5. Tạ Tình
Anh! Ngồi xuống đây bên em, em sẽ nói cho anh nghe bao nhiêu là chuyện đã và sẽ xảy ra. Café đây anh, em chỉ cho một muỗng đường như anh dặn, bánh này em mua ở tiệm Brodard anh thích, gì nữa nhỉ, cỏ tương tư của anh, anh xem em mua bằng được Pall Mall đỏ. Em chỉ cần anh ngồi im lặng nghe em nói. Anh đốt thuốc lên đi, mùi khói nồng nàn gợi nhớ những kỷ niệm xưa. Kỷ niệm xưa, một phần đời của em, phần đời đầy hoa mộng
Ngày ấy anh gọi em là “bé”, lúc đầu em không chịu nhưng sau đó em quen đi, và thích thú khi được anh kêu “Bé ơi! Bé.” Anh nhớ tại sao mình yêu nhau không?
Lúc ấy em ngây ngô xấu ỉn như cô thiên nga con, khi chưa thay lông mới, anh thì tới nhà vì anh Đạt. Các anh có ba người nối khố cùng nhau, anh Đạt, anh Côn và anh, em chỉ để các anh sai vặt cà-phê thuốc lá. Xong trung học, các anh cùng vào trường quân sự, dù các anh đủ mọi điều kiện để được ở nhà không cần đi lính, các anh mải mê thế sự quên mất em vụt lớn, tuổi mười sáu biến em từ cô vịt thành cô thiên nga nhí nhảnh, mắt long lanh mắt, môi mọng mị môi, thêm mái tóc xõa dài óng ả. Các anh giật mình khi nghe em tâm sự:
– Bé muốn có bồ.
Anh Đạt gầm gừ:
– Nứt mắt bày đặt, học không lo bồ với bịch, lần sau anh về mà xuống hạng anh đét đít.
Em có làm gì sai đâu, bạn em đứa nào cũng có bồ, tụi nó kể em nghe rôm rả, nào là anh ấy học Chu Văn An, nào là anh ấy trưởng khối thể thao Võ Trường Toản, đến con nhỏ xấu òm hơn bé là nhỏ Lan mà còn kể có bồ học trường bách khoa Thủ Đức thì tại sao em lại không được có bồ. Anh ơi! Lúc ấy làm sao em đủ khôn ngoan để xét đoán tụi bạn em chỉ ba xạo, cho ra vẻ ta đây đã lớn.
Vậy mà anh đã đến bất ngờ không cho em biết. Hôm ấy cả lũ đang bu quanh hàng bò bía, trước cổng trường. Anh dừng xe, em nhận ra ngay bộ quân phục nhưng vờ vĩnh như không thấy, đến khi anh hiên ngang đến tìm, mặt em cứng lại, bừng lên, tay chân thừa thãi, ngay đến chiếc cặp để dưới chân cũng lăn kềnh ra đất, miếng bò bía vừa cắn không sao nuốt xuôi xuống cổ. Anh ơi! Tình huống anh gây ra ngày ấy đến chết em không thể nào quên, lũ bạn của em cũng không hơn gì, mắt tụi nó tròn xoe, miệng đứa nào cũng đầy bò bía, nhưng tụi nó tỉnh nhanh hơn, nhất là con Lan, nó nuốt ực một cái, và lí lắc hỏi:
– Chú tìm ai chú?
Anh trả lời:
– Chú đón em chú.
Nhỏ Quỳnh không vừa:
– Mà em của chú em là ai?
Lúc đó biết phải làm gì, em vội cứu nguy:
– Là tao.
Bao nhiêu ánh mắt của đám bán trời không mời thiên lôi cùng quay nhìn em, miệng tụi nó há ra, đồng thanh:
– Hả?
Lấy lại bình tĩnh, mặt em vênh lên, dù vẫn đỏ như ông mặt trời buổi sáng.
– Chứ sao.
Vừa cúi xuống lấy cặp, vừa nói vội với bà bán hàng:
– Mai con trả tiền nghe dì.
Rồi quầy qủa cùng đi với anh. Tiếng máy xe ròn rã, em điệu bộ vén vạt áo dài, để cặp lên yên sau tạo ranh giới giữa hai đứa, rồi mới ngồi lên vịn yên xe, để cùng anh chầm chậm nhập vào giòng phố. Em biết sau lưng, những ánh mắt dò hỏi, những câu chuyện bàn thảo đang nổ như bắp rang về chúng mình.
Sáng hôm sau, các bạn vây quanh em như thể em mọc tai lừa, hay mũi em dài ra trăm thước, tụi nó hỏi hỏi và hỏi, em tha hồ líu lo như khướu về anh. Thế là bồ của em chiếm hạng nhất vì là lính.
Từ hôm ấy, em được anh đến trường đón mỗi khi anh về phép, cũng không biết từ bao giờ chiếc cặp không làm ranh giới chia đôi bờ lưng vững chãi cùng bờ vai gầy guộc nhỏ, mà ngoan ngoãn nằm trên chiếc giỏ xe phía trước, tay em không nắm yên xe mà nhẹ nhàng vịn nhẹ lưng anh, cũng không biết tự bao giờ, anh có phép của Mẹ chở em đi chơi phố sau bữa ăn chiều. Nếu có anh Đạt ở nhà thế nào anh Đạt cũng bảo:
– Mày chiều nó, mai mốt đừng mách tao nó gấu.
Anh đâu biết em có biệt danh là gấu, vì có lần tức mình em cắn anh Đạt suýt tí rách da. Mà ai bảo khi có bồ là học dốt nhỉ, lần nào về anh cũng lo việc học hành của em, những bài lý hóa, những đạo hàm hóc búa làm em điên đầu ngày trước, tự dưng có anh tụi nó trở nên nhu mì, để em tha hồ đùa giỡn cos sin tang. Thầy lý hóa, cô dạy toán ngạc nhiên, không hiểu tại sao em đột nhiên học giỏi, nếu thầy cô biết lý do, chắc hẳn thầy cô sẽ khuyến khích lũ học trò có bồ như em hết.
Phần thưởng anh cho em, ngoài những viên ô mai Tân-Định còn có cafe Hầm Gío, nhạc quán Văn, em gia nhập vào thế giới của anh cùng những giòng nhạc tình tiền chiến, có những khắc khoải lo âu và hào hùng trai trẻ, những điều ấy khiến em nể phục anh nhất trên đời, dĩ nhiên anh phải đứng sau bố của em.
Tâm hồn của em ngày càng tràn lấp bởi anh, từ những quyển sách anh bảo phải đọc, như “Cậu Hoàng Bé” của nhà văn Pháp Saint Exupéry, “Tâm Tình Hiến Dâng” thơ của Tagore, “Câu Chuyện Dòng Sông” của Hermann Hesse, đến Nam Hoa Kinh của Trang Tử. Trước đó bé chỉ biết Tự Lực Văn đoàn, tuổi hoa tím, hơn một chút là những chuyện tình lãng mạn nhẹ nhàng, “Kiều Giang”, “Đỉnh Gió Hú”, “Trà Hoa Nữ” là hết. Anh dạy em nhiều, nhiều lắm, anh dạy em nhiều hơn sách vở, anh cho em bao nhiêu là kiến thức, sách của anh ngày càng sang nhà em ở đông hơn, cũng như anh ở nhà em nhiều hơn ở nhà mình, không phải vì anh Đạt nữa, mà là vì em.
Bạn em bấy giờ chấp nhận cõi riêng của em, không còn níu kéo chờ mong em cùng nhập bọn phá phách, mà để mặc em ngơ ngẩn nhớ anh, yên lặng một mình viết thơ cho anh, mỗi khi anh không về được.
Rồi đến ngày anh mãn khóa, nhận đơn vị, anh thật sự đối diện với chiến tranh, hành quân miệt mài, không còn những lần về phép, để em tung tăng phố phường có anh bên cạnh, em theo dõi tin chiến sự nơi nào có đơn vị anh đến, khi nào đơn vị anh dời đi.
Em nhớ anh quay quắt nhớ, không có anh em lại càng chăm học. Với em, đó là chút quà dành cho anh những ngày anh về phép. Anh Đạt theo binh chủng Nhảy Dù, anh Côn và anh vào binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, ngày ngày em thêm vào thời khóa biểu của mình việc đợi thơ anh.
Lá thứ nhất em đánh dấu một sao, lá thứ hai hai sao, mỗi lần nhận thơ là một lần em khóc, nhớ anh.
Em tìm mọi cách để lấp khoảng trống ấy, cuối tuần sau khi đi lễ sáng, em gia nhập Nghĩa Sinh Việt Nam công tác xã hội khắp nơi, từ viện dưỡng lão, viện mồ côi, đến trung tâm Chánh Hưng là nơi cải huấn trẻ em hư hỏng, bụi đời và những cô gái lỡ lầm bán thân nuôi miêng.
Những nơi này đã cho em tầm nhìn rộng hơn về cuộc đời trước mặt, bao nhiêu mảnh đời đau khổ, bao nhiêu nạn nhân chiến tranh. Ai là người không thèm một cuộc đời tốt đẹp, có cô gái nào không thèm một mái ấm gia đình, có chú bé nào không thèm một ấp ủ yêu thương.
Tại sao phải có nhà cải huấn?
Thơ viết cho anh ngoài tâm sự riêng tư, còn là bản tường trình, cho anh biết những gì em học được bên ngoài trường lớp, trong khi cạnh em bạn bè vẫn bon chen, đòi hỏi, đỏm đáng, đùa giỡn an vui, em lặng lẽ trưởng thành vì có người yêu lính chiến.
Đôi khi cũng có vài anh chàng thư sinh đẹp trai theo đuổi, em tự hỏi họ có biết ơn những người lính như anh. Còn bao nhiêu thắc mắc, tại sao có chia ly, tại sao có chiến tranh, tại sao có chết chóc, tại sao thiên hạ loài người không chỉ yêu thương nhau? Tại sao… tại sao? Những câu hỏi ấy luôn có trong đầu để khi anh về em kể cho anh nghe quên cả thở.
Anh chỉ ngồi im lặng thả những vòng khói thuốc, tan nhẹ như mây, khiến em cáu kỉnh:
– Sao anh không nói gì hết.
Anh bảo:
– Anh đang thâu những lời bé nói, khi nào buồn anh lấy ra nghe. Đừng hoài nghi nhiều quá không tốt bé ạ, hãy tin cuộc đời này, người tốt nhiều hơn kẻ xấu.
