo. Tác phẩm của bạn tôi không nhiều, trong số những phim anh lưu lại cho chúng tôi có một bộ mang tựa đề “Nơi bị tình yêu quên lãng”.
           Từ trong tủ chui ra, rồi lại chia tay với vùng tam giác ngọc ngà, tôi chỉ còn cách đọc tình yêu và con gái trong sách vở, tiểu thuyết hoặc kịch bản, phần lớn là những nhân vật của quá khứ, giống như hình ảnh khủng long không liên quan gì đến hiện tại. Tình yêu  có vẻ đối đầu cùng công cuộc xây dựng xã hội mới. Tất cả các tài liệu văn nghệ tuyên truyền đã đồng thanh tuyên bố trước mọi người.rằng tình yêu giữa nam nữ không cùng giai cấp nhất định sẽ đi đến cáo chung, vô bổ, còn nếu cả hai đều là giai cấp cách mạng thì quan hệ nam nữ cũng trở thành quan hệ đồng chí. Đó là một loại quan hệ thuần khiết nhất vượt lên trên mọi quan hệ, là một loại quan hệ cao thượng nhất, bao hàm tất cả các quan hệ giữa con người với nhau, kể cả quan hệ lưỡng tính. Nam nữ sống trong quan hệ ấy, không có đặc trưng gì về giới tính, cả hai đều là “đồng chí cách mạng”, chuyện yêu đương tỏ tình chỉ có thể xuất hiện trước lúc trở thành chủ nhân ông có giác ngộ giai cấp. Sau khi đã giác ngộ giai cấp rồi, dẫu là vợ chồng cũng một cuộc thảo luận công tác cách mạng, trao đổi tâm đắc, thu hoạch qua học tập chính trị, phê bình và tự phê bình, đừng có mà ngã ngã, khanh khanh, anh anh, em em ngọt ngào. “Tác phong nam nữ” đi liền với “phạm sai lầm”, và một tội danh vô cùng nghiêm trọng chính là “quan hệ nam nữ”, đến như những phạm nhân đi lao động cải tạo cũng xem khinh phần tử “bậy bạ nam nữ”, tóm lại hai chữ “nam nữ” dính lại với nhau là chẳng hay ho gì.
            Môi trường cả xã hội là như vậy, làm sao tôi có thể bộc lộ những biểu hiện của “thời thanh xuân”, làm sao kích thích nổi tôi ái mộ, yêu đương hoặc ham muốn tình dục với đàn bà. Ái tình là một loại “tình điệu của giai cấp tiểu tư sản”, ai “làm” cái chuyện đó rất dễ bị gạt sang hàng ngũ giai cấp đối kháng. Bản thân tôi chưa dám nói tới chữ yêu mà đã là tư sản rồi, giá mà yêu đương thật sự thì tình hình sẽ vô cùng phức tạp, có khi còn là phản động. Vả lại, cũng chẳng có bạn gái nào trong lớp dám yêu tôi. Tôi trở thành con người không có chút “tình điệu” nào cả, một người thoát ly “dục vọng tầm thường”. Không chỉ mình tôi mà tình cảm và cuộc sống của người dân Trung Quốc lúc bấy giờ đều bị kỷ luật tác phong hằn trên cổ áo đồng phục cài chặt đến ngạt thở. Hàng chục triệu bạn trẻ bỏ qua “thời thanh xuân” tiến thẳng vào giai đoạn trung niên, già cả, biểu hiện bên ngoài của người Trung Quốc là ai cũng tỏ ra hướng nội, lặng lẽ, nói năng hành động rất ư cẩn trọng và hầu như đều già trước tuổi.
            Quả nhiên hoàn cảnh xã hội phát triển tới mức mà hai chữ “luyến ái” bị đẩy ra khỏi từ điển, thay bằng một cụm từ “tìm đối tượng” rất chăn nuôi, rất sinh vật học. Quá trình giao lưu tình cảm thánh thiện , tâm linh, cõi lòng đã bị tinh giản, dung tục, chỉ là một hành vi phồn thực mà thôi. Bởi vì “tìm đối tượng” chẳng khác gì như “giao phối” trong bầy đàn động vật. Tôi còn nhớ hồi đi lao động cải tạo, lúc ở nông trường chăn ngựa, thả dê, nuôi lợn , mỗi lần con cái động đực quậy phá chuồng trại, ông đội trưởng bèn hạ lệnh cho tôi “đưa chúng nó đi tìm đối tượng”, có nghĩa là đem ra trạm phối giống cho con đực nhảy lên một cái là xong.
            Đấy là cái thời cả Trung Quốc trở thành “nơi bị tình yêu quên lãng”, và với bản thân tôi, tình yêu bất quá cũng chỉ là một thoáng “động tình” mà thôi. Nhưng lúc đó tôi thực sự đã đến “thời thanh xuân” của quá trình sinh lý. Tôi có những đòi hỏi, có những lúc “động tình” mà không tìm ra “đối tượng”. Thôi chỉ còn một cách là vùi đầu vào tiểu thuyết Đông Tây, kim cổ đã bị nhà nước cấm chỉ. Những trang sách nhàu nát, ngả vàng kể chuyện giai nhân thục nữ, vạn kiểu phong tình, nhờ con mắt mà vuốt ve, mân mê tâm linh nữ tính khát vọng. Thoạt đầu tôi cứ tưởng đó chỉ là “sướng con mắt”, sau này mới hiểu hai chữ “dâm ý” rành rành. Vì cả ngày bận rộn “dâm ý” nên những gì nhà trường giảng dạy X + Y = Z, rồi các công thức hóa học tựa như sách trời, tôi chẳng hiểu gì tất, và bài tập vật lý, toán học toàn nộp giấy trắng. Vài năm sau đó Trung Quốc xuất hiện một người nổi tiếng có biệt hiệu “tiên sinh nộp giấy trắng”, tôi đoán anh ta chắc cũng “dâm ý” như tôi.
            Nhưng “tiên sinh nộp giấy trắng” may mắn hơn tôi rất nhiều, vì ngu si không làm được bài mà trở thành lớp kế cận cách mạng, người nhận giao ca của lịch sử; còn phần mình, ở nhà trường, tôi đúng là cái bia tập bắn của chính trị. Thời ấy dẫu là trường trung học phổ thông cũng phải triển khai cuộc vận động chính trị “thành khẩn bộc lộ”. Nghe nói đó là một quá trình tất yếu phải kinh qua để cải tạo trí thức, mỗi ngày đều mở hội nghị để học sinh “giao tâm”, trao đổi mọi nỗi niềm trong lòng với lãnh đạo nhà trường. Tôi chẳng rõ lãnh đạo nhà trường cần nhiều “trái tim” như vậy để làm gì, những “trái tim” mà lũ học sinh trung học chúng tôi mới mười mấy tuổi “trao” đưa cho lãnh đạo thật là đơn thuần, non nớt, không thỏa mãn yêu cầu của các vị và do đó họ phải đến nhà các học sinh có thành phần gia đình phức tạp để lấy cho được những “trái tim” rắc rối ấy. Tôi nằm trong danh sách loại học sinh vừa nêu, có điều những học sinh xuất thân từ thành phần bất hảo lại học tập rất tốt, chứ không giống tôi, vì vậy “tiên sinh nộp giấy trắng” như tôi tự nhiên là mục tiêu trọng điểm của vùng trọng điểm.
            Tôi rất muốn đem những nội dung “dâm ý” trao cho lãnh đạo, nhưng không dám mở miệng. Đang khi do dự tiến thoái lưỡng nan thì may sao thầy chủ nhiệm lớp tìm tôi để tâm sự. Ông gọi tôi lên văn phòng nói về chủ đề “trái tim”, phẩm chất đạo đức mà giai cấp vô sản cần phải có. Thầy chủ nhiệm ôn tồn hỏi tôi, em có biết ở ký túc xá thường xảy ra hiện tượng mất vặt, lúc đôi vớ, khi lọ mực, phong bì, giấy viết thư, con tem, thậm chí là cây kim sợi chỉ. hay không. Tôi bảo, thưa thầy em biết, vì bản thân em đã mất một đôi vớ. Thầy mừng rơn, thế là quá tốt, em đã biết rồi phải không, thôi còn chờ đợi gì nữa, em hãy nhanh chóng  bộc lộ thành khẩn với lãnh đạo nhà trường là em đã “lấy” đi. Tôi ngạc nhiên và thưa rằng, sao em lại đi  “lấy” đồ đạc của chính mình. Thầy chủ nhiệm giải thích,  phải bộc lộ là em đã lấy của các bạn khác cơ. Tôi lắc đầu, em chừa hề lấy cắp đồ đạc của ai cả. Thầy chủ nhiệm có vẻ to tiếng, cậu phải thừa nhận như vậy, cậu sinh ra trong gia đình giai cấp tư sản, từ nhỏ đã mang tật xấu “lấy đồ đạc của người khác”, cậu có thừa nhận, có nhận thức thì tật xấu đó mới có thể sửa đổi triệt để. Tôi cũng cãi lại, thưa thầy từ nhỏ đến nay em chưa hề ăn cắp  của ai. Thầy chủ nhiệm hạ  giọng, người xuất thân từ thành phần tư sản tự thân đã có tật xấu ấy rồi, một loại tật xấu bẩm sinh chứ không tự giác, vả lại “lấy cắp” và “ăn cắp” là hai khái niệm khác nhau, một đàng ngẫu nhiên, vô tình, còn đàng kia thường xuyên, cố ý, cậu chỉ “lấy” mà thôi , chứ tại sao lại đi liên hệ với “cắp” cho nó phức tạp ra. Thầy giảng giải rất là vần điệu lớp lang, nhưng tôi vẫn không thông, so với cặp từ ngữ “thanh xuân” và “thời thanh xuân” thì “lấy cắp” và “ăn cắp” còn khó phân biệt hơn nhiều. Sau khi áp đảo tôi về lý, thầy chuyển sang tình, cậu nên nhớ, thừa nhận là có lợi cho mình, cậu có biết chính sách của lãnh đạo là như thế nào không, “khoan hồng với bộc lộ, nghiêm trị với ngoan cố”, chỉ cần cậu nhận thì mọi việc sẽ ổn cả.
            Mỗi ngày thầy chủ nhiệm ba lần tâm sự với tôi, dọa nạt, uy hiếp, dỗ dành, xoa dịu, thậm chí cầu khẩn nữa, đủ cả; cuối cùng tôi mềm lòng thuận theo ý thầy. Thầy mở sổ, đọc cái gì tôi viết cái đó, thành một tờ sớ dài đến mấy chục thứ gồm tất cả những gì bạn học đã bị đánh cắp và nay tôi thừa nhận từng “lấy”, lấy một cách ngẫu nhiên, vô tình, nhưng vì ngẫu nhiên, vô tình nhiều lần nên chẳng khác gì “ăn cắp”. Lãnh đạo nhà trường hài lòng, xuất thân từ giai cấp tư sản là thế đấy, khó lòng mà giáo dục nên người, phải cho nó đi cải tạo, qua lao động mà sửa chữa thói hư tật xấu. Tôi bị đuổi học vì tội thừa nhận “ăn cắp” đó là “ích lợi” của thầy chủ nhiệm đã mặc cả ban đầu. 40 năm sau, trường trung học tổ chức lễ kỷ niệm nửa thế kỷ thành lập, người ta biên soạn cuốn “Những cánh chim tung bay”, sưu tập sự tích thành đạt của học sinh sau khi rời khỏi nhà trường. Ban biên tập bình chọn tôi là người thành đạt nhất, yêu cầu tôi có đôi lời cảm tưởng và gửi cho tấm ảnh chân dung. Còn nhớ hồi ấy, lãnh đao nhà trường đã gọi mẹ tôi tới, để giữa hàng trăm học sinh và giáo chức, nhận mặt thăng con “đầu trộm đuôi cướp” của mình. Đó cũng là một phương pháp nhằm giáo dục cả hai, học sinh lẫn phụ huynh mà thời ấy rất thịnh hành. Mẹ tôi nước mắt lưng tròng nắm chặt lấy tay tôi và khẳng khái nói, tôi tin chắc là con tôi không ăn cắp, dẫu các thầy có dạy nó ăn cắp, nó cũng không học. Bà liếc nhìn lãnh đạo nhà trường, rồi mỉm cười lịch sự, nhưng tỏ ra rất miệt thị và dẫn tôi về nhà.
            Vì mẹ, tôi nhất quyết đoạn tuyệt với “dâm ý”, từ đó trên trời, dưới đất, giữa nhân gian , cái gì tôi cũng nghĩ đến, trừ mỗi chuyện đàn bà con gái và “thời thanh xuân” của tôi đã được thể hiện bằng một hình thức khác. Sau khi bị đuổi học không bao lâu, tôi lao đầu vào lưới thép, đó là “Đường thi tam bách thủ”, cái gốc nẩy mầm từ hạt giống “hiểm họa” - Ba trăm áng thơ Đường, đã lớn dần, cường tráng, nở boa và kết trái trong tôi. Hành vi nguy hiểm ở xã hội thời bấy giờ không phải là ăn trộm ăn cướp mà chính là làm thơ. Tôi xuất thân từ giai cấp tư sản , đã mắc tội “ăn cắp” nay còn thêm tội làm thơ, mà thơ tôi viết không giống như “Thù xướng tập” nhẹ nhàng, uyển chuyển, ngược lại toàn gai góc, châm chọc, ngược dòng. Thật là đáng trách khi tôi cứ đi tìm cái rắc rối cho mình.
            Tôi thường nghe phạm nhân cùng đi lao động cải tạo nói rằng, ba năm ngồi tù lợn cái vẫn cứ hơn Điêu Thuyền. Hình tượng ấy đã khắc họa một cách sinh động việc người đàn ông thèm khát đàn bà đến mức nào trong những ngày lao lý. May cho tôi là đã cạch cùng giống cái, nhìn thấy lợn, nhất là những con lợn có thể giết thịt, tôi chỉ nghĩ tới đưa nó vào mồm, chứ chẳng vớ vẩn là Điêu Thuyền, là mỹ nữ.
            Loại hình “thời thanh xuân” chẳng màng tới nữ tính còn gọi là thủy phần bằng “không”. Thực tình mà nói thì phụ nữ, ái tình, vợ chồng, gia đình, những thứ ấy gộp thành dung dịch mềm hóa người đàn ông. Chỉ cần nhỏ lên trái tim họ một giọt là xương cốt rã rời, sức lực biến mất. Song lại có một thực tế phải thừa nhận là khi không có phụ nữ để theo đuổi thì biểu hiện “thời thanh xuân” nơi đàn ông thường là công kích người cùng giới. Đấy cũng chính là điều kiện cần thiết nhằm tự vệ trong thời gian đi lao động cải tạo. Anh không mở to mắt ra, không công kích người ta, thì người ta sẽ công kích anh. Sống giữa một bầy sói, anh cũng phải như con sói tinh ranh, giảo hoạt. Đành rằng cùng đi cải tạo với nhau đều là trí thức mà tuyệt đại đa số là tín đồ của Đường thi Tống từ, từng áo mão xênh xang một thời trong xã hội, phong độ rất là nho nhã, nhưng lúc cán bộ quản giáo tuyên bố các phạm phải theo dõi nhau, tố cáo nhau, phát giác nhau, cộng với nỗi khổ đói cơm, rét áo, lao lực thì bọn họ, trong đó có tôi, dần dần thoái hóa thành nửa người nửa ngợm. Mỗi khi trí thức hàm chứa trong mình 50% súc sinh, lối công kích của họ càng có sách lược và độc địa hơn cả súc sinh chính thức 100%. “Thời thanh xuân” của tôi nhằm đúng lúc tiếp xúc với hạng người nửa phần dã thú, nhưng diễm phúc với tôi là con thú bệnh hoạn, trong trận sống mái “đấu tranh tư tưởng” thường tránh ra rìa. Dù là thiên đường hay địa ngục, dù là thần tiên hay hổ báo, ai có “thanh xuân” người ấy có sức sống. Rồi sau đó, những dã thú già nua, suy lão đấu không nổi với đám trẻ trung đang độ “thanh xuân” đã gục dần nơi mình cải tạo, còn lại đều là răng nanh sắc nhọn, khi cắn ai thì cắn ở chỗ chí mạng, hiểm nguy. Hôm nay, lúc viết đến đoạn lịch sử này, tay tôi bỗng run cầm cập không cầm nổi bút.
