Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Chuyện Hai Người - Hoàng Ngọc Tuấn

6 trả lời, 46 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.06.2021 10:54:07 bởi Ct.Ly>
Chuyện Hai Người
Hoàng Ngọc Tuấn
 
An Tiêm xuất bản 1972
Bìa của Hồ Thành Đức
TẬP TRUYỆN
 
 
Chuyện Hai Người
 
MỌI  CHUYỆN XẢY RA vào những ngày cuối năm. Nhân vật chính là đàn bà. Và đây là một câu chuyện tình, bởi vì đối với một người đàn bà, họ còn cái gì đáng kể ngoài tình yêu?
Chúng tôi quen nhau ở sân trường Văn khoa lúc trời gần tối, bọn sinh viên tan học đã bỏ về gần hết, ngoại trừ những kẻ chăm học đang chen lấn nhau mua ‘‘cours’’, giành giựt còn hơn là mua vé Đại nhạc hội. Đông Lan là một trong đám người hăng hái mua chữ nghĩa ấy. Còn tôi thì không, tôi đã bỏ trường này sau vài kỳ thi rớt và không còn đủ điều kiện để tiếp tục học nữa.
Đông Lan là một cô gái rất đẹp, đối với riêng tôi thì có lẽ không nên tiết kiệm lời tán tụng gì nữa, nàng tuyệt diệu nhất trong đám sinh viên của suốt buổi chiều nay. Giữa những màu áo sặc sỡ trông đến chóng mặt, chiếc áo dài màu nâu của nàng thật mất hút, chìm xuống nhưng cũng nỗi bật nhất trong đám đông.
Tôi hơi ốm và nhỏ con, nhưng dù sao chen lấn để lấy giùm cours cũng hiệu quả hơn nàng nên tôi quen nàng thật dễ dàng. Đôi ba câu chuyện thích thú mở đầu liền, đầu óc lờ mờ của tôi cũng vẫn còn nói đến một vài chuyện dính dấp đến sách vở nên chẳng mấy chốc chúng tôi trở nên thân thiết ngay.
Nàng nói nàng học Việt văn, đã có một chứng chỉ  ‘‘văn chương quốc âm’’ gì đó. Nàng lại thuộc loại học gạo, có thể đọc cho tôi nghe vài câu thơ chữ Hán của cụ Nguyễn Du, còn tôi thì chẳng thuộc lấy một đoạn thơ Kiều nào ngoại trừ một câu mở đầu ‘‘trăm năm trong cõi người ta’’ mà tôi thường ngâm nga khi chán đời.
Khi sân trường chỉ còn lại có hai đứa và lão già gác dan, tôi đưa nàng ra cỗng trường. Nàng hỏi:
-      Anh làm nghề gì ?
-      Cựu sinh viên.
Nàng mỉm cười:
- Đó cũng là một nghề nghiệp sao ?
- Vậy nếu cô muốn tôi là gì, tôi sẽ là thứ ấy. Tính tôi rất uyển chuyển.
Nàng tỏ vẻ không tin.
- Anh tài tình quá nhỉ. Nhưng nếu Lan muốn anh là thầy giáo được không ?
- Được chứ. Nhưng sao lại chọn cho tôi nghề đó?
Nàng có vẻ ngần ngại, thoáng quan sát tôi một chút thật nhanh với đôi mắt trong của nàng như muốn biết tôi có phải là kẻ đáng tin cậy không. Rồi nàng nói :
-       Vì nếu như thế, anh sẽ là đồng nghiệp của Lan.
Tôi hơi ngạc nhiên. Nàng có vẻ tươi tắn và dịu dàng quá, tôi vẫn in trong đầu óc hình ảnh của bà giáo lớp mẫu giáo đầu tiên của tôi, đó là một bà soeur mặt nhăn nheo, kính cận thị dầy cộm.
Nhưng thời thế có lẽ đã đổi thay một cách vui vẻ hơn rồi, tôi đành nghiêng mình thán phục:
-      Rất hân hạnh được quen với một cô giáo xinh đẹp và lỗi lạc nhất trên đời.
- Trời ơi nói gì ghê thế ? Lan chỉ dạy lớp 6 ở cái trường nhỏ tí xíu dưới tận Bình Long cơ mà.
Bình Long là tên một tỉnh lỵ nghe thật xa lạ với tôi, có lẽ nó ở gần biên giới Việt Miên là ít. Nàng gật đầu xác nhận điều đó nhưng nói thêm rằng ở đấy khá an ninh và chỉ cách Saigon nửa ngày xe đò thôi. Rồi nàng hỏi tôi dạy ở trường nào. Đối với một cô giáo như nàng tôi biết mình không thể nói dối quanh co được.
Tôi đành thú thật:
- Tôi là ‘‘gia sư’’ môn Anh Văn cho một cậu nhỏ con nhà giầu, nhưng trước kia thôi, tôi bị cho nghỉ việc.
- Sao thế ?
- Giản dị lắm. Tôi học English For Today book 2 trong lúc dạy Book 1 cho học trò. Cậu bé ấy lại thông minh ghê gớm, nó học nhanh như chớp sang đến cuốn thứ hai mà tôi thì không kịp học cuốn ba. Thế là thầy trò bằng nhau. Thầy đương nhiên bị tống cổ.
Nàng bật cười, hàm răng nàng trắng đều trông thật hấp dẫn, nhất là khi răng nàng khẽ cắn vào môi, tôi mường tượng như nàng đang cắn lấy môi tôi. Nhưng dĩ nhiên điều thú vị đó đâu có xảy đến quá nhanh chóng như vậy được.
Nàng và tôi đều không có xe, hai đứa tự động tản bộ trên lề đường về phía thành phố. Tôi thầm mong nàng đừng nhớ gì đến con đường dẫn về nhà nữa, cũng như tôi đã quên nó mất rồi, quên tất cả mọi thứ khi bên cạnh nàng.
Trời tối hẳn, điện đường bật lên nhưng cũng không đủ thắp sáng đại lộ rộng lớn đầy hàng cây tàn lá âm u. Tôi hỏi nàng vài chuyện thông thường, nàng nói nàng chỉ thỉnh thoảng mỗi tuần một lần lên Saigon lấy ‘‘cours’’, ngày thường nàng ở dưới Bình Long với một người cô, nàng có một chỗ dạy tại trường Trung Học tỉnh lỵ với số lương tháng vừa phải. Và nàng không hỏi gì về tôi hết, điều nàng làm tôi thấy dễ chịu hết sức vi đỡ phải nói dối thêm.
Khi đến phố, tôi mời nàng vào tiệm nước ở góc đường phố chinh. Nàng nhận lời không một chút khách sáo.
Nàng và tôi, cả hai đều đến cái tuổi không còn chờ đợi gì ở nhau những lời mời mọc tán tỉnh giả dối. Đôi mắt nàng thật trong, to, có những ánh sáng say đắm nhưng cũng hết sức thẳng thắn khiến tôi sung sướng. Tôi đã đóng kịch quá mệt trong đời rồi, giờ đây tôi muốn có một người bạn thông minh đến nỗi có thể lột mặt nạ của tôi, như thế tôi sẽ sợ hãi mà để nguyên bộ mặt thật của tôi. Dầu là một khuôn mặt tệ hại đến thế nào chăng nữa, như râu ria lỏm chỏm và nhiều mụn, thì ít ra nó cũng xuất hiện trước nàng một cách thoải mải dễ dàng. Không hề phải khổ công làm cho méo mó gì cả.
Tôi uống bia và gọi cho nàng kem dâu, vì tôi muốn thấy đôi môi hồng của nàng ướt mọng phớt trên miếng kem lạnh, những cái mát êm ngon lành nên đặt bên cạnh nhau. Dầu đây là một quán nước có gắn máy lạnh, có bồi già thắt nơ đen trịnh trọng và những con sổ ghi trên giấy tính tiền thường khi vẫn nhảy vọt rất đáng ngán nhưng hôm nay thì tôi có đủ tiền. Tôi không phải lo gì cả, tôi uống thêm bia để hơi men có thể làm cho tôi ăn nói hoạt bát thêm một chút. Tôi cũng vui thích khi thấy nàng ăn một chiếc bánh ngọt có một quả mứt trái cây đỏ.
Thật kỳ lạ, khi đêm xuống với đám người dạo phố nhởn nhơ ngoài kia, bên trong quán chỉ có lẻ tẻ vài người khách, dường như tôi cảm thấy rằng chỉ có nàng và tôi là hai người duy nhất sung sướng trong thành phố rộng lớn này, còn tất cả mọi người đều mang một vẻ mặt đưa đám buồn bã dầu họ có cười toét miệng đi nữa.
Tôi nói với nàng điều đó và nàng khẽ động đậy đôi môi, chưa thành một nụ cười nhưng có vẻ chế diễu, đôi mắt nàng lóng lánh cho biết nàng cũng đang đầy ắp niềm vui như tôi. Tuy nhiên, tất cả những thứ đó đều chỉ là vấn đề dự đoán và tưởng tượng. Tôi không biết chắc được, tôi phải từ tốn đi theo con đường dẫn đến thân ái một cách chậm chạp.
Tôi nói:
-       Cái chữ ‘‘cô Lan’’ nghe dài dòng quá, tôi bỏ bớt một tiếng, chỉ gọi bằng Lan được không?
-       Có ai cấm anh đâu.
-       Nhưng mà... chữ ‘‘Lan’’ cũng hơi dài. Gọi tắt bằng ‘‘em’’ thôi nhé.
Bàn tay đang cầm thìa gỏ long cong vào ly của nàng bỗng dừng lại. Má nàng hơi đỏ hồng nhất định không phải vì ngọn đèn trong quán. Nàng nhìn thẳng vào mắt tôi dò hỏi như muốn biết tận đáy tim đen của tôi. Tôi không cần che dấu điều gì, tôi nhìn nàng âu yếm như muốn bộc lộ hết cảm tình của tôi dành cho nàng.
Nàng trả lời nhỏ:
-       Tùy anh, nhưng những cách xưng hô có thể đem lại điều gì đâu.
-       Chưa đến cái gì cả, chỉ mới bắt đầu...
Nàng hơi nheo mắt tinh nghịch :
-       Bắt đầu điều gì ?
Tôi uống thêm một hớp bia, người tôi nóng bừng nhưng chắc chắn không phải vì men rượu. Tôi châm một điếu thuốc lá nhưng lóng cóng làm đánh rơi hộp diêm. Rồi tôi quả quyết nói với nàng rằng tôi yêu nàng. Có lẽ hơi vội vã nhưng tôi biết ‘‘chắc chắn’’ là tôi yêu nàng.
Tôi không có nhiều thì giờ để thắc mắc, phân tách về tình yêu, cho đến nay đã hơn hai mươi tuổi tôi cũng không hiểu tình yêu là cái quái gì. Nhưng giờ đây, ngay trong quán nước, máy hát đang chạy bản Limelight trình tấu bằng dương cầm, trong khói thuốc lá mờ mịt làm mắt tôi cay đỏ, trong lúc người bồi mặt cau có chờ tính tiền, trong tiếng ly rơi vỡ toang của một người khách say rượu ở bàn bên cạnh… Trong tất cả những thứ đáng chán đó, tôi biết tôi yêu nàng.
Chỉ có thế. Rất dễ, đơn giản vì chỉ có một chữ. Nhưng cái tiếng thô sơ ngắn nhất ấy đã chạy qua biết bao nhiêu con đường dài dằng dặc trong những mạch máu quanh co của tôi mới đến trái tim, rồi nó phải chạy nước rút một cách hăng hái đến cửa miệng, và bây giờ đã say sưa phát ra thành lời nói.
Đông Lan lúng túng lặng thinh, nàng có vẻ ngạc nhiên nhưng không kinh ngạc, thế là cũng được rồi. Chiếc bánh ngọt bỏ dở trên bàn, cả ly kem tan lần ra thành nước. Tôi thèm một hớp bia nhưng vẫn không hề cử động một chút gì. Thật là chỉ có những kẻ quá phàm phu tục tử mới còn bụng dạ nghĩ đến chuyện ăn uống trong giây phút linh thiêng này.
Sự yên lặng kéo dài thật đáng kính nhưng cũng làm ngột ngạt quá. Tôi phải nhắc lại lời nói của tôi và sẵn sàng nhắc đi nhắc lại cả triệu lần cái câu nói kỳ diệu đó.
Lời yêu thương, nó đóng lại những hàng rào lạnh lùng ngăn cách, đột ngột mở tung ra cả một thế giới tuyệt đẹp, say sưa và đầy ý nghĩa dành cho chúng ta.
Nhưng nàng hình như không còn nghe được một lời nào. Nàng dùng ngón tay nhúng vào nước vẽ những hình thù mơ hồ tan loãng trên mặt bàn. Máy hát bỗng thay một dĩa mới, ồn ào chói tai thật khó chịu và những lời của tôi tưởng chừng như biệt tăm tan biến trong bầu âm thanh hỗn độn ấy.
Tôi phải gọi người bồi đưa giấy tính tiền. Trong lúc gã đứng chờ đợi, tưởng chừng tôi sẽ nhanh chóng lấy tiền ra trả, tôi mượn mãnh giấy dễ ghét chằng chịt những con số đó để viết lên mấy chữ to tướng ANH YÊU EM. Nàng cắn môi, đọc ba chữ ấy một cách chậm chạp như thuở lên năm mới đánh vần chữ quốc ngữ đầu tiên.
Người bồi đằng hắng giọng khó chịu. Mặt gã dài ra chờ đợi tiền nước và thêm tiền ‘‘buộc boa’’. Gã thật tệ, gã không biết thưởng thức những câu chuyện tình gì cả.
Tôi đành trả tiền và đưa nàng ra khỏi quán. Người thâu ngân viên lấy lại giấy tính tiêu để làm sổ sách, trên đó cả ba chữ ‘‘anh yêu em’’ cũng bị gã lấy mất đi. Nhưng đâu hề gì, tôi biết những chữ ấy đã thuộc về tôi và nàng mãi mãi rồi, nó đã nằm sâu trong da thịt, chẳng bao giờ phai nhạt được.
Đêm đó chúng tôi nắm tay nhau đi qua biết bao nhiêu con đường không còn nhớ tên, dần dần rời bỏ trung tâm thành phố quá đông đảo người dạo chơi và những hàng quán đầy người ngồi chen chúc. Về khuya, gió hơi thoáng lành lạnh mặc dầu Saigon là một xứ nhiệt đới, nhưng dù sao, mùa xuân cũng sắp đến rồi.
Tôi không biết phải nói điều gì cả. Bàn tay tôi siết chặt lấy tay nàng nhỏ nhắn và ấm áp, thân hình mảnh khảnh của nàng dựa sát vào vai tôi. Hình như chúng tôi cùng nhận thấy rằng không cần phải ba hoa thêm một lời nào nữa. Chỉ một tiếng là đủ, và giờ đây im lặng trong mùi hương từ tóc nàng làm tôi bàng hoàng sung sướng.
Cả hai lặng lẽ tìm những con đường nhiều bóng tối và tàng cây khuất hơn. Một công viên có bồn nước bắn những tia lòa xòa trên trời, vài chiếc ghế đã đặt gần bên nhưng đã có những cặp nhân tình nhanh chân chiếm chỗ.
Tôi đưa nàng rẽ vào một con đường nhỏ, khúc đường có lẽ bị cúp điện, như thế thật tốt, ánh sáng huy hoàng của văn minh đôi lúc thật dư thừa. Tôi cần bóng tối, tôi yêu mến bóng tối.
Thật tuyệt diệu khi tôi và nàng không nhìn thấy rõ mặt nhau, nhưng thật ra tôi thấy nàng hiện ra trọn vẹn bao phủ lấy người tôi. Không cần đôi mắt, chỉ cần một tâm hồn lặng yên nghe ngóng, bàn tay run, mũi hít thở hương đàn bà nồng nàn, nàng như tan vào lòng tôi rồi.
Dừng lại sau một góc cây, mái tóc nàng ngã vào vai tôi, thân hình mềm nóng tựa sát vào tôi. Tôi siết chặt nàng như muốn kết hợp cả hai trở thành một hạt bụi vào thời nguyên thủy. Tóc nàng thơm ngát trong bóng đêm mùi bồ kếp. Tôi thì thào :
- Cho anh hôn tóc em.
- Chỉ tóc thôi nhé...
Tôi vùi đầu trong tóc nàng, rồi môi lướt qua chiếc cổ và đôi má. Nàng kêu lên:
- Anh nói chỉ hôn tóc thôi mà...
- Bởi vì tóc em ở gần má quá.
Sau cùng, vì má nàng chẳng xa đôi môi nàng là bao nhiêu nên tôi không thể dừng lại nữa. Tôi hôn môi nàng. Nàng không còn thì  giờ để nói, để cười cho tôi nhìn. Đôi môi nàng đã ngập sâu trong môi tôi, mềm mướt, ngọt ngào, chan chứa nước... Tôi chưa bao giờ biết ai có nụ hôn môi sung sướng đến ngất người như thế. Mắt nàng nhắm nghiền như phần đông phụ nữ khác, tôi cố gắng mở hé mắt để muốn biết nàng đón nhận nụ hôn một cách thật tình hay miễn cưỡng. Và tôi cảm thấy ấm lòng khi biết chắc nàng đã trao trọn mình cho cái hôn gắn bó, thân thể và khuôn mặt nàng vươn lên rạng rỡ, tràn đầy hoan lạc run rẩy như một đóa hoa quỳnh mãn khai trong đêm... Môi hai người không muốn rời xa nhau nữa, những chiếc lưỡi đã quen biết thân thuộc mải miết vuốt ve quấn quýt lấy nhau, trao, đổi, cho, nhận, nuốt hết... những giọt nước đắm đuối đậm đà.
Một ngọn đèn pha của xe cảnh sát tuần tiểu bỗng quét loang loáng đàng xa làm tôi giật mình. Tôi đành gỡ tay nàng ra khỏi vòng lưng tôi, dìu nàng ra khỏi đám cỏ và chỉ còn được nắm tay nàng. Cảnh sát, cũng thật giống như gã bồi quán lúc nãy, họ không thông cảm với những người yêu nhau.
Nàng cúi đầu lặng lẽ, mắt nàng long lanh hơn một chút. Tôi ôm siết lấy vai nàng, và muốn hét lên trong đêm tối vắng lặng này, tiếng hét tuôn trào của hạnh phúc. Tôi rộn ràng muốn la lên thật lớn, rằng tôi sung sướng quá. Tình yêu bừng bừng đập trong lòng tôi, như muốn xẻ vỡ toang da thịt. Dĩ nhiên nàng không hăng hái điên dại như tôi, thỉnh thoảng nàng chỉ ngước mắt nhìn tôi, đôi mắt sâu thẳm hun hút không nói lên lời nào, nhưng chất chứa biết bao nhiêu là tình tứ.
Rồi tôi đưa nàng về nhà, xe taxi phải chạy thật lâu mới ra đến ngoại ô, nơi nhà một người bà con của nàng mà nàng sẽ ngủ lại trong đêm nay. Sáng mai là nàng phải trở lại Bình Long, sẵn sàng với một bài Việt văn gì đó giảng cho học trò.
Tôi đã bẻ kính chiếu hậu đàng trước xe lệch sang một bên để có thể hôn nàng thêm một lần nữa trong băng ghế sau. Nhưng nàng cúi thấp đầu xuống dụi vào ngực áo tôi, tôi cảm thấy áo tôi thấm ướt nước mắt.
Nàng thì thào nhỏ, giọng nói có vẻ rời rạc buồn bã:
- Sáng mai em phải đón xe đò về tỉnh sớm.
- Anh sẽ đi với em.
Nàng lắc đầu, miệng như mỉm cười :
- Rồi sẽ đi đến đâu...
Tôi định nói một câu thật hào hùng: rồi sẽ đi đến bất cứ nơi nào, bất cứ đâu, bất cứ điều gì... Nhưng tôi kịp dừng lại vì nhận thấy câu nói đó thật lố bịch. Nhất là đối với nàng. Mỗi người đàn bà đều muốn chỉ đi trên một con đường êm đẹp bình yên mà thôi, chứ đâu dám lông bông lạc lối trên trăm ngả đường như tôi được.
Khi xe dừng lại trước nhà nàng, một con đường tối tăm không biết nằm ở chặng nào trong xóm này, tôi ôm hôn nàng; lần này nàng không tránh tôi nữa, móng tay của nàng bấu víu nhè nhẹ trên vai tôi. Người tài xế châm thuốc lá kiên nhẫn ngồi đợi. À, đến bây giờ mới gặp một kẻ có tâm hồn!
Rồi Đông Lan mất biệt trong bóng tối và căn nhà nhỏ khuất lấp sau hàng rào cây. Tôi hối hận đã quên hỏi địa chỉ dưới tỉnh của nàng, vì tôi biết chắc chắn tôi sẽ tìm lại nàng, cố tình tìm gặp chớ không thể chờ đợi một cuộc gặp gỡ tình cờ như lần này được.
Áo tôi còn thắm đầy hương thơm, từ mái tóc và da thịt của Đông Lan. Mỗi đêm tôi đều đi tắm trước khi ngủ, nhưng lần này, dầu cho xà phòng Dove cũng không làm mất nổi mùi thơm của nàng đã lắng đọng trong tôi mãi mãi.