Anh biết từ lúc nào em yêu anh không? Từ khi em luôn cầu xin Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp cho em được làm vợ anh. Tâm sự với mẹ, mẹ bảo:
– Lấy chồng lính khổ lắm con ạ, nay đây mai đó sống chết không biết đâu mà lần.
Em đã cãi:
– Sao bố cũng là lính.
Anh ơi trong đầu em lúc nào cũng ước ao rằng, mình có một cái đám cưới thật đẹp, mình sẽ có hai đứa con trai, hai đứa con gái, không như mẹ chỉ có mỗi anh Đạt và em. Gia đình mình êm ấm, anh là chồng em là vợ, bà trung úy vừa là cô giáo, dạy con mình dạy cả con người ta, mà anh đã nói gì với em đâu, anh chỉ đóng vai “anh bồ” để hù cho lũ bạn em sợ thôi mà.
Nhớ lần anh Côn bị thương nằm ở quân y viện đường Nguyễn Tri Phương hai đứa đến thăm, anh Côn chọc:
– Sao! Còn muốn có bồ nữa không cô?
Em đỏ mặt, anh Côn điềm đạm:
– Bé lớn thật đó nghe, mai mốt lấy chồng phải mời tụi anh ngồi bàn danh dự.
Em định nói sẽ mời anh Côn làm rể phụ cho anh, nhưng mắc cỡ lại thôi, phải để anh tỏ tình với em, chẳng lẽ em nói em muốn lấy anh làm chồng.
Sau đó em nhớ mình đi uống sinh tố Ngã Sáu, hai đứa vừa kêu nước uống xong, cả lũ bạn em từ đâu xuất hiện, thì ra em quên mất ngày trực tuần, tụi nó ồn ào chọc phá mà anh tỉnh bơ vui vẻ đãi tụi nó.
Bạn của em, đứa nào cũng thích anh vì anh người lớn, không như những anh chàng vớ vẩn thành phố, càng ra vẻ người lớn càng lộ ra mùi sữa của mình. Chiều ấy vì nhận hối lộ qúa nhiều mà bạn em ký phép cho em đi chơi với anh khỏi bị trực trong trường. Hai đứa xem phim Doctor Jhivago, bé khóc mùi mẫn vì hai nhân vật chính yêu nhau mà không được bên nhau, anh đùa:
– Phim có đạo diễn bé ạ.
Tối ấy trên sân thượng nhà, nhìn sao đầy trời em hỏi:
– Sao nào của anh?
Anh chỉ:
– Ngôi sao sáng nhất.
– Còn sao bé đâu?
Anh nói:
– Anh cất trong túi anh rồi.
Nhìn anh chỉ vào túi áo bên tay trái, nơi có trái tim, em thấy hồn mình xao đi một nhịp, anh nói tiếp:
– Anh mong ngày nào không còn chiến tranh, anh có nhiều thời giờ hơn với bé, bạn bè anh cũng thế, tất cả đều mong một ngày hòa bình để có vợ có con, tạo một mái ấm cho chính mình. Bé xem bây giờ đến yêu mà anh không dám nghĩ đến nữa là.
Em hỏi:
– Tại sao?
Anh bảo:
– Lỡ chẳng may nằm xuống…
Em vội lấy tay bịt miệng anh la hoảng:
– Anh không được nói bậy, bé thương anh, anh không được nói bậy.
Anh kéo em vào lòng, vòng ôm của anh bảo bọc chở che, em ngước mặt nhìn anh, nụ hôn đầu anh cho em làm những vì sao hoảng hồn, và cô trăng lưỡi liềm cũng chui vào mây để trốn.
Anh ơi! Đốt thuốc thêm đi, mùi khói thuốc nồng nàn gợi cho em bao nhiêu kỷ niệm anh đã cho em thời mộng mơ thiếu nữ, anh cho em hành trang vào đời, anh cho em hiểu YÊU là gì, không phải chết trong lòng một ít, không phải chỉ là lòng bâng khuâng, mà là nhiều nhiều lắm.
Anh ơi! Bao nhiêu đổi thay, bao nhiêu đớn đau oan trái, vì yêu anh mà em vượt qua tất cả, chỉ một nụ hôn của anh làm tín vật mà em của anh, bé của anh sống qua bao nhiêu bôn ba bão táp. Anh Đạt em trong trận đánh chiếm cổ thành Quảng Trị bị thương liệt nửa người, chị Ngọc người yêu của anh, vẫn tới lui săn sóc như vợ hiền, dù em biết gia đình chị nhiều lần muốn gả chị cho những người giàu có theo đuổi chị. Mẹ em có lần khóc mà nói với chị:
– Đạt đã có bác lo rồi, con phải lo cho đời con nữa chứ, lẽ nào cứ thế.
Chị chẳng nói gì. Sau khi gia đình chị đi Pháp, chị đến ở hẳn nhà em. Anh Đạt em nhiều lần hờ hững đuổi xua, chị chỉ khóc. Một lần em nghe chị nói với anh ấy:
– Em chỉ biết mỗi anh, em chỉ yêu mình anh, dù anh mạnh khoẻ lành lặn, hay anh cùi cụt đui mù, em chỉ yêu mình anh,đừng nghi ngờ tình em, nếu mình không thể có con với nhau, còn bao nhiêu em bé mồ côi, em chấp nhận anh, hãy chấp nhận em.
Em hiểu anh Đạt em yêu chị biết bao, muốn chị hạnh phúc, không muốn chị khổ thân bên anh chồng bại liệt, chỉ còn mỗi cái đầu, nhưng bây giờ anh em khá hơn rồi, với mối chân tình của chị, em thấy anh tìm lại nụ cười, nhiều khi chị ôm anh ấy vào lòng làm em hối hận, tại sao ngày ấy em không ghì anh một lần thật chặt. Bố em mất trong tù. Em bỏ học, giấc mộng thành cô giáo, có anh làm chồng, có bốn đứa con với anh thành chuyện cổ tích, anh đã hỏi cưới em đâu, ngoài một nụ hôn sẽ theo em suốt kiếp. Em vào đời với những mảnh kính vỡ màu hồng em từng đeo trên mắt, những mảnh vỡ nhỏ nhoi ấy lâu lâu lại làm đau thốn tim em.
Anh ơi! Em xin anh lần này là lần cuối, em đến gặp anh, ngồi bên anh như con sóc nhỏ gậm nhấm nỗi buồn riêng cùng anh. Anh ơi em sẽ lấy chồng, lấy người em định mời làm rể phụ cho đám cưới tụi mình, đã mười tám năm rồi anh ạ, ngày anh cùng em đi thăm anh Côn.
Anh ơi! Thời gian không làm em thay đổi, mọi việc em làm, em đều tính toán so đo với anh, anh đồng ý phải không?
Em và anh Côn đã làm giấy hôn thú ở phường ở quận, giấy tờ đi tị nạn ở Mỹ đã hoàn tất hết rồi, chỉ còn hai tuần nữa thôi em sẽ xa Việt-Nam đi hút về phương Tây mịt mù lăng lắc, chúc phúc cho em anh yêu nhé, có ai như em yêu say đắm một người rồi làm vợ người khác.
Em tin anh Côn hiểu em mà không chấp, vả lại anh ấy vẫn là bạn tốt của anh mà phải không anh?
À! Anh xem bao nhiêu thơ anh viết cho em, những mười hai tờ thơ, mười hai ngôi sao em đánh dấu, trả lại anh đây, cả tập nhật ký này nữa, anh giữ hết cho em anh nhé. Em không muốn anh Côn buồn, vả lại đây là chuyện chỉ riêng hai đứa mình, em không muốn ai xen vào. Cũng như nụ hôn nhiệm màu của anh cũng chỉ mình em biết, nhớ lại một lần thầy em vào lớp trễ, nhỏ Quỳnh bạn em lên bảng giảng giải về nụ hôn, em nghe mà cười thầm vì em biết nó đang tưởng tượng, anh nhớ nhỏ Lan không? Nó gìn giữ cho em những lá thơ này đó, không có nhỏ Lan có lẽ anh chẳng được nhìn thấy những kỷ niệm cũ kỹ này, như những quyển sách hai đứa mình trân trọng gìn giữ, người ta lấy xe ba gác đến chở đi mất biệt, chả bao giờ em còn thấy lại.
Uống hết café đi anh, nguội thật rồi, còn điếu thuốc cuối cùng anh đốt lên nốt đi anh, em phải về đây kẻo mẹ mong, giờ này chuyến xe cuối cùng sắp đến, em phải về thôi.
Hôn em đi anh! Lần cuối cùng này.
* * *
Dáng nhỏ nhoi của cô bé khuất rồi, ngoài tầm mắt của tôi. Tôi biết cô đã lâu lắm. Ngày đó tôi còn trẻ chưa hiểu chuyện gì, tại sao quanh tôi im ắng lạnh lùng, nếu có nhiều người đến, thế nào cũng chỉ là những than khóc não lòng, cho đến một ngày, tôi biết nơi tôi ở là Nghiã Trang Quân Đội, chốn an nghỉ cuối cùng, của những người trai đã đền xong nợ nước.
Tôi hãnh diện được ở đây, tôi âm thầm chia xẻ những buồn đau mất mát của mọi người. Tôi thấy nhiều lắm, những linh hồn vương vấn trần gian không siêu thoát, những linh hồn than thở dưới đêm trăng, những linh hồn nhập vào pho tượng lính, lang thang đi vào nhà dân xin nước uống hay đón xe quá giang về Sài-Gòn.
Năm 1972 mùa hè đỏ lửa, tang tóc, đớn đau, nhà vĩnh biệt không còn chỗ trống, những người lính ban chung sự gầm mặt làm nhiệm vụ, tôi khóc cùng họ, bao nhiêu người lính trẻ nằm xuống, bao nhiêu máu xương đã đổ thấm ướt mảnh đất nhỏ bé Việt-Nam, khăn trắng như mây, nước mắt như mưa, đổ thêm cho tràn nỗi thống khổ loài người.
Tôi khóc cùng người vợ trẻ đang đợi ngày làm mẹ, tôi khóc cùng bà mẹ già tóc trắng phau ngất lịm trước ảnh con mờ khói và tôi đã khóc với cô bé học trò áo trắng.