 
0
6

            Tôi nhận thấy giờ đây đã giải phóng khỏi sức ép, song nhiều lúc lại buồn, lo và đau đớn, một nỗi khiếp đảm trùm lên tất cả. Tôi không rõ đấy là sự hồi quy của cuộc đời hay “thời thanh xuân” đang dần dần suy lão. Những khi âu lo, sầu não và xót xa như vậy tôi bất giác hoài niệm thuở xưa gan dạ, giữa vòng lưới thép dám một mình xông ra, quần thảo và cuối cùng trói chặt dã thú. Tôi cũng thường hồi tưởng cái thời thoải mái của hai bàn tay trắng, cảm nhận sâu sắc rằng hễ có thêm một cái gì đó là thêm mệt nhọc, phải đem toàn bộ sức mình ra mà bao bọc, chở che.
            Từ sau khi biết sử dụng linh hoạt cái xẻng cầm tay, tôi nhận thấy mình không những biết múa bút, mà còn cả ngón nghề công phu vũ lâm, vung kiếm lạnh. Tôi cho rằng lạc thú của “thời thanh xuân” không hoàn toàn chỉ là sự ngưỡng mộ, khát khao người khác giới.Quan trọng hơn chính ở chỗ cứ mỗi ngày phát hiện them một thiên phú có trong mình và không ngừng chuyển hóa tiềm năng thành sức mạnh, thành lợi thế. Vùng tam giác mông lung ấy tuy không để lại một ấn tượng gì về xúc giác, nhưng tôi vẫn luôn cảm ơn nàng, người đã khai quật trong tôi một tinh thần mạo hiểm. 13 tuổi tôi đã từng mạo hiểm dám nhảy từ tầng ba xuống đất, thì nay ở cái tuổi 33, ngoài bộ quần áo phạm nhân lao động cải tạo ra, tôi không có gì tất, đó cũng là do tôi vui cùng mạo hiểm. Tình thực mà nói thì sở dĩ tôi không trốn trại, phần lớn là vì cuộc sống của dân thường bên ngoài đâu sánh bằng phạm nhân chúng tôi. Sau này tôi không chỉ một lần lên tiếng tán dương trại cải tạo là nơi dễ kiếm cơm nhất, ở đây an toàn bội phần so với bất cứ chỗ nào. Tôi cám ơn số phận, trong thời buổi nhiễu nhương, xã hội biến động, đã đưa tôi đến cái nơi thích hợp nhất đối với mình.
            Một ngày hè năm tôi 33 tuổi, ông đội trưởng đội cải tạo hạ lệnh bảo tôi đi canh cống nước. Đây là mùa vụ , rất cần nước tưới cho tiểu mạch ở vùng Tây Bắc. Bởi vì lúc ấy đang “làm cách mạng”, cho nên cơ quan thủy lợi chẳng ngó ngàng đến kế hoạch phân phối sử dụng nước. Tất cả nông trường, công xã ở lưu vực Hoàng Hà cũng với “khí thế cách mạng” nổi lên tranh giành nước, ai có nhiều thế lực kẻ đó độc chiếm nguồn nước. Trên thành phố người ta đấu đá nhau để đoạt quyền, tranh ghế; còn nông thôn chúng tôi đơn giản hơn là nước và cướp nước. Hàng chục đội sản xuất đã hỗn chiến trên một dòng kênh, cũng băng đảng, cũng phái hệ như xã hội đen Thương Hải ngày xưa, quyết chiếm cho được cái cống để mở đóng đưa nước về phần đất của mình. Nông trường nơi tôi lao động cải tạo có hàng vạn mẫu ruộng phải lấy nước tưới từ cái cổ chai này, cho nên canh gác cống nước năm ấy đã trở thành nhiệm vụ sinh tử của một cộng đồng. Trước khi tôi lên đường ra trạm ông đội trưởng động viên:
            - Phạm nhân hữu phái (người ta thường gọi tôi như vậy và sau này ở đoạn cuối, có một thiếu phụ muốn giúp tôi nhen nhóm lại “thanh xuân”, nhưng do quá khiếp đảm nên giữa chừng tôi bất lực, chị âu yếm đặt cho tôi cái tên “Lão hữu” nghe thân thiết vô cùng), anh khoẻ hơn mọi người (vì tôi giỏi ăn vụng,hơn các phạm nhân khác), lại là “nhị tiên cung” (lần thứ hai đi cải tạo, tuy sự việc ấy chẳng lấy gì làm vinh dự nhưng sống lâu lên lão làng, có nhiều kinh nghiệm, thành tích nên mới được giao trọng trách). Tôi thấy anh cũng thuộc loại to gan (điều này thì ông đội trưởng thật có nhãn quan, nhìn đúng người đúng vật), anh hãy vì tôi mà chốt cứ (ông đội trưởng nói năng cứ như những nhân vật phản động trong điện ảnh). Kẻ nào đến mở cống cướp nước, hữu phái hãy đánh chết cho tôi (nghĩa là dẫu máu chảy đầu rơi, cũng không được lùi bước, chứ đừng ngộ nhận là ông ta đã “hạ phóng” cái quyền giết người đâu nhé).
            Ông đội trưởng giao cho tôi sứ mạng vô cùng quan trọng, thật là “sĩ vi tri kỷ giả tử”. Hào khi xung thiên, tôi chẳng nói chẳng rằng, nghiêm nghị vác xẻng lên đường đi giữa hai hàng phạm nhân đưa tiễn. Trên thực tế nếu không có kẻ nào lăm le cướp nước thì nhiệm vụ “gác cống” cũng như đi an dưỡng, nghỉ ngơi, so với lao động ở nông trường thì thong thả hơn nhiều. Nhưng “nuôi quân ba năm, dùng quân chốc lát”, bản lĩnh dày mỏng, tài trí thấp cao, ruột gan to nhỏ chính là vào lúc huyết chiến giữ nước mới tỏ bày, bộc lộ tất cả. Ông đội trưởng không nói đùa một chút nào, vì nhiều bận máu đào đã chảy đỏ dòng kênh.
            Tôi nghỉ ngơi thoải mái đúng hai ngày dưới một gốc cây cạnh cống nước, tha hồ nhâm nhi những ý tứ trình bày trong cuốn sách triết học của tác giả người Đức. Ở nông trường cải tạo, ngoài công việc phu phen tạp dịch, ông đội trưởng còn bắt tôi đọc sách “Mã Ân Liệt Tư Mao” và chỉ được đọc loại sách ấy để giáo dục tinh thần “vì nhân dân phục vụ”. Nói có vẻ dài dòng lôi thôi, ghép cả năm ông vào chung một tựa sách, nhưng thực tế là rất ngắn, thoáng một cái là xong, cũng chỉ biên soạn, trích dẫn đến mức ấy thì quần chúng cách mạng mới đủ chữ mà đọc, dài hơn nữa là gay. Nhưng ngày thứ ba vào lúc nửa đêm, trăng treo đỉnh đầu vằng vặc sáng, bỗng bảy tám thanh niên lực điền kết bè kéo mảng ập tới, thấy chỉ mình tôi ngủ say trên bờ kênh, thằng đầu đảng hét lên một tiếng “tiến”. Tình cảnh lúc này giống hệt như tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung miêu tả trong đoạn “Hoa Sơn luận kiếm”. Bờ kênh biến thành đỉnh núi để “bát đại môn phái”, vung gươm tỷ võ. Tôi nắm chặt cái xẻng, từ từ đứng lên rồi dõng dạc:
            - Thưa bà con, anh em, mấy ngày hôm nay chưa đến lượt bà con, anh em lấy nước mà đang luân phiên cho nông trường chúng tôi. Đêm nay nếu bà con, anh em muốn mở cống dẫn thủy thì hãy xin nộp mạng. Không phải tôi, mà một ai đó trong số bà con, anh em. Bà con, anh em không tin thì chúng ta cứ thử xem sao.
            Cả bọn bảy tám cái mồm thi nhau chửi, chửi từ tổ tông nhà tôi cho tới lãnh đạo nông trường, giống như tôi và nông trường là cùng huyết thống, giống như trại cải tạo là vườn nhà của ông cha tôi vậy. Bây giờ bảo tôi nhắc lại là họ đã chửi những gì thì tôi đành chịu, không nhớ xuể, nhưng chung quy là mạt sát tôi, phạm nhân lao động cải tạo làm sao mà địch nổi với “đoàn tạo phản” bần nông và trung nông lớp dưới như chúng tao. Tôi cười ngạo mạn, bất kể chúng mày là “đoàn tạo phản” hay gì gì đi nữa thì cũng không bằng cái móng của một tử tù. Chúng mày có biết vì sao ông đội trưởng cử tao đến đây gác cống hay không? Bởi một tháng sau tao sẽ lên đoạn đầu đài, đêm nay chúng mày đến đây, tao chẳng sợ, nếu có chết trong khi đang làm nhiệm vụ thì gia đình tao còn có thể nhận thêm tiền tuất, hiểu không?... Nào xông vào đi, chặt đầu tao cái đã rồi hãy mở cửa cống. Mau lên, còn chần chừ gì nữa! “Đoàn tạo phản” bần nông và trung nông lớp dưới ngơ ngác nhìn nhau. Chúng lẩm bẩm: không ngờ hôm nay gặp thằng chó đẻ. Nhưng ngay sau đó tên đầu đảng liền trấn an, chúng tao khử mày mà làm gì, đừng có dại đi tìm cái chết, đứng sang một bên, mày mà động đậy là tao ra đòn, sống dở chết dở đó hỡi thằng em. Để chúng tao làm việc của chúng tao, mày xem như chẳng trông thấy gì cả. Đầu đảng chưa dứt lời thì một thanh niên trong bọn, khoảng 20 tuổi là cùng, tranh thủ lướt tới, cúi lưng định mở cửa cống. Tôi hét lên, tao sống cũng như chết, nhưng nay nhắc chúng mày, chúng mày không chặt tao, thì tao vẫn chặt chúng mày. Tao có giết chết một thằng thì người ta cũng không lôi xác tao lên để bắn lần thứ hai. Bà con, anh em hãy đừng theo tôi mà tử nạn vô ích. Đồ chó đẻ mày dám không, tên đầu đảng gầm gừ. Tôi đáp lại, hãy đợi đấy. Điệp khúc “mày dám không” và “hãy đợi đấy” lặp đi lặp lại cả chục lần, tôi và tên đầu đảng như hai con chó sủa oang, càng lúc càng to, càng lúc càng dữ. Đó là cách đàm phán đơn giản nhất trên thế giới này, về sau tìm hiểu mới hay, tất cả những cuộc cãi nhau quốc tế kỹ xảo dù phức tạp đến đâu thì hình thức nguyên thủy cũng chỉ như thế “mày dám không”, “hãy đợi đấy” mà thôi. Thấy tôi không chịu lùi nửa tấc, tên đầu đảng hò la bọn đàn em ào vào cửa cống. Phần mình, tôi lựa thế, tay cầm xẻng, mắt nhìn lên cổ thằng bé, một cái cổ mập ụ hơn cổ lợn và tìm góc độ sao cho “lai như lôi đình thu chấn nộ” kiểu Công Tôn Đại Nương từng múa kiếm và bỗng trong người trào sôi dòng máu nóng thôi thúc thằng con trai phải chiếm đoạt, tính giao nữ giới, nhưng vì ở đây không có ai là đàn bà con gái nên tất cả dồn lên bàn tay, phập một nhát nơi cánh cửa cống, “bãi như giang hải ngưng thanh quang”, lẹ làng tới mức chỉ nghe mỗi tiếng kêu thảm thương “mẹ ôi”, rồi sau đó là máu đỏ lênh láng dưới trăng mờ. “Đoàn tạo phản” bần nông và trung nông lớp dưới nhanh chóng rút lui, cõng thương binh về bệnh viện cấp cứu. Tên đầu đảng quay lại dọa dẫm: “Mày đợi đấy, hỡi thằng chó đẻ”. Chiến trường giờ đây yên ắng. Tôi xìu xuống như người đàn ông vừa xong một đợt “thanh xuân” và cảm thán, đúng như ai đó đã từng nói, mọi cuộc chiến tranh đều bắt nguồn từ dục vọng của người lãnh đạo.
            Sáng hôm sau tôi vội vàng báo cáo lên ông đội trưởng. Ông khen tôi hết lời và bắt đầu chửi “đoàn tạo phản”, chửi đến tổ tông tam đời nhà họ mà không hiểu rằng những bần nông và trung nông lớp dưới kia cũng là “người anh em giai cấp”, cùng một huyết thống với ông. Tôi trở lại vị trí canh cống nước, nhặt ngón tay nạn nhân, giờ đã tím bầm, chôn cất tử tế, nhìn đất nhìn trời và thỏa mãn với sự trào dâng, phát tiết của “thời thanh xuân” không ái tình, không nữ tính vừa mới “động tình” như kiểu tối hôm qua.
            Tôi vừa học những trí tuệ cao nhất của loài người và đồng thời cũng làm những việc dã man nhất và nhiều khi còn ác hiểm hơn dã thú, thế mà lúc ấy tôi chẳng hề bị lương tâm cắn rứt, dày vò chút nào. Về sau mới hiểu ra, đấy là dòng chảy chính của một thời lưỡng tính, hai mặt và kỳ lạ thay, bất kỳ mọt lúc mọi nơi tôi đều hòa nhập, xuôi chiều cùng dòng chủ lưu đó. Giờ đây nhớ lại, tôi thật xót xa cho chàng thanh niên đêm hỗn chiến giành và giữ nước. Anh ta trẻ hơn tôi, lúc này anh ta nhiều lắm cũng chưa tới 50, nửa đời người cụt một ngón tay, làm ăn sinh sống đều rất bất tiện. Nhất định là anh ta đã nhiều lần mân mê phần gốc ngón tay còn sót lại và kể với bạn bè nỗi kinh hoàng đêm ấy, nhưng chẳng biết họ tên thằng phạm nhân “chó đẻ” là gì và chẳng biết phải tìm nó ở đâu mà báo thù. Tương tự, dẫu có muốn chuộc tội đền bù chút ít cho nạn nhân, tôi cũng đành bó tay vì tất cả những gì liên quan đến anh đều mù mịt. Hồi ấy chàng thanh niên ấy giống tôi là đang tuổi trẻ , đang “thời thanh xuân”, nhưng khác nhau là một bên được phát tiết, được thoả mãn thú tính; còn bên kia vừa khiếp đảm vừa hận đời và linh hồn bị tổn thất mà thủ phạm chính là tôi. Thế giới quanh chúng ta thường là như thế. Bao sự vật, bạo con người vốn dĩ rất xa nhau, khác biệt, không hề liên quan ràng buộc, bỗng đụng đầu và trở thành đối địch một cách ngẫu nhiên.
            Phần tôi , khi hoàn cảnh xã hội và điều kiện cá nhân vừa thay đổi thì liền nhớ lại quá khứ và cảm thấy bất an. Đành rằng xã hội sẽ không còn hại tôi nữa, đành rằng tôi sẽ có thiện tâm đối đãi với đồng loại, nhưng thói nào tật ấy vẫn cứ bao vây và dễ sợ nhất là lúc “thời thanh xuân” trỗi dậy, loại “thanh xuân” không ái tình, không nữ tính lại thúc giục tôi nói những điều không muốn nói và làm những việc không muốn làm.