Tôi yêu Đông Lan quá đi. ‘‘Chắc chắn’’ chứ không còn là ‘‘ hình như’’ gì nữa. Nhờ hình ảnh nàng mà tôi quên đưực cảnh thiên hạ đang đón xuân nôn nả bên ngoài.
Tôi không còn thấy gì hết những hoạt cảnh chung quanh, thành phố, ánh đèn màu, bạn bè... tất cả đều tan rã, trốn chạy mất tích hết. Tôi chỉ nhìn thấy có nàng, mặc dầu nàng đang ở một nơi xa, dưới tỉnh lỵ nhỏ bé nào đó.
Không có nàng, tôi quay cuồng bồn chồn như một con ngựa rừng. Tôi chui đầu vào những rạp chớp bóng, quán nước, vùi đầu vào đống sách báo, tôi lê la suốt ngày trên vỉa hè, thẫn thờ ngồi dai dẳng trong những quán về đêm... Tôi trở thành lừ đừ ngơ ngáo, suýt bị xe cán mấy lần khi băng qua đường lúc đèn đỏ. Tóm lại, tôi chỉ sống với Đông Lan. Nàng là một thời đại, một xã hội mới đã thâu hút tôi đắm chìm trong đó rồi. Ngoài ra tôi không còn liên lạc gì với thế giới loài người này nữa.
Nếu ở thế kỷ văn minh này, người ta không tin là còn có những ‘‘ cú sét ái tình’’ thì riêng tôi, khi vừa chia tay với Đông Lan, tôi biết chắc là minh đã lãnh đủ ít nhất là năm bảy nhát búa tạ tình yêu hạng nặng đến ngất ngư cả người.
Không cần chần chờ gì nữa, tôi chạy lại hai ba bến xe đò để hỏi thăm đường về tỉnh nàng ở. Cuối cùng, một chiếc xe đò chất đầy hành khách đã khởi hành từ sáng sớm, mang theo tôi ra khỏi Sàigòn, xa dần bụi bặm và tiếng còi xe, tiếng người inh ỏi suốt ngày đêm.
Thị trấn đó nằm bên những đồn điền cao su, không lớn bằng đồn điền ở cao nguyên nhưng cũng khá trùng điệp một màu xanh hoang dã. Không khí cũng êm mát hơn là ở thủ đô. Rời khỏi chiếc xe từ bến gần bên chợ, cả cái tỉnh tôi mới nhìn thấy lần đầu tiên này xác xơ và heo hút như trong phim cao bồi miền viễn Tây. Đất đỏ, chỉ có xe nhà binh thỉnh thoảng chạy qua lại. Trời ban trưa im vắng, dãy phố nhà lẻ tẻ nằm trên con đường cao nhất, từ đó tôi có thể nhìn bao quát hết thị trấn, ở giữa lõm xuống như một thung lũng, nhà cửa lác đác và một công viên trơ trọi chẳng ai buồn ngồi.
Tôi chẳng mang theo hành lý hay kịp sửa soạn một thứ gì hết. Người tôi chỉ có một bộ áo quần đang mặc đã lấm đầy bụi đỏ, trong túi còn được hai ba ngàn bạc, tay cầm một tờ nhật báo xếp tư để che nắng. Chỉ có thế, và tôi loay hoay một hồi trong thành phố lạ mà chẳng biết mình đang đi đến đâu.
Tôi hỏi thăm tìm đến trường Trung Học khá dễ dàng vì đây là trường độc nhất trong tỉnh này. Một cô gái nhỏ chừng mười hai tuổi đang cặp sách đi qua tôi, cô bé đánh rơi sách và tôi bèn lượm giùm, cố cười thật tươi cho cô khỏi sợ để hỏi địa chỉ Đông Lan.
Cô bé nói rụt rè :
-       Cô giáo Lan mới về nhà rồi.
-        Nhà cô ở đâu em biết không ?
Cô bé giương đôi mắt tò mò nhìn tôi :
- Biết. Ông hỏi nhà làm gì ?
- Tại vì tôi là... người quen của cô Lan.
- Quen tại sao không biết nhà ?
Trời ơi, tôi chắc rằng cô bé này là đứa học trò dốt nhất lớp của Đông Lan. Nàng có hay thắc mắc vặn hỏi như thế này bao giờ đâu.
Tôi phải nói láo lếu một hồi để lấy cảm tình cô bé, rồi cuối cùng cũng có một địa chỉ nhưng cái tên đường nghe lạ hoắc. Cô bé phải kéo tôi lên một mô đất cao nhất, đưa tay chỉ vẽ loạn xạ về phía trước, may mà tỉnh này chắc chỉ có ba bốn con đường thôi nên tôi hy vọng sẽ tìm nhà nàng ra được.
Cuối cùng, khi trời đã chiều, tôi cũng đến được trước căn nhà nhỏ ghi đúng theo địa chỉ. Và Đồng Lan ra mở cánh cửa, nhìn tôi ngạc nhiên không nói. Trong bộ áo ngắn mặc ở nhà nàng có vẻ mảnh mai dễ thương hơn và chỉ cần chừng đó cũng làm cho tôi không hối tiếc một điều gì cả.
Nàng giới thiệu tôi với người cô của nàng, chỉ có hai người trong căn nhà nhỏ này, trên chiếc bàn con chất đầy xấp bài làm của học trò. Người cô của nàng cũng dễ tính, không tỏ ra thắc mắc hỏi han gì nhiều về tôi. Nhưng tôi cũng kịp nói tôi học cùng trường với Đông Lan, phải về đây lấy gấp giấy tờ còn thiếu của nàng để bỗ túc hồ sơ ghi danh cho kịp. Khi người cô của nàng bỏ ra sau bếp, căn phòng nhỏ đằng trước chỉ còn tôi với Đông Lan. Tôi nắm lấy tay nàng, nhưng nàng đã vội tránh kịp.
Nàng hỏi nhỏ :
- Anh về đây làm gì ?
Tôi không biết trả lời làm sao được cả. Tôi cần một ngày trời và một giọng nói to tướng mới có thể trả lời cho nàng được. Nhưng ở đây thì không thể, phải nhớ bà cô của nàng luôn luôn lấp ló sau tấm màn ngăn phòng khách và bếp.
Tôi ấp úng hỏi :
- Em không thích ?
Nhưng nàng đã mỉm cười, cho tôi nhìn thấy cùng một lúc, sự e ngại và hài lòng trong mắt nàng, sau đó chỉ còn là màu mắt âu yếm của nàng mở lớn chan hòa khắp cả. Nàng đứng dậy đế lấy chiếc gạt tàn thuốc đẩy về phía tôi, và như thế tôi có thể quàng tay ôm lấy người nàng. Mái tóc nàng còn ướt, hình như mới tắm gội sau một ngày dạy học mệt nhọc, chảy trên mặt tôi. Tôi hôn môi nàng, say sưa và vội vàng, chỉ được nhắm nghiền một mắt đắm đuối, còn mắt kia tôi phải liếc chừng bà cô của nàng ở phòng trong.
Nàng gỡ tay tôi ra, khẽ dí một ngón tay trên trán tôi, và nói :
-       Em phải đi đến nhà thờ bây giờ.
-       Tối rồi, đâu có ai xưng tội vào giờ này.
Nàng véo tôi một cái đau điếng :
-       Anh nghĩ như thế là có tội à...
Nàng nhìn bâng quơ ra đường, nói tiếp với giọng mơ màng :
-       Không đâu... Chẳng có tội lỗi gì hết.
Và nàng bỏ vào phòng trong thay áo quần. Nàng mặc một chiếc áo dài màu đỏ sẫm làm tôi ngạc nhiên, nàng cũng trở nên quyến rũ quá khiến tôi nhất định phải đi theo nàng đến nhà thờ mới được. Chúa rất đáng kính nhưng còn những đệ tử của Chúa, như mấy ông linh mực trẻ tuổi, tôi không dám tin cho lắm.
Nàng dặn dò gì đó với bà cô của nàng rồi trở ra ngay, bảo tôi :
-       Anh đi với em.
-       Dĩ nhiên rồi, anh đâu dám ngồi lại một mình với bà cô em, bà sẽ hỏi chừng hai câu là anh khai thật hết, kể hết mọi chuyện.
Nàng đỏ mặt, có vẽ giận dỗi :
-       Chuyện gì ?
-       Anh không thể không có em được.
-       Thế thì có gì đáng dấu diếm đâu. Anh có dám nói điều đó ra không ?
Tôi buồn buồn trả lời :
-       Anh chỉ dám nói với một mình em.
Khuôn mặt nàng trở nên buồn bã, nàng trầm ngâm một lát rồi đi cùng tôi ra khỏi nhà. Nàng cười có vẻ mơ hồ, nhưng lần này tôi biết nụ cườí không phải là biểu lộ niềm vui. Nàng ngước mắt nhìn tôi, đôi mắt nàng xa xăm lắm :
-       Như thế thì chẳng đi đến đâu cả... Nhưng thôi, đi nhanh lên kẻo người ta đợi em.
Tôi tò mò :
-       Em làm cái quái gì ở nhà thờ vào tối nay, chờ Đức Mẹ hiển thánh ?
Nàng nhìn tôi với đôi mắt trách móc làm tôi hối hận xin lỗi nàng. Và nàng giải thích :
- Em ở trong ban Hợp Ca Thánh Đường. Tối nào cũng phải tập dượt để sửa soạn một đêm văn nghệ nhân ngày tất niên.
Nàng làm tôi thán phục quá. Sinh viên học gạo, cô giáo nhiều lương tâm nghề nghiệp, rồi bây giờ là ca sĩ và còn gì gì nữa...
Con đường của thị trấn này ban đêm còn tối hơn bất cứ con đường nào ở Saigon. Ở đây hoàn toàn không có những cột điện đường, xa xa ánh sáng mập mờ từ những mái nhà nào, thỉnh thoảng có vài cặp đèn xe lòa sáng nhỏ nhoi rồi mất hút. Tôi không biết trời trăng gì cả, tôi đi theo sự chỉ đường của nàng. Khi đi băng qua công viên tôi đã thấy hồi chiều, nàng nói đó là công viên Hoàng Hôn, cái tên nghe cũng thơ mộng lắm.
Hai đứa đi chậm rãi, ngả người vào nhau. Chỉ có hai người trong bầu trời tối đen như mực này. Tôi vừa đi vừa hôn nàng, chỉ muốn mọc được những bàn chân rùa. Tấm thân nàng âu yếm trao phó lã người cho tôi. Tôi nói :
- Anh muốn sống chung với em. Bỏ dạy học, bỏ cái tỉnh xỏ xỉnh này, bỏ tất cả đi...
Nàng trả lời tôi bằng một bàn tay siết chặt nóng ran. Tôi hỏi :
- Em có muốn vậy không ?
Nàng gật đầu. Cùng một lúc, tình yêu không một đắn đo của nàng làm tôi sung sướng lẫn đau đớn. Rồi sẽ đi đến đâu ? Yêu nhau, điều này khó lắm nhưng chúng tôi đã vượt qua rồi. Nhưng rồi còn gì nữa?
Một đời êm ấm hạnh phúc, một mái nhà, một khoản tiền đều đặn đủ sống, sự cắt đứt dứt khoát những tham vọng rồ dại... làm sao tôi có thể đối phó với những điều đó được. Thay vì phải nói cái câu đứng đắn cần thiết. Anh muốn cưới em, anh muốn chúng ta là vợ chồng. Tôi chỉ có thể thành thật nói : Anh muốn sống chung với em, muốn yêu em. Tôi biết tôi đủ khả năng về mọi chuyện trong tình yêu, nhưng hôn nhân, vợ chồng, những tiếng ấy không có trong tự điển của tôi.
Tôi ôm nàng trong tay, người nàng như vừa là hơi thở của tôi, vừa xa vời bay biến như một làn hương đêm chẳng biết tỏa ra từ một cánh hoa nào.
Tôi không nói thêm lời nào nữa trên đường đến nhà thờ. Nhưng nàng bỗng hỏi Tết này tôi có về nhà không. Tôi lắc đầu. Nàng nói nàng cũng thế, mẹ nàng tận ngoài Huế, nàng chỉ được nghỉ dạy có mấy ngày và một tháng tiền lương cũng không mua nổi một chiếc vé máy bay khứ hồi.
Nàng đưa tôi vào sân nhà thờ, vườn đất trống trải không một bóng người. Nàng tiến đến một căn nhà nhỏ ở phía sau nhà thờ, ánh đèn sáng trưng và tiếng hát những bài thánh ca vọng ra. Nàng nói:
- Anh vào chơi luôn.
- Thôi, anh ngồi ngoài đây chờ em.
Nàng ngần ngừ một lát rồi bỗng nhiên hôn tôi, cái hôn nóng hổi dưới bóng Thánh Giá trên nóc giáo đường. Rồi nàng bỏ tôi, chạy vào trong phòng tập hát.
Tôi tìm một mô đất cao, chung quanh là những lùm cây và cỏ dại. Tôi ngồi xuống, trong bóng tối có lẽ trông tôi cũng không khác gì một gốc cây mới bị đốn, chẳng ai nhận ra được. Mắt tôi đăm đăm nhìn về phía khung cửa đầy ánh sáng.
Trong chốc lát, tiếng hợp ca bỗng bừng lên ào ạt từ căn phòng nhỏ. Giọng thanh thoát của bầy thiếu nữ chen lẫn trong tiếng ồm oàm của một người đàn ông, chắc là của vị linh mục trưởng ban văn nghệ. Tôi nhận ra được tiếng hát nhỏ nhoi của nàng trong đó, những nét nhạc rộn ràng tươi tắn của mùa xuân vang lên reo vui trong bóng tối lặng thinh.
Tôi muốnn khóc. Tôi biết chờ đợi những gì ở mùa xuân... Nàng biết chờ đợi những gì ở tôi. Không có điều gì cả, không ai cho nhau được gì cả. Tôi đã đánh mất những đêm giao thừa ấm cúng trong cảnh gia đình, nôn nao nhìn nồi bánh chưng bốc khói. Rồi nàng cũng sẽ mất tôi vì tôi là người chỉ biết nói những tiếng vội vàng, ngắn hạn, chỉ có thể hoạch đinh cho một ngày, một đêm chứ chưa bao giờ dám hứa, dám vẽ ra cả một ngày mai, một đời trước mặt.
Tôi thương nàng và tôi quá. Chúng tôi mới ngoài hai mươi, đang ở cái tuổi thường được gọi là tuổi xanh tươi đẹp nhất, cái tuổi trong sách nói là ngập tràn hoa bướm mộng mơ. Nhưng chúng tôi có được những gì ? Nàng phải dạy học bù đầu sáu ngày trong một tuần, số lương chỉ đủ mua vài cuốn sách và gởi về một ít cho mẹ nàng.
Còn tôi ? Nha Động Viên đang réo gọi bên tai mỗi ngày. Chỉ còn được một tháng nữa là tôi phải đi lính. Mang ba lô súng đạn nặng nề và bị đẩy đến một đồn trại, một mặt trận xa xôi nào. Bắn vào ai và bao giờ thì bị bắn, bao giờ trở về và đến lúc nào thì chẳng bao giờ trở về nữa.
Nếu tôi không chịu đi lính, một người trốn tránh có thể nào sống giữa thành thị đầy cảnh sát và những đòi hỏi tiền bạc này. Có văn phòng, có sở làm nào thâu nhận một người thiếu giấy tờ hợp lệ quân dịch. Dĩ nhiên là tôi cũng có nghề riêng để kiếm ít tiền, đó là thỉnh thoảng viết một vài bài lảm nhảm đăng báo, và sau đó chạy mệt phờ người khắp các tòa soạn để lấy tí tiền. Những ông chủ nhiệm mặt mũi trịnh trọng khó khăn, những ông thơ ký tòa soạn đáng yêu khi ẩn khi hiện không tài nào bắt gặp được, những bà quản lý luôn luôn quên bóp tiền ở nhà... vân vân...
Tôi bỗng bật cười sặc sụa. Cười ra nước mắt, thật đấy... không phải là sáo ngữ gì đâu. Tính tôi thích bông đùa cho vui nhưng lần này tôi nói thật đấy. Nước mắt chảy mặn xuống trên môi đang mở miệng cười của tôi.
Tiếng hát trong nhà vẫn vang lên trầm bỗng dìu dặt, âm thanh cao quí như thoát lên trên những ràng buộc phiền muộn của trần gian. Nhưng cuộc đời đâu phải chỉ toàn là những nhạc khúc êm đềm. Tôi biết, thế nào cũng có một đêm khuya khoắt Đông Lan sẽ hát khe khẽ cho một mình nàng nghe với giọt nước mắt trên gối.
Tôi bỗng len lén đi đến bên cánh cửa sở, suy nghĩ một lúc rồi đột nhiên hét lớn vào căn phòng :
- ANH YÊU EM !
Tiếng hợp ca dừng lại lập tức như một chiếc xe thắng gấp. Có tiếng người trong nhà lao xao kinh hoàng, tôi đoán vị Linh Mục đang làm dấu thánh giá để quên đi lời tỏ tình man dại ấy giữa một nơi thiêng liêng như thế này.
Trước khi có ai mở kịp cánh cửa, tôi đã bỏ thoát chạy mất hút trong bóng tối, ra khỏi nhà thờ, không ai nhìn thấy tôi cả.
Và Đông Lan, nàng cũng không bao giờ nhìn thấy tôi được nữa, nhưng cần gì một cuộc gặp gỡ nào khác.
Những gì tôi muốn nói với nàng, tôi đã nói hết rồi. Nhưng những gì tôi muốn đem đến cho nàng, tôi không đủ điều kiện làm được.
Những câu chuyện tình bao giờ cũng đẹp, trừ đoạn cuối. Bởi thế tôi phải bỏ đi nửa chừng trước khi đến hồi kết cuộc.[*]
(*) Sau những ngày chiến tranh đẫm máu tại An Lộc (Bình Long) trong năm 72, ai biết tin tức gì về cô N. T. N. Lan, giáo sư trường Trung học Bình Long, xin làm ơn chọ chúng tôi biết gấp. Đa tạ. (H-N.Tuấn).




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 17.06.2021 21:39:23 bởi Ct.Ly>
2. Tiểu Muội
 
 
MỘT HÔM EM nói:
-       Đừng gọi tên thật của em nữa. cả thành phố nhỏ này người ta biết hết kỳ lắm.
-       Thế gọi là gì ?
Em mơ màng vờ suy nghĩ một chút, rồi trả lời :
-       Gọi là Em Nhỏ.
Anh mỉm cười, nhún vai ra vẽ chán nản mặc dầu anh đang thích thú vì cái trò đổi tên này. Anh thở dài :
-       Hết Bạn Nhỏ giờ đến Em Nhỏ... Nhưng một ngày kia em sẽ lớn chứ.
-       Nhưng vẫn phải nhỏ thua anh mãi. Em lỡ thua anh từ lúc đầu rồi mà.
Em nói có lý. Anh gật đầu.
-       Được rồi. Anh sẽ gọi em, bằng một cái tên mới: Tiểu Muội. Em nghe được không ?
Anh không chờ ý kiến của em . Từ đây, em là Tiểu Muội, mãi mãi là Tiểu Muội, cái tên nghe có vẻ giống như trong truyện võ hiệp Trung Hoa một chút nhưng đâu có hề gì.
Tiểu Muội của anh còn tuyệt vời hơn tất cả những nhân vật hiệp nữ cứ động một tí là rút kiếm và phóng chưởng. Tiểu Muội của anh bây giờ là số một. Nhạc Linh San đã chết ; Quách Tường và Chu Chỉ Nhược đã đi tu ; Triệu Minh thì lông mày cứ tô đi tô lại đậm quá, trông mất tự nhiên ; chỉ còn Doanh Doanh là khá đáng yêu nhưng Doanh Doanh thuộc dòng tà giáo, con của một tay chúa trùm ma đạo. Đâu bằng Tiểu Muội được. Bố của Tiểu Muội là công chức chánh ngạch, chăm chỉ và đàng hoàng (Tiểu Muội thường kể chuyện về cái bụng bự của ‘‘ ổng’’, mỗi khi ‘‘ ổng’’ giận dữ la hét gì, Tiểu Muội chỉ việc chạy đến ôm vòng cái bụng bự là ‘‘ông’’ cười hề hề hết giận liền).
Tiểu Muội. Cái tên đó chỉ có ý nghĩa cho riêng anh và em thôi, Tháng tám này em thị Tú Tài, nhớ đừng quen tay ghi vào chỗ tên thí sinh hai chữ Tiểu Muội, kẽo bài em bị loại ráng chịu đấy. Và nếu Tiểu Muội thi rớt, bố em sẽ trói em vào cột nhà quanh năm suốt tháng, em sẽ không còn gặp anh được đâu.
Nhớ đó, Tiểu Muội phải thi đỗ, kỳ thi cuối năm trong lớp vừa rồi lần đầu tiên em đã hụt lãnh phần thưởng. Sao thế ? Tiểu Muội ngang bướng trả lời:
- Có lẽ vì em hết thích những phần thưởng trong trường học. Có phải chúng ta đã là phần thưởng của nhau ?
Chúng ta. Trịnh trọng trao cho nhau phần thưởng danh dự, những bằng cấp tối ưu. Nhưng Bộ Giáo Dục không chấp nhậu đâu, anh thì đã bỏ học nên bất cần. Nhưng còn Tiểu Muội, em đã biết đó, anh không phải là tất cả của em. Em phải nhận thêm nhiều tặng vật trong đời nữa. Anh muốn thấy em chan hòa trong đủ thứ hạnh phúc của đời sống.
Mấy ông văn sĩ thuộc loại diễm tình thường nói: Em là tất cả. Bịa đấy, em đừng tin. Thử bắt mấy ông đó nhịn đói bảy ngày rồi để trước mặt họ một giai nhân tuyệt sắc và một chén cơm, xem họ chọn thứ gì trước. Anh chắc là họ chỉ kêu : cơm, cơm, com... và cơm thôi. Tiểu Muội hãy ghi nhớ một lần nữa : Anh chỉ là rất ít của em, rất ít.
Gạo tám thơm và thơ Nguyễn Du, phải có đủ hai dưỡng chất đó mới sống lành mạnh và sâu sắc được.
**
Tiểu Muội thích thơ lắm. Em sưu tầm được những bài thơ của Hàn Mặc Tử mà anh chưa  từng thấy ở đâu cả. Em đọc Đường thi qua bản dịch, em chép thơ Tagore trong vở, thuộc lòng nhiều bài ca dao... có lẽ Tiểu Muội cũng là một cô thi sĩ nhỏ. Một lần, em đã làm một bài thơ ngắn, và chỉ gởi cho anh một nửa, đoạn cuối em dấu đâu mất. Chắc vì khi làm thơ, em không che dấu được những gì em chưa muốn nói với anh, phải không.
Để anh nhớ lại đoạn đầu :
Mắt tròn nghinh nghinh mở
Ai biết đươc hạt sầu.
 Trong đêm tinh cầu vỡ.
 Nhã nhạc từng canh thâu
*
Ngọn nến hồng đọng ngấn
 Tóc chảy che trăm đường
Ảo muội thân chim ẩn
 Môi ngậm cười say hương

