Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

LAN VÀ HUỆ - HOÀNG ĐẠO

2 trả lời, 28 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 18.03.2021 21:57:13 bởi Ct.Ly>
Hoàng Đạo (1907-1948), tên thật: Nguyễn Tường Long, là một nhà văn Việt Nam, trong nhóm Tự Lực văn đoàn. Ngoài bút danh Hoàng Đạo, ông còn có những bút danh khác: Tứ Ly, Tường Minh.
 Sinh ngày 16 tháng 11 năm 1907 tại phố huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, trong một gia đình công chức, gốc quan lại đã đến hồi sa sút.
Cha ông là Nguyễn Tường Nhu (1881-1918) làm Thông phán và mẹ là Lê Thị Sâm, con gái cả viên quan võ Lê Quang Thuật ở Cẩm Giàng (Hải Dương).
Hoàng Đạo là người con thứ tư trong một gia đình gồm sáu trai, một gái. Trừ người anh cả Nguyễn Tường Thụy, là công chức, từ người anh thứ hai Nguyễn Tường Cẩm đến Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Tường Vinh và người em út là bác sĩ Nguyễn Tường Bách, đều đã ít nhiều dự vào nghiệp văn chương.
Khi ông chào đời, được cha đặt tên là Tứ (cho thuận vì trước đã có Tam (Nguyễn Tường Tam), nhưng sau nghĩ lại, mới thấy cái tên này trùng tên người bạn thân của mình, nên gọi chệch là Tư (Nguyễn Tường Tư). Sau vì ông không đủ tuổi để đi thi, gia đình đã khai thêm bốn tuổi (thành ngày 3 tháng 4 năm 1903 trên giấy khai sinh) và đổi tên lại là Nguyễn Tường Long
 
ùùù
Lan và Huệ
Hoàng Đạo
NXB Đời Nay ( Loại sách Hồng)
 
* * *
 
Lan và Huệ
Hoàng Đạo
NXB Đời Nay ( Loại sách Hồng)
 
