Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Bốn Con Yêu Và Hai Ông Đồ

11 trả lời, 143 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 08.02.2022 21:34:30 bởi Ct.Ly>

Bốn Con Yêu Và Hai Ông Đồ

Lịch sử Tiểu Thuyết
Tác giả: Nguyễn Triệu Luật
Xuất Bản BỐN PHƯƠNG – Viện VĂN NGHỆ - DAINAM.CO (U.S.A) 
tusachtiengViet.com 
***
 
BỐN CON YÊU VÀ HAI ÔNG ĐỒ, LỊCH SỬ KÝ SỰ, Tác phẩm của Nguyễn Triệu Luật y bản của Xuất Bản TÂN DÂN của NGUYỄN TRIỆU LUẬT. Y bản của xuất bản TÂN DÂN in ở Hà Nội tháng 7 năm 1943, Tái bản trong Viện VĂN NGHỆ, Hiện sáng tác của xuất bản BỐN PHƯƠNG, ấn loát phẩm của THƯ LÂM ấn thư quán SAIGON, Hoàn thành tháng VI năm MCMLVII
 
 
 
 
 
 
I
Quán Tí-Hàn
 
LỐI gần Giám bây giờ, vào khoảng những phố Sinh Từ, Cao Đắc Minh, Hàng Đẫy, trước là một phường trong 36 phường của đô thành Thăng Long đời Lê. Phường ấy, tên gọi là phường Tả Bà- Ngô vì ở cạnh đền Bà-Ngô, về phía tả, Phường Tả Bà Ngô là một nơi tụ hội của bọn nho-sinh, sinh đồ. Cứ đến khoa thi thì bọn các ông nho, ông đồ, ông cống các trấn lại tấp nập kéo tới, làm cho cả phường lại vui vẻ rộn rịp suốt mấy tháng cuối thu đầu đông là mùa khô ráo ấm áp, tiện cho việc thi cử ở trường thi lộ  thiên. Ba năm một khoa thi hương, nối khoa thi hương, năm sau lại kề liền một khoa thi hội; thỉnh thoảng nhân dịp vui mừng gì, nhà nước lại mở một ân khoa; nhân có cớ gì thuộc chánh trị, nhà vua lại mở một khoa thi hoành từ bác văn, thành ra luôn luôn nơi kinh kỳ có khoa thi, luôn luôn phường Tả Bà Ngô là nơi hò hẹn của sĩ tử tứ trấn Nam, Bắc, Đông, Đoài.
Trọ ở phường Tả Bà-Ngô có hai đường tiện lợi; nên dù ở phường Giảng Võ, phường Hoa Nàng là những nơi gần trường thi cũng có nhà trọ nhưng ít người chịu đến mà chỉ đến ở đó. Điều lợi thứ nhất là phường ấy ở giáp phố đô thành. Nhân dịp đi thi, nhân dịp tới Kẻ Chợ thi, các thiếu niên công tử, các con nhà giàu ở bốn trấn cũng muốn dạo chơi phố phường, thăm cửa Đại Hưng, đền Bạch Mã, ngắm cửa Soái Phủ, cho gọi là được biết cái uy nghi vua chúa. Các ông lại lấy làm thú nhất là sáng sáng dạo lên các phường Đồng Lạc, Đồng Xuân để ngắm trộm những cố gái cấm cung hàng Đào hàng Ngang hàng Bạc và bông-lơn để sẵn sẽ bị một cô cưới làm chồng nếu mình đỗ Cống Sinh hoặc Tiến Sĩ.
Quan Tụng có cô con gái đẹp,
Lăm le xui bố cưới làm chồng.
Đó là câu thơ mà bác đồ Cuồng xứ Đoài vẫn lấy làm đắc ý mà đọc luôn. Các nhà giàu, các nhà quan, khi đó vẫn có tục mua chồng cho con. Bác sinh đồ nào có phúc được vào đệ tử, mà chừng như trong ba kỳ có quyền được phê: ưu, bình; ông cống nào đậu chính trúng cách sắp vào điện thi; bác ấy, ông ấy, chắc mười phần đã có người chăm sẵn làm chồng, chỉ đợi khi xướng danh, truyền-lô [1], chính thức ông đồ nên ông cống, ông cống nên ông Nghè, là nhà gái cũng chính thức bắn tiếng đến, chấm làm qui tế và nói rõ cả điều kiện mua chồng, chuốc rể, đại khái như:
Bao nhiêu tiền khao mừng ở họ hàng làng mạc nhà gái chịu cả;
Quần áo nhà gái sẽ may cho, và nếu cần, sẽ may cho cả gia quyến ông qui tế;
 Ngoài ra, lại các thêm, hoặc một hai cái nhà Kẻ  Chợ, hoặc một vài chục, một vài trăm mẫu ruộng nhà quê.

Ngoài ra, ông quí tế lại có thể đòi thêm một vài khoản mà nhà gái chưa kịp nghĩ tới, hoặc không biết rõ mà nghĩ tới được.
Không cần phải nói rằng bao giờ họ cũng, chấm những ông tân khoa chưa vợ. Họ mà đã chấm ai, thì họ chăm chút tin tức từng li từng tí, nhất là những tin bài vở phê phách trong trường. Kỳ đệ nhị, bác đồ Quí ở An trường xuýt nữa bị một dấu xuyễn, kỳ đệ tam, tí nữa thì bác Đồ Thọ ở Kinh Bắc bị phạm trường qui. Bác đồ Khang trấn Đông thật là một bực anh tài: văn sách kiêm trị không bài nào bị phê cái thứ mác, được những ba bình hai ưu.
Vì cái tục ấy nên đồ Cuồng xứ Đoài mới có câu thơ ngông cuồng kia. Bác cuồng thật, vì lần này là lần thứ năm bác vác lều chiếu ống quyển đi thi, mà chưa lần nào bác được vào đến kỳ đệ nhị. Bác lại cuồng nữa là bác ngấp nghé muốn dòm dỏ con quan Tham Tụng Quốc Sư Nguyễn  Hoàn.
Điều lợi thứ hai là phường Tả Bà Ngô ở giáp con đường đến trường thi, tiện việc dò la tin tức về những kỳ thi. Những tên lính thuộc đội Nhưng-Nhất Nhưng-NhỊ là lính cắt vào hầu quan trường trong trường cũng tiện đường lui tới để báo tin bài vở cho sĩ tử. Theo lệ cỗ quan trường, khi đã tiến trường, nghĩa là vào trường thi rồi, ở luôn trong trường thi cho đến hết kỳ thi, không ra ngoài nữa. Người nhà đầy tớ riêng cũng không được ra vào. Việc cơm nước hầu hạ vặt đã có lính hai đội Nhưng Nhất, Nhưng Nhị; việc hầu hạ bút giấy đã có lễ sinh. Từ khoa Ất vị xẩy ra chuyện ông Lê Quí Đôn làm quan trường cho người vào viết thay quyền cho con là Lê Quí Kiệt, thể lệ ấy lại càng nghiêm lắm. Nhưng nghiêm là nói về việc gian lậu kia, chứ việc dò la tin tức bài vở thì vẫn như trước, duy chỉ nhờ được bọn lính Nhưng Nhất, Nhưng Nhị mà thôi, vì bọn này mới được quan trường sai ra phố sá luôn. Trong những lúc đứng đầu hè ở nhà Thập  Đạo, bọn lính tinh lắm, vẫn để ý nhìn các quan chấm và phê quyền học trò. Thế rồi khi ra, chúng vội rẽ qua vào những nhà trọ có người quen ở phường Tả Bà Ngô để báo tin.
Có hai điều tiện lợi ấy, nên các nhà trọ phường Tả Bà Ngô rất đông khách trọ. Những nhà trọ ở phường Giảng Võ, phường Họa Nàng, tuy ở giáp trường thi, nhưng đó là những nơi quê mùa hẻo lánh quá, các vương tôn công tử, các con nhà trù phủ không ai muốn ở. Ở đó chỉ có những học trò nghèo, những ông đồ kiết.
Các sĩ tử bốn trấn và người ở kinh kỳ không ai lạ gì cái quán trọ Tí hàn, cái Tí-Hàn-Quán ở phường Tả Bà Ngô, vì quán ấy lịch sự nhất, phong nhã nhất, rộng rãi nhất, nhiều người trọ nhất trong phường.
Lớp ngoài, một cái nhà ngói ba gian dùng làm cửa hàng bán bút giấy mực son. Qua lớp ngoài đến một cái sân rộng. Giữa sân xây một cái bể tròn, trong trồng sen trắng, thứ sen mà chủ. Nhân ông đã chịu mất công đến tận đầm làng Tức Mặc, nơi quê quán nhà Trần, chuốc đắt tiền mua lấy bằng được, dù rằng dân làng vẫn kiêng không đem bán giống bạch liên không chút viền đỏ nào của  ‘‘nhà thánh’’[2] . Chung quanh cái bể sen tròn ấy, trồng đủ các thứ cây, có hoa đủ bốn mùa. Sen tàn cúc nở, cúc tạ mai thay, mai gầy đào thế; lúc nào trong vườn cũng có hương, có sắc. Vườn ấy sở dĩ còn gọi là sân, chỉ vì nhà bọc bốn bề và còn có mấy hàng gạch Bát Tràng ngang dọc dùng làm lối đi những khi trời mưa đất ẩm. Bốn cái nhà bọc bốn bên sàn, chủ nhân ông xếp đặt cũng có ý tứ lắm.
Cái nhà trông ra đường, tức là lớp nhà ngoài bán hàng, hướng đông. Mặt sau vì hướng tây nên tường bọc hồ kín trừ ra có một cái cửa nách con để xuống nhà dưới. Suốt mặt tường một dây trầu không phủ hồ kín. Nhà ấy vì là nhà bán hàng nên không được một hàng chữ nào cả, trừ ra có cái bức hoành khung trúc mang ba chữ tên quán: Tí- hàn-quán. Ba chữ ấy, chủ nhân ông đặt ra là có ý kiêu kỳ lắm và cũng muốn tỏ cho khách qua đường rõ rằng: ta đây chẳng phải phường con buôn như những anh hàng cơm chứa trọ khác. Người nào chữ nghĩa còn non nớt mà lại dám xược hỏi ông nghĩa ba chữ ấy thì ông cười nhạt :
— Tí hàn là che rét. Vì quán tôi hay tiếp khách về mùa rét, về vụ thi.
Thật ra ba chữ ấy nghĩa là giúp giập che đậy cho những người hàn sĩ (học trò nghèo) chữ ấy ông lấy ở câu thơ Đỗ Phủ :
An đắc quảng hạ thiên vạn gian,
Đại tí thiên hạ hàn sĩ giai hoan nhan.
(Ước sao có được nhà rộng ngàn vạn gian để chứa hết những học trò nghèo trong thiên hạ cho họ được có nét mặt vui vẻ).
Ở cửa nách, đi thông xuống chiếc nhà bảy gian phía bắc mà chủ nhân đặt tên là Bắc Song. Nhà ấy là nhà chủ nhân thường ngồi xem sách và nằm ngủ. Nhà ấy dù là người nhà cũng ít khi được lui tới, trừ ra có cô con gái nhỏ của chủ nhân vẫn ngồi bán hàng. Phía trông ra vườn cảnh có một giàn thiên lý chạy suốt ba gian giữa; bên cạnh giàn, về phía hữu có một khóm trúc, phía tả một cây thông. Chủ nhân thường ngồi xem sách ở cái đoản kỷ làm bằng thứ trúc núi đã già, trông vàng bóng như ngà. Cạnh chỗ chủ nhân ngồi có chiếc cửa sổ tròn trông ra hướng bắc. Ngay cạnh cửa sổ, ngoài bức tường hậu, trồng một gốc mai già. Mai nở mùa đông, mùa đông gió bắc, hương hoa mai đưa vào trong nhà một hương thơm mát và nồng. ít khi chủ nhân chịu tiếp khách ở cái nhà ấy, trừ ra một đôi khi có những bực thượng tân tao nhã.
Tiếp nhà ấy, chạy dài theo một hướng và đối với lớp nhà ngoài, một lớp nhà năm gian.
Đó là nhà thờ và nhà khách. Trước nhà năm sáu hàng chậu lan đặt mỗi cái trên một cái đôn sành men xanh. Lan đủ thứ: thứ bạch ngọc đại  kiều lá nhỏ hoa trắng ; thứ bạch ngọc tiểu kiều lá to hoa trắng ; thứ đông lan mầm khỏe và thẳng; thứ trần mộng hoa xám mà thơm : thứ mặc lan cánh đen hương ngát;thứ túy ông lan để cốc rượu dưới thi hoa đỏ và rũ dần xuống như muốn uống rượu; thứ lan tây - thiên lá rườm rà khỏe mạnh như lá cỏ lan : thứ tố tâm, hoa ngoài đỏ trong trắng ; thứ nhất điểm, thứ loạn điểm, trong lòng hoa điểm những nét chấm như nét chấm chữ tâm viết lối hành thơ: ngoài ra, lan tứ thời, lan núi nhiều lắm. Đến mùa hoa lan nở, gió đông đưa vào sực nức một nhà hương vượng giả. Có người tinh ranh hỏi chủ nhân :
— Sao Bẳc Song Xử Sĩ không trồng lan trước cái nhà Xử Sĩ ngồi lại trồng ở Tây Viện?
— Ấy chết, người dạy lẫn. Cái thư trai của tôi nhân nó hướng bẳc nên tôi đặt tên nó là Bắc Song, chứ tôi nào dám tự tỉ với Bành Trạch Tề[3]. Tôi thì tam đẩu mễ cũng khả dĩ triết yêu được được.
Nói đến đó, ông cười xòa rồi lại tiếp:
— Còn như hoa lan thì tôi phẩm hèn không dám thưởng thức. Tôi để đó, để các ông nghè nay mai hưởng. Cái hương thơm vương giả phải để tặng người phẩm sang hơn tôi. Những khách trọ nhà tôi sang lắm đó, chứ chẳng vừa. Khoa nào ít ra nhà tôi cũng có một ông nghè, vài ông cống.
Đối diện cái nhà Bắc Song, chạy dài một chiếc nhà bảy gian nữa. Nhà này là chỗ chửa học trò trọ đi thi.
Ở cửa nách, đi thông xuống chiếc nhà bảy gian phía bắc mà chủ nhân đặt tên là Bắc Song. Nhà ấy là nhà chủ nhân thường ngồi xem sách và nằm ngủ. Nhà ấy dù là người nhà cũng ít khi được lui tới, trừ ra có cô con gái nhỏ của chủ nhân vẫn ngồi bán hàng. Phía trông ra vườn cảnh có một giàn thiên lý chạy suốt ba gian giữa; bên cạnh giàn, về phía hữu có một khóm trúc, phía tả một cây thông. Chủ nhân thường ngồi xem sách ở cái đoản kỷ làm bằng thứ trúc núi đã già, trông vàng bóng như ngà. Cạnh chỗ chủ nhân ngồi có chiếc cửa sổ tròn trông ra hướng bắc. Ngay cạnh cửa sổ, ngoài bức tường hậu, trồng một gốc mai già. Mai nở mùa đông, mùa đông gió bắc, hương hoa mai đưa vào trong nhà một hương thơm mát và nồng. ít khi chủ nhân chịu tiếp khách ở cái nhà ấy, trừ ra một đôi khi có những bực thượng tân tao nhã.
Tiếp nhà ấy, chạy dài theo một hướng và đối với lớp nhà ngoài, một lớp nhà năm gian.
Đó là nhà thờ và nhà khách. Trước nhà năm sáu hàng chậu lan đặt mỗi cái trên một cái đôn sành men xanh. Lan đủ thứ: thứ bạch ngọc đại  kiều lá nhỏ hoa trắng ; thứ bạch ngọc tiểu kiều lá to hoa trắng ; thứ đông lan mầm khỏe và thẳng; thứ trần mộng hoa xám mà thơm : thứ mặc lan cánh đen hương ngát;thứ túy ông lan để cốc rượu dưới thi hoa đỏ và rũ dần xuống như muốn uống rượu; thứ lan tây - thiên lá rườm rà khỏe mạnh như lá cỏ lan : thứ tố tâm, hoa ngoài đỏ trong trắng ; thứ nhất điểm, thứ loạn điểm, trong lòng hoa điểm những nét chấm như nét chấm chữ tâm viết lối hành thơ: ngoài ra, lan tứ thời, lan núi nhiều lắm. Đến mùa hoa lan nở, gió đông đưa vào sực nức một nhà hương vượng giả. Có người tinh ranh hỏi chủ nhân :
— Sao Bẳc Song Xử Sĩ không trồng lan trước cái nhà Xử SĨ ngồi lại trồng ở Tây Viện?
— Ấy chết, người dạy lẫn. Cái thư trai của tôi nhân nó hướng bẳc nên tôi đặt tên nó là Bắc Song, chứ tôi nào dám tự tỉ với Bành Trạch Tề[3]. Tôi thì tam đẩu mễ cũng khả dĩ triết yêu được được.
Nói đến đó, ông cười xòa rồi lại tiếp:
— Còn như hoa lan thì tôi phẩm hèn không dám thưởng thức. Tôi để đó, để các ông nghè nay mai hưởng. Cái hương thơm vương giả phải để tặng người phẩm sang hơn tôi. Những khách trọ nhà tôi sang lắm đó, chứ chẳng vừa. Khoa nào ít ra nhà tôi cũng có một ông nghè, vài ông cống.
Đối diện cái nhà Bắc Song, chạy dài một chiếc nhà bảy gian nữa. Nhà này là chỗ chửa học trò trọ đi thi.
Ở cửa nách, đi thông xuống chiếc nhà bảy gian phía bắc mà chủ nhân đặt tên là Bắc Song. Nhà ấy là nhà chủ nhân thường ngồi xem sách và nằm ngủ. Nhà ấy dù là người nhà cũng ít khi được lui tới, trừ ra có cô con gái nhỏ của chủ nhân vẫn ngồi bán hàng. Phía trông ra vườn cảnh có một giàn thiên lý chạy suốt ba gian giữa; bên cạnh giàn, về phía hữu có một khóm trúc, phía tả một cây thông. Chủ nhân thường ngồi xem sách ở cái đoản kỷ làm bằng thứ trúc núi đã già, trông vàng bóng như ngà. Cạnh chỗ chủ nhân ngồi có chiếc cửa sổ tròn trông ra hướng bắc. Ngay cạnh cửa sổ, ngoài bức tường hậu, trồng một gốc mai già. Mai nở mùa đông, mùa đông gió bắc, hương hoa mai đưa vào trong nhà một hương thơm mát và nồng. ít khi chủ nhân chịu tiếp khách ở cái nhà ấy, trừ ra một đôi khi có những bực thượng tân tao nhã.
Tiếp nhà ấy, chạy dài theo một hướng và đối với lớp nhà ngoài, một lớp nhà năm gian.
Đó là nhà thờ và nhà khách. Trước nhà năm sáu hàng chậu lan đặt mỗi cái trên một cái đôn sành men xanh. Lan đủ thứ: thứ bạch ngọc đại  kiều lá nhỏ hoa trắng ; thứ bạch ngọc tiểu kiều lá to hoa trắng ; thứ đông lan mầm khỏe và thẳng; thứ trần mộng hoa xám mà thơm : thứ mặc lan cánh đen hương ngát;thứ túy ông lan để cốc rượu dưới thi hoa đỏ và rũ dần xuống như muốn uống rượu; thứ lan tây - thiên lá rườm rà khỏe mạnh như lá cỏ lan : thứ tố tâm, hoa ngoài đỏ trong trắng ; thứ nhất điểm, thứ loạn điểm, trong lòng hoa điểm những nét chấm như nét chấm chữ tâm viết lối hành thơ: ngoài ra, lan tứ thời, lan núi nhiều lắm. Đến mùa hoa lan nở, gió đông đưa vào sực nức một nhà hương vượng giả. Có người tinh ranh hỏi chủ nhân :
— Sao Bẳc Song Xử Sĩ không trồng lan trước cái nhà Xử SĨ ngồi lại trồng ở Tây Viện?
— Ấy chết, người dạy lẫn. Cái thư trai của tôi nhân nó hướng bẳc nên tôi đặt tên nó là Bắc Song, chứ tôi nào dám tự tỉ với Bành Trạch Tề[3]. Tôi thì tam đẩu mễ cũng khả dĩ triết yêu được được.
Nói đến đó, ông cười xòa rồi lại tiếp:
— Còn như hoa lan thì tôi phẩm hèn không dám thưởng thức. Tôi để đó, để các ông nghè nay mai hưởng. Cái hương thơm vương giả phải để tặng người phẩm sang hơn tôi. Những khách trọ nhà tôi sang lắm đó, chứ chẳng vừa. Khoa nào ít ra nhà tôi cũng có một ông nghè, vài ông cống.
Đối diện cái nhà Bắc Song, chạy dài một chiếc nhà bảy gian nữa. Nhà này là chỗ chửa học trò trọ đi thi.
Bốn cái: Bắc Song, Đông -Trai, Nam - Hiên, Tây-Viên cùng cái sân vườn hoa biệt ra một khu riêng. Người nhà đầy tớ đi lối riêng, không qua cái sân ấy cùng trước mụt những nhà ấy. Cô gái nhỏ thỉnh thoảng có ở ngoài hàng vào thì đi cái cửa nách phía bắc, lẻn bóng hồng dưới gốc thông, giàn thiên lý, khóm trúc rồi vào tận lớp trong cùng, khách khứa không ai lui tới. Mỗi khi bóng hồng lấp ló lướt qua, vài bác nho sinh ngồi bên Nam-hiên lại nói đùa:
— Tôi hốt nhiên có cái chí muốn làm ông Lưu Bị, các bác ạ!
Một bác khác tiếp:
— Thiên hạ thì đem ra ta  phân được, chứ của đó mà tam phân thì hỏng bét!
— Ai tam phân ? Người ta làm ông Lưu Bị lúc ở Tân Dã kia chứ?
— Ở Tân Dã thì làm trò gì?
— Các bác tối như hũ đút cả. Ông Lưu Bị, khi ở Tân Dã tiễn anh chàng Từ Thứ qui Tào, muốn chặt cây để thấy... (Giữa lúc ấy, thiếu nữ lại lướt mình qua hàng trúc tùng thiên lý, hiên bên kia)... thấy cô nàng mãi mãi;
Rồi bác vỗ tay vào đùi gào thét lên mà cười:
— Lúc này chí tôi lại to hơn ông Lưu Bị. Chặt cả tùng trúc đi, phá cả nhà cửa đi!
   ***
Cứ xem cách bố trí nhà cửa, ta có thể tạm biết chủ nhân ông là người thế nào, muốn biết rõ hơn, có lẽ ta nên xét kỹ lại chỗ ông ngồi cùng những đồ đạc trần thiết ở đó một cách kỷ lưỡng hơn nữa, vì, đó cũng là một chỗ để một ông nhà nho phát hiện tính tình, nhân cách và thân thế.
Ở giữa bức tường, đầu hồi nhà, gần chỗ ông ngồi có treo một bức tranh vẽ một con khỉ thật to ngồi ôm gối, mặt ngẩng nhìn lên. Góc bức tranh, có hai câu thơ :
Thế gian diệm thuyết phong hầu quí.
Nhữ thị hầu trung bất đãi phong
(Người đời nô nức phong hầu lắm
Mày hẳn hầu thôi! chẳng đợi phong)
Dưới 14 chữ ấy, mấy hàng chữ con :
Cảnh Hưng giáp thân, tuế trừ nhật, Bạch Sinh thị. (Năm Cảnh Hưng giáp thân ngày 30 tết, Bạch Sinh thị).
   Bạch-Sinh thị là biệt hiệu của ông. Cứ xem bức vẽ và câu văn, thừa biết ông là người bất  đắc chí. Chữ hầu là tước hầu, ông đem chữ hầu là con khỉ ra làm một ngón lộng ngữ ngạo ngược khinh đời. Cái hiệu Bạch Sinh-thị ông đặt cho ông, nghĩa là bạch đinh (chân trắng). Xem ý ra ông căm cái chân trắng của ông lắm.
Lại xem bức tranh vẽ mấy bông hoa mẫu đơn và hai câu thơ đề hai bức tranh đó.
Đãn đắc quân vương thì thì cố,
Thử sinh bất nhượng, hải đường hoa,
(Quân vương đoái đến luôn luôn
Thân này nhường đóa hải đuờng? có đâu!)
 