Cô và bạn cô (tôi nghĩ thế) đã đến nơi này cùng một người lính Thủy Quân Lục Chiến, cả hai như lạc loài trong thế giới người lớn, không biết làm gì cho phải với cảnh tượng tôi tin lần đầu tiên các cô chứng kiến. Khuôn mặt cô tái xanh tìm kiếm, rồi gần như bay cô đến bên khung ảnh trung úy Hoàng Quốc Hiệp, cô phục xuống, vai rung nức nở tôi nghe giọng cô nghẹn ngào kêu: “Anh ơi” rồi hết, không kể lể chỉ lịm đi.
Sau làn khói nhang nghi ngút, khuôn mặt người quá cố với nụ cười buồn như linh động, như sống lại, ánh mắt cũng chừng rưng rưng. Bạn cô dìu cô đứng dạy, cô lết đến bên chiếc hòm gỗ được lá Quốc Kỳ phủ kín, rồi ôm choàng, ve vuốt vỗ về, cô áp má, cô áp môi lên nó, chừng như muốn mở nắp áo quan, chừng như muốn nhìn anh lần nữa, cô muốn tin thân xác anh được liệm sau lần gỗ vô tri, cô muốn gào, muốn hét, nhưng chỉ những giòng lệ tuôn dài câm nín, vài sợi tóc bết thêm vào làm khuôn mặt hằn niềm thống khổ.
Không gian quanh tôi lúc ấy ngừng hẳn lại, tôi chỉ chú ý đến cô, nghe tiếng vỡ trong lồng ngực bé bỏng và điếng ngất cùng cô. Bạn cô cố xốc cô lên, hai tay cô ghì chặt áo quan, bạn cô thảng thốt: “Thương ơi tỉnh lại đi, anh Hiệp ơi! Để Thương về, anh Hiệp ơi!”.
Tự dưng cô như tỉnh hẳn, không vướng víu, cùng bạn đi ra khỏi nhà vĩnh biệt, không cần ai dìu bước, cô đi vững vàng, thanh thản, không ai thấy trung úy Hiệp dìu cô, chỉ mình tôi thấy được.
Từ đó cô đến thăm mộ rất thường, vài lần với người lính đã đưa cô đến lần đầu, nay tôi biết anh tên Côn. Mỗi khi đến cô thường ngồi trò chuyên rất lâu, khi về trung úy Hiệp luôn theo cô đến cổng mới quay vào, ông không siêu thoát có lẽ vì tình cô dành cho ông quá nặng.
Sau tháng 4-1975, bẵng đi một thời gian dài không thấy cô, tôi cứ nghĩ cô như một số người đã thoát đi, nhưng rồi bất ngờ cô trở lại, mái tóc không xõa dài mà búi cao trên ót, không còn tà áo thướt tha, mà là chiếc áo bà ba màu tối, da cô xạm đen, nét dáng kiêu sa thay bằng dáng tất bật gánh gồng.
Thời gian ấy nghĩa trang bị đào bới lung tung, một số mộ bia bị gỡ mang đi, tôi nghe nói họ dùng đá này để lót nền nhà. Cô vẫn tìm đến ngồi nói chuyện với người đã khuất, nhiều lần cô bật khóc, người lính trẻ không nói được nhưng anh vỗ về cô trìu mến. Tôi thương họ biết bao, ước gì tôi có thể cho anh sức sống của tôi.
Pho tượng Tiếc Thương ngoài cổng cũng bị kéo đi, những oan hồn tử sĩ thường mượn bức tượng này, làm xác nhập vào đi lang thang đây đó những đêm trăng, nay chẳng còn nơi dựa đỡ, tiếng rền rĩ nhiều hơn, những ngôi mộ bị bỏ phế nhiều hơn, những oan hồn không siêu thoát nhiều hơn, và tôi cũng tàn tạ theo nỗi buồn của họ.
Hôm nay cô lại đến, cô mặc áo tơ vàng óng ả, tóc cô xõa dài, cô ngồi rất lâu, châm từng điếu thuốc, đổ từng giọt café, và đốt bao nhiêu là giấy, cô không khóc, khuôn mặt cô an nhiên, người lính ngồi nghe cô nói, tôi thấy anh không bồn chồn khổ sở như bao lần trước, anh nhẹ nhàng thanh thản.
Khi cô về rồi anh tan thành làn khói mỏng bay thẳng lên cao, tôi biết, sẽ không bao giờ tôi còn thấy anh nữa. Anh thật sự đi sang thế giới khác.
Tôi, cây liễu được trồng trong nghĩa trang Quân Đội đã chứng kiến mối tình này.
* * *
Thế là xong, Thương xa tôi rồi. Dáng áo tím nhỏ nhoi khuất hẳn vào lòng chiếc máy bay ồn ào phun khói. Tôi đứng trên “sân từ biệt” sân bay Tân Sơn Nhất hơn hai tiếng đồng hồ, dưới ánh nắng mặt trời nóng gắt, để chỉ nhìn thấy tà áo Thương phất bay như vẫy chào từ biệt. Người ta như nêm đông nghẹt trong khoảng sân thượng nhỏ xíu, phải chen lấn cật lực tôi mới được đứng sát cạnh lan can, may ra Thương nhận thấy tôi còn lẩn quẩn bên Thương đến phút cuối cùng, trước giờ xa cách, đứa vẫn đàng Đông, đứa hút đàng Tây.
Tôi với Thương cùng chia với nhau bao kỷ niệm, những ngày vui như chim, những năm buồn như đá. Ngày còn đi học, trong trường ít ai biết hai đứa là bạn nhau, giờ chơi Thương đứng nhìn tôi nghịch, chỉ khi về nhà Thương mới đến tìm tôi.
Thương dịu dàng nhỏ nhẹ, tôi trái lại ồn ào phá phách, vậy mà không hiểu điều gì ràng buộc Thương gởi gấm tôi tất cả nỗi niềm, từ tình yêu đối với anh Hiệp, đến chuyện quyết định làm vợ anh Côn. Tôi đã cho Thương ngoại lệ là không rêu rao, chọc phá chuyện tình của nó, điều này với tôi ngày còn đi học là một ưu đãi, tôi không thể tưởng tượng ra được tại sao con gái phải cần có bồ, có người yêu.
Ngày anh Hiệp tử trận, là ngày nhỏ bạn tôi thành người lớn thật sự, thay vì u buồn ủ rũ nó lại cứng chắc như đồng, tôi thấy mình con nít hẳn đi dưới mắt nó, tôi chưa hề có mảnh tình nào vắt vai, thì Thương đã đau đớn vì người yêu bỗng nhiên hoá thành thiên cổ.
Mối tình đang thắm thiết bỗng hóa thiên thu. Hình ảnh nó rũ ra trước tin anh Hiệp mất, khuôn mặt nó đanh lại khi ra khỏi nhà quàn, khiến tôi và anh Côn cùng ái ngại. Đang ở trường, anh Côn tới, hai đứa thót lên xe jeep khi anh bảo anh Hiệp đang ở trong nhà thương, rồi chỗ đến là nghĩa trang quân đội, rồi nhà vĩnh biệt, tôi không tưởng tượng nổi tôi sẽ thế nào trong tình huống như thế.
Biến cố 30 tháng Tư 1975, cô học trò của trường lớp ngày xưa trở thành con nai ngơ ngác trường đời, Thương buôn bán, xốc vác cùng mẹ chăm sóc anh Đạt bị liệt nửa người vì đạn hủy hoại dây thần kinh cột sống. Biết anh ngày xưa đẹp trai, hoạt bát yêu đời, đến khi nhìn anh bó tay lệ thuộc vào mẹ và em mới thấy sự tàn nhẫn, phi lý của chiến tranh.
Thương còn phụ mẹ bới xách thăm nuôi ba của Thương bị tù không án trong trại học tập cải tạo, cho đến ngày nghe tin bác mất, bỏ thây ngoài Bắc. Thương, bạn tôi càng lúc càng cứng cỏi hơn, nhưng cũng có những hôm Thương ngồi cạnh tôi nước mắt lăn dài, hỏi mãi mới kể lể, chỉ trong tơ tóc là tiêu đời con gái vì thằng đàn ông đáng tuổi cha chú, bao lâu gia đình Thương tin tưởng. Tôi nghe và xót xa, chỉ biết siết tay bạn thật chặt chia xẻ, bạn tôi đẹp qúa dưới mắt tôi.
Xã hội Việt Nam sau tháng Tư 1975 trở thành bát nháo, con người như sống trong cái hộp nhỏ nhoi, phải tự thay đổi chính mình để thích hợp với chế độ mới, tôi và Thương bị sống trong xã hội “cắc kè” này, xanh xanh đỏ đỏ, mạnh ai nấy tìm cách sống còn dưới quyền cai trị điều khiển của một thể chế kỳ lạ. Nếu dùng chữ ngu dốt thì cũng tội, mà không dùng những từ này tôi chẳng biết dùng chữ gì để diễn tả. Có một cô bạn cùng lớp, đi dạy học, một hôm sấn sổ đến nhà, kéo tôi lên gác, đóng cửa lại và bảo:
– Mày để tao chửi thề cho đỡ tức.
Và đôi môi xinh xinh của nó chửi thật, nó dùng chữ “Đ-M” hẳn hoi, không phải những câu thông thường hoa mỹ mà người có văn hoá thường nói xa gần, như thế đủ biết cô nàng điên đến mức độ nào.
Thì ra anh chàng hiệu trưởng chưa học xong tiểu học, ép uổng, ra lệnh, xuống chỉ thị cho cô giáo đã trải qua bao đoạn trường khổ ải sử kinh để lấy được mảnh bằng đi dạy học, phải dạy học sinh theo đường lối, giáo án của chàng. Như thế văn hóa xã hội có suy tàn cũng không là điều ngạc nhiên.
Khi mọi người phải sắp hàng đi mua từng kilogram gạo, từng phân vải tám, tính theo tỉ lệ đầu người, con người bỗng lệ thuộc vào miếng ăn, manh áo đến nỗi quên mất ngoài những nhu cầu thường nhật nuôi sống xác thân, người ta còn cần một nhu cầu khác nữa là tinh thần, không có đời sống tinh thần, loài người khác chi loài thú, nên nhà nhà tìm đường vượt biên, người người tìm đường vượt biển bằng mọi giá, ngay đến cái giá trinh tiết ngàn vàng cũng rẻ mạt khi ấy. Ai cũng muốn thoát, không hiểu rõ muốn thoát cái gì, thoát nghèo đói, hay thoát dốt nát, thoát cộng sản hay thoát định mệnh, có lẽ vì quá ngột ngạt, con người Việt Nam trong thời điểm ấy muốn ngoi lên, hớp không khí như đàn cá mắc cạn và người ta đi.