Tiểu Muội biết anh ghét câu nào nhất trong bài thơ này không. Hai tiếng ảo muội đó. Tại sao lại là ảo muội. Em là Tiểu Muội có thật của anh, là chân muội, hiền muội, hay tệ lắm cũng là... Xí Muội. Chứ nhất định không được là ảo muội, Nghe không ?
Dầu anh vẫn nhớ đến muôn đời cảnh tượng mờ mờ ảo ảo của Tiểu Muội trong những hoàng hôn lướt thướt ven biển, khuất lấp rồi hiện rõ, trốn mù tăm rồi nhẹ nhàng đạm nét trong màn sương bồng bềnh kết bằng bụi sóng và cát trắng. Nhưng đó là một thuở ban đầu, bây giờ mặt trời rạng rỡ đã lên, hình bóng của Tiểu Muội đã được chiếu sáng bởi muôn ngàn tia nắng. Ánh sáng. Tiểu Muội phải ở trong ánh sáng, cho anh được nhìn thấy em đến suốt ngọn nguồn chân tóc, cho em là Sự Thật của anh, cho anh xa lìa được những gì gọi là hư ảo. Bầu không khí lạnh gia hoang mang của hư vô bao phủ bấy lâu nay trên cuộc đời anh, giờ đây phải rã tan trốn chạy trước một tiếng cười chân thật và sống động của Tiểu Muội.
Em thấy đó. Có em, anh trở thành một người tự do và vững mạnh, anh đủ sức chống lại những đám mây tối tăm của khổ đau và ngờ vực.
Anh tiếc mình không phải là một thi sĩ như Tiểu Muội. Có lần em phiền trách:
-       Tại sao anh không biết làm thơ ? Em thương mấy ông thi sĩ lắm.
Anh buồn rầu nói:
-       Anh đâu biết được. Tại sao, tại sao… tại sao em không hỏi tại sao anh không làm vua ?
Tiểu Muội nhíu mày :
- Làm vua còn dễ hơn làm thi sĩ.
Anh cảm thấy thua sút trước Tiểu Muội. Thơ, những đứa con của đất nước này vừa mở mắt chào đời là sống trong nguồn thơ bất tuyệt rồi, lời ru của mẹ, mấy vần ca dao, tiếng hò câu hát trên đồng lúa. Lớn lên, vẫn tiếp tục tìm thơ trong cảo thơm lần giở. Chết đi, nằm trong quan tài vẫn còn nghe tiếng thơ ai oán trong bài văn tế tiễn biệt. Suốt cuộc sống toàn là ngập tràn trong thơ. Thế tại sao anh không làm thơ được.
Anh cố gắng suy nghĩ lát lâu rồi vui vẻ nói với Tiểu Muội :
- Được rồi. Vì em, anh sẽ trở thành thi sĩ. Bởi vì anh thấy em chẳng bao giờ dùng son phấn cả nên anh làm bài thơ này tặng em, nhan đề là Trang Điểm, có thể thay thế mấy món đồ trang sức tầm thường được.
Tiểu Muội sung sướng háo hức chờ đợi. Anh đọc:
Cho tay khô làm lược chãi tóc mềm.
 Mắt ngác ngơ xin làm gương soi bóng
Nụ hôn nồng là son môi em thắm
 Vòng tay ôm là phấn ửng má hồng...
Tiểu Muội đỏ mặt đôi chút, quay đi tránh đôi mắt anh nhưng rồi lại bĩu môi phê bình:
-       Thơ gì nghe lủng củng quá. Mới có bốn câu mà lập đi lập lại hai chữ ‘‘ là’’ với ‘‘ làm’’.
Anh bực mình gắt gõng :
-       Ít ra, bài thơ đó cũng có công dụng chứ. Viết trên bảng quảng cáo trước mỹ viện là nhất.
Khi anh cải bướng là Tiểu Muội im lặng. Nhưng những câu chuyên giữa anh và em trái với nguyên tắc tranh luận thông thường. Kẻ nào ba hoa giành nói, kẻ ấy thua. Người nào im lặng, mặt phụng phịu giận hờn, người ấy thắng.
Tiêu Muội, em đã thắng,
* *
Anh và Tiểu Muội ở hai thành phố cách xa nhau. Anh mời em :
-       Sao em không vào Saigon thăm anh một bữa.
-       Em sẽ vào. Có lẽ trong tháng năm, trường em nghỉ mùa hè này đến sớm. Nhưng... sợ em không đến tìm anh đâu.
- Sao thế ?
Tiểu Muội cúi đầu hờn trách :
-       Em viết cho anh bao nhiêu lá thư mà chẳng thấy trả lời. Anh làm biếng và lững lơ lắm, em sợ. Em nghĩ là có một người hình như muốn xa
- Không đâu. Nhưng viết thư... Sao mà anh ngại cái trò này quá, chắc là vì mỗi ngày anh càng viết thư dở đi, hay là cái chuyện thư từ nô có vẻ hơi lẩm cẩm, cổ điển quá rồi em.
Giọng nói của Tiểu Muội nghiêm trang :
-       Anh lớn rồi mà không biết gì hết. Có những cái không bao giờ là cổ điền, là cũ kỷ cả. Nghe không?
Và một ngày kia, Tiểu Muội vào Saigon.
Thành phố này hỗn loạn chằng chịt trăm ngàn ngõ đường và hẽm tối, thế mà Tiểu Muội cũng tìm thấy anh. Trên mái hiên của căn gác nhỏ có những chậu bông giấy chưa đến mùa hè nở hoa, chen lẫn trong tiếng động ồn ào của xe cộ ngoài đường phố, Tiểu Muội đến. Lần đầu tiên anh thấy Tiểu Muội bằng xương thịt gần gũi trước mặt. Nhưng anh không có gì để mô tả thêm về em nữa, vì em như là khuôn mặt thứ hai của anh. Em thân thuộc với anh, vì cùng đập chung một nhịp tim thơ dại.
Buổi sáng, anh đưa Tiểu Muội đi qua những con đường của Saigon. Ở đây vẫn còn những hàng cây đổ lá trên lề đường, nhưng đáng tiếc lá không một lúc nào im vắng và êm mát cho vừa lòng Tiểu Muội. Muôn ngàn người chen chúc nhau bận rộn chạy đi chạy lại, tiếng còi ồn ào và bụi khói xe đen bẩn không ngớt làm vẫn đục bầu trời xanh sạch. Chẳng ai nhường lối, không cần biết anh và Tiểu Muội. Mọi người đều nhốn nháo quay cuồng không ngừng. Nhưng ở đây, người ta không sống, người ta bận kiếm sống.
Tiểu Muội thấy đó. Đô thị xô bồ này, không phải là mái nhà của em. Nó là nơi tạm trú cho anh, vì anh chẳng còn một nơi nào khác dừng chân được nữa.
Tiểu Muội dụi nước mắt vì khói cay, em lắc đầu nói :
- Em ghét thành phố này quá, ở đây, ai cũng lạ nhau.
Anh biết. Sài Gòn làm sao bằng thị trấn nhỏ nhoi mà thân yêu của Tiểu Muội. Biết bao lần em đã say sưa kể cho anh nghe về quê nhà ven biển của em. Về những đầm nở đầy hoa rau muống, về bảy đồi cát như bảy chú lùn mà em là công chúa nhỏ, về những cành cây khẳng khiu gầy guộc trên đường đi của em đến trường, về những loài cỏ hoa dại không tên cứ đến sáng sớm là ướt mềm sương óng ã, về những cánh buồm ra khơi lúc hừng đông, về nửa đêm khuya hạt mưa nhỏ xuống thành những nốt dương cầm man mác ( về cây cầu nhỏ, về chateau d’eau).. và còn rất nhiều nữa..  Tiểu Muội, anh đề nghị có một ngày nào đó, chúng ta sẽ cùng soạn chung một cuốn Tự Điển Đất Đai, em lo phần nói về bướm hoa cỏ lạ, còn anh sẽ viết phần về những bụi gai đá nhọn cắt da đớn đau và những loại cây độc dược.
Anh đưa Tiểu Muội vào một quán nước góc phố, ở đây vẫn có người chung quanh, nhưng đỡ hơn là ở ngoài đường bụi bặm. Tiểu Muội ăn một miếng kem đựng trong lớp vỏ dừa khô, anh uống cà phê đen và hồi hộp chờ giấy tính tiền. Ở Saigon, có lẽ anh chỉ còn thích những quán nước, nhan nhãn khắp nơi. Ở mỗi con đường, mỗi góc phố. Trong những quán, dầu có gắn máy lạnh cách biệt với đường sá bằng lớp kính thủy tinh trong veo, hay chỉ là quán cà phê ba Tàu luộm thuộm, ở đâu cũng có một chỗ ngồi dằng dai thoải mái, không khí vui vẽ cởi mở, hơi ồn ào một chút nhưng không ép buộc ai cũng phải ồn ào theo. Trong tiếng nói cười vui tai, anh có thể ngồi lặng thinh một chỗ, ngắm nhìn hoạt cảnh của phố phường, môi ấm áp cho đến khi chiếc gạt tàn đầy ắp những mẫu thuốc dụi tắt
Giờ đây, anh ngồi nhìn Tiểu Muội. Mái tóc em hình như không hề chải, lúc nào cũng rối tung, sợi ngắn che phủ trán, sợi dài rơi xuống vai. Hai bàn tay em trống trơn, em nói em chẳng thích đeo nhẫn vòng gì cả. Dưới một đôi mắt trong to mầu vỏ ốc, chiếc mũi của em thỉnh thoảng nhăn lại mỗi khi em cười tinh nghịch. Trông em ‘‘ ngộ’’ lắm Tiểu Muội à.
Rồi Tiểu Muội bảo anh đưa đi qua con đường hàng sách. Em muốn mua một cuốn sách cũ mà em đã đọc qua nhưng làm mất lâu rồi. Suốt cả buổi sáng, lục lạo trong những đống sách báo ngỗn ngang, Tiểu Muội cứ đòi tìm bắt cho được thằng Holden Caulfield của Salinger khiến anh phải phát ghen với nó mất. Cái thằng nhóc tì đó, nó cũng giống như anh thôi, suốt đời chỉ thích chạy rong qua cánh đồng xanh, không có viên cảnh sát nào của thời đại văn minh máy móc này bắt được bọn anh đâu.
Chiều xuống ở Saigon. Chúng ta còn biết đi đâu nữa khi nắng vẫn còn gắt và mọi người vẫn tiếp tục chạy qua trong mồ hôi nhọc mệt.
Anh và Tiểu Muội tìm đến một nơi chúng ta có thể ngồi gần bên nhau, có bóng tối, bầu không khí mát lạnh, nhạc đệm, tiếng người ngoại quốc nói thật lớn. Đó là tầng lầu hai của rạp chiếu bóng. Bên Tiểu Muội, anh không còn biết là đang xem một cuốn phim gì, phim trinh thám hay phim kiếm hiệp. Chỉ đến lúc đèn bật sáng, anh đọc tờ chương trình mới biết là vừa xem một phim về các cuộc tranh tài Đô Vật Thế Giới. Thế ra người ta đánh nhau huỳnh huỵch trên màn ảnh cũng chẳng lọt qua tai anh một tiếng động. Anh chỉ nghe mênh mang những lời thủ thỉ của Tiểu Muội, như một tình khúc vui. Tiêu Muội hỏi nhỏ :
-       Gặp em anh có thất vọng không ? Từ lâu anh chỉ biết em qua thư từ thôi mà.
-       Em lớn hơn trong thư khá nhiều.
Tiểu Muội quay nhanh nhìn anh rồi cúi đầu nói:
-       Tại em phải giả bộ làm người lớn một chút, kẻo anh bắt nạt.
Tay anh nắm lấy bàn tay Tiểu Muội. Em kêu lên :
- Đó...
Anh đan những ngón tay của em, giữ chặt hơi ấm của da thịt trong lúc Tiểu Muội bối rối cố giằng ra.
Anh giải thích :
-       Để yên anh coi bói, coi chỉ tay cho em.
-       Thôi đừng xạo, tối thế này mà thấy gì.
-       Em không biết có mấy ông thầy bói mù sao, không cần nhìn cũng đoán được tương lai, tình duyên, học hành...
Bàn tay của Tiểu Muội nằm ngoan ngoản lặng yên trong tay anh. Vai anh hình như được chạm mơ hồ mơn man vài sợi tóc rối của Tiểu Muội, tóc mỏng manh mà như giây rừng đính ước chẳng thể buông lìa. Còn gì nữa … mắt em đổi khác rất lạ lùng, đôi má thơm như trái chín. Chúa trừng phạt người đàn bà đầu tiên trên trái đất vì ăn trái cấm, người đuổi vợ chồng tổ tiên ra khỏi thiên đàng. Nhưng ở thời đại này, Chúa tiến bộ và cởi mở hơn, Khi anh hôn lên má Tiểu Muội, là hái trái xanh, là sắp cắn trái cấm, Chúa đã rộng mở cửa địa đàng cho chúng ta. Và nếu người không chịu mở cũng không được, dắt tay em anh chẳng sợ gì mà không đạp tung mọi cánh cửa đóng kín cản ngăn.
Tiểu Muội nghiêng mặt tránh đi đôi môi anh, mắt em nhắm lại và anh thấy em khóc. Anh sợ hãi dừng lại, quàng vai em dỗ dành và hỏi. Nhưng em chỉ nói :
- Đáng lẽ em không nên đến tìm anh là hơn.
- Anh xin lỗi.
- Không... nhưng ngày mai em sẽ về nhà, em sẽ xa anh, và anh sẽ quên mau nên rồi chẳng mấy chốc em sẽ biến mất,
- Không đâu.
Tiểu Muội nhìn lên màn ảnh, thở dài.
- Cuốn phim cũng sắp chấm hết. Như anh với em.
Anh không bao giờ chịu tin yêu thương là chóng tàn như thế. Anh nói với Tiểu Muội phải cùng chung một niềm tin như anh. Em nghiêng đầu cụng trán vào anh khám phá thêm mùi lá cây non chát của vài vệt nước mắt lấm tấm trên da mặt của em.
Tiểu Muội nghéo ngón tay anh và em vào nhau như lúc minh còn trẻ thơ giao hẹn điều gì. Em thì thầm :
- Anh phải hứa...
- Hứa gì ?
- Tự anh phải biết những điều anh muốn hứa.
- Được rồi, anh hứa tất cả mọi chuyện. Nhưng... nếu rủi như anh thất hứa có bị gì không?
- Không. Nhưng lúc đó anh sẽ thấy em không giống bây giờ nữa. Ở nhà mỗi khi em giận ai, em thường cắt một lọn tóc. Nếu lúc nào anh thấy tóc em cắt ngắn củn cởn như con trai, là anh phải biết anh đã thất hứa đối với em.
Anh hoảng hốt kêu nhỏ :
-       Đừng, em đừng làm thế. Tóc em ngắn coi sao được.
Nhưng môi Tiểu Muội mím lại ra vẻ cuơng quyết. Anh biết em không nói đùa. Thế là trong đời anh, sau khi hứa với rất nhiều người, đây là lần đầu tiên anh hứa với một mái tóc.
Tiểu Muội lại đòi thêm:
- Mùa nghỉ hè này, anh nhớ về thăm em. Nhà em bây giờ dọn qua bên kia sông, hơi xa biển rồi nhưng mỗi buổi sáng minh đi bộ ra bãi biển vui hơn.
Trời ơi, Tiểu Muội. Anh làm sao còn có mùa nghỉ hè. Xuân Hạ Thu Đông, anh còn biết gì đâu về bốn mùa nối kết đổi thay kỳ diệu đó của thiên nhiên nữa. Cuộc đời anh, mùa thái hòa ngọt ngào đã qua đi mất rồi, bây giờ chỉ là mùa lửa nóng khổ nhọc. Biết đến bao giờ anh mới tìm lại được những mùa thương cũ, cho anh, cho em, và cho tất cả mọi người. Bao giờ mới lại mùa thái bình như mùa Đông vốn là mùa dài nhất trong năm. Bao giờ mới thấy lại mùa thanh bình tươi sáng như mùa Hè rộn rã. Bao giờ mới thấy lại mùa hòa bình như mùa Xuân tưng bừng đoàn tụ. Và bao giờ mới thấy lại mùa yên bình cho tâm hồn như mùa Thu mềm êm ả.
Bao giờ chứ không phải chẳng có bao giờ. Tiểu Muội, anh và em đã cùng chung một ước mơ, giờ đây phải cùng tin là sẽ có một mùa tốt lành như thế.
* *
Còn những phút cuối cùng bùi ngùi bên nhau trước khi Tiểu Muội đáp chuyến xe đò về lại thành phố của em, anh muốn chiều chuộng em tất cả mọi chuyện. Anh nói từ đây tâm hồn mình sẽ chẳng thất lạc nhau nữa, em ghét cái gì anh sẽ ghét cái đó, em thích điều gì anh thích điều đó. Và may mắn thay, trên đời này có nhiều điều cho chúng ta yêu hơn là ghét.
Tiểu Muội thích thơ, và đời em hiền hòa như những dòng lục bát. Được rồi anh cũng thích thơ mặc dầu anh sợ rằng đời anh trót rắc rối loạn xạ còn hơn là thơ DaDa. Tiểu Muội thích núi rừng, biển cả, có hoa. Được rồi anh cũng thích những nụ cười ấy của thiên nhiên. Tiểu Muội thích nhạc của Trịnh công Sơn (nhất là bài Rồi Như Đá Ngây Ngô) mà có lần khi gởi cho anh con búp kết bằng ốc biển, em đã đặt tên cho nó là Rồi Như Vỏ Ốc Ngây Ngô). Được rồi, anh cũng thích nhạc T.C.Sơn, không những thích thôi mà đôi khi anh cũng hát được vài bài nghe ‘‘tới’’ lắm. Tiểu Muội thích kết mái tóc ra đàng sau thành hai chiếc bím nhỏ nghịch ngợm. Được rồi...
Ồ, không được đâu... tóc anh mà làm kiểu đó là bị hốt về bót cảnh sát gấp. Tiểu Muội nói rằng hơi... thương anh. Được rồi, anh cũng thương anh lắm mặc dầu anh có quá nhiều cái đáng ghét.
Tiểu Muội yêu đời, anh cũng thế, và còn hơn là yêu nữa. Anh cũng lên men say sưa với đời. Dầu thiên hạ điên cuồng thi nhau tàn phá, giết lần mòn hơi thở của trái đất cắt đứt phũ phàng những cuộc sống còn dang dỡ của tuổi thanh xuân, anh vẫn cố vươn mình đứng dậy chống đỡ, xác thân có kiệt quệ gầy mòn nhưng tim yêu vẫn đâm chồi bừng nở trong dòng máu. Dầu thiên hạ có bỏ đói địa cầu, đốt hàng tỉ bạc để lên đến mặt trăng, anh vẫn khiêm cung chỉ thích uống một tách trà thơm, và ngắm nhìn trăng lung linh soi trên bóng nước của một ao hồ nào đó trong vườn nhà.  Tiểu Muội chắc cũng đã thấy như anh, cuộc đời cao đẹp từ những lời thầm thì nho nhỏ.
  • *
Tiểu Muội đi rồi.
Giờ đây em đang chìm đắm trong thế giới của em, là mái nhà sum vầy đầy đủ, là trường học bận rộn tíu tít với kỳ thi sắp tới, là thành phố đã nuôi em lớn lên như một đứa con cưng.
Ngày Tiểu Muội vừa đi, anh lầm lũi một mình ở Saigon, tìm đi qua những nơi mà chúng ta đã đến. Về đêm anh vào quán nước thưa người, lục hết những đồng bạc cắc bỏ vào máy nhạc, nghe gần đến mười lần bản A Time for us của Tchaikovskg. Thời của chúng ta. Thời của Roméo và Juliette. Có chăng một thời nào cho anh và Tiểu Muội. Anh tin chắc là sẽ có, bởi vì chính chúng ta sẽ bắt đầu, sẽ sáng tạo nên thời đại thủy chung và thấm thiết ấy.
Anh đã mua cho Tiểu Muội cuốn Một Thời Để Yêu và Một Thời Để Chết của Remarque, Tiểu Muội nói rằng em thích câu chuyện lãng mạn và đau xót đó.
Nhưng anh và Tiểu Muội, chúng ta hồn nhiên hơn, mơ mộng hơn, khát vọng hơn, trẻ tuổi hơn... Chúng ta đã có một thời để yêu vì tình yêu và nhờ tình yêu, chúng ta sẽ nuôi dưỡng được một thời để sống.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 19.06.2021 14:04:05 bởi Ct.Ly>
ÔNG GIÀ NOËL
 
 
TÔI VẪN THƯỜNG sợ những dịp lễ và hội hè. Ngày Tết Trung Thu, Noël... những cuộc vui hàng năm ấy chỉ làm tôi buồn thêm, lạc loài giữa cả thế giới nhộn nhịp tưng bừng của những con người có một gia đình quây quần hay một người yêu thân ái.
Tôi không có những thứ ấy. Mặc dầu tôi có thể tìm thấy được niềm an ủi đó được nếu chịu khó một chút, dễ tính hơn chút nữa đối với người chung quanh, nhất là vài cô gái láng giềng lúc nào cũng có vẻ sẵn sàng chịu đàn ông làm quen và tán tỉnh. Nhưng tôi thấy nãn họ quá, thói quen của tôi là sống yên ổn tỉnh mịch một minh, nên rốt cuộc tôi là một người cô độc.
Cô độc, tình cảnh đẹp đẽ và cao quý thật, nhưng cứ mỗi lần đến đêm Giáng Sinh, cô độc làm người ta đau đớn lặng người đi.
Tôi còn là một sinh viên tập tễnh trong những năm đầu tiên ở Đại Học, tôi xa nhà, hay bỏ nhà cũng thế. Tìm được một chỗ trọ cũng gần với trung tâm Sài Gòn, như thế cũng tiện cho tôi lắm rồi. Tôi tạm bằng lòng với căn gác xếp nhỏ trên lầu, dưới nhà là chỗ ở của bà chủ nhà với một cô con gái nhỏ. Đây là một gia đình sung túc êm ấm mặc dầu tôi không thấy bóng dáng của người chồng.
Vào khoảng hơn sáu giờ chiều, tôi ra ngồi ngoài bao lơn một mình, tiếng nhạc từ máy phát thanh ở dưới nhà vọng lên vang vang những bài hát Thánh Ca Giáng Sinh nghe rộn ràng làm tôi nao lòng quá. Đêm nay là Giáng Sinh rồi, phố xá chắc sẽ ngập người và đèn đuốc lộng lẫy, ánh sáng lung linh rực rỡ của những ngọn đèn ngôi sao và cành thông lấm tấm giăng đầy bóng đèn, áo quần mới sặc sỡ của đàn bà con gái đi nhà thờ về, lượn phố thêm một vài vòng cho thiên hạ nhìn ngẳm…
Tôi lui vào căn phòng vắng tanh, ngọn đèn vàng mù mờ; không có dấu hiệu gì của một đêm Giáng Sinh trong căn phòng này cả. Không bánh ngọt, không cây Noël, không máng cỏ với chúa Hài Đồng, một thiệp mừng Noël cũng không có nốt.
Thế này thì tôi phải dạo phố một vòng cho đỡ buồn mới được, dầu có thế lại càng buồn hơn trong cảnh ồn ào đêm nay. Tôi dụi tắt điếu thuốc, thay quần áo. Trời bên ngoài tối dần, xa xa ánh sáng mù mờ của ngọn tháp một ngôi giáo đường nào đó.
Khi tôi vừa xuống hết những bực thang gỗ, trong nhà dưới hôm nay có vẻ gì khác lạ làm tôi tò mò liếc nhìn vào, cô bé con đang ngồi bệt dưới nhà, thừ người nhìn vào cái máng cỏ xem cũng có vẻ đã tốn nhiều công phu và khéo tay lắm mới làm được, cô bé khoảng tám tuổi, thỉnh thoảng cứ đưa tay vào sửa đổi vị trí của ba ông vua nhỏ.
Bà Phương, người chủ nhà đang cột những gói giấy bóng vào cành thông trên cây Noël. Bà giật mình khi nhìn thấy tôi đứng quan sát cảnh tượng gia đinh ấm cúng đó. Tôi mỉm cười chào, nói một câu xã giao lấy lệ.
- Chà... Bà với cháu nhỏ năm nay ăn Noël lớn quá nhỉ.
Bà Phương cúi xuống vuốt tóc cô con gái, trả lời :
-Thì tôi phải bày vẽ thêm một chút cho nó vui. Không biết mấy ‘‘xơ’’ trên trường bảo gì mà nó cứ đòi phải có cậy Noël và máng cỏ cho bằng được.
Cô bé ngửng đầu lên:
-Còn ông già Noël nữa chớ má. Thiếu ‘‘ổng’’ đâu có được.
Bà Phương mỉm cười với tôi rồi khẽ cốc đầu cô con gái :
- Thiệt là đòi đủ thứ hết. Ông già Noël đến nửa đêm mới có được.
Tôi đứng nhìn một chút những bóng điện xanh đỏ cháy lập loè trên cành thông, rồi chào bà Phương, ra khỏi nhà. Tôi ngạc nhiên nghe tiếng gọi hơi ngập ngừng của bà Phương :
- Cậu... Tối nay cậu về sớm ăn mừng đêm Noël với mẹ con tôi nhé.
Đề nghị đó quả làm tôi lúng túng. Từ khi đến đây ở trọ khoảng ba tháng nay, ít khi có dịp, và tôi cũng không muốn chuyện trò thân mật gì với gia đình bà chủ nhà. Đi đâu về, gặp bà Phương tôi khẽ chào một cái rồi đi lên gác trên ngay, mỗi đầu tháng đóng đủ tiền trọ kèm theo đôi ba câu chuyện lấy lệ, ngay cả cô con gái của bà tôi cũng không biết tên gì.
Tôi lúng túng nói :
- Cám ơn bà, nhưng sợ phiền...
- Đâu có... Tôi mời cậu mà.
Cô bé ngước mắt nhìn tôi chờ đợi, tôi mỉm cười xoa má nó, và nói :
- Sợ có thêm người lạ làm cháu nhỏ ăn mất ngon.
Bà Phương bật cười :
- Nó vui thêm thì có. Chẳng mấy khi có khách, mẹ con cứ lủi thủi với nhau mãi.
Cô bé nắm lấy tay tôi :
-Chú nhớ về ăn Noël với cháu nha chú. Đêm nay có gà quay, bánh kem, đủ thứ hết đó chú... Còn gì nữa không má ?
Bà Phương trả lời với con gái, nhưng nhìn tôi.
-Có rượu vang, nhưng để cho chú uống, con chưa được uống đâu.
Tôi cảm thấy ấm lòng lạ thường, tự nhủ thôi cũng nên vui vẻ trong cảnh gia đình này một đêm, còn hơn là ngủ vùi trong căn phòng tối om để cố quên đi tiếng chuông nhà thờ kêu réo bên ngoài.
Tôi gật đầu với cô bé, nói rẳng tôi sẽ đi một vòng phố chơi cho biết đêm nay có gì lạ, đến khuya tôi sẽ trở về trước mười hai giờ để cùng đón mừng giờ Chúa Hài Đồng ra đời.
Khi tôi bước ra khỏi nhà, lầm lũi đi trên con đường tối đen nhưng đang lố nhố bóng người lũ lượt kéo nhau vào trung tâm thành phố, tự dưng tôi cảm thấy một niềm vui êm ấm dịu dàng len vào trong người.
Lần đầu tiên từ ba tháng nay, ngôi nhà này không phải chỉ là chỗ tạm trú nghỉ lưng khi tôi đã mỏi gót chân lang thang suốt ngày nữa. Lần đầu tiên, khi vừa bước ra khỏi căn nhà để xuống phố, tôi nao nức trở về mau chóng, gõ những tiếng vội vã nôn nóng trên cánh cửa để được mời vào.
Bên trong, biết có thứ ánh sáng nồng nàn nào chào đón…
* *
Đêm nay đúng như tôi đoán trước, phố phường kẹt cứng người và xe cộ. Thiên hạ nhởn nhơ lượn qua lượn lại trên một vài con đường chính, chen lấn nói cười với nhau thật vui vẻ. Nhưng không biết trong bụng những người đàn ông đàn bà nét mặt rạng rỡ kia nghĩ thế nào, chứ tôi thì chán nản quá, Tôi hiện không có được một người tình nào để dắt tay nhau dung dẻ dưới hàng cây vệ đường âm u đầy những bóng tối thuận lợi. Một mối tình kiểu học đường của tôi vừa tan vỡ cách đây một tuần, bây giờ tôi thấy hối hận đã không cố kéo dài nó thêm một tuần nữa cho qua khỏi đêm Giáng Sinh trống trải này.
Tôi phải chật vật lắm mới tìm được một ghế ngồi trong quán Pagode, cùng bàn với một lũ bạn gặp tình cờ ngoài đường. Quán đầy đặc hơi người và khói thuốc ngột ngạt, những cửa kính đều được mở rộng ra cho thoáng, như thế ngồi ngay ở bàn bên ngoài, tôi có thể ngắm nghía mọi người đi trên hè phố gần sát hơn.
Quán nằm trên con đường chính của thành phố, lại gần Nhà Thờ Đức Bà nên tất cả những đứa con trai cô đơn vất vưởng trong đêm này đều chen chúc lấy một chỗ ngời ở đây, hút thuốc lá phì phà, vừa tán chuyện gẫu vừa ngắm nhìn phê phán những người đẹp đi nhà thờ về. Có thể nói tất cả những người đàn bà đẹp hay có một chút nhan sắc đêm nay thế nào cũng đi ngang qua đây một lần.
- Thật là một cuộc thi Hoa Hậu không mất tiền mua vé xem.
Một gả bạn thích thú nói, sau hớp la de. Ly nước của tôi đã cạn nhưng tôi không tài nào kêu thêm một cái gì uống được, mấy người bồi biến đâu mất trong đám khách như rừng rậm, viên quản lý thì cứ đứng nơi cửa đàng xa, mắt dáo dác xem chừng có ông khách quý nào thừa dịp đông đảo quỵt tiền nước dông mất.
Chuông nhà thờ reo vui gióng giả từng hồi, những bóng đèn đủ màu giăng trên cao sáng nhấp nháy cả một góc trời. Mấy cô cậu nhỏ đeo râu giả và mang mặt nạ thằng hề, đầu đội nón chóp nhọn màu mè, thi nhau tung hoa giấy vung vãi vào bất cứ người nào, vài người lớn tuổi quỷ quái nào đó thừa nước đục thả câu, dấu mặt mình sau tấm mặt nạ để chọc gái. Mấy cô gái bị thiên hạ cố tình chen lấn và thỉnh thoảng bị một bàn tay bí mật nào đó thò ra từ đám đông múa may gỡ gạc, làm mấy cô cứ kêu thét lên oai oái.
Tôi cảm thấy đỡ buồn chút it khi ngắm cái hoạt cảnh hỗn độn ấy diễn ra trước mắt.
Về khuya, đường vẫn chưa ngớt người, phố phường ồn ào âm thanh quay cuồng của gót chân và tiếng cười nói thay thế cho những nốt nhạc và tiếng hát ngợi ca đêm kỷ niệm này. Máy nhạc trong quán chạy một bản kích động thời trang như mọi khi, nhưng không còn ai nghe gì được giữa bầu không khí huyên náo.
Tôi cảm thấy mệt mỏi, thời gian như chậm lại và kéo dài ra, làm sao mà tôi có thể lắng nghe từng khoảnh khắc trôi qua trong suốt một đêm, như nhiều người vẫn thao thức đợi từng giây phút trong đêm nay.
Đám bạn bè ồ ạt kéo ghế, đứng dậy. Một gả vỗ vào vai tôi:
-      Đi với bọn tao, mày. Tha hồ vui suốt đêm.
Tôi ngần ngừ một chút rồi lắc đầu từ chối, viện ra một lý do mơ hồ nào đó. Người bạn ngạc nhiên, rồi cười lớn :
-      Chà. Có hẹn với ‘‘ em’’ nào hả ? Thôi, bọn tao đi chơi đây. Chúc mày đêm nay du dương thỏa mãn.
Tôi cười cải chính nhưng không ai tin, kỳ cục thật, sao tôi không theo bọn bạn này vui chơi một đêm. Đi với tụi nó là yên trí có đủ cả... gái, rượu, âm nhạc, khói thuốc, tiếng cười say sưa cả đêm, mỗi năm có một lần thôi.
Và tôi chờ đợi gì trong căn nhà mà lát nữa tôi sẽ quay về đúng hẹn. Một người đàn bà không xa lạ hẳn nhưng cũng không có gì thân thiết, trẻ con và cành thông thơ mộng của tuổi thơ... Không có hạnh phúc nào hứa hẹn trong ngôi nhà nhỏ bé đó cả, nhưng tôi biết tôi sẽ quay về, dầu phải bỏ rơi những thú vui thường lệ với bạn hữu.
Cuối cùng, kim đồng hồ mù mờ nóc Giáo Đường chỉ đúng mười một giờ, tôi về nhà.
Cũng giống như lúc ra phố, như tất cả mọi lúc, tôi đi một mình lầm lũi, xa cách với lớp sóng người hân hoan. Bây giờ chỉ có một điều nhỏ nhoi khác lạ, tôi cảm Ihấy vui sướng khi chân bước vội trở về.
Tôi chưa mở cửa vội, bên trong cánh cửa, ánh đèn vây kín sau lớp kính thủy tinh, trông cùng có vẻ hồng hào thân ái lắm.
Cô bé miệng khe khẻ hát theo một bản nhạc từ chiếc máy đĩa cũ, áo quần của cô mới rực rỡ. Bà Phương dựa người trên chiếc ghế bành, đầu tóc bà ngửa ra đằng sau, chân đong đưa nhẹ theo tiếng hát của cô con gái.
Tự dưng tôi không muốn vào ngay, tôi bỗng thấy muốn đứng lặng lẽ như thế này hoài, ngắm nhìn bà Phương thêm chút nữa.
Tôi không phải là kẻ tò mò, nhưng thỉnh thoảng đôi ba câu chuyên ở quán cà phê trong xóm do những láng giềng kể lại, tôi cũng biết chút ít về bà Phương. Vợ chồng bà ly di đã mấy năm nay, người chồng đem theo đứa con trai ở một xứ xa, để lại cho bà căn nhà này với đứa con gái. Chỉ có thế, và tôi cũng không thắc mắc tìm hiểu thêm làm gì. Điều đó thật vô ích, mối liên quan duy nhất giữa người chủ nhà và kẻ ở trọ, có lẽ là việc đóng tiền nhà mỗi tháng đầy đủ, và mỗi người nên sống yên với chính mình, đừng làm rộn gì đến kẻ khác.
Nhưng đêm nay, hình ảnh bà Phương bên sau cảnh cửa, cảnh cửa đã ngăn cản mọi tiếng động trong nhà, hình ảnh người đàn bà ấy hiện ra trông thật cô đơn, mảnh mai và cũng... mang một vẻ đẹp quyến rũ bí mật nào.
Đây là lần đầu tiên từ nhiều tháng nay, tôi nhìn bà Phương với một đôi mắt khác vẻ xã giao thông thường. Bà có lẽ mới đến cái tuổi ba mươi, quá khứ là một thiếu nữ xinh đẹp yêu đời, và giờ đây, nàng thiếu phụ ít khi thấy được niềm vui tươi tắn trên khuôn mặt, nhưng nhờ thế vẻ mệt mỏi đơn lẻ lại trở nên diễm ảo,
Bà Phương nghiêng đầu nhìn ra cánh cửa, và tôi không thể đứng im như thế nữa, tôi mở cửa bước vào nhà.
Cô bé reo lên :
- Trời ơi, tưởng chú không về rồi.
Tôi nói :
- Như thế khỏi chia phần bánh của cháu chứ.
Cô bé bĩu môi :
- Chú coi bánh nè, to như vầy sợ ba người ăn hoài cũng không hết à.
Cái chữ ‘‘ba người’’ có vẻ thân mật quá làm tôi lúng túng liếc nhìn về bà Phương, bà chỉ cười âu yếm nhìn con, và khi bà cười với tôi, vẻ âu yếm trên đôi mắt sâu ấy chưa kịp tan đi mất.
Chúng tôi ngồi vào bàn. Bà Phương xẻ cho cô con gái một chiếc đùi gà quay, hàm răng cô nhỏ nhai ngon lành với mẫu bánh mì dòn tan. Ly của tôi được rót đầy rượu, bà Phương mỉm cười:
- Không có sâm banh đâu, cậu uống tạm thứ này nhé.
Tôi nói thành thật :
- Ngon lắm rồi.
Rượu chát đỏ quả thật ngon dịu; đựng trong chiếc chậu nhỏ trộn lẫn với nho, cam táo. Tôi uống một hớp, sau tiếng cụng ly rộn ràng vui tai với bà Phương, chất rượu đỏ sẫm lóng lánh, một chút thơm ngọt, một chút cay nồng nhẹ nhàng. Tôi chợt thấy đêm nay dầu trời Saigon chưa lạnh theo đúng kiểu của một đêm Giáng Sinh, hai mẹ con bà Phương vẫn khoác chiếc áo len mỏng, của cô bé màu vàng và người mẹ màu đỏ rượu chát.
Tôi và bà Phương nói vài câu chuyện vẫn vơ, hầu hết là những chuyện học hành của cô con gái. Bà không hỏi gì về tôi, và tôi cũng thế, tôi chỉ muốn hỏi đêm nay bà có xức nước hoa gì không mà sao mùi thơm bao trùm lấy căn phòng, nhưng dầu đã ngà ngà tôi cũng không dám hỏi một câu như thế.
Bỗng chốc, bàn ăn như rơi vào im lặng. Bà Phương cũng ngồi yên không nói gì, bà chỉ thoáng nhìn tôi và tôi bắt gặp khuôn mặt bà ửng chín màu rượu. Mặt của tôi bây giờ chắc cũng đang đỏ kè vì tôi là người máu tốt, một chút rượu cũng làm đỏ mặt huống hồ tôi đã uống gần cạn hủ.
Cô bé bỏ nhiều đồ ăn trên dĩa như đã no nê, có cầm lấy một miếng bánh ngọt rồi rời bàn ăn, ngồi dưới nhà nhìn chăm bẳm vào trong máng cỏ, co ro mình như là đang ở trong trời mưa tuyết,
Tôi định nói một câu gì để phá tan sự im lặng nhưng cô bé đã lên tiếng :
-      Ăn no rồi làm gì nữa má ?
-      Con sửa soạn đi ngủ.
- Nhưng ông Già Noël chừng nào mới đến, má ?
-      Ông phải đợi lúc con ngủ say đã. Con nhớ treo đôi vớ trên thành giường để ổng bỏ quà vào.
Cô bé bỗng hỏi tôi :
-      Ông Già Noël có thật không chú ?
Bà Phương liếc nhìn tôi mỉm cười như thầm bảo tôi thuyết phục cho cô bé. Tôi đành cố nặn óc nhớ lại về hình ảnh ông Già Noël mà đã lâu tôi không để ý gì nữa từ lúc qua hết tuổi thơ. May mà men rượu làm tôi hứng chí ba hoa một hồi :
-      Có chứ. Ông Già Noël khoảng chừng... chín mươi tuổi gì đó, râu tóc ổng bạc phơ. Mỗi đêm Giáng Sính, ổng mang một chiếc gù sau lưng đựng đầy nhóc đồ chơi rồi tìm đến nhà những đứa trẻ con ngoan ngoản, như... cháu.
Tôi dừng lại. Bà Phương nhìn tôi và bỗng cả hai cùng cười. Tôi tiếp tục sau một hớp rượu:
-... Rồi đợi đến nửa khuya, ông già Noël sẽ tuột máng xối vào trong phòng cháu, ông sẽ bỏ đồ chơi vào đầy hai ống tất của cháu rồi lặng lẽ trèo lên nóc nhà leo qua nhà một đứa trẻ khác.
Cô bé im lặng suy nghĩ một chút rồi do dự hỏi :
-      Có bao giờ ông Già Noël già thêm rồi chết không chú ?
-      Không… đời nào ổng chết được, cả mấy trăm năm nay rồi ổng đâu có già thêm tí nào... Đến ngày Noël ổng lớn thêm một tuổi nhưng đến ngày Tết thì ổng lại nhỏ bớt đi một tuổi, cứ như thế hoài nên ổng sống dai số một, lúc nào cung xấp xĩ ở chặng chín mươi thôi.
Tôi không ngờ lời giải thích của tôi lại phóng đại đến như thế, nhưng cô bé cô vẻ tạm hài lòng, cô đứng dậy ôm theo con búp bê, chạy lại đưa má cho mẹ hôn và nói :
-       Thôi, con đi ngủ, má nhớ nhắc ông Già Noël nha.
Bà Phương gật đầu. Căn phòng khách chỉ còn lại hai người, những người lớn đáng thương không biết làm gì cho qua hết đêm, đâu còn sung sướng hồi hộp đợi chờ một ông Già Noël đến tặng quà nữa. Giọng bà Phương nhẹ nhàng bông đùa:
- Cậu có vẻ quen biết với ông Già Noël quá nhỉ.
- Hồi nhỏ tôi cũng đợi háo hức không kém.
Bà Phương bỗng tiến sát đến tôi, thì thầm nói nhỏ:
- Đêm nay tôi phải đóng vai ông Già Noël đó.
Tôi cười thú vị:
- Thế à... Bà định cho cháu nhỏ cái gì?
- Một con vịt nhồi bông, chỉ sợ con nhỏ nó thức giấc rình thấy tôi thì hỏng hết.
- Thì nó sẽ thấy một Bà Noël chứ gì, còn xinh đẹp hơn nhiều.
Tôi kịp dừng lại vì lỡ lời nhưng bà Phương chỉ cúi đầu. Nếu bà không uống rượu, tôi có thể biết đuợc đôi má bà có phải đỏ bừng trước lời khen tặng tầm thường của tôi không. Bà Phương có vẻ lúng túng, bà đi lục trong cánh tủ đóng kín, một con vịt nhồi bông trắng tinh lông xù, có thắt chiếc nơ đỏ. Bà nhẹ nhàng trông chừng vào phòng ngủ, rồi ngồi xuống ghế trước mặt.
- Tôi phải đợi một chút cho con bé nó ngủ say đã.
Có lẽ bây giờ cũng khuya rồi. Tôi uống cạn ly, tiếc nuối nhìn quanh căn phòng đang chập chờn ánh sáng êm ái. Tôi đứng dậy nói với bà Phương lời cám ơn về bữa ăn ngon lành thú vị trước khi lên gác đi ngủ.
Đôi mắt bà Phương sâu thẳm một nét buồn mơ màng nào đó. Tôi ấp úng nói :
- Đêm nay tôi cũng ráng thức để chờ một ông già Noël, nhưng chắc không bao giờ có cả.
Giọng nói của bà Phương mềm lại, ngại ngần và nhỏ như hơi thở :
- Biết đâu...
Tôi lặng người nhìn sâu vào mắt người thiếu phụ. Đôi môi bà run run như thì thầm điều gì. Nhưng có lẽ không có điều gì cả, tôi tự nhủ không nên chờ đợi những chuyện thần tiên huyền hoặc nào. Tôi tránh đôi mắt bà và bỏ lên phòng. Quá nửa khuya, rượu thấm trong người đã dả ra hết làm tôi thao thức không ngủ được. Và có lẽ dầu không có lý do gì hết tôi vẫn khó ngủ, mắt nhắm lại, nằm lặng yên nhưng thỉnh thoảng tiếng chuông đồng hồ đánh bong bong ở nhà dưới vẫn vang trong tai tôi rõ mồn một.
Dĩ nhiên tôi không chỉ chú ý đến chiếc đồng hồ kiểu xưa đó thôi. Ở dưới nhà có một cái gì khác hơn nữa, đáng làm tôi băn khoăn hơn nhiều. Đó là bà Phương. Đầu óc của tôi trong đêm nay cô lẽ đi quá xa thật, nhưng biết làm sao, hình ảnh bà Phương đã nhẹ nhàng như một mũi kim đan vào người tôi, chiếc áo ấm tưởng tượng màu đỏ ấm áp.
Tôi vói tay lên đầu giường lấy một điếu thuốc lá, không biết là điếu thứ mười mấy trong hơn một giờ nằm rã rời này. Nhưng điếu thuốc vừa nằm trên môi tôi bỗng rơi xuống, tôi biết không bao giờ tôi có thể châm lửa điếu thuốc đó được nữa. Người ta chỉ có thể hút thuốc nhiều trong những lúc trống trải vô vị, nhưng căn phòng của tôi bây giờ đột nhiên tràn ngập mùi vị, như xông bằng khói thơm, tẩm ướt mùi hương hoa lạ lùng kỳ bí.
Bởi vì cửa phòng đã mở, bà Phương đi nhẹ vào không một tiếng động. Trong bóng tối chật hẹp đen đặc, tôi chỉ thấy lờ mờ cái bóng của bà Phương như một bóng ảo chập chờn hư thực, nhưng hơi thở, hay là mùi hương của người đàn bà chợt có trong phòng này, làm người tôi như những sợi dây căng lên, nhận rõ.
Bà gần lại tôi hơn, đứng bất động cạnh giường, không ai nhìn thấy nhau gì cả. Tôi nằm yên chờ đợi, giây phút dằng dặc như bước chân của người vũ công trong một cuốn phim quay chậm. Tôi nghe rõ tiếng thở của cả hai người dồn dập một lúc lâu cho đến khi hình như có vài sợi tóc của bà Phương rũ xuống chạm mơ hồ vào mặt tôi. Rồi giọng bà thì thầm, nhưng tôi nghe vang dội như nhịp trống đập mạnh.
-      Vớ của anh để đâu. Tôi đem quà Noël đến đây...
Tôi mỉm cười bí mật trong bóng tối, trả lời nhỏ như chỉ để một mình tôi nghe :
-      Tôi không thích những con búp bê nhồi bông gì đâu. Tôi... cần một người bằng xương bằng thịt.
Bà Phương sẽ không kịp nói thêm gì nữa. Tôi đã đưa cánh tay ôm lấy cổ bà, kéo xuống trên mặt mình, mái tóc ươn ướt như vừa mới gội của bà xỏa tung che khắp mặt mũi tôi, mát êm và đầy hương bao la thơm ngát của một hạnh phúc sâu thẳm nào, bao dung và che chở.
Tôi hôn môi bà đầu tiên ngắn và ngỡ ngàng. Bà khẽ kêu lên :
-      Đừng làm vậy với ông Già Noël chứ...
Tôi say sưa thì thào trong đầu : tôi hết tuổi để tin có ông Noël rồi... Tôi chỉ tin vào những gì sống thực…
Tôi và bà Phương hôn nhau những cái hôn dài; môi bà ấm nóng, mạnh bạo, tràn đầy hân hoan rạo rực. Và đêm đó, bà Phương đem đến cho tôi một món quà Noël vĩ đại nhất trên đời. Da thịt nồng nàn rộng lượng của người thiếu phụ, như được gói trong giấy bóng màu có cột dây sơ sài. Tôi đã lần mở rút thắt đó một cách nhẹ nhàng, vì món quà đầy tình nhân ái, đã sẵn sàng trao tặng.
Tôi thầm cám ơn một người nào đó mang tên là Chúa GiêSu, đã sinh ra cách đây gần hai nghìn năm, mà mỗi năm đều sống lại trong tâm hồn của hàng triệu người. Và đêm nay, cuộc phục sinh ý nghĩa nhất đã nỡ ra trong lòng tôi. Tôi cũng cảm ơn những huyền thoại về ông già Noël, người âm thầm đem đồ chơi cho những trẻ con dễ thương.
Đêm nay, thay vì ‘‘ổng’’ nhét búp bê vào đôi bít tất nhỏ của tôi (như thế thì ít quà quá), sứ giả yêu kiều nhất của ‘‘ỗng’’ đã rót vào lòng tôi ân sũng quí giá nhất mà một người có thể hưởng. Không phải chỉ cho những lời chúc mừng suông không nuốt được, những món đồ chơi tầm thường bán đầy ngoài cửa tiệm, mà là dâng hiến tất cả xương da run rẩy.
... Bây giờ, khi đêm sắp tàn... tôi chỉ mong người đóng vai ông già Noël tuyệt vời ấy, sẽ ở lại hoài với tôi chứ không lặng lẽ bỏ đi mất theo đúng như truyền thống.