 
0
7

            Tôi lập xí nghiệp tư nhân hùn vốn đầu tư biến một vùng đổ nát, hoang phế trở nên khu vui chơi giải trí và đặt tên là “Thành phố điện ảnh vô tuyến” cho oai. Tôi đã làm đầy đủ mọi nghĩa vụ tài chính với chính quyền địa phương cũng như giúp đỡ bà con thuộc diện giải tỏa ổn định cuộc sống tại khu ở mới. “Thành phố điện ảnh vô tuyến” của tôi chính thức mở cửa bán vé cho khán giả vào xem, dần dần thu lãi khiến đám cường hào ác bá mới quanh vùng nóng mặt. Nhân buổi đầu tranh sáng tranh tối của thời kỳ cải cách mở cửa, kinh tế thị trường, lợi dụng khi luật pháp còn chưa hoàn bị, bọn chúng sách động dân đến quậy phá đòi chiếm lại “cổ thành” giống hệt như hồi tranh cướp nước ở dòng kênh. Sáng hôm đó người của chúng ập tới đuổi hết nhân viên bán vé của tôi, ngang nhiên thu tiền bỏ túi. Tội đánh xe đến hiện trường thấy người ta bao vây, biểu tình, hô khẩu hiệu và xem tôi bằng nửa con mắt. Tôi lại cảm thây dòng máu lạ trào dâng trong người và bỗng nhận ra nhiệt dư “thời thanh xuân” đang nóng dần lên: Ai là người cầm đầu, tôi hét to và cả đám người gan lì như bầy quạ vẫn cười khì, vẫn chơi cái trò chơi không luật lệ. Đây không cần lãnh đạo, đây không cần cầm đầu, một thanh niên ngạo mạn trả lời. Tôi chộp ngay, chính anh là lãnh đạo, chính anh là cầm đầu , hôm nay chúng ta nhận mặt nhau, mai này hành xử thì anh đừng có trách. Alô, tôi rút máy điện thoại di động, giả bộ quát nạt, ra lệnh, chuẩn bị ngay cho tôi, tổng giám đốc, một đại đội vũ trang chờ chỉ thị là hành quân thần tốc đến hiện trường, rõ chưa, rõ. Người thanh niên nọ và bầy quạ của anh ta sợ hãi bởi hai chữ “đại đội” bèn nhát gan khai báo thật, dạ thưa “cấp trên” bảo chúng em quậy phá đại ca. Về bảo với “cấp trên” của các người rằng ông anh đây có sức khai phá vùng “cổ thành” này phồn vinh nhộn nhịp như hôm nay thì cũng đủ mạnh và thừa bản lĩnh khiến kẻ nghịch tặc vong nhân bại sản, hôm nay ta thí cho các người tiền bán vé, về mà ăn nhậu, nhưng ngày mai còn dẫn xác tới đây, hãy xin “cấp trên” mua sẵn cỗ quan tài. Ai cũng biết anh các người đã lao động cải tạo đúng 20 năm, chẳng việc xấu nào mà không nghĩ ra, nói đoạn tôi lên xe rồ máy rời khỏi “Thành phố” của mình. Những lời nói lạnh tanh như máu cá và âm mưu chặt đứt một ngón tay hoàn toàn như nhau, đều là biểu hiện “động tình” của “thời thanh xuân”. Tất nhiên tôi chẳng có “đại đội vũ trang” nào để mà gọi và chẳng dám “vong nhân bại sản” người ta, vì bây giờ đâu có “làm cách mạng” muốn giết ai là giết, nhưng tôi hiểu “lấy độc trị độc”, với những kẻ vi phạm pháp luật thường không sợ cơ quan chấp pháp mà lại rất gờm trước các tay anh chị cao thủ hơn mình. Sáng hôm sau người của tôi vào ca bình thường, hầu như chẳng có gì xảy ra, “Thành phố” bình an và vui vẻ làm ăn.
            Có những người đàn ông ham gái, lại có loại chỉ ưa vật lộn cùng giới tính. Từ ngày đoạn tuyệt thói hư “dâm ý” tôi thuộc loại thứ hai và nhận ra rằng lạc thú của “thời thanh xuân” còn bao gồm cả “chí phấn đấu hơn người”. Cuộc đời lao động cải tạo nhiều năm không dạy cho tôi một trò chơi giải trí nào cả, sống đơn điệu , buồn tẻ, không cờ bạc, xoa mạt chược, hay đánh “gôn” mà chỉ có hai kiểu chơi, “tâm nhãn” và “vận mệnh”, thật là kỳ quái. Cuối cùng thì cả xã hội kinh tế thị trường của Trung Quốc cũng đang vào “thời thanh xuân”, nhìn trước ngó sau, lao tâm khổ tứ, thì thấy rằng nó rất cần đấu chí, nó rất cần hoạt lực, và rất cần một tinh thần nghênh chiến. Trời ơi, “xuất thủy tài khán lưỡng thối nê”, rút chân ra khỏi nước mới thấy đã lấm bùn, ai viết, ai ca, ai nghĩ mà hay đến thế.
            “Thời thanh xuân” của tôi không tình yêu, không đàn bà và cũng không ham muốn quan hệ nhục cảm với phụ nữ. Cám ơn Trời xanh cao vợi, Người đã an ủi con hay ra tay dập tắt ngọn lửa dục niệm đang âm ỉ cháy nơi lòng con mà dàn dựng một màn trình diễn “sinh hoạt vợ chồng”. Tôi buộc phải xem và bỗng tiêu tan bao mơ tưởng đối với loại “sinh hoạt” này, khiến tôi nhận thấy tính giao cùng nữ giới là công việc hết sức vô nghĩa nên cả đời xa lánh và lãnh đạm với nó.
            Cuối những năm 60, sau sự kiện chặt đứt ngón tay một thanh niên nông dân, tôi được phóng thích, trả tự do, mãn hạn cải tạo, chuyển sang lao động kiếm sống, từ nông trường lao động cải tạo bước qua một cây cầu độc mộc bắc trên dòng kênh là tới nông trường công tác. Hai nông trường gần nhau trong gang tấc, chó sủa gà kêu đều có thể vọng qua truyền lại, nó tượng trưng cho cái thời hễ lơ đãng tí chút là bị tống đi cải tạo như chơi. Phạm nhân lao động cải tạo được phóng thích, trả tự do nào đã thoải mái gì, vẫn phải mang trên mình năm chữ “lao cải thích phóng phạm” giống như người nô lệ ngày xưa bị đóng dấu trên trán, nghĩa là vĩnh viễn không bao giờ xóa nổi cái nghiệp “phạm”, dẫu đi đến cùng trời cuối đất thiên hạ đều có thể nhận biết. Hôm phóng thích, cán bộ quản giáo đã ghi nhận xét rất tốt cho tôi, ông viết: “Nhận tội phục pháp, tuân thủ giám quy, tích cực cải tạo, thế giới quan và lao động quan đã chuyển biến rõ rệt...” thế là ông cán bộ đã cố tình bỏ lơ tội ác chặt đứt ngón tay một nông dân do tôi gây nên ngay trong thời gian cải tạo. Tôi những tưởng cầm bản nhận xét này mà đi xin việc thì hoàn toàn đủ tư cách làm anh công nhân nông nghiệp chính thức, nhưng thực tế thì trong xã hội sẵn có vạn vạn người cũng “thế giới quan, lao động quan đều chuyến biến”, họ còn hơn tôi ở trạng ngữ “triệt để”, chứ “rõ rệt” là cái thá gì. Đại đa số trong bọn họ tùy hoàn cảnh khác nhau mà gặp phải những tội trạng với dạng thức muôn hình muôn vẻ, đúng như chủ trương của “nguyên tội luận” Cơ Đốc giáo, con người sinh ra là đã đắc tội rồi. Tôi sở dĩ “nhị tiến cung”, hai lần vào ra trại cải tạo, là do “phong trào giáo dục xã hội chủ nghĩa” đụng tới, ba năm sau lại xáp mặt với “văn cách”. Không ngờ con người khó dạy bảo đến thế. Người phạm tội tham gia phong trào chính trị ngày càng nhiều, vậy nên có trở thành công nhân nông nghiệp chính thức hay không thì cũng chẳng hề gì, bởi mọi người đều là phạm nhân cả.
            Nhưng dù thế nào đi nữa, “phạm nhân lao động cải tạo được phóng thích” vẫn thấp hơn nhân dân một bậc và do đó ủy ban cách mạng nông trường đã liệt tôi vào lực lượng lao động bị “đội chuyên chính quần chúng cách mạng” quản chế. Đây là một tổ chức có ở khắp nơi, cơ quan, đơn vị, nông trường, thậm chí cả đường phố nữa, là một hình thức trại cải tạo quy mô nhỏ, quần chúng cách mạng có thể tùy hứng kéo lãnh đạo của mình ra đấu tố rồi chụp cho cái mũ “đầu trâu mặt ngựa”, bị tập trung quản chế và cưỡng bức lao động. Căn bệnh của “văn cách” mười năm là đẩy quần chúng lên cao hơn tất cả, trở thành lực lượng vô thiên vô pháp, căn bệnh đó thấm vào gien tinh thần của cả dân tộc, di truyền cho hậu thế khiến hôm nay nhiều cán bộ có quyền thế hóa thân là ác bá một vùng, còn quần chúng tay không đóng vai vô lại.
            “Đầu trâu mặt ngựa” gồm đủ loại, từ cao quan hiển hách cho tới thứ dân bình thường. Dù địa vị phẩm hàm xưa kia chênh lệch như thế nào nhưng đã đến đây thì nhất luật đều là kẻ xấu, cùng một đẳng cấp. Có bị đội chuyên chính quần chúng cách mạng quản chế, tôi mới hiểu là tầng lớp phạm nhân lao động cải tạo được phóng thích như chúng tôi còn ưu việt hơn cái đám “đầu trâu mặt ngựa” kia. Tuy trước đây là phần tử hữu phái khét tiếng, nhưng vì hồi đầu “văn cách” lọt lướt không bị lôi ra đấu tố, quy phái hệ, cho nên giờ đây tôi may mắn thuộc tầng lớp trung gian và được gọi là “hổ chết”. Hổ đã chết thì tất nhiên là không bị “đào mồ lôi xác” lên mà đánh, trọng điểm đấu đá, hành hạ của quần chúng cách mạng chính là bầy “hổ sống”. Tôi có sức khỏe, tư tưởng nói chung là tạm ổn, không bị liên lụy gia đình, kỹ năng lao động thành thạo hơn nhiều so với lũ “hổ sống” lâu nay chỉ ngồi văn phòng chực ăn thịt người, cho nên ai ai cũng phải nể. Lãnh đạo nông trường giao nhiệm vụ cho tôi chỉ huy hơn 20 con “hổ sống” ngày ngày đi lao động.
            Nhân vật mà tôi sẽ kể dưới đây là một người đàn ông, kỹ thuật viên nông trường, sinh viên nông dân, hạt giống đỏ, thuộc loại đẻ ra là để làm cán bộ. Nhưng không may, vì hồi đầu “văn cách” đứng sai đội hình, loạng quạng thế nào đó mà lại bị quy thành “đầu trâu mặt ngựa” nên nay tống khứ cho quần chúng chuyên chính. Thoạt đầu tôi không rõ “đứng sai đội hình” là tội trạng gì, sau đó một lão “hổ sống” khác kể rằng, hắn là “kẻ hai mặt”, lúc đứng bên phe này, khi nhảy sang phái kia, ai cũng bảo hắn phản bội. Sau một thời gian tiếp xúc, chỉ huy “kẻ hai mặt”, tôi mới rõ hắn chẳng có tội tình gì ngoài cái tật vì quá nhiệt tình với cách mạng mà khiến thiên hạ ghét. Lúc nói chuyện thì nước bọt văng tung tóe, riêng khoản này đã khiến tôi không ưa hắn, lại thêm làm lụng nhác nhớn vô cùng. “Kẻ hai mặt” trở thành đối tượng trách cứ của tôi. Ngày xưa còn lao động cải tạo chẳng có dịp để trách cứ ai, nay cấp trên giao cho chút quyền chỉ huy bọn “hổ sống”, không  quát nạt kể cũng phụ lòng các vị. Vả lại có quát nạt người khác mới thể hiện là mình cao hơn một bậc, chả trách mà “quần chúng cách mạng” thường rất thích chống nạnh và vênh mặt với những ai “phi cách mạng”.
            Làm thủ lĩnh lũ “đầu trâu mặt ngựa” được vài tháng, tôi càng cảm nhận ra mình đã đặt chân vào lãnh địa ưu ái của xã hội. Thứ nhất là mình cũng được gọi là lãnh đạo. Thứ hai là lại đi lãnh đạo đám người từng một thời lãnh đạo bàn dân thiên hạ, và thế là từ một anh công nhân nông nghiệp “tạm tuyển” chưa gột sạch dấu ấn “phạm nhân”, tôi nhảy phóc lên chức quan làm ông cán bộ và bắt đầu dương dương tự đắc. Về sau không rõ tình hình đã biến chuyển ra sao mà những người nguyên là “quần chúng cách mạng” nhận thấy đấu đá lũ “đầu trâu mặt ngựa” chẳng nên công cán gì nên trọng điểm đã chuyển sang chính mình và thời đó gọi là “quần chúng đấu quần chúng”. Các phe phái “quần chúng cách mạng” ở nông trường tuốt gươm rút giáo thề sống mái với nhau. Cấp trên bận “nắm cách mạng”, nhiệm vụ “đẩy mạnh sản xuất” đành phó thác cho “đầu trâu mặt ngựa” đảm trách, quyền lực chỉ huy hiện trường bỗng rơi vào tay tôi. Những độc tố của “chủ nghĩa nhân đạo giai cấp tư sản” bị tiêm nhiễm từ khi còn bé đã khiến căn bệnh cũ tái phát trong tôi Nhìn đám “đầu trâu mặt ngựa” bị quản chế nghiêm ngặt, bị đấu tố sứt đầu mẻ trán, xa vợ lìa con, tôi thấy xót thương. Họ còn tội nghiệp hơn cả phạm nhân lao động cải tạo chúng tôi ngày trước, vì thế nên tôi đã bí mật cho phép “Phản bội” và “Đặc vụ” - hai con “hổ sống” tuổi gần 60, bệnh tật khắp người, về thăm lại người thân sau mấy năm trời biền biệt. Không cho họ đi thì thật không đành, điều này chứng tỏ tôi chưa cải tạo tới mức “thay da đổi thịt”, ông đội trưởng nhận xét đánh giá tôi như dạo nọ là không đúng.
            Ngày hôm ấy tôi và “Kẻ hai mặt” cùng đi cắt cỏ cho ngựa, quá trưa thì mắc mưa, phải chui vào một căn nhà đất rách nát tạm trú. Mưa càng lúc càng to, mịt mù tăm tối mà cả hai thì bụng đói cồn cào. May sao ở đó còn sót lại bao đậu tương làm thức ăn nuôi ngựa, tuy đã sặc mùi ẩm mốc, nhưng chúng tôi vẫn bốc nhai ngon lành, vừa ăn vừa nhìn mưa giết thời gian. Khoảng nửa giờ sau một người đàn bà đội mưa, ướt đầm bỗng xuất hiện trước cửa, hình hài như con ma khiến tôi sợ hãi, nhưng “Kẻ hai mặt” thì sung sướng vô cùng. Hắn hét lên, sao mình biết mà tới được đây. Tôi đến đằng ấy, người ta bảo ông ở bên này, “đằng ấy” là một chỗ làm việc khác do đội chuyên chính quần chúng cách mạng quản chế, còn “người ta” chính là lũ “đầu trâu mặt ngựa” nọ. Tôi chưa kịp hoàn hồn thì “Kẻ hai mặt” đã kéo người đàn bà vào trong nhà, thôi thì vuốt tóc, xoa đầu, lau mình cho thị, nước bắn tung tóe lên cả đầu tôi. Tôi tưởng đó là con gái của lão, vì còn quá trẻ, đâu mới 20. “Kẻ hai mặt” phải thanh minh, thưa cán bộ, vợ tôi đó và tự nhiên cởi áo vắt khô cho cô gái, lồ lộ phần ngực nhô cao, trắng nõn, chính giữa là một hào sâu, chẳng rõ vì sao khi liếc trộm con hào ấy, tôi vô cùng hốt hoảng và nhắm mắt lại. Vợ chồng gì mà chênh lệch nhau dữ thế “Anh hai...”, dạ thưa, hồi đó trừ cán bộ lớn ra, nhân dân “tìm đối tượng” đều có tuổi tác tương đương “giao phối”. Hắn cười với tôi và bảo rằng cô ả là nông dân, vì vậy cuộc vấn đáp đành kết thúc, nhưng tôi chẳng có cơ sở nào để xác minh họ là một “cặp” vợ chồng và bản thân mình đã phạm kỷ luật của đội chuyên chính quần chúng cách mạng vì cho phép “đầu trâu mặt ngựa” gặp gỡ người nhà. Tôi lùi về một góc. Ngoài trời vẫn mưa như trút nước, trong lõm bõm tiếng mưa rơi, tôi lắng nghe họ nói chuyện gia đình. Càng nói càng mặn mà, quyến luyến, bỗng “Kẻ hai mặt” tiến về phía tôi cầu khẩn: Dạ thưa cán bộ, cho chúng em “sinh hoạt vợ chồng” một cái. Dạ đã xa nhau phải đến hai ba năm rồi. Tôi nhìn hắn và bắt gặp thần sắc cùng ánh mắt tội nghiệp đáng thương chưa từng thấy nơi kẻ hai mặt. Tôi không hiểu ý nghĩa của cụm từ “sinh hoạt vợ chồng”. Nhẽ nào lão “hổ sống” này muốn trốn trại theo người thiếu phụ về nhà. Tôi vọng nhìn cô gái nông thôn đôi má cứ ửng dần lên và cuối cùng rực thắm. Ả cúi đầu, bứt tay và tỏ ra xấu hổ, ngượng ngùng. Khi ấy tôi mới hiểu tất cả và không nhịn được cười. Tôi không cười họ có nhu cầu giao phối mà cười chính mình vì hôm nay vừa học thêm một từ nghe rất thanh tao nhưng chung quy cũng chỉ là cái chuyện đó. Ở bên nông trường cải tạo người ta nói có vẻ hơi thô lỗ rằng “ngủ với nhau”, như trong “AQ chính truyện” gọi là “khốn giác”, còn bây giờ thì màu mè khoa học một tí, “tính giao”. Với tôi vì thiên về văn thơ cổ điển nên thường nghe quen “vân vũ”, “hành phòng”, và ở đại đa số tiểu thuyết thì là “sự tất”, hóa ra “sự tất” chính là “sinh hoạt vợ chồng”.
