Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Nhà Ai

20 trả lời, 149 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 10.02.2021 22:29:56 bởi Ct.Ly>
Nhà Ai
 
NHỮNG TÁC PHẨM HAY TIỀN - CHIẾN
 
 
 
Nguyễn Đức Chính
 
Nhà Ai
 
Tiểu thuyết
 
NHÀ XUẤT BẢN
NGÀY MAI
 
 
 
CÙNG QUÍ VỊ ĐỘC GIẢ
Chắc quí bạn cũng dư biết với hoàn cảnh hiện tại, việc xuất bản một cuốn sách thật là vô cùng khó khăn, như vì muốn cung ứng một số tài liệu văn học nước nhà, chúng tôi cho tái bản những tập sách đã được xuất bản thời tiền chiến.
Đây là những cuốn sách mà các bạn yêu sách hằng ao ước tìm kiếm để đọc và cũng là những tài liệu để cho các bạn học sinh, sinh viên tham khảo trong phạm vi văn học, nhưng có nhiều bạn không thể nào tìm kiếm được, nên chúng tôi cho in lại với một số lượng ấn bản rất ít để làm thỏa mãn sự đòi hỏi của những bạn yêu sách.
Tưởng cũng cần lưu ý quí bạn, những tập sách này, các tác giả của nó đã sáng tác  vào thời tiền chiến là thời gian mà chế độ cộng sản chưa xâm nhập vào đất nước chúng ta và các tác giả của nó đã sáng -tác trong một hoàn cảnh tâm hồn thoải mái, không hề bị gò bó ép buộc.
 
 
Vì vậy, đây là những tác phẩm hòan tòan có tính cách văn hóa và hôm nay chúng ta đọc lại các tác phẩm cũ của họ cũng là một dịp để so sánh và hoài cảm cho những tâm hồn mà giờ đây đã bị chế độ cộng sản miền Bắc ép buộc uốn ngòi bút để phục vụ cho họ và biến những nhà văn này thành những con người không còn là những con người thực của họ nữa.
 
NHÀ XUẤT BẢN
NGÀY MAI
 
 
PHẦN THỨ NHẤT
 
TU TẠO
 
      …Tam thập nhi lập
KHỔNG  TỬ
 
 
 
 
I
 
 
ÔNG ký Thảo, hai tay chắp sau lưng, vừa đi vừa suy nghĩ, lúc ấy là một chiều chủ nhật. Chỉ có buổi chiều chủ nhật, ông mới rảnh rang đôi chút đi bách bộ trên con đường vắng này, dưới hai hàng soan tây thưa lá hở ra từng mảnh trời xanh.
Buổi sáng nay ông vẫn ra sở với ba bạn đồng sự. Nhà Nông Phố, dạo ngày mùa, người trả nợ nhiều không lúc nào ngớt. Ông Chánh sở lại là người chăm chỉ.
Không phải chỉ buổi sáng nay, từ mấy tuần rồi, và chẳng biết đến bao giờ nữa, buổi sáng chủ nhật thế là mất đứt. Tuy nhiên cả bốn ông ký cũng chẳng ai kêu ca.
Một lần, ông Chánh đã giảng giải cho cả mấy ông ký : việc không phải là việc riêng của ông, ông cũng chỉ là người đi làm công cuối tháng lĩnh lương, nhưng công việc sở nhiều thì phải góp sức, thêm giờ làm cho hết chứ, cho xong bổn phận chứ. - Vả lại trong khi các anh làm việc tôi có chơi đâu!
Cả bốn ông ký - Phương, Tạo, Thu, Thảo - cùng cho là có lý, chỉ phàn nàn riêng với nhau:
- Tây  ‘‘họ’’ chăm thật!
Riêng ông Thảo, đi làm buổi sáng chủ nhật cũng chẳng là cực hình gì. Không cũng đến tổ tôm cho hết ngày.
Ông Thảo mới vào làm nhà Nông Phố được ba tháng. Bây giờ người ta gọi ông là ông ‘‘ký’’ Thảo. Trước kia ông là ông  ‘‘giáo’’ Thảo, một ông hương sư tháng mười hai đồng rưỡi bạc lương. Ông thuộc vào cái hạng, người ta hay chỉ bằng mấy tiếng trạng từ : hiền lành thật thà. Không mấy khi ông có ý định xoay ngang, rẽ tắt, dường như lúc nào cũng biết tự túc. Học chữ nho đến năm mười bẩy tuổi, đáng lẽ xoay sang học chữ Tây, chính cụ Cử thân sinh cũng biết vậy, nhưng trong cái gia đình đông con lo làm sao cho đủ được mọi đứa.
Ông Thảo là con thứ năm; ông cả, ông hai đã là yên phận, ông ba không chịu học, cụ Cử cố lo cho người con thứ tư, mong thằng anh sẽ dắt thằng em. Cái ông thứ tư ấy đã làm trái bổn phận. Ông Thảo và ông em là ông sáu Mai đành chịu thiệt thòi.
Tuy vậy lợi dụng những kỳ nghĩ hè, anh ở nhà ông cũng học được ít nhiều chữ Pháp. Đỗ được bằng Sơ học yếu lược, nhưng không đỗ được bằng Sơ học Pháp Việt để lo một chân thư ký giây thép hay hỏa xa, ông Thảo đương lúc thanh niên không biết mình sẽ làm gì đây. Với cái vốn trí thức ít ỏi, với cái gia sản vài ba mẫu ruộng, lại không có tính láu lỉnh khôn khéo, mãi sau ông mới chạy được chân hương sư, tưởng mình đến già làm kẻ trông nom việc giáo dục cho con của mấy ông lý ông xã trong làng.
Ông lấy vợ từ năm mười bảy do ý muốn của cha mẹ. Người vợ không phải tự ý ông chọn, nhưng đến lúc này cũng được bốn đứa con : ba trai một gái. Đứa lớn lên chín, đứa thứ hai lên sáu, ngày ông dạy học vẫn cùng ở để ông trông nom.
Chính ông cũng không ngờ lại có sự thay đổi để chuyển cái địa vị ông giáo nhà quê thành một ông ký nhà Băng. Người em thứ bảy, ông giáo Chi tội cho cảnh anh, nhận thấy cái chỗ khuyết người ở nhà Nông Phố tỉnh Bắc Giang, mới khuyên anh nên xin vào làm.
Ông Trời kể cũng chí công, chí minh. Công việc của ông ký Thảo thật vừa với sức ông. Lắm lúc ông tự buồn cười vì những năm học chữ Hán bây giờ dùng để xem mấy cái văn tự.
Người nhiều, chỗ làm ít, lo một chỗ thật đã khó. Được một chân thư ký, tư sản của ông Thảo hụt đi, chỉ còn có một mẫu ruộng và mấy sào vườn.
Lúc mới đến Bắc Giang, ông ký nhà Băng mới chẳng quen ai. May gặp ông Tú Minh, người làng, làm thừa phái. Trong lúc chưa có chỗ ở, ông Thảo về trọ  nhà ông Thừa. Ở đây chỉ tạm thời, mà ba tháng qua, ông vẫn chưa cho vợ con lên. Bà Thừa đã hỏi giọng nửa đùa, nửa thật :
- Thế nào ông ký, bao giờ mới cho bà và các cháu lên. Hay ông định cưới thêm một bà hai ở trên này thì để tôi liệu làm mối cho.
Ông ký chỉ cười, đáp cho qua câu chuyện :
- U cháu còn bận thu xếp công việc nhà.
Công việc nhà ai gì mấy mà thu xếp, ruộng cho cấy, vườn cho thuê. Thể nào rồi bà Thảo và các con chẳng lên. Đó là ý chung của cả mọi người thân: cho các con nó ở gần để nó còn đi học.
Bà ký Thảo không được mọi người chú ý đến. Trước kia, ông chồng vẫn đi vắng quanh năm kia mà. Vậy lập lại cái gia đình ở chốn tỉnh lỵ, mục đích không để cho hai vợ chồng đoàn tụ, cốt xây dựng cho con cái về sau.
Buổi chiều chủ nhật mùa hè này, ông ký Thảo đi bách bộ một mình suy tính. Đằng nào cũng phải cho vợ con lên. Đó là ý muốn chung của cha mẹ, anh em, không thể trái được. Vả lại không có vợ con thì số lương mỗi tháng hai mươi lăm đồng cũng đến tiêu hết. Năm nay, ông đã ba mươi tuổi chẳng còn trẻ trung gì lắm nữa. Những mơ mộng tuổi hai mươi đã hết, ông còn tưởng  vọng gì cao xa đâu, chỉ mong sao đàn con lớn lên được học hành sung sướng.
 
Tương lai mở ra một quãng đời tươi đẹp : Bây giờ lương ông hai mươi lăm đồng, còn ít thực đấy, nhưng rồi phải tăng chứ. Không được phong lưu, nhưng cũng đủ cho cái gia đình bảy người : hai vợ chồng, bốn con, một đầy tớ. Hai đứa con lớn đã đi học. Bao giờ chúng nó đỗ tốt nghiệp, ông sẽ gửi cho chúng, cố sao đứa nào cũng có ít nhất là ‘‘diplôme’’=( bằng cấp) làm ông phán, ông giáo gì đó, bấy giờ mình cũng mát mặt.
- Chỉ mười lăm năm nữa thôi, mười lăm năm cũng chẳng mấy mà hết.
Đến năm ấy, năm chúng nó làm nên, ông bốn lăm.
Cái tuổi bốn lăm được nhàn nhã một chút là hạnh phúc rồi. Sống dư dật hai vợ chồng không công nợ, đàn con lớn lên đứa nào yên phận đứa ấy, ông ký Thảo chỉ mong như vậy.
xXx
- Anh Thảo bao giờ thì cho chị và các cháu lên?
Ông Thảo dừng bút nhìn người bạn đồng sự. Ông Thu ngồi bàn bên đương mỉm cười và chưa đợi câu trả lời đã hỏi tiếp:
- Anh được mấy cháu rồi nhỉ?
- Cám ơn anh, tôi được bốn đứa. Thằng lớn đã lên mười. Tôi cũng cứ phân vân mãi. Cho lên bây giờ thì chẳng khó gì, nhưng làm thế nào cho đủ được. Ở đây cái gì cũng đắt.
Ông Chánh vừa đánh ô tô đi Hà-nội. Được dịp, tội gì chẳng nghỉ ngơi một chút, cả mấy ông ký ngừng việc nói chuyện. Đầu đề là chuyện gia đình ông Thảo.
- Lương một tháng hai mươi lăm đồng, tiền nhà độ ba đồng, tiền chợ và lặt vặt cứ cho tất cả là mười tám đồng vị chi là hai mươi mốt đồng. Gạo nước thức ăn bây giờ cũng rẻ. Mỗi tháng như vậy cũng còn được bốn đồng bỏ túi
Ông Phương làm cho bạn được cái tính xong thì ông Tạo hỏi tiếp:
- Vậy chứ bây giờ anh trọ đâu?
- Tôi ở đằng ông Tú Minh.
- Ông Thừa Minh tòa án phải không ?
Cả mấy người cười rộ lên rồi ông Thu nghiêm trang nói.
- Nếu thế thì anh để chị lên đi, sớm ngày nào hay ngày ấy, chứ không có bao nhiêu nướng tổ tôm, thăng quan hết thôi.
Ông Thảo khẽ gật đầu có vẻ suy nghĩ.
- Tôi cũng tính thế.
- Vả lại, để chị ấy lên đây, rồi liệu để chị ấy buôn bán thêm vào nữa chứ. Chị ấy lên đây, lại chơi với nhà tôi, rồi chị em cùng cân kẹo cho vui.
Ông Thảo nhớ lại những lần đến chơi nhà ông Thu. Bà vợ ông này cân gạo, buôn ngô đậu, trong nhà có vẻ sung túc lắm. Nếu mai mốt, bà Thảo lên cũng được như vậy : Nhưng ông chỉ chớp mắt một cái là bao nhiêu hy vọng tan ra hết. Vợ chồng ăn ở với nhau bao nhiêu năm, còn lạ gì tính nết nhau. Cái hiền lành, thực thà của ông chồng so với cái vụng về, khờ khạo của bà vợ cũng cân đối. Sinh và trưởng ở một xó nhà quê cách nhà ga hàng mười cây số, chưa hề biết thành thị là gì, vợ ông chỉ được một điều chồng bảo gì nghe vậy, có mấy mẫu ruộng cầy cấy làm sao cho mỗi năm có đủ thóc ăn. Bây giờ bân đến chuyện buôn bán nó mới viển vông làm sao.
- Anh bận thế này, chị ấy lên, không có anh về đón thì cũng phiền lắm nhỉ ?
Ông Thảo nghe câu hỏi giật mình sực tỉnh vội trả lời:
- Nhà tôi và các cháu lên lại phải phiền anh Ba tôi vậy. Nhưng có anh tôi rồi thì cũng đỡ lo ngại.
- Thế thì anh để chị lên ngay đầu tháng sau đi. Lịch bóc đã hai mươi tờ rồi đấy.
Trong buổi làm việc an nhàn ấy, cũng nhân mọi người thúc giục, ông ký Thảo ngồi viết một cái thư về cho anh là ông Ba Tùng để nhờ anh đưa vợ con lên hộ. Sẵn máy chữ của sở, ông ra bàn máy loay hoay chọc hai ngón tay chỏ đến hơn một giờ đồng hồ mới xong. Lúc ấy vừa hết giờ.
Đi qua nhà giây thép, bỏ thư vào thùng, ông Thảo còn cẩn thận xem lại cái thư có còn mắc ở miệng thùng không, liệu người ngoài có lấy ra được không, xong suôi, ông mới giương ô ra về. Con đường nhựa nắng buổi trưa bốc lên một thứ hơi rất khĩ chịu.
Ba ông kia, ông Thu đã đi xe tay về, còn hai ông Phương Tạo cũng lên xe đạp. Đi xe tay từ sở về nhà, con đường dài đến một cây số, ít nhất cũng phải năm xu. Một ngày bốn buổi đi về đã mất hai hào, một tháng có phải phí đi sáu đồng không. Ông Thảo tính nhẩm như vây, nhất định không đi xe, cho rằng đó là một thứ tiêu quá xa xỉ. Chỉ có xe đạp là tiện, ngày trước lúc còn làm hương sư, ông cũng có một cái của anh cho. Ông anh làm thông phán đã mua rẻ được cái xe trong một kỳ tòa bán đấu giá. Nhưng ông ba Tùrg lại lấy mất.
- Chú đi mỗi ngày bốn buổi trong tỉnh thì cần quái gì xe, để cho tôi đi đây đi đó, nó còn ích hơn.
Ông ký Thảo không phàn nàn gì, tự an ủi rằng đi bộ cũng là một cách tập thể thao. Phải rồi, suốt ngày ngồi còm cọm trong sở gò lưng xuống mà viết, nếu không có bốn lượt đi bộ thì ốm mất còn gì!
Nhưng buổi trưa mùa hè này, trời nắng chang chang đi bộ về nhà không thể nói là tập thể thao được. Ông Thảo thầm tính sẽ mua một cái xe đạp. Phải chờ có dịp chứ mua xe mới thì tiền đâu! Cái dịp ấy chẳng biết bao giờ mới có, trong khi ấy thì ông cứ đi bộ đã. Nghĩ vẩn, nghĩ vơ như vậy, ông cũng chẳng buồn nhìn chung quanh. Ngày đẹp lắm. Nhìn lên một màu xanh,
không, hai màu xanh mới đúng, một màu xanh cây và một màu xanh trời, nhìn xuống chỉ có một sắc vàng bát ngát. Ông ký cũng là một điểm vàng trong khoảng vàng mông mênh ấy.
Đi bộ mất đến mười lăm phút mới tới nhà. Trong khoảng thời gian ấy, ông Thảo nghĩ vẩn, nghĩ vơ cũng được nhiều điều. Từ chuyện cái xe đạp, ông vụt nhớ lại những lời khuyên của bạn đồng sự buổi sáng nay. Rồi ông so sánh cảnh sống của họ với cảnh sống của mình. Trong bốn người, ông nhiều tuổi hơn cả, ông lại có bốn con nên họ có vẻ nể. Ông Thu, vợ buôn bán, cha mẹ có, chỉ ước một đứa con mà không được; ông Tạo còn trẻ chưa có vợ; ông Phương thì bỏ vợ; họ trông ông bằng con mắt có vẻ thèm muốn. Hà, bốn đứa con cũng là cái của trời cho đấy nhỉ! Nhưng giá lương ông hơn chút nữa, giá mỗi tháng ông được ba mươi lăm đồng như ông Thu, ông Tạo, chứ không thì càng nhiều con càng vất vả chứ     sung sướng gì.    Cứ như họ còn hơn! Tam nam bất   phú, ba con Trai không giàu, thế mà ông có ba con trai rồi đấy. Ba con trai, một con gái, biết đâu rồi không thêm lần lần một năm, vài năm một đứa. Hai vợ chồng cùng khỏe mạnh, tránh sao khỏi sự mau sinh nở. Ông chép miệng:
- Một của, một con, bao nhiêu cũng vừa, chẳng con nào là thừa cả.
Nhưng với số lương ít ỏi, làm thế nào nuôi cho đủ được ? Ông thở dài. Lúc đó vừa tới nhà.
Ông Thừa Minh đã ngồi sẵn ở mâm cơm. Cùng tan vào trùng một giờ, nhưng ông thừa đi xe nên bao giờ cũng về trước:
- Ông ký đã về, ông bỏ khăn áo rửa mặt, rồi đi sơi cơm đi. Không canh nó nguội mất.
Cả nhà ăn cơm rồi. Còn có hai ông ngồi đối diện. Ông Thừa Minh nghiện rượu, bữa nào cũng phải dăm chén. Nhân tiện, ông ký Thảo cũng nhắp nháp một vài chén. Đã nghiện ngay đâu mà sợ. Mà nghiện thì đã chết ai, mỗi bữa mấy xu chứ nhiều nhặn gì.
Chỉ lần này, ông Thảo mới để ý nghĩ ngợi về gia đình ông bạn đồng hương. Nhà có dễ đến hơn chục người đấy. Bà cụ mẹ ông thừa này, hai vợ chồng ông thừa này, sáu đứa con và hai đầy tớ này, tất cả mười một người chưa kể khách khứa chẳng mấy ngày không - Lúc thì bà mẹ bà thừa, lúc thì ông cậu này, bà dì kia. Lương ông thừa cũng chẳng nhiều, mỗi tháng đâu có bốn chục hay bốn lăm đồng. Chẳng biết có bổng lộc gì không, chứ như vậy làm thế nào cho đủ. Sáu con ông thừa đều là con gái, ông còn mong chút con trai nữa. Ông Thảo nghĩ thầm :
- Sáu con mà không đủ chết rồi ư ?
Rượu ngà ngà, ông mới thủng thỉnh bảo ông thừa:
- Tôi định cuối tháng này cho nhà tôi và các cháu lên.
Ông thừa khề khà:
- Ông cho bà lên cũng phải, nếu không thì cứ ở đây anh em mình đối ẩm cũng vui chán.
Bà thừa ngồi têm trầu giường bên cũng góp một câu:
- Thầy mày lúc nào cũng chỉ tính chuyện rượu, chè. Ông ký còn phải chí thú. Các anh ấy lớn lên đi học chứ đâu như nhà ta...
Câu dưới bà nói có vẻ buồn, vì chạnh nghĩ tới cảnh một đàn con gái, mà chẳng có một đứa con trai nào.
Ông Thảo nói đùa :
- Thôi bà cứ cưới cho ông một cô vợ lẽ đi thì vừa.
- Nhưng nhà kiết như thế này, thì ai người ta lấy, hay ông thấy đám nào ở quê nhà ta, thì ông làm mối giúp.
Câu chuyện đã ra ngòai ý định của ông ký, và nếu dằng dai, thì không biết đến đâu, ông vội trở lại:
-         U cháu quê mùa, mới lên còn bỡ ngờ. Mọi việc nhờ bà giúp cho.
Bà thừa cười:
- Chỗ người nhà, cái đó có hề gì. Được, ông cứ để tôi tìm nhà và sắm sửa giúp. Bà cháu bây giờ thì còn lạ nhưng một vài lần, cũng quen đi chứ.
Ông Thừa nói tiếp:
- Đâu gần đây có cái nhà cho thuê của ông Minh Thịnh gì trên Hà nội ấy mà. Ông khóa Nhân ông ấy trương đấy, chiều nay u mày liệu hỏi cho ông ký ngay thì vừa. Hỏi ngay đi không có người ta tranh mất.
Ông ký nhìn xuống mâm cơm có vẻ trầm ngâm:
- Tôi định để nhà tôi ở đây ít lâu rồi tìm chỗ nào tiện buôn bán, chứ không, cơ chừng như thế này, lương ít, con nó lớn lên thì thiếu lắm.
Ngừng một chút ông lại hỏi ông bà Thừa :
- Ông bà ở trên này đã lâu, mà không mở một cửa hàng buôn bán gì cho bà và các chị ấy trông coi. Nó cũng thêm cặp vào chứ.
Ông Thừa đáp, giọng bất mãn :
- Ông tính lời lãi là bao nhiêu mà coi nó bệ rạc lắm.
- Ấy cứ để bà cháu lên đây rồi ông biết. Mình con đông chẳng làm ăn gì được đâu. Thôi cứ nuôi được chúng nó lớn lên, thế là đủ vui. Túng thiếu soay quanh cũng đến xong. Chúng tôi lên đây đến bảy tám năm, ngày con cháu thứ tư, con Mai nó mới lên bốn. Thế mà đến bây giờ cũng vẫn túng thiếu như xưa chẳng khác. Nhà không còn một tấc đất cắm dùi, trông vào mỗi thầy cháu. Nói dại đổ xuống sông, xuống biển, thầy cháu bây giờ nằm xuống bất thần, thì cũng chẳng biết làm thế nào.
Bà Thừa nhổ quết trầu xong lại tiếp :
- Thế nhưng mà, ông ạ. Ông Trời ông ấy sinh voi rồi lại sinh cỏ, chứ không thì những nhà đông con mà lại nghèo như mình chẳng hạn, thì chết đói cả hay sao.
Ông Thảo không đáp, nhưng trong trí phác ra cảnh bài bạc trong nhà ông Thừa những ngày chủ nhật và những ngày nghỉ, Ở giường giữa một bàn tổ tôm, ba chân là người trong nhà : Ông bà Thừa và ông, còn thiếu hai chân thì cho đi mời. Mà gian trong cũng có một bàn chắn hay tài bàn của bà cụ và mấy cô con gái. Mấy đứa trẻ nhỏ chạy lăng săng chia bài xin tiền cha mẹ, chẳng còn ra thể thống gì nữa. Thực là vô trật tự !
Những ngày ông thừa đi làm, cũng vẫn có hội họp như vậy. Mấy bà Thừa, bà Phán nhàn cư, thừa thì giờ không biết làm gì đều lại đấy. Ông Thừa đáng lẽ ngăn ngừa vợ con, thì lại càng khuyến khích thêm. Ông vốn chiều vợ con, giá phải đường, thì cũng hay đấy, chết một nỗi chỉ chiều những cái giết người.
Nhưng nếu gia đình này mãi mãi được như vậy ! Vợ chồng con cái hòa thuận lắm. Sống là đi làm, ăn và đánh bạc, cuộc đời phẳng lặng hay nhạt nhẽo, chẳng ai biết mà cũng chẳng ai cần.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 19.02.2021 13:17:01 bởi Ct.Ly>
II
 
 
CHẲNG mấy mà hết tháng, tới ngày vợ con ông ký Thảo ở nhà quê lên.
Một buổi sáng thứ bảy ở bến tàu thủy mấy người phu khuân tíu tít, tranh nhau mang mấy thứ đồ vật của cái gia đình ấy lên; không mấy khi họ khuân những thứ ấy: một cái hòm chân nặng, hai cái hòm nhỡ, mấy cái bồ, lại cả hai cái chum to đại và lủng củng những rổ, rá lồng bàn. Bà ký Thảo một tay bế đứa con nhỏ bốn tháng,
một tay dắt đứa con gái lên bốn, mắt vẫn phải trông từng thứ một - Đến chỗ xa lạ, không khéo trông thì mất ngay, người đàn bà căn cơ ấy nghĩ như vậy. Lại hôm ở nhà quê thu xếp ra đi, ông cụ Bá sinh ra bà cũng đã dặn con gái :
- Nhà mày lên Bắc giang, đi tầu, đi bè cho cẩn thận nhé. Nhất là lúc đến bến càng phải trông coi cho kỹ. Ở tỉnh thành đâu có như ở nhà quê được. Bụt thì ít mà ma thì nhiều lắm đấy, con ạ.
Muốn cho cẩn thận, bà ký đã bắt thằng Đức, thằng con lớn ngồi lên một cái hòm, và thằng Tề ngồi lên một cái, còn thì bà trông.
Ông ba Tùng, ông anh chồng đạp xe đạp đi kiếm cái xe bò mãi chưa thấy về. Chồng bà bận việc sở, không ra đón được điều ấy là dĩ nhiên bà cũng chẳng ngóng. Giá là chủ nhật thì tốt nhưng chuyến tàu thơ từ Hải phòng lên Bắc giang ghé bến Yên lưu, quê bà chỉ chạy tối thứ sáu, sáng thứ bảy đã tới nơi rồi. Bà cũng chẳng biết rằng chồng sáng chủ nhật phải đi làm. Người đàn bà quanh năm ở nhà quê ấy chỉ nhớ rằng bác Phán ngày trước đi làm cũng cứ chủ nhật là nghỉ, vậy thầy nó chắc cũng thế. Bà cũng chẳng hiểu chủ nhật là ngày gì và tại sao được nghỉ.
Mặt trời lên đã khá cao, có dễ đến chín giờ sáng, cả năm mẹ con đành chịu đứng nắng để coi đồ. Ông ba Tùng vẫn chưa thấy ra.
- Không biết bác còn đi đâu ?
Bà ký sốt ruột, thốt ra câu hỏi ấy. Đứa con nhỏ khóc oe oe, bà liền ngồi lên một cái hòm vạch yếm cho con bú. Rồi cả ba đứa con lớn cũng kêu đói và đòi ăn, bà lại bắt thằng Đức ra cởi một cái bồ lấy gói cơm nắm muối vừng và duốc bông ra. Cả mấy mẹ con dùng bữa lót dạ đầu tiên ở cái bến tàu tỉnh lỵ Phủ lạng-Thương.
Đến mãi nửa giờ sau mới thấy ông Ba Tùng :
- Chắc thím đợi lâu lắm nhỉ, tôi tìm mãi mới thấy nhà ông Tú. Phải ra sở chú ấy hỏi đấy. Lại đi quanh mãi mới lôi được cái xe bò này. Nào thôi bây giờ ta đi về.
Tất cả đồ đạc đem từ nhà quê lên chất chật cả một cái xe bò. Hai người cu-ly xếp lên với một vẻ ngần ngại. Có lẽ vì ông Ba mặc cả rẻ quá. Sau ông phải nói:
- Các anh cứ làm đi cho cẩn thận, về nhà có sao, tôi cho thêm.
Khi xe đã xếp xong, ông Ba gọi một cái xe tay bảo bà ký Thảo và ba đứa con ngồi lên, còn ông đi xe đạp đèo thằng lớn. Cả bọn theo con đường về nhà ông thừa Minh.
Ngồi trên xe, bà Thảo im lặng cố đóan trước xem cuộc đời mới của bà rồi đây sẽ ra sao. Từ nhỏ đến nay là ba mươi tuổi, nghĩa là tới gần nửa đời người, nếu trời cho sống đến tám chín mươi vẫn ở nhà quê, nên lúc này bà bỡ ngỡ lắm. Lần đầu tiên tới chỗ thị thành, dù một thị thành nhỏ hẹp, cái gì cũng làm bà lạ lùng. Thế mà bà sẽ sống hằng năm hàng đời ở đây giữa bao nhiêu người xa lạ.
Ở nhà quê, gần cha già, gần chị gái, lúc nào bà cũng yên tâm. Con bà ốm, đang đêm bà cũng lên gọi cha, sang gọi chị:
- Thưa ông, con cháu Dung nó làm sao ấy.
- Thưa bà, cháu Tề nó ấm đầu.
Bây giờ ở một chốn không quen biết ai cả, không biết những lúc ấy bà làm cách nào. Còn nhờ buổi ông Ba Tùng đạp xe đạp lên nhà bà, hôm ấy lại có cả cụ Bá và ông Lý, ông anh bà ngồi chơi. Lúc nghe nói sẽ lên Bắc giang, bà dẫy nẩy :
- Thôi, tôi không lên đâu, một mình nhà tôi ở  trên ấy cũng được.
Cụ Bá mắng con:
- Nhà mày dở hoen hoét. Phải lên chứ, còn nuôi con cho chúng đi học chứ.
Ông Lý cũng thêm vào:
- Ruộng gần hết rồi. Cô không lên với chú ấy, ở nhà lấy gì mà ăn.
- Nhưng mà trên ấy xa xôi, không quen biết ai tôi chịu thôi.
Ông Ba Tùng cười.
- Thôi thím đừng nói dở nữa. Liệu đến độ hai mươi ta tôi sẽ lên đón. Cũng còn đến mười hôm nữa đấy. Đủ thì giờ chán.
- Thế còn nhà ở đây, ai ở, ruộng ai cấy?
Cụ Bá gạt lời con:
-         Đàn bà rõ lẩn thẩn...
Ấy thế rồi một ngày, nhà cho ở nhờ, ruộng vườn cho thuê, bà ký Thảo và các con xuống phủ lỵ Kinh Môn, chờ tối hôm ấy xuống tàu thơ lên Bắc giang.
Mỗi lúc có sự thay đổi trong cuộc sống biết bao nhiêu là điều phiền bực. Ngay từ quần áo mặc. Thường thường ở nhà quê lúc trông nom việc đồng áng, lúc gánh gòng buôn bán, bà Thảo vẫn mặc váy. Tất cả những người chung quanh bà đều cùng một у phục ấy. Nhưng nay bà rời bỏ xóm mặc cái quần. Đó cũng không phải ý riêng của bà nhưng của ông Ba và bà lý Cam, chị gái bà.
- Ở đâu phải theo thói tục đấy, trên tỉnh dì không đeo mãi cái váy mốc như ở nhà được đâu. Còn chú ấy, còn danh diện chú ấy chứ. Chẳng gì bây giờ mình cũng là bà thông, bà ký rồi.
- Bác Ba cháu cũng bảo thế, nhưng bác thử nghĩ xem, mình đương như thế này đổi sang như thế nố cũng ngượng nghịu làm sao ấy. Vả lại váy tôi còn năm sáu cái, chả nhẽ bỏ cả đi để may quần hay sao.
- Dì rõ dở hơi. Còn bao nhiêu thì để đấy cho tôi, tôi trả tiền. À, nhân tiện có tấm lụa thâm của cháu đấy, dì lấy mà dùng, tôi mua cho cháu sau cũng được.
Bà Thảo thấy ai cũng bảo mình là dở hơi, ai cũng cho cái việc lên Bắc giang với chồng là phải, nên đành nghe theo không dám phản đối điều gì. Cái cuộc đời sắp tới này chẳng biết nó ra thế nào đây?
Xe đã đến cửa nhà bà thừa Minh. Mấy đứa con bà thừa reo lên gọi mẹ:
- Bà ký đây rồi, đẻ ơi.
Có tiếng dép lẹp kẹp, rồi bà thừa Minh, bà cụ đẻ ra ông Thừa, mấy cô con gái lớn chạy ra cửa. Trông ai cũng có dáng tươi cười. Bà Thừa nhanh miệng chào trước:
- Bà ký đây rồi, cả các anh chị nữa. Chúng tôi mong bà mãi. Kìa ông ba.
Bà Thảo cũng chỉ biết mỉm cười, chào lí nhí trong mồm tất cả mọi người. ‘‘ Mình quê mùa, nói ít chứ là hơn’’ ấy là bà nghĩ như vậy. Cô Mùi con gái lớn ông thừa đón đứa bé trong tay bà ký:
- Bà đưa em cho cháu. Em nó ngoan quá, không biết lạ gì nhỉ.
Trong lúc ấy, bà Thừa giục bọn hai người cu ly:
- Các anh khuân cả vào trong này đã. Ấy khéo đấy không có vỡ của người ta nhé, Bà ký chịu khó quá, mang được cả chum. Ở đây mua nó cũng khi khó.
Ông Ba đỡ lời :
- Thưa bà, bà đã thuê giúp cho được nhà mới thì xin để cho mang sang ngay, cùng một công khuân.
- Úi dà, đợi vài hôm nữa mới được. Còn bẩn lắm ông ạ. Tường nó đã quét kiếc gì cho mình đâu.
Cả nhà bà thừa, người nọ người kia lăng săng trong khi mấy mẹ con bà ký đứng bỡ ngỡ, lạ lùng.
- Ở đời,  người tốt cũng nhiều thật. Ông bảo số mình đi đâu cũng gặp quý nhân phù trợ, thật là đúng.
Bà ký nghĩ thầm như vậy bất giác mỉm cười.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 18.02.2021 22:20:18 bởi Ct.Ly>
Ill
 
 
SÁNG hôm sau, bà thừa Minh dẫn bà ký Thảo ra phố sắm những đồ dùng. Thiếu nhiều thứ lắm, từ cái to là cái giường cái bàn cho đến cái nhỏ là cái đèn, đôi
chiếu. Buổi sớm ông ký đã gọi vợ đưa cho một chục bạc căn dặn.
- Đây u mày cầm lấy tiền liệu xem thiếu cái gì thì sắm. Tiềm tiệm thôi, mình nghèo thì hãy dùng thứ xấu, miễn là nó rẻ tiền. À còn đứa ở, sao bảo nhà Đĩ Vẹo nó cho con nó là cái thằng Chuột lên cơ mà, sao không thấy?
- Nhà ấy nó lại đổi rồi, nó bảo đi xa quá nó không cho con nó đi được. Bà Khóa bà ấy bảo cho cái thằng Háu lên ở đấy nhưng tôi còn ngại, Bà ấy dẫu nghèo nhưng nó cũng vẫn là cháu. Nó lên ở hầu hạ mình, làm không nên việc, mình chửi mắng nó cũng không tiện.
- U mày tính thế nào cho ổn thì tính. Đằng nào cũng phải có đứa ở, tôi thì tôi nghĩ ở nhà quê nó tiện hơn. Vậy xem nếu không có đứa nào thì cứ bảo thằng Háu nó lên.
    Chồng đi làm, bà ký gửi con rồi cùng bà Thừa ra phố. Đi gần hết buổi sáng mới sắm tạm đủ những thứ lặt vặt. Bà Thừa bàn:
- Bên ông bà ít nhất cũng phải ba cái giường , một cái ông và hai anh lớn, một cái bà và hai em bé, còn một cái để có khách người nhà như ông Ba hôm nay chẳng hạn.
Bà ký gật đầu, bà Thừa lại tiếp:
- Tôi tính bà mua cái giường ga và một cái giường tre. Quên, còn cái chõng cho đầy tớ nữa chứ. Hai cái giường ga bốn đồng, cái giường tre và cái chõng nữa cho là một đồng tất cả năm đồng. Để chốc nữa tôi gọi cái con mẹ phó quen nó mang lên.
Bà ký ngần ngừ:
- Tôi tính cũng phải có cái gì để cho khách vào chơi ngồi chứ. Một bộ bàn ghế chẳng hạn. Nhưng mua mới bây giờ thì tốn quá. Lại còn cái chạn để bát đĩa.
Bà Thừa cười :
- Rõ thật là. .. Ấy thế mà tôi cũng quên khuấy đi mất đấy. Thôi được để tôi bảo nó mang thêm một đôi tràng kỷ tre nữa. Còn bàn thì bên tôi khối ra đấy. Ông bà lấy một chiếc mà dùng.
Buổi chiều hôm ấy, hai vợ chồng người thợ mộc đẩy cái xe một bánh mang các đồ vật cho gia đình ông ký Thảo. Tre mới, gỗ mới trông sạch sẽ lắm, bà ký sờ từng dóng tre, xem từng cái mộng mấy thứ đồ để bộn cả một góc sân. Giá có nhà để kê ngay, nhưng lại chưa quét vôi xong còn phải đợi một vài hôm nữa. Buổi trưa bà cũng đã đến xem; nhà cách đây có mấy bước. Có hai gian thôi, hai gian nhà gạch tuy có rộng hơn nhưng cũng chẳng được mấy. May cũng có sân phơi phóng, lại có cả ao đi rữa ráy nữa.
Nguyên cả cái nhà có bốn gian, giá thuê cả được thì tốt nhưng hai gian kia có người ở rồi, vả cái số lương ít ỏi của ông ký cũng chỉ đủ thuê như vậy thôi. Hai đồng rưởi tức là một phần mười lương đấy. Cái nhà ấy họp với một cái nhà nữa quây lấy cái sân gạch nhỏ chừng trăm thước vuông vốn là nhà ngang của một cái nhà hai từng đồ sộ. Chủ nhân nó ngày xưa dáng chừng là một nhà giầu thêm mấy nếp nhà này có ý để cho bọn người ở. Nhưng nay đem cho thuê nên một khu chia đôi thành hai; cái nhà to cho nhà nước thuê để một ông Thương tá ở, còn hai cái nhà - cái bốn gian chia làm hai, cái ba gian để nguyên - cho ba chủ thuê. Ông ký Thảo tức là người thứ ba.
Đứng nhìn cái nhà hai từng cao ngất che át cả mấy lớp nhà, bà ký buột mồm khen :
- Ở cái nhà cao kia sướng lắm nhỉ!
Nhưng bà chỉ nói vậy thôi mà không dám đặt một điều ước ao vào tâm trí. Người đàn bà quê mùa biết cái địa vị của mình lắm, bà vẫn luôn luôn nhớ rằng chồng bà, dù có cha là cụ Tuần, ông nội là cụ Án và các anh em là quan nọ, quan kia, nhưng cũng chỉ là ông hương sư khổ may mắn được làm thư ký nhà Băng tháng hai mươi lăm đồng bạc, và bà nữa, dù là con cụ Bá lừng lẫy cả một hạt, Các anh làm Chánh tổng. Lý trưởng Chánh hội hống hách lắm, nhưng bà vẫn nghèo như thường. Hai vợ chồng nghèo và đàn con!
- Cái bọn thợ quét vôi sao mà chúng nó lười đến thế. Có dễ mình lại quét lấy vậy. Để dọn nhà cho nó xong. Ở mãi nhà ông Thừa chẳng tiện chút nào. Cả một gia đình hai vợ chồng, bốn đứa con lại thêm một ông anh nữa, thực là phiền cho người ta. Vẫn biết rằng ông bà Thừa tốt thật, nhưng người ta càng tốt bao nhiêu mình càng khó nghĩ bấy nhiêu. Mà chẳng biết thầy nó có tính tóan đưa thêm tiền cho người ta không ?
 
Bà ký cứ ngẫm nghĩ như vậy mà sốt ruột. Bà lại càng sốt ruột hơn nữa khi trông thấy mấy đứa con băn khoăn ngồi ở mép giường. Chúng nó bực lắm đấy. Không phải nhà chúng nên chúng cứ tiu nghỉu như cú gặp ban ngày. Thằng Đức mấy lần đã hỏi mẹ:
- Bao giờ thì dọn nhà hử u?
Cách một ngày nữa mới dọn được nhà. Trong công việc ấy, ông ký Thảo thấy mình hoàn toàn vô dụng. Sáng nào cũng vậy, đến bảy giờ gần tới rưỡi là ông đã vội vàng lật đật ra sở. Người khác có nhỡ một chút không sao nhưng ông thì phiền lắm. Vả lại mới vào làm, ít ra mình cũng phải ra dáng chăm chỉ đúng giờ chứ. Trông vợ và anh vất vả ông cũng sốt ruột. Đúng ra thì cũng chẳng có gì khó nhọc. Sắp, kê một vài đồ vật, giỡ bát, đũa, nồi niêu, xoong, chảo trong bồ ra rửa, đóng cái mắc áo, cái màn, chỉ có thế thôi nhưng cũng tíu tít ra phết. Thằng Đức lớn nhất phải ẵm em, thằng Tề dắt con Dung ra đầu nhà bầy cỗ chơi. Bên bà Thừa cũng cho người sang giúp, nhưng bà ký gạt đi:
- Thôi bà cứ để mặc chúng tôi, đã có bác cháu. Mấy lại cũng chẳng có gì đâu ạ.
Bà Thừa nhất định không nghe, cứ bắt thằng ở sang, nhưng lúc bấy giờ có bà phán Bình và bà tham Thuật vào đánh tổ tôm nên bà cũng quên khuấy đi mất.
Hết cả buổi sáng, đến lúc ông ký về, nhà cũng chưa dọn xong. Mấy cái kiềng chưa đặt vào bếp vẫn còn bỏ lay lất ở gốc sân. Bữa đầu tiên chưa làm được. Mà bà ký đã nói với bà Thừa đừng thổi cơm.
Ông Ba Tùng gọi em dâu:
- Thôi thím hãy để đấy đi nấu cơm chứ.
Bà ký bấy giờ mới sực nhớ:
- Chết, từ sáng đến giờ bận quá, em cũng quên mất chẳng đi chợ đi búa gì cả.
- Thôi u mày cứ việc mà dọn dẹp đi, để tý nữa, tôi bảo con nó ra nó gọi hàng phở cho tiện.
Ông ký nói xong cũng bỏ khăn áo cùng xếp dọn. Có nhiều người cũng có hơn, cũng đỡ tay. Chỉ trong nửa giờ là đâu vào đấy.
Chuông nhà thờ đánh mười hai giờ, ông ký bảo anh và vợ:
- Thôi, bác rửa tay, sắp sửa dùng bữa. Trưa quá rồi. U mày bế con để tôi bảo thằng Đức ra gọi phở thôi. Con ra chỗ ngã tư kia kìa, bảo hàng phở nó lại ngay nhé, nó không lại thì bảo ông ký gọi lại ăn nhiều nhé.
Thằng bé đi rồi, ông vớ cái điếu thuốc lào hút, rồi nhìn qua làn khói xanh cái gia đình mới lập lại này. Tự nhiên lòng ông nao nao cảm động như cái lần cha mới cho ra ở riêng. Dạo ấy ông mới có một đứa con đầu lòng, thằng bé ấy không nuôi được. Bây giờ ông có bốn con, bốn con một vợ, thể nào cũng phải một đầy tớ nữa, cái gánh cũng khá nặng. Số lương ít ỏi biết có đủ không!
Trong lúc ấy, ông Ba Tùng nằm chân co, chân buỗi trên giường. Một tay vắt ngang trán, ông đã hơi thiu thiu.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
IV 
 
 
Lúc bấy giờ trăng lên đã quá nóc cái nhà hai tầng, một mảnh trăng hạ tuần đỏ như rượu vang và đã khuyết mất một ít. Hai cái nhà ở chung đều đã ngủ yên. Trong nhà bà ký Thảo và mấy đứa con im tiếng
cả. Bầu không khí yên lặng chỉ thỉnh thoảng vỡ ra vì mấy tiếng quạt phành phạch.
- Một cái chiếu trải ở ngồi hiên - cái hiên
cũng khá rộng. Giữa để một cái tích nước, một cái đĩa to đựng bốn cái chén và một cái điếu thuốc lào. Ông ba Tùng nằm vắt chân chữ ngũ một bên và bên kia ông ký
Thảo nằm nghiêng, chống một tay làm gối.
Hai anh em đến bây giờ mới có thì giờ nói chuyện. Cả buổi tối đã mất vì bữa cơm và mấy người khách. Ấy là ông bà thừa Minh, bà cụ và mấy người con sang thăm nhà mới ông ký. Sực nhớ lại bữa cơm chiều, ông Ba Tùng bảo em:
- Ở đây cái gì nhất nhất cũng phải mua cũng tốn, vậy chú thím tiêu thế nào cho khéo không thì không đủ đâu.
Ông ký cười:
- Miễn đừng cờ bạc, chơi bời, như vậy cũng tạm rồi. Nhưng bác tính mà xem, người ta - đừng nói đến chữ hoàn toàn, vì hoàn toàn được thì đã là ông thánh - nhưng cứ giữ được không chơi bời cũng khó lắm. Bác từng trải, bác đã biết.
Ông Ba thở dài giọng buồn rầu :
- Đành rằng thế, nhưng mình cũng phải nghĩ đến nhà ta đương xuống và các con nó còn đi học. Ngay tôi ngày trước như thế, mà bây giờ cũng phải... nữa là...
 
Năm nay, ông Ba ba mươi tám, hơn ông ký tám tuổi. Một vài năm nay, ông mới đứng đắn tu chí, chứ trước kia, ông cũng bạt mạng, chơi bời chẳng nể nang gì cả. Cha mẹ cho bao nhiêu ruộng nương đất cát, ông đều bán sạch. Đến lúc hai bàn tay trắng, biết hối hận thì cũng đã muộn. Bây giờ luôn luôn ông xuôi ngược lúc Yên báy lúc Hải phòng. Ông muốn làm lại cái cuộc đời nó đã tới nửa mất rồi. Cho nên, ông chú ý đến gia đình của em lắm. Em ông, ông biết tính hắn hiền lành chăm chỉ. Cứ xem cái việc ông Thảo làm hương sư còm cọm bấy nhiêu năm thì biết. Bây giờ địa vị đã hơn lên một chút. May ra nhà cũng lên được chăng.
Nhìn bóng một đám mây che khuất mặt trăng, ông Ba thở dài:
- Bác Cả mất rồi, bác hai thì cứ lẩn thẩn như thế lũ con cũng chẳng đứa nào ra gì, cái thằng Hùng bây giờ bắt đầu có tí máu mặt, nhưng tính khí nó thế nào ấy. Tôi thì hư thân không nói làm gì, chú Phán cũng hỏng nốt. Chú Mai, chú Chi, chú Đôn tới lúc lớn lên, chưa kể đến làm gì vội. Còn chỉ có chú thôi đấy!
Giọng ông dằng dai như chão rách, trong khi ấy ông ký chỉ lặng im nghe. Đến chuyện đại gia đình rồi đây, mà tiểu gia đình cũng đã xong đâu. Một cái gì thiêng liêng vào thấm tâm hồn hai người. Đêm đã khuya. Điếm tuần vừa điểm canh ba xong.
Từng bước một, lần ngược chiều về Dĩ vãng, ông ký Thảo nhớ lại những ngày thơ ấu ở cái làng hẻo lánh miền hạ du. Ông nhớ rằng mẹ ông mất từ ngày ông lên sáu. Ông là con thứ năm. Anh cả; anh hai ông đều ở riêng, mỗi người đều đã có vợ và mấy con. Anh thứ tư ông đi trọ học, mấy bà chị lấy chồng xa, ở nhà, trên ông có ông Ba dưới ông còn một em ruột cùng mẹ và mấy em trai em gái con bà dì.
Giữa lúc Hán học suy, cụ Cử cũng biết rằng cho các con đi học chữ Tây là phải. Thời nào theo thời ấy, không thể câu nệ, cố chấp được. Nhưng con đông như vậy, gia đình lại thanh bạch làm thế nào nuôi cho ăn học được tất cả. Năm ấy cụ đã ngòai năm mươi. Ông Cả và ông Hai ngòai ba mươi, bao nhiêu lần lều chõng cũng đều hỏng cả. Lập được cho mỗi ông một gia đình, cụ quay lại những đứa con sau. Đáng lẽ cái phần đi học là của ông Ba, nhưng ông Ba cũng hư nốt.
- Thôi để thằng Mẫn đi học, rồi nó dắt dẫn lũ em nó.
Thêm một năm, một năm, ông Thảo cũng được cha dạy cho ít nhiều chữ Hán. Và nhân dịp những ngày nghỉ hè ít ỏi ông được anh dạy vỡ lòng chữ quốc ngữ và chữ Tây. Tính ông vẫn hiền lành trái hẳn vái nết ngang ngược của ông Ba và ông Sáu em ông. Trong cái gia đình vợ nọ con kia, những tấn kịch dì ghẻ con chồng không sao tránh khỏi được, nhưng có xảy ra là chỉ xảy cho anh và em ông thôi. Bà cụ Cử sau này vẫn thuật chuyện lại:
- Cái thằng Thảo ngày còn bé sao mà nó thật thà đến thế. Còn nhớ một lần nó bắt được đồng hào đem khoe tôi : ‘‘Dì ơi, con bắt được đồng hào này ở đầu cối gạo  - Thôi đồng hào ấy của tao rồi - Thế đồng hào của dì thế nào ? Đồng hào của tao có con mẹ đầm cơ...
Cứ mỗi lần bà cụ Cử kể lại như thế, ông Thảo chỉ cười. Từ thuở nhỏ ông đối với dì vẫn không có điều tiếng gì.
Năm ông mười bảy tuổi thì cụ Cử hỏi con gái cụ Chánh trong làng cho làm vợ. Năm đó, ông Mẫn đã đỗ làm ông Phán tòa. Giá ông Mẫn chí thú ra thì cũng dắt được hai em là ông Thảo và ông Mai... nhưng ông là người chơi bời! Ngày nay nhớ lại, ông Thảo cũng không có ý ân hận gì, ông có bao giờ  oán hận ai đâu. Vả, ông cũng nhớ rằng cụ Cử sinh ra ông, trước đó, tuy có anh làm đến Tuần phủ mà cũng chẳng nhờ vả gì được nữa là. Nhưng ông cũng có ý tiếc:
- Bác nhỉ, giá độ ấy bác Phán bác ấy chịu khó ra thì tôi và chú Mai cũng khá nhỉ!
Ông Ba chép miệng:
- Nếu thế thì còn nói gì nữa. Ngay từ tôi, giá tôi cứ chí thú thì bây giờ làm gì mà đến nổi vất vả.
- Chẳng mấy mà hai chục năm rồi đấy!
- Hai chục năm, bao nhiêu sự thay đổi. Thầy mất, anh Cả mất, anh Hai vẫn thế, tôi nghèo, chú Phán mất việc. Nhà ta xuống đến thế chứ còn gì nữa. Cơ đồ còn chú, chú Mai, chú Chi, chú Đôn. Chú Chi bà cụ nuôi cho ăn học, đỗ được ‘‘diplome’’(=bằng cấp) đi dạy học thì rồi chú Đôn cũng đến thế. Chú Mai đi lính, thôi cũng xong. Còn chú...
Câu truyện ở một vấn đề, soay mãi trong một cái vòng thì thành ra luẩn quẩn mất, ông ký vội kéo ra:
- Tôi thì đến nuôi được mấy cháu ăn học chứ cũng chẳng biết làm thế nào hơn nữa, mà khó gớm. Bác thử ngồi xem có cách gì hơn lên một chút. Cái sự ‘‘sung túc’’ là tối cần mà nào có dễ.
- Tôi đã định hết cả rồi. Đợi chú thím ở đây ít lâu cho quen thuộc đi đã rồi ta xoay cái vốn buôn bán. Buôn thì buôn thuốc lào. Tôi đi lại ở vùng Vĩnh-Bảo nhiều, có sao xoay sở cũng dễ. Chỉ cần ba bốn trăm thôi. Tôi chạy ít nhiều còn nếu thiếu, ta xoay đến chỗ ruộng đất của chú… Chú liệu dần đi xem có cái nhà nào có thể mở cửa hiệu được, nhà trên này thuê rẻ, tôi đã hỏi qua; ở phố Ngang có cái nhà thuê có chục bạc mà trông tươm ra phết. Hiện thì tôi nghĩ đặt là Vũ-đình-Thảo tên chú. Như vậy hơn, vì chú ở đây ít lâu quen biết thì người ta cứ đến người ta mua.
Việc tính thật là dễ, chẳng có gì là khó khăn! Và bàn suông thì cái gì cũng đẹp đẽ lắm. Chẳng thế mà chỉ một tý, ông Ba đã bàn khác:
- Kể ra ở đây làm ăn cũng nhiều cách lắm. Tôi tính cách ấy nếu không tiện thì ta làm cái đại lý sách, báo và thuốc đủ lãi chán. Mình ăn hoa hồng cứ đổ đồng hai mươi phần trăm thôi. Các nhà trong tỉnh mình quen dần, sau này ai chẳng đến hiệu mình.
Ông ký Thảo bao giờ cũng im lặng giữ cái địa vị nghe, Ông anh nói suôi lắm nhưng biết đến lúc thực hành có được như vậy chăng.
Một lúc nữa, ông Ba lại bàn:
- À mà có cái này tôi quên khuấy mất. Chú làm việc ở đấy, nhà quê nó đi lại vay mượn luôn. Quen các tổng lý mình cũng phải lợi dụng ở họ một cái gì. Ở làng nào chẳng luôn luôn có khao vọng, mà đám khao nào chẳng cần phải có rượu, có chè. Chè xưa nay họ vẫn mua ở hiệu khách, nếu có mình, chắc chắn họ phải rủ nhau lại. Còn hòng nhờ vả về sau chứ! Á, xin một cái ty rượu ở đây có khó không chú nhỉ ?
Hai anh em còn bàn bạc chuyện làm, chuyện ăn mãi. Nói là hai anh em, chính ra có một mình ông Ba nói. Ông ký Thảo chỉ ngắt lời anh có một bận :
- Mình tính thì mình cứ tính đấy bác ạ. Chứ việc làm ăn nó có dể dàng như vậy đâu. Nói ngay đến cái việc tôi đi làm, trông chẳng có gì, nhưng chính ra cũng phiền, bao nhiêu là chuyện.  Lại còn mấy thằng cùng làm nũa. Bây giờ thì chúng nó tử tế lắm rồi, nhưng mấy ngày đầu xem. Được cái tôi cũng khéo, tôi bảo chúng nó: việc gì nặng nhất, các bác cứ để cho tôi, chỉ có cái gì tôi không biết thì các bác chỉ cho.
Đến một giờ đêm mà hai anh em vẫn chưa chịu đi ngủ. Hết truyện làm ăn tới truyện con cái:
- Cái thằng Đức, thằng Tề nhà chú có vẻ thông minh, học được cả đấy. Chúng ta ngày trước không được như chúng nó bây giờ. Hôm qua đi tàu, tôi ngồi tôi hỏi Sử, nó nhớ vanh vách chẳng sai chút nào cả. Trong lúc ấy, thằng Tề ngồi nghe có vẻ chăm chú lắm.
Nghe khen con, ông Thảo hơi đắc chí tủm tỉm cười. Ông Ba lại tiếp:
- Thằng Hương nhà tôi cứ để học ở Kinh-Môn cũng được rồi. Đến đỗ tốt nghiệp mới lại phải tính. Ấy mình có an nhàn về sau cũng ở chúng nó cả đấy.
Câu truyện kéo dài đến một giờ đồng hồ nữa. Ấm tích nước chè hạt đã cạn, sáp thuốc lào đã hết, hai anh em mới vào trong nhà đi ngủ.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 19.02.2021 22:01:14 bởi Ct.Ly>
V
 


 
ÔNG Ba Tùng về rồi. Và đến bốn năm hôm sau thằng Háu con bà Khóa mới lên. Trong những ngày không có đầy tớ ấy, mỗi ngày hai bữa ăn, giặt dũ quần áo cũng do tay bà kỷ Thảo, chỉ có gánh nước và đi chợ
là phải nhờ đứa ở nhà bà Thừa. Trong lúc mẹ bận bịu, thằng Đức phải trông em. Thằng bé muốn chạy nhảy, đùa nghịch lắm; nó cũng tức bực, chứ có không đâu vì cứ phải bế gọn trong lòng đứa em bé. Nhưng gia cảnh như thế nào, nó cũng hiểu qua không dám phàn nàn, chỉ
thỉnh thoảng hỏi mẹ :
- Anh Háu bao giờ thì lên nhỉ, u nhỉ?
Bà mẹ hiểu tâm lý con, cười an ủi:
- Thôi con chịu khó trông em cho u, mấy hôm nữa thôi, anh nó lên, rồi con không phải làm gì cả.
Cả một ngày thế mà cũng chẳng có mấy lúc ngơi tay. Buổi trưa, ông ký về, bỏ khăn áo, vào mở cái lồng bàn đậy mâm cơm cũng thấy hơi tự mãn. Món ăn không có gì sang, nhưng do tay người nội trợ trong nhà, trông sạch sẽ và ngon miệng lắm.
- U mày ăn cơm rồi à ?
- Vâng tôi cho nó ăn rồi, chứ chờ thầy mày về trưa quá, trẻ con chúng nó đói.
Ông ký Thảo không nói gì thêm, hút một hơi thuốc lào, ngồi thở khói thong thả. Đoạn ông mới ăn cơm. Vừa ăn ông vừa ngẫm nghĩ muốn tìm một câu truyện nói với vợ mà cứ băn khoăn không biết nói gì. Hai vợ chồng trước kia hàng năm gặp nhau ít ngày, còn có việc này việc nọ trong nhà mà nói để tránh sự ngượng nghịu. Nhưng bây giờ biết nói gì? Hai tâm hồn không cùng một trình độ cảm xúc. Và tình không có chỉ có nghĩa.
- Chẳng lẽ lại đem truyện ngồi sở kể cho vợ nghe. Hôm nay ngoài sở, ông Thu cộng nhầm một trang.
Ông Thảo nghĩ vẫn vô trong khi bà Thảo âu yếm nựng thằng con nhỏ. May mà người mẹ lại có đứa con để mà tỏ tình để mà nói truyện. Chẳng biết trong đầu đứa bé có ý nghĩ gì chưa mà cái nhìn của nó thấm thía đến thế. Cái miệng chưa có răng toét ra phô hai hàm lợi và cái lưỡi đỏ hồng.
Tới nửa bữa, ông ký Thảo mới đặt bát cơm :
- U nó ạ, thôi chiều để cùng ăn một thể nhé. Rồi mai trở đi cứ như thế. Nhà ít người mà lại còn chia làm hai bữa, chỉ thêm bận. Buổi sáng các con nó có đói thì mua quà cho chúng nó lót dạ. Đợi ít hôm nữa có thằng Háu nó lên thì sáng bắt nó nấu cháo.
Bà Thảo cũng chẳng biết tìm câu gì dài dài để đáp lời chồng. Bà chỉ cụt thun lủn mỗi tiếng : ‘‘ Vâng ”.
Ở một góc giường bên kia, thằng Tề đương ngồi cắt những mảnh hoa chuối làm cỗ với em nó là con Dung, Còn thằng Đức ngồi ngoài hiên đọc quyển tiểu thuyết Tàu mượn được bên ông Thừa. Không khí trong nhà im lặng như có người ốm.
Ăn cơm xong, ông ký Thảo chẳng biết làm gì khác hơn là ngồi hút thuốc lào. Chán rồi thì đi ngủ trưa cho tới giờ ra sở. Luôn hai ngày như thế, hai vợ chồng như một đôi đũa lệch. Trong đầu bà ký đã có cái ý nghĩ lại trở về nơi thôn dã. Nhưng bà không nói ra với chồng; bà thấy thèn thẹn. Vả lại, bà cũng e dư luận, cái dư luận ấy khởi đầu chính ở bà.
- Về bây giờ còn ra nghĩa lý gì nữa!
Chưa quen ai không đi đâu đã đành, nhưng ngay bên bà Thừa, mỗi ngày bà cũng chỉ sang qua một lúc. - Chà nhẽ, mới hôm nào mình còn phiền người ta ! Bà nghĩ như vậy.
Buổi tối ngày thứ ba mới thấy mấy ông bạn đồng sự lại chơi. Họ cũng chẳng biết ông Thảo dọn nhà nếu hôm ấy ông không mời :
- Tối hôm nay mời các anh lại chơi. Nhà tôi và các cháu đã lên.
Bà Thảo hơi lấy làm bằng lòng khi thấy bạn chồng, những người danh giá, lại chơi. Chẳng gì cũng thân danh một ông ký rồi, đâu như ở nhà quê !
Tiếp khách giá có nước chè tầu, thuốc lá thì phải, nhưng đầy tớ chưa có, con lại còn nhỏ, lấy ai đun nước. Bà Thảo hơi ân hận một chút vì tích nước chè hạt và cái điếu thuốc lào không được sang.
Thường thường đối với vợ các đồng sự, họ vẫn gọi là bác, chữ bác có vẻ thân mà không bớt kính trọng. Gọi chồng là anh không sao nhưng đã gọi vợ là chị nghe nó không chỉnh chút nào. Nhưng lần đầu tiên đến chơi nhà bạn, cả ba ông : Ông Thu, ông Phương, ông Tạo chẳng biết vô tình hay cố ý đều không dùng chữ bác nhưng dùng chữ bà :
- Chào bà ạ.
- Bà mới đưa các em ở nhà quê lên ạ.
- Bà đã đi xem tỉnh chưa ạ ?
- Lúc nào thư thả mời bà lại chơi với mợ cháu.
Chữ ‘‘ bác trai’’ để chỉ ông Thảo cũng được thay, bằng ‘‘ ông ký nhà ta’’.
- Ông ký nhà ta người hiền lành chứ không thì bao nhiêu cũng hết.
- Nói chuyện thường với ông ký nhà ta, tôi vẫn bảo đấy ạ : Thôi thì anh em mình đã chẳng phong lưu gì, gia đình lại đông đúc.. Thôi thì mình cứ chí thú mà làm ăn.
Ông ký Thảo cười. Bà ký Thảo cũng cười. Còn biết trả lời làm sao nữa! Họ đã vụng về trong mọi việc xã giao, cái buổi nhất kiến này lại toàn những lời khách sáo. Ba người, người nào cũng cố tỏ ra hết cả sự khéo léo và lòng tử tế của mình. Và khi câu truyện với bà ký đã quá nhạt, họ liền xoay ra nói truyện với hai đứa con trai. Từ lúc chào ‘‘lạy ông ạ’’ xong, cả hai đứa vẫn đứng đấy mà không biết làm gì.
- Em lên mấy ?
- Cháu lên chín ạ,
- Tên em là gì ?
- Tên cháu là Đức ạ.
- Còn em kia là gì ?
- Nó là Tề
- Các em đi học chưa ?
Câu truyện nhạt nhẽo hết chỗ nói nhưng cũng kéo dài đến năm phút. Bấy giờ bốn người mới quay mặt vào nhau đi bàn mấy công việc chung ngoài sở,
 
xXx
 
Bà ký Thu giơ tay đập mạnh vào tấm cửa bức màn đóng kín :
- Sáu ơi, ra mở cửa cho mợ.
Chẳng thấy tiếng ai thưa, Bà chép miệng phàn nàn với bà ký :
- Bà tính, đầy tờ nó thế đấy, Đi đâu về gọi chả thấy tăm hơi. Dáng chừng nó lại ngủ hẳn. Ông tôi thì lúc ở trên này, lúc ở nhà quê thất thường lắm ạ. Còn bà tôi cũng theo thuyền với người nhà. Nhà neo người lắm. Tất cả chỉ có hai cụ tôi, chúng tôi và chú nó. Thành ra hai cụ tôi đi vắng, nhà tôi đi làm, chú nó đi học là nhà chẳng có ai,
Bà lại đập cửa mạnh hơn, gọi:
- Sáu ơi, Sáu ơi. Gớm con chết tiệt ngủ rồi hay sao chẳng biết.
Đến năm phút sau mới thấy con bé ra mở cửa:
- Thưa mợ con ở dưới bếp thành ra mợ gọi con không nghe tiếng.
Bà ký Thu mắng con bé mấy câu rồi quay lại mời khách:
- Mời bà vào trong này. Nhà buôn bán có khi bề bộn, bà đừng cười nhé.
Bà Thảo mỉm cười khiêm tốn:
- Tôikhông dám.
Đoạn bà liếc mắt ngắm xung quanh. Quả là có bề bộn thật. Góc nhà này mấy chục bao tải chồng chất. Góc nhà kia đống ngô nếp bừa bãi bên cạnh một cái cân bàn. Trên tường treo mấy quận đay, mấy cái ống siên xem thốc gạo, cái bàn tính; không theo một thứ tự nào hết và bất chấp cả mọi thứ mỹ thuật! Đi qua gian phòng này mới tới chỗ tiếp khách nhưng cũng chẳng gọn ghẽ hơn bao nhiêu. Bàn ghế đều xếp gọn lại để kê những bao gạo ngoài kia kê không hết. Còn mỗi chiếc sập gụ bà Thảo liền ghé ngồi xuống đấy.
Bà Thu giọng tự đắc :
- Thưa bà trong nhà quanh năm cứ bề bộn như thế đó, nhưng còn được thế là còn có tiêu...
Bà Thảo nói một câu không biết rằng ngô nghê:
- Thưa bà buôn bán như thế thì hơn lương ông nhà ta đi làm đấy nhỉ?
- Vâng, chẳng dấu gì bà, đi làm thì không được là bao. Nhưng nó cũng đỡ được tiền tiêu vặt của cậu cháu. Vả lại không như thế đẻ tôi cũng không bằng lòng.
Lần này là lần đầu tiên bà ký Thảo đến chơi nhà bà ký Thu. Từ hôm có đứa ở rồi, bà cũng muốn đi đây đi đó làm quen với người này, người khác, ở đâu cũng phải có bạn, chứ không thì buồn chết. Sang bà Thừa mà cứ thấy bà ấy đánh bài thì chán thật.
Như những cặp vợ chồng trẻ khác thì ông Thảo đã dẫn vợ đến chơi nhà những người mình quen. Nhưng đối với họ, nó ngượng nghịu thế nào ấy. Lại còn con cái thì làm sao! Cả bốn đứa, chả nhẽ dẫn cả chúng nó đi.
Bà Thu đến chơi bà Thảo hai lần. Lần thứ hai, bà rủ cả bà bạn lại chơi. Trong đầu mỗi người có một ý nghĩ khác nhau. Bà Thảo riêng suy tính:
- Ông ấy cùng làm một sở với chồng mình, thế nào chẳng có lúc phải giật mượn.
Bà Thu cũng tự nhủ thầm :
- Bà ấy người nhà quê, hiền lành thực thà. Bà ấy lại có bốn con. Quý hóa quá.
Trong khi bà nọ nghĩ đến cái giầu của bà kia thì bà kia nghĩ đến mấy đứa con của bà nọ. Cái giao tình nào mà chẳng dựa vào điều kiện nào khác. Ngẫm cho cùng có cảm tình nào không xây trên quyền lợi?
Thế rồi ngồi nói chuyện, mỗi bà lại tỏ một điều ước ao của mình. Đàn bà họ dễ tâm sự với nhau ngay.
- Nhà tôi nói đến chuyện tiền nông, tuy chẳng dám tự phụ là thừa thãi gì, nhưng cũng không đến nỗi thiếu, có thiếu chỉ thiếu một đứa trẻ trong nhà. Vâng, có
một đứa trẻ trong nhà cũng vui thêm nhiều lắm. Bà tôi cầu hết đền này phủ nọ, tôi cũng hết thuốc tây đến thuốc ta mà chẳng ăn thua gì. Chỗ chị em, nói tình thật bà ạ, tôi đâm ra them cái tiếng trẻ con khóc.
- Ông bà kể cũng khí muộn mằn một chút đấy. Nhưng sớm như nhà tôi mà làm gì. Bốn đứa con, lương thầy cháu có vậy, biết có đủ ăn không?
Hai bà ký ngồi lan man, giá không có việc gì thì cũng kéo dài ra hàng buổi : Và mỗi lần ra về thế nào cũng có lời hẹn:
- Lúc nào rỗi mời bà lại chơi.
 
Đến chơi bà ký Thu lần thứ ba thì bà ký Thảo gặp bà cụ Ấm thân sinh ra ông Thu. Bà cụ dễ đến ngoài năm mươi, tuy vậy vẫn còn mạnh lắm, tiếng nói cứ sang sảng.
Câu chuyện không giống như với bà Thu. Bà cụ Ấm tính vui vẻ, ân cần hỏi thăm bà Thảo hết mọi chuyện nhà chuyện cửa. Với mỗi câu hỏi, bà Thảo lại trả lời bằng một giọng hết sức lễ phép:
- Vậy chứ các cụ bên ông ký nhà ta được mấy các ông các bà ấy ạ ?
- Thưa cụ, ông cháu được nhiều các bác, các chú lắm, Thầy cháu là thứ năm mà dưới cũng còn ba chú nữa. Các cô cháu, năm sáu người cũng đã yên phận.
Bà cụ Ấm cười rít tươi. Nụ cười già như vậy là đẹp lắm.
- Các cụ ngày trước phú quý nên sinh lắm con nhiều cháu.
- Vâng quả có thế, nhưng con nhiều thành ra của cải nó vào con hết, chẳng còn gì mấy nữa. Đến thầy cháu là nhà đã sa sút lắm. Thưa cụ, cái cảnh con đông nó vẫn thế, chằng nói làm gì bên ông cháu, có khoa mà không có hoạn. Ngay bên cụ Tuần cháu, cụ đi làm quan lừng lẫy, thế mà con cháu cũng nhiều người túng thiếu.
Bà ký len mấy chữ ‘‘cụ Tuần cháu’’ vào để khoe một cách khéo léo ‘‘chúng tôi là con nhà thế gia lệnh tộc’’ cả đây. Câu nói cũng có hiệu nghiệm vì bà cụ Ấm đón lấy hỏi ngay:
- Cụ Tuần tức là anh ruột cụ Cử nhà ạ. Cụ chắc cũng đông các ông ấy lắm?
- Thưa cụ, vâng. Các bác cháu bên ấy nhiều người đi làm quan cả. Có cái cũng chưa nối được chí cha.
Bà cụ Ấm gật đầu se sẽ, trầm ngâm một chút, lại hỏi:
- Còn bên nhà, chắc gia đình cũng vui vẻ như vậy chứ?
- Cám ơn cụ, các bác, các cậu, các dì cháu tất cả cũng được mười hai người, kém bên ông nhà cháu ba người.
- Quý hóa quá. Mỗi con là mỗi của, tôi chỉ mong như vậy mà không được. Tôi hiếm lắm bà ạ. Tất cả có ba đứa. Nhà Thu cùng làm với ông ký đấy, con mẹ Phán cháu ở Hải phòng và thằng bé còn đi học.
Gần hết những câu hỏi này, lần ông ký Thảo đến chơi đầu tiên, bà cụ đã dùng, nay đem hỏi lại cho nó có câu chuyện. Và đến khi chẳng còn câu gì nữa bà cụ mới đem chuyện hiếm hoi của ông Thu ra mà phàn nàn :
- Đời tôi, nghĩ mình chẳng làm điều gì thất đức. Chẳng biết tiền nhân ăn ở ra sao mà cái thằng Thu nó cấm cho tôi được tí cháu nào. Mợ nó bà cũng biết đấy trông người đầy đặn, khỏe mạnh chứ có bệnh tật gì đâu. Giá tại con vợ nó, thì ư, cưới thêm cho nó nhà hai nữa.
Chẳng biết là chuyện thực hay bà Thảo bịa ra để an ủi.
- Thưa cụ, cứ chịu khó kêu cầu rồi Thần Phật cũng thương cảm cho cái lòng thành của mình, Ở làng cháu có cái ông Lý ấy giầu lắm mà cũng hiếm con. Kêu cầu mãi, tới năm bốn lăm, còn sinh được ba con, hai trai một gái đấy ạ.
- Là cái năm bà ấy bốn lăm chứ ?
- Vâng.
- Ồ nhỉ!
Ngừng lại một giây, bà cụ Ấm lại tiếp:
- Vâng, người ta như vậy được thì mình cũng như vậy được, chứ tôi nghĩ bây giờ cưới thêm vợ cho nó, chỉ tổ lục đục trong nhà. Ớt nào là ớt chẳng cay. Đàn bà nào là đàn bà chẳng ghen. Mình chẳng thể lấy thế mẹ chồng mà cấm nó.
Bà Thảo về rồi. Bà cụ Ấm gọi con dâu bảo:
- Cái nhà bà ký Thảo ấy, người nhà quê thực thà hiền lành quá. Con nhà gia giáo cũng có khác. Mợ cũng nên năng đi lại đằng ấy. Gặp được người tốt khó lắm, con ạ.
Buổi trưa hôm, trong bữa cơm, bà cụ lại nhắc bảo con trai. Lên Bắc-giang, ngoài gia đình ông thừa Minh, người làng, thế là bà ký Thảo lại có thêm một gia đình bạn nữa.
 