Câu chuyện đạm bạc thường, thường vẫn luôn trên cửa miệng ông, té ra bị hai câu này phá hỏng cả hay sao ? Đã đạm bạc thì không có giọng căm trong thơ văn, đã có giọng căm trong thơ văn thì âu là cũng chẳng đạm bạc chi cả. Những lời nói nhạt nhẽo việc đời, coi giàu sang nhơ mây nổi chỉ là lời giả dối cả hay sao? Khách hoặc có kẻ hiếu kỳ nghĩ bưng như thế. Khách nếu tỏ nét mặt ấy trước mặc ông, thì, đón ý, ông nói ngay :
— Những giọng cay đời ấy là giọng của tôi hồi mười năm về trước. Nói thú thật, mười năm về trước, lòng tôi cũng còn khí tục. Thi không đỗ, làm chẳng nên, mà cũng hằn học mãi không thôi. Bây giờ thì ngu đệ dây bụng nhẹ nhàng lắm. Sở dĩ đệ còn để mấy bức ấy lại là tiếc nét vẽ hồi còn trẻ. Nét vẽ ấy bây giờ không còn nữa. Vả lại đệ cũng muốn lưu lại để phơi cái tâm tích thô tục ấy ra, nhìn đến xấu hổ mà chừa.
Khách nếu nhìn kỹ lại hai bức ấy quả vẽ đã trên mười năm trời cả.
Mấy bức vẽ khác của ông gần đây, giọng văn nét vẽ khác cả.
Bức vẽ cành hoa cúc mọc cạnh hòn đá:
Thử sinh chinh úc khê toàn thú
Liên bạn hàn anh ngọa cửa thu
(Kiếp này rắp những vui khe suối
Nay tạm nương mình buổi cuối thu)
 
Bức vẽ bức tranh sơn thủy có câu rõ ra vẻ một nhà thi-sĩ :
Thu thụ bán lâm sương điệp hạ,
Trường giang nhất đái tịch dương lai.
(Nửa rừng lá rụng đem thu đến
Một dải sông dài bóng xế tà)
Cả chốn kinh kỳ cùng sĩ tử bốn trấn đều công nhận ông là người thanh cao phong nhã.
Tiếng ấy truyền đi bốn phương, thành ra đâu đâu cũng đồn đại: Nhà trọ Tí-Hàn-Quán là nhà lịch sự sạch sẽ nhất; ông Ba Bình Vọng chủ nhân nhà ấy là người thanh tao trong nước. Vì cái tiếng tốt ấy nên trong có một vài năm, ông trở nên giàu có. Thiên hạ lại khéo phù kẻ thịnh mà khen thêm:
— Đó, trời há đóng cửa ai! Có chí làm quan, có gan làm giàu: ông Ba Bình Vọng bây giờ có kém gì làm quan? Thôi trời đền bù cho ông thế là phải. Tài ông đáng Bảng nhãn Thám hoa, có phận ra thì nay cùng đã Đốc đông Thiêm sai rồi đó.
— Phần chẳng có thì trời trả công cho đó.
Trời trả công, mà người dường như cũng tin lẽ trời đó mà trả công cho ông vì mỗi khoa thi, kể cả tiền lãi chứa trọ và tiền bổng tiền quà, ông cũng thu được hàng ngàn quan tiền quí. Vì cái thanh giá thiên hạ đồn đại đó nên những chỗ quyền môn cũng nể. Vì cái nể đó, nên đôi khi ông cũng xin được việc này việc khác và tất  nhiên phải có bổng.
Trời trả công mà vua chúa dường như cũng trả công ông.
Cuối mùa thu năm Kỷ Hợi, nhà vua đương vào đời Hiển Tông Vĩnh Hoàng đế niên hiệu Cảnh Hưng thứ 40, nhà chúa đương vào năm thứ 13 đời Thánh-Tổ Thịnh-Vương Trịnh-Sâm (lịch tây vào năm 1779), các quán trọ phường Tả-Bà- Ngô lại tấp nập những cống cùng đồ.
Năm ấy, chúa Tĩnh-Đô mở cả thi hương cả thi hội vào một năm, nên sĩ tử bốn trấn Nam Bắc Đông Đoài và mấy trấn Thanh Nghệ cùng kéo nhau đến kinh cả.
Phường Tả Bà-Ngô khách trọ đông hơn mọi năm bội phần. Tựa như cái thùng đầy tràn nước, sĩ tử ở trọ lấn sang cả phường Hậu- Bà - Ngô, phường Tú-Uyên.
Quán Tí-Hàn, cố nhiên là thêm đông khách trọ.
Ngay từ năm trước, - năm Cảnh- Hưng 39, Mậu-Tuất - chủ nhân quán Tí-Hàn đã làm sẵn một ngôi nhà gỗ năm gian ở vườn sau chiếc nhà Nam-Hiên, vì ông đoán chắc rằng thế nào ở kinh kỳ cũng phải có một khoa thi thật to, thật long trọng.
Lời ông khuyên giải mấy ông cống hỏng thi khoa Ất-Vị thật là lời nói một người tiên tri. Ông bảo các ông cống ấy rằng:
— Các ông chẳng nên buồn lắm, vì từ nay trở đi thì thi luôn luôn, không đến nỗi phải đợi ba bốn năm đâu.
Các ông cống hỏi:
— Ông là nhà chúa đâu mà dám bảo chắc là thi luôn,
— Chắc lắm. Ta nhân dịp biến loạn của Chúa Nguyễn trong Nam, lấy thêm đất hai xứ Thuận, Quảng. Thêm đất thì phải thêm người, muốn thêm người thì mở khoa thi. Vương - thượng ta, trong đã trừ được lũ quân Hẻo, Lê duy Mật, ngoài lại mở thêm đất, ý còn muốn to lắm nữa. Chẳng thế sao mà tháng năm, năm Ngọ vừa sai ông quận Việp [5] vào đánh úp lấy Thuận Quảng, xong thì tháng bảy năm ấy nhà Chúa đã cho sửa lại quân lính cả nước. Tháng mười năm ấy, quân ông quận Việp đến lũy Trấn-Ninh thì Vương thượng để cho các ông Lê-quí-Đôn giữ kinh thành mà cùng bọn các ông Phạm quang Định đem quân vào đóng ở Hà-Trung. Vì việc ấy, năm sau, năm Ất vị, mở liền khoa thi hội ngay. Rồi thì, năm kia mở liền khoa thi hương Thuận - Hóa : rồi năm ngoái thì khoa thi hội Mậu-Tuất. Vương-thưọng ta, ý còn muốn làm to lắm, to lắm, to hơn bây giờ, to hơn cái ngồi Đại-Nguyên Súy, Tổng-Quốc Chính, Tĩnh Đô Vương ...
  Một ông đồ nói tiếp :
— Ý ông định nói là Vương-thượng có ý vấn đỉnh chăng ?
— Đâu cũng hình như thế. Nghĩ chỉ thương hại cho chú nghè phường Đại Uổng. Rõ thật ‘‘uổng’’ cả cái tiến sĩ [6].
Bác đồ Chu vùng Nam-Hạ khẽ nỏi:
— Việc quân-quốc trọng sự các ông ăn óiĩ nên giữ ý tứ đôi chút.
Bác Đồ Cuồng xứ Đoài phá lên cười:
— Đây làm chi có bọn Nguyễn-huy-Bá [7] mà bác đồ Chu sợ rừng mạch vách tai.
— Chưa biết chừng.
Vừa nói, đồ Chu vừa nhìn đồ Cuồng một cách nửa như nghi ngờ, nửa như sợ sệt.
 
 


Chú thích:
[1]  Khi thi đỗ. Thi hương là xướng danh, thi hội gọi truyền lô.
[2] Thành-Hoàng, dân làng thờ gọi cung kính là Nhà Thánh
[3] Bắc Song Xử Sĩ là biệt-hiệu của cuối đời Tần. Khi Đào làm quan lệnh đất Bành Trạch có quan Đốc Bưu đến. Nha lại ta tay chào. Đào nói: ‘‘Ta không thể vì năm đấu gạo mà uốn gẫy Iưng được’’ (vị ngũ dẩu mễ triết yêu) Bèn về nhà ở và chỉ uống rượu đi chơi.
[4] Hoàng Ngũ Phúc
[5] Vấn đỉnh = hỏi đỉnh. Đời cuối, Chi, Sở Trang Vương hỏi quan khanh nhà Chu xem chin cái đỉnh của vua Chu Võ Vương đúc có nặng hay không. Ý Sở Trang Vương muốn nói xa xôi là y có thể thay nhà Chu làm Thien Tử. Đây ý muốn nói là Chúa Trịnh Sâm có ý muốn thay nhà Lê làm vua.
[6]  Chỉ ông Vũ-trần-Thiệu. Chúa Trịnh Sâm muốn thay nhà Lê làm vua, khiến Trần-Thiệu mang biểu sang xin với nhà Thanh. Đến hồ Động- Đình, Trần-Thiệu đốt biểu rồi tự tử.
[7]  Người nổi tiếng là hay dò la tố cáo cầu công đời bấy giờ.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 03.02.2022 18:51:32 bởi Ct.Ly>
Đồ Cuồng thấy thế, tức lắm, hỏi:
— Nói thật : bác ngờ ai trong bọn anh em đây là phường Nguyễn huy-Bá? Này,tôi thì bảo thật. Số mà chết thì chẳng có Nguyễn-huy-Bá rồi cũng chết. Mà số trời còn để yên thì chẳng sợ chi chi hết, Cái bộ dút dát như bác chẳng ăn thua gì đâu!
Đồ Chu thong thả đáp:
— Nào tôi dám ngờ ai? Nhưng ta lên kinh để đi thi, chứ có phải lên để nói chuyện trời nam bể bắc vô ích đâu? Vả chăng, tôi xem ngữ ý thì ông Ba Bình Vọng, chủ nhân đây, hình như có giọng bất bình gì bên Vương phủ thì phải.
Ông Ba Bình-Vọng vội tiếp:
— Không, nào tôi có ý nghĩ cuồng vọng ấy. Chúng ta đều trên đội ơn trời bể của vua chúa cả. Phổ thiên chi hạ, mạc phi vương thổ; xuất thổ chi tân, mạc phi vương thần [8]
— Hẳn thế chứ ! Bác đồ Cuồng nói tiếp. Mấy trăm năm nay, cố-sự là thế [9]. Vua giữ vị báu, Chúa giữ quyền hành, cái thế phải thế. Chính hòng thượng bây giờ cũng cho như thế là phải.
Ông Ba Bình-Vọng nói :
— Ông nói cho vui chuyện đó thôi, chứ có đời nào hoàng-thượng lại cho như thế là phải. Hoặc ngài có nói như thế thì cũng là câu ngài che đậy tâm tích mà thôi, chứ có khi nào...
— Thật thế đó. Hoàng thượng, tuy bị Chúa nhiều lần ức hiếp nhưng vẫn không để ý. Có lần có người đem chuyện “thống nhất”[10] ra nói với ngài thì ngài truyền rằng : Cập trẫm chi thân, tất kiến nhất thống chi sự ; nhiên phi trẫm sở lạc. (Đời trẫm thế nào cũng thấy việc nhất thống. Song, đó không phải việc ta nên lấy làm vui). Hỏi lại ngài thì ngài chỉ cười mà nói: thế như thế, thì phải như thế! Hoàng-thượng nói thế là ngài thông-đạt lắm, Hoàng thượng giữ ngôi báu và hưởng thụ, Vương thượng cầm quyền bính và chịu nặng nhọc, đó cũng là thuận theo lẽ trời. Vả chăng, khi số nhà Lê hết đã lâu rồi, nay thiên-ý nhân tâm qui Trịnh [11] thì cơ nghiệp phải ở nhà Chúa. Cái ngôi báu giữ vớt được mấy trăm năm nay là nhờ hồng phúc của vua Thái Tổ Thái Tông để lại. Nói vắng đây và hỏi thật tình các ông: một anh áo vải thường lưu lạc ở lẫn trong đám dân gian làng Bố-vệ [12] thì có công đức gì mà hưởng ngôi thiên tử ? Có lẽ chỉ có cái “công đức” là con cháu chắt chút một người anh vua Thái- Tổ.
Ông Ba Bình Vọng hỏi:
— Thế, theo ý thầy thì ai mới đáng làm chủ thiên hạ?
— Cứ ý tôi thì công nghiệp của ai, thổ địa nhân dân của người ấy. Hoàng-triều từ vua Thái -Tổ đến vua Cung-Hoàng trải được mười đời vua, và ngót trăm năm. Cái việc đánh mất nước về tay chúa Mạc là lỗi ở Uy -mục Tương-Dực... Đến lúc nhà Mạc cướp mất thì cơ nghiệp nhà Lê tắt hẳn rồi. Nhà Mạc  có nước đến sáu mươi năm, đó đủ biết thiên-ý nhân-tâm bỏ họ Lê rồi. Sau đây; rứt họ Mạc là công ở Trịnh-Thái-Vương[13]  Một họ mất nước đến sáu mươi năm thì họ khác dẫu có lên thay nữa cũng là “vô gián ngôn”![14]. Huống chi họ Trịnh chẳng nỡ thế, vẫn nhớ ơn xa đức Thái Tổ mà nhường cho con.
cháu cái vị chí tôn, tình ăn ở không sao trách được. Ta đây nói văn vẻ thì là tôi vua, tôi chúa, nhưng sự thực thì chỉ là thần tử Trịnh mà thôi! Ai muốn giữ nhà Lê bền chặt thì phải nhất tâm trung với Chúa, đó là cái đạo trung trinh của kẻ làm tôi bây giờ ...
Câu chuyện vừa đến đó thì có tiếng kêu ngoài hiên:
— Đi đâu về mà tiếng nói thất thanh đi thế?
Kìa! mặt không còn hột máu nào cả kìa!
— Ai thế? Đi đâu về thế?
Cả nhà chạy ra ngoài hiên, bỏ dở câu chuyện đương nồng. Ngoài hiên, thầy đồ Tốn xứ Đông, mặt tái như gà cắt tiết, đương hổn hển thở giữa đám sĩ tử hỏi han rối rít. Vào trong, nhà nghĩ một lúc hoàn hồn, Đồ Tốn nói:
— Tôi vừa gặp con yêu hồ trước Giám.
— Mắt bác hoáng đó. Làm gì có ma ở trước chỗ thờ Đức-Thánh[14]
— Không! tôi không hoáng chút nào cả. Tôi trông rõ như trông rõ các bác ở đây.
Miệng bốn năm người nói chen lẫn nhau:
- Làm gì có ma! Bác đồ xứ Đông hoáng mắt đó. Chúng tôi đều đã có đi qua đó cả, thấy gì đâu?.  Chiều tối hôm qua tôi đi thăm bác đồ Uông ở phường Tú- Uyên về, đi qua đấy, có thấy gì đâu?
Đồ Tốn vừa hết sợ ma thì đến tức bạn phát cáu:
— Các bác cho tôi là thằng dút dát đớn hèn lắm sao. Hoáng một lúc chứ ai lại hoáng đến mấy khắc đồng hồ[15] được!
Để mọi người nói ra nói vào ngớt rồi, ông Ba Bình-Vọng mới nói :
— Dễ thường thầy ấy trông thấy ma thật đấy. Các thầy ở các trấn không rõ, thành Thăng Long vẫn có bốn con yêu.
Mọi người nói:
— Bốn con yêu! Ông Ba nói giỡn bác Đồ Tốn đó chăng?
— Tôi không nói giỡn. Các thầy chẳng nghe câu đồng dao:
Long-Thành có bốn yêu tinh.
Yêu hồ trước Giảm, yêu đình Đồng Xuân.
Yêu cây Bàng, giữa hang Cân,
Yêu gốc cây liễu, giữa sân Chùa Tàu.