            Theo phép lịch sự, đã cho họ “sinh hoạt” một cái, tôi ắt phải lánh mặt, nhưng bây giờ biết trốn nơi đâu? “Kẻ hai mặt” khẩn khoản, vô lễ lại để cán bộ dầm mưa, thôi thì cán bộ cứ nhìn ra ngoài trời là được. Tôi vừa quay đầu “lánh mặt”, ngắm mưa thì đằng sau nơi mấy bao gai phát ra tiếng lạo xạo, cô gái khẽ rên, cố giữ miệng mà vẫn bật ra âm thanh “ư hử”, khiến tôi khó chịu. Những bao gai kia sắc nhọn như dao, tội người thiếu nữ vượt bao dặm tìm chồng, không khéo lại mang thương tật trở về quê, biết mà khổ ải đến nhường này thì tôi đã không cho họ “sinh hoạt”. Nhưng không đợi tôi đủ thời gian để phân biệt đằng xa kia trong mịt mù mưa dội là bóng người hay một gốc cây thì bỗng nghe cô gái rú lên, còn “Kẻ hai mặt” thở dài, lăn đùng và chạm vào lưng tôi. Xong rồi, thưa cán bộ, hắn nói với vẻ vô cùng mệt nhọc như đang kéo một cỗ xe chất đầy leo dốc.
            Tôi lại cười , thời gian “sinh hoạt vợ chồng” cũng ngắn ngủi như ở trạm thụ tinh nông trường. Những con cái lợn đực phá chuồng phá cũi, cho đi “tìm đối tượng” phập một cái là xong. Chả trách mà tiểu thuyết cũ miêu tả chỉ trong nháy mắt là “sự tất”, khiến tôi mơ hồ “sự” gì mà “tất” nhanh đến thế. Lại như “vân vũ” thơ xưa “dục tiên dục tử”, mới một hai phút mà đã tiên bay, thần biến thì phỏng có ý nghĩa gì, và còn chết, chết trong thời khắc ấy thật nguy hiểm biết bao.
            Từ bấy, là “hành phòng”, là “ngủ với nhau”, là “tính giao”, là “sinh hoạt vợ chồng”, hay gì gì đi nữa, những từ ngữ đó đối với tôi đều thô lỗ và vô vị tột cùng.
 
0
8

            Đến bây giờ một nỗi buồn thương thường trỗi dậy trong tôi giống như luồng khí huyết nóng bừng từng dâng lên, chực tuôn trào mỗi lần rạo rực “thời thanh xuân”. Có lẽ đây là triệu chứng lão suy nơi tôi. Vì ngày xưa tôi chưa hề thương ai và cũng chẳng buồn cho ai, còn hôm nay tuy buồn thương như vậy, nhưng rất vẩn vơ, không rõ bởi người nào, việc gì và bây giờ phải thổ lộ giãi bày cùng ai cho khuây khỏa. Tôi chỉ có cách ngước nhìn lên trời cao mà thở dài não nuột. Một chứng bệnh lạ phát sinh, ấy là lúc nào, ở đâu, thấy gì, làm gì... tôi đều buột miệng than vãn. Xem báo, đọc sách, thấy cao ốc đại lầu dựng lên, nhìn cầu kiều cũ xưa sập xuống, nghe chuyện hay, ngóng chuyện dở, được biểu dương, bị công kích, lúc thành công, khi thất bại... tất tật một lời than, thâm chí khi nhàn hạ dạo bước cũng than, than cho đến lúc không còn sự việc gì nữa để mà than và tương tự, rên cho tới khi chẳng đau ốm gì nữa để mà rên. Tôi nghĩ, chắc lúc lâm chung có lẽ sẽ không nói nổi một câu hoàn chỉnh, và cũng giống như “Kẻ hai mặt” sau lần “sinh hoạt vợ chồng” chỉ phát ra tiếng thở dài quyện vào hai âm tiết “xong rồi” mà thôi.
            Tôi không than thân mà cũng chẳng trách người, tôi chỉ biết cám ơn số phận đã yêu thương tôi hết mực, cho tôi gặp người này, bảo tôi làm việc nọ và luôn cầm một quả quýt vàng rộm múa trước mặt tôi, hình như vừa muốn tôi thấy rõ lại vừa muốn tôi nhìn nó một cách mơ hồ, lúc kéo tôi xuống, khi vứt tôi lên, và kết cục tôi đã sống một đời giữa tối và sáng, giữa tường minh và hắc ám, giữa minh bạch và hồ đồ, giữa rất rõ và rất mờ, khiến tôi mơ màng trong nhân tình thế thái, lúc tôi tự cho mình là giác ngộ thì lại ngỡ ra mình vẫn còn u mê. Sau khi tôi học thư pháp, đã có người đến xin chữ, tôi hỏi, anh thích chữ gì, người ấy bảo “nan đắc hồ đồ” của Trịnh Bản Kiều , hình như anh ta sinh bất phùng thời, có tài mà lận đận, dư thừa bao điều “minh bạch” nay muốn tìm những gì “mơ màng hiếm có”. Tôi cười to và nói rằng, này anh bạn, tôi và anh chưa hề có một lần minh bạch, rõ ràng, kể cả Trịnh Bản Kiều cũng vậy, suốt đời trong u u minh minh, sáng chẳng ra sáng, tối không ra tối, ngay bốn chữ “nan đắc hồ đồ” của Trịnh vẫn không biết giảng từ đâu và như thế nào. Tôi múa bút vung cho anh bức thư họa “nan đắc minh bạch”. Nghe nói anh ta mang nó về nhưng không treo, bởi vì quá nhiều người cho mình là thông minh, điều họ biết là toàn thế giới, tuy nhiên cũng không ít người cơ bản chẳng cần mò tận tới căn nguyên, hồ đồ cả một đời mà rồi minh bạch cũng một đời. Có điều không minh không bạch lại dễ sống hơn , “làm” cho thật rõ ràng ấy là một nỗi khổ, hạnh phúc chỉ có được khi chúng ta ở giữa hai cõi minh bạch và hồ đồ. Mãi tới già tôi mới biết số phận đã thi ân cho mình, và xin cám ơn người bằng những lời than.
            Như đã kể ở trên, tôi và đám “đầu trâu mặt ngựa” đều bị đội chuyên chính quần chúng cách mạng quản chế, mỗi ngày cùng đi lao động với họ tôi tự nhiên tỏ ra đồng tình, thương xót. Tôi không biết ngày xưa lúc đang làm cán bộ, họ đã phạm sai lầm gì, cũng chưa thấy họ chỉ tay năm ngón, đứng trên đầu thiên hạ hay áp bức quần chúng ra sao, chỉ thấy hôm nay họ phải cúi đầu, khom lưng, quỳ gối trước những người đứng đầu, lãnh đạo nông trường, thậm chí kể cả tôi, cuộc sống cơ cực hơn phạm nhân lao động cải tạo nhiều lần. Phạm nhân như chúng tôi sau giờ phu phen, thu quân trở về ấp trại còn có một mảnh trời riêng mà nấu, nướng, chưng, chiên những động thực vật hoang dã hái bắt ngoài đồng rồi xé ra, rồi ngấu nghiến một cách ngon lành. Lũ phạm ấy căn bản chẳng cần nghĩ về quá khứ hay nghĩ đến tương lai, nếu thi thoảng có nhớ nhà là nhớ người thân sẽ mang tới cho chúng cái ăn. Còn ở đây, những con “hổ sống”, những tên “đầu trâu mặt ngựa” thì ngược lại phải kiểm thảo quá khứ, báo cáo hiện tại và đảm bảo tương lai, phải viết các tài liệu phát giác để ứng phó với người quản giáo, hình như cả một đời đều chất đống nơi đây, ngay đến lúc đi vào giấc ngủ cũng mang một khuôn mặt khổ đau.
            Quần chúng cách mạng không chút tình người đối với bầy “hổ sống”, nghĩ ra bao thủ đoạn độc ác để dày vò họ, nửa đêm hứng lên lôi họ ra đánh cho sứt đầu mẻ trán, sống dở chết dở, thật là thảm thương. Gặp những trường hợp như vậy, tôi thường liên tưởng đến một cuốn tiểu thuyết cách mạng đã từng đọc, miêu tả tình cảnh các chiến sĩ cách mạng trong chế độ cũ phải ngồi tù ra sao, có cái gì đó giống với bây giờ. Tôi không tham gia “văn cách” nên tất nhiên không hiểu được những đạo lý cao siêu của nó, tôi cũng không có thời gian để nghiền ngẫm các bài viết của lãnh tụ “văn cách”, nhưng cứ theo tình cảm của mình thì tôi có khuynh hướng nghiêng về tầng lớp cán bộ bị đấu tố, bị hành hạ, mãi cho tới khi câu chuyện dưới đây mà tôi sẽ kể đã xảy ra.
            Bốn mùa lần lượt lướt qua, ngày tháng tự nhiên trôi chảy, chẳng hề khiến tôi đau đớn hay khó chịu. Ngược lại nhiều năm sau tôi lại rất nhớ, muốn quay về với cái thời bị đội chuyên chính quần chúng cách mạng quản chế, và cái thời phải đi lao động cải tạo. Chúng thường tái hiện trong giấc mơ. Tôi mơ thấy mình bị bắt mà không chút sợ hãi, ngược lại rất hân hoan như “thời thanh xuân” tái tạo, tựa hồ tôi sinh ra là để đối mặt với thách thức. Tôi đã có thể lý giải vì sao hàng chục triệu thanh niên trí thức năm ấy bị cưỡng bức lên rừng xuống biển về nông thôn, đến những nơi không đáng phải đến để chịu khổ chịu nạn, thế mà bây giờ hồi tưởng lại họ vẫn cất cao lời ca “xứng danh tuổi trẻ”. Tôi và những thanh niên trí thức già nua kia có chung một cảm thụ, chúng tôi hoài niệm thanh xuân của cái “thời thanh xuân”, thanh xuân dù quẳng đến đâu, dù đặt ở chỗ nào cũng là một khoảng thời gian rực rỡ nhất trong đời. Dẫu “thời thanh xuân” của chúng ta không ra gì, nhưng bước vào tuổi trung niên và nhất là khi đã suy lão, nó lại xứng danh, quý báu vô cùng. Có lẽ đó là một nguyên nhân khiến nhiều người dám nai lưng gánh vác tội ác của quá khứ, thậm chí còn tô hồng cho nó. Thử hỏi có ai dám thừa nhận mình đã hao phí tuổi xuân vì sự việc nào đó mà hoàn toàn vô vị.
            Thật vậy, vầng dương mà “thời thanh xuân” ta từng nhìn thấy cũng khác hẳn với bây giờ. Một lần tôi đi du lịch bên Mỹ tới bang Indiana thăm khu bảo lưu của người da đỏ. Trên xa lộ bỗng oà lên một tiếng, vòng tròn tịch dương khổng lồ tím hồng rơi xuống đẹp tới mức tôi không thể nào tả xiết, mãi sau mới nghĩ ra, vì nó giống những buổi chiều tà giữa mênh mông nông trường năm xưa, thời còn cải tạo. Số phận an bài và cái “thời thanh xuân” của mình chỉ cho tôi gặp được những cảnh tượng, thời khắc như vậy, không còn cách chọn lựa nào khác, vì thế lúc về già, cảm thụ của tôi với cuộc sống hầu như dựa trên các thể nghiệm thu được khi hãy còn trai trẻ.
            Hồi đó đọc trang nào nhớ kỹ trang ấy, còn bây giờ một hai câu ngắn cũng quên ngay. Tuổi già dễ dàng khô cứng, vỏ não suy yếu, không đủ sức dung nạp cái mới, chúng tôi chỉ còn là một giá thể chứa đựng những gì của truyền thống mà thôi. Hôm nay bảo tôi thuật lại việc hôm qua đã làm, có khi ấm ớ, nhớ không ra, nhưng lại đủ khả năng thao thao bất tuyệt bao chuyện tào lao của ba, bốn chục năm về trước.
            Bây giờ là mùa đông, việc đồng áng của nông dân ở miền Bắc không nhiều, vì vậy mà người ta thường gọi là “đông nhàn”. Nhưng quần chúng cách mạng không đành lòng để bầy “hổ sống” và lũ “đầu trâu mặt ngựa” cũng thong thả, rảnh rang như họ. Chưa có nơi nào trên thế giới lại chủ trương thuần phục bằng lao đông, lại cho rằng không ngừng cưỡng bức lao động mới có thể biến kẻ xấu thành người tốt. Công việc ngoài đồng thì ít nhưng ở khu dân cư vẫn nhiều và không bao giờ làm hết. Những người cầm đầu và lãnh đạo nông trường bắt đầu chỉnh kế hoạch lao động cho đám “đầu trâu mặt ngựa”, còn hạ lệnh cho họ phải viết “lời hứa cuối năm”, chủ đề cũng cứ là “phục tùng, phục tùng, phục tùng mãi”, cũng cứ là chịu sự quản chế và giám sát của quần chúng cách mạng. Phần tử “đầu trâu mặt ngựa” nào nặng tội cũng cứ một kiểu tra tấn gánh bằng hết chỗ đất này từ đây đến đó rồi lại từ đó đến đây, cho tới lúc thân xác nhừ tử mà đất kia cũng rã rời. Giờ đây suy ngẫm lại, tôi vẫn không lý giải nổi vì sao quá trình lao động giản đơn trùng lặp như thế lại có thể cải tạo được tư tưởng con người.
            Công việc “đông nhàn” phân cho tôi - một con “hổ chết” lãnh đạo bầy “hổ sống”, một phần tử “hữu phái” lãnh đạo lũ “đầu trâu mặt ngựa” là quét dọn nhà vệ sinh. Nói lãnh đạo cho oai thế thôi chứ thực tế cũng làm việc cật lực, lại còn đầu tàu gương mẫu “cán bộ đi trước, làng nước theo sau”. Về cái khoản quét dọn nhà vệ sinh thì đừng tưởng xấu hổ hay bẩn thỉu, đây là sự tin cậy và tín nhiệm của quần chúng cách mạng đối với tôi, vì dãy nhà vệ sinh kia thuộc khu vực tập thể nông trường, nơi cư trú của lãnh đạo, cán bộ và gia đình họ. Không phải bất cứ tên “đầu trâu mặt ngựa” nào cũng có thể bén mảng tới đây. Nghe nói phải đề phòng bọn chúng đầu độc, ám hại quần chúng cách mạng và thế hệ con em họ, những người nhận lãnh giao ca lịch sử, mang sứ mạng kế nghiệp và nhất là ngăn chặn bon chúng làm gián điệp săn tin thu thập những “chỉ thị mới nhất” để chống phá cách mạng. Nhưng với tôi thì tự do vác xẻng, một loại vũ khí rất lợi hại, ra vào khu tập thể mà chẳng ai hỏi han, kiểm soát gì cả. Đám hậu thế cách mạng lại thích chọc tôi, biến tôi thành cái bia để bắn súng cao su rồi nô đùa thoải mái. Cha mẹ lũ trẻ cũng không bảo ban con cái mình mà còn cười theo hành vi vô lễ của chúng. Về phần tôi thì cứ tưởng là mình đã trở thành một thành viên của quần chúng cách mạng mà cảm thấy tự hào, ấm áp và hăng hái viết bản bảo đảm như sau: “Quyết tâm chịu sự giám sát của quần chúng cách mạng, lấy tư tưởng Mao Trạch Đông bách chiến bách thắng để đấu tranh, tấn công ý thức hệ giai cấp phi vô sản, thông qua công tác quét dọn nhà vệ sinh mà cải tạo thế giới quan hủ lậu, thối nát của mình, làm cho quần chúng cách mạng khỏi lo hậu họa về sau, toàn tâm toàn ý triệt để chấp hành đường lối cách mạng của Mao Chủ tịch”.