 
 
 
 
 
VI


 
Ngày mai thì thằng Đức và thằng Tề được đi học. Ông ký Thảo vừa nói, cởi áo dài. Cả hai đưa trẻ tíu tít xúm lại bên cha:
- Mai ư, thầy. Thây xin được ông Đốc rồi ư? Nhưng mà đã hết nghỉ hè đâu.
- Còn hai tháng nữa mới khai trường kia. Mai các con đi học là học tư đấy chứ.
Thằng Đức lặng im một chút rối dụt dè:
- Con chưa có mũ. Giá thầy mua cho con một cái…
Nó không dám xin hẳn chỉ ngập ngừng như vậy. Thằng bé tuy mới lên chín nhưng cũng đã hiểu qua cảnh nhà. Nó biết rằng mỗi lần phải tiêu như thế là bất đắc dĩ lắm. Thày u nó có sẵn tiền đâu.
- Thầy nhỉ, cái mũ trắng bây giờ mất đến năm hào ấy nhỉ.
Ông ký Thảo an ủi con:
- Để lát nữa ăn cơm xong, thầy đưa ra phố mua một cái. Đắt thì đắt nhưng đi nắng cũng phải có cái gì che chứ.
Bà ký chen vào một câu
- Thầy nó có mua thì mua cho cả thằng Tề một thể.
Ông ký ngần ngừ:
- Hai cái, thành ra mất đồng bạc cơ à!
- Thầy mua cho con thôi, thằng Tề nó đã có cái mũ ‘‘cát két’’ (caquette) của bác Phán cho.
Bà ký xưa nay vốn yêu thằng con thứ hai hơn, liền mắng thằng lớn :
- Mày chỉ ích kỷ thôi nào. Mua thì mua cả cho em một thể chứ. Cái mũ cát két đội đi học trông dơ chết đi ấy mà.
 
Thằng Đức lặng im, tiu nghỉu nhưng ông ký gạt đi:
- Thôi đi ăn cơm. Xong còn đi mua mũ cho hai đứa và xin học.
Ăn cơm xong, ba cha con dắt nhau đi. Trước hết là đến hiệu mũ. Ông ký chọn cho mỗi đứa một cái, trông vẻ mặt hân hoan của chúng mà cảm động. Ông thấy lòng mình rào rạt một tình yêu thương vô hạn. Từ xưa, ông chỉ thấy cái việc có con là dĩ nhiên như ông sống, nhưng đến lúc này ông mới cảm thấy rõ: đó là một Hạnh Phúc, không phải ai cũng có. Mỉm cười tự đắc, ông nhủ thầm:
- Ông bà cụ Ấm và vợ chồng  ‘‘cu Thu’’ thèm được như thế này lắm đây!
Ở hiệu mũ ra, ba cha con dắt nhau qua mấy phố đông tới một phố vắng, rẽ vào một cái cổng gạch. Đó là lớp học tư của một cô giáo người ta mới giới thiệu với ông Thảo. Ở Bắc giang có hai trường tư lớn, ông Thảo cũng muốn xin cho con vào một trong hai nơi : hoặc Ánh Sáng học đường hoặc Tiến Bộ tư thục. Nhưng ở đó họ lấy đắt quá. Thằng lớn học lớp ba, họ đòi những một đồng, thầng bé, lớp năm cũng phải bảy hào. Đàng này, cơ giáo lấy có một đồng hai đứa.
- Mà trẻ con chúng nó học đâu chẳng thế. Ông ký Thảo tự nghĩ.
Một đứa bé ra mở cổng. Ông ký hỏi:
- Cô giáo có nhà không em ?
- Thưa ông, có ạ ; mời ông vào chơi.
Trong nhà lúc ấy có lẽ vừa ăn cơm xong mọi người còn đương ngồi sỉa răng. Tất cả có ông cụ, bà cụ sinh ra cô giáo, anh cô giáo và cô giáo... Ngần ấy người cùng ra tiếp ba cha con ông ký. Chán những câu khách sáo, cô giáo quay ra hỏi hai đứa bé:
- Em lớn học lớp mấy rồi ? Đã biết đọc chữ Tây chưa?
- Con học lớp ba rồi nhưng chưa đi thi ạ. Con viết được ‘‘dictée” (Chính tả) rồi ạ.
- Giỏi nhỉ. Còn em này.
- Em con nó mới biết đọc quốc ngữ thôi ạ. Nhưng chữ còn xấu lắm!
- Ngày mai các em cứ đến học. Đừng sợ gì nhé. Cô yêu các em , không hay đánh mắng các em đâu.
 Ấm chè đã nguội. Nghĩ cũng chẳng cần nói thêm gì nữa, ông ký Thảo cáo từ đưa hai con ra về. Thế là xong việc xin học.
Sáng sớm hôm sau, vì là buổi đầu, hai đứa trẻ được hưởng cái hạnh phúc đặc biệt là đi xe đến trường. Ngồi trên xe, thằng Đức nhớ lại lúc còn học ở cái đình làng Dươn -nham. Bọn học trò ở đấy thật là tạp, thật là hỗn độn bẩn thỉu nhem nhuốc, nhưng chúng chìu và nể cả hai đứa con ‘‘ông giáo’’ biết chừng nào. Thằng Tề cũng không quên cái anh Xoang hay dấm dúi cho nó các thứ hoa quả. Nó bảo anh:
-  Ở đây xa thế này, không biết anh Xoang anh ấy có lên chơi được không, anh nhỉ?
- Sao anh ấy lại không lên chơi được. Anh ấy lớn mà lỵ.
- Thế bao giờ anh ấy lên?
Thằng Đức nói sang truyện khác:
- Đến đây thành chúng mình không quen ai nhỉ. Nhưng tao thì tao chả cần. Vì tao chỉ học ở đây hai tháng. Xong hè tao vào trường công.
- Thế em không được vào à?
- Mày còn phải chờ sang năm mới đủ tuổi.
Tới cổng nhà học. Hai anh em xuống xe, dụt dè bước vào. Trong cái sân rộng đã thấy hơn chục đứa trẻ chơi đùa. Cô giáo đương ngồi thêu, thấy chúng chào, ngẩng đầu lên tươi cười :
- Các em đã đến rồi đấy ư? Để sách vào đây rồi ra chơi. Chưa đến giờ học, còn một lúc nữa kia.
 
Trường học mà chẳng có trống gì cả, cũng không chia ra từng lớp. Trên tường vắng hết cả tranh ảnh, không bằng trường công được. Đó là cảm tưởng đầu tiên của hai anh em. Bàn ghế cho học trò ngồi cũng không phải là kiểu bàn ghế nhà trường. Lúc không có học trò thì đấy là bàn ăn bàn tiếp khách. Học trò lớn mới được ngồi bàn, còn lũ trò nhỏ đã có tấm ghế dài kê vào bộ ghế ngựa làm bàn học.
 Số học trò kể cả hai anh em là hai chục đứa chia làm ba lớp không nhất định theo chương trình một lớp học nào trường nhà nước. Không gọi là lớp ba, lớp tư, lớp năm nhưng gọi là lớp học chữ tây, lớp học quốc ngữ và lớp học đánh vần.
Lúc bắt đầu học chẳng khác gì lúc bắt đầu họp chợ. Tất cả lũ trẻ, đứa lớn nhất không quá mười hai tuổi, mỗi đứa nói một câu làm cô giáo tíu tít cả lên.
- Thưa cô, con không có bút ạ.
- Thưa cô, con bỏ quên sách ạ.
- Thưa cô, cô viết tô cho con ạ.
Mỗi đứa yêu cầu một điều làm cô giáo không biết trả lời sao cho khắp được đành phải sua tay bảo tất cả ngồi xuống. Hai anh em Đức và Tề được cô giáo chú ý đến đầu tiên. Chúng lấy thế làm hân hạnh lắm. Thằng Tề ngượng nghịu đưa quyển vở cô giáo tô cho một trang trong khi anh nó nắn nót để một chữ đầu ‘‘ dictée française’’ (chính tả bằng tiếng Pháp).
Luôn mấy giờ đồng hồ không ngớt tiếng. Lúc bọn này làm việc thì bọn kia ngồi nói chuyện và nghịch ngợm. Ồn nhất là lũ trẻ con cùng một loạt với thằng Tề. Chúng cấu véo nhau, chửi nhau, khóc và mách cô giáo.
- Thưa có, anh Hiền anh ấy đánh con ạ.
- Tại anh ấy chửi tên thầy con.
- Tại đầu tiên anh ấy bẻ gẫy ngòi bút con.
Cô giáo còn mải giảng bài cho bọn học trò lớn, chưa kịp quay lại. Cả hai đứa trẻ vừa mách cô giáo vừa cải nhau ồn lên. Thằng Tề thấy cái cảnh không có trật tự gì ấy lại nhớ lúc thầy nó còn làm hương sư. Lớp học đông hơn nhiều, đến bảy tám chục người, cũng chia ra mấy lớp thế mà chẳng bao giờ ồn ào.
- Tại thầy hay đánh chứ không hiền như cô giáo. Nó nghĩ thế.
Buổi trưa, lúc người cha đi làm về, cả hai đứa con xúm lại để khoe buổi học đầu tiên:
-  Hôm nay cô giáo chưa dậy gì con cả, mới cho con viết tô thôi.
- Hôm nay con vừa viết ‘‘dictée’’ lại vừa làm tính. Bài dictée khó ghê mà con chỉ mất có một phốt (faute= lỗi). Học trò đấy chúng nó dốt lắm thầy ạ. Đứa nào cũng đến sáu bảy ‘‘phốt’’.
- Nhưng cái trường học tồi gớm đi, thầy ạ. Không được như ở Dương Nham. Trên tường chẳng có tranh ảnh gì mà bàn ghế cũng không nốt, anh Đức được ngồi trên tràng kỷ viết lên cái bàn to, còn con, phải kê xuống giường viết.
- Học trò chúng nó cứ đánh nhau, chửi nhau, nói chuyện ầm lên mà cô giáo cũng chẳng đánh gì cả.
Bà kỷ Thảo ngắt lời con, bảo chồng:
-  Thầy mày cho con đi học, sao không chọn cái trường khá một tý, lại dẫn đến cái trường tồi ấy.
Ông ký hơi nhách mép:
- Đành rằng thế nhưng chỗ khác họ lấy đắt gấp đôi mà chỉ được học có một buổi.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 21.02.2021 20:43:13 bởi Ct.Ly>
VII
 
 
THẾ là tạm xong, thế là tạm yên cái việc lập lại cái gia đình. Từ đây trở đi, họ sẽ sống một cuộc đời mới có trật tự quy củ. Như vậy mới mong tiến lên được. Họ nhìn ngày mai như nhìn màu hồng ở phương đông lúc trời bình minh. Phải, ngày mai
sẽ hồng sẽ đẹp. Và cái ngày mai nó đến với họ một cách chắc chắn chứ không phải chỉ là một cái bóng mộng cho người ta theo giõi trọn đời.
Ông ký Thảo bắt đầu thấy trong lòng vui vui. Hai vợ chồng quen nhau gần nhau như hai vợ chồng mới cưới. Ấy như vậy đó, tuy đã bốn con nhưng họ đối với nhau vẫn bỡ ngỡ thế nào ấy! Bây giờ, mỗi ngày, lúc buổi chiều, sau khi ăn cơm, hai vợ chồng đã có những câu truyện dài. Họ đã kể cho nhau những việc bông lông gia đinh người khác.
- Thầy nó ạ, hôm qua tôi sang chơi bên bà Thừa gặp cả ông Tú Hàng và cụ Đám ở Cốc. Gớm, bên ấy sao nhiều khách đến thế! Hết đám này về lại đám khác đến. Không biết lương ông ấy đủ làm sao được.
- Ông Thu sắp sửa lấy vợ hai đấy, u nó ạ. Bà cụ nóng ruột, muốn sớm có cháu bế
- Cái cô giáo Tám dạy chúng nó đến bây giờ cũng chưa có chồng nhỉ.
Họ không xưng nhau là ‘‘mình’’ hay là ‘‘nhà’’ cũng không là ‘‘cậu’’ ‘‘mợ ’’; Họ xưng nhau là ‘‘thầy nó, u nó’’ hay ‘‘thầy mày, u mày’’ như ở nhà quê. Truyện, bốn đứa con rồi còn gì.
Thế rồi những ngày theo những ngày, êm đềm và lặng lẽ. Mỗi người có một việc, một bổn phận; làm trọn tức là sống đấy.
Cha có phận cha, đi làm, cuối tháng lĩnh lương nuôi gia đinh, ngoài ra trông nom giáo dục cho mấy đứa con. Mẹ có phận mẹ, trông coi việc nhà, săn sóc làm sao cho giường chiếu sạch sẽ, mâm cơm ngon lành. Con có phận con, ăn ngủ cho có điều độ, đi học cho chuyên cần. Bây giờ họ còn nghèo, họ sống theo cảnh nghèo. Ông ký Thảo nhớ rằng mình là ông ký nhà Băng, khổ lương ít nên những khoảng chi tiêu đều phải cẩn thận. Mỗi ngày bốn buổi ra sở, ngày nắng đi bộ đã đành, nhưng ngày mưa nếu không to lắm thì cũng đừng đi xe. Tiền thợ giặt cũng hà tiện chứ, có đưa thì đưa quần ngoài và áo dài thôi, còn đã có thằng nhỏ nó giặt. Bà ký Thảo nhớ rằng mình là vợ một ông ký nhà Băng khổ, lương ít : số lương chồng đưa hàng tháng chỉ có như vậy thôi, liệu tiêu thế nào cho đủ thì tiêu. Cái chữ ‘‘đủ’’ mới thật là khó. Đã đành rằng tiêu cho vừa số tiền nhưng cũng phải xê dịch thế nào để bữa cơm trông nó đừng cơ cực quá.
Được một đứa ở lại chẳng biết làm gì cả. Việc nào cũng đến tay bà ký. Kể từ việc đi chợ, thằng bé Háu ấy có đi cũng chỉ là mua mấy xu rau. Nhưng cũng phải có nó để nó bế thằng bé con. Hai vợ chồng đã bàn nhau : hay là mượn một đứa nó lớn một tí để dễ sai bảo. Nhưng điều dự định không bao giờ thực hành được. Mượn một đứa khác, ở nhà quê, đứa nào làm được nó không đi, còn đều một ‘‘duộc’’ cả. Mượn ở đây càng khổ nữa. Kiếm sao được cái đứa có cốt cách, gốc gác hẳn hoi! Lại còn vấn đề tiền công hiện thời, mỗi năm ngoài cơm ăn áo mặc, bà ký chỉ phải đưa cho bà Khóa có sáu đồng bạc. Mượn một đứa khác ít nhất cũng mười hai đồng hay hơn nữa.
- Rồi mình nói với bà ấy làm sao?
Ông ký cười sòa khi nghe vợ hỏi câu ấy. Bà ký lại nhắc lại :
- Ừ bây giờ cho nó về thì chẳng có gì là khó cả. Đưa nó ra tầu thủy, cho nó mấy hào là xong, nhưng mình biết nói với bà ấy thế nào ?
- Thì mình bảo rằng vì nó không biết làm gì, chúng tôi không dùng được chứ sao.
Bà ký cau mày khẽ lắc đầu:
- Thầy mày đến buồn cười. Lúc nó lên, tôi đã bảo trước... Mấy lại bà ấy cũng bảo: Cháu nó chưa biết gì cả, dì liệu bảo ban nó hộ. Ở nhà khác thì cháu chưa ở được đâu, nhưng thôi chỗ dì cháu thì dì liệu đấy.
Ông ký cười :
- Thôi cái ấy tùy u mày, tôi không biết, thế thì để nó lại, nhưng như thế thì mình vẫn bấn.
 Sau cái việc bàn tính ấy, thằng Háu vẫn ở. Rồi cũng xong...
Ngày nào cũng vậy, mỗi buổi sáng còn tinh sương, bà ký đã đặt con trở dậy xuống bếp. Công việc đặt một nồi cháo cũng chẳng khó khăn gì nhưng bà muốn tự tay làm lấy. Thằng bé ở lúc ấy để cho nó quét cửa quét nhà và gánh nước.
Lúc ông ký ra sở, các con ra trường rồi, thu dọn được bữa ăn sáng xong lại phải sửa soạn bữa ăn trưa. Rồi khi bữa ăn trưa xong là buổi chiều quá nửa...
Cứ như thế, cứ như thế ngày này theo ngày khác chẳng mấy lúc được rảnh rang. Bà ký lắm lúc muốn ra chơi ngoài bà cụ Ấm, nói chuyện với bà Thu, hay sang bên bà Thừa Minh. Nhưng công việc nhà bận bịu, con lại nhỏ nên cũng thôi.
Bà Thừa nhiều lần sang chơi đã trách đùa:
- Gớm bà ký thì có việc gì mà chẳng thấy sang chơi.
Cả bà cụ Ấm mỗi lần gặp ông ký cũng bảo:
- Ông được bà vợ chăm chỉ, quí hóa quá. Chẳng đi đến đâu, chỉ ở nhà trông nom con thôi. Tôi hẹn mấy lần vẫn chưa thấy bà ấy ra. Nhưng mà cũng phải giao thiệp với người này người kia đi thì vừa. Rồi có tính buôn bán gì không?
- Thưa cụ, u cháu con mọn, đợi về sau thư thả chút nào đã ạ.
 - Ông ạ, nghĩa là chỗ thân tình ông với cậu Thu nó thì tôi mới nói, ông cũng liệu mướn vú đi nó chăm bẵm cho con để bà ấy thư thả chút ít mà tập buôn bán chứ. Nhà đông trẻ, lương lại ít, phải kiếm chứ cần kiệm thế nào thì cũng thiếu.
Hai vợ chồng lại bàn nhau và sau cùng bà ký nói:
- Lẽ đành như thế, nhưng thầy nó tính lại xem. Con nó còn nhỏ, tôi chẳng dám giao con cho ai đâu. Đầy tớ nó trông sao kỹ bằng mình; Lời lãi đâu không biết, liệu có đủ tiền thuốc không. Số lương của thầy mày đưa ăn tiêu vừa đủ. Của tôi có ít nhiều sắm sửa đồ dùng trong nhà còn thừa cũng phải phòng khi ốm đau. Đá cũng còn có lúc đổ mồ hơi nữa là. Còn mẫu ruộng và cho đất của ông cho chẳng lẽ bán đi. Bán thì dễ nhưng tậu thì khó lắm, thầy nó ạ
Ông ký chưa kịp trả lời, bà ký lại tiếp:
-Thôi bây giờ mình hãy gắng chịu kham khổ một chút vậy, Thầy mầy đưa được bao nhiêu, tôi liệu xê dịch cho đủ. Con nó lớn lên, mình yên trí mới nghĩ đến làm ăn được.
Một kỳ lĩnh lương qua. Rồi hai kỳ lĩnh lương qua. Hai mươi lăm đồng bạc chia ra làm bao nhiêu món, nào tiền gạo, tiền củi, tiền nhà, tiền nước mắm, xà phòng, lại tiền học cho con. Ông bà ký Thảo ngồi tính với nhau cả buổi tối. Giá cái khoản thu nặng thêm được một chút nữa, nhưng cái khoản chi nó tạp quá, từng xu, từng hào góp lại mà gần hết số lương. Vỏn vẹn còn có một đồng, bốn hào, năm xu
và một trinh lẻ.
Ông ký cười sòa :
- Vẫn còn thừa được thế là khá đấy. Chỉ sợ nó lại hụt quá thì thật nguy.
Bà ký nói đùa:
- Bây giờ giá có ai mời đi tổ tôm thì cũng đến cáo thoát nhỉ.
Ông ký trầm ngâm :
- Ngày rầy còn nóng, nhưng đến mùa rét, làm thế nào may được cái áo ‘‘ba-đờ-suy’’. Ngày mùa, công việc bận phải đi làm đêm là thường.
- Công việc vất vả thế mà họ không cho thêm lương nhỉ ?
- Như thế này lương cũng gấp đôi lương hương sư rồi, còn làm là tốt, chỉ sợ cái sở này nó lại bỏ đi mất thôi.
Bà ký cười, hỏi chồng:
- Thầy nó tính thử xem bây giờ nếu không làm đây nữa thì làm gì ?
- Thì mình lại về làm hương sư. Còn u mày lại về quê. Ruộng hết rồi thì ta xoay ra buôn bán, làm hàng sáo chẳng hạn thế nào chẳng đủ ăn.
Im lặng một tí, ông ký lại tiếp :
- Ở đây chỉ lợi được cái lũ trẻ được học.
 
 
 
 
 
 
 

 
VIII

 
 
Bữa ăn có hai con gà và ba con vịt. Người ăn tất cả là hai gia đình ông ký Thảo và ông thừa Minh. Lần đầu tiên, ông bà ký Thảo tiêu một món có thể gọi là hoang. Dễ đến bốn năm đồng bạc, chứ không
ít. Hai vợ chồng hôm trước đã bàn tính với nhau :
- Ngày mai là ngày giỗ ông. Thầy nó có tính cái gì không ?
- Cái ấy u mày liệu thế nào thì liệu. Mình nghèo, cũng đến làm con gà cúng xong cho trẻ nó ăn thôi chứ gì.
Thấy vợ có vẻ ngẫm nghĩ, ông ký lại nói đùa !
- Bao nhiêu con thì ông biết về ăn có của con nào ?
Bà ký cười :
- Thì cái tục lệ của các cụ để lại, mình cũng cứ biết theo để tỏ lòng một chút, chứ ông lúc sống ăn còn chả được mấy huống chi là bây giờ đã mất rồi.
Bà nghiêm nét mặt suy nghĩ nói tiếp :
- Cúng ông là một việc đã đành đi rồi, nhưng tôi muốn làm vài mâm mời ông bà cụ Ấm, ông bà Thu và ông bà Thừa. Nghĩa là cái tình đi lại.
Ông ký gạt đi:
- Ông bà cụ Ấm và ông bà Thu thì thôi. Còn bên ông Thừa đối với mình là chỗ người làng, tôi lại bên ấy mãi, u mày có mời thì mời cả nhà cả lũ trẻ con ấy. Có mời thì cũng nói qua là nhân ngày kỵ ông tôi, mời cụ, ông bà và các em sang xơi cơm xoàng. Đừng để người ta bày vẽ mua hương nến gì cả.
Bà ký còn ngần ngừ, ông ký lại tiếp :
- U mày thử tính xem. Nhà mình cái nghèo là dĩ nhiên rồi, tôi không nói. Nhưng neo người thế này, mới nhiều thì mời làm sao. Mời ông Thu tức là phải mời cả ông Phương, ông Tạo... Cùng một sở mà lại. Ăn làm một bữa thiếu người hầu, mà ăn làm hai, ơi tính càng phiền nữa. Có u mày với thằng Háu thôi chứ gì, tiện hơn hết là mời cả gia đình ông Thừa. Bảo hai đứa ở bên ấy nó giúp một thể.
Bà ký cho lời chồng là phải, lẩm nhẩm tính toán các món tiêu. Người lớn có bà cụ thân sinh ông Thừa, ông bà Thừa và người con gái lớn ông Thừa, đủ bốn người rồi, thêm một mình ông ký vào là năm nữa cũng được. Có như ở nhà quê đâu mà một mâm cứ nhất định bốn. Còn bốn đứa trẻ bên ông Thừa và ba đứa trẻ nhà là bảy, bà trông cho chúng nó ăn. Đầy tớ ba đứa ăn sau.
Hai con gà, ba con vịt mất đến hai đồng bạc rồi. Còn thiếu thì mua thịt lợn thịt bò. Cho có món nọ món kia chứ. Bà ký xưa nay chỉ ở nhà quê nên làm các món ăn không được thạo lắm. Xào xáo, quay, rán, bà chỉ biết thế thôi còn các món tây, tầu thì bà chịu.
- Người lớn có mấy người thì là người nhà cả ấy mà. Còn trẻ con liệu sao chúng ăn dễ tiêu là được.
Bữa ăn vào buổi chiều. Hôm ấy là chủ nhật.
Nhà chật thì phải tính từ chỗ ngồi một. Mâm người lớn đặt lên bàn. Mâm trẻ con đặt lên giường. Bảy đứa trẻ ngồi quây lại kể cũng khí chật. Sau phải để hai đứa cái Đung, con bà ký, cái Mai con bà Thừa ăn đứng.
Trước kia nhẩm tính: hơn chục người mà chỉ có hai con gà và ba con vịt bà ký cứ lo thiếu. Nhưng đến bữa trông ra mới thấy nhiều. Hai cái mâm đồng, giá chúng có một chút linh hồn, chắc chúng cũng phải lấy làm hân hạnh vì cái buổi đặc biệt. Chỉ bữa này, chúng mới được mang trên mình nhiều bát đĩa một chút.
Trái với lệ thường, ông ký uống mấy chén rượu để tiếp ông bà Thừa. Mà cả bà cụ và cô con lớn cũng uống được rượu.
Trong khi người lớn nói truyện thì lũ trẻ con ăn lào sào như một đàn vịt. Bà ký cứ rối rít vì chúng, không và được miếng nào.
- Chứ cụ nhà mất thành ra được mấy năm rồi, ông ký nhỉ?
Qua giọng rượu khề khà, ông Thừa hỏi như vậy.
- Thầy tôi mất giỗ này là giỗ thứ năm.
- Năm ấy cụ bao nhiêu rồi ạ?
- Thầy tôi năm ấy bảy mươi ba, giá còn đến năm nay là bảy mươi tám.
Bà cụ thân sinh ra ông Thừa góp lời :
- Kể như vậy cụ cũng đã thọ, nhưng giá trong nhà vui vẻ, các ông ấy đừng ai thế nọ thế kia thì cụ còn sống được mươi mười lăm năm nữa.
Bà Thừa gạt đi:
- Bà lẫn rồi. Trong nhà sao lại không vui vẻ.
Ông ký hiểu rằng bà Thừa muốn giữ ý cho mẹ chồng. Nhưng không để nói hết, ông lại ngắt đi và tiếp :
- Không, các cụ già các cụ biết. Cái ấy cũng có. Giá mấy anh tôi đừng chơi bời, chí thú làm ăn,  ông tôi vui cũng còn ở với chúng tôi được ít năm nữa.
Thế là bắt đầu đến chuyện gia đình. Ông Thừa bắt đầu:
-         Ông Ba Tùng dạo này chẳng biết có phong lưu không? Có lẽ đến ba tháng ông chưa lên chơi nhỉ. À ông ký ạ, ông Phán nhà ta lâu lắm tôi không gặp rồi, chẳng biết bây giờ ông có thay đổi chút nào không ?
- Ông Thừa nói xong, bà Thừa đã tiếp:
- Kể các cụ lo cho con chu đáo đến thế là cùng. Ông Phán kể ra thì sung sướng nhất đấy nhỉ. Về sau có sao là tự ông ấy; chẳng còn oán trách cha mẹ còn đâu nữa.
 
Câu truyện chung quanh một mâm cơm bao giờ cũng khởi đầu từ Dĩ Vãng. Người ta nhắc lại cái đại gia đình của ông Thảo, hồi còn sinh thời cụ Cử thân phụ ông. Người ta hỏi thăm từ ông cả cho đến ông út. Ông Thừa một câu, bà Thừa một câu rồi bà cụ một câu, ông ký chỉ có việc trả lời.
- Các cụ ngày trước phú quí thành ra lắm con cái, mấy ông đầu hư thành ra mấy ông sau vất vả lây. Xuống cả một gia đinh.
Bà ký ngồi mâm bên nghe vậy góp một câu:
- Việc đã qua rồi không nhắc lại làm gì, nhưng tính đến bây giờ cũng khó lắm cụ và ông bà ạ. Nhà cửa, đất cát không còn gì: lương thày cháu chỉ tiềm tiệm đủ ; không biết còn khi ốm khi sốt thì làm thế nào ?
Thế là bắt đầu đến Hiện Tại và Tương Lai.
- Ông bà thử tính giúp xem có cách nào không chứ như thế nầy thì rồi nguy mất. Các cháu đi học, rồi chúng còn lớn lên... Ông bà thì các chị ấy ở nhà, không phải nghĩ mấy. Lương ông nhiều hơn, tiền nhà không mất, lại còn bổng giải này khác.
Bà Thừa cười lấp :
- Chỗ ông ký cũng tốt tiền đấy chứ. Có ông ký tôi người liêm khiết không muốn đấy mà thôi.
Mặc mọi người nói truyện, ông Thừa và ông ký quay ra bàn riêng :
- Dạo này ngày mùa, người vay trả nhiều lắm phải không ông. Tôi nghe nói cứ mỗi cái văn tự là một vài đồng dễ như bỡn. Truyện mất một vài đồng được sớm sủa mà về chẳng hơn chờ đợi hàng tuần à.
Ông ký lắc đầu :
- Tôi cũng chẳng tính đến chuyện lấy của họ làm gì.
Ông Thừa bất bình :
- Giá mình giầu có thì nói như ông cũng phải, nhưng đằng này mình nghèo thì mình không lấy là mình dại. Vả lại cũng là mình làm ơn cho họ cơ mà.
Ông ký sẽ nhếch mép :
- Mà có muốn lấy cũng khó. Lão Chánh này nghiêm lắm. Mình tính chuyện lâu dài thì trách trước những sự không hay xảy ra là hơn. Ấy cứ mỗi cái văn tự đẩy vào là у như gài một tờ giấy bạc ở dưới mà tôi vẫn phải đẩy ra. Cả mấy anh cùng sở tôi, họ cũng như vậy.
Ông Thừa chép miệng :
- Thì mình lại tính cách khéo hơn chứ. Giá trước kia ông ở một mình, nhưng bây giờ còn bà và các em, À bà lên đây thế là được bao nhiêu lâu rồi nhỉ ?
- Cũng đến gần ba tháng.
Ông ký Thảo đáp một câu ngắn và trống không xong rồi lặng im. Lắc đầu se sẽ thở dài nghĩ đến ngày cuối tháng đã qua và sắp tới.
- Khó lắm !




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 22.02.2021 20:02:53 bởi Ct.Ly>
PHẦN THỨ HAI
 
SỐNG
 
 
      … Ân cũng là sự bó của cuộc đời
        NG. Đ. CH.
 
 
 
I
 
 
CẢ buổi sáng, bà ký Thảo xếp dọn nhà cửa, sắp lại quần áo cho chồng con. Hôm đó là ngày thứ bảy, chuyến tàu thủy chở thư từ Phủ-lạng-Thương đi Hải-phòng đúng năm giờ nhổ neo. Bà ký nhất định  xuống tàu này về quê. Cái kỳ hạn xa chồng và hai đứa con lớn chính bà, bà cũng chưa biết chắc. Một vài tuần lễ, một vài tháng, một năm hay mãi mãi, cái đó còn chờ. Tối hôm trước và nhiều buổi tối, hai vợ chồng  đã bàn nhau mãi:
- Trước kia thầv nó bảo tôi lên đây là cố để cho con nó đi học. Bây giờ con nó đi học rồi, trên này cũng tạm là yên. Tôi muốn về quê ít lâu thăm ông, thăm nhà. Ông năm nay gần bảy mươi tuổi đầu rồi; như ngọn đèn trước gió, sống chết lúc nào không biết... Tôi về thì cứ để thằng Háu nó ở đây thổi nấu cho ba thầy tớ ăn. Con Dung và thằng Vượng chưa đi học thì về với tôi, chúng nó cần phải tôi trông nom. Nhà cửa trên này vẫn у nguyên, rút đi miệng ba mẹ con tôi thầy mày liệu gửi cho mỗi tháng bao nhiêu thì gửỉ.
Ba bốn lần, nghe vợ nói, ông ký vẫn điềm nhiên không tỏ một ý kiến gì.
- Ừ, u mày muốn như vậy nhưng để xem đã.
Ông chỉ nói một câu ấy là bà ký lại lặng im. Cho đến buổi tối thứ sáu, trước khi vợ về quê, ông mới nói một câu dài dài:
- Tôi chẳng hiểu tại sao u mày tự nhiên lại dở tính quay về nhà quê. Đang ở yên trông con ăn đi học thì về làm gì. Nếu là về chơi thi đợi khi nào mình phong lưu một tí hẵng về có hơn không. Nhưng mà thôi, u mày muốn về thì về, tôi cũng chẳng giữ.
Bà ký ngậm ngùi thở dài. Cái thở dài nó nhiều nghĩa lắm, nó chứa hết cả duyên cớ của sự biệt ly này. Lên Bắc-giang với chồng được tám tháng trời, bà không ngờ có ngày mình lại trở về quê cũ. Không phải vì lòng nhớ cha, nhớ chị, cũng không phải vì chuyện xích mích gì với chồng, cái cớ khiến bà đem hai đứa nhỏ về chỉ là ở sự nghèo túng của gia đinh. Qua hai ba kỳ lĩnh lương, bà mới thấy rõ số tiền chồng đưa ít ỏi quá. Bà đã hết sức ‘‘hạt tằn hạt tiện’’ mà vẫn không đủ. Được năm tháng vừa soẳn, đến tháng thứ sáu, bà phải dật tạm năm bảy đồng của bà Thu và bà Thừa. Xê đi, dịch lại rồi cũng đến xong, nhưng bà ký lo lắm. Bây giờ đã vậy còn về sau nữa thì làm thế nào ? Lại những lần khách khứa, mỗi có khách hay người nhà lên chơi, vui thì có vui thật nhưng cuối tháng lại phải cau mày. Bà không nói gì với chồng, chỉ lẳng lặng một mình và khi tính được cách về nhà quê bà mừng lắm. Ở nhà quê, ăn tiêu không hết mấy. Vườn đất nhà, trồng trọt cũng đủ miệng ăn ba mẹ con. Mỗi tháng chồng gửi cho bao nhiêu, bà sẽ để góp lại dần dần làm cái vốn nho nhỏ. Dăm bảy chục một trăm gì đó thôi để bà tính một gánh hàng tấm xoàng, Vả, bà cũng chán cái tỉnh Bắc-Giang này lắm rồi, bà chán chỉ vì nghèo, không được phong lưu bằng những bà Phán, bà Thừa sau này bà quen. Trước khi về nhà quê bà ký xếp dọn cả buổi sáng đồ đạc trong hai gian nhà. Bà bắt thằng Háu đem đánh lại hết cả thau, mâm, nồi và rửa hết bát đĩa. Bà không mang một thứ gì về, nhưng tính cẩn thận cũng bắt bà soạn lại hết cả, bà
- Dì về nhà quê chuyến này chắc có lẽ lâu mới lên. Cháu cứ ở đây thổi cơm chú và các em ăn, đi học. Ngoan ngoãn nhé đừng nghịch ngợm gì. Luôn luôn phải ở nhà trông nhà, đồ vặt nhiều, người ta ăn trộm mất không biết đâu. Lúc nào đi chợ phải đợi lúc em nó ở nhà dặn nó trông nhà. Đây dì cho cháu một hào mà ăn quà.
Đến lúc thằng Đức và thằng Tề đi học về, bà ký lại gọi hai con ra dặn dò:
- Các con cứ chịu khó đi học cho chăm chỉ nhé. U cho em về nhà quê ít lâu. Thỉnh thoảng lại lên chơi. Lúc nào đi học thì đi, còn ở nhà thì có ý trông đấy. Thằng Háu nó cũng lơ đễnh lắm, không khéo người ta lấy hết. Cái lão Tài bên cạnh nó gớm lắm cơ. À, các con đi học thì phải cẩn thận, không có ô-tô ở tỉnh nhiều lắm, mà đừng đi bên mé có giây điện nhé, nhỡ nó rơi xuống thì chết. Hai đứa học hai trường. Vậy Đức con chịu khó đưa em đi học sớm. U bảo nghe chóng ngoan.
Nói có một câu như vậy, bà ký Thảo cũng cảm động chảy nước mắt. Hai đứa con về với bà, bà yên tâm lắm, nhưng hai đứa lớn ở với cha bà phấp phỏng vô chừng. Cha chúng đi làm cả ngày có săn sóc được chúng mấy đâu. Nhưng biết làm thế nào? Ở lại thì không được rồi.
Bữa cơm trưa hôm ấy sang như ngày Tết. Phải rồi, chỉ ngày tết mới có xôi, có thịt gà như vậy. Buổi sớm không hiểu sao bà ký lại mua chuối, thổi xôi cúng. Có phải là ngày rằm đâu, mà bao nhiêu ngày rằm rồi, bà không cúng. Thì ra người đàn bà sinh trưởng nơi quê mùa ấy tin tưởng thần thánh nhiều quá. Bà sắp xuống tàu thủy về nhà quê. Chuyến tàu giữa nửa đêm lại phải màn xế giữa sông để cho thuyền ra đó. Nguy hiểm lắm, nhất với người có con mọn như bà. Đốt mấy nén hương, bà kêu cầu hết cả các vị thần bà biết và tất cả ông bà, ông vải trong nhà, phù hộ cho mẹ con bà được bình yên.
Do đó một phần, nhưng cũng một phần bà muốn cho chồng con ăn một bữa sung sướng trước khi bà về. Quanh năm chỉ ăn rau thôi mà.
Chao ơi, một bữa cơm có thịt gà, lại có xôi, có chuối. Trong lòng bà ký nhẩm tính : giá ngày nào nhà mình cũng được như bữa này!
- Có mà làm ông Chánh Băng!
Bà ký thốt ra một câu như thế, buồn rười rượi. Phải, có ông Chánh Băng chứ làm ông ký khổ lương tháng hai mươi lăm đồng thì chán mớ đời.
Ông ký Thảo về nhà chưa kịp bỏ khăn áo, thằng Tề đã khoe :
- Thầy ơi, hôm nay có xôi chuối, lại có thịt gà!
Thằng anh tiếp theo :
- Tại chiều hôm nay, u về nhà quê đấy mà.
Ông ký mim cười nói đùa :
- U mày về nhà quê nên làm tiệc tiễn hành đây.
Sự thực là như vậy, nhưng bà ký chữa :
- Tiễn tiếc gì, tiện có con gà, tôi về nhà quê không nuôi nữa, lại không muốn bán nên làm cho thầy tớ ăn.
Ngồi vào mâm, ông ký hỏi :
- Ờ, thế ra u mày về nhà quê thật đấy à ?
- Thầy nó rõ lẩn thẩn, chẳng thực thì dối hay sao. Xưa nay tôi nói cái gì, tôi có hay nói sai đi đâu.
Bữa cơm thế mà vui, không biết có phải vì hậu món ăn không. Trừ bà ký còn không ai lấy sự biệt ly này làm buồn cả.
Ông ký vẫn thản nhiên :
- U mày về nhà quê, đến nơi thì viết thư lên ngay nhé. Không tiện mua tem thì cứ gửi ngay nhà bà quản Toóng ấy. Bà ta buôn bán đi lại luôn.
Hai đứa con lớn cũng lau chau :
- U về nhà quê rồi đến kỳ nghĩ lễ nào, chúng con cũng về chơi nhé. Chúng con về thăm ông, lâu lắm không gặp ông rồi đấy.
Ông ký sực nhớ hỏi lại :
- À quên, u mày có mua cái gì biếu ông và bà dưới nhà không thế?
- Dạo này thành ra không vào mùa gì cả. Như dạo tháng chạp thì có cam Bố-hạ gửi về, lê cũng phải ba bốn tháng nữa mới có. Chẳng mua được gì, tôi đành mua mấy hộp bánh bích-quy vậy.
Bữa cơm hôm ấy dài hơn lệ thường. Và ăn cơm xong, trái với mọi ngày, ông ký không ngủ trưa. Ngồi ngắm nhìn vợ soạn lại đồ đạc, ông cũng hơi bùi ngùi. Thì ra không có cuộc biệt ly nào là không khiến người ta rung động.
- Mai là chủ nhật, giá ngày kia lên được ngay thì mình cũng về chơi một cái. U mày mang về tất cả chỉ có một cái hòm và hai cái bị này thôi chứ? Lúc xuống thuyền thì mang xuống làm sao ? Hay là đi lối đò Triều (Đông-triều) ấy. Tầu nó đỗ sát bến hẳn hoi. Chịu khó ngủ trọ một đêm ở hàng cơm, sáng mai thuê xe về.
- Úi dà, như thế lại càng bất tiện, thầy nó ạ. Thuê xe từ Đông Triều về Kinh Môn lại không gần đồng bạc à.
Thôi cứ mặc tôi soay sỏa rồi đâu vào đấy, chẳng sao cả. Hôm nay lại nhân tiện có bà Quản bà ấy về, tôi nhờ bà ấy bế hộ một đứa trẻ là yên tâm rồi. Vài thứ này lái thuyền nó khuân xuống được ngay khó gì.
Ông ký lặng im ngẫm nghĩ, bỗng bảo con:
- Chiều nay các con nghĩ học đưa u ra tầu thủy nhé.
Hai đứa con mừng rỡ hớn hở vâng đều. Nhưng thằng Đức ngẫm nghĩ một chút rồi bảo cha:
- Thằng Tề học trường tư nghỉ dễ chứ con học trường công, thầy giáo không cho nghĩ đâu, nghỉ phải phạt.
Nó im lặng rồi không đợi cha trả lời, tiếp luôn :
- Nhưng mà thôi, bốn giờ rưỡi con đã tan học rồi mà tầu mãi năm giờ mới súp lê. Con chạy mau ra cũng vẫn còn kịp.
Chiều hôm ấy, năm mẹ con bà ký Thảo lại đứng thẩn thơ ở bến tầu tỉnh lỵ Phủ-lạng-thương như ngày mới lên. Ngày trước ông ký không ra đến được và bây giờ ông cũng không ra đưa được. Âu cũng là sự bó buộc của cuộc đời. Mặt trời một ngày đầu năm đỏ như một con mắt đau nặng. Tiếng còi tầu tu tu ngân dài và tan mất trong ánh chiều hồng. Bà ký thở dài rồi bảo hai đứa con đang đứng tần ngần,
- Thôi các con về đi thôi. Chăm chỉ mà học nhé. U về rồi u lại lên.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
II


 
 
TAО làm Quan-Công, thôi cho mày làm Lưu-Bị.
- Ừ thì anh làm Quan Công, tôi làm Lưu Bị, Tôi được làm anh. Anh phải gọi tôi là anh nhé.
- Anh gì cái đồ Lưu bị thịt ấy.
Thằng Tề đang quấn cái ống nhét vào bít tất nghe hấy thằng Háu và thằng Đức bàn cãi liền góp:
- Thế còn tôi làm gì ?
Thằng Háu quay lại nhìn thằng bé từ đầu đến chân.
- Ừ, mày ăn mặc như thế được rồi đấy. Mày bé nhất thì mày chỉ có làm Trương-Phi thôi chứ còn gì. Nhưng mà làm Trương Phi thì phải đi lấy nhọ nồi bôi mặt cho nó đen.
- Còn anh làm Quan Công thì phải bôi mặt đỏ, tôi làm Lưu-bị mặt được để trắng.
Ba đứa trẻ hí húi vẽ nhọ, bôi hề, ăn mặc bắt chước như phường tuồng. Đoạn mỗi đứa cầm một cái sào màn giả làm binh khí. Thằng Háu lớn nhất nên là đầu tên cả mọi trò.
- Kể ra tao là Quan Công phải cầm long đao cơ đấy, thằng Đức là Lưu Bị lấy hai cái que gỗ giả làm kiếm, còn thằng Tề cứ cầm sào màn ấy làm sà mâu cũng được rồi. Thôi để chiều chúng ta cũng phải đẽo mới được.
Mỗi đứa đứng trên một cái giường; chúng hét lác ầm ĩ như những bệnh nhân trong một bệnh viện chữa người điên. Rồi cũng xếp lại cái bàn, bày mấy đồ vật lên làm cảnh Đào viên kết nghĩa. Cũng có lần, chúng lấy miếng bìa cắt làm mặt nạ rồi khoác cái chăn làm trinh thám. Ấy là chúng bắt chước mấy rạp tuồng. Với trẻ con như vậy là vui lắm.
Chơi mãi đã chán, thằng Háu mới nghĩ đến công việc:
- Thôi dẹp đi chúng mày ạ. Tao còn phải đi nấu cơm không có gần mười một giờ rồi đấy. Mười một rưỡi chú về, không có lại phải đòn.
Đó là cảnh nhà ông ký Thảo một buổi sáng thứ năm. Từ ngày bà ký về quê, cách sống trong gia đình chuyển sang một đoạn khác. Ông ký ngày đi làm hai buổi xong trông qua cửa nhà một chút rồi đi đánh tổ tôm hay thăng quan, thường thường là ở nhà ông Thừa, một đôi khi ở nhà ông Án.
Việc nhà còn có gì nữa. Có vài thứ đồ đạc trong nhà, chứ nhiều nhặn gì mà phải xem xét: Nhà bẩn bắt nó quét, giường chiếu bẩn bắt nó giặt, nó lau. Còn hai bửa ăn thì gạo đã có một người hàng sáo quen, cứ liệu ngày nào gần hết đem lên. Tiền chợ mỗi ngày, ông giao cho thằng Háu. Năm xu một bữa, một xu rau còn bốn xu hoặc đậu, hoặc tôm cá, cua gì đó. Mỗi tuần lễ được ngày chủ nhật ăn thịt, lệ đã thành như vậy. Cái món thịt ngày chủ nhật thường thường là thịt bị xào  rau muống. Thằng Háu cũng không biết làm gì hơn. Nhưng cả ba đứa trẻ sì sà, sì sụp ăn ngon lành lắm. Dễ vì chơi đùa nhiều nên bụng đói.
Chỉ có thế, thằng Háu lấy làm nhàn lắm. Những ngày mà thằng Đức và thằng Tề đi học, gần hết buổi sáng và buổi chiều, nó nằm khoèo đọc mấy quyển Tam Quốc, Thuyết Đường, Nam Tống Phi Long... Hoặc không thì nó ra sân giương cái nỏ cao-su ngắm mấy con chim trên bờ tường. Buổi tối, chờ ông ký đi chúng nó ngồi chụm lại một chỗ và thằng Háu kể những câu truyện tục tĩu. Thỉnh thoảng chúng cũng đổi trò chơi ; mỗi ngày, lúc hai đứa trẻ đi học về thể nào cũng có vài đứa trẻ khác theo về cùng đánh bi, đánh đáo với thằng Háu ở đám đất đầu nhà. Mười rưỡi học trò về, mười một rưỡi, ông ký về, không thể chơi mà không nghĩ đến làm, có một nồi cơm và một nồi rau, thằng bé đặt lên bếp rồi bỏ đấy ra chơi, thỉnh thoảng mới chạy vào. Nhiều hôm nồi cơm tưởng sống hay khê, cũng may những lúc ấy có người hàng xóm nấu chung bếp gọi.
Những nhà ở chung quanh thay đổi gần hết. Hai gian nhà sát cạnh bây giờ có vợ chồng một người lính ở. Chồng cả ngày mới được về một lúc, vợ cũng đi đánh chắn luôn luôn, nên gần thành như là nhà không. Cái nhà ngang có vợ chồng một người làm bánh cuốn ; họ cũng đi hàng cả ngày, buổi sáng thì gần trưa, buổi chiều thì gần tối mới về. Còn cái nhà gác to trước kia ông Thương ở thì bỏ không. Nhà to rộng quá, giá cao quá, người ta lại đồn có ma, lắm đêm nó dựng cả giường dậy nên không có ai thuê.
Ba đứa trẻ tha hồ nghịch ngợm không ai ngăn cấm. Ăn uống kham khổ chúng cũng chẳng để ý. Cứ đùa nhiều vào là đến bữa у như ăn được bốn năm, sáu bát ngay. Tuy vậy trông chúng vẫn xanh bủng và nhếch nhác, nhem nhuốc chẳng có một tí nào là mỹ thuật cả. Cả ba đứa ông ký gọi thợ cạo vào bắt cạo trọc tuột đi, trông mới càng buồn cười nữa.
Khách khứa chẳng ai đến nhà. Những lúc đáng lẽ ông ký ở nhà thì họ đã gặp trên chiếu bạc rồi. Đánh bạc nó dễ ham mê thật. Ông ký cứ tự hỏi mãi không biết mình mê vì thú hay vì muốn được tiền. Có lẽ cả hai. Nhiều lần, ông đinh ninh rằng ở nhà đấy, thế mà lúc ông Thừa cho người nhà sang mời, ông phân vân một chút rồi lại đi ngay. Chừa được có dễ đâu! Các ông con cụ Cử đều máu mê cả. Ông Thảo không sao quên được người anh là ông Mẫn, chỉ vì đánh bạc mà thành ra mang công mắc nợ, tiêu tiền két và mất việc, khổ sở. Ông thì không khi nào như vậy, vì ông còn cẩn thận hơn, ông lại nhát chứ không liều được đến thế. Nhưng hơn một chục bạc mỗi tháng đáng lẽ gửi cho bà ký ít nhiều thì ông để xổng mất cả. Cho đến một ngày, bỗng dưng như người sực tỉnh một cơn mê, ông tự hỏi:
- U nó về bao lâu rồi? Có lẽ đến ba tháng đấy nhỉ.
Đã ba tháng, ông sao nhãng hết cả bổn phận. Bà ký về nhà quê, ông hẹn mỗi tháng gửi về dăm, bảy đồng mà chưa một lần ông gửi. Ông thở dài, nhất định không đi đánh bạc nữa. Nhưng cái nhất định lượt này cũng lại thành nhị định như lần trước. Buổi tối hôm ấy, mấy đứa trẻ ngạc nhiên thấy cha ăn cơm xong ở nhà. Chúng nó đã bàn nhau sắm cái vở ‘‘Lã-Bố hý Điêu Thuyền’’, chỉ còn chờ ông ký đi, mà ông ký cứ ở nhà thì thật buồn.
Được một lúc, con Nuôi nhà ông Thừa
- Về nói với ông bà rằng ông ký mệt nhé.
Hai ba lần như vậy cho đến lúc chính ông Thừa sang:
- Ông sang cho một chân đi. Úi dà, làm quái gì mà mệt, ngồi đánh một lúc là khỏi ngay đấy chứ gì.
- Tôi định từ giờ thôi không đánh nữa, ông ạ.
- Làm gì mà phải bó buộc cái mình quá thế, ồ, có được thua là mấy, vui chơi ấy mà.
Ông Thừa ép đến ông ký phải đi, rồi từ hôm đó ông ký không nghĩ đến chuyện thôi tổ tôm, tài bàn, thăng quan nữa...
Mấy bạn đồng sự, thấy cảnh gia đình bạn như vậy cũng cho là thường. Có gì là lạ, góp có một thôi mà. Phải có cho nó vui chứ! Thế là những ngày nghỉ, bốn ông ký nhà Băng tìm thêm một ông nữa cho đủ chân tổ tơm.
Chỉ có bà cụ Ấm, mẹ ông Thu là sáng suốt trông rõ cảnh biến của cái gia đình ấy. Bà cụ đến chơi một buổi sáng chủ nhật lúc ba đứa trẻ đương hét ầm ỹ.
- Tôi cũng chịu các anh thôi. Ông ký không có ở nhà à?
- Lạy cụ ạ, thầy tôi đánh tổ tôm bên ông Thừa.
Cả ba đứa mặt còn nhọ ngoành, chạy vội xuống bếp rửa mặt, lấy quần áo để mặc bà cụ Ấm ngồi nhìn cảnh hỗn độn trong nhà. Giường chiếu sộc sệch, chẳng có thứ tự nào cả, màn cũng còn buông chưa vén và dưới gầm giường nồi sảnh cái nọ cái kia cứ bừa bãi lủng củng cả lên. Bà cụ chép miệng sẽ lắc đầu và quay lại hỏi ba đứa trẻ vừa lên:
- Thế nào bà ký... à, u bao giờ lên?
- Thưa cụ, chúng cháu cũng không biết.
Bà cụ cười rất nhạt:
- Hỏng, hỏng cả...
Rồi tiếp:
- Em sang mời ông ký, bảo về ngay có cụ Ấm vào chơi, nói chuyện gì cần lắm nhé. Bảo ông nhờ ai cầm bài hộ, về ngay tôi hỏi cái này một tí thôi nhé.
Bà cụ Ấm nhẩm thầm những câu mình sẽ nói. Bà cụ không hiểu làm sao mình lại ưa can thiệp, xen lấn vào cái gia đình này. Ông ký có họ hàng thân thuộc gì đâu. Chẳng qua cũng chỉ là bạn cùng sở với ông Thu. Họ có hay là hay cho gia đình họ, chứ mình được gì, đèn nhà ai nhà ấy rạng mà! Nhưng bà cụ cứ thích dính líu vào, có lẽ do cái cảm tình với bà ký, người nhà quê hiền lành, lại có đông con, những đứa trẻ, cụ vẫn mong ông Thu có.
- Lạy cụ đến chơi mà tôi không biết.
Ông ký chào, theo cái chào là một nụ cười trông dễ mến lạ. Trông ông ấy vẫn hiền lành, mà sao lại để vợ về, và mặc con cái nhà cửa chẳng trông coi gì cả. Bà cụ Ấm nghĩ vậy và nói vào chuyện ngay:
- Ông đương bận nhỉ, dạo này trông ông xanh và gầy lắm.
- . . . . . . .
 
- Có lẽ thức đêm nhiều quá chăng?
 - . . . . . . .
- Bà ký bao giờ mới lên?
- U cháu… cái ấy cũng không biết được. Tôi viết thư hỏi mà chưa thấy trả lời.
Đến lúc đó, ông ký mới trả lời một câu; bà cụ Ấm cứ lắc đầu, chép miệng đưa mắt khắp nhà. Chán rồi bà cụ mới nói:
- Chỗ người thân, tôi thực, ông có giận cứ việc mà giận. Ông viết thư bảo bà ấy lên ngay đi. Ai lại để gia đình như vậy mà chịu được. Bạc bài ai chẳng ham, tôi biết. Có bà ấy lên bà ấy giữ ông và chăm lo cho con cái. Chứ để như vậy thì, hỏng cả hỏng cả.
Ông ký Thảo chỉ biết lặng im nghe. Với lẽ phải còn biết cãi thế nào, cãi vào đâu được nữa. Mà chính ông, ông cũng nghĩ như vậy rồi, ông đã bảo ông nhiều lần rồi. Nhưng làm thế nào cho bà ký lên?
Mấy ngày nữa, bỗng dưng, ông ký Thảo ốm. Lên cái mụn ở mé trong cổ, ông đành nghỉ mấy ngày để vào nằm nhà thương. Trong khi đó, ở nhà, thằng Đức cũng bị cái cửa kẹp phải đầu ngón chân. Nhưng bà ký ở nhà quê vẫn không biết tin, mấy đứa trẻ không đứa nào nghĩ đến viết thư về nhà quê, mà ông ký cũng không bảo.
Nằm trên chiếc giường hẹp nhà thương, ông ký Thảo nghĩ đến món nợ năm chục bạc mới té ra và người vợ ở chốn quê xa lăng lắc. Có vợ ở gần thế mà cần!




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 22.02.2021 22:18:16 bởi Ct.Ly>
III
 
 
HAI đứa trẻ về đến nhà, chưa bước vào trong cổng đã nghe thấy tiếng quát :
- Gớm sao mày hư thế, Háu. Dì về có một ít tháng mà nhà cửa cháu để bừa bãi ra thế này ư?
Đúng là tiếng mẹ chúng không sai. Thằng Đức bảo thằng Tề :
- U lên mày ạ, chúng ta lại được ăn quà.
Rồi cả hai đứa chạy mau vào trong nhà, reo lên:
- A, u đã lên.
Bà ký Thảo mỉm cười quay ra nhìn các con. Trông đứa nào cũng gầy, cũng xanh, quần áo bẩn thỉu quá.
- Các con đã đi học về đấy ư ? Sao ăn mặc lôi thôi, lếch thếch thế?
Bà dừng tay xếp dọn, đi lấy quà cho hai con ăn rồi ngồi ngắm nghía chúng nhai những miếng bánh miếng giò một cách sung sướng. Mẹ con lâu ngày mới gặp nhau, bao nhiêu tình cảm phát ra từng câu nói, từng cử chỉ.
- U về lâu quá, ở trên này, thầy chỉ đi đánh tổ tôm thôi.
- Hôm nọ bà cụ Ấm cũng vào chơi hỏi u lên chưa.
- Thầy nằm nhà thương mất năm ngày u ạ.
- Chân anh Đức đau quá, ngày nào cũng phải đi nhà thương buộc thuốc.
- Trường con, cô giáo Tám cô ấy dọn sang phố Ngang rồi. Dạo này đông học trò lắm. Nhưng con chỉ muốn xong hè vào trường công thôi.
- Thằng Háu nó có hay đi chơi không con?
- Đấy dì cứ hỏi chúng nó mà xem, cháu có đi chơi bao giờ đâu.
Cả nhà tíu tít lên, mỗi người một câu. Bà ký cứ buồn cả lòng khi nghe con kể:
- Mỗi bữa thầy cho năm xu, một xu rau muống, bốn xu đậu rán. Chủ nhật thầy mới cho hào rưỡi mua thịt bò xào.
- Hôm nọ, anh Háu anh ấy đong gạo đưa cho bác Câu bác ấy tráng cho hai trăm bánh cuốn. Hôm ấy không ăn cơm, u ạ.
- Hôm nào, thấy đánh tổ tôm được thì thầy cho cả mấy đứa xu ăn phở mấy lại đi xem tuồng.
Sống như vậy không trách được! Người đàn bà căn cơ nền nếp ấy không sao chịu nổi cảnh bừa bãi này. Bà thở dài nghĩ: ‘‘Thảo nào bốn tháng trời, chồng bà không gửi cho được một đồng một chữ nào’’.
- Biết thế mình chả về cho xong!
Giá bà không về, có phải hai đứa con bà đỡ khổ không. Mà món tiền ở nhà quê lại giữ được. Nhớ lại lúc bà về quê mà phiền. Nhà cửa giột nát hết cả, người ở nhờ họ cũng chẳng chịu chạy chữa gì. Vườn tược cũng không được như ý muốn của bà. Mất công đến một tuần lễ sang sửa lại, mới ở được. Ba mẹ con cùng ăn bên nhà bà Lý, chị gái bà.
- Sao đương ở trên ấy lại về, dì này rõ lẩn mẩn; sống ở đây dì định làm gì cơ chứ.
Bà ký nói rõ ý định của mình cho chị nghe. Hai chỉ em lại rầu rầu nhìn nhau. Bà Lý nghĩ đến cảnh vất vả của mình: lấy chồng, không may thành ra lấy lẽ, được ít năm chồng chết để lại bốn đứa con thơ. Bà buôn bán tần tảo mẹ con cố sống qua ngày. Tuy không bao giờ túng thiếu nhưng tính đến sự vui vẻ nó cũng khó lắm. Còn ‘‘dì nó’’ tưởng may ra được nhàn hạ hơn hóa ra cũng vất vả.
- Thì ra cái số chị em mình như vậy, dì ạ.
Rồi bao việc xảy ra. Nào con Dung ốm, thằng Vượng ốm. Hai đứa trẻ tiền thiên đã kém lại sống ở nhà quê thiếu hết cả vệ sinh, làm sao mà tránh được. Trí hẹp của hai người đàn bà mê tín đều cho là bởi quỷ thần. Trước kia, bào Thảo đội bốn bát hương nay lại phải nhân đôi lên là tám.
Cứ như thế mà bấn bít, con Dung thì cứ nay sốt, mai ấm đầu; thằng Vượng lại quá nữa, thằng bé mới được có một năm với mấy tháng mà trong người lên đến hàng trăm cái mụn đầu đanh. Cũng may, ông cụ Bá biết thuốc, nhưng xoay hết lối nầy lối khác cũng mất hàng mấy tháng trời. Trong mấy tháng vất vả ấy, ông ký không gửi về một đồng xu nào. Bà ký giận chồng cũng không viết thư nói cho biết việc nhà. Và đến khi hai đứa trẻ đã lành mạnh, ăn chơi, nghĩ đến hai đứa con lớn, không biết học hành ra sao có bình yên không, bà ký vẫn còn giận chồng không muốn lên thăm.
Cho đến một buổi sáng, hôm ấy có cụ Bá ngồi chơi, bà quản Toóng ở Bắc giang về rẽ vào:
- Chết, bà không lên chơi trên ấy xem sao. Hôm vừa rồi tôi rẽ qua vào chơi thấy nói bác trai lên cái mụn ở trong cổ, phải nằm ở nhà thương thằng bé lớn nhà bà cũng bị cánh cửa kẹp dập đầu ngón chân.
Bà ký Thảo cứ nghe mà sốt ruột. Cụ Bá cũng sốt ruột như con gái:
- Nhà mày sắp sửa lên Bắc giang đi. Gửi con nhà Lý nó trông hộ. Lên xem quang cảnh trên ấy ra sao, liệu rồi lại cho con nó lên. Ta đã biết ngay mà. Không khéo thì lũ con nhà mày hỏng. Bố như thế, mẹ như thế mà...À này, ra nhà thương bảo ông ký ông ấy cho ít thuốc tím và băng bông nhân thể. Ở đây cũng dễ xin hơn ở trên ấy.
Buổi chiều hôm sau, bà ký xuống phủ lỵ Kinh môn để đến tối đáp chuyến tàu thư, chuyến tàu bà đã đi về mấy lượt.
Nhà cửa trông chẳng sạch mắt chút nào. Quét mãi dọn mãi, cái này đem giặt, cái kia đem phơi, cứ thế hết buổi sáng cho đến lúc ông ký về.
- U mày lên đấy à? Các con đâu ?
- Con ở nhà cả, tôi lên có một mình thôi mà.
Trong bữa cơm, hai vợ chồng hàn huyên mọi nỗi. Bà ký kể hết truyện nhà truyện cửa rồi mới bảo chồng :
- Thầy nó trông gầy mà xanh quá. Chắc tại thức đêm tổ tôm nhiều chứ gì.
 - . . . . . . .
- Thầy nó tiêu thế nào mà chẳng thừa ra cho tôi lấy một xu. Những lúc con nó ốm, nhà không có tiền, thật là bấn bít. Mà ở trên này con cái bỏ bừa bãi ra như vậy mà thầy nó chịu được.
Ông ký không trả lời sao cả trong bụng lấy làm mừng. Tiện đây, buổi tối ông sẽ bảo vợ lên để coi sóc lại, để làm lại để tổ chức lại cái tiểu gia đình. Ông cứ nóng lòng sốt ruột chờ mãi đến khi vừng mặt trời đỏ lặn và vừng mặt trăng mọc lên.
Mấy đứa trẻ đã ngủ yên, trái hẳn với lệ thường hai vợ chồng nằm chung một giường.
- U mày mai về đi rồi thu xếp lên trông con.
- Tôi lên thì chẳng khó gì, nhưng thầy mày liệu tính thế nào, chứ cuối tháng cứ phải nhăn nhó vì tiền nong như vậy thì tôi chẳng lên đâu.
- Ngày trước cái gì cũng đắt đỏ chứ bây giờ kinh tế cũng rẻ nhiều rồi. Ở nhà quê ba hào một thúng thóc, làm ruộng không đủ nộp thuế, nhà mình lại chỉ còn có một mẫu, quý báu gì cái xó nhà quê. Lương tôi hai mươi lăm đồng, đối với bây giờ phong lưu chán.
Bà ký ngần ngừ nhưng chính thực cũng đã bằng lòng lắm. Buổi chiều, đi chơi vài chỗ, bà đã được nghe người ta nói chán về chồng trên này.
Bà cụ Ấm chẳng đã khuyên:
- Bà lên đi, lên mà trông con. Tôi trông chúng nó nhem nhuốc lắm. Vắng người cha còn được, chứ vắng mẹ..., đấy bà trông thì biết. Hôm nọ tôi vào chơi thấy chúng nó vẽ hề ngoành ngụy, hát hỏng với nhau, chẳng ra thể thống gì. Mấy lại bà không lên thì ông ấy cũng tiêu đến hết tiền thôi.
Ai cũng khuyên bà lên, từ ông cụ Bá sinh ra ở nhà quê. Chính trong lòng bà cũng tự khuyên, nay thêm lời chồng làm gì chẳng thuận. Ông ký chẳng lạ gì tâm lý của vợ nhưng cũng cứ nói thêm:
- Tháng sau, con nó đi thi, rồi nghỉ hè đấy. U mày lên đi, rồi liệu ta xoay cái vốn, thuê cái nhà ngoài phố mở cửa hàng nho nhỏ. Chứ u mày cứ ở nhà quê mãi, trên này tôi cũng vẫn tiêu hết tiền thì phiền lắm, con về sau nó lớn, còn phải tính cho nó đi Hà nội chứ.
Bà ký thở dài. Đêm hôm ấy, ông ký âu yếm vợ như hồi còn hai mươi. Hai vợ chồng ở với nhau mười mấy năm, đã tới lúc cuộc đời đứng bóng mới thấy rõ cái lẽ phải chung sống, nhờ cậy nhau.
 
 
 
 
 
 
 
IV
 
 
MỘT ông giáo chấm thi, mặc quần áo tây trắng cao giọng gọi học trò vào thi. Thằng Đức hồi hộp đợi. Tên nó vần Đ nên phải chờ mấy chục người lên trước. Đến lượt nó khi ba chữ Vũ đình Đức vừa dứt,
nó kêu  ‘‘présent’’ ( có mặt) rất dõng dạc rồi bước theo người trước. Ở trường thầy giáo đã dặn tất cả học trò: phải thật bình tĩnh mà vào, bình tĩnh mà làm tính cũng như bình tĩnh nghe đọc ám tả, chứ không nhiều khi trượt oan.
Ở lớp ba trường kiêm bị Phủ lạng thương, Đức vào tay học khá. Có kỳ nó được lên bảng Danh Dự trong lớp. Ba kỳ thi tam cá nguyệt, hai kỳ đầu nó thứ mười, thứ tám và đến kỳ thứ ba nhảy vọt lên thứ tư. Cũng là nhờ nó giỏi toán, có lần ông Kiểm học vào khám lớp, ra con tính, cả lớp im phăng phắc không ai làm được, Đức ta ung dung lên làm rất rõ ràng. Ông Kiểm học khen mãi, lại xoa đầu thằng bé.
Vào buồng thi, thằng Đức nhớ lại cảnh ấy mà khấp khởi trong lòng. Thể nào nó chẳng đỗ, mà đỗ oai nửa cho mà coi. Hôm trước ở nhà nó đã bảo thầy u nó:
- Thể nào con cũng đỗ cả chữ Tây và Quốc ngữ.
Thi sơ học yếu lược ngày ấy còn chia ra làm hai phần chữ Tây và Quốc ngữ. Thằng Đức tuyên bố như vậy nhưng cũng hơi lo lo. Về chữ Tây, ở trong lớp nó chỉ trung bình không được xuất sắc lắm. Nhưng nó vẫn tin chắc. Có một vài bài ám tả chữ Pháp ngắn, làm gì không viết được!
Bên cạnh Đức là một đứa học trò nhà quê. Nó nhìn trộm học bạ thằng bé thấy phê rất tốt, vẫn có ý khinh khỉnh. Nó tự nhủ :
- Rất tốt trường nhà quê ‘‘ ý ’’ mà. Đằng này mình rất tốt trường tỉnh.
Thế rồi buổi sáng, buổi chiều hôm trước và cả buổi sáng, buổi chiều hôm sau, thằng Đức chăm chăm, chú chú làm bài. Mỗi lần ở trường thi về nó lại khấp khởi mừng thầm. Nghe người ta bàn tán về kỳ thi, nó chỉ mủm mỉm cười :
- Năm nay chắc đỗ ít lắm, hai bài tính cùng khó cả, học trò lớp ba làm sao nổi.
- Hai con tính khó thực. Mình xoay mãi mới ra đấy.
Hai người nói truyện ấy là hai người học trò lớp nhất, thằng Đức quen mặt. Trưa về nó kể lại cho thầy u nó nghe và không quên thêm một câu, giọng tự phụ:
- Ấy thế mà con làm đúng cả.
Hai người làm cha mẹ nghe con nói như vậy nhìn nhau mỉm cười. Họ tin lời thằng bé cũng như họ tin ở sức thằng bé. Ông giáo Khai dậy lớp ba đã chẳng nhiều lần khen ngợi thằng bé ư, bằng giấy gửi về nhà đã đành, lại còn bằng lời trong nhiều khi hội đàm. Mà có phải ông bà ký Thảo năng đi lại, lễ lạc ông giáo đâu. Họ nghèo, sống còn chẳng đủ nữa là!
Chỉ có một kỳ tết Nguyên Đán, ông ký mới bắt con mang tết thầy hai lọ chè sứ. Mỗi lọ bốn hào, hai lọ tám hào. Giá liền chẳng là mấy, của chẳng đáng bao nhiêu, nhưng lòng ông thành, như vậy là được rồi. Cái ngày ông còn làm hương sư, mỗi kỳ tết, học trò có đứa đem lại ba hào đặt vào lòng cái đĩa mà ông còn nhận; buồn cười, có thằng đến nhà thầy lóng ngóng đánh rơi tiền vào gầm giường phải chui xuống tìm.
- Người nhà quê nghèo lắm, họ chỉ lo được đến thế thôi, mình cũng chẳng lấy của họ làm gì, nhưng không lấy thì họ tủi.
Ngày ấy, ông đã nói như vậy. Bây giờ thay bậc, đương ở cảnh nhận Tết đổi sang cảnh lễ Tết, ông nghĩ rằng mua hai bao chè là lịch sự lắm. Như vậy, càng đủ tỏ những lời ‘‘thằng cháu nhà ông ngoan, thằng cháu nhà ông học giỏi’’ là thực. Ông giáo Khai nói như vậy chắc chắn không để lấy lòng ông ký, vì làm gì kia chứ, ông giáo có đến vay nợ nhà Băng bao giờ đâu !
- Đi thi mà đúng hai cái tính thì chẳng còn lo trượt nữa, thày nhỉ.
Bà ký âu yếm hỏi con :
- Nhưng còn một nửa chữ Tây, liệu có đỗ được không con?
Ông ký sẽ lắc đầu:
- Cái ấy thì chưa chắc đâu, con ạ. Bài  ‘‘dictée’’(chính tả) năm nay thày xem khó lắm. Nhưng mà năm nay không đỗ thì sang năm. Người ta cho thi hai năm kia mà. Miễn là được lên lớp. Mấy lại bây giờ con có đỗ cả chữ Tây cũng không được lên lớp nhì trên ngay.
Thằng Đức toan cãi một câu. Thầy nó nói vậy thì coi thường nó quá. Nó mà không đỗ được chữ tây, ‘‘học trò rất tốt’’ trường tỉnh kia mà! Nhưng chẳng hiểu sao nó lặng im. Có lẽ nó nhớ lại những ‘‘phốt’’ (faute= lỗi) dictée nó chỉ thấy có hai, nhưng còn những phốt vô ý nữa, biết đâu. Nó vẫn cố ám thị, có tự dối bằng câu nói thầm : ‘‘Thế nào mình chẳng đỗ’’. Nhưng nó bắt đầu ngại.
Nhớ lại câu tuyên bố chắc chắn trước hôm đi thi ‘‘thế nào con cũng đỗ cả chữ Tây’’, nó đâm lo và thấy tự giận, tự trách.
- Biết thế chẳng nói trước xong, bây giờ mà không đỗ thì thật là xấu hổ?
Thằng Đức băn khoăn mãi cho đến lúc gọi tên những thí sinh vào vấn đáp. Bắt đầu là Nguyễn văn An. Nó mỉm cười một cách khỉnh bỉ, nói với thằng bạn đứng cạnh!
- Lại đỗ tiền chứ gì. Trong lớp nó dốt bỏ sừ đi ấy mày nhỉ.
- Ừ, chiều hôm qua, tao thấy nó vào buồng thi nó nói gì với ông giáo, cái ông giáo đeo kính trắng gầy gầy ấy mà.
Lần lượt từng người cho đến: Lê xuân Đinh français, rồi Vũ đình Đức. Không kèm theo một tiếng gì cả.
Thằng Đức giật mình quên cả thưa. Ông giáo đứng trên thềm nhắc lại một lượt Vũ đình Đức nữa, nó mới nói được hai tiếng  ‘‘présent’’ . Thì ra Lê xuân Đinh là thằng bé nhà quê ngồi cạnh mà Đức ta coi
- Vô lý nhỉ, nó ‘‘ rất tốt’’ nhà quê mà nó lại đỗ cả chữ Tây, mình ‘‘ rất tốt’’ ở tỉnh mà mình lại trượt. Ức thật, nó hơn cả mình.
Vừa đi về nhà, thằng Đức vừa ngẫm nghĩ như vậy. Lòng tự ái nó bị thương tổn nhiều quá. Sau cùng nó phải tự an ủi :
- Chắc là thầy nó quen ông giáo nào hẳn.
Trái hẳn với mọi người, ông bà ký Thảo không đưa con đi thi hay xem bảng. Chính ra cũng tại họ không có thì giờ nữa. Đức đi một mình về cũng lại một mình. Vừa về đến nhà đã thấy thằng Tề săn đón trước:
- A, anh Đức đã về, thế nào anh có đỗ không ?
Nó không trả lời em, bước vào trong nhà nói với cha mẹ:
-  Con thành ra hỏng chữ Tây...
Nó toan tìm một câu nữa để bào chữa mà không ra. Ông ký biết vậy liền gạt đi:
- Thôi không đỗ năm nay thì sang năm, cần gì. Con cởi áo đi ăn cơm đã. Đỗ hay trượt cũng phải ăn cơm không thì đói. Bảy giờ rưỡi rồi đấy.
Bữa cơm không vì việc không đỗ Sơ học yếu lược chữ Tây của thằng Đức mà mất vui. Hai cha con bàn tán mãi về kỳ vấn đáp ngày hôm sau:
- Các bài học con đã thuộc hết rồi chứ?
- Vâng con thuộc hết cả rồi, nhưng ăn cơm xong cũng cứ lấy ra mà ôn lại mai cũng chẳng còn lo trượt nữa.
Bà ký cũng góp một câu:
- Hay thầy mày thử hỏi con trước đi xem. Thà cứ trượt hẳn xong thì lại là một truyện. Chứ trượt vấn đáp thì bực lắm đấy.
Định như vậy, nhưng việc nó lại thành ra một khác. Xong bữa cơm, bát đĩa vừa bưng thì ông bà Thừa sang chơi. Bà Thừa nhanh nhảu nói ngay từ ngoài cửa:
- Chúng tôi sang mừng ông bà và anh Đức đây.
Ông ký mỉm cười:
- Cháu nó đỗ được có một nửa thì có gì đáng để ông bà phải mừng.
Ông bà Thừa ngồi chơi nói chuyện nọ, chuyện kia kể cũng khá lâu. Đến lúc ông bà Thừa về thì lại bà cụ Ấm lại. Ra cái việc đi thi của thằng Đức mà cũng quan trọng nhỉ. Mất cả một buổi tối. Đến khuya bà ký phàn nàn với chồng.
- Thành ra chẳng hỏi con được một câu nào, thầy nó nhỉ. Bây giờ khuya rồi, để cho con nó ngủ, sáng mai dậy, thức lâu quá nhỡ mai ốm thì hỏng.
- U không lo, thể nào con cũng đỗ.
Đã sắp ngủ, thằng Đức còn nhỏm dậy nói một câu cho mẹ yên tâm.
Mà thằng bé tự tin như vậy cũng phải. Cả buổi sáng hôm sau, đứng trước ông giáo nào nó cũng trả lời rất rõ ràng rành mạch. Ông giáo bảo đọc bài nào nó cũng thuộc vanh vách. Mấy ông giáo đã phải thốt ra lời khen ‘‘ très bien’’, tốt lắm, làm thằng bé mũi cứ phập phồng.
Bữa cơm tối hôm ấy mới thật hoàn toàn vui. Ờ giá thằng Đức đỗ được cả phần chữ Tây nữa. Lúc ở trường về thằng bé hậm hực mãi, nhưng qua một lúc nó tự an ủi:
- Mình còn hơn bao nhiêu đứa thi trượt. Ừ thì chúng nó có đỗ chữ Tây nó cũng chỉ lên lớp nhì dưới như mình thôi chứ gì. Bao nhiêu đứa học ‘‘đúp’’ cũng trượt nữa là...
Nó bắt đầu lấy làm tự mãn. Ông bà ký cũng hơi tự mãn. Từ kỳ thi Sơ học yếu lược này họ tính lên kỳ thi trên. Bà ký đặt bát xuống mâm hỏi chồng:
- Mấy năm nữa thằng Đức mới thi tốt nghiệp thầy mày nhỉ ?
Không để cha trả lời, thằng Đức láu táu:
- Ba năm nữa, u ạ. Sang năm, con học lớp nhì dưới, học ông Nghĩa. Rồi sang năm nữa, con học lớp nhì trên, học ông Hợi. Học ông Hợi xong, con học ông Ngọ rồi đi
Ông ký Thảo mỉm cười bảo con :
- Ấy là không bị đúp lớp nào thì mới như vậy chứ.
Thằng Đức đương nhai miếng cơm nghe vậy nuốt vội, trả lời:
- Con mà thầy bảo bị đúp được.
Thằng Tề xen vào:
- Ba năm nữa, anh Đức đi thi tốt nghiệp thì lúc ấy con thi cái bằng của anh ấy bây giờ.
Bà ký lại hỏi:
- Thế bao giờ thì con nó thi cái bằng như của chú giáo.
Ông ký gật gù:
- Bốn năm nữa sau khi đỗ tốt nghiệp. Bốn năm với ba năm là bảy năm,  Bảy năm nữa thì con nó thi bằng thành chung.
- Bảy năm nữa kể cũng chả mấy nhỉ. Cứ cho là đến năm mười chín nó đỗ.
Hai người làm cha mẹ thấy hởi lòng. Họ không dám mong cho con tới cái địa vị nào cao hơn ông giáo. Ước nguyện của họ chỉ tới đó thôi và hạnh phúc dưới tầm con mắt của họ dừng cả lại hai chữ : Ông Giáo. Bấy giờ người ta sẽ gọi thằng Đức là ông Giáo Đức, và người ta sẽ khen : Đấy ông bà ký Thảo sinh ra ông Giáo Đức đấy, trông có phúc hậu không nào.
Và ông Giáo Đức sẽ mặc quần áo Tây đi dạy học ở trường tỉnh chứ đâu như ông giáo Thảo, ông hương sư làng mỗi tháng khó khăn mới lĩnh được mười hai đồng rưỡi bạc lương ở tay mấy ông lý dịch!