Bốn con yêu có bốn tính chất riêng. Thôi, nhưng để tôi bảo người nhà làm rượu uống đã. Rồi ta vừa uống vừa nói chuyện mới vui.


 
 
 
[8] Suốt gầm trời đều là đất nhà vua, ở đất ấy ai cũng là tôi nhà vua.
[9] Đời chúa Trịnh mỗi khi nói đến chế độ hiện hành, người ta thường dung hai chữ “cố sự”. Nghĩa là việc ấy, chế độ ấy là việc cũ từ xưa chứ không phải ai mới đặt để ra.
[10] Thống nhất đây nghĩa nặng vì phần quyền chính hơn vì thổ địa.
[11] ý trời long người về họ Trịnh.
[12] Khi nhà Lê trung hưng, vua Lê Anh-Tôn là người nhà quê, Chúa Trịnh kiếm ra ở làng Bộ Vệ (Thanh Hóa) rồi tôn lên làm vua, Lê Anh Tôn là dòng dõi Lê Trừ, anh vua Lê Thái Tổ.
[13] Chỉ Trịnh Kiểm.
 [14] Không ai khe kẽ mà nói vào đâu được.  
[15] Chỉ Giám, đền thờ Khổng Phu Tử.
[16] Cái đồng hồ bằng nước cổ.

 




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.02.2022 15:00:36 bởi Thanh Vân>
II
Chén rượu áp-kinh


 
SÁNG hôm sau, quán Tí-Hàn có một cuộc hội ẩm to. Ngoài các ông đồ ông cống trọ ở đấy ra, chủ nhân lại có mời thêm hai người khách ở trên phố xuống nữa. Chủ khách ngồi đâu đấy rồi, chủ nhân đứng dậy nói:
— Tối hôm qua, nhân vì ông đồ Tốn gặp một điều kinh hoàng, nên gọi là nhà quán tôi có chén rượu, áp kinh [1] mời ông, và cùng anh em bà con mua vui trước ngày tiến trường. Xin bà con cùng tôi cạn cốc rượu này rồi ông đồ xứ Đông mở mào câu chuyện hôm nay cho bà con nghe.
Mọi người cạn cốc, rồi giục:
— Bác đồ nói cho anh em nghe câu chuyện chiều tối qua. Rượu áp-kinh uống rồi thì nói đi!
Đồ Tốn nói, mọi người yên lặng nghe.
— Chiều hôm qua tôi ở nhà trọ bác cống Ngô Tiêm ở phường Giảng Võ về. Về đến trước Giám trăng đã lên, phỏng chừng vào lúc cuối giờ dậu đến giờ tuất. Lúc đó tôi thấy ở cái bãi cỏ trước Giám có bóng một người đàn bà. Yên chí là hoáng mắt, tôi cứ đi như thường và vẫn để ý nhìn cái bóng ấy. Càng gần trông càng rõ: dải yếm lụa bạch, áo dài năm vạt bằng lụa trắng phấp phới trước gió, khăn bịt mõ quạ, mặt tròn trái soan, dáng người óng ả ; bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in vào mắt. Bụng bảo dạ “Con cái nhà ai mà tối rồi còn đứng thẩn thơ ở đây. Tuồng này không phải thiện nhân thì phải”. Tôi cố đi lướt qua thật gần để nhìn rõ mặt. Khi cách độ một ngũ thì nó gọi tận tên mình:
— Bác đồ Tốn đi đâu mà về muộn thế?
Tôi kinh ngạc hỏi lại:
— Sao cô biết tên tô ?
— Tôi còn lạ gì ai mà không biết. Tôi ở trước cửa Khổng sân Trình thì phải biết tên những ông nho, ông đồ, ông cống, ông nghè.
Cho là phường đĩ bợm, tôi vừa đến sát cạnh vừa nói :
— Thế khoa này đỗ ông cống ông nghè thì tôi cùng cô sẽ cùng làm cái nhà ở đây để cùng nhau canh cửa Khổng sân Trình.
Lạ thay! tôi tiến đến đâu, nó lùi đến đó mà lại lùi về phía cái hồ trước Giám. Tôi nghĩ bụng  “Đến bờ hồ, mày có lùi đi đường giời!” Đến sát vệ hồ, nó đi lướt trên mặt nước mà sang bên bãi cỏ ở giữa hồ. Khi đó tôi mới tỉnh ra, biết là ma, liền rảo bước đi thẳng. Đi được mươi bước, có tiếng gọi giật lại: “Bác Đồ! Bác Đồ! cho em theo với!” Rồi nó hát :
Đi đâu vội mấy anh ơi!
Dừng chân nghe hết đôi lời nước non!
Tôi quay lại thì nó đương đi sau, cách mình chừng vài trượng nữa thôi.
Nhìn xuống mâm rượu, đồ Tốn nhắc cả bàn:
— Xin anh em cầm đũa ăn đi đã chứ. Cạn tuần rượu sau, tôi xin nói nốt.
Chủ nhân cũng cười xòa:
— Ồ mà nghe chuyện tôi cùng quên cả phận sự chủ nhân của một bữa rượu. Nào, xin mời các ông cầm đũa. Uống lượt rượu nữa rồi ta nghe nốt chuyện.
Mọi người ăn uống. Cạn tuần rượu thứ hai, đồ Tốn nói tiếp:
— Mà lúc ấy xem như nó muốn đến gần mình mà lôi kéo. Tôi vội vàng chạy, tai vẫn văng vẳng tiêng hát :
Qua nơi cửa Khổng sân Trình,
Mà anh chẳng đoái chút tình cùng em.
Tự đó tôi sợ quá, mê loạn hẳn thần trí, một mạch chạy về. May cũng chỉ còn mươi trượng đường nữa thôi. Vào tới nhà, tôi còn tưởng như nó còn ở sau lưng hát hổng và đuổi theo nắm lại.
Chủ nhân rót chén rượu thứ ba mời:
— Chén rượu áp kính thứ ba để ông đồ trấn tỉnh hẳn và ... làm bài thơ áp-kinh cho bà con được nghe cái tài văn nôm nổi tiếng của ông đồ Tốn đất Hạ Hồng.
Đồ Tốn nâng chén rượu:
— Giấc ngủ đêm qua áp kinh được một nửa. Chén rượu thứ nhất đủ áp kinh hẳn rồi. Chén rượu thứ hai để thưởng thức cách điều nhẫm[2] của chủ nhân ông. Chén rượu thứ ba này thì đủ để nẩy hứng làm thơ.
Nói xong đồ Tốn cả cười, cả mâm rượu đều cười rầm rộ. Họ cười nhất về câu nói ngụ ý xa xôi mà rõ rệt của bác đồ xứ Đông “ thưởng thức cách điều-nhẫm của... chủ nhân ông...”
Bác đồ Cuồng nói pha trò:
— Quân tử viễn bào trù [3], ông Ba Bình Vọng có vào bếp nấu ăn đâu mà bác nói rằng thưởng thức cách điều nhẫm của chủ nhân ông?
— Lại càng đáng thưởng thức...
Rồi cả lũ lại phá lên cười.
Họ cười về cái giọng nói lững lờ bỏ lửng của đồ Tốn định ý nói cách điều-nhẫm của lệnh ái, nhưng tới tiếng  “của” lại kéo dài giọng ra, rồi tiếp vào ba tiếng chủ nhân ông.
Chủ nhân ông, ông Ba Bình-Vọng cũng hiểu ý tinh ma ấy. Nhưng vì chiều khách ông không nỡ cự, liền kéo câu chuyện vào chỗ cũ:
— Cười lắp chuyện mãi thế? thầy đồ Hạ Hồng? Còn bài thơ áp kinh thầy định chây với bà con chăng? Hứng thơ có rồi thì làm thơ, nghĩ thơ rồi
đọc thơ đi chứ? Không lẽ chỉ hứng cười!
— Thưa vâng. Rượu áp-kinh, thơ áp-kinh rồi thì còn thiếu cái gì cái gì... áp -kinh nữa. Ông ba hứa cho tôi cái áp-kinh thứ ba thì tôi xin làm cái áp-kinh thứ nhì.
— Thi hãy đọc thơ đi đã.
— Phụng mạng! thần phụng-mạng! Nhưng thần xin uống nốt chén rượu thứ tư đã. Cạn chén, xin có thơ.
— Nếu không có?..
— Thì xin trói tôi vào gốc thông suốt ngày để nghe tiếng thông reo và trúc ngâm gió.
— Cứ uống cạn chén rồi đọc thơ đi đã.
— Đi đã rồi thì làm sao?
— Rồi thì thi đỗ cống sinh, rồi thì đi thi hội, thi đình, đỗ Tiến-Sĩ, Hoàng-Giáp chứ lại còn rồi thì làm sao nữa?
— Còn làm sao nữa chứ! Thi đỗ Tiến-Sĩ rồi thì lấy vợ đẹp, rồi thì có người cưới làm chồng.
— Thì hãy làm thơ đi đã, xem khẩu khí có đáng làm ông nghè khoa này không.
— Hễ đáng thì ông cho tôi cô Tường-Loan nhà ông nhé.
Đồ Tốn nói đến đó làm cho cả mâm rượu lại cười to hơn trước. Rồi thì hơi men chếnh choáng, các ông đồ cũng nhả nhớt mà reo lên:
— Phải đó! đồ Tốn làm thơ đi rồi cụ Ba thưởng cho cô gái cụ.
Câu chuyện đến đó đã ra ngoài khuôn nhiều quá. Lúc khác thì chủ nhân giận mà bỏ về phòng khách ngay. Nhưng khi đó, nửa vì ông cũng chếnh choáng hơi men, nửa vì ông cũng không muốn phật ý bọn học trò say rượu, mà phá đám cuộc vui, nên ông cũng cười mà trả lời lạnh lẽo một tiếng:
— Vâng.
Đồ Tốn tay cầm chén rượu đưa lên môi, đầu gật gù lẩm nhẩm, đùi rung rung ra dáng đắc ý.
Một lát, ông ngửa cổ uống mội hơi hết chén rượu rồi dõng dạc nói :
— Xin bà con nghe thơ áp-kinh của đồ Tốn Hạ Hồng.
Rồi ông lớn giọng ngâm từng câu từng tiếng bài thơ ông vừa nghĩ xong:
Ông đồ Hạ Hồng lên kinh thi,
Trọ quán Tí-Hàn, nhà Ba Chi.[4]
Bông hồng thấp thoáng qua thông trúc
Thông trúc khuất bóng chẳng thấy gì.
Ngồi nhà ngắm hoa âu cũng chán,
 Tới kinh ngồi xó, có thằng Mán.
Buồn chân có lúc đồ đi chơi,
 Thăm cửa Đại Hưng cùng Phủ Doãn.
Thăm dẫy hàng Ngang dẫy hàng Đào
Xem trong các phố có cô nào
 Cô nào ròn trẻ lại xinh xinh
 Vào phố [5] miệng vội cất tiếng chào,
 Chào cô hàng đắt tựa tôm tươi
Nhân dịp thịnh khoa kiếm một người
 Một người tuấn nhã mà lịch sự
 Đại khái na ná như đồ tôi.
 
Tới đó cả mâm bẻ:
— Ồ hay ! Bác đồ này làm thơ lạc đề quách rồi! Bài thơ áp-kinh tả cái gặp gỡ cùng nỗi hãi hùng của bác hôm qua kia mà.
— Thì những cái tôi vừa nói cũng là cái để áp kinh cả đấy chứ! Thơ văn thì phải rộng rãi chứ có đâu hẹp hòi. Rồi tôi xin nói đến hết cả. Các bà con nghe tiếp giùm:
 
Chơi láo đã chán mới chợt tỉnh
Rằng chuyện văn bài chưa chút đỉnh
 Hôm qua nhớ ra đi tìm bạn
Bác cống Ngô Tiêm ở làng Bỉnh.
 Câu chuyện văn bài kéo hết buổi
Đến lúc ra về đã gần tối.
Gần tối đi qua hồ trước Giám.
 Cuối thu trời lạnh thêm gió thổi.
Phía đông trăng cũng vừa mời lên.
 Qua khe cành lá bóng đua chen
Nhìn ra bãi cỏ lại vừa thấy
 Bóng hồng trên bãi dạo gót sen.
 Gió bay dải yếm lụa trắng nuốt
 Trăng soi mặt hoa rõ mồn một
 Bóng dáng óng ả người tầm thước
Mặt hoa như cười như ủ dột.
 Buồn tình đồ mới hỏi thăm chơi.
 Sao đến nơi này mà lả lơi
Dè đâu cô gái réo tên tớ.
 Ruột tớ khi đó rối tơi bời
Bụng tuy đã giợn, miệng còn cứng.
 Hỏi lại : “Sao cô biết tên tôi”.
 Cô ả nhoẻn mép lẵng lơ nói:
 “Em đây biết hết thảy mọi người
 Ở trước cửa Thánh thì phải biết.
Hết thẩy học trò ở trên đời.
Đồ liền đến gần toan nọ kia
Mình thì cứ tiến nó cứ lùi
 Tiến mãi tiến mãi vẫn chưa tới
 Lùi mãi lùi mãi vẫn chưa thôi
Bụng mình bảo dạ: “Mày lùi mãi”
 Hồ ở sau lưng; chạy đằng giời
 Chỉ tiến bước nữa thì nắm được,
 Ai ngờ nó làm mình rụng rời.
 Lướt trên mặt hồ thoăn thoắt bước
 Thôi ! Đích yêu tinh chẳng còn sai
 Đồ liền rảo bước bước thật nhanh
 Tiếng hát sau lưng lại lanh lảnh
 Đồ liền ù té cấm đầu chạy,
 Tiếng gọi đàng sau càng đanh đảnh
Hết hồn, một mạch đến nhà trọ
 Anh em hú vía hồi lâu tỉnh.
Tỉnh ra còn sợ đến sáng nay
 Chén rượu áp-kinh được uống ngay.
Nhấp một chén rượu hết nỗi sợ
 Nhấp chén thứ hai đã thấy say,
 Say rồi thi tứ lại nẩy ra
 Góp mấy vần nôm tỏ tình ta.
Tỏ ra ai biết cho ta nhỉ?
Thấu nỗi cho không hoa hỡi hoa?
Thấp thoáng dưới từng khóm trúc xa.
 Bóng ai tha thướt dưới giàn hoa?
Mãi gầy in vóc người thanh tú
Tuyết trắng pha da nuocè1 đặm đà.
Cô, ý ngượng ngùng còn ẩn mãi?
Ta, tình thành that54 phải phô ra!
Một mai đồ Tốn lên nghè Tốn
Thì chán nhà vàng để chứa hoa.
 
Đọc hết bài thơ, đồ Tốn lại uống một hơi hết chén rượu nữa:
— Tôi hãy tự thưởng cho thơ tôi và cái cao tình của tôi trước rồi chủ nhân và anh em bà con nghĩ đáng thưởng thì xin cứ thưởng cho.
Ông đồ Cuồng múc một chén rượu, trong hũ ra.
— Tôi hãy xin thay anh em thưởng bác một chén đã. Còn chủ nhân có thưởng hay không, cái đó xin tùy lòng.
Đồ Tốn uống hết chén rượu rồi quay sang chủ nhân:
Thế nào? Ông Ba, có đáng thưởng không?
— Đáng.
Cả bọn lại cười ầm ỹ. Đồ Tốn lại uống chén nữa. Cuộc rượu, kéo mãi đến quá giờ tí, ai nấy đều say tít cung thang.
    ***
 
 
 
Sáng hôm sau, lúc tỉnh rượu rồi, mọi người mới hối hận những câu nói bông lơn ngoài khuôn lễ giáo tối vừa qua. Đồ Tốn, tuy rằng xưa nay vẫn là người ngạo nghễ ngông nghênh, nhưng cũng lấy những câu đùa của mình hôm trước là quá đáng. Cả bọn sĩ tử trọ học ở quán Tí -Hàn, nhất là Đồ Tốn - người nào cũng ngó sang cái nhà Bắc Song xem chủ nhân đã dậy chưa để dò la thái độ. Họ đều sợ họ bị mất giá trước con mắt chủ nhân là người xưa nay họ vẫn kính, vẫn trọng, vẫn e sợ vì tính nết nghiêm nghị, vì đức hạnh thanh cao. Một điều vô ý trong phép giao tế xoàng xoàng, đối với ông đã là một tội lớn đổi với sĩ hạnh [6] rồi; một điều sơ suất cỏn con trong khuôn lễ giáo, đối với ông đã là một điều ác lớn đối với danh giáo [7] rồi. Kẻ phạm những điều vô ý đó, kẻ làm những điều sơ suất đó. không kể hành vi nặng nhẹ, ông đều cho là danh giáo tội nhận. Mấy việc con con sau đấy chứng cho ta rõ cái tính khắc nghiệt lạ lùng của ông nhà nho ấy.
Đứa cháu bé ông mới lên bốn, một hôm vì mẹ nỏ rửa ráy cho nó, nó tức, nó mắng lại mẹ nó là chó. Giá là người ta thì mắng qua đứa cháu nhỏ. Ông không thế. Ông gọicha mẹ nó đến mắng một tràn kịch liệt đến nỗi đứa bé đương khóc phải nín hơi thin thít mà nghe xem ông nó có đánh bố mẹ nó không?
Lại một hôm khác, hai người cháu gọi ông là bác đánh cờ với con ông. Cờ tàn xoay giống nước cờ thế. Người con hỏi người cháu:
— Thế cờ này em gọi là thế gì?
— Thế cờ này con tốt vào cung rồi ra thì mới khỏi thua, nhưng vào cung thì gần thành tốt lụt. Thế này ta gọi tạm là “Tử kiến Nam Tử vu Trần” Tử vào cung kiến nàng Nam-Tứ thì mới qua nổi nước Trần vô sự, nhưng vì sự vào cung ấy mà thiên hạ reo sau xe mà ngờ cái đạo đức của Phu tử mà thầy Tử-Lộ mới chẳng đẹp lòng...
Ông nghe thấy, gọi cả con lẫn cháu vào nọc ra đánh một trận rồi kể tội với một tràng chữ nghĩa lôi thôi.
 