Lường gạt nhau để đi, giành giật nhau để đi, những gia đình ngày xưa có tiền, có vàng giao con gái cưng cho những tên đàn ông không quen biết dẫn đi, hỏi đi đâu? Đi vượt biên, thoát thì ít, bị dở dang nhục nhã thì nhiều.
Tôi cũng vài lần đi, tiền bạc mất, lơ ngơ lớ ngớ như lạc vào bát quái trận đồ, tự dưng bỏ nhà bỏ cửa, bỏ cha mẹ bạn bè theo một người lạ hoắc lạ huơ, nó bảo mua vé xe đò xuống Sóc Trăng, thì đi Sóc Trăng, bảo đi Rạch Giá, thì đi Rạch Giá, không biết nó đưa đi đâu đến đâu, rồi như dân ăn lường ăn giật, mặt lúc nào cũng cúi gầm, sợ sệt, lén lén lút lút, lẻn vào nhà này, chui vào nhà nọ trốn chui nhủi để đợi đến ngày lên tàu đi biệt xứ. Cũng may tôi chưa từng bị bắt vô tù, vì nhanh tay, đút cho mấy tên yêu tinh du kích xã vùng Rạch Gía vài trăm, để chúng làm lơ cho tôi lủi trốn.
Có lần nằm trong đám cỏ cao gần “bãi” (nơi cho người xuống tàu tam bản hay còn gọi là taxi để ra tàu lớn) tôi chứng kiến cảnh cô gái dễ thương thành phố Sài-Gòn đi vượt biên, bị lũ trâu ngựa đưa đường, thay nhau hãm hiếp mà không sao làm gì được, nó mà biết có tôi, chắc gì nó tha, không ai binh vực chúng tôi vì đàn ông đã bị chia thành từng nhóm nhỏ đưa đến địa điểm khác.
Đời nào buồn hơn đời Thương, đời tôi và các bạn tôi vào thời điểm ấy, chúng tôi, những chứng nhân đau thương sau tháng tư năm 1975, bao thiếu nữ mơn mởn đào tơ, mộng đẹp tương lai đầy trước mắt, bỗng mất phương hướng sống trong đám sương mù dầy đặc. Đứa bị lấy chồng cho xong đời con gái, đứa có con mà không biết của thằng nào trong đám dày vò xác thân mình sau lần vượt biên thất bại. Đứa về kinh tế mới, đào đất bị đạn đứt hẳn một chân, chống nạng đi bán vé số. Đứa lang thang không nơi nương tựa vì mái ấm đã bị “nhà nước chủ nghĩa” tịch thu. Đứa đi vượt biên mất tích. Đứa cùng đường bán thân nuôi gia đình. Có đứa bị bắt khi đang đi ăn cướp! Trời ơi là Trời! Trăm lần tôi kêu thảm thiết, hình như Trời cũng trốn đâu mất, không đáp lại tiếng tôi.
May mắn sao Thương của tôi lướt qua nhẹ nhàng, tôi vẫn tin vong hồn anh Hiệp luôn bên cạnh phù hộ cho Thương. Ngày anh Côn được thả về, Thương mừng như chính người thân quen trở lại, khuôn mặt khắc khổ sau bao năm tháng đọa đầy, làm anh khác hẳn, không còn nụ cười rạng rỡ, chỉ những cau mày lo lắng, anh bị theo dõi bởi công an khu vực, nên khó lòng mà bỏ nhà vượt biên, anh bỗng trở thành ông đạp xích lô, và cô khách thường nhật là Thương. Có anh Côn, Thương đỡ khổ nhiều về tinh thần, anh Đạt của Thương cũng vui hẳn lên, khi chiều đến anh Côn bồng anh Đạt lên xe chở vòng vòng hóng mát. Hình ảnh này không hiểu sao cứ làm tôi rưng rưng khi nghĩ đến.
Ngày Thương hỏi tôi nghĩ gì khi anh Côn xin bảo bọc đời Thương?
Tôi nhìn vào mắt nó và hiểu sâu trong đáy tim nó vẫn còn hình dáng người xưa. Con nhỏ khó nghĩ cũng đúng nhưng tôi khuyên nó rằng: “Khi một người chết đi, thì người kia vẫn còn phải sống cuộc đời của họ,” dĩ nhiên nếu được như chim Loan Phượng thì tuyệt đẹp, con trống chết con mái bay đập đầu vào núi chết theo, nhưng mình là người không phải là chim, còn Mẹ, còn anh, còn bạn bè còn xã hội.
Tình yêu nếu có, sự thương yêu nếu còn dành cho người đã khuất, phải thể hiện bằng đời sống của mình. Chuyện ở vậy suốt đời để tang cho người tình đã chết vì chiến tranh, theo thơ văn thì có vẻ đẹp, lãng mạn, tình tứ, nhưng với đời thường thì không hợp lý chút nào, nhất là trường hợp của Thương, đã là vợ chồng chi đâu ngoài nụ hôn đối với Thương là lời đính ước. Vả lại để tang cho người yêu, hơn mười năm với tôi đã là quá đủ.
Tôi thành nhà hùng biện, dùng hết mọi lý lẽ tôi biết để thuyết phục bạn tôi, nghĩ cũng ấm ức, nó thì anh Hiệp, anh Côn, tôi thì chả có ai để mà khó nghĩ, nhiều lúc Mẹ tôi cũng buồn vì chưa ai đem rượu đến nhà xin tôi đi để bà đỡ ngại ngùng, khi bạn bè có hỏi bao giờ gả con gái.
Tôi chợt nhớ những lá thơ anh Hiệp gởi Thương, tôi còn giữ, cả quyển nhật ký Thương ép đầy hoa khô xương lá, suýt tí Thương đốt hồi anh Hiệp tử trận. Tôi không cho Thương đốt đi, tôi bọc lại cất kỹ, để dành cho nó. Rủ Thương ra bến sông Bạch Đằng nhìn nước cuốn hoa trôi, tưởng tượng hoa cho đỡ buồn chứ thật ra toàn là rác, đưa lại cho nó. Thôi thì nước mắt vắn dài, tôi biết trước như thế nên cứ im lặng để nàng trút cạn mạch sầu.
Lại có sự lạ lùng, tôi không thể tin mà có thật, lá thư dở dang cuối cùng anh Hiệp viết cho Thương có đoạn: “Nếu chẳng may anh có mệnh hệ nào, anh Côn sẽ thay anh săn sóc cho em.”
Thương khóc ngất, lá thơ này Thương chưa đọc. Đây là kỷ vật cuối cùng của anh Hiệp, anh Côn đã đưa khi đón Thương và tôi từ trường học đến nghĩa trang quân đội, buồn qúa Thương ép vào nhật ký và không dám mở ra nữa.
Tôi không ngờ kiến thức tâm lý phổ thông của tôi lại có kết qủa lạ lùng như thế, tôi được làm phù dâu trong lễ cưới đơn giản của nó.
Có một điều tôi trách Thương mà chưa thèm nói, là Thương không cho tôi hay nó sẽ đi Mỹ với anh Côn, chương trình H.O. sau khi cưới. Tôi chỉ biết hai tuần trước khi nó đi, mà trách Thương làm gì, tôi luôn cầu cho nó hạnh phúc, thì điều này làm tôi mừng hơn mới phải.
Trước ngày Thương xuất ngoại, hai đứa đạp xe rong ruổi bên nhau khắp nơi như ngày còn đi học. Thả dốc Tự Do hai hàng cây xoài cổ thụ, vài trái vàng tươi còn lúc lắc, ít người biết điều này ngoài hai đứa tôi, rẽ trái ngang qua Hải Quân công xưởng, đạp miết đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, gò lưng lên dốc, quẹo sang Phan Đình Phùng đến ngã tư Đinh Tiên Hoàng ghé ăn gỏi khô bò, đi tiếp quẹo trái Duy Tân uống ly dừa tươi Hồ Con Rùa, thả dài Trần Qúy Cáp hai hàng me
“lá xanh gần với nhau” quẹo phải sang đường Trương Minh Giảng, đến Tú xương dắt xe đi bộ ngắm lại từng gốc ngọc lan, những ngày mưa cánh hoa phủ đầy mặt đất. Tóc Thương dài, nó hay cột hoa ngọc lan trong tóc, đây là lý do tại sao, hương hoa thoảng nhẹ khi đứng gần nó.
Dây hoa cát đằng lá to bằng trái tim thật, có những bông tím e ấp, gốc ỷ-lan hương thơm nhẹ như phấn phải tinh mắt lắm mới thấy vài đoá ẩn kín trong lá, ngang Nguyễn Thông ghé chùa Xá Lợi, ngồi lại bực thềm ngày xưa ngồi học thi mờ mắt, phóng mắt nhìn sang trường Gia Long mà ngậm ngùi.
Tôi len lén nhìn Thương, ráng đọc trong mắt nó xem nó nghĩ gì, nhưng hình như nó đã ở thế giới khác rồi, chẳng còn là Thương của tôi ngày xưa.
Tôi hiểu chúng tôi đã thật sự lớn, những sợi giây ràng buộc chỉ còn là tình bạn. Dù Sài-gòn thay đổi thật nhiều sau năm 1975, nhưng với tôi và Thương, tất cả kỷ niệm xưa vẫn đầy trong tâm tưởng. Hai đứa chỉ im lặng bên nhau, tôi nghĩ chẳng cần phải nói gì hết, còn bên nhau đã là một hạnh phúc không cùng. Tôi hát khe khẽ:
[1]Ngày còn có nhau, giúp nhau cho thật nhiều
Ngày nào mất nhau, sớt chia chẳng được đâu.
Chấm đen trên nền trời nhỏ dần mất hút, những đám mây vẫn lặng lẽ trôi, tôi đạp xe ra Công-Lý, qua Hiền-Vương, đến Tú-Xương đi lại con đường có nhà nguyện Mân-Côi, có lẽ tôi nên ghé vào nhà nguyện cầu xin cho bạn tôi luôn được bình an trong đời sống mới.
Cuối Xuân 2001
1] [Người Yêu Tôi Bệnh – Nguyễn Đức Quang
6. Đoạn Cuối Tình Yêu!
Chèn ơi! cuối cùng rồi ông cũng đòi cưới tui. Tui không biết tui mê hay tỉnh, tui đợi chờ ngày này gần như khô héo đời tui. Mười mấy năm rồi ông biết không. Tui tưởng ông phải hỏi cưới tui hồi tui mười tám tuổi.