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 24.02.2021 09:59:04 bởi Ct.Ly>
V
 
 
Đồ đạc lủng củng, linh tinh chẳng có gì cũng phải ba xe bò mới hết. Dọn nhà thì thật là phiền!
Đứng trước cảnh bừa bãi của hai gian nhà cũ, bà ký Thảo thấy lòng ngao ngán. Từ ngày bắt đầu tới Bắc giang đến giờ, thế mà thừa một năm rồi. Năm ngoái thu
xếp dọn nhà, năm nay cũng lại thu xếp dọn nhà.
Qua mười mấy tháng ròng, cảnh sống gia đình bà vẫn không hơn được chút nào. Đồ đạc trong nhà vẫn ngần ấy thứ : mấy chiếc giường nằm, đôi tràng kỷ tre và cái bàn mượn để tiếp khách, mà tất cả đều đã bắt đầu hư hỏng, bụi mọt rơi đầy. À quên, có thêm được một cái bàn cũ cho trẻ con học, ông ký đã mua lại bằng một giá rất lời là chín hào của bà Thừa Quang nhân dịp ông ấy đổi. Đồ ăn, đồ làm vẫn chỉ đủ dùng cho hai bữa cơm trong nhà. Mỗi lần có khách xa đến chơi, bà ký lấy làm phiền bực lắm vì không có được mấy cái bát mẫu, đĩa sứ đẹp đẹp một tý. Bà than thở với chồng và trách thêm một câu:
- Ấy thế mà thầy mày vứt bao nhiêu vào tổ tôm không tiếc.
Ông ký cười:
- Qua một năm, u mày thấy như vậy mà đã sợ ư. Cứ nhìn gia đình ông Thừa thì biết. Lại không hàng mười năm, nó vẫn như thế ấy ! Nhưng mà cũng có hơn chứ sao lại không. Hơn ở cái chỗ con nó đi học, con nó thì đỗ...
Bà ký sẽ lắc đầu thở dài không đáp lời chồng.
Và hôm nay, hôm chủ nhật này, đứng trước cảnh bừa bãi của căn nhà đang dọn dở dang, bà ký lại thở dài. Ngày xưa, ở nhà quê, tâm hồn người đàn bà ấy  giản dị nhưng nay qua một thời kỳ tiếp xúc với gia đình này khác ở thành thị, cuộc đời bên trong của bà thay đổi rất nhiều. Bà nhớ lại, cố tưởng tượng ra ở trước mắt
cảnh nhà bà Thu, bà Phán Nhân rồi so sánh với nhà mình, Ừ giá nhà bà cũng vậy. Giá nhà bà cũng có bộ bàn ghế tiếp khách đẹp đẽ một chút, cái giường nó đừng bệ rạc quá.
Ở nhà quê lên được nửa tháng thì con bà thi, thi rồi đỗ. Bà cũng vui được một chút nhưng đến hôm dọn nhà này...
Dọn nhà không phải ý riêng của bà, cũng không phải là ý riêng của ông ký. Có những cớ trực tiếp và gián tiếp, Cái cớ trực tiếp là bà cụ Ấm. Từ ngày bà ký ở nhà quê lên, bà cụ vào chơi luôn và khuyên cả hai vợ chồng nên dọn nhà ra phố gần nhà bà cụ để mở một ngôi hàng nho nhỏ.
- Con cái nó cũng lớn rồi. Bà đã đỡ bấn bít. Có làm thì làm luôn bây giờ đi, không về sau ngộ thêm một đứa trẻ nữa thì làm thể nào. Vốn liếng chẳng hết mấy, ông bà đừng ngại tôi sẽ giúp.
Còn cớ gián tiếp là cái chết của ông Ba Tùng. Thật là đột ngột, ông bà ký không tính đến sự anh chết. Ông Ba còn trẻ, còn mạnh lắm, ông vẫn thường đạp hàng trăm cây số là thường, chứ có già yếu gì đâu!
Nhận được thư của em là ông cai Mai, ông ký đã nằm sóng sượt trên giường cả một buổi tối. Ông buồn cho người chết, ông lại buồn cho người sống hơn. Ông Ba đã dự bàn với ông bao nhiêu điều thế là bỏ cả. Giá ông còn sống, ừ, giá ông còn sống, cứ để ông thử làm một cái xem sao. Biết đâu, ngộ thời vận tới ! Ông Trời oái oăm thật, không cho người ta có thì giờ hối lỗi, sửa đổi. Đã đành rằng ông Ba đã phung phí cơ nghiệp cùng bao nhiêu năm tháng, nhưng ác thật, ác thật, sao không để ông sống cho trọn cuộc đời để những ngày về sau ông cố hàn, cố gắn. Rồi bà Ba và một lũ con đông, làm cách nào mà sống, nhất là lũ con, chúng nó còn học hành. Đời cha ăn mặn, đời con khát nước, vô lý đến thế là cùng.
 ‘‘... Thưa anh, em buồn lắm, em về nhà may vừa lúc anh Ba còn chưa mất. Anh thở dài bảo em rằng: Bệnh của tôi chẳng có gì là khó chữa đâu, chú ạ, chỉ có trăm bạc, trăm bạc thôi là tôi hết cả mọi bệnh...»
Ông ký nhớ lại câu ông cai Mai viết trong bức thư, nước mắt muốn trào rơi xuống má. Rồi từ hôm ấy, ông ký buồn, buồn và lo. Ông nhớ lại những điều dự bàn của anh có thi hành cho được. Lại tiện có sự giúp đỡ của bà cụ Ấm.
- Thưa dì còn chuyến xe này với cháu gánh một gánh nữa là hết thôi. Dì để cháu sang cháu gọi ông Khóa ông ấy sang khóa cửa.
Bà ký giật mình, ra khỏi ý nghĩ miên man, bà ngắt lời thằng Háu :
- Ừ mày sang ngay đi. Tý nữa dì cũng còn sang qua bên ông Thừa một chút cơ đấy.
Thằng Háu đi một chút rồi thằng Háu về. Bà dặn thằng bé:
- Cháu quét cái nhà đi một chút cho nó sạch sẽ. Đã đành rằng mình không ở đây, nữa nhưng cũng nên dọn dẹp giúp người ta một chút. Dì sang bà Thừa đây...
Bà vừa nói vừa quay thì gặp ông Khóa:
- Thưa ông, chúng tôi đã có lời nói với ông trước, ở đây không tiện cho chúrg tôi nữa, vậy chúng tôi xin giao nhà lại ông. Vừa rồi thằng cháu nó đã đem chìa khóa sang chưa ạ?
- Vâng, ông bà là người hiền lành tử tế, chúng tôi nghỉ cứ ở đây giá được thì vui quá nhưng nó đã không tiện cho ông bà thì chúng tôi cũng chẳng dám giữ. Mà giữ ông bà cũng chẳng ở lại.
Bà ký chào:
- Thôi tôi xin phép ông. À, nhà tôi đã bắt cháu nó quét sạch sẽ đấy ạ. Lúc nào tiện đi qua mời ông vào chơi.
- Vâng, cám ơn bà, lạy bà ạ.
Bà ký quay ra sang bên bà Thừa. Chẳng gì thì lúc mới lên mình cũng đã phiền người ta. Ấy là bà ký nghĩ như thế.
- Ông bà tệ quá, ở đây đương vui sao lại dọn đi.
Bà ký sẽ lắc đầu:
- Vâng kể ra ở đây được gần gụi cụ và ông bà thì vui thật, nhưng chúng tôi tính ra ngoài phố mở cái cửa hàng con con may ra thêm được đồng gạo nào nuôi các cháu. Nhà con đông thì phải tính chứ.
- Cái nhà ngoài ấy, ông ký nói chuyện tôi đã biết, nhưng chẳng hay mỗi tháng hết bao nhiêu?
- Thưa bà, nhà gác cơ đấy, lại có giếng tiện lắm. Đúng ra thì phải sáu đồng một tháng nhưng cái nhà chứa đằng sau họ xin cho được rửa ráy thì một tháng bớt được hai đồng.
- Nhà chứa gì, nhà bà Tài nhà thổ phải không ?
Bà cụ mẹ ông Thừa hỏi xen vào như vậy. Bà ký lấy thế làm thẹn, sẽ trả lời :
- Thưa cụ vâng.
- Nếu thế thì bất tiện lắm nhỉ. Thôi đừng dọn nữa bà ạ.
Bà Thừa cười bảo mẹ chồng :
- Bà rõ lẩn mẩn. Nhà đã dọn xong rồi, bà ký sang chào, bà mới bảo đừng dọn. Mấy lại, bà nhỉ, mình nghèo thì làm thế nào cho vừa ý được mọi đường.
Lại mất cả một ngày để kê, xếp nhà mới. Nhà có gác, mấy đứa trẻ lấy làm thích lắm. Từ bé đến giờ, chúng nó mới được leo lên, leo xuống nhiều lần trong một ngày cái cầu thang. Thằng Đức bảo thằng Tề:
- Ừ nhà này có gác, ‘‘oai’’ hơn nhà cũ nhiều chứ mày nhỉ.
- Anh ạ, u bảo, chúng ta được ở trên gác, còn nhà dưới u để u mở cửa hiệu.
- U mở cửa hiệu có tiền, rồi u may quần áo, mua giầy cho chúng mình mày nhỉ.
Hai đứa trẻ hí hửng nghĩ rằng lúc mẹ mở cửa hàng sẽ có nhiều tiền may mặc cho chúng. Hiện thời, mỗi đứa chỉ có hai bộ quần áo vải để thay đổi đi học và thêm nữa là cái áo dài chéo go, nhưng khuỷu tay đã rách, tà áo cũng sờn. Lúc còn ở nhà cũ, chưa một lần nào chúng dám nài xin cha mẹ. Có một đôi quần đùi đen để tập võ, thầy giáo dặn mãi, phạt đến hai ba lần mới có.
- Rằm tháng tám này, em phải bảo thày mua cho em một cái tầu thủy chạy được. Năm ngoái bảo mãi thầy chẳng mua cho.
- Tao thì tao phải xin một đôi săng đan mới được. Tết vừa rồi, tao vẫn phải đi đất.
Bà ký đương loay hoay lắp lại cái giường nghe các con nói mà rầu rĩ cả trong lòng. Trời hỡi! Sao Trời không cho bà giàu lên một chút. Từ thuở bé, bà vẫn ăn hiền, ở lành, sao trời chẳng cho bà một lần sung sướng ?
Hôm ấy là chủ nhật nhưng cũng đến chiều, ông ký mới được nghĩ. Ông chánh nhà Băng vẫn là cái ông Tây chăm việc ngày xưa. Và hiện đương là ngày mùa. Kỳ tháng mười vừa rồi, ông phải đi làm đêm mãi. Bà ký bảo chồng:
- Giá đi làm đêm như thế này họ cho thêm lương, thầy nó nhỉ. Tôi thấy cái nhà bà ký nhà Thương bà ấy nói truyện rằng ông ấy cứ mỗi kỳ đi làm đêm là sở người ta lại trả thêm, mà lương làm đêm được gấp đôi.
Ông ký gạt lời vợ :
- U mày tính làm gì những chuyện vất đi. Họ trả cho như thế này còn là khá đấy. Tôi còn e họ rút đi nữa kia.
Bà ký nghĩ mà chán, mặc dầu vẫn nhớ những lời chồng dặn: ‘‘ U mày không biết tự sung sướng. Cứ đứng núi này trông núi nọ có bao giờ vui được. Cứ so sánh bây giờ với cảnh khi ở nhà quê, tôi dạy học xem...’’. Ấy ngày xưa nó khác, bây giờ nó khác. Ngày xưa bà ở nhà quê...
- Đi làm tháng ba cọc ba đồng, dẫu tháng có trăm cũng chẳng thừa. Mình có bao nhiêu lại tiêu hết bấy nhiêu Phải xoay ra buôn bán, cân kẹo mới được.
Bà ký Thu đã bảo như vậy và thấy là có lý lắm. Bây giờ là bước đầu bà dọn một cửa hàng nho nhỏ. Bao giờ có cái vốn dăm bảy trăm, quen thuộc cách buôn cách bán, bà cũng cân kẹo như bà Thu. Bà ký Thảo cứ thầm tính mà vui vui, nhưng vui lại để mà buồn. Sẽ lắc đầu, bà Thảo thở dài một mình :
- Biết có được thế không ?
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
VI
 
 
NÀ0 xem ở đây có rộng rãi, thảnh thơi hơn không nào ? Đấy cứ nghe tôi có phải hơn không, chứ bà ở nhà quê, ông ở trên này với mấy đứa trẻ thì...những lúc ông đi vắng chúng nó làm ngụy...
Bà cụ Ấm ngừng nói để với cái ống nhổ. Ông Thu tiếp lời mẹ:
- Nhưng mà lại đằng này thì ai đánh tổ tôm, gieo thăng quan cho?
Rồi đến lượt bà Thu nói trong khi ông ký Thảo chỉ cười:
- Bà ký bà ấy lành, chứ tôi thì tôi chả để yên. . . Ai lại vợ về quê mấy tháng cũng chẳng gửi xu nào đem nướng hết. Mà cũng không thư từ xem con cái nó ăn chơi ra sao. Cậu nó nhà tôi mà như thế thi...
Ông Thu cười:
- Thì sao ? Thì cười vợ lẽ để nó giữ hộ chứ gì?
Cả năm người: bà cụ Ấm, vợ chồng ông Thu và vợ chồng ông Thảo đều cười, coi bộ vui vẻ lắm. Ấy là buổi đầu tiên hôm dọn đến nhà mới. Bà Thảo thấy vậy hơi lấy làm sung sướng. Cái số bà đi đâu cũng có quý nhân phù trợ thực. Lúc mới đến Bắc giang thì gặp ngay vợ chồng ông Thừa Minh. Dọn nhà ra đây lại gặp ngay gia đình ông Thu. Thế mà không khá, cứ vất vả thì thật vô lý.
- Ông bà Thảo thì chỉ mươi mười lăm năm nữa các anh ấy đi làm là thực an nhàn. Vất vả bây giờ là vất vả giờ ấy mà. Trong lòng ông Thảo là như vậy, nhưng nghe ông Thu nói đúng, ông lại chữa:
- Cụ và ông bà tính, mình đi làm nuôi chúng nó thì cứ biết là đi làm nuôi chúng nó, đến đâu hay đến đấy, chứ cứ hòng vào những chuyện chưa tới thì chắc gì. Mà mươi mười lăm năm nó cũng lâu lắm!
Bà ký nghiêm giọng nói:
- Tôi cứ tính cho các cháu đủ gạo ăn, hai bữa cơm, một bữa cháo và mỗi năm mỗi đứa vài manh áo vải mà vẫn thiếu đấy, thưa cụ và ông bà ạ,
- Con nhiều thì thế, tôi còn lạ gì, bởi vậy nên mới phải tính buôn tính bán chứ. Cụ nhà ta ngày trước giá các ông các bà không nhiều thì có phải vẫn giàu không ? Ngay như nhà tôi, có một thằng Thu đã đi làm được rồi, và thằng Văn mà ngần này tuổi đầu, tôi phải xuôi ngược vất vả.
Ông ký gật gù :
- Vâng cụ cứ lo xa, và cụ cũng cứ tham việc lắm, chứ không, tôi nghĩ cụ bây giờ cứ yên tâm hưởng lấy tuổi già. Ông ký nhà đi làm, bà ký nhà thay cụ buôn bán.
Bà cụ Ấm gạt đi:
- Không được, không được, ông bà nói thế thì không đúng. Thằng Văn, thằng út nhà tôi năm nay cháu sắp lên lớp nhất, thi đỗ xong phải tính cho đi Hànội. Đến lúc ấy, ông bà tính tiền đâu!
- Cụ còn tính như vậy thì chúng tôi không dám tính. Vâng, quả vậy ạ, thằng cháu Đức không biết mấy năm nữa có thể đi học không. Bản dĩ nhà là chỉ đi học, chứ chẳng có nghề nghiệp gì khác.
Nói xong, ông ký không muốn câu chuyện
quanh quẩn mãi về vấn đề gia đình liền lảng ra :
- À, thưa cụ, cụ đã bảo bác phó quen bác ấy đóng giúp cho cái tủ hàng chưa.
- Đã, tôi bảo rồi, độ một vài hôm nữa nó đem lại. Cái giá thôi mà, kê giáp tường chỗ mé này. Còn tủ thì tôi cho mượn.. Buôn với bán, lãi lời đâu chưa biết mà cứ sắm sửa như thế thì tốn chết.
- Vâng, trăm sự nhờ cụ cả, chứ u cháu còn vụng về chưa quen buôn bán, vốn liếng lại chả có.
Ngồi lâu, câu truyện nhạt dần. Đêm đã khuya. Ông bà Ấm và ông bà Thu ra về, bà ký buông màn cho con đi ngủ, còn một mình ông ký ngồi hút thuốc lào nghĩ vẩn vơ. Ông nghĩ đến ngày mai và những sự thay đổi trong cuộc đời vất vả. Ông đương làm hương sư bỗng dưng thành ông ký nhà Băng, vợ ông đương ở nhà quê bỗng dưng lên tỉnh. Thay đổi vẫn có thay đổi nhưng cái nghèo, cái túng vẫn chẳng thay đổi chút nào. Mai đây vợ ông lại mở cửa hàng, định khởi đầu một cuộc buôn bán, mục đích là gì nếu chẳng là để nâng cao gia đình lên một chút tới chỗ phong lưu sung túc. Không biết có được không? Từ thuở nhỏ ông vẫn vô duyên với tất cả mọi sự. Chẳng nói làm gì đến chuyện lỡ thời cơ, thời cơ có bao giờ đâu. Tiến dần, tiến dần, được thế này cũng đã là may lắm. Nhưng cái may lắm của ông là cái may lắm cho cả gia đình mà người đàn bà chỉ biết trông nom một lũ con.
Ông ký Thảo nghĩ về mình và chợt như tìm được điều gì quan trọng : Tính ông hiếu nhàn. Cứ như ngày xưa, giá vợ ông trông coi săn sóc được hết cả các con, còn ông, với cái vốn chữ ít ỏi, ông cứ đi làm cái nghề giáo dục mấy đứa trẻ nhà quê ! Đến bây giờ, giá ngoài cái việc đi làm, ông đừng phải lo tính gì. Ông đi làm hai buổi, ba buổi một ngày, có bao nhiêu sức lực, ông tiêu dùng hết, bán đi hết để nuôi một cái gia đình. Mà vẫn không đủ. Đành là phải xoay nhưng biết có xoay được chút nào chăng?
Thành ra cùng một việc mà cả hai vợ chồng cùng phân vân do dự. Họ không dám tin ở sự thành công, dường như là thiếu nghị lực nữa.
- Biết có được như vậy không?
Ông ký tự hỏi và lờ mờ thấy sự yếu đuối của mình. Sao lại không được, ừ, sao lại không được ? Muốn thì phải được chứ ! Ông tự gượng ám thị như vậy nhưng lại thở phào một cái. Chẳng có gì cả, người ta làm được mà mình không làm được đấy. Cũng khổ chứ có dễ đâu ! Thôi làm thì cứ làm, xoay quanh, xoay quẩn, sống được, nuôi được cho con nó đi học, bao giờ chúng đi làm!
Nhưng việc đời xảy ra lắm cái lạ lùng mình không thể tính được. Lo cho con, chăm chú trông vào con, ngộ con nó không ra gì thì sao? Cái đó là thường! Cụ Cử cha ông ngày xưa, cho anh ông đi học, mục đích là để anh ông chăn dắt ông và em ông, mà rồi có đúng được như ý định đâu. Hai đứa con ông, có thể chúng cũng như bác chúng. Nuôi được chúng thành người, có công ăn, việc làm, có địa vị mà chúng nó lại chơi bời. Hay dở chừng chúng bỏ, thì cũng đến chịu!
Đêm hôm ấy ông ký trằn trọc mãi đến gần sáng mới chợp mắt được. Trở dậy, ông đem ý nghĩ đêm trước ra bàn với vợ.
- Này u nó ạ, mình vất vả, khó nhọc nuôi cho con đi học mà sau chúng nó hư thì thật chán quá, u nó nhỉ.
- Thầy mày nói thế thì vô chừng, trồng cái cây, ai nghĩ rằng nó sẽ sâu, sẽ mọt. Nuôi con lại nghĩ rằng về sau chúng nó hư, ờ mà, chẳng biết đâu, trông gương bác Mẫn ở nhà thì biết.
Ông ký nhấp chén nước ngẫm nghĩ, bà ký lại tiếp :
- Nhưng mà trong nhà nếu cứ hòa thuận, vui vẻ thì chẳng làm gì con nó hư. Thày nó có xem nhà ông Thông không? Ông bà ấy hiền lành, tử tế rồi các con cũng khá cả đấy chứ. Nhà cậu cả bây giờ làm Thông Phán ở phủ Toàn Quyền, cậu hai đỗ tú tài, đương học ở Cao đẳng. Cậu thứ ba cũng năm nay thi ‘‘dip lô me.’’.
- Nhà mình cũng có thể như thế được, nhưng nói vậy chứ cũng khó. Một thằng lớn mà hỏng thì hỏng cả lũ.
- Nhưng tại sao, hôm nay thầy mày lại nói gở như thế. Thầy mày cứ chịu khó đi làm, đừng chơi bời, tôi buôn bán thêm cập vào. Trời cho các con mạnh khỏe đi học, trong nhà hòa thuận thì nhà ta cũng chẳng đến nỗi nào đâu!
Ông ký cười rất nhạt và khó hiểu :
- Biết đâu !




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 24.02.2021 20:46:24 bởi Ct.Ly>
VII
 
 
 
NHƯ hầu hết các cửa hàng tạp hóa khác,
cửa hàng của bà ký Thảo có một cái tủ kính ngăn lối vào nhà trong, giáp tường phía dọc một cái giá bằng gỗ và một cái phản trên để những cái quả sơn đỏ. Đồ
hàng toàn nhừng thứ lụn vụn từ cái kim, sợi chỉ, tập giấy, cái bút chì, thước kẻ, ô mai, lọ kẹo, măng, miến, gạo, đỗ...
Thêm vào những thứ ấy là bao muối, thùng dầu tây để ở phía trong. Bà ký còn tính buôn thêm nước mắm và nếu có
Thể thì làm tương bán.
Công việc chẳng có gì là vất vả. Cất hàng thì chì mất công từ đấy ra phố khách. Bán hàng thì nếu bà ký bận việc gì ở trong, thằng Háu trông nhà ở ngoài bán cũng được. Tiền bỏ vào cái hộp gỗ, tối mới đếm lại. Chẳng có sổ sách gì cả. Mà bà ký cũng chưa biên sổ được. Ngày nhỏ ở nhà quê, lúc còn ở nhà cha mẹ, bà không được đi học. Thân phụ bà không cho các con gái học chữ Nho, cũng không cho học chữ Tây. Vì để làm gì cơ chứ. Ở một gia đình làm ruộng cần lao, chữ nghĩa thực là thừa. Bổn phận người đàn bà là nuôi con, chồng bảo gì nghe nấy. - Biết chữ chỉ để mà viết thư cho trai.
Bà ký cũng chịu phận dốt nát như mấy chị em khác, mãi sau lúc các con lớn lên đi học, bà mới nghe chúng học nhớ được vần rồi dần dần đọc được chậm chậm. Nhưng bà vẫn chưa viết được. Ông ký nhiều lần vẫn bảo dạy vợ viết và tính toán cho đủ biên chép nhưng bà ký không muốn. Bà không thể nào ngồi bên chồng, biết rằng ngượng như vậy là vô lý và vẫn không làm sao tránh được.
- Thôi thầy mầy cứ để mặc tôi, tôi bảo thằng Đức nó bảo tôi cũng được.
Nghe vợ nói, ông ký chỉ cười :
- Ừ thì đấy, u mày bảo nó dạy.
Một thằng bé mười một tuổi, học lớp nhì dưới còn biết dạy ra làm sao, thành ra đến mấy tháng rồi, bà ký vẫn chưa viết được. Nhưng mà về sau buôn bán to thế nào, chứ lúc này thì chưa cần vội. Bà cứ nhẩm trong miệng cũng ra. Làm gì chẳng nhớ hết, có bao nhiêu đâu.
Cửa hàng không có tên. Những khách quen cứ gọi giản tiện là hàng nhà bà ký. Quanh quẩn có mấy người cùng phố, ngại không muốn đi xa. Người đầu tiên là anh Văn, con bà cụ Ấm, sang mua mấy cái kẹo chanh.
- Tôi sang mở hàng cho bà ký đây. Tôi tốt vía lắm cơ, bà ạ. Hàng bà rồi tha hồ mà đắt khách.
Cậu bé mười bốn tuổi mà đã biết tán như người lớn. Bà ký mỉm cười hơi tin tin.
-         Ừ, có anh Văn mở hàng cho, có lẽ khá đấy.
Luôn mấy ngày liền, người lại mua cũng khá. Bà ký thấy vui vui, một buổi tối đã khoe với chồng:
- Thầy nó ạ, có lẽ mình may ra rồi cũng khá đấy. Hàng hóa mấy hôm nay xem chừng cũng bán được.
Ông ký sẽ nhếch miệng :
- Làm ăn nó cũng khó, u mày còn phải học chán. Môn bài sắp phải lấy, không có họ phạt đấy. Liệu lãi có đủ tiền môn bài không?
Cái việc lấy môn bài giao cho thằng Đức. Không cũng  chẳng có ai khác. Ông ký không có thì giờ. Bà ký bận, mà không bận thì bà cũng không dám đến chỗ lạ Tòa Sứ, Kho Bạc, sở Cẩm chẳng hạn. Đơn đã có ông ký làm.
Xong xuôi mọi việc mất một tuần lễ.
Và đến ngày thứ tám là xảy ra chuyện bất hòa. Nói đến duyên cớ thì thật là buồn cười. Tất cả chỉ ở một câu nói của ông ký:
- U mày liệu mỗi ngày lãi có được ba hào không ?
- Thày mày đến hay, buôn bán cũng phải đợi lâu lâu một chút, một vài tháng đã chứ. Chưa chi đã lời với lãi.
- Làm ăn mà không tính được thế thì hỏng. Đi buôn mà lại không tính lãi trước. U mày chẳng biết cái gì cả.
Bà ký bực mình cãi lại:
- Ừ thì tôi chẳng biết gì cả. Thầy mày biết, thầy mầy giỏi sao thầy mầy không làm đi. Thế cho nên ở với thầy mầy tôi có muốn làm gì đâu.
Ông ký nhại :
- Ở với thầy mầy tôi có muốn làm cái gì đâu! Thế sao trước kia ở một mình u mày không làm. Người ta cho là không mất cả vốn ấy à?
- Chả nhẽ có bà cụ ấm, bà cụ tử tế, bà cụ lại giúp, chứ không cớ sự này là tôi cứ vứt ra cả đấy.
Lòng tự ái của cả hai vợ chồng đều bị thương tổn. Mấy đứa trẻ nhìn cha mẹ, không hiểu tại sao lại có chuyện cãi nhau như thế. Thằng Đức len lén dắt em ra ngoài cửa chơi. Nó không biết làm gì, nói gì.
Chuyện này qua, hai hôm sau lại một chuyện khác xảy tới. Giá có ai ở ngoài chứng kiến thì tha hồ mà cười. Cũng lại những duyên cớ vẩn vơ như lần trước và do cái tính hơi gàn của ông ký. Buổi trưa đi làm về, ông ký lén lấy mấy cái kẹo và mấy con chỉ bỏ vào một chỗ. Lúc ấy bà ký đương ghế cơm ở trong bếp, mấy đứa con chơi với nhau ở ngoài cửa, nên không ai thấy.
Đến chiêu tối, lúc đương ăn, ông ký mới đủng đỉnh hỏi vợ:
- U mày có mất cái gì không ?
Bà ký không để ý đến chuyện mất kẹo, mất chỉ nên càng ngạc nhiên hơn. Bà cứ ngẩn người ra nhìn chồng không hiểu:
- Thầy mầy bảo còn có gì mà mất.
Ông ký vẫn đủng đỉnh, nhưng giọng nói gay gắt:
- Còn có gì mà mất. U mày thì có lúc mất cả cái áo mặc ở người cũng không biết. Hừ! Còn có gì mà mất! Còn có gì mà mất.
Bà ký lặng im. Ông ký chề môi nói tiếp:
- Chưa, chưa đến lúc khá được. Làm chưa được ! Vô ý đến thế thì thôi. Người làm ăn không có ai người ta như thế. Gọi là một hòn ngói người ta cũng nhớ. U mày có biết bà cụ Ấm, bà cụ thế nào không?
Không biết nguyên do ra làm sao, bà ký im nhưng đến khi biết rõ việc mất kẹo và chỉ, không chịu kém, bà cũng cãi lại:
- Tôi tưởng mất cái gì to tát, chứ mấy cái kẹo, mấy con chỉ, thầy mầy lấy giấu đi thì ai biết.
- Làm ăn thì phải biết chứ, ngu như con chó ấy.
Ông ký nóng nói một câu quá nặng. May cả hai vợ chồng không nói to, chứ không hàng phố họ đổ lại xem thi thật ê.
- Vâng, tôi ngu, còn thầy mầy khôn. Thầy mầy khôn lắm, tôi, tôi chỉ ngu thôi.
- Thế ngộ bây giờ trẻ con chúng nó lấy cứ mỗi ngày mấy cái thôi, thằng Háu nó bán nó không bỏ tiền vào hộp thì u mày làm thế nào?
- Thế thầy mầy bảo tôi cả ngày cứ ngồi kè kè ở đây hay sao. Cũng phải chạy ra chạy vào xem nó làm ăn ra sao chứ. Lãi đâu chẳng biết nó thổi cơm sống cho mà ăn, nó bỏ tro vào thức ăn mà không biết thì lại thấy.
- Người ta nói cái từ trưa đến giờ mà không biết…
- Chẳng lẽ mỗi lúc lại đổ kẹo ra mà đếm hay soát lại từng cái kim, con chỉ.
- Ấy thế, làm ăn người ta phải cẩn thận như thế.
Bà ký nghe chồng nói mà bực cả mình. Sao lại có người gàn đến thế. Bà làm cái gì cứ mặc bà làm thì lại dễ chịu. Đàn ông dính vào đâu là phiền đấy. Càng cãi với chồng thì lại càng phải nghe những câu nói tức anh ách.
-Thôi tôi chẳng nói với thầy mầy nữa!
Bà ký nói xong đi ra ngoài cửa. Thế là kết liễu cuộc cãi vã. Đêm hôm ấy, bà vắt tay lên trán ngẫm nghĩ:
- Ở với thầy nó bực cả mình, hay là ta về nhà quê!
Nói đến về nhà quê, bà ký vừa buồn cười vừa tức. Về quê lại cũng như ngày xưa! Mà cũng không ai để bà về.
- Bốn con rồi, có phải trẻ con đâu mà mỗi lúc lại bế con về!
Vừa tự trách xong, bà lại buột thốt ra câu:
- Nhưng thầy nó mà cứ thế thì bực không chịu được !
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
VIII
 
 
А, chú Chi, u ơi, chú Chi lên chơi. Thằng Đức reo ầm lên gọi mẹ. Bà ký Tháo đương
làm cái gì ở trong nhà, cũng bỏ đấy, bước ra. Thằng Tề, con Dung và thằng Vượng theo sau:
- Chú Giáo lên chơi, lâu lắm, có dễ đến hai năm nay mới gặp chú.
- Chị. Anh chưa về phải không chị. May lắm, hôm nay lên được thăm anh chị và các cháu. Thằng Đức lớn lắm rồi nhỉ, xách va ly vào cho chú đi, các em đây hử, vào trong nhà chú cho quà.
Bà ký hỏi mấy đứa con nhỏ :
- Các con có biết ai đây không ? Chú Giáo đấy. Con lạy chú đã nào. À, có dễ năm chú về Sắn chơi chưa có thằng cháu Vượng nhỉ, hai cháu kia năm ấy hãy còn bé tí chưa biết chú.
Quay đầu vào trong nhà, bà gọi :
- Háu ơi, bưng thau nước cho ông Giáo rửa mặt.
Thắng Đức líu tíu:
- Cháu mang va-li lên gác cho chú nhé. Chú rửa mặt xong lên gác. Rộng lắm chú ạ. Gớm, cái va li to nặng quá, Tề ra khiêng với tao đi.
Ông Giáo Chi vừa rửa mặt vừa hỏi chuyện chị dâu.
- Lương anh ấy có tăng hơn chút nào không ? Công việc cũng nhàn chứ!
- Chẳng tăng đồng nào cả, chú ạ. Ngày rầy chú về chơi, nhà tôi còn có thì giờ nói truyện chứ ngày tháng trước thì cứ tối cả mắt lại. Sáng chủ nhật cũng không được nghĩ. Đêm nhiều khi cũng phải làm.
- Chị mở cửa hàng từ bao giờ đấy ? Có ăn thua gì không ? Cái nhà này cũng rộng mỗi tháng hết bao nhiêu, hử chị?
Bà ký cứ trả lời từng câu một, những câu hỏi của ông em chồng. Lâu lắm không gặp, việc đầu tiên bao giờ cũng là hỏi.
- Cái nhà này bốn đồng đấу chú ạ, Tôi cũng thuê để mở cái cửa hàng nho nhỏ, thêm cặp vào để nuôi các cháu. Nhưng mới bắt đầu được nửa tháng nay, chẳng biết có ăn thua gì không ?
- Ông Tú Minh vẫn ở đây chứ chị. Ông ấy có con gái lớn đã gả chồng chưa?
- Vâng, ông Thừa vẫn ở đây. Chiều nay hay lúc nào, chú vào chơi qua. Cái chị con gái lớn ông ấy giá nhà, phong lưu tí nữa thì cũng khối người đánh tiếng rồi đấy.
Ông Giáo Chi hỏi xong, đến lượt bà ký Thảo hỏi lại. Thì cũng vẫn là những câu hỏi thăm tương tự.
- Bà độ này vẫn mạnh chứ? Chú Đôn vẫn ở Hànội, cô Hương chưa có đám nào đánh tiếng ư ? Cô ấy còn trẻ, tội gì mà ở vậy chú nhỉ. Còn chú nữa, kén mãi, kén mãi. Có thím ấy sớm đi, bà mong có cháu bế lắm đấy chú ạ, hay ở trên này, tôi làm mối cho chú nhé. Nào cô giáo cô đỡ hay người buôn bán nào?
Ông Giáo cười bí mật :
- Chả dám phiền chị, em cũng có nơi rồi ạ.
Từ lâu lắm, gia đình ông ký mới được một hôm vui như vậy. Bữa cơm, bà ký đã dám tiêu một món hoang là một con gà và nửa chai rượu. Ông ký về gặp em cũng tươi hẵn nét mặt:
- Chú được nghĩ ba tháng hè, mới mong đi chỗ nọ chỗ kia, chứ tôi không lúc nào có thì giờ để thở.
- Thế Tết anh được nghĩ bao nhiêu ? Noël nữa, cũng phải được ba bốn ngày chứ,
- Làm gì ; Tết được bốn hôm đã đành, còn các lễ khác phần nhiều bỏ. Noël được hai hôm, Toussaint (lễ tảo mộ thanh minh) Pâques (lễ Phục Sinh), hôm rưỡi. Chú tính đi đâu ? Cái thì giờ đi cũng hết mất rồi. Mấy lại mình cũng túng gớm. Có mấy khi thừa được dăm đồng đâu! Đến bữa cơm, ngồi giữa, ông Giáo Chi để ý nhìn các cháu ăn như đàn vịt :
- Cái thằng Đức năm ở nhà, nó lẽo khẽo, đi không vững mà bây giờ trông nó cũng khá đấy chứ. Thế nào cháu có nhớ bài thơ ngày xưa không :
Đầu to, bụng ỏng lại sâu răng...
Thằng Đức cười. Rồi thằng Tề cũng cười:
- Chú xem bây giờ răng anh ấy có sún nữa không nào?
- Chú có về chơi với cháu thì phải về luôn đi mới được, chẳng sang năm có thím ấy, lại một vài cháu ra thì chẳng còn thì giờ đâu nữa.
 Ông Chi tợp một hớp rượu rồi khà khà :
- Ở Bắc-giang này dễ chịu đấy chứ nhỉ. Được, để hết hạn đi thượng du, tôi sẽ xin đổi về đây. Trường đây có những ông giáo nào thế nhỉ?
Không đáp lời em hỏi, ông ký đủng đỉnh:
- Chú chọn thím ấy ở trong đám nào đấy? Cô giáo chắc? Hay cô đỡ? chẳng cẫn giàu có, cốt họ có nghề nghiệp mình đỡ bận. Ở đây có mấy cô giáo, mấy cô đỡ chưa chồng, giá không thì tôi làm mối cho. Nhưng thôi, để có sao tôi làm mối cho chú Đôn vậy. Chú ấy vẫn ở Hà-nội học chứ, chẳng thấy về chơi.
Ăn cơm xong, ông giáo Chi mở va ly, lấy ra một tấm ảnh đưa cho ông ký:
- Đây nhà em đây, anh chị xem xem có được người không?
Ông ký, bà ký và hai đứa con lớn xúm vào xem cái ảnh. Ông ký gật đầu se sẽ. Bà ký nhanh miệng nói trước:
- Trông thím ấy người thùy mị đấy. Chú khéo chọn lắm.
- Cốt người khoẻ mạnh không hay ốm đau là được rồi. Chẳng cần người nhan sắc lắm.
- Cái ảnh ấy mình chụp lấy thành ra trông nó không được đẹp mấy.
Ông Giáo Chi nói chữa một câu không ăn nhập vào đâu cả. Trong khi ấy, hai đứa trẻ lục trong va ly cái máy ảnh.
- Đừng nghịch cháu, khéo vỡ đấy. Để chiều nay chú chụp cho cả nhà một cái. Chú còn hai ba tấm kính chưa chụp thì phải.
- Chú định bao giờ cưới ? Bà đã biết chưa?
- Em định có thể thì năm nay mà không thì sang năm. Cũng còn phải lo một món tiền đã. Nhà mình nghèo. Bà em bây giờ cũng chẳng có gì. Bà em hẳn là không tính được hết... Anh nghĩ hộ xem, chỉ còn có cách mua cái họ hay vay đâu nhẹ lãi, góp trả dần, nhưng chưa biết hỏi đâu.
- Làm thế nào giản tiện, phiên phiến cho xong thôi chú ạ. Bầy vẽ chỉ tội cả hai vợ chồng, lại kéo cầy trả nợ về sau...
Ông ký uống một ngụm nước dọn giọng rồi lại tiếp:
- Lập một cái gia đình cũng khó lắm- Như chú bây giờ cũng nên cẩn thận. Nhiều cái khổ: nào mình ốm, nào vợ ốm, con ốm, nợ nó đến nó thúc. Chúng tôi may được cái không hay ốm luôn. Mình nghèo không có quyền ốm, hoặc trót ốm không có quyền uống thuốc. Mấy đứa trẻ lở, mụn, tôi cho đi nhà thương ; ấm đầu, cảm nắng, cảm gió thì uống lá nhọ nồi; một viên aspirine hay qui-nine là hoang quá lắm rồi.
Trưa hôm ấy, hai anh em nằm nói truyện ở trên gác. Quanh quẩn vẫn vấn đề đại gia đinh và tiểu gia đình. Không thì cũng chẳng biết nói truyện gì. Cả hai người cùng vui vẻ không một chút lo buồn.
- Tôi thành ra không có thì giờ nghĩ đến ai nữa. Mình nghĩ đến mình cũng hết cả thì giờ rồi còn gì. Chẳng hạn như gia đình chị Ba bây giờ. Anh ấy mất đi, đàn con nheo nhóc. Mình cũng muốn giúp lắm nhưng giúp gì? Mình nghèo, ừ nghèo thì cũng chẳng tính giúp ai là hơn !
- Chị Ba thì cứ quanh quẩn buôn bán lần hồi mà sống chứ còn biết làm thế nào. Vất vả thật nhưng anh nghĩ xem nếu không như vậy thì đói to. Anh em, chị em ai cũng có lòng nhưng không phải ai cũng cứ tháng tháng giúp chị ấy. Thôi thì cố mà sống nuôi cho con nó đi học. Bao giờ thằng lớn đổ tốt nghiệp tôi sẽ cố giúp cho nó đổ đến dipôme.
- Cảnh chú thế mà cũng khó, có khi còn khó hơn tôi nữa. Vì chú còn bà, và chú Đôn, cô Hường... cũng lại chú. Đến lúc lập một cái tiểu gia đình. Ấy, khổ đấy chứ, nếu không thì được đằng nọ mất đằng kia. Lương ông giáo cũng chỉ đủ - tôi nói đủ nghĩa là đủ riêng cho chú thím và mấy đứa con sau này. Thế còn...
Ông Chi vội ngắt lời anh sẽ gặt đầu:
- Vâng anh nói đúng đấy. Nhưng rồi nó cũng thay đổi chứ. Thằng Đôn một vài năm nữa rồi nó đi làm. Con Hường xem có ai đánh tiếng thì cứ liệu gả cho người ta. Chỉ còn bà thì rồi ở với chúng tôi, mẹ ở với con, ờ, nhưng mà cũng chẳng khó gì đâu.
- Ở một gia đình nhiều người như gia đình thầy giá ai ai cũng có gắng lo cho đủ bổn phận. Trai có vợ, gái có chồng. Mỗi người có công ăn việc làm thì không có lý nào nhà lại xuống được.
- Anh tính như vậy, cố nhiên rồi. Nhưng được như vậy, có dễ đâu. Các ông ấy không biết giữ, chơi gớm lên. Nhất là anh Mẫn. Chỉ có anh và anh Mai là thiệt thòi hơn nhất. À, anh Mai không biết anh ấy đóng đến gì rồi?. Cứ chịu khó lên đến Quản thì khá đấy. Bây giờ anh ấy ở đâu, lúc nào cũng phải viết cho ông ấy cái thư mới được !
Câu chuyện không có mục đích. Hai anh em nói chỉ là kể cho nhau để mà biết những cảnh sống của người nọ, người kia. Nhưng cứ thế cũng kéo dài đến lúc ông ký Thảo đi làm.
Ông đã cười bảo em:
- Hôm nay là chiều thứ bảy. Chú lên chơi độ này cũng may. Chứ độ nọ chủ nhật, buổi sáng nó cũng chẳng cho nghỉ.
Ông giáo Chi ở chơi đến sáng thứ ba thì ra về. Ở thêm nữa cũng vô ích. Anh đi làm cả ngày. Chị cũng bận. Quanh quẩn với mấy đứa cháu hay đi chơi phố thì chán chết. Giá không phải chờ lấy cái ảnh chụp cả nhà ông ký mà hiệu ảnh nó có thể làm sớm hơn được, thì ông đã về từ sáng thứ hai.
Trên tấm giấy khổ 6x9 đặt ngang, ông ký đứng giữa bà ký ngồi bế thằng Vượng. Bên cạnh ông ký là thằng Đức và thằng Tề, bên cạnh bà ký là con Dung. Bà ký có dáng băn khoăn, ấy là vì cái khăn trắng. Mượn mãi không được cái khăn đen.
- Hay là thôi, tôi không chụp nữa chú ạ. Khăn trắng độc lắm.
- Ồ vẽ, chị cứ kiêng như thế, người ta còn chụp cả đám ma nữa thì sao.
Còn thằng Đức, ai tinh thì nhận thấy nó đương che cái chỗ áo rách và buông quần cho dài thêm.
Nhưng mà vui. Lần đầu tiên cả nhà ông ký chụp ảnh. Họ nghèo quá, giá không có ông em chụp cho thì cũng chẳng bao giờ dám mời một người thợ chụp ảnh.
 
 
 
 
 
 
IX
 
 
KỲ nghĩ hè đã hết. Hai đứa trẻ lớn đi học, ông ký đi làm... Mỗi ngày từ sáng đến gần trưa và từ trưa đến gần tối, ở nhà có một mình bà ký Thảo và hai đứa con nhỏ. Công việc hàng họ vẫn chưa ăn thua gì mấy, bà cũng bắt đầu thấy chán. Đi buôn giá nó như đi làm, ừ, giá cái sổ lãi nó cứ nhất định mỗi ngày bao nhiêu mỗi
tháng bao nhiêu. Tôi buôn, tôi mất công đi mua, tôi mất công ngồi bán vậy tôi phải được lãi.
Thời kỳ kinh tế khủng hoảng đến. Thóc gạo hợn, không ai có thể tưởng tượng được. Ba hào một thúng thóc! Dù bị rút mười phần trăm, số lương hai mươi lăm
đồng thành ra còn có hai mươi hai đồng rưỡi, nhưng mọi vấn đề chi tiêu trong nhà ông ký đỡ gay go. Cái cửa hàng tạm để đấy thôi, không lấy làm cần như ngày trước. Làm một cái tính nhẩm: bốn đồng bạc nhà, bốn đồng bạc gạo, tám đồng bạc đồ ăn, mỗi ngày độ hai hào rưỡi mà trời cho như thế này thì sự sống cũng dễ chịu đấy. Bà ký tính đi, tính lại mãi về bốn đồng bạc nhà. Như vậy hoang quá, giá rút đi được một ít, ờ, mà sao không rút được, có thể cho thuê lại cái gác trên chứ, để làm gì, ở có hết đâu! Thế là một ngày, một gia đình khác lại san sẻ với ông bà ký cái món tiền nhà.
Nhà bà tài Binh, chồng làm chẳng biết phát vé, hay a ‘‘công tơn’’ (control = điều khiển), hay tài xế cho một hãng xe hàng, lương cũng khá - bà ký hỏi thấy vợ nói hơn hai chục. Bà cũng chẳng rõ hơn hai chục là hai mươi mấy đồng, nhưng thấy họ sống phong lưu lắm. Những buổi đi chợ về, bà ký nhiều hôm đã làm ra thân mật :
- Nào thử xem bà mua bán được những gì nào ?
Có hai vợ chồng, một con, một đầy tớ mà một lượt chợ đến bốn hào chứ không ít. Lại còn những khoản chi tiêu nhà bà ký không bao giờ có: Như tối thứ bảy cả gia đình đi xem tuồng hay nghỉ không ăn cơm nhà để đi ăn hiệu.
Nhà bà tài Bình người nhanh nhẩu, sắc sảo, cũng tử tế. Bà ký Thảo có người nói truyện nói trò cũng đỡ buồn.
Nhiều khi bà lên gác chơi nữa. Người đàn bà tính vẫn hay khoe khoang. Bà tài Bình khoe với bà ký những vòng, những hoa, những hột. Bà ký khoe lại những bác Phán nhà tôi, chú Giáo nó hôm nọ cũng lên chơi cùng các bác bên cụ Tuần...
Cứ thế ngày này qua, ngày khác đến... Trong thâm tâm, bà ký Thảo nhiều lúc cũng thèm cảnh phong lưu của bà Tài Bình, đúng hơn là cảnh vui vẻ gia đình bà Tài Bình. Hai vợ chồng họ sao dễ chịu thế. Chồng chiều vợ từng ly từng tý.
Những lúc ấy, bà ký quên rằng mình đã có bốn đứa con và tuổi mình hơn năm, sáu. A, nhưng mà không, ông bà phán Nhân chẳng đã ngoài bốn mươi rồi ư, thế mà mỗi buổi diễn kịch hay chiếu bóng làm việc thiện, hai người vẫn sóng đôi nhau đi.
Cuộc sống đến cái quãng phẵng lặng, hai vợ chồng không phải lo đến vấn đề cơm áo thì lại một điều khác làm rối loạn trật tự của gia đình. Bắt đầu mới là cái mầm gieo từ buổi cãi nhau vì cái cửa hàng.
Ông ký Thảo không hề hay biết. Chính bà ký Thảo cũng không tự biết. Hai vợ chồng lấy nhau do ý muốn của cha mẹ, ăn ở với nhau bấy nhiêu năm là vì nghĩa.
- Không có một chút tình nào. Giá không có mấy đứa con thì chồng một nơi, vợ một nẻo.
Lên Bắc-giang, thế mà cũng gần được hai năm rồi.
Những lúc ngồi vẩn vơ, bà ký tính cách về quê, lại về quê. Nhưng bà về lượt này không như lượt trước. Phải có phương sách, hẳn hoi! Thế nào thì mỗi tháng, ông ký cũng phải gửi về năm bảy đồng để nuôi mấy đứa con chứ.
Tất cả ý định bà chỉ nói riêng với thằng Đức :
- Tao thì nhất định không ở với thầy mày được lâu đâu. Thôi tao cứ chịu nấn ná hặt tằn, hặt tiện mỗi tháng để ra mấy đồng. Bao giờ được cái vốn năm bảy chục thì tao về nhà quê, tao buôn bán. Mày với thằng Tề, chúng bây giống thầy mày thì chúng bây ở với thầy mày còn con Dung với thằng Vượng nó ở với tao.
Câu sau bà nói có ý dỗi. Thằng Đức nghe mẹ nói không biết trả lời làm sao. Nó không biết ngả về với thầy nó hay u nó. Phiền thật! Vô lý thật! Sao u nó lại nói như thế nhỉ!
Nhưng những ngày vẫn qua, một tháng, hai tháng, rồi ba tháng, bà ký Thảo vẫn trông con như thường, cửa hàng vẫn mở. Lãi không mấy nhưng may chưa hại vào vốn. Nhà bà tài Bình vẫn ở trên gác chia với ông bà ký một nửa tiền nhà.
Những ngày cuối năm đến. Nhà ông bà ký Thảo không thấy sắm sửa gì, vẫn buồn bã như một nhà có đại tang. Những gia đình khác quét vôi, cả gia đình trên gác đều sang sửa cửa nhà, dán câu đối trông vui lạ. Rồi cành đào, thủy tiên, bánh chưng, chè lam...
Những đứa con tíu tít hỏi mẹ mỗi buổi trưa hay tối :
- U chưa làm gì à? Tết đến rồi đấy.
- U không gói bánh ư ?
- U có làm chè lam không ?
Bà ký lạnh lùng đáp lời các con:
- Chúng bây ra hỏi thầy mày ấy, tao không có tiền.
Lũ trẻ lại ra hỏi ông ký. Ông ký lặng im không đáp.
Tết ông Táo không có, mãi đến hai mươi lăm, ông ký mới đưa cho bà ký chục bạc. Rồi thong thả ông nói :
- Đây Tết, sở nó cho vay trước một nửa lương tiêu Tết. U mày cầm lấy liệu sắm sửa gì thì sắm. Bánh trái, thịt thà gì cho trẻ con nó ăn thôi chứ đừng pháo phiếc gì thêm tốn ra… Tôi còn phải tính mua cái gì tết ông giáo cho chúng nó đây.
Bà ký cũng cứ nghe như lời chồng bảo. Mấy đứa con, nhất là hai đứa lớn không có quần áo kèo nhèo với mẹ:
- Tết đến mà con chẳng có quần áo gì cả. Giầy cũng không. Có cái áo chẻo go may từ hồi Vua ra thì rách cả khuỷu.
- Con cũng chẳng có gì cả. Anh Đức anh ấy còn có áo trắng dài.
Con Dung chưa biết gì cũng bắt chước hai anh :
- U may áo đẹp cho con.
Bà ký lặng im, chỉ lặng im là hơn cả, đỡ phải nói ra những câu buồn lòng. Cái Tết này cũng như cái Tết trước, cái Tết nghèo của một gia đình nghèo. Bánh chưng, chè lam thì vẫn đủ đấy, kinh tế khủng hoảng, thóc gạo rẻ, bột rẻ mà! Còn mọi thứ khác như những nhà khác thì bỏ hẳn.
ộng ký không buồn. Từ thủa nhỏ, sống trong gia đình cha, mắt ông thấy cảnh Tết như vậy nhiều rồi, lại nữa, người đàn ông còn có tâm hồn cứng cỏi hơn. Chứ đàn bà! Bà ký Thảo buồn cả trong lòng và ngoài nét mặt.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 25.02.2021 22:16:25 bởi Ct.Ly>
PHẦN THỨ BA
 
BÌNH YÊN
 
 
 
...Trọn mọt đời người chằng lẻ không được chặng nào E-m lặng?
NG. Đ. CH.
 
µ µ µ
 
 
 
I


 
THẾ là ông ký Thảo đi đạọ đấy. Một buổi sáng chủ nhật, bà ký thấy chồng cắp về nhà một quyển sách dầy cộm lẳng lặng đi lên bàn. Rồi thằng Hào con bà cụ Điều có nhà cho thuê ra se sẽ, nói riêng :
- Mời bà vào chơi, u cháu nói chuyện một tý.
Gia đình ông ký Thảo mới dọn sang đây được một tuẫn lễ. Từ tháng giêng đến lúc đã là tháng ba, ở nhà cũ xảy ra nhiều chuyện quá. Nào con ốm, nào vợ chồng
nhà tài Bình ở trên gác đánh chửi nhau - hai vợ chồng hòa thuận vui vẻ mãi cũng tới lúc lục đục, chồng ngoại tình, vợ ghen tuông thành ra lăng loàn. Người này nói ra, người kia nói vào rằng cái nhà ấy không nên ở, vả chính bà ký cũng nghĩ thế nữa, nên mới có việc dọn nhà sang đây. Bà cụ Điều chủ nhà cùng tốt, lại quen với bà cụ Ấm. Câu chuyện dọn nhà mới nói ra miệng được ít hôm là nhà dọn.
Nhà mới cũng có cửa quay ra phố để dọn hàng, ba gian cao ráo ở khá rộng rãi. Lại tiện sân, tiện giếng. Ông ký muốn tính toán thế nào thì tính. Mỗi ngày ngoài hai bữa cơm, ông không hay nói chuyện gì, tối tối lại hay đi chơi. Nhưng chỉ độ chín mười giờ đã về. Chắc rằng không phải đi đánh tổ tôm.
Cho đến buổi sáng chủ nhật này. Ông ký cắp quyển sách dầy về nhà cởi khăn áo rồi giở đọc. Bà ký thường thường vẫn không hay để ý đến việc của chồng, nên cũng chẳng lưu tâm. Nhưng thằng Hào con bà cụ Điều ra mời vào, không biết rằng có chuyện gì. Bà băn khoăn cho đến lúc gặp bà cụ Điều. Bà già tóc đã bạc ấy kề gần tai bà ký thì thầm như sợ ai nghe tiếng :
- Ông ký nhà đi đạo đấy bà ạ.
Bà ký sửng sốt hỏi:
- Cụ nói gì, cháu không hiểu. Nhà cháu đi đạo?
Bà cụ Điều giơ một ngón tay:
-Ừ, thì tôi nói dối bà làm gì! Bà đến bây giờ vẫn chưa biết à? Ông ký vừa ôm quyển Kinh về nhà đấy.
Bà ký vẫn còn chưa tin:
- Nhưng mà sao cụ biết ? Ai bảo cụ thế?
- Thằng cháu Hào nhà tôi nó tinh lắm. Nó vẫn thấy ông ấy vào cái nhà đạo Tin-lành ở gần nhà bà Thừa Minh ấy mà.
- Trước cháu ở mãi đấy, có nhà đạo nào đâu?
- Người ta mới mở bà không biết. Cái nhà vẫn bỏ không mà trước ông Thương thuê ấy. Nhưng mà thôi, hãy yên để tôi kể cho mà nghe. Thằng cháu Hào nó thấy ông hay vào trong ấy nên nó cũng tò mò, một hôm đi theo. Nó kể rằng chỉ có hai hàng ghế rồi có một ông nói tiếng trọ trẹ đứng ở giữa giảng chứ chẳng có thờ tự gì cả. Họ có cái đàn kêu ù ù có cái bà dáng chừng là vợ nhà ông giảng ngồi đánh. Họ hát những bài ê а nghe đến lạ tai. Ông ký cũng hát, thỉnh thoảng lại cúi đầu xuống cầu kinh.
Bà ký nghe chẳng hiểu ra làm sao, hỏi bà cụ Điều cũng lại không biết nốt thành ra cứ hoang mang. Lên trên nhà thấy chồng vẫn ngồi yên xem quyển sách dầy ấy, bà muốn hỏi nhưng không biết bắt đầu bằng câu nào. Thử nhìn nét mặt chồng thì bà thấy ông ký vẫn thản nhiên không có vẻ gì là đi đạo cả. Nhưng mà không có lý nào đương tự dưng, người ta lại buộc cho cái tiếng ấy.
Đến chiều, bà ký vào trong bà Thừa Minh. Để thử hỏi xem, bà ấy ở gần đấy chắc bà ấy biết rõ lắm. Lúc gần đến nhà bà Thừa, đi qua nhà cũ ngày trước, bà tò mò nhìn tấm bảng to kẻ ba chữ to : Hội Tin-lành, và mấy chữ nhỏ ở trên, một hàng chữ tây ở dưới bà không đọc được.
- Quái, đạo với đức gì, trông như một cửa hiệu.
Bà phân vân tự hỏi nhưng không tìm được câu trả lời. Ngày thường trông cái nhà đạo nó cũng không khác gì các nhà tư khác. Đứng ngắm nghía mãi không hiểu được gì thêm, bà ký liền bước mau đến nhà bà Thừa.
Vừa đặt chân vào trong nhà đã thấy mấy đứa trẻ cười ầm lên. Rồi bà Thừa cũng cười. Thế là nghĩa lý gì, thực khó hiểu. Bà ký bẽn lẽn chưa kịp nói sao thì bà Thừa lên tiếng trước :
- Bà ký bây giờ khác phái với chúng tôi rồi :
- Bà nói gì tôi không hiểu.
- Thế ông không nói gì với bà à?
Bà Thừa cười ngặt nghẻo chán mới kể đầu đuôi cho bà ký nghe. Thì cũng lại tương tự như lời bà cụ Điều: Ông ký buổi tối hay vào cái nhà đạo mới mở ở gần đây và ông đã theo rồi. Bà Thừa lại làm ra dáng thông tỏ:
- Cái đạo Tin-lành, người ta vẫn gọi là đạo dối ấy mà. Không biết làm sao ông ký ông ấy lại dở thế nhỉ. Bà phải khuyên bảo ông ấy thế nào đi chứ. Gốc rễ tổ tiên nhà mình có đi đạo đâu.
Bà cụ sinh ra ông Thừa ở ngoài vào cũng chêm:
- Ấy tôi thấy người ta bảo cái đạo ấy nó có bùa mê đấy.
Bà ký lắc đầu :
- Nhưng cụ tính nó bỏ bùa mê cho nhà tôi làm gì cơ chứ. Ông tôi mất đi rồi, chẳng còn ai nói được nữa. Tôi thì tôi mặc...
- Thế bà có theo không ?
- Cụ với bà tính từ thủa bé đến giờ mình có biết đạo với đức gì đâu mà theo. Tổ tích nhà mình thế nào mình cứ thế là phải, bà nhỉ.
Ngồi nói chuyện chán, bà ký về nhà với bao nhiêu nghi vấn. Chồng bà đi đạo thực rồi chứ. Chẳng biết điều đó có can hệ gì không ? Rồi gia đình sẽ ra sao ? Chẳng lẽ bà cũng đi đạo...
Ông ký vẫn lẳng lặng, chưa nói với vợ con một câu nào. Bà ký cứ nóng ruột, tha hồ mà đợi. Bà đợi chồng tuyên bố trước đã rồi mới tỏ ý riêng. Bà cụ Điều rồi bà cụ Ấm chẳng đã khuyên:
- Bà cứ để mặc ông ấy, bao giờ ông ấy nói hãy hay, mà ông ấy đi đạo, bà cứ không theo thì đã sao. Khối nhà như vậy, chồng đi đạo, vợ đi đời ..
- Hay nhờ hai cụ khuyên bảo giúp.
Bà ký nói một cách lo lắng. Đi đạo đối với bà là một tai họa. Chẳng biết đạo là gì, chẳng biết đi đạo thì làm thế nào, mà cũng chẳng cần biết, bà chỉ tin rằng đi đạo tức là làm trái với tổ tông, đáng kết tội lắm.
Nhưng hãy đợi đã xem sao.
Một tuần lễ qua. Sáng chủ nhật ấy, ông ký bảo hai đứa con, thằng Đức và thằng Tề, mặc áo đi theo ông. Thấy chồng mang theo cả quyển kinh, bà ký gọi thằng Đức vào thì thầm :
- Thầy đưa con đi đâu, trưa về kể cho u nghe với nhé !
Ba cha con bước vào nhà giảng giữa tiếng hát ồn ào và tiếng phong cầm. Hai giẫy ghế đã chật. Thằng Đức để ý thấy phần nhiều là những người nó biết: mấy ông Ký, ông Phán quen thầy nó, mấy người trong phố. Tất cả đều chú ý nhìn lên, không ai để ý đến cha con nó lẳng lặng ngồi xuống ghế gần cuối.
Ông ký Thảo giở một quyển sách con ra chìa cho hai con đọc. Hai đứa bé chăm chú nhìn thì đó là bài hát. Chúng bỡ ngỡ ngồi im nghe cha hát.
Xong bài, cái ông trọ trẹ đứng trên tòa giảng bảo mọi người cúi xuống để ông cầu nguyện. Hai đứa trẻ cùng cúi đầu xuống nhưng chỉ một tí lại ngửng lên; chúng tưởng rằng lúc chúng cúi xuống, người ta làm cái gì bí mật lắm. Nhưng chẳng có gì khác hơn giọng đều đều của cái ông đương cầu nguyện. Và lúc ấy chúng mới để ý đến những giòng chữ kẻ trên tường: Tin đức chúa Jésus thì được cứu, và : Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta sẽ được yên nghỉ.
 Hai anh em toan sì sào bàn tán, bỗng nhìn thấy hai cái bảng nhỏ bên cạnh: ‘‘ Xin các quý vị đừng nói chuyện và hút thuốc.’’ Chúng là những đứa trẻ ngoan ngoãn biết vâng lời nên im ngay. Lúc đó, cầu nguyện vừa hết. Cả bao nhiêu người bỗng nói một loạt câu gì không rõ. Ông ký cũng thấy nhẩm nhẩm nhưng không ra tiếng.
Rồi bắt đầu đến bài giảng, giọng đường trong nghe không được rõ lắm nhưng hai đứa trẻ cũng lĩnh hội được qua loa đại ý. Thì đại để cũng như mấy câu viết trên tường : tin đức chúa Jésus thì được cứu, tin đức chúa Jésus là thế nào, có phải là theo đạo chăng, cái đạo dối như lời mẹ nó kể lại. Thằng Đức thấy đầu óc hoang mang cả lên. Bây giờ thầy nó đi đạo; thầy nó đi đạo, nó cũng phải đi đạo chứ? Bài giảng kéo dài ra hàng giờ đồng hồ. Hai anh em đã thấy ngáp. Có nhiều người ra về, chúng cũng muốn theo ra nhưng thấy cha vẫn yên vị thành ra chịu ngồi vậy. Chúng lại nhớ lời mẹ dặn:
- Thầy đưa con đi đâu, trưa về kể lại cho u nghe nhé.
Lúc giảng xong lại một lần cầu nguyện nữa. Lần này không phải ông đứng ở trên nhưng là một ông khác cũng ngồi ở dưới hàng ghế. Xong đâu đấy mọi người giải tán. Nhưng ông ký Thảo chưa ra, còn đứng lại nói chuyện với cái ông đứng giảng. Trông ông này dễ chịu, dễ có cảm tình ngay. Cả bà vợ cũng có vẻ tử tế. Bà ta rót nước mời uống cẩn thận rồi xoa đầu hai đứa.
- Đây là các em con ông ký hử. Chiều hôm nay có lớp giảng riêng cho các em, các em lại nhớ. Có phát ảnh đấy.
Thằng Đức nghĩ lẩn thẩn rằng trong nước uống có bùa mê nên không uống, kíp thấy em bưng chén chè đưa lên miệng, nó véo thằng bé một cái. Lắng tai nó nghe cha nói truyện:
- Tôi vẫn chưa cho nhà tôi biết. Đàn bà phải đi dần dần. Nói chuyện đạo đức với họ khó lắm vì họ chẳng hiểu gì cả.
- Để có dịp tiện tôi sẽ vào thăm ông bà. Cả bà tin Chúa nữa thì gia đình có phước lắm.
- Vâng, lúc nào mời ông bà vào chơi. Nhà tôi bảo đi nghe giảng được cũng khó lắm. Họ đã có thành kiến rồi. Nói đến Chúa Jésus là họ không nghe nữa.
- Còn các em đây thì chiều thứ năm và chủ nhật, ông cho các em đến nhà thờ nhé. Chúa phán rằng: Hãy đi cho con trẻ đến cùng ta, vì nước Thiên Đường là của những kẻ giống như con trẻ ấy. Trong gia đình, ta phải để trẻ em quen dần với đạo Chúa. Rồi lập một gia đình lễ bái...
Xưa nay, thằng Đức chưa thấy cha nó chịu khó nghe một người nào như lúc bấy giờ. Cái ông giảng đạo nói gi, ông ký cũng gật gù tỏ ý nghe theo. Lúc về, nó hỏỉ cha:
- Ông đứng diễn ấy gọi là gì nhỉ, thầy nhỉ ?
- Ông ấy là ông mục sư.
- Mục sư là gì hử thầy ?
- Mục sư là cái chức mục sư ở trong đạo.
Về đến nhà đã thầy bà ký đứng mỉm cười chờ sẵn ngoài cửa. Từ lúc chồng và hai con đi trong lòng bà như sôi lên. Bà muốn hai con chóng về bà hỏi ngay xem thực hư thế nào. Chồng bà đi đạo, cái tai họa ấy có thực tới rồi không?
- Ba thầy tớ đi đâu mà lâu thế ?
- Thầy đưa chúng con vào nhà giảng đạo, u ạ.
Ông ký mỉm cười, bà ký cũng mỉm cười. Câu truyện chưa bàn đến vội, hãy đi ăn cơm đã. Cả nhà ăn rồi, còn có ba cha con; bữa ấy, bà ký lại mua bún và nấu riêu cua. Ba bát bún riêu chan sẵn và còn nóng, mầu mỡ lóng lánh trông mới đẹp và ngon làm sao. Suốt bữa cơm bà ký vẫn ngồi yên bên ngoài không đá động gì đến câu truyện đi đạo. Ông ký càng bực mình vì không thấy một trong hai đứa con kể lại điều gì. Buổi sáng nay, đưa chúng đi, ông cốt ý để lúc về, bà ký sẽ hỏi ngay:
- Thầy nó đi đạo rồi đấy à?
Nhưng bà ký không nói gì, lạ thực.
Ăn cơm xong, uống nước xong, có bà cụ Điều ở dưới nhà lên, bà ký mới thủng thỉnh :
- Thầy nó đi đạo đấy hử ? Tôi thấy người ta nói thế.
Cái miệng ông ký chúm chím, chưa kịp trả lời, bà cụ Điều tiếp theo ngay:
- Chết, sao ông lại dở thế. Tổ tiên nhà mình có đi đạo đâu. Ông đi đạo thành ra bỏ hết giỗ Tết, lễ bái à?
Trông mặt bà cụ nghiêm trang, lời nói có vẻ quan trọng lắm, ông ký muốn cười thực to. Nói đến lẽ phải với những bà cụ thật là vô ích. Họ không chịu nghe đâu. Ai cũng đến viện cái lẽ tổ tiên mình không đi đạo thì mình cũng không được đi đạo.
Ông ký vẫn chỉ cười. Cái cười để xí xóa, để thay nhưng câu trả lời. Giá những người khác cùng tuổi ông mà nói vậy, ông đã hăng hái cãi. Ông làm cái gì cũng có lý có lẽ, chứ có hồ đồ. Lúc đạo Tin lành mới tới đây, ông đã cãi lý với ông Mục sư mãi, rồi thấy có lý mới tin theo. Chứ có phải vì bị mê hay để cầu lợi gì đâu!
- Ông xưa nay vẫn hiền lành thực thà kia mà. Thôi chắc họ cho ông uống bùa uống bả gì rồi.
Việc ông ký Thảo đi đạo Tin lành đã công khai. Trưa hôm ấy bà cụ Điều khuyên giải rồi tối hôm ấy đến lượt bà cụ Ấm. Luận điệu của hai bà cụ già cũng tương tự. Ông ký chỉ cười, vẫn như đối với bà cụ Điều. Nhưng lần này ông nói thêm được một câu:
- Cái đạo của người ta hay lắm, lúc nào mời cụ vào nghe thử xem.
- Thôi tôi chẳng cần nghe, tổ tiên tôi theo đạo nào tôi theo đạo ấy. Của họ hay để cho họ hay. Tôi cứ theo cái dở, vâng, miễn là cái dở ấy cha ông tôi đã theo. Tôi đâu có được văn minh như các ông bây giờ.
Không để cho ông Thảo kịp đáp, bà cụ lại tiếp luôn:
- Ông đi đạo mặc ông chứ thằng Thu nhà tôi mà đi đạo thì tôi nhất định không mẹ con gì nữa.
Ở một tỉnh lỵ nhỏ, người ta ít truyện quá, có lẽ, bởi vậy, việc ông ký Thảo đi đạo Tin lành là một đầu đề cho người ta xôn xao bàn tán. Người ta đây là mấy công chức quen ông ký và mấy bà vợ quen bà ký. Nói nói chuyện là mấy bàn tổ tơm.
- Thảo ‘‘ lúy’’( lui= nó) đi Tin lành rồi đấy.
- Cái me-sừ (monsieur= ông, anh) Thảo ở nhà băng ấy mà, không hiểu làm sao hắn tự nhiên xoay ra đi đạo. Chắc lại có chuyện lôi thôi trong gia đình chứ gì ?
- Thằng cha Thảo đến hay, thế là hắn theo đạo. Kể ra trông hắn cũng có vẻ đi đạo thực.
- Người nhà quái sao không ai giữ nhỉ?
- Vợ hắn cứ để mặc kệ à?
Những lời truyền đi từ miệng này, miệng khác, đại khái cũng như trên. Ông ký nghe thấy chỉ cười, ông lại cười cả vợ ông ở nhà. Mấy buổi đầu đi đâu chơi, bà ký nghe người ta bàn tán mà thẹn. Bà có cảm giác như chồng đã làm một việc gì trái đạo lắm. Vợ một tội nhân cũng không khó chịu đến thế.
Nhưng suy đi, nghĩ lại, bà lại tự ám thị:
- Thầy nó theo mặc kệ thầy nó chứ mình không theo thì thôi chứ gì.
Bà lần lượt đi chơi từ nhà quen này đến nhà khác xem họ đối với mình ra sao. Không, mọi người tử tế lắm! Mỗi người lại tìm cho bà một phương sách đi giải quyết cái vấn đề chồng đi đạo.
- Bà xem có ông anh, ông chú nào trong nhà ông ký về, viết thư mời ông đó lên để khuyên giải đi, chứ bà nói ông ký chẳng nghe đâu.
- Bà cứ bảo phắt ngay rằng các cụ ở nhà không đi đạo vậy bà cũng không đi đạo nếu ông ấy cứ cố chấp thì bà cho các em về quê.
Có bà lại làm ra dáng thông minh, giỏi giang lắm.
- Cái đạo ấy bà không biết chứ tôi biết. Vâng, bà không biết, chứ tôi biết. Tôi biết họ chỉ đi bỏ bùa, bỏ thuốc thôi. Bây giờ bà muốn gỡ cho ông thì chỉ có việc cho ông ăn cháo đậu xanh là tự khắc bùa với thuốc nó rã đi cả.
Lại cũng như lời bà cụ sinh ra ông Thừa. Bà ký làm ra ngây ngô:
- Nhưng họ đánh bả làm gì cơ hử bà? Nhà nước lại không bỏ tù đi nhỉ?
Bà ký đã làm đủ mọi cách mà xem chừng ông ký lại mê đạo, tin đạo hơn nữa. Sáng chủ nhật, tối chủ nhật, tối thứ tư, thứ năm những ngày giảng đạo, không hôm nào ông ký không đến. Và ông ký làm lắm trò lạ lắm : ở nhà lúc ăn cơm, ông cũng cúi đầu lim dim cầu kinh, nhiều lúc lại nghêu ngao những bài gì không rõ. Những trò giải trí những thói quen hàng ngày như tổ tôm, thuốc lào nhất thiết ông bỏ cả. Nhận thấy vậy có lúc bà ký buột mồm:
- Cái đạo của người ra có lẽ cũng tốt nhỉ!
 