Chú thích:
[1] Áp-kinh : Nén sơ.
[2] Nấu nướng, pha thức ăn.
[3]  Người quân tử xa nơi bếp lửa.
[4] Tên ông ba Bình Vọng là Trần Chi.
[5] Chữ phố, nguyên trước dùng để chỉ cái cửa hang. Bây giờ ở Bắc nghĩa biến đi, dùng những chữ lộ chữ củ (Rue, Boulevard). Ở Nghệ An tiếng ấy còn giữ nguyên nghĩa đúng và cổ của nó.
[6] Sĩ hạnh= Hạnh kiểm của kẻ học trò.
[7] Danh giáo= Danh phận và giáo hóa.
[8] Thế khoa= nối nhau đời nọ dang đời kia đỗ đạt. Trâm anh= nhà làm quan, đỗ đạt
[9] Mặt mo= Nhà nho lúc nói chuyện chơi thường có lối pha nôm pha chữ như thế.
[10] Lối chấm bài khi xưa ưu là tốt lắm, như très bien: bình là tốt, như bien. Được những phê ấy tất đỗ cống sinh.
[11] Phương ngôn: Ai lại dạy đi vén uống, dạy ông cống vào trường [12] Phong giao có câu: Buồn ngủ lại gặp chiếu manh, thất nghiệp mằn đình có trống cầm canh.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.02.2022 15:01:12 bởi Thanh Vân>
Bọn sĩ-tử đều biết tánh nết ông như thế.
Thế mà, tối hôm qua, họ đã làm một việc quá nhỗ nhã, quá vô lễ là lấy con gái ông ra làm trò đùa trong một bữa rượu. Tuy ông cũng có thể có lượng đối với một bọn người say rượu nhưng cái lượng ấy cũng chưa đủ dung cái tội lớn kia.
Họ chưa biết nghĩ làm sao mà gột được — hoặc ít ra cũng chuộc được —cái điều vô lễ vô nghĩa tối hôm qua.
Cuối giờ Mão, bên nhà Bắc-Song có tiếng chủ nhân gọi đầy tớ. Bên trái Nam Hiên, bọn sĩ tử im lặng nghe ngóng xem chủ nhân nói gì làm gì. Một lúc, tên đầy tớ xuống trái Nam Hiên nói cùng bọn sĩ tử:
— Ông tôi nói trưa hôm nay, vào khoảng đầu Ngọ, ông tôi có câu chuyện muốn thưa cùng các thầy. Xin các thầy ở nhà cả cho. Ông tôi lại dặn kỹ càng rằng câu chuyện là câu chuyện quan trọng đến lễ giáo, xin các thầy chớ lấy làm phiếm mà không để tâm.
Sĩ tử đưa mắt nhìn nhau.
Tên người nhà đi khỏi, đồ Tốn nói:
— Lão ta chẳng cần dặn thêm rằng chuyện quan trọng thì chúng ta đây cũng biết thừa đi rồi. Suốt đời lão, có việc gì là không quan trọng đâu. Lão mà đã nói là quan trọng tức là việc quan trọng gấp năm gấp mười việc quan trọng khác. Lão sẽ mắng anh em chúng mình một trận là cùng chứ gì? Lão đuổi chúng mình đi nhà trọ khác nữa là cùng chứ gì?
Ông thủ khoa Phan Huy- Ôn nói:
— Nếu ông ta xử tệ mà đuổi mà nói nặng lời thì anh em ta lại dễ nghĩ. Tôi sợ ông ta chỉ mát mẻ mấy câu, mình mới khó nghĩ, mới rầy rà. Nói thật tình thì anh em mình hôm qua đùa bỡn cũng khí quá. Mà đâu đều chỉ tại bác đồ Hạ Hồng.
Đồ Tốn lườm thủ khoa Ôn:
— Thôi! Anh đừng lên cái giọng con nhà thế -khoa tram - anh [8] nữa đi! Khó chịu lắm! Thế nào lá đầu đều tại tôi?  Khơi mào câu chuyện ở anh nào ? Ở lão ta? Sao lão ta lại bắt tôi làm thơ?
— Lão bắt làm thơ chứ lão có bắt ta đùa bỡn ra ngoài khuôn lễ giáo đâu. Anh chẳng khơi mào truớc những chuyện ấy thì anh em có phụ họa vào làm gì?
— Ai bảo các anh phụ họa! Ừ thì tôi khơi mào thi đã sao chưa? Nói đùa truyện trai gái, mè gá cũng lã thói thường con nhà học trò, chẳng làm sao cả.
— Thì có làm sao... Chỉ làm sao ở cái chỗ nói đùa đến con gái nguời ta trước mặt người ta chỗ đó anh cứ nghĩ kỹ cũng hơi ngượng mặt. Lúc say rượu nói thì không ngượng miệng, nhưng lúc tỉnh trông cũng mo diện [9] lắm.
— Thì tôi đeo mo bộ cả cho các anh chứ sao?
— Mo hết, chẳng ai đeo nổi cho ai cả.
Đồ Cuồng xứ Đoài nói:
— Hai anh cứ cãi vã nhau mãi cũng vô ích. Điều ta nên nhớ và nên nghĩ là: Một là ta nên nhận rằng cách đùa bỡn của ta hôm qua ra ngoài khuôn phép, trái sĩ-hạnh nhiều lắm. Hai là ta phải nghĩ câu nói lại với ông ta lát nữa, dù ông ta không nhắc tới ta cũng nên nói. Ba là anh em nên cữ một người nghĩ hộ và nói hộ anh em lát nữa. Anh em có cho lời tôi nói là phải không?
Mọi người đều nhận là phải. Đồ Cuồng lại nói tiếp:
— Tôi xin cử anh thủ khoa Phan Huy-Ôn thay anh em nghĩ câu trả lời với chủ nhân.
Mọi người đều ưng thuận. Thủ khoa Ôn có ý từ nan, đồ Cuồng nói:
— Anh là một ông thủ khoa lời nói tất có giá hơn chúng tôi. Anh lại là chỗ thế gia, chủ nhân tất cũng nể hơn chúng tôi. Anh cứ nhận lời đi, không ai lấy lại mất mũ áo cống sinh đâu mà sợ. Chóng rồi khoa này thành ông Nghè.
  — Vâng tôi xin làm thuyết sứ cho anh em. Anh em đừng lo, tôi không đến nỗi làm nhục mệnh anh em đâu.
Đến trưa, sau bữa cơm, ông Trần Chi, chủ nhân quán Tí -Hàn, khăn nhiễu tam giang bịt đầu, mình mặc áo địa màu lam, từ mái Bắc Song tiến xuống vườn cảnh, đi sang trái Nam Hiên. Bọn sĩ  tử sắp sẵn đợi tiếp ông. Họ thấy ông dùng bộ lễ phục, thì thào bàn nhau không hiểu ý tứ ra thế nào. Một luồng không khí nặng nề nghiêm trọng bao bọc cả mọi người. Cứ coi dáng điệu thái độ từng người, từ chủ nhân trịnh trọng như tế thần đương thủng thỉnh bước một trong vườn hoa đến sĩ tử tĩnh túc ngồi chờ ở hai dẫy trường kỷ dưới mái Nam Hiên, người ta tưởng như một cuộc nghênh tiếp long trọng gì.
Vào đến trong mái Nam Hiên, phân ngôi chủ khách xong, đôi bên cùng ngồi trơ ra như tượng trong mấy khắc đồng hồ. Một lúc, ông thủ khoa Ôn đứng lên phá bầu không khí nghiêm trọng:
— Gửi ông: chẳng hay có việc gì mà từ sáng nay ông đã báo cho anh em chúng tôi biết trước, chẳng hay việc lành dữ làm sao?
Thung dung chủ nhân đáp:
— Việc lành.
Hai tiếng “việc lành” từ từ nghiêm nghị buông ra, đổi những nét mặt lo sợ của bọn sĩ tử ra những nét mặt ngơ ngác. Họ liếc nhìn lẫn nhau, vẻ nhìn như muốn nói: cái lão quỷ này định làm cái trò gì đây? Ông thủ khoa Ôn lại hỏi tiếp:
— Xin chủ nhân ông cho biết rõ.
Như đếm từng tiếng, ông Ba Bình Vọng thung dung:
— Hôm qua các thầy và tôi đều phạm một tội lớn với danh giáo. Các thầy đã trêu ghẹo tôi một cách vô lễ, ăn nói trái sĩ hạnh nhiều quá; tôi đã dung túng cho việc trái sĩ hạnh ấy và như đã khêu nên việc ấy. Đôi bên, vì quá độ, đều phạm tội cả.
— Anh em chúng tôi phạm tội thôi thì phải hơn. -Ông thủ khoa, ông để tôi nói nốt. Hai bên cùng phạm tội cả. Tội ấy lại quan trọng hơn nữa là vì câu chuyện có thể phương hại đến tiết tháo một người dật sĩ như tôi, một người trinh nữ là con gái tôi, và một bọn sĩ phu cần phải có tiếng tăm tốt như ông thủ khoa và các thầy đây. Cứ cái đà chuyện hôm qua thì hình như con gái tôi đã mất nết cùng thầy đồ Tốn, tôi đã dung túng trong nhà những việc thương luân.
Đồ Tốn vội đứng lên nói:
— Đó là một câu đùa trong lúc say rượu.
- Ông để tôi nói nốt. Tôi vừa nói rằng: hình như con gái tôi đã mất nết, hình như tôi đã dung túng... Hai chữ “hình như” đối với tai mắt, và sự nhận biết của mọi người nghĩa là “có thật”. Như thế là con gái tôi đã thành người bỏ đi. Muốn chữa gọi là trong muôn một, muốn kéo lại đôi chút những điều lầm lỗi đã qua, chỉ có một cách...
Tới đó ông ngừng lại. Đồ Tốn hỏi:
— Cách gì?
Hướng vào ông thủ khoa Ôn, ông Ba nói tiếp:
— Chỉ có một cách là tôi phải gả con Tường Loan cho thầy đồ Tốn, dù làm lẽ mọn cũng phải gả. Vì sao? Vì không ai được đùa đến câu chuyện có quan hệ đến tam cương ngũ luân. Việc âm dưong trai gái là đạo của trời đất, việc vợ chồng là luật nhân luân. Tôi gả con Tường Loan cho thầy đồ Tốn là để xóa câu chuyện đùa ấy đi. Như thế: tôi và các thầy mới rửa được cái tội đùa vào thiên đạo nhân luân.
Luồng không khí kinh ngạc nay cũng mất và thay vào lại một luồng không khí vui vẻ. Mọi người nhìn đồ Tốn tủm tỉm cười.
Ông Ba Bình Vọng lại nói tiếp:
— Các thầy đừng cười vì không phải chuyện nói đùa. Mà bắt đầu từ hôm nay, tôi coi như con gái tôi có chồng, rồi sau đây, xong kỳ thi, lục lễ rồi phải đủ cả. Tôi cần nói trước như thế, vì đến hôm rằm này đã vào kỳ đệ-nhất. Tôi hứa gả con gái tôi cho thầy đồ Tốn trước ngày tựu trường để tránh tiếng là lấy con gái dử sĩ tử thiên hạ. Sau kỳ đệ nhất, nếu thầy đồ được vào đệ nhị, sau vào đệ tam biết đâu thầy chẳng được một hai phê bình ưu [10]. Khi đó tôi mới nói chuyện này ra thi thành ra tôi mua chồng cống-sinh cho con gái tôi chứ không phải gả chồng để chuộc một điều lỗi cùng danh-giáo. Các thầy nghĩ thế nào? Thầy đồ Tốn nghĩ thế nào? Ông thủ khoa Phan nghĩ thế nào ?
Không đợi bọn sĩ tử đáp, ông nói tiếp:
— Các thầy cùng ông thủ khoa nghĩ cho chín. Nếu sự thể xong xuôi thì ngày kia là ngày tốt xin ông đồ trao canh thiếp cho tôi.
Nói xong ông chắp tay vái chào rồi từ từ xuống thềm về mái Bắc Song.
  •  
— Há... hả... há...
Một chuỗi cười đi trước, ông cống Ngô Tiêm vào nhà học Nam Hiên ở quán Tí-Hàn thăm anh em bạn học:
— Thế nào? Rõ buồn ngủ lại gặp chiếu manh! Anh Đồ Tốn nhà tôi chưa vợ, lên kinh thi lại vớ ngay được một tuyệt thế giai nhân! Thôi bây giờ thì tha hồ mà nói đùa. Anh em! Bắt đồ Tốn làm một bài thơ, đầu bài rằng:
Phú đắc:
Buồn ngủ lại gặp chiếu manh,
Anh đồ Tốn nọ vô tình mà câu.
 
Cả bọn nhao nhao:
— Phải đó, phải đó.
— Bây giờ thì thi tứ ra rông rổng.
Một người nói:
— Bác cống Tiêm chẳng sang đây hôm nọ mà xem bác đồ Tốn nắn nót từng nét cái canh-thiếp: Trần Trọng Tốn, niên canh nhị thập nhị tuế, Cảnh Hưng thập cửu niên, mâu dần thập nguyệt sơ bát nhật, ngọ thí sinh.
— Mặc kệ canh - thiếp! Đó là việc riêng của bác ta, không phải việc mình. Việc mình là bắt bác ta làm bài thơ của bác cống Ngô vừa ra và ngày mai ăn cỗ vấn danh rồi thì ngày kia đeo ống. quyển vào trường thi.
Mọi người giục. Đồ Tồn nói:
— Gớm thơ đâu mà làm nhanh thế. Giục làm thì như giục trâu cầy ấy.
— Có thế mới hơn người, mới có những cái hạnh ngộ hơn người chứ!
— Thì xin vâng. Các bác chắp tay vào mà nghe thơ của kẻ mới lên gác Đằng.
Rồi đồ Tốn ngân nga đọc:
Phú đắc :
Buồn ngủ lại gặp chiếu manh
Anh đồ Tốn nọ vô tình mà câu.
— Phải rồi. Đầu bài là thế. Nhưng cấm bác không được phạm những chữ cốt yếu trong đầu bài.
— Bác không phải dạy đĩ vén xống [11]. Lặng yên người ta đọc cho nghe:
Việc đời lắm lúc thật buồn cười,

Hạnh ngộ đôi phen tựa chuyện chơi.
Mắt đã thiu thiu,sao cũng được,
Cói hơi, nung núc, tạm cho rồi.
Cơ tâm chi lắm cho thêm nhọc
Vô tích như ta chán lúc hời.
Câu chuyện luân thường nào chuyện bỡn!
Quỉ thần xin chứng cả hai vai.
 
Hay không? các bác? Mắt đã thiu thiu là buồn ngủ chứ là gì. Chiếu mà cói đã nung núc thì là chiếu manh hẳn đi rồi.
Đồ Cuồng cắt lời:
— Hiểu rối! Tự chấm, tự phê, tự khen lấy thơ mãi! Nhưng này bác: tạm là nghĩa làm sao? Bác cho là chưa đáng ngôi mệnh phụ của bác hẳn?
— Đáng lắm. Song vì bác cống Ngô Tiêm trêu mà ví tôi với thằng thất nghiệp [12] nên tôi cũng phải giở thói khinh đời ra chơi để đáp lại nhã ý của Ngô huynh. Chữ tạm ấy chỉ cốt ý ném lại cái ý khinh tôi của bác Ngô thôi chứ ai lại tạm cái chuyện luân thường ấy được.
— Câu thứ tám ý là thế nào?
— Ý là: tôi chẳng đùa bỡn bao giờ cả, xin quỉ thần chứng suốt cả hai vai cho.
Ông thủ khoa Ôn nói:
— Chén rượu áp kinh thế là thành chén rượu tân hôn của bác đồ. Mà lại là một điềm tốt lành cho bác đồ nữa .... Tôi đố các bác biết sao lại là điềm lành?
— Chịu.
— Áp kính rồi lấy vợ thì sau này không lo rằng bác ấy sợ bác gái nữa
Cả bọn phá lên cười.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.02.2022 12:04:54 bởi Ct.Ly>
III
 
Bốn con yêu và...
 
 
Ở một địa-phương, đều có hai chế độ thống quản.
Một chế độ chánh trị thống quản phần thật tế và một chế độ thần kỳ ma quỉ thống trị phần linh hồn. Mỗi một ông quan trị nhậm một hạt là đánh một dấu trên thời gian cho địa hạt ấy; thời gian ông ấy trị nhậm dường như muốn là một kỷ nguyên, một quãng thời gian riêng đặt bằng tên ông ấy. Trong triều nói: thời Hồng Đức, thời Gia Long, thời Xuân Phù, thời Thuận Thiên vân… vân...; thì ngoài dã, trong dân gian, người ta cũng thường nói : Thời quan trấn thủ Nguyễn Lệ, thời quan Tổng Đốc Võ Trọng Bình, thời quan hiệp thống Trịnh Huệ.
Dân gian ghi thời đại một vị quan tuần Iương cũng như nhớ kỹ, chôn sâu một thiên tai ghê  gớm. Bởi vậy người ta nói: ‘‘bão Quí-Mão’’ ‘‘lụt Quí tị’’ cũng như người ta nhớ không quên quan Đốc Đồng Trần với cái việc ăn lễ của thằng thợ đóng cối xay năm quan. Người ta nhớ quan Hành Tham Tụng Bùi với việc in và phát mấy bộ sách thư kinh, quan Hiệp Thống Phạm với việc trị mấy bọn giặc dân vùng Thượng Hồng, cũng như người ta nói ‘‘vụ gặt năm Tân-vị’’, khoa thi năm Giáp Thìn.
Đó là cách ghi thời gian bằng việc dương.
Còn cách ghi thời gian bằng việc âm nữa.
Dường như, theo ý người xưa, phần âm cũng có từng hồi từng đoạn. Mỗi hồi mỗi đọan lại có một hoặc hai ba con yêu con ma dùng làm mốc để định thời hạn hẳn hoi. Ở dương có thời của ông Hiệp Thống Nguyễn Đăng Giai, ông Đốc thị Phạm Ngô Cầu, ông Quận Việp thì ở âm cũng có từng hồi của từng con yêu con ma. Yêu ma cũng đủ hồi phế hưng suy thịnh như những kẻ cầm vận mệnh một nước hoặc một vùng.
Hà nội mới là nơi có đĩ thượng lưu, ăn cắp
Lành nghề, yêu ma phong nhã.
Yêu ma ở Hà nội cũng khác yêu ma các nơi.
Hồi cuối đời Lê đầu Nguyễn, thành Thăng Long có bốn con yêu:
Long Thành có bốn yêu tinh.
Yêu hồ trước Giám, yêu đình Đồng xuân
Yêu cây Bàng giữa hàng Cân
Yêu gốc cây Liễu giữa sân chùa Tàu
Bốn con yêu ấy thống quản phần âm-u, phần tín ngưỡng, lòng dục vọng của người thành Thăng Long suốt đời Cảnh-Hưng, Chiêu -Thống, Quang-Trung, Cảnh-Thịnh, Gia-Long. Đời của nó kể ra cũng bằng đời một triều đại nhơ nhỡ. Tám mươi năm làm ma, làm yêu ở thành Thăng Long, bốn con yêu ấy kể ra cũng khỏe, cũng dai lắm đó. Sau nó, sau khi nó đã tàn thời hết thiêng, mà thiên hạ cũng vẫn còn e ấp sợ hãi mãi. Sau nó, đến một hồi loạn ma, không con nào làm chủ nữa. Sau nó, là một hồi ma khách do trận Đống Đa, trận Phù Kiều của triều Tây Sơn gây ra. Ma khách nhất loạt bằng đẳng cả. Cô Quyền ở hàng Bông cố hết sức đánh dấu thời đại của cô cũng không nổi; tuy cô cũng có một vài cái hiển tích hay hay. Cô cố muốn kể thống bốn con ma trên, nhưng cũng không ai muốn tôn cô lên bực ấy, mặc dầu cô đã hiển linh nhiều lần, cô đã làm hunh hại dân gian nhiều lần. Cô thiêng từ cuối Gia Long rồi đến hồi quốc biến, nghĩa là sau đời Tự Đức thì cô cũng mất thiêng liền. Cô cũng òm ọe hách dịch trong dân giang được sáu bảy chục năm. Mười lăm năm đầu dung để ra oai mà trấn áp nhân tâm. Hai mươi năm cuối, dung để vớt vát lại uy quyền gần tàn, gần mất. Thành ra, trừ dầu, trừ đuôi, còn được độ ba mươi năm chi chi đó. Mà trong ba mươi năm ấy thì có trò gì hiển hách lắm đâu. Thỉnh thoảng hiện ra ban đêm làm con gái đẹp để lừa những công tử ăn sương, họa hoằn mới có lúc dám hiện ra ban ngày vào hàng trêu những cô gái bán hàng chua ngoa khó chịu. Mấy năm tàn thời lại càng nhạt nhẽo lắm. Đêm lập lòe như quả bưởi bằng lửa lượn từ hàng Bông đến đầu hàng Tiện rồi lại quay về hàng Bông. Có thế mà thôi, có thế mà thôi, thì sao đánh dấu đời mình một cách hiển hách được. Có thế mà thôi, thì sao dân gian có chịu uy quyền? Cuối cùng, có một đêm kia cô vô ý thành ra trọn kiếp hết thiêng. Một đêm, cô hiện lên rồi vào ngồi chiếc nhà nghĩ mát ở vườn hoa sau nhà bên cạnh. Chủ nhân nhà ấy, một vị quan to kiêm một nhà nho ngạo nghễ, đêm hôm ấy ra chơi vườn hoa bắt gặp. dám ở cái nhà cạnh cây đa Cô Quyền, dám có cái vườn hoa u uất sau nhà, dám đến cạnh cửa sổ mà chơi hoa, dám nửa đêm trăng mờ sao tỏ ra vườn hoa chơi, con người ấy chẳng cần phải nói, ai cũng phải chịu là bạo. Đã có cái bạo ấy thì có sợ gì nữa mà chẳng tiến đến cái bóng Hằng Nga mới hiện xuống chiếc tạ [1] giữa vườn?
Chủ nhân đến nơi. Cô Quyền ra gan không thèm biến. Chủ nhân đến sát cạnh. Cô nhất định không lui. Chủ nhân nắm tay hỏi:
— Hằng Nga mới bỏ cung mây xuống trần từ bao  giờ?
— Tôi là con gái nhà hàng xóm đây.
Chủ nhân vốn là người háo sắc khi nào lại có tha người con gái nửa đêm đến vườn hoa nhà mình, ông liền ôm lấy. Cô liền gỡ ra. Ông dằn cô xuống chiếc ghế đá trong nhà tạ. Cô không biến được nữa:
— Ông cố nài hoa ép liễu tôi chăng?
— Cô vô cố đến vườn hoa tôi làm gì? Dạ gian võ cố nhập nhân gia, phi dâm tắc đạo [2] ý cô muốn thì tôi xin chiều.
— Tôi nói thật: tôi là Cô Quyền ở gốc đa kia.
— Thì cô vật chết tôi, tôi cũng cam tâm.
— Tôi không vật chết nổi ông vì tinh-tướng ông to. Ông là ông đại khoa, ông là ông quan to. Nhưng nếu ông nài hoa ép liễu tôi thì tôi làm cho ông tuyệt tự.
— Tuyệt tự mà được hưởng sắc đẹp của cô, tôi cũng cam tâm.
Thế rồi thì:
Một đêm mưa gió nặng nề,
Sợ gì tuyệt tự, hãi gì ma thiêng.
Rồi từ đó cô Quyền hết thiêng. Đời ma thiêng của cô đến đêm ấy là hết hồi hết vận.
Từ đó hàng Bông chỉ còn có cây Đa không thôi.
Từ đó cô Quyền chỉ còn cái tiếng hờ. Đoạn phố ấy tuy vẫn mang tên cô — hàng Bông Cô Quyền — nhưng thật cô không còn nữa. Vài mươi năm gần đây, người ta đốn cây Đa đi thì cái chỗ cô nương nấp cũ cũng không còn. Khách qua đó đã nhiều phen nhớ đến câu ‘‘Cố nhất thế chi hùng giã, nhi kim an tại tai’’ [3] của Tô Đông Pha cùng câu «Nào đâu sương tuyết thuở xưa?» của Villon [4]
Lại nói bốn con yêu hồi cuối Lê ở thành Thăng Long.
Bốn con yêu ấy đều là yêu con gái cả và tính chất có khác nhau tuy rằng chúng đồng tính [2] và cùng sống một nơi như nhau.