Chợ Chu là một đô thị nhỏ ở vùng Thái nguyên. Mấy gian chợ xây gạch ở chính giữa, chung quanh là những ngôi hàng của người Kinh lên đây buôn bán với bọn Thổ, Mán, rồi là rừng núi bao phủ bốn phía.
Trong các ngôi hàng kia, có ngôi hàng của vợ chồng ông Bá là thịnh vượng hơn cả. Cũng như các bạn hàng khác, ông bán cho dân Thổ những thứ họ cần dùng như muối, đường…và mua sản vật của họ để xuôi Thái Nguyên bán lại. Nhưng ông hiền hậu và thực thà, không có tính lừa lọc, lại sẵn lòng cứu giúp kẻ nghèo, nên dân Thổ thích giao dịch với ông và mến yêu ông lắm.
Vì thế, công việc làm ăn của ông rất dễ dãi và hai ông bà có thể tự mãn, nếu không có một nỗi khổ tâm: Hai ông bà muộn con. Hai ông bà uống thuốc suốt năm và luôn luôn đi cầu tự ở các đền chùa, nhưng vẫn không có kết quả gì.
Mãi đến năm ông đã năm mươi, bà mới sinh hạ được một mụn con gái. Hôm bà lâm sàng, ông Bá thấy trong vườn nở một nhánh hoa lan bạch ngọc, ông bèn đặt tên con gái là Lan.
Lan trông rất xinh, nước da trắng mịn, đôi con mắt to và thơ ngây như mắt thỏ. Cha mẹ nâng niu và quý báu như ngọc, ngày ngày bà Bá ra chùa tạ ơn Trời, Phật đã cho bà được toại nguyện.
Năm Lan lên ba, bà Bá không may thụ bệnh rồi từ trần. Từ đấy, tình cảnh hai bố con Lan thực là đáng thương. Ông Bá phần thì nhớ vợ hiền, phần thì thương con nhỏ mồ côi, buồn phiền không thiết làm gì hết, sao nhãng cả công việc buôn bán, ngày ngày chỉ uống rượu hay rong chơi cho khuây khỏa.
Một hôm, ông đương ngồi buồn nhắm rượu thì có một người đàn bà đến thăm. Bà ta ăn vận đại tang và nói là bạn của bà Bá, được tin bà mất nên đến viếng.
Phú ông nghe nói trạnh lòng, đem việc nhà ra
kể lể than thở. Bà khách cũng khóc òa lên, sụt sùi nói rằng thấy cảnh nhà ông, chợt nhớ đến nông nỗi góa bụa của chính bà. Nghe bà khách nói, ông Bá cũng động lòng thương. Hai người kể lể với nhau chán chê rồi lại khóc, và đến lúc khóc chán chê rồi thì nhìn nhau và cùng thương hại lẫn nhau.
Lúc bà khách từ biệt ra về, ông Bá tiễn ra tận cửa, rồi cách đó vài hôm, ông sang đáp lễ. Hai người hóa ra năng đi lại với nhau, và không bao lâu, ông Bá cưới bà khách góa về làm vợ kế. Ông mong rằng từ đây ông sẽ có một người nội trợ đảm và Lan sẽ được người mẹ có thể thay người mẹ hiền đã khuất.
Song điều người ta mong ước thường không hay đến. Bà khách ban đầu còn tỏ vẻ âu yếm miễn cưỡng, nhưng về sau, lòng ghẻ lạnh đối với Lan dần dần rõ rệt. Lấy ông Bá được một năm, bà cũng sinh hạ một đứa con gái đặt tên là Huệ. Nhưng Huệ xấu xí, thô kệch, không được như Lan, nên bà mẹ từ đấy ghen tức với Lan, sinh ra thù ghét Lan.
Nhất là Lan càng khôn lớn lên trông càng xinh đẹp ra. Nước da cô trắng mịn, đôi má lúm đồng tiền, cái miệng cười rất có duyên, dáng đi mềm mại như một nhành lan, ai trông thấy cũng phải yêu.
Và, đáng mến hơn sắc đẹp, Lan có một tính tình hòa nhã, dịu dàng. Luôn luôn, cô khâu vá, hay làm một việc khác giúp đỡ mẹ ghẻ, và cố sức làm cho trong nhà có một hòa khí đáng yêu. Ông Bá rất yêu Lan, nhưng Lan không hề dựa vào lòng yêu ấy để đối phó với mẹ ghẻ; Lan thường nhường nhịn để trong nhà được vui vẻ. Như mẹ Lan khi xưa, Lan rất thương người, không khi nào gặp một người đau khổ là Lan không hết sức tìm cách giúp đỡ hay an ủi. Lan thương cả đến loài vật; mèo, chó trong nhà thấy Lan đâu là theo mừng, và cả đến chim sẻ quanh nhà cũng có khi bay đến đậu trên vai, lên tay Lan mổ thóc gạo, cô hay đem cho chúng ăn.
Huệ, trái lại, là một cô gái đỏng đảnh, chua ngoa, hay mắng chửi đầy tớ, chỉ biết vơ phần lợi về mình, mà lại muốn lúc nào người ta cũng khen mình đẹp và khôn ngoan.
Nhưng hàng xóm láng giềng chỉ yêu Lan và khen Lan, khiến Huệ tức ghen với chị và tìm cách làm hại chị. Song Huệ biết cha yêu quý Lan hơn, nên Huệ đành ghen thầm ghen vụng chị mà thôi.
Một hôm kia, ông Bá bàn với vợ về việc buôn bán, và nhất định xuống Thái mở một ngôi hàng nữa, còn ngôi hàng ở chợ Chu thì để lại cho vợ con trông nom.
Từ hôm ấy, Huệ không còn sợ hãi gì nữa, chỉ lăm lăm tìm dịp làm hại Lan cho bỏ ghét.
Huệ biết Lan tính hay thương loài vật, bèn nghĩ ra một cách trêu. Huệ leo trèo tìm tổ chim lấy trứng hay bắt chim con để chơi, và được con nào là đem về khoe chị, rồi vặt lông nó, đánh đập nó trước mặt chị Huệ, làm thế vừa để thỏa tính ác tự nhiên của cô, vừa để làm gai mắt chị. Lan trông thấy lấy làm thương tâm lắm, nhưng khuyên bảo Huệ làm sao cũng không được. Càng khuyên bảo, Huệ lại càng đánh đập tàn nhẫn hơn: đem việc ấy nói với mẹ ghẻ, thì mẹ ghẻ lại mắng át đi, bênh con ra mặt. Cho nên, nghe tiếng chim bị đánh kêu chiêm chiếp, Lan đành quay mặt đi không nhìn nữa, hay đi nơi khác cho khuất mắt
Huệ biết vậy lại trêu tức già. Cô ta bẫy được một con chuột bèn lấy giẻ tẩm dầu tây quấn vào thân con vật rồi lấy diêm châm. Con vật bị đốt sợ hãi quá, vừa chạy vừa kêu; Huệ lấy làm thích lắm, đứng vỗ tay xem đám lửa chạy quanh trong gian nhà.
Lan chợt trông thấy, vội chạy lại, lấy chăn chùm con chuột, dập tắt lửa, nhưng con vật đầy vết thương, nằm yên rên rỉ.
Thấy Huệ đứng cười, Lan giận lắm, uất lên mắng em:
-      Sao Huệ chơi ác thế, hở?
-      Ác gì mà ác. Nó có biết đau đâu!
Huệ vừa trả lời vừa rũ ra cười.
Lan nhìn con vật nằm rên, nói:
-      Em thử bị như thế có đau không?
Ấy thế là Huệ khóc ầm lên, chu chéo kêu la:
-      Chị rủa tôi! Chị ác thực!
Thế là Huệ giựt phăng lấy con chuột ném ra ngoài sân rồi vừa khóc vừa chạy ra mách mẹ.
Bà mẹ đương uống nước, gọi Lan ra mắng như tát nước vào mặt:
-      Nó chơi thì mặc nó, can chi lại đến rủa nó? Chị bước ngay đi không thì tôi đập cái chén này vào mặt bây giờ.
Lan biết nói cũng bằng thừa, đành cúi đầu lủi vào nhà sau khóc một mình. Lúc đó con chuột đã tỉnh, đứng nhìn Lan khóc, hai con mắt như có vẻ buồn, rồi lủi thủi tìm đường trốn.
Được thể, Huệ lại càng lên mặt, cái gì cũng dành về phần mình cả, lúc nào cũng tìm cách bắt nạt, ăn hiếp chị. Quần áo Huệ tranh lấy cái đẹp, mới, còn đồ thải ra mới đến phần chị; hoa, hột, vòng, xuyến trong nhà chỉ có Huệ được dùng, cả đến những đồ tư trang ông Bá mua cho Lan cũng chỉ có Huệ được đeo. Thậm chí hai lồng chim vàng anh của ông Bá mua về cho Lan, vì ông thấy Lan ưa chim hót, Huệ cũng nhất định chiếm lấy làm của riêng, nhưng đến việc cho chim ăn, thì Huệ lại lười biết không làm được, đành phải giao cho chị.
Tuy vậy, Huệ vẫn ghen với Lan. Khi ra đường, Huệ ăn vận sang trọng và lòa lẹt, còn Lan bao giờ cũng chỉ được mặt cái áo cũ. Nhưng người ta vẫn nhìn Lan và tấm tắc khen cô bé xinh đẹp nõn nà. Những chị em hàng xóm cũng chỉ thích chơi đùa với Lan, vì Lan hòa nhã và vui vẻ, còn hễ thấy mặt Huệ đâu là vội lảng tránh. Huệ không biết là vì Huệ ích kỷ và hay chơi ác, lại tưởng là vì Lan gièm mình với chúng bạn, nên lại càng sinh ra ác cảm với Lan.
Mẹ Huệ đáng lẽ phải bắt con theo gương chị, trái lại, chỉ biết bênh con và nuông con. Hễ Huệ đến mách, là bà ta nghe liền và mắng Lan, phải trái thế nào cũng mặc. Ông Bá thì bận nuôn bán, mỗi năm mới về vài ba lần thăm vợ con. Những lúc ấy, Lan có thể khóc lóc kể với cha được, nhưng vì thương cha đã có tuổi, nói ra sợ cha phiền, nên Lan đành im tiếng. Vả lại, những ngày ông Bá ở nhà, bà mẹ ghẻ tự nhiên sinh ra âu yếm Lan hơn, và thường là đánh mắng Huệ. Lan còn nhỏ tuổi không hiểu là bà làm bộ như thế để che mắt ông Bá, vì mỗi lần ông Bá đi khỏi thì bà lại trở nên ác nghiệt hơn.
 £££
Một lần ông Bá vừa đi khỏi, có một ông cụ già người Thổ râu tóc bạc phơ, ăn vận rách rưới, còng lưng chống gậy tre đến trước cửa nhà Lan xin cơm ăn, nói là vì nhỡ độ đường;
Bà mẹ ghẻ Lan ngồi ở cửa hàng mắng đuổi:
-      Không có! Đi chỗ khác mà xin.
Huệ đương đứng đánh phấn, cũng cong môi lên bảo:
-      Úi chào! Nhỡ với nhàng gì, chỉ khéo bịa! Bước ngay! Người khỏe mạnh thế kia, có què quặt gì mà phải đi xin.
Ông cụ còn đương đứng tần ngần nửa muốn đi nửa còn ráng lại, thì Lan ở trong nhà trông thấy, động lòng thương, vội lấy bát cơm nguội chạy ra định cho. Huệ thấy vậy, hầm hầm nét mặt chạy đến  giằng phứt bát cơm bảo:
-      Ai khiến chị cho! Dễ có của bỏ rơi bỏ phí !
Rồi Huệ quay lại ton hót luôn với mẹ :
-      Đấy me coi ! Me đã bảo không cho, mà chị ấy cứ đem cơm ra, chị ấy còn coi me vào đâu nữa.
Bà mẹ Huệ, bị con xui, tức khắc nổi giận, mắng sa sả vào mặt Lan :
-      Ồ … Sao tôi đã bảo không cho mà chị lại còn cho nó, hở ? Chị lộng quyền vừa vừa chứ !
-      Thưa dì, con không nghe thấy.
Bà dì ghẻ lạnh lùng :
-      Cô không nghe thấy ; Cô điêu vừa chứ. Cô có coi tôi ra gì đâu ? Có phải của mồ hôi nước mắt của cô đâu mà cô tiếc.
-      Dạ thưa dì…
-      À…mày lại còn cãi lại hở ? Làm ăn phí phạm, tao bảo mày còn mắng lại phải không ? Cái con này không dạy làm dạy ăn, rồi đến hư thôi.
Thế rồi, bắt đầu hôm ấy, bà ta nhất quyết dạy Lan làm ăn. Nghĩa là bà bắt Lan làm hết cả việc nặng nhọc ở trong nhà : quét tước, giặt dịa, cơm nước, hầu hạ bà ta y như một đứa ở.
Không biết làm thế nào, Lan đành nhịn nhục chiều ý mẹ ghẻ. Sáng, cô phải dậy thực sớm lau nhà, đem quần áo ra sông giặt, rồi về xách rổ đi chợ làm cơm. Chiều đến, cô còn phải đi gánh nước, và khi cả nhà đi ngủ rồi, cô còn cái bổn phận đóng cửa nữa. Buổi đầu còn ăn chung với mẹ ghẻ và Huệ, nhưng dần dà, mẹ ghẻ đuổi xuống ăn ở trong bếp, lấy cớ rằng trong khi hai mẹ con ăn, phải có người trông nom cửa hàng, mà người ấy chỉ có thể là Lan.
Tuy vậy, Lan cũng không lấy làm oán trách. Lan thích làm việc, và một ngày bận tới tấp là một ngày trôi qua rất chóng, cô không có thì giờ để tủi thân và nghĩ đến sự cô độc buồn nản của đời cô. Làm việc nặng nhọc, Lan thấy không khó chịu bằng những lời cạnh khóe của Huệ, những câu đay nghiến mắng mỏ của mẹ ghẻ. Cô rất sợ những lời chua cay ấy và những hôm nào bị mắng – Thường là bị oan – là Lan ngồi lặng một nơi khóc thầm và nghĩ đến cha, mong cha chóng về để bênh vực lấy đứa con gái còn nhỏ dại mà đã bị đầy đọa.
Nhưng được một điều là bà mẹ ghẻ cũng biết tính Lan, có thể chịu khó làm lụng chứ không thể nhịn nhục chửi bới hay là đánh đập, nên bà còn nghĩ rằng đó cũng là một phương pháp làm cho Lan xấu người đi. Bà – và cả Huệ nữa – mong rằng chân tay Lan sẽ to ra và xù xì, thân hình Lan sẽ tiều tụy. Được ít lâu, hai mẹ con đều thất vọng : Lan, không những không xấu đi mà lại còn xinh đẹp thêm lên, thân hình mảnh dẻ của cô ngày trước đã hóa ra đầy đặn hơn, dưới làn da vẫn trắng bong, bắp thịt lẳn vào và rắn chắc ; đôi má cô ửng hồng như màu đào chín, và tay chân cô có cứng cáp mà vẫn nhỏ nhắn xinh xẻo. Huệ thấy vậy lại càng sinh ghen tức, nhất là cô ả tuy giữ gìn hết mực, không mó đến một việc gì cả, cũng không mấy khi ra ngoài nắng gió mà chân tay vẫn cục mịch, thô lỗ như chân tay thợ nề.
Lan thì vẫn ngây thơ, không để ý đến sự ghen ghét nhỏ nhen của Huệ, cặm cụi làm lụng suốt ngày. Chỉ riêng những buổi sáng tinh sương, lúc cô ra ngoài giếng giặt áo hay gánh nước là Lan thấy thư thả trong lòng một ít. Hoặc buổi tối, cô ngồi nhìn bóng trăng chiếu xuống sân gạch, con chó bông nằm cuộn tròn dưới chân, hay những lúc cô nghe vành anh hót, thay nước cho chúng và cho chúng ăn. Nhưng điều Lan ưa thích hơn hết, là chiều chiều cô nhớ lại những việc thiện nho nhỏ cô đã làm được trong ngày sắp qua : may áo mũ cho con chị Tạc bán nước, mới sanh được vài hôm, nhưng không có gì mặc vì mẹ nó nghèo quá, lấy nước giúp cái Quyên, còn bé lắm mà đã phải đi gánh nước ; đãi những ông già đi ăn xin một bát cơm hay một đồng trinh và an ủi họ một vài lời. Vì thế nên Lan làm việc cực nhọc nhưng vẫn vui tươi, khiến Huệ lấy làm lạ và càng thêm căm tức, định bụng làm hại cho bằng được mới nghe.
Một hôm kia, có thư của ông Bá gừi về nói độ vài ngày nữa ông sẽ thu xếp về chợ Chu thăm nhà. Hai mẹ con Huệ tiếp được thư, lấy làm lo, nói với nhau rằng ông Bá về nhà mà khám phá ra việc hai mẹ con áp chế Lan, bắt Lan sốc vác như một con sen, thì có lẽ ông giận lắm và cảnh nhà không biết sẽ tan hoang đến bực nào.
Hai mẹ con bàn tính mãi, và một giờ sau, hai người đều tươi tỉnh nét mặt, như đã định sẵn mưu mẹo đối phó với Lan.
Chiều hôm ấy, như mọi bữa, Lan đặt nồi cơm và niêu cá kho rồi chạy ra ngoài cho chim ăn. Đến lúc cô trở vào bếp, thì niêu cá kho đã đổ tung xuống đất, và nồi cơm thì đổ úp xuống gio. Lan còn đang ngơ ngác thì Huệ đã chạy vào, giục giả :
-      Chị làm cơm mau lên, mẹ kêu đói lắm rồi.
Vùa nói, Huệ vừa nhìn ngang nhìn ngửa và giả vờ ngạc nhiên thấy cơm, cá rơi vãi đầy bếp. Huệ giả vờ, vì chính Huệ đã đánh đổ để hại Lan :
-      Ô hay ! Làm sao thế này? Chị làm như thế thì bao giờ được ăn.
Rồi không đợi Lan trả lời, Huệ tất tả chạy đi mách. Một lát sau, bà mẹ chạy vào quát tháo:
-      Làm ăn thế à, con kia?
Lan lau nước mắt, trả lời :
-      Con vừa lên cho chim ăn, trở xuống thì đã thấy đổ tung tóe ra rồi. Nào con có đánh đổ đâu mà dì mắng…
-       Lại còn cãi, hử ? Mày không đánh đổ thì còn ai nữa, còn nỏ mồm cãi…Bà lại tát cho một cái vỡ mặt ra bây giờ.
Vừa nói, bà ta vừa sấn sổ lại. Thấy vẻ hung hăng của mẹ ghẻ, Lan đứng thẳng, đôi mắt giáo hoảnh, cương quyết trả lời :
-      Dì mắng tôi thì tôi chịu, nhưng tôi xin dì đừng động đến người tôi.
-      À, mày lại bảo bà không đánh được mày à ? Bà thử đánh xem mày làm gì nào.
Lan đứng lặng người đi nhìn người mẹ ghẻ xông lại. Mãi đến lúc bà ta đến nơi, Lan mới như sực tỉnh, tái mặt đi và giơ tay gạt bà mẹ ghẻ ra một bên chạy như điên vào phòng riêng, đóng chặt cửa lại, rồi gục đầu vào tường khóc nức nở.
Trong khi ấy, tiếng bà mẹ ghẻ vẫn the thé rít lên :
-      Mày liệu hồn, thế nào mai bà cũng dần xác mày ra, bà mới nghe.
Rồi bà phân bua với hàng xóm :
-      Nuôi cho nhiều vào, để rồi nó đánh giả.
Lan ngồi khóc mãi ; càng nghĩ đến tình cảnh của mình, Lan lại càng thấy tủi nhục. Lan có thể chịu khó làm việc nặng nhọc, nhưng không thể chịu được những tiếng nói nặng và nhất là không khi nào lại để mẹ ghẻ đánh đập : Lan cho thế là mất cả nhân cách đi. Cô nghĩ đến mẹ đẻ, trong lòng nao nao, rồi nghĩ đến cha, thương cha đã già yếu rồi, biết được chuyện nhà thê thảm thế này thì buồn phiền biết bao.
Lan, đêm hôm ấy thức khuya lắm, băn khoăn, trằn trọc, không sao ngủ được. Lan nghĩ đến ngày mai và những ngày sau, đến cuộc đời cực nhục với những lời chửi rủa, những roi đòn…
Lan tự nhủ thầm là không sao ở với dì ghẻ được nữa, và một quyết định dần dần thành hình trong óc : cô bé nhất quyết trốn đi Thái Nguyên tìm cha.
£ $ $
Sáng mờ mờ hôm sau, Lan đã chỗi dậy, gói quần áo vào một bọc, rồi rón rén bước ra ngoài phòng. Lúc đó trong nhà ai nấy đều ngủ yên. Lan đến cũi con chó bông vỗ về ; con chó ngoe nguẩy đuôi ngước mắt lên mừng chủ rồi ngoan ngoãn theo lời Lan nằm xuống. Qua sân, Lan đi cạnh lồng chim đã thấy vàng anh vỗ cánh chiêm chiếp gọi. Lan nghĩ thầm :
-      Tội nghiệp ! Mình đi rồi thì ai chăm nom chúng nó.
Lan nghĩ đến sự thiếu thốn của chim và bỗng nẩy ra ý tưởng so sánh số phận chúng bị nhốt, bị lồng với số phận của cô ở với dì ghẻ. Không rụt rè, Lan tháo cửa lồng, bắt từng con ra để trên bàn tay, vuốt ve rồi thả bay đi.
Thả xong vàng anh, Lan thấy trong lòng thư thái như chính cô được thoát khỏi sự giam cầm, nhẹ nhàng mở cửa sau đi trốn.
Lan cứ thẳng đường cái mà đi, nhưng cô vẫn thấp thỏm lo có người đuổi theo. Mà thực, một giờ sau, khi biết đã trốn, Huệ bàn với mẹ đuổi theo để cho Lan lạc vào rừng, vì nếu Lan về Thái Nguyên với ông Bá thì hai mẹ con sẽ không sống được yên.
Lan không ngờ rằng lòng người có thể nham hiểm đến thế, chỉ cho rằng dì ghẻ sẽ cho người đuổi theo để bắt về hành hạ. Cho nên lúc trời đã sáng rõ, Lan không dám ở trên đường cái, len vào rừng đi gần đường. Đến khi Lan trông thấy thấp thoáng bóng người đi vội vàng ra vẻ tìm tòi, cô liền núp sau một thân cây lớn, và khi nhìn thấy dì ghẻ trong đám người đi tìm, Lan không nghĩ ngợi gì nữa, lách vào trong rừng cây cắm đầu chạy.
Lan chạy lâu lắm rồi mới dừng lại thở. Chung quanh cô bé, toàn là lau, sậy, tre và biết bao nhiêu là thứ cây cao vút mà Lan không biết tên. Lan đứng yên một lúc, rồi tìm lối ra đường. Nhưng Lan đi mãi mà cũng chỉ thấy rừng ở trước mặt, ở sau lưng, Lan hoảng sợ, biết mình đã lạc đường. Tuy vậy, Lan cứ cố đi liều, may thì có thể ra khỏi rừng sâu.
Đến trưa, Lan thấy mỏi ngồi nghỉ và cô bé cảm thấy trơ trọi quá. Rừng im lặng, ánh nắng xuyên qua lá cây vó vẻ dịu dàng, cảnh vật êm ả, nhưng Lan thấy chứa chất đầy những sự bí mật kinh khủng. Tiếng chim gõ mõ đều đều ở đằng xa, Lan nghe thấy gợi ra những sự ghê gớm : nhỡ gặp gấu hay hổ, báo thì làm thế nào ! Nghĩ đến đấy, Lan sợ quá ôm mặt khóc.
Nhưng khóc cũng vô ích, Lan biết thế và can đảm gạt nước mắt đứng dậy tìm lối ra. Lan đi rồi nghỉ, nghỉ rồi lại đi, cứ thế cho đến chiều. Lan phần thì đói, phần thì mệt, đành ngồi xuống một gốc cây. Chân Lan đi nhiều đau rần và bị gai góc làm xây xát nhiều chỗ, Lan ngồi bóp chân và khóc nức nở, không biết làm gì, không còn đủ can đảm để đi nữa.
Lan ngồi khóc độ nửa giờ thì bỗng thấy một con chuột ngậm cuống một chùm trái cây kéo đến gần, ngước mắt lên nhìn Lan, không có vẻ sợ hãi, mà trái lại, như muốn tỏ lòng thương hại ; Lan thấy lông con vật nham nhở như bị xém và chợt nhớ đến cho chuột cô đã cứu khỏi chết về tay Huệ.
Con vật nhìn Lan rồi chạy đi. Tò mò, Lan đứng dậy nhìn chùm quả và ngạc nhiên khi nhận ra những trái sim chín đỏ. Con vật ngẫu nhiên mà kéo đến trước mặt Lan chùm sim chín hay là vì nhớ ơn xưa mà đem lại đây? Lan phân vân không biết nghĩ ra sao, nhưng cô vui lòng nhặt lên ăn đỡ đói. Tuy nhiên, Lan vẫn thấp thỏm, vì ánh chiều đã bắt đầu nhạt và tối đến thì chắc là Lan khiếp đảm không biết thế nào.
Chợt có tiếng chim hót rồi hai con vành anh bay đến đậu lên vai Lan, kêu ríu rít ra vẻ mừng rỡ. Lan cũng mừng rỡ vì cô nhận ra hai con vành anh cô thả ra ban sớm. Hai con chim kêu một hồi rồi cất cánh từ từ bay về phía Đông. Không thấy Lan đứng dậy, chúng lại bay về đậu lên vai Lan, chiếp chiếp kêu rồi lại bay đi, như có ý bảo Lan đi theo chúng. Thấy lạ, Lan đứng dậy ; đôi chim hót mừng mấy tiếng rồi từ tốn bay trước, Lan đi sau.
Đi được một quãng, hai con chim dừng bay đậu lên cành một cây đa cổ thụ rất to, cành lá rườm rà. Lan để ý nhìn thì thấy một tổ chim lớn, lớn lắm, ngay ở một cành thấp nhất, Lan thò tay có thể với tới.
Thấy vậy, Lan cũng mừng có nơi trú ẩn, bèn cố sức leo lên cây, đặt người vào tổ chim, lưng dựa vào thân cây. Trời đã chiều hẵn, nhưng chưa tối, qua lá cây, Lan thấy nhấp nhánh ngôi sao đầu tiên trên nền trời trong xanh, và trong lòng hoang mang sợ hãi những sự sẽ xảy ra trong đêm.
Bỗng hai con chim vàng anh kêu lên những tiếng nhỏ, có vẻ kinh sợ lạ lùng, bay đến mổ vào áo Lan như muốn bảo đi trốn. Lúc đó Lan thấy tiếng động ở trên đầu, ngẩng lên thì trông rõ một con trăn lớn ở trên ngọn cây đương leo xuống. Cô hoảng hồn nhảy vội xuống đất chạy.
Một lát sau, Lan ngừng lại thở và chưa biết chạy về đâu thì có một tiếng gầm trước mặt, rồi một con báo ở trong bụi rậm nhảy ra, hai con mắt sáng quắc. Lan không chạy được nữa, đánh liều cúi xuống đất nhặt sỏi, đá ném con vật túi bụi. Bỗng có một tiếng gầm nữa, lớn hơn, và một con hổ nhảy xổ ra. Con báo trông thấy lủi mất. Lan sợ quá, đứng ngẩn ra nhìn, nhưng cô bé kinh ngạc xiết bao khi thấy con ác thú nhìn cô, rồi hiền lành đi lại, thong thả và ngoan ngoãn như một con mèo lớn. Hai con vàng anh đậu trên vai Lan cất tiếng hót vui vẻ như mừng gặp được người quen.
Lan còn đương ngơ ngác thì ở trong rừng phía trước mặt có tiếng người nói :
-      Cô Lan đấy à ? Cô đừng sợ. Có lão đây.
Một ông cụ già, râu tóc bạc phơ như một ông tiên, lê gậy trúc khoan thai rẽ lau sậy bước ra. Lan ngạc nhiên nhận ra ông cụ già: chính là ông cụ già đã đến ăn xin ở nhà Lan vì lỡ độ đường, và chính vì cho ông cụ bát cơm mà Lan bị mẹ ghẻ hành hạ.
Ông cụ xoa đầu Lan nói:
-      Tội nghiệp! chắc con mỏi mệt lắm phải không? Chân con xây xát cả kia kìa, về nhà lão sẽ rịt thuốc ngay cho.
Ông cụ bảo Lan ngồi lên lưng hổ cho khỏi đau chân, rồi ông lê gậy đi vào một con đường nhỏ, lá cây phủ gần kín. Đi một lúc lâu, Lan thấy cây thưa dần rồi đến một cánh đồng nhỏ, ở giữa là một cái nhà sàn xây dựa vào sườn đồi, trông đẹp như trong cảnh thần tiên.
Ông già giơ gậy trúc chỉ cái nhà sàn nói:
-      Nhà của lão đấy.
Vào đến nhà, nghe Lan kể lại câu chuyện trốn vào rừng, ông lắc đầu tỏ vẻ thương hại, rồi bảo:
-      Lão biết, nhưng con đừng lo. Con cứ ở đây tạm với lão, thế nào thầy con cũng đến đón con về và con sẽ được sung sướng.
Đoạn, ông già lấy lá rịt những vết thương cho Lan và lấy cơm cho Lan ăn, chăm nom săn sóc Lan y như đối cới con cháu. Lan cảm phục quá, nói vài lời tạ ơn thì ông cụ bảo rằng:
-      Con đừng cám ơn. Con cứ nhớ rằng lúc nào cũng nên thương người và giúp đỡ người, vì giúp người ắt người sẽ giúp mình. Và thế là con cám ơn lão đấy.
Ăn xong thì trời đã tối. Lan ngồi trong gian nhà ấm áp, nhìn ra ngoài, trong lòng vui sướng. Hai con vàng anh ở đâu bay vào đậu lên cánh tay Lan, Lan âu yếm nhìn và lấy tay vuốt lông chim, se sẽ nói:
-      Hai em ngoan quá.
Hai con chim ngẩng đầu nhìn Lan một cách trìu mến, rồi cùng bay lên ngưỡng cửa, hót lên những tiếng trong vắt.
£ $$$
 