 
 
 
 
 
 
II


 
BÀ ký có biết ông Nhẫn không,ông Nhẫn làm ở giây thép ấy mà.
- Cái nhà ông nơi tiếng nằng nặng phải
không bà?
Bà Thừa đặt miếng trầu vừa têm vào cối rồi mới thủng thỉnh. Lúc ấy là một buổi sáng chủ nhật. Ông ký đến nhà thờ, bà ký để chồng đi trước rồi cũng đến đằng bà Thừa Minh gần đấy. Bà muốn tự mình đi xem cái đạo chồng theo nó thế nào. Ngồi bên nhà bà Thừa, tiếng nhiều người hát ê а vọng sang rõ mồn một. Bà ký hỏi có vẻ lơ đãng nghe bà Thừa kể :
 
 
- Cái nhà ông Nhẫn cũng đi đạo như ông nhà đấy. Ông cụ ở nhà quê nghe tin, lập tức ông cụ lên ông cụ làm rầm lên một trận. Ông cụ bảo hễ không bỏ thì ông cụ từ. Thế là ông Nhẫn bỏ.
Bà ký nói có vẻ ngậm ngùi:
- Ông nhà tôi lại mất rồi chẳng còn ai bảo được nhà tôi nữa.
Im lặng một chút, bà Thừa lại kể:
- Ông Phán Lưu nữa bà ạ; cũng lơ lửng muốn bỏ rồi! Bà đừng ngại, ông Ký nhà cũng đến bỏ thôi.
Sẽ gật đầu, bà Ký đáp:
- Vâng, nếu được như vậy còn nói gì nữa.
Bà cho việc chồng đi đạo như việc chồng mê gái hay đánh bạc, chỉ mong sao chồng mau bỏ. Cũng tại cái đám người quen nhay nói ra nói vào. Tất cả cái dư luận ồn ào ấy làm cho bà khó chịu. Chứ không thì ông Ký đi đạo hay làm gì thì cũng mặc ông Ký. Hai vợ chồng có mấy khi dính líu vào đời sống riêng của nhau đâu. Ông Ký đi đạo kể ra chẳng có hại gì cho bà Ký cả. Mỗi tháng số lương ông đưa về nhà vẫn đủ không thiếu một đồng. Tính nết ông lại có bề dễ chịu. Bỏ hết các thứ chơi bời như người đi tu thôi! Thế mà bà Ký vẫn muốn ông ấy bỏ đạo, thật rắc rối!
Mà chẳng có gì là rắc rối, đó chỉ là cái thành kiến đã in sâu trong óc: đi đạo là bỏ gia đình, tổ tiên. Lại lời đi tiếng lại của những người họ hàng và những người không phải họ hàng, những người quen thuộc và những người không quen thuộc. Cái xã hội chung quanh có những người đến là rồi mồm.
Ông Ký Thảo không hay đem chuyện đạo ra nói với vợ. Cũng không bắt vợ theo đạo, cái quyền làm chồng áp chế như những ông chồng thời trước, tịnh ông không dùng đến. Ông đi đạo, ông cho là phải nhưng ông muốn vợ phải biết cái điều phải ấy mà theo. Bà Ký theo đạo Tin lành, ông vẫn đợi nhưng ông không ép.
Tiếng ông Ký Thảo đi đạo vang đưa tận cái xóm làng hẻo lánh và người ta đã bàn tán mãi. Toàn những lời chê bai, ông Ký không cần nhưng bà Ký cần, bà Ký bực.
Nhưng một ngày bà đi đạo đấy!
Ai cũng phải lạ lùng, ai cũng phải ngạc nhiên. Nhưng khoan đã, sự thay đổi không phải dễ dàng ngay đâu, nó dài dòng lắm và bắt đầu như sau này :
Một buổi kia, bà quản Toóng lại chơi và chưa bước chân vào trong nhà đã hớt hơ hớt hải báo tin :
- Bà ạ, ông Chánh hội Kiên nhà ta mất rồi đấy.
Đi buôn bán trên con đường thủy Bắc giang Hải phòng, Hải phòng Bắc giang thỉnh thoảng bà quản lại ghé về quê và thường đem tin ở nhà cho bà Ký biết. Mỗi lần thấy bà ta lại là thấy láu táu lô bô:
- Cụ nhà mới yếu nhưng đã mạnh rồi.
- Ông Cựu với bà Lý, nhà chẳng biết làm sao hai anh em giận dỗi, ông Cựu nói nhiều câu chẳng ra gì cả.
- Nhà mợ Thông mới nở thằng bé...
Phần nhiều chỉ là tin vụn vặt, kể ra cho có chuyện, để an ủi tấm lòng nhớ quê. Nhưng lần này là một tin quan trọng : ông Chánh hội Kiên mất. Ông Chánh hội Kiên là anh thứ ba bà Ký. Về nhà chồng từ năm còn nhỏ, tình anh em không nặng lắm, nhưng bà Ký cũng lao đao. Lặng người, bà để mắt lờ đờ nhìn vào khoảng trống. Cái chết của người anh không khiến bà khóc. Cái người không khóc mới biết buồn thấm thìa hơn.
- Bà ạ, ông Chánh-hội nhà mất, kể buồn thì cũng có buồn thật, nhưng nghĩ thì cũng phải. Ông ấy mất đi nhẹ hẳn cho bà ấy một gánh nặng. Ông ấy chơi bời quá lắm cũng như ông Ba Tùng vậy, thuốc sái vào, nay cầm cái này mai bán cái khác chỉ khổ bà ấy thôi.
Cái bà Quản ấy đến là lôi thôi. Câu chuyện ông Chánh hội Kiên mất đủ để bà Ký lặng người, lại câu truyện khác nữa...
- Hôm nọ, ông Cựu ngồi ở ngoài làng nói bà chẳng ra cái gì cả. Ông ấy bảo: Cái con cái ấy, thì cứ lúc nào ông mất là tôi không cho trông mặt.
Bà ký Thảo giật mình đánh thót một cái hỏi dồn:
- Thế nào hở bà. Bầ nhắc lại những câu bác ấy nói cho tôi nghe mấy. Bác ấy nói tệ lắm phải không ?
Bà Quản nói có vẻ ngao ngán:
- Nó dài, bà bảo nhắc thì nhắc làm sao được. Tôi nhớ ông ấy bảo đại khái rằng: cái con ấy tôi cứ để cho cái án treo trên cổ.
Nói xong câu ấy, bà Quản trông sắc mặt bà Ký mới biết rằng mình lỡ mồm. Luôn một lúc, bà Ký nhận được hai cái tin để mà buồn và để mà giận. Bà giận ông anh cả là ông Cựu vô cùng. Câu truyện từ năm nảo, năm nào, chỉ có một sự không khéo cư xử về việc đóng góp trong nhà, tưởng xong rồi ai ngờ ông còn nói đến một cách tận tình như vậy.
- Tức mình, mình lại đi đạo ngay giờ.
Bà Ký nghĩ đến sự đi đạo. Đi đạo cho người nọ, người kia tức, đi đạo để trả thù, để được hả giận. Nhưng nghĩ như vậy thôi, bà chưa thực hành ngay.
Rồi một buổi tối thứ năm, lúc ấy hơn sáu giờ, ông bà Ký và mấy đứa con đang ngồi chơi - cả nhà vừa ăn cơm xong - thì thấy thằng bé ở vào thưa :
- Thưa ông bà, có khách ạ.
Khách là vợ chồng ông mục sư và đứa con gái nhỏ.
Bà Ký vẫn nghe nói đến những người này và chưa gặp lượt nào, bà đã có ác cảm. Giá như lúc khác thì chỉ có việc sang hàng xóm lánh mặt là xong chuyện. Nhưng lúc này không kịp nữa, chẳng biết tránh lối nào, bà đành phải tiếp vậy. Hai vợ chồng ông mục sư này trông cũng dễ ưa. Làm nghề truyền giáo đã lâu năm, lặn lội khắp ba kỳ, họ đã khéo luyện được cái cười. Luôn luôn trên miệng, nụ cười gây cảm tình. Họ nói tiếng trọ trẹ, bà Ký tưởng là tiếng xứ Nghệ, nhưng hỏi ra mới biết là tiếng Huế.
Câu truyện quanh quẩn và khách sáo. Toàn lời hỏi thăm chưa thấy nói đến đạo lý. Cứ vậy đến gần nửa giờ. Bà Ký nghe cái tiếng lạ tai nó cũng hay hay. Sau cùng lúc ra về bà mục sư nhất định mời bà Ký vào nghe giảng. Bà ký chưa kịp chối, ông Ký đã bảo:
—-Vậy, ông bà đã có lòng mời chúng tôi xin đi một thể. Kìa u mày đi mặc áo đi.
Bà Ký nể quá, miễn cưỡng mặc áo, miễn cưỡng đi, khó chịu vô cùng vì biết rằng đằng sau tấm cửa vào trong nhà, hai mẹ con bà cụ Điều đã đứng rình nghe trộm. Mai ông ký đi làm, thế nào bà cụ cũng nói trêu tức.
Sau cái buổi đi nghe giảng ấy, bà mục sư thường lại chơi với bà Ký luôn. Nhiều lần và là phần nhiều lúc trở về, bà mục sư nài bà Ký vào nhà giảng. Thường thường bà Ký nể mà đi. Rồi khối người, những người đã tin Chúa ở Hà nội về chơi; cả vợ chồng ông Tây già, cái bà người Ăng lê gì đó nữa, đến thăm ông Ký. Bà Ký hơi cảm động:
- Những người có đạo người ta tốt thật.
Bà Ký là người nhẹ dạ Chính bà thì không có chủ đích chắc chắn. Nghe ai nói sao hay vậy thôi, không có cái gì của bà, làm cái gì tự ý bà cả.
- Bà mục sư bà ấy nói cũng có lẽ.
Nhiều đêm bà đã nghĩ như vậy.
- Bà nên tin Chúa đi. Tin Chúa thì được phước. Bà chẳng trông những gia đình tin Chúa và những gia đình ngoại đạo ư? Chúng tôi thì vợ chồng hòa thuận, chỉ có việc thờ trời, không chơi bời nhảm nhí gì cả, mà họ thì chồng bậy bạ, vợ bạc bài, con cái hư hỏng cả.
Bà mục sư ấy đã khá thạo tâm lý. Giảng thuyết cho bà Kỳ, bà khéo đánh vào chỗ yếu điểm, nói những điều cao xa quá, bà Ký đã hiểu ngay làm sao được. Lần nào cũng vậỵ bà chỉ đem một người đã tin Chúa và một người thế gian để so sánh. Cái lối cảm hóa như vậy đã khiến bà Ký hơi ngã lòng. Tuy chưa theo, bà đã có ý thiên về cái đạo ấy. Những lúc nói chuyện với bà cụ Điều, đã nhiều khi bà tuyên bố nửa đùa nửa thật.
- Cái đạo của người ta tốt nhiều cái lắm cụ ạ, chưa biết chừng cháu cũng đi đạo đấy.
Rồi ông bà Ký dọn nhà, dọn nhà về cái nhà cũ bà Thừa Minh thuê hộ ngày mới lên Bắc  giang. Cái nhà ấy cả một khu ăn vào cái nhà giảng đạo. Quét vôi, sửa sang lại sạch sẽ, hai gian ông bà Ký ở ngày trước dùng làm cái phòng xem sách cho những ai muốn khảo về đạo, còn hai gian kia để cho người thầy giảng phụ giúp ông mục sư ở. Nhưng ông này mới về Hànội thành ra cả bốn gian hầu như bỏ trống. Ông mục sư liền nhân đó bàn việc dọn nhà với ông Ký. Ông Ký nghe ngay. Như thế được hai điều lợi: một là mỗi tháng đỡ được ít tiền nhà hai là bà Ký ở gần đấy chắc, thế nào cũng theo đạo.
Bà Ký đầu tiên nghe chồng nói còn dẫy nẩy lên, nhưng dần dần cũng xuôi. Thuê nhà của bà cụ Điều, đã đắt hơn, lại gần bà cụ nghe bà cụ nói lôi thôi lắm lúc cũng bực. Mà rồi mình có theo nữa thì đã làm sao chửa ! Ở đây năm nào biết năm ấy, thế về sau mình về nhà quê thì đã ai làm gì mình. Trong lòng bà Ký có cả cái ý theo và cái ý bỏ. Kể cũng hay!
Tối hôm tỏ ý nghe theo cái việc dọn nhà thấy chồng có dáng hân hoan, bùi ngùi bà Ký tự nhủ:
- Có dễ mình đi đạo thì trong nhà lại vui vẻ chắc ! Nhưng có lũ con, không biết bố mẹ đi đạo, thì sau này ra sao!
Gọi thằng Đức và thằng Tề, bà hỏi:
- Thầy mày đi đạo, con có đi không ?
Thằng Tề đáp một cách khôn ngoan, bà Ký lấy làm vừa lòng lắm :
 - Hễ u đi thì con cũng đi.
Thắng Đức thực thà, ngốc nghếch hơn trả lời :
- Con thì con chả đi. Con là con cả, con không đi đạo, con phải cúng giỗ chứ. Hê, hê, hễ cu Tề đi đạo, tao không cho ăn cỗ.
Thằng bé nói câu ấy vì nó vẫn nghe thấy bà cụ Điều và bà cụ Ấm bảo như thế chứ chẳng hiểu gì cả. Nó mới có hơn mười tuổi mà...
Bà Ký Thảo nghe hai con trả lời lại càng do dự. Nhưng bà nhớ lại cái buổi bà Quản Toóng lại chơi và những lời bà ta thuật lại.
Bởi vậy một buổi tối... trong căn buồng giảng đạo Tin lành. Chỉ có bà mục sư và bà Ký Thảo. Bóng tối dầy đặc. Ngọn đèn con không đủ sức chiếu sáng khiến căn phòng lại càng âm u huyền ảo. Bà Ký thấy các vật đồ đều như có linh hồn. Chúng chứng kiến cái giây phút thiêng liêng này, giây phút bà Ký Thảo đặt bước chân vào đạo.
- U thì đi đạo đã làm sao.
Bà Ký nói thầm như một người sắp làm một việc gì liều lĩnh. Bà mục sư nghiêm trang hơn lúc thường, sẽ nói:
-  Bà quỳ xuống đây với tôi rồi hễ tôi nói gì thì bà nói theo.
Hai người đàn bà quỳ xuống, đầu gục bên nhau trên cái ghế dài. Trong sự tịch mịch và bóng tối rung rinh, hai giọng nói đều đều, trầm trầm.
- Lạy Đức Chúa Cha, lạy Đức Chúa Con, lạy Đức Chúa Thánh Linh, ba ngôi họp một Đức Chúa Trời hằng sống, từ nay, con xin tin Chúa, xin Chúa dẫn dắt con trên con đường của Ngài.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 01.03.2021 14:09:00 bởi Ct.Ly>
III


 
BÀ ký, thế ra bà đi đạo thực đấy à, sao lại như thế được ?
Bà cụ Ấm với cái ống nhổ, nhổ quét trầu rồi chăm chăm nhìn bà Ký đợi câu trả lời. Bà Ký có vẻ thẹn. Cái việc bà đi đạo Tin Lành tuy đã công khai rồi đấy, nhưng
bà vẫn có ý muốn dấu diếm. Nay bà cụ Ấm hỏi, biết trả lời ra sao ? Có hay không? Bảo rằng có thì bà không có can đảm. Tiếng ‘‘vâng’’ thú tội - bà cảm thấy việc ấy quả là một tội- không sao ra khỏi được miệng bà.
Mà tiếng ‘‘không’’ - bà có thể trả lời một cách ngoa ngoắt những người đàn bà mỏng môi : thưa cụ người ta đồn thế phải không ? ấy thiên hạ họ cứ hay thêm truyện thế đấy - cũng không sao ra khỏi được miệng bà. Vốn dĩ và ngươi thực thà, câu nói dối đã đến lúc bất đắc dĩ đâu mà phải dùng. Bà Ký Thảo phân vân, do dự một chút rồi đáp, kể cũng đã khéo.
- Vâng, thưa cụ, quả có thế. Nhưng bây giờ cháu còn ở đây thì cháu theo. Được ngày nào biết ngày ấy. Cho nó vui nhà vui cửa. Con cái nó lớn lên nó còn đi học đi hành, chứ cháu không theo, cháu lại về quê thì chẳng ra sao...
Bà Ký nói thong thả, từng câu ngắn, rõ ràng mà rành mạch lắm, đủ để bà cụ Ấm hiểu rằng việc bà theo chỉ là bề ngoài thôi. Như vậy hẳn bà cụ không nói vào đâu được - bà Ký sợ nhất những lời nói.
Việc không ra ngoài ý định, vì bà cụ Ấm vừa bỏm bẻm nhai trầu vừa nói:
- Ừ như thế thì cũng phải đấy, tôi cứ tưởng bà lại lẩn thẩn như ông ấy. Thôi thì hẵng chịu khó nhẫn một tí bà ạ. Ông ấy thế nào chẳng có lúc phải tỉnh ngộ, lúc ấy mình lại không theo. Các cụ ở dưới âm có biết, các cụ cũng chẳng nỡ trách.
Sau lần gặp bà cụ Ấm, gặp mấy bà Thừa bà Phán khác, bà Ký vẫn dùng một câu trả lời trên. Như vậy yên ắm, không còn ai chê trách, mỉa mai vào đâu được, người ta lại còn phục là khác - Vâng bà làm như thế là phải, vâng, không còn chỗ trách. Vâng, ông ấy không nói vào đâu được, mà các cụ, các ông bà người nhà cũng chẳng tìm chỗ nào được !
Bà Ký Thảo là người nhẹ dạ. Tật đó do ở tính cả nể của bà mà ra. Đối với tất cả mọi người sống ở chung quanh, bao giờ bà cũng chịu nhượng bộ một chút. Không hay nghĩ ngợi nhiều nên chính bà, bà không tự biết. Tại làm sao bà lại theo đạo Tin lành? Người ta đã hỏi và bà đã trả lời, nhưng câu trả lời ấy có thực như trong lòng bà đâu. Bà không muốn dối người, nhưng chính bà đã tự dối mình.
Trong số những người theo đạo Tin lành, có những người theo vì nhẽ lý theo đạo Tin lành để sống làm người tín đồ thanh sạch cũng như theo Khổng giáo để làm người quân tử. Trong những người đó có ông Ký. Có những người khác theo vì lòng tin. Họ tin rằng phải tin Chúa Jésus mới được cứu rỗi, mới được lên Thiên đường.. Lại có những người khác - trong đó có bà Ký - theo đạo Tin lành vì đã bị một người khác lấy cảm tình mà cảm hóa-Thì chính bà Ký đã bị bà mục sư cảm hỏa . Bà theo đạo chẳng qua là từ sự nể nang này đến sự nể nang khác, như hầu hết những người đàn bà đã theo đạo, những bà Thông bà Phán ở Hà  nội về chơi. Lý thuyết của đạo, họ chỉ biết đại khái. Quyển Kinh Thánh dầy hơn một nghìn trang, đọc hết làm sao được! Lại những câu nói ngô nghê, tối nghĩa, hiểu làm sao được! Thôi thì có mấy ông mục sư thầy giảng đó, họ đọc từng đoạn, có khi từng
câu rồi tán rộng nghĩa ra, nói làm sao cho khéo thì nói.
Vì tiền công của Tội lỗi là sự Chết, nhưng sự ban cho của đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jésus Christ, chúa chúng ta ...
Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban con của ngài, hầu cho hễ cho ai tin Con, ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.
Bà Ký cứ nghe, bà Ký lại học thuộc cả những câu ấy, nhưng chính nghĩa của mỗi câu thì bà có hiểu đâu. Lại Ba ngôi hiệp một Đức Chúa Trời, Đức Chúa Jésus là con một của Đức Chúa Trời, Đức Chúa Jésus chịu đóng đinh trên cây thập tự để chịu thay tội cho thế gian - bao nhiêu điều rắc rối !
Sáng chủ nhật, tối chủ nhật, tối thứ tư, tối thứ năm, không buổi nào thiếu mặt gia đình ông Ký Thảo. Nghe giảng Kinh thánh cố nhiên là không vui, nhưng hai nhà gần đấy không lẽ nào không sang. Có hôm bà Ký lấy cớ là nhức đầu-sang mãi nó cũng chán. Mà đến cuối cùng lại phải sang, sang là sang vậy.
- U mày không sang nhà giảng à.
- Thầy mày sang đi, hôm nay tôi nhức đầu.
- Thôi u mày chịu khó sang một tí, có gần một giờ thôi mà. Ngồi dậy có lẽ lại khỏi nhức đầu.
Bà Ký ngần ngừ một chút rồi đành mặc áo. Có hôm chồng bảo, bà vẫn không sang chỉ một lúc rồi bà mục sư cũng sang kéo sang. Thành ra đến mấy tháng bà Ký vẫn theo một cách miễn cưỡng.
Được ông bà mục sư là người khéo léo. Họ đối với ông bà Ký như người thân thích. Thường thường đi quá cái giới hạn là hai người bạn mới quen, họ bàn tính giúp cả những việc trong gia đình :
- Anh Đức năm nay học lớp nhì dưới rồi đấy nhỉ. Còn hai năm nữa thôi là phải cho đi Hà nội học. Ông bà hẳn túng thiếu lắm nhưng đến lúc ấy cũng phải cố chứ sao Các ông các bà tín đồ ở Hànội nhiều người tốt lắm. Có thể gửi anh ấy một nơi nào được.
- Bà Ký cũng phải ăn mặc một chút chứ. Cứ xềnh xoàng như thế sao tiện. Để tôi gửi mua giúp bà một tấm lãnh Sông Hương mới được.
Ngoài giờ nói chuyện về đạo lý, không bà mục sư sang bà Ký thì bà Ký sang bà mục sư. Hai người đàn bà cùng đi chợ, cùng đi chơi nhiều lần và dần dần - cái gì lâu cũng thành quen - bà Ký đã quen với việc đi đạo.
Trước kia tuần rằm, mồng một, bà Ký thỉnh thoảng còn mua nải chuối, thổi chõ xôi thắp hương, nhân tiện cho con cái nó ăn, nhưng từ bấy giờ thì thôi hẳn. Cả những ngày giỗ Tết, họ nhớ ngày tháng đấy nhưng nhớ chỉ để mà nhớ. Chính bà Ký nói ra miệng:
- Bày vẽ ra cúng với bái, chứ các cụ nào về ăn được !
Còn ông Ký thỉnh thoảng cũng nói đùa:
- Nào hôm nay, u mày làm con gà và thổi chõ xôi ăn nào, Lúc nào mình muốn ăn thì cứ ăn, chứ việc gì phải dựa vào các cụ mới ăn được.
Ngày này theo ngày khác, họ sống cuộc đời của những người tín đồ chân thành nhất. Buổi sáng buổi tối, lúc sắp ngủ và lúc sắp trở dậy, cả ông Ký, bà Ký đều quỳ lâm râm cầu nguyện. Và bữa ăn nào họ cũng bắt con cái cúi đầu để hoặc chồng, hoặc vợ cám ơn Chúa đã ban cho thực vật này. Lời cầu nguyện cám ơn vừa dứt, cả mấy đứa trẻ đều phải đồng thanh nói : Muốn thực hết lòng tức là cái câu ‘‘a-men’’ dịch sang quốc ngữ.
Còn nhớ lần đầu tiên, một buổi nhóm họp tối thứ tư, bà Ký bắt đầu cầu nguyện. Tuy đã theo nhưng mãi hôm ấy bà mới học cầu. Lúc buổi tối, bà mục sư bảo thì bà đã muốn dẫy nẩy lên:
- Tối hôm nay, bà Ký cầu nguyện đấy nhé!
- Thưa bà thôi ạ, tôi vụng mồm, vụng miệng không biết cầu đâu ạ.
- Bà dở quá, cầu nguyện thì được phước chứ. Bà cứ xem có điều gì muốn xin Chúa ban cho thì bà cầu và cuối cùng thì bà xin nhân danh Chúa Jésus Christ. Thế thôi, có gì mà không được.
- Kể ra thì cũng chẳng khó gì, bà Ký tự nhủ vậy nghe qua một vài bận là nhớ ngay.
Nhưng bà ngượng. Bắt bà cầu nguyện cũng như có lần mới lên Bắc giang, bắt bà bỏ cái váy, mặc cái quần. Thói quen chưa ăn nhập, lúc bắt đầu nó cũng khí lúng túng. Buổi tối đó bà Ký nể quá, nên cũng cầu nguyện nhưng chỉ ngập ngừng được mấy câu rồi: chúng con cầu xin Chúa bấy nhiêu lời, xin nhân danh chúa Jesus Christ.
Muốn thật hết lòng.
Từ ngày theo đạo Tin lành, ở gần nhà ông bà mục sư, gia đình ông Ký nghe chừng cũng dễ chịu. Nguyên nhân sự dễ chịu ấy do ở sự hòa thuận trong gia đình. Ông Ký bỏ hết mọi cách chơi bời. Trước kia, ông tổ tôm được, tài bàn được, rượu chè được, giá phong lưu chút nữa thì có lẽ thuốc phiện, cô đầu cũng được. Thế mà nay, nhất đán ông bỏ cả. Đi đến đâu, ông cũng chỉ đem một câu chuyện đạo Tin lành ra nói. Ai phản đối ông cãi kỳ cùng cho đến lúc nào người kia phải chịu mới thôi. Bà Ký không lý sự được như chồng thì bà không đi chơi đâu nữa. Trừ vài nơi thân là đằng bà cụ Ấm và đằng bà Thừa.
Người đàn bà vẫn dễ tin. Lòng tin của bà Ký nhiều khi hơn ộng Ký. Trước kia bà tin Phật Thánh, Quỷ Thần thì nay bà tin Chúa. Ngày ở nhà quê bà đội tám bát nhang đến lúc này, bà lý Cam, chị bà vẫn trông coi và góp cho. Nghe tin em đi đạo bà Lý nhắn người lên hỏi.
- Dì đi đạo, thế còn những bát nhang dì tính làm sao?
Bà Ký dám trả lời một cách báng bổ:
- Những bát nhang ấy, thôi thì bác cứ để múc canh cũng được.
Rồi ngày lễ Noël đến.
Ấy là lần đầu, ông bà Ký Thảo dự một lễ đạo. Bà Ký nhớ lại ngày còn ở nhà quê, mỗi năm mấy lần cụ đạo ra mùa, vào mùa, thì nào bà cũng sang cái làng bên cạnh xem rước. Vui lắm, cũng như tất cả những đám rước thần. Bao nhiêu là người đi xem, già trẻ lớn bé có. Bà đã hỏi bà mục sư xem kỳ lễ này có rước không. Bà mục sư người xứ Huế ấy đã mỉm cười cho cái bà Ký người quê mùa thực thà, rồi giảng giải :
- Ngày lễ này là để kỷ niệm ngày Chúa giáng sinh xuống thế gian. Bầy ra trò này trò khác cốt để cho các em... Chúa Giáng sinh thì lạ lắm, bà Marie là người nữ đồng trinh chịu thai bởi Đức Chúa Thánh Linh sanh ra Chúa Jésus. Việc Chúa giáng sanh thì lạ lắm... Đến hôm ngày có giãng kỹ, bà để ý mà nghe. Đây này, hay tôi giở Kinh Thánh chỉ đoạn ấy cho bà đọc nhé.
Bà mục sư cầm quyển sách dầy, giở ra đưa cho bà Ký. Đến lúc này bà Ký đã không lấy việc cầm quyển Kinh Thánh làm bất đắc dĩ.
Buổi trưa hôm đó, còn đương nghĩ chuyện lể Noël thì ông Ký đi làm về lại đem cho một tin khác. Ấy là bức thư của ông giáo Chi.
 - Thư của chú Chi đấy, thằng Đức đem đọc cho u mày nghe.
Thằng bé cầm lấy cái thư gập đôi đã bóc rồi, rút tờ giấy ra đọc. Không có gì dài dòng chỉ năm sáu hàng ngắn ngủi đủ để ông bà Ký hiểu rằng ông giáo Chi sắp cưới vợ. Lễ cưới đúng vào ngày nghĩ Noël.
- Chú ấy cưới cái cô giáo, lần trước về đây. chú ấy cho xem ảnh đấv, thầy đó nhỉ.
Ông Ký sẽ gật đầu rồi mỉm cười:
- Chú ấy thế mà khôn. Chúng nó sau này cũng bắt chước như chú ấy. Kiếm một con vợ không cần giàu, miễn là nó có nghề nghiệp, chữ nghĩa.
Bà Ký nói có giọng bùi ngùi:
- Chú ấy lấy vợ mà mình chẳng giúp được cái gì, cũng chẳng có gì mừng.
Ông Ký không đáp chỉ lặng im ngẫm nghĩ. Thằng Đức và thằng Tề xúm lại bên cha:
- Đến hôm ấy, thầy u cho chúng con về ăn cưới chú nhé, chúng con chưa được đi ăn cưới bao giờ.
Hai đứa nói xong mới xực nhớ rằng chúng chưa có quần áo. Từ ngày lên đây đến giờ, mỗi đứa chỉ có một cái áo dài bằng chéọ go đen để đi học. Cái áo dài ấy - thằng Đức nhớ lắm - đã rách mướp và nhân kỳ Vua ra mới được thay bằng cái áo mới khác. Đến bây giờ cái áo mới ấy đã thành cũ.
- U may cho con cái áo mới. Áo con rách cả hai tay, cả vạt nữa, ai lại mặc cái áo ấy đi ăn cưới bao giờ.
Bà Ký gạt lời con:
- Hai đứa đi ra kia chơi. Để thầy u còn tính chứ, làm gì mà ồn lên thế.
Hai đứa trẻ còn xê quanh chưa chịu ra ngay. Mãi sau thấy cha mẹ cùng lặng im không ai bảo gì mới đành rủ nhau ra.
- Thầy nó có tính giúp chú cái gì không? Chú ấy dạy học lương có khá đôi chút nhưng đến lúc này, chắc cũng thiếu. Giá mình có năm bảy chục một trăm cho chú mượn nhỉ. Hay thầy nó liệu hỏi đâu được giúp chú chăng?
Ông Ký cười:
- Việc chú ấy, chú ấy tính cả rồi chú đợi đến mình nữa thì vừa. Mình thì có gì. Mượn đâu người ta cũng trông vào số lương, khó lắm...
- Nhưng mình cũng kiếm cái gì mừng chú chứ. Có nên để tôi và trẻ về không? Tôi thì tôi nghĩ rằng dù sao về được cũng vẫn hơn. Chỉ phiền một cái mình thiếu quá. Đi về bây giờ ít nhất cũng mất mươi đồng...
Hai vợ chồng lặng im. Ông Ký ngồi trầm ngâm chán rồi đi ngủ trưa. Như bao nhiêu lần khác, mỗi lần bàn một việc gì có dính đến tiền là у như cả hai vợ chồng cùng phân vân.
Cho đến chiều hôm sau, câu trả lời về hay không vẫn chưa nhất định. Ông Ký đem kể cho ông mục sư nghe, bà Ký đem kể cho bà mục sư nghe. Nhân tiện hỏi ý kiến:
- Chú nó nhà tôi làm giáo học ở Nam định, đến kỳ nghỉ lễ này thì cưới vợ. Tôi cũng định cho các cháu về chơi, ông bà bảo có nên không?
Cố nhiên là cả ông bà mục sư cùng khuyên đừng về, ở ngoài bao giờ người ta cũng sáng suốt hơn. Lấy chỗ thân tình, ông mục sư khuyên ông Ký và bà mục sư cũng khuyên bà Ký tương tự:
- Ông bà ít lương chứ nhiều nhặn gì, mỗi lần đi về như thế này hẳn cũng tốn. Vậy tốt hơn hết là đừng về, viết một bức thư cũng đủ rồi. Ông giáo ông ấy cũng thừa hiểu... Lại nhân kỳ lễ Chúa gíang sanh tới này, tôi tưởng ông cũng nên để các em ở nhà dự cho vui...
Đến đây câu chuyện lạc vào cách tổ chức lễ Noël. Ông bà Ký nghe, cũng lấy thế làm phải. Вố mẹ phải thì các con cũng phải. Hai đứa trẻ hỏi lại một lần nữa xin về ăn cưới chú. Ông Ký thong thả bảo các con:
- Thôi chúng bay trẻ con thì về làm gì, ở lại dự Noël hơn.
Bên nhà ông mục sư đã bắt đầu thấy có sửa soạn. Ông mục sư và cái ông thầy giảng mới ở Hà nội về giúp việc, cả ngày cắt giấy xanh đỏ, dán thành những tràng hoa dài. Lại bao nhiêu là đèn xếp xanh đỏ, trông các mầu lẫn lộn vui mắt đáo để. Còn độ ba hôm nữa tới ngày lễ, chẳng biết ông mục sư xin đâu được một cành thông to tướng. Cắm vào cái thùng gổ to chèn chặt, ngọn thông cao gần tới trần nhà, thực là một cây thông con.
Trên cây thông, ông mục sư và ông thầy giảng đính bao nhiêu là trang kim và ngôi sao cắt bằng giấy thiếc. Thắp nên lên, đứng bên ngoài trông ánh sáng lấp lánh vì ánh phản chiếu các miếng giấy kim, bà Ký và mấy con lấy làm một sự lạ lùng.
Ông mục sư quay ra thấy thằng Đức và thằng Tề đương đứng ngắm cây thông Noël có vẻ thích lắm liền mỉm cười hỏi đùa:
- Các em muốn về ăn cưới chú hay ở đây dự lễ Chúa giáng sanh nào?
Hai đứa bé cùng có vẻ thẹn. Chính chúng nó vừa có ý so sánh, cân thử xem về ăn cưới chú và không về đằng nào hơn. Giá không có kỳ lễ vui vẻ này thì chúng đã hậm hực mãi vì không được về đấy.
- Đến tối ngày kia thì các em đứng ở đây hát.
Ông thầy giảng chỉ cái bực đằng trước cây thông. Thằng Đức dắt em ra thử đằng trước. Nó tưởng tuợng đằng trước mặt có bao nhiêu người lạ đương chăm chăm nhìn anh em nó đứng sau những đứa trẻ khác. Từ ngày cha mẹ chúng theo đạo Tin lành, chúng bị bao nhiêu bạn học chế giễu. Trẻ con nghịch ngợm đã đành, lại cả những người lớn, họ cũng ác lạ. Gặp chúng là họ chỉ trỏ:
- Kia kìa hai đứa con ông Ký Thảo đi đạo ‘‘tin dữ’’ đấy.
Thằng Đức cứ nhớ lại mà khó chịu. Nó muốn không đứng lên hát làm gì và bỏ phất cái Tin đạo lành này cho xong. Nhưng thằng bé lại sực tỉnh nhìn cây thông rực rỡ ở trước mặt và nhớ những lời hứa hẹn của ông bà mục sư:
- Hôm ‘‘Nô ên’’ này, các em sẽ có kẹo bánh.. Tôi đã dành cho hai em một thứ quà.
Suốt ngày trước hôm chính lễ, cả mấy người đàn bà: bà mục sư, bà Ký Thảo và mấy bà tín đồ khác họp nhau gói kẹo lại từng gói. Đến một dành kẹo chứ không ít, lại một sọt cam Bố-Hạ nữa. Ngày lễ này kể cũng đã khá tốn tiền. Mấy bà vừa làm vừa nói chuyện riêng bà Ký vẩn vơ nghĩ đến đám cưới của ông em chồng, lắm lúc các bà kia hỏi mà bà không nghe tiếng. Tưởng tượng lúc này tất cả các cô em chồng đương ngồi làm cỗ, câu chuyện vui vẻ đậm đà, bà Ký muốn thở dài một cái cho nhẹ bớt. Con người mới phiền phức làm sao ! Mãi đến lúc này mà bà cũng chưa vui đạo được. Lễ Noël đối với bà chỉ lạ chứ không vui. Chao ơi, sao bà chẳng bắt chước chồng ; ông Ký Thảo lúc này đương cùng mấy đứa trẻ con nghêu ngao hát:
- Mừng thay Noël, đêm thánh đấng Christ giáng sinh ...
 
 
 
 
 
 
 
 
IV
 
 
CÁI bụng bà Ký Thảo to dần. Sự hòa thuận gia đình đã sắp sửa đem lại thêm một đứa con nữa. Ông Ký
thấy vui vui, bà Ký cũng bớt vẻ sầu muộn. Trong những cuộc hội họp buổi tối, cả nhà vẫn bàn tán. Bà Ký nói:
- Tôi thì tôi đoán trước rằng con gái. Cái thai lần này cũng nhỏ như lần con Dung.
Ông Ký mỉm cười khôi hài.
- Biết đâu đấy, việc là việc của Chúa, mình biết sao được.
Thằng Đức ở ngoài xen vào:
- Con thì con muốn u đẻ em trai.
Nói xong nó quay lại mấy đứa em:
- Nhỉ, chúng mày nhỉ, đẻ con trai hơn chứ. Mười đứa con gái không bằng cái hột dái đứa con trai.
Thằng Tề và thằng Vượng mới bập bẹ tập nói cũng nhắc lại câu nói ấy. Chúng quay ra trêu con Dung:
- Mười đứa con gái cũng không bằng hột dái đứa con trai. Mầy có nghe thấy không? Mười mày cũng không bằng cái hột dái tao.
Con bé tức quá không biết làm thế nào chạy lại mách mẹ :
- U không bảo, các anh ấy cứ chọc con.
Bà Ký bênh con gái-con bé bé bỏng yếu ớt vẫn được bà nuông chìu nhất nhà, có lẽ vì bà hiếm con gái-liền chữa :
- Chúng mày chỉ chòng em thôi nào. Có mười đứa con trai không bằng cái tai đứa con gái thì có.
Câu truyện đã ra ngoài đề, ông Ký liền kéo trở lại:
-U mày đã tính xem độ chừng hôm nào thì ở cử chưa.
- Có, tôi đã tính rồi, chỉ đến trung tuần tháng sau là cùng. Thầy nó định để tôi sinh nở ở đâu. Ở tỉnh thì lại đến vào nhà thương chứ gì.
- Cô Vân mới mở cái nhà thương tư ở gần trường Ánh Sáng, u mày có biết không. Cô ấy lấy cũng rẻ. Có một đồng một ngày thôi. U mày cứ nằm độ ba ngày, tiêm độ mươi phát thuốc cho khỏe mạnh. Thử xem lần này có khỏe hơn mấy lần ở nhà quê không nào.
Bà Ký nhẩm tính rồi bảo chồng :
- Cũng mất đến sáu bảy đồng đấy nhỉ. Ở nhà quê, tôi mời bà cụ Loang chẳng mất xu nào.
Bà Ký có vẻ tiếc tiền. Quen như ở nhà, bà vẫn còn coi đồng bạc là to lắm. Đẻ có một đứa con mất sáu bảy đồng thật là phí. Bà nghĩ thầm : hay là vào chỗ làm phúc nhưng bà lại xóa ý đó ngay:
- Các bà quen biết người ta cười chết.
Cho rằng vào nhà thương chỗ không mất tiền tức là làm giảm mất phẩm giá của mình đi, bà chợt nghĩ ra và bảo chồng.
- Hay thầy nó để tôi về nhà quê. Sinh nở xong tôi lại lên.
Ông Ký buồn cười vì câu nói của vợ:
- U mày tính lẩn thẩn lắm. Về nhà quê mà không tốn à! Đi lại nguy hiểm nữa. Thôi cứ để mặc tôi tính cho. U mày không phải dự vào đấy.
Trong nhà hòa thuận thì thực là vui. Trước kia ông Ký không hay để ý đến nhà cửa, thế mà lần này, thực là một sự lạ lùng, ông lại dám bỏ ra tám đồng bạc để sắm giường cho vợ, món tiền ấy ông bán cái áo ba-đờ-suy cũ. Cái giường bằng gỗ lát cùng một kiểu và cùng một người thợ đóng với cái giường của ông mục sư. Sắm xong cái màn mới nữa, ông Ký vui vẻ bảo vợ :
- Đây này giường mới cho u mày đây. Tha hồ mà đẻ nhá.
Bà Ký lườm chồng:
- Thầy mày ăn với nói hay chửa!
Từ ngày lên Bắc giang, có lẽ chỉ có lúc bấy giờ, bà Ký mới thấy vui một chút. Có lẽ chỉ lúc bấy giờ bà mới quên được những sự thiếu cùng bao nhiêu việc buồn trong nhà.
Ngày một, ngày một, chờ mãi đợi mãi, đến hơn một tuần lễ kể từ khi mang cái giường về nhà, bà Ký mới ra cái nhà đẻ tư ấy để sinh con. Nằm trên chiếc giường nhỏ, bà Ký nóng ruột chờ xem con trai hay con gái. Con trai bà đã có ba đứa rồi, được đứa con gái thì vui lắm. Ba đứa con trai, hai đứa con gái là đông, bà Ký thầm mong lượt đẻ này là cuối cùng.
Quả như lời bà muốn, lần này bà sinh con gái thực. Lúc ấy mới độ hai giờ sáng, bà mong mãi trời mau rạng để ông Ký ra thăm. Cô đỡ reo lên:
- A, em này mạnh lắm, bà ạ. Hơn ba cân đấy. Cô bé này hẳn dễ nuôi.
Bà Ký mỉm một nụ cười trong bóng tối của căn phòng :
- Cô xem hộ xem cháu có kháu không?
- Kháu lắm ạ. Cô ả này lớn lên thì khối anh chàng chết mệt đây.
Cái cô đỡ cũng vui tính. Đỡ xong còn ngồi nói chuyện một lúc rồi mới đi ngủ. Và người đàn bà phụ việc cũng dễ chịu, chịu khó ngồi với bà Ký cho đến sáng. Có lẽ cũng bởi năm hào chỉ bà Ký dúi cho lúc buổi tối.
Mới sáng sớm, ông Ký đã vào thăm vợ. Bốn đứa con trước sinh ở nhà quê vào lúc ông đi vắng cả. Riêng đứa con này mới được cái hân hạnh có cha đến thăm lúc lọt lòng.
- Con gái phải không hử u nó. Tý nữa để tôi đi làm khai sinh cho.
- Ừ con gái nhưng thầy nó đặt tên gì ?
- Tôi đặt rồi, nghĩ cả đêm qua mới ra. Đặt tên con là Ân Điển, Vũ thị Ân Điển. Tên hay lắm, Ân Điển Chúa ban cho nhà họ Vũ.
- Sao thầy mày không đặt cho con cái tên khác dễ nghe hơn một chút Ân Điển tôi nghe nó thế nào ấy. Tôi định đặt tên con nó là cái Lộc.
Ông Ký mỉm cười ngắt lời vợ:
- Ân Điển hay là Lộc thì cũng gần một nghĩa, u mày đàn bà chẳng hiểu gì cả. Thôi cứ để mặc tôi.
Bà Ký lặng im không nói gì nữa và ông Ký quay ra gọi xe đến nhà thư ký. Ông cũng muốn hà tiện mấy xu xe nhưng sợ muộn giờ ra sở.
Đến bảy tám giờ mới có mấy người vào thăm. Đầu tiên là bà Thừa Minh, rồi đến bà cụ mẹ ông Thừa và mấy đứa con. Bà mục sư mãi đến buổi trưa mới vào thăm và lũ trẻ thì đến quá trưa. Buổi sáng chúng còn đi học.
Bà Ký Thảo ở nhà thương ba ngày tất cả. Mỗi bữa cơm đã có thằng Háu bưng ra. Đồ ăn khem thì cũng lại thịt kho mặn và trat hạt tiêu bắc như những lần ở cữ trước. Bà muốn dặn thằng Háu ninh cho một cái chân giò để ăn cho sẵn sữa nhưng xem chừng thằng bé cũng không làm đựợc, bà lại thôi. Lên Bắc giang đến thừa hai năm, thừa hai năm xa làng xóm nhưng cái thằng bé Háu ấy cũng chưa hấp thụ được chút thành thị nào!
Nhớ lại những lần sinh con trước, bà Ký hơi mủi lòng. Những lần trước còn ở nhà quê, thôi thì người này, người kia: chị, em, họ hàng, cả những người làng xóm lại thăm tấp nập. Người đem cho thức này, kẻ đem cho thức khác, tuy không ăn được nhưng cũng vui. Và mấy bà cụ già trong làng- bà cụ Phương, bà cụ Giảng, bà cụ Chão-lại ngủ đầy nhà, câu truyện ròn rã đến tận canh khuya. Ở tỉnh Bắc giang xa xôi này thì thật buồn, có mấy người quen đấy nhưng được họ đến thăm một chút đã là quý báu rồi.
Buổi tối sau, bà Ký phải bắt thằng Háu và thằng Tề vào ngủ ở cái giường con bên cạnh, đàn bà chả yếu bóng vía mà!
Đến ngày hôm thứ ba thì bà Ký bế con về nhà. Trả ba đồng bạc tiền buồng và gần đồng bạc cho người đàn bà phụ giúp cô đỡ, bà cũng vẫn thấy tiêng tiếc. Lại càng tiếc hơn nữa là cái ông nước bể và tá thuốc tiêm. Bà thầm nghĩ : Giá không có cũng xong! Nhưng chẳng lẽ nước Pháp sang cai trị gần một thế kỷ rồi mà bà Ký lại không được hưởng một chút văn minh nào !
Từ hôm về nhà, được bà mục sư sang chơi luôn, đem cho từ cái tã, cái áo đầm, cái mũ len của con bà ngày trước, bà Ky& hơi được vui. Con bé Ân Điển ấy trông xinh xẻo nhất trong mấy đứa con ông Ký. Nhất là so với chị nó là con Dung thì nó đẹp hơn hẳn. Ai lại chơi cũng muốn ẵm. Bà mục sư đã nói đùa :
- Em này nhờ Chúa ban phước nên trông xinh quá.
 Và ông mục sư cũng nhắc :
- Đến chủ nhật tới, bà đem em sang nhà thờ để dâng cho Chúa.
 Bà Ký nghe mấy tiếng dâng cho Chúa nó lạ tai thế nào, nhưng cũng không hỏi.Hóa ra đi đạo cũng lắm chuyện phiền phúc ! Lại còn dâng cho Chúa, dễ thường không dâng thì con bé không nuôi được chắc. Bà Ký Thảo vẫn ngầm có ý tưởng phản đối ấy nhưng bà không để lộ ra lời ăn tiếng nói. Đã theo đạo rồi thì cứ làm theo hết cả các nghi lễ của đạo, cưỡng lại làm gì.
Ngày chủ nhật tới ấy, bà Ký bế con sang nhà giảng. Tưởng cái việc dâng cho Chúa ấy nó phiền phức thế nào, ra cũng dễ thôi. Bà Ký chỉ có việc bế con đứng giữa nhà giảng, ông mục sư đứng đằng trước hát một bài, mở một đoạn kinh Thánh ra đọc cầu nguyện :
- Xin dâng Chúa em Ân Điển này, xin Chúa gìn giữ em.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 02.03.2021 21:25:30 bởi Ct.Ly>
V
 
 
Ông Ký ạ, tôi định bàn với ông tổ chức một gia đình lễ bái. Chúng tôi thì đã quen đi rồi, nhưng còn bên ông tôi xem chừng như bà và các em yếu đuối dễ bị sa ngã lắm. Gia đình lễ bái sẽ giúp đỡ bà và các em trên đường đạo lý của Chúa.
 Một buổi chiều, ông mục sư bảo ông Ký Thảo như vậy. Và cố nhiên là ông Ký gật đầu biểu đồng tình ngay. Ông mục sư lại tiếp:
-  Kể ra thì nhà nào riêng nhà ấy. Tự ông phải tổ chức lấy gia đình lễ bái, nhưng xem chừng như ông nói thì khó mà bà nghe theo. Vậy, nhân tiện có gia đình ông Thắng ở dưới kia thì ba gia đình chúng ta họp lại đọc Kinh thánh rồi cầu nguyên.
 Ở cái khu nhà ‘‘ Hội tin lành’’ ấy lúc bấy giờ có ba gia đình: gia đình ông mục sư gồm có hai vợ chồng và một đứa con ở trên gác, gia đình ông Ký có vợ chồng ông Ký và năm đứa con ở cái nhà bốn gian và gia đình ông Thắng làm thấy giảng phụ giúp ông mục sư có hai vợ chồng và một bà cụ mẹ.
Họp nhau lại, đọc Kinh thánh và cầu nguyện trong trí tưởng ông Ký và ông mục sư thì việc đó đẹp đẽ và ích lợi chừng nào. Cả hai người đều biết rằng có một người không thích là bà Ký. Người đàn bà ấy cả tâm trí đã bị phong tục và lễ nghi tổ truyền xâm chiếm, không phải một lúc đã gột sạch được.
- Chỉ nhờ quyền phép Chúa.
Ông mục sư đã nhiều lần nói vậy. Nhưng quyền phép của Chúa cũng phải có tay người góp vào, cái ấy đã đành. Lập một gia đình lễ bái cũng tức như nuôi nấng cho cái cây đạo lý còn non nớt trong gia đình ông Ký được vững vàng.
Nhiều lúc, ông Ký đã phác họa trong trí một cảnh gia đình hòa thuận, vui vẻ trong đấng Christ. Những buổi tối mùa đông lạnh, cả nhà họp nhau lại đọc Kinh thánh và cầu nguyện, cầu nguyện cho những người thân yêu mình, cả những người thù nghịch mình. Giữ lấy một tấm lòng thanh sạch, một tâm hồn bình tĩnh mà sống yêu đời, yêu người... Cái gia đình sẽ lớn lên như một cái cây, ngày một thêm cành thêm nhánh ông Ký sẽ có thêm vài đứa con nữa, mà không phải lo đói. Chúa đã phán rằng:
Các con chớ lo đồ ăn, đồ mặc. Thằng Đức, đứa con lớn của ông, sẽ lớn lên, đi làm, cưới một người vợ cũng trong Chúa, rồi thằng Tề, thằng Vượng cũng như thế. Bấy giờ ông bà Ký đã già, bao nhiêu phiền bực vì con đã hết, ông sẽ học Kinh thánh, ông sẽ vào trường Kinh thánh ở Tourane để học đi giảng đạo. Gia đình về sau của ông sẽ ở bên một giảng đường, tất cả các con ông đấy, đứa nào tiện ở với ông thì ở. Hạnh phúc biết chừng nào, con trai ông kéo đàn violon, con dâu ông đánh đàn harmonium để hát Thơ Thánh, còn ông sẽ giảng thuyết đạo Chúa. Mỗi người trong gia đình ông sẽ là một ngọn nến trong đêm tối mù đặc của thế gian.
Bao nhiêu dự định về tương lai đã khác hẳn với ngày bắt đầu lên Bắc giang. Trước kia, có lẽ vì sống từ nhỏ thiếu thốn nhiều về vật chất quá nên ông chỉ ước ao sao cho vật chất được đầy đủ. Đến lúc này, nghĩ lại, ông cho rằng như thế là lầm, lầm nhiều lắm.
Mà tới được quãng ấy vất vả. Nói chi xa xôi là Thiên Đường. Bao nhiêu là ma quỷ cám dỗ. Khởi đầu từ trong lòng bà Ký.
Từ thủa nhỏ đến nay, ông Ký Thảo chưa tin ai. Là con thứ năm, ông thiếu hẳn mất tình yêu thương của cha mẹ. Cụ cử, vì giận mấy người con lớn hư hỏng, thành ra khó tính, khó nết, có lẽ chưa một lần ông Ký được cha nói bằng một giọng hiền từ:
‘‘Con ơi, như thế này là phải, như thế này là không phải...’’
 
Các anh ông không có ai làm gương cho con được một điều gì, đối với ông Cả, ông Hai, ông Ba và ông Tư, cái ông Phán đã chơi bời đến mất việc, ông chẳng bao giờ nể phục cả, còn nói chi đến chuyện nghe lời. Rồi các bạn, ông Ký tự nghĩ rằng mình chưa có một người bạn thực.
Chỉ một ông mục sư này, phải, chỉ có một ông mục sư này đi ông Ký gật đầu và lắng tai. Ấy là một người bạn, có lẽ, một người anh, một người anh tinh thần trong đấng Christ.
Việc lập gia đình lễ bái lại phải đến bà mục sư nói với bà Ký. Và bà Ký đã có một câu từ chối dường như là sắp sẵn :
- Nhưng thưa bà tôi còn con cháu bé, buổi tối phải tôi bế tôi ru mới ngủ.
- Thì bà cứ thử để Háu nó ẵm xem nào, không, thể nào bà cũng phải nghe tôi không có tôi không bằng lòng đâu.
Bà mục sư mỉm cười nhìn bà Ký bằng con mắt bè bạn, thân mến hết sức :
- Bà chỉ hay tìm cờ chối. Lập gia đình lễ bái thì được phước chứ. Mỗi tối độ nửa giờ đồng hồ thôi chứ lâu gì.
- Bà Ký vẫn chưa tỏ vẻ thuận nhưng bà cũng không ra ý cưỡng. Trong thâm tâm bà thì cái việc ấy đến là phiền. Họp mấy nhà lại, hát ỏm cả lên, hàng xóm người ta cười cho. Người đàn bà ấy vẫn còn sợ tiếng xôn xao của những người sống chung quanh.
Buổi tối đầu tiên họp ở nhà ông mục sư. Bà mục sư đã phải rủ bà Ký bế con sang chơi từ chập tối. con bé Ân Điển được bốn tháng mà trông đã bụ bẫm lắm. Nó nhìn ánh đèn điện sáng nói chuyện u ơ đến hay.
- Thì bà cứ để em ở đây cũng được chứ gì. Lúc nào cầu nguyện thì gọi thằng Háu nó sang nó bế về.
Nghe câu ấy bà Ký chẳng còn chối vào đâu được nữa.
Chừng bảy giờ rưỡi thì ông Ký và mấy đứa con lớn sang, hai vợ chồng ông Thắng và bà cụ mẹ cũng theo gót. Ghế ngồi không đủ thì trải chiếu xuống đất, trông lại có vẻ đông đúc hơn những buổi tối giảng cho người ngoại đạo về mùa đông.
Ông mục sư mỉm cười, ông Ký mỉm cười, hai người nhìn nhau rồi nhìn mấy đứa trẻ ngồi ngay ngắn ngoan ngoãn. Hy vọng nhiều lắm!
Mở hộp đàn, vặn căng chiếc archet, so lại bốn giây violon rồi lên tiếng:
- Bây giờ xin hát bài 153.
Dưới bóng Chúa Hiển Vinh, chỗ ấy rất vui tình.
Giờ mà tôi dựa nương cánh Chúa Vĩnh Sanh.
Ngần ấy giọng hát của ngần ấy người hòa nhau trong căn phòng có trần nghe át cả tiếng đàn. Bà mục sư vừa hát vừa lấy tay lay bà Ký để bảo:
- Bà hát đi, bà hát đi chứ.
Hát tất cả ba bài, xong mới đọc một đoạn Kinh thánh. Đọc xong, ông mục sư dẫn giải qua loa độ mươi phút, rồi mọi người quỳ xuống cầu nguyện. Chỉ có các người lớn, mỗi người cầu mấy câu, thì giờ dồn lại không đến hai mươi phút, thế mà lúc mọi người trở dậy thì lũ trẻ đã ngủ say. Cả thằng Đức đã mười ba tuổi mà còn quỳ vào chiếc divan ngáy о о.
Buổi tối thứ hai họp ở nhà ông bà Ký. Lần này thì bà mục sư lại dắt đứa con nhỏ sang chơi với bà Ký ngay từ lúc ăn cơm chiều xong. Buổi tối thứ ba họp ở nhà ông Thắng rồi buổi tối thứ tư lại họp ở nhà ông mục sư. Lần nào thì bà mục sư cũng phải kéo bà Ký đi. Một tuần lễ có bảy ngày trừ một buổi tối thứ tư là buổi cầu nguyện chung cho tất cả các tín đồ, còn sáu ngày kia chia làm ba thì mỗi tuần, mỗi nhà có hai lần họp để cầu nguyện.
Cứ như thế qua mấy tháng.
Ông Ký lấy thế làm vui, nhưng bà Ký vẫn hơi có vẻ rầu rĩ. Tâm trạng người đàn bà thực là éo le đến điều. Phải tinh ý lắm mới nhận thấy, nhưng ông Ký vô tâm chẳng hiểu gì cả. Ông cứ lấy hiện tại làm sung sướng. Như thế này thêm một ngày, gia đình ông một tiến lên theo cái nẻo hạnh phúc trong đấng Christ, tự ông lấy làm mãn nguyện rồi. Ông Ký không hề thấy, cũng không hề ngờ rằng vẫn có một sức phá hoại ngấm ngầm.
Một buổi sáng, ông Ký vừa sắp ra sở để làm việc thì ông mục sư xuống để nói mấy câu vắn tắt:
- Độ trưa nay chúng tôi phải đi, ông ạ. Cả nhà tôi và cháu nữa. Ông tôi mệt nặng. Tôi vừа được giây thép. Chúng tôi phải về Hà nội để kịp đáp chuyến tàu tốc hành vào Huế chiều nay.
Ông Ký chưa kịp nói gì thì ông mục sư lại tiếp:
- Ông bà ở nhà nhớ cầu nguyện cho chúrg tôi, ông bà cũng đừng bỏ trễ nhé.
Ông bà mục sư đi về quê lần ấy cũng đến mười hôm. Đến lúc họ ra thì gia đình lễ bái đã tan rồi, người tinh một chút là đoán trước được ngay.
Buổi tối  đầu tiên, là lúc ông bà mục sư đi vắng, còn đủ cả gia đình ông Ký và ông Thắng, nhưng buổi tối thứ hai trở đi, bớt mất một, bà Ký kêu nhức đầu. Đến buổi tối thứ tư, ông Thắng bị cảm nữa, bà Thắng và bà cụ mẹ không lên. Ông Ký còn gượng gọi mấy đứa con ra hát một bài rồi một mình ông cầu nguyện. Bài hát chỉ có mấy cha con hát thôi, nghe nó tẻ lạ. Đoạn Kinh thárh, thằng Đức đọc vội cho chóng xong để đi ngủ. Ông Ký sẽ lắc đầu.  
Từ buổi tối hôm sau, thôi họp gia đình lễ bái.
Ông Ký Thảo vẫn muốn lập lại, ông mục sư cũng muốn lập lại. Nhưng cố nhiên là không được. Сái việc làm lại vẫn khó lắm.
 