Cành hồng đỏ tía hồi nãy ông đưa tui, còn tươi rói trong ly nước lạnh tui để ngay đầu nằm, cái nhẫn hột xoàn năm hột bự đùng đang chiếu lấp lánh trên ngón tay đeo nhẫn của tui, sự thiệt đây mà, ông đòi cưới tui, tui đâu có mơ.
Ông ơi! sao ngoài trời long lanh như mở hội, chắc tụi nó mừng cho tui sắp đạt thành ước nguyện, Phật trời thương tui kiên trì cầu khẩn, ăn chay mỗi tuần trăng mà khiến ông mở miệng cầu hôn tui.
Không lẽ giờ này tui mở đèn sáng trưng rồi ca lên : Yêu cho biết sao đêm dài……Má tui bả lại tưởng tui mắc đằng bố bả lo. Nên thôi tui dạo chơi hạnh phúc trong căn phòng tối thui thùi lùi này với cái bông hồng và cái nhẫn của ông.
Ông biết ông làm khổ tui tới mức nào không? Mấy bà chị nhọn mồm nói tui mát dây yêu ông, để đời tui tàn lụi héo khô, mai mốt già chết xuống âm phủ làm ma không chồng lạnh lẽo. Mấy con em tui rỉa rói, yêu gì mà kỳ, không thấy lấy nhau, chỉ yêu nhau lạt nhách. Trời thần đất quỉ ơi, tụi nó mà biết ông chưa hề nói yêu tui tụi nó còn rủa xả đến đâu nữa trời.
Mà nghen, nhiều khi tui cũng thấy tui ngu thiệt, tự dưng cái mang dạ yêu ông, cái thằng cha mặt mày lầm lì thấy ghét, cặp kiếng cận đè lên sống mũi, ngó khó đăm đăm như ông giáo già rình cho tụi học trò con ốc tọt, thêm tật rày đây mai đó, hễ về tới Sàigòn là dọt xe như ma đuổi, tại dzậy mà ông húc té xe tui, cho tui nằm dài thoòng đo coi con đường Hồng-Thập-Tự dài mấy mét, cho cái áo dài trắng tơ, nổi vân hoa cúc má tui mới may, tui mặc lần đầu bị tét nguyên một tà thê thảm. Cái cằm tròn trịa của tui, má tui hay khen có hậu bị thâm đen sưng tấy ,cho bạn tui gọi tui là bà râu cả tháng trời ròng rã. Đó ông coi ông gieo tai họa cho tui mà. Phải chi ông cà chớn dọt luôn cho đời tui không rắc rối, đàng này ông dừng lại bỏ tui lên xích lô cùng chiếc xe đạp cong niềng, rồi hộ tống tui tới nhà, đàng hoàng ra mắt ba má tui xin lỗi .
Cái giọng Bắc kỳ cục của ông làm tui bắt ghét, tụi bạn tui dạy tui: đàn ông con trai Bắc kỳ là chúa đểu phải tránh xa, đừng dính líu, dzậy mờ ông thênh thang bước vô tim tui thông qua tai nạn xe cộ cái rụp hà.
Ông tới nhà tui hằng bữa coi tui có đau đớn gì không, ông xăn tay áo sửa xe cho tui để chị tui, em tui đì ông sói trán, bà thì đòi dzô dzầu mỡ, bà thì đòi thay cái bọt-ba-ga, hai con em tui cũng ỏng ẹo nói ông sơn xe màu hoa cà cho tụi nó. Tức thiệt, có mình tui là nạn nhân của ông là nín thinh không đòi gì hết ráo.
Mà ngộ, ông bà già tui khó tính thấu trời, có năm đứa con gái ổng bả canh còn hơn canh tù, ra khỏi nhà là phải tường trình đi đâu với ai mấy giờ dzìa, chị Hai tui có mấy thằng bạn học tới mượn bài mượn sách, ông già tui dzòm tụi nó từ đầu tới chưng cỡ hai ba lần, tụi nó hết vía biến sạch, chị Ba tui xí xọn có hai ba thằng cùng xóm ngấm nghé, đứng chờ bả ra khỏi nhà đi theo tới trường, bị ông già chưởi một tăng, tụi nó xanh mặt lặn mất. Dzậy mà ông tới nhà , ông già tui tiếp đàng hoàng, nói chiện thôi là nói, toàn ba cái chiện tui không hiểu, chừng ông dzià, ổng khen ông thôi là khen:
– Thằng này Bắc kỳ mà thiệt tình, tướng khá à bay, mặt mày đàn ông như dzậy trung tín, cái sơn đình rộng quan tước chứ hỗng chơi, sóng mũi cao sự nghiệp vững vàng, nhân trung sâu chung thủy, con nào làm vợ thẳng sướng đa.
Chắc ba tui nói dzậy mà chị Hai tui có hồi tưởng ông mê bả, nên bả bẹo mình bẹo mẩy thấy ghê (nói ông biết rồi bỏ nghen, tui lén coi nhựt ký của bả), ai dè xí hụt quê xệ , bả lên xe bông với thằng cha luật sư học cùng trường với bả.
Còn chị Ba tui, bả biểu tui đừng thèm ông, má chồng Bắc kỳ dữ như chằng tinh, hành con dâu tới xảy thai, rồi còn kiếm vợ hai, vợ ba cho con trai mấy bả, trời thần, tui sợ thôi là sợ. Tui hỏi ông, ông cười ha hả như đang coi kịch Phi Thoòng-Khả Năng, làm chị Ba tui biết, bả nói tui thày lay, lẻo mép, ngu như trâu, có gì cũng tâu cho ông nghe. Chắc tại vậy mà ông đưa tui tới nhà coi mắt má ông. Bữa đó ông biểu chở tui đi ăn chè, tui mặc cái áo đầm vàng có bông đỏ tổ chảng điểm thêm vài cái lá xanh lè, màu sắc nghe như muốn quýnh lộn với nhau, nhưng tui thích vậy đó cái gì cũng phải đối chọi mới vui, con nhỏ Hường nói tui phải chọn màu tông-suỵc-tông mới sang, tui giữ cái gì tui thích hà, ừa! cái ông chở tui tới nhà ông mà tui không hay. Nhà ông nho nhỏ ở khu Hai-Bà-Trưng, quẹo vô hai ba con hẻm mới tới, phía trước hàng ba có dàn bông giấy, hai bụi Ngâu thiệt bự, một khoảng vườn xanh ngắt chung quanh, làm tui trầm trồ, thấy sao giống như tới nơi nào đó không phải ở thành phố, nhà tui gần chợ nên ồn ào thấy sợ, ông nói tui vô chơi, một chút đi liền. Thiệt tình, ông toàn gieo cho tui những oan trái làm tui không biết phải đối phó làm sao, tai tui lùng bùng khi ông nói:
-Mẹ anh đó, chào đi .
Tui đứng như trời trồng, không chết tươi như Từ Hải, nhưng người tui tê cứng tới độ ông phải đẩy tui vô nhà, giọng má ông ngọt ngào vang lên làm tui tỉnh hồn:
-Vào chơi đi con, Mỹ Duyên phải không?
Sao má ông biết tên cúng cơm của tui ? tui ú ớ
– Dạ! dạ!
Má ông sao đẹp quá trời luôn, nội cái chuỗi ngọc trên cổ đủ làm tui lóa mắt, tới cái vòng ở cổ tay, trời ơi thiệt đúng như má tui nói :
-Mấy bà Bắc, bà nào bà nấy sao mà đẹp ghê nghen bây, đi chợ cũng sửa soạn, không như tao, đi đâu là sỏ áo đi hà.
Má tui mà thấy má ông như tui đang thấy, chắc bả phải đổi là:
-tới ở nhà cũng sửa soạn…… có gì nhiều đâu, chút xíu má hồng, chút xíu son môi, mà má ông đẹp hơn mấy cô đào cải lương Thanh Nga Bạch Tuyết. Má tui cũng không thua nhưng cách khÿc, ông nói Má tui đẹp giống hình cô Ba, in trên bao cục xà bông thơm.
Chị Ba thua nữa rồi, bà ác phụ chị Ba bỏ lởn vởn trong đầu tui mấy bữa rày, biến thành bà tiên hiền dịu, bà tiên này không cho tui áo đẹp như cho cô Tấm, mà cho tui ăn phủ phê mỗi khi tui theo ông dìa nhà, nào là bún thang, bún mộc, bún riêu, bún ốc, bún bung, những món này tui tả thiệt kỹ mà má tui không làm sao nấu được, rồi tới chả giò cua, bánh tôm Cổ Ngư má ông cho, í! không phải! má ông biếu má tui, cả nhà tui khen ngon nức nở.
Trả lễ, má tui biểu ông đem về, mắm chưng, mắm kho, mắm lóc kho tộ, có bữa tui phải phụ ông xách nguyên nồi mắm và rau về nhà ông, từ chuyện đụng xe tiến đến chuyện Nam Bắc đề huề vui ghê, ông há. Khi tui học thêm những tiếng mới từ má ông, về áp dụng với má tui, bả la tui quá trời, còn gọi tui là con Bắc kỳ lai. Như lần tui gọi cái muỗng là cái THÌA, má tui hỏi mày nói gì đó Tư? lần tui phụ má tui nấu bếp tui kêu cái giá (vá), thành cái MÔI má tui cười muốn sặc, đến hồi phụ ba tui đổ dầu hôi vô mấy cái đèn trên bàn thờ, tui kiếm cái PHỄU thay vì cái quặn là cả nhà tui biết tui thiệt sự lậm cái máu Bắc Kỳ của ông vô tim gan phèo phổi . Mà rồi cũng không thấy ông biểu Má ông đem trầu cau tới nhà tui, phải chi khó khăn, tui thấy ngoài chợ người ta bầy bán từng thúng từng quầy, mặc sức cho má ông mua, đem qua nhà tui đánh tiếng.
Hay là tại tui học trường Sương Nguyệt Anh nên bị ám, giống như thầy sử địa của tui có lần nói:
– Mấy trò học trường bà Sương coi chừng giống bả thành sương phụ.