Trong khi ấy, bà dì ghẻ Lan và Huệ ở nhà khúc khích cười với nhau, vì đã lừa được Lan trốn đi và lừa được Lan lạc vào rừng.
Tối hôm ấy, hai mẹ con đều không sao ngủ được, chong đèn ngồi. Ở ngoài, tiếng gió thổi nghe như tiếng ai than thở và chốc chốc tiếng cú lại nổi lên, gợi trong trí hai mẹ con những cảnh rùng rợn trong rừng tối. hai mẹ con đều im lặng, không nói với nhau nửa lời và cũng không dám nhìn nhau, tuy cùng theo đuổi một ý nghĩa. Lan bây giờ ở đâu? Huệ hai mắt mờ trừng trừng như nhìn thấy hết cả nỗi kinh khủng của Lan ngồi đợi chết trong đêm tối. Cô bé không ngờ kết quả mưu kế của mình lại ghê gớm đến thế! Cô chỉ muốn chị đi cho khuất mắt, cô có ngờ đâu đêm hôm nay cô nghĩ đến chị, thương đến chị và thấy mình khổ cực, khốn nạn vô cùng.
Bỗng có tiếng hổ gầm ở xa xa? Huệ kêu lên một tiếng, ôm chầm lấy mẹ; Huệ vừa tưởng tượng thấy Lan bị hổ nhảy đến vồ. Bà mẹ ôm con ghì vào lòng, trên mặt cũng lộ ra sự hốt hoảng sợ hãi, và lúc Huệ khóc nức nở trông lên, cô thấy hai giòng nước mắt lặng lẽ chảy trên hai gò má của mẹ. Huệ ngập ngừng nói:
-      Chị Lan… làm thế nào bây giờ, hở mẹ?
Bà mẹ thở dài không đáp, vì chính bà ta cũng hoang mang không biết làm gì để cứu Lan được. Đêm đã khuya, hai mẹ con vẫn còn ôm nhau, vừa lo sợ, vừa hối hận, khổ sở không biết đến thế nào.
Gió vẫn thổi rì rào, Huệ lắng tai nghe và bỗng kêu rú lên, chỉ ra cửa sổ nói sẽ:
-      Mẹ trông kìa, chị Lan.
Bà mẹ nhớn nhác nhìn lên và trông thấy bóng một cành cây trong cửa sổ. Thì ra Huệ sợ hãi quá, tưởng Lan đã chết rồi, hiện hồn về báo thù.
Giữa lúc ấy, có tiếng gõ cửa. Huệ kêu:
-      Đấy…chị ấy về đấy.
Bà mẹ đứng lên, mặt tái không còn một hột máu. Mãi đến lúc nghe rõ ràng tiếng ông Bá gọi, hai mẹ con mới hoàn hồn, và lại vui mừng nữa. Ông Bá vừa vào, và hay tin Lan lạc vào rừng, ông tức tốc sang hàng xóm tìm người cùng đi vào rừng. Hàng xóm đều yêu mến Lan nên nửa giờ sau, kẻ đèn đuốc, người dáo mác, độ mươi người đã cùng bọn nhà ông Bá xông pha vào rừng tối. Nhưng rừng rậm mà sâu, biết Lan ở phương hướng nào! May ông Bá tinh ý, thả con chó bông đi theo. Con chó đánh hơi ton ton chạy trước, ông và người nhà, Huệ và dì ghẻ theo sau, không mấy lúc đã tìm thấy căn nhà sàn ở giữa rừng.
Lan đương ngồi nói chuyện với ông cụ già chợt nghe tiếng chó sủa, rồi cô chưa kịp đứng dậy xem thì con chó bông đã leo lên sàn vẫy đuôi mừng. Tiếp liền theo, Lan trông thấy ông Bá bước vào. Hai cha con ôm chầm lấy nhau, và nước mắt Lan chảy xuống ướt đẫm cả má. Nhưng lần này không phải Lan khóc vì tủi nhục hay kinh sợ như trước; Lan khóc vì Lan mừng quá.
Lúc đó, hai mẹ con Huệ cũng đã vào gian nhà sàn, đứng cúi đầu gầm mặt xuống như kẻ sắp chịu tội. Nếu Lan đem việc mẹ ghẻ xử ác với mình ra nói với cha lúc ấy thì cũng chỉ là một việc hợp với công lý, nhưng Lan đã có định ý nên lúc ông Bá âu yếm hỏi, Lan chỉ đáp:
-      Vì con vào rừng chơi, lạc mất đường.
Nghe con nói, ông Bá ghì chặt con vào trong lòng.
Bà mẹ ghẻ Lan cũng chạy lại ôm lấy Lan, thổn thức nói sẽ với Lan:
-      Con tha lỗi cho dì. Bây giờ dì mới rõ con…
Và Lan ngạc nhiên khi thấy trên hai gò má của người đàn bà mà cô bé vẫn yên trí là ác nghiệt, hai giòng nước mắt từ từ chảy xuống.
Ông Bá cảm ơn ông cụ già rồi từ tạ ra về. Ai nấy đều vui vẻ, ánh đuốc chiếu tỏa trong rừng sâu, Lan nhìn có vẻ ấm áp như cuộc đời sắp tới. Bỗng Lan thấy có người kéo tay. Cô quay lại nhìn thì là Huệ, Huệ cúi đầu vào vai chị, nức nở:
-      Em khổ sở quá, chị ạ. Biết làm thế nào để tạ tội với chị được. Chị tốt bụng thế, còn em thì khốn nạn quá, em lấy làm xấu hổ lắm.
Lan lấy tay khoác vai em, nói sẽ:
-      Em biết hối thế là em tốt bụng như chị rồi.
Lan thấy trong lòng vui sướng vì điều Lan mong nhất, Lan đã được như ý: em Lan đã cảm hóa vì lòng tốt của Lan và bắt đầu trở nên một người con gái đáng yêu
 
HẾT




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 20.03.2021 21:51:39 bởi Ct.Ly>