 
 
 
 
VI
 
 
GIА đình ông Ký tới quãng này có lẽ là bình yên nhất. Như một giòng sông nơi đồng bằng, ông Ký tưởng thầm như vậy, tin rằng từ đây là hết cả mọi điệu lo lắng, băn khoăn. Chính ông, ông thấy đủ sung
sướng lắm. Người ta sống tức là để hưởng các lạc thú.
Ngày trước các lạc thú của ông là tổ tôm, thăng quan thì bây giờ ông đi nhà thờ, hát thơ thánh, cầu nguyện. Ngày trước bạn ông là mấy ông cùng làm một sở, mấy ông
Thừa mấy ông Phán cuộc hội đàm của các ông là để nói vài câu chuyện cổ kim, kể lại một ván tổ tôm, một ván cờ, bây giờ bạn của ông là ông mục sư,      ông truyền đạo, gặp nhau nói truyện đạo lý, việc Chúa, việc Người, ông Ký thầm nghĩ rằng từ ngày
theo đạo Tin lành, ông đã bắt đầu một cuộc đời mới sung sướng hơn nhiều, hạnh phúc hơn.
Chỉ có gia đình thì bà Ký cũng đã theo đạo. Cả gia đình cùng một tôn giáo còn xảy ra sự bất hòa gì được. Ông có ông mục sư là bạn thì bà Ký cũng có bà mục sư là bạn. Trông thấy vợ thân cận với bà mục sư ông Ký nhiều lúc đã mỉm cười hài lòng. Hai vợ chồng đã nhiều lúc nói với nhau:
- Ông bà mục sư, người ta đi truyền đạo cũng tốt thực.
- Truyện, đã ai đối với mình được như ông bà ấy chưa, kể cả anh em ruột nữa.
Ông mục sư đi giảng đạo xa luôn. Hết Lạng Sơn lại Cao Bằng, Nam Định, Thái Bình. Thường khi một vài ngày, năm bảy ngày vắng nhà. Những lúc ấy, buổi tối, bà mục sư cho mời bà Ký bế con sang chơi, hoặc ngồi nói chuyện hay đan áo, thêu thùa. Hai người đàn bà đã cùng một tuổi, lại cùng có long tốt như nhau, nói câu truyện hợp lắm. Những điều tâm sự nho nhỏ, những ký ức từ thuở xa xơi như hai người bạn từ nhỏ. Bà mục sư kể lại cho bà Ký nghe từ thời kỳ thơ ấu bà còn ở Huế. Bà Ký cũng kể lại cho bà mục sư nghe những kỷ niệm khi còn ở quê nhà. Cái gì đã xa, đã mất là cái gì đẹp đẽ vô hạn. Hai bà nâng niu từng câu nói, u hoài trên nét mặt, trong ánh mắt. Bà Ký kể cho bà mục sư cả cái ngày mình, bắt đầu từ cái làng Sắn cách ga Phú Thái hàng chục cây số lên Bắc giang, cả mấy mẹ con dùng bữa lót dạ đầu tiên ở bến tàu tỉnh lỵ. Bà mục sư nghe nói mà cười thầm khen bà Ký thực thà.
Từ khi theo đạo Tin lành, bà Ký ít về quê và thấy mình cách xa gia đình làng mạc hơn một chút. Bà cũng ít lại chơi những nhà quen không đi đạo, để khỏi phải nghe người ta châm chọc, khích bác. Nhớ một lần sang chơi bà Thừa Minh, nghe cô con gái lớn bà ta là chị Dần nói một câu, bà Ký bực mình mãi:
- Chỉ những kẻ khốn nạn lắm họ mới theo đạo.
Chị ta lại dám nói rành mạch ra thế ư! Ai là những kẻ khốn nạn nếu không là ông Ký, bà Ký ! Tuy rằng tức điên cả người lên, bà Ký vẫn chưa nói lại một câu nào, chỉ nghĩ thầm:
- Con bé nó láo thật!
Bà Thừa, dáng chừng cũng sượng mặt, liền mắng con gái:
- Ô hay, con nhà chẳng biết ai vào với ai cả nhỉ! Không phải bà Ký là người tốt thì đã chẳng ra gì với người ta không. Con gái con đứa chẳng biết gì cả.
Quay lại phía bà Ký, bà xin lỗi:
- Ấy cháu nó lớn người nhưng vẫn còn dại, ăn nói quàng siên như thế đấy, bà cũng đừng chấp!
Chưa hả được cơn giận, bà Ký cười rất nhạt:
- Không, nào tôi có nói gi đâu. Chị ấy muốn nói thế nào mà chẳng được, người khốn nạn thì chẳng ai bảo khốn nạn cũng vẫn khốn nạn, còn người tử tế thì ai bảo thế nào cũng là người tử tế. Chúng tôi cần gì phải cãi câu ấy...
Cho như thế là đã đủ mỉa mai, bà Ký ngừng lại uống hớp nước, rồi lại tiếp.
- Cái đạo người ta tốt hay xấu có phải bởi những lời khen chê đâu. Ông bà mục sư ở gần đấy bà cũng đã biết người đấy, bà ấy là người trong Hoàng tộc; lại những bà Thông bà Phán ở Hà nội về chơi, người ta cũng là người tử tế cả đấy chứ!
Sau cái buổi không hay đó, hai gia đình vẫn không có điều gì xích mích. Bà Ký thỉnh thoảng nhớ lại câu nói vẫn hơi bực nhưng lại tự an ủi bằng câu:
- Nó trẻ con, mình chấp làm gì, mình vào hàng mẹ nó kia mà.
Đem kể lại cho bà mục sư nghe, bà Ký lại kể thêm một truyện nữa, ngày bà chưa lên Bắc giang còn ở nhà quê.
-  Ngày ấy, nhà tôi còn đi bảo học ở làng bên, ở nhà chỉ có tôi với hai cháu lớn. Lúc đó, tôi đang có mang con cháu Dung. Cùng ra một ngõ và đối diện với nhà tôi là nhà thím Sáu nó. Hai chị em dâu, như vậy tôi còn giữ được nữa là. Có một lần như thế này, bà bảo tôi không tốt nhịn mà như người khác thì đã lôi thôi to. Chả nhà thím ta mượn một người ở hết năm nó xin thôi không ở nữa rồi ba tháng sau mới sang ở với tôi. Cái trò tôi dễ dãi nên cũng được người mến. Lúc ấy tôi đương thiếu người làm nhưng cũng ngại điều tiếng nọ kia nên đã sang hỏi trước xem thím ta có mượn không rồi tôi mượn. Thím ta đã trả lời không rồi, nhưng đến khi người ở đã làm với tôi, chẳng biết ai xui khôn xui dại thế nào, một buổi sáng thím ta sang nhà tôi nói những câu chẳng ra gì cả. Mà bảo thế này mới tức chứ, thím ta chẳng bảo vào trong nhà ngồi hẳn hoi mà nói đâu, thím ta cứ ngồi ở sân quay lưng vào trong nhà...
Bà mục sư vừa buồn cười vì câu truyện, lại buồn cười vì vẻ mặt bà Ký liền hỏi:
- Nhưng bà cũng phải nói câu gì chứ chả lẽ im à?
- Có tôi cũng chỉ lấy lời nhẹ nhàng bảo rằng: ‘‘Thím như thế là thím không phải, chị em ở gần nhau làm thế nào giữ được cho thuận hòa là khó, chứ nói những câu khinh bạc thì có khó gì đâu. Dù ngay tôi có tranh cướp thực đấy thì thím cũng liệu lời ôn tồn, chị em ta bảo sẽ nhau, tôi có lỗi tự khắc tôi xấu hổ, huống chi việc mượn cái bà già này, tôi đả hỏi thím rồi.
Ấy tôi chỉ bảo thế thôi bà ạ, nhưng rồi về sau biết ngay mà. Chúng tôi lên trên này, được hơn một năm thì nhà thím ta dọn xuống ở gần với bác tôi. Bác trai mất rồi, còn có bác gái, hai bà chị em dâu chẳng biết cư xử với nhau thế nào mà một hôm cãi nhau ầm phố lên, chẳng ra cái gì cả. Ấy nhà chị Dần rồi cũng vậy, bà ạ, mình chấp họ làm gì, nói nó cũng hoài hơi, để rồi có người khác người ta nói hộ. Cuộc đời chảy theo cái giòng êm ả nhất, không có điều gì đáng nói. Sau này, nhớ lại, trong ký ức bà Ký chỉ có ba việc: một là những buổi lấy tiền ngày cuối tháng, hai là việc đi Hà nội họp hội đồng, ba là việc làm phép ‘‘ bắp tem’’.( baptême = Lễ rửa tội)
Những buổi lấy tiền ngày cuối tháng phải sắp lên đầu vì nó nhiều ngày nhất. Những ngày đó, ông Ký lĩnh lương về, đưa cho vợ để lấy tiền chi dùng hàng tháng thế nào cũng có vài điều sích mích. Bà Ký vốn hoang, hoang là hoang cho chồng cho con chứ bà cũng chẳng phí đi đâu đồng xu nhỏ nào. Nhưng ông Ký lấy làm không bằng lòng tính ấy của vợ nên tháng nào ông cũng đưa thiếu đi một chút.
- Thầy mày có đưa thêm tôi mấy đồng nữa không như thế này thì không đủ.
- U mày thì có bao nhiêu cũng hết, chẳng biết tính toán gì cả, ngộ lương người ta chỉ có thế thì sao. Để người ta giữ thì còn.
- Thầy mày giữ mà lại còn. Bây giờ không tổ tôm thì lại tiêu nhảm hết chứ gì. Ngày trước tôi về đến mấy tháng cũng có thừa ra được xu nào đâu, lại còn nợ nhà ông trưởng phố năm chục nữa.
Hai vợ chồng, không nói với nhau một câu thô tục bao giờ, nhưng nói lâu cũng đâm ra gay gắt. Bà Ký bực mình vì những câu ‘‘u mày chẳng biết cái chó gì cả’’, và phàn nàn với bà mục sư. Bà này chỉ cười chế giễu :
- Bà chỉ hay đổ thừa cho ông.
Mãi sau, bà Ký mới tìm ra một cách là giật tiền mà giật tiền bà mục sư là người ông Ký nể phải đưa cho đem trả ngay, không trì hoãn:
- Đấy thầy mày đưa thiếu, thành ra tôi phải giật của bà mục sư đấy. Thầy mày có cho để trả bà ấy không?
Lắm lần, bà Ký lại trêu chồng:
- Tôi còn nợ bà mục sư 5đ đấy, nhưng thôi để tháng sau trả bà ấy cũng được chứ trả bây giờ thì lấу gì mà ăn.
Cố nhiên là ông Ký phải ‘‘sùy’’ tiền ra năm đồng nữa.
- Thôi u mày đem sang trả bà ấy ngay đi. Người ta đi truyền đạo làm gì có thừa.
Từ đấy có giật mượn ai, bà Ký cũng bảo của bà mục sư. Cũng lấy điều nói dối ấy làm phiền, cũng thấy tự thẹn, nhưng bà không biết làm thế nào khác nữa. Không như thế, thì mỗi lần hỏi ông Ký mấy đồng bạc là mỗi lần khó chịu.
Cái việc thứ hai là việc đi Hà nội họp hội đồng ở vào thời kỳ con Ân Điển được tám tháng. Một buổi tối, nghe chồng nói bà Ký lấy làm lạ lùng :
- Nay mai, có học hội đồng địa hạt ở hội thánh Hà nội đấy u mày có đi thì đi.
Mấy tiếng ‘‘họp hội đồng địa hạt’’ bà Ký chẳng hiểu thế nào cả.
Ngày ở nhà quê, mỗi khi nghe có tiếng ‘‘Họp hội đồng’’ là bà biết rằng hôm ấy các lý dịch trong làng họp nhau lại ở đình để bàn một việc gì. Ở làng còn có việc khác chứ giảng đạo thì còn có gì mà phải bàn.
- Họp hội đồng địa-hạt là thế nào nhỉ thầy nó nhỉ?
Ông Ký nhếch mép cười bảo vợ:
- Có thế mà cũng phải hỏi. Họp hội đồng là các ông mục sư thầy giảng các nơi họp nhau lại để bàn việc tổ chức giảng đạo những nơi nào chưa có. Còn họp hội đồng địa hạt, là riêng cho một hạt, một xứ thôi.
- Như thế thì mình đi làm gì?
- Nhưng dịp ấy, tín đồ các nơi, ai có thể thì cũng đến dự để nghe giảng nhân thể. Và để người nơi này, nơi khác biết nhau cho thêm thân mật. Cùng là anh em, chị em trong Chúa mà lại.
- Thế còn hội đồng gì nữa?
- Còn hội đồng tổng liên hội nghĩa là cho toàn nước ta, toàn cõi Đông Pháp.
Hai vợ chồng đang bàn nhau như vậy thì ông bà mục sư và đứa con cũng sang.
- Đến hôm hội đồng này, ông bà thế nào cũng đi dự chứ.
Nghe ông mục sư hỏi, ông Ký sẽ lắc đầu:
- Tôi thì không vào ngày lễ không đi được. May ra sang nhóm được buổi đầu là chủ nhật.
Bà mục sư hỏi luôn bà Ký:
- Nhưng bà thì thể nào cũng đi chứ. Cả em Ân Điển nữa, còn các em kia còn đi học thì phải ở nhà...
Bà Ký đã thầm nghĩ rằng buổi đi họp hội đồng này chắc cũng vui như đi hội chùa: bà cũng muốn đi nhân thể xem Hà nội thế nào. Từ thủa nhỏ, bà vẫn chỉ ước được đi Hà nội mà chưa có dịp. Nhưng đi là phải mất tiền, nên bà còn lưỡng lự:
- Thưa bà nhà tôi có đi được thì đi, chứ tôi có lẽ khí bấn...
Bà mục sư không hiểu rõ cái nghĩa chữ ‘‘bấn’’ thế nào nhưng cũng cứ nói:
- Chẳng phiền chút nào đâu bà ạ, Bà cứ đi cùng tôi, có chỗ ở hẳn hoi, hội đã thuê nhà rồi còn cái ăn thì nhờ một ông bà tín đồ ở đấy vậy. Cũng chẳng tốn kém hết mấy.
Một tuần lễ nữa mới hộl đồng, còn chán thì giờ để bàn tính và do dự. Ông Ký muốn cho vợ đi vì ông bà mục sư muốn, lại trong lòng, bà Ký cũng muốn nữa, nên cái việc đi là dĩ nhiên. Ông mục-sư phải đi trước hai ngày, còn bà mục sư và đứa con thì cùng đi với bà Ký ẵm con Ân Điển. Chuyến tầu đi vào ngày thứ bảy.
Đến Hà nội, điều thứ nhất làm bà Ký vui chưa phải là Hội thánh nhưng là phố xá. Cảnh đông đúc ở thủ đô vẫn dễ cám dỗ người. Lần đầu tiên, bà thấy cái tầu điện kẹp chết người; kẻ bị nạn là một anh xẩm. Có lẽ cảnh kinh khủng ấy lại ghi sâu vào trí nhớ bà hơn là những bài giảng bằng những giọng đường trong nghe rất khó. Nhưng mà vui, người nọ, người kia lại hỏi thăm bà và ẵm con bé Ân Điển. Có người ở tận Thái Nguyên, có người ở Hải phòng, lại có người ở tận Ninh bình nữa.
Ngày bế mạc hội đồng, tất cả mọi người ngồi từng hàng để chụp ảnh. Bà Ký bế con Ân Điển ngồi bên cạnh bà mục sư cố lấy vẻ mặt tươi cười.
Hôm về nhà, ngồi tính lại hết có ba đồng bạc, bà Ký tươi cười bảo chồng:
- Hết có ba đồng bạc mà vui vẻ quá thầy nó ạ. Thế mà hôm chủ nhật thầy nó chẳng đi Mất thêm một đồng nữa là cùng chứ gì.
Hai vợ chồng nhìn nhau bằng đôi mắt có lẽ thân thiện nhất kể từ năm lấy nhau, chồng mười bảy, vợ mười tám.
Còn cái việc thứ ba là việc làm phép ‘‘bắp tem’’, về sau, mỗi lần nhắc lại là một lần bà Ký ngùi ngùi. Thường thường, trong khi nói chuyện, bà vẫn được bà bà mục sư giảng cho biết rằng đời sống một người vào đạo có hai lần quan trọng là lần cầu nguyện và lần làm phép ‘‘bắp tem” cũng như hai lần cửa để cách biệt người tín đồ và người ngoại đạo. Những người mới quỳ xuống cầu nguyện chỉ được gọi là người tin theo Chúa và còn phải chờ một vài năm, chịu nhiều lần thử thách nhiều sự bắt bớ của gia đình, của xã hội của chính mình, mà giữ vững được mọi điều liệu chừng không thể bỏ đạo được nửa, bấy giờ ông mục sư mới làm phép ‘‘ bắp tem” cho. Phép ‘‘bắp-tem” có một lần ông mục sư giảng và bà Ký chú ý nghe; dù không hiểu được những chữ huyền bí ‘‘ Làm phép bắp tem bằng đức Thánh Linh”v..v.. bà cũng biết đại khái rằng lễ ấy chỉ có mộr bài hát, một câu cầu nguyện, ông mục sư hỏi người tín đồ mấy câu xem có hiểu chút gì về đạo không, có thể giữ được đạo không, đoạn liền đẩy người tín đồ xuống nước- hoặc hồ, ao, sông biển, nếu không thì một cái bể xây cũng được. Người chịu phép ‘‘bắp tem” bị chìm và ướt hết cả người rồi ở trong nước ra có ý làm hình bóng rằng người cũ đã chết, đây là người mới. Những người chỉ cầu nguyện thôi thì có thể bỏ đạo một cách dễ dàng không ai giữ, nhưng những người đã chịu phép ‘‘bắp tem” rồi tức là một phần tử của hội thánh, muốn bỏ cũng phiền.
Ngay đương lúc còn sốt sắng với đạo, bà Ký cũng nuôi cái ý bỏ rồi nên bà ngần ngại không muốn làm phép bắp tem. Bà đã tỏ ý ấy ra với bà mục sư hôm có mấy người thợ xây cái bể nho nhỏ.
- Bà Ký ạ, cái bể nhỏ này mà cũng mất ba đồng bạc công đấy. Ấy là mình đã có gạch sẵn. Bà thử bước lên cái bậc trèo vào xem đến hôm ấy có tiện không nào?
- Cái bể này xây để làm phép bắp tem đấy hử bà ? Hôm này có những ai nhỉ. Tôi, thì ông bà để cho lần khác vậy, đạo Chúa chưa chắc tôi đã giữ được đâu.
Bà mục sư cười rồi nhìn bà Ký ân cần :
- Bà chỉ nói lẩn thẩn thôi nào. Hội thánh đây được gia đình ông bà, Chúa ban phước nhiều hơn cả. Lẽ nào hôm này ông làm bà lại không làm. Mấy lại chẳng có mấy người... Thôi bà đừng từ chối nữa, Chúa sẽ ban phước cho bà và giữ vững bà. Từ buổi tối hôm nay, thể nào bà cũng sang bên nhà tôi học ‘‘Phước âm yêu chỉ” nhé.
Buổi tối hôm ấy rồi nhiều buổi tối khác, bà mục sư ép bà Ký sang nhà mình để học những câu trả lời. Có tin Chúa Jésus đã chịu chết trên cây thập tự thay cho thế gian không ? Có tin Ba ngôi Đức Chúa Trời không? Có thờ lạy hình tượng và tà thần nữa không? v..v..
Bà Ký nể bà mục sư mà sang và định bụng hôm nào làm phép ‘‘bắp tem” sẽ trốn là xong việc. Nhưng cái buổi ông Mục sư người Mỹ ấy ở Hà nội về chưa kịp đi đâu, bà Ký đã bị bà mục sư giữ đươc. Lại một lần nể nữa, bà Ký đành chịu phép ‘‘bắp tem” vậy.
Lúc ấy vào quãng ba giờ chiều. Cả mấy người đứng bên cái bể đã đổ đầy nước, ông mục sư người Mỹ đã mặc bộ quần áo ta để tiện lội vào bể nước. Hát một bài, đọc một đoạn Kinh Thánh rồi cầu nguyện. Đoạn ông mục sư bước vào trong bể nước với ông Ký Thảo.
Bà Ký nghe chồng trả lời một cách thành thực và ngoan ngoãn những câu hỏi của ông mục sư bất giác thở dài. Giá bà như chồng được! Giá bà cũng tin như vậy được!
Khi ông Ký ở trong bể nước ướt lướt thướt bước ra rồi thì đến lượt bà vợ. Thật là miễn cưỡng, bà Ký ngần ngại toan nói một câu từ chối. Nhưng ngẩng lên bà gặp con mắt thúc giục của bà mục sư. Cũng như cái lần cầu nguyện để theo đạo, bà tự nhủ thầm khi bước lên từng bực xi măng vào bể nước.
- Thì làm phép  ‘‘bắp tem” nữa đã làm sao. Lúc nào ta bỏ thì ta cứ bỏ chẳng phải phép ‘‘ bắp tem” mà giữ được.
 
 
 
 
 
 
 
VII
 
 
HAI vợ chồng ông mục sư đem giống Tin lành gieo rắc ở Bắc giang thế mà cũng được hơn hai năm rồi. Hơn hai năm kết quả cũng không được bao lăm, lúc đầu thì nhiều người cầu nguyện tin đạo lắm, nhưng chính những người ấy, những bông lúa đầu mùa lại là những kẻ hay lánh đạo nhất. Còn lại vài nhà trong đó gia đình ông Ký Thảo.
Đời sống của những người truyền giáo ở cái xứ còn bán khai cố nhiên là không thể ở nguyên một chỗ. Hai vợ chồng ông mục sư là người Trung Kỳ ra Bắc giang giảng đạo cố nhiên không phải để ở mãi cái tỉnh lỵ Phủ lạng thương nhỏ xíu.
Ông bà Ký Thảo cũng biết như vậy và tính trước lúc ông bà mục sư đi. Với ông Ký thì việc ông bà mục sư đổi đi nơi khác không quan trọng lắm. Ông bà ấy có đổi thì cũng đến về Hà nội là cùng chứ gì Hà nội cách Bắc giang có năm chục cây số, lúc nào gặp chẳng được ấy là ông Ký nghĩ thầm như vậy. Ông lại biết rằng cái việc đổi đi nơi khác là bước đường tiến thủ của ông mục sư, không có thể giữ lại được. Làm mục  sư cai trị một cái nhà thờ lớn ở một thành phố lớn dĩ nhiên là hơn ở một tỉnh lỵ nhỏ, mỗi sáng chủ nhật, tín đồ họp lại không chật mấy hàng ghế đầu. Nhưng với bà Ký thì khác hẳn, ông bà mục sư sắp sửa rời bỏ Bắc giang là bà Ký sắp rời bỏ đạo. Ý nghĩ ấy đã thành hình trong óc, nhiều khi thành ra lời và lời ấy nói với bà mục sư. Chính bà này cũng đã thấy, nên hơn một lần trong khi nói chuyện bà đã nói:
- Chúng tôi còn ở đây, chứ hễ chúng tôi đổi đi thì bà lại biếng đi nhà thờ ngay đấy chứ gì. Bà yếu đuối lắm nhé.
Bà Ký mỉm cười có dáng thẹn thò và thú thực ngay:
- Vâng, có lẽ như thế đấy, còn ông bà ở đây, ông bà là người tốt... Biết rằng ông bà đến thay ông bà có được như vậy chăng?
- Những người đi truyền đạo Chúa là người tốt cả, bà ạ. Với lại bà đi nhà thờ là để thờ phụng Chúa thì cần chi phải nghĩ ngợi lôi thôi.
Bà Ký nói chữa:
- Tôi thờ phượng Chúa thì tôi cứ ở nhà tôi thờ cũng được.
- Không được, bà ạ, Chúa đã dạy rằng: ‘‘Các con phải nhóm nhau lại mà cầu nguyện.” Nhưng mà bà ạ, hễ bà có nhớ đến tôi thì phải đi nhà thờ đấy. Trong lúc cầu nguyện tôi sẽ nhớ đến ông bà và các em luôn.
Ông mục sư cũng trông thấy rõ tình trạng ấy, nên vẫn nói với ông Ký:
- Bà yếu đuối lắm đấy, khó giữ vững được đạo Chúa lắm, ông phải liệu dìu dắt bà mới được. Tôi e rằng khi chúng tôi rời khỏi tỉnh Bắc giang này thì bà cũng lập tức không đi nhà thờ.
Ông mục sư nói xong nhìn vẻ mặt suy nghĩ của ông Ký. Hai người đã thân nên những việc gia đình vẫn thường bàn lẫn. Đúng ra chỉ có ông mục sư bàn hộ cái gia đình của ông Ký có nhiều truyện phải tính lắm.
- Còn các em nữa, nếu bà không giữ được thì các em cũng không giữ được. Đời mình đã đành nhưng đời các em, nếu Chúa không tái lâm sớm thì các em vất vả lắm đấy. Em Đức một vài năm nữa về Hà nội học, ông bà hẳn khó lo cho đủ được, để tôi liệu giúp ông bà xem. Nếu chúng tôi không ở Hà nội thì chúng tôi cũng gửi em vào ông bà tín đồ nào đấy.
Nói chán những chuyện gia đình, ông mục  sư liền bàn đến việc xây nhà thờ:
- Tôi nghĩ rằng còn tôi ở đây thì tôi làm được, vậy ý tôi định bàn xây một cái nhà thờ. Tức là căn bản cho đạo Chúa ở đây.
Ông Ký sẽ lắc đầu:
- Làm cái nhà thờ cũng mất nhiều tiền mà tín đồ ở đây ít quá. Quyên các nơi khác cũng khó mà đủ được.
- Cái ấy thì ông chớ ngại quyên được bao nhiêu thì quyên, còn thì mẫu hội giúp. Mình tính sao để những khoản chi tiêu đừng tốn quá. Độ vào năm sáu trăm thì thế nào cũng được.
- Vâng nếu có năm sáu trăm thì nhất định được rồi. Đất ở đây cùng rẻ, chỉ vài trăm là được mấy sào đất ngay.
Bàn xây cái nhà thờ rồi nhưng cũng đến gần một tháng mới xong việc mua đất. Ba sào đất mua bằng giá đắt là hai trăm ba cũng hàng rào vây tạm vào đã. Đợi đến mười hôm sau mới có gạch xe đến. Đất nhờ một ông tín đồ mua hộ, gạch cũng nhờ ông ấy. Ông Ký biết mình không giúp được gì nên chỉ thỉnh thoảng mới cùng ông mục sư dắt hai đứa con lớn ra xem ‘‘đất làm nhà giảng”. Về nhà mấy đứa trẻ kể lại cũng khiến bà Ký nghĩ ngợi.
- U ạ, đất làm nhà giảng rộng lắm cơ.
- Hôm nay người ta đang đào ao lấy đất làm nền. Cũng đang đào móng rồi đấy.
Bà Ký không lấy việc xây nhà thờ làm vui. Bà lắm lúc cũng cười cái ý nghĩ lẩn thẩn của mình: ông bà mục sư đổi đi thì đừng có ai đổi về nữa. Cái đạo Tin-lành mất hẳn ở tỉnh Bắc giang này. Bà bỏ không theo nữa. Và chồng bà cũng bỏ không theo nữa. Bà Ký cứ tự hỏi thầm xem tại sao bà không theo lại muốn cả chồng không theo. Chính ra thì bà cũng lờ mờ thấy rằng trong một gia đình mà vợ chồng hai tôn giáo khác nhau thế nào cũng có sự bất hòa.
- Nhà thờ đã xây thì chẳng bao giờ thầy nó bỏ được đạo!
Nếu không bỏ đạo cả hai vợ chồng thì ông bà mục sư cứ ở nguyên đây, chứ ông bà ấy lại đổi đi chỗ khác, để vợ chồng cái ông lạ nào về thì chán lắm. Ấy là tâm lý của bà Ký Thảo lúc bấy giờ.
Đứng trước cái nền nhà đang xây dở dang, bà Ký đã bảo bà mục sư:
- Giá xây xong nhà giảng ông bà cứ ở lại đây thì vui quá.
Ông mục sư đứng coi thợ tô vôi nghe thấy liền quay lại cười:
      - Chúng tôi không ở đây nhưng chúng tôi ở Hà nội thì cũng gần. Chúng tôi sẽ sang thăm ông bà luôn.
Bà Ký lặng im không nói gì. Bà mục sư nhìn vẻ tần ngần mỉm cười nói tiếp:
- Chúng tôi sang thăm ông bà và ông bà sang thăm chúng tôi thì ta gặp nhau luôn chứ gì. Vả lại rồi em Đức cũng phải sang học chứ!
Hôm ấy về nhà, bà Ký phân vân mãi. Bà
thấy cái việc bỏ đạo nó cũng rắc rối nhiều điều. - Bây giờ mình bỏ đạo thì đối với ông bà mục sư ra sao đây ? Bà không tìm được câu trả lời.
Nhưng cái tường nhà thờ xây cao lên dần dần. Kỳ hạn ông bà mục sư về Hà nội càng ngắn. Mỗi ngày đi chợ qua, bà Ký lại ngậm ngùi nhìn bọn thợ nề làm việc.
Một ngày tới, cái nhà thờ bắt đầu lợp mái. Thêm một tuần lễ nữa là cửa lắp, vôi quét, thế là hoàn thành. Ông mục sư cùng ông Ký Thảo đứng bên kia đường ngắm cái nhà với một vẻ thỏa mãn.
- Kiểu của ông Khải vẽ, tôi sửa đi chút ít, ông coi thế nào?
Ông Thảo gật đầu:
- Trông đẹp đấy, nhưng tôi nghĩ rằng không bền. Cái mái trông yếu quá.
- Ông tính xem, tiền có vậy thôi, cái gì cũng phải tùng tiện chứ. Một vài năm nữa, tín đồ ở đây nhiều, các ông liệu quyên tiền sửa lại cho vừa ý. Nhờ Chúa nhiều chứ tôi tính sức mình khó lắm.
Trong lúc ấy, ở nhà, bà mục sư và bà Ký đang soạn lại đồ vật. Hai người vừa làm vừa nói chuyện. Quanh quẩn cũng lại ở sự chia biệt.
- Độ đến hôm nào thì ông bà về Hà nội nhỉ ? Bà Ký hỏi như vậy.
- Cũng phải hơn tuần lễ nữa, bà ạ. Còn chờ ông bà Tường dọn đi đã... Nghĩa là sau ngày khánh thành nhà thờ.
Hai người còn bận việc nên câu chuyện cũng hơi rời rạc. Chậm rãi bà Ký lại hỏi tiếp.
- Đến hôm nào thì khánh thành hử bà? Hôm ấy chắc các ông bà ở Hà nội về đông lắm.
- Chủ nhật này bà ạ. Hôm ấy vui lắm. ít nhất cũng có năm chục người về đây, họ nghe tin chúng tôi sẽ về nên họ lên đón.
Bà Ký cứ thắc thỏm chờ hai ngày : một ngày là khánh thành nhà thờ và một ngày, ông bà mục sư về Hà nội. Không mấy ngày bà không sang chơi bên bà mục sư để bàn tính cuộc chia ly.
- Ông bà về Hà nội thì phải thuê ô tô nhỉ?
- Ông bà về, đồ đạc cũng nhiều đấy nhỉ?
Cái giây bạn bè giữa hai người cũng đã khá chắc. Bà Ký buồn nao nao khi nghĩ rằng ngày mai tới, người bạn mình sẽ đi và chắc gì trở lại. Riêng bà mục sư, tuy rằng trên bước đường truyền đạo, bà đã gặp nhiều người, nhiều bạn, đã nhiều lần ly biệt, nhưng trông vẻ mặt bà Ký, bà cũng thấy cảm động. Bà Ký nói một cách thành thực:
 
- Bà đi còn gặp người này, người khác. Chứ tôi thì... không còn ai là bạn nữa.
Đến ngày khánh thành nhà giảng, bà Ký còn vì người nọ người kia bớt buồn được một chút. Hôm ấy cũng vui lắm, làm bà nhớ lại cái ngày hội đồng ở Hà nội. Cái nhà giảng mới rộng hơn mà vẫn không chứa đủ người; những tín đồ ở Hà nội về thăm cả những tín đồ ở Bắc giang nguội lạnh gần như bỏ hẳn vì thấy vui nên đến họp. Bên ngoài cửa lại treo cờ cho thêm phần long trọng. Nhân dịp khánh thành, ông mục sư có ý giảng liền mấy hôm thật đặc biệt mong có thêm người vào đạo.
Trái với mọi lần, buổi họp không vào buổi sáng nhưng vào lúc ba giờ chiều. Cả một ban âm nhạc giúp vui; mấy cây đàn violon, mấy cái kèn hòa lẫn với cái đàn harmonium tiếng vang đưa xa đến mấy phố. Lại bao nhiêu cái miệng hát hòa lẫn với nhau, giá hôm nào cũng như vậy thì có lẽ chẳng mấy lúc cả tỉnh Bắc giang theo đạo hết cả. Lúc giảng xong lần này cũng có chụp ảnh.
Ông thầy giảng mới ở Ninh Bình đổi về cũng đã tới. Ông này cũng là người Trung kỳ nhưng bà Ký không có cảm tình như ông mục sư cũ. Cả nhà bà ta, người nhỏ nhắn và ít nói trông không được dễ mến như bà mục sư.
Nhưng còn có cuộc vui nào mà không có hồi tàn. Sau buổi khánh thành ấy, bà Ký lại buồn mông mênh. Còn có mấy tối giảng nữa là ông bà mục sư về Hà nội. Đồ đạc thứ nào thứ ấy đã xếp gọn ghẽ cả thành từng hòm, từng bó. Ông mục sư đã về Hà nội thuê ô tô.
Chờ đến buổi sáng hôm thứ tư ấy. Chiế ô tô chở hàng gầm mạnh lên một cái rồi dừng lại. Mấy đứa con ông bà Ký Thảo trong nhà chạy ra reo lên:
- A, ô tô hàng đã đến rồi!
Ông bà Ký Thảo trong nhà bước ra vừa gặp ông mục sư trên xe bước xuống.
- Xe này tôi thuê ở Hà nội. Rẻ hơn ở đây và đỡ một công họ đánh xe về.
Cả mấy người đứng ngắm cái xe rộng sẽ dọn những đồ đạc của ông bà mục sư về Hà nội.
Ông Ký đi quanh một vòng rồi hỏi:
- Xe như thế này liệu có chất đủ chăng? Không có chỗ ngồi. Bà và em lại phải đi xe hỏa à?
Ông mục sư mỉm cười:
- Đồ đạc bằng hai của chúng tôi chất cũng vừa, ông ạ. Trông thế nhưng chứa được nhiều lắm. Trước kia, tôi cũng tưởng như ông nhà tôi và cháu đi xe hỏa, nhưng chịu chật một tí còn đỡ phiền hơn. Còn con Việt thì ngồi đằng sau trông đồ với hai người ét kia.
Bà Ký cũng hỏi một câu:
- Ở Hà nội chắc các ông bà ấy đang đón ông bà. Thưa ông, nhà đã quét dọn cả rồi ạ.
Ông mục sư trả lời được một tiếng vâng rồi vẫy hai người phu trên xe xuống cùng đi vào khuân đồ. Bà Ký và đứa con lớn cũng theo vào để chuyển ra ngoài giúp ít đồ vật nhẹ. Chưa tới cái giờ buồn.
Mất đến gần hai giờ đồng hồ mời xếp hết lên xe. Mọi người ra cả bên ngoài, vừa lúc mấy ông tín đồ và ông thầy giảng mới cũng đến để tiễn biệt. Còn có bà mục sư và bà Ký trong căn gác trống. Bà Ký thở dài, ngậm ngùi nói như những kẻ lãng mạn nhất:
- Hôm nay là cuối cùng, tôi ở trên cái gác này với bà. Từ mai ông bà đi về Hà nội thì chẳng bao giờ tôi lên đây nữa.
Bà mục sư gượng mỉm một nụ cười nhưng cũng không dấu được vẻ buồn:
- Chúng tôi xa ông bà nhưng linh hồn lúc nào cũng gần ông bà. Trong lúc cầu nguyện tôi sẽ nhớ đến ông bà và các em, cầu Chúa ban phước cho ông bà và các em.
Bà Ký không trả lời, mắt đã thấy long lanh. Khóc à, vô lý ! Gần bốn mươi tuổi đầu rồi có phải trẻ con đâu! Bà Ký nghĩ như vậy nhưng vẫn không sao cầm đươc lệ.
Khóc vẫn hay lây, bà mục sư thấy bà Ký khóc tự nhiên mắt cũng rưng rưng.
- Ông bà truyền đạo thay chúng tôi cũng là người tốt lắm. Bà chịu khó đi nhà giảng luôn, như vậy tức là bà không quên tôi.
Vẳng có tiếng ông mục sư gọi vợ ra cho xe chạy. Hai người đàn bà lau nước mắt giắt nhau xuống cầu thang.
Lên ô tô xong, ông mục sư và đứa con mỉm cười, bà mục sư cũng mỉm cười tuy mắt vẫn nhòa lệ:
- Ông bà và các em ở lại và nhớ cầu nguyện cho chúng tôi.
Tất cả những kẻ tiễn đưa đều có dáng ngẩn ngơ:
- Chúc ông bà và em lên đường bình yên. Chúa sẽ dắt đưa ông bà.
Buồn nhất là bà Ký. Mọi người đã vào trong nhà rồi mà bà còn đứng trông theo đám bụi đằng xa. Bà cảm thấy mình đã mất một cái gì quý báu lắm không mong trở lại. Ý nghĩ bỏ đạo lại về đầy trí bà.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 03.03.2021 11:48:29 bởi Ct.Ly>
PHẦN THỨ TƯ
 
SỰ THỬ THÁCH
 
 
 
I
 
ÔNG bà mục sư về Hà nội rồi, ông bà Ký Thảo vẫn ở yên cái nhà cũ. Trước kia thuê của Hội Tin lành thì bây giờ thuê thẳng của người chủ nhà. Một ngày ấy, mấy người con ông chủ nhà lên - vì ông chủ nhà đã chết rồi- Ông Ký nhận trương cả mấy cái nhà nhỏ nên vẫn được hưởng cái giá rẻ cũ là một đồng rưỡi bạc. Lương
ông Ký vẫn hai mươi lăm đồng chưa được thêm đồng nào cả, nhưng kinh tế khủng hoảng chưa hết, gạo còn hơn nên sự sống trong nhà cũng không chật vật lắm.
Thằng Đức hết vụ hè ấy được lên lớp nhất, thằng Tề lên lớp ba, con Dung cũng sửa soạn xin vào lớp năm. Ở nhà
có hai đứa bé là thằng Vượng và con Ân Điển. Con bé Ân Điển được hơn một năm thì bà Ký lại ở cữ. Cũng như lần trước, bà lại ra cái nhà hộ sinh tư của cô đỡ Vân. vẫn thằng Háu đang đêm đi gọi xe và mỗi bữa mang cơm ra, cơm gạo tám, thịt nạc kho mặn với hạt tiêu bắc không thay đổi chút nào. Lần này, bà Ký sinh con trai, ông Ký đặt tên là Hưng, cùng một ý với Vượng tên thằng anh. Vũ đình Vượng rồi Vũ đình Hưng, ông Ký có ý mong cho họ Vũ Đình của mình lên.
Bà Ký, từ lúc bà mục sư đổi, không hay đến nhà giảng nhóm lại. Mỗi tuần lễ chỉ có buổi sáng chủ nhật, không thể đừng được là bà đến, còn những buổi tối thứ tư, thứ năm, chủ nhật thì bà thối thác bằng hết mọi cách. Ông Ký cho là vợ làm biếng, nhà giảng xa, lười không muốn đi. Nhưng bà Ký nghĩ khác, bà tự hiểu rằng lười cũng là một phần nhưng chính ra vì đến nhà giảng không vui. Bà thầy giảng mới có lẽ hiền lành, có lẽ tốt thật đấy, nhưng vụng về quá, kém bà mục sư trước xa. Bà ta người nhỏ bé, cũng ở vùng trong, lúc mới đổi về, bà Ký đến thăm mấy lần, nhưng chỉ mấy lần là bà chán. Còn gì bực mình bằng chủ và khách cứ ngồi ngẩn ra với nhau bên chén nước đã nguội.
Ông bà Ký Thu làm được cái nhà mới nên đã ở riêng, không cùng ở với bà cụ Ấm nữa; ông bà Thừa Minh cũng được một đứa con trai, cả mấy nơi này, bà Ký cùng thưa lại dù bà Thừa ở gần ngay đấy - nên cảm thấy buồn vì không có bạn. Kẻ đi đạo người không đi đạo, gặp nhau câu truyện cũng khó nói. Bà Ký nhớ cái lần sang chơi bên bà Thừa, nghe nhà chị Thanh, con gái lớn bà ta nói một câu mà cứ tức mãi:
- Chỉ những kẻ khốn nạn họ mới theo cái đạo dối ấy.
Nhà chị này cũng là vô tình, lại lỡ mồm chứ cũng không định ám chỉ ông bà Ký Thảo. Dầu vậy bà Ký vẫn tức, tức nhưng bà chưa nói vội, chờ bà Thừa mắng con gái đã:
- Con gái với con đứa ăn với nói đến hay. Ấy là bà Ký chứ không người khác có phải người ta đập tan mặt ra không ? Cháu nó dại bà cũng đừng chấp.
Nói cái tiếng không chấp nó dễ, chứ không chấp nó khó lắm. Câu truyện đã qua lâu lắm, bà Ký vẫn chưa nguôi cái giận.
Mãi đến ba tháng sau, ông bà Ký mới có hàng xóm. Ấy là vợ chồng người cháu cái ông Minh Thịnh ở Hà nội lên ở cái nhà hai tầng to. Cả hai người mà người ta cứ lấy hai chữ Minh Thịnh kẻ sẵn ở mặt nhà gọi là ông bà Minh Thịnh, đều trong vòng ba mươi tuổi và có dáng vui vẻ dễ chịu. Tuy là nhà buôn bán nhưng họ cũng chỉ có hai vợ chồng, một con nhỏ và một đầy tớ, у như ông bà mục sư ngày trước. Lúc đầu, ông bà Ký chưa giao thiệp với hai vợ chồng người chủ nhà mới ngay. Lên đến bốn năm hôm, ông Minh Thịnh có một lần xuống nhà ông Ký để tăng một đồng rưỡi lên hai đồng rưỡi. Ông Ký bằng lòng ngay và thấy nhà ông Minh Thịnh này đối với đồng tiền như vậy nên cũng không muốn chơi. Họ giầu mình nghèo, họ lại trẻ hơn mình, có hai sự chênh lệch như vậy, khó kết bạn lắm.
 
Nhưng thêm một tuần lễ nữa, ông bà Minh Thịnh theo đạo Tin lành. Lại nhà bà ta cứ soắn sỏa mời bà Ký sang chơi, cái giao tình giữa hai nhà bắt đầu từ đấy. Những lúc lỡ ra túng thiếu, bà Ký cũng xuề xòa giật mượn năm ba đồng. Mượn trong ít hôm rồi lại trả, có lâu la gì đâu, chưa lần nào bị cự tuyệt, bà Ký nhẹ dạ nên nhiều lần đã khen :
- Nhà bà Minh Thịnh tốt thực.
Một tháng nữa qua, lũ trẻ sáu đứa nhà ông bà Ký lại thêm một đứa em họ nữa là bảy. Ấy là thằng Bân con ông cai Mai. Ông này từ ngày lên cai cứ đổi chỗ này chỗ khác luôn, chỗ nào lâu lắm là năm tháng, không thể cho vợ con đi theo được. Sợ thằng bé ở nhà quê bỏ nhãng sự học nên một mặt viết thư về nhà quê nhờ em vợ là ông Trưởng bạ Kiền đưa con lên Bắc Giang, một mặt nữa ông viết thư bảo anh nuôi hộ, mỗi tháng ông sẽ gửi tiền, như vậy chắc trước là ông Ký nhận lời. Cái thư đến được vài hôm thì hai cậu cháu thằng Bân tới, hôm đổ chuyến tàu thư vào ngày thứ bảy. Lúc cái xe đỗ, bà Ký đứng cửa nhanh nhảu nói trước:
- Tôi đã đoán trước rằng hôm nay thế nào cậu cũng đưa cháu lên.
Ông Trưởng bạ Kiền là em ruột bà cai Mai nhưng đối với bà Ký cũng có tình họ ngoại. Trả tiền xe xong, còn đứng ngoài cửa, ông này đã nói:
- Tuần lễ trước tôi nhận được thư của bác cháu bảo đưa ngay cháu lên đây để gửi hai bác trên này. Bác cháu, việc nhà binh không thể ở yên một chỗ, sợ sự học của thằng bé nhỡ nhàng chăng
 Bà Ký chưa trả lời còn xoa đầu thằng bé:
- Bố con nhà mày. Năm nào còn bé thế mà bây giờ đã bằng ngần này rồi, cháu lên tám, bằng tuổi chị Dung đấy nhỉ.
Ngẩng lên, bà bảo ông Trường bạ :
- Ấy tên cháu tôi đặt cho đấy. Cũng chẳng nhớ tại sao đặt tên là Bân nữa. Chú thím ấy lúc có cháu rồi mà vẫn chưa được thuận hòa. Cái năm chú ấy sinh cháu là chú ấy ra lính đấy. А mà chú ấy đi thành ra đến năm nay là bảy năm đấy nhỉ.
- Vâng bác cháu từ ngày vào ngũ đến nay được đúng bảy năm. Giá như người khác thì đã lên đội rồi đấy. Bác tính mà xem: quan thầy yêu nhé, bạn hữu nể vì nhé còn gì nữa, thế mà cứ lẹt đẹt mãi.
Bà Ký cười :
- Tính chú ấy vẫn ương ách thế đấy. Mà tất cả các ông con Cụ Cử thì ông nào chẳng vậy. Ngay nhà tôi lành nhất, thế mà ngày dạy học ở Dương-Nham, ông Phủ về khám trường, nhà tôi cũng cự nhau với ông ấy mãi, nữa là... Còn cái việc chú ấy bóc trả lon cai nhất ở Hải dương thế nào, cậu kể lại tôi nghe với, tôi biết câu được câu chăng thôi.
Ông Trưởng bạ lắc đầu :
- Câu truyện ấy cứ nhắc lại là buồn cười. Nào có gì đâu, chỉ vắn tắt thế này: Hôm ấy ngày lễ, đang phiên gác, bác ấy ăn một bát phở. Thì cũng là thường nhưng có đứa hó háy nó mách ông Giám. Quan trên người ta nghe thấy như vậy dĩ nhiên người ta khiển trách. Nhưng vừa nói đến bóc lon - thì cũng dọa thôi, là nói lần sau mà như thế nữa thì bóc lon - nhưng bác ấy còn tức lên, tiện có con dao con trong túi, bác ấy cắt phăng hai cái lon đưa tận tay ông Giám. Cả mấy người ngặt nghẹo cười chán, ông Trưởng bạ lại nói tiếp:
- Bác cháu phải cái tính hoang lắm, không chơi bời cũng hết, huống chi cái trò nhà Binh, tránh làm sao được. Ngày ở Hải dương, ngày về Đông triều, mỗi lần bác gái lên là phải kèm theo mấy chục bạc để trả nợ. Chứ được như bác trai ở trên này thì còn nói gì nữa, bây giờ theo đạo lại càng tốt.
- Cậu không biết đấy chứ nhà tôi thì cũng vậy, ngày tôi về nhà quê luôn mấy tháng có gửi được xu nào đâu. Lúc tôi lên cũng lại phải bán mấy sào ruộng trả nợ.
Câu chuyện lan man theo đà ấy, càng ngày càng xa việc thằng bé lên trên này để đi học. Bà Ký hỏi thăm người nọ, người kia ở nhà quê chán rồi kể những chuyện xa xôi từ hồi còn Cụ Cử cho đến những việc gần nhất là theo đạo Tin lành. Mãi đến lúc ông Ký đi làm về, bấy giờ mới nói đến chuyện học của đứa cháu.
- Cháu nó đã học lớp nào rồi và bây giờ định xin vào lớp nào ? Cậu có mang theo không ?
- Cháu đã đọc được chữ Tây rồi đấy, nhưng học cứ lang bang nên chẳng có học bạ gì cả. Ý tôi định nói với bác xin cho cháu vào lớp tư. Ông Ký ngẫm nghĩ rồi lắc đầu:
- Cậu hẵng cứ ở đây chơi một vài hôm đi tôi xin thử xem sao, nếu không xin được lớp tư thì đành là lớp năm vậy.
Buổi tối hôm ấy, ông Ký dẫn cháu đi xin học. Bắt đầu đi từ bảy giờ mà mãi hơn chín giờ hai bác cháu mới về. Vừa bước chân vào trong nhà, ông Ký đã nói :
- Người ta không cho lớp tư. Vào được lớp năm cũng là may, người ta còn nể nang lắm đấy. Kể xin vào dịp hè hay dịp Tết chứ dở chừng, học được một vài tháng rồi, học bạ lại không có...
Bà Ký ngắt lời chồng :
- Nhưng thầy mày ở làm gì đến bây giờ, truyện gì mà dai thế ?
Ông Ký vừa cởi áo vừa cười:
- Đánh với ông đốc Ngọ vài ván cờ.
Ông Trưởng bạ nghe vậy nói đùa :
- Bạn cờ mà không nể nhau được một chút.
- Ấy là nể đấy, nếu không họ không cho. Thì cũng thôi vậy chứ sao.
Ông Trưỏmg bạ Kiền còn ở chơi một hôm nữa rồi mới xuống tàu thủy về quê. Bà Ký giữ lại không được. Thêm một vài ngày, nghe thêm một vài câu truyện đạo nữa lại càng chán tai.
Một tuần lễ nữa, ông Ký mới viết thư cho ông em; ngoài việc nói rằng cháu đã lên đã được học, còn thêm hai điều nữa là: ông Cai lên chơi và ông Cai mua hộ một cái xe đạp độ mười lăm đồng trở lại. Ông đã từ lâu ước một cái xe đạp cũ và đến mấy lần mua hụt. Có cái xe tiện tắm, ngoài việc đi làm, còn việc đi chơi nữa. Mỗi lần, độ vài tháng một, về Hà nội, lúc trên tàu xuống, cần phải đi nhiều chỗ, không có xe đạp cũng bực. Đường phố Hà nội thì dài, tiền xe thì tốn. Thường ông Ký vẫn phải mượn xe của ông thầy giảng là ông Dần. Lần này viết thư cho em xong, ông Ký kể lại cho vợ nghe rồi thêm một câu :
- Để đỡ phải mượn xe của ông Dần. Tính ông ấy cẩn thận.
Cái thư gửi đi ít hôm thì có thư trả lời. Ông Cai Mai hẹn ngày lên chơi, nhưng đến hẹn không thấy, ông bà Ký đã cho là ông ấy không lên:
- Chắc chú ấy không xin được phép chứ gì!
- Hay chú ấy phải phạt, hoặc hết tiền, chú ấy như thế luôn...
Ba bốn ngày tiếp theo, đinh ninh nhận được thư xin lỗi của ông Cai không sớm thi muộn, đang lúc không ai ngời ông Cai Mai đến. Và cả cái xe đạp, điều này làm vui lòng ông Ký.
Hai anh em, đến sáu năm trời mới gặp nhau. Trông ông Cai vẫn như vậy, hàm răng vẫn đỏ, dáng dấp vẫn nhanh nhẹn, không béo hay gầy đi chút nào :
- Phép, chậm đến hôm nay mới được. Chắc anh chị mong lắm vì sốt ruột không thể chịu được. Sáng hôm nay, ngồi trên tàu, tôi cứ mong sao cho chóng đến nơi. Lại lúc đến chẳng biết nhà anh chị ở đâu phải đi lại nhà giảng hỏi đấy.
Lúc trẻ chạy ra quấn quít chung quanh. Thằng Bân nắm lấy tay thầy nó vui vẻ lắm. Ông Cai vỗ đầu con hỏi:
- Thằng Bân ở trên này với các anh các chị có vui không ? Không nhớ u chứ?
Thấy ông Ký ngắm cái xe đạp, ông Cai quay ra bảo :
- Anh dặn mua xe cho anh, nhưng không mua được. Có cái này của ông Giám cho, anh hãy lấy mà dùng. Tôi mua cái khác cũng được. Xe trông cũ kỹ nhưng tốt lắm, anh ạ. St Etiénne đấy, chưa lai tí nào cả.
Lúc vào trong nhà, ông Ký ngắm em từ đầu đến chân:
- Quái tôi trông chú vẫn thế, chẳng có gì khác cả.
Ông cai Mai chúm chím cười, bà Ký cũng nói theo chồng :
- Ừ mà cái miệng cười cũng vẫn như cái ngày ông gọi chú là thằng Vàng.
- Thì anh chị bảo có gì mà thay đổi cơ chứ, có thay đổi là ngày trước làm lính tập mà bây giờ làm cai.
- Thế chú trông chúng tôi có khác trước không ?
- Anh không được béo bằng ngày thầy mất, chị cũng già đi một chút, nhưng chính ra cũng chẳng khác gì đâu. Chị vẫn nhanh nhẩu, lau chau ..
- Thì từng này đứa trẻ rồi gì mà chẳng thay đổi. Sáu đứa rồi chú ạ, nhưng vẫn chưa bằng thầy ngày trước, còn kém xa.
- Thầy những mười lăm cơ mà, anh muốn bằng thầy thì phải cưới thêm vợ lẽ nữa. Nhưng thế này cũng là nhiều rồi, anh ạ. Mình có giầu bằng thầy ngày trước đâu mà mong bằng thầy. Mà trông các anh ấy thế thì cũng chẳng nên nhiều con làm gì.
Đến bữa cơm, lúc đã nửa bữa, mới nói đến chuyện tiền nong :
- Chúng tôi cũng không có. Tuy rằng cháu ở đây ăn không hết mấy nhưng mỗi tháng chú cũng gửi cho ba đồng...
- Lương tôi bây giờ cũng khá rồi anh ạ, lại chẳng phải lo gì cả, thôi thì mỗi tháng gửi anh chị năm đồng, sang năm thêm vào cho thằng Đức, cháu đi học,
Bà Ký nhìn lũ trẻ đang ăn sào sào như một đàn vịt :
- Chú trông xem trừ hai đứa bé ngồi ngoài, bốn trẻ nhà tôi, một thằng cháu nhà chú, chúng nó ăn có vui không nào. Cu Bân ta mấy hôm đầu còn làm bộ khảnh tảng, chứ hôm nay, xem có tranh ăn ra phết không nào. Không gắp mau, các anh các chị nó gắp hết.
Ông cai Mai nhe hàm răng hạt lựu ra cười:
- Ấy thế mà ở nhà u nó cứ phải thuê nó một xu để nó ăn hết bát cơm cho đấy. Thôi thằng Bân, con ăn làm gì nhiều thế, ăn một bát chứ.
Buồn cười vì câu pha trò xong, bà Ký ngậm ngùi:
- Cho được ngần này đứa đủ ngày hai bữa cũng vất vả, chú ạ.
 
 
 
 
 
 
II
 
 
HÔM nào con nó đi Bắc ninh thi, thầy mày có đưa đi không ?
Một buổi tối bà Ký hỏi chồng như vậy. Hai ông bà bàn nhau về việc con đi thì, đứa con lớn ấy là hy vọng chung của họ. Ông Ký mong con đậu được ‘‘diplôme’’ rồi đi làm để dẫn dắt mấy đứa em. Bà Ký cũng mong con đậu ‘‘diplôme’’ rồi đi làm để bà được cái hãnh diện mỗi khi nói đến con, rồi sau này già, bà có thể ở với nó. Cả hai vợ chồng cùng đặt ước vọng của mình vào đứa con lớn. Đứa con ấy, thằng Đức đã không phụ lòng cha mẹ, năm học ấy nó được nhất lớp. Nhất lớp cố nhiên là phải đỗ, không còn nghi ngờ chỉ nữa.
Ông bà Ký Thảo vui vẻ bàn với nhau việc con sang Bắc Ninh thi. Bổn phận đối với con đi thi của bà Ký đã xong rồi. Thằng bé mười bốn tuổi ấy được mẹ may cho một cái áo lương đằng thật đen thật tốt và một đôi ‘‘săng đan’’ cũng thực đẹp; đôi sang đan ấy, bà Ký đã phải nhờ ông Minh Thịnh mua tận Hà nội một đồng hai bạc. Còn một tuần lễ nữa mới thi, thằng Đức đã có áo mặc, đã có giầy đi. Đi lên trường, đi ra phố, chưa bao giờ thằng bé sung sướng đến thế.
Còn ông Ký, con đi thi, ông cũng nhớ phận ông. Nghe vợ hỏi, ông trả lời:
- Thứ hai nó thi thì chủ nhật tôi cùng sang với nó một buổi. Đưa lại đằng nhà giảng gửi ông Thọ ở đấy. Ông bà ấy tốt lắm tôi đã biết. Mà cũng chẳng đâu rộng rãi bằng ở đấy được, xem có tiện không, không thì ta đem theo cái màn đi, ngủ nhờ ở buồng nhà giảng, còn ăn cơm ở đâu thì ăn.
Thằng Đức muốn được đi một mình để cùng trọ với mấy người bạn, nhưng không dám nói ra. Nó cũng chẳng biết rằng đi trọ ở hàng cơm thì khổ sở hơn là ở nhà người quen, chỉ thấy có nhiều bạn cùng ở thì cho là thích. Thằng bé vốn hay vâng lời cha mẹ, nên dù nghĩ thầm trong lòng thế chăng nữa, đến hôm sang Bắc ninh cũng у như lời ông Ký sắp đặt.
Bước chân lên tàu, thằng bé đã thấy hồi hộp rồi. Đặt cái cặp bên cạnh cha nó ra đầu toa nhìn lại tỉnh lỵ, nhìn lại những cây soan tây hoa nở đỏ ối. Từ năm còn nhỏ nó đã biết rằng màu đỏ rực của hoa soan, ấy là hy vọng của những kẻ học trò. Liên miên, Đức nhớ lại mấy năm học đã qua rồi. Nó nhớ lại để mà hy vọng, để mà tự tin. Nhớ lại mấy năm tức là nhớ lại tất cả những sự cố công, gắng sức. Năm học lớp ba, nó thứ tư, tuy không may trượt mất phần chữ Pháp bằng Sơ học yếu lược, nhưng nó vẫn có thể tự hào rằng học khá. Lên lớp nhì năm thứ nhất, nó tụt xuống thứ bảy rồi lớp nhì năm thứ hai nó tụt xuống thứ mười, nó cũng hậm hực là đã tiến bộ giật lùi nhưng lại tự an ủi rằng học trò ‘‘đúp’’ nhiều quá. Rồi lên lớp nhất, Đức thứ nhất! Chính nó cũng không dám ngờ như vậy. Từ đầu năm, nó chỉ ước sao được trong số mười người. Về toán nó có khá vào bực nhất nhì thực đấy, nhưng về chữ Pháp nó chỉ vào quãng hơn trung bình một tý. Một năm có hai kỳ cộng sổ, kỳ đầu nó nghỉ mất hai bài giá tính theo điểm trung bình thì nó được toại nguyện, nhưng tính theo nốt ( noter= điểm ghi) cộng, ai nhiều người ấy nhất, nó phải thứ hai mươi tư; kỳ thứ hai, nó nhất định không nghỉ một bài nào, và thực là sung sướng, nó được nhất!
Như các nhà khác phong lưu thì được nhất trong lớp thể nào cha mẹ cũng thưởng cho cái nọ, cái kia, nhưng Đức tự biết lắm dù nó nhất hay thứ mấy thì cũng vẫn thế thôi. Không mong được đồ vật gì đã đành, cũng không mong gì một lời khen ngợi nữa. Ở cái gia đình đông con vẫn thế! Từ thủa lên mười, thằng bé này thèm nhiều thứ lắm nhưng chưa một lần nào được thỏa mãn. Năm học lớp ba, nó thèm mấy hào chỉ để tập xe đạp, cha mẹ nó không cho nó phải ăn bớt từng xu mua tập giấy và nói dối mua cái thước kẻ, bút chì. Năm học lớp nhì năm thứ nhất, nó thèm một cái tàu thủy bằng sắt đốt lửa thì chạy được: năm học lớp nhì năm thứ hai và cả năm học lớp nhất nữa, nó thèm một cái máy ảnh nhỏ hiệu Sida giá hai đồng rưỡi mà thằng Tô là bạn nó có, thèm cái máy ảnh chán nó thèm một cái đàn mandoline giá ba, bốn đồng gì đó. Nó biết rằng cha mẹ nó không cho cũng vì cha mẹ nó nghèo...
Đứng trên tàu, thằng Đức nhớ lại những sự đắc thắng trong lớp đồng thời cả những nỗi thất vọng và cay đắng của một đứa trẻ nghèo và nhiều em. Nó thấy buồn nhè nhẹ như luồng gió hai bên tàu lọt vào chút ít làm bay tà áo. Buồn rồi nó hy vọng, nó hy vọng kỳ thi này đậu xong, một người khác cha mẹ nó chú bác chẳng hạn sẽ thưởng cho nó cái mà nó muốn. Nó lại được đi Hà nội; Hà nội hay là thiên đường của các đứa trẻ ở tỉnh nhỏ.
Tàu đến ga Chợ Nhớn, lúc ấy mới mười giờ. Hai cha con dắt nhau vào hiệu phở ăn mỗi người một bát và mấy cái bánh ngọt rồi mới vào nhà giảng đạo Tin lành. Quả như lời ông Ký, ông Thọ giảng đạo ở đây thực là dễ chịu. Ông Ký vừa ngỏ lời xong, ông ta đã vui vẻ nhận lời:
- Được ông không ngại, ông cứ để cậu ấy ở đây là được rồi. Anh em trong Chúa ấy có nề hà gì sự đó ạ.
Rồi đến bữa cơm ngoài mấy câu cầu nguyện thường ra, thằng Đức nghe thấy và cảm động biết chừng nào, ông Thọ cầu Chúa cho nó đậu. Nó càng thấy phấn khởi và càng tin rằng mình không thể trượt được. Sức nó có thể đỗ thì đã đành, mà bao nhiêu người mong cho nó đỗ!
Ngoài cha mẹ và những người thân, đã ông giáo Ngọ dạy nó rồi, bây giờ lại ông Thọ nữa...
Buổi chiều đưa cha ra ga, lúc trở về gặp một thằng bạn rủ đi chơi, nó đã từ chối không do dự:
- Thôi mày đi chơi, tao còn quay về xem qua một ít ‘‘phốt dictée” (faute dictée = lỗi chính tả) đã.
Thằng bạn nó bĩu dài cái môi dưới để khinh bỉ:
- Mày gạo quanh năm rồi chưa đủ hay sao mà đến bây giờ còn gạo nữa. Tao cho trượt lại tha hồ mà khóc. Cứ đi chơi như tao trượt hay đỗ không cần rồi tự khắc đỗ cho mày coi. Thi có cần gì học nhiều đâu, em ơi!
Thằng Đức không cho lời thằng bạn là phải. Còn phải làm sao được, một đứa học trò tốt như nó có bao giờ nghĩ thế đâu!
Sáng hôm sau, trước khi đến trường thi, ông bà Thọ lại cầu nguyện xin Chúa cho nó đỗ một lượt nữa, rồi lúc nó đi ông bà ấy lại chúc một câu:
- Chúc cậu gặp nhiều sự may mắn, đậu cho ông bà mừng nhé!
Nhưng thằng Đức chẳng gặp sự may mắn nào cả. Có bài ám tả lơ đễnh thế nào, đến trưa về xem báo thấy mất đến ba ‘‘phốt’’.
- Ba phốt thế nào chẳng đỗ. Rédaction (bài viết)của mình khá làm gì chẳng đủ mười tám nốt Français. Cứ gọi là tám nốt dictée thôi, bốn nốt dictée bốn nốt questions ( câu hỏi, vấn đáp), còn mười nốt rédaction làm gì mình chẳng được mươi nốt. Biết đâu chẳng có phốt người ta ‘‘tolérer’’( ân xá) hay đánh nhẹ nữa.
Nó vẫn tin rằng mình đỗ. Nó vẫn tin và nó muốn tin như vậy lắm nên lại tự nhủ một lượt nữa :
- Hai con tính buổi chiều nay thì ăn tươi.
Hai con tính quả nhiên nó làm đúng cả. Nhưng đúng vẫn chưa đủ may mắn. Làm tính vào giấy nháp hẳn hoi, Đức ta đã dại dột đưa cho thằng bạn ngồi bên. Nhưng chẳng biết cái cô đầm coi lớp ấy có đánh dấu không!
Ngày hôm đó, thi viết xong nhưng lại còn cách một ngày nữa mới bảng vào vấn đáp. Trong lúc chưa biết mình đỗ hay không ấy, nó vẫn ở lại Bắc Ninh và đem những quyển vở từ đầu năm mang theo ra học lại.
Nhưng hỡi ơi (có nên đánh một cái dấu than không,) đến hôm treo bảng không thấy có tên Vũ đình Đức. Nó xem đi xem lại từ đầu đến cuối cố tưởng rằng mắt mình hoa lên chưa nhìn rõ, nhưng thực rồi, tên nó không có thực rồi, nó trượt thực rồi.
Lao đao cả người nó thất thểu bước ra đường thì gặp thằng Tô, thằng bạn sắp hàng thứ nhì trong lớp dưới nó một bực.
-  ‘‘Moa’’ hỏng rồi.
-  ‘‘Моа’’ cũng vậy. Lớp mình năm nay năm mươi mốt đỗ có hai mươi chín. Nhất là ‘‘toa’’, nhì là ‘‘moa’’, ba là Thụ, chúng ta trượt cả, rồi sáu hay tám chín trượt cả. Còn những thằng như thằng Đối thằng Tắc chẳng hạn thì chúng nó đỗ đấy. ‘‘Moa’’ ra tàu về đây.
Thằng Đức bắt tay bạn về nhà ông thầy giảng và bước vào trong nhà đã khóc như một cái vòi máy nước. Ông bà Thọ lại an ủi:
- Thôi, cậu nín đi, đừng làm chi mà buồn. Chẳng qua là sự sắp đặt của Chúa, biết đâu cậu hỏng kỳ thi này lại có cái may khác.
Nó không muốn nói đến Chúa làm gì nữa, nó không tin có Chúa nữa dù bao nhiêu năm rồi từ ngày thày nó theo đạo Tin lành, người ta vẫn bảo nó có một Chúa. Không, không có ông Chúa nào cả hay nếu có thì cái ông Chúa ấy ác quá. Thằng bé nhớ lại hết cả những nỗi thất vọng, cay đắng vì không được thỏa mãn. Lần này nó lại thất vọng một lần nữa. Mai đây, nó trở về Bắc giang làm gì, học lại một năm lớp nhất chăng? Trời, cả một năm dài dằng dặc.
Ông bà Thọ lại quỳ xuống cầu nguyện ‘‘Xin Chúa an ủi em bé này’’, những người truyền đạo đến là hay, lúc nào họ cũng cầu nguyện được, thằng Đức nghĩ như vậy, nhưng cũng vẫn cảm động vì lòng tốt của hai người không phải là họ hàng thân thuộc của nó ấy. Nó nín không khóc rồi nghĩ vẩn nghĩ vơ nó lại hy vọng. Biết đâu, Ừ, biết đâu người ta chẳng lầm. Chiều nay cộng nốt lại, thấy tên mình, người ta sẽ gọi.
Đáng lẽ về nhà ngay, thằng Đức còn ở lại Bắc ninh cho đến hôm thi xong hẳn hoi mới về. Biết việc hỏng thì là nhất định rồi, không hy vọng gì nữa nó viết một bứt thư cho ông chú hỏi mưựn một ít sách học. Để cháu học hết 1er année (năm thứ  nhất) rồi sang năm đỗ xong cháu xin vào 2èm année (năm thứ hai). Cái tuổi mười bốn chỉ nghĩ được như thế.
Trên chuyến tàu về, thằng Đức và ông giáo Ngọ, không ngờ gặp nhau.
- Thế nào, sao mà bơ phờ thế kia?
Ông giáo hỏi một câu trống không như vậy. Nó ngậm ngùi trả lời, không sao nén được tiếng thở dài:
- Thưa thầy, con trượt ạ.
Ông giáo lắc đầu nhìn trò có vẻ thương hại:
- Thầy cũng không ngờ anh trượt đấy. Nhưng thôi chẳng qua là số phận anh, đến lúc này thì thầy cũng phải nhận là có số phận thật. Thằng Đối thằng Tắc đỗ mà anh không đỗ. Nhưng có biết hỏng về cái gì không?
- Thưa thầy, nào có biết hỏng về cái gì thì đỡ ức. Con tính có thể đỗ rồi nên lại càng ra sức học oral (vấn đáp). Nhưng có hỏng thì chắc hỏng dictée.
- Sang năm thầy lại cho anh học ‘‘đúp’’ đừng buồn nữa, anh còn ít tuổi chậm một năm cũng chẳng làm gì!
 Được một câu an ủi của thầy cậu bé mười bốn tuổi ấy thấy yêu thầy như Nhạc Phi chứ không ít. Lòng tự ái được phỉnh nịnh!
Nhưng chỉ được về đến nhà. Lúc ấy ông Ký đang ngồi ăn cơm, thấy cha vẻ mặt lãnh đạm quá, thằng Đức chỉ dám nói một câu rồi im :
- Con hỏng thi rồi ạ.
Thấy cha mãi chưa trả lời, nó muốn tìm vài câu cho đỡ thẹn :
- Con thành ra không may. Lớp con mấy đứa nữa thứ nhì ba, năm sáu cũng trượt cả.
Ông Ký ngắt lời con:
- Thôi trượt thì cứ biết là trượt. Có cái thư của chú Chi kia kìa.
Một câu nói của cha đủ làm thằng bé đau đớn, lại cái thư của ông chú nữa, quái, sao mới có bốn hôm mà thư đi về được ngay nhỉ.
Trong thư ông giáo mắng, không đoán cũng biết, những câu mắng tệ qúa:
…Đã dốt, đi thì hỏng thì cứ học lại một năm nữa, mày chỉ láo lếu quen, vả lại chưa học 1er année có livret, ai người ta cho vào 2èm année...