Đăng nhập để trả lời
0
Lên Xứ Lạnh
Nhớ Mặc Thêm Áo Ấm
 
 
CHIẾC xe ca từ phi trường đưa anh về thị xã. Nhà cửa phố chật như thu nhỏ lại, co ro dưới những mái ngói đỏ. Đã hết mùa đông chưa, nhưng mùa lạnh đó có qua đi thì cũng bắt đầu vào mùa xuân, trời lạnh không kém.
Anh đi bộ trên con dốc cao, miệng lập cập thở đầy khói trắng. Trời không có ánh nắng, da thịt không giọt mồ hôi. Những người đi đường ở đây đều trở nên to lớn thùng thình trong mấy lớp áo ấm dày cộm, ngoài còn choàng áo manteau và khăn len quấn kín cổ. Riêng anh thì không, anh mặc áo sơ mi xăn tay lên tận cùi chỏ như thường lệ, cổ áo để hở; bít tất mỏng và bàn chân như đau buốt tê tái trong chiếc giày sắp rách đế.
Từ lâu, anh chỉ ở lì tại Saigon. Một thành phố nóng, rất nóng, tắm một ngày hai lần vẫn còn nhột nhạt mồ hôi. Áo mỏng bỏ ra ngoài, chân đi dép lè phè, mỗi buổi trưa nắng nung lửa Irong không khí làm anh không ngủ được, anh phải ra quán cà phê ba Tàu góc đường, gác chân lên ghế, mượn một tờ nhật báo rách nát in đầy chữ Tàu chằng chịt để phe phẩy quạt, và uống một chai bia lớn thêm với thật nhiều đá lạnh.
Nhưng ở đây, nghĩ đến những thỏi đá lạnh, những ly kem bốc hơi... trời ơi, anh thấy run ớn người như bị nhét cả một đống nước đá bào chảy tràn lan trên da bụng. Mặt mũi chân tay như se lại, mốc khô, da lấm tấm sần sùi như một đùi gà luộc, môi khô cứng sần sượng, điếu thuốc lá cháy tàn kẹp phỏng giữa kẻ tay một lát mới nhận ra.
Trời lạnh thì thú vị tuyệt vời rồi. Nhưng với điều kiện phải nhốt mình trong hai ba lớp áo ấm, hay cuộn mình trong chăn lơ mơ đọc sách, hay ngồi trong một phòng nhỏ ấm áp, tay bỏ vào túi quần, nghe nhạc, âm điệu dịu dàng bất tận, thêm một chiếc gạt tàn đầy ắp tàn thuốc lá... Xin thêm một bình hoa hồng hay hoa cúc cho có vẻ đông đúc quây quần, thêm một cánh cửa sổ nhìn ra hàng trăm mái nhà dưới chân đồi, dưới thung lũng. Và thêm nữa… thêm nhiều nữa, hai bàn tay giá lạnh siết chặt quấn quýt mười ngón đan vào nhau, và ngón áp út của nàng xin hãy khoan đeo nhẫn cưới hỏi gì hết. Cũng còn thiếu, xin thêm nữa... một nụ môi hôn chết điếng người không chịu dứt ra cho đến khi rã rời. Thêm nữa, hơi ấm nóng rực của thân thể nàng ôm chặt, mềm mại theo làn áo len có những sọc nhỏ. Cứ ôm nhau như thế mãi, người nàng ấm lắm, nhất là ở chỗ trước ngực và lũng sâu, những chỗ kín đáo bí mật nhất là những hang động sâu thẳm sung sướng ngất người.
Và cứ xin thêm nhiều nữa (phải biết đòi hỏi, phải mở miệng xin mới có chứ) cho đến lúc cả hai hợp tác với nhau đuổi cái lạnh chạy dài mất biệt, không ai còn thấy lạnh nữa, không cần áo ấm, khăn quàng gì nữa, không cần bất cứ một mảnh quần áo gì cả trên người... À, lúc đó, ái tình, mặt trời đỏ ối chói lòa trong miền tuyết giá. Ái tình, mặc áo len thượng hạng bằng da gấu cho những thân thể trần. Chà... anh phải ghi nhớ điều này vào trong óc mới được: không phải chỉ có bốn mùa xuân hạ thu đông mà thôi, còn có thêm một mùa thứ năm nữa, mùa ái tình, ở xen lẫn chen chúc trong tất cả bốn mùa kia, và nó không lạnh run, không nắng cháy, không lá rụng, không hoa nở gì cả. Mùa ái tình chắc chắn không phải là mùa lạ lùng nhất, nó trộn lẫn tan hòa vào nhau tất cả những hoa lá, ánh nắng, gió mưa. Tuyệt diệu biết bao.
Nhưng đáng buồn thay. Giờ đây, lủi thủi một mình ở Cao Nguyên vào lúc sáu giờ chiều, những điều trên đây chỉ là ảo ảnh. Như trong chuyện bằng hình màu, có gả thuyết trưởng rậm râu khát nước cháy cả cuống họng ở sa mạc, mắt nhấp nhem thế nào mà trông chú nhỏ Tin Tin hóa ra một chai rượu vang quý lâu đời,
* *
Anh đứng ngơ ngác giữa phố, chợ chiều vắng người dần. Thành phố sửa soạn mau chóng cho một đêm xuống, chắc là phải rất âm u hoang vắng. Vì ở đây có gì đâu, không ánh đèn màu của phòng trà, rạp hát bóng thưa thớt người, lạc lõng vang một bản nhạc xưa cũ nghe rè rè, thiếu những hàng quán lấp lánh ánh sáng sau lớp kính thủy tinh choáng lộn, đường vắng hẳn bộ hành dạo chơi qua lại. Ở đây, vào buổi tối, nghe nói người ta chỉ tự hợp bên cạnh lò sưởi, cửa ngõ đóng sớm vì chẳng mong ai đến thăm nhà trong lúc này.
Thế mà trước khi hai cánh cổng lởm chởm những cọc gỗ nhọn được kéo ập vào nhau, bao quanh bằng một sợi dây xích sắt. Trước đó chỉ một phút, trời chưa tối hẳn, anh đã lách mình vào kịp.
Đống củi chất ngỗn ngang trong sân nhà với một cây búa dùng để chẻ củi vứt cạnh bên, hình ảnh đó làm anh thấy ấm lòng. Dấu hiệu hứa hẹn những thanh củi và diêm bào đốt bùng trong lò sưởi, lửa mầu huyết dụ nóng ran người và lung linh.
Cây hoa anh đào trong vườn không cho thấy màu hồng thắm vì đã khuất lấp trong bóng chiều tà. Những bông cúc dại có lẽ là mầu tím, vương vãi trên bồn cỏ và hai bên cổng vào sân.
Anh hút thêm một điếu thuốc, ngồi xuống trên một đống củi lớn, bồn chồn nhìn quanh quẩn khắp ngôi nhà. Chẳng có gì lạ, sau vài ba năm anh không thấy mặt nó.
Cũng mái ngói đỏ, dầu ủ dột mầu rêu buồn bã, tường vẫn quét màu vôi hồng, loang lỗ lợt lạt nhiều chỗ, những cánh cửa đều đóng kín và tối đen, chỉ trừ một chút ánh sáng vàng hắt ra từ một khung cửa cao, ở tầng gác trên.
Chỉ có thế, và dĩ nhiên vẫn còn cây cầu gỗ nhỏ làm lối ra vào vì ngôi nhà tình cờ xây ở một nơi cách mặt đường một bờ ao khá sâu. Những thanh gỗ xếp làm chiếc cầu tạm đã mục, trơn trợt và rung rinh dưới bước chân anh, anh không chắc nó sẽ không sụp đổ dưới những bánh xe bò.
Nhưng dầu sao, anh đã vào sân nhà rồi, chần chờ một lát; gió rít từ những cánh rừng chung quanh thổi mạnh thêm. Thị trấn ngoài kia như mất hút, biệt tích trong lòng thung lũng tối, dầu lốm đốm mỗi nhà một ánh sáng nhỏ, nhưng mù mờ xa xăm quá.
Anh không chịu nỗi cái lạnh, anh tê điếng người và nghĩ rằng mình sẽ trở thành một cây mùa đông chết cứng nếu cứ ngồi ngoài trời như thế này mãi. Anh vòng tay trước bụng, gù gù mình xuống thấp cho bớt lạnh, rồi lóng cóng bước lên bực thềm, Tay anh gỏ vài tiếng e dè ngoài cửa kính. Tiếng động cọc cọc gởi trả lại cho một mình anh. Anh tiếp tục gỏ cửa, tiếng động mạnh mẽ nôn nóng hơn nhưng cũng trả lại trong tai anh một cách buồn bã.
Anh ngước mặt trông ngóng ánh sáng duy nhất từ căn phòng trên. Nhưng mọi sự đều bất động, căn nhà vẫn đầy bóng tối ù lì câm nín.
Anh đấm cửa bằng bàn tay nắm chặt lại, tấm cửa gỗ mỏng manh nhưng anh có cảm tưởng như một bức vách dày cứng.
Anh lặng người muốn khóc, áp mặt vào cửa, mắt nhắm nghiền lát lâu rồi lại mở ra trừng trừng cố nhìn xuyên qua những kẻ hở của cánh cửa. Tối đen. Anh mở miệng định la lên, định gọi tên một người bỗng anh sợ hãi dừng lại. Anh không xứng đáng gọi tên người đó.
Anh mệt lã người trong cơn đói và lạnh, đầu gối anh lại quỵ xuống dần. Anh sắp sửa thiếp ngủ dưới mái hiên, bỗng ánh đèn đột ngột bừng sáng trong nhà, lan ra từ khe cửa. Có tiếng chân người rón rén tiến lại gần cánh cửa. Anh mừng rỡ gõ thêm vài tiếng. Bên trong hình như có tiếng thở mạnh lo sợ. Rồi tiếng nói cố gượng vẻ cứng cỏi vẵng ra.
- Ai đó ?
Anh đã nhận ra tiếng đàn bà quen thuộc ấy. Sợ hãi lẫn vui mừng nôn nao hỗn loạn trong người anh. Anh ấp úng cố trả lời :
- Tôi...
Bên trong lại rơi vào cảnh lặng thing nghe ngóng. Anh lắp bắp nói tên mình cho người đàn bà trong nhà biết. Một lát sau. Ở trong vẳng ra tiếng nói, hết vẻ lo lắng nhưng nghe rất khô khan lạnh lùng, và chính điều đó làm anh giá lạnh hơn cả. Hơn tất cả. Núi rừng, mưa, gió, đêm mùa đông... đều ít lạnh hơn tiếng nói thân thiết nhưng giờ đây sắc nhọn đâm đau vào lòng anh.
- Anh về đây làm gì nữa ?
Anh run rẩy nói nhỏ:
- Anh không biết... Em mở cửa cho anh vào.
- Nếu không biết thì vào làm gì ?
- Anh lạnh... ở ngoài này trời lạnh lắm.
- Tôi biết, đây miền núi mà.
- Nhưng bây giờ trời lạnh quá, hơn lúc trước nhiều... Em, đã hết mùa đông chưa ?
Có tiếng hứ giọng rồi tiếng mai mĩa:
- Anh mà còn để ý đến mùa đông mùa thu gì à ?
- Thôi... em. Anh sẽ nói chuyện nhiều sau... nhưng mở cửa cho anh vào đã... em, nhà còn lò sưởi chứ
-      Còn. Nhưng tôi tắt lửa rồi, mấy lúc này hay đi ngủ sớm.
-      Để anh chụm lửa lại, nhưng... anh phải vào nhà đã. Mở cửa cho anh...
 Dằng co giữa hai người một lúc lâu, và anh nghĩ rằng mình sẽ chết mất nên bao nhiêu hơi nóng hiếm hoi còn sót lại trong người cứ bay mất theo nhưng lời van xin năn nỉ. Anh im lặng không nói gì thêm nữa, thân hình anh tựa sát vào cửa, tay gỏ trên lớp gỗ một cách đều đặn đến chai lì.
Bỗng chốc có tiếng chìa khóa lách cách trong ổ, cánh cửa hé mở cùng với giọng nói của một người đàn bà :
- Vào đi. Tôi cho anh năm phút thôi rồi anh đi đâu tùy ý.
Anh chạy ào vào trong nhà, cổ lết dẩn chiếc ghế hành để thả rơi người xuống co ro trong lòng nệm ấm. Anh đưa cả hai cánh tay vào lò sưởi nhưng như lời nàng nói, lửa đã dụi tắt lừ lâu. Anh quỳ gối xuống sàn nhà khom mình khơi diêm bào phủ lên những cây củi thông nhỏ cháy nửa chừng, anh quẹt diêm châm lửa, phút chốc, lò sưởi bùng lên ánh lửa đỏ nhảy nhót hơi nóng cuồn cuộn thấm dần trên da thịt anh.
Anh cảm thấy dễ chịu đôi chút Bây giờ anh mới quay đầu lại nhìn người đàn bà.
Nàng nãy giờ vẫn đứng yên, hai tay thu dấu dưới tấm áo choàng xám thùng thình dài đến tận gót. Nàng nhìn thẳng vào mắt anh, và ánh mắt nàng lạnh lẽo như một giọt mưa đá.
Ngày ấy... có lẽ rằng mới hơn hai mươi tuổi, thế mà chỉ mới vài năm qua, trông nàng đã mệt mỏi già dặn như một bà góa phụ. Tóc nàng, ngày xưa đen nhánh chảy mềm thân yêu trong tay anh, vì anh đã có dịp cài trên đó một bông hoa sứ trắng... giờ đây mái tóc nàng bịt kín trong tắm khăn quàng đầu. Thân hình nàng cũng thay đổi hay có lẽ anh không thấy được vẻ mảnh mai mềm mại khi chiếc áo ấm dày màu đen che phủ tất cả.
Nàng làm anh đau lòng, ngày xưa nàng đâu có tiêu điều như thế này. Anh gượng mỉm cười với nàng, hai tay đưa về phía nàng như muốn ôm trọn tấm thân nồng nàn yêu dấu ấy trong tay.. Nhưng nàng đã quay mặt đi giận dữ.
Anh chợt thấy trên sập tủ gần anh có đặt một chiếc bình sứ cũ cắm vài bông hồng màu vàng, ngày xưa nàng đâu thích loài hoa này. Gần đó là một chiếc máy hát kiểu thật xưa, có một đĩa hát đầy bụi đang đặt sẵn sàng trên máy, hình như nàng vừa nghe một đoạn nhạc nào đó nửa chừng rồi tắt.
Anh cũng muốn nghe một chút nhạc trong lúc này nhưng anh không dám cử động gì nhiều. Không khí trong phòng, dầu bây giờ đã ấm áp chút ít nhờ ngọn lửa và tiếng nổ tí tách của củi, nhưng vẫn còn căng thẳng như sắp sửa nổ bùng tan vỡ nếu anh có một cử động mạnh bạo nào.
Anh duỗi chân ra cho đỡ tê cóng, hơi ấm đã dần dần trở lại trong người anh. Anh ngậm một điếu thuốc, châm lửa từ lò sưỡi nóng rực. Khi anh quay lại, nàng đã bỏ đi đâu mất, đèn dưới bếp chợt sáng lên và anh nghe thấy những tiếng vui tai của ly tách chạm nhau.
Lát sau, khi anh mơ màng thiếp ngủ, một chiếc tách dằn mạnh trên thành ghế cạnh anh làm anh giật mình nhổm dậy. Nàng lạnh lùng chỉ vào tách cà phê đang bốc khói và một mẫụ bánh mì, miếng phó mát trắng nhỏ. Anh mỉm cười cảm ơn nàng nhưng nàng vội quay lại, đưa tấm lưng câm nín trước mặt anh. Anh vội vã nhai bánh mì rào rạo thật ngon lành trong khi bụng đói. Và sau cùng là một hớp cà phê nóng.
Bây giờ, mới có tiếng nói của nàng :
-      Mấy năm nay anh làm gi ?
Anh đặt tách cà phê xuống bàn, bối rối :
-       Anh viết... một vài thứ, có lẽ anh là... nhà văn.
Giọng nàng mỉa mai :
-       Chà... nhà văn, chữ nghĩa... nghề đẹp lắm. Nhưng anh đã viết được những thứ gì?
Anh gượng cười, lúng túng:
- Anh viết... những chuyện tình.
Nàng bĩu môi tỏ vẻ khinh miệt, tiếng nói nàng chuạ chát :
-      Chuyện tình? Anh mà biết gì về tình yêu?
Anh không trả lời nàng được. Anh cúi đầu lặng thinh xấu hổ. Phải, nàng nói đúng, anh mà biết gì về tình yêu.. Ngày đó anh và nàng có nhau, gần gũi trong tay, anh suốt ngày thủ thỉ bên tai nàng những lời yêu thương ngọt ngào, và dìu nhau trong hoàng hôn êm ái trên những con đường mòn của đồi thông vắng lạnh, bên hồ, quán cà phê, thung lũng... Anh đã nói tiếng yêu cả triệu lần cho nàng, một đêm thân xác nàng hừng nóng trao phó cho anh đang cuồng si ham muốn, đêm đó vào mùa thu, thân thể cả hai tan tành trong nhau không gìn giữ lại một chút gì và anh đã nhắc đến một hôn lễ vào mùa đông sắp đến. Thế rồi, anh bỏ nàng, bỏ tất cả những dấu chân đã in trên lớp đất đỏ miền núi này, anh lao đầu xuống những thành thị lộng lẫy quyến rũ với tham vọng, tiền bạc, những gái chơi giang hồ qua đường... và gì nữa... và những ánh sáng ma quái thu hút anh làm con đôm đốm vật vờ trong nhiều năm cho đến ngày ngả gục, xơ xác trở lại đây. Như thế, anh làm sao còn dám nói gì về tình yêu ?
Nàng ngồi xuống trên ‘‘đi văng’’, nhưng cách anh một khoảng xa, nàng tiếp tục hỏi :
-      Anh có viết gì về cái chết không ?
-      Chưa
-      Dĩ nhiên rồi. Anh mà biết gì về chết chóc. Mẹ tôi đã buồn rầu và sinh bệnh vì tôi, vì anh. Bà mới chết năm ngoái.
Trời còn lạnh nhưng vài giọt mồ hôi lấm tấm trên trán anh. Anh ôm lấy đầu như muốn bịt kín trí não lại, không dám nghe điều gì nữa.
Nhưng giọng nàng vẫn tiếp tục lạnh giá sắc bén như trong ngày phán xét.
-      Anh có viết gì về đau đớn, và tội ác không ?
-      Chưa...
-      Bởi vì anh chẳng biết gì về chuyện đó cả. Anh nhắm mắt làm lơ vô trách nhiệm, vô tội vạ để chỉ mình tôi hứng chịu...
Giọng nàng chợt run rẩy nhưng nàng cố gượng tỉnh táo và bình thản để tiếp tục :
-      ...Tôi phá thai rồi đó. Chắc anh không biết mình đã có một đứa con... không... chưa phải, chỉ mới một cái bào thai mấy tháng.
Mồ hôi chảy dài trên sống lưng làm anh rùng mình lạnh buốt. Anh ngã quỵ trước lò sưởi, cho cả hai bàn tay vào gần như nắm lấy những thanh than củi cháy rực nhưng vô ích, cái lạnh đã trở lại và lần này không có một lò sưởi nào xua đuổi được.
Có lẽ nàng vừa chùi vội nước mắt trong tay áo nhưng nàng ngẫn đầu lên ngay, nét mặt cứng cỏi trơ lạnh. Nàng nhích mép, không phải là để cười, môi nàng chỉ toàn là dấu hiệu khinh miệt :
-      Anh là một nhà văn tồi.
Anh đau đớn lặng người như vừa bị ai đánh mạnh vào một vết thương cũ. Tính anh nhạy cảm đến độ mỗi khi nghe thấy một lời chê bai nào dầu nhẹ nhàng đến đâu, cũng làm anh buồn bã. Nhưng lần này, những lời nói của nàng đánh thốc vào bụng anh dữ dội làm anh đau nhói.
Bởi vì anh biết nàng nói đúng. Rốt cuộc, anh là một nhà văn tồi, một kẻ tồi bại, một người huyênh hoang kênh kiệu với những điều rỗng tuếch trong khi chân hụt hẵng dưới hố sâu, sẽ làm anh tan xác bất cứ vào lúc nào.
Anh đã sống, đã biết, đã thông cảm được gì với Tình Yêu, Cái Chết, Đau Đớn, Tội Ác...? Thế mà anh đã nóng nẫy vội vàng đuổi theo tiếng cười giả tạo hời hợt bên ngoài, đã được nghe những tiếng vỗ tay hoan nghênh của đám người bỏ tiền ra mua vui trong chốc lát. Anh thua kém nàng xa. Nàng ôm ấp một mình với nỗi đau đớn bao la của nàng, còn anh lố bịch đi rêu rao những lời ngọt ngào mua chuộc.
Tiếng chuông đồng hồ bỗng đánh kinh cong rời rã. Giọng nàng quyết liệt:
- Đã quá năm phút rồi. Tôi sắp đi ngủ. Bây giờ anh có thể đi, khỏi cần lén lút như trước nữa.
Anh thẩn thờ đứng dậy. Lò sưởi đã tắt vì anh không buồn chụm thêm củi. Anh nghĩ đến trời đêm cao nguyên rét lạnh khủng khiếp bên ngoài, và có lẽ trời đang mưa lất phất. 
Nhưng anh không còn mặt mũi nào để cầu xin một xó nhà ngủ lại nữa. Anh run rẩy tiến đến cánh cửa đã mở sẵn, có nàng đứng chờ đợi bên cạnh. Một ngọn gió từ ngoài kia, có lẽ từ trên đồi, thổi hắt vào làm người anh gập đôi xuống muốn gãy vụn ngã nhào trên sàn nhà. Nhưng lần này, anh cắn môi cho đến bật máu, cương quyết ra khỏi nhà.
Nàng chăm chăm nhìn anh, nàng bỗng nói, vẫn không có một chút dịu dàng nào cả.
- Chờ một chút. Tôi đi lấy cho anh một cái áo ấm cũ. Tôi không muốn thấy sáng mai anh nằm chết cóng trước sân.
- Anh sẽ cố đi xa khỏi nhà, càng xa càng tốt... Gần đây chắc có khách sạn nào...
- Tôi không biết.
Anh ra khỏi nhà, đứng dưới mái hiên chờ nàng. Trong chốc lát, nàng đi ra, đưa cho anh một chiếc áo len kiểu đàn bà sờn cũ, áo lông cừu màu xanh nhưng đã rách nhiều chỗ, nhất là ở hai cùi chỏ.
Anh nói cảm ơn nhưng không mặc vào, và bước đi. Giọng nói nàng nhỏ lại sau lưng anh:
- Mặc vào đi cho khỏi chết rét. Và... lần sau... lên xứ lạnh, nhớ mặc thêm áo ấm.
Anh quay đầu lại:
- Có lần sau... nào nữa không ?
Nhưng nàng đã đóng ập cửa. Một lát sau, cửa sổ duy nhất có ánh sáng, phòng nàng, cũng tắt đèn. Ngôi nhà đen lầm lì như nấm mồ.
Anh đã bước ra đến đường, không quên đóng kín lại ngõ vào như sợ rằng mình sẽ yếu đuối trở lại.
Trời tối đen, lạnh kinh hồn, dễ sợ.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 20.06.2021 20:04:58 bởi Ct.Ly>
Sông Kỷ Nữ
 