            Nhà vệ sinh nông trưởng nói thì có vẻ vậy thôi chứ thực chất là ba bức tường đất lợp tranh, chia ra hai bên nam nữ bằng một vách ngăn đạp nhẹ là đổ. Mỗi phía đào bảy tám lỗ lộ thiên, sáng “vào ca” tôi đều thấy phân ùn cao như núi, may là mùa đông nên mùi hôi thối cũng bị đóng băng, nếu không thì đến chết ngạt. Khổ sở là thế nhưng tôi chẳng hề kêu ca gì cả, bởi lẽ được tự do đi lại, công việc cũng nhẹ nhàng không phải dầm mưa lội tuyết như các chiến hữu “đầu trâu mặt ngựa” khác. Ngày lại ngày mình tôi phải hốt sạch tổng cộng 80 núi phân, đưa ra bên ngoài phủ kín đất và đào sâu thêm các lỗ lộ thiên trong nhà, công việc cứ thế trôi qua cả một mùa đông giá rét.
            Thế rồi ngày hôm ấy xảy ra một hiện tượng càng lúc càng làm tôi như lạc vào mê lộ. Tôi bí mật theo dõi đều tra như kiểu trinh sát viên phá án. Đó là những mảnh băng y tế, giấy báo, vở tập học sinh, tất cả đều dính máu, tất cả đều xuất hiện bên nhà vệ sinh nữ. Tôi đâm nghi, hay là vùng này nhốt lũ “hổ cái”, nhưng tại sao khi đấu tố, “hổ đực” thường bị sứt đầu mẻ trán, còn con cái lại mang thương tích ở phần hạ bộ. Vì hiếu kỳ, vì nóng lòng.muốn giải mã nên từ hôm đó vừa quét dọn nhà vệ sinh, hốt phân, đào lỗ, tôi vừa để mắt trông chừng có con “hổ cái” nào ló đầu ra hay không, mãi mà chẳng thấy, chỉ toàn là quần chúng cách mạng nữ ra ra vào vào nhà vệ sinh vứt xả những của nợ ấy. Tàn dư của “chủ nghĩa nhân đạo giai cấp tư sản” lại trỗi dậy trong tôi, tôi thương các cô quá chừng, sao lại liều mình đấu đá với bầy “hổ đực” để bây giờ mang họa vào thân, máu me đầm đìa...
            Sau này nghĩ lại sự ngu dốt của mình, tôi cảm thấy nực cười, nhưng bình tâm mà xét và liên hệ với nhiều sự việc đã xảy ra, tôi ngộ ra một điều: cả đời chúng ta đều ở vào trạng thái vô tư và con nít. Những việc mà một thời ta cứ tưởng vô cùng quan trọng, vô cùng căng thẳng, vô cùng âu lo, những niềm vui đáng mừng, đáng reo, đáng cười thuở ấy giờ đây nghĩ lại mới thấy là hư không, bi cũng như hoan, tất cả đều vô vị. Chúng ta như con rối cho cuộc đời giật dây, dù sống đến trăm tuổi đi nữa vẫn là đứa hài nhi. Cảm thấy âu lo thật không đáng âu lo, cảm thấy phẫn nộ thật không đáng phẫn nộ, cảm thấy khổ não thật không đáng khổ não, cảm thấy vui mừng thật không đáng vui mừng... mọi thứ đều hư ảo, không chân thực. Đến như bản thân mình cũng chỉ là một đóa phù vân, khi đạt tới cảnh giới này tôi mới biết, thế là “thời thanh xuân” của mình đã cáo chung, chấm hết.
            Nhưng lúc đó tôi đang còn “thanh xuân” trai trẻ, những vật thể dính máu kia cứ làm tôi day dứt và muốn tìm cho ra chân tướng. Cuối cùng đành thỉnh giáo các vị “đầu trâu mặt ngựa”, nhờ tài trí thông minh của tập thể để khai sáng vùng u tối trong tôi. Thế là chúng đã cười đến vỡ trời, khiến quân cách mạng phải bao vây định tàn sát, nhưng khi sáng tỏ ngọn nguồn thì cả “bên ta” lẫn “bên địch” không ai tránh khỏi đau bụng vì cười lâu quá, to quá. Mọi người khen ngợi tôi có công lao tạo nên một khoảnh khắc vui vẻ ngây ngô giữa không khí đấu tranh giai cấp cực kỳ tàn nhẫn. Hơn hai mươi con “hổ sống” vừa nghe tôi tường thuật xong liền ngã lăn trên nền trại lạnh ngắt và hai mươi mấy điệu cười chẳng cần chỉ huy của người nhạc trưởng cứ thế đồng thanh cất lên. Tôi ngơ ngác, lạc điệu giữa một giàn giao hưởng và hốt hoảng, lo lắng vì nhiều tên “đầu trâu mặt ngựa” đã tràn trề nước mắt. Mãi sau, một lão “hổ sống” nhịn cười, bạo dạn, “thưa cán bộ, đó là chuyện của phụ nữ, cô nào, bà nào cũng có... cán bộ không biết hay sao”, lão ta kéo tôi vào một góc tiếp tục giảng bài sinh vật học, tôi gật đầu lia lịa như đứa trẻ vỡ lòng nuốt mọi điều mới mẻ đời cho.
            Hóa ra là như vậy, thế mà tiểu thuyết cũ lại sử dụng cụm từ “thân tử bất phương tiện” (khó ở) hoặc giả “thân tử lai liễu” (tới kỳ), quá lắm mới gọi “chảy đỏ” nghĩa là dám đem cả tứ thơ “hoa lạc thủy lưu hồng” (hoa rơi nước chảy đỏ) đẹp nhường ấy mà gán cho cái sự uế tạp nhường kia. Tôi trách sách xưa ẩn ý hại người, không lộ liễu như ngày nay, đọc là hiểu ngay, chẳng phải tưởng tượng gì cả. Tôi cũng cười hề hề với các thầy tiền bối, vẻ mặt ngây ngô không ra dáng cán bộ chút nào. “Phản bội” nói, điều nghi vấn của “cán bộ” là câu chuyện cười hiếm có trên đời, phạm tôi phải truyền lại cho hậu thế, kẻo mai một đi thì uổng quá. “Đặc vụ” bình luận, chẳng trách mà “cán bộ” cứ vào ra trại cải tạo mãi, bởi vì dấu ấn “ngu xuẩn nhất của kẻ cao quý” hằn quá sâu nơi “cán bộ”. “Phần tử chống cách mạng” thì cho tôi là giả bộ ngu ngơ không biết chuyện đó, chứ ngần ấy tuổi đầu, lại là trí thức sao mà yếu kém thế, song lão khen tôi đóng kịch, chọc cười giỏi thật. “Kẻ hai mặt” từng chịu ơn tôi cho phép lão “sinh hoạt vợ chồng” một lần ngay giữa thanh thiên bạch nhật nên nói năng có vẻ giữ mồm, giữ miệng hơn, “cán bộ” của chúng ta không giả vờ hay đóng kịch đâu, đúng là “cán bộ” chưa biết đó thôi, ở xã tôi có một vị tú tài tuổi đã hơn 30 mà chưa biết “sinh hoạt vợ chồng” là làm chuyện gì, “đọc sách thật quá ư vô dụng!” lão kết luận.
            “Phái đi theo tư bản” chau mày suy nghĩ, lão nói, các vị cười thỏa thích nhỉ, nhưng nào biết đây là một sự kiện quan trọng. Bọn chúng đã xâm phạm tài sản quốc gia, ăn cắp bông băng y tế dùng vào việc riêng tư. Thủ phạm chính là hai con nhóc y tá Tiểu Vương, Tiểu Lý. Hồi mới ra trường về đây nhận công tác, bản thân tôi đã mất công đi làm thủ tục hộ khẩu cho chúng, thế mà giờ lên mặt “tạo phản” hành hạ chúng ta, phải tìm cách chống lại “tạo phản” mới xong. Còn nữa, không khí đang vui bỗng trở nên căng thẳng, cả bầy “hổ” nằm im nghe “chúa sơn lâm” phán. “Phái đi theo tư bản” hạ giọng, nói rất khẽ, phạm tôi xin đề nghị “cán bộ” điều tra tỉ mỉ trong số giấy báo mà họ sử dụng vào việc uế tạp đó có hình ảnh lãnh tụ, “chỉ thị tối cao” hay “lời vàng ý ngọc” nào không. Nếu có, nhờ “cán bộ” thu gom vật chứng, nhân đấy chúng ta sẽ tổ chức phản công chính trị, các vị rõ chưa. Sự nghiệp chống “tạo phản”, sự nghiệp phản công chính trị mà thành công thì cái mũ “hữu phái” trên đầu “cán bộ” sẽ được cởi bỏ đầu tiên, còn chúng ta cũng thoát khỏi thân phận làm trâu làm ngựa như bây giờ. Chẳng ai ngờ sự việc lại nghiêm trọng đến nước này. “Phái đi theo tư bản” quả là có tầm nhìn chính trị, hỏi ra mới biết trước đấy lão từng làm trưởng ban tuyên huấn đảng ủy nông trường, đã một thời đa mưu túc kế mà vẫn không tránh nổi mũi giáo của phái “tạo phản”, chung cuộc trở thành “đầu trâu mặt ngựa” cam chịu đọa đày.
            Sáng hôm sau, tôi lại vác xẻng lên đường vào “phân xưởng” như mọi ngày. Nhưng kể từ thời khắc này tôi vừa quét dọn nhà vệ sinh, phục vụ quần chúng cách mạng, cải tạo thế giới quan, nhân sinh quan “hữu phái” tư sản, vừa thu gom vật chứng cho bầy “hổ sống” và lũ “đầu trâu mặt ngựa” giúp chúng dấy lên cuộc phản công chính trị, chống lại phe “tạo phản”. Nhưng nhiệm vụ “Phái đi theo tư bản” giao phó đã không hoàn thành, chẳng phải do tôi sợ bẩn, ngại khó không làm mà vì quần chúng cách mạng nữ ở đây khá cẩn thận, thắp đuốc cũng tìm không ra hình ảnh, chỉ thị nào cả. Tôi phản ánh tình hình với “Phái đi theo tư bản”. Lão lắc đầu động viên, “cán bộ” hãy cứ kiên trì, nhẫn nại mai phục, ắt sẽ có ngày thành công. Tôi thở dài, “kiên trì, nhẫn nại, thành công”, thế là mình đã vô cớ lao đầu vào cuộc sát phạt và tự nhiên mất dần nỗi đồng tình, thương xót bầy “hổ sống” và lũ “đầu trâu mặt ngựa”. Các người cũng thật giảo hoạt, đa mưu túc kế, chứ chẳng thua kém hay oan ức gì đâu. Sau đó tôi may mắn được chia tay với họ và gặp một người đàn bà kỳ lạ, chân tình hơn tất cả, chị mãi là thần tượng của đời tôi.
 
0
9

            Nhiều năm sau Đài truyền hình trung ương đã truyền trực tiếp tiết mục phỏng vấn tôi tại hiện trường. Người dẫn chương trình yêu cầu tôi phát biểu một câu ngắn gọn nhưng  khái quát được cảm thụ bấy lâu nay về chủ đề “danh nhân hạ hải”. “Hạ hải” là thuật ngữ mới xuất hiện gần đây trong thời cải cách, mở cửa để chỉ những người “xếp bút nghiên đi làm kinh tế”. Tân toan khổ lụy đủ điều, nhưng vì chưa chuẩn bị trước, lại chỉ nói một câu, đến như “vĩ nhân” còn lúng túng, chứ “danh nhân” tôi thì đã ăn nhằm gì. Tôi không có khả năng tinh luyện hàm súc, nay đối mặt với ống kính của nhà quay phim, nghĩ là sẽ trơ mặt lên màn hình, suy đi nghĩ lại âu cũng như một pha quảng cáo và tôi mở mồm nói đại:
            - Muốn đạt được lợi ích lớn nhất cho cá nhân mình, điều đầu tiên là phải đặt nhu cầu của người khác lên vị trí số 1, vì vậy theo tôi, bản chất kinh tế thị trường là loại kinh tế “vì nhân dân phục vụ”!
            Chương trình “danh nhân hạ hải” phát lên song, và tôi nhận được khá nhiều cú điện thoại: hay, câu nói của ông thật là xuất sắc, bỗng chốc đã gắn bốn chữ “kinh tế thị trường” với năm chữ “vì nhân dân phục vụ” thành bộ “cửu tự” dính chặt tựa keo sơn, và nhiều tờ báo, tạp chí sau đó thường viện dẫn “danh ngôn” này, nhưng khán giả và độc giả nào có biết, lúc lâm trận bị dồn tới chỗ chết, vì muốn sống nên mới bật ra như thế.
            Thế rồi sang xuân, quần chúng cách mạng nông trường bắt đầu mở chiến dịch giải phóng cho “đầu trâu mặt ngựa”, người số 1 được thả tự do chính là tôi - con “hổ chết”. Thoát khỏi sự quản chế của đội chuyên chính quần chúng cách mạng, tôi vẫn còn mang mũ “hữu phái”, vẫn chưa trở thành công nhân nông nghiệp chính thức, nhưng đã đỡ hơn nhiều vì từ nay được sống trong xã hội bình thường và làm một người lao động bình thường.
            Điều khiến tôi cảm thấy rất bất ngờ là “ủy ban cách mạng” nông trường đã cho phép tôi về Bắc Kinh thăm mẹ. Từ sự kiện bất quy tắc này mà mãi đến nay tôi vẫn giữ gìn một cảm nhận, dù xã hội có loạn lạc tới mức nào đi nữa, thì con người và động vật cứ khác nhau. Kỳ nghỉ thăm người thân không do tôi đề xuất yêu cầu mà trong lúc cùng nhau lao động trên đồng ruộng, nhân khi tán gẫu, một lãnh đạo nho nhỏ của nông trường ngẫu hứng đã xướng lên “cậu có thể về quê thăm mẹ”, tôi hỏi cần phải làm những thủ tục gì thì anh ta bảo, “viết báo cáo đưa cho mình là đủ”, nói đoạn vị lãnh đạo đó nheo nheo  con mắt. Tôi không hiểu anh ta nheo mắt là có ý nghĩa gì, bởi vì đấy chẳng phải một thói quen, lao tâm khổ tứ mãi mà vẫn tìm không ra lời giải. Sau này khi thần kinh ổn định. tôi mới vỡ lẽ, hơn một nửa động tác của loài người là vô ý thức và tương tự, hơn một nửa suy nghĩ trong đầu óc họ cũng chẳng nên công cán gì.
            Báo cáo xin về quê thăm người thân nhanh chóng được thông qua, phê duyệt, tôi chỉ có ba mươi mấy nhân dân tệ mà cũng đòi leo lên xe lửa đi Bắc Kinh. Đây là số tiền do chư vị “đầu trâu mặt ngựa” kẻ ít người nhiều quyên góp giúp tôi. Hồi còn đang lao động cải tạo, tôi nghe người ta nói ngồi tàu hỏa không cần mua vé, nhưng tôi đã nhầm, đó chỉ là những chuyến tàu của Hồng vệ binh đi kéo bè kết mảng đổ về Quảng trường Thiên An Môn để được nhìn, được nghe Mao Chủ tịch ra chỉ thị, chứ đâu tới mức thỏa mãn mọi nhu cầu của dân chúng. Tuy vậy tôi vẫn yên tâm vững bước, không có tiền nhưng ta có “thời thanh xuân”, nhân viên đoàn tàu kiểm tra đuổi xuống, còn ta cứ thế trèo lên, hơn ngàn cây số hành trình mà phải bảy ngày bảy đêm, cuối cùng thì cũng về tới Bắc Kinh. Tác dụng của “thời thanh xuân” thật quá sức tưởng tượng, chẳng đồng xu dính túi nhưng có thể đi khắp thế gian.