Thiệt ra sương phụ hay góa phụ là gì đám học trò gái đâu biết rõ, tới giờ tui còn lẫn lộn góa với sương . Mà má ông cưng tui nhiều khi còn hơn má tui cưng tui, ông là con út, anh chị ông có gia đình ở xa, ba ông chết hồi ông hai ba tuổi, nên khi ông đi lấy tin cho báo ngoài tiền tuyến xa xôi, tui thế ông nhận hết tình thương của bả. Cũng không phải tại tui người Nam không khéo ăn khéo nói, lúc đầu nghe tui gọi ba má tui là ỗng bả, má ông cũng thấy kỳ kỳ, nhưng khi biết nguyên giòng họ nhà tui, má ông cũng thấy thích thú những từ ngữ thân tình mộc mạc như vậy Ông coi bên nội, bên ngoại tui toàn ở Mỹ-Tho, Cần-Thơ, ruộng vườn cò bay thẳng cánh, ba tui lên thành đi học, cũng là ông lục sự như ai, gặp má tui nữ sinh áo tím, thành gia thất sinh ra tụi tui, mỗi lần giỗ chạp ở nhà tui ông biết rồi đó, chú thím dì dượng đầy nhà, ai cũng gọi ông bà ngoại, ông bà nội tui cái đại danh từ Ổng Bả, mà đâu phải là thất kính. Nghe bác Hai tui gọi ba tui:
-Thằng Mười lóng rầy bụng bự bộn à, mày đừng uống bia con cọp nữa nghen mậy
Hay Dì Bảy nói má tui
-Ê Tám, mày nhớ con Tư Thêu con bà Năm trong vườn chuối hôn, vậy chớ con trai sắp thành bác sĩ rồi đó nghen.
Gia đình tui đông như nấm mọc mùa mưa, hỗng vậy sao hồi đám cưới bà chị Ba tui cái nhà hàng Soái Kình Lâm không đủ chỗ.
Tại ông chần chờ cho tui khổ thêm mà, sau 30-tháng 4,1975 , Má tui khóc sưng mắt khi gia đình chị Hai tui theo tàu Hải Quân ở kho Năm đi mất không biết ra sao, nhứt là bả lo cho hai con cháu ngoại mỹ miều của bả. Còn tui ruột đứt đoạn không biết ông ở đâu, ba má tui đã buồn, lo lẫn lộn, thêm cái mặt chết rồi của tui, ba má tui càng quýnh quáng. Tội ba tui, ổng chở tui tới nhà má ông thăm thú tình hình, thấy mắt má ông sưng húp, tóc bả thả dài không vấn tròn trịa trên đầu như mọi lần, ổng cũng cảm thương rươm rướm nước mắt an ủi:
-Chị đừng lo quá hại người, tui coi tướng thằng Thành thọ lắm, có gì tụi tui phụ chị, chỗ bà con với nhau, để con Tư tới lui thăm chị đỡ buồn.
Má ông òa khóc nức nở, tui cũng thút thít khóc theo. Nhà tui có mình gia đình chị Hai bỏ đi má tui đã biết mà còn rầu thúi ruột. Nhà ông, má ông một mình, anh ông ở Ban-Mê-Thuộc, Chị ông theo chồng ở miết Nha-Trang, ông thì mất biệt không thấy trở về. Tui thương má ông thôi là thương, quên luôn chuyện oán hờn ông không hỏi cưới tui .
Chừng chị Ba tui theo bên chồng đóng tiền đi bán chính thức dưới Vũng Tàu, cũng là lúc má ông biết ông bị bắt cầm tù tuốt ngoài Trung. Má ông than thở:
-Anh Thành con lì lợm như bác trai, lẽ ra anh con có phải lính tráng gì đâu, học văn khoa đang yên lành, thi vào Chiến tranh chính trị , rồi cứ người ta đánh nhau chỗ nào y như là anh con mang máy, mang bút tới đấy, để bác thui thủi ở nhà một mình với cây với cối .
Má ông chuẩn bị đi thăm nuôi, má tui làm mắm kho quẹt, muối xả, tui đan khăn, áo. viết thơ. Má ông giao tui chăm sóc đám cây trong vườn nhà, từ cây Thiên lý, hoa sói, hoa Ngâu, đến Tiên đồng – Ngọc nữ, má ông đặc biệt chỉ tôi cách chăm sóc cây Quỳnh hương và cây Giao, má ông nói:
– cây này anh Thành con cưng lắm, lần nào có bông anh con thức cả đêm để ngắm.
Thời gian trôi, má tui, má ông thêm thân thiết, hai bà đi chùa chung, chơi hụi chung, buôn bán chung, tui như có hai nhà, cần yên tĩnh qua nhà ông, muốn cãi cọ với hai con em dữ dằn thì về nhà. Tui đi học Sư phạm trong khi lũ bạn tui phần lớn bỏ học vì tội có nợ máu với nhân dân, chuyện chồng con không còn làm tui bận óc, mà chỉ còn lo lắng nhớ nhung ông. Có hồi tui trách ba tui, coi tướng không hay, nói ông quan cao chức lớn đâu không thấy, thấy ông trong tù, ba tui giảng giải:
-Sông có khúc, người có lúc, năm sung tháng hạn thì chịu, có phước mọi chuyện qua hết. Bây là gái, học chữ chung như vậy là tốt, đừng thấy người ta hoạn nạn mà lơ, thất đức nghen con.
Ba tui thì hiểu cho tui, còn họ hàng nội ngoại người ta đâu biết, mối mai cho tui đủ mọi thành phần, có luôn cả công an phường, bộ đội chính quy, tui lạnh như giá băng, lắc đầu quầy quậy
Rồi con Năm cũng được ông thầy giáo trung cấp tự nguyện đưa lương , nhu yếu phẩm mỗi tháng cho nó quản lý, đưa luôn chìa khóa nhà cho nó trông coi . Đám cưới không rộn ràng như ngày xưa, nhưng cũng ra đám cưới, họ hàng từ dưới quê mang lên đủ hết, từ gạo tám thơm, tới nếp ngỗng, gà, vịt thịt thà để nấu cỗ bàn cho nó. Gia đình tui có phước nên thời buổi đảo điên vẫn còn tạm đầy đủ.
Tới chừng con Sáu được bà Tư Thôi mang trầu cau lễ vật tới xin nó về cho thằng bác sĩ, con quí tử của bả, là ngày trời sầu đất thảm cùng tui. Ông mà thấy ánh mắt của mấy bà thím dòm tui là ông biết tui ốt dột đến cỡ nào, có bà nói thẳng vô mặt tui:
-Con Tư này coi đặng quá chứ, sao hổng lấy chồng, bây tính làm gái già sao bây ?
Tui lên lầu, leo qua cửa sổ, chui ra nóc nhà ngồi khóc, thiệt nghen, tui thề trong dạ tui hễ ông không hỏi cưới tui, tui ở vậy luôn, hầu tía má tới hồi ỗng bả trăm tuổi, rồi hễ chị em tui cần coi cháu, coi chắt tui coi tiếp, hễ hỗng cần, tui vô chùa tui tu, (thiệt ra tui đâu muốn đi tu, với trái tim không còn nguyên vẹn, nhưng chuyện Lan đi tu khi không thành vợ Điệp làm tui muốn đi tu cho chết như Lan)
Sau đám cưới, khách khứa về hết, bác Hai, cậu Tám cùng ba tui bàn chuyện vượt biên, bác Hai nói :
-dưới Cần Thơ đi dễ ợt, ngay bến Ninh kiều xuất phát, ra ghe lớn thẳng tắp tới cửa Đại, hễ trục trặc thì tắp vô cồn Chuối ở đỡ trong am Cậu, khi nào êm đi tiếp. (Ông cậu em của bà ngoại tui lập cái am tu luyện mình ên ở trỏng). Cậu Tám thêm:
-dân ở tỉnh thành xuống khó chớ, gia đình ông bà chú bác mình ba bốn đời ở dưới ai hỗng biết, hễ có gì trở ngại là dân che cho hết.
Tui hồi hộp, nếu ba tui tính như vậy có cơ tui bỏ nước ra đi không một lời cho ông biết. Hên sao ba tui bấm tử vi nói năm đó không hạp tuổi ổng nên thôi, ỗng để vợ chồng con Năm đi trước, đâu chừng hơn tháng có điện tín dìa nói tụi nó ở Thái-Lan. Má tui bả kể tại bả cúng chùa, thả chim, ăn chay, niệm Phật. Ba tui thì dành tại ổng bấm số hay, tui cũng vui cho con em tui tới bến bình an, miệng tui thì thầm khấn Quan Thế Âm Bồ Tát.
Chiều bữa sau, trời chạng vạng sau cơn mưa, ba má tui ngồi trước hiên hóng mát, tui đang rửa chén sau nhà, nghe chộn rộn, linh tính gì làm tui bật đứng dậy chạy u ra nhà ngoài, để thấy ông bằng xương bằng thịt. Tui nhận ra ông liền, ông ốm nhom, ốm nhách, tướng hiên ngang ngày xưa đâu mất, chỉ còn dáng hình dẹp lép, y chang con gián, miệng tui há ra mừng tủi, có ba má tui ngay đó chớ không thôi tui phóng tới ôm ông lúc đó rồi. Ông chào hỏi mượn tiền đặng trả cho ông tài xế xe ôm mà mắt ông không rời khỏi mắt tui. Ôi cặp mắt cận không kiếng của ông dòm tui sao mà tha thiết, cần gì phải nói nhớ thương tui mới hiểu, phải không ông? Ba điều bốn chuyện một hồi, ba tui biểu tui đi rước má ông. Trên đường tui đạp như ma đuổi, trời ơi! buồn vui gì cũng làm tui muốn chết hết á.
Thấy khuôn mặt tiều tụy, khô cằn của người tui thương nhớ ngày đêm, làm sao không vui, tui niệm tiếp đức Quan Thế Âm Bồ Tát cho tới khi gặp má ông tui thở như cá mắc cạn. Má ông kêu xích lô đi liền. Trên đường về nhà, tui không hiểu tại sao ba tui không để ông dìa mà giữ lại nhà tui ?
Bữa cơm sum họp đêm đó có ai ăn uống được gì đâu. Tui chống cầm ngắm ông thỏa thương thỏa nhớ, má ông chắc giống y tụi Ba tui lo hỏi ông chuyện tù đày, chuyện trong trại học tập ra sao ? RỒi ba tui bàn, ông nên ở nhà tui, ba tui là tổ trưởng khỏi cần trình báo, công an khu vực là thằng quen trong xóm, ba tui lo được, chứ về bên má ông không có lợi, ông sẽ bị công an khu vực kiểm soát ngặt nghèo khó tính chuyện tương lai . Má ông nhìn ông khóc ròng, nói cùng ba má tui:
-Thân tôi đàn bà, nghĩ không tới, anh chị Mười tính cho như vậy tôi biết lấy gì trả ơn. Thật thà tôi có để dành ít vàng vòng tế nhuyễn, làm của xin dâu cho cháu Thành, mà nay sự thể thế này, trăm sự nhờ anh chị lo giúp cho cháu, bao nhiêu tôi xin lo hết, chỉ cần cháu nó thoát.