 
Ở HUẾ, mỗi lần muốn đi chơi bời thường phải xuống ngủ đò. Nhà chứa trên bộ, như những xóm và đường hẻm ổ nhện kiểu Saigon, ở đây hiếm có lắm. Bởi vì thành phố nhỏ quá, mọi người điều biết rõ mặt mũi nhau. Đi đâu, làm gì dầu trong góc ngõ tối nào, dầu có đề phòng chu đáo đến đâu thế nào cũng bị mọi người thấy được.
Và khi bị bắt được đang đi tìm cái chuyện đó thì, thôi không đường cứu chữa. Bao nhiêu phong tục cổ kính, danh giá, đạo đức truyền thống thi nhau ập xuống nạn nhân như một màn lưới khắc nghiệt.
Bởi thế ngủ đò là kín đáo nhất. Tôi là người kín đáo nên vào một đêm nào đó... Chiều mới tắt ánh nắng, gió mát dịu dàng, buồn nản quá mà lòng thì rạo rực. Tôi đi nhanh vào bóng tối âm u dưới những lùm cây che đậy rộng rãi, xuống bến Thương Bạc.
Mụ Xép đang ngồi trên chỏng tre, chỗ tạm trú để rước khách của mụ đặt cách bờ sông một quãng. Đò cắm sào nằm san sát bên nhau, mù mù ánh đèn dầu.
Mụ Xép lấy điếu thuốc Cẩm Lệ đang bẹp dí trên miệng :
- Chà, lâu lắm mới thấy ‘‘thầy’’ đi chơi.
- Ờ...ờ. Tiền đâu mà đi chơi hoài được. Còn đò nào trống không ?
-      Còn cả lô đó. Mà thầy có bạn bè gì không?
-      Không tôi đi chơi một mình,
Mụ Xép gục gặc đầu. Mụ kêu một thằng nhỏ dẫn đường cho tôi, bước trên tấm ván bấp bênh nối liền bến sông với khoang, đò. Tôi nằm dựa người trên sàn gỗ, hút thuốc lá thong thả chờ đợi. Lát lâu, mụ Xép mới xuống đò, mụ ra mui trước, nhổ sào. Tiếng chèo róc rách quậy dưới nước, đò từ từ tách bến. Giọng nói của mu Xép pha thêm tiếng cười cợt từ khoang trước vọng ra :
-      Thầy ngủ ‘‘chay’’ hay ngủ ‘‘mặn’’?
-      ‘‘Mặn’’. Ngủ xuông không có cô nào thì thà nằm nhà còn hơn.
Giọng mụ oang oang kêu lớn :
-      Con ơi !
Có tiếng ‘‘dạ’’ đâu đó rồi trong thoáng chốc, một chiếc ghe loại thật nhỏ, nhẹ, lướt thoăn thoắt tài tình giữa một đống đò nằm chật chội bên nhau. Cô gái, con của mụ Xép, cập ghe nhỏ của cô vào mạn đò. Cô không hút thuốc Cẩm Lệ như mẹ nên tôi không cảm thấy nồng nặc khó chịu khi cô gần bên tôi, mỉm cười :
- Bữa nay thầy kêu cô nào ?
- Tôi đâu nhớ hết ai. Kêu giùm ai cũng được...
Và tôi níu đò của cô gái lại, bông đùa :
- Nếu có ai đẹp bằng một chút xíu của cô thi tốt lắm.
Cô gái nghiêm nét mặt lại. Mặt cô hơi ửng đỏ nhưng vì giận dỗi hơn là e thẹn. Rồi cô chèo đò vút nhanh đi mất hút trong bóng đêm.
Tôi nhìn theo, nhưng chẳng còn thấy được gì. Cô gái thật lạ lùng, công việc rước gái về cho khách làng chơi của cô dĩ nhiên không được đứng đắn lắm, nhưng tôi thấy chẳng có khách nào cợt nhã chọc ghẹo gì cô được một tiếng.
Trong thế giới lạc thú rã rượi của những con đò trên sông, cô có vẻ như là một cánh sen trong bùn. Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn, tôi không biết cô còn giữ được người thanh sạch cho đến bao giờ, trong khi mẹ cô là một bà chủ đò kiêm chủ chứa, vây bọc chung quanh cô mỗi ngày mỗi đêm là những ả gái điếm dày dặn thô lỗ.
Thế rồi, không lâu lắm, trước khi gió nhè nhẹ làm tôi buồn ngủ, cô gái chở đến cho tôi một ả gái điếm. Tôi không nhìn thấy mặt và cũng chẳng cần nhìn thấy mặt cô nàng này.
Mụ Xép chèo đò ra xa hơn chút nữa. Tách khỏi những con đò nằm chật chội, chiếc đò mang tôi và ả gái điếm từ từ trôi trên sông. Chỉ ra thêm một chút thôi, để cách xa với tiếng nói cười ồn ào của những con đò đồng nghiệp khác, rồi mụ Xép cắm sào, buộc đò dừng lại. Thời này đâu còn có thể cho con đò mặc tình buông lơi tha hồ trên dòng sông trôi suốt đêm cho đến tận cầu Bạch Hổ hay ngược về phía Cồn Hến.
Ả gái điếm xin tôi điếu thuốc lá, tôi thắp lửa cho cô nàng để thêm một chút thân mật. Tôi ôm ả nằm xuống khoang đò, da thịt vuốt ve sơ sài lấy lệ cho một chút cảm giác lơ mơ. Tôi không thấy khoái lắm. Đi chơi điếm mỗi lúc mỗi thấy chán, nhưng còn có cách nào khác hơn đối với người độc thân, vì đó là cách thỏa mãn nhanh nhất và rẻ tiền nhất, và do đó, thật vô vị trống rỗng nhất sau một chút sướng khoái ngắn ngủi.
Nhất là gái điếm ở Huế. Thành phố cổ kính phong phú này không xuất sắc về mục đó. Dân địa phương ít người dám làm nghề này, và gái điếm ở đây hầu hết là những cô nàng đã xơ xác ế ẩm ở những động rẻ tiền từ Saigon, phải lưu lạc đến tận chốn này thap hương cầu thực,
Cô nàng rúc đầu vào ngực tôi nghịch ngợm, rồi vùng dậy ôm lấy mặt tôi định hôn. Tôi cũng ôm chặt lấy mặt ả nhưng cốt chỉ để không cho cô nàng hôn được. Miệng tôi đầy khói thuốc lá, thôi cũng được đi. Nhưng thêm một cái miệng đầy thuốc lá đủ hiệu : thuốc thơm Mỹ, thuốc Ăng Lê, thuốc đen gốc Pháp, thuốc Cẩm Lệ... của cô nàng thì không được một chút nào.
Cô ả ỏng ẹo :
-      Sao anh không hỏi tên em ?
-      Ờ... ờ... Em tên gì đó ?
-      Lệ Hoa.
- Ờ, Đẹp như hoa. Rồi sao nữa ?
Cô nàng thở dài :
-      Trước kia em đâu có như thế này. Anh biết không, hồi đó ..
Tôi biết nàng sắp tâm sự về quá khứ ly kỳ của nàng như thuờng lệ. Nhiều khách chơi thường thích lắng tai nghe dĩ vãng của các cô nàng, thường thắc mắc ra điều ái ngại hỏi han tại sao em lại ra đến nông nỗi này, bao lâu rồi và em hãy hoàn lương trở về.. v.v... Những ông khách đó kể ra cũng nhiều tình cảm thật, mặc dầu thỉnh thoảng là vì họ bí đề tài, nếu họ là những thi sĩ và văn sĩ.
 Tôi ngăn lại. Cô nàng có vẻ bực bội vì không được kể lể cho sướng miệng, và cằn nhằn dục tôi :
- Thôi, vào ‘‘đi’’ lẹ cho rồi, anh.
Tôi gật đầu, vén tấm màn vải chui trước vàọ khoang đò. Một tấm chiếu đã được mụ Xép trải sẵn đó, thêm với ánh sáng từ ngọn đèn dầu trên bàn. Cô gái điếm hành động như một cái máy, ả đem chiếc thau nhỏ ra múc nước sông đem vào để ở một góc. Rồi ả kéo tấm màn vải đóng lại. Một khoảng trời đêm cao vời đột ngột bị che kín. Ả cầm lấy cây đèn dầu, hỏi tôi :
-      Anh thích để đèn sáng hay tối.
-      Tối.
Tôi định nói thêm ‘‘… đối với em’’ nhưng thấy như thế thì tàn nhẫn quá nên kịp ngừng lại. Có những cuộc ái ân cần phải để ánh sáng rực rỡ chói lòa cho mình hưởng trọn da thịt nồng nàn kỳ diệu của đàn bà, không bỏ sót một chút nào, kể cả mắt say sưa nhìn ngắm thân thể mình và người khác nối liền tan hòa với nhau, nhịp nhàng đồng điệu. Nhưng đối với ả gái điếm này, ánh sáng chỉ đem lại cảm giác chai lì trân tráo. Phải mù mới có thể làm tình với cô nàng được.
Trong bóng tối đen đặc của khoang đò. Tôi và cô gái điếm, làm cái chuyện thông thường. Có lẽ cô nàng đang nghĩ đến số tiền năm trăm đồng chốc nửa sẽ lấy của tôi. Tôi thì đang nghĩ đến năm trăm đồng mình sắp mất. Và cứ thế, cả hai cứ gấp rút cho xong chuyện. Đâu còn cái thời những nàng kỷ nữ với tiếng hát truân chuyên bên tiếng đàn tiếng phách và nhịp trống chầu. Kỷ nữ ngày xưa còn biết dùng dằng lưu luyến khách ở lại cùng em thêm chút nữa...
Thời nay, những nàng ấy sa sút quá rồi, chỉ còn là thúc hối, vội vàng, càng nhanh càng tốt. Như cô gái đang nằm trong tay tôi. Áo đầy mùi mồ hôi, quần đen rộng thùng thình, lại chỉ được buộc bằng một thứ giải rút gì mà tuột ra nhanh quá.
Nỗi ngất ngây đắm đuối của tình ái, bí nhiệm của thân xác người nữ, xúc cảm lớn lao và sâu đậm của hoan lạc... Những điều tuyệt vời ấy ngày nay đã dần dần mòn mỏi, mất mát. Những nhà nghệ sĩ lớn nhất của thời đại là những kẻ đem hết đời mình để cứu vãn điều ấy. Tôi muốn sát cánh bên họ... Nhưng đêm nay, tha lỗi cho tôi, tôi lập lại một cách nhàm chán hành động tẻ nhạt đó.
 Xong xuôi. Cô gái chồm dậy, lại gần thau khoát nước rửa sơ sài. Rồi ả vén màn, ra trước mui đò, đổ thau nước xuống sông. Một chút nước tan mất lẹ làng, không một dấu vết trong dòng sông đang lềnh bềnh với những khóm lục bình trôi nỗi. Sông Hương, dòng sông ban đêm man mác huyền hoặc, soi sóng sánh dưới làn nước đen thẩm, là hình ảnh vỡ nát của bộ mặt phấn son cười gượng gạo.
Dòng sông. Ban ngày thì thắm thiết một màu xanh, sóng nước gợn nhẹ lung linh trong ánh nắng.
***
Giọng mụ Xép vẳng ra từ mui trước :
- Con ơi !
Lần này không có tiếng trả lời mau lẹ như trước.
- Sương ơi, Sương...
Bây giờ tôi mới biết có con gái mụ Xép tên Sương. Mập mờ trong bóng đêm, có lẽ từ bến nước, con đò nhỏ của cô lại lầm lũi tiến ra thoăn thoắt.
Ả gái điếm véo vào tai tôi ra dấu từ biệt, cô nàng xuống đò nhỏ, và còn nheo nhéo thêm vài câu với tôi, vài lời gượng tình tứ một cách giả lả. Tôi vẫy tay chào, thắp cho nàng thêm điếu thuốc. Lúc đó, tôi bỗng bắt gặp đôi mắt của cô Sương nhìn tôi. Tôi không thấy rõ lắm vì mặt cô cúi gằm xuống nhưng hình như ánh mắt cô ấy có một dấu hiệu gì tỏ vẻ buồn rầu. Điều này làm tôi đau lòng, như vừa phạm tội trước một người chứng nghiêm khắc. Tôi cũng hơi ngạc nhiên nữa, một người chuyên chở gái về cho khách như cô Sương, đáng lẽ cô phải thản nhiên lạnh lùng lắm đối với những cảnh màu mè gai mắt như thế này.
Nhưng rồi tôi không biết thêm điều gì cả. Con đò của cô Sương, mang theo một gái giang hồ, đã quay đi và lùi xa dần, mất hẳn trong một xó tối bí mật nào.
Cách một tấm ván che ngăn đôi khoang đò ra làm hai, tiếng mụ Xép vọng ra :
-      Vui vẻ không thầy ?
-      Ờ, cũng tạm được.
-      Lát nữa có ghe bán đồ ăn chèo qua, thầy kêu vài hột vịt lộn ăn cho chắc bụng rồi ngủ cho khoẻ,
-      Ờ. Mà cô Sương...
Giọng mụ Xép có vẻ hãnh diện :
-      Con nhỏ đó hả ? Nó siêng năng lắm, thầy. Còn đi đây đi đó đến nửa đêm rồi về đây ngủ với tôi.
Tôi ngần ngại :
-Cô ấy cũng còn nhỏ. Ban ngày không đi học hay làm gì à?
- Thôi, thôi. Tốn tiền lắm, có được một đứa gái lớn, nó phải lo chợ búa nấu nướng giặt gụa. Ban đêm, mời khách giúp đở tôi chút chớ.
Mụ Xép chợt yên lặng. Có lẽ mụ đang nghĩ ngợi đến đứa con gái độc nhất của mụ. Không biết mụ có lo nghĩ phải kiếm cho con mình một tấm chồng tử tế, hay cứ để nó tiếp tục sống đều đặn ở bến đò đêm này mãi, bên cạnh những loại vạc ăn sương và mình thì lẽ loi rũ rượi như một con chim cú.
Có lẽ bây giờ đã đến nửa khuya, nhưng tôi không buồn ngủ. Ả gái điếm đã đi khỏi, giờ đây chắc cũng đang lập lại những động tác quen thuộc trong một khoang đò khác. Gợi chuyện, tâm sự kể lể, hôn hít, múc thau nước sông, cởi áo quần, tắt đèn... thắp đèn, đổ thau nước xuống sông, nhét tiền vào ngực áo... rồi đi đò khác. Tôi kinh hoàng vì những công việc chai lì máy móc như thế. Nhưng cô nàng biết làm sao hơn.
Một chiếc ghe nhỏ không mui, ngọn đèn le lói trong bóng tối tiến lại gần. Không phải là của cô Sương. Đây là chiếc ghe bán hàng rong như lời mụ Xép đã nói. Bà già chèo đò tấp sát lại, mời ăn, những món ăn ngon lành dành chờ khách chơi khuya thường hay đói bụng. Nồi bún bò bốc khói đặt khéo léo trong lòng ghe, lúc nào cũng giữ cân bằng thật tài tình, và hột vịt lộn, khô mực, đùi gà vịt, vài lon bia hộp, nước đá đã chặt thành từng thỏi chứa trong bao.
Tôi chỉ mua một chai bia lạnh. Rồi tôi dựa người trước mui đò. Trời tối. không phải mùa thu hay ngày rằm để có trăng. Đêm bỗng im bặt, lặng thinh. Chân cầu Trường Tiền xa xa lầm lì, những ánh đèn của thành phố trên kia tụ lại thành một đốm sáng, hay rải rác nhỏ nhoi dọc theo bờ sông. Trên bờ, cả thành phố đang say ngủ. Những cô trinh nữ đang yên giấc trong cánh cửa đóng kín, mộng hiền hòa dưới vầng trán phẳng chưa một nếp nhăn, mà đôi môi biết có vô tình thầm thì lời mời gọi nào.
Chỉ có những con đò là lặng yên nằm an phận khép nép dưới bến riêng, như một đảo hoang nằm bên ngoài thế giới. Mỗi con đò cũng có sơ sài chiếu mền, như một mái nhà, nhưng làm sao được như một mái nhà. Đò bềnh bồng trôi nổi, mảnh mai trong mùa đông có nhiều đêm mưa bão. Dưới chân, chung quanh, thiếu đất đai vững bền ấm áp để có thể ươm vài loài cúc tím hay trong một luống khoai xanh lá. Mọi thứ đều đổ xuống dòng sông, mà dòng sông thì luân lưu, trôi đi, trôi xa bất tận...
Có tiếng chạm nhẹ vào mạn đò làm tôi giật mình. Cô Sương cột chiếc ghe nhỏ của cô sát vào đò của mẹ. Cô sửa soạn dọn dẹp mấy mái chèo. Tôi gợi chuyện
-      Cô Sương không đi ngủ à, khuya rồi.
Có gái ngạc nhiên ngước nhìn tôi :
-      Sao ông biết tên em ?
-      Lúc nãy, mẹ cô mới kêu đó.
Cô hơi mỉm cười ra vẻ chợt hiểu, cô vấn mái tóc mình ra đàng sau, cột lại bằng một mảnh vải nhỏ. Áo ngắn tay đen, làm nổi hẳn làn da trắng khi cô cúi xuống vốc nước rửa mặt một cách tự nhiên. Tôi thấy khuôn mặt cô thơ dại quá, có lẽ vừa mới đến tuổi hai mươi là cùng.
-      Cô Sương mệt lắm không,?
-      Không, ông à. Quen rồi, đêm nào cũng chèo đi chèo lại thế này mà.
Khi cô Sương níu vào mạn đò để bước qua, tôi đưa tay định dìu cô cho khỏi ngả nhưng cô tránh đi.
Cô hỏi :
-      Ông còn cần gì nữa không ? Ông chưa ngủ đi, khuya rồi đó.
Tôi lắc đầu. Cô bước vào khoang thuyền dành cho khách, và đêm nay tôi là người thuê. Cô thản nhiên cuộn chiếc chiếu bẩn lúc nãy tôi và cô gái điếm đã nằm lên, và thay một chiếc chiếu khác.
Chiếc ghe của bà già trở lại, lấy tiền và vỏ chai bia. Tôi hỏi cô Sương có uống gì không nhưng cô cứ lắc đầu từ chối mãi. Cuối cùng, tôi vẫn mua một lon nước cam còn khá lạnh. Khi ghe của bà bán thức ăn đã bỏ đi, cô Sương chợt mỉm cười. mắt cô long lanh, một chút tinh nghịch như trẻ con :
- Em chở cô Hoa đến cho ông. Ông thích lắm nên thưởng một chai nước cam phải không ?
Tôi cũng cười nhưng không biết nói gì. Hình như có tiếng thở dài của cô Sương, rồi giọng cô ngập ngừng:
-      Mấy ông thiệt sướng. Lúc nào muốn vui, lại xuống đò ngủ một đêm, rồi sáng mai, đi đâu, đi miết. Và ban ngày chắc lại còn nhiều thứ nữa.
Tôi chờ cô uống một ngụm nước. Rồi tôi nói :
-      Chán lắm.
-      Em mới là chán. Ngày nào cũng như ngày nào, cứ ở mãi đây.
-      Chứ Sương thích đi đâu ?
Cô Sương đưa lon nước cam cho tôi. Tôi vốn ghét nước cam nhưng nhìn thấy môi cô mướt ươn ướt vì mới uống xong một chút, tôi uống trọn một hơi dài. Và nghe cô nói
- Em không biết... Nhưng ông thấy ở đây vui không?
- Buồn chết
- Em mới là buồn, ông à.
Tôi lặng thinh giây lâu. Cô Sương cởi sợi dây buộc tóc cho mái tóc xỗ dài xuống vai, rồi cô nói:
- Thôi, em đi ngủ. Mai chắc ông dậy đi sớm?
Tôi gật đần nói thêm :
- Nhưng tối mai tôi sẽ xuống đây lại.
Cô Sương đi nép bên mui đò từng bước để ra khoang trước, nơi mụ Xép không biết đã ngủ hay chưa mà nãy giờ không thấy lên tiếng gì cả. Cô quay đầu lại:
-      Ông xuống đây mãi mà làm gì, tiền thuê đò, tiền ‘‘này nọ’’ tốn lắm. Sao ông không ngủ nhà?
Tôi nói đùa :
-      Ở trên đất chán lắm.
-      Không đâu...
Mắt cô hình như mơ màng nhìn lên hàng cây chập chờn ven đường.
-       Trưa nào em cũng thấy mấy cô học trò tan trường về, đứng đầy bến đò, trắng cả bờ sông... vui lắm...
Và cô Sương đã ra đến khoang trước, giọng cô thoảng lại nhỏ nhoi và xa vắng trong đêm tối.
-Em không được như họ...
Tôi đứng yên nhìn theo hoài nhưng cô Sương đã vào trong khoang đò với mẹ. Lát sau, tôi cũng vào nằm, không ngủ được nhưng vẫn tắt đèn.
Bên kia vách ván. Có tiếng trở mình nặng nề làm đò hơi chao đi. Tôi nghe chập chờn giọng hai mẹ con nói chuyện:
- Ông khách ngủ chưa con ?
- Lâu rồi.
- Tối nay khá không ? Con đưa được mấy đò?
- Gần mười.
- Ờ. Được rồi. Thôi ngủ đi, sáng sớm nhớ giặt mấy chiếc chiếu, mấy bao gối cũng đã dơ lâu lắm rồi.
-      Mẹ khỏi dặn... Này mẹ...
-      Gì đó nữa ?
-      Thôi... không gì hết, con buồn ngủ rồi, Thôi...
Và hoàn toàn im lặng. Tôi chờ đợi lúc lâu vẫn không nghe thêm lời nào nữa. Cô Sương, cô định thốt lên lời băn khoăn nào, cô sắp sửa cầu xin mẹ một điều gì... nhưng sao tiếng tỏ bầy ước mơ chưa trọn, đã nhẫn nhục câm nín, như nghìn đêm đã âm thầm qua trên dòng sông quen của cô.
Sáng mai, bầy nữ sinh kiều diễm của Huế sẽ rộn ràng khắp đường đi, qua mấy nhịp cầu, qua đò sang sông, thả tay giởn nước. Áo lụa trắng, cặp da đen và đôi má tơ đào, mắt trong xanh như mùa lá mới.
 Ở một góc bến xa hơn, cô Sương sẽ ngồi trước mui đò, giặt những chiếc chiếu bẩn đêm vừa qua. Dòng sông không phải đối với ai cũng êm đềm thơ mộng.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 20.06.2021 21:55:13 bởi Ct.Ly>
TRĂNG
 