            Các bạn độc giả lượng thứ cho tôi , rằng dưới đây sẽ không kể tình cảnh hai mẹ con tôi đã gặp nhau như thế nào, bởi vì trong cuốn tiểu thuyết “Chết theo thói quen” tôi có viết sơ qua, ngay như ở tác phẩm đó tôi cũng không muốn nói nhiều. Giống như người bạn tốt đã qua đời, tôi cũng phải giữ lại, lưu lại những gì quý báu nhất cho riêng mình. Trong một đời ở giữa nhân gian với bao cảm tình, với bao tao ngộ, thế nào mà không có lấy một chút tài sản tinh thần tư hữu từng gắn chặt vững bền cùng số phận, nó chính là chùm rễ của cây đời, nếu bộc lộ ra ngoài, nếu bật lên tất cả thì còn gì là nhựa sống. Nhà văn nào đem bán hết chùm rễ quý báu kia, là có nghĩa ông ta bà ta đã “lão lai tài tận”, và ngày khô héo chắc chẳng còn bao xa. Tôi có hơn nửa đời người chìm đắm và chính mẹ là nguồn lực giúp tôi ngoi lên. Tôi treo tấm hình bà bồng tôi lên vách thư phòng. Trong hình bà mỉm cười như đang nói với tôi: “viết đi con”.
            Từ một mệnh phụ quý phái, mẹ tôi luân lạc trở thành bà già hè phố sống qua ngày nhờ đôi bàn tay thêu đan, may vá nhưng vẫn giữ phong độ cao sang, văn nhã. Tôi nghĩ, nền giáo dục cao đẳng trong xã hội cũ đã giúp bà chịu đựng bao nỗi chà xát, giằng xé của cuộc đời. Mẹ tôi vóc người thấp gầy như thanh củi nhưng mang trên mình cả một nền văn hóa, dù đã hóa thạch cũng khiến người đời chiêm ngưỡng. Bà là pho tượng của nền văn minh quý tộc, chói ngời ánh sáng của  những ngày qua mà giờ đây khó có thể tái hiện, thứ ánh sáng càng lâu càng lấp lánh. Cùng với mẹ chưa qua nổi ba  ngày đoàn tụ, hoan lạc thì tôi bị cái  gọi là “tổ trinh sát tuần tra chân nhỏ” bắt giam. Thuật ngữ “tổ trinh sát tuần tra chân nhỏ”  phải là một mốc quan trọng trong cuốn từ điển “văn cách”, điển hình rõ nét của nền thống trị chuyên chế mà bất kỳ lỗ hổng nhỏ nào cũng không bỏ qua. Nó gồm những bà, những cô mù chữ thuộc “ủy ban dân phố” có cái quyền bắt người ngay giữa thủ đô Bắc Kinh, chẳng cần lệnh lạc gì cả, miễn là họ tình nghi. Họ giống như những con chó cảnh sát, ngày đêm ra sức lùng sục, bắt được ai là giao lại cho công an , và công an đã nhốt chung tất cả đàn ông đàn bà bị tình nghi vào một nhà ngục chờ gọi tên tra khảo, xét xử. Chưa có lúc nào, nơi nào trên thế giới lại bày ra cái trò giam giữ hổ lốn gái trai như thế này.
            Nơi tôi bi giam thuộc khu vực phồn hoa, đô hội nhất của Bắc Kinh - hai tứ hợp viện (kiểu nhà điển hình ở thủ đô Trung Quốc, bao gồm bốn căn nam bắc tây đông, chung một vòng tường, thường mở cổng ra vào tại góc cung tốn - ND), nguyên là phủ đệ một đại quan nhất phẩm đời nhà Thanh. Đây đáng lẽ phải trở thành di tích, thể hiện đầy đủ nền văn minh phố phường cổ Trung Hoa, giờ lại là nhà ngục, hơn 40 nam nữ “phạm nhân” chen chúc nhau trong một căn phòng rộng khoảng 30 mét vuông, cùng đại tiểu tiện vào một thùng sắt, lúc nào đầy thì “phạm nhân” trực ban khệ nệ xách ra đổ ở nhà xí phía sau. Cho tới bây giờ tôi vẫn chưa sáng tỏ, là hồi ấy phòng giam không đủ, hay người ta cố ý nhốt chung trai gái nhằm thể hiện quan điểm “nam nữ bình đẳng” mà “cải tạo triệt để” chúng tôi. May cho tôi đã thụ giáo bài sinh vật học thường thức do các thầy “đầu trâu mặt ngựa” dạy dỗ, nếu không thì sẽ vô cùng kinh ngạc, ngơ ngác trước nhiều pha “hoa lạc thủy lưu hồng”. Các chị, các bà, các cô chẳng xấu hổ mà tự nhiên hành xử trước bao nhiêu con mắt không còn có chỗ nào nữa để mà nhìn, để mà tránh. Tội nhất là trong số “phạm nhân” đó có khá nhiều thiếu nhi 14, 15 tuổi, không hiểu “thời thanh xuân” sau này của chúng rồi bị ảnh hưởng ra sao.
            Tôi muốn nhanh chóng kết thúc đoạn văn này và cũng giống như nhiều nhân sĩ, học giả khác, tôi chẳng đành lòng bới ra những gì xấu xa của “văn cách”, những gì làm mất mặt dân tộc Trung Hoa mà dân chúng Trung Hoa không phải là người chịu trách nhiệm. Năm ngày sống trong nhà giam kiểu đó, chẳng cần ai gọi tên, chẳng cẩn ai tra khảo thì đã đủ khổ ải lắm rồi bởi mùi xú uế, bởi cảnh trần trụi, và ngày ngày đều cùng nhau hát vang hai ca khúc “Đông phương hồng” và “Ra khơi nhờ tay lái vững”. Người chỉ huy là một cô gái thuộc “đội tuyên truyền công nhân” yêu cầu chúng tôi mở mồm theo nhịp tay của ả. Hát cả ngày từ sáng đến tối, ai có nhu cầu đại tiểu tiện hay gì gì đi nữa thì cứ tự nhiên trong một mớ âm thanh hỗn độn làm “nhạc đệm”, người bên ngoài chắc tưởng chúng tôi trong này vui vẻ lắm, nào có hiểu đó là một kiểu tra tấn.
            Tôi là “tai tinh” của mẹ và mẹ là “cứu tinh” của tôi. Bà cụ luôn luôn xuất hiện những khi tôi gặp khó khăn trở ngại nhất. Lần này vẫn thế, ngày ngày hai bữa đưa cơm cho tôi, tôi và vào miệng những miếng cơm nấu từ gạo cao lương đỏ, kèm vài cọng rau xanh, rau vàng, còn bà đứng ngoài cửa nhìn con, điềm đạm như ngày nào đến trường nghe người ta khai trừ, đuổi tôi. Giờ đây nhớ lại tôi không thể nào đoán được lúc ấy tựa cửa, chăm chú, dõi theo một thằng con đã thân bại danh liệt, hơn 30 tuổi rồi mà chưa thoát cảnh trầm luân bà nghĩ những gì. Với tôi, qua những bước dày vò tra tấn. bị đuổi học, bị lao động cải tạo, bị tổ chuyên chính quần chúng cách mạng quản chế và bây giờ lại bị tổ trinh sát tuần tra chân nhỏ bắt giam, thì bà xem đó như đứa trẻ tập đi, có vấp ngã mới biết đứng dậy rồi tiếp bước, bà không hề tỏ ra kinh ngạc và trách cứ tôi điều gì. Tương tự, tôi cũng chưa từng nghe mẹ mình oán thán hay hờn dỗi với ai. Bà rất mong đất nước phú cường. Bà không ngờ văn cách lại tồi tệ đến thế nhưng cứ vẫn âm thầm chịu đựng. Bà đứng ngoài cửa sổ dặn tôi, nếu được thả tự do trở về nông trường thì hãy nhanh chóng ổn định nơi ăn chốn ở, nhất là việc làm. Bà sẽ lên đấy cùng tôi, “sống cuộc đời của người dân lao động”. Bà nói thuở nhỏ ở nhà quê nên rất thích nuôi vịt, nếu trên nông trường có điều kiện bà sẽ nuôi một con mèo. Bà rất ngây thơ cho rằng nông trường là cõi đào nguyên. Tất nhiên là tôi không dám làm bà cụt hứng kể cho bà nghe nông trường có nhiều “hổ sống”, “hổ chết”, và nhất là cơ man bao anh hùng đả hổ.
            Mãi sau này tôi mới rõ vì sao mình lại bị công an giam năm ngày cùng chung với phụ nữ, năm ngày đại tiểu tiện chẳng phải xấu hổ là trai hay gái, ai có nhu cầu cứ thế tự nhiên công khai mà giải quyết. Nguyên nhân chủ yếu là mẹ tôi trong năm ngày mới chạy đủ tiền mua vé tàu hỏa cho con mình rời Bắc Kinh trở về nông trường. Từ đó tôi không đồng ý với cách nói “văn cách” gây tổn thất cho nhà nước, kỳ thực thì những tổn thất ấy đã phân bổ lên đầu bách tính, cơm ăn cho phạm nhân gia đình phạm lo liệu, vé tàu xe tống khứ phạm nhân sau khi phóng thích vẫn gia đình phạm đi mua, thậm chí vô phước bị hành quyết, gia đình đã mất người thân lại còn phải thanh toán tiền súng đạn. Chiều hôm ấy mẹ tôi nộp đủ 21 đồng 8 hào lên công an thì ngay sáng hôm sau bốn tiểu tướng đeo băng đỏ áp giải tôi ra ga xe lửa tống lên tàu. Lúc đó những người lao động bắt đầu đi quét đường. Ngang qua nhà, nhìn lên khung cửa đèn vẫn chưa bật sáng, tôi đành im lặng để mẹ ngủ thêm chút nữa, nào ngờ đấy là lần mẹ con tôi mãi mãi xa nhau. Trưa đến, mẹ tôi đưa cơm và mới biết con mình được phóng thích trả tự do, bà về nhà, trù tính chuyện mai mốt lên nông trường nuôi mèo, nuôi vịt...
            Tiếp sau đây là đoạn kể về người đàn bà ấy, chị xuất hiện và hai lần kích thích khiến “thời thanh xuân” cua tôi trỗi dậy, quay cuồng, rồi tắt ngấm.
            Nhưng có lẽ xin nói nốt chuyện bốn tiểu tướng, hai nam, hai nữ áp giải tôi ra ga lên tàu. Lúc bấy giờ nhà ga còn vắng hoe, tôi đi giữa bọn họ xuyên qua đường hầm âm u, ánh đèn mờ ảo, không một bóng người. Đến khoảng nửa đường hầm thì bỗng bốn tiểu tướng dừng lại, chẳng rõ chúng bàn bạc chuyện gì. Tôi vẫn đi vì không nghe lệnh lạc nào khác, chỉ mơ hồ cảm nhận có tiếng lào xào phía sau. Tôi cứ tưởng bọn họ tiểu tiện bởi vì năm ngày qua quá quen với loại âm thanh này, nào ngờ một thắt lưng da đầu gắn khuy đồng phang vào đùi tôi cái đốp làm tôi tê dại cả người.
            Bị đột kích bất thần, “thời thanh xuân” của tôi bỗng dâng lên tức khắc, máu nóng trào sôi, toàn thân rậm rật, nhưng không phải xông vào đè người khác giới như một con dã thú để thỏa mãn tình dục, mà quay lại và với sức mạnh của con beo, con sói quần thảo cùng lũ tiểu tướng Hồng vệ binh. Thắt lưng da thứ hai quật xuống định nhắm vào đầu tôi nhưng nhanh như cắt tôi giơ tay tóm gọn, kéo ngã thằng kia lăn kềnh ngay dưới chân mình, thừa thế tôi hét lớn:
            - Người anh em muốn chơi phải không, hãy cột cả bốn nhóc lại với nhau, tao chỉ cần một tay là bọn bay lật nhào. Không tin ư, cứ đợi đấy! Chúng mày biết tao là ai không, tao là phần tử chống phá cách mạng, kiên quyết chống phá cuộc cách mạng của chúng mày, vẫn chưa tin ư, nào, hãy thử sức, nhảy vào.
            Bốn tiểu tướng thấy tay tôi cũng có thắt lưng da, động tác rất lão luyện mà thần sắc lại vô cùng hung dữ chẳng khác gì con voi đực rượn cái chực ào ào nhảy tới, nên lập tức co vòi, đồng thanh đọc kinh cầu hòa:
            - Có ai đánh anh đâu, xin anh bớt giận, xin anh bình tĩnh, thật là sau ót anh mọc thêm con mắt. Thôi chúng ta đi tiếp, không đánh đấm gì nữa.
            Tôi thực sự đau lòng vì “văn cách” đã luyện rèn, đã đào tạo nên lớp hậu thế non gan nhụt chí như thế, thua hiệp đầu là cụp đuôi luôn,.mất vũ khí chỉ đứng nhìn không màng đoạt lại. Trong khi đối mặt cùng bọn chúng, tôi bắt gặp ánh mắt sắc tựa dao của một nữ tiểu tướng, khoảng mười tám đôi mươi với khuôn trăng thanh tú và vóc người rực rỡ xuân thì. Hình như cô bé thu nhận được sóng điện có cùng tần số “thời thanh xuân” nơi tôi vừa phát ra nên phần nào rạo rực, rồi cúi đầu, bẽn lẽn mân mê đuôi tóc tết dài xuống tận eo. Tôi quyết không tha cô bé “cừu non”, và cứ thế nhìn chằm chằm vào mắt, vào mặt, vào ngực “kẻ thù” mà phán, để phần nào giải thoát bớt sức “thanh xuân” đang vô cùng thừa thãi:
            - Thôi được, ta đi việc ta - tôi hạ hỏa, xuống cấp “tao” thành “ta” - người anh em đi việc của mình và hãy nhớ ta đã từng một tay địch nổi tám quần chúng cách mạng. Sáng nay vội lên tàu, ta tha cho người anh em - nói đoạn tôi vứt thắt lưng da trả bọn chúng và hét như ra lệnh - Đi!
            Tôi leo lên tàu một cách thản nhiên như chẳng có chuyện gì xảy ra, chọn một chỗ bên cửa sổ và an tọa, thở phào nhẹ nhõm, nhưng ngoảnh lại thì thấy bốn tiểu tướng kia chia ra bốn chỗ và cũng ngồi ngay phía sau tôi, chúng nó đi đâu nhỉ, tôi tự hỏi. Đợi cho hành khách ngồi kín chỗ trong toa, thậm chí có người còn trèo lên và nằm trên dàn hành lý thì bỗng bốn tiểu tướng cùng đồng thanh hô vang một tiếng “bắt đầu”, cô bé có bộ mặt đẹp gái đứng hẳn trên ghế, tay giơ cao cuốn sách đỏ, rồi cất giọng thánh thót:
            - Thưa các đồng chí hành khách, xin mọi người chú ý, bây giờ chúng ta bắt đầu học lời Mao Chủ tịch - cô bé mở sách đỏ và đọc như một con vẹt - “Phàm là bọn phản động , anh chị không đánh nó thì nó không chịu thua đâu, cũng như chúng ta quét nhà, chỗ nào chổi không quét tới thì bụi bặm rác rưởi vẫn cứ nằm im”. “Làm cách mạng không phải là mời tiệc, không phải là viết văn, không phải là vẽ tranh thêu hoa, không thể nhã nhặn, lịch sự, không thể ôn tồn, ung dung, không thể kính trên, nhường dưới... Cách mạng là bạo động, là giai cấp này lật đổ giai cấp kia một cách mạnh mẽ, quyết liệt”... Các đồng chí hành khách, các đồng chí có nhìn thấy thằng cha phản động, bất hảo này không? - Cô bé đứng sau tôi và dùng ngón tay trỏ trắng nõn, thon thả, búp măng dí lên đầu tôi mấy cái và nói tiếp - Mọi người hãy nhìn bộ mặt nham hiểm của nó, nó là phần tử phản cách mạng hoạt động bí mật. Một mình nó đã đánh chết tám quần chúng cách mạng của chúng ta. Mấy ngày trước đây nó trốn về thủ đô hòng phá hoại “Đại cách mạng văn hóa” vĩ đại của chúng ta, may nhờ quần chúng cách mạng tóm được, nên nó chưa hành động gì cả. Hôm nay Hồng vệ binh tống nó lên tàu, giải về địa phương trừng phạt. Tôi đề nghị các đồng chí hành khách hãy nâng cao tinh thần cảnh giác, hãy canh chừng nó. Đó là quyền lợi của chúng ta. Hãy lau cho sáng mắt mà nhìn nó, không cho nó kéo bè kết mảng, âm mưu chống phá cách mạng, các đồng chí nghe rõ chưa?