Trước cửa Giám ở Hà Nội bây giờ, người ta vẫn còn thấy một cái hồ con. Giữa hồ có một bãi cỏ xanh, giữa bãi cỏ xanh có một cái miếu nhỏ. Hồ ấy về đời cuối Lê còn rộng lắm. Sau này vì việc mở mang thành phố người ta mới lấp bớt đi. Phố Cao Đắc Minh chạy dọc phía tả Giám ngày nay, xưa chỉ là một con đường đủ hai ngựa đi dóng đầu. Chỗ đầu phố Sœur-Antoine, xưa cũng chỉ là ruộng thấp. Xưa : đôi bên cạnh Giám, trước sau Giám cây cối hoang vu, nhưng Giám từ cửa đến lầu Khuê Văn, từ lầu Khuê Văn đến Thiên Quang Tỉnh, đền thờ đứng Chi Thành, đứng Khải Thánh, đều trơn tru sạch sẽ. Nay: những chỗ bao bọc Giám thành nơi đường cái phố sá phong quang thì ở trong lại thành chỗ hoang vu hồ như vô chủ.
Hồi ấy, chung quanh hoang vu mà trong sáng sủa. Con yêu trước hồ thường ẩn hiện ở những nơi hoang vu quanh Giám mà ít khi dám vào đến trong đền.
Con yêu ấy, nói của đáng tội, cũng không yêu ác gì cho lắm, vì suốt đời tám mươi năm của nó, nó không từng làm hại một người nào. Nó chỉ đón bọn học trò rồi trêu ghẹo chơi nếu người ấy không đứng đắn. Nếu là người đứng đắn thì nó cũng chẳng trêu ghẹo chi cả. Có một điều người ta thường nhận là:
Ai gặp nó ôn tồn chào hỏi thì người ấy tất về sau khá. Ai thấy nó cung kính thì người ấy tất về sau nổi tiếng là được người ta kính trọng vô  cùng, dù sự nghiệp lật đật, dù đời nhiều đoạn bi thương. Ai thấy nó hát hỏng bông đùa thì người ấy tất là người quỉ quyệt và hay chết một cách bất thường. Ai thấy nó quay mặt đi, người ấy tất là người tiểu nhân nham hiếm.
Năm ông Lê Quý Đôn đi thi gặp con yêu đó ở cổng Văn miếu, nó chắp tay vái dài một cái rồi nói: Ông thông minh hơn người, nhưng đừng kiêu hãnh quá mà chết có ngày. Rồi nó nói một
tràng chữ nho : quan kỳ mâu tử, nhân yên sưu tai Quân, mục bất định tình, tha nhật nhược đắc chí, phi thương sinh chi phúc [6].
Năm Cảnh-Hưng 27, khoa thi Bính Tuất, Ngô Thi Sĩ và Lý Trần Quán cùng đi qua hồ trước Giám, con yêu chấp tay cung kính khi hai người đi qua. Lý Trần Quán đi trước, Ngô Thi Sĩ đi sau mấy bước. Lý đi khỏi, con yêu vẫn cung kính như cũ, lại cất tiếng hát nho nhỏ:
Hơn nhau, hơn một chữ thì,
Cuối thu ngựa lại chết vì chuột con.
Sau ông Lý Trần Quán đỗ tiến sĩ, làm quan tới chức Thiêm Tri Lại Phiên rồi năm nhà Trịnh mất, chúa Trịnh bị bắt, ông tự chôn sống để chết theo chúa. Ngô Thi Sĩ cũng đỗ tiến sĩ nhưng đến năm Canh Tí (năm chuột) ông chết vì công việc của con ông làm. Tên chữ ông là Ngọ Phong, ngọ là năm ngựa.
Con yêu ấy báo tin cho ai đỗ ai hỏng rất đúng.. Vì vậy ai gặp nó có thể dựa vào những chuyện, đã xảy ra trước mà đoán biết qua loa vận mệnh mình. Nó ít khi chịu hiện cho lái buôn cùng người cày ruộng xem mà chỉ hiện cho học trò xem thôi. Có người nói phỏng rằng kiếp xưa có lẽ nó là một người đàn bà có học hoặc vợ một người học trò bất đắc chí nên khi làm yêu làm ma cũng có ý thiên với bọn học trò.
Có một bận, một người học trò gặp nó, thấy nó tươi cười liền hỏi :
-      Cô ở luôn đây, cô thấy Đức Thánh [7] về bao giờ không ?
-      Không bao giờ Đức Thánh về đây cả. Có một lần, vào năm Cảnh Hưng 24, trước ngày tế Văn miếu một ngày, tôi có thấy thầy Tử Cống đi qua, nghé mắt vào cửa rồi lại đi ngay.
Té ra, cứ theo lời nói con yêu ấy, vua chúa và sĩ phu tế cúng Đứng Chí Thành bao năm mà ngài cũng chẳng thèm đoái hoài. Thầy Tử Cống chắc vì nhiều tiền nên có lẽ ngài sai sang hưởng lễ thay ngài đó; nhưng thấy miếu mạo đìu hiu quá, thầy cũng chẳng thèm vào nữa.
Phường Đồng Xuân gồm cả mấy dãy phố Hàng đường, Hàng Gạo, Cầu Đông, Cống Chéo, Hàng Giấy, Hàng Khoai, Hàng Đậu, Phố Mới bây giờ. Giữa phường có một cái đình. Cạnh cái phương đình giữa sân, có một cây đề thật to. Thân cây, hai người ôm chưa xuể, tán cây vùng ra che khắp cái sân rộng ngót mẫu đất. Cái phương đình, nấp dưới tán cây ấy, luôn luôn được mát. Lại thêm nỗi, vì gốc cây có ma nên ít người lui tới. Ở chỗ mát, ít được có hơi người, những khe gạch khe cột rêu mọc xanh cả. Nền cái phương đình lát gạch bát tràng khổ dại. Một thứ gạch không rêu được nên vẫn giữ sắc nâu sẫm. Trông cái nền gạch vuông, khe mọc rêu ấy, tựa như bàn cờ kẻ xanh trên tấm gỗ xám xì. Bốn cái cột gạch giữ mái đình cũng đeo từng khoang rêu xanh đều đặn.
Chỗ ấy là chỗ con ma đình Đồng Xuân ở. Có lúc nó hiện ra ngồi trong phương đình, có lúc nó hiện ra đứng dưới gốc đề. Những đêm khuya thanh vắng, dưới ánh trăng mờ, dưới tán lá đề ngâm gió [8] rào rào như nước khe chảy xiết, thường thường ông thủ từ vẫn trông thấy nó đứng dưới gốc cây ngâm thơ đọc sách. Con yêu này tính chất cũng hơi giống con yêu hồ Giám. Cũng chỉ hay nói chuyện với học trò, cũng hay trêu người, cũng không làm hại một ai. Nó khác con yêu hồ Giám ở chỗ nó không cung kính một ai cả mà hễ nói thì tất nói câu sâu sắc chua chát. Gặp ai mà nó im quay mặt đi là người ấy khá giả đến nơi. Gặp ai nó nói mát cùng một câu là người ấy y như có việc bực mình xảy đến nay mai. Gặp ai nó vui cười chào hỏi là người ấy sau đấy năm chìm bảy nổi chẳng ra sao cả. Dường nó khinh người sắp giàu sang chẳng thèm hỏi tới mà nó coi người phong trần lạc phách là bạn cùng thuyền. Bởi thế, người đời ấy có câu ngạn ngữ:

Yêu Đồng Xuân cứ khinh
Tớ nhẹ đường công danh.
Yêu Đồng Xuân mà trọng
Trăm việc làm trăm hỏng.
***
Chỗ vườn hoa giáp bờ hồ Hoàn Kiếm và đường Francis Garnier, xưa kia là xóm An Trường của phường Hoàn Kiếm. Vào chỗ trước cửa nhà máy Điện trông sang có cái ngõ đi thẳng vào ngõ An Trường. Đường đầu cái ngõ ấy trông xế lên phía tòa Đốc Lý, bây giờ mấy cái tam quan chùa Tàu. Chùa ấy do người Tàu làm ra để ghi công ông Thiêm Đô Ngự Sử họ Phan đời Lê. Nguyên trước người ngoại  quốc chỉ được lên đến Phố Hiến (gần Hưng Yên bây giờ) mà thôi. Trong bọn người Tàu sang ở ta có họ Phan ở Hồ Nam, Trong họ Phan có người vào làng ta, thi đỗ rồi làm quan đến Thiêm Đô Ngự Sử.Nhờ cái địa vị ấy ông mới xin được cho họ Phan ông lên ở kinh kỳ. Sau ơn ấy lan rộng dần dần, người khách mới lên Thăng Long buôn bán. Vì thế ông Thiêm Đô họ Phan mới có đền thờ kỷ công. Vì thế chùa ấy mới gọi là chùa Tàu.
Ở giữa sân chùa có một gốc liễu già. Thân cây sù sì hốc hác khiến người ta nhớ đến chuyện con ma liễu đòi uống rượu ăn chả ở bộ Liêu Trai của Bồ Tùng Linh. Tơ liễu về xuân buông thõng dài tử ngọn đến gần sát đất trông như người đàn bà rũ tóc hóng gió. Gốc liễu ấy lâu ngày thành tinh. Vì thế, lâu ngày, vì sợ tinh sợ yêu, chùa cùng bỏ hoang không ai nhìn nhận tới. Con yêu gốc liễu ấy yêu ác hơn hai con yêu trên kia. Hai con yêu trên kia người ta trông thấy, có người thế nọ, có người thế kia ; chứ ai vô phúc mà trông thấy con yêu gốc liễu thì ít nhất cũng ốm hàng tháng. Ai trao đổi lời nói với nó thì ít ra công việc cũng trắc trở hàng năm. Ai vô phúc tưởng nó là con gái mà trêu ghẹo bông đùa thì thế nào cũng mắc một tật nặng. Có người đi chơi về chiều qua xóm An Trường, gặp nó đi trên bờ ruộng. Người ấy tưởng là con gái nhà nào, xuống bờ ruộng đón rồi nắm lấy tay. Về nhà, cái bàn tay ấy sưng húp lên mất sáu bảy tháng. Lại có người vô phúc hơn, ôm nó vào lòng. Về nhà, phát bệnh suốt thân thể lúc nào sờ cũng lạnh ngắt như đồng. Như thế, được mười hôm rồi một hôm tự miệng thét vang nhà: « Nó lại ôm lấy tôi. Nó muốn ôm thì tôi cho nó xuống âm phủ mà ôm». Nói xong ngã vật ra, mồm mũi phun máu tươi ra được một lúc thì chết.
Có hôm trái trời, người xóm An Trường trông thấy nó ngồi vắt vẻo đánh đu trên cành liễu. Có người đồn rằng nguyên kiếp trước nó là một người trinh nữ, đi qua bãi cỏ trước chùa bị một người hiếp hãm, tức quá và xấu hổ quá người trinh nữ cắn lưỡi chết. Vì bị chết một cách uất  ức chua xót như thế, nên thành yêu, nó vẫn mang một mối căm hờn vô cùng với hết thảy đàn ông. Vì thế nên nó chỉ trêu đàn ông mà không bao giơ trêu đàn bà con gái cả.

Con yêu cây bàng ở giữa Hàng Cân là con ma lành nhất. Nó làm ơn nhiều hơn là gây vạ. Ai mất mát việc gì đến khấn nó, hôm sau đồ vật mất sẽ tự nhiên thấy treo ở gốc cày bàng. Người có của khi ấy cứ việc đến lấy mang về. Có khi đồ vật treo xếp lủng củng cả ở thân cây gốc cây, đợi chủ nhân mất của đến lấy về. Kẻ nào đem lòng gian tà lấy của ấy thì hoặc ốm nặng, ốm nhẹ, ốm lâu, ốm chóng, hoặc có khi chết tùy theo giá cái vật kẻ ấy đã lấy và tùy theo đường dài ngắn từ nhà đứa ăn cắp thứ nhất đến gốc bàng, nghĩa là sự trừng phạt sẽ do theo giá vật ăn cắp và công con yêu đã khuân nó về.
***
Quãng thời gian đi từ năm đầu Cảnh -Hưng (1740) đến năm cuối Cảnh-Thịnh (1801), quãng thời gian sáu mươi năm ấy có thể gọi là quãng nối hai thời đại của nước ta. Trước năm 1740 là một thời: thời nước Nam trong cái vũ trụ Đông  Á. Sau năm 1801 là một thời: thời nước Nam bắt đầu phải lôi kéo vào một cái vũ trụ mới, cái vũ trụ Năm Châu.
Ngọn đèn sắp tắt bao giờ cũng bùng lên sáng rực một hồi rồi mới lụn dần bấc mà tắt hẳn. Nước Nam của vũ trụ Đông-Á đến hồi 60 năm ấy cũng phấn phát hẳn lên để rồi bắt đầu suy nhược dần dần rồi tiêu ma cho đến ngày nay.
Nhà Trịnh, không hồi nào thịnh bằng đời Thánh Tổ Thịnh Vương Trịnh-Sâm. Song cái thịnh đó chỉ là cái thịnh báo trước cái suy vong sắp tới. Thịnh Vương nằm xuống thì kế đến loạn Kiêu-Binh, rồi kết cục nhà Trịnh kết thúc triều đại mình bằng việc chúa Đoan Nam Vương tự tử ở làng Nhật Chiêu. Nước Nam không hồi nào lắm việc, lắm nhân tài bằng hồi cuối Lê đầu Nguyễn, song anh hoa chỉ phát tiết hết ra ngoài hồi ấy để rồi cạn hết sinh khí, mòn hết da thịt, tiêu hết động lực để bước vào một hồi mới, hồi nhân tài không có một ai. Nước Nam không thời nào oanh liệt bằng hồi vua Thái Tổ Võ Hoàng Đế nhà Tây Sơn phá quân Tiêm, đuổi quân Tàu, nhưng chỉ oanh liệt một lần cuối cùng ấy nữa mà thôi, Võ Đế nằm xuống thì bọn Thái Phó Trần Quang Diệu, Tư Đồ Dũng làm đổ nát triều Tây Sơn. Nước Nam tới đó, ngoi ngóp sắp thở ra. Trong lúc gần hết sinh lực đó, tiếc đời oanh liệt của mình xưa, cố thu hết sinh khí còn dư, cựa một lần cuối cùng nữa. Cái cựa ấy đã kém sức lắm rồi. Vua Thế Tổ Cao-Hoàng nhà Nguyễn, người làm tiêu biểu cho sức mạnh cố gắng lần chót ấy, sự nghiệp cũng có vẻ khả quan...
Bốn con yêu hồi ấy cũng theo vận suy thịnh của việc dương mà thêm bớt sức thiêng. Thiêng và đúng mực hồi Thánh Tổ Thịnh Vương, nó đâm ra mê loạn hồi loạn Kiêu binh, rồi đâm ra dữ tợn hồi Quang Trung, rồi lại trở lại mê loạn ở hồi Cảnh Thịnh. Sau hồi Cảnh Thịnh, nó cũng còn thiêng nhưng chỉ là cái thiêng của con ma thường thường. Thế rồi vào khoảng giữa đời Gia Long thì nó mất thiêng dần dần cho đến mất hẳn. Kế nó, cô Quyền ở hàng Bông Hà Nội, chúa Liễu ở đền Sòng Thanh Hóa, cô Sấu Đồng Nai ở vùng Quảng Thuận cũng thiết phát được một đôi hồi.
Cô Quyền bị một ông quan làm mất thiêng.
Chúa Liễu bị vua Minh Mệnh đeo tràng hạt vào cổ bắt tu.
Cô Sấu Đồng Nai thì trốn lưỡi gươm Thượng Phuơng của vua Thiệu Trị mà mất tích.
Chúa Liễu làm chết một người lính trạm đem công văn từ Bắc vào Nam. Vua Minh Mệnh đem tràng hạt đeo vào cổ mà phán : ‘‘Muốn trẫm để cho dân gian thờ thì tu bớt đi.’’ Từ đó vâng mệnh vua, chúa tu rồi chúa cũng mất thiêng.
Cô Sấu Đồng Nai là một con Cá Sấu ở sông Đồng Nai hóa yêu. Một hôm y ngồi trên đình màn vua Thiệu Trị. Nhà vua trông thấy hỏi:
— Mi là oan hồn các cung nhân, các tông thất nữ [9] mi có muốn kêu gì thì phải xuống ngay!
Cô Sấu cười khanh khách trên đình màn:
— Trên ba thu, dưới lại ba thu,
Con mắt lóng lánh đã tu được nào!
Đó, bệ-hạ nhớ lấy nhé! Tôi là Cô Sấu Đồng Nai đây.
Nói rồi biến mất.
Vua Thiệu Trị giận lắm, sai người đem gươm Thượng phương [10] đi phá hết các miếu thờ Cô Sấu Đồng Nai. Từ đó cô cũng mất thiêng.
Bây giờ, không còn ma yêu nào nữa.
Bây giờ là thời đại của cơ khí, của vô tuyến điện, của phi cơ.
 