Đăng nhập để trả lời
0
III
 
 
THẦY mày lúc nào có đến chơi đằng nhà ông Lẫm, ông Oanh thì nói với ông ấy một câu để tôi đem dầu ra ông ấy cân ngay cho, không phải chờ đợi. Chả nhẽ có thầy mày quen...
- Thì lúc nào u mày ra chơi nhà ông ta mà nói. Mình không muốn dính vào những việc lôi thôi ấy.
Bà Ký Thảo cau mày :
- Tưởng có thầy mày quen thuộc, cùng là bạn làm việc với nhau; có gì mà lôi thôi, thày mày chỉ bảo với các ông ấy một câu.
Không cho vợ nói dứt, ông Ký gạt đi, giọng đã gay gắt:
- Người ta đã bảo người ta không muốn dính vào những việc ấy mà. Có mấy khi lại chơi đằng chúng nó đâu…
Cũng như mọi lần khác, hễ bàn đến việc làm ăn là ông bà Ký chỉ nói với nhau được ba câu. Hai vợ chồng dường như là xung khắc, bàn tính việc làm ăn cấm bao giờ hợp nhau. Cái câu thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn có lẽ cả hai người cùng nhớ kỹ, nhưng họ cấm làm theo được. Từ trước đến giờ, hễ vợ nói một câu là у như chồng phản đối:
- U mày thì biết cái gì...
- U mày mà có làm ăn được cơ...
Những câu nói miệt thị của ông Ký chạm đến lòng tự ái của bà Ký nhiều quá. Nên cứ mỗi lần bàn nhau у như câu cuối cùng của bà Ký là câu :
- Tôi cứ muốn vứt cả ra đấy...
- Ở với thày mày tôi chẳng muốn làm cái gì cả.
Giá lương ông Ký được nhiều hơn chút nữa, bà Ký cứ việc ở nhà nuôi con thì yên một truyện. Khốn nỗi trong nhà, lúc nào cũng túng thiếu Những đứa con lại cứ thêm mãi ra, rồi chúng nó lớn lên, ăn với mặc, lo đủ cho chúng nó cũng chật vật. Đứa lớn nhất, thằng Đức lại sắp phải đi Hà nội học; năm vừa rồi thằng bé trượt, có lẽ cũng là may cho ông bà Ký, một năm nữa mới phải lo lương học của con.
Lần đẻ đứa con thứ tư, chẳng biết nghe ai xui khôn xui dại thế nào, bà Ký Thảo uống bao nhiêu thứ lá, lại cả thủy ngân nữa, hy vọng từ lần này trở đi khỏi phải sinh nở. Hai vợ chồng ở gần nhau, đã không cấm được những sự đi lại thì cũng chỉ có cách ấy.
Nhưng con Ân Điển, rồi thằng Hưng ra đời. Ông Ký nhiều lần vui vẻ đã nói đùa :
- Những u mày thì những đứa sau này không có, vậy từ thằng Vượng trở lên là con chung, còn con Ân Điển, thằng Hưng và một vài đứa sau này nữa là con riêng của mình.
Những lần ông Ký nói đùa như vậy thì ít, những lần khằn khò thì nhiều. Số lương lĩnh về ông giữ lại một phần, còn đưa cho bà Ký hạn rằng cái số tiền ăn chỉ có như thế. Tháng nào, bà Ký cũng tiêu thiếu. Một phần bởi bà hoang, trông thấy chồng con ăn khổ sở không đành lòng, một phần nữa, muốn hà  tiện cũng không sao hà tiện hơn được, cái gia đình đông đúc ấy, cứ ăn rau ăn mắm cũng tốn, lại trăm thứ vặt vãnh, xà phòng, dầu đèn...
- U mày đã khỏe tiêu hoang thì làm ra mà tiêu…
Hơn một lần, ông Ký bảo như vậy. Thì từ ngày mới lên, bà Ký vẫn tính thế. Bà vẫn hy vọng mỗi tháng kiếm được một số tiền để tiêu pha được tự do không bó buộc lắm. Trông những người đàn bà biết buôn bán khác như bà Ký Thu chẳng hạn, bà them. Vợ chồng họ có bao giờ khằn khò nhau vì mấy đồng bạc đâu.
Nhưng nói đến truyện làm ăn mà bực. Lần đầu tiên thuê cái nhà bên cạnh nhà bà cụ Ấm mở cửa hàng, đã có chuyện khó chịu về mấy cái kẹo và mấy con chỉ rồi. Lần thứ hai, ở gần nhà bà Minh Thịnh mua mấy tạ lạc, ông Ký cũng lại nói lôi thôi...
Rồi lần này là lần thứ ba, bà Ký buôn dầu chẩu. Dầu mua của mấy làng gần đấy đem về bán cho nhà Băng đã có giá sẵn. Từng chuyến một, lãi thấy ngay trước mắt... Nhưng cái dễ cũng phải có cái khó đi kèm, cái khó ấy là làm sao người cân dầu cân ngay cho. Không phải chỉ có mình bà Ký buôn dầu, còn có nhiều người khác nữa, buôn bán là phải cạnh tranh. Bà Ký cũng muốn cạnh tranh nhưng lại không biết luồn lọt. Cái ông Lẫm và ông Oanh cân dầu ấy, giá bà cứ chịu mất ngay cho họ một ít tiền và vài câu nói là xong, là mọi việc suôi cả. Muốn bắt con cá rô thì cũng phải thả con săn sắt, lẽ thường là như vậy.
Bà Ký cũng hiểu đường lối là thế, nhưng bà không muốn làm, định nhờ ông chồng. Nhưng đã chẳng biết lại thêm bực mình. Một lần nữa, bà Ký nói :
- Ở với thày mày có bao giờ làm được cái gì cơ chứ.
Nói xong, bà buồn rầu nhìn ba gian nhà mới dọn được mấy tháng. Cái nhà cũ, có bốn gian rộng hơn lúc trước thuê có một đồng rưỡi, vì sau ông Minh Thịnh tăng lên một đồng nữa, cũng còn là rẻ. Nhưng một buổi kia, đâu có người đến để mặc cả thuê cả một khu bốn mươi lăm đồng một tháng gấp ba số tiền thuê của Hội Tin lành ngày trước, ông Minh Thịnh thấy vậy tham - mà cũng là thói thường của con nhà buôn bán – liền nói với ông bà Ký Thảo dọn đi, chính vợ chồng ông ta cũng dọn đi nữa. Ba gian nhà mới đã chật hơn lại đắt hơn. Trong khoảng đất hẹp ấy phô bầy tất cả cái nghèo của một tiểu công chức đông con lại - không biết nên gọi là lương thiện hay là khờ dại, không biết xoay. Đồ vật quý nhất là cái giường gỗ lát mua tám đồng ngày ở gần nhà ông mục sư và cái hòm đựng quần áo cũng mua hồi ấy, còn các đồ vật khác, vài cái giường mọt, bộ bàn ghế mốc, thực đáng làm tiêu biểu cho cái cảnh nhà thuê, gạo chợ.
Đứng trước cảnh ấy, ông Ký thản nhiên, có khi lại cho thế là mãn nguyện. Nhưng nói đến bà vợ là ông miệt hẵn. Người đàn bà ấy chỉ biết đẻ con, trông con và công việc trong nhà, những sự ấy không được ông coi trọng. Sống giữa cảnh thiếu thốn, hai vợ chồng lại chẳng kính mến nhau!
Hiểu rõ tâm lý chồng, bà Ký thường than thở với thằng con lớn:
- Thầy mày như vậy, u không thể nào ở gần được đâu. Ăn ở với nhau từ thủa mười bảy, giá trời để cho thì cũng được bảy mặt con mà vợ chồng chả bao giờ có điều gì vui. Các em nó còn nhỏ chứ không thì u về Kinh Môn ngay. Dù bữa rau bữa cháo cũng còn hơn…
Đến cái lần buôn dầu này, bà lại càng buồn hơn, nhủ con :
-Cái lão Lẫm với cái lão Oanh làm ở nhà Băng, ngoài giữ việc cân dầu, con đã biết đấy. Một câu tử tế với họ, thêm nữa cái quà gì mấy đồng bạc là cùng, công việc buôn bán của tao có phải dễ được bao nhiêu không ? Tao thì tao không quen nhờ có thầy mày, mà thầy mày cũng nhăn mặt lại. Cái việc buôn dầu nầy cũng đến hỏng, mà rồi cũng chẳng làm được cái gì đâu! Từ giờ đến cuối năm có lẽ tao đến thu xếp về nhà quê, tao với hai em bé... Thuê cái nhà ở phố đồn,  kiếm vài chục bạc là đủ rồi, không thì tao ở nhờ nhà bà Cử với bác Ba gái cũng được. Thì tao cũng cứ như bác ấy, chẳng trông vác số lương của thầy mày nữa xem sao. Nhưng tao chỉ thương chúng bay ở trên này, không có mẹ trông coi cho thì khổ, mà rồi hỏng cả…
Chẳng phải đợi bà Ký về nhà quê, lũ con mới khổ. Trừ vài đứa bé quá chưa biết gì còn hai đứa con lớn, thằng Đức mười lăm, thẳng Tề mười hai chúng sống giữa không khí nặng nề trong gia đình như hai cái cây non thiếu nhựa. Một chút ánh sáng, một chút khí trời cần lắm!
Nhiều buổi tối, bà Ký Thảo đã phải mắng con:
- Thẳng Đức hư quá, hôm nào cũng không về đúng bữa cơm, mẹ cứ phải để phần.
Câu mắng một ngày một gay gắt hơn.
- Như con nhà không có người dạy thôi!
- Như con nhà ăn cắp, tối nào cũng đi ngủ lang, thứ năm, chủ nhật chẳng lúc nào ở nhà cả. Cái mã mày rồi cũng chẳng ra gì đâu, con ạ,
Đầu tiên chỉ thằng lớn là thằng Đức bị mắng. Rồi cả thằng thứ hai là thằng Tề. Cả hai anh em, trừ những giờ học và hai bữa cơm còn thì biền biệt, chỉ đến nhà bạn. Chúng nó vẫn sợ cha mẹ, vẫn muốn vâng lời lắm, nhưng khó quá. Không khí gia đình dường như ép ngực xuống, chúng phải tìm nơi khác để thở.
Chiều nào cũng vậy, ở trường ra, thằng Đức và mấy bạn không về nhà, nhưng rẽ ngược lên phía cái hồ thùng Đấu để bơi. Mùa rét đến, chúng cũng không bỏ lệ. Đùa, nghịch, nói truyện vẩn, truyện vơ từ việc ông giáo trong lớp cho đến việc mấy cô bé mười lăm xinh xinh học lớp nhất trường con gái. Đi tắm về, và vội vàng cho xong bữa cơm, thằng bé lại cắp cặp đi:
- Con lại đằng người bạn, học ‘‘groupe’’ (nhóm).
Mang tiếng là học, mỗi buổi tối, chúng viết được một bài ám tả còn chỉ đùa. Nói truyện nhảm, hát cải lương, v.v... chán, đêm nào cũng đến mười một giờ khuya mới ngủ. Và thằng Đức ngủ luôn lại nhà bạn đẽ sáng hôm sau đi học một thể. Nơi nó hay lại là nhà thằng Định cùng học một lớp, ở đấy có cả thằng Lợi cùng học năm trước ‘‘đúp’’ lại ở trọ. Ngoài chúng nó, có một bà cụ già là bà ngoại thằng Định, một bà chị dâu và hai con, con bé lớn đã lên năm. Gia đình không có người đàn ông nào nhưng sao êm ái, thuận hòa đến thế! Lại đây, thằng Đức tưởng có một gia đình mới nữa. Cả mấy đứa xưng là ‘‘con’’ với bà cụ và xưng ‘‘em’’ với bà chị. Và hai người đàn bà này cũng tưởng như ba đứa đều là cháu, là em.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
IV
 
 
THẰNG Đức, nằm sắp xuống giường kia.
- Con tưởng thầy chưa về, con đi đón tàu..
-Thì bảo nằm sấp xuống là cứ biết nằm sấp xuống.
Không dám cưỡng lời cha, thằng Đức nằm sấp xuống giường nín thở. Nố biết lần này thể nào cũng phải đòn, nhưng chẳng biết có đau lắm không. Từ thủa nhỏ đến nay là năm mười lăm tuổi, nó chưa hề bị cha đánh một lần nào bao giờ, nên lần này nó cũng thấy rờn rợn.
- Thằng Tề đi xuống bếp lấy cho tao cái que.
Nghe cha bảo, thằng Tề len lét đi xuống rồi một lúc đem lên một cái que nứa. Ông Ký Thảo bóp mạnh một cái rồi vụt thằng bé:
- Lại cái thằng ăn mày này nữa, có đi lấy cái que khác chắc hơn một tý không  ‘‘ông’’ đánh chết cả bây giờ.
Lần đầu tiên, ông Ký xưng ‘‘ông’’. Con người bản tính hiền lành ấy đến cơn giận cũng ăn nói khó nghe như tất cả mọi người. Bà Ký về nhà quê đã hơn một tuần lễ. Ông Ký nhân được nghỉ Toussaint đi hội chợ ba hôm cũng mới về.
Cái gia đình ấy đã tới lúc mỗi người phải tìm hạnh phúc ở một chỗ khác. Mẹ về nhà quê, cha đi Hà nội, lũ trẻ con nhân vậy mỗi đứa đi chơi một chỗ khác. Buổi tối, lúc bước chân vào trong nhà, ông Ký được chứng kiến một cảnh bừa bãi lạ thường; nhà cửa rác rưới, mấy cái giường không trải chiếu, mấy cái ghế đổ nghiêng và một mâm cơm bỏ chưa dọn. Ở nhà có bốn đứa con lớn, một đứa cháu và một thằng nhỏ đều không thấy đâu; sang cả mấy nhà hàng xóm mới lần lượt gọi được từng đứa về. Còn thằng lớn nhất đến hơn tám giờ mới dẫn về.
Thở một hơi dài, lại uống mấy chén nước, cơn giận cũng không nguôi. Đang lúc giận người ta chẳng nghĩ gì cả, chỉ biết làm sao cho hả giận.
Thằng Tề đem lên một cái que tre, nắn thử xong, ông Ký đứng dậy lại bên giường vụt thằng Đức một roi. Thằng bẻ oằn người như một con rắn bi séo.
- Hôm đi, tao đã dặn mày những gì, Đức?
Không trả lời câu hỏi, thằng bé chống chế:
- Tám giờ mười lăm, tàu lên, con đi đón tàu thầy, con không biết thầy về ô tô ca.
Ông Ký nghiến răng vụt một roi nữa:
- Hẵng trả lời câu tao hỏi đã. Lúc tao đi tao dặn mày thế nào?
- Thầy dặn ở nhà trông em, trông nhà...
- Thế mày có nghe lời tao dặn không?
Thằng Đức lặng im không đáp. Nó muốn chối mà không biết tìm câu gì. Cả ba ngày nghỉ, nó đã đi chơi khắp mọi nhà bạn, giá khôn khéo ra một chút thì hôm cuối cùng ở nhà, nhưng nó cũng không ngờ đến nỗi phải đòn.
- Thế nào có nói đi không?
Ông Ký vụt thêm mấy roi nữa. Thằng bé vừa khóc vừa kêu:
- Con lạy thầy, thầy tha cho con, lần sau, con không dám thế nữa.
- Lần sau con không dám thế nữa à, ừ thì lần sau, nhưng lần này ông hãy đánh đủ một trăm roi.
Tiếng roi vun vút như mưa rào. Thằng Tề, thằng Bân, con Dung, thằng Vượng thấy vậy len lét ngồi im, vụt độ hai chục roi, ông Ký lại gọi thằng Tề:
- Xuống lấy cái que khác mau.
Thằng bé xuống bếp lâu không thấy lên. Ông Ký lại gọi thằng nhỏ đứng ngoài sân.
- Nhỏ, kiếm tao cái que chắc chắc một tý...
Cái thằng nhỏ này thay cho thằng Háu bố mẹ bắt về. Ở được ba tháng rồi, nó chưa thấy ông Ký bao giờ lại dữ tợn như thế. Nó cũng sợ nên nghe lời sai bảo vội vàng đi ngay. Đem cái que vào trong nhà đã thấy ông Ký đang cầm cái cây róc vụt bừa.
- Ông cứ đánh đúng một trăm roi. Nhỏ, chạy đâu, đứng đấy đếm nghe không.
Biết có xin nữa cũng vô hiệu, thằng Đức nằm im chờ những ngọn roi. Hai mông đít đã ê đi, nó không biết đau nữa và chỉ tức chứ không sợ. Nó nghĩ thầm:
- Chỉ có thế mà thầy cũng đánh. Mặc kệ thấy muốn đánh bao nhiêu thì đánh, chết là cùng chứ gì, mấy khi bố đã đánh chết con.
Đứa bé mười lăm tuổi ấy đã lờ mờ có một ít định thức về gia đình. Nằm im chịu đòn, nó nhớ lại những lần cha mẹ nó cãi nhau. Cách đây mười hôm, lúc mẹ nó về nhà quê, cũng có một trận sô sát.
- Về làm gì nó tốn tiền?
- Lâu không về thì tôi về, nhân tiện thăm ông chứ về làm gì. Thầy mày đến hay, có thế mà cũng cấm với đoán.
- hì cứ về hẵn đi, về hẳn cái làng Sắn ấy mình cũng không cần.
Xong câu truyện, bà Ký bảo con :
- Đấy mày có nghe thầy mày bảo không. Thầy mày bảo thế cũng tức như bảo về hẳn cái làng Sắn, với thằng bố mày tao cũng không cần.
Thằng bé đã chán về những cảnh cãi nhau ấy. Nó cũng bớt kính trọng cha mẹ nó mấy phần. Nó không thể tưởng rằng hai người làm cha mẹ lại có thể cãi nhau vì những chuyện chẳng ra đâu vào đâu. Lần vì mấy đồng bạc bà Ký hỏi, lần vì cái câu truyện đạo vớ vẩn.
- U mày cứ ở đâu là nợ đấy.
- Thì tôi làm hạnh làm hại gì hay tôi cờ bạc gì mà thầy mày nói như thế. Như thế mà cũng nghe được. Chẳng qua số lương thầy mày đưa về tiêu không đủ tôi phải hỏi thêm... Nào có phải tôi ăn bớt, ăn sén để riêng tôi cho ai.
- U mày theo đạo cứ được như nhà bà Bé ấy là tốt, có khi lại không được như nhà bà ta nữa.
- Phải rồi, tôi theo làm sao được như nhà bà Bé. Tôi theo làm sao được, chưa biết chừng tôi bỏ cũng nên.
Cái nhà bà Bé ấy là một người bán hàng quà, bà Ký vẫn khinh như tất cả những người trung lưu khác khinh những người nghèo khổ. Bà Bé này theo đạo Tin lành, bà Ký vẫn cho rằng theo để hòng nhờ vả, mượn một vài đồng bạc làm vốn buôn bán. Hiểu tâm lý vợ như vậy nên ông Ký lấy ‘‘nhà bà Bé’’ ra so sánh để trêu tức.
Ngọn roi vẫn vun vút vụt trên lưng, trên đít thằng Đức. Thằng bé muốn kêu lên một câu :
- Ở nhà thầy u cứ cãi nhau, chẳng có chút gì là vui vẻ nên con phải đi chơi, con phải đến nhà khác cho đỡ buồn.
Thằng nhỏ đếm đến roi thứ sáu mươi thì bà cụ Giáo và bà Hương ở ngoài bước vào. Cũng như tất cả những bà hàng xóm An-nam khác, họ thấy ông Ký đánh con nên vào can. Bà cụ Giáo nói trước:
- Thôi tôi xin ông, anh ấy đã biết tội rồi thì ông cũng tha cho anh ấy một bận.
Bà Hương tiếp theo :
- Ông đánh thế cũng đủ răn rồi. Tha cho anh ấy không anh ấy đau lắm rồi. Bố mẹ đánh con cho con chừa thì chẳng cần phải đánh nhiều thế.
Ông Ký vẫn còn giận, mặt còn cau, tay còn vụt :
- Cụ và bà cứ để mặc tôi, tôi phải đánh đủ một trăm roi mới được. Mới có sáu mươi hai, còn ba mươi tám roi nữa.
Bà cụ Giáo giữ lấy tay ông Ký, rồi bà Hương kéo thằng Đức dậy. Hai người mỗi người nói một câu tíu tít:
- Thôi ông, tôi xin ông nể tôi một chút.
- Lần sau, chúng tôi không dám xin nữa.
Xong trận đòn ấy, đến ba bốn hôm sau, bà Ký mới lên. Nghe bà cụ Giáo và bà Hương kể truyện lại, bà chỉ lắc đầu, cười gượng:
- Nhà cháu không hay đánh trẻ bao giờ đâu. Đến như vậy là giận lắm đấy.
- Ông ấy người mất nết mà sao cục lạ. Không có chúng tôi thì ông nhất định đánh đủ trăm roi.
Nhưng hai vợ chồng vẫn không đả động gì đến truyện ấy, việc đã qua rồi, bà Ký không muốn nhắc lại và thằng Đức cũng không được bà chiều chuộng. Thằng bé này, sau trận đòn, vẫn không thay đổi được chút nào. Đi học về vẫn đi bơi, tối đến vẫn đi ngủ nhà khác.
Gia đình ông Ký buồn bã như mới có đại tang.
Đối với mọi việc trong nhà, bà Ký lãnh đạm như một người đến ở trọ. Bà chẳng muốn săn sóc đến gì nữa, trong trí đã phác trước một chương trình. Ông chồng như vậy chắc không mong xum họp lâu dài. Không phải là bà chê ông Ký hư đốn hay chơi bời gì, so sánh với nhiều người khác bà cũng nhận rằng ông Ký còn tốt hơn nhiều, nhưng bà cảm thấy cái không hợp giữa hai vợ chồng. Ở với nhau không vui thì chi bằng xa nhau còn hơn, xa nhau, mỗi người nuôi mấy đứa con làm một cái gia đình riêng, ngõ hầu mới có đôi chút hạnh phúc. Bà Ký nghĩ như vậy nhưng không dám liều lĩnh như vậy ngay. Bà đã tính rồi, ở riêng ra thể nào bà cũng mang theo hai đứa con nhỏ, con Ân Điển và thằng Hưng, và con Dung nữa, con bé yếu ớt này không ở với mẹ thì khổ. Cái gia đình bốn người và một đầy tờ nữa là năm, hỏi sống bằng gì ? Ở nhà quê, ruộng không có, vậy chỉ có một cách buôn bán, nhưng buôn bán thế nào đây, vốn đã không có?
- Không, u không về Sắn đâu con ạ. Ở Sắn bây giờ buồn lắm. Bác Chánh mất, cậu hội Kiên, cậu hội Nhân mất, còn được bác Cựu thì con đã biết đấy, con có nhớ cái năm nào bác ấy bảo, bác ấy cho “cái án treo’’ không ? Chị em gái, được một mình bá Lý cũng mất rồi. Còn mấy sào đất và mấy sào ruộng, không thể trông vào đó mà sống... U định kiếm gánh hàng tấm soàng, và cái cửa hàng sén nho nhỏ ở Kinh  Môn. Mấy em mày lớn lên, u cho nó học, ở đấy cũng có trường. Bà Ký nói với con như vậy, cũng chỉ nói với con. Những lời này có một vài lần đến tai ông Ký. Mà không nữa thì ông cũng đã đoán trước được cái ý chia rẽ nhóm trong lòng vợ. Ông biết nhưng ông không cần. Đã có cái định kiến rằng bà Ký không làm ăn, buôn bán gì được và cố nhiên không đi đâu được, ông cũng bất chấp cả mọi điều dự định. Nhiều khi, ông lại còn nói trêu tức:
- U mày muốn ở riêng thì cứ ở riêng ra không ai giữ.
Nói truyện với ông mục sư cũ, hơn một lần, ông tâm sự:
- Vợ với con chán lắm, ông ạ. Nhà tôi chẳng biết gì cả. Ngoài hai bữa cơm, dạy con cũng không xong. Mà đàn bà ở nước ta hầu hết là như thế đấy. Đã chẳng biết gì, bảo lại không được.
May ông Ký còn được cái thủy chung, vợ ông cha mẹ cưới về cho, có lễ nghĩa hẳn hoi, không thể bỏ hay ruồng rẫy được. Trong đời người, ai ai cũng có những cuộc ngoại tình, không thực thì cũng trong ý tưởng. Ngày còn trẻ, đã hai lần, ông Ký đã hai lần mê hai người, một cô giáo và một người buôn bán, hai lần như vậy nhưng ông chưa bao giờ có ý bỏ vợ. Mỗi tháng đưa về mấy chục bạc, cho rằng thế là đủ bổn phận rồi, ông không ngờ rằng chỉ một cử chỉ, một lời nói của ông cũng đủ làm khổ vợ. Có nhiều lúc, vô tình thành độc ác, ông lại lấy việc trêu tức vợ làm một cái thú nữa.
Lần thằng Đức phải đòn, may bà Ký không ở nhà.
-Nếu không vợ chồng lại khằn khò nhau.
Bà Ký thở dài nói như vậy. Nhưng bà không nghĩ rằng một tai nạn qua không đủ để người ta mừng rằng thoát nạn.
Vì chỉ hai tháng sau...
Hai tháng sau, hôm ấy là ngày hai mươi chín Tết, ông Ký đánh thằng Tề, thằng bé này tội nặng hơn lại là đứa con yêu của bà Ký. Mấy ngày trước, thằng bé đã dám nói dối, mượn bà cụ Giáo bốn hào tiêu. Đến lúc chuyện vỡ ra, phần sợ phải đòn, phần liều lĩnh, nó lại ra nói dối bà Ký Thu mượn một chục bạc cho mẹ. Với số tiền ấy, chẳng biết nó định bỏ đi đến đâu, thằng bé mười hai tuổi ấy. May bà Thu chỉ đưa cho có một đồng bạc, nên đến Hà nội hết tiền, nó lại quay về. Cố nhiên trận đòn phải đau. Lần này, ông Ký đánh bằng thước kẻ.
- Mày có biết tội gì không, Tề?
Thằng bé gan góc, không trả lời chỉ nằm im chịu đòn. Ngồi ở giường bên, bà Ký vừa thương con vừa hối hận. Bà cho rằng tại mình nên cái lỗi nhỏ của con biến thành lỗi to. Hôm câu truyện thằng bé nói dối mượn tiền vỡ ra, giá bà dịu dàng bảo con vài câu thì xong, nhưng bà đã quá nóng:
- Thôi tao không có đâu mà cho, mày mượn bà cụ không có trả thì sang xin bà cụ đi rồi bà cụ cho.
Bởi thế nên thằng bé bỏ đi rồi thằng bé phải đòn. Thực là lỗi tự bà cả. Bây giờ làm thế nào đây, làm thế nào thì nó cũng phải đòn rồi.
- Cả một lò, cả một lò ăn cắp, nói dối. Cái này tự mẹ nó đây.
Nghe chồng nói như vậy, đang buồn lại giận, bà Ký cãi:
- Phải tự mẹ nó, chỉ cái lò mẹ nó mới có những cái hư ấy, còn bố nó có chuyện xấu gì đâu, hay cả, hay cả... các chú bác nó là người ngoan cả.
Bà có ý nhắc ông Ký những chuyện cũ đã xẩy ra trong gia đình cụ Cử mấy chục năm trước. Ngày ấy ông Ba, ông Sáu cũng nói dối lấy tiền của cha và cũng phải đòn như thằng Tề bây giờ. Nhưng câu nói của bà chỉ như tưới thêm dầu vào ngọn lửa đương cháy sẵn. Ông Ký nghiến răng lại càng vụt khỏe rồi trong cơn nóng giận, ông nói những câu có vẻ tàn ác:
- Ông phải đánh cho chúng mày khổ với nhau một thể này.
Đánh con thành ra không phải để dạy con nữa. Bà Ký sót lòng kêu lên :
- Thầy mày có đánh chết được con thì cứ đánh nữa đi. Thì bác Ba, thì chú Sáu ngày trước còn hư nữa, có bao giờ ông đánh như vậy không. Gớm người tưởng hiền lành mà cục lạ. Đánh con như đánh kẻ thù vậy thôi.
Lúc ấy bà cụ Giáo và bà cụ Hương bước vào. Một lần nữa, hai người đàn bà này can thiệp vào việc gia đình ông bà Ký Thảo.
- Ông đánh em Tề như vậy là nhiều lắm rồi. Ông tha cho không em nó chết mất.
- Ông nể chúng tôi một chút để cậu ấy mai còn đi học chứ.
- No mất ngon, giận mất khôn. Ông tỉnh trí lại một chút, ai lại đánh con như vậy bao giờ không. Này bà lại mà xem cái đít thằng em. Ai lại tím cả lên thế này.
Nhìn những vết đòn ngang dọc liền nhau trên mông đít con, nhiều cái tím lịm muốn bật máu tươi, bà Ký đau lòng muốn khóc. Thằng bé đau quá, chưa đến nỗi ngất đi, nhưng cũng nằm không dậy được, chân tay mồ hôi giá lạnh.
Thở một hơi dài, bà Ký thấy giận chồng thêm một độ nữa. Ý nghĩ ra đi ở riêng lại nỗi dậy trong trí bà.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.03.2021 22:38:07 bởi Ct.Ly>
V
 
 
NGƯỜI ta đã như vậy thì bà cứ bỏ phắt đi có được không ?
- Thưa bà, ý tôi thì đến khi nào tôi không ở đây nữa về nhà quê, bấy giờ có bỏ thì mới bỏ, mỗi lúc theo rồi mỗi lúc bỏ nó cũng phiền, nhưng cớ sự đến như thế này thì
đến bỏ thật. Tôi chỉ sợ người ta cười...
- Người ta là ai ? Có chúng tôi thì việc bà làm phải như vậy còn cười vào đâu được nữa.
- Kể ra thì trước, tôi chưa bỏ cũng như là bỏ rồi. Thứ năm chủ nhật, có mấy khi bà thấy tôi đi nhà giảng đâu.Trước kia còn bà mục sư, đến còn vui vẻ chứ từ độ ông bà này về, bà ấy thế nào ấy mà.. Lại cái việc nhà bà Minh Thịnh này nữa...
- Bà vẫn không nhất định chút nào, thì mình bỏ là cứ bỏ.
Một buổi chiều, bà Ký Thảo và bà Thừa Minh, hai người đã bàn với nhau như vậy. Bà Ký định bỏ đạo bỏ hẳn để sống như ngày bà chưa cúi đầu cầu nguyện, chưa nhận có một Chúa là Jésus Christ.
Trước kia bà theo đạo có nhiều cớ thì bây giờ bà bỏ đạo cũng có nhiều cớ. Những cớ gián tiếp là việc bà mục sư về Hà nội và những lời của ông Ký. Trước kia, lúc chưa theo đạo, cả hai vợ chồng cùng nghĩ rằng nếu cả hai người cùng đi đạo thì trong gia đình hòa thuận. Nhưng kết quả không như vậy. Được một dạo ông bà mục sư ở gần còn khá, nhưng từ khi ông bà này đổi đi, hai vợ chồng xung khắc lại hoàn xung khắc.
- U mày theo được cũng còn khó. Có một việc đi nhà giảng cũng còn làm biếng không đi...
-  U mày nói về đạo thì còn biết gì, mà nói.
- U mày cứ theo được như nhà bà Bé là tốt, sợ lại không được như nhà bà ta nữa.
Nghe chồng nói, lần nào bà Ký cũng phát bẳn.
- Thì rồi tôi bỏ cho mà xem.
Ông Ký bĩu môi:
-  Ừ, u mày có bỏ cũng phải, cũng nên lắm, chứ theo như u mày thì theo làm gì cho nó phiền.
Thì lần này bà Ký bỏ thực. Cái cớ trực tiếp là việc lôi thôi vì nhà bà Minh Thịnh. Câu truyện đôi co ấy, cứ nhớ lại là bà Ký tức, phải bình tĩnh mãi bà mới kể được cho rành mạch cho chồng nghe như sau này:
- Cái nhà bà Minh Thịnh ấy tưởng là tốt, ai ngờ lại tối, lại điêu thế. Hôm vừa rồi, tôi lại đằng bà Thừa thấy bà ấy bảo cái con mẹ phó đoản ‘‘ Bác bô’’ nó sang nó bảo nó chửi, nó xé tôi chẳng ra gì cả. Thì ra nhà bà Minh Thịnh đi ton hót với nó rằng tôi bảo nó là đồ vợ tây bần tiện, khốn nạn, chồng nó sắp bỏ chứ danh giá gì...
Ông Ký nghe vợ thuật lại liền mỉm cười:
- Ai bảo u mày nói như vậy ?
- Nghe thầy mày nói tức cả mình. Nào tôi đã kể xong đâu. Những câu nói ấy toàn là của nhà bà ta nói ra cả rồi, bà ta gán cho mình, thế mới tức chứ. Bà ta còn nói nhiều nữa như chồng nó có làm phép cưới đâu thế mà nó vẫn vênh cái mặt nó lên, bắt đầy tớ gọi là bà lớn.
- Nhưng nhà bà ta bảo nó rằng u mày nói để làm gì, bà ta có thù gì với mình đâu ?
Nghe chồng hỏi dềnh dàng, bà Ký bực cả mình nhưng cố điềm tĩnh đáp:
- Thầy mày biết đâu những cái chuyện ấy, chính tôi cũng còn không ngờ nữa là. Chả hôm cuối tháng vừa rồi, nhà bà ta lên thu tiền nhà, con mẹ ấy nó bảo rằng đáng lẽ nó dọn đi rồi cơ đấy vì chồng nó muốn thế, nhưng bởi nó nên mới ở lại. Nó lại khéo phỉnh nịnh vài câu là nhà bà ta kể luôn câu chuyện để làm quà. Hôm vừa rồi tôi vào tôi tìm con mẹ ấy tôi bảo thì nó xin lỗi ngay. Con mẹ ấy nó bộp chộp chẳng có tâm địa gì cả. Ở đấy ra, tôi cũng xuống nhà ông bà Minh Thịnh. Khó chịu cái nhà ông ta, đàn ông mà bênh vợ chằm chặp.
Ngừng lại một chút, bà Ký thêm:
- Tôi nhất định tôi bỏ đạo đấy. Trước kia có bà mục sư khác, bây giờ lại nhà giảng gặp cái nhà bà khó chịu ấy, tôi không vào.
Ông Ký nhếch mép nói mỉa:
- U mày còn nhớ những cái ‘‘án treo, án sách’’ không mà không theo.
Nhớ lại những lời khó chịu của ông anh cả là ông Cựu, bà Ký bất giác thở dài. Nhưng bà lại tự nhủ:
- Dù sao mình cũng bỏ.
Ý định này, kể cho bà Thừa nghe xong, bà Ký còn kể lại cho bà Tiếp cùng theo đạo Tin Lành và thằng con lớn là thằng Đức. Bà Tiếp không tỏ một thái độ rõ rệt vì bà này còn theo đạo. Còn Thằng Đức nghe mẹ nói, đầu tiên nó còn khuyên:
- Bà ấy không tốt thì mặc bà ấy, u theo đạo là theo Chúa, chứ có phải là theo bà ấy đâu, bà mục sư trước kia bà ấy chẳng bảo thế là gì. Bây giờ thầy theo, u không theo trong nhà còn ra làm sao nữa.
Bà Ký ngẩn người ra suy nghĩ. Không đợi con bảo, bà mới biết rằng gia đình hai tôn giáo sẽ có lắm sự chẳng lành. Nhưng bà đã quyết, liền bảo con:
- Thầy mày theo thì mặc thầy mày, còn tao không theo thì mặc tao. Thầy mày chẳng bắt được tao, còn tao cũng chẳng giữ được thầy mày. Mày coi đấy thì biết, dù tao còn theo liệu trong nhà có giữ được yên vui không đã. Vả lại rồi tao cũng về nhà quê chứ có ở lại đây đâu.
Từ buổi đó, đi đâu bà Ký cũng tuyên bố rằng đã bỏ đạo. Ai nghe thấy như vậy cũng khen ngợi. Ai tức là bà cụ Ấm, bà Ký Thu, mấy bà Thừa và ít người quen khác.
- Vâng, bà bỏ là phải, theo làm quái gì cái đạo ấy.
- Tôi biết trước thế nào rồi bà cũng bỏ mà.
Người ta tán thành, người ta phỉnh nịnh bà Ký; có một vài người can gián là bà thầy giảng Dần, cả ông ta nữa thì chỉ để cho bà thêm ghét thêm thù.
Ông Ký Thảo không bao giờ khuyên vợ được một câu, chỉ thỉnh thoảng lại mỉa mai:
- U mày sắp sửa vàng hương mà đi vái mấy cái gốc đa.
- Bỏ đạo tưởng là hay lắm đấy. Người ta cho không lại đi lạy từ con chó đá đi ấy à. Rồi thì bát hương nó đè nặng hai vai..,
Nhưng những lần ấy không cãi nhau, bà Ký chỉ gạt lời chồng bằng cách chối :
- Thì thầy mày xem trước kia, lúc tôi chưa theo, tôi có tin nhảm như thế không.
Rồi một ngày, cái ngày bà Ký thắp hương...
Mua một nải chuối, thổi một chõ xôi, bầy chuối xôi lên bàn vái mấy vái, người đàn bà ấy chỉ làm theo lời dặn của cha mẹ, cho nó đúng với tổ truyền. Nhiều lúc, bà cũng chẳng tin gì cả, nhất là lần thắp hương đầu tiên sau khi bỏ đạo, lại càng không tin hơn nữa.
- Thì có mất gì, mua chuối thổi xôi rồi con cái nó ăn chứ có mất đi đâu. vả lại, mình không theo đạo nữa cũng có cái gì khác chứ, nếu chỉ khác cái không đi nhà thờ thì ngay lúc còn theo mình cũng có hay đi đâu.
Nếu thắp hương xong mà dấu diếm đi thì chẳng có chuyện gì. Nhưng bà Ký lại có ý trêu chồng chơi, nhân thể tỏ ra rằng bà muốn cúng thì cúng chứ không sợ, bà không phải vụng trộm gì cả. Nhưng không ngờ như vậy bà bị một mẻ bực tức.
Đi đạo có lệ không ăn của cúng. Chớ nên vi miếng ăn mà phạm tội, ăn của cúng tức là giao thông với ma quỷ, bà Ký nhớ có một lần ông mục sư giảng như vậy. Lợi dụng chỗ đó, bà để lại mấy quả chuối và đĩa xôi xem chồng bà có ăn không. Đoạn bà dặn mấy đứa con hễ lúc nào cha về thì bảo như là vô tình:
- Hôm nay u thắp hương đấy, thầy ạ. Xôi chuối phần thầy kia kìa.
Cách sắp đặt như thế thực là ổn thỏa. Chắc thế nào ông Ký cũng tức mà không làm gì được. Hai vợ chồng đã đến lúc không còn mảy may kính mến nhau, vô tình mà trở nên ích kỷ.
Nhưng mọi việc xảy ra trái hẳn với ý định của bà Ký.
Buổi trưa hôm đó, lúc cầm đến đĩa xôi, quả chuối và nghe thấy thằng con út là thằng Hưng bảo ‘‘xôi chuối u thắp hương’’, ông Ký đã toan đặt xuống. Nhưng ông lại điềm nhiên ăn. À vợ ông lại định trêu tức, đã thế ông cho tức một mẻ!
- Của cúng mà thầy cũng ăn à?
Con Dung hỏi cha như vậy vừa lúc bà Ký trong nhà đi ra.
- Cúng gì ? U mày cúng thần à? Thì thần đang hưởng xôi chuối đây.
Ông Ký nói xong gọi thằng Hưng cho một quả chuối nữa rồi nhìn con ăn, ông vừa cười vừa nói
- Lại ông thần Hưng này nữa. Gớm ông thần này ông ấy ăn mới mau chứ.
Tất cả lũ trẻ cười ầm lên, còn bà Ký xám mặt lại:
- Thầy mày ăn nói đến hay thôi. Chỉ quen báng bổ.
ộng Ký cũng cười to :
- Thì người ta nói thực mà lại. Chả ông thần Hưng ông ấy đang ăn là gì kia,
Nghiêm sắc mặt, ông Ký lại nói:
- U mày nói gi thì nói nhưng phải nói cho ra lẽ. Bây giờ người ta hỏi: U mày hôm nay cúng là cúng ai.
Không trả lời, bà Ký cũng hỏi lại :
- Thế thầy mày chủ nhật đi nhà giảng làm gì ?
- Người ta đi thờ Trời.
- Thì tôi cũng cúng Trời.
- Nhưng mà Trời không biết ăn chuối.
- Cúng gì, cúng con chó ấy à.
Ông Ký nói lỡ mồm vội chữa lại:
- Cúng con chó đá ấy à ?
- Thế ông ngày trước cũng vẫn cúng chó cả đấy.
Bà Ký nói vậy chỉ càng làm ông Ký tức thêm :
- Ông cúng nhưng mà ông không cúng như thế. Ngu chẳng biết cái gì cả lại cứ ương. Im người ta nói cho mà nghe. Ngày rằm tức là…
Không để cho chồng nói hết, bà Ký ngắt lời :
- Thì ông ngày trước chẳng thắp hương ở cái miếu đằng sau đấy à?
Truyện đã đến thế thì không còn ôn tồn được nữa. Ông Ký gắt:
- Thôi u mày thích đi cúng thì đi đâu, đi chỗ nào mà cúng. Có muốn cúng luôn thì về Sắn mà cúng, chứ đừng ở đây làm người ta phải nói.
Lòng tự ái của cả hai vợ chồng đều bị thương. Buổi chiều hôm đó, bà Ký bảo thằng con lớn :
- Đấy mày xem, thầy mày đấy, như thế liệu tao có còn ở lâu được không. Thầy mày thâm lắm, lúc nẫy, thầy mày bảo về Sắn mà cúng tức là : về Sắn với thằng bố mày mà cúng, mày đã nghe ra chưa. Người ta, bảo còn quý vợ, trọng bố vợ, chứ thầy mày khinh bạc như thế đấy.
Thằng Đức nghe mẹ nói thở dài. Nó không ngờ một việc nhỏ là thắp hương mà có thể xẩy ra đến thế. Tuổi mười lăm không cho nó tìm được cách nào để giải quyết. Nó chỉ buồn, nó chỉ chán, kết cuộc là đến nhà bạn chơi cho khuây.
 
 
 
 
 
 
 
 
VI
 
 
THẰNG TỀ đã bỏ nhà đi một lượt rồi, lại bỏ đi một lượt nữa. Ấy là thằng bé mới mười hai tuổi đầu, học lớp ba trường kiêm bị. Nó cũng bị ‘‘đúp’’ như anh nó nhưng không phải vì thi trượt Sơ học yếu lược, mà vì thiếu tuổi, đáng lẽ mười một tuổi tây giấy khai sinh chậm thành ra
chỉ có chín. Người ta đã ngạc nhiên và không hiểu tại sao nó có thể hư như vậy. Ông Ký đổ tại vợ, vì bà Ký không biết dạy con, vì bà Ký bỏ đạo Tin Lành, vì tính nết di truyền ở bà Ký. Đến bà Ký, bà này lại đổ
lại cho chồng, vì ông Ký đi đạo, vì ông Ký làm cho gia đình mất sự thuận hòa... ‘‘Có thầy mày thì thầy mày dạy nó, nếu như nhà người ta bố chết, bấy giờ tôi sẽ liệu’’.
 
Người ngoài nhìn vào cái gia đình ấy mỗi người nói một phách. Bà cụ Ấm cho là tại mồ mả:
- Chắc là trong nhà có ngôi mộ ly tổ. Thế các ông ấy trước có ai bỏ đi bao giờ không?
- Thưa cụ, các bác, các chú cháu mà bỏ nhà đi như thằng cháu này thì nhiều bận lắm. Chính nhà cháu cũng một bận lấy của ông cháu mấy chục bạc bỏ đi nữa là.
Bà Ký Thu thì lại cho là do một cớ khác. Bà này bàn với chồng:
- Ông bà Ký Thảo có cái thằng thứ hai hư quá cậu nhỉ. Cũng tại ông bà ấy chẳng bao giờ thuận hòa để mà dạy con. Mình có con như vậy thì mình quật chết. Con với cái, không con thì đừng.
Nói như vậy nhưng trong lòng bà này vẫn thầm mong. Có một đứa con hư dù sao cũng còn hơn không có đứa nào.
Hai vợ chồng ông bà Thừa Minh không hay bàn việc nhà người cũng phải bảo:
-         Quái, ông bà Ký hiền lành mấy các anh ấy ngày trước cũng ngoan ngoãn mà sao bây giờ lắm chuyện lôi thôi nhỉ. Chắc tại ông bà ấy theo đạo Tin Lành.
Lần đầu tiên, thằng Tề chỉ đi đến Hà nội. Lần sau này nó đi xa hơn nữa. Rủ một thằng bạn cùng học một lớp là thằng Diên, sui thằng bé ăn cắp mấy đồng bạc, hai đứa định đi xa lắm kia đấy. Nhưng thằng Diên thì người nhà bắt về được, còn thằng Tề đi xe hỏa lên đến Gia lâm rồi đi bộ bốn ngày đường về đến quê. Tất cả mọi người trong làng, từ ông cụ Bá sinh ra bà Ký cho đến nhà chị nhiêu Vẹn không có họ, ai cũng lạ vì thằng bé đang ở với cha mẹ sao lại trở về. Hỏi thì nó kể nhiều chuyện ghê lắm mà nghe như thực. Nào nó cùng đi với cha mang bạc lên Hanoi, rồi bị cướp. Nó nằm ở nhà thương Hải dương khỏi rồi mới về đây chơi. Muốn chứng thực lời nói, nó chìa cái sẹo dài như một con rết nằm ngang bụng bảo đấy là sẹo cướp đâm. Chính là cái sẹo nó trèo cây ổi soạc ra, sau ăn rau muống nhiều nên lồi lên.
Giá không có cái bà Quản Toóng thì chắc còn lắm chuyện vừa buồn cười vừa bực mình nữa. Lại cái bà này mang tin ở nhà quê lên cho bà Ký.
- Bà ạ không biết cái thằng Tề nhà bà làm sao lại về nhà quê nói những chuyện nghe ghê cả người lên.
Bà Ký chỉ có việc vội vàng đáp ngay tàu hỏa sang Gia Lâm, rồi lại từ Gia Lâm về ga Phú Thái, lại quãng đường bộ dài mười cây số nữa, thật là vất vả vì con. Còn có một tháng nữa thì đi thi, thằng bé phải lên ngay để đi học không thì không được thi.
Dỗ được con lên, người mẹ đáng thương ấy còn phải tìm cách che chở để tránh cái trận đòn kinh người của ông Ký. Lần ấy thằng Tề không phải đòn. Bà Ký phải cắn răng nhịn chồng bao nhiêu câu.
Nhà cửa yên ổn được đến trước hôm thi Sơ học yếu lược một ngày. Thứ hai thi, chủ nhật ông Ký sai thằng Đức đi mua giấy bút cho em, thằng bé này đi rồi thấy mất hút Đến tối không thấy con về, bà Ký đành lại sai thằng Tề đi mua vậy. Rồi hai vợ chồng ở nhà khằn khò nhau:
-         Ăn mày cả một lũ, cầm có mấy hào chỉ ra phố mà không tin được.
- Chắc có việc gì lôi thôi, cùng lắm là nó tiêu hết tiền nên chưa về, thế mà thầy mày cũng vơ đũa cả nắm được. Ăn mày cả lũ...
- Vâng thế thì con bà giỏi…
Trong lúc ấy, thằng Đức đang ở nhà thằng Định, vừa nói truyện vừa lo không biết ngày mai về nhà nói ra làm sao, tìm câu nói dối nào đây. Buổi sáng, cha đưa tiền mua giấy cho em, đáng lẽ đi mua về đã rồi đi đâu hãy đi, nó lại theo nẻo ra sông để bơi một vài vòng sông cho đỡ buồn, cả cái năm học lại ấy thỉnh thoảng thằng bé lại thấy buồn, thấy chán như có thể tự tử ngay được. Tắm xong vẫn chưa lấy lại được sự bình tĩnh, nó đi loăng quăng nơi nọ nơi kia đến gần hai giờ thì vào rạp chiếu bóng. Ở Bắc giang bấy giờ có cái rạp chiếu bóng rong, mỗi tuần lễ chiếu mấy ngày, thứ tư, thứ năm và thứ bảy, chủ nhật. Thường chiếu bóng ban ngày, hạng chót giá năm xu, Đức ta và các bạn vẫn ngoài hạng ấy, nhưng lần này trong túi có ba hào. Là tiền gì mặc dầu, lúc tiêu cũng tiêu được tất- hai thằng Đức và Định ngồi hạng trên một hào một vé, lại còn có thuốc lá hút phì phèo nữa.
Ở rạp chiếu bóng ra, cả một buổi chiều bối rối mong mãi mới hết, buổi tối ở nhà thằng bạn, ngủ ở đấy, đến nửa đêm, thằng Đức tỉnh dậy và nôn thốc, nôn tháo ra nhà. Ấy là kết quả của cả một ngày đi nắng và tắm giữa buổi trưa. Cả ngày hôm sau, nó vẫn ở lỳ nhà bạn không về nhà. Đến ngày hôm sau nữa, mẹ và em đi tìm ghê lắm, nó mới khật khưỡng về nhà với cơn sốt ba mươi chín độ. Ấy cũng may nó không đâm đầu xuống sông hay lăn vào đường sắt. Tuổi mười lăm, tinh thần nó cũng đã khủng hoảng lắm. Lần trước, anh đi tìm em, lần này em đi tìm anh. Trước khi về nhà, Đức và Tề hai anh em đã đi sóng nhau bên cạnh đường tàu, lối đi Hà nội, khỏi tỉnh lỵ đến hơn một cây số.
- Thôi mày về đi, lúc nào tao muốn về thì tao về. Hễ mày đi theo nữa thì tao nằm vào đường tàu cho mà xem.
- Bao giờ anh về, em mới về. Anh đi về đi, em thi đỗ rồi, thầy vui thầy không đánh đâu.
- Thầy đánh thì đánh tao cũng chẳng cần nhưng lúc này tao đang bực lắm đây. Mày cứ lải nhải đi theo. Tao tức mình tao lại cho cái tát bây giờ.
Thằng Tề không về, thằng Đức tức mình đánh em. Hai anh em cùng khóc.
Về đến nhà, thằng Đức vào giường đắp chăn ngay, bà Ký sờ trán con thấy nóng hầm hập cũng hoảng hồn. Bà lại còn ngại ông chồng trong cơn nóng giận đánh con nữa. Bởi vậy lúc ông Ký bước chân vào trong cửa, bà đã săn đón trước :
- Thằng Đức nó về rồi đấy. Nó ốm nên phải ở lại nhà thằng bạn đến hôm nay đấy mà. Thầy mày cũng đừng nói gì vội, đợi nó khỏi đã hẵng hay nhé.
Lại được một lần may mắn nữa, ông Ký không giận dữ. Nhưng dư luận trong tỉnh đã thấy xôn xao. Bà Ký đi đâu cũng thấy người hỏi thăm cái cậu lớn nhà bà đã về chưa nên càng buồn bã.
Từ năm lên Bắc giang, lần này thằng Đức ốm nặng nhất. Thân thể nó mỏi mệt lạ thường, hai chân, hai tay như muốn rời khỏi mình, trong đầu như có mấy cân chì. Nằm liệt giường mấy hôm, không ăn uống gì, bao nhiêu thịt tiêu đi hết cả chỉ còn xương, mặt mày vêu vao, hốc hác, ai trông thấy cũng phải sợ. Đã thế tinh thần nó lại hỗn loạn. Trước mắt nó hiện ra bao nhiêu ma quái với những hình ảnh sợ chết khiếp đi được, nhiều khi mẹ nói ở bên tai, nó cũng chẳng hiểu gì cả.
Bà Ký bắt đầu lo con chết tuy rằng bà nhiều con đến gần như là thừa. Ông Ký cũng bắt đầu đi đón ông lang, ấy là bất đắc dĩ lắm. Ông rất tiếc tiền uống thuốc. Lệ đã định rằng, ốm bệnh trong thì uống aspirine hay quinine, ốm bệnh ngồi thì bôi thuốc xin ở nhà thương, nhưng lần này đành trái lệ vậy.
Thằng Đức ốm nặng quá, dù nó hư, nó hỏng thế nào chăng nữa, cũng vẫn là con và nó nằm ỳ ra đấy nếu không lo thuốc thang thì cũng phải lo tống táng, đằng nào cũng vậy. Nửa tháng nữa nó đi thi, điều ấy mới rầy, làm thế nào khỏi trước thời hạn ấy được ?
Ông Ký Thảo quen một ông lang, ngày thường ông vẫn không phục tài và không tin gì ông này nhưng đến lúc bĩ, cũng cứ mời liều. Một thang, hai thang, ba thang, rồi bốn năm thang, bệnh cũng thấy chuyển nhưng xem chừng khó bình phục để đi thi lắm. Ông Ký sốt ruột đâm gắt gỏng:
- Hừ, rồi ăn mày cả lũ. Năm ngoái đi thi hỏng, năm nay ốm không thi. Toi công, toi công; rồi thì ăn mày cả một lũ.
Bà Ký nghe nói, dằn lòng không được liền cãi lại:
- Nói dại, bây giờ nó chết đi cũng đến chịu, chứ không thi mà đã quan trọng thế ư. Thầy mày có thấy con ông cụ Phán không đấy vừa đỗ cử nhân xong, lăn queo ngay ra cũn đành, nữa là...
- Thì cứ chết ngay đi còn hơn là sống mà ăn mày. Hay có rủ nhau đi ăn mày cả lũ thì đi đi.
Nằm trong giường, nghe cha mẹ cãi nhau, dù mệt lả, thằng Đức cũng gượng ngồi dậy, vén màn nói cho yên lòng hai người thân :
- Con đỡ nhiều rồi và thế nào cũng đỗ. Thầy u không lo.
Thấy vậy ông Ký lặng im, còn bà Ký đỡ con nằm xuống :
- Thôi, hẵng khỏi bệnh đã, còn thi cử là việc sau. Con nằm xuống cho đỡ mệt.
 
 
 
 
 
 
 
 
VII


 
CON bị ‘‘erreur’’ cả hai con tính nhưng thế nào cũng đỗ.
Ông Ký bĩu môi, lặng im nhìn con hồi lâu mới nói :
- Có hai con tính hỏng cả còn đỗ với đạt gì, thôi ngày mai không phải đi Bắc Ninh xem bảng làm gì cho phí tiền đi.
Thắng Đức cố phân trần :
- Hai con tính, một con, con chép nhầm chữ số đầu bài, một con, con nhân nhầm một con tính cuối cùng, không bị zéro đâu, thể nào mỗi con cũng phải được ba bốn nốt. Năm nay dictée con zéro faute, rédaction cũng khá, làm gì mà không đỗ, thầy đừng lo.
Nói một câu dài, nó mệt nằm xuống. Đến hôm ấy nó vẫn còn ốm chưa khỏi và hôm đi thi, nó mang cả bệnh vào trường. Trượt một lần năm ngoái, nó bắt đầu khinh thi, ghét thi và trong lòng bỗng nảy ra nhiều ý tưởng kiêu ngạo:
- Làm quái gì chẳng đỗ, có năm trước tại mình khờ quá.
- Một bài dictée, vài con tính, bài rédaction... cả mấy năm học, bao nhiêu là công phu mà thi chỉ có như vậy, trượt nữa thì vừa.
Buổi sáng thi mấy bài chữ Tây, nó tỉnh táo không mệt nên làm được trọn vẹn lắm. Vừa viết dictée, nó còn nhìn sang cả bài bên cạnh bảo sáu bảy chữ nhầm, cái anh chàng cũng tên là Đức ấy kém quá, lúc ở ngoài sân, người anh đã nhờ nó cho ‘‘cóp’’  Nó cũng chẳng hẹp gì và bất cần cả cái bà đầm coi thi. Xong buổi sáng, nó yên trí lắm rồi, buổi chiều còn có hai con tính là quan hệ, nó lại giỏi tính xưa nay, không ngờ hai con tính nó cũng làm nhầm cả.
- Nhầm thế chứ nhầm nữa cũng đỗ.
Thằng Đức vẫn thản nhiên mà tuyên bố như vậy với mấy bạn cùng lớp. Về nhà nói với cha, nó cũng giữ luận điệu ấy. Nó không ngờ thực thà như thế là dại. Ông Ký cứ nhất định rằng còn trượt, nên nói ra nhiều câu nghe chẳng êm tai chút nào:
- Khoe giỏi, khoe giang nửa đi. Thế mà nhất lớp đấy. Giỏi tính mà đi thi có hai con tính làm hỏng cả. Trông cái thằng Tắc xem, nó bét lớp đấy. Bét nhưng mà nó đỗ.
- Năm ngoái trượt rồi năm nay lại trượt, rồi thì đi ăn mày.
- Bảo những đứa đỗ nó ỉa cho một bãi mà ăn nhé.
Đã lần năm ngoái đi thi trượt bị mắng, lại lần năm nay hỏng tính bị mắng, thằng Đức đâm ra lãnh đạm với sự thắng bại. Nó tự nhủ:
- Đỗ hay không cũng chẳng cần. Mà làm gì chẳng đỗ cơ chứ!
Đã không phục những cách cha cư xử với mẹ, lại nghe những câu mắng chẳng cao thượng chút nào, nó coi thường cha và thấy hết cả kính mến. Con người trước kia, đứng ngoài địa vị một người con, nó còn trọng vì tư cách, vì tính nết hóa ra cũng có những sự kém hèn. Đã biết rằng con không học dốt, đã được nghe thầy dạy con khen thằng Đức học được, thằng Đức học khá, ông Ký còn cần gì phải thấy con đỗ mới vui! Và những câu nói nó biểu lộ cả tâm hồn một con người, hỡi ơi, ông Ký đã quên câu uốn lưỡi bảy lần rồi hãy nói ư?
Ở nhà hai ngày, đến hôm thứ ba hôm ấy ông Ký được nghĩ - hai cha con lại đáp tàu đi Bắc ninh. Dù nói ra miệng rằng con trượt, ông Ký cũng vẫn hy vọng. Nghe lời người này, người khác, chính ông thân hành dẫn con đi thì vấn đáp. Không lẽ không may cả hai năm, lần này, mấy chữ Vũ đình Đức rành rành trên tờ giấy đánh
Mất một buổi sáng vào vấn đáp - cơn sốt hôm ấy nó cũng nể hai cha con - mới xong hẳn việc thi cử. Yên lòng cả một gia đình.
Về nhà, ông Ký Thảo đỡ gắt gỏng; bà Ký vui vẻ kể với mọi người thằng cháu năm nay ốm mà đi thì cũng đỗ, thằng Đức cũng hy vọng cuộc đời mới học Hà nội, ở Hà nội xa cái gia đình đầy sự phiền não này.
Nhưng chỉ được hai hôm, đến hôm thứ ba, vì một việc rất nhỏ là tắm, tắm cho sạch những cái ghét, mồ hơi bám vào thân thể nửa tháng liệt giường, thằng bé lại ốm lại. Buông một cái màn, đóng một cái cửa, sắc một siêu thuốc, ngần ấy việc chưa xong, những câu khằn khò khó chịu của hai vợ chồng lại nổi dậy:
- Ngu lạ, vừa mới ốm xong đã đi tắm. Ngu như thế thì chết.
- Thầy mày khôn sao thầy mày không bảo, thì lúc nó chưa tắm nó chẳng hỏi thầy mày đấy ư ?
- Tưởng tắm là tắm qua loa, rửa cái mình cho sạch thôi, chứ ngâm hàng giờ thế thì không chết là may đấy.
- Thầy mày nói cái gì cũng chỉ lấy cái áp chế, nói phần được về mình thì thằng bé nằm gần một tháng trong giường, mồ hôi, cáu, ghét, đã tắm thì phải tắm cho sạch hết chứ.
Thằng Đức buồn rầu vì cha mẹ nó cấm ôn tồn bàn tính với nhau một việc gì bao giờ, dường như lúc nào cũng sẵn sàng đi cãi nhau được. Đỗ kỳ thi Sơ-học-Pháp- Việt này nó cũng không được mãn nguyện. Cả một năm qua hiện ra trước mắt, những chuyện em nó bỏ nhà đi, nó phải đòn, em nó phải đòn, mẹ nó bỏ đạo, những chuyện cãi cọ trong gia đình giữa hai người lớn ám ảnh mãi tâm trí sui nên những ý nghĩ bâng khuâng. Tuổi mười lăm chưa có một định thức về cuộc đời chưa có một trí suy xét hẳn hoi nên nó không tìm được một cách giải quyết nào cả. Lại cảnh nghèo trong nhà, thằng bé bực mình tại sao cha mẹ nó không giàu hơn chút nữa, nó lại tin rằng sở dĩ nhà nó nghèo vì cha mẹ nó không hòa thuận.
- Chẳng biết rồi mình đi học ra làm sao, lấy tiền ở đâu đây?
Lương ông Ký đã tăng lên đến ba mươi lăm đồng, nhưng tính ra ai cũng biết rằng cho được con đi học khó lắm. Giá năm trước, thằng Đức đỗ, nhờ vả người nọ người kia một chút, ông giáo Chi hứa cách nhận làm con nuôi không mất tiền học, ông mục sư hứa một chỗ ở trọ chỉ ba đồng, giá năm trước nó đỗ, năm nay nó đã lên năm thứ hai rồi, và chỉ ba năm nữa là thi ‘‘diplôme’’.
Con ốm chưa khỏi, ông bà Ký Thảo lại cãi nhau vì không đồng ý ở chỗ cho con đi học, vợ chồng nhà ấy hình như cố ý trái nhau về tất cả mọi chuyện:
- Thằng Đức gửi sang Hà nội cũng lại đến gửi ông mục sư. Năm ngoái tính gửi ông ấy một tháng ba đồng, năm nay đắt đỏ hơn thì gửi ông bà ấy bốn đồng.
Nghe chồng nói như vậy, bà Ký cãi:
- Phiền ông bà ấy làm gì, thành ra thằng bé về sau cứ chịu mang ơn mãi mấy cái người ở đạo Tin Lành ấy.
Bà Ký vẫn còn có cảm tình với bà mục sư, bà cũng vẫn nói rằng từ trước đến giờ bà chưa gặp ai tốt bằng bà ấy, nhưng bà không muốn con ở đấy, vì bà không muốn con theo đạo, lại nữa, có điều gì dính dáng đến người theo đạo là bà không bằng lòng. Nhưng câu nói phản đối đã làm ông Ký tức:
- U mày thì biết cái con chó gì, không ở đấy thì ở đâu ? Ở ngoài trọ chỗ nào xoàng cũng phải bảy đồng.
- Sao bảo bác Phán Mẫn bây giờ bác ấy phong lưu rồi. Bác ấy bảo cả thằng Hinh con bác Ba về bác ấy nuôi còn chú giáo Chi cho tiền học cơ mà. Thằng Đức nhà này cứ gửi bác ấy là được rồi, mỗi tháng cũng đưa bác ấy tiền gạo...
Ông Ký bĩu dài môi:
- U mày không biết chứ người ta còn lạ gì. Ở chỗ nào học được người ta biết. Ở nhà bác ấy, có khi cơm cũng chẳng có mà ăn chứ đừng nói gì khác.
- Thế ở nhà đạo Tin Lành thì học được. Mà tôi cũng không thích cho nó ở đấy.
- Ngu không biết gì thì cứ mặc người ta.
Hai vợ chồng không đồng một ý kiến, xong lúc ấy rồi, không đem ra bàn lại nhưng vẫn ngầm ý tương phản. Muốn chứng thực rằng ý mình là phải, bà Ký hỏi bà cụ Ấm:
- Nhà cháu dở quá cụ ạ, có anh ruột ở Hà nội, mà không cho cháu ở đấy, lại tạm gửi mấy người đạo Tin Lành.
Bà cụ ở ngòai không rõ chuyện, nói hùa đi:
- Ông ấy gàn thi bà phải can ông ấy đi. Ở nhà chú bác bao giờ chẳng hơn các chốn khác.
Trong khi ấy, thằng Đức vẫn ốm. Hai vợ chồng không hiểu nhau, không chịu hiểu nhau và tệ hơn nữa là không nói rõ ý định của mình. Ý ông Ký là thằng Đức sẽ ở tạm đằng ông mục sư, đợi khi nào biết rằng không mất tiền học, bấy giờ có muốn ở chỗ khác thì ở. Anh ông, ông Phán Mẫn, từ ngày mất việc vẫn sống cuộc đời vô định hết mực, ông có lạ gì đâu, không thể gửi con ở nơi ấy được. Giá kể rõ ràng và bằng một giọng thân mật giữa vợ chồng thì bà Ký đã nghe theo, hai vợ chồng thuận hòa làm việc gì mà chẳng được. Lại cái giấy xin làm con nuôi bà giáo Chi, cháu làm con nuôi thím, để trừ tiền học cũng chỉ là câu truyện nói để mà nói.
Thằng Đức ốm đến hơn một tháng mới khỏi. Lúc ấy đã tới giữa nghỉ hè. Ốm xong khắp mình mẩy thằng bé lên đến mấy trăm cái mụn đầu đanh, chẳng biết có phải là những chất độc trong người thoát ra không. Cũng mất chán thì giờ để chữa. Ông bà Ký Thảo không hy vọng chút nào con đỗ vào trường Bưởi. Gửi cái đơn đi cũng gọi là cho có gửi.
- Trước khi thi, cháu nó đã ốm đến hơn một tháng, lại sau khi thi ốm lại, rồi mụn mặn như thì kia, có học hành gì được đâu.
Với bà cụ Ấm, bà thừa Minh hay tất cả những người quen thuộc khác, họ đều trả lời như vậy, kỳ thực chẳng hiểu sức học của con ra sao cả.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 08.03.2021 20:00:13 bởi Ct.Ly>
VIII
 
 
 
 
MỘT buổi sáng chủ nhật, bà Ký Thảo vào chơi trong bà thừa Minh. Như lệ thường ông Ký cắp quyển Kinh Thánh và quyển sách hát đi nhà giảng. Cùng đi với cha có mỗi một thằng Vượng, còn những đứa khác từ ngày bà mẹ bỏ đạo, chúng cũng theo mẹ không mấy khi có mặt ở nơi đó. Lúc đầu ông Ký còn ép, vợ ông không theo đạo mặc kệ, nhưng lũ con chúng phải theo ông.
- Thằng Tê cắp quyển Kinh Thánh và quyển sách hát lại nhà giảng. Cả thằng Bân, con Dung, thằng Vượng … chúng bay mặc áo vào chứ.
Thằng Tề kiếm cớ chối:
- Con sắp phải vào trong thầy giáo cộng sổ nốt. Chốc nữa về con còn phải học thi. Thầy mang lấy vậy.
Cả lũ trẻ cùng ngúng nguẩy không muốn đi.
- Con không đi đâu, thầy ạ.
- Mặc áo vào đi đi chứ, không phải  đòn ngay giờ.
Nghe chồng bắt con đi, bà Ký bênh con:
- Thầy mày đi cứ việc thầy mày đi, chúng nó trẻ con, chúng nó không muốn đi, bắt chúng nó làm gì.
Hai vợ chồng lại cãi nhau một lúc. Lời nói bà Ký cũng có kết quả. Từ lần sau, ông Ký đi chỉ rủ một mình thằng Vượng.
Buổi sáng chủ nhật này, đợi chồng đi xong, bà Ký dặn lũ con ở nhà rồi vào chơi trong bà Thừa Minh. Vào chơi chính ra cũng có việc, bà Ký định giật bà Thừa năm đồng tiêu tạm. Từ ngày thằng Đức đi Hà  nội học, trong nhà bắt đầu thấy túng thiếu. Tháng lương vừa qua lĩnh ba mươi lăm đồng về, ông Ký giữ lại hơn một chục chỉ đưa cho bà có hai mươi và một đồng bạc lẻ.
- Đây u mày làm thế nào cho đủ thì làm. Mình còn giữ lại tiền đi gửi cho thằng Đức thôi đấy.
Bà Ký không biết nói lại làm sao, đành lẳng lặng cầm lấy số tiền. Hai mươi mốt đồng này cộng với năm đồng bạc của ông cai Mai gửi vào miệng ăn thằng Bân nếu cố chi chút cũng tạm đủ, nhưng cái ông cai ấy chẳng bao giờ đúng hẹn cả, mấy tháng đầu, ông còn gửi đều đều nghĩa là đến mồng mười ông Ký lĩnh được măng đa, nhưng dần dần, hai tháng, ba tháng một lần, rồi gần đây bặt hẳn. Hai vợ chồng đã nói với nhau:
- Quái cái chú ấy thế mà đoảng, có mấy đồng bạc của con gửi cũng không đủ.
- Ấy không biết tiêu nó như thế đấy, vợ chồng thằng Chi hai lương, hơn trăm bạc một tháng còn nợ nữa là.
- Lạy Trời, ba chục chú ấy còn thiếu ấy, chú ấy mua được họ gửi ngay cho mình thì sướng quá.
Cái măng-đa của ông cai Mai như một viễn ảnh, đến hôm nay thiếu quá, bà Ký đành vào giật tạm bà Thừa vậy. Bà này cũng không phong lưu gì, so với bà cụ Ấm, bà Ký Thu kém xa, nhưng có đều dễ hỏi hơn.
Chẳng lẽ hỏi thẳng đến chuyện tiền ngay, hai người còn bàn tán xa xôi. Ông Thừa chủ nhật được nghĩ nhưng ra ‘‘séc’’ đánh tổ tôm không có ở nhà.
- Các cháu lớn lên chút nữa thì tôi kiếm cái vốn nhỏ về nhà quê, bà ạ. Ở đây thiếu quá, mỗi lần lĩnh lương hai vợ chồng khẳn khò với nhau thực khó chịu. Chẳng biết ông nhà trong này thế nào, chứ nhà tôi, hễ đến đồng tiền là nhăn nhó…
Bà Thừa mỉm cười :
- Thì ông nào chẳng vậy. Tiền các ông ấy muốn giữ cả để đi đánh tổ tôm cơ. Thầy cháu, sau tôi không hỏi nữa, cứ mỗi tháng để cái hộp ở đầu giường, hay hôm nào thiếu cũng vậy …
- Ông nhà dễ chịu nhiều, nhà tôi mà để cái hộp như vậy thì đừng mong. Lại bây giờ mỗi tháng phải gửi tiền cho thằng cháu nữa. Bốn đồng bạc cơm, ba đồng sáu bạc học, lặt vặt cho thằng bé được độ đồng bạc nữa, thế mà tháng nào cũng giữ có khi đến mười lăm, mười sáu đồng...
Từ câu chuyện tiền sang chuyện con cái. bà Thừa hỏi :
- Anh Đức nhà bà thế mà giỏi đấy nhỉ, ốm bốn năm tháng mà đỗ cả vào trường Bưởi. Bây giờ ông bà gửi ông Phán chứ, cháu ở nhà bác là phải, ông bà Phán bây giờ có phong lưu không ạ ?
Bà Ký mỉm cười như đã mỉm cười với bà cụ Ấm, bà Ký Thu và nhiều người quen khác mỗi khi ai hỏi thăm con:
- Vâng thằng cháu ấy từ trước vẫn học được. Ông giáo Ngọ ông ấy cũng khen luôn đấy ạ. Năm ngoái, cháu đã nhất lớp đáng đỗ rồi, nhưng thành ra không may, chậm đến năm nay. Cháu đi Hà nội, nhà tôi cứ định gửi vào nhà đạo Tin lành; tôi phải nói mãi mới gửi vào chỗ bác cháu. Bác cháu cũng nghèo nhưng vẫn là chỗ người nhà. Bác có ăn thì cháu cũng có ăn.
Ngừng lại một chút, bà Ký lại tiếp theo bằng một giọng ngao ngán:
- Lại vài năm nữa thằng cháu Tề, tôi không biết rồi tính ra làm sao,
Bà Thừa lắc đầu, chép miệng :
- Dù sao bà còn hơn tôi nhiều, các anh ấy về sau lớn lên mỗi người đi làm một chỗ chứ tôi một lũ con gái…
Bà Ký ngắt lời :
- À chị Hồng bao giờ thì bên nhà trai người ta đón bà nhỉ. Anh ấy tôi đã biết người... Người hiền lành chí thú đấy bà nhỉ... Nhưng anh ấy đã đi làm chưa.
- Ông bà Thừa bên ấy cũng bảo trong năm nay xin cháu về đấy ạ. Tôi cũng mong sao chóng xong việc đi cho mình yên tâm. Được nhà anh ta cũng chịu thương, chịu khó. Đỗ ‘‘diplôme’’ chưa có kỳ thi vào sở nào nên vẫn dạy tư trên Hanoi. Lại còn con cháu Dần nữa, giá có ai người ta thương đến...
Ngoài nói truyện vẩn vơ như thế cũng đã lâu, bà Ký liền hỏi thẳng đến việc :
- Tháng này tôi túng quá, bà ạ. Mới mồng mười mà đã không còn một xu nào đấy. Tôi định nhờ bà cho giật tạm năm đồng rồi hôm nào bà cần tiêu, tôi lại xin đưa lại.
Bà Thừa dốc hết cả túi ra năm đồng bạc giấy và một ít hào xu :
- Chỗ chị em chẳng giấu bà làm gì, đây tất cả còn thế này đây. Xem bao nhiêu nào. Sáu đồng bảy hào hai xu rưỡi. Nhưng bà có túng thì bà cầm tạm một nửa vậy.
Bà Ký lưỡng lự nhưng cũng đành cầm lấy ba tờ giấy bạc một đồng, ngậm ngùi ra về. Lúc qua cái nhà cũ, nhớ lại những cảnh đã qua, nào ngày mới ở nhà quê lên Bắc giang, nào ngày đi đạo Tin Lành ở bên bà mục sư rồi ở bên nhà bà Minh Thịnh, bất giác bà thở dài:
- Sáu năm rồi.
Sáu năm rồi và bao nhiêu ngày tháng lẻ nữa, kể từ cái buổi sáng đầu tiên mấy mẹ con ăn bữa lót dạ ở bến tàu tỉnh lỵ Bắc giang. Bao nhiêu sự thay đổi làm trán bà thêm mấy đường nhăn, lòng bà thêm ít nhiều điều chán nản. Ở cái xóm làng xa lăng lắc ấy, mấy người thân của bà đã theo nhau qua đời : Ông hội Kiên, bà Lý Cam rồi ông hội Nhân, anh, chị em chết, làm thế nào cho khỏi buồn, khỏi chán. Và ở cái tỉnh Bắc giang buồn như có bệnh dịch này, hai vợ chồng chán nhau thêm một độ nữa.
Người chồng thấy vợ không được như mình muốn, người vợ thấy chồng không được như mình muốn, rồi hai vợ chồng bắt đầu thấy những đứa con không được như mình muốn. Thằng Đức đi Hà nội học, không nói làm gì còn thằng Tề ở nhà, mấy lần hai vợ chồng cãi nhau vì nó. Thằng bé này có lẽ đi đã quen chân nên cứ hơi một việc gì xẩy ra , là nó lại bỏ nhà đi, dù trong túi không có hơn một trinh Bảo-Đại. Cái lần nó làm mất con dao phay bà Ký mắng, nó cũng bỏ ra đi, mặc có một cái quần đùi đen và cái áo cộc trắng, Đi bộ đến Bắc Ninh, chẳng biết nó định đi đến đâu và làm gì nữa, thì ông thầy giảng Dần bắt về hộ.
- Lấy vé cho em lên tàu rồi, tôi vẫn phải giữ lấy tay không có nó lại chạy mất.
Bà Ký nghe nói mà tưởng chết một nửa người.
Lại cái lần nó xin ba hào chỉ mẹ không cho nữa. Cũng mất hai hôm.
Và những câu nói trong khi ông Ký đánh con:
- Cái ăn cắp, cái ăn mày này là ở mẹ nó đây. Mình có như thế đâu.
- Đi, mày có đi được thì cứ đi đi.
 Mỗi lần đi xong ông thuê người đi bắt về rồi ông lại đánh, đánh xong, ông lại đuổi đi.
- Cả một lò....
Những trận đòn thừa sống thiếu chết không có mục đích dạy con nữa. Thương con, bà Ký dẹp cơn giận thằng bé, để bênh. Thế là bai vợ chồng cãi nhau. Những trận cãi nhau không ầm ỹ để cả phố đổ lại xem, chỉ âm thầm trong mấy gian nhà, nhưng kết quả còn ác liệt hơn. Cái mầm chia rẽ càng mạnh.
Ông Ký Thảo tự thấy khổ sở. Bà Ký Thảo cũng chẳng sung sướng gì. Thằng bé mười hai tuổi là thằng Tề gan góc, liều lĩnh thêm một chút nữa, bắt đầu có những ý nghĩ giá ai nhìn được vào trong đầu nó, hẳn phải rùng mình. Con Dung, thằng Vượng, con Ân Điển, thằng Hưng và đứa cháu là thằng Bân, cũng may chúng đã thở quen bầu không khí ấy.
Còn một hy vọng là thằng Đức.
Hai vợ chồng ông Ký Thảo cùng nghĩ vậy.
Nhưng biết đâu !
 