            Cô bé có bộ mặt thanh tú giỏi thật, mới đó mà đã sáng tác được câu chuyện giật gân. Cô ta nói đi nói tại vài lần và trọng tâm không quên xoay vào tình tiết “đánh chết tám quần chúng cách mạng”. Khi cô bé mở sách đó đọc lời Mao Chú tịch thì hơn 200 “đồng chí hành khách” trong toa xe cứ rào rào như ong vỡ tổ, chẳng ai buồn nghe, nhưng tới đoạn “đánh chết tám quần chúng cách mạng” thì bỗng im bặt. Mọi người nhìn chăm chăm vào tôi để trông cho rõ bô mặt hung thần của một tay phản động, rồi bàn tán xôn xao. Đám tiểu tướng đọc xong lời Mao Chủ tịch, vạch trần xong “tội ác” của tôi và liền hô khẩu hiệu “cách mạng tới cùng”, “Mao Chủ tịch muôn năm”, đoạn nhảy xuống sân ga để lại bốn chỗ trống, khiến các “đồng chí hành khách” tranh giành, chửi nhau chí chóe.
            Đoàn tàu lăn bánh và tôi trở thành chủ đề để mọi người “nhàn cư” thảo luận, giết thời gian ngồi không lắc lư. Bọn nhóc nói bậy, một mình đánh chết tám quần chúng cách mạng, sao cách mạng không đem ra xử bắn mà lại cho phép nó ngang nhiên đi lại. Nói bậy thế nào, nhóc đeo băng đỏ, là Hồng vệ binh, là tiểu tướng.cách mạng, là đại diện của lãnh tụ, có vu oan giá hoạ cho ai bao giờ. Ông chẳng thấy thằng cha phản động ngồi im thin thít. Tốt nhất hãy tránh xa nó ra, nhìn kìa, mặt sắt da chì, trông mới dễ sợ làm sao,  nó mà khùng lên thì khối người nộp mạng. Hay là báo cáo nhân viên toa xe, trói nó lại, phòng ngừa tai họa đổ lên đầu các “đồng chí hành khách”. Bốn ông bà tiểu tướng cách mạng thật chẳng có tinh thần trách nhiệm chút nào, không chịu giải nó tới cùng, giữa chừng đùn đẩy cho chúng ta, không may xảy ra vấn đề thì ai phụ trách giải quyết đây?
            Người đàn bà ngồi cạnh tôi nghe hãi quá bèn đổi chỗ cho tay đàn ông đồng hành, anh ta run cầm cập, tránh tới nửa bàn mông, dọc đường chẳng quay mặt nhìn thẳng tôi. Tôi tức, tôi buồn và tôi cười một mình. Lũ nhóc thật nham hiểm. Chẳng rõ ai dạy chúng như vậy, đánh úp tôi không xong lại bày trò bôi nhọ, nói xấu. Vô lẽ tôi đứng dậy thanh minh, không, thưa các đồng chí hành khách, tôi là nhà thơ. Nhà thơ còn quá hơn phản động! Tôi cũng không thể hô hoán bọn nhóc nói bậy, chúng mặc quân phục màu xanh lá cây, chúng đeo băng đỏ, đó là phù hiệu của một loại quyền lực đặc biệt, hiện đang chiếm ưu thế tuyệt đối trên chính trường và bản than tôi lại thuộc loại phạm nhân lao động cải tạo vừa được phóng thích, nghĩa là đáng tội lắm rồi, còn định già mồm gì nữa. Tôi bỏ ngoài tai tất cả và nghĩ nhiều về mẹ, giờ này chắc bà đã biết con mình vừa rời khỏi Bắc Kinh.
            Sau này mỗi bận trở lại thủ đô, tôi bất giác nhớ tới bọn nhóc. Thời ấy chúng có mặt khắp nơi đầu đường xó chợ, cùng đám phụ nữ trinh sát tuần tra chân nhỏ và công an vây ráp bắt người. Giờ thì chúng đã lớn, cũng khoảng 40 tuổi cả rồi, đều trở thành lực lượng chủ công của xã hội. Chẳng rõ họ có cho rằng “xứng danh tuổi trẻ”, “không hổ thẹn với thanh xuân” và chẳng rõ họ có giống như tôi thường cảm nhận vầng dương “thời thanh xuân” là rực rỡ nhất. Những năm tháng cách mạng hồi đó rất có thể là thời kỳ đẹp đẽ nhất trong cuộc đời của họ, vừa đúng tuổi thanh xuân. Từ các trường trung học, họ được “Đại cách mạng văn hóa của giai cấp vô sản vĩ đại” kích lên, thổi bùng, rồi dương uy diễu võ, rồi tác oai tác quái, học cách hại người bằng mưu chìm, mưu nổi, học cách mặt chẳng biến sắc, lòng chẳng âu lo, đặt điều vu oan giá hoạ. Bản lĩnh cao cường nhất của họ là sử dụng những ngôn từ thời thượng để áp đảo, hãm hại nhân tâm. Xã hội chuyển sang thời kỳ mới, bọn chúng - lũ nhóc và đám đàn bà kia đành im hơi lặng tiếng. Có thật là bọn chúng đã tiêu tan trên thế giới này? Tôi thường suy ngẫm như vậy. Tất nhiên lúc bấy giờ tôi chưa nghĩ gì nhiều lắm, chỉ tiếc là đã gây bao phiền phức cho mẹ trong lần về thăm quê năm đó. Nhớ nhau từ xa đôi khi lại trở thành niềm an ủi, xáp mặt rồi lắm lúc quá bi thương. Tôi quyết tâm về tới nông trường sẽ xin cho được một căn nhà đất, rước mẹ lên nuôi vịt, nuôi gà. Tôi tin chắc rằng mẹ con tôi thực hiện được ước mơ nho nhỏ này.
            Tuy bị bôi nhọ, sỉ nhục trước đám đông dân chúng, bị một cô bé dậy thì, hé nở “thời thanh xuân”, dùng ngón tay dí lên đầu làm cho điên đảo, nhưng suốt cả hành trình từ Bắc Kinh đến nông trường tôi không còn lo soát vé. Cũng may mà lúc bốn tiểu tướng nhảy khỏi tàu đã không quên vứt nó vào mặt tôi. Đó là những đồng tiền cắc bạc mẹ tôi phải chạy đôn chạy đáo cả năm ngày mới nộp đủ cho công an và tôi được thả tự do. Con tàu vẫn lắc lư lao về phía trước, càng lúc càng xa Bắc Kinh. Các “đồng chí hành khách” không bàn cãi gì nữa về nhân vật phản động “một mình đánh chết tám quần chúng cách mạng”, nhưng thỉnh thoảng cứ xem chừng tôi động tĩnh ra sao. Tôi cố nhắm mắt thiếp đi cho đỡ mệt mà không tài nào ngủ được, bụng cồn cào dữ dội vì từ mờ sáng tới giờ chưa có lấy một giọt nước nào rót vào trong đó. Mọi người đua nhau mua cơm hộp, ăn ngon lành, trong khi tôi vẫn ngồi bất động, chẳng còn nước miếng nữa để mà nuốt cho khỏi thèm . Tôi nhớ mẹ, buổi chia tay không được một lời chào, tôi nghĩ đến cảnh bị đánh, bị làm nhục, bị nghi ngờ và bây giờ bị bỏ đói mà tự than, sao nỗi khổ cứ dày vò tôi mãi, và còn dày vò tới tận lúc nào đây? Cứ cho là số phận thử thách khảo nghiệm ta thì ngần ấy chưa đủ, chưa là cực hạn hay sao? Đời định đúc rèn ta trở thành con người chân chính hay cố tình đùa giỡn, trêu ngươi, vò nát ta như một phế vật? Tôi muốn được là Chúa Giêsu trên cây thánh giá, ngẩng đầu nhìn trời, và kêu lên “Thượng đế, sao người nỡ bỏ con”.
            Tôi ngồi lì, mắt thao láo nhìn ra ngoài ô cửa. Mọi cảnh vật vội vã lướt qua, chẳng rõ thế giới này gấp gáp đi về đâu. Chỉ mỗi con tàu là có mục đích, còn tôi thì tiền đồ mù mịt Tôi có cảm giác một ngoại lực nào đó đang rút khô thân thể, toàn bộ sinh mênh đã tách lìa khỏi xác, còn lại thị giác là cả thế giới mà thôi. Nhưng thế giới bỗng tối sầm mặt xuống, tôi thấy mình qua phản chiếu từ tấm kính ô cửa, mới xấu xí làm sao. Tôi quay đầu lẩn tránh và biết rằng một ngày vừa qua, màn đêm đã phủ. Ngay lúc ấy có cái gì đó chạm vào chân tôi, hóa ra ngồi đối diện với tôi là người phụ nữ đôi mắt tròn xoe. Đôi mắt như biển hồ lai láng, quyến rũ tôi hãy nhảy xuống và chỗ sâu thẳm nhất của lòng hồ mới là nơi lánh nạn, an nghỉ tuyệt hảo cho tôi. Đặc trưng đôi mắt của chị là không thuộc thế giới này, nó sáng như mắt mẹ tôi, nhưng lại quan hoài, thân thiết theo một kiểu khác. Chị nháy mắt ra hiệu, cổ vũ tôi hãy ăn đi và cứ thế nhìn tôi ngấu nghiến nhai từng mẩu bánh, càng lúc chị càng vui, càng lúc mắt chị càng sáng. Ánh mắt chị như bàn tay vuốt ve mân mê khiến cả đời tôi chưa hề có bữa ăn nào ngon lành, mãn nguyện đến thế. Sau này đi khắp thế gian tìm kiếm một bữa ăn tương tự nhưng chẳng bao giờ gặp, mới hay hạnh phúc chỉ đến một lần. Như vậy là đủ lắm rồi, nếu quá thừa thãi sẽ làm ta nhàm chán. Ăn xong chiếc bánh, tôi nhìn thấy chị cười, nụ cười vô cùng kỳ lạ khiến “thời thanh xuân” của tôi trỗi dậy và bỗng muốn cùng chị “sinh hoạt vợ chồng”, đêm nào ngày nào cũng “sinh hoạt”, “sinh hoạt”, dẫu biết rằng loại “sinh hoạt” đó rất là vô vị. Tôi ăn bánh ngon lành, những động tác cắn nhai ngấu nghiến khiến người đàn ông ngồi bên cạnh thể hiện tinh thần cảnh giác cách mạng. Ông ta nhìn tôi một cách trực diện, lộ rõ bộ mặt chuột chù, dò la, xét nét, nhưng vẫn sợ phần tử phản động “một lúc đánh chết tám quần chúng cách mạng”. Tôi lườm hắn một cái để tự do quay sang nhìn chị, hàm ơn. Tôi xếp tờ giấy gói chiếc bánh phẳng phiu ngay ngắn, mân mê vuốt ve nó như với làn da người con gái. Chị xấu hổ cúi đầu, đợi tới lúc tôi trân trọng cất nó vào túi trên thì chị tươi cười và chỉ có tôi mới nhìn thấy chị nhè nhẹ nghiêng chào. Tôi bay lên, bay cao nhờ mẩu bánh của chị, nhờ nụ cười của chị. Tôi chửi bới thế giới này nhưng lại thiết tha ôm nó vào lòng, có lẽ là vừa có chị.
            Chị xuống tàu trước tôi mấy ga và tôi nhớ mãi địa đanh Ngũ Nguyên, nơi chị chia tay tôi bằng ánh mắt, nụ cười, rồi nhanh chong mất hút giữa nhân sơn nhân hải. Ngũ Nguyên - sau này nhớ lại, gặp lại là trong tôi bỗng hiện lên hình ảnh chị, người đàn bà cứu sống tôi, đưa hồn tôi trở về với xác và mạnh mẽ hơn nữa, đã kích thích “thời thanh xuân” của tôi trỗi dậy, tự dưng ham muốn được “sinh hoạt” một lần. Tất cả những gì trên toa tàu đều là hư ảo, đều là tưởng tượng, chuyện “sinh hoạt” thực sự còn ở phía sau, đôi ba năm nữa, nhưng cũng chỉ được một nửa, thế mới thảm thương, tội nghiệp.
            Tôi đã xin được một căn nhà, định bụng sẽ đưa me tôi lên cùng sinh sống với nhau, nhưng cụ đột ngột qua đời. Tôi buồn chán, làm anh nông trường viên độc thân mà thiên hạ chế giễu “trên giường chẳng có người đàn bà nào chờ đợi”. Về mặt chính trị, quần chúng cách mạng đã xem tôi như người bình thường, nhưng xếp tôi vào lực lượng lao động đặc biệt, sống giản dị, làm giản dị, làm việc giỏi, tôn trọng kỷ luật và không bị phụ nữ quấy rầy, giao nhiệm vụ gì, hoàn thành nhiệm vụ đó, vì vậy mà nhanh chóng trở thành công cụ công cộng của mọi người. Tổ trưởng sản xuất của tôi là một quân nhân phục viên, tôi chưa hề thấy anh ta vác cuốc xẻng lên vai, chỉ kéo lê thê trên mặt đường đi đến đâu là kêu “leng keng” tới đó. Bốn mùa xuân hạ thu đông chẳng bao giờ anh tổ trưởng của tôi cài khuy áo, cứ phanh ra như đôi cánh bay bay, vì thế dân nông trường đặt cho biệt hiệu “Chim sẻ”. “Chim sẻ” thích dùng ngôn ngữ chính trị để nói đùa, kể chuyện tiếu lâm, được cái đối đãi với mọi người rất trực tính, không vòng vo, ngụy tạo. Một hôm “Chim sẻ” bảo tôi, mình muốn đưa bà xã về làm việc chung một nhóm với cậu. Tôi hỏi vì sao, “Chim sẻ” chẳng hề giấu giếm mà rằng, để cậu làm bớt việc cho mụ ta, tôi chửi thề, chỉ giỏi lợi dụng. “Chim sẻ” cười khì: - Làm quan có quyền, không sử dụng thì quyền sẽ trở thành phế liệu. Tớ tuy là quan bé, nhưng vẫn có cái quyền nắm trong tay một công cụ như cậu.
            Quả nhiên ít lâu sau, “Chim sẻ” ton hót với ông đội trưởng như thế nào đó mà ông ta điều động vợ “Chim sẻ” đến làm việc cùng một nhóm với tôi. Ngày ra đồng đầu tiên, “Chim sẻ” tuyên bố kể từ hôm nay vợ anh và tôi sẽ kết thành đôi “một giúp một”. Thời ấy đang thịnh hành những cách nói “đôi hồng một giúp một”, “triển khai tốt hoạt động trao đổi tâm tình”, “phải đấu tranh với tư hữu và chống chủ nghĩa xét lại”, cho nên “Chim sẻ” thuận mồm:
            - Và nhân thể giám sát luôn “Lão hữu” - vừa dứt lời “Chim sẻ” vội vàng thanh minh - nói đùa cho vui, mong “Lão hữu” đừng để bụng, nào tất cả hãy bắt đầu làm việc.
            Vợ “Chim sẻ” ngồi trên bờ ruộng nhoẻn miệng cười, mắng chồng “rõ vớ vẩn” rồi quay lại nhìn tôi. Chị chàng chưa tới 30, khuôn mặt đoan chính, đôi mắt to và sắc, khiến tôi nhớ tới người đàn bà cùng một toa tàu dạo ấy. Sau này mới biết chị cũng là người vùng Ngũ Nguyên, sinh ra ở cái nơi có tên gọi khá đặc biệt “Bạch Ngạn Hoa”. Chị còn kể cho tôi nghe, quê chị có nhiều gái đẹp “khuôn mặt bầu bầu, lông mày cong cong, lưng ong thắt thắt, cái bụng bằng bằng, bộ ngực ưởn ưởn, cặp mông vênh vênh”, nói tới bộ phận nào chị vuốt nhẹ lên bộ phận đó trên thân mình để minh họa một cách rất sinh động và hấp dẫn. Chị hoàn toàn phù hợp với các tiêu chuẩn nêu trên, nhất là ba khoản “thắt thắt, ưởn ưởn, vênh vênh”, sao mà giống như ba vòng đo tuyệt mỹ nơi hoa hậu ngày nay vậy. Tôi đã sang tận Paris ngắm nhìn bao người mẫu, nhiều cô đâu có “thắt, ưởn, vênh” như chị.