Chú thích:
[1] Tạ: cái nhà làm ở vườn hoa, phần nhiều không có tường, cửa.
[2] Đêm vô cố vào nhà người, không là chuyện dâm thì là chuyện trộm cắp.
[3] Xưa là người anh hung một thuở đó, mà nay còn ở đâu. Câu này ở bài phú Xích Bích của Tô Thức, hiệu Đông Pha.
[4] Où sont les neiges d’antan?( 1 câu trong bài thơ Ballade des Dames du temps jadis  của thi sĩ  François Villon).
[5] Même sexe.
[6] Cứ xem con người thì người thế nào hiện ra ngay không giấu được. Ông, con người không nằm yên trong mắt bao giờ. Sau này mà ông đắc chí không phải là phúc cho dân.
[7] Chỉ Khổng Phu Tử.
[8] Lá cây đề có người gọi là ‘‘ngâm phong diệp’’ vì hơi có gió là nó kêu rào rào.
[9]  Chính đúng là tông thất. Vì vua Thiệu Trị húy là Miên Tông nên phải đọc và viết tránh đi là tôn thất.
[10] Thượng phương kiếm : Kiếm vua cầm, vua dùng.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.02.2022 15:34:02 bởi Thanh Vân>
IV
 
Hai ông đồ
 
 
 THÔI bác, thi với cử làm cóc mốc gì nữa. Đời học trò của tôi thế là đủ lắm rồi. Tôi bắt đầu vác lều chiếu vào trường từ khoa Ất Mão từ năm tôi 21 tuổi. Tới nay trải qua hai đời vua, ba đời chúa, 15 khoa thi. Có đỗ thì cũng đã đỗ từ lâu rồi. Thôi tôi đành ở nhà làm ông đồ đến già vậy.
— Bác thi đâu đến 15 khoa.
— Tôi nói là trải 15 khoa chứ có thi đâu cả 15 khoa. Tôi nghỉ bảy khoa tất cả. Hai khoa vì có chế [1] thầy mẹ tôi ; hai khoa vì có chế ông bà tôi. Tôi là thừa trọng tôn nên phải thay thầy mẹ tôi mà thụ chế ba năm ; còn ba khoa khác vì ốm. Tức nhất là khoa Mậu-tí, khoa Ngô Thì  Nhậm nó đỗ giải nguyên. Cả năm, khỏe như trâu chẳng sao cả, gần đến ngày thi thì ốm liệt giường liệt chiếu. Đầu bài khoa ấy, mình thuộc như cháo mà không đi thi thế mới oan ức làm sao ! Thôi bác còn trẻ nên cố sức mà đi, tôi xin thóai thôi. Người ta hành, chỉ, tiến, thối [2] phải biết mới được. Tôi trên đầu điểm hai thứ tóc rồi, thi làm gì nữa cho nó nhục.
— Bác mới ngoài bốn mươi đã lấy gì làm già lắm. Thái Công 80 tuổi mới...
— Thôi, tôi xin ông. Ông đừng nói chữ nữa. Tôi không dám làm việc ông Thái Công.. Cái đó xin nhường người tài giỏi hơn tôi... đại khái như ông.
— Tôi nói đùa đó mà... Bác hãy cố đi khoa nữa. Tội gì mà chẳng đi. Khoa này là thịnh-khoa tháng mười thi hương, tháng một thi hội, may ra ông Cống tháng trước, ông Nghè tháng sau, tội gì mà chẳng thi để phí nửa đời người học hành đi hay sao ?
—... Thi để những thằng học trò tôi, những thằng con bạn tôi nó đè quyển tôi ra nó chấm nữa hay sao? Cái may ông Cống ông Nghè chưa thấy đâu, nhưng cái nhục ấy thì thấy ngay đó. Còn một chuyện nữa, quan trọng hơn, khiến tôi không muốn thi nữa. Và có lẽ bác cũng không nên thi nữa.
— Chuyện chi thế?
— Chuyện hay lắm. Bác lại đằng tôi, tôi nói cho mà nghe. Đằng tôi tuy tre gianh sơ sài nhưng được cái kín đáo và tĩnh mịch hơn.
Đồ Đông Lạc bị khăn xéo rồi cùng bạn đồ Đông Xuân cùng đi. Hai người theo dẫy hàng Đào, hàng Ngang, qua cầu Đông Cống - Chéo rồi vào một xóm cạnh đình Đồng Xuân.
***
Cạnh đình phường Đồng Xuân, sát vách cái nhà thảo xá có một ngôi nhà bỏ hoang từ đời Vĩnh Hựu (1735 - 1740). Nhà ấy nguyên của một ông quan về đời vua Lê Gia Tông (1672 - 1675) Hi-Tông (1676 - 1705) Dụ-Tông (1706 - 1729). Ông quê ở vùng Sơn Nam Hạ, khi lên kinh làm quan, tậu một miếng đất ở đó làm nhà ở. Sau khi ông mất, nhà ấy vẫn cho người ta ở nhờ. Sau vì nhà ở cạnh cây đề có yêu nên không ai ở nhờ nữa mà chủ nhà có muốn bán cũng không được vì không ai dám mua.
Đồ Trạc ở Đồng Xuân sau một hồi thất điên bát đảo vì gia biến, vì thi cử, bán hết cả nhà ruộng, liền đến đó ở. Lúc ông đến ở, trong từ vợ con, ngoài đến xóm giềng làng nước ai cũng can ngăn. Nhưng ông cứ đến. Ông nói :
— Con yêu cây đề nếu có vật chết tôi lại càng hay. Đỗ sinh đồ đến mấy khoa liền thì giá có chết đi cũng rảnh. Vợ con bằng sợ yêu thì tôi đến đấy ở một mình. Nhà ngói sân gạch vườn sau ao trước để không như thế chẳng phí của lắm sao? Tội gì nhà như thế chẳng ở lại đi chui vào ở nhờ cái nhà gianh nhỏ hẹp như cái nhà bếp. Ma thiêng hay không là ở như người. Người mạnh thì ma yếu, người cứng bóng vía thì yêu nào cũng chẳng dám gần.
Thế rồi ông cứ đến ở một mình, mặc cho vợ con cứ ở nhờ cái nhà gianh con của người trong họ.
Từ ngày đến ở, ông vẫn cố ý rình mò xem con yêu cây đề nó như thế nào. Đêm đêm, ông vẫn mở cái cửa sổ ở sau nhà nhìn thẳng ra coi phương đình và cây đề.
Một tháng : không thấy gì,
Hai tháng : không thấy gì.
Ông thuật chuyện lại cho bà đồ nghe. Bà đồ khi đó tin rằng chồng mình bóng vía đủ cứng cáp để trấn áp yêu quái ma quỷ nên vững vào chỗ đó, cũng đem con cái đến ở cùng ông. Nhưng bà cùng con cái thầy tớ chỉ dám ở chiếc nhà ngang trông ra đường chứ không dám ở chiếc nhà trên, cách cây đề chỉ chừng hai trượng.
Từ ngày vợ con đến, ông lại để ý xem xét.
Một tháng : không thấy gì.
Một năm cũng không thấy gì.
Suốt ngày ông không đi đâu cả, trừ ra ngày nào trường quan Hoàng Bảo Triện Trần Danh Lâm [3] có kỳ nhật - khắc [4] hoặc bình văn [5] là hoặc ông đến rủ bạn ông, ông Đồ Đồng Lạc, hoặc ông Đồ Đông Lạc đến rủ ông đến làm bài nhật khắc hoặc nghe bình văn. Trong mười năm gần đây người ta cũng chỉ thấy ông chơi với ông Đồ Đông Lạc mà thôi.
Ông Đồ  Đồng Lạc người vong niên hữu [6] của ông, kém ông mười tuổi. Hai người gặp nhau từ sau khoa Mậu-Tí. Khoa thi Mậu-Tí, đồ Đồng Xuân cùng đồ Đồng Lạc vào trường đều đóng ở một vi [7] giáp nhau. Sau khi cả hai người hỏng thi mới rủ nhau cùng đến tập bài quan Hoàng Bảo Triện.
— Tôi khoa nào cũng hỏng văn sách.
— Tôi cũng thế. Hễ văn sách tôi mà được cái thứ mảc [8] là tôi giật được Cống Sinh ngay. Hay là hai ta đến tập bài quan hoàng Bảo Triện. Văn sách nhà ấy thì thật là văn sách nòi.
Từ đó hai người thân nhau.
Ông đồ Đồng Lạc tên là Vũ Như Ngọc, vốn quê ở đất Kinh Bắc. Ông thân sinh về Thăng Long buôn bán nên thành người Thăng Long. Ông học giỏi lắm, khét tiếng cả một vùng. Ông học giỏi, có văn tài hoạt bát, làm bài nhanh nhưng học hành khi hơi lười vì ông cậy cái thông minh «qua mắt không quên» của ông. Bạn ông thì học chậm lắm, nhưng khi hơi chậm, văn bài làm khi thật quá, không được bỏng bay. Vì cậy tài lười học nên ông thi hỏng luôn hai khoa.
Từ ngày hai người chơi với nhau thì lạ thay ! ông đồ Trạc Đồng Xuân cũng nhanh nhẹn hơn lên, văn bài cũng sắc sảo hơn lên, mà ông đồ Đồng Lạc thì cũng chăm học hơn lên.
Ông đồ Đồng Lạc thường nói đùa với bà con rằng:
— Sinh ra ta là cha với mẹ mà làm cho ta vui chuyện học là đồ Trạc Đồng Xuân.
Người đời bây giờ cũng có câu rằng :
Giỏi nhất đế đô:
Bác đồ Đồng-Lạc.
Học kêu như vạc:
Đồ Trạc Đồng Xuân.
&
Hôm ấy, ông đồ Đồng Xuân bất thần đến chơi đồ Đồng Lạc. Mọi khi không có kỳ bình văn hoặc nhật khắc là đố bác đồ Đồng Lạc rủ được ông đồ Đông Xuân đi chơi. Hôm ấy, thấy vô cố bạn đến chơi, đồ Ngọc lấy làm lạ lắm:
— Chả, bác cũng đi chơi phiếm nữa cơ đấy à? Hôm nay trường quan Hoàng có nhật khắc bình văn gì đâu!
— Bình thì làm trò gi !Nhật khắc thì làm trò nỡm gì ! Đến bác nói chuyện phiếm chơi đó thôi.
Ông đồ Đồng Lạc ngắm kỹ bạn:
— Chi lạ thế bác? Sao bác hôm nay lại giở chứng giở thói ra thế? Hay là mười năm bạn với tôi, bây giờ bác lại bắt tính phiếm và lười của tôi như trước khi tôi bắt tính học kêu như vạc của bác?
— Thì thế sắp khác cả, học làm gì cho mệt.
Đồ Ngọc thấy bạn nói chạm cả đến hai chữ thì thế, chữ mà xưa nay đồ Trạc ít khi dùng đến, việc mà mười năm nay, đồ Ngọc không thấy bạn để tâm đến một chút nào. Bạn ông, con người chỉ biết học, chỉ biết có sách, chỉ biết có chờ khoa để đi thi, con người vẫn lấy câu: «Thành đỗ đã vua chúa xây, việc gì gái hóa lo ngày lo đêm !» làm câu xử thế châm ngôn, con người như thế mà nói đến thì thế âu cũng là một chuyện lạ lùng. Ông vừa giỡn vừa đáp bạn:
-Thì thế làm sao? Núi Thái Sơn sắp đỗ à? Lương mộc nát à?
— Đùa mãi. Tôi nói thật đấy. Tôi chán lắm; chán lắm.
— Chán gì? Tên mình Lễ-phiên vào sổ rồi. Quyển nộp rồi. Tháng sáu thi hương, tháng sau nữa thi hội.
— Bác làm như đỗ hương rồi ấy.
— Ấy phải thế cho nó phấn phát người lên chứ.
— Vâng. Bác phấn phát là phải, tôi thì xin lui. Khoa này tôi cáo ốm.
Đồ Ngọc càng sửng sốt:
— Bác làm tôi hoa cả mắt, choáng cả tai. Bác nói chi lạ thế? Bác cáo ốm không đi thi. Bác quẫn hay sao thế ?
Câu chuyện cứ như thế mãi. Một người thi, cứ nói là không thi nữa mà không chịu nói rõ ràng hẳn cái cớ làm sao lại đổi ý kiến chóng như thế. Một bên, thấy bạn khác thường, cứ hết dò nét mặt lại đến hỏi phỏng, hết cớ nọ lại sang cớ kia. Chè chuyên đã đến năm ấm mà câu chuyện vẫn cứ nhùng nhằng mãi chưa thôi.
Đến lúc trời chiều xế bóng thì câu chuyện mới rõ thêm được một chút nữa - Đoạn vấn đáp sau cùng tác giả đã đem lên đầu chương trên kia. Nói đến chỗ cái nhục gặp những ông quan trường hậu tiến chấm bài, đồ Ngọc vẫn chưa tin hẳn là cái cớ chính nó làm cho bạn mình hốt nhiên có một cuộc lộn tùng phèo trong óc bạn.
Ông tự nghĩ : «Thế những khoa trước anh cũng đã từng bị bọn trẻ tuổi nó đè quyển ra nó chấm, sao anh không lấy làm nhục? Cái lòng tri-sỉ của anh này sao mà nẩy nở ra chậm thế? Quyết đó không phải cớ chính». Ông cố tìm cái cớ nó cắt nghĩa được cái giọng «thời thế» của bạn khi mới đến chơi mà vẫn chưa ra. Ông lại lo cho bạn hoặc mới mắc bệnh gì mà đâm ra mê lẫn.
Đến lúc bạn ông nói rằng ông cũng không nên thi nữa, ông lại càng lấy làm lạ quá nữa. «Ô hay! anh này dễ hóa điên thật». Giá bạn ông chẳng rủ ông đến chơi để nghe nốt câu chuyện hay hay mà quan trọng thì cũng phải theo gót bạn ngay vì ông vẫn tấm tức rằng không biết trước được sự biến đổi của người bạn mười năm.
Câu chuyện kể ra cũng hay hay thật, còn có quan trọng hay không thì tùy sự phán đoán của mỗi người.

Đêm hôm ấy là đêm hôm mười tám tháng chín. Trăng mọc khi khuya, mãi đến giờ Tuất mới lấp ló qua chùm lá đề mà soi vào khung cửa sổ.
Đồ Trạc, theo lệ mọi ngày, đem chiếc đèn dầu ra học. Ông ngồi tựa cửa sổ ghé sách vào ngọn đèn dầu chập ba sợi bấc mà xem. Thỉnh thoảng đến đoạn nào hay, hứng chí ông lại ngâm nga. Ông cứ ngồi hàng giờ ra với chồng sách bên cạnh nách, quyển sách cầm tay. Thỉnh thoảng ông lại đặt sách xuống, rặt điếu thuốc lào. Vừa rặt thuốc ông vừa ngâm nga đoạn sách ông vừa đọc. Hút xong điếu thuốc, ông lại lấy quyển sách khác trên chồng sách, bỏ quyển sách vừa xem vào chồng rồi lại ngồi hàng giờ như trước. Cứ thế: cứ hết mỗi quyển lại hút một điếu thuốc đổi sách, rồi lại cứ thế lúc ngân nga, lúc trầm ngâm, cho đến tận đêm khuya.
Hôm ấy, ông đọc sách hơi khuya hơn mọi ngày.
 Trống canh ở Cửa Ô Quan Trưởng [9] đã điểm sang giờ Sửu. Ông vẫn còn ngồi xem sách.
Vào độ giữa giờ Sửu, ông thấy tiếng thở dài thật mạnh gần ông – Ngẩng đầu nhìn lên, ông thấy ngoài cái cửa sổ tròn có người con gái đứng ngắm vào cửa. Ông nhìn thật kỹ xem có phải mình hoáng mắt không. Thi rõ ràng người ấy đương nhìn ông mà tủm tỉm cười - Ông hỏi:
— Mày hẳn là con yêu cây Đề? Mày định nát tao chăng?
Tuy miệng ông nói thì cứng thế, nhưng trong bụng cũng hơi chờn chợn - Người con gái kia vẫn cười:
— Chi mà phải mày tao! Tôi coi bộ ông tử công phu học tập mà tôi thương !
— Thương với nhớ gì...
Tới đây lòng ông thấy núng – chứng cớ là ông không mày tao nữa mà tay ông thì sẽ lấy quyển Kinh Dịch mở ra. Ông mở quyển sách ấy vì ông tin rằng sách ấy ma sợ. Người con gái lại càng cười to:
— Ông đừng giở Kinh Dịch ra, vô ích. Tôi không sợ đâu ! Ông sợ thì để tôi đi cho ông học.
Nói xong, người con gái quay lưng đi về phía chiếc phương đình. Được vài bước, y quay lại, nói thủng thỉnh :
— Quốc tương vương, quân diệc bất đệ Hưu dĩ đọc thư hách ngã dã [10].
Nói xong đi thẳng vào phương đình rồi biến mất. Ông nhìn theo mãi mới thôi. Đoạn ông gập sách lại, thở dài nhắc lại:
— Quốc tương vương... quốc tương vương… quân diệc bất đệ... diệc bất đệ, bất đệ, bất đệ…
Ông bấy giờ choáng váng cả người. Làm cho ông choáng váng không phải là những chữ quốc tương vương nhưng là hai chữ bất đệ. Bất đệ, ông bất đệ bao phen rồi, bạc đầu vì bất đệ rồi, nay lại bất đệ nữa thì đến bao giờ mới đệ?
Chúng ta bây giờ khó mà biết được cái khổ tâm và cái tâm lý của một người học trò hỏng thi về thời đại trước. Hỏng thi xưa kia như là một sự tai biến gì to tát có quan hệ đến thân danh tính  mệnh người học trò chứ không như cái hỏng thi ngày nay.
 