Khái Hưng

Khái Hưng tên thật là Trần Dư, hoặc Trần Giư, Trần Khánh Dư.Từ các âm chính của tên Khánh Dư ông dùng một phép “nói lái vui” thành Khái Hưng. Ông còn có bút hiệu khác là Nhị Linh, KH, Nhát Dao Cạo, Hàn Đãi Đậu, Bán Than.
Khái Hưng sinh năm 1896, trong một gia đình quan lại tại Cổ Am, Vĩnh Bảo, Hải Dương, nay thuộc Hải Phòng, bố ông có năm bà vợ nên nhiều dòng con cháu. Thuở nhỏ ông bị bà dì ghẻ ác nghiệt hành hạ tàn nhẫn. Ông được đi học chữ nho với thày đồ. Lớn lên, học chữ Pháp tại trường trung học tây Albert Saraut, Hà Nội. Sau khi đỗ tú tài I, ông không đi học tiếp, về mở đại lý bán dầu hỏa ở Ninh Giang. Được ít lâu, Khái Hưng lên Hà Nội đi dạy cho trường tư thục Thăng Long của ông Phạm Hữu Ninh. Khái Hưng gập Nhất Linh tại đây. Hai người cùng lý tưởng văn học và xã hội đã trở thành một đôi bạn tri kỷ, dù rằng Nhất Linh kém Khái Hưng 10 tuổi.
Năm 1932 Nhất Linh mua lại tờ Phong Hóa, thành lập ban biên tập mới, có Khái Hưng, Tứ Ly và Tú Mỡ tham gia. Tờ báo Phong Hóa số 14, là số báo đầu tiên của nhóm, ra ngày 22-9-1932. Khi Nhất Linh chính thức thành lập Tự Lực Văn Đoàn (Phong Hóa số 87, 1934). Khái Hưng và Nhất Linh  trở thành hai cột trụ của báo. Các tác phẩm của ông từ1932 tới 1940 thường đăng trên Phong Hóa và Ngày Nay, sau đó một phần được nhà xuất bản Đời Nay của Văn Đoàn in thành sách. Những sách truyên của ông rất được công chúng hâm mộ.
Tiểu thuyết đầu tay của Khái Hưng là Hồn bướm mơ tiên (1933), cũng là tiểu thuyết đầu tiên của Tự Lực Văn Đoàn đăng trên báo Phong Hóa, đã gây tiếng vang lớn.  Sau đó Khái Hưng viết đều tay, nhanh, dễ dàng, văn phong giản dị nhưng thanh thoát của một tâm hồn thi sĩ. Ông viết nhiều thể loại: truyện ngắn, truyện dài, kịch, văn vui, phê bình văn học, phê bình kich…Với một bề dầy tác phẩm ít ai bì kịp, nhà văn Khái Hưng được biết đến như một tiểu thuyết gia được tuổi trẻ yêu mến nhất thời đó. Ông cũng viết chung với Nhất Linh hai tiểu thuyết Gánh hàng hoa,và  Đời mưa gió cùng tập truyện ngắn họp chung Anh phải sống.Tiểu thuyết cuối cùng của ông là  Băn Khoăn (Thanh Đức) (1943) và cũng là tiểu thuyết cuối cùng của văn đoàn Tự Lực trước khi tự tan rã.
Khái Hưng là người giầu tình cảm, hay đùa vui, rất khăng khít và yêu mến các bạn đồng nghiệp. Ông đối xử hòa nhã, thân kính với mọi người, nên được nhiều người yêu quý, kính trọng. Trong tác phẩm, ông thường đề cao tình yêu trong sáng, tự do, mang tính cách lý tưởng, ít nhiều chống lại các hủ tục trong xã hội. Những tiểu thuyết phong tục của ông rất đặc sắc, về sau ông thiên về tiểu thuyết tâm lý. Khái Hưng cũng viết một số vở kịch ngắn, thường chỉ một hồi, để đăng báo hơn là để công diễn. Tuy nhiên vài vở kịch dài của ông đã nổi tiếng một thời như Tục Tụy, Đồng Bệnh… Ngoài ra Khái Hưng còn có một số tranh vẽ, thường để minh họa tiểu thuyêt của ông trên báo, ông có một vài bức tranh rất đẹp.
Sau khi báo Ngày Nay bị thực dân Pháp đóng cửa 1940, Khái Hưng và Thạch Lam ra tờ Chủ Nhật, nhưng bị rút giấy phép sớm. Sách Xuân Đời Nay cũng chỉ ra được một số. Năm 1941, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Nguyễn Gia Trí và một số bạn đồng chí bị chính quyền thực dân Pháp bắt giam tại Hà Nội, sau bị đưa đi an trí ở Vụ Bản, Hòa Bình, tới năm 1943 mới được tha. Trong khi đó Thạch Lam bị bệnh lao qua đời 1942. Nhà xuất bản Đời Nay còn in khá nhiều sách, và dòng sách Hồng nhi đồng, rồi nghỉ. Năm 1945, Khái Hưng cùng Hoàng Đạo, và Nguyễn Tường Bách cho ra tờ Ngày Nay Kỷ Nguyên Mới, được 16 số thì đình bản. Khái Hưng còn viết một số truyện ngắn, kịch ngắn trên các báo thời đó.
Về gia đình - Bà Khái Hưng tên là Lê thị Hòa, hiệu là Nhã Khanh, hiểu biết chữ nho sâu rộng, người làng Dịch Diệp, Trực Ninh, Nam Định. Bố là một vị Thượng Thư triều Nguyễn, gia đình rất khá giả, nên bà có ruộng nương kế tự, lại khéo léo thu vén nên đã giúp nhiều cho kinh tế gia đình. Ông bà sống rất thuận hòa, không bao giờ ông làm bà phật ý, tuy hai người hiếm muộn, không con. Nhất Linh đã cho bạn một đứa con trai của mình: Nguyễn Tường Triệu thành Trần Khánh Triệu.
Khái Hưng mất tích sau Tết Ðinh Hợi 1947. Khi biết ông đã qua đời, bà Khái Hưng trở bệnh tim nặng, và từ trần năm 1954.
Khái Hưng tin tưởng nơi đạo Phật, thuở nhỏ mỗi khi bị uất ức chuyện gia đình, thường vào chùa niệm Phật, tụng kinh cứu khổ. Khi mẹ ông mất năm 1944, ông thức khuya tụng kinh Địa Tạng và A di đà cầu siêu cho mẹ. Trong các tác phẩm của ông thường có điều gì phảng phát những ý tưởng siêu thoát của đạo Phật (Theo Ba Tôi, N T Triệu). Cách hành sử hòa ái, cung cách tương kính trong gia đình, trong xã hội, cũng như lòng tin người, không hận thù của ông phải chăng là lý tưởng sống nhẹ nhàng thanh thoát của một Phật tử? Các tác phẩm của Khái Hưng thường được xuất bản nhiều lần, do nhu cầu người đọc, có khi lên tới 10.000 cuốn.
Những sách đã được Nhà xuất bản Đời Nay in là: Hồn bướm mơ Tiên, Gánh hàng hoa, Nửa chừng xuân, Đời mưa gió, Trống mái, Dọc đường gió bụi, Anh phải sống, Tục lụy, Tiếng suối reo, Gia đình, Thoát Ly, Đọi chờ, Thừa tự, Tiêu sơn tráng sĩ, Hạnh, Đẹp, Đội mũ lệch, Những ngày vui, Đồng bệnh, Băn khoăn ( Thanh đức), Số đào hoa, (Cái Ve, Đồng xu :chưa thấy in).
Những truyên nhi đồng trong loại Sách Hồng, gồm có: Ông đồ bể, Cái ấm đất, Thày đội nhất, Quyển sách ước, Cắm trại, Cây tre trăm đốt, Thế giới tí hon, Cóc tía, Bông cúc huyền, Lưu bình-Dương lễ...
 
**
 
 
CÁI ẤM ĐẤT
Khái Hưng
Truyện cổ tích
Nxb Thời Nay
 
Ngày xưa có một người cự phú xứ quê ốm nặng và biết mình thế nào cũng sẽ từ trần liền gọi ba con trai đến bên giường mà bảo rằng:
-      Cha sinh được ba con, nhờ trời cùng khỏe mạnh và nết na. Đó là sự quý báu nhất và sung sướng nhất trong đời cha. Trong đời cha, cha đã làm nhiều điều ác, nhiều sự bất công, cha xin thú thực thế trước khi nhắm mắt vĩnh biệt các con. Nhưng đối với các con thì cha chỉ có một lòng thương mến, chiều chuộng. Có lẽ cũng vì quá thương mến chiều chuộng các con, và quá nghĩ đến tương lai tốt đẹp của các con mà cha đã ác nghiệt, bất công đối với kẻ khác. Trong khoảng bao nhiêu năm cha đã bòn chắt làm giàu, cha đã hà hiếp bóp hầu bóp họng người ta để có được cái tài sản ngày nay mà cha sắp đem chia cho ba con, chia một cách thực công bằng, nghĩa là chia ra ba phần thực ngang nhau.
Người ốm mỉm cười chua chat nói tiếp:
-      Sự công bằng, cha vẫn yêu quý sự công bằng, khốn nỗi cha lại yêu quý các con hơn sự công bằng, vì thế mà dù bản tâm công bằng cha đã nhiều lần trở nên thiên lệch. Thôi thì không công bằng với người đời, ít ra hôm nay cha cũng công bằng được với các con. Cha muốn rằng sau khi cha từ trần, các con sẽ không kêu ca một điều gì về sự bất công của cha, và sẽ hoàn toàn ưng thích phần gia tài mà cha sắp chia cho.
‘‘ Đây, ba phần tài sản ấy đây, cha đã chia từ lâu (vừa nói người cha vừa đưa ra một bản chúc thư). Nay chỉ việc điền tên các con vào phần các con ưng thuận. Ba phần ấy là: Phần thứ nhất, cái dinh cơ này và ao vườn bao bọc chung quanh, có tới dăm chục mẫu; Phần thứ hai, hai trăm mẫu ruộng và năm chục con trâu; Phần thứ ba, một cái ấm đất …’’
 