 
TIẾNG cười la hét của lũ em dưới nhà làm Mỵ bực mình thêm. Cuộn băng nhạc đã chạy hết, tiếng đàn nghe rời rã mấy nốt sau cùng trong hơi thở nhỏ dần của cô ca sĩ. Mỵ tắt máy, nàng cầm tờ báo bên cạnh lên lật xem vài trang nhưng vứt bỏ ngay, không đọc được một chữ.
Căn phòng nhỏ của Mỵ ở gác trên, vắng ngắt thật buồn tẻ. Con búp bê vải có chiếc nơ màu đỏ sao bỗng thấy ngây ngô, không còn dễ thương như thường lệ nữa. Đêm xuống dần bên ngoài khung cửa sổ, nhà cửa thành phố nhấp nhô những ánh đèn nhỏ, bầu trời sáng hơn mọi đêm.
Có tiếng mẹ gọi từ nhà dưới:
- Mỵ ơi, sao không xuống đây chơi với mấy em.
Nàng nhắm mắt lại vờ ngũ, mới chưa đầy tám giờ tối mà đã ngũ cũng kỳ nhưng mẹ hình như bận rộn với mấy đứa em của nàng nên chỉ gọi vài tiếng lấy lệ rồi thôi. Nàng nằm im không thèm bật sáng đèn, nghe loáng thoáng ngoài sân nhà lũ trẻ con hàng xóm cùng hai đứa em của nàng ong ỏng hát… Tết Trung Thu rước đèn đi chơi...
Trung Thu, Trung Thu... Trời Ơi, sao mà chán thế nầy. Thì cũng như những ngày rằm mỗi tháng thôi, mặt trăng cũng tròn như thế chứ có gì lạ đâu mà bày đặt Tết với Lễ. Thế mà lũ trẻ con lại nao nức sửa soạn từ mấy ngày trước, làm người lớn cũng bận rộn theo với chúng. Nào là đèn kéo quân, đèn ông Giăng, đèn con Thỏ cứ loang loáng lóe sáng trước cổng nhà. Ba mẹ nàng lại xem chừng cũng vui lây với tụi nhỏ mới kỳ chứ. Hai ông bà nôn nả xuống tận Chợ Lớn đặt mua mấy hộp bánh nướng, bánh dẻo từ mấy ngày trước. Lát nữa đây sẽ còn bắt bàn ghế ra sân ngồi nhâm nhi với trà Tàu.
Mỵ nghĩ mình đã lớn rồi, đâu có thèm mê đèn mê trăng như trước nữa. Ngày sinh nhật cách đây vài tháng của nàng đã cắm đến mười bảy cây nến, làm nàng phải thổi hai ba lần mới tắt. Nàng thích đêm Noël hay Giao Thừa hơn, thế nào những dịp ấy nàng cũng có được một hai cái áo dài mới, màu rực rỡ ghê lắm đến nỗi không dám mặc đi học, nhưng đã diện lượn phố ngập người trong tiếng chuông nhà thờ đổ rộn ràng thì sung sướng biết mấy. Và trên bàn học nàng sẽ bày la liệt những món quà tặng nho nhỏ của lũ bạn gái trong lớp, vài gói lớn nhất là của mấy ‘‘gả’’ học trên nàng một hai lớp mà nàng chỉ biết mặt chứ không hề quen bao giờ. Bao nhiêu là thiệp chúc mừng, nào vui, trẻ, đẹp suốt đời, lớn thêm một tuổi lại càng thêm quyến rũ, một năm may mắn hạnh phúc… Nàng đã chất đầy những tấm thiệp trong một hộp bánh Bisquit to tướng.
Tiếng chân người chạy rầm rập lên cầu thang làm Mỵ giật mình. Khuôn mặt hớn hở của thằng em trai với chiếc đèn con cá đỏ chói trở vào phòng, Mỵ vừa kip nhắm mắt lại.
-      Chị Mỵ ơi, xuống xem múa lân... người ta treo tiền ở sát bên mình đó.
Nàng giả vờ thở đều đặn như đang ngủ ngon mặc dù nghe rõ tiếng trống thình thình cùng tiếng la hét ầm ĩ cả một khu phố. Đứa em lay nàng vài cái rồi chạy vội xuống nhà dưới, Mỵ nghe thấy tiếng ồn ào dưới nhà lớn hơn rồi thằng em trai lại hồng hộc chạy lên. Lần này nàng không nhắm mắt lại kịp.
-      Để yên cho chị ngủ.
-      Mẹ bảo đem bánh Trung Thu lên cho chị ăn này, bánh có trứng gà với vi cá ở trong đó.
-      Thôi, thèm vào, ớn thấy mồ !
Thằng em mừng rỡ :
-      Em ăn phần chị nhé.
-      Ừ, ăn hết đi cho trúng thực chết luôn.
Đứa em đưa chiếc bánh vào miệng ngay, cắn từng miếng một như sợ mau hết. Nó chạy lại cửa sổ, ló đầu ra ngoài rồi kêu nàng :
-      Chị lại xem, ‘‘con’’ lân sắp đớp được tiền rồi.
Mỵ tò mò lại xem. Nhà lầu hai tầng bên cạnh nhà nàng, treo một gói tiền lủng lẳng trên cao, bọc trong tấm giấy đỏ. Một người mặc áo may ô che kín mặt trong chiếc đầu lân mầu mè sặc sở, cái miệng mở rộng táp lên táp xuống vờn quanh gói tiền như không muốn ăn vội. Dưới đất, trống con nổi rầm rập thúc hối cùng với một rừng khuôn mặt khán giả ngước lên chờ đợi. ông Địa với chiếc mặt nạ toét miệng cười; quạt phe phẩy bụng phệ. Người mang đầu lân đứng thật tài tình trên vai một người khác, chiếc đầu quay qua quay lại như biểu diễn một lần cuối rồi há miệng táp lấy gói tiền. Đuôi lân bằng vải phe phẩy múa lượn có vẻ khoái trá vì chiến thắng.
Mỵ chú ý nhìn chiếc đầu lân, Nàng đứng gần nên nhìn thấy thật rõ khuôn mặt người đàn ông núp trong chiếc đầu, bây giờ y đã thò mặt ra ngoài, nét mặt già nua mỏi mệt thật tội nghiệp, có lẽ y còn lớn tuổi hơn ba nàng. Nàng nhìn thấy mồ hôi chảy ướt dầm trên da mặt nhăn nheo của y mặc dầu đầu lân vẫn tung tăng múa may thật oai hùng. Gói tiền cột bằng thứ dây dai quá nên  ‘‘con lân’’ phải thò cả cánh tay nắm chặt ráng sức giật một hồi lâu mới đứt.,. Đám đông vỗ tay reo hò tán thưởng. Con rồng thắng trận đưa ‘‘ tay’’ lau mồ hôi rồi nhảy tụt xuống đất, cả con lân dài uốn lượn rẽ sang ngõ khác, theo sau là một bầy trẻ con cầm đèn chạy bám lấy đuôi.
Thằng em nàng ăn chưa hết chiếc bánh, cũng chạy vù xuống nhà để ra đường nhập bọn.
Mỵ ngồi xuống chiếc ghế nhỏ trước bàn học của riêng nàng. Bên cạnh đống sách bừa bộn, một bông hồng trắng đã tàn trong chiếc bình sứ, bông hoa cho ngày sinh nhật mà nàng không chỉ một mình với căn phòng, còn nhiều người khác với tiếng chúc mừng bao quanh, và nhất là một người.
Một gã con trai. Dĩ nhiên không phải là ba nàng hay mấy đứa em, cũng không phải là những ông thầy giáo trên trường.
 Chàng. Không, Mỵ ghét cái tiếng chàng. Nàng thích tiếng Anh hơn, vì nàng biết bao lần gọi lên âm thanh có vẻ hiền lành và thân mật ấy khi hai người nói chuyện với nhau. Và bây giờ, những hình ảnh về anh tràn đầy tâm trí nàng, như một khúc phim chậm rãi, thỉnh thoảng có tiếng nói thì thầm và ánh mắt đầy lời thân yêu chan chứa. Mỵ mơ màng và cảm thấy hoang mang như rơi lùi vào những tháng ngày nào đó cách đây không lâu, nhưng đã khác xa vô cùng với hiện tại. Giờ đây, đã mất những chiều hẹn cũ, buổi chiều tan học sớm, Mỵ rời cổng trường St Thomas lững thững bước như một cánh chim quen đường bay, về phía dốc cầu... Quán cà phê sát tường của một trường Đại Học, nơi mà anh bao giờ cũng vội vàng leo qua hàng rào cổng trường để gặp nàng chóng hơn... Rồi ly nước cam không còn mùi vị, vì những lời trao đổi bang quơ cùng đôi mắt âu yếm ngại ngần đã ngọt ngào hơn một miếng bánh kem sữa. Cứ thế cho đến ngày...
Một đứa em khác chạy lên gác làm Mỵ bừng tỉnh. Đây là đứa út trong nhà, hàm răng sún vì nhai nhiều kẹo và trán luôn luôn sưng vồ vì một vụ té nhào nào đó từ trên cây xuống. Thằng bé kêu lên:
-       Chị Mỵ ơi!
- Gì nữa ? Hết đứa này lại đến đứa khác. Sao không đi xem múa lân ngoài đường kia.
Thằng bé lắc đầu, nét mặt bỗng tư lự như người lớn :
-      Em không thích múa lân đâu. Chị Mỵ ra xem trăng kìa, đẹp lắm.
Nàng ngạc nhiên.
-      Mày trở thành thi sĩ hồi nào vậy ?
Thằng bé như không nghe lời diễu cợt của chị, nó đứng bên cửa sổ nhìn lên cao.
Thế này thì lạ thật, cái thằng nhóc suốt ngày chia phe đánh trận giả múa gươm múa súng ầm ầm mà đêm nay bỗng dưng lại nỗi máu lãng mạn học đòi thưởng trăng. Nàng đến gần bên đứa em, tay vuốt mớ tóc lòa xòa của nó, cười đùa :
-      Nào, xem chú Cuội và chị Hằng của em ở đâu cho biết.
Trên bầu trời, cao lên khỏi đám nhà cửa đen ngòm nhấp nhô những hình thù xấu xí lộn xộn, màu trời sáng hơn, những hình tượng mơ hồ vần vũ chung quanh mặt trăng. Cũng như thế chứ có gì đẹp đâu, mặt trăng cũng tròn trịa như mọi đêm rằm. Lâu nay Mỵ cũng chẳng để ý xem trăng mặc dù đêm đêm ánh sáng mông lung ấy thỉnh thoảng qua khung cửa tràn vào trên gối chăn nàng một chút êm đềm thú vị. Mấy ông thi sĩ tha hồ ngâm thơ vịnh nguyệt, bao nhiêu là tiên nữ với vũ khúc nghệ thường dập dìu trong đốm sáng nhỏ xa xôi ấy, lại thêm một ông vua Đường Minh Hoàng si tình ngớ ngẩn nào lạc trên đó nữa.
Nàng bỏ vào trong phòng, chẳng thèm say sưa gì với ánh trăng nàng vẫn thường nghe nói là huyền ảo vô cùng. Nàng dững dưng, buồn tẻ trong mầu sắc và tiếng huyên náo vui đùa của đêm tròn trăng. Tuổi trăng đầy, chỉ kém Mỵ một tuổi.
Có lần anh đã nói với Mỵ như thế, Nhưng bây giờ... Anh đã đi xa, đã rời khỏi Saigon lâu rồi, chỉ mới vài tháng nhưng đã thật lâu rồi đối với Mỵ, lá thư của anh viết cách đây vài ngày còn nằm giữa tập vở của Mỵ, gởi từ một miền biển xa xôi, nhưng anh nói biển cả ở đó không bát ngát thơ mộng gì cho anh đâu. Anh không có thì giờ ngắm biển. Ở đó là ánh nắng rực lửa và mồ hôi. Nhưng đêm Trung Thu này, trăng có vỗ về anh đôi chút nào chăng...
+ ++
Đại đội về tới trại khi trời vừa xẩm tối. Hơn trăm người áo lính ướt dầm mồ hôi như tắm mặc dầu ai nấy đều mong được tắm một trận cho sướng mà lại không được. Không có thì giờ. Sau một ngày học ở Bãi Tiên, cả bọn đeo ba lô súng ống nặng nề phải cố lê người mệt lã suốt gần mười cây số đường đèo để về trại cho kịp. Không đủ thì giờ ăn cơm chứ đừng nói là tắm,
Súng đạn, ba lô, nón sắt vứt ầm ĩ trong phòng. Nằm nghỉ lưng một chút thì khỏe biết mấy. Nhưng tiếng còi tập họp lại ré lên ngoài sân, lại ào ào chạy ra, lố nhố những cái đầu tóc cụt ngủn, ướt mèm mồ hôi chảy xuống mang tai. Tiếng người sĩ quan cán bộ quát tháo inh ỏi.
- Nhanh lên, nhanh lên. Ăn cơm cho lẹ rồi còn đi ứng chiến. Khóa sinh đại diện đâu ?
- Có mặt.
- Cho anh em xuống ‘‘ nhà bàn’’, không được đi... cho chạy bộ... đếm đều nhịp.
Tiếng hô một hai một hai thì thào lộn xộn vì thốt không ra hơi. Cả đoàn người chạy xuống nhà ăn, đầu lắc lư như không còn giữ vững trên cổ. Viên cán bộ lại la lên:
- Đếm đều nhịp... Coi chừng qua phòng ông Tiểu Đoàn Trưởng... đếm lớn lên... vỗ tay... chạy đều nhịp... giữ hàng ngang hàng dọc đàng hoàng coi... hát lên... Tất cả hát lên... Này bao hùng binh tiến lê.,..
Đám khóa sinh cố gân cổ cất tiếng hát mệt nhọc yếu xìu, bài nhạc quân hành vang lên một cách thảm hại. Mồ hôi lấm tấm trên khuôn mặt đỏ bừng nóng giận của viên Đại Đội Truởng, có lẽ y vừa thấy ông Tiểu Đoàn Trưởng đang chống nạnh nghiêm khắc nhìn đoàn quân chạy một cách bết bát. Y hét lên :
-      Chạy đàng hoàng lại coi... hết gân rồi hả? Khoan... chưa được ăn cơm… chạy phạt thêm một vòng sân nữa.
Anh có mặt trong hàng cuối cùng của đoàn quân, càng lúc như càng bị bỏ rơi lại đàng sau, cặp giò loạng choạng muốn vấp vào nhau. Miệng anh thở hồng hộc, viên Đại Đội Trưởng chỉ tay vào anh quát :
- Anh này, sao không hát ? Không nghe tôi hả ?
Anh mở miệng lắp bắp máy mó cho ra vẽ hát chứ miệng anh không thốt nên một tiếng nào, chỉ toàn là chửi thề trong bụng.
Lát sau khi đứng đều hàng trước bàn ăn, thở hồng hộc, vừa được lệnh, cả bọn đồng loạt ngồi xuống, chụp lấy chén đủa xới cơm ngốn như điên vào miệng. Mồ hôi chảy ròng ròng trên tay anh nhỏ vào một bát canh ngụi ngắt, Viên cán bộ đứng ở đầu bàn, xem đồng hồ tay rồi nói to :
-      Năm phút thôi, ăn lẹ lên... còn bốn phút...
Miệng ngốn ngấu một đống cơm, anh nhìn thằng bạn trước mặt định nói nhưng hắn lắc đầu ra dấu gạt đi, không ai có đủ thì giờ nói chuyện nếu muốn kiếm một chút cơm dằn bụng trong đêm nay, lấy sức mà canh với gác.
Năm phút trôi qua trong tiếng đủa bát chạm nhau Rồi lại sắp hàng rầm rập về phòng ngủ. Lại tiếng còi réo lên, súng ống đeo vào, ba lộ nặng hơn vì có thêm mùng mền, lãnh thêm đạn trừ bị. Anh bị phát thêm ba quả đạn súng cối, cột dây lòng thòng nặng trĩu dưới vai. Tiếng còi, tiếng la hét thúc hối thêm. Tập hợp, điểm danh, báo cáo quân số...
-      Nhanh... nhanh lên, làm gì mà chậm như rùa! Trung đội một, đủ chưa ? hai, ba, bốn, thiếu thằng nào không?
-      Thưa Trung úy, có một thằng còn... đi cầu.
-      Xách nó ra đây cho tôi, nhịn đi cầu một ngày không được sao ? Muốn cho ngủ cầu tiêu luôn một tuần hả?
 Anh đội nón sắt lệch sang một bên lúc lắc làm cả bọn bật cười rộ, tay xách súng, tay gài nút quần vội vàng chạy ra sân.
-      Nó ra đó rồi... thưa Trung úy.
-      Hai chục cái hít đất, hai chục cái nhảy Song Phi. Mau lên.
Anh chống tay, nhấp nhô mông nhỗm lên nhỗm xuống vài cái rồi nằm bẹp thở dốc.
... Rồi đâu cũng vào đó, đại đội cũng tập họp đầy đủ, nặng nhọc lê bước tiến ra ngoài cổng trại,
Một thằng bạn thân cầm dùm súng cho anh cài lại áo quần và dây ba chạc rối rắm trên người, anh chửi thề :
- Mẹ nó, đêm nào cũng ứng chiến! Đêm thì đi Bãi Tiên, đêm đèo Rù Rì, đêm khu A, khu B, khu C rồi đến đêm nay nữa. Tối nay mình gác ở đâu mày?
-      Nhà mát của ông Tướng, may mà cũng gần.
-      Rồi lại ngủ chưa chợp mắt, sáng sớm phải dựng đầu mò về trại, lại chạy đều nhịp hai ba vòng sân, rồi lại lội bộ đi bãi, không biết mai mình có giờ nào ở Bãi Tiên không ?
-      Yên chí, chưa đâu. Mai có giờ tác xạ súng M. 79, bãi bắn sát bên núi, gần trại lắm.
-      Vậy thì đỡ khổ. Mẹ, Bãi Tiên, nghe cái tên thơ mộng lắm, thở không ra hơi mới thấy mặt nó, lại cái món Trung Đội Tấn Công lên đồi nữa... Mầy biết không, hồi chiều có năm thằng bị xỉu được theo xe cứu thương chở về.
Anh bật cười, nói tiếp:
-      Trong đó có ít nhất là hai thằng giả vờ. Bửa sau tao phải bắt chước mới được. Mất mặt một chút mà được đi xe GMC, sướng chết.
Trong đêm tối đoàn quân lầm lũi đi. Sóng biển và những đợt gió nhè nhẹ nghe gần hơn, và hơi gió mát chạy luồn vào trên sống lưng ướt mồ hồi của anh, anh rùng mình khoan khoái.
Nhà Mát của vị tướng Chỉ Huy Trưởng Quân Trường nằm sát bên bờ biển, chung quanh là những hàng dương liễu rợp bóng và hàng dừa xanh. Bao ngoài một sân chơi quần vợt và chiếc bàn lộ thiên thường dùng cho khách quí hóng gió nhậu nhẹt, là một hàng rào kẻm gai. Đại đội anh đêm nay có bổn phận đóng rãi rác ngoài hàng rào đó, đặt những vọng gác, hướng súng vào những bóng tối mơ hồ nào đó mà vị sĩ quan huấn luyện môn chiến thuật luôn luôn cho rằng có thể là địch quân mưu toan đột nhập.
Anh được chia gác phiên đầu, cũng khỏe, lát nữa sẽ được ngủ thẳng giấc còn hơn là đang mê mệt thì bị dựng đầu vào lúc hai giờ sáng để canh gác. Thằng bạn bị phiên ngay nửa đêm, hắn càu nhàu sừng sộ với thằng Tiểu Đội Trưỏng.
Anh ngồi trên ba lô, dựa lưng vào gốc cây, lén lút thắp một điếu thuốc lá rồi che lửa trong lòng bàn tay, hơi khói bay từng ngụm nhỏ.
Trời hôm nay có vẻ gì là lạ. Sóng biển kéo đều đều đổ lên bãi cát tiếng rì rào buồn bã. Máy radio chạy pin từ túi áo của một ai bật lên rè rè, nhạc rộn rả văng vẳng từ một thành thị nhộn nhịp ánh đèn nào, bỗng anh giật mình, tiếng hát của một bầy trẻ con vang lên nho nhỏ… Tết Trung Thu rước đèn đi chơi ... Anh la lên:
-      Ủa ? Trung Thu rồi hả?
Giọng nói của thằng bên cạnh đáp nhát gừng :
-      Rồi thì sao? Mày định bày cổ bánh nướng với trà tàu ra rồi ngắm trăng hả?
-      Không...
-      Có trăng trên đầu mày kìa, ngắm đỡ buồn đi, cũng đẹp chán.
Bây giờ anh mới biết tại sao hôm nay mình bỗng có cảm giác là lạ. Mới đó mà Trung Thu rồi, nhớ Trung Thu năm nào… xa xưa như chuyện cổ tích. Lâu ngày ở quân trường, cũng chẳng để ý đến lễ với Tết gì cả, không biết lúc nào là mùa xuân, mùa thu, mùa hạ, mùa đông. Chỉ biết mưa ướt dầm dề những đêm nằm dưới giao thông hào có lẽ là mùa đông, nắng trưa chảy mở là mùa hạ... Chỉ tính ngày tháng bằng tuần lễ, tuần lễ thứ hai mươi rồi, chỉ còn bốn năm tuần nữa là mấy ngày phép ra trường, sẽ bay về Saigon lập lức. Saigon, ánh sáng, tiếng hát đêm, quán cà phê buổi chiều tán gẩu .. Saigon, như một thế giới nào xa vắng tươi đẹp quá, mỗi đêm làm anh trằn trọc một cách êm ái trong cơn mơ mộng.
Có tiếng của một tên nào đó the thé nhái theo máy ra-dô, nghe thật buồn cười và cũng thật tội nghiệp. Bọn anh đâu còn ở tuổi để đợi chờ một đêm Trung Thu nữa, những màu trăng đều vô vị như nhau qua trên đầu anh từ tháng này đến tháng khác. Nhưng đêm nay không hiểu sao, khi ánh trăng soi những tàn lá dừa lung linh trên bãi cát, anh tự dưng ngước đầu lên bầu trời, trời đêm quen thuộc.
Trên khoảng không bao la vô cùng kia, những đám mây bàng bạc đã lùi vào bóng tối. Nhường chỗ cho trăng, vừng sáng vằng vặc, một chút trong trắng như mắt yêu thương cũ, một chút như tan loãng trên màu áo lụa.
Biển cả hiện ra trước mặt anh toàn vẹn không keo kiết một chút gì, dâng hiến cả màu nước bao la vô tận, lung linh ánh trăng chảy chập chờn trên đợt sóng như tám thảm nhuộm trong ánh sáng, chuyển động lấp lánh một vũ điệu êm đềm. Nhưng cánh buồm đen mù mờ, lốm đốm ngoài khơi tận chân trời nào, như có vẻ gần lại trong đêm nay, tận hưởng nguồn trăng kỳ diệu của trời ban, mà trong nhiều đêm u tối lạc lỏng ngoài đại dương, những cánh buồm thường chỉ biết bão tố và sấm sét, trăng bình yên quý giá ít khi được thấy.
Điếu thuốc đã tàn trên tay anh. Lạ thật, anh đâu còn ở tuổi ngưỡng mộ chú Cuội trên cung Hằng nữa. Đêm nay cũng không có đèn kéo quân, không có bánh nướng Đông Hưng Viên, không một tách trà mạn. Thế mà đêm trăng như bay theo từng đợt sóng từ ngàn khơi ùa vào, tràn ngập lên bãi cát, qua những vỏ dừa khô và vỏ sò vương vãi, phủ lên lớp đá trắng lỗ chỗ như tổ ong, kéo theo rêu rong quấn lấy người anh, bàn tay và hơi thở mát lạnh ôm quàng lấy anh thân ái.
Anh như được nếm một nụ hôn ngọt ngào mùi vị mặn của biển cả, quay cuồng mê mệt của đêm, thanh khiết xanh ngắt của mầu trăng mười lăm trinh nữ.
Anh sung sướng ngây ngất đến nỗi không buồn xem đồng hồ. Phiên gác của anh vừa hết.
+ + +
Vài hôm sau cũng vào buổi chiều. Đại đội lại đi học bãi lê lết trở về. Cả bọn như quên hết mệt nhọc khi viên thư ký tay cầm một xấp thư, lên giọng đọc tên từng người nhận. Anh đứng trong hàng quân hơi thở gấp, nôn nao chờ lá thư quen từ phố cũ, của cô bé mười bảy tóc mây bay, dòng chữ học trò nắn nót. Anh biết anh sẽ có thư Mỵ, và anh đã có...
‘‘ Trung thu ở Saigòn chán lắm. Nhà thì đủ đèn đuốc, bánh kẹo nhưng em vẫn thấy buồn kinh khủng. Ở ngoài đó anh có ngắm trăng không, ở đây em không thấy trăng đẹp gì cả, hay có lẽ vì em lớn rồi...’’
 Bất chấp bị phạt cả triệu cái hít, nhảy xổm, anh bỏ hàng quân chạy vội lại phòng Quân Bưu của trường, xin đánh một bức điện tín gởi Mỵ trước khi phòng đóng cửa:
‘‘ Ở tuổi nào, trăng cũng vẫn đẹp. Ở đây, trăng đẹp tuyệt vời My ơi’’.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 21.06.2021 22:19:06 bởi Ct.Ly>
Đừng Đến Sân Ga
 