Vừa gặp ông, hai đứa chưa mừng, chữ chia ly đã ngay trước mắt . Má ông nhìn tui, ánh mắt bả như chừng muốn nói:
-Bác đứt ruột đẻ nó, xa nó bác đau đớn lắm chứ con, chút tình bé bỏng gái trai không lẽ làm hư đời nó.
Tụi mình có một thời gian ngắn bên nhau, ông được ba tui giữ kín trong nhà chờ giấy tờ hợp lệ, ông sẽ dùng tên của thằng Năm em rể tui, để di chuyển xuống Cần Thơ, sau đó bác Hai tui lo cho ông tiếp.
Má tui nấu toàn món ngon cho ông tẩm bổ. Má ông mang bao nhiêu thứ ông thương quý lên cho ông nhìn ngắm, cây súng lục hồi nhỏ ông chơi, hình ba ông, mắt kiếng cho ông đeo tạm, bằng cấp của ông, má ông vững lòng cho ông đi vượt biên vì anh chị của ông đã ở Mỹ, và chắc chắn bảo lãnh ông ngay, khi ông thoát được sang Thái hay Mã lai. Phải công nhận má ông là người đàn bà vững chãi, ba tui khen như vậy, như má tui chắc còn lâu bả mới để thằng con vừa trở về từ cõi chết tiếp tục bước vô cõi tử khác, bằng chứng là bả giữ riệt tui.
Có lần hai đứa leo lên nóc nhà ngắm trời, ông dạy tui nhìn từng chòm sao, Đại Hùng tinh, Tiểu Hùng Tinh, Tướng Quân, Lưỡi cày, Bắc Đẩu, tui có chú ý gì đâu chỉ ngắm ông tha thiết, biết án chia ly lơ lửng trên đầu, tui quý từng phút giây tui có ông. Lạ lùng, trong cải lương đào kép người ta nói anh yêu em, em yêu anh ngọt sớt, tui với ông bao nhiêu dịp riêng tư không ai nói ra được ba chữ then chốt chủ yếu đó. Ông không nói, lẽ nào tui trơ tráo nói, đêm đó ông cũng chỉ cầm tay tui, vuốt tóc tui, choàng tay qua vai tui, cho tui tựa đầu lên vai ông rồi hết, ông đâu biết tui khấn Phật Bà cho ông hun tui, tui sẽ ăn chay một tháng, Phật Bà không chứng cho tui đêm đó, nên bờ môi tui còn nguyên vẹn băng trinh.
Cuối cùng giấy tờ đầy đủ cho ông, nhìn hình ông trong thẻ chứng minh nhân dân, y chang con khỉ, tui cười bắt sặc, ba tui ra phán quyết:
-Ngày mơi phải đi cho sớm, cỡ 3 giờ chú Ba xích lô chở ra bến xe Lục tỉnh, đừng lình chình trễ bắc mắc công lắm.
Nụ cười tắt ngủm trên môi tui, tui xin đi theo. Ỗng biểu:
Đàn bà con gái đi theo tụi nó dễ nghi, để thẳng đi một mình, bịn rịn không nên Tư à!
Chừng thấy mắt tui đong đầy nước mắt, ỗng cho tui đưa ông ra tới bến xe .
Chắc tại tui tuổi Thân nên khóc thầm là nghiệp, cái can Bính bù thêm đời tù túng cô đơn. Tui không dám khóc sợ ông nhục chí, má tui biểu bày đặc khóc lóc xui lắm, bả còn dặn ông hễ bước ra khỏi nhà là không được dòm lại, chắc theo tích Kinh Kha . Tui choàng lên cổ ông, lá Bùa thầy trụ trì chùa Vĩnh Nghiêm cho, đặng trừ tà. Cảm giác bên ông trên chuyến xích lô ra bến xe lúc nào cũng ôm ấp lấy tui cho tới giờ tui vẫn nhớ in như cũ, không dùng chữ nghĩa nào diễn tả đủ ông ơi! Ngoài bến xe, tui nắm tay ông cứng ngắt, sợ buông ra không biết đâu đặng tìm, mà rồi cũng đến lúc phải buông, cho ông lên xe. Ông lì lợm không quay dòm lại, tui đứng hoài trông theo tới chừng tan hết khói, mất tiêu bóng xe mới lững thững ra dìa. Tới nhà tui khóc như chưa từng được khóc, câu thơ :
Người đi một nửa hồn tui mất
Một nửa hồn kia bỗng dại khờ
Tui không nhớ của ai nhưng đối với tui không đúng, tui thấy tui mất hết trơn, hết trọi, không như chị Hai chị Ba tui dạy, hễ yêu ai bây yêu chừng nửa trái tim thôi có chuyện gì không thành, còn tim để yêu nữa . Tui yêu hết tim tui, từ máu đen tới máu đỏ, tủy, xương có nhiêu tui yêu ông hết, nên ông đi rồi tui tan, tui nát ông ơi, ba tui thấy tui khóc, lắc đầu đi chỗ khác, má tui nghe tui thổn thức bả bỏ lên thắp nhang khấn Phật.
Mỗi ngày tui đi chùa khấn khứa, còn ai cho tui khẩn cầu tui tới hết, nghe người ta đồn đền Đức Mẹ dòng Chúa Cứu thế linh thiêng tui cũng đi luôn. Má ông thấy tui buồn bả rủ tui đi hành hương tui đi theo tuốt, con Sáu thấy tui thê thảm mang thằng con nó về, cho tui hú hí đỡ buồn, nhìn thằng cháu mũm mĩm tui thèm có con quá mà tin ông thì biệt chim, tăm cá.
Bác hai tui lên nói, ông ra ghe lớn êm ru, cả tuần sau , không tàu nào bị công an kéo là êm rồi, bác biểu chỉ cần điện tín là chắc nùi nụi ông tới bến bình an. Nghe thì nghe vậy mà lòng tui sao như lửa thiêu, muối xát. Chị em tui cũng vượt biên mà tui đâu có lo buồn giữ dậy. Hết chuyện này tới chuyện khác, Má ông nhận giấy tờ bảo lãnh từ anh của ông, bả mừng phát khóc. Chừng tuần sau tới phiên nhà tui cũng có theo, ai cũng vui mà tui không sao tỉnh nổi . Ba tui lo nộp đơn từ xong hết, vẫn chưa được tin ông, ba tháng trôi qua mà tui thấy dài như ba năm, Má tui nấu sâm bắt tui uống, má ông không cho tui trường chay, bắt tui ngả mặn, ba tui mang sách tử vi chỉ cho tui coi, để tự tui luận đoán. Tới hồi con Sáu nói tui ốm nhom như cây sậy, mơi mốt ông gặp, ông nhìn không ra, lấy con mẹ khác đừng nói sao xui, tui hết hồn đi cắt thuốc tể ở nhà thuốc Vãn Sanh Đường, mong lấy lại hình hài son xẻ. Tui ráng ăn cho ông, tui ráng sống để chờ ông. Rồi không biết tại Đức Mẹ La-Vang hay Phật bà Thủ Đức, mà có điện tín chị Hai tui báo, ông ở Mã Lai, tui lên được một ký, má tui nói lâu ghê mới thấy lại tui cười, chừng đâu tháng sau nữa có thơ ông, tui cho ông phát thơ 3.000 đồng bạc, tiền một tô phở chừng 500, tui muốn ông biết đó là món tiền hậu hĩ cỡ nào.
Ông còn sống, trên chuyến tàu đó người ta chết hơn một nửa. Ba ngày đầu êm đềm. Ngày thứ tư gặp cướp, tụi cước bắt 4 cô gái nhỏ cỡ 10 đến 16 tuổi, vét lột hết nữ trang vàng bạc, có hai người đàn ông chống cự bị chém vứt xuống biển, sau đó phá máy tàu, và bỏ đi.
Ngày thứ sáu, gặp tàu khác cứu, cho thức ăn, nước uống, kéo vô đảo hoang, mọi người mừng rỡ, không ngờ khuya tới, chúng trở lại lùa đàn bà con gái lên tàu đem đi, tảng sáng trả về, cho cá, gạo, mọi người tính kế. Tuần sau chúng trở lại, đàn bà con gái biến mất hết, nói dối chết hết, chúng bỏ đi, không cho thức ăn, không trở lại. Đói, lấy thịt người chết nuôi con nít, người kiệt sức, tìm quần áo màu trắng treo trên ngọn cây cao cầu cứu, đốt khói, cầu nguyện. Máy bay Liên Hiệp Quốc cứu người vượt biển nhìn thấy, thả thức ăn, hai tuần sau có tàu kéo vào Mã Lai .
Ông gần chết, vào bệnh viện, tỉnh dậy người ta mời làm chứng nhân cho nạn cướp kinh khủng biển Đông.
Đọc hết thơ tui mất đi hai ký. Nhắm mắt lại thấy toàn chuyện kinh hoàng. Tại sao người lại giết người .
Gia đình tui và má ông nhờ có hy vọng ra đi, mà ai cũng như sống lại được chút nào, ba tui thôi không nghĩ đến chuyện vượt biển, ai có bàn, ổng chỉ nói ra, kinh khủng quá, nếu không có bùa tui đeo cho ông, chắc gì ông còn để mà nghĩ chuyện lấy tui.
Tui sống bằng thư ông gởi, học anh ngữ chuẩn bị sang xứ tự do. Sáu năm trôi như mây, như gió, tuổi Xuân tui bay đi mất hút, vết nhăn trên khóe mắt tui sâu hơn, tui gặp lại ông. Sân bay San Francisco, ông ôm chầm lấy tui, tui dụi đầu vào ngực ông ấm áp. Không sợ gì ba má tui thấy nữa .