Người con cả và người con thứ hai cùng ngắt lời, kêu:
-      Một cái ấm đất?
-      Ừ, một cái ấm đất. cái ấm đất ấy hiện cha chôn ở dưới một chân giường cha đương nằm đây. Cha yêu quý nó lắm. Ở đời nếu có vật gì cha yêu quý hơn cả các con thì vật ấy là cái ấm đất của cha. Chính nhờ nó mà ngày nay cha có nhà cửa nguy nga và vườn ruộng hằng trăm mẫu. Các con hãy để cha kể lịch sử nó cho các con nghe.
‘‘Hẳn các con cũng biết mang máng rằng ngày xưa cha nghèo lắm. Nhưng chắc các con chưa rõ, chắc các con không thể tưởng tượng được cha nghèo đến bực nào. Ông bà sớm mất, cha phải mang thân đi tha phương cầu thực, trong hầu bao chỉ vỏn vẹn có hơn quan tiền? Đó là tất cả gia tài mà ông để lại cho cha, và túp nhà tre lợp rạ làm nhờ trên một miếng đất công của làng đã sụp sau một trận bão lớn. Nhưng dù nghèo và mới mười hai tuổi đầu cha vẫn không lo chết đói, cha vẫn tin ở sức cha, ở lòng can đảm của cha và hy vọng ở tương lai, tuy tương lai chỉ lờ mờ xa lắc.
‘‘ Buổi đầu bỡ ngỡ, và không có chủ kiến, không có mục đích, cha đi lang thang trên đường cái, định bụng hễ gặp việc gì thì làm việc ấy. Nhưng chả gặp việc gì. Vì thế, khi tới một tỉnh lỵ, cha đã ăn lấn vào cái vốn liếng nhỏ mọn mất gần một nửa. May sao, Trời Phật dun dủi, một hôm cha gặp một thằng bé tay xách cái ấm đất, tay cầm cái bát sành, miệng cất tiếng rao lanh lảnh: ‘‘Có ai nước vối nóng, hai đồng một bát không nào?’’
 ‘‘ Cha như chợt trông thấy con đường đi của mình. Thế là cha làm thân với thằng bé, hỏi nó cách thức bán hàng và ngày hôm sau cha trở nên một bạn đồng nghiệp của nó …’’
‘‘ Câu chuyện dài lắm, mà cha lại sợ mệt không đủ sức kể hết đầu đuôi, ngành ngọn cho các con nghe được. Các con chỉ nên biết rằng cha xuất thân với nghề bán nước vối rong, và cái đồ vật nuôi sống cha lúc buổi đầu, hơn thế, cái đồ vật đã gây cho cha cái lưng vốn thứ nhất nó sinh sôi nẩy nở mãi ra cho tới ngày nay là cái ấm đất quý báu, là cái ấm đất linh thiêng giấu ở trong một bí mật dị kỳ, cái ấm đất mà cha sắp đem chia cho một trong ba con yêu mến của cha. Nó là người bạn hàn vi của cha. Nó là người bạn thân mật của một quãng đời trong sạch của cha, vì ngày còn phải kiếm ăn với cái ấm đất, cha rất hiền lành, ngay thẳng, thành thực. Rồi sau, một ngày một thêm giàu có, cha cũng một ngày một thêm lừa lọc, gian trá, ác nghiệt, tàn nhẫn. Nhà cửa đồ sộ, cha đựng lên bằng mồ hôi nước mắt của người đời; vườn, ruộng mênh mang, đó là những giọt máu đào của người đời mà cha đã khôn khéo, gian ngoan, chiếm đoạt. Đến như cái ấm đất nuôi sống cha thì nó hoàn toàn trong trắng, không hề nhuộm máu, đựng mồ hôi nước mắt của một ai.’’
Ngừng một lát, yên lặng nhìn đỉnh màn nghĩ ngợi, rồi người cự phú lại nói: ‘‘Cái ấm đất chứa một bí thuật sung sướng, và cha đã tha thiết muốn sung sướng… nhưng cha đã dại dột chỉ muốn giàu có … Nhưng đó là một điều bí mật mà cái ấm đất sẽ giúp một trong ba con khám phá ra. Vì thế cái ấm đất của cha sẽ là cái ấm đất yêu quý, cái ấm đất đạo đức, phần gia tài mà cha dành cho con nào xứng đáng nhất. Vậy các con thử mỗi đứa trả lời một câu xem đứa nào sẽ có hân hạnh, sẽ có diễm phúc được chia phần gia tài trong sạch và thiêng liêng ấy’’.
Người con cả vội đáp:
-      Thưa cha, đời cha thực là một cái gương kiên nhẫn, cần lao, đạo đức cho chúng con và cho khắp mọi người soi. Cái cơ nghiệp hằng vạn của cha, cha đã tay trắng làm nên…
Người cha giơ bàn tay ra vội gạt:
-      Không, cha khởi cơ nghiệp bằng cái ấm đất vậy con phải nói: Cha đã được ấm đất dựng lên nhà gạch mới đúng.
-      Dạ, con cũng biết thế. Nhưng xây nhà xây cửa, tậu vườn tậu ruộng, há không phải do hai bàn tay trắng với lòng kiên nhẫn, với cái thông minh mẫn tiệp của cha ? Trên đời có biết bao nhiêu đứa trẻ bán nước vối, vậy thử hỏi ngoài cha ra đã một ai làm nên trăm nên nghìn chứ đừng nói làm nên vạn như cha vậy. Vậy thì cái ấm đất chỉ là một vật, một khí cụ mà cha đã dùng để trước là kiếm ăn, sau là làm giàu, cũng như cái cầy, cái bừa, chẳng hạn. Vâng, thưa cha, cái cầy, cái bừa, con trâu đã giúp cha gây dựng cơ nghiệp to tát, con thiết tưởng ít ra ba thứ ấy cũng phải được xếp ngang hàng với cái ấm đất chứ; Cớ sao cha lại nỡ bên trọng, bên khinh…
Người cha mỉm cười ngắt lời:
-      Thôi, con không nên dài lời vô ích, cũng không nên bắt bẻ cha, tội nghiệp. Cha hiểu ý con rồi. Con muốn được chia phần trăm mẫu ruộng và năm chục con trâu chứ gì?
Người con yên lặng cúi đầu không đáp. Người cha lại nói:
-      Quả thực con không xứng đáng được cha chia cho cái ấm đất trong sạch và thiêng liêng của cha. Vậy đem bút mực đây để cha điền tên con vào chỗ phần thứ hai.
Người con Cả, sung sướng chạy vội đi lấy cái bút và nghiên mực đặt ở bên mình cha, rồi đưa tay ra sau gáy nâng cha ngồi dậy. Người ốm vừa viết vừa nói:
-      Đáng lẽ cha phải chia cho con phần dinh cơ trong đó có nhà thờ ông cha, mà con lại là con trưởng. Nhưng con đã thích ruộng, thích trâu, thì cha cũng chia ruộng trâu cho con. Cha không muốn làm phật lòng các con trước khi cha nhắm mắt. Bây giờ đến lượt anh Hai. Anh nghĩ sao? Anh thử trả lời để cha xem anh có xứng đáng được hưởng cái phần gia tài quý giá nhất của cha không?
Người con thứ Hai lễ phép cúi đầu thưa:
-      Cha đã hỏi, con xin thành thực trình bày. Cái ấm đất mà cha vừa kể cho chúng con biết rõ lịch sự, thực là một cái ấm đất quý, một cái ấm đất phi thường, một cái ấm đất thiêng liêng nữa, như lời cha dạy. Nó là người bạn buổi thiếu thời của cha, nó là người bạn trong sạch nhất của cha. Bây giờ cha lại muốn để nó làm bạn với một trong ba anh em chúng con, thì con thiết tưởng kẻ nào được phần danh dự ấy phải là người có tài cao, có đức lớn mới xứng đáng. Nay con tự xét mình còn tài hèn, đức mỏng…
Người cha vội cướp lời:
-      Nghĩa là con không ưng lấy cái ấm đất chứ gì!
-      Dạ, xin cha cho phép con nói hết ý nghĩ của con đã. Cha là người có đại tài, đại đức nên đã tay trắng làm nên cơ nghiệp to tát ngày nay. Con nói tay trắng, tuy con vẫn nhớ công cái ấm đất kia. Con nói thế là vì con cho rằng có tài, đức như cha dù xuất thân làm nghề gì cha cũng tới được cái đích giàu có hằng vạn. Cái ấm đất chỉ may mắn được lọt vào tay cha lúc ban đầu. Nếu cha xuất thân làm thợ ngõa thì
Chắc cái bay, cái thước nay cũng được cha quý trọng như cái ấm đất. Tóm lại, làm nên giàu có là chỉ nhờ về tài về đức của cha. Nếu con cũng có tài cao, có đức dầy thì với cái ấm đất cha để cho con, con sẽ cũng làm nổi cơ đồ như cha ngày nay. Nhưng tiếc rằng tài con hèn, đức con mỏng nên không dám cáng đáng lấy cái công việc khó khan mà chỉ những người phi thường như cha mới làm nổi.
 
Người cha cười:
-      Khéo! Khéo! Khéo! Con khéo nói lắm. Như thế kể con cũng có tài đấy, cái tài ngôn ngữ. Nhưng đức của con thì quả còn mỏng mảnh như con nói. Vậy con chưa xứng đáng để cha chia cho cái ấm đất của cha. Còn anh Ba, anh Ba nghĩ sao? Thử nói cho cha nghe nào.
Người con thứ Ba đáp:
-      Thưa cha, cái ấm đất của cha thực là một gia bảo của nhà ta, nếu cha giao nó cho con, thì con xin cam đoan với cha rằng con sẽ chăm nom giữ gìn nó, con sẽ là người bạn suốt đời của nó.
Người cha kinh ngạc hỏi:
-      Con có đủ tài đức để giữ nó không, để giữ nó mãi mãi không?
-      Thưa cha, con không dám tự cao cho rằng con có đủ tài, đủ đức, và con cũng không biết con có xứng đáng được cha giao cho thứ bảo vật yêu quý của cha không, nhưng nếu cha xét thấy con xứng đáng mà ban cho thì con xin vui lòng nhận.
-      Con vui lòng?
-      Vâng, con vui lòng.
-      Nhưng con phải biết phần gia tài ấy chỉ có một cái ấm đất với mười quan tiền để mua nồi, mua vối, mua củi…
-      Thưa cha, ngày xưa cha xuất thân chỉ có một cái ấm đất với ngót một quan tiền.
-      Con sẽ phải đi bán vối rong, con sẽ phải cất cao giọng rao suốt ngày nầy sang ngày khác: ‘‘Có ai uống nước vối nóng không?’’.
-      Cha làm được thì con cũng xin cố làm được.
-      Con sẽ ngủ nhiều đêm ở vệ hè, ở trong quán chợ.
-      Người ta ngủ như thế được thì con cũng ngủ như thế được.
-      Hai anh con được một người hai trăm mẫu ruộng, và một người cái dinh cơ đồ sộ này, mà con chỉ được mỗi một cái ấm đất, con không suy bì?
-      Thưa cha, hai trăm mẫu ruộng, một nơi dinh cơ rộng rãi với một cái ấm đất, hơn kém nhau thế nào khó lòng mà so sánh được. Nhưng có một điều con tin chắc, là cha đã chia ra làm ba phần bằng nhau, thì tất ba phần ấy phải bằng nhau, không hơn không kém. Nhận phần hai trăm mẫu ruộng, hay phần dinh cơ, hay phần một cái ấm đất, con tin chắc rằng cũng thế mà thôi, nhất con lại được nghe cha ca tụng cái quãng đời bán nước vối của cha là trong sạch, là sung sướng, và mạt sát cái đời làm chủ nhân mấy tòa nhà và hai trăm mẫu ruộng mà cha cho là một đời lừa lọc, gian trá, ác nghiệt, tàn nhẫn. Thưa cha, nếu kiếm ăn với một ấm nước vối là sống và tiêu pha phung phí trong tòa nhà này cũng chỉ là sống thì can gì không chọn lấy cái sống trong sạch và sung sướng kia mà lại đi chuốc lấy cái sống ô trọc, khổ sở này. Thưa cha, con quả quyết xin cha ban cho con cái ấm đất, nếu cha xét con thực xứng đáng được lĩnh phần gia tài quý báu ấy.
Người cha vui cười:
-       Xứng đáng thì con xứng đáng lắm rồi! Ngày xưa, lúc lâm chung, mẹ con có căn dặn cha rằng thằng Ba khá hơn hai anh nó, vậy khi chia gia tài, phải nghĩ đến nó hơn hai anh nó một chút. Quả thực ngày nay cha thấy rõ rang con khá hơn hai anh con, và quả thực ngày nay con được cha chia cho phần gia tài đích đáng nhất. Cha cứ tưởng phần gia tài ấy không ai được nhận và cha sẽ phải làm lại chúc thư. Nhưng bây giờ thì sẽ yên tâm mà nhắm mắt từ biệt các con.
Năm hôm sau người cha chết giữa lúc tâm trí còn sáng suốt, vì lời cuối cùng của nhà cự phú là lời dặn các con nên giản dị trong việc ma chay. Dẫu có lời trối trăn ấy, anh Cả và anh Hai cũng cứ làm ma linh đình để được tỏ lòng hiếu, không phải hiếu đối với cha mà đối với làng, xóm họ hàng. Vì đối với người cha đã đời, họ không cần lấy lòng lấy bề như xưa để hòng được hưởng phần gia tài lớn nữa.
Riêng người con thứ Ba là thành thực đau đớn. Xưa nay anh vẫn yêu cha, vì yêu cha là một tính tình tự nhiên trong lòng anh. Nhưng từ lúc được nghe mấy lời tâm huyết của cha, tình yêu của anh lại tăng lên bội phần, tình yêu lẫn trong tình thương. Ban ngày ngồi một mình, anh tưởng tượng cái đời vất vả, nghèo đói, khổ sở của cha thửa trước. Anh thấy hiện ra trước mắt một thằng bè rách rưới, gầy còm, xách ấm nước vối chạy rong, miệng luôn luôn rao hàng: ‘‘Có ai uống nước vối nóng không nào!’’ Thằng bé ấy là cha anh, và vài hôm nữa sẽ là anh. Đã có đêm Ba chiêm bao thấy chính Ba xách ấm đi thất tha thất thểu ngoài đường, dưới mưa phùn gió lạnh. Tỉnh dậy Ba lại càng thương cha. Và Ba muốn sống ngay cái đời rét mướt ấy để được biết ngày xưa cha khổ sở đến bực nào.
Anh Cả và anh Hai thương hại em và muốn chia của cho em để em được cùng mình hưởng giàu có. Nhưng Ba nhất định từ chối, nói cha đã chia cho một cái ấm đất và một chục quan tiền để làm vốn mua vối nấu nước bán, thì anh chỉ nhận phần gia tài ấy thôi. Hai anh dọa Ba rằng Ba sẽ chết đói. Ba cười đáp:
-      Thế thầy ngày xưa thì sao? Không những thầy không chết đói mà thầy còn làm nên nhà cửa, tậu được ruộng vườn để ngày nay chia cho anh em ta.
Và Ba lại cười. Hai anh cho rằng Ba nói mỉa mai, tức giận im lặng. Vì sự thực những nhà cửa, ruộng vườn ấy chỉ hai anh được hưởng, chứ Ba có dự phần nào đâu. Nhưng cái cười của Ba là cái cười tự nhiên, chứ không có ngụ ý mỉa mai hay oán trách hai anh. Vả lại chính Ba đã bằng lòng và xin nhận cái phần gia tài mà cha cho là trong sạch ấy. Anh nghĩ thầm: ‘‘Có lẽ cái trong sạch đã làm cho cha sung sướng, khi cha còn bần hàn, vì trong cái đời giàu có của cha, ta chưa từng thấy cha sung sướng bao giờ: lúc nào cha cũng phàn nàn, lo nghĩ, xoay xở, có khi mất ngủ mất ăn. Ta chỉ mong được sung sướng, vậy thì có cái ấm đất mà sung sướng còn hơn có cửa nhà, vườn rộng mà khổ sở.’’
Thế là Ba quả quyết với cái chí tự lập lấy thân.
Vừa xong việc tang ma, anh bắt đầu bước vào nghề mới, cái nghề bán nước vối rong.
Anh bỏ ra ba quan thuê một cái quán tranh ở bên chợ. Với năm quan anh mua lá vối và các đồ dung để nấu nước. Rồi sáng sáng dậy thực sớm, dậy trước cả tiếng gà gáy thứ nhất, anh nấu nước rót vào cái ấm đất ra đi và cất tiếng ra lanh lảnh:
-      Nước vối nóng ngon, có ai uống không? Có ai uống nước vối nóng ngon không nào?
Mà nước vối của Ba vừa nóng vừa ngon thực. Lá vối trước khi nấu Ba đã ủ kỹ nhiều ngày. Ba lại nấu với nước mưa trong sạch và tra vào một ít nụ vối. Vì thế nước vối của Ba ngọt và thơm. Các bà đi chợ xa nghe tiếng rao, vui mừng bảo nhau:
‘‘Chúng ta hãy đặt gánh nghỉ chân uống một bát nước vối của anh Ba đã! – Nước vối anh Ba uống vào là hết nhọc mệt liền!’’ Rồi gọi lại mỗi người uống một bát. Uống xong, các bà khen lấy khen để: ‘‘Nước vối anh Ba nấu khéo quá! Ai đã uống một lần thì không sao quên được nữa, không sao bỏ được nữa, người ta nghiện nước vối anh Ba như nghiện rượu,’’  “Nước vối anh Ba” câu ấy đã thành như một câu ngạn ngữ.
Đi khỏi một quãng, các bà đem chuyện anh Ba ra kể với nhau cho vui trên con đường xa. Một bà bảo:
-      Anh Ba là con cụ Bá làng tôi. Cụ giàu nứt đá đổ vách mà sao cụ vừa mất được mươi hôm anh ấy đã phải đi bán nước rong.
Bà khác đáp :
-      Hai người anh cũng tệ ! Nào nhà cửa linh đình, nào ruộng nương hằng trăm mẫu mà nỡ để em đi bán nước vối.
Bà thứ ba nói :
-      Nghe đâu hai người anh có xin chia của cho em, nhưng anh Ba anh ấy nhất định không nhận. Anh ấy bảo ngày xưa cụ Bá xuất thân với cái nghề bán nước vối rong thì nay anh ấy cũng cứ theo cái nghề ấy.
-      Dễ thường anh ấy điên ?
-      Chẳng điên thì cũng lẩn thẩn. Thiên hạ lại có người chê của thì cũng lạ !
Trong khi các bà khác kháo chuyện anh thì Ba đương rẽ xuống ruộng bán nước vối cho một bọn thợ gặt. Nghe tiếng rao trong trẻo, họ đã ngừng tay cắt lúa và cất tiếng gọi :
-      Anh Ba, đem nước xuống đây bán cho chúng tôi, nước vối của anh chúng tôi uống hôm qua,hôm nay vẫn còn nhớ vị thơm ngọt. Chúng tôi đương mong ngóng anh đây !
Chẳng mấy lúc ấm nước đã cạn. Ba chạy về nhà rót đầy ấm khác rồi lại đi bán rong cho khách qua đường, mãi xế chiều mới trở về nơi quán tranh thổi cơm ăn. Cơm xong, Ba nghêu ngao hát chèo, hát trống quân chơi rồi đi ngủ để sáng hôm sau lại  dậy sớm nấu nước vối đi bán.
Và anh tự cho là sung sướng, tự cho là đời anh đầy đủ. Phải, anh còn thiếu một thứ gì ? Anh có nhà để ở. Có một nghề ‘‘trong sạch’’ để kiếm ăn. Anh không lo nghĩ, không phiền muộn, băn khoăn. Ngày ngày anh kiếm không những đủ ăn, mà còn để ra được chút đỉnh. Số tiền ấy anh sẽ dùng vào việc thuốc thang khi không may anh xảy ra đau ốm. Nhưng anh chắc chắn rằng không khi nào anh sẽ đau ốm được. Anh ăn uống có điều độ, ngủ thức có điều độ. Công việc làm không những anh cho là không vất vả mà lại còn có hứng thú nữa. Khi xưa ở nhà với cha, không bao giờ anh để ý ngắm cảnh đẹp, không bao giờ anh để tai nghe chim hót. Ngày nay thì anh coi như đó là những vật sở hữu của anh. Buổi sáng tiếng chim chích chòe làm cho lòng anh thư thái ; Buổi chiều tiếng chim sơn ca vừa hót vừa bay thẳng vút lên trời xanh làm cho trí anh cao rộng.
Rồi thân thể anh nở nang ra dưới gió mát, dưới nắng trong, dưới làm không khí thênh thang nơi đồng áng. Cả mưa dầm gió lạnh cũng không làm cho thân anh hao tổn, trái lại nhờ thế mà bắp thịt anh rắn chắc lại, mà lòng can đảm, chí phấn đấu của anh tăng  mãi lên. Và anh càng thấy anh sung sướng.
$ $ $
 