Chú thích :
[1] Có chế nghĩa là có tang
[2] Hành = đi, làm. Chỉ = dừng lại, thôi. Tiến=bước lên. Thối= lùi xuống.
[3] Ông người làng Bảo Triện, huyện Gia Bình, Bắc Ninh. Ông đỗ Hoàng giáp nên gọi là ông Hoàng.
[4] Lối học cổ, ông thầy chỉ ra bài cho học trò đem về nhà làm. Thỉnh thoảng mới có một kỳ làm ngay ở nhà thầy, gọi là kỳ nhật khắc.
[5] Mỗi tháng hoặc nửa tháng một lần ông thầy chọn những bài văn hay của học trò định ngày đem ra bình cho cả trường nghe.
[6] Bạn quên tuổi, quên rằng mình hơn tuổi người ta.
[7] Trường thi chia ra bốn khu gọi là bốn vi.
[8] Lối phê bài có : thứ mác giải tức như passable thứ phê mác ngắn cũng như médiocre
[9] Tức là cái ô ở phố Mới, bây giờ hãy còn.
[10] Nghĩa là : Nước sắp mất, ông cũng chẳng đỗ đâu. Đừng dọc sách mà nát tôi nữa. Chữ quốc đây dùng theo nghĩa cổ, chỉ triều Lê Trịnh lúc bấy giờ.
[11] Câu chuyện có thật. Vì không có quyền làm giảm giá một người như ông nên tôi đặt ra cái tên nguyễn Huy Văn để giấu tên thật đi. Ông bây giờ « văn minh» lắm, không ông đồ lắm nữa.
[12] Kinh đô, chỗ vua đóng.
[13] Đi rồi chẳng còn về nữa.
[14]  Nôm na thì nói là: mới nối ngôi.
[15] Chỉ Thánh Tổ Thịnh Vương, tức là chúa Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm.
[16] Manh nha là mầm mống.
[17] Tập vị là nối ngôi.
[18] Vương An Thạch tước phong là Kinh Công, có nói: ‘‘Ta biến của trời không đủ sợ, tổ tông chẳng đủ làm phép cho ta, lời người bàn tán không đủ ta để ý.’’.
[19] Cũng như ta nói những nhà ccam62 quyền hành chánh.
[20] Dụ Tổ Thuận Vương Trịnh Giang nhường ngôi cho em là Nghị Tổ Ân Vương Doanh. Nghị Tổ để ngôi cho con là Thánh Tổ Thịnh Vương Sâm, tức là chúa Trịnh lúc thời ông đồ này. Dụ Tổ còn người con là Trịnh Bồng, năm Nghị Tổ nối ngôi Dụ Tổ còn trứng nước.
[21] Họa cạnh nách mình.
[22] Ra ở riêng.
[23] Tức là Đặng thị Huệ cung phi của Thịnh Vương. (Xin đọc Bà Chúa Chè, cùng một tác giả sách này)
[24] Lúc đó nam bắc chia rẽ tự coi nhau như nước khác. Cái tâm lý ấy đáng chán thật nhưng thật có đúng như thế.
[25] Không phải đế, không phải bá mà quyền hành nghiêng thiên hạ.
[26] Tức Trịnh Tùng.
[27] Binh bính : Quyền coi quân
[28] Cái phên cái bình (bình phong là cái che gió).
[29] Nghệ An, Thanh Hóa.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.02.2022 15:35:33 bởi Thanh Vân>
Muốn cho độc giả lý hội gọi là cái tâm lý chết rồi ấy, tôi xin đan cử ra một việc mà mắt tôi đã được trông thấy hẳn hoi.
Việc ấy xảy ra khoảng cuối đời Duy Tân, vào một khoa thi hương ở trường thi Nam Định.
Bốn kỳ thi xong rồi, người ta chỉ còn đợi ngày xướng danh để xem 25 ông cử mới, dạ theo tiếng loa ở cửa trường thi và lĩnh mũ áo vào lạy tạ quan trường.
Một buổi sáng mùa đông, trời còn tối. Các ruộng chung quanh trường thi, nhất là các ruộng trước cửa trường thi, đều đã tấp nập những người nhà người đi thi, cùng người đi nghe và đi xem xướng danh. Dưới ánh sáng những ngọn đuốc mập mờ, người ta nhận thấy lạc vào một bể người.
  Trời tang tảng sáng. Một hồi trống trong trường vang ra. Hàng ngàn người chạy đến cửa trường chờ người lính mang loa ra gọi.
Người lính vừa cầm cái loa đồng cất lên thì bên cạnh tôi, có một ông đồ ngã gục xuống cái rãnh dưới chân, trong khi người lính vẫn thét mãi trong loa :
— Nguyễn Huy Văn! Nguyên Huy Văn!
Mà lạ nhấl là ba chữ Nguyễn Huy Văn cứ vang ở loa ra thật to trong khi bọn người tủm tít quanh người học trò chết ngất cũng ồn ào gọi tên Nguyễn Huy Văn. Thành ra: ở cửa trường, loa truyền Nguyễn Huy Văn vào trường lĩnh mũ áo trong khi ở bờ chiếc rãnh bà con thân thích cũng đương hú hồn Nguyễn Huy Văn về mà nghe xướng danh mình đầu bảng.
Tôi khi ấy tuy còn bé dại - năm ấy tôi chừng lên bảy lên tám - nhưng dại cái gì chứ những lề lối đi thi thi tôi rõ lắm vì nhà tôi là nhà đi thi chuyên môn. Tôi hỏi anh tôi:
      -  Kìa anh, có phải thủ khoa là ông Nguyễn Huy Văn nằm dưới rãnh kia không?
Thấy tôi đem hai chữ thủ khoa nhét xuống rãnh, anh tôi không trả lời câu tôi hỏi nữa, mà mắng át một câu:
— Trẻ con ra chỗ đông phải im.
Tôi đành phải im, bụng vẫn phàn nàn cho ông thủ khoa Văn chết ngất giữa lúc xướng danh mình. Tôi áy náy trong dạ : Qua khỏi đi thì không sao, ngộ lỡ chết thật uổng quá.
Sau tôi mới rõ là vì ông hỏng thi nhiều quá, mỗi lần trông thấy cái loa giơ lên là ông ngây, ngất cả người - Trong mấy khoa trước, thiên hạ cứ đồn ông đỗ - vì ông học giỏi, ai cũng biết - mà rồi mấy lần liền, nghe xong 25 tiếng loa ông cũng không thấy tên ông. Do thế ông đâm sợ cái loa. Ông vẫn nói với bạn:
— Cái tôi khiếp nhất trong trường thi là cái loa đồng xướng danh, là cái dáng tên lính cất cái loa lên. Khoa ấy, thiên hạ đồn rầm trước lên rằng ông đỗ thủ khoa.
Ông cũng ậm-ừ biết vậy thôi nhưng không tin. Tiếng đồn kia đã lừa ông nhiều lần lắm rồi. Miệng loa kia đã lừa ông lắm bận rồi. Tới khi tên lính cất cái loa lên, cái quán tính cũ của ông nó lại bùng dậy mà choán hết tâm thần ông, làm cho ông chỉ còn là cây thịt không hồn đỗ nhào xuống rãnh [11].
  Đêm hôm ấy, ông đồ Trạc phường Đồng Xuân cũng có cái tâm tình trạng-huống ‘‘đỗ nhào’’ như ông thủ khoa Văn. Ông không chết ngất đi nhưng người ông cũng tê tái, không còn đủ sức đứng dậy vào màn đi ngủ nữa. Ngồi lặng cả như thế rồi dần dần gục xuống thiếp đi. Ông thiếp đi chứ không phải ngủ. Đương thiêm thiếp như thế thì con yêu lại đến. Lần này nó tươi cười. Cái cười lần này của nó có vẻ đầm ấm thân mật chứ không có vẻ lạnh lùng chế nhạo như lúc nãy - Tự nhiên ông cũng thấy ưa-ưa con yêu quái vừa trêu tức ông ban nãy. Nó ôn tồn rủ ông:
— Thôi học hành làm chi. Trời sáng rồi, em cùng ông đi chơi một vòng quanh các phố xem lại nơi đế đô này một lần chót. Đi, đi!
Ông trèo qua cửa sổ, cùng nó đi qua chiếc phương đình rồi do cổng trái đi ra ngõ hàng Khoai. Rồi ông cùng nó đi ra phía cửa ô An Hoa, theo phía bờ sông đi lên đến làng Nhật Chiêu. Tới đó, con yêu chỉ vào một cái quán vệ đường mà bảo ông rằng:
— Đây là chỗ chôn sống mấy trăm năm cơ  nghiệp của Trịnh Vương.
Rồi nó lại đưa ông trở về, cũng theo lối cũ. Đi đến làng Quảng Bá, nó chỉ ra sông mà bảo ông rằng:
— Chỗ này là chỗ hoàng đế qua đò. Qua đò xong thì mấy trăm năm cơ nghiệp của nhà Lê cũng qua đò nốt.
Ông hỏi :
— Hoàng thượng qua đò rồi không trở lại Kẻ Chợ [12] nữa à ?
— Có, còn trở lại một lần nữa, xong rồi lại qua đò lần thứ hai. Lần này thì  ‘‘nhất khứ bất phục phản’’ [13] . Mà qua đo giữa nơi trăm giáo nghìn mác.
— Cũng qua đò ở bến này?
— Không, ở bến dưới kia. Lát nữa tôi chỉ cho ông xem.
Đi một lúc đến bến làng Nghi Tâm, con yêu trỏ bãi cát ven sông nói:
— Kìa, chỗ bãi cát thè-Iè lưỡi trai kia là chỗ hoàng thượng độ hà lần thứ hai.
— Thế rồi sao nữa ?
— Sao nữa! Lần này đi thật lâu mà lúc về thì chỉ có một quả tim. Ta vào cửa Đông Hoa qua thành rồi ra cửa Đại Hưng xem phủ chúa.
Qua cửa Đại Hưng hai người đi đến phường Nam Ngư rồi đến Trịnh Vương phủ.
Con yêu chỉ Các Môn:
— Cung điện này rồi tan nát ra tro!
— Bao giờ thì xẩy ra những biến cố lạ thường như thế?
Con yêu cười khanh khách.
— Ông lấy thế làm lạ thường à? Có lạ chi! Có hình thì có diệt, có thịnh thì có suy, lấy chi làm lạ. Còn năm nào xẩy ra thì xin ông đừng hỏi kỹ quá như thế. Chỉ biết rằng:
Đục cùng phải giữ lấy tông.
Tông còn chẳng chắc cán mong nỗi gì?...
Sáu dê năm ngựa ra đi
Ba con đom đóm lập lòe sấm vang.
Năm dê xiết nỗi kinh hoàng qua sông.
Đọc đến đấy, tay nó chỉ cửa Tuyên Vũ mà kêu:
-     Kìa ! Kìa! ông đồ ! người ta làm gì kia kìa, ông chạy lại xem, tôi đứng đây chờ.
Nhin ra thấy ở cửa Tuyên Vũ có đám đông người đứng lố nhố đập cửa kêu thét ầm ỹ.
Ông vội chạy lại thì bị một tên kiêu binh sừng sộ hỏi:
— Anh này đến đây làm gì ?
— Tôi đến xem các cậu làm gì ?
— Làm gì thì việc gì đến anh?
Nói đoạn tên lính đấm mạnh ông một cái.
Ông không kịp tránh, bị một cái đấm mạnh ngã xuống đất thì vừa giật mình tỉnh dậy thành ra một giấc chiêm bao. Cạnh ông, đứa con đứng. Ông ngẩng đầu lên hỏi:
— Giờ chừng bao giờ con?
— Giờ gần sáng rồi. Trống canh đã điểm sang canh tư mà gà cũng đã gáy hai lượt rồi. Đêm qua sao thầy không đi nghỉ mà lại nằm gục đầu xuống đóng sách cho đến sáng thế ?
— Thầy xem sách mệt quá.
Hôm ấy, vì thức gần hết đêm, ông ngũ cả ngày, bỏ cả bữa cơm sáng. Vợ con thấy ông nằm ngủ mà chân tay cứ thỉnh thoảng lại vật vã luôn, cho là ông trở trời. Thỉnh thoảng lại thấy ông thở dài, người nhà không hiểu vì sao, vì đâu. Mỗi người đều hết sức tự hỏi mình xem đã có làm điều gì trái ý trái phép với ông không, vì họ tưởng rằng vì việc gì trái ý trong nhà mà ông vật vã cùng thở dài. Đến chiều, chừng cuối giờ Mùi ông mới trở dậy. Vợ còn len lét sợ không ai dám nói gì cả. Ở một gia đình ông nhà nho cổ, người bố, người cha mà có ý không vui vẻ là cả nhà phải sợ hãi như bọn phạm nhân. Ăn cơm chiều xong, ông vội chít khăn mặc áo ra đi. Người nhà lại càng cho là vì ông có giận gì ai. Lúc ông cầm ống thuốc khăn tay ra cửa, bà đồ đánh bạo hỏi:
— Thầy nó có điều gi mà hôm nay tôi thấy như giận dữ ai, như buồn bực vì ai?
Ông trả lời một câu lạnh lùng gọn Iỏn:
— Chẳng có điều gì cả.
— Thầy nó khó ở hay sao?
— Chẳng sao cả.
Hai câu trả lời lạnh lùng khiến bà đồ lại càng bối rối. Bà cố hỏi câu nữa:
— Hay là tôi có điều gì, hay là trẻ chúng nó có điều gì mà thầy phiền muộn.
Ông phát cáu:
— Chẳng ai làm sao cả. Để cho người ta đi chơi. Đừng săn đón lôi thôi.
Bà đồ bị ba câu lạnh lùng gắt gỏng liền, nín thít xuống nhà dưới, an chí là trong nhà có ai làm điều gì, hoặc ăn nói vô ý vô tứ thế nào mà chồng bà giận.
Ông vội vàng đến chơi đồ Đồng Lạc bạn thân của ông và rủ bạn về nhà, pha ấm trà đặc, kể lại câu chuyên đêm qua cho bạn nghe.
Nghe hết câu chuyện, đồ Ngọc nói:
— Kể ra thì phần trên câu nói, của con yêu cũng có thể tin được mà cái bác vừa thấy thường rồi sau phát hiện cũng nên.
— Còn phần dưới, bác nghĩ thế nào?
— Hãy nói phần trên trước. Hãy nói chuyện ‘‘quốc tương vương’’ trước đã. Còn câu chuyện ‘‘quân diệc bất đệ’’ thì để nói sau :
Xưa nay, từ ngày hai người chơi với nhau ; đồ Trạc vẫn cho đồ Ngọc là người thạo việc đời, hiểu thời vụ. Cho nên hễ có việc gì quan hệ đến chuyện giao thiệp xử thế, đến việc đời thì ông hỏi bạn.
-Vâng, thế xin bác nói chuyện trên trước và ý nghĩ của bác về việc ấy cho tôi nghe.
Đồ Ngọc pha lại ấm nước, uống một chén, hút một điếu thuốc, rồi thong thả nói:
— Cứ xem công việc xảy ra trong mấy năm gần đây thì rõ. Trong Nam, tuy trừ được chúa Nguyễn, tuy lấy thêm được đất Thuận-Hóa, Nam- Bố-Chánh, nhưng...
À mà tôi quên ! phải nói cho có đầu đuôi. Xin bắt đầu nói công việc từ năm Chúa Thượng bây giờ mới nhập thừa đại thống [14]. Nếu quả có chuyện ‘‘quốc tương vương’’  đi nữa thì cũng phải hết đời Chúa Thượng [15]. Vậy công việc xẩy ra trong đời ngài là trưng triệu, là manh nha, là nguyên nhân [16] cho việc đại biến sau này.
— Công việc của Chúa Thượng có cái gì dở.
— Bác hãy để tôi nói. Năm Chúa Thượng tập vị [17] đã có những điều chẳng hay. Tháng giêng, giữa Tết Nguyên đán, nhật thực, núi Mật Sơn sạt ba trượng, ở Quỳnh Lưu trong Nghệ thì động đất nữa. Tháng hai, ở Kinh sư lại động đất nữa. Ngay tháng ấy có loạn ở hạt Siêu Loại. Tháng tư sao Thái Bạch và sao Huỳnh Hoặc phạm vào địa phận sao Tỉnh. Tháng sáu năm ấy, sao Thái Bạch hiện giữa ban ngày. Tháng bảy trời không mưa, tháng tám mặt trăng đi vào giữa sao Tâm...
Đồ Trạc ngắt lời:
— Nói làm gì mãi chuyện trời đất cùng triệu trẫm ấy. Tôi không tin đâu. Bình nhật bác vẫn nói là bác theo Vương Kinh Công : Thiên biến bất túc úy, tổ tông bất túc pháp, nhân ngôn bất túc tuất [18] Sao bây giờ bác lại lấy chuyện thiên biến ra làm nê thế?
— Bất túc úy, đành rằng bất túc úy. Tôi mà là người đương lộ [19] thì tôi cũng mặc thây cả thiên biến lẫn nhân ngôn. Song trời có hiện thì đấttượng. Trời đất có ràng buộc cùng nhau. Nói rằrg thiên biến bất túc úy nghĩa là chẳng sợ cái tượng xẩy ra sau cái hiện báo trước chứ có phải không tin rằng hai cái đó không có quan hệ cùng nhau đâu. Bác muốn nghe việc người thì đây tôi xin nói việc người.
Nghị Tổ thừa đại thống đã là hơ trái rồi. Nay Chúa thượng lại nối theo, thế là bỏ dòng đích đó [20]
— Có sao ! con nối cha, có làm sao ! Nếu trái nhân tâm thì Nghị Tổ có ở ngôi đâu nổi hàng mấy chục năm.
— Đành rằng thế. Nhưng Dụ Tổ cũng còn một người con khác. Mối loạn ở đó là một.
— Trịnh Bồng người đôn hậu.
— Ông đô -hậu thuần thục nhưng ai cấm những kẻ muốn bưng ông lên để hưởng phú quí làm loạn nước? Mối loạn ở đó là một. Mối loạn ấy đã phát ra ngay lúc Chúa thượng mới nối ngôi rồi. Trịnh Lệ chẳng vịn cớ ấy mà làm loạn là gì?
Nói sang chuyện khác:
Năm Kỷ Sửu, Chúa thượng phế Thái tử Duy Vĩ vì một mối thù con. Điều ấy nhiều người lấy làm bất mãn lắm. Mối loạn ở đó là hai..
— Bác chỉ nói những việc trái con con của Chúa Thượng mà quên rằng Chúa Thượng là một người anh minh, tài lược, có chí hùng vĩ.
— Tôi vẫn biết ngài là một đấng anh quân, ngài là một vị chúa anh hùng. Còn ngài thì không sao. Tài ngài to, chí ngài lớn, thì những cái tật nhỏ có thể che đi được. Nhưng tôi sợ rằng một khi ngài nằm xuống thì những cái ác nhân con con ấy nó mới phát hiện ra. Tô Triệt cho rằng cái loạn ở Tề là do Quản Trọng gây ra, điều đó khí nghiệt quá. Song mầm mống nổi loạn ấy thật manh nha từ lúc Tề Hoàn Quản-Trọng còn sống, Bác cứ để tôi nói nốt…
Hút một điếu thuốc, hâm một chén nước, Đồ Ngọc lại nói tiếp:
— Chúa Thượng lại còn tự gây ra cái họa tiêu tường nữa [21]. Vương trưởng tử Khải không có tội gì mà bị Chúa thượng ghét bỏ. Theo cố sự, Vương trưởng tử 12 tuổi thì xuất các [22] dựng làm thế tử. Năm Ngọ, các quan xin, Chúa thượng không nghe, ý chừng là ngài đợi bà Chúa chè [23] đẻ con trai. Năm nay, Vương Trưởng tử đã mười bảy rồi mà ngài vẫn chưa phong. Đông Cung vẫn để hư vị đó, ý chừng ngài đợi cậu bé con lên bốn lớn lên rồi phong. Triều thần bây giờ đã sinh bè đảng rồi đó. Mối loạn, đó là ba.
Ngài chỉ biết lo việc mở đất, đánh nước khác [24] mà không để ý đến việc trong.
Dụng binh nhiều thì tướng võ và quân lính được dùng nhiều và có nhiều công. Do thế sinh kiêu. Cái kiêu ấy, nhất là ở quân lính, nếu không biết kén ai thì có ngày sinh họa.
Mối loạn ở đó nữa là bốn.
Đất của Tiên vương là kiểu đất: phi đế phi bá, quyền khuynh thiên hạ, nhị bách dư niên, tiêu tường khởi họa [25].
Đã đúng chưa bác? Kể từ năm Đức Thánh-Tổ Triết Vương [26] cầm binh bính [27] đến giờ đã được hai trăm mười năm rồi. Mà cái họa tiêu tường thì hiện rõ ra rồi đó.
Đó là mới nói đến cái họa tiêu tường, chưa nói đến cái họa ngoài cõi. Tuy rằng về phía Nam đã diệt được Chúa Nguyễn, đã lấy thêm được mấy hạt Nam Bố-Chánh, Thuận Hóa, nhưng lại nẩy ra một địch quốc khác là anh em Tây Sơn. Thuận Hóa bây giờ là đất phiên bình [28] cho quốc gia mà Chúa thượng để cho Tạo Quận là anh tầm thường giữ. Một ngày kia y tất đánh mất Thuận Hóa thôi. Thuận Hóa mà mất thì Hoan Ái[29] cũng đi đời.
Họa ngay ở đó, ở đó, ở đó.
Đồ Trạc nói:
— Anh em Tây Sơn là lũ giặc ở miền Nam, có giỏi thì chẳng qua cũng là giỏi ở đó thôi, có thể nào đứng địch-thể với quốc gia được?
— Thế thì bác lầm to. Bác không nhớ rằng năm trước đây các ông Lê Quí Đôn, Nguyễn Lệnh Tân khi cùng bị triệu về, có làm sớ xin Chúa thượng nên để ý đến anh em Nhạc Huệ đó à? Tôi nhớ trong sớ có đoạn rằng : ‘‘ Xin thêm bốn quân trấn thủ Thuận Hóa, đặt thêm đồn quân ở đèo Hải Vân và xin chế ngự anh em Tây Sơn ngay từ bây giờ. Cứ ý thần thì mười năm nữa chúng sẽ mạnh ; khi đó không thể sao chế ngự được nữa.
Đồ Trạc nghe bạn nói xong, ngồi thừ ra một hồi. Những người quá thật thà hay có cái dáng ngồi thừ người ra ngồi lặng cá người đi mỗi khi có việc gì phải nghĩ ngợi đôi chút. Đời họ lúc nào cũng bằng phẳng như nước trong ao, như đất ở đồng bằng, hơi có chút gì khác là trong óc bí tắc cả lại không biết ăn làm sao, nói làm sao, cất chân cất tay ra làm sao nữa. Ngồi thừ người ra một lúc rồi ông gắt gỏng giữa trời một câu:
— Thế là cái chó gì !
Đời họ lúc nào họ cũng muốn êm đềm như đi đất phẳng cánh đồng bằng, động qua chỗ đất
núi hơi gồ ghề là chân nam đá chân chiêu ngả  nghiêng muốn ngã.
Đời có người thật là khó chịu. Khó chịu cho người ngoài đã đành, họ lai khó chịu cả với bằng hữu chí thân nữa. Họ tựa như người kia đi chơi nơi lạ, lỡ ra gặp phải đường xấu, quán dột, chỗ ngồi bẩn là họ gắt mà người bị họ gắt đầu tiên là người bạn cùng đi với họ. Họ coi như vì những người kia nên họ mới bị những cái khó chịu dọc đường này. Họ quên rằng người bạn cùng đi với họ cũng cùng phải chịu những cái khó chịu như họ và lại đèo thêm cái khó chịu bị người bạn gắt nữa.
Đời tâm tư của ông đồ Trạc xưa đến nay không có gì cả, trừ một ít chữ bã mía ông đã nhai lại được ở những bài văn sách bài phú làm sẵn; trừ một dúm chữ thánh-hiền - tôi nói chữ, chứ không nói nghĩa lý của những chữ ấy cùng giáo lý của thánh hiền - mà ông thường phun ra phè  phè luôn; trừ một ít sáo thi nhân, văn nhân; trừ những cái cảm giác tê tái lúc thi hỏng cùng những lời nói, những văn cảm khái ‘‘sáo hết chỗ nói’’. Nay bỗng dưng đời tâm tư ông qua hồi bão táp. Hiệu quả thứ nhất là làm cho ông tê  liệt thần trí, ngồi lặng cá hàng giờ. Hiệu quả thứ hai là làm cho ông bản tính gắt gỏng vô lý. Người chịu đựng sự gắt gỏng đầu tiên ấy là vợ ông, người bạn cùng đi con đường với ông. Người chịu đựng nỗi gắt gỏng thứ hai là bạn ông, ông Đồ Ngọc phường Đồng-Lạc.
— Thế là cái chó gì !
Tươi cười, Đồ Ngọc vừa vỗ về vừa trêu ghẹo bạn:
— Chẳng là cái chó gì cả. Chỉ là việc người cả thôi. Còn phần dưới câu chuyện, tôi đã thưa chuyện cùng bác đâu. Câu chuyện quân diệc bất đệ.
— Nói làm cái con tườu gì!
— Nói để làm cái cống sinh cái tiến sĩ khoa này chứ khi nào lại làm con tườu.
— Thôi đi ! Đừng nói lỡm nữa. Bác đi thi mà đỗ cống sinh với tiến sĩ. Bác đừng trêu ghẹo tôi.
— Tôi nào dám trêu ghẹo bác. Bác thật thà quá đi mất thôi. Mấy chữ quân diệc bất đệ là con yêu nó nói ý nói từ xa xôi thế thôi chứ đệ hay bất đệ còn ở học lực mình nữa chứ. Ý con yêu nó định nói rằng: ‘‘Nước gần mất rồi, dù ông đi thi có đỗ thì rồi cũng vô ích như là không đỗ’’. Đáng lẽ nó nói thế thì phải, nhưng chắc vì nó biết rằng bác cay cú đã nhiều về việc thi cử nên nó nói như thế để trêu bác đó thôi... Bác khoa này thì nhất định là đỗ. Bác chỉ hỏng về văn sách mà văn sách bác bây giờ được phê ưu luôn.
Đồ Ngọc nói đến đây làm cho bạn tươi ngay:
— Văn sách tôi bây giờ thì đố anh nào ăn đứt. Thủ khoa Phan Huy Ôn là con nhà dòng cũng chẳng ăn đứt tôi được.
Đồ Ngọc vỗ vai bạn :
—Vậy thì bác ạ. Tháng sau ta vào trường, tháng sau nữa ta là ông Cống, rồi ta vào thi hội. Sang giêng ta vào điện thí. Sang năm ta là ông Nghè, ta về vinh qui. Và, hôm nay tôi xin phép bác về nhà sửa soạn lều chiếu.
Cáo biệt bạn xong. Đồ Ngọc ra về. Đi đường ông vừa nghĩ vừa cười thầm :
— Con người thật đáng thương. Thôi thì mình cũng vác lều chiếu vào trường cùng hắn cho hắn có bè có bạn. Đỗ với đậu thì làm con tườu gì.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.02.2022 23:11:31 bởi Thanh Vân>
V
 