Ông ơi! Khuya qua ông nói:
-Hồi đó anh muốn em giữ tuổi thần tiên càng lâu càng tốt, em ngây thơ quá, anh không muốn em lo nghĩ chuyện tình cảm, lơ là học hành, đi tù về tương lai u tối anh câm luôn, vì anh muốn đời em phải được hạnh phúc, nếu anh tỏ tình anh trong tình cảnh ấy, biết đâu cản trở đời em. Bây giờ anh vững vàng rồi bé ạ. Mẹ đang chờ em về với anh, để mẹ có cháu bồng. Em biết không anh mua nhà có cây cổ thụ phía trước, có bốn phòng ngủ, một cho tụi mình, hai cho con mình, phòng còn lại khi nào ba má thích sẽ tới ở luôn. Em sẽ không còn buồn, không còn lo lắng gì nữa hết, anh không cho em khóc nữa, ngay cả khóc thầm nghe chưa. Sau nhà mình có khu vườn nhỏ bé ạ, mẹ đã trồng rất nhiều thứ hoa em thích, có đủ thứ rau nữa, của bé hết, em đẻ cho anh 5 cô công chúa, để tụi nó chọc ghẹo nhau, còn hoàng tử tùy em muốn bao nhiêu, cứ sanh cho anh, ba má với mẹ anh tha hồ mà trông cháu.
Ông nói thôi là nói. Nước mắt tui lăn dài, ông hết hồn:
-Sao vậy, em chịu làm vợ anh không?
Tui vội vàng gật lia lịa, sợ ông hiểu lầm đổi ý. Ông nâng cầm tui lên, nhìn vào mắt tui, vừa lau nước mắt cho tui, vừa cho tui nụ hôn đầu đời con gái. Tụi mình lại quên nói yêu nhau rồi ngày mơi lúc gặp ông, câu đầu tiên tui sẽ nói:
– Em yêu anh vô cùng, vô tận, em sẽ là người vợ tốt, là người mẹ hiền, không bao giờ em cãi anh, không bao giờ em xa anh một phút một giây anh ơi em yêu anh.
Ông ơi, tui hạnh phúc quá ông ơi, tui sẽ kêu báo hết cho mọi người, tui đi lấy chồng, chồng của tui là ông ..
Í sao ngực tui đau nhói, sao tui xây xẩm. Anh, EM YÊU ANH.
Buổi sáng tiếng chim hót báo ngày mới, ánh nắng rọi vào phòng cô gái, cô gục đầu trên gối, đóa hồng thẫm cô cầm trên tay, chiếc nhẫn long lanh trên ngón tay áp út, khuôn mặt cô an nhiên, nụ cười hạnh phúc phớt trên môi. Giòng chữ Em Yêu Anh đỏ thẫm viết trên nền vải trắng trải giường. Tinh ý sẽ thấy, gai hồng đâm vào ngón tay cô, vết máu còn đọng. Đôi khi, hạnh phúc làm tim người ta ngưng đập .
Như Hoa Ấu Tím -2001
7. Tình Cờ Đất Khách
Tiếng muỗng đĩa lanh canh, giọng người huyên náo, kẻ đứng lên người ngồi xuống. Anh bồi bàn lăng xăng lau dọn, cố gắng lèo lái đẩy thùng chứa nước phở dư, tô chén bẩn không đụng vào lưng thực khách. Trong góc tiệm nhìn ra, dòng xe cộ chuyển động không ngưng nghỉ, mùi phở thơm nức mũi cùng mùi rau quế ngò gai. Đôi mắt xoáy vào đôi mắt. Đôi mắt rất quen.
Phút giây rất ngắn ngủi đôi mắt gặp nhau. Dọc theo sống lưng, làn hơi lạnh buốt xuyên thấu lên óc, tưởng máu có thể đông chết ngất. Đôi mắt người đàn ông nâu to ngơ ngác, dưới vòm mi cong, mày rậm, đàn ông mắt nâu đa tình nhưng không nhiều bản lãnh. Đúng đôi mắt ấy, đã hơn lần thật thấp hỗn loạn đắm đuối tia nhìn, môi tìm môi nồng nàn say đắm. Tia nhìn đã khắc vào trí nhớ như vết xâm quái ác không thể bôi xóa tan nhòa.
- Cạch!
Tiếng tô phở được đặt trước mặt, ngước tia nhìn trách móc:
- Sao đánh thức tôi!
Ánh trách móc bị tấm lưng người bồi bàn lạnh lùng dội lại.
Đôi đũa đã lau, xếp ngay ngắn trên tấm khăn giấy cùng chiếc muỗng, ỡm ờ chờ đợi kêu gào: “Múc lấy nước húp đi, thử xem ngọt mặn thế nào,” với lấy ve nước mắm, rưới lên lớp thịt nâu hồng, mùi nước mắm xộc vào mũi, nước mắt tràn qua hố mắt đổ dài xuống má.
Gắp bánh phở trắng cúi đầu dấu mặt, đôi hàm răng cắn mạnh phập vào lưỡi. Mảnh ớt cay đụng vào vết cắn, tái tê.
Năm 1976 – mưa rả rích – đường Pasteur lá cây dầu nhèm nhẹp dính vào gót đôi dép da mòn vẹt. Chiếc bàn gỗ thông xộc xệch vuông vức, vừa đủ để hai tô phở lõng bõng bánh thịt, thêm hai phin café bốc mùi bắp rang khen khét, chen cùng đĩa rau giá phớt chút màu xanh. Cúi xuống ăn, hai mái đầu gần đụng vào nhau. Hai mái tóc cùng đen, một dài ngang lưng cột túm ra sau, một đụng vào cổ áo sơ mi sờn rách. Vừa ăn vừa nói chuyện tương lai:
- Em nghĩ sao nếu có người cho anh ký giấy hôn thú đi Pháp?
Ngước lên dò hỏi:
- Điều kiện?
Khuấy cốc cà phê, mồi điếu thuốc lá:
- Không gì hết.
Khép mi mắt:
- Anh định sao?
Vòng khói tròn thoát khỏi đôi môi chúm.
- Anh muốn thoát, cùng đường rồi Cầm ạ. Chả còn nơi chốn nào dung thân, ăn tô phở cũng em trả tiền, hút điếu thuốc cũng tiền em trả, anh chẳng còn mặt mũi nào mà ngó vào gương.
Hàng chân mày nhướng lên:
- Sao anh nói thế, tình em yêu anh không đủ ư? Càng khổ sở mình càng yêu nhau hơn mới đúng chứ.
Sợi khói tan dần:
- Yêu nhau là mưu cầu hạnh phúc cho nhau, anh chỉ bám vào em như rêu bám vào đá, anh chỉ trả lại cho em những ước mơ không thật, tìm đường vượt biển, sang được nước ngoài làm đám cưới, sống hạnh phúc đến già. Em tin anh làm được những điều ấy với hai bàn tay trắng bệch hở Cầm.
Đôi mắt mờ vì khói, nuốt ực ngụm cà phê chưa cho đường:
- Anh định đi Pháp? Hy vọng xong không?
Vòng khói lại phun ra:
- Hôm qua anh gặp thằng bạn thân quốc tịch Pháp, hắn còn vài cô em gái. Cuối tháng này hắn lên máy bay.
Đôi mắt giao nhau, tháo sợi thun cột tóc mân mê:
- Còn em?
Vòng khói méo dần:
- Người ta giúp anh vượt thoát, sang ngoại quốc ly dị không khó, anh sẽ lo cho em sang sau. Dính chùm thế này anh cảm thấy bế tắc nhục nhã quá Cầm ạ.
* * *
Năm 2004, tiệm phở Pasteur do chính chủ nhân từ Sài-Gòn đứng nấu, theo lời quảng cáo trên đài phát thanh thành phố Westminster, California. Miếng thịt nhai không đứt trệu trạo, nhả ra. Đôi mắt nâu xoi tới lần nữa, xuyên qua vài khuôn mặt thực khách đang thưởng thức vị phở quê hương.
- Nhục nhã quá Cầm ạ.
Tiếng vọng ngân dài theo ngày tháng, từ lúc đôi mắt nâu to đi mất. Đi đành đoạn, đi bỏ lại mái tóc dài ngang lưng nhung nhớ ơ thờ. Cửa lòng khép hẳn.
- Sao anh nỡ phụ lòng em, cho em vạn sầu đắng cay tình đầu, chỉ là bội ước, xóa lời hẹn thề mà lòng nát tan. [1]
Nỗi phụ phàng không thốt nổi lời trách cứ, chỉ tha thiết kề bên, chỉ đớn đau vun quén cho thỏa trí người tình. Nỗi nghiệt ngã tình cảm thời quáng gà sau chiến tranh, xảy ra cho ai người ấy phải gánh, xảy ra cho em, em phải cung cúc cưu mang.
Định mệnh, hai chữ người ta dùng siết thòng lọng tròng vào chuyện tình không đoạn kết, dùng vào trường hợp em anh chẳng cần siết dây chi, đã tắt hơi quên cả khóc òa.
Anh ký giấy hôn thú, anh lập gia đình, khoảng thời gian trước ngày lên đường đi Pháp, là chuỗi ngày trăng mật hấp hối chuyện tình. Bán tống tháo tất cả những gì có thể, đi may sắm từ manh quần tấm áo, thăm từ bến bãi tây đông, bản hôn thú hờ làm giấy mướn phòng khách sạn, mang danh vợ chồng mà ân ái đếm từng đêm.
Anh đi, sân phi trường bụi phủ, mái tóc ngang lưng gió phần phật đánh rối bời. Năm đầu trôi qua, những lá thơ tả đền đài cổ mộ, nhớ nhung ray rứt. Năm thứ hai than thở vật lộn kiếp tha hương, mong ngày khôi phục cơ đồ quê mẹ. Năm thứ ba vướng bận con thơ, đành lo toan cùng vợ dại, chuyện tình xưa xin tháo gỡ cho nhau. Năm thứ tư thơ thưa dần biến hẳn, bỏ lại sau lưng cát bụi phủ mù.
Hai mươi tám năm sau tình cờ quán phở gặp nhau [2].
Mái tóc ngang lưng bới cao thôi xõa, ánh mắt nâu to, ngơ ngác nếp nhăn hằn. Khoảng cách vài chiếc bàn vững chãi, những chiếc ghế bọc da.
Bên cạnh đôi mắt đàn ông nâu to, là khuôn mặt người đàn bà trang điểm kỹ càng, hơi đẫy đà diêm dúa, ba thiếu niên tràn nhựa sống vui vẻ nói cười.
Bên cạnh mái tóc bới cao, khoảng trống chủ nhật ồn ào. Để lại một đồng trên bàn, tiền trả cho tiếng “cạch” đã lôi ngược nàng ra khỏi ánh mắt quá khứ. Cầm đi thẳng ra cửa, không vương vấn.
Những mùa xuân đã mất hút chẳng níu lại làm gì.
Xuân 2005
Chú thích:
[1] Tình phụ Đỗ Lễ
[2] Hai mươi bốn năm sau, tình cờ đất khách gặp nhau – Phan Khôi