Một buổi sáng, Ba dậy sớm nấu nước vối xong rót vào ấm đất ra đường rao bán. Nhưng hôm ấy không phải là ngày phiên chợ nên anh phải đi một quãng đường dài để đến bán nước cho bọn thợ cấy ở các thửa ruộng xa. Gần tới nơi, anh gặp một ông lão râu tóc bạc phơ ngồi mệt lả ở bên vệ đường. Ông lão uể oải giơ tay vẫy anh, như không còn đủ sức để cất tiếng gọi. Ba lại gần hỏi :
-      Cụ xơi nước ?
Ông lão gật đầu. Rồi Ba chưa kịp rót nước ra bát, ông lão đã giựt lấy cái ấm đất và ngậm vòi uống ừng ực. Ba vội kêu :
-      Ấy nước nóng, khéo không cụ bỏng mồm đấy.
Nhưng lạ chưa. Không những ông lão không bỏng mồm mà ông còn có vẻ khoan khoái nữa. Một lát, ông đưa cái ấm đất trả lại Ba. Anh cầm thấy nhẹ bỗng, ghé mắt nhòm vào trong thấy ấm ráo hoảnh. Ông lão mỉm cười nói :
-      Lão uống mất nhiều phải không ? Lão khát quá đi mất thôi. Không có ấm nước vối của anh thì không khéo lão đã chết rồi. cám ơn anh nhé. Thôi, lão đi đây, bây giờ khỏi khát rồi thì lão đi xa đến đâu cũng được.
Dứt lới, ông lão đứng lên đi thẳng.
Ba không nói gì, chỉ vội vàng chạy một mạch về nhà rót đầy ấm nước khác đem đi bán.
Hôm sau cũng vào lúc ấy và ở chỗ ấy. Ba gặp một bà lão nằm rên khừ khừ. Ba ghé lại hỏi thăm :
-      Cụ làm sao thế ?
Bà lão đáp :
-      Già khát lắm mà không có tiền uống nước. Không khéo già chết khát mất thôi.
-      Thưa cụ, có nước vối nóng đây, xin mời cụ xơi, Bao giờ cụ có tiền cụ trả cũng được.
-      Nhưng già làm gì có tiền, già nghèo lắm.
-      Mời cụ cứ xơi, cháu xin biếu không cụ một bát.
-      Một bát thì thấm thía vào đâu !
-      Vậy mời cụ muốn uống bao nhiêu tùy ý.
-      Thế à ?
Bà lão vui sướng vồ lấy cái ấm đất, nhưng tay bà run lẩy bẩy đánh rơi ấm xuống cỏ, nước đổ lênh láng.
-      Thôi, thế này thì khổ già rồi. Đổ không còn lại một giọt nào nữa.
Ba không lộ vẻ thất vọng, không thốt một lời gắt gỏng hay phàn nàn. Anh chỉ ôn tồn bảo bà lão:
-      Cụ chịu khó ngồi đấy chờ cháu một lát, cháu về nhà lấy ấm nước khác đem đến mời cụ xơi.
Rồi anh xách cái ấm đất cắm đầu chạy thực mau về nơi quán tranh, trong lòng chỉ áy náy lo rằng nếu mình chậm trễ thì bà lão kia sẽ chết khát mất. Lúc ra tới chỗ cũ thì quả bà lão, mệt lả vì khát, đương nằm phục bên đường. Anh vừa thở hổn hển vừa gọi:
-      Cụ ơi, nước đây rồi, cụ dậy mà uống.
Bà lão vội vàng ngồi dậy nói:
-      Ồ! Thế thì tốt quá!
Rồi choàng tay ra vồ lấy cái ấm đất. Nhưng trong lúc hấp tấp, bà ta lại đánh đổ hết nước trong ấm.
Lần thứ hai, Ba xách ấm chạy về nhà. Không những anh không bực tức và oán trách bà lão, mà anh còn cố chạy mau hơn lần trước, vì sợ bà lão đã khát quá không khéo lần này anh sẽ không kịp cứu sống.
Nhưng Ba cứu sống được bà lão, vì lần cuối cùng này anh rất cẩn thận, cầm ấm và bát rót nước cho bà lão. Bà uống luôn ba bát, và mặt bà tỉnh táo hẳn lên. Bà mỉm cười nói:
-      Anh tốt bụng lắm, vừa thương người vừa nhẫn nại. Thương người già yếu thì có người bằng anh đấy, nhưng nhẫn nại như anh thì có lẽ không một ai nữa. Nước của anh đổ, anh đã không tức giận, không tỏ lòng tiếc, lại còn hấp tấp chạy về nhà lấy ấm nước khác để cho người đánh đổ nước của anh uống; anh thực là một người hiếm có và giống hệt cha anh thửa còn hàn vi….
Ba kinh ngạc hỏi:
- Thưa cụ, cụ biết cha cháu từ thời cha cháu hàn vi?
 
Bà lão cười đáp:
-      Phải, tôi biết lắm. Vì chính tôi đã giúp cha anh trở nên giàu có. Tôi thấy cha anh là người phúc hậu nên tôi thương, - tôi nói ngày xưa cơ, chứ về sau cha anh đã thay đổi hẳn, không còn dễ dàng và có lòng tốt thương người nữa. Cho hay đó vẫn là lẽ tự nhiên, khi người ta giàu có thì người ta dễ thay đổi tính tình…
-      Vậy thưa cụ, cụ là ai ?
-      Tôi là linh hồn cái ấm đất này. Tôi là thần Ấm Đất, và cũng như cha anh ngày xưa, nhờ phép tôi, anh sẽ trở nên giàu có ngay lập tức. Anh đã hiểu vì sao cha anh chia cho anh cái ấm đất này chưa ? Anh đã hiểu vì sao thương yêu anh nhất trong ba con, cha anh đã chia cho anh phần gia tài quý báu này chưa ? Trong ba phần gia tài thì phần này to hơn nhất, mà to hơn nhất là vì tôi sẽ có phép làm cho anh giàu có hơn cả hai người anh không tốt của anh ? Anh thì anh tốt lắm. Hôm qua tôi đã thử anh một lần, hôm nay tôi lại thử anh hai lần nữa, đều thấy anh vẫn không thay lòng đổi dạ.
Ba ngây người đứng nghe, tưởng mình đương chiêm bao. Bà lão lại tiếp :
-      Cha anh chia cho anh phần gia tài này còn vì một lẽ nữa. Là nếu cái ấm đất có lọt vào tay hai người con lớn của cha anh thì họ cũng chẳng biết, chẳng thèm dùng đến. Mà có dùng đến thì cũng chẳng được tôi hóa phép giúp đỡ, vì tôi rất ghét cái tính ngạo mạn và huênh hoang của chúng. Cha anh biết chỉ có anh mới cảm động nổi tôi. Quả thực anh đã được lòng tôi, vì tôi đã hiện lên đây để giúp đỡ anh.
Ba vẫn ngây người không hiểu. Anh  nhắc lại :
-      Giúp đỡ cháu ?
-      Phải, giúp đỡ anh. Nhưng trước khi hóa phép, tôi hỏi anh câu này : ‘‘Anh muốn giàu có như cha anh và suốt đời lo nghĩ, băn khoăn, cặm cụi, mong ước mỗi ngày một giàu có mãi hơn lên, phải, anh thích cái đời giàu có và không bình tĩnh một chút nào ấy hay cái đời đủ ăn và luôn luôn thư thái, không làm phiền ai và không bị ai làm phiền mình. Tóm lại, anh thích một đời giàu có hay một đời sung sướng ?’’
Hai tiếng ‘‘sung sướng’’ như đánh thức Ba.
Anh không ngần ngừ nữa, quả quyết trả lời :
-       Cháu chỉ ao ước được sung sướng, suốt đời sung sướng.
-      Nghĩa là anh không ham giàu ?
-      Không.
-      Anh không thích sang ?
-      Không.
-      Anh không thích ở nhà lầu ? Anh phải biết ở nhà lầu, cao ráo, sạch sẽ, mát mẻ.
-      Thưa cụ ở nhà tranh cũng có thể cao ráo, sạch sẽ, mát mẻ được.
-      Anh không thích ăn sơn hào, hải vị ? Sơn hào, hải vị ngon lắm chứ ?
-      Thưa cụ, rau muống, đậu phụ chấm tương cũng ngon lắm mà lại lành ?
-      Anh không thích được ngắm những thửa ruộng thẳng cánh cò bay của mình.
-      Thưa cụ, cháu thường được ngắm nhiều hơn thế, cháu thường được ngắm những cánh đồng lúa chạy thẳng tắp đến tận chân trời.
-      Nhưng đó không phải ruộng của anh.
-      Thưa cụ như thế càng hay, vì cháu được ngắm cái đẹp mà không phải chăm nom săn sóc tới.
-      Nhưng thóc sẽ về tay người khác.
-      Nhưng người ấy có ăn được hết số thóc đâu ? Cháu không có một tấc ruộng nào mà hằng ngày vẫn đủ no. Tiền bán nước vối cũng đủ nuôi sống cháu rồi.
-      Vậy anh muốn gì ? Anh muốn tôi giúp anh như thế nào, vì thế nào tôi cũng phải giúp anh. Tôi là bạn thân của cha anh thửa xưa, cha anh đã phó thác anh cho tôi, chẳng lẽ tôi lại để anh nghèo đói, khổ sở, chẳng hóa ra tôi phụ lòng tin cậy của cha anh lắm ư?
-      Thưa cụ, quả cháu không khổ sở. Nếu cụ làm cho cháu cứ được vui vẻ, sung sướng suốt đời như ngày hôm nay thì cháu cám ơn cụ lắm.
Bà lão đứng dậy nói:
-      Anh sẽ vui vẻ, sung sướng suốt đời.
Rồi bà biến đi.
Sáng hôm sau Ba dậy sớm để nấu nước, nhưng lạ quá! Cái ấm đất ai đem để ngay trong nồi, và lạ hơn nữa! Cái ấm đất ấy đựng đầy nước vối nóng. Ba rót ra bát nếm thử thì thấy nước ngọt và thơm hơn mọi ngày nhiều. Anh vui mừng xách ấm đi bán rong. Và mãi chiều anh mới về nhà thổi cơm ăn vì cái ấm đất kỳ dị của anh không bao giờ nước vơi, nên anh không cần về lấy thêm. Hàng anh bán lại chạy gấp năm, gấp mười trước: Hình như tiếng rao của anh có phép thiêng lôi cuốn khách lại.
Đó là pháp thuật của thần Ấm Đất. Thần đã chuẩn lời mong ước của Ba: Suốt đời sung sướng.
Và Ba sẽ suốt đời sung sướng với cái ấm đất linh thiêng bao giờ cũng đầy nước vối thơm ngọt.
Ba sẽ sung sướng được sống một đời trong sạch.
Ba sẽ sung sướng với sự giúp đỡ kẻ nghèo, vì không cần giàu có, Ba cũng có thể giúp đỡ được kẻ nghèo bằng một bát nước vối nóng thơm, ngọt.
Ba sẽ sung sướng vì một đời bình dị sẽ không bao giờ thay đổi lòng Ba như một đời giàu có: Ba sẽ mãi mãi giữ được nguyên vẹn lòng tốt của mình.
Không có lòng tốt thì người ta sung sướng sao được.
Ba sẽ suốt đời sung sướng.
 