 
 
 
 
 
IX
 
TRÊN chuyến tàu sớm nhất từ Hà nội về Phú lạng thương một sáng chủ nhật, thằng Đức ngồi im lặng bên cạnh cái va ly. Giữa những tiếng ồn ào của hành khách nói chuyện, của máy xe chạy, nó thấy dễ
chịu cho sự suy nghĩ hơn là lúc ngồi một mình.
Lần này, nó về thăm nhà, định ở chơi mấy hôm, rồi mới trở lại Hà nội. Mãi mười lăm tây, các trường trung học mới mở cửa, hôm ấy mới mồng bảy. Trong có mấy tháng trời, thằng Đức được hai lần đắc thắng ; lần thứ nhất là lần đang ốm đi thi Sơ học Pháp Việt và lần thứ hai là kỳ thi vào học trường Bưởi mấy ngày trước đây
có bảng. Hơn tám trăm người tranh nhau một trăm hai mươi chỗ ngồi trong ba lớp năm thứ nhất. Không ai ngờ thằng Đức được vào, từ các bạn học, cha mẹ cho đến những người quen. Truyện, mấy tháng hè người ta đi học tư chỗ nọ chỗ kia, còn mình thì nằm rên vì những mụn đầu đanh. Chính nó cũng nhiều lúc tự nghi ngờ : Có lẽ mình không vào trường được! Nhưng nó lại tự ám thị:
- Nhưng mà làm gì chẳng đỗ. Chúng nó học dốt như bò cả. Cái lần đi thi ở Bắc Ninh vừa rồi, ai chẳng bảo mình trượt, thế mà mình bảo mình đỗ là mình đỗ.
Cùng ở với thằng Đức và cùng đi lên trường Bưởi thi là thằng Hinh con ông ba Tùng, hai anh em họ ở trọ nhà ông Phán Mẫn, một đứa gọi bằng chú, một đứa gọi bằng bác. Thằng Hinh năm trước đã trượt kỳ thi ở Hải phòng nên phải nghỉ một năm ở với chú là ông giáo Chi. Gia đình ông giáo Chi từ năm trước đã thiên từ Nam định ra Moncay.
Ở nhà, thằng Đức đã tức vì ông bác coi thường. Những câu nói: ‘‘thằng Hinh có đỗ thì đỗ chứ thằng Đức đến học ngoài thôi’’ làm nó khó chịu. Buổi sáng lên trường, gặp những thằng bạn cùng lớp, nó lại bực một lần nữa.
- Mày nghỉ lâu như thế thi làm quái gì cho phí tiền tem.
Những thằng bạn nó lại dám coi thường nó như thế ư?
- Được rồi tao đỗ cho chúng mày coi !
Quả nhiên như lời thầm ước của nó, thằng bé được vào trường cùng với hai bạn cùng lớp. Một trăm hai mươi người bị sắp hàng một trăm mười chín, thứ bực khí kém một chút nhưng còn hơn chán người.
Ngồi trên chuyến tàu về thăm nhà, thằng Đức nghĩ đến kỳ thi vào trường mà buồn. Quả vậy, nó không vui. Giá là sự đắc thắng một năm trước đây ! Một năm trước đây, nó cũng là người học trò nhất lớp trường Phủ Lạng. Nó tự biết mình đáng đỗ Sơ học Pháp Việt và đáng được vào trường Bưởi lắm. Đúng ra lúc này nó sắp lên năm thứ hai. Còn chậm lại một năm thì học đâu chẳng được. Một trường tư kia đã quảng cáo học bốn năm đỗ Tú tài. Nó có thể thôi học trường Bưởi để học lớp ấy nếu cha mẹ nó cho phép.
Rồi nghĩ đến thằng Hinh, nó lại thương hại anh họ. Ông Ba Tùng mất rồi, bà Ba sống vất vả không đủ nuôi con, đứa con lớn là thằng Hinh được ông chú nhận làm con nuôi để trừ tiền học thì cứ trượt mãi. Đã một kỳ thi năm trước ở Hải phòng lại kỳ thì năm nay ở Hà nội. Giá có thể nhường chỗ cho anh chắc nó cũng nhường ngay.
Hết những chuyện vẩn vơ, đứa bé mười lăm tuổi ấy nghĩ đến gia đình. Bất giác nó thở dài. Nghĩ đến cha, nó giận cha, nghĩ đến mẹ, nó giận mẹ, tại làm sao hai người lớn ấy không biết cách cư xử để gia đình hòa thuận một chút! Nó lấy làm khổ tâm vì có một người cha, một người mẹ như vậy, người cha, người mẹ lý tưởng của nó khác kia, người cha người mẹ để cho nó kính ngoài chữ yêu phải là những người trong luân lý. Nhưng làm thế nào được, nó đã phải sinh vào gia đình ấy, phải chịu ơn sinh dưỡng của hai người là Vũ đình Thảo và Phan thị Ái, mang lấy mấy chữ tên Vũ đình Đức ! Tất cả mọi người chung quanh nó đều công nhận như vậy, không còn chối vào đâu được. Chỉ có một cách thoát ly là chết, nhưng nó còn muốn sống, thấy mình có bổn phận sống.
Thở một hơi dài, nó cố trút hết nỗi hằn học. Nhớ lại một câu truyện đọc trong một quyển tiểu thuyết ‘‘một anh chàng lớn lên trong một gia đình, đã đi làm, có vợ, có con thì được mẹ kể cho biết rằng anh ta không phải đứa con của gia đình ấy,’’ lại một truyện ngắn khác ‘‘một người mẹ gửi con vào một gia đình khác đến lúc lớn lên mới đón con về,’’ thằng Đức ước mong rằng trường hợp ấy xảy ra cho mình. Không phải một lần, nhưng nhiều lần lắm, những khi ông bà Ký cãi nhau trong nhà, nó đứng chờ một người hiền từ ở vẻ mặt ở dáng điệu bước vào để nhận nó là con. Nếu sự thực là như thế, nếu đối với ông bà Ký Thảo, nó chỉ mắc có ơn nuôi nấng thì nỗi khổ trong lòng đứa bé ấy vơi hẳn. Nó sẽ cố trả lại những điều đã chịu của hai vợ chồng này, thế là yên tâm, còn về sau ông bà Ký muốn cãi nhau đến đâu, thằng Tề muốn bỏ đi bao nhiêu lần nữa cũng mặc; nó không phải là đứa con của gia đình, nó không phải chịu trách nhiệm về những chuyện rắc rối của gia đình. Nhưng hỡi ơi, thiên năng nó đã cho nó biết chắc rằng cha nó là ông Ký Thảo mẹ nó là bà Ký Thảo-không thể sai được- và hai người có lẽ bởi một sự tình cờ nên vợ nên chồng, một bữa nhắm rượu khề khà xong, bỗng dưng cụ Cử nghĩ đến con bé cái Ái con cụ Chánh có thể hỏi cho đứa con thứ năm là thằng Thảo.
- Ừ, cái con cái Ái con ông chánh Năng, bà mày xem thế nào, nó cũng chăm chỉ làm ăn đấy chứ. Liệu hỏi cho thằng Thảo có xứng không.
Đầu tiên, bảo vợ, rồi bảo bà mối, ông cụ Cử già ấy cho rằng như thế là đã đủ bổn phận lắm rồi-Tao cứ muốn cho chúng mày có đôi - nhưng cụ có ngờ đâu, kết quả chỉ là cho ra đời mấy đứa cháu đáng lẽ không nên có, để chúng nó đau khổ vì cha, vì mẹ.
Thằng Đức nghĩ như vậy mà chán. Kể ra những đứa trẻ mười lăm tuổi khác, không đứa nào có những ý nghĩ kỳ quặc ấy.
Nhưng bây giờ, ta làm thế nào, ta phải cư xử thế nào ? Nó tự hỏi như vậy sau cùng kết luận: Thôi thì làm thế nào cho vui lòng hai người mà Số mệnh đã bắt ta phải gọi là Cha Mẹ. Nghĩa là làm một người con hiếu.
Nói thì dễ, nhưng làm có dễ đâu ! Làm vui lòng một cha, làm vui lòng một mẹ, có thể, nhưng làm vui lòng cả cha cả mẹ. Nói ngay một việc theo hay không theo đạo Tin  lành, chính nó vẫn dửng dưng, theo hay không theo cũng được, nếu theo đạo thì làm vui lòng ông Ký thật đấy, nhưng bà Ký chẳng vui chút nào.
- Được mày là lớn mà mày lại như thầy mày thì chán lắm?
Chỉ có cái việc đi học, rồi thi đỗ, rồi đi làm là có thì làm vui lòng cả cha, cả mẹ. Được vào trường rồi, chỉ một tuần lễ nữa là khai trường, nó tự bảo:
-Đức ơi, thôi thì mày hẵng cứ đi học rồi đi thi đi, những cái gì đã qua rồi, nhắc làm gì nữa.
Tàu đã đến ga. Ở trên tàu bước xuống đi qua cái buồng đợi tàu, thằng bé nhìn mấy cái quán bán hàng, cái cầu ga, mấy chiếc xe tay đợi khách lòng thấy nao nao. Khác nào, con cá trở về ao cũ, nó muốn bảo cái tỉnh lỵ Phủ lạng  Thường êm đềm lặng lẽ dưới mặt trời:
- Từ nay chỉ thỉnh thoảng ta về thăm ngươi thôi
Gọi một chiếc xe tay, không mặc cả, nó bước lên:
- Kéo về phố Nghĩa Long, dẫy hàng Mã.
Cái gia đình đầy sự bất hòa đầy những mầm chia rẽ ấy, nhân thằng con lớn mới được vào trường về thăm, nên được vui vẻ mấy hôm liền.
Ông bà Ký Thảo tươi cười hỏi con:
- Thế nào con xem ở nhà bác có thể được không?
- Bác Phán dạo này có dễ chịu không?
- Có bàn học không, có thắp điện không? Nếu có tiện việc học thì ở đấy không thì lại đằng ông mục sư hơn.
Không khí trong gia đình như một nước quanh năm mưa phùn được ngày nắng. Thằng bé hởi lòng, vui vẻ trả lời từng câu hỏi của cha mẹ :
- Con ở nhà bác là được rồi. Lại tiện có anh Hinh anh ấy ở nữa, anh ấy có cả chăn, màn, đỡ phải mang ở nhà ra. Anh Hinh số đen quá, năm nay lại hỏng một kỳ thi nữa, phải học trường Thăng Long vậy. Nhưng tiền học chú Chi cho, mỗi tháng ba đồng rưỡi chú ấy gửi về cho bác Phán. Học ở trường tư mỗi năm tiền học một tăng, chẳng biết đến năm thứ tư, tiền học hơn sáu đồng, chú ấy có gửi được không. Ở nhà bác không có điện phải thắp dầu như ở nhà. Tối học với anh Điểm con bác...
Biết chỗ ở của con yên rồi, ông bà Ký lại hỏi đến sức khỏe :
- Độ này con có còn yếu không ?
- Con có còn hay lở không ?
- Con vẫn hơi mệt, không thức khuya được mà lở cũng còn nhiều. Thầy u có thuốc gì cho con uống khỏi đi, không đến lúc đi học, trường họ bắt nghỉ.
- Thầy mày cắt cho con mấy thang tiêu độc chăng.
- Thôi để mua một tá thuốc để tiêm tốt hơn.
Thực là một cảnh gia đình hòa thuận. Đang lúc ấy, bà cụ Ấm vào chơi. Bà cụ tươi tắn và ân cần nói:
- Ông bà được cậu con trai giỏi quá. Ốm ngần ấy tháng mà còn đỗ được vào trường. Con bà Thừa Đạo ở dưới kia cũng phải hai năm đấy.
Nói đến chuyện lở ghẻ, bà Cụ lại mách :
- Thằng Văn nhà tôi cũng có cái máu ngứa như thế đấy. Uống đã chán thuốc mà không khỏi. Sau phải tiêm, chắc anh Đức nhà này cũng thế chứ gì, để tôi bảo nó biên tên thuốc cho.
Trong năm hôm ở nhà, thấy cha me không khằn khò nhau, lại người này, người nọ đến chơi, ai cũng khen ngợi, thằng Đức vui vẻ tưởng rằng cơn mưa gió đã qua, đã tới ngày nắng ráo.
Ở nhà được một hôm, nó vào thăm thầy giáo. Ông giáo Ngọ, người đẫy đà ấy đã mỉm cười bảo học trò :
- Thầy biết thế nào anh cũng đỗ, cũng vào trường được mà. Năm ngoái là anh không may đấy thôi. Dạy học bao nhiêu năm, học trò ai thế nào thày biết chứ. Cố lên nhé, cố lên, gia cảnh nhà anh thế nào thầy biết. Cha mẹ anh trông vào anh nhiều lắm đấy, đừng phụ lòng cha mẹ. Về sau anh khá, thày cũng mừng cho.
Thằng Đức đã cảm động như tất cả những người học trò được thày giáo khen. Nó đinh ninh sẽ hết sức chăm học ở trường Bưởi, làm thế nào để cuối năm, lúc về thăm ông thày cũ, có thể nói một cách tự phụ:
- Thưa thày con thứ nhất ạ, học trò trường ta đi đâu chẳng khá hơn các học trò trường khác.
Cả năm hôm nó ở nhà, bữa cơm nào cũng thịnh soạn, món xào, món rán la liệt cả mâm, có bữa làm gà, làm vịt nữa. Có một rạp cinéma ngoài phố, thực là không ngờ, ông Ký Thảo cho con mấy hào bảo đi xem:
- Ở Hà nội, thằng Đức có đi xem cinéma lượt nào không ? Hôm nay thấy bảo ngoài kia chiếu phim gì hay lắm, thày cho năm hào, con rủ thằng Tề đi xem mấy, hai đứa lớn thôi, còn những đứa kia chưa biết chữ Tây.
Giá không có một câu này của bà Ký thì mấy ngày thăm nhà của thằng Đức được vui hoàn toàn. Câu nói cay đắng ấy người mẹ đã rỉ vào tai con lúc nó sắp ra tàu đi Hà nội học:
- Được mấy hôm con về, thày mày mới dễ chịu đấy, chứ ngày thường u bực lắm? Con chịu khó chăm mà học. U thì thể nào cũng phải mang hai đứa em bé đi chỗ nào buôn bán, mẹ con nuôi nhau, ở với thầy mày thêm một ngày là một ngày khổ.
Trên chuyến tàu từ Phủ Lạng Thường về Hà nội, đứa bé mười lăm tuổi lại buồn rầu như hôm về nhà.




Đăng nhập để trả lời
0
PHẦN THỨ NĂM
 
THẾ LÀ CUỘC ĐỜI
 
 
 
 
THẾ này thì không biết lúc về nhà quê mấy mẹ con làm thế nào mà sống đây ? Còn sáu sào ruộng đồng và ba sào ruộng bãi bán nốt rồi, may mà ba sào vườn đất giữ lại được chứ không thì thật là không có một tấc đất cắm dùi! Bà Ký Thảo già đi đến ba bốn tuổi ; da bà vì mới ốm dậy trông tái xanh, lại mấy đường nhăn vì lo nghĩ, ai gặp cũng phải hỏi thầm :
- Trông bà dạo này không được mạnh.
- Trông bà yếu đấy, bà nên uống mấy thang thuốc bổ đi thì phải.
Bao nhiêu câu nói của bao nhiêu người khác cũng đều tương tự như vậy, dường như người ta nghĩ giống nhau cả. Bà cụ Ấm, bà Thừa Minh, bà Ký Thu, mấy người đàn bà có thể gọi là thân với cái gia đình ấy, không một ai hiểu tâm sự bà Ký. Mấy sào ruộng bán rồi, số tiền một trăm bốn mươi và năm đồng bạc lẻ chỉ đủ để trang trải các món nợ lặt vặt. Nhất tội, nhì nợ, dù món nợ của vợ hay của chồng cũng không tới năm chục bạc, nhưng ông bà Ký đều lấy làm bực dọc lắm. Ý bà Ký là khi nào bà về nhà quê với mấy đứa con, bấy giờ mới bán ruộng để kiếm cái vốn nho nhỏ, nhưng sự đã đến lúc bất đắc dĩ thì cũng đành chịu. Thế này thì việc đi ở riêng lại khó khăn thêm một chặng nữa ! Bà cứ nghĩ mà ngao ngán. Nhất là những lúc đêm khuya, ông chồng trở về gõ cửa, mấy đứa trẻ ngủ say cả, thằng nhỏ ngủ dưới bếp, lại chính bà trở dậy châm cái đèn ra soi cái gióng ngang, những lúc ấy, bà Ký chỉ biết thở dài trút bớt nỗi ưu tư.
Ông Ký dạo này hay đánh bạc lắm, ai nấy đều công nhận như vậy. Vợ không giữ nỗi đã đành, cả đến cái đạo Tin Lành nghiêm khắc cũng không sao cảnh tỉnh được con người ấy. Chính ông Ký cũng ngạc nhiên vì sự thay đổi ở trong lòng mình. Những khuya mùa lạnh, ở chiếu bạc ra về, đi giữa đường phố vắng gió bấc lùa vào trong người, chỉ những lúc ấy ông thấy hối hận, và tự giận, tự trách. Còn những buổi tối, ăn xong bữa cơm, thế nào ông cũng phải lấy khăn áo ra đi. Không khí căn phòng có chiếu bạc vẫn dễ thở hơn không khí của cái gia đình tẻ lạnh vì không hòa thuận, vì nghèo, vì mùa đông.
Việc đánh bạc ấy một lần đã thành đầu đề cho hai vợ chồng chỉ đợi một cớ để cãi nhau. Đêm đó, mở cửa cho chồng vào, bà Ký đã nói một câu như thế này :
- Thầy mày đánh bạc làm gì để người ta bàn tán chê bai khắp cả. Đánh chẳng biết có được gì không, nhưng đêm nào cũng thức như vậy thì ốm mất.
Nói câu ấy, bà Ký lại nhớ lại năm còn ở nhà quê, một lần, chồng bà đem ba chục định để cho vợ nộp thuế, nhưng bà chưa kịp lấy, chỉ có một buổi trưa đã hết nhẵn. Bởi vậy, chưa thấy chồng nói sao, bà lại tiếp :
- Thầy mày có nhớ cái lần thầy mày định đưa tiền cho tôi nộp thuế, rồi lại thua đỗ mười hết ở bên bác Cựu không.
Không ngờ, ông Ký nói ra một câu hết sức khinh bạc :
- Những người giữ được chồng phải là những người lập được nghiệp.
Cũng bởi hôm ấy là hôm ông mất ù mấy ván tổ tôm, đang tức sẵn, bà Ký không nhớ lời khuyên ‘‘có can chồng thì đừng can vào lúc thua’’ nên chuốc ngay cái khó chịu vào mình. Rồi đáng lẽ im đi, bà lại cãi:
- Những đứa chồng đường vợ sá nó cũng vẫn giữ nữa là .. Sao thầy mày nói câu khó nghe thế nhỉ.
- Thôi im đi, mặc người ta.
Không buồn nghe nữa ông Ký kết liễu câu truyện như vậy. Từ hôm đó, chồng muốn đi đâu cũng mặc, - có hôm trưa thứ bảy, ở sở ra, ông Ký đi đánh bạc liền cả buổi chiều thứ bảy, cả ngày chủ nhật rồi đến sáng thứ hai mới về nhà - bà Ký định không hé môi.
Không biết bao giờ mới ở riêng ra được, để tránh sự khó chịu của người chồng xung khắc này ? Không biết về nhà quê mấy mẹ con làm thế nào mà sống đây? Buổi sáng, buổi chiều, lúc nào ngơi tay, bà Ký lại đem hai câu hỏi ấy ra để mà băn khoăn. Bà không biết giải quyết bằng cách nào nữa. Bà không chịu nổi chồng, bà cũng không dám liều ra ở riêng ngay. Phần thương con, phần lo đói, lo là lo mấy đứa trẻ theo mẹ, bà lưỡng lự. Giá có một mình bà thì lại xong thì lại dễ tính lắm !
- Tôi cứ mở cái hàng nước, tôi cứ kiếm gánh hàng rong độ vài ba đồng bạc vốn cũng đủ miệng tôi ăn.
Có lúc tức mình quá bà đã bảo chồng như vậy.
Thằng Đức đi Hà nội học được hơn bốn tháng rồi. Trong quãng thời gian ngắn ấy, cũng có mấy truyện chẳng hay xảy ra: bà Ký suýt chết vi đau vú và xảy mất một đứa bé. Nhớ lại, bà Ký không biết nên buồn hay nên vui. Hai việc đó nói là may hay là không may cũng đều có nhẽ cả. Giá bà cứ chết ngay đi - có thể lắm, lúc vào nhà thương cắt miếng vú thối, ông đốc tờ đã bảo nếu để chậm một buổi chiều hôm ấy thì đành chịu - có lẽ lại nhẹ nợ ! có lẽ lại là may ! Chỉ tội sáu đứa con, chưa chi đã mắc cảnh mồ côi sớm ! Giá bà không sảy và đứa bé kia cũng sống, chưa chắc đã may mắn gì, sáu đứa con, rồi thêm một đứa nữa càng thêm tội !
Tâm trí người đàn bà ấy không lúc nào được bình tĩnh, lúc nào cũng hỗn loạn, nghĩ không ra thì thành nghĩ quẩn; con người đã đến lúc nghĩ quẩn thì thực là tai hại, tội lây cả đến lũ trẻ và thằng đầy tớ. Bà Ký đâm ra gắt gỏng hay bẳn tính. Một lỗi nhỏ đủ để bà gắt ầm nhà.
Chỉ nửa tháng hay một tháng một lần, thằng Đức ở Hà nội về là gia đình vui được hôm đó. Ông Ký nể con ở nhà không đi đánh bạc. Bà Ký thấy con cũng tươi vẻ mặt hơn một chút. Rồi hai mẹ con bàn tính với nhau.
- Con cố học đi mấy năm nữa thi đỗ đi làm, rồi ở đâu, u ở đấy. Ở với thày mày không được rồi, tính đến về nhà quê cũng khó lắm, con ạ. U về thể nào cũng phải đem theo mấy đứa trẻ, chưa biết làm gì mà sống. Chỉ có cách buôn bán thì vốn lại không có, cái chỗ chín sào bán được hơn trăm bạc trả nợ hết rồi. Còn chỗ đất thì thể nào u cũng để đấy, không có lại như nhà bà thừa Minh thì buồn lắm...
- Thằng Tề một vài năm nữa thi xong cũng phải đi Hà nội học, lúc ấy con cũng mới có năm thứ ba, rồi con Dung nữa, chúng nó lần lượt theo nhau. Con chưa đi làm ngay được để dắt đứa nào như thày vẫn bàn đâu, mà nhà ta cũng chỉ có một cách là đi học. Con tính có cách này tiện nhất, hay là sang năm u sang Hà nội rồi kiếm mấy đứa nữa ở trọ...
Thằng bé bàn cho mẹ nghe suôi lắm. Bà Ký khấp khởi mừng. Nhưng bà có biết đâu đứa con bà chỉ nói miệng được như thế còn trong tâm hồn nó cũng nhiều sự biến đổi đáng ngại rồi. Chính nó còn đang bận tìm cách giải quyết cho mình không xong, hai người làm cha mẹ có biết đâu.
Ở nhà ông phán Mẫn là bác được hai tháng, thằng Đức mới thấy rõ rằng cái ý của cha không cho con ở nhà anh là phải. Tránh cái buồn của gia đình cha mẹ, nó lại gặp cái quá tội của gia đình ông bác. Và đứa anh họ nó là thằng Hinh với bộ mặt bánh dầy , từ ngày thi trượt vào trường dù bị chú mắng, thằng bé này vẫn được một tháng mấy đồng bạc đi học tư, nhưng đáng thương cho nó, ông chú kia gửi tiền, ông chú này cứ tiêu mất đi ; thằng cháu nằm khoèo ở nhà khóc người cho sao vội chết đi chán lại tủi phận và giận hờn mấy ông chú. Đang lúc cố trở lại làm đứa con ngoan, gặp cái hoàn cảnh này, thằng Đức gần giống như hồi cuối năm trước. Kết được mấy đứa bạn bè đi cinéma, ăn cao lâu những ngày nghỉ, nó bắt đầu khổ tâm vì không có bộ quần áo tây và số tiền kha khá cha mẹ cho mỗi tháng.
Rồi bắt đầu tới những sự thiếu thốn, - đi học về không có đủ cơm ăn, có khi sắp đi học chiều, bà bác vẫn chưa có tiền đong gạo, buổi tối học bài sờ đến ngọn đèn thì phao dầu đã cạn, - nó càng buồn, càng bực, càng chán. Sự khủng hoảng của tâm hồn ấy- không một ai biết - là những bước đầu dẫn tới quãng đường lầy.
Lần về nhà cuối cùng trước khi tết Nguyên Đán tới, thằng Đức đã nhỉ nhẩm tính những cái gì thiếu. Nó đếm đốt ngón tay: một chỗ ở khác dễ chịu hơn, một bộ quần áo tây độ mười lăm đồng bạc, hai đồng rưỡi bạc trả nợ tiền quà trên trường. Phải ngần ấy thứ thì nó mới có thể bình tĩnh mà học được.
Một chỗ ở khác đủ cơm ăn hai bữa đúng giờ, đủ ánh sáng đến chín giờ đi ngủ không phải dễ có với số bốn đồng bạc mỗi tháng, chỉ có lại đằng ông mục sư, nhưng đến lúc gặp mẹ, nó lại lặng im không nói, người đàn bà ấy vẫn không ưa cái đạo Tin lành. Mười lăm đồng bạc nó hỏi xin không được nên hai đồng rưỡi bạc quà nó càng không dám nói đến. Số tiền quà ấy dù chỉ là ăn trong khi bất đắc dĩ, những lúc nhà không có cơm, nó cũng có thành kiến là xấu, nên cứ dấu diếm tìm cách xoay sau. Xoay thì còn xoay vào đâu, nó không có một ông chú, ông bác nào có thể hỏi xin được. Sau cùng, suy đi tính lại mãi nó mới tìm được có một cách như sau này: cho thuê lại mớ sách thuê lúc đầu năm ở trường để đập vào chỗ thiếu.
Thành ra, tinh thần đứa con cũng suy đồi như cha mẹ. Mà khốn nạn nhất là không một ai rõ căn bệnh để tìm phương chạy chữa.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
II


 
 
THẰNG Đức không đến trường học, thằng Đức không về nhà trọ, cả số tiền mười một đồng để trả tiền cơm, tiền học nó cũng mang theo cả đi. Luôn mấy tin liên tiếp ấy làm ông bà Ký Thảo rụng rời.
Tết Nguyên Đán đã qua. Những ngày nghỉ, đứa con ấy về gia đình vẫn có dáng vui vẻ như mọi khi, có điều gì đâu. Sao đột nhiên lại xảy ra nhiều chuyện thế này. Nó cũng không ở nhà bác nó nữa, đã lại trọ ở nhà ông bà mục sư rồi, ở với ông bà ấy dễ chịu lắm, ông bà ấy là người tốt. Tại sao lại bỏ đi? Нaі người làm cha mẹ ấy im lặng tìm những câu trả lời. Tâm trạng đứa con họ có biết đâu, bây giờ là lúc cha mẹ không bằng lòng đứa con vì thấy nó không được như mình muốn.
Đọc lại hai bức thư ông mục sư và nhà trường gửi về, ông Ký lắc đầu thở dài rồi bảo vợ:
- Thế là ba hôm nay nó không đến trường rồi đấy. Tiền học nó cũng chẳng trả, rồi tiền cơm đưa cho ông bà mục sư nữa, nó cũng chẳng đưa đâu.Hỏng,cái thằng ấy không ngờ sinh đốn. Chắc nó tiêu hết tiền rồi không dám về chứ gì, không biết nó tiêu gì mà hết ngần ấy tiền. Cũng tại u mày nữa, sao không để người ta gửi thẳng vào trường lại đưa cho nó.
Bà Ký ngậm ngùi nói có vẻ hối hận:
- Thì ai biết nó như thế. Lần trước nữa thầy mày gửi chứ lần vừa rồi cũng đưa cho nó có việc gì đâu. Nhưng mà việc nó đã xảy ra như thế thì mình cũng liệu cách cứu gỡ thì nào vậy chứ. Mai chủ nhật đấy, thầy mày chịu khó đi Hà nội tìm nó xem, cũng ôn tồn mà bảo nó thôi, để nó lại đi học. Trẻ con nó dại là thường chứ.
Có lẽ lần đầu tiên hai vợ chồng bàn nhau một cách ôn tồn không cãi cọ như vậy. Cái việc đứa con trốn học bỏ đi thực là một điều thất vọng chung cho họ. Nhưng phải làm cách nào chữa cái thất vọng ấy đừng để nó thành ra tuyệt vọng. Làm thế nào tìm thấy ngay thằng bé để lại bắt nó đi học.
Đêm hôm ấy cả hai vợ chồng cùng thao thức. Ông Ký nghĩ đến đứa con có thể chỉ trong bốn năm năm nữa có thể đỡ giúp ông một vai mà chán
Không biết sự không may này có thể làm hỏng cái chương trình mười lăm năm của ông không? Thằng lớn này mà không học được thì thằng bé cũng khó điều học được lắm. Bố còn lạ gì tính nết con, ở nhà xét ra thấy nó cũng không có mấy tật xấu, sao nó lại có thể như thế được nhỉ? Ông quên không xét đến cái hoàn cảnh nó chi phối cả con người. Bà Ký thì cứ cho rằng con đi là do ở sự gần gũi những người có đạo. Thằng bé không chịu được nó mới bỏ nó đi đấy mà. Tin chắc như vậy, bà lại càng buồn. Giá bà biết buôn biết bán, bà có tiền cho con đi học cũng như người ta. Muốn ở đâu thì ở, không việc gì phải nhờ cái ông mục sư ấy mới ăn học được.
Cũng may hai vợ chồng không sô sát. Ấy vì họ đã quên khuấy những chuyện bất hòa nó đã gây nên cảnh trạng buồn bã của gia đình. Nghĩ vẩn nghĩ vơ suốt đêm nhưng cả hai không ai không ai khám phá ra sự bí mật của hoàn cảnh.
Sáng hôm sau, ông Ký đi Hà nội. Nhưng cả một ngày hôm ấy của ông đã phí đi một cách thái vô ích. Đến nhà ông mục sư, đến nhà ông anh, bắt thằng cháu là thằng Hinh dẫn đến nhà mấy đứa bạn học của con, ông vẫn không được như ý muốn. Lại mấy câu mách bảo nữa, ông cứ nghe mà buồn lòng:
- Mấy hôm nay, cháu cũng không thấy anh ấy đi học. Hồi trong năm, lúc sắp nghỉ tết, anh ấy đã nghỉ đến gần nửa tháng vì ghẻ. Tết ra, anh ấy đi học hơi đều được đến hôm nọ, rồi không thấy...
- Đức ấy à, hắn ta thì ghê lắm Tôi nói truyện cho ông nghe nhé. Hắn ta lười lắm, chỉ thích nghỉ thôi, hôm nào hắn ta cao hứng lên là hắn ta bảo với chúng tôi: các đằng ấy có đố không, tớ chuồn cho mà xem.
- Thưa ông anh Đức ấy còn mượn của tôi cái áo chemise và cái cravate. Hễ ông gặp anh ấy thì ông bảo anh ấy đưa lại hộ. Tôi là Tường.
Dựa vào mấy câu ấy, ông Ký cho là con hỏng quá rồi không sao chữa được nữa. Tối hôm ấy về, ông buồn rầu thành thực bảo vợ, hai người không ai đổ lỗi cho ai cùng cho là Số Phận, nên còn giữ được cao thượng một chút.
- Thôi u mày cũng không phải bận về nó nữa. Tôi đi suốt ngày hôm nay không gặp nó nhưng gặp mấy thằng bạn nó, hỏi thăm thì biết nó đốn quá rồi. Mình cũng đừng tìm nó làm gì nữa, hỏng thằng lớn, ta lại có thằng thứ hai vậy mà cái thằng Tề này mà hỏng thì đến thằng Vượng, mình có phải chỉ có một mình nó mà thôi đâu. Ông ngày trước, bác Cả, bác Hai, bác Ba như thế, cụ còn cố gây được bác Phán nữa là. Bác ấy hỏng đi là về sau đấy chứ. Giá cụ chưa già thì chưa biết chừng cụ gây được cả cho mình và thằng Sáu nữa.
Bà Ký ứa nước mắt bảo chồng :
- Thày mày thế, chứ tôi không thế được. Nhẫn tâm sao đành, nó hư thế chứ nó hư nữa mình cũng không thể bỏ mặc được. Thà nó chết đi lại là một nhẽ. Thôi thì ngày mai, tôi lại đành liều đi Hà nội đến tìm được nó thì thôi...
Hai vợ chồng lại mất ngủ luôn một đêm nữa rồi sáng hôm sau, dặn con dặn cái, dặn người ở xong, bà Ký ra tàu.
Xuống ga hàng cỏ, đầu tiên bà hẵng bảo xe kéo lại nhà giảng đạo Tin lành ở ngõ Trạm đã, nơi con bà trước khi đi còn ở đó. Gặp bà mục sư, hai người đàn bà nắm lấy tay nhau. Vừa mừng gặp bạn, vừa buồn vì con, miệng bà Ký cười mà mắt muốn khóc. Nhanh miệng hơn bao giờ cũng là bà mục sư:
- Mấy năm nay mới gặp bà, có lẽ câu chuyện này Chúa lại đổi thành vui...
Ngập ngừng bà Ký trả lời:
- Cháu nó dại quá, tôi đi chuyến này không biết có nên công trạng gì không.
Bữa cơm trưa hôm ấy bà Ký ăn với hai vợ chồng ông mục sư. Cũng là bất đắc dĩ, bà vẫn định lại đằng ông anh chồng kia đấy nhưng không được. Trong bữa cơm, người ta kể nhiều về đứa con ấy lắm và cố nhiên không phải những điều hay :
- Cậu ấy làm sao vẫn không ra ý chăm. Buổi trưa, buổi tối chẳng mấy khi cầm đến sách, chúng tôi hỏi thì cậu ấy bảo không có bài.
- Cậu ấy có cái bệnh lở chữa mãi không khỏi. Cái bà người Anh bên kia bà ấy bảo ghê cái tay cậu ấy lắm.
- Chúng tôi vẫn thường khuyên cậu ấy: ông bà hiền lành thực thà, trong nhà cũng thanh bạch, cậu cần phải chăm chỉ mà học, chịu khó sao mấy năm nữa đi làm giúp đỡ ông bà. Cũng vì ông bà trên ấy mà chúng tôi mới giúp cậu…
Bà Ký nghe những câu ấy chỉ biết gượng cười chứ không biết trả lời làm sao cả. Bà càng chua xót cho mình và cho con. Giá bà giàu có một chút nữa, con bà được đầy đủ được ở một chỗ đàng hoàng khác, chắc chẳng có sự gì xảy ra đâu nhỉ!
Cả buổi chiều ấy, người đàn bà đáng thương đi tìm con, rồi cả ngày hôm sau nữa. Lại phải dùng đến cái thằng Hinh đi làm hướng đạo. Hai thím cháu mất đã chán tiên tầu, tiền xe và hai chân cũng đã mỏi rời. Hà nội có hàng bao nhiêu ngã đường, bao nhiêu ngõ hẻm, chỗ nào cũng có thể có thằng Đức mà chỗ nào cũng không thấy.
Bà Ký trở lại nhà bà mục sư lần nữa. Bà này khuyên:
- Cũng tại bà bỏ Chúa đấy mà. Cũng là một sự trách phạt nhẹ của Chúa. Bà hãy cầu nguyện Chúa nhiều vào tự khắc Chúa sẽ đem cậu ấy về với ông bà và gia đình lại hòa thuận như cũ.
Lắc đầu se sẽ, bà Ký trả lời:
- Cám ơn bà có lòng khuyên nhủ, nhưng tôi xét ra mình không đủ sức đi theo Chúa. Vậy giả dối làm chi cho mang tội. Còn thằng cháu, thôi tôi cũng đành lúc nào cháu về thì cháu về, Hà nội bao nhiêu ngả đường, bao nhiêu Phố còn biết cháu ở đâu nữa. Tôi lại chào ông bà, chiều nay về. Còn các cháu bé ở nhà không thể vì đứa lớn mà nhãng bao nhiêu đứa khác được.
Bà mục sư ái ngại :
- Tội nghiệp cho bà quá. Dù sao chúng tôi cũng hết sức cầu nguyện cho bà. Hay bà hãy cùng tôi cúi đầu một chút, để tôi xin với Chúa ngay bây giờ.
Không đợi bà Ký nghe hay không, bà cúi đầu xuống :
- Lạy Chúa rất nhân lành, xin Chúa...
Bà Ký chỉ nghe thấy mấy chữ đó rồi hai tai bà ù lên không nghe thấy gì nữa. Mắt bà nhòa lên vì những giọt lệ trong khóe mắt chảy ra. Đồng thời bụng bà róc rách sôi, đau nhói không thể chịu được.
Chiều hôm ấy, người mẹ khốn khổ đó về Bắc Giang không những chẳng được gì, lại còn đèo thêm bệnh đau bụng. Ấy là kết quả của những liều thuốc cai đẻ có thủy ngân và các thứ lá lảu kỳ dị bà uống vài năm trước đây!




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 09.03.2021 12:58:00 bởi Ct.Ly>
III
 
 
LẦN này là thứ ba, thằng Đức trở lại đứng trước tấm biển quảng cáo của rạp Majestic. Nó do dự không biết có nên đi xem không. Dở tiền trong túi ra đếm thấy còn có năm đồng, nó thở dài. Tối hôm trước nó còn sáu nhưng đi xem chiếu bóng cũng ở cái rạp này, rồi tiêu cả ngày hôm nay nữa hết một đồng như thế đã là hà tiện lắm đấy.
Nó do dự không biết có nên đi xem không, tối hôm nay đổi phim, cái phim này nghe qua mấy tờ quảng cáo thì cũng xem được. Mà xem được hay không có cần gì lắm đâu, cần nhất là để tránh cái bực dọc khổ sở này. Đi đi lại lại chán, sau cùng nó nhất định vào lấy vé. Thì ít nhất cũng tiêu được quãng thời gian từ giờ đến nửa đêm.
Vào trong rạp, ngồi yên chỗ, thằng bé càng thấy tâm trí hỗn loạn. Gác một chân lên ghế đằng trước, ngửa đầu vào lưng ghế, nó tưởng ngồi như thế sẽ dễ chịu, nhưng cũng chẳng hơn chút nào, nó lại đồi kiểu. Luôn mấy lần như thế, nó vẫn không sao tránh được một nỗi ray rứt khó chịu, dường như óc nó đang bị bao nhiêu con đỉa rút rỉa. Ngồi không được, nó đứng dậy đi quanh rạp, trông thấy có một cô gái bé xinh xinh mà lại chỉ có một mình, nó lại gần lân la tán truyện. Cũng là để cho khuây. Cô bé mỉm cười rất có duyên, lại trả lời mấy câu hỏi vẩn vơ của nó, nghĩa là ít nhất cũng nên quen được rồi. Nhưng chỉ nửa phút, nó quay đi ra ngoài với một thái độ rất vô phép làm người suýt thành bạn ấy phải ngạc nhiên.
Muốn đi quanh đi quẩn thế nào thì đến lúc đèn tắt cũng phải về ngồi yên một chỗ. Thằng Đức chán chường nhớ lại những ngày qua. Nó nhớ đến cái tuổi mười sáu của nó và nó tự thương nó vô cùng. Mười sáu tuổi nhưng trông nó như người mười tám hay hơn, phần vì tầm người hơi cao, phần vì mặt già bởi hay nghĩ ngợi . Mười sáu tuổi từ kỳ tết vừa rồi, nó đã sống mười lăm năm và lúc này nó điểm lại những việc đã xảy ra trong quãng đời đã sống. Năm lên chín, mẹ nó mang nó lên Bắc Giang, năm mười một, gia đình nó theo Tin Lành, năm mười ba giữa năm ấy mẹ nó bỏ đạo Tin Lành, năm mười bốn nó trượt Sơ-học-Pháp-Việt... Đến đây ý nghĩ nó kéo sang gia đình. Nó nhớ đến cảnh nghèo, nó nhớ đến cha mẹ nó hay cãi nhau đến nỗi nó phải ước ao rằng mình không phải là con của cái gia đình bất hòa ấy. Tất cả những cảnh trên đã hiện ra thoáng qua đủ để nó nhận, rồi mới đến lúc có những cảnh rõ ràng hơn. Nó khởi đầu thấy cảnh trường thi hôm nó còn là thằng bé học trò ngoan ngoãn mặc áo the, đi săng đan mới, đứng nghe bảng, cái cảnh trượt thi ấy đáng ra không nên có trong đời nó. Tiếp theo cảnh này là cảnh nó bị cha mắng rồi cắn răng chịu học lại một năm cùng những cuộc đi bơi, ngủ lang..v...v... Rồi tới cảnh ốm, cảnh đi thi, cảnh đỗ Sơ-học Pháp-Việt, được vào trường Bưởi.
Nhớ lại cái buổi đi tàu về thăm nhà trước hôm khai trường, những ý nghĩ hằn học và điều quyết định làm vui cả gia đình, bất giác nó tự thẹn. Cái buổi ấy cách đây chưa được một năm, chao ơi !
Trước kia trách cha, trách mẹ, bây giờ nó trách cả nó nữa. Nó trách nó không đủ nghị lực làm theo điều mình muốn, lại quanh quẩn thế nào để tới bước đường cùng hiện nay. Vẫn biết rằng có một hoàn cảnh xấu luôn luôn đi kèm nó đấy, nhưng tại sao không cố thắng được hoàn cảnh !
 Ở nhà bác là ông Phán Mẫn, cái ông Phán đã tiêu tiền két đến mất việc, được hai tháng, thằng Đức thấy cái khó khăn mình phải thoát ra là chỗ ở và hoặc dập đi, hoặc tìm cách thỏa mãn điều thèm thuồng là bộ quần áo tây. Lại mấy đồng bạc trả tiền quà nữa, tính sao cho chóng xong đi. Tìm được cách giải quyết rồi, nó chỉ mong sao thời gian đi thật mau hết niên học năm thứ nhất ấy, để về nghỉ hè, nó sửa soạn niên học năm thứ hai tốt đẹp hơn. Giá dòng thời gian cứ trôi một nhịp như thế, đứng bấp bênh như trên cái bè mục, nó cũng đành. Nhưng thêm một tháng nữa, một buổi ông bác ấy bảo cháu đi trọ chỗ khác. Biết trọ chỗ nào được, trong lúc khẩn cấp, nó chạy đến ông mục sư, câu truyện đổi chỗ ở của thằng bé giản dị như vậy. Nhưng bao nhiêu cớ để nó trốn học và bỏ đi bắt đầu từ chỗ ở mới này. Bắt đầu từ cái bệnh lở của nó, cái bệnh không chết người này là cớ đầu tiên đáng ghi. Vì cớ lở đau như vậy, nhà trường đã tống cổ đứa học trò về nghỉ để chữa, nó lêu lổng vì hàng nửa tháng liền không được đến trường cũng có lẽ. Cớ thứ hai là mấy thằng bạn ở đạo Tin Lành, chúng tàn ác trêu chọc thằng bé khù khờ mới ở tỉnh nhỏ đến kinh đô, để nó sinh ác cảm phải đi tìm mấy thằng bạn ở ngoài. Trong lúc tìm bạn ấy, chẳng may nó gặp ngay thằng Định ở Bắc giang ngày trước và thằng Văn con bà cụ Ấm. Cớ trực tiếp là hai đứa bạn này.
Ngồi trong rạp chiếu bóng, thằng Đức nhớ lại những buổi gặp thằng Định và thằng Văn mấy ngày trước vừa oán bạn vừa giận mình.
Mấy ngày trước có hơn chục bạc trong túi, nó bị thằng Văn giật khéo mất hai đồng và thằng Định rủ đi chơi tiêu mất hai đồng nữa. Số tiền vừa đủ trang trải các món thành ra thiếu mất bốn đồng. Bốn đồng bạc ăn, ba đồng sáu bạc học và hai đồng rưỡi thuê sách cộng là mười đồng một, giá đừng tiêu xu nào thì vừa đủ, nhưng trót tiêu mất bốn đồng rồi thì làm thế nào? Cũng là nó không biết tính chứ không thì chỗ bảy đồng còn lại hẵng đem trả tiền học, tiền sách đi đã rồi viết thư nói thực với cha mẹ là xong. Nhưng nó lại không muốn thế, lòng tự ái nó mạnh quá, nên làm lỗi đấy rồi nó không dám nhận. Đầu tiên nó định cứ đưa trả tiền ăn và tiền sách trước rồi tiền học chạy sau, nhưng như vậy cũng không ổn, đằng nào nhà trường cũng tống cổ về. Cái ông ‘‘économe’’ lùn quái ác ấy lại bắt đưa cả tiền sách thì mới nhận. Thằng bé ấy ương ách nhất định chạy cho ra bốn chục đồng bạc để trả cả ba món một lúc. Nó phác ra cái chương trình như thế này : hôm sau nghỉ học để đi ‘‘xoay’’, tìm bốn thằng bạn mượn mỗi thằng một đồng. Nhưng đã ba bốn hôm rồi, không những không mượn được xu nào, lại hụt vào số tiền còn lại. Thằng bé ấy nếu nó biết đang lúc này, cha và mẹ nó nhận được hai cái thư đang buồn ở nhà. Nó có biết đâu!
Càng ngồi nghĩ nó càng thấy mấy ngày qua vừa rồi của nó là vô nghĩa lý. Nó hối hận ước sao thời gian đi giật lùi kéo nó trở lại một tuần lễ trước. Nó sẽ không nể thằng Văn, không cần thằng Định nữa, nó sẽ làm trọn bổn phận, nó sẽ đưa ngay cho bà mục sư số tiền ăn hàng tháng và đem trả cái ông tây lùn économe (người lo về tiền xuất, nhập trong trường)  trường Bưởi sáu đồng mốt bạc. Cái ước muốn kỳ quặc thời gian chạy giật lùi ấy không phải chỉ lần này mới có trong đầu thằng Đức, lần đi thi trượt đầu tiên, nó đã ước được trở lại lúc sắp bắt đầu đi thi, lần trong Tết nó đã ước được trở lại buổi đầu năm học.
Những việc xẩy ra là sự thực chứ không phải là mộng nữa, vậy làm cách nào đây. Đêm hôm trước ở rạp chiếu bóng ra, nó đi lang thang với cái hy vọng vớ được một số tiền rơi. Vừa thôi, không cần thừa, nhặt được mấy đồng bạc của một người giầu mà lơ đễnh nào đó, nó sẽ chờ sáng ngày lên trường trả tiền học, tiền sách rồi vào infirmerie (phòng trị bệnh, bệnh xa) khám ghẻ. Chắc chắn được nghỉ, nó về thẳng Bắc Giang viết thư xin lỗi ông bà mục sư rằng về không báo trước. Có thể như thế được lắm chứ, ở thành phố Hà nội này bao nhiêu người và trong số những người giầu ấy, bao nhiêu là người lơ đễnh.
Đêm hôm nay cũng như đêm trước, ở rạp chiếu bóng ra, nó đi lang thang vơ vẫn với cái hy vọng trẻ con rồ dại ấy. Đứng ở địa vị đứa bé hư rồi, nó không thấy như vậy là xấu, nhưng bỗng sực tỉnh ra, trở lại với cái bản ngã đứa bé lương thiện, nó buồn rầu ái ngại cho cảnh ngộ của mình rồi nó khóc. Cuối tháng giêng rồi nhưng trời còn lạnh như đầu tháng một. Vẫn còn lá vàng rụng, thằng Đức nhìn những chiếc lá buồn như mình cũng đang bị rụng khỏi cành.
Nghĩ đến tất cả mọi bạn cùng học, nó tự thương thân. Nó, nếu đặt vào một hoàn cảnh khác chắc không đến nỗi thế này đâu ! Tại thầy nó ? Tại u nó ? Tại nó ? Đi ở phố này nó thấy câu trả lời ‘‘phải’’, phải rồi, tại thầy nó như vậy, u nó như vậy, nó như vậy nên thành ra nông nỗi thế này đây. Nhưng đi sang phố khác, nó lại thấy câu trả lời  ‘‘không phải’’, nào thầy nó, u nó hay nó muốn cái cảnh này đâu, cả mấy người vẫn có tránh cơ mà.
Đêm lạnh và dài. Binh minh lên, thằng Đức vẫn không được chút an ủi nào.
- Thầy u mày đang đi tìm mày ghê lắm đấy, có về nhà không, lang thang như thế là cái chó gì. Bà cụ xuống đây hỏi làm ông anh, ông ấy mắng tao mãi. Ông ấy bảo chơi với mày làm gì để bà cụ tưởng là rủ rê mày.
Hai ngày sau nữa, thằng Đức gặp thằng Định và được người bạn quý hóa ấy tặng cho một câu như vậy. Hai đứa đứng lặng im nhìn nhau ở chân cầu thang cái ở gác Khâm Thiên. Nghe những lời đạo mạo của thằng bạn đang muốn tránh sự liên lụy, thằng Đức bĩu môi khỉnh bỉ, nhớ lại cái hôm hai đứa đi tiêu tiền.
- Thôi hôm nay chúng mình đi chơi suông thôi, tao có hơn chục bạc vào việc cả, thừa ra có chưa đầy một đồng bạc. Chốc mày có lấy mấy hào thì lấy.
Hôm ấy, giá thằng bạn này đạo mạo như hôm nay cho giá nó đừng nói câu này.
- Tao ở nhà buồn lắm mới đi tìm mày, thế nào hôm nay cũng cho tao đi ăn và ciné, hết độ vài đồng thôi chứ gì, mày lại xoay sau cũng được, mày xoay tài lắm kia mà.
Con người ta hóa ra dễ đổi giọng thật, hôm nọ nói như vậy mà hôm nay nó đã đổi hẳn không chút thẹn thùng :
- Hôm ấy ông đã bảo nếu tiền không cần thì hẵng, tiêu, còn nếu cần thì thôi, không nhỡ lôi thôi thì cả tao cũng mang tiếng.
Thở một hơi dài, thằng Đức quay đi, vai hơi nhún một chút:
- Thôi mày không phải nói lôi thôi nữa, tao đi đây, tao biết tao dại rồi, mày không phải lên mặt đạo đức nữa.
Thì ra thầy u nó đã đi tìm nó rồi đấy, không biết do bức thư của ông mục sư gửi về hay bức thư ở trường gửi về. Cái lỗi đã rõ ra đấy rồi, chẳng còn dấu diếm được ai nữa, nó còn mặt mũi nào gặp mặt những người quen. Đã phân biệt được điều phải và điều không phải, nhưng không làm được điều phải, nó thấy mình chưa đủ can đảm nhận lỗi với một ai. Thành ra đáng lẽ trở về, nó càng tránh xa hơn nữa.
Có một lần đứng trên xe điện, đến Quan Thánh, thằng Đức trông thấy thầy nó là ông Ký Thảo, đáng lẽ gọi, nó tránh vội vào trong toa. Lại một lần khác, nó thấy bóng u nó và thằng anh họ ở đầu phố, nó rẽ mau ngay sang một đường khác. Từ hôm đó, không bao giờ, nó đi ở các phố đông, cả ngày lang thang, có khi cả đêm, nó chọn mấy con đường vắng như đường Gambetta hay Carreau. Đi từ đầu đến cuối con đường, hai chân nó có lựa sao cho đúng những viên gạch sóng hàng trên bờ hè, nó lại đếm xem bao nhiêu viên nữa; làm cái việc vớ vẩn ấy cũng phải chăm chú để hết ý tứ, như vậy tránh được sự dày vò vì hối hận, sự bứt rứt vì không biết ngày mai sẽ ra sao. Những lúc nào mệt mỏi quá thì nó tìm đến nhà một thằng bạn cùng lớp ở Bắc giang, nơi nào nó biết chắc rằng không ai tìm tới. Đến chơi thường thôi, nó đã có sẵn một câu nói để thằng bạn tưởng như vậy :
- Moa bị lở, trường nó bắt nghỉ, buồn quá phải xuống toa chơi.
Tiết trời còn lạnh nên nó còn mặc bộ quần áo rét được; quần áo rét không phải thay, đi lang thang bốn năm hôm thấy nhầu nó vào một hiệu thợ là cởi ra thuê là; ấy là quần áo ngoài, còn đồ lót trong, tìm một thằng bạn khác, cho đi xem chiếu bóng một buổi, nó mượn khéo một cái chemise và một cái quần. Như vậy trông nó cũng sạch sẽ, không mấy ai biết rằng nó đang lang thang.
Được một tuần lễ bình yên trong cảnh chẳng bình yên chút nào ấy. Nhưng đến hôm thứ tám, tính từ lúc bỏ nhà trọ đi là thứ mười hai, thằng Đức bắt đầu lo vì số tiền tiêu rất hà tiện kia đã hết không còn một xu. Ngày hôm ấy, nó nhịn đói; nhịn đói, đi ngoài sương lạnh đêm khuya, nó thấy cảnh sống như vậy lại có phần êm ái, thú vị, vì không nghĩ ngợi gì nữa. Dĩ vãng nhắc đi nhắc lại mãi cũng nhàm. Tương lai, bàn làm gì nữa, nó đến tự khắc nó đến, chỉ có hiện tại, hiện tại là một kẻ ma cà bông chính hiệu. Ngày hôm sau, nó tìm ra được một cách có thể tạm giải quyết được vấn đề gay go là ăn; chẳng phải khó khăn gì, chỉ việc mỗi lúc gặp một thằng bạn nào nó vẫn nể mình xưa nay, mượn nó mấy hào, mấy hào hẳn phải có. Rồi mấy ngày sau nữa, nó lại bày được một cách thú hơn không mượn tiền nhưng mượn sách, quyển sách nào nó có ở nhà đi rồi còn trả lại, quyển sách ấy bán lại cho hàng sách cũ tức là mấy bữa ăn của nó.
Bao nhiêu tính tình tốt đẹp, lương năng, lương trí, dường như nó dẹp tắt hết cả, mặc cái phần vô giác được phát triển hoàn toàn. Đứa con ngoan hai năm trước chỉ trong một quãng thời gian rất ngắn đã thay đổi hoàn toàn.
Những cái gì cao quá cũng phải đổ, bỏ nhà đi tính ra được nửa tháng, hư thân đến như vậy, bỗng dưng một buổi sáng, thằng Đức thấy mình trở lại làm mình như ngày xưa. Nó ghét nó, thương cái cảnh dập dồi lúc ấy. Nó muốn thoát ly nhưng không biết tìm cách nào khác cách chết. Chết, chết là phải lắm, mười lăm năm sống của nó, trừ một ít năm là trẻ thơ, còn đáng xóa đi hết cả.
Người mẹ gặp con thực vừa lúc.
 Một buổi sáng tinh sương. Theo lời chỉ dẫn một đứa bạn của con, bà Ký Thảo gặp thằng Đức mặc nguyên quần áo dạ nằm nửa người trên giường, nửa người dưới đất.
- Đức, Đức dậy u bảo, con.
Mở bừng hai mắt, thằng bé mười sáu tuổi giật mình.
- Con đi đâu để u phải đi tìm mãi, đã một lần ra, một lần về, hôm kia u lại sốt ruột ra nữa, cứ như thầy con thì chẳng tìm tòi gì đâu. Con chỉ làm tội mẹ thôi con ơi.
Sau cái phút bỡ ngỡ ấy, đứa con theo mẹ về nhà bác thẫn thờ như một trẻ mất hồn.
 
 
 
 
 
IV

 
THẾ nào, bây giờ con định ra sao, học ở trong trường nữa hay ra ngồi học tư với anh Hinh ? Con nói đi để u liệu về bảo với thầy. Còn ở đằng ông mục sư con không muốn thì thôi, cử ở ngay đây với bác, còn
có hơn một tháng nữa về nghỉ hè, rồi kỳ khai trường sau, u sẽ tìm cho một chỗ ở tử tế.
Bà Ký Thảo cố tìm một giọng ôn tồn nhất để khuyên con. Thằng bé vẫn ngồi lặng im, tần ngần không nói gì.
Ông Mẫn sốt ruột cũng phải bảo:
- Thím việc gì phải hỏi nó nữa, đang học trong trường thì cứ học trong trường, nó đã đuổi đâu, có phải cái số tiền học ấy chú ấy đã gửi vào trường rồi không ?
Bà Ký lại hỏi con :
- Thế nào liệu không phải đuổi chứ con. Con nghỉ lần này mười bảy ngày rồi lại hồi trong năm nữa, tất cả là bao nhiêu ngày, liệu có đủ sức lên lớp không?
Bấy giờ thằng bé mới chậm chạp trả lời:
- Ngày trong năm, trường nó bắt con nghỉ tất cả hai lần cũng chỉ vào nửa tháng cộng với mười bảy ngày nữa là một tháng với hai ngày, vẫn còn được lên lớp ạ. Còn đủ sức thì làm gì chẳng đủ sức, chương trình đã học hết rồi, chiều hôm nay u cho con xin một đồng đi lấy cái certificat médical (giấy chứng nhận y tế) đưa vào trường để lấy cớ rằng vì ốm nên mình mới phải nghỉ... rồi mai u về đi, không ở nhà các em bé không có ai trông nom.
Bà Ký thở dài bảo con bằng một giọng ảo não :
- Con dại quá, giá có trót tiêu ít nhiều hỏi xin mẹ ngay, có phải không có chuyện gì xảy ra không. Lần này đi, về u cũng mất đến gần ba chục bạc đấy, lại đèo thêm cái bệnh đau bụng nữa. Nhưng mà bao nhiêu thì u cũng chẳng tiếc, chỉ mong sao con được học. Ngày mai con lên trường ngay đi nhé, được học thì viết ngay thư về cho u mừng. Lát nữa có tàu, u về đấy, cũng chẳng chờ đến mai được đâu.
Chiều hôm ấy, bà Ký về Bắc giang, yên trí rằng con được học. Nhưng hai ngày sau, thấy thằng Đức cũng lù lù dẫn về. Thì ra cái rủi vẫn chưa buông tha gia đình ấy. Làm lại có bao giờ dễ đâu!
Buổi sáng hôm ấy, thằng Đức lên trường với bao nhiêu dự định, bao nhiêu hy vọng để theo. Nó tin rằng đưa cái giấy nói láo có đốc tờ ký tên chứng thực rằng bị sốt rét ngã nước mười lăm ngày vào phòng khám bệnh nhà trường thì thế nào cũng được đi học. Không phải mình nó nhưng đã có bao nhiêu người khác thoát nạn bằng cách ấy. Được đi học rồi nó sẽ cố chăm chỉ để cuối năm, tờ giấy nhà trường gửi về không có mấy chữ phải học lại. Sau vụ hè này, từ niên học sau nó sẽ sống một cách có quy củ, có thứ tự hơn không bao giờ có sự gì đáng tiếc xảy ra nữa. Nhưng mọi việc chẳng theo ý nó, vì vừa đưa tờ giấy vào cho viên у sĩ của nhà trường, nó bị ngay ông tổngg giám thị tây đứng đó chú ý đến bàn tay. Thế là nó phải cởi trần ra khám ghẻ, kết quả là nghỉ đến khi nào khỏi hẵng đi học (congé jusqu'a la guérison). Giá là ghẻ thì chữa chỉ mấy hôm đủ khỏi, nhưng cái bệnh lở tệ hại này, còn dây dưa chán. Thằng bé lo âu nhờ đến cái anh Văn con bà cụ Ấm, anh chàng này học năm thứ ba bị lở từ năm thứ nhất. Nó sợ nhất không phải bị tống cổ nhưng bị giữ lại năm thứ nhất. Cả một năm học đúp ở Bắc giang đủ cho nó hiểu hết nỗi chán chường.
Đành về Bắc giang vậy, về nhà uống thuốc ta hay tiêm thuốc cho khỏi đi lại đi học Làm thế nào đi học ít nhất được một tháng nữa rồi hãy nghỉ hè, như vậy mới có cơ lên lớp được.
Thấy con về, bà Ký Thảo vừa mừng vừa sợ. Bà sợ hay con bà bị đuổi rồi về nói dối cho qua chăng.
Nghe con giảng giải mãi bà mới tin lời. Nhưng còn một điều khổ là ông chồng nữa.
- Thằng kia đã đi ăn mày về đấy phải không?
Nghe chồng nói như vậy, buổi trưa hôm ấy, bà Ký dẫu tức mà vẫn phải tươi cười :
- Nó được vào học rồi nhưng nhà trường người ta còn bắt về nhà chữa lở.
- Chữa gì, chữa cái ăn mày ấy ! trường nó lại đuổi rồi chứ gì.
Thằng Đức lẳng lặng đi ra ngoài. Bà Ký vẫn phải đấu dịu với chồng:
- Thầy mày ôn tồn một chút. Việc trót dại của nó dù sao cũng đã lỡ rồi. Bây giờ phải tính sao cho nó khỏi, để nó vui mà đi học chứ. Thày mày nói như thế phỏng có ích gì không ?
Ông Ký thở dài. Mọi việc xảy ra, ông cho là tại vợ, tại con cả. Nghe theo ông thì có bao giờ phải bận tâm, bận trí. Khi người ta đã tự cho là phải thì người ta có quyền giận dữ bắt người khác phải chịu sự giận dữ của mình. Cũng như mọi người ông Ký nhăn nhó :
- Đợi một vài hôm nữa, nếu trường nó đuổi thì có giấy về ngay đấy mà. Nếu đến như thế thì ăn mày, ăn mày... Nếu đến như thế thì tống cổ nó đi cho nó ăn mày trước còn hơn là để về sau mới ăn mày.
Quay lại vợ, ông sừng sộ:
- Còn u mày nữa, khỏe tin nó, chiều nó, có muốn đi ăn mày một thể với nó thì đi người ta không giữ.
Bà Ký vẫn phải lặng im. Cốt sao cho đứa con được khỏi bệnh đi học, bà cố nín ít lâu nữa chịu hết cái khó chịu vô lý của chồng. Chỉ ít lâu nữa thôi vì bà đã tính rồi. Bà không tính về nhà quê, nhưng định lên Lạng Sơn. Với cái vốn nho nhỏ, mấy mẹ con đủ bữa rau, bữa cháo. Đành rằng không bằng ở nhà được nhưng thảnh thơi hơn nhiều. Sống như ỷ lại vào chồng, bà không tìm câu nào cãi lại được. Luôn luôn ông Ký tỏ ra rằng mình đi làm, mỗi tháng có lương đưa về nhà, ông đã đủ bổn phận rồi, không còn nói ông vào chỗ nào được nữa. Bà Ký muốn can gián ông đi đánh tổ tôm, dù chỉ vậy thôi, thì hãy làm thế nào cho ra tiền đã. Giá mấy đứa con không hư, ừ, giá mấy đứa con, như con người ta! Người mẹ nông nổi ấy không đi sâu một chút nào vào tâm hồn con, nên lúc lòng thương nhạt, bà bắt đầu giận đến thằng bé:
- Khổ quá, đả năm ngoái lúc sắp đi thì, mày đến nhà thằng Định rồi mày về, mày ốm. Tưởng rằng đã được vào trường rồi thì thôi, những tật cũ con bỏ đi, không ngờ con vẫn thế. Mẹ khổ vì con bao nhiêu đấy con ạ.
Lại cái bụng quằn quại đau, trông lũ con đàn: thằng Tề, con Dung, thằng Vượng, con Ân Điển, thằng Hưng và thằng cháu là Bân.
- Đẻ con ra mà con nó hư, nông nỗi ấy biết nói làm sao bây giờ !
Như tất cả các bà mẹ khác, bà Ký than thở như vậy.
Cũng may một năm nay, thằng Tề không bỏ đi đâu. Những cái miệng đàm tiếu của thế gian đổ xô vào thằng con lớn. Bà cụ Ấm, bà Thừa Minh, bà Ký Thu, mấy người đàn bà có cái giao tình cũ nhất phàn nàn cho bà Ký:
- Quái, cái anh Đức nhà bà tưởng ngoan, hóa ra cũng tệ nhỉ. Hay tại mồ mả trong nhà động điếc làm sao ?
- Chắc tại ông ấy theo cái đạo Tin Lành nên trong nhà mới sinh ra lắm chuyện chứ nhà khác có bao giờ thế đâu.
Mỗi ý của người ngoài góp vào là bà Ký lại càng bối rối. Điều giản dị do cái gia đình bất hòa gây ra, bà không nghĩ đến. Bây giờ biết làm thế nào để cứu vớt lại đây ? Câu hỏi ấy hiện ra luôn luôn trong trí bà mà không có câu trả lời. Bà sẽ xa chồng, như vậy có lẽ bà đỡ khổ, nhưng chưa biết chừng càng tai hại hơn nữa. Khốn nạn! Những đứa con nhỏ nữa, rồi chúng sẽ ra sao đây? Chúng lại như anh chúng chăng?
Không có ai, mãi sau mới có bà cụ Ấm bàn giúp và điều:
- Con nó hư hay nó hỏng đã chót rồi thì mình làm cha mẹ lại phải tính sao chữa lại. Cứ mỗi lúc mà bỏ mặc nó hay sao. Chuyến này, bà lại phải cho anh ấy đi học, nó bỏ đi, mình lại bắtvề  nó không học, mình bắt nó học, chúng nó còn bé dại, chúng nó biết gì. Mình là cha mẹ mình phải tính chứ, nói như ông Ký thì vừa, có bố mẹ không trông đến...
Bà Ký ngậm ngùi cúi đầu. Lời khuyên của bà cụ hơn tuổi, bà thấy có lý lắm. Bà cụ Ấm từ trước đến giờ đã giúp đỡ bà bao nhiêu lần, lần này bà lại phải cảm động một lần nữa. Ngồi trầm ngâm, bà Ký nhớ lại lần đầu tiên mở cửa hàng mượn vốn bà cụ, nhờ bà cụ hết cả, rồi những lần giật mượn tiền nong lúc nhỡ ra túng thiếu, lần thằng Đức ốm, lần bà đau vú, bà cụ đã săn sóc thế nào. Chính ngay ông chồng và những người thân nào ai đã dễ được như bà cụ.
- Chẳng biết bà có tin lời tôi nói chăng, tôi thì tôi cho sở dĩ có những sự này cũng bởi ông ấy đi đạo đấy, lại động mồ, động mả trong nhà mà bà không biết...
- Vâng, cụ nói có lẽ lắm, bác Ba cháu, chú Sáu nó, lại có một lần chính thầy cháu nữa, ai cũng bỏ nhà đi một lần cả. Bây giờ biết làm thế nào?
Cái bộ máy gia đình, những con người bị buộc bên nhau bởi luân lý, bởi hoàn cảnh, trí óc hẹp hòi của hai người đàn bà không bao giờ có thể nghĩ tới. Bởi vậy câu kết luận như thế này :
- Cái việc đi học của anh ấy, ông bà định thế nào tôi không dám bàn tới, nhưng còn cái việc kêu cầu lễ bái, lấy chỗ tình thân tôi xin giúp bà.
Thằng Đức ở nhà mười hôm. Mỗi ngày hai lần tắm nước lá bôi thuốc và một thang thuốc tiêu độc, những mụn lở se dần. Chưa khỏi hẵn nhưng cũng phải tính đi học, hai vợ chồng ông bàn tính với nhau để rồi lại cãi nhau.
- Thầy mày lần này đưa thằng Đức đi Hà nội chứ hay để nó đi một mình ? - Bà Ký hỏi chồng như vậy - Lần này thầy mày định để cho nó ở đâu ?
- Thì cũng lại ở nhà ông mục sư chứ còn đâu nữa. Nhân tiện, mai chủ nhật ra chơi, nói chuyện với ông bà ấy, chứ không một mình nó ai người ta cho ở.
- Thày mày lại còn gửi nó vào đấy làm gì. Nó không muốn ở, lại người ta cũng không muốn thì mình còn cầu làm gì. Tôi tưởng cứ để nó ở với thằng bạn nó ở phố hàng bún, mỗi tháng mình chịu khó tốn ba đồng nữa. Cũng chỉ còn tháng này thôi là nghỉ hè, sang năm học mới, mình lại tính khác, không xin được tiền học thì nhờ chú Chi làm giấy nhận làm con nuôi vậy.
Ông Ký nhăn mặt - cái thói nhăn mặt ấy đã thành quen - bảo vợ :
 - Ấy hỏng từ những chỗ ấy đấy. Ở với ông bà mục sư, không sợ nó cũng còn nể; hơi một tý người ta viết thư cho mình ngay mà còn chưa được nữa là… U mày bỏ cho nó ở với bạn nó, chúng nó toàn một duộc như vậy cả.
- Thì thày mày đã để ở nhà ông bà mục sư chứ có không đâu. Tôi nói không nghe sau có xảy ra chuyện gì nữa thày mày đừng có trách nhé.
- Xảy ra chuyện gì nữa, xảy ra cái ăn mày ấy à?
Ông Ký lại đem ‘‘cái ăn mày’’ ra để kết luận. Ý ông đã quyết rồi, thế nào con ông cũng phải ở với ông bà mục sư, chỉ có nơi ấy là ông tin được. Ông cũng chẳng buồn đếm sỉa đến sự bất phục ngấm ngầm trong lòng vợ và con. Ông tưởng có thể bắt gia đình theo ý muốn, ông là chủ kia mà !
Chuyến tàu sáng chủ nhật chở hai cha con đi Hà Nội, rồi hai chiếc xe tay kéo họ về nhà ông bà mục sư.
Ông bà mục sư vẫn tiếp đãi niềm nở, nhưng thằng Đức bắt đầu khó chịu vì dáng điệu khinh khi của ông mục sư. Nó có lỗi, nó không chối, nhưng không phải vì thế để người ta bớt trọng nó. Lỗi nó làm không phải tự nó, ấy là do hoàn cảnh, do trường hợp, vả lại tất cả mọi người đều tội lỗi, ông mục sư vẫn giảng. Nó nghĩ như
vậy để kéo lấy phần phải về mình. Chỉ có bà mục sư làm nó cảm động. Người bạn của mẹ nó thừa lúc vắng người trách nó một câu:
- Cậu Đức tệ quá, có trót tiêu tiền ăn, cũng trả cho xong tiền học và tiền sách, có phải không xảy ra chuyện gì rắc rối không? Bảo sẽ tôi một câu, rồi tôi dấu diếm xin u sau cho, có phải êm không.
Câu trách ấy cũng gần như lời mẹ nó, thằng bé ngập ngừng không biết trả lời sao chỉ lặng im với bao niềm hối hận.
Chiều hôm ấy, ông Ký Thảo về Bắc giang, thở dài một cái tưởng đã xong bổn phận làm cha. Cái gì đã thành bất đắc dĩ - như cái việc cho con đi học lần này - cố nhiên là không vui. Càng không vui nữa, việc tính một đằng thành ra một nẻo. Chỉ được ba ngày, một bức thư của ông mục sư gởi về đem theo bao nhiêu niềm thất vọng: thằng Đức ngay buổi sáng hôm sau đã bỏ đi. Nó viết một bức thư cho ông mục sư, bức thư ấy có gửi về cho hai người cha mẹ ấy đọc.
- Đây, u mày bảo thằng Tề nó đọc cho nghe hai cái thư này. Một cái của ông mục sư còn một cái của thằng Đức đấy. Đọc mà xem, mà biết con nó giỏi tới bực nào, mình hết cả hy vọng, không còn trông mong gì vào chúng nó. Cả cái thằng Tề kia nữa, rồi cũng đến thế thôi.
 Bà Ký ngồi ngẩn ngơ nghe bức thư của con:
 
Thưa ông bà,
Hôm vừa rồi, thầy cháu đưa cháu ra để phiền ông bà, để cầu sự giúp đỡ của ông bà. Gia đình cháu cần cháu đi học, học để rồi đi làm... Nhưng cháu đã làm hỏng, làm lỡ nhiều quá. Bởi vậy cháu không dám nhận lòng tốt của ông bà nữa.
Như trước kia thì lại khác, bây giờ cháu phải cố gắng đòi lại những điều gì đã mất vì lầm lỡ. Cháu không học ở trường Bưởi nữa nhưng sẽ học hai năm để đi thi ‘‘Brevet élémentaire’’. Học như thế cố nhiên vất vả hơn, và chưa chắc đã đạt được, nhưng cháu muốn làm như thế, cháu thấy làm như thế hợp với cháu hơn. Cháu không thể ép mình theo ý muốn của thầy cháu nữa, chắc thầy cháu buồn lắm, nhưng thầy cháu sẽ vui lòng nếu hai năm nữa cháu được thành đạt.
Dù sao cháu cũng xin cảm ơn những điều tốt và lòng tử tế ông bà đối với cháu từ trước đến nay.
Kính thư: Đức
 
Hai vợ chồng chán nản, nhìn nhau, trước kia vợ một ý, chồng một ý, gia đình xẻ ra làm hai, bây giờ lại xẻ ra làm ba vì con nó lại một ý khác nữa.
Vợ đổ lỗi cho chồng:
- Tôi đã biết trước như vậy, nó không ở đấy được đâu, thầy mày lại không nghe. Bây giờ nó đi thì biết nó ở đâu mà tìm.
- Nó muốn đi ăn mày thì cho nó đi ăn mày. Tính cho nó đến thế chứ còn đến thế nào nữa.
Lần bỏ đi thứ hai của thằng Đức kéo dài ra nửa tháng. Thằng bé lại lang thang suốt ngày đêm khắp các phố vắng với cái ý định làm lại cuộc đời bằng cách học hai năm đổ Brevet élémentaire. Gặp được một người bạn mới tên là Mỹ, nó càng hy vọng đạt được ý muốn. Cái anh Mỹ này cũng học ở trường Bưởi nhưng hơn nó ba lớp, anh này đã đỗ Brevet élémentaire và hứa sẽ dẫn dắt nó trong việc học.
Nhưng còn vấn đề tiền ăn, tiền học, điều này mới thực là khổ. Ông bà Ký Thảo vì nghèo cũng có, vì giận con không nghe lời cũng có không gửi cho nó một xu nào. Mười hôm đi lang thang ấy, nhiều hôm, thằng bé nhịn đói.
Hôm thứ mười một, hai mẹ con mới gặp nhau.
Lần đi tìm con này là thứ ba.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 09.03.2021 21:45:46 bởi Ct.Ly>
V
 
 
 
U mày rồi về sau ở với thằng Đức, mẹ con giống nhau ở với nhau.
Ông Ký Thảo bĩu môi bảo vợ như vậy. Trước kia, ông chỉ khó chịu vì vợ, bây giờ lại khó chịu vì con nữa. Bởi vậy trong cử chỉ trong lời nói thường tỏ ra nhiều thái độ đáng bất bình. Cái gia đình đã bất hòa lại bất hòa thêm chút nữa.
- Mình bảo là có sai đâu, cứ nghe mình ở nhà ông mục sư ngay từ đầu và đừng bỏ đạo, có phải chẳng xảy ra chuyện gì không.
Bà Ký phát khùng lên cãi lại :
- Phải rồi cứ cái gì xấu là giống mẹ, còn bố nó thì tốt, tốt lắm. Còn thằng Tề nữa, nó cũng hay đi là giống tôi đấy. Thì rồi nó ở với tôi. Nhưng thày mày đừng nói những câu nói khó nghe nữa. Khối gia đình người ta không có đạo, hỏi người ta có thế không, tôi thì tôi cho nó sở dĩ bỏ đi là vì đến ở đằng ông mục sư đấy. Không có chỗ nào ở nữa, bất đắc dĩ nó phải đến đấy, ông bà ấy tốt thực nhưng nó không chịu được cái đạo ấy thì nó bỏ đi chứ chẳng sao cả.
- Không chịu được cái đạo ấy thì chịu được cái ăn mày... đã ngu không biết người ta bảo lại cứ ương. Muốn ăn mày rồi thì được ăn mày.
Cái mầm chia rẽ bắt đầu nẩy ra một cái lá. Khằn khò với chồng xong, bà Ký Thảo bàn với con, cái thằng Đức sau hai lần bỏ đi ở Hà nội đã trở về nhà:
- Còn mấy tháng nữa hết hè, thế nào rồi con cũng phải đi Hà nội học chứ cũng chẳng ở nhà được. Làm thế nào tính được cách để u cũng ra ngoài ấy đây, chứ không một mình mày thì con cũng khó điều mà học được.
Thấy con lặng im chưa trả lời, bà lại tiếp:
- Con cứ xem thầy con thì biết đấy. U cứ ở gần một ngày là một ngày u bực. Rồi khổ lây đến cả lũ em nữa. Từ ngày lên đến giờ, u chưa lúc nào được vui, chỉ những tính chuyện đi chỗ khác hay về nhà quê. Về nhà quê thì không về được rồi, thế nào u cũng phải đem theo vài đứa em mà lương chắc là thầy không gửi, buôn bán phần không quen, phần vốn không có, khổ lắm con ạ.
Thằng Đức chép miệng bàn một câu:
- Vâng, kể ra cũng chỉ có một đường là sang bên ấy. Một vài năm nữa, thằng Tề thi đỗ, rồi con Dung, u không sang thì chúng nó học làm sao được. Nhưng sang cũng phải có đường có lối, chứ có phải sang bừa được đâu. Còn phải thuê nhà, còn phải sắm sửa cũng tốn nhiều, u ạ. Mà sang bên ấy làm cách nào cho đủ, lương thầy gửi chắc chẳng được bao nhiêu đâu.
- U đã tính rồi con ạ, u hỏi bác Phán, bác ấy bảo ở chỗ Ngọc Hà, thuê cái nhà bốn năm đồng cũng đã rộng, cũng có thể thổi nấu cho mấy người học trò được. Cứ có được bốn người là thêm được miệng u và một em rồi. Đồ đạc sắm sửa cứ cho là mất năm sáu chục gì đó.
- Thôi hẵng để về sau hãy bàn. Nghỉ hè đã hết đâu, vả lại thằng Tề nó cũng lên lớp nhì trên. Còn hai năm nữa nó mới thi. Hay là u để đến lúc ấy sang cũng được.
- Hai năm nữa thì lâu lắm. Ở gần thầy mày hai năm nữa cũng bực.
Hai mẹ con bàn tính với nhau rút cục vẫn không giải quyết ngay được điều gì. Những ngày hè dài dằng dặc chán nản quá chừng. Thời gian như không đi nữa. Cái gia đình có những người sống bên nhau một cách bất đắc dĩ ấy vẫn ở cái nhà phố Nghĩa Long. Có một sự may: lương ông Ký Thảo lên tới quãng bốn mươi đồng; không như vậy thì không đủ được, nguyên một khoản tiền nhà đã năm đồng rưỡi.
Ông Ký vẫn theo đạo Tin lành nhưng tối vẫn đi đánh tổ tôm. Bước đường tiến của gia đình, hồi sáu năm trước, ông nghĩ đến một cách thiết tha thì bây giờ nhạt hẳn. Dần dần ông trở nên lãnh đạm, thằng Đức bỏ học trường Bưởi ông không quan tâm nữa; song hè nó muốn học đâu thì học; chỉ thỉnh thoảng nhắc đến, lấy làm khó chịu thì ông nói mấy câu cho hả. Làm ở nhà Băng hết năm nay là sáu, công việc ông không vất vả như trước nữa. Cái ông Chánh chăm chỉ đổi đi đến ông này là thứ ba, ông này thì dễ chịu lắm. Câu truyện phải đi làm chủ nhật - ngay chiều thứ bảy nữa - trở nên khôi hài.
Nói truyện với người nọ người kia, đến chuyện gia đình, ông Ký đã có một câu :
 
- Vợ với con, chán chết, không nghĩ đến nữa, nó đỡ bực.
Người đàn ông ấy đã có cái thành kiến về vợ và con như thế này : vợ ông là một người đàn bà dốt nát, vô học, không biết làm ăn gì cả, đã thế lại ương, con ông là một đứa trẻ hư, hèn yếu, không đủ nghị lực, đã thế lại không vâng lời. Điều nhận xét của ông không phải là không đúng, nhưng tệ một điều, ông chỉ nghĩ đến tật xấu của vợ con, ông không nghĩ đến đức tốt, và cái hoàn cảnh nó đào tạo ra con người nữa; bởi vậy đối với vợ con, ông coi rẻ hẵn đi.
- Hừ cứ nghe theo mình thì chẳng bao giờ có chuyện gì.
Nghe theo ông tức là bà Ký phải theo đạo Tin lành, giáo dục lũ con theo một cái khuôn khổ của đạo, thằng Đức phải ở nhà ông mục sư ngay từ đầu; đã có ý thiên hẳn về mình rồi, ông Ký không chịu trách nhiệm về mọi sự xảy ra. Tại vợ, tại con nên nó mới như thế đấy mà! Còn kêu ca gì nữa!
Ông chồng ấy không hiểu rằng chính bà vợ của mình cũng kêu ca về mình nhiều không kém. Bà Ký bảo con như thế này :
- Gia đình có sinh ra nhiều truyện không vui cũng là ở tại thày mày. Nhưng tao thì còn có việc gì. Tao chỉ có một tội là không biết buôn biết bán, nhưng mày thử nghĩ mà xem, từ thuở bé ở nhà quê, có buôn bán bao giờ đâu. Ví với bà cụ Ấm, bà Ký Thu, bà giáo Tưởng làm sao được. Người ta sinh vào cái nhà nó như thế từ thuở bé rồi, mà cũng phải bao nhiêu lần lỗ vốn chứ, còn tao chưa sắp buôn đã sợ lỗ vốn rồi, mà mình cũng có vốn đâu ! Tao phải mỗi cái tội là hèn là không biết làm ăn. Nhưng không phải bởi thế gia đình bất hòa. Đầu ở tự thày mày cả cái độ mới lên, tức mình tao đã về nhà quê mấy tháng, mày cũng biết đấy. Ai lại đưa một tháng vài chục đồng bạc, nhà dắt ngần ấy miệng ăn, có thiếu hỏi thày mày lại nhăn nhổ bảo tao hoang... Rồi lại cái đạo Tin lành nữa, từ ngày thày mày đi, thày mày nói nhiều câu khinh bạc chẳng ra gì cả, thày mày như khinh tất cả các bác, các cậu, ngay ông nhà tao là ngu, là không biết gì. Thì thầy mày đi đạo đã hơn ai, tối cũng vẫn tổ tôm. Lương có thế, vợ con bên cạnh bỏ không nuôi không được chứ không thì thày mày lại không thuốc phiện, cô đầu đủ cả rồi ấy à...
Người đàn bà ấy nói nhiều, nói dài lắm dường như để cho hả hết những nỗi uất ức trong đời làm vợ:
- Thày mày cậy mỗi tháng làm được mấy chục đồng bạc, thày mày miệt tao quá lắm, không chịu được. Mày thử nghĩ mà xem, tao ở với thầy mày chẳng qua chỉ được hai bữa cơm chín, cũng như một con vú chứ hơn gì. Được một lũ chúng mày ra đấy, hỏi đã được cái gì chưa.
Thằng Đức vừa giận mẹ lại vừa thương. Nó biết rằng mẹ nó khổ vì bố nó lắm, nhưng không phải vì thế để mẹ nó có những ý nghĩ riêng tây. Ở với chồng với con, mà bảo không được như con vú, với như con vú, còn có nghĩa lý gì không! Nếu thế thì cứ ở một mình cho nó nhẹ. Giận mẹ chán, nó giận đến bố, sao bố nó không biết cư xử thế nào cho vui lòng người bạn trăm năm của mình, sao bố nó quên được rằng bên cạnh mình cũng có một người sống, người ấy có quyền được sống, có quyền được vui. Ông Ký đã lấy làm bực mình vì vợ con không chịu theo lời ông nhưng sao ông không trách mình vụng, không biết cách bảo. Ừ, nếu ông khéo ra một chút, chỉ ở một vài lời nói, một vài cử chỉ thôi thì ông bảo gì vợ con ông chẳng nghe. Một mình ông cũng đủ khiến gia đình hòa thuận rồi.
Ba người vợ, chồng, con đều trông thấy lúc sụp đổ của gia đình nhưng không ai tìm cách cứu vãn cả. Chính ra có tìm chưa chắc thấy. Rồi đến lúc thấy, đã vững làm theo được đâu !
- Bây giờ thầy mày chỉ khéo cư xử cho cái gia đình được vui vẻ một chút là đủ rồi. Tự khắc trong nhà thịnh vượng hơn lên.
Một mìnhbà Ký nói ra miệng như vậy, còn ông Ký và thằng Đức mỗi người giấu một ý nghĩ.
-Bây giờ u nó cứ theo đạo như trước, chủ nhật bắt các con cái đi nhà giảng đứa nào lớn lên đến tuổi cho đi học, như thế thì chỉ mươi năm là khá...
- Giá thầy u cứ hòa thuận, bàn tính việc làm ăn với nhau cho trong nhà phong lưu lên một chút, theo đạo hay không cũng không quan hệ lắm nhưng cần nhất là theo thì theo cả nhà, mà không theo thì không theo cả nhà...
Mỗi người có một ý riêng, không ai bắt được ai cả, trong nhà vẫn lủng ca lủng củng. Ý nghĩ chia rẽ, tưởng chỉ ở một bà Ký, không ngờ có cả ở ông Ký nữa.
- U mày rồi thì ở với thằng Đức. Mẹ con giống nhau ở với nhau.
- Về sau, u mày ở với đứa nào thì ở.
Hai vợ chồng sở dĩ còn ở với nhau cũng bởi hoàn cảnh. Bà Ký thì do sự chưa làm ăn gì được. Ông Ký bởi cần phải có một người vợ ở bên như tất cả các người đàn ông khác.
 