Thịnh- khoa
 
 
Ở quãng góc hai con đường từ Ô Cầu Giấy đi Hànội và Ô Cầu Giấy đi Ô Cầu Rền có một cánh đồng rộng. Đời Lê, đó là trường thi.
Nói đến trường thi, đừng ai tưởng rằng đó phải có nhà cửa lâu đài gì. Muốn hình dung cái trường thi cổ ấy, ta chỉ phải lấy tưởng tượng bỏ hết ngô lúa đỗ trồng ở cánh đồng ấy đi, rồi lại lấy tưởng tượng rào khu ấy lại thành một hình vuông thật rộng. Có thế mà thôi.
Đó, trường thi nhà Lê lúc ngày thường. Ngày thường, bỏ hàng rào đi, thì trường thi cũng như cánh đồng khác. Khách đi qua ngày thưởng chỉ có thể nhận khu vực của nó khi đất có trồng trọt gì. Vì khu ấy là đất công, mỗi người chia nhau làm một năm, không ai chịu phân tro gì, vì thỉnh thoảng lại phải nghỉ một vụ để thi, nên không ai thiết trồng trọt ở khu ấy, vì những lẽ ấy, ngô, đỗ, khoai, trồng ở đây kém mầu, kém chăm nom đều leo heo xơ xác. Giữa vụ cây cối đương lên, khu ấy lờ mờ in thành một hình vuông những cây kém mầu cằn cội, ở giữa một cánh đồng xanh tốt.
Trường thi, theo nghĩa đúng của nó phải ở chỗ lộ thiên. Trường là một khoảng đất lộ thiên dùng để làm một việc ganh đua gì. Văn trường là chỗ học trò đua văn, chiến trường là chỗ lộ thiên để chiến sĩ đua nhau chết: trường đấu mã là đất lộ thiên để ngựa đua nhau chạy.
Sĩ tử đua nhau văn có khi cũng gay gắt như ngựa đua nhau chạy, nhất lá cái giải thủ khoa. Tựa như ngựa tranh nhau về nước nhất, một khoa kia, hai ông cử ghen nhau:
Hai đứa tranh nhau cái Thủ-khoa,
Tuân khoe văn cứng, Nghị văn già,
Rồi tựa như lũ người xem đua ngựa, bàng quan cũng tức tối hộ con ngựa hay, đáng nhất nhì ba lại lạc loại về thứ tư; cũng lấy làm lạ cho con ngựa hèn về liền với con ngựa thứ hai:
Quan trường lấy hết phường hay chữ,
Mà bác Lê Tuyên đỗ thứ ba.
Con ngựa thứ tư ấy là ông cử Đỗ Túc, danh sĩ Bắc Hà hồi năm sáu mươi năm trước đây.
Sĩ tử đua nhau, văn có khi cũng nguy hiểm như đi chiến trường. Khoa nhâm tử gần đây (1912) vì mưa gió, có người chết trong trường thi. Ông Ấm Hiếu cùng thi khoa ấy, bị trược về nhà hãy còn mừng gượng :
Văn không hay chẳng đỗ thì đừng.
Gió mưa khỏi chết, nửa mừng anh
lại nửa thương.
Cái nghiệp bút nghiên nguy hiểm
Dủ trăm đường [1]
Sĩ tử vào trường đua văn, có khi cũng có cái cảm tưởng như chiến sĩ đi chiến trường.
Chiến sĩ lên đường, còn có người dặn bà con
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
 Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi
Say nằm ai cũng đứng cười
Xưa nay chiến sĩ mấy người về đâu?
Ông Tú Trần Tế Xương, trước khi bước chân đi thi, cũng dặn với vợ con:
Ngày mai tớ hỏng tớ đi ngay
Giỗ tết từ đây nhớ lấy ngày.
Quãng đất chỗ góc đường cửa Ô Cầu-Giấy, hồi Hậu-Lê dùng làm nơi văn trường bút chiến cho hết thảy sĩ phu nước ta.
Ba năm một lần, gần tới kỳ thi, người ta rào khu đất ấy lại thành một khu đất vuông chừng hơn mười mẫu ruộng, mỗi bề dài chừng bảy mươi trượng. Ở giữa bốn mặt, mở bốn cửa thật to. Trên mỗi cửa dựng một cái nhà chòi để lính đứng trên bắc loa gọi sĩ tử vào trường và trông nom sĩ từ làm bài thi. Hai con thập đạo nối cổng nọ với cổng kia và cắt trường thi làm bốn vi giáp, ất, binh, đinh, cửa chính ở phía Nam. Cửa ấy to nhất vì là nơi quan trường tiến trường. Cửa ấy chạy giữa hai vi giáp, ất và đi thẳng vào gian giữa nhà thập-đạo làm ở giữa chỗ hai con đường gặp nhau và ở giữa trường thi. Nhà ấy là chỗ ở của quan Tri cống-cử [2] và là chỗ văn phòng của ngài. Cái sập kê giữa gian là chỗ định đoạt số phận của sĩ tử,
Cửa đông chạy giữa hai vi ất, bính và chạy thẳng vào nhà ở và nơi làm việc của quan Đề Điệu [3]. Cửa bắc chạy giữa hai vi bính, đinh và chạy thẳng vào nhà ở và nơi làm việc của bọn lễ sinh, văn-sinh [4] cùng lính hai đội Nhưng Nhất, Nhưng Nhị. Cửa Tây chạy giữa hai vì đinh, giáp và chạy thẳng vào nhà ở và nơi làm việc của các quan giám khảo, phân khảo.
Bốn góc giáp bốn vi, cạnh chỗ các nhà quan  trường, dựng bốn cái nhà chòi để lính đứng cạnh trường. Từng dưới chòi là chỗ học trò đến chép đầu bài, lấy quyển, cánh - quyển [5] lấy dấu nhật trung vào quyển và nộp quyển [6]. Hồi Lê, cả nước - kể từ bờ Bắc Linh giang trở ra là cơ nghiệp của vua Lê, chúa Trịnh - chỉ có một trường thi ấy là to thôi. Thường thường, vào những khóa thi thường, thì hương thi thì ở các tỉnh, nhưng mỗi khi có một kỳ thi đặc biệt, thí dụ như những kỳ thi hoành từ bác văn hoặc như kỳ thi Thịnh khoa năm Cảnh Hưng thứ 40, thì hàng vạn sĩ tử bốn trấn cùng vùng Thanh, Nghệ, Bố chính đều về trường thi ấy cả. Mỗi lần như thế thì học trò, khi tựu trường phải theo đúng thể lệ sau này để khỏi loạn trật tự:
1.) Các sĩ tử thuộc các trấn Thanh Hoa Nội [7] Nghệ An, Bắc Bố chánh [8] và Thuận Hoá, Quảng Nam, đứng chờ sẵn ở trước cửa Nam; khi được gọi vào rồi, thì đi rẻ ngay sang tay trái mà cắm lều ở vi giáp.
2.) Các sĩ tử Thượng Hồng, Hạ Hồng, An Bang, đứng chờ ở cửa Đông, rồi rẻ sang tay trái mà cắm lều ở vi ất;
3.) Các sĩ tử Tuyên Quang, Hưng Hóa, Sơn Tây chờ ở cửa Bắc và vào cắm lều ở vi bính;
4.) Các sĩ tử ở Lạng Sơn, Kinh Bắc, Thái Nguyên, Sơn Nam chờ ở cửa Tây và cắm lều ở vi đinh.
Năm ấy, - năm Kỷ Hợi, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 40, đời vua Lê Hiền Tông Vĩnh Hoàng Đế, tức năm thứ mười ba đời chúa Thánh Tổ Thịnh Vương Trịnh Sâm, lịch tây vào năm 1779 – chúa Tĩnh-Đô Vương [9] cho mở Hương Hội Thịnh Khoa.
Từ năm Giáp Ngọ - Cảnh Hưng thứ ba mươi lăm (1774) – người ta thấy cử động của nhà chúa khác lắm. Từ lúc nhà chúa còn ở Lương phủ [10], sĩ phu trong nước cũng đã nhận thấy rằng thế tử là bực lỗi lạc khác thường. Năm Cảnh Hưng thứ 14, được dựng làm thế tử. Năm ấy chúa mới có 12 tuổi. Một hôm quan A Bảo [11] là Nguyễn Công Thể đưa ông Lê Quí Đôn vào hầu, thế tử hỏi rằng :
—   Ông đỗ đầu luôn ba kỳ thi hương, hội, đình, hẳn là cái gì cũng biết?
Lê Quí Đôn nói :
— Tôi có là thánh đâu mà cái gì cũng biết: Tôi được thế là mông Ân Vương thượng.
Thế tử cười :
—   Ông mông ân ông chứ!  Ông mà dốt thì Vương thượng dù muốn ban ân cho ông cũng không được. Tôi tưởng đỗ đầu cả ba kỳ thì là giỏi lắm, cái gì cũng biết.
Khi Lê Quí Đôn ra khỏi, thế tử bảo với quan A Bảo rằng :
— Ta trông Lê Quí Đôn là người cậy tài, khinh người, mà lại gian.
— Sao thế tử biết?
— Hay nhìn trộm là tính gian. Nói hay ngửa mặt lên là ý kiêu. Kiêu không đã đáng ghét, huống hồ lại gian nữa.

 
Chú thích:
[1] Ở nguyên văn là chữ cay đấng, tôi đổi là nguy.
[2] Tức là quan chủ khảo
[3] Đề điệu là ông quan chủ việc giám sát trật tự trong trường.
[4] Tức như bọn thơ lại
[5] Mỗi khi viết sai, muốn bỏ quyển cũ, phải lên xin quyển có dấu trường.
[6] Đến giữa Ngọ, phải xin dấu đóng vào giữa hai trang giấy vừa viết xong và đương viết giở.
[7] Tức là Thanh Hóa bây giờ. Ninh Bình xưa là Thanh Hoa ngoại trấn
[8] Vào hạt Hà Tỉnh và Quãng Bình bây giờ.
[9] Tức là chúa Trịnh Sâm. Lúc còn sống, là Tĩnh Đô Vương. Lúc chết mới tôn thụy là Thánh Tổ Thịnh Vương.
[10] Phủ Thế tử
[11] Thầy dạy học cho Thế tử.
[12] Tờ lên vua gọi là tấu, tờ lên Chúa gọi là khải.
[13] Thêm hiệu để xưng.
[14] là tước vương trên có một chữ Minh Đô Vương, bởi vậy đổi là Minh Vương.
[15]  Đi thi đeo lọ nước vào trường uống. Sau chữ ấy nghĩa là đi thi và dùng một cách đùa bởn.
[16] Bố vợ, kêu là ông gia.
[17] Đồ đệ Trọng Mỗ không nói chuyện Tề Hoàn, Tấn Văn, Trọng Ni là tên tự Khổng Tử. Học trò kiêng đọc là Trọng Mỗ.
[18] Đổi quyển.
[19]  Ban ngày thi thì giờ ngọ lấy đấu ‘‘nhật trung’’. Đêm thì thi đầu tí lấy đấu ‘‘tí sơ’’
[20] Thức ăn sĩ tử mang vào trường. Bài phú hing3 thi cổ có câu ‘‘ Chả ba họ cơm nắm ruốc bông, ăn một miếng nghĩ một câu, văn bài viết tháo’’ .
[21] Lính hầu trong nội phủ Chúa
[22] Góc cạnh
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 07.02.2022 10:49:15 bởi Thanh Vân>
Năm 17 tuổi, chúa Nghị Tổ Ân Vương cho thế tử ra ở riêng, mở Lượng Quốc Phủ, phong làm Tiết Chế Thủy Bộ Chư Quân, Thái úy, Tĩnh Quốc  Công, coi hết việc nước. Phàm việc các trấn, các bộ, các phiên, đều phải qua tay cả. Tĩnh Quốc Công xét đoán công việc linh lợi lắm, các quan trong triều ngoài quận đều rất phục.
Nhiều lần Tĩnh Quốc Công xui ngầm các quan khải [12] xin chúa Minh Đô gia xưng hiệu [13]- Lần thứ nhất, vào năm Cảnh Hưng 16. Vì thế, chúa Minh-Đô mới giả mệnh vua tự phong Nhất tự Vương  [14] là Minh Vương – Lần thứ hai, vào năm Cảnh Hưng 27, Tĩnh Quốc Công bảo A  Bảo là Nguyễn Hoãn:
  — Tiên Vương ta tái tạo lại cơ đồ cho nhà Lê. Giá đức Thái Vương cứ chính danh vị ngay, thì nay việc ấy cũng thành cố sự đi rồi. Một cái nước vương hờ, sao cho xứng với Chúa thượng là chủ thần dân.
Nguyễn Hoãn chỉ cười mà không nói gì.
Thế tử gắt:
— Tiên sinh cười là nghĩa làm sao? Cười ta hay cười Chúa thượng?
Nguyễn Hoãn vội đỡ ngay:
— Tôi cười cái ngu của mấy ông tân khoa bữa nọ vào hầu thế tử mà cứ bô bô nói nhờ hồng phúc Hoàng thượng và đại nguyên súy...
— Họ ngu thật. Tiên sinh cười là phải.
Thế rồi, mấy hôm sau, lại có khải lên. Chúa Minh Đô xem xong nói:
— Bây giờ dân thì bị lụt, bị mưa, mùa màng mất, nhà cửa trôi. Ta chưa được nghe chư khanh hiến sách gì cứu dân mà chỉ thấy khải xin gia hiệu. Lúc này không phải lúc làm những việc ấy. Các khanh đừng nói đến nữa.
Từ đó việc ấy mới thôi. Ý thế tử định để cha gia hiệu trước, rồi mình sau này gia hiệu sau thì thuận tiện hơn.
Người ta nhớ nhất và để ý nhất là việc thế tử Sâm xung đột với Thái Tử Duy-Vĩ năm Giáp Thân (Cảnh-Hưng XXV — 1764).
Nguyên thế tử và thái tử hai người đều tài bộ thông minh cả, vì thế Thế tử có ý ghen ghét. Một hôm thái tử và thế tử cùng ăn cơm trong phủ Chúa. Quân hầu theo ý chúa Minh Đô Vương, trải một chiếc chiếu trên một cái sập để hai người cùng ngồi. Khi thế tử sắp leo lên sập ngồi, bà Vương phi nói rằng:
— Thế tử đối với thái tử có lễ vua tôi đối với nhau, sao lại ngồi cùng chiếu thế được?
Rồi bà khiến lính trải chiếu khác ở giường khác.
Thế tử dỗi bỏ ra, không ăn nữa.
Ra ngoài thế tử lấy chiếc đũa bẻ làm đôi mà thề rằng:
-Sâm cùng Duy  Vĩ thằng nọ sống thì thằng kia chết.
Từ đó, người ta lại càng hiểu ý thế tử Sâm lắm. Tới năm thế tử Sâm thành Chúa Tĩnh Đô Vương thì ai ai cũng cầm chắc là thái tử ít ra cũng bị phế.
Làm chúa được hai năm, Chúa Tĩnh Đô giết thái tử Duy Vĩ; rồi thì luôn luôn có việc canh cải.
Từ năm Giáp  Ngọ, người ta thấy cửa Đông của nhà chúa lại càng khác lắm. Lấy thêm được đất Thuận Hóa xong thì ở phương Nam cho mở trường đúc tiền ở Thuận Hóa, hợp Nam-Bắc-Bố Chính vào một gọi là phủ Hà-Hoa ; mở khoa thi hương ở Thuận-Hóa ; ở phương Bắc sai Vũ Trần Thiệu mang biểu sang sứ mật tâu nhà