HẾT




Đăng nhập để trả lời
0
QUÀ GIÁNG SINH
 
Nhật Tiến
Phượng mở gói quà của mình ra trước những cặp mắt chăm chú của các bạn. Rồi tất cả cùng reo to lên một lượt:
-      Ồ! Búp bê!
Mắt Phượng sáng hẳn lên.
Một con búp bê thật đẹp, có mái tóc màu nâu và đôi mắt trong xanh nhắm mở được. Búp bê đứng sừng sững ở trên nắp hộp. Nó mặc váy hồng nạm kim tuyến, chân đi giầy cao su trắng. Nó cười với Phượng và lũ trẻ. Mấy con bạn Phượng thèm thuồng nhìn nó. Bọn này không may rút phải những gói quà mà chúng không mơ ước. Con Nguyệt được một cái ô tô sơn đỏ. Con Hương được khẩu súng bắn nút chai. Con Dung lại được chiếc máy ảnh giả. Nhưng không món nào đáng thích bằng một con búp bê, búp bê nhắm mắt, mở mắt được.
Phượng sung sướng quên cả bạn. Nó ôm lấy hộp búp bê chạy ra sân sỏi. Tiếng hò hét của các ‘‘soeur’’ xen với tiếng nô đùa của lũ trẻ trong phòng lớn vắng lại ở đằng sau. Phượng về phòng ngủ và ôm búp bê vào vòng tay. Bây giờ Phượng mới ngắm kỹ được nó. Mặt nó hồng hào và cái miệng rất tươi. Mái tóc nó vàng óng có băng tím vấn ngang đầu. Cổ búp bê đeo một sợi dây mang chiếc thánh giá lúc lắc ở trên ngực. Phượng nghĩ đến ngày mai, ngày kia, hôm nào búp bê cũng là của Phượng. Phượng sẽ bế nó đi ăn cháo ở phòng dưới. Trong giờ học, búp bê sẽ ngủ ở ngăn kéo. Buổi tối, hai đứa sẽ cùng nhau đi cầu kinh ngoài giảng đường. Búp bê sẽ ngồi ở trên lòng Phượng. Chắc mắt của nó sẽ mở to dưới ánh đèn sáng.
Bây giờ thì Phượng mở ra xem cái hộp đựng búp bê. Cái hộp dán giấy hoa màu xanh, buộc bằng nơ đỏ. Bốn bề vừa vặn một chỗ cho búp bê nằm. Ở trong còn có một miếng đệm lụa và một cái gối xinh xinh. Phượng tìm thấy một mảnh giấy biên mấy hàng:
‘‘Em bé nào nhận được quà này, tối ngày 24 xin mời em lại số nhà …ăn mừng lễ Giáng Sinh’’.
Gia đình bé Chi.
Phượng ngạc nhiên và sung sướng. Nó vội bế búp bê đi tìm bà phước Hạnh. Bà Hạnh đang trông coi cho các chị lớp trên hát ở trong phòng nhạc. Tiếng đàn xen tiếng hát lọt qua khung cửa sổ có treo mà, voan trắng. Âm thanh trầm bổng ở trong gió mát buổi chiều. Phượng cảm thấy có cái gì nao nao trong ý nghĩ. Đấy là cái cảm giác mà Phượng chờ mong từ đầu tháng về ngày lễ Giáng Sinh. Phượng trao mảnh giấy cho bà Hạnh. Bà xem rồi mỉm cười:
-      Người ta mời, em muốn đi thì đi.
Bà hứa sẽ hỏi ý kiến bà Nhân về chuyện ấy.
 