            Cùng chung đôi “một giúp một” với chị, tôi mệt nhoài. Người ta khoán cho mỗi đôi đào 40 thước mương, một mình tôi còng lưng làm tất, chị chỉ đứng trên bờ lấy xẻng đập đập sửa sửa, rồi chống cuốc ngó đông, ngó tây, luôn mồm hỏi “Mấy giờ rồi Lão hữu?”. Nhưng hễ nghe còi báo hiệu giải lao thì chị như chết đi sống lại và nằm dài ê a vài khúc “nhị nhân đài”, dân ca Ngũ Nguyên, mà ca từ tôi chẳng hiểu gì cả. Lần nọ tôi khen chị hát hay và hỏi ý nghĩa của lời ca, chị nói, chỉ để giải sầu, nghĩ sao hát vậy, theo làn điệu mà biên soạn ca từ chứ có ý tứ gì đâu. Tôi đồng ý làm hết việc cho cả đôi, còn chị có nhiệm vụ hát “nhị nhân đài”. Chị hào hứng: Thế thì tôi sẽ giải sầu ngay cho “Lão hữu”. Thế là chị ta cười và cất giọng:
                        Anh ơi làm cho giỏi.
                        Để em đứng nhìn anh,
                        Anh mà có buồn tình,
                        Sẵn em đây anh cứ
                        Vứt hết cuốc hết xẻng,
                        Nhảy lên bờ với em,
                        Một tấm thân trắng ngần,
                        Anh thích đâu dòm đó.
            Chị vừa hát vừa cười, tôi lắc đầu đáp lại : Chị khéo quá chị ơi, cứ đứng trên ấy mà nhìn, còn tôi chẳng dám nhảy lên dòm ngó gì hết. Chị cười như nắc nẻ và tiếp tục hát “giải sầu” cho tôi:
                        Tội gì mà không cười
                        Tội gì mà không dòm,
                        Chỉ một tý xíu thôi,
                        Sao anh lại ngốc thế?
            Chị có ba mặt con với “Chim sẻ”, công việc gia đình bao nhiêu thứ linh tinh níu chân níu tay chị, vì vậy sáng nào chị đi làm cũng trễ. Tôi đã hoàn thành được hơn nửa phần khoán cho cả đôi thì mới thấy bóng dáng chị. Được cái lúc ấy chị tỏ ra nhận lỗi đến chậm nên đã khiến tôi mát lòng mát dạ đúng như lời chị ca “anh ơi làm cho giỏi, để em đứng nhìn anh”. Tình thực thì chị là quần chúng cách mạng, còn tôi vẫn hữu phái chưa cởi mũ, về cấp bậc chị trên, tôi dưới, đi trễ thế, chứ còn trễ nữa tôi cũng không có quyền xét nét. Nhưng hôm ấy đôi chúng tôi được phân công dọn phân chuồng ngựa, mặt trời lên đến đỉnh đầu, công việc lại bề bộn chưa làm được bao nhiêu thì chị chàng mới vác xẻng dẫn xác tới. Tôi thực sự tức giận, càu nhàu: Chị nghỉ luôn hôm nay đi. Chị nhoẻn miệng cười, vuốt lên tấm lưng trần của tôi mà rằng:
            - Lão hữu thông cảm cho em, ngày nào cũng vậy, “Chim sẻ” đều đòi “ấy” một cái vào buổi sáng thì mới dậy nổi, Lão hữu đang độc thân chưa biết, nếu có vợ thì cũng thế thôi.
            Tôi đang nóng như lửa bỗng xẹp ngay, cười xòa, khen cho chị giỏi đối đáp và khéo vận dụng ngôn ngữ, trơn tru, rõ ràng. Tôi học cách nói dân dã của chị và hỏi lại:
            - “Chim sẻ” đòi “ấy” chị, nhưng chị không cho hắn “ấy” thì vẫn được chứ sao, lao động sản xuất để có công điểm và chuyện lăng nhăng ấy, cái nào quan trọng hơn?
            - Thế là Lão hữu thực sự đã “hữu phái” cả trăm phần trăm rồi, không hiểu gì bên “phía tả” chúng em. Làm thân con gái đàn bà, phải phục vụ đàn ông mọi lúc mọi nơi, cho chồng và cho cả thủ trưởng... nữa cơ, Lão hữu ạ.
            Bài giảng của chị khiến tôi lập tức nhớ tới ví dụ thực tế ở nông trường cải tạo, chả trách mà cô vợ “Kẻ hai mặt” chẳng xấu hổ, giữa thanh thiên bạch nhật, lại có người khác chứng kiến mà vẫn ngang nhiên ngã mình lên bao gai thô tháp, sẵn sàng cho chồng “sinh hoạt”.
            - Mà cũng không thể chỉ trách mỗi “Chim sẻ” - chị chàng bổ sung - đêm ngủ đẫy giấc, sáng ra nhiều lúc em thấy thích thích, nên đã chọc “Chim sẻ” “ấy” mình một cái. Kẻng đánh, vác cuốc đi làm, tươi tỉnh hẳn lên, những hôm đó lao động rất năng suất, kết quả công điểm lại cao. Chuyện lăng nhăng mà Lão hữu phê bình em đôi khi quan trọng đáo để.
            Nghe chị ta kể, tôi cười hết cỡ, suýt nữa ngã xuống đống phân ngựa. Lão hữu tôi phục bà chị lắm lắm! Phục em cái nỗi gì? Chân thành.
            - Chân thành khai báo vì sao đi làm trễ, vì còn bận phục vụ “Chim sẻ” ca sáng ư? - bỗng chị hạ giọng - mà sao Lão hữu cứ độc thân mãi, không tìm lấy cô gái nào đó như em chẳng hạn, chung sống với nhau có phải hay hơn không...
            Tóm lại bất kỳ chuyện gì đã qua cách diễn đạt của chị đều dính dáng đến đề tài “tính dục”, ngôn ngữ trực diện hơn, chọc thẳng hơn so với thời trước “văn cách” khiến tôi những ngày nghỉ nằm một mình, bỗng dửng dưng nhớ tới chị, nhớ những câu chuyện chị kể “sinh hoạt” với “Chim sẻ” như thế nào và trong người cảm thấy nong nóng.
            Mùa tiểu mạch chín rộ, chín rất nhanh, gặt không kịp, phơi phóng cũng khó khăn, ông đội trưởng phân công tôi, chị và một số người nữa làm cái việc rê hạt. Môi người cầm một thúng tiểu mạch, đứng đầu gió, giơ cao lên và đổ xuống từ từ, những cọng rơm, hạt lép, rác rưởi vì nhẹ nên bay xa hơn, hạt nào chắc, nặng ùn lại một đống, xem như “quạt sạch” đưa vào nhập kho. Đây là công việc tuy nhẹ nhàng, nhưng đòi hỏi kỹ thuật và nhất thiết phải tranh giành với gió. Những khi lặng gió thì tha hồ nằm dài giữa sân phơi ngủ hay tán gẫu, nhưng không được chuồn khỏi vị trí công tác. Tôi và chị cùng tựa vào đống rơm chờ gió, trời xui đất khiến thế nào mà tôi đã liếc mắt nhìn trộm “bộ ngực ưởn ưởn” của chị, chị giả vờ không chú ý và càng trễ tràng hơn như muốn dâng hiến. Chị âu yếm hỏi:
            - Lão hữu chưa từng lấy vợ hay sao?
            - Hoàn cảnh không cho phép vì tù tội liên miên.
            - Thế bây giờ Lão hữu có thích phụ nữ hay không?
            - Lúc thích, lúc không.
            - Em hỏi thật Lão hữu nhé, không kết hôn nhưng đã có lúc nào Lão hữu chạm vào phụ nữ hay chưa?
            - Cũng không luôn.
            Chị cười rũ rượi, đoạn lấy một cọng tre vẽ nguệch ngoạc xuống đất, vẫy tôi lại xem và hỏi:
            - Đã chạm vào cái này chưa?
            Tôi nheo mắt.nhìn ngang nhìn dọc mà đoán không ra là cái gì, nó vừa giống quả đào chín mọng, lại giống con mắt nhắm nghiền, và cũng như chữ “nhất” toe ra hai cánh, cuối cùng đành nói đại:
            - Mắt con trâu mù thì chạm vào làm gì? - Thế là chị bò ra ôm bụng mà cười, cười tới mức bộ ngực ưởn ưởn rung rung, cười trào nước mắt - Anh ơi là anh, thế là còn trinh nguyên, thế là chưa biết gì cả, tội nghiệp quá Lão hữu ơi!
            Tôi chẳng biết sự thể ra sao, thấy chị cười, cứ thế cười theo, mãi sau này lúc về già mới nghiệm thấy “thời thanh xuân” thật là đáng quý, mới cảm thụ được bức thư tình chị trao, “một quả đào chín mọng, một con mắt nhắm nghiền, một chữ nhất toe ra hai cánh”, không phải, nó chỉ giống như thế, chứ không là như thế, mà vô cùng quý báu, có thương nhau, có yêu nhau mới đem ra dâng hiến. Ôi một bức thư tình độc nhất vô nhị, cổ kim đông tây tìm không thấy, người nhận nó phải khắc cốt ghi xương cho tới lúc qua đời.
            - Lão hữu ơi, em lại hỏi thật anh, anh có muốn “ấy” phụ nữ hay không?
            Tôi trả lời:
            - Phỏng có ích gì, vừa mệt lại vừa nguy hiểm, chi bằng nằm đọc sách còn thú vị hơn, vả lại bây giờ có người đàn bà nào chờ tôi đâu mà nói tới chuyện “ấy” hay không “ấy”.
            Tôi bỗng thấy mặt chị biến sắc, tất cả những gì nghịch ngợm, chọc đùa, thô lỗ đều biến mất, chỉ còn lại một vẻ yêu kiều, âu yếm, cảm thông, pha chút thương hại, chị nói trong hơi thở gấp gáp lạ thường:
            - Lão hữu ơi, anh có muốn không, để cho hiểu mùi đời thì em xin được lấy thân mình dâng hiến. Anh sẽ được chạm vào cái mà em vừa vẽ kia kìa, chơi đi anh, kẻo tội nghiệp quá…
            Tôi cứ nghĩ chị ta nói đùa như một ngày cho đỡ mệt, bèn trả lời:
            - Cám ơn em đã có tấm lòng quý báu, nhưng anh chưa đủ gan dạ để mà tận hưởng, “Chim sẻ” biết được thì chẳng phải chuyện chơi.
            Chị cười và e thẹn nói:
            - Không hề gì, ngày mai “Chim sẻ” đi thành phố mua thuốc trừ sâu, tối không về, đêm mai anh trốn đến với em, em để cửa và nằm chờ anh đó - chị cúi mặt xấu hổ, và càng cuối câu càng nhỏ lại cho tới im bặt.
            Ngày thứ hai “đôi hồng” chúng tôi lại gặp nhau trên sân phơi thóc, nhưng không như mọi lần nói năng thoải mái, cả hai cứ lấm lét trộm nhìn, cả hai như đang tích nạp năng lượng để tối bùng nổ. Hai chúng tôi im lặng làm việc cật lực một ngày và quả nhiên lúc sắp tan tầm thu quân thì thấy “Chim sẻ” oai phong ngồi trên máy kéo dẫn đoàn người đi thành phố công tác. Chị nói không sai chút nào, đêm nay “Chim sẻ” vắng nhà và Lão hữu ơi, sẽ có một người phụ nữ đợi anh. Chị đưa mắt nhìn tôi như có ý cổ vũ, động viên; tôi gật đầu và chằm hăm lên ngực chị, bỗng thấy trong người “thời thanh xuân” trỗi dậy. Tôi chờ cho trăng lên, chờ cho xóm làng yên ắng và đúng như thằng ăn trộm lò dò đến nhà “Chim sẻ”, đưa tay gõ nhẹ, mới cái thứ nhất thì cánh cửa đã “kẹt” một tiếng và mở toang, chị liền mắng tôi:
            - Đi “ấy” vợ người ta mà còn lịch sự gõ cửa , lấy cái xẻng chống chặt, rồi mau lại đây.
            Chị nằm chung với ba đứa con trên cái “khang” đất, một loại giường phổ biến của dân phương Bắc, phía dưới đốt củi sưởi ấm, rộng gần cả gian nhà, ban ngày làm bàn ăn, bàn tiếp khách, ban đêm lau sạch trải chăn và lăn ra ngủ. Chị kẻo tôi vào vị trí “Chim sẻ” vẫn ngự mỗi ngày. Trên người chị không còn một mụn vải, hình như chị đã khỏa thân như thế chờ tôi. Chị giục tôi vào chăn cho ấm, tôi ngoan ngoãn làm theo và mới hay “thanh xuân” bất diệt, những gì ưởn ưởn, bằng bằng, thắt thắt, vênh vênh giờ đây nhờ xúc giác mà sung sướng đến mê hồn. Khi gần tới cao trào, có thể do tôi mạnh mẽ quá nên tấm chăn động đậy làm cho đứa con nhỏ nhất nằm cạnh chị mơ ngủ, khóc thét, kêu cha. Chị bình tĩnh, một tay ôm lấy lưng tôi vuốt ve kích thích giữ đà, còn tay kia vỗ nhẹ vào mông thằng bé và cất cao lời ru xanh rờn:
À ơi con ơi con ngủ cho muồi,
Để mẹ với chú đang còn... chung vui...
            Kết quả, thằng bé ngủ tiếp, còn tôi không nhịn được cười đã ha ha thành tiếng, chắc lũ nhỏ tưởng cha chúng nó thật, chứ không phải tên ăn trộm, đang ăn trộm một thứ quý giá nhất của mẹ chúng. Nhưng kỳ lạ thay sau tiếng cười tôi bỗng mềm như bún, cố gắng mấy cũng không khôi phục nổi, và trong người cảm thấy khó chịu vô cùng. Biết thế này đừng “sinh hoạt” mà lại hay.
            Tôi tụt xuống, lóp ngóp bò dậy ngồi thừ ở đầu “khang”, một lát sau chị cũng dậy, hai tay ôm chặt cả người tôi, sao mà giống cái hồi lên sáu đến thế. Trong màn đen như mực, một người thiếu nữ đã bao bọc cả đời tôi, khiến tôi “thanh xuân”, khiến tôi “động tình”. Có khác chăng là giờ đây bộ ngực ưởn ưởn trần trơn đang áp sát lưng tôi và “khuôn mặt bầu bầu” dán chặt nơi cổ tôi. Chị thỏ thẻ: Đừng buồn nghe anh, em sướng thật rồi mà, anh không tin ư. Nói đoạn chị kéo tay tôi sờ sờ nơi ấy. Rõ khỉ, ước gì thời gian quay ngược, tôi xin được giảm đi mười tuổi thọ để cảm thụ lần nữa cái lần “thanh xuân” oái oăm đó. Tôi sẽ xác tin, chứng minh một điều bí ẩn nơi chị, và biết đâu nhờ đấy mà đạt tới “thanh xuân” tột cùng.
            Tôi vội vàng mặc lại quần áo và vội vàng chia tay với chị. Chị vẫn cứ ôm chặt lấy tôi, rồi nói một câu và với tôi nó như là ngạn ngữ, nhớ tới nó tôi không bao giờ chịu thua, nhụt chí, nửa chừng. Cám ơn chị, người thiếu phụ Bạch Ngạn Hoa, chị như sinh vật ngoài hành tinh đến với tôi giữa lúc “thanh xuân” muộn màng, thui chột và biến tướng, nhưng lại giúp tôi sang trang, mở ra một “thời thanh xuân” khác. “Anh ơi, sau này đừng có bao giờ khiếp sợ trước mỗi lần vào cuộc”, cô gái Bạch Ngạn Hoa thay hình đổi dạng, lời em nói cứ như các nhà hiền triết. Không, em vẫn thế và tôi thầm kêu: Bạch Ngạn Hoa, Bạch Ngạn Hoa.
 


HẾT
 
0
THỜI THANH XUÂN
 
Đã mang vào thư viện
 
Cảm ơn và chúc hoi_Is luôn vui




0