 
 
 
 
VI
 
KỲ nghĩ hè đã qua. Ông Ký Thảo lại bắt đầu tính chuyện cho con đi học. Dù sao, ông cũng còn hy vọng ở thằng Đức. May ra nó tu tỉnh mà học được chăng ? Vả lại, ông đã từ nó đâu, hết tình cha con chăng nữa thì nó cũng cứ lù lù ra đấy, phải tính sao cho xong chứ.
- Giá mày cứ ở nhà ông bà mục sư học ở trường Bưởi, có phải bây giờ đã lên năm thứ hai rồi không ? Bây giờ tao cho mày tính, hỏi mày tính thế nào.
Nghe cha hỏi, thằng Đức đã trả lời ngay vì đã định sẵn từ trước.
 - Thày hẵng để con đi Hà nội đã, đi con tìm một chỗ trọ. Mỗi tháng tiền ăn thày cứ cho con sáu đồng, còn tiền học, con học đâu thì thầy gửi vào trường.
Năm nay đáng lẽ con lên năm thứ hai, thì cũng phải ba năm nữa mới thi diplôme. Vậy con học cái lớp hai năm thi Brevet élémentaire, nghĩa là nếu đỗ được thì sớm hẳn được một năm mà không nữa, sang năm sau, con lại thi kỳ nữa hai năm thi, thế nào chẳng đỗ bấy giờ cũng vừa bằng đồng bạn của con. Brevet élémentaire và diplôme bây giờ giá trị cũng giống nhau. Thi vào các sở hay học cours Normal để đi học đều được cả.
Ông Ký để cho con được tự ý chỉ mỗi tháng gửi cho mười hai đồng, sáu đồng bạc ăn, bốn đồng bạc học và hai đồng bạc lặt vặt.
Nhưng cái việc làm lại cuộc đời của đứa trẻ mười sáu tuổi ấy lần này lại hỏng. Tóm tắt lại nó như sau này :
Ở nhà đi, đến Hà nội, thằng Đức đi tìm cái người bạn nó gặp cái hồi trong hè. Chẳng khó khăn gì cả, đến chỗ trọ cũ của cái anh chàng Mỹ ấy là nó gặp ngay đồrg thời với mấy người nữa là Phú, Thường và Văn, con bà cụ Ấm. Cả bốn người này đều học ở trường Bưởi : Mỹ bắt đầu học năm thứ nhất banTú Tài, Phú, Thường và Văn học năm thứ tư cuối năm đi thi diplôme. Đối với cả mấy người, thằng Đức thành thực coi là bạn rất thân, có thể là một người anh. Luôn luôn bao giờ nó cũng chịu nhún xuống một chút làm một kẻ đi theo. Bởi vậy không may cho nó, anh chàng Mỹ nó tin đã không dắt được nó, lại bỏ nó lửng lơ giữa quãng đường để nó đi lạc.
Đức không trách ai, nó chỉ giận mình đã nhẹ dạ, đã không tự chủ được lại còn bị hại vì những thối xấu gặp năm vừa qua ở ngoài đời. Có một người cha, nó thấy cách xa quá, đến không thể giãi lòng tìm một câu khuyên bảo. Và mỗi tháng về nhà, thấy cảnh buồn, óc gia đình dường như tiêu tan dần hết.
Gia đình ông Ký Thảo lúc ấy đã thiên từ ngoài phố vào trong làng. Đó là ý của bà Ký. Giá thực phẩm bắt đầu tăng, cuộc sinh hoạt bắt đầu đến lúc gay go.
- Thầy mày có định tính để cho tôi làm ăn gì không, lương như vậy thiếu lắm.
- U mày thì đừng tính làm ăn gì nữa, mỗi tháng có ngần ấy tiền tính làm sao cho đủ thì làm, thế là đủ rồi.
Hai vợ chồng lúc bình tĩnh lắm mới bàn được với nhau như vậy.
- Thầy mày bảo hà tiện thì hà tiện vào đâu được nữa, mỗi tháng thầy mày đưa ngần ấy tiền, thầy mày thử tính xem gạo bao nhiêu, củi lửa, dầu đèn, sà phòng- những thứ lặt vặt góp lại cũng nhiều, tiền chợ mỗl ngày, thầy mày thử đưa nó đi mua mà xem...
Ông Ký lắc đầu bảo vợ:
- U mày chưa biết cái cách hà tiện. Phải từ cái nhỏ trở đi. Nhất nhất cái gì cũng rút tự khắc tiền nó bớt.
Dọn cái nhà tức là việc hà tiện đầu tiên. Bà Ký vẫn định từ lâu hễ có nơi nào tiện là bà dọn. Mỗi tháng năm đồng rưỡi phí quá.
Căn nhà mới dọn tới có ba gian, ba gian thành một buồng kê được ba cái giường, vài cái hòm, vài cái bàn và một cái tủ buffet. Như vậy cũng khá chật nhưng so với số tiền thì thật rẻ. Cái bà chủ nhà là vợ một ông đội theo chồng đổi đi xa, cho thuê nhà chỉ cốt tìm được người tử tế có thể ở lâu dài, chứ không cần nhiều. Số tiền thuê đồng niên mới là mười tám đồng, tính ra có một đồng rưỡi một tháng. Lợi một điều nữa là ở gần trường, lũ trẻ đi học cũng tiện.
Nhà dọn được mấy tháng thì tới Tết Nguyên Đán. Cái Tết này là thứ bảy tính từ ngày bắt đầu rời cái làng Sắn hẻo lánh ấy. Cũng như mấy Tết trước, bà Ký buồn rười rượi. Cái Tết này không phải là cái Tết trong trí bà thầm ước. Trong nhà không có tang cũng như có tang, không có câu đối đỏ gián cột, không thủy tiên, cành đào, tệ hơn nữa là không có mấy nén hương trên cái bàn thờ gia tiên nho nhỏ. Từ ngày bỏ đạo Tin lành, luôn luôn bà bị ám ảnh bởi điều thèm muốn ấy. Bà thèm cúng và cúng ở nhà, cúng công khai, không phải giấu chồng như tất cả mọi người quanh xóm đã cúng.
Ba mươi tết, thằng Đức mới ở Hànội về. Tết này nó thêm một tuổi nữa là  mười bảy, mười bảy tuổi còn non choẹt, nó đã bắt đầu có vẻ mặt ưu tư của một người ba mươi.  Chán gia đình đã đành, lúc này nó lại bắt đầu chán cả nó nữa như tất cả những người làm điều lầm lỗi  mà hối hận. Còn gần bốn tháng nữa thì nó thi Brevet élémentaire. Đầu năm học, nó bảo thầy nó đến sang năm mới thi nhưng ra học được một tháng, nó đổi lại chương trình. Trong lúc sốt sắng, nó định có bao nhiêu sức thả ra hết để làm một sự phi thường. Quả vậy, thực là phi thường nếu cuối năm học, trong khi các bạn nó mới lên năm thứ ba, nó đã đỗ và có thể vào học năm thứ nhất ban Tú Tài. Cả cái tỉnh Bắc giang trước kia coi thường nó bao nhiêu lúc ấy sẽ quay lại kính phục nó bấy nhiêu. Nhắc lại những sự đắc thắng ở học đường ngày trước, nó có ám thị:
Nhưng tất cả những hành động của nó, nó không biết rằng chỉ là mộc sự bồng bột nhất thời mà thôi. Còn bao nhiêu trở ngại giữa lối đường nhất là lối đường ấy là một lối đường tắt. Đầu tiên, sự chung đụng với mấy người bạn đã làm mất hơn một tháng trời. Cái anh chàng Mỹ trước kia nó tưởng có thể dẫn dắt nó trong sự học, giảng giải cho nó những quãng nào không hiểu cũng chỉ là một anh chàng nói phiệu. Chẳng ăn thua gì sốt cả, rút cục lại đến mình tự cứu lấy mình. Nó bắt đầu khinh thường sự học, chương trình bốn năm dài dằng dặc ấy, nó thấy rút lại một năm cũng đủ rồi.
- Còn có gì nữa. Tôi phác qua một cái thì anh thấy ngay nhé. Đi thi có một bài dicteé, một bài composition và hai bài tính là quan hệ, các bài khác như Histoire (môn lịch sử) Géographie(môn địa lý)  hay Sciences (môn khoa học) chỉ cần có học kỹ là được. Programme Math (chương trình toán học)  trong bốn năm, tôi dám cam đoan chỉ ba tháng là hết... Có nhà trường họ kéo dài ra.
Nói truyện với ai, nó cũng dám tuyên bố như vậy tưởng chừng mình sắp đỗ đến nơi. Nhưng thêm một ngày, lòng hăng hái của nó nhụt dần và đến lúc về ăn Tết, lòng tin đã gần như tắt hẳn.
Nhớ lại mấy tháng qua, nó chán nó lạ thường. Đáng lẽ với quãng thời gian ấy, nó phải học gần hết chương trình thi rồi, hóa ra một phần ba cũng chưa được kỹ. Gần hết thì giờ, nó đã phí đi vì những truyện lo tính tiền nong. Ở gần mấy người bạn, nó nhiễm phải tật xấu không biết tiếc tiền và tiêu không tính toán.
Có cái xe đạp của cha nó cho, cái xe mà ông em là ông Cai Mai mua hộ, nó phải bán đi để trang trải cho xong mấy món nợ. Mười hai đồng bạc nó chỉ được cầm nửa ngày. Mồng hai Tết, ông Ký về nhà quê chơi. Không phải vì người nọ người kia trong họ ông về, nhưng chỉ là để tránh cái khó chịu lâu ngày ở một chỗ ở. Cái gia đình ấy vắng một người cha đi ra lại vui. Chỉ có mấy mẹ con, mỗi ngày hai bữa cơm xong, hoặc ngồi nói truyện hoặc đánh tam cúc một trinh một cây.
Thằng Đức ngay đầu năm đã chán chường vì một câu nói chán chường của mẹ:
- Cứ thầy mày đi vắng thế này mà lại vui. Giá thầy mày ở trọ đâu, chỉ có mấy mẹ con như thế này tao lại thích lắm.
Thấy con không phát biểu ý kiến gì, bà Ký lại tiếp :
- Thầy mày vẫn muốn lấy vợ lẽ lắm đấy. Vẫn cứ nói đùa. ‘‘Giá nhà cô Vân cô ấy lấy mình thì mình lấy ngay’’. Giá lương thầy mày nhiều ra, cho mấy mẹ con ở riêng ra, tao bằng lòng ngay chẳng ghen tuông chút nào cả.
- Thầy con nói thế là nói đùa, chứ đã đi đạo rồi, còn lấy vợ lẽ làm sao được nữa... Mấy lại ngày trước thầy con cũng có hay chơi bời đâu.
Bà Ký lắc đầu cười :
- Mày không biết đấy, chứ thầy mày đã mê thì mê lắm kia. Ngày ở Dương Nham, thầy mày chẳng phải lòng mãi nhà cô Ký Lễ là gì. Mày không nghe ai nói truyện à?
Truyện vẩn chuyện vơ, bà Ký nhắc lại những nguyên nhân xui bà đã đi đạo Tin lành và những cớ gián tiếp và trực tiếp khiến bà đã bỏ:
- Cái ngày tao theo là cái ngày ở nhà bà cụ Điều. Kể ra tao dại quá. Giá không theo có phải bây giờ không phải khó chịu gì không. Mà không theo thì thầy mày cũng không bắt, nhưng bà mục sư dạo ấy bà ấy khéo nói quá, lại nhân việc bác Cựu ở nhà quê bác ấy nói tao chẳng ra quái gì, nhân thể tao tức nên mới theo... lúc ấy tao đã nghĩ đến chuyện bỏ rồi.
- Nhưng đã thế u còn làm phép bắp tem làm gì?
- Cũng lại là nể bà mục sư. Nhưng ba kỳ làm phép bắp tem ấy có phải mình tao bỏ đâu, bảy người tất cả họa chăng, còn thầy và bà Tiếp. Giá bà mục sư còn ở đây, tao cũng chưa bỏ, lại giá không có truyện lôi thôi với bà Minh Thịnh thì thỉnh thoảng tao cũng còn đến nhà giảng.. Nói cũng nhiều cớ chứ chẳng một cớ nào.
Nhắc lại chuyện cũ, bà càng buồn :
- Từ ngày bỏ đạo, thầy mày càng hay khằn khò, lại mày đi, thằng Tê đi, tao lắm lúc tưởng ở riêng ngay ra một mình cho nó đở khổ. Ngày mày ở Hànội đi, có người ở Lạng sơn rủ tao lên trên ấy buôn bán tao toan lên, nhưng chỉ thương chúng bay nên lại nán lòng ở lại.
Câu chuyện giữa hai mẹ con - chỉ hai mẹ con, vì những đứa kia còn nhỏ - bao giờ cũng hết ở cái chỗ dự định những việc tương lai:
- Thôi con chịu khó mà học đi, mấy tháng nữa tới kỳ thi may ra mà đỗ thì nhất, nếu không sang năm mẹ con ta lại bàn cách khác. Thằng Tề hết năm nay lên lớp nhất rồi, nó thi xong, u cũng phải tính ra Hànội chứ không thì hai anh em đi trọ, lấy tiền đâu ?
Mồng tám Tết, thằng Đức đi Hànội trong lòng mênh mông buồn. Ngồi trên tàu, nó bất giác nghĩ rằng nếu cuộc đời của nó cũng nhất định được như một chuyến tàu: mười giờ ở Bắc giang đi, mười một giờ đến Bắc ninh rồi mười hai giờ đến Hà nội! Chuyến tàu đời nó nhỡ hai lần rồi: cái ga thi Sơ- học Pháp-Việt và cái ga thôi học trường Bưởi.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 10.03.2021 21:16:38 bởi Ct.Ly>
VII
 
 
ĐÃ một ông ăn mày lớn rồi, lại ông ăn mày con này nữa, thằng Tề nằm sấp xuống kia,mau lên.
Bà Ký Thảo lặng yên nhìn vẻ mặt cau có của chồng rồi quay ra phía đứa con đang nằm sẩp xuống giường. Cái thằng Tề này từ trước đến giờ đã phải bốn năm trận đòn rồi mà vẫn chưa hết.
- Mày có lấy đồng bạc của tao bỏ trong ví không?
Ông Ký giơ cao cái roi mây vụt xuống một roi. Từ độ năm ngoái, thỉnh thoảng cứ phải đánh con nên ông sắm luôn mấy cái roi mây để sẵn.
 - Nói mau, mày có lấy đồng bạc không?
Ông Ký lại vụt nhưng thằng bé vẫn lặng im. Ông lại vụt nữa đến mấy chục roi liền. Thằng bé oằn oại như một con rắn khi bị bàn chân nào giẵm phải. Nó vẫn không nói. Từ lúc dự định cho đến lúc móc cái ví của cha, rút một đồng bạc, nó đã tính sẵn cái lúc phải đòn rồi. Được cái nọ phải mất cái kia, sướng cái lúc tiêu tiền thì khổ hai mông đít một chút cũng chẳng sao.
- Ông này lại còn gớm hơn ông lớn nữa đây. Ông kia mới nói dối, chứ ông này còn đèo thêm cái ăn cắp nữa...
Đã đến lúc bà Ký phải xen vào:
- Biết là nó lấy rồi, thầy mày đánh năm roi, mười roi xong rồi thì thôi, chứ làm gì mà đánh mãi như tra khảo thế. Con lấy của bố mẹ là thường, làm gì thầy mày cứ phải nhiếc mãi cái câu ăn cắp.
Trận đòn đánh con kết liễu bằng sự cãi cọ giữa hai vợ chồng :
- Thế không phải là ăn cắp, không phải là hư, thì là ngoan, vâng con bà ngoan lắm… bây giờ nó mới lấy của bố mẹ thôi, đợi đến bao giờ nó ăn cắp của người ta, nó ở tù, bấy giờ hãy nói…
Nghe chồng rỉa rói, bà Ký nhăn mặt :
- Thầy mày sao mà cũng ăn nói những câu độc địa như thế được nhỉ. Thế mà cứ kêu đạo tốt chẳng biết tốt ở chỗ nào ?
Một lời đi, một lời lại, cứ như vậy, cho đến hết buổi trưa hôm đó, lúc ông Ký đi làm. Hai vợ chồng cũng bực nhưng phần hơn bao giờ cũng ở người đàn bà ; đã chồng rồi lại con! Hôm đó là thứ năm, lũ trẻ nghỉ học ở nhà. Bà Ký gọi thằng Tề nói một cách cay đắng với nó.
- Sao mày cứ có những cái ăn mày, ăn nhặt thế con. Mày không biết rằng tao khổ vì thầy mày nhiều lắm rồi hay sao? Lại mày cứ làm cho tao phải cay đắng... Ấy đấy đã đến cơn đau bụng rồi đấy...
 Bà nhăn nhó nằm xuống giường, đau tưởng có thể chui đầu vào tròng ngay cho dứt nợ. Bệnh đau bụng phát ra từ ngày đi Hànội tìm thằng con lớn, chữa mãi không khỏi đến nay đã thành kinh niên. Chữa mãi không khỏi chính ra đã chữa lần nào hẳn hoi đâu, bà Ký cứ nhớ mà thấy như đau thêm một độ, lần nào cũng chỉ ra nhà thương xin được ít thuốc muối về uống chẳng ăn thua gì, có lần chán quá, bà quẳng ngay ra giữa sân. Đươc một ông chồng lại, càng thêm phiền não. Ông Ký đã không tính đến việc thang thuốc cho vợ, lại nói nhiều câu khôi hài cho bà Ký tức:
- Đau bụng có một thứ thuốc kiến hiệu nhất là phân trâu. U mày cứ bảo thằng nhỏ nó đi nó xúc một ít vào cái bát về nếm thử mà xem.
- Đau thì đau chứ mỗi ngày cũng vẫn ăn được hai bữa, mỗi bữa mấy bát cơm thì cần gì phải chữa nữa. Hay là gạo kém thế này, cứ để cái bệnh đau bụng mà lại tốt. Đỡ được một xuất gạo…
- Ấy không chữa rồi chưa biết chừng cũng sống đến tám mươi.
Mỗi lần ông Ký nói, bà Ký lại khó chịu trả lời:
- Có bao giờ tôi liệt giường, liệt chiếu không dậy được hay là sắp chết như cái ngày đau vú, bấy giờ thầy mày mới biết, mới cho là có bệnh. Sao có người lạ như thế nhỉ, vợ ốm mà cứ coi là đùa. Chẳng bù với ông giáo Thái bên kia, bà ấy hơi ốm là ông ấy đón thầy đón thuốc rối rít cả lên.
Nói đến như vậy, ông Ký vẫn còn cười:
- Cái bệnh của u mày thì cần gì thuốc, cứ đi ăn mày đi một dạo là khỏi.
Bà Ký nằm nhăn nhó trên giường, nhớ lại những cảnh ấy càng thấy sót xa. Rên rỉ, bà bảo con:
- Tao đến chết mất thôi. Thầy mày đã thế lại chúng mày nữa, những một thằng lớn, tao đã khổ tâm lắm rồi, bây giờ lại mày. Chúng mày cứ giết ngay tao đi còn hơn. Có chồng, có con mà làm gì.. Nhiều người cứ ao ước cái cảnh bà Ký đông đúc vui vẻ. Ai người ta cũng tưởng vui lắm, có biết đâu đến cái nông nỗi này.
Thằng Tề đứng đầu giường khóc sụt sịt phần vì hối hận, phần vì bực; đem gia đình nhà nó, nó so sánh với những cảnh gia đình khác để mà chán. Cái lỗi thầy nó vừa trừng phạt có phải là nó mắc trong một phút lầm lỡ đâu. Nó đã tính toán từng ly những việc sẽ xảy đến. Thì phải đòn là cùng chứ gì, phải đòn nhưng mà được đồng bạc tiêu. Làm một cách có ý thức như vậy, giá không có bà mẹ ở giữa thì thằng bé mười bốn tuổi ấy đã chẳng hối hận.
- Cứ mỗi lần mày phải đòn là mẹ mày xót ruột, mày không biết ư?
Nghe bà mẹ vẫn vừa rên rỉ vừa đay nghiến, nó sụt sịt trả lời :
- Hỏi xin thầy, thầy không cho, con mới phải lấy trộm. Chúng nó mỗi tháng bố mẹ cho bao nhiêu là tiền..
- Mày ngu lắm con ơi. Nhà chúng nó giầu nhà mày nghèo, con không thể suy bì như thế đuợc. Mày đã bằng ngần ấy rồi, mày cũng đã biết. Mỗi tháng lương thầy mày bao nhiêu, thầy mày đưa về cho tao bao nhiêu… Nhìn xuống bao nhiêu con nhà khác xem, có bố mẹ nuôi cho ăn đi học như mày mà còn hư thế, mẹ buồn lắm!
Giận con chán, bà Ký trở lại để giận mình:
- Tao cũng biết rằng tao hèn không biết buôn, biết bán để mỗi lúc con xin, mẹ có mẹ cho. Đã một thằng lớn, mỗi lần ở Hànội về, tao không có năm đồng, ba đồng tao cho nó, chắc nó cũng giận mẹ lắm. Lại bây giờ mày nữa…
Hai mẹ con cùng khóc. Đã chẳng bớt được nỗi buồn, càng khóc lại càng thêm cay đắng, xót xa. Bà Ký nhìn con vừa giận, vừa thương:
- Còn có một năm thì mày đi thi ở Bắc ninh rồi đi học Hà nội đấy. Thôi con cố chăm chỉ mà học đừng làm những sự như thế nữa, không thầy mày giận, thầy mày không cho đi học nữa thì tao cũng không biết làm thế nào. U đã bàn với thằng Đức rồi, đến dạo ấy, u sẽ ra ngoài ấy trông cho chúng mày. Thương con mẹ cũng chỉ biết bảo con như thế, mày có nghe thì nghe, hay mày cứ làm thế thì tao cũng chịu. Tao đã tính cách cho tao rồi.
Thằng Tề cúi đầu không đáp có vẻ ngẫm nghĩ. Bà Ký ái ngại tiếp theo một câu để an ủi con:
- Lần sau, con có tiêu một vài hào nó vào việc xin u, u cho chứ đừng lấy của thầy mày làm gì. Tao tưởng mỗi lần lấy một ít tiền mà xảy ra lắm sự thế thì tiêu cũng chẳng thích.
Sau lần ấy đến hai tháng không xảy ra điều gì. Cái gia đình ấy buồn là dĩ nhiên rồi, nhưng không xảy ra một chuyện cãi cọ nào. Ông Ký mỗi buổi tối vẫn đi đánh tổ tôm và chủ nhật vẫn đi nhà giảng.
Bà Ký lấy thế làm chướng, nhưng vẫn mặc chồng. Chỉ khi nào ông Ký nói chạm đến việc cúng lễ của mình bà mới lôi ra để mỉa lại :
- Thì thầy mày đi đạo đã hơn được cái gì chưa, tối nào cũng đi đánh tổ tôm rồi chủ nhật cắp quyển Kinh Thánh đến nhà giòng, thế là giữ đạo đấy.
Ông Ký cười :
- Không theo đạo còn quá nữa ấy, u mày chẳng hiểu nhẽ gì cả. Người ta cũng phải có lúc sa ngã chứ, nếu giữ được hoàn toàn thì đã là ông thánh rồi. Miễn là hôm nay hỏng đến mai lại làm lại...
- Thế thì những lúc nào trong túi không có tiền những lúc ấy hẵng làm lại, còn lúc nào có tiền thì cứ sa ngã...
Nhưng một buổi sáng, bà Ký xuống tàu thủy về nhà quê chơi. Chốn xóm làng tồi tàn, hẻo lánh ấy dù sao thỉnh thoảng bà cũng muốn về thăm. Người cha già, mấy người anh, em nếu ở gần lâu có lẽ không chịu được, nhưng ở một nơi xa xôi, hàng năm không gặp, bà cũng thấy nhơ nhớ. Trước khi đi, dặn dò con cái và đầy tớ xong, bà còn ân cần bảo thằng Tề:
- U về nhà quê thăm ông, chóng ra cũng phải tuần lễ hay mười hôm. Trong khi ấy đừng để xảy ra sự gì, buồn lắm. Tao chỉ sợ tao về được mấy hôm là mày lại đi thôi. Thầy mày không tìm đâu. Không có tao thì đã ăn mày từ những dạo nào rồi.
Bà Ký đã tiêu liệu như vậy rồi, nhưng về nhà quê được ít hôm, lúc trở lại gia đình quả nhiên thằng Tề đã bỏ đi thực. Con Dung mười hai tuổi mách mẹ:
- U về nhà quê, ngày nào anh Tề anh ấy cũng bỏ đi chơi, anh ấy kêu anh ấy ốm để thầy giáo cho nghỉ. Chẳng buổi tối nào anh ấy ngủ nhà cả.
- Thế thầy mày không bảo gì nó à?
- Thầy bảo anh ấy thì anh ấy nói rằng đến nhà thằng Cần con ông chủ giây thép để vịết dictée.
Bà Ký lắc đầu với một vẻ thất vọng vô cùng:
- Thế nó có lấy của thầy mày đồng nào không?
Thằng cháu là thằng Bân trả lời thay cho chị:
- Không, anh ấy không lấy gì của bác đâu ạ. Hôm qua cháu gặp anh ấy đi chơi với mấy thằng bạn, cháu bảo anh ấy về, anh ấy còn định đánh cháu nữa.
- Thế cháu có biết anh nó ở đâu thì cháu đi tìm nó về đây cho bác. Cả thằng Vượng nữa con đi với em đi tìm anh đi.
Hai thằng bé đứa mười một đứa lên tám đi rồi, bà Ký đứng lặng hồi lâu nhìn cảnh chán chường trong ba gian nhà hẹp. Bộ bàn ghế có bốn cái ghế thì hai cái vỡ tựa lưng một cái bàn mọt ăn mất một nửa; cái giường ngủ của ông chồng từ sáng đến lúc đó là buổi trưa vẫn chiếu chăn bừa bãi, màn cũng chẳng buồn vén, khắp nhà lung tung chỗ này một vài chiếc guốc không vào đôi, chỗ kia vài chiếc giầy cái lành cái rách. Thế này thì con cái chúng cứ hay đi chơi cũng phải ! Ở nhà có cái gì vui để giữ chúng lại đâu.
Trạnh nhớ đến gia đình cụ Bá sinh ra bà ở nhà quê, bà càng rầu rĩ. Cái người con gái của gia đình ở nơi xa về để ngắm cảnh điêu tàn tránh làm sao được nỗi buồn, nỗi chán. Ở nhà quê, bà không muốn trách ai, nhưng lên đây, bà phải trách chồng một câu cho đỡ bực :
- Tại thầy nó chứ những ở mình thì con cái có đứa nào bỏ đi ! Đánh tổ tôm vứt đi bao nhiêu không tiếc mà có bộ bàn ghế mấy chục bạc không sắm được, trông mà nản, mình có phải là người làm ra tiền đâu.
Thằng Bân và thằng Vượng trở về nhưng không thấy có thằng Tề đi theo:
- Thưa bác, cháu đến nhà thằng Cần, em nó là thằng Vân ra bảo anh ấy không có ở đấy ạ.
Bà Ký ngập ngừng chưa biết định liệu ra sao thì thằng Vượng thêm:
- Con biết thừa là thằng Vân nó nói dối, nhưng nhà nó có chó, con không vào được. Anh ấy chắc đang ở trong nhà...
- Thế hai anh em lại đi lượt nữa đi. Tìm được anh về, ngoan, tao cho xu.
Cũng may lượt này thì thằng Tề về. Hai mẹ con nhìn nhau không nói. Thằng Tề có một bộ mặt bẽn lẽn của người phạm tội. Bà Ký thì trên trán nhăn thêm mấy đường nữa.
 






VIII


BÀ Ký Thảo ái ngại nhìn bà Thừa Minh. Vẻ mặt buồn rầu trong cái khuông sô gai lại càng thêm ảm đạm. Nếu đã đoán trước sẵn cái cảnh này thì lúc nhắm mắt hẳn ông Thừa cũng không đành tâm. Người cha, nhất là người cha công chức, như một cái trụ chống gia đình. Nay cái trụ đổ tất nhiên gia đình phải xụp.
Bà Ký sẽ lắc đầu bảo bà Thừa:
- Tôi trông cảnh bà lại sực nhớ đến cảnh bác Ba tôi lúc trước. Bác trai mất đi, bác gái cũng bơ vơ, chẳng biết dựa dẫm vào đâu, anh trên em dưới đều những người nghèo cả. Bà còn hơn cái có món tiền phụ cấp của ông, à, mà món tiền ấy bao giờ người ta mới cho lĩnh nhỉ, bà nhỉ?
Bà Thừa chép miệng đáp bằng một giọng hết sức chán nản:
- Biết đến bao giờ nữa, tôi cũng đã nhờ anh Phán Căn ở Hà nội anh ấy lấy giấy má hộ. Mình sở dĩ chậm như thế này chỉ vì mình không có đủ giấy má thôi. Vợ chồng lấy nhau từ năm nào thì đã làm gì có giấy giá thú. Trong lúc đợi ấy, biết lấy gì mà sống đây ? Mà có lĩnh được cũng chẳng lĩnh được mấy hột.
Hai người buồn rầu nhìn nhau và bà Ký thấy cái bổn phận mình lả phải an ủi. Ân cần bà bảo bà Thừa:
- Thôi chẳng qua nó cũng là cái số, bà ạ. Nói đến số là hết, chẳng còn oán trách vào đâu được nữa. Ông ấy mất đi, buồn cũng có buồn thật, nhưng chưa biết chừng là một dịp để mình làm ăn đấy, bà ạ. Nào thì bây giờ mình cũng buôn, cũng bán xem sao. Thử không có các ông ấy xem mình có sống được không nào! Nó lại thảnh thơi, bà ạ. Bây giờ hẳn hết cả những chuyện khằn khò...
Bà Ký ngừng lại để nghĩ về gia đình mình. Thở một hơi dài, bà cố sóa cái ý ước muốn quái gở vừa thoáng qua trong tâm trí: giá bây giờ chồng bà chết ngay đi và cảnh bà như bà Thừa hiện thời. Có một vài trăm bạc làm vốn bà sẽ mở ngay một ngôi hàng nho nhỏ; thằng con lớn lúc ấy sẽ đi làm mỗi tháng mấy chục cũng được, còn lũ trẻ em nó vẫn được đi học như thường. Như vậy có lẽ không có sự biến cố nào, cái gia đình tưởng sụp hóa ra vẫn vững, bớt người cha đi, bớt được những chuyện bất hòa.
- Giá tôi được như bà, có một vài anh lớn để đi làm, đở соn bé thứ hai yên phận rồi đã xong, còn một lũ chị em nó nữa... tôi lo lắm, bà ạ.
Nghe bà Thừa nói như vậy, bà Ký trạnh nghĩ đến cảnh mình, lắc đầu đáp một cách ngao ngán:
- Ở ngoài ai cũng tưởng như vậy, âi cũng tưởng tôi dễ chịu lắm. Mấy con trai đi học lớn lên đi làm thì tha hồan nhàn... bà chắc bà chẳng lạ gì. Cái thằng lớn từ ngày thôi học ở trường Bưởi, chẳng biết rồi có học có thi gì được nữa không, còn cái thằng bé thỉnh thoảng lại bỏ đi một trận. Tôi đã hại cháu tiền... Con hư, mẹ cứ phải che chở, khi nhà tôi giận nhà tôi đánh trận nào tưởng chết trận ấy.
 Câu truyện của hai người đàn bà tới cái chỗ than thở về gia đình. Không ai an ủi được ai chút nào, mỗi người buồn một cảnh.
Ngồi chán, bà Ký Thảo ra về với bao nhiêu mối bâng khuâng. Bước chân vào trong cổng trông lũ trẻ đã đi học về, đang nô đùa, bất giác bà thở dài. Sáu đứa con rồi, giá nuôi được cả  thì là tám, bây giờ lại sắp một đứa nữa là chín bận đẻ còn bảy; bảy đứa con cứ tiền gạo đang lúc kém đói này thật là một mối lo. Thằng lớn nhất lâu nay không về chơi, lại nghe người nọ người kia nói truyện rằng dạo này cũng hư lắm nghỉ học luôn luôn không biết rồi có thi cử gì không. Thằng thứ hai, cứ lúc nào thấy mặt ở nhà, bà mới yên tâm, chỉ ngại nó bỏ đi lúc nào không biết. Không tìm thì không nỡ, mà tìm cũng vất vả mà lại phiền não.
- Thằng Vượng vào u bảo cái này.
Gọi đứa con thứ ba, bà soa đầu con âu yếm:
- Còn mày nữa, lớn lên một tý là cũng bắt chước, như anh Đức và anh Tề ấy nhé.
Thằng bé lên chín nhe rằng cườl, cái miệng nho nhỏ trông hay lạ:
- U cứ nói thế, chứ con thì không khi nào.
- Không khi nào được năm nay, vài tuổi nữa xem.
Thằng nhỏ bưng mâm cơm đặt lên giường, lũ trẻ không đùa nữa, chạy ùa vào ngồi chung quanh. Đứa nọ tranh đôi đũa, đứa kia tranh cái bát tíu tít cả lên. Bữa cơm của cái gia đình nghèo mà lại đông con ầm ỹ như một đám khao. Thằng Bân con ông Cai Mai ở với bác được mấy năm rồi nên cũng giống như anh chị họ không khác chút nào. Nhớ đến cảnh người em dâu, bà Ký mắng yêu cháu:
- Gớm cái thằng Bân cũng ăn tục như anh chị thôi. U mày thì thật là sướng. Chồng đi vắng quanh năm, có hai đứa con gởi bác một, còn có một đứa ở nhà chẳng bao giờ phải bận bịu như thế này nhỉ. Mà cái nết u mày cũng dễ chịu, thật là bình chân như vại. Có một đứa con gửi đi trọ học xa mà quanh năm chẳng lên thăm con được một lượt. Tết cũng chẳng lên đón, có mỗi mống con trai, nhỡ ra không trông nom, nó làm sao thì mất giống.
Buổi trưa hôm ấy, ông Ký đi làm về, hai vợ chồng lại đem chuyện ông Thừa Minh chết ra nói. Cả hai người cùng có mối lo nghĩ.
- U mày có vào chơi trong bà Thừa không thế. Cái món tiền ấy người ta đã cho lĩnh chưa?
- Buổi sáng tôi cũng vào thăm bà ấy. Trông cảnh nhà nó buồn lạ. Tôi có hỏi thì bà ấy bảo đã nhờ ông phán Căn ở Hà Nội lấy giấy má hộ nhưng chưa được.
Sẽ lắc đầu, ông Ký nói :
- Mình đã bảo ông ấy từ trước ông ấy không nghe. Cả hai cái hại nếu tránh ngay từ trước đều được cả. Chỉ có đừng uống rượu và lo tính một nghề nghiệp hay buôn bán gì cho vợ con...
Bà Ký ngắt lời chồng:
- Thầy mày chỉ khoe khôn, khoe khéo chứ gia đình mình nào đã tính được chưa nào. Kể ra cũng có số thật, chứ ông Thừa thì ai biết rằng ông ấy chết chóng thế. Trước hôm ấy, tôi vẫn thấy ông ấy khỏe mạnh như thường.
- Khỏe mạnh như thường, nhưng mà dập mạch máu thì chỉ một giờ đồng hồ đủ chết rồi, không còn cứu chữa được. U mày thì chẳng biết gì cả, tất cả những người nghiện rượu đều có thể mắc bệnh ấy. Từ ngày còn ở trọ nhà ông ấy, nghĩa là tám năm nay người ta đã biết rồi.
- Còn gia đình mình.
- Lại còn nói đến gia đình mình làm gì nửa, đã bảo cứ nghe người ta ngay từ đầu thì còn làm gì có chuyện gì.
- Nghe thầy mày tức là theo cái đạo Tin lành ấy chứ gì ? Đến bây giờ mà thầy mày vẫn nói thế được nhỉ. Sao không rủ ông Thừa ông ấy theo với.
Ông Ký bĩu môi:
- Theo làm sao được cơ chứ, nếu theo được thì đã không đến nỗi thế. Bây giờ bà ấy và lũ con thì chẳng khác gì cảnh chị Ba ngày trước. Còn nhà này nữa, bây giờ mình mà như ông Thừa thì nheo nhóc ngay chứ gì.
- Thì thầy mày cứ thử như ông Thừa ngay đi xem nào. Dễ mẹ con tôi đi ăn mày ngay đấy nhỉ.
Ông Ký phì cười :
- Nói thế chứ nhà này tiếng vậy chứ cũng chẳng đến nỗi. Bây giờ mình có chết, u mày chỉ việc nói với ông Phương ông ấy xin cho thằng Đức vào làm cũng không đến nỗi đói. Nhưng mà nói thế chứ mình thì chưa chết được còn lâu.
- Nói không phải là tôi rủa, tôi mong cho thầy mày chết, chứ cái số thi ai đoán trước được. Ngộ bây giờ thầy mày ra kia gặp cái ô tô nó cán chết thì cũng thôi chứ gì.
- Chúa phù hộ, gìn giữ người ta, chết làm sao được u mày cứ cầu đi.
- Thầy mày thì cho là tôi chết trước chứ gì, truyện, đàn bà sinh đẻ nhiều bây giờ lại đau bụng nữa, nhưng mà biết đâu, cứ chờ xem.
Câu truyện nghiêm trang đã thành ra nói đùa :
- Người ta mà chết còn phải bối rối bấn bít, chứ u mày mà chết thì chẳng phải lo nghĩ gì cả?
Nghe chồng nói như vậy, bà Ký cười:
- Tôi mà chết thì lấy vợ lẽ là cùng chứ gì. Nhưng mà ai người ta thèm lấy. Lương ít, nhiều tuổi rồi lại đông con... Thôi thì tôi chẳng phải chết gì cả, tháng sau tôi cứ về nhà quê chơi hẳn một tháng xem trên này thầy mày làm thế nào. Bụi lại không ngập đến mắt.
Câu truyện đùa về sau cũng khiến bà Ký nghĩ ngợi cả một buổi chiều. Trông cảnh góa bụa của những người khác, bà không cho là buồn lại lấy thế làm vui. Nhưng bà cố xóa cái ước muốn quái gở mong cho chồng chét để thay vào bằng cái ý chia rẽ :
- Thế nào mình cũng phải tính buôn bán làm ăn ở đâu chứ không ở chung mãi được.
Nhớ lại một cảnh gặp ngoài đường, bà bất giác phì cười. Hôm ấy đi chợ về, gặp một đám ma ở giữa đường, bà đã nghe thấy một người đàn ông đứng bên đường nói đổng một câu:
- Đây đám ma vợ ông Ký Oánh đấy, năm nay nhiều người góa vợ quá, mới tháng trước bà đốc tờ Hải, Bà tham Minh. Người ta chết vợ đông tây cả mà mình thì vợ cứ sống lù lù, chẳng chết đi cho.
Bà Ký không dám nói ra và cũng không dám có ý nghĩ táo bạo thế. Lần ấy bà đã nhủ thầm :
- Chẳng gì cũng là nghĩa vợ chồng. Ra đàn ông họ bạc thật!
Giận chồng bao nhiêu, bực vì chồng bao nhiêu, bà cũng nhận rằng ông Ký Thảo còn tốt, còn khá hơn nhiều ông chồng khác.
Mắt bà đã từng thấy nhiều người cờ bạc, rượu chè bừa bãi ra, vợ đi làm vất vả cả ngày, đã chẳng biết ơn thì chớ, mỗi lần cáu giận là chửi đến ông tam đại, chửi cả cây đa đầu làng, rồi thượng cẳng chân, hạ cẳng tay, chẳng còn tình nghĩa gì cả. Ông chồng bà tiếng vậy chứ cũng chưa bao giờ gọi bà là con kia hay mày, tao.
Nghĩ như vậy, bất giác bà thấy cái ý nghĩ ở riêng nơi khác là điên rồ:
- Bao nhiêu người khác sao họ ở với nhau được ! Vợ chồng nó là cái duyên số, được người chồng như thế này còn khá, nhỡ gặp phải người chồng không ra gì thì cũng đến chịu chứ sao!
Nhưng chỉ một phút qua, bà lại lắc đầu:
- Không nhưng mà người khác họ chịu được chứ mình không thể như thế mãi. Ở riêng ra chỗ nào, làm lấy mà ăn, không phải ỷ lại vào đỡ khó chịu. Vợ chồng ăn ở với nhau được đứa bé sắp nở này nữa là bảy rồi, ở riêng ra thì người ta cười đấy, nhưng không thế không được. Gần bốn mươi cả rồi chứ mười tám đôi mươi gì…




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 11.03.2021 11:11:55 bởi Ct.Ly>
ĐOẠN KẾT

 
 

THIẾU một thằng Tề chứ không thì đông đủ cả nhà. Nhưng cái tiểu gia đình của ông Ký Thảo không phải vì thế mà bớt đông đúc, huyên náo.
Một buổi tối mùa lạnh, tính từ ngày bà Ký ở nhà quê cùng bốn đứa con lên đã được mười năm. Quãng đời mười năm ngồi đếm từng ngày thấy nó dài nhưng chính
ra nó qua lúc nào người ta không hay.
Ông Ký Thảo bốn mươi tuổi, tóc trên đầu đã thấy có nhiều sợi trắng, mỗi buổi trưa ông phải thuê mấy đứa con nhổ mỗi xu một chục, như vậy cũng đã mất chán xu. Trông người ông gầy hơn ngày trước nhiều, trông nghiêng đã thấy hơi khom khom, ấy là kết quả của những đêm thức đánh tổ tôm chứ không phải vì lo nghĩ. Tâm tính ông so với mười năm xưa cũng không thay đổi mấy tí. Cái ông Ký nhà băng ấy vẫn hiền lành thực thà và hơi gàn gàn cho nên vẫn theo cái đạo Tin Lành, ở Bắc giang có một mình ông theo được lâu nhất. Thỉnh thoảng một đôi khi đi ở sở về nhà chợt nhớ lại buổi chiều ngày xưa, cái buổi chiều chủ nhật ông thủng thỉnh vừa đi vừa suy tính cho vợ con lên và cái chương trình mười lăm năm, ông bất giác thở dài. Ông thở dài nhưng không phải là ông buồn, chuyện đời xảy ra mới đến thế chứ nữa thì ông cũng đành.
- Có một người vợ đảm, có những đứa con ngoan, là may, bằng không nữa cũng phải chịu, thiên hạ người ta như vậy chứ có phải chỉ một mình mình đâu, việc gì mà giận, việc gì mà khổ.
Ông vẫn tự nhủ như vậy và trong câu truyện với ai, ông cũng tỏ ra ý ấy. Thằng con lớn ông là thằng Đức theo như ông tính thì chưa biết chừng đã đổ diplôme rồi cả Tú Tài, thằng con thứ hai là thằng Tề ngoan ngoãn ra lại có thể hơn nữa, nhưng bây giờ thằng Đức lông bông và thằng Tề đi theo một ban hát cải lương, sự đời xảy ra đến thế, hẳng biết thế. Ông không trông mong vào chúng nó chút nào nên ông cũng chẳng cần, nuôi được chúng nó bằng ngần ấy, học được ít nhiều có thể cần ở những năm học một cách sinh nhai, ông cho thế là đủ bổn phận lắm rồi. Còn lúc tuổi già của ông cũng không cần đến chúng nó, ông mới no đủ. Đi làm mươi mười lăm năm nữa lấy ra được hơn nghìn bạc đủ làm cái vốn duỡng lão, muốn được chắc chắn hơn nữa, mỗi tháng lại để dành ra hơn chục bạc; ấy là số tiền lương phụ cấp cho sáu đứa con ông mới xin được nhân kỳ ông Chánh sở đổi đi. Chỉ có bà Ký và thằng Đức không được.
Nhiều lúc, ông Ký ôn lại gia đình cụ Cử sinh ra ông ngày trước và so sánh với gia đình của mình hiện thời. Thì cụ Cử ngày trước đã chẳng lo tính cho các con mãi đấy ư, nhưng rồi sự đời có đến như ý muốn của Cụ đâu, rút cục lại, cụ cũng đành theo cái phương pháp cổ điển của những người cha là trai dựng vợ, gái gả chồng. Và gây dựng cho tám người con trai và bảy người con gái, đến lúc tuổi già, hỏi đứa nào đã nuôi cơm cụ được ngày nào chửa !
Buổi tối mùa lạnh ấy, ông Ký ngồi ăn cơm với thằng Hưng ở giường bên trong khi cả gia đình quây chung quanh ngọn đèn đặt giữa bàn. Thiếu một thằng Tề chứ không thì đông đủ. Con Dung mười bốn tuổi, năm trước trượt một lần Sơ học Pháp Việt ở Bắc Ninh, lúc ấy đang ngồi đan áo cho em:
- Con đan cái áo này cho thằng Hưng nốt hôm nay rồi con hẵng nghỉ, con còn bận nhiều bài lắm, nó mặc cái áo cổ lọ cũng được làm gì mà u cứ dục rối lên thế.
Bà Ký quay mắng con:
- Mày hư quá, có thế mà cũng ngại, mày thì có mấy bài, chẳng qua lại chúi vào quyển tiểu thuyết chứ gì.
Thằng Bân con ông cai Mai, ở nhà bác tính đến năm nay là sáu, ngày mới lên nó học lớp năm, bây giờ đã học lớp nhất, đang ê а học một bài học thuộc lòng, nhưng tay vẫn vân vê hòn bi. Thằng Vượng ngày mới lên được bốn tháng, lúc này đã học lớp nhì dưới, Con Ân Điển đẻ ngày ở gần nhà ông bà mục sư cũng lên tám và học lớp tư rồi; thằng Hưng đẻ năm sau đã ăn cơm xong ngồi đánh vần bên cạnh bố đang đọc báo ; cả mấy đứa, mỗi đứa một việc nhưng thỉnh thoảng lại ngừng lại để gẫu chuyện làm anh lớn chúng là thằng Đức phải gắt lên:
- Chúng mày có mỗi đứa làm một việc, rồi lát nữa đi ngủ không. Phải đòn cả bây giờ.
Con bé Ân Huệ lên ba, đứa con út của bà Ký ngồi trong lòng mẹ nghe anh mắng, đang bập bẹ nói cũng im.
Thằng Đức mới về nhà được mấy hôm. Đã hai năm nay, nó không mấy khi ở nhà lấy tuần lễ. Từ ngày nó bỏ cái kỳ thi Brevet élémentaire, đã nộp đơn nhưng không đến trường, thì ông Ký không gửi cho một xu nào nữa. Tự nó kiếm lấy cách sống, cách học. Chỉ khi nào cùng bất đắc dĩ mới về xin cha mẹ một vài chục bạc. Năm đầu, nó còn bồng bột hăng hái thì tin rằng thế nào mình cũng phải đỗ cái bằng gì đấy, cho mọi người chung quanh, tính từ cha mẹ trở đi, không còn ai nói vào đâu nữa. Đến năm thứ hai, nó đã bắt đầu chán nản và đến năm nay là năm thứ ba, đứa con trai mười chín tuổi ấy thấy lòng nguội lạnh. Nó chán cả gia đình và chán cả nó nữa. Nhất là từ ngày thằng em nó bỏ nhà đi và theo ban hát cải lương. Người ta đã hỏi thăm nó mãi đến nỗi nó phải phát cáu một mình:
- Thế này thì không gọi là có gia đình nữa, thật là ‘‘bị có’’ gia đình.
Cái thằng Tề em nó ấy, kém nó ba tuổi giá nó đi làm rồi thì thể nào nó cũng đem về nuôi cho học mấy năm nữa. Nhưng tìm được việc làm có thể nuôi được em có phải dễ đâu! Không có bằng cấp này, lại ít tuổi, làm việc gì cũng chỉ đủ một mình hai bữa một ngày là cùng.
Ngay đỗ diplôme rồi, đi làm secrétaire (nghề thư ký) về Résidence ( nơi cư trú) nào hay một ngạch nào cùng cadre ( một chúc vụ) ấy mỗi tháng cũng chỉ có ba mươi chín đồng!
Tự nhủ như vậy, nó thấy cái sự cần phải đỗ Bac (Baccalauréat= Tú Tài). Cần phải đổ tú tài. Nhưng đã đến lúc nó không còn cái thích thi đỗ và không có đủ điều kiện thi đỗ nữa.
Gia đình nó đã làm cho nó hằn học nhiều, lúc này nó lại càng băn khoăn dữ. Nó thấy thầy nó không xấu, u nó cũng không xấu nhưng nó bực vì thầy u nó không sao hòa thuận với nhau được. Những vợ chồng nhà khác họ yêu quý nhau không thì cũng kính mến nhau, không ai giống như cha mẹ nó. Kể lại cho một người bạn nghe, nó kết luận:
- Tôi cho sở dĩ có những sự bất hòa ấy vì thầy u tôi lấy nhau ngoài bổn phận ra không có một chút tình nào. Đúng như vậy chứ không phải hai người trái tính, trái nết nhau. Trên đời này làm gì có hai người giống nhau cũng như trên rừng xanh không có hai cái lá giống nhau như người ta thường nói. Hai người vì hoàn cảnh phải sống bên nhau thì thật lắm chuyện khó chịu. Sinh ra một lũ con nữa... giá thầy u tôi đừng lấy nhau thì phải. Tôi và thằng em, cả hai đứa cùng coi gia đình nhẹ như cái lông chim. Không phải chúng tôi không ưa gia đình, nhưng cái gia đình của chúng tôi khác kia, có những người cha người mẹ khác kia, nghĩa là cha mẹ tôi phải thay đổi tính nết nhiều lắm.
Người bạn cười, nó lại nói tiếp:
- Mọi người cùng cho chúng tôi là những đứa con hư, chính tôi cũng nhận như vậy. Ai lại có gia đình mà cứ bỏ đi lang thang. Nhưng có xét đến hoàn cảnh mới biết, giá đặt chúng tôi vào hoàn cảnh khác, có lẽ chúng tôi cũng ngoan như ai... Nhưng cái tiếng hư với ngoan từ cửa miệng thế gian thì có làm gì, điều tôi bực bội khó chịu nhất là mẹ tôi cứ phải ở gần cha tôi. Hai người đã không chịu được nhau, người nọ có lẽ đều làm người kia đau khổ mà không thể, không có cách nào phân rẽ mỗi người một nơi. Lại còn những chuyện lặt vặt như thầy tôi theo đạo Tin Lành, u tôi không theo, nhà tôi nghèo...
Đi lông bông từ nơi nọ đến nơi kia, thằng Đức lấy làm phiền bực vì những nỗi thiếu thốn về vật chất, nó sốt ruột muốn về nhà, nhưng về đến nhà, nó lại sốt ruột muốn đi. Cái gia đình của thầy nó, chỉ khéo tổ chức ra là vui vẻ lắm mà dường như ông Ký bây giờ bỏ mặc. Hôm vừa rồi, có ông mục sư ngày trước đi qua vào thăm, hỏi đến thằng Tề, ai lại ông Ký trả lời như thế này:
- Nó đi hát cải lương. Tôi bảo nó thích đi thì cho nó đi.
Sao lại có người cha không hiểu tâm lý con chút nào thế! Đi lang thang với mười sáu tuổi trên đầu, gần chết đói mới phải đâm vào gánh hát mà ông bố kêu là thích được.
Buổi tối mùa lạnh này, thiếu một thằng Tề thì đông đủ cả gia đình trong ba gian nhà. Ông Ký Thảo đứng dậy mặc áo, với cái khăn và cái ‘’can’’( cây gậy) trên mắc áo rồi nói gióng:
- Nào ra ‘‘séc’’ xem tờ báo một cái nào.
Bà Ký đưa mắt nhìn con, đợi chồng ra rồi mới bảo:
- Thầy mày vẫn có cái lệ như thế đấy, đi đánh tổ tôm nhưng cứ phải nói giáo là ra séc xem báo cơ. Mà vẫn đi đạo Tin lành, thầy mày có đến chết cũng không bỏ được cái đạo ấy, tao lại càng khó chịu.
Con Dung ngừng đan nói trèo vào:
- Dạo mùa nực thì thầy bảo ra séc tắm. Tắm gì mà đến nửa đêm mới xong.
Thằng Bân cũng nói theo :
- Độ này bác chỉ hay đánh ở séc chứ không đánh ở nhà ông Văn Lẫm như năm ngoái.
Bà Ký mắng con và cháu:
- Chúng mày trẻ con biết gì mà cũng nói trèo vào.
Hai đứa tiu nghỉu lặng im, bà Ký lắc đầu thở dài :
- Chỉ tội nghiệp cái thằng Tề, rét mướt như thế này thì khổ sở đến đâu, may được cái chăn tao may cho và cái áo mày cho, có lẽ cũng đỡ. Giận nó thì giận thật nhưng mà tao vẫn thương. Giá những tao thì nó cũng chẳng đi đâu. Nhưng thầy mày tệ lắm kia.
Ngừng lại một chút để nhổ quết trầu, bà Ký lại tiếp :
- Nó hư nó đã biết lỗi của nó rồi mà thầy mày còn đay nghiến mãi. Một tiếng ‘‘thằng ăn mày kia’’, hai tiếng ‘‘thằng ăn cắp kia’’, chẳng tính cho nó đi học gì cả, nó ở nhà nó bực nên mới đâm đi.
Đến lượt thằng Vượng nói leo:
- Thầy bảo anh ấy ‘‘thẵng Tề ở nhà thay vào thằng nhỏ bưng chậu nước giải’’
Bà Ký bĩu môi
- Đấy mày cứ hỏi trẻ con thì biết chẳng lại bảo tao nói sai. Thầy mày cư xử có ra cái gì đâu. Đã cái thằng nó hay phẫn. Giá thầy mày cứ tính cho nó đi Hà nội học hẳn hoi thì nó đã ngoan ngay.
Thằng Đức hỏl lảng sang truyện khác:
- Bà cụ Ấm độ này còn ở trên này không hử u? Ông bà Ký Thu đã được đứa con nào chưa? À trong nhà bà Thừa Minh thế nào, dạo này u có hay vào chơi không ?
- Bà cụ Ấm về nhà quê những dạo xưa rời, ông bà Ký Thu vẫn hiếm hoi, nhưng từ năm ngoái đến nay tao không hay ra chơi, ông bà ấy giàu, mình nghèo, tao không thích, chỉ trong bà Thừa, thỉnh thoảng tao vào một lúc, bà ấy năm nay được cái ty muối tháng lãi bốn năm chục, nhàn lắm rồi.
Thằng Đức chớp mắt bảo mẹ :
- Kể gia đình thì chẳng gia đình nào vui cả. Mỗi nhà lại buồn một cách.
Bà Ký cau mày :
- Nhưng mày xem có vợ chồng nhà ai như thầy mày với tao không ? Vợ chồng người ta quý mến nhau nhiều, vợ hơi ốm một chút là chồng đã tíu tít thuốc nọ thuốc kia, chứ tao thì đau bụng từ năm nào đến giờ, thầy mày có để ý gì đến đâu. Lại từ khi thầy mày theo cái đạo Tin Lành, tao lại càng khó chịu. Thầy mày nói nhiều câu khinh bạc chẳng ra làm sao cả.
Mấy tháng trước, tao thấy bà Phương bà ấy nói truyện rằng thầy mày được mười lăm đồng lương trẻ con, tao mới bảo đưa thêm cho tao lăm đồng nữa, không bây giờ nó đắt đỏ; thế mà thầy mày nhăn mặt bảo ; ‘‘Mình đã biết ngay, không cho biết thì thôi, chứ hở ra là nằng nặc đòi ngay, không chịu được !’’  Tao bực lắm, thầy mày cho tao như là một người làm hạnh, làm hại...
Thằng Đức ngắt lời mẹ:
- Con lại muốn đi u ạ. Ở chỗ khác thì sốt ruột muốn về nhà, nhưng về đến nhà, lại sốt ruột muốn đi. Con ở nhà mỗi tháng u lại tốn thêm chục bạc nữa thì u lấy vào đâu?
Bà Ký sầm mặt :
- Thì mày muốn đi thì mày đi tao giữ làm sao được. Đã một thằng Tề, tao buồn cả ruột, lại mày nữa, tưởng mày ở nhà rồi tính học hành, làm ăn gì.
- Nhưng ở nhà như thế thì u bảo con ở làm sao được.
- Thầy mày cả, chứ tao còn có sự gì. Không phải chỉ chúng mày như vậy đâu, những đứa bé lớn lên, đến tuổi đi được nó cũng đi chứ cũng chẳng ở gần thầy mày được đâu. Tao cũng tính cho tao rồi.
Hai mẹ con lặng im mỗi người buồn một cách.
Thằng Đức lắc đầu chán rồi chép miệng thở dài. Cảnh sẻ nghé tan đàn có thể xảy tới cho gia đình nó lúc nào không biết. Bà mẹ đã nói ra miệng đến như thế, thì ông bố chắc cũng không lạ gì. Vậy mà không ai nghĩ đến cách chữa. Ngẫm nghĩ chán, nó hỏi mẹ :
- Nghĩa là u nhất định ở riêng chứ gì ! Nhưng nếu thầy đổi tính nết thì trong nhà có vui vẻ được không. Theo u thì thầy phải cư xử như thế nào ?
Thong thả, bà  Ký trả lời :
 - Thầy mày chỉ khéo một chút thôi, ở những câu nói, ở những cử chỉ. Thầy mày bỏ cái  đạo Tin Lành và những cái khó chịu đi, chăm chút vào gi đình vào con cái, thế là tự khắc chẳng đứa nào bỏ đi cả.
-  Thế ngộ thầy nói trái lại rằng u cứ theo cái đạo Tin lành cho trẻ con đi nhà giảng chủ nhật …
Bà Ký ngắt lời con, một vẻ khó chịu trong câu nói :
- Mày đừng nói vậy nữa để tao bực. Tao thì cái đạo ấy không thể nào tao theo được nữa. Ngày nọ bà mục sư về chơi ngủ đây, bà ấy cũng cứ khuyên như vậy, nhưng tao biết không thể theo được thì tao không theo.
Lũ trẻ con đã lần lượt đi ngủ cả, hai mẹ con cũng mỗi người vào một giường nhưng vẫn chưa thôi bàn tính.
- Con tính chỉ có một cách là u về nhà quê, giá có mấy mẫu ruộng cầy cấy đủ ăn, mấy sào đất còn đấy, làm cái nhà rộng rãi, sáng sủa, rồi u chăn nuôi trồng trọt gì tùy ý u, như thế họa may mới được vui vẻ chút nào, chứ ở gần thầy con mãi không được.
- Thì tao cũng chỉ mong như vậy thôi. Ở đâu đủ ăn, có đồng ra đồng vào không phải đụng đến lương của thầy mày, chúng mày lớn lên, còn phải tính vợ con. Tao buồn lắm, ở với thầy mày, mỗi tháng, thầy mày hạn cho ngần ấy tiền ăn, chẳng lọi ra đồng nào, đến nỗi trông thấy mày ăn mặc lôi thôi, không có tiền may cho bộ quần áo như con người ta...
Trong đêm khuya tịch mịch, giọng nói buồn bã của hai mẹ con cùng rõ mồm một. Sau cùng, thằng Đức hỏi mẹ:
- Thế u tính cách nào bây giờ ! Con tính chỉ có tiền, làm sao có tiền mới nói đến chuyện sung sướng được. Có tiền để u chữa xong cái bệnh đau bụng đi rồi ở riêng ra một nơi mà buôn bán.
- Tháng trước, có bà cụ Căn, bà cụ Căn là mẹ chồng cái bà Tiếp đi đạo Tin lành mày cũng biết đấy, bà cụ mới ở Sài-goòng về, lên chơi. Nghe bà cụ nói trong ấy dễ làm ăn lắm, người trong ấy thực thà chứ không như người ngoài ta, mình vào trong ấy có cơ sống được. Tao định thu xếp một vài trăm, đến ra giêng tao vào trong ấy. Có mày là lớn tao mới cho mày biết, chứ thầy mày vẫn không hay gì đâu.
- Nhưng còn lũ em ngoài này, u để mặc chúng nó được à?
- Tao cũng ngại chỗ ấy lắm, tao đi thì chúng nó khổ, nhưng không liều một lần không được. Trước kia tao cũng cứ ngại thì, nên mới ở với thầy mày đến bây giờ. Nhờ Trời, em nó lớn lên, chẳng ai trông nó cũng lớn. Thầy mày chẳng thường nói: u mày đi đâu, mười đứa tao trông cũng được.
Đứa con của gla đình thấy lòng sầu thêm một độ.
Hai con người đã đến lúc đứng bóng cuộc đời vẫn thấy cần phải xa nhau để tránh những sự đụng chạm. Nó vẫn nghĩ như vậy nên nghe mẹ nói, nó ngẫm nghĩ rồi nói:
- U tính như vậy chưa chắc đã được đâu, nhưng tính thì ta hẵng biết tính. Thầy u phải mỗi người ở một nơi mới được, con cũng thấy thế. Vậy đến sang giêng nếu u vào Sài-goòng cũng cho con đi với. U chỉ mất tiền tàu thôi, vào trong ấy, tự khắc con có việc làm. Con sẽ nhờ một thằng bạn buôn bán ở trong ấy tìm hộ một việc. Vào trong ấy ít năm, kiếm ít tiền, tậu mấy mẫu ruộng ở Sắn, u về ở đấy là yên. Con nghĩ như vậy đó, u chỉ về nhà quê là hơn cả.
Bà Ký đáp lời con bằng một giọng vui vui:
- Ừ đi đâu có mẹ, có con, nó cũng hơn. Bà cụ cũng khuyên tao như vậy, tao chỉ ngại mày không đi, vào trong ấy ít lâu yên chỗ rồi, tao viết thư cho cái thằng Tề nó vào trong ấy nó học. Trong ấy cũng có trường như ngòai này chứ?
Đứa con mười chín tuổi ấy thở dài:
- Tính thì cứ biết tính, việc bàn nó vẫn đẹp, nhưng đến lúc làm, biết có được như vậy không? Hay hai mẹ con đi du lịch một chuyến rồi về cũng chưa biết chừng.
- Nếu như vậy thì ta lại tính cách khác, nhưng việc đi đã nói thì thế nào cũng đi. Mày không đi, tao đi một mình với người ta cũng được. Có định đi thì cuối tháng này, hai mẹ con đến đằng ông Trưởng Phố nhờ ông ấy lấy cho cái ‘‘tít’’. Mai con đưa u đi chụp ảnh nhé!
Có tiếng động cổng; bà Ký lặng im rồi bảo con:
- Đấy thầy mày đã về đấy. Hôm nay chắc thầy mày ở nhà, hay là trong túi hết tiền nên mới về sớm thế, chớ những đêm dạo nọ thì còn lâu!
Ông Ký Thảo mở cửa vào trong nhà, bỏ khăn, cởi áo vừa cười vừa nói với vợ:
- Vừa ở chơi bên ông Giáo Thái xong, ông ấy nói chuyện hỏi vợ con. Thằng con học trường Tham biện lục lộ sắp lấy con ông Phủ Lạng. Đấy nó đi học, nó đỗ, nó như thế đấy. Thằng Đức nhà này cứ lông bông mãi, thôi nếu không đỗ thì một vài năm nữa, kiếm chỗ nào sòang sòang, đứa nào nó biết làm ăn, buôn bán, hỏi lấy cho nó yên thân, muốn làm gì thì làm, bố mẹ không phải nghĩ.
Người đàn ông ấy vô tình không hiểu cuộc âm mưu trong gia đình của mình. Bà vợ không nói gì nhưng đứa con hằn học đáp lại:
- Lấy vợ rồi một ít năm sau sinh mấy đứa con, thế là thành một gia đình. Các cụ ngày trước hồ đồ, nên mới có những ông chồng bà vợ ở bên nhau một cách bất đắc dĩ, và những đứa con oán trách cha mẹ, không nên cho chúng ra đời để chúng khổ. Thầy nói vậy nhưng con, con không thể dễ dãi. Lập một cái gia đình để về sau như gia đình nhà ta thì không đời nào con lập.
 
Khởi sự viết ở Hải-Dương
 xong ở Phủ-lạng-thương
Novembre 1941




Đăng nhập để trả lời
0