$$$
Buổi chiều, Phượng không ăn cơm được vì vui. Đầu óc nó lúc nào cũng xáo lên về hai sự mừng rỡ. Phượng có một con búp bê và lại được ra ăn lễ Noël ở bên ngoài. Nhưng trong óc Phượng đã hình dung thấy hình ảnh những ngọn đèn ông sao cháy sáng ở trên đỉnh nhà thờ, có tiếng chuông ngân nga vang lên trong không khí lành lạnh lúc về đêm, và Phượng cũng thấy mơ hồ hình ảnh bé Chi, bé như Phượng, đang giơ tay đón Phượng với những nụ cười. Rồi Phượng sẽ được dẫn đi vào đám đông trong thành phố, sẽ được tự do ngắm những ngọn đèn xanh đỏ rất lạ chớp ở trên nóc những mái nhà cao. Gia đình bé Chi cũng sẽ lại dẫn Phượng đi xem đám rước kiệu Đức Bà ở nhà thờ lớn. Đêm trở về, tất cả sẽ quay quần ăn Réveillon ở quanh những ngọn nến cháy trên cây giáng sinh. Nếu Chi thích, Phượng sẽ hát cho Chi nghe thật nhiều bài thánh ca mà bà Hạnh vẫn dạy hàng tuần vào sáng ngày chủ nhật. Những ý nghĩ ấy khiến Phượng náo nức và quên hẳn búp bê lúc ấy ngồi bấp bênh ở trên mặt ghế. Con Hồng sui Phượng bón cho búp bê một miếng thịt mỡ. Phượng nguýt nó thật dài.
Đến tối bà phước Nhân gọi Phượng lên buồng riêng. Phượng sung sướng được bà cho phép ra ngoài một đên, một ngày. Chưa lần nào lòng Phượng náo nức đến như thế. Phượng nép má vào vạt áo của bà, nó rung rung muốn khóc.
Chiều ngày 24, chị Giang dẫn Phượng lại nhà bé Chi. Đó là một biệt thự có hàng rào cây bao quanh bốn phía. Mái ngói có những cánh cổng sắt, ở trong là những giàn hoa nở đỏ dưới nắng buổi chiều. Chị Giang rung chuông và đứng nép dưới lùm hoa ti gôn xòa xuống tận mái tóc của chị. Có tiếng dép đi nhè nhẹ trên mặt đá. Phượng không nghe thấy tiếng Chi cười, vì không có Chi ra mở cửa. Chỉ có má Chi (chắc má Chi) đứng ở đằng sau khung cửa sắt. Chị Giang chào bà và đưa ra tấm giấy mời. Bà ta cười rất tươi và ôm lấy Phượng vào lòng. Bà ấy hôn dịu dàng lên mắt của nó. Phượng ngửi thấy mùi nước hoa thơm ngát. Má bé Chi mời chị Giang vào ăn bánh, nhưng chị ấy nhã nhặn từ chối. Chị hẹn sẽ đến đón Phượng vào buổi chiều mai. Khi dẫn Phượng vào đến thềm thì chị xin phép trở về. Phượng nhìn theo chị cho đến khi chị khuất ở sau rặng ngâu xanh. Trong vườn đầy gió mát. Tà áo trắng của chị bay như hai cánh bướm. Bây giờ thì Phượng cảm thấy mình hoàn toàn bỡ ngỡ. Hình ảnh lũ bạn như bầy chim quanh các bà phước hiện thoáng qua trong óc Phượng. Nhưng Phượng cũng yêu ngay má bé Chi. Bà ta mặc chiếc quần lụa trắng và chiếc áo len cộc tay màu đen. Dáng người thật mảnh, nước da thật là mịn. Hai mắt của bà sâu và long lanh. Có những sợi tóc dài quấn lên những ngấn cổ trắng. Bà đánh môi rất nhẹ và đeo một chuỗi hạt trai. Tiếng dép của bà lướt nhè nhẹ trên sàn đá hoa mát lạnh. Bà ấy bế Phượng đi vào một căn phòng quét vôi màu hồng nhạt. Phượng bỡ ngỡ trước những chiếc ghế bọc nhung đỏ. Trên tường treo những lồng đèn vẽ hoa và bướm. Phượng trông thấy một cây Noël đầy kim tuyến trồng ở bên chiếc đàn dương cầm. Một cuốn nhạc mở rộng ở bên cạnh bồn nước có những con cá vàng đang bơi tung tăng. Ảnh bé Chi thật lớn treo ở trên một ống sáo. Chi có mái tóc Nhật Bản và đôi mắt thật to. Miệng Chi không cười nhưng nó có vẻ láu lỉnh ở trong tia mắt. Phượng thấy nó hao hao như con Quỳ phải đi nhà thương hồi đầu tháng trước. Mặt cũng có vẻ xanh lạ lùng như thế. Má Chi nhìn bức ảnh rồi nhìn Phượng. Bà hôn rất lâu trên mí mất của Phượng. Phượng hỏi:
-      Thưa bà,Chi đâu?
Bà ta đặt Phuợng xuống sàn rồi dẫn nó đi vào cánh cửa bên trái. Căn phòng thứ hai này hơi tối, vì cái cửa sổ độc nhất lại đóng kín. Một cái giường có màn buông, kê ở một góc. Phía đối diện là tủ áo. Những cái váy đầm đủ màu nằm im trong ánh sáng mờ. Phượng chạy qua những con chó bằng bông trên sàn đá, lại mở cánh cửa màn và nhìn vào đấy. Phượng thấy một tấm chăn màu xanh nhăn nhúm sô vào một góc. Cái gối trắng thêu cành hoa và con chim lõm xuống vì vết đầu ở giữa. Nhưng không có ai cả. Phượng quay lại nhìn má bé Chi. Bà ấy có cặp mắt rất sâu cũng đang nhìn Phượng. Phượng hỏi:
-      Chi đâu?
Bà ấy không đáp. Phượng chỉ nghe thấy tiếng con mèo đang kêu rất nhỏ ở trên tủ sách mà lúc vào Phượng không thấy nó. Lông nó đen tuyền và mắt thật là xanh. Bốn chân nó co lại. Nó thu mình gọn gàng ở trên một quyển sách bìa dầy. Má bé Chi lại ôm lấy Phuợng, bà ấy nói rất trìu mến:
-      Má bế con đi tắm nhé. Tắm xong rồi má thay áo mới cho con gái của má …
Phượng ôm lấy cổ bà, phụng phịu:
-      Nhưng Chi đâu, Chi đâu rồi..?
Mặt bà ấy vụt trở nên ngơ ngác. Bà ấy đẩy Phượng ra rồi ôm hai tay lên mặt. Phượng nghe thấy tiếng bà lẩm cẩm:
-      Chi … Chi … Chi của má… Chi chết rồi mà …
Rồi bà ấy khóc to lên. Hai đầu gối bà quỳ xuống ở dưới chân giường. Cánh tay bà nhoài về phía gối. Những ngón thuôn dài bấu lấy lần nệm trắng. Phượng sợ hãi đứng một mình trong tiếng khóc nức nở. Những tia nắng cuối cùng lọt vào yếu ớt qua khe cửa. Căn buồng có không khí nặng nề đến ớn lạnh. Trên mặt bàn, từng ống thuốc còn xếp ngổn ngang ở bên cạnh mấy hộp sữa. Đôi giày đỏ của Chi còn gác ở bên cái giá gỗ dưới gầm bàn. Những cái váy xanh đỏ, treo ở trong tủ áo, những con vật bằng bông nằm ngổn ngang trên sàn đá trắng. Tất cả làm cho chả ai ngờ rằng Chi đã chết. Chi không có mặt ở trong nhà này. Chi không mời Phượng. Phượng muốn khóc và đi ra cửa. Phượng muốn gọi tên chị Giang, con Dung, con Hương. Phượng muốn trở về cái không khí hỗn loạn của căn phòng lớn, có những đứa bạn thân ríu rít ở quanh các bà phước. Nơi ấy Phượng thấy thân yêu hơn. Vì chỗ ấy chính là của Phượng, Phượng đã lớn lên ở trong trại mồ côi. Phượng chạy vùng ra cửa.
Nhưng má Chi đã gọi Phượng lại. Mặt bà ta còn ròng ròng nước mắt. Những giọt nước làm hoen ố cả hai má phơn phớt phấn hồng. Bà ấy cười trong tiếng nấc:
-      Không…con ở đây với má, má yêu con như yêu Chi. Má không làm gì con cả.
Rồi bà ta bế Phượng ra phòng ngoài. Hoàng hôn xuống tím ở mây ngoài cửa sổ. Tiếng chuông nhà thờ vọng lại từ rất xa. Mấy vì sao mới mọc long lanh ướt trên nền trời. Phượng ôm lấy cổ bà. Vẽ dịu dàng của bà làm Phượng yên tâm hơn. Bà nói:
-      Má xin lỗi con. Ai lại khóc lóc trước mặt con nhu thế. Nhưng con làm má nhớ Chi. Chi cũng ngoan như con. Chi cũng dễ bảo như con. Tiếc là Chi chết rồi nên không đùa được với con. Nếu có cả hai đứa thì vui biết mấy. Má sẽ đánh đàn, còn các con thì hát. Rồi chúng mình xem nến cháy ở trên cây Noël. Đến khuya thì đi ăn bánh. Má làm cho các con một cái bánh thật to. Cái bánh có con chim ngậm cành hoa bay ở trên nóc nhà thờ. Chắc cả Chi và con cùng thích.
Phượng nhắc bà ta:
-      Nhưng Chi chết rồi.
Bà ấy cười rúc rích:
-      Ừ nhỉ! Chi chết rồi. Chi chết ở trong lòng má. Má với Chi ngủ suốt một đêm. Tay nó cũng ôm cổ má như thế này. Nó muốn ôm thế mãi, không buông ra, không bao giờ buông ra cả. Trước khi ngủ nó gọi má. Rồi nó cười. Má hôn lên hai con mắt li bì của nó. Má gọi tên Chi. Má kể chuyện cho Chi nghe trong khi nó ngủ. Rồi má khóc ở trên mặt nó.
Phượng hỏi:
-      Lúc ấy nó chết chưa?
-      Không, không, nó không chết. Nó không bao giờ chết cả. Má bảo nó tìm lối mà đi. Có các thiên thần đang gọi nó. Má nghe thấy tiếng nhạc ở trên đình màn.
-      Thật không hở bà?
-      Không, làm gì có thật. Má nghĩ rằng Chi còn ngủ với má. Nó còn ôm cổ má. Má còn khóc ở trên mặt Chi. Hai mẹ con vẫn còn ngủ với nnhau.
-      Cháu không hiểu gì cả.
-      Má cũng không hiểu gì cả. Má nằm mơ thấy Chi đi với ba ở trong vườn có hoa trắng. Hai bố con vẫy má. Lúc ấy má đứng ở cửa sổ. Má gọi tên ba, tên Chi.
-      Rồi …
-      Rồi hai người dẫn nhau đi lên đỉnh đồi.
-      Đây có đồi hở bà?
-      Có chứ. Đồi ở ngoài cửa sổ. Chi đuổi theo những con bướm. Con bé không nghe má gọi. Má đe rằng nó về má sẽ phát yêu vào mông nó.
Phượng nhắc lại:
-      Nhưng nó chết rối.
Bà ta lại cười:
-      Ừ nhỉ, má quên. Nó chết rồi. Nó chết thật rồi. Chính má đưa nó đến nghĩa trang. Nhưng buổi tối nó về cười ở trên đình màn, Má cũng cười vói nó.
-      Bà không sợ hay sao?
Mắt bà ta long lên:
-      Sao mà sợ? Tại sao lại sợ kia chứ? …Má với Chi vẫn hay cười ở trong vườn như thế.
-      Nhưng mà Chi chết rồi? …
-      Ừ nhỉ, chết rồi thì làm sao cười được.
-      Chắc là bà nằm mơ đấy.
-      Đúng vậy, má hay nằm mơ như thế. Tội nghiệp con gái tôi.
Phượng nắm lấy tay bà:
-      Thôi bà đừng nói nữa, cháu sợ lắm. Cháu đi về đây.
-      Ấy chết, đừng về con ơi. Con ở đây với má. Má yêu con. Má không rời con.
-      Thật không, thưa bà?
-      Thật đấy, má không nói dối con đâu. Má sẽ thắp đèn cho con xem, má sẽ đánh đàn rồi con hát. Bài Au clair de la lune này, bài La vie en rose này, bài Frère Jacques này…
-      Những bài ấy cháu cũng biết.
-      Vậy thì hay lắm. Chúng mình sẽ hát cho nhau nghe. Bây giờ con đi tắm đã.
Hai người dẫn nhau đi qua một cái sân nhỏ. Con ngựa gỗ cũ của Chi gác ở trên nắp bể nước. Mấy khung đèn ngôi sao rách tơi tả treo ở đằng sau những cái móc xích. Phượng  trông thấy một u già đang lau đĩa ở cửa bếp. Già ấy ngồi tựa lưng vào tấm cánh cửa. Hai bàn tay gầy guộc xoay chầm chậm vào lòng đĩa. Phượng nhìn già đăm đăm. Khuôn mặt của già cằn cõi một cách đáng sợ. Đôi mắt giương lên lờ đờ. Hai bên má rúm ró lại thành  từng nếp nhăn. Già ấy nhìn Phượng không chớp. Má Chi nói:
-      Già đi tắm em Phượng cho tôi. Hôm nay em cầu kinh với chúng mình.
Già ấy bế Phượng vào bồn nước. Trong đời Phượng, chưa lần nào Phượng được ai tắm cho mình. Khi trở lên, Phượng được mặc một cái quần lụa trắng và một cái áo ngủ màu xanh. Toàn thân Phượng có một cảm giác mát rười rượi. Má Chi chải đầu cho Phượng ở tủ gương. Bà ấy bảo Phương gọi mình là má. Nhưng Phượng ngượng nghịu vì chưa bao giờ nó biết gọi như thế. Má Chi trang điểm cho Phượng rất lâu. Phượng tò mò nhìn những cái cặp, cái nơ, xếp ngổn ngang bên cạnh hộp phấn và nước hoa. Bàn tay mềm mại của bà lướt trên mái tóc nó.
Có tiềng u già ngoài cửa phòng:
-      Trời ơi! Tôi cứ tưởng cô Chi, thưa bà!
Má Chi bế phượng lên và hôn như mưa lên mặt nó. Tiếng nói của bà đầy vẻ sung sướng.
-      Con của má, con của má.
Nhưng Phượng thì thấy buồn buồn. Phượng nghĩ đến cái không khí ồn ào trong viện mồ côi. Bây giờ chắc cả bọn đang xếp hang ở sân đằng trước. Chị Giang chắc đang mỏi mồm hét bọn con Dung rất hay đầu têu nói chuyện trong hàng ngũ; Buổi chiều hôm nay chắc sẽ không phải nghe giảng đạo ngoài giảng đường. Cả bọn sẽ phải đi dự lễ chầu ở nhà thờ lớn. Phượng buồn buồn nhớ đến bầu không khí quen thuộc trong viện, mặc dầu những ngày ở trong đó, ai cũng ước ao được đi một mình dưới lùm cây trong thành phố, được dí mũi vào tủ kính những cửa hiệu sang trọng. Phượng không biết trong một cái tủ to lớn như thế thì người ta bày những gì cho hết được.
Nhưng Phượng không được đi chơi như thế vì má bé Chi chỉ muốn Phượng ngồi ở trong căn phòng bây giờ đã thắp đèn sáng. U già đã bầy lên bàn những hộp bánh và kẹo. Cây Noël sáng rực lên vì những ngọn nến và đèn. Nhưng Phượng không thích. Phượng nghĩ rằng giá có bé Chi thì vui hơn. Nhưng nếu Chi còn sống thì chưa chắc bà ta mời đến mình. Ý nghĩ ấy làm Phượng thấy tủi thân. Phượng muốn về với bọn con Dung, con Hương. Chúng nó gần Phượng hơn. Chúng nó lại thích chơi búp bê của Phượng. Lúc chiều Phượng ôm búp bê đi theo chị Giang ra cổng, chúng nó cứ sờ mãi lên tóc và gạ Phượng cho mượn một hôm. Phượng cho rằng chúng nó đòi hỏi một điều quá đáng. Phượng dấu búp bê ra sau lưng, mặt vênh váo. Bây giờ nghĩ lại, Phượng thấy mình thật là ích kỷ, đáng ghét. Phượng nghĩ đến những buổi tối mùa đông có gió lùa qua khe cửa, bốn đứa nằm ôm nhau trong cái băng giá của sàn đá hoa tẩm vào khung giường sắt. Người Phượng run lẩy bẩy. Con Dung choàng bàn tay bé nhỏ của nó vào lưng Phượng rủ rỉ:
-      Phượng có rét không?
Phượng đánh hai hàm răng vào nhau kêu lập cập:
-      Rét …
Dung nhích người lại để nhường thêm cho Phượng một ít chăn. Cử chỉ của nó thật đáng yêu. Nó biết nghĩ đến Phượng.
Phượng lại nhớ cả những buổi chiều mưa có bong bóng nổi trên mặt cỏ. Phượng và Hương lẻn ra hiên sau thả thuyền trong lòng cống. Hai đứa đi men theo tường gạch để xem con thuyền chấp chới giữa dòng nước đỏ. Một lần Phượng trượt chân ngã ở trên mặt rêu. Cái áo sợi của Phượng ướt hết cả một mảnh sau. Hương không ngần ngại đội mưa xuống bếp nhờ chị Thu hơ hộ. Nếu không có Hương thì Phượng cũng không biết làm thế nào cho khô được. Chúng nó đối với Phượng thật là tốt. Thế mà Phượng lại ích kỷ bỏ đi một mình. Đáng lẽ Phượng phải ở nhà để nắm tay chúng nó đi xuống giảng đường nghe cha xứ nói chuyện về lễ Giáng Sinh, rồi tất cả sẽ hát với nhau những bài bà Hạnh đã dạy. Đến tối, tất cả cùng ngồi quanh búp bê đọc kinh chúc mừng Maria.
Nhưng thật ra thì Phượng đã ngồi đây rồi, trong căn nhà vắng lặng, có má bé Chi đau khổ như mất trí, có u già lặng lẽ ra vào như một cái bóng và có linh hồn bé Chi lẩn quất ở tất cả mọi đồ đạc trong các gian phòng.
Nhưng Phượng không còn nghĩ gì nữa và bây giờ có tiếng dương cầm thánh thót ở góc phòng. Má bé Chi mắt sáng long lanh nhìn về phía Phượng. Bà ấy đánh đàn bài ‘‘Au clair de la lune’’. Miệng bà vừa cười vừa nói:
(Mất 2 trang)
Người đi lễ ở ngoại ô đang đổ về phía nhà thờ. Không khí trong và mát lạnh. Nền trời tím đen và lưa thưa sao. Phượng nghĩ đến những màn ca nhạc sẽ cử hành sau buổi lễ mi sa ở trong viện. Phượng muốn được bá cổ bọn con Hương, ngồi nghe các chị lớp trên đồng ca các bản nhạc ở giáo đường.
Ý nghĩ ấy khiến Phượng mở cổng ra đường. Căn nhà rộng rãi của bé Chi nằm trong bóng cây. Phượng thấy sợ hãi, Phượng không thể ngờ rằng mình đã ở được một buổi chiều tối trong đó. Phượng bước mau hơn. Bóng tối không làm Phượng sợ bằng đôi mắt của má bé Chi. Hình ảnh căn buồng có cái không khí rờn rợn như còn hơi hướng của người chết làm Phượng rùng mình. Phượng thốt nhớ đến con búp bê của nó. Con búp bế mà gia đình Chi đã tặng Phượng làm món quà Giáng Sinh. Chắc bây giờ nó vẫn đứng cười một mình ở mặt bàn trong buồng khách.
Nhưng Phượng không quay trở lại, không tiếc. Phượng nghĩ đến những trò chơi nhỏ mọn hàng ngày với bọn Hương và thấy còn quen thuộc hơn.
Có tiếng u già gọi tên Phượng ở sau lùm cây và cái bóng trắng của má Chi chạy trên nền đá trắng.
Nhưng Phượng đã theo đoàn người đi lễ và hỏi thăm đường về cô nhi viện.
 
NHẬT TIẾN




Đăng nhập để trả lời
0