 
TOÀN không ngồi yên một phút nào trên đường tàu hỏa đi từ Huế vào sáng sớm. Bây giờ, đã nhiều nắng đầy bầu trời trong. Toàn bị ngợp mắt vì cứ đứng hoài ở khung cửa xe, nhưng anh cảm thấy ấm áp.
Khi tiếng máy nổ ở đầu toa tàu rời rạc chậm lại, một nhà ga nhỏ đàng kia tiến đến lần hồi. Toàn chăm chú nhìn người bẻ ghi cúi xuống đường rầy chuyển con đường sắt lấp vào đường đi về trước mặt nhà ga. Còi tàu kéo một vài hơi báo hiệu xe đã ngừng, khỏi không còn bay mạnh ngược chiều, bốc lên tan loãng chậm rãi.
Đến Lăng Cô rồi, không cần nhìn vết chữ sơn đã phai gần hết trên mái nhà ga đầy rêu ủ dột, Toàn cũng biết là đã đến ga Lăng Cô. Vì những người bán hàng ùa ra mời khách hàng mua những chai mắm sò, thứ đồ đặc biệt của địa phương. Nút chai làm bằng lá khô đã được bịt kín không cho mùi mắm hấp dẫn bay ra, nhưng bên trong những vỏ chai trong suốt bằng thủy tinh, mắm sò ép sát vào nhau gợi thèm đến bữa cơm đậm đà và làm Toàn chảy nước miếng.
Toàn xuống xe với chiếc xắc tay nhỏ. Một con bé áo quần rách rưới đụng phải anh, chắn lối bực thềm. Nó oang oang nói một tràng dài, cái câu mời khách quen thuộc nãy giờ anh đã nghe chúng nheo nhéo giống hệt nhau.
- Mua vài chai mắm sò đi thầy. Thứ thượng hạng chính hiệu đây. Ở Lăng Cô mới có, vô trong Nam tìm mua không có đâu thầy.
Toàn mỉm cười :
- Em mời mấy khách vào Saigon kìa, họ mang vô làm quà cho vợ con. Tôi xuống ga này rồi, thứ này rồi tha hồ ăn ở đây thiếu gì.
Con bé bây giờ mới nhìn thấy chiếc xắc tay của Toàn. Nó bỏ vội anh, leo lên toa tàu, lời rao hàng khàn giọng mất hút đâu đó trong tiếng cười nói ồn ào của hành khách.
Một vài người vô ý chạm phải vai Toàn làm anh suýt ngã khi bước vào nhà ga. Anh cố tình không quan tâm gì đến điều khiếm khuyết của mình, nhưng rốt cuộc, cái đó lại ám ảnh anh như thường lệ. Anh thấy mình rõ ràng bước đi khập khểnh, chân thấp chân cao, mọi vật nhấp nhô không đều trước mắt anh làm anh rịn mồ hôi trán. Anh cúi xuống nhìn chân mình, hai ống quần rộng thùng thình, hậu quả của mấy tháng nằm ở quân y viện ốm hẳn người đi. Không biết có ai nhìn xuyên được qua lớp vải quần của anh không, để tò mò khám phá thấy đùi bên trái tốp nhỏ lại thua sút chênh lệch so với chân phải, kết quả của một viên đạn xuyên thủng vào phía trên đầu gối chừng một gang tay,
Toàn liếc nhìn mọi người nhưng chẳng ai buồn chú ý đến anh cả, hành khách xuống ga Lăng Cô cũng ít và chẳng mấy chốc, tàu hỏa hú còi xình xịch chạy. Viên xếp ga đưa tay lên vẩy chào về phía đầu máy rồi mệt nhọc quay vào phòng làm việc chật hẹp trong nhà ga. Tất cả đều bám đầy bụi bặm kể cả chiếc máy điện thoại màu đen to tướng trên bàn.
Toàn mong đừng có ai chăm chú nhìn gì anh cả, nhất là nhìn cái chân tật nguyền này, và anh yên tâm. Anh rời khỏi nhà ga khá mau lẹ, khỏi phải dáo dác tìm kiếm một ai bởi vì anh biết chắc chẳng có ai đón mình cả.
Băng qua con đường cát lún đầy bụi rậm và cỏ dại hai bên, anh đi về phía xóm nhà nhỏ nằm xúm xít với nhau ở đàng kia, dọc theo bờ biển. Xóm toàn là những mái nhà lá xác xơ của dân cư làm nghề chài lưới. Chỉ có một căn nhà gạch thấp nằm ngay đâu xóm, đó là văn phòng Xã trưởng hay Quận trưởng. Và còn thêm một căn nhà gạch mái ngói đỏ thứ hai nữa, khá rộng hơn, có nhiều phòng và khoảng sân mát mẽ dưới tàn cây trứng cá. Chưa đến nhưng Toàn mường tượng nhìn thấy tấm bảng thiếc treo sơ sài trên cổng nhà, nét sơn thô kệch vụng về mấy hàng chữ. Trường Tiểu Học Lăng Cô.
Chính nó, chính mái trường tiêu điều này, là nơi gợi nhớ mênh mang cho một ngày trở về. Và anh đang trở về, bước chân thấp cao khó nhọc lún trong cát bỏng, nhưng người như đang ngợp mát trong tiếng sóng biển dồn dập lại gần.
Ba năm xa miền biển này, anh tự nhủ nếu mọi chuyện có đổi thay xa lạ thì cũng không phải là điều đáng kinh ngạc.
* ‘ *
Cậu học trò mặt mày đen đủi gỏ vào cửa phòng rụt rè :
- Thưa cô Hiệu Trưởng, có khách hỏi cô. Tiếng đàn bà nghiêm trang vẳng ra:
- Phụ huynh của em nào hả ?
Cậu bé liếc trộm nhìn Toàn rồi ấp úng trả lời :
-      Thưa cô em không biết ông này... lạ hoắc à.
-      Được rồi.
Cánh cửa mở nhẹ. Cậu bé bỏ chạy đi chỗ khác, và trước khi cửa mở toang ra hết Toàn có thể gặp lại chị Lục, anh cảm thấy một chút nôn nao vui thích trong lòng, thế là trong ba năm cũng có điều thay đổi, nhưng khá dễ chịu. Từ một cô giáo viên chánh ngạch chăm chỉ nhất, chi Lục bây giờ đã lên chức Cô Hiệu Trưởng- trường Tiểu Học. Điều dễ chịu hơn nữa là cô giáo ấy vẫn chưa trở thành bà.
Chị Lục mở mạnh cánh cửa, mở lớn mắt ngạc nhiên rồi la lên :
- Trời ơi ! Toàn đó hả?
Anh chỉ biết nhe răng cười sung sướng, gật gật đầu mà không biết nói lên lời gì cả. Chị Lục chạy ra khỏi phòng, nét mặt mừng rở và có lẽ chị sẽ ôm chầm lấy Toàn nếu không có đám học trò đang kéo nhau ra về, reo đùa inh ỏi.
Nhưng chị Lục cũng cầm lấy tay áo anh, kéo vào văn phòng. Thêm một thằng bé khác, cũng đen như cột nhà cháy, đang vòng hai tay quỳ gối quay mặt vào tường như một tín đồ sám hối.
Chị Lục vỗ đầu cậu bé :
- Thôi, lần này cô tha em. Mau về nhà ăn cơm đi. Nhớ lần sau mà bắt còng còng bỏ trong áo bạn cùng lớp là cô phạt nặng nghe không.
Thằng bé đứng phắt dậy, đầu gối đỏ dừ nhưng nét mặt sáng rực, nó lí nhí cảm ơn chị Lục và cũng đủ thông minh biết rằng mình được tha vì Cô Hiệu Trưởng có khách, nó liếc nhìn Toàn một cái tỏ vẻ thân mật rối vù mất.
Căn phòng làm việc của chị Lục cũng là văn phòng trước kia của lão Hiệu trưởng cũ. Ít có gì khác lạ, một tấm bản đồ Việt Nam treo trên tường và quả địa cầu xoay đặt trên bàn, chỉ thêm vài vỏ ốc láng bóng dùng làm đồ chặn giấy, chắc là của học trò biếu chị.
Toàn ngồi xuống ghế, lặng lẽ nhìn chị Lục và chị thì cắn môi để khỏi nói lên lời cảm động run rẩy gì đó. Chị vẫn diu dàng như thuở nào, mắt rơm rớm long lanh. Một lúc sau chị mới bình tĩnh hỏi chuyện Toàn. Anh nói từng tiếng ngắn :
-      Cái chân...
-      Sao ?
- Bị trúng đạn... Tôi què rồi. Giải ngũ.
Chi Lục nắm chặt lấy tay Toàn :
- Trời ơi... trời ơi...
Và Toàn thấy lòng bàn tay anh lạnh ướt nước mắt.
- Thôi... Toàn không chết là may rồi. Toàn được về là may rồi. Ở mãi đây nghe.
Anh mỉm cười:
-      Tôi biết làm gì ở đây ? Không lẽ ăn bám vào chị.
-      Đừng nói thế. Toàn dạy học lại như lúc trước, tôi xếp cho Toàn một chỗ... và mọi chuyện như cũ, có gì thay đổi đâu.
-      Cái chân.
-      Toàn !
-      Trường Lăng Cô sẽ có một ông giáo què làm trò hài hước cho học sinh. Chị muốn tôi làm huấn luyện viên thể dục không? Nhảy cao, nhảy dài, chạy đua biểu diển cho học trò xem... với một cái chân cà thọt.
Chị Lục im lặng cho Toàn nói lải nhải một hồi những lời cay đắng. Rồi chị đứng dậy, vẫn nghiêm trang và thân mật tự nhiên như lúc trước, chị dìu vai Toàn đi vào phòng trong. Cách văn phòng chỉ với một tấm màn vải, phòng riêng của chị Lục sạch sẽ ngăn nắp nhưng cũng có đôi chút bừa bộn của một người đàn bà độc thân. Thau còn ngâm đồ giặt sủi bọt xà phòng trắng, vài chiếc áo cánh treo trên giây thép gai, bếp lửa gần với chân giường ngủ. Toàn còn nhớ trường này có hai phòng học bỏ trống, được chia ra cho vài ông và các cô giáo viên ở. Chị Lục hồi trước cũng ở chung với một hai cô, nhưng bây giờ chị làm hiệu trưởng nên lên ở đây một mình.
Chị Lục nói Toàn hãy nằm nghỉ một lát.
- Chờ đây rồi tôi đi chặt cho Toàn một trái dừa.
Toàn mỉm cười, cảm giác yên lành ngập tràn người anh. Anh nhắm mắt lại, và ngủ mệt. Tiếng chị Lục êm ấm bên tai : Ngủ đi một lát cho khỏe... mọi thứ rồi sẽ như cũ.
Anh thiếp ngủ được một chút rồi đầu óc tỉnh lại, nhưng vẫn còn váng vất, lao xao. Như cũ... Trước kia chị Lục và anh là đồng nghiệp thân nhất với nhau, dầu chị lớn hơn anh vài tuổi. Chị dạy và coi sóc lớp nhất, anh lo về lớp nhì. Tụi học trò của anh nhỏ con hơn nên mỗi khi có trận đá bóng giao hữu giữa hai lớp, lớp của anh thường bị thua hoài mặc dầu anh cố tình ăn gian đôi chút khi được làm trọng tài. Anh bật cười. Có lần bóng trúng ngực một thằng lớp nhất trong vòng cấm địa, anh bảo là trúng tay và phạt ‘‘ pê-nan-ti’’. Cầu thủ nhao nhao phản đối và kêu cứu, chị Lục từ ngoài sân chạy vào gây gổ cãi cọ với anh, nhưng anh đã nóng mặt nhất định vẫn phạt đền để lớp anh có dịp gở huề. Nhưng rồi cái thằng nhóc chó chết, ‘‘vua phá lưới’’  sáng chói nhất của lớp nhì, run run hồi hộp quá nên đá mạnh bóng bay lệch sang một bên, rơi tuốt xuống biển. Rồi còn gì nữa ... Anh bị gọi đi lính. Giã từ phấn trắng bảng đen, giã từ đám học trò quê kệch vẫn thường cùng thầy giáo bơi thi vui nhộn ngoài biển, giã từ chị Lục... những mùa hè êm đềm rạng rỡ ánh nắng.
Và anh đã trở về, như thế này đây, không phải hoàn toàn là vì mái trường cũ và chị Lục, nhưng vì không còn một nơi nào để trở về nữa.
... Giờ khắc thong thả qua trong căn phòng tịch mịch. Anh mơ màng ngủ lại. Trong giấc mơ mệt nhọc của buổi trưa anh thấy mình như đang vừa chạy vừa thở hào hển trên bãi biển, đuổi theo chị Lục. Chị ở trước mặt anh một quãng ngắn nhưng anh không tài nào bắt kịp, cái chân què của anh như níu kéo lại, cuống quýt bối rối trong lòng cát. Anh đau đớn tuyệt vọng nhìn thấy khuôn mặt của chị Lục quay lại, đôi mắt nhìn anh chế diễu, bọn học trò chung quanh vỗ tay cười cợt ầm ĩ... Rồi anh ngã xuống, úp mặt ướt mồ hôi vùi trên cát nóng, mắt anh mờ đi, chao động mơ hồ, hình ảnh chị Lục chốc lát bay xa như một cánh chim trắng đi vào cõi vô cùng... Anh sợ hãi hét lên...
- Toàn!
Anh giật mình tỉnh dậy. Chị Lục đang ngồi xuống bên cạnh anh, tay chị đặt trên vầng trán tươm đầy mồ hôi của anh. Chị ân cần dìu anh ngồi dậy, đưa cho anh một ly nước dừa, đá lạnh bốc hơi lấm tấm ngoài lớp thủy tinh. Anh uống ừng ực một hơi ngon lành, mát mẻ sảng khoái làm anh dịu lại đôi chút. Anh nhìn ra khung cửa sổ, một vài cụm mây trắng trên nền trời chiều, màu xám buồn rầu nhưng êm ả. Anh ngửng đầu dậy :
- Chiều rồi. Sao chị không dạy học?
- Thứ Bảy. Toàn không nhớ gì đến ngày tháng nữa à.
Anh ngồi dậy. Anh định đi một vòng ngoài bờ biển nhưng lại thôi. Anh lục lạo một xấp bài tập của học sinh, đọc bâng quơ.
- Toàn có thích đọc truyện kiếm hiệp không ? Ở Lăng Cô thì chỉ biết thuê mấy thứ vớ vẫn đó đọc cho đỡ buồn.
Anh lắc đầu. Anh tìm thấy dưới gầm bàn ngủ của Chị Lục cuốn sách Chuyện Cổ Nước Nam, giấy vàng xỉn, trên bìa rách mềm tả tơi có dán một tấm nhãn đề mấy chữ : Sách Đọc Thêm cho Học Sinh... Thư viện trường Tiểu học Lăng Cô và một con dấu đỏ lờ mờ.
Anh cười nói với chị Lục :
- Thôi, đọc cái này vui lắm.
Chi Lục cũng bật cười. Chị nói :
- Tôi làm cơm chiều đây. Lát nữa Toàn tha hồ ăn bữa cơm nhà quê xứ biển. Học trò mới đem cho mấy con cá ngừ tươi lắm...
Chị mở cánh cửa.
- Có lẽ phải chạy đi mua mấy chục bánh tráng.
Khi chị Lục đi ra khỏi phòng, Toàn lật những trang sách nhưng không đọc được gì hết. Anh liếc cái mục lục một loáng rồi đặt cuốn sách vào chỗ cũ. Căn phòng đã tối nên anh đứng dậy, thắp lửa ngọn đèn ‘‘ Măng sông’’. Anh đã quen với thứ đèn này một thời nên anh khêu sáng ánh đèn dễ dàng. Mầu vàng lung linh, đáng lẽ phải làm căn phòng nóng bức, nhưng nhờ những ngọn gió biển thổi vào qua cánh cửa sổ mở toang, không khí trở nên dịu ngọt và ấm áp.
Cửa sau bếp của chị Lục mở ra là bãi cát của bờ biển, vài gốc dương rũ lá xuống mái nhà và đem lại một ít bóng mát cho những buổi trưa nắng. Nhưng bây giờ trời đã chiều, mặt trời chỉ còn lại một đốm đỏ sắp lặn mất ngoài chân trời, ở đâu cũng toàn là bóng mát, cát không còn nóng ran dưới chân người.
Chị Lục trải một tấm vải dầu trên cát. Bữa cơm chiều được dọn ra trong ngọn gió biển thoang thoảng thổi vào làm tóc chị hay rối một vài sợi nhưng cũng làm khô đi những giọt mồ hôi vì bếp lửa.
Bữa cơm thịnh soạn cho hai người. Nhất là đối với Toàn, mấy năm nay anh ăn toàn là những cơm sấy khô hoặc chỉ được nấu chín, vội vàng trong những chiếc thùng đen dơ bẩn.
- Quấn với bánh tráng mới ngon Toàn à.
Chị Lục nhúng bánh tráng sơ sài vào nước cho bánh hơi mềm một chút. Chị mở nồi cá ngừ kho, mùi thơm bốc lên, những khoanh cá chín ngã sang màn nâu tỏa đầy khói. Chi Lục làm cho Toàn một cuốn đầu tiên. Rau sống, cá ngừ, rau muống tươi chẻ nhỏ được tràn vào nhau, quấn trong bánh tráng mỏng. Anh cầm lấy, nhúng vào nước chấm được làm bằng nước cá hòa với những trái ớt đỏ dằm nát thành từng mảnh, hột ớt lấm tấm. Anh cắn một cuốn bánh tráng ngon lành, mùi thơm nồng của loài cá biển tươi, mát mẻ dòn tan của rau xanh, mặn mà của nước cá và vị ớt cay cay... Gió biển lại thổi lồng vào sống lưng lạnh mát, làm khô đi hơi nóng vừa bốc lên một chút trong người vì anh hau háu ăn không ngừng nghỉ.
Chị Lục tỏ vẻ thích thú, thỉnh thoảng chị lại mỉm cười và khẻ nuốt nước bọt thèm thuồng nhìn anh. Phần chị, chị đã quá quen với món ăn này rồi. Chị ăn chậm rãi bình thường và tay bận bịu đậy nồi cá để giữ hơi nóng, thấm nước cho bánh tráng hay xắn thêm một vài trái ớt xanh dòn.
Anh mãi miết ăn, chẳng còn hơi sức đâu mà nghĩ đến cái chân què của mình nữa.
Chi Lục mở nắp chai bằng một khoen đinh trên cánh cửa. Chị nói :
- Ở đây chỉ có bia Quân Tiếp Vụ thôi, họ lại hết đá rồi. Toàn uống được không ?
Anh gật đầu. Bia hơi đắng nhưng vẫn nồng, cay xè trên lưỡi như mùi ớt. Anh đưa chiếc ly cạn một nửa cho chị Lục.
-      Chị uống một chút đi. Thứ này nhẹ lắm.
Chị Lục vấn mái tóc lại rồi cột bằng một sợi dây cao su. Mắt chị long lanh.
-      Uống lở say rồi làm sao. Tôi đâu biết uống rượu.
-      Có sao đâu ? Mai là Chủ nhật mà.
Chị Lục cầm lấy ly bia, chị bỗng nhìn bâng quơ ra ngoài biển.
-      Ờ... mai chủ nhật, thích thật. Mọi khi tôi sợ ngày chủ nhật lắm, học trò nghĩ hết mình không có chuyện gì làm cả. Bây giờ có thêm Toàn mới vui.
-      Có ‘‘ chương trình’’ gì vui không?
- Trời ơi, ở đây mà có chuyện gì được. Nhưng mai tôi ra chợ sớm, tìm một ít mực tươi về luộc ăn với nước tương. Không biết mùa này cô ‘‘nuốc’’ không.., ‘‘nuốc’’ ăn mát lắm, chấm với ruốc ớt thì buổi trưa nóng lại càng thích, vừa đổ mồ hôi vừa ăn...
Anh nhìn chị Lục, mỉm cười khuyến khích. Chị nhắm mắt uống một hớp bia, rồi nhìn quanh như sợ có ai bắt gặp, nhất là mấy cô cậu học trò vẫn thường ngoan ngoãn nghe chị nghiêm trang giảng bài uống rượu tai hại như thế nào.
Nhưng giờ này, chiều đã xuống trên xóm vắng, ngọn đèn dầu vàng rực đã thắp lên trong những mái nhà lá, mọi người đều xúm xít bên mâm cơm, đâu có ai ra dạo mát ngoài bãi biển nữa, và nếu có cậu bé nào nghịch ngợm ham chơi nhất, thì chắc cũng đang nhảy nhót ở một khỏang cát nào xa tít, nó đâu có muốn lại gần trường học, một tuần phải đến đây sáu ngày là cũng đủ ngán quá rồi.
Mặt chị Lục ửng đỏ, nhưng chị lại uống thêm một hớp. Anh nhìn thấy lóng lánh bia vàng chảy vào môi chị, mắt nhắm và đôi lông mày hơi nhíu lại. Và chị trả chiếc ly cho anh, với một nụ cười thắm thiết.
Nhưng có lẽ là anh đã tưởng tượng quá nhiều về nụ cười của chị. Trời đã tối lắm rồi, anh chỉ nhìn thấy lờ mờ khuôn mặt chị, chỉ có đôi mắt sáng là thấy rõ ràng nhất. Ánh đèn hắt ra từ song cửa bếp. Giọng chị Lục nhỏ lại như vỗ về:
- Ngày mai là chủ nhật. Tôi sẽ...
Vâng, anh biết. Ngày chủ nhật. Ngày nghỉ ngơi, rộng rãi, thời khắc dịu dàng và êm đềm như một dãi lụa mềm mại trải dài ra. Ngày còn làm lính, anh không biết phân biệt ngày nào với ngày nào. Chỉ nhớ ngày phát lương và ngày hết tiền cách đó không đầy một tuần. Chỉ lo lắng ngỗn ngang vào ngày lên đường chuyển quân và nôn nóng chờ ngày chấm dứt cuộc hành quân, trở về.
Nhưng ở đây, biển Lăng Cô, trường học và chi Lục. Một ngày Chủ nhật...
**
Anh ra biển vào lúc nắng đã lên rực rỡ trên mặt nước. Biển Lăng Cô không phải là một thắng cảnh danh tiếng, tấp nập du khách như một vài nơi khác. Ở đây, sóng rì rào lặng lẽ. Ngoài khơi cảnh mênh mang tịch mịch, lác đác những thuyền buồm đánh cá. Bãi cát cũng vắng người, một vài đứa trẻ con lội nước đuổi bắt nhau đàng xa xa cuối xóm chài lưới.
Anh ngồi xuống một đụn cát âm ấm. Tiếng chị Lục đằng sau:
-      Mấy năm rồi, thấy có gì lạ không ?
-      Đâu biết được. Bề ngoài thì muôn đời vẫn như thế.
Biết bao biến chuyển, tàn tạ, sinh thành trong lòng sâu của biển cả từng mỗi phút giây. Nhưng làm sao anh biết được. Anh chỉ nhìn thấy bộ mặt bên ngoài lúc nào cũng lững lờ bất động của mặt biển.
Đằng kia, về phía tay phải là một chỗ biển cạn nhỏ hẹp, gọi là Đầm, nằm trong lòng trũng sâu sát với ven rừng và ngọn núi cao sừng sửng của dãy Trường Sơn. Anh theo dõi những chiếc xe hàng như những hộp diêm bé tí nối đuôi nhau bò lên đỉnh núi. Con đường đèo này có tiếng là quanh co nguy hiểm. Đèo Hải Vân, hay Ải Vân? Trời đất chỉ chan hòa mây trắng sa thấp cùng biển cả. Hay là Quan Ải cheo leo cao ngất thấu đến mấy từng mây?
Bỗng chốc, anh mơ hồ nghe tiếng còi tàu yếu ớt nhỏ nhoi như trong tưởng tượng. Từ phía nhà ga Lăng Cô, những toa tàu chậm chạp đàng xa xa, trông như lước nhẹ chứ không phải là nghiến bánh trên đường rầy từ từ chui vào lòng hầm Sen, đục thủng chạy xuyên qua dãy núi. Khi con tàu như bị nuốt chửng đến toa cuối cùng, anh còn kịp thấy một ngụm khói nhỏ gió thổi tạt ngược chiều, bay loãng rồi tan đi mất biệt.
Ngày hôm qua, vào giờ nầy, có lẽ anh cũng có mặt trên chuyến tàu đó. Anh lẩm bẩm :
‘‘Chuyến tàu chỉ ghé Ga Lăng Cô.., rồi tiếp tục đi, qua biết bao nhiêu bãi biển, ven rừng, đồng bằng, qua những quê làng và thành phố. Tam Quan, Tam Kỳ, Bồng Sơn, Diêu trì, Nha Trang, Saigon... rồi lại lên đường...’’
-      Toàn còn định đi đâu nữa.
Tiếng chị Lục sau lưng, anh không quay đầu lại nhưng vẫn biết rõ chị đang đến gần. Khi chị ngồi xuống bên cạnh, anh nhận thấy tóc chị hôm nay buông rũ trên vai, làn da tươi sáng như đang hớn hở đón lấy một buổi sớm mai rảnh rang và tốt trời.
Toàn đưa tay chỉ cho chị Lục nhìn về phía đường đèo xa, nhưng bây giờ không còn bóng dáng một chiếc tàu hỏa nào nữa. Thật lâu sau câu hỏi của chị, anh mới trả lời:
-      không biết. Nhưng chắc là phải đi, ở Lăng Cô không có một chỗ nào cho tôi cả.
Giọng chị Lục ân cần :
-      Đừng, Toàn. Đừng đi đâu nữa. Toàn không thích dừng lại ở một nơi nào sao.
Anh im lặng nhìn về phía nhà ga. Chị Lục nói tiếp, với một thoáng trách móc :
-      Hồi đó Toàn có tiếng là ham chơi lắm. Tuần nào đến Chủ nhật là cũng bỏ trường phóng về Huế luôn mấy ngày, Ông Hiệu trưởng cằn nhằn hoài, tôi phải dạy thế cho Toàn biết bao nhiêu lần…
Chị Lục cười:
-      Trong trường, Toàn là ông giáo bê bối nhất đó. Bây giờ phải thay đổi đi chứ.
Anh cũng mỉm cười, mơ màng nhớ đến phòng học buổi trưa có ngọn gió biển thoang thoảng thổi, anh gần như đứng giảng bài một mình trong khi bọn học trò ngủ gục hơn một nửa lớp. Anh còn nhiều kỷ niệm dưới mái trường này quá. Và kỷ niệm đẹp, chính là điều làm cho anh lo âu vì biết rằng mình sẽ không bao giờ xây dựng lại được những gì tương tự như thuở trước.
Có tiếng cười đùa của bày trẻ con đuổi bắt nhau từ xóm chài lưới chạy ra làm Toàn và chị Lục đều giật mình. Chị Lục có vẻ bối rối, dầu sao thì hai người nãy giờ đã ngồi sát bên nhau trên bãi cát vắng vẻ, và bất cứ một đứa nào trong xóm này, nếu đến tuổi đi học là đều biết mặt cô Hiệu trưởng nghiêm trang đáng kính của chúng.
Chị Lục đứng dậy, chậm rãi đi xa hơn. Toàn khập khểnh theo chị. Không ai nói với ai, nhưng có lẽ cả hai đều có ý định tìm một nơi tránh xa được tất cả những đôi mắt khờ khạo nhưng tò mò của dân cư trong làng. Họ đều quên Toàn, ở đây không còn ai nhớ mặt ông giáo viên nầy nữa. Họ sẽ nghĩ rằng đây là một gã đàn ông lạ mặt, từ một nơi xa nào đó ghé lại Lăng Cô, đêm vừa qua đã ngủ trong nhà của chị Lục, và mới sáng sớm hai người đã sánh vai dạo chơi trên bãi cát vàng hoang vắng.
Nhưng hôm nay là ngày Chủ nhật. Bọn trẻ con được nghỉ học đều ùa ra bãi biển, nghịch cát, té nước hay sửa soạn leo lên thuyồn của cha mẹ chúng bắt đầu ra khơi đánh cá. Không còn được một chỗ hoàn toàn vắng vẻ cho hai người.
Chị Lục và Toàn đành phải về trường. Bây giờ chỉ có sân trường và những lớp học là nơi tĩnh mịch nhất, trái với sáu ngày vừa qua trong tuần.
Khi đi qua hành lang vắng, Toàn chợt dừng lại ở phòng cuối cùng, trên cánh cửa đóng kín vẫn còn treo tấm bảng nhỏ cũ kỹ : Lớp nhì. Toàn nắm lấy chốt cửa, bồi hồi ngước nhìn chị Lục. Chị hiểu ý, cầm xâu chìa khóa, lựa một chiếc mở cửa.
Thiếu ánh sáng, trong phòng mờ tối. Những bức tranh cắt từ báo dán trên tường đã thay đổi, lúc trước Toàn, thích treo tranh phong cảnh, bây giờ là những hình bầy thú lạ mắt của rừng già Phi châu: cá sấu, ngựa vằn, sư tử... Trên góc tấm bảng đen, còn mấy nét phấn trắng ghi sĩ số học trò trong lớp, hiện diện và vắng mặt.
Tự dưng, Toàn cảm thấy thích thú. Anh leo lên đứng trên bục gỗ, mân mê một thỏi phấn trắng trên tay. Chị Lục ngồi vào hàng ghế đầu tiên, cố nén cười để giả vờ làm một cô học trò chăm chú nhìn lên bảng. Lớp học chỉ có một thầy và một ‘‘trò’’. Toàn chợt muốn đùa nghịch. Anh đằng hắng giọng, sửa lại cổ áo rồi nghiêm trang nói lớn :
-      Trò Nguyễn thị Huyền Lục.
Chị Lục đỏ mặt, nói nhỏ:
-      Toàn còn nhớ rõ cả tên họ tôi à.
Anh không trả lời, giả vờ nhíu mày, kêu lớn hơn:
-      Nguyễn thị Huyền Lục!
Chị Lục bặm môi, lên tiếng :
-      Có mặt.
-      Lên bảng mau. Coi trò có thuộc bài Việt Sử không.
-      Thưa thầy, đêm qua… em phải khâu lưới dùm cho ba em nên quên học bài.
-      Zê- Rô ! Thôi bây giờ lên làm toán.
Chị Lục mỉm cười, rón rén cầm viên phấn đứng trước bảng đen chờ đợi. Toàn cố nặn óc để nhớ lại một đầu đề Toán vì anh đã quên hết, có lẽ bây giờ anh là một tên học trò dốt nhất chứ đừng nói đến chuyện làm thầy nữa.
Anh chậm chạp nói:
-      Nghe cho kỹ để chép đầu đề : Một chiếc xe hơi và một chiếc tàu hỏa chạy ngược chiều với nhau. Tốc độ của tàu hỏa là... Viết đi chứ.
Chị Lục viết nguệch ngoạc trên bảng : Toàn đừng ở trên chuyến tàu đó, nghe không...
-      ...Năm mươi cây số một giờ. Tàu khởi hành vào lúc tám giờ sáng...
 Những nét phấn trắng của chị Lục tiếp tục, làm như ngoan ngoãn chép theo đúng lời của ‘‘thầy’’, nhưng dĩ nhiên chị chẳng hề chú ý đến bài toán về vận tốc bậc tiểu học đó làm gì, chị đang làm một bài toán gay go riêng biệt của đời chị. Trên bảng đen, thêm một một dòng chữ khác : Tàu sẽ khởi hành một mình nó, Toàn đừng đến sân ga nữa...
Toàn thẩn thờ nhìn những chữ viết của chị Lục mặc dù miệng anh vẫn tiếp tục đọc đề toán một cách máy móc, cuối cùng anh lẩm bẩm nói :
- ...Hỏi hai xe gặp nhan trên đường lúc mấy giờ ?
Chị Lục có vẻ ngần ngại một lát, chị khẽ liếc nhìn Toàn run run viết : ...Tôi và Toàn đã gặp nhau rồi. Không phải lúc mấy giờ mà là gặp nhau suốt đời, bên nhau vĩnh viễn, Toàn...
Toàn đứng sững nhìn chị Lục. Chị đã đánh rơi viên phấn, hai tay chị run rẩy nắm chặt vào nhau, môi mấp máy và đôi mắt van lơn gần như sắp ứa nước mắt. Chị có vẻ như một cô học trò nhỏ chịu bí trước bài toán khó, khổ sở trước đôi mắt nghiêm khắc của ông thầy.
Chị Lục bỗng khóc. Chị quay đi định lau những dòng chữ nồng nàn trên bảng nhưng Toàn đã nắm tay chị lại. Bàn tay chị nóng hổi và lấm tấm mồ hôi. cả hai ôm lấy nhau như mê man. Nước mắt chị Lục ướt lạnh ngực áo anh, cùng với mùi hương dịu ngọt từ tấm thân đàn bà mềm ấm như gối chăn trong một đêm đông mưa bão. Anh và chị Lục san sẻ cho nhau đôi môi ướt đầm đìa rạo rực. Lớp học tối và nóng bức. Nụ hôn mang vào biển xanh và gió lộng khơi nguồn mầm sống.
+++
Chiến tranh vẫn chưa chấm dứt đối với một kẻ đã giải ngũ. Nhất là với một người tật nguyền như Toàn, dầu anh vẫn còn đứng vững trên đất, vẫn còn đi được không cần chiếc nạng gỗ, nhưng thỉnh thoảng, hình bóng cái chân hằn vết sẹo thóp nhỏ cứ lỡn vỡn trước mắt anh.
Đêm nay, anh thấy sự tàn tật của mình rõ hơn lúc nào hết. Ngọn đèn vàng trong phòng của chị Lục tắt sớm, chỉ còn bóng tối rạo rực của nhiệt tình. Tóc chị xổ tung trên gối, mắt nhắm nghiền trong hơi thở dồn dập và tấm thân của Toàn cuống quýt trên người. Chị kêu những tiếng rời rạc vô nghĩa, lã người trao phó trong tay Toàn. Dần dần, anh khám phá da thịt của chị sau làn vải áo, từng chút một, những hàng nút được tách ra nhẹ nhàng, bầu ngực trần mát rượi hơi ươn ướt mồ hôi dưới bàn tay vuốt ve của anh. Đến khi tất cả những mãnh áo quần của hai người đều đã được vứt bỏ bừa bộn trên sân nhà, anh háo hức ôm siết lấy thân thể trần truồng đang rung động của chị Lục dưới thân người anh. Và lúc đó... ngay giây phút cuối, ngay trước cánh cửa hoan lạc sắp mở cửa, anh chợt chết lặng người, thân thể chợt trơ lì nhạt nhẽo...
Chính tại nó. Cái chân. Mồ hôi nóng bức khó chịu tươm sau cổ anh nhột nhạt, anh cắn môi cố quên nó đi, cố vùi đầu điên cuồng trong tóc tai và trong đôi môi mở hé chờ đợi của chị Lục, nhưng không thể nào được nữa. Sảng khoái nguội lạnh dần dần, cảm giác lo lắng lẫn đau đớn ngập tràn người anh như một gáo nước lạnh buốt dập tắt da thịt đang nồng cháy. Anh nằm buông xuôi người, mắt nhắm lại, lắng nghe từng hơi thở, và cuối cùng, không dằn được sự thúc đẩy gần như ma quái, anh nghiêng đầu ra đàng sau để nhìn cái chân của mình. Anh sợ hãi khi nhìn thấy cái chân xấu xí, thóp nhỏ như chân một đứa trẻ nít. Phất phơ như một sợi rong, có vẽ lủng lẳng như không liên hệ gì với thân thể, vết sẹo láng bóng với đường khâu sù sì nỗi lên da thịt. Anh không rời mắt được khỏi cái chân tàn tật đó nữa, anh mở lớn mắt nhìn trừng trừng, rồi anh bắt gặp đôi mắt chị Lục mơ hồ nhìn anh như có vẻ ngạc nhiên, nhưng anh có cảm tưởng nhận thấy những dấu hiệu ghê tởm trong ánh mắt chị.
Anh bàng hoàng buông vội thân thể chị Lục, ngồi vụt dậy, cúi đầu dấu trong hai bàn tay, bật khóc Những sợi tóc của chị Lục mơn man trên lưng anh, chị vòng tay qua cổ anh, miệng ghé bên tai thì thầm dịu dàng :
- Sao thế, Toàn ?
Anh vẫn cúi đầu lặng im. Chị Lục ôm lấy người anh nhè nhẹ, má chị tựa sát lên lưng anh và thỉnh thoảng chị hôn vào đường rãnh chạy dài của sống lưng anh làm anh hơi rùng mình. Giá mà vào một lúc nào khác, chắc anh sẽ thích thú vị những cái hôn nghịch ngợm của chị, nhưng lần này anh chỉ thấy đau xót thêm, anh úp mặt trên đầu gối của cái chân tật nguyền, cả thân thể dường như dần dần co rút tê liệt, không còn tuân theo ý muốn của anh nữa.
Vết thương cũ đã lành, nhưng như một liều độc dược giờ đây đột ngột tác hại khắp cơ thể và đầu óc. Chói lòa trước mắt anh...
Vùng rừng núi của mặt trận thiêu nóng dưới ánh nắng mặt trời... Buổi trưa mồ hôi nhễ nhại ướt đầy trên thân người mang nặng súng đạn, vướng vít chiếc nón sắt trên đầu làm ngứa ngáy thêm tóc tai. Mồ hôi, mồ hôi chảy như mỡ, thiếu nước uống, nước trong bi đông chỉ còn một ngụm, thấm một miếng trên môi tiếc không dám nuốt vội, liếm quanh miệng từng chút. Thầm van xin trời đổ một cơn mưa nhỏ nhưng mùa hạ ở vùng núi non khô cằn vẫn đỏ cháy như hỏa ngục... vẫn di chuyển, hai đầu gối muốn quị xuống mà vẫn cứ lết, Tiểu đoàn trưởng ra lệnh cứ tiếp tục lục soát và cẩn thận đề phòng, coi chừng bẫy mìn, hầm chông, coi chừng bị pháo kích ở những mõm núi trên cao, coi chừng bị thất lạc trong đường rừng chằng chịt gai quẹt sướt không biết là bao nhiêu vết trên mặt, xem lại bản đồ, xác định lại điểm đứng, một khúc ngắn bằng lóng tay trên bản đồ nhưng mệt bơ phờ mới nuốt hết... Toán lính chưởi thề văng tục và rên rĩ, có đứa ngồi bệt xuống thở hào hễn không chịu đi nữa nhưng chỉ được một lát rồi cũng tất tả chạy theo vì người đi tiền sát vẫn cứ vạch lối bước, không có kẻ gan dạ nào dám dừng lại một mình trong vùng đất chết này. Anh lẩm bẩm địch đâu không thảy một trái lựu đạn rồi ra sao thì ra. Và có tràng đạn nổ lóc chóc như pháo Tết của trẻ con, anh chỉ kịp nhìn thấy người lính truyền tin đi gần bên ngã nhào xuống, rồi chân anh buốt đi, thốn đau, anh cảm thấy bụi có gai cứa vào lưng vì anh đã ngã lăn trên đó, chiếc ống nói từ máy âm thoại bung ra gần anh, tiếng xè xè văng vẳng lạc đi trong những loạt đạn nổ rền, người lính truyền tin không trả tời, y đã chết. Anh nằm yên, mơ màng... tự dưng anh lại nhớ đến những chi tiết thật buồn cười… Người lính truyền tin của anh, y là người đàng hoàng nhất và già nhất trong đơn vị, không cờ bạc, không hút sách, không rượu chè... thân
Người y có lẽ không đến bốn chục ký thế mà cứ đòi mang máy cho được… Y vừa mượn lão Thường vụ trước một tháng lương để gởi về cho vợ mời sinh... thế mà... Anh cảm thấy hình như mình vương tay nắm lấy ống nói, kê sát vào tai. Giọng nói từ bộ chỉ huy thúc hối trong máy : ‘‘Tương Giang gọi Hải Âu, Trả lời ... Tương Giang gọi Hải Âu. Nghe rõ không? Trả lời...’’ Anh há miệng nhưng không nói gì được. Tương Giang và Hải Âu, toàn là những cái tên thơ mộng cả, làm như để nhẹ bớt sự gian khổ của đơn vị mang ám hiệu đó... và tất cả còn lại bềnh bồng như giấc mộng, nhưng là một giấc mộng dữ. Anh nhìn thấy lờ mờ những người lính của mình bắn xối xã vào hốc đá, nhiều tiếng thét vang lên, một tên du kích ngực và đầu nát ngứu tóe máu lẫn lộn với bụi đất, một tên ôm cánh tay đẫm máu quỳ xuống dưới những mũi súng. Chỉ có hai tên, tên còn lại bị bắt sống, y ngã chúi người lăn vài vòng trước cú đá của một người lính, thân người y tình cờ đụng phải cái chân bị thương của anh, anh đau nhói, bộ mặt người lính truyền tin lại hiện ra trước mắt anh, đẫm máu, đau đớn và buồn rầu... Anh nhói đau thêm, một lần nữa, anh bật la lên: Giết nó đi, giết nó đi... Tên du kích nhăn nhó nhìn anh, đôi mắt y ngu ngơ tối tăm, mãnh áo y dơ bẩn rách toang để lộ bộ ngực trắng xanh với những chiếc xương sườn hằn lên như rể cây. Một người lính của anh quỳ xuống bên cạnh tên du kích, đâm phập ngọn lưỡi lê.
... Mắt anh mờ đi vì cơn đau và mồ hôi chảy như tắm trên mặt, anh còn loáng thoáng nghe mấy tiếng nói cuối cùng, giọng thở hào hễn bên máy truyền tin của một người lính xin trực thăng tải thương...
Giết nó đi, giết nó đi… chính anh đã hét lên mấy tiếng nóng giận đó. Cho đến bây giờ, cái chân què quặt còn liên tưởng tới những lời thù hận điên cuồng mà anh đã thốt lên, tất cả như một màn lưới đen dày đặc trói buộc tâm hồn làm người anh rũ rượi và đầy những cảm giác nhờm gớm. Anh ớn lạnh run rẩy... Hình như nước mắt của chị Lục đang thấm ướt trên vai anh, chị rụt rè vuốt ve nhưng người anh đã như một vỏ cây già rã mục. Anh chán chường khổ sở thêm, chị Lục bàng hoàng khi anh vùng mạnh hất vòng tay của chị đi để đứng vụt dậy. Anh ôm đống quần áo quàng vội vào người, mở cửa ra phòng trước.
Biển đêm không ào ạt như buổi chiều. Bây giờ mặt nước mênh mang với ngàn sao nhỏ lập loè như những hạt ngọc, tiếng sóng đều đều âm u. Anh tỉnh người, dễ chịu đôi chút trong làn gió mát. Anh đứng một mình trên bãi cát, thầm nghĩ mình chẳng bao giờ đi vào một mái nhà, một căn phòng nào được nữa.
Mặt trận, chiến tranh, súng đạn, máu, mồ hôi... Đau đớn, yếu đuối, hung dữ, thù hận .. Nhưng cái đó chưa thực sự chấm dứt đối với anh. Chúng vẫn chưa chịu chết tiệt hẳn mặc dầu bây giờ anh đang ở thật xa nơi chốn đầy mùi thuốc súng, chúng vẫn còn âm ỉ lúc nhúc trong người anh như một thứ vi trùng độc địa.
**
- Toàn !
Chị Lục chỉ kêu lên một tiếng rồi đứng khóc bên song cửa. Chị không dám chạy ra khỏi phòng theo anh vì tóc chị đang rũ rượi xổ tung, vành mắt đỏ hoe và sáng hôm nay là thứ hai, một vài đứa học trò đi sớm đã bắt đầu đến trường. Chị phải trở lại với công việc, với bộ mặt nghiêm khắc lạnh lùng của một cô hiệu trưởng.
Toàn lầm lũi đi từng bước nặng nhọc trên bãi cát lầy, chiếc xắc tay nhẹ đeo trên vai nhưng người anh vẫn cảm thấy nặng như chì, anh hướng về phía sân ga Lăng Cô. Một lát nữa sẽ có tàu hỏa từ Huế ghé lại đây, anh sẽ ngồi trong một toa tàu, và như thế là vĩnh biệt bãi biển vắng này với ngôi trường nhỏ, hình ảnh chị Lục cũng sẽ như một giấc mơ ngắn đã tan tành.
Nhà ga thưa thớt người. Toàn mua một vé vào Nam, đến trạm cuối cùng. Anh ngồi một mình trên băng ghế lạnh, nhớ lại đêm vừa qua. Đêm dài tăm tối cho anh, một kẻ thương binh không phục hồi được cuộc sống bình thường, tâm hồn và cơ thể chết khô vô vị trước trái cây ái tình xanh tốt. Anh là một người đàn ông bất toàn, vô dụng, anh không đem lại gì được cho chị Lục, món quà yêu thương đã thất lạc, chỉ mang nặng quà tặng của chiến tranh, thương tích và quá khứ ghê tởm.
Có tiếng còi tàu vang lên trong bầu không khí lặng lẽ của buổi sáng. Đoàn tàu từ xa tiến đến chậm chạp rồi dừng lại trước nhà ga. Vài hành khách bước xuống. Đợi một lát sau, Toàn khập khểnh leo lên toa tàu.
Một người nào đó chen lấn chạm vào sau lưng Toàn làm anh bực mình quay lại, định càu nhàu. Nhưng một cánh tay đột nhiên bị giữ chặt, anh ngạc nhiên... Chị Lục. Chị đã đến sân ga từ hồi nào, mặt chị ướt đầy mồ hôi hay nước mắt, hơi thở gấp gáp sát mặt Toàn. Anh đứng lại sát bục cửa của toa tàu, lặng thinh cúi đầu trước chị Lục.
Giọng nói của chị vang lên nho nhỏ, bao dung lẫn cầu khẩn :
- Toàn hãy ở lại với tôi. Tôi... không thể không có Toàn được...
Anh quay mặt đi, run rẩy :
- Tôi chỉ là một người tàn tật... Tôi không thể...
Chị Lục ôm cánh tay Toàn, nhẹ nhàng dìu anh đi. Chị bất kể những đôi mắt tò mò của đám hành khách đang nhìn hai người. Từ trường học vội vàng đến sân ga, chị cũng không kịp phục sức tươm tốt như thường lệ cho xứng với một cô hiệu trưởng. Bên ngoài bộ áo quần ngắn mặc trong nhà, chỉ một chiếc áo choàng rộng đã sờn cũ.
Toàn nhắc lại những lời nói của anh, giọng anh ấp úng như một cậu bé con. Chị Lục lắc đầu và ôn tồn âu yếm :
- Tôi cũng thế... Tôi sẽ trở nên con người tật nguyền thiếu thốn nếu mất Toàn.
Toàn thấy người được đôi chút ấm áp, hình như thân thể anh, cả cái chân què nữa, bỗng dưng trở nên nhẹ nhàng. Chị Lục tiếp tục dìu Toàn đi dần xa con đường sắt, giọng chị thủ thỉ bên tai anh, như một nguồn suối ngọt :
- Toàn và tôi, chúng ta cần có nhau...
Bây giờ anh có thể quay sang nhìn thẳng vào đôi mắt chị Lục, anh sung sướng bồi hồi khi được tận hưởng muôn màu mắt lóng lánh ngập tràn yêu thương.
Chị Lục nói đúng. Chúng ta cần có nhau, cả hai cần trao gởi hết lòng và chia xẻ cho nhau quả ngọt sắp rụng rơi mất hút vì một lần giã từ nông nỗi. Có vị danh y nào, có liều thuốc tiên nào cứu chữa được vết trọng thương sâu đậm ngay chính trong tâm hồn? Sao cho bằng chính hai kẻ tật nguyền cùng góp sức xoa dịu vết thương cho nhau. Và làm sao anh có thể chạy trốn chính mình đến suốt đời được. Trong anh, một con người dằn vặt sẽ truy nã con người yếu đuối đến kỳ cùng.
Khi địa ngục đã xây huỵệt trong lòng người, còn có cách nào khác hơn là phải dấn mình dập dùi trong địa ngục, chịu tuốt da một lần tối hậu qua hành lang nhỏ hẹp đầy gai góc, để đạp tung cánh cửa mở về hướng trần gian tươi đẹp.
Còi tàu đã hú lên vài hồi, hai hàng bánh sắt từ từ lăn trên đường rầy, để lại chút mùi khói than cay cay trong không khí. Và đúng như những dòng chữ phấn trắng của chị Lục đã viết trên bảng đen, không có chữ Toàn trên chuyến tàu ra đi vô định đó...
Lần này, Toàn quàng tay lên vai chị Lục, những bước chân của anh chậm rãi nhưng cương quyết ngược chiều với sân ga mãi mãi.
- Mình về thôi, Toàn. Bửa nay, vì Toàn mà tôi đã bỏ một buổi chào cờ sáng thứ hai đó. Rồi mấy ông đồng nghiệp sẽ xì xầm, Toàn phải… đền cho tôi cái gì đi...
- Tôi sẽ tìm mấy cái vỏ ốc, áp vào tai, chị sẽ được nghe rất nhiều bản tình ca.
Chị Lục mỉm cười. Giờ đây, với một người thương luôn gần gũi bên cạnh, Toàn sẽ đổi khác, sẽ lành mạnh, sẽ dứt khoát hẳn với những ám ảnh bệnh hoạn trong người. Từ hôm nay cho đến ngày mai hồng sáng sủa đó, một cuộc chiến mới đã mở ra đối với Toàn. Không súng đạn, không ảo tưởng, không một mệnh lệnh, anh sẽ hoàn toàn tự do tiến bước trên mặt trận cuối cùng này.
Sau cuộc chiến tranh bằng vũ khí, anh phải đối mặt với một cuộc chiến mới, phải tự mình chiến đấu để tiêu diệt cho đến cùng những mầm mống hận thù của quá khứ, mầm mống kiêu bạo vênh vang và mầm mống yếu hèn nhục nhã.
... Gió ngàn khơi đang thổi lướt qua những chiếc vỏ thuyền nằm phơi trên cát.
 
HẾT




Đăng nhập để trả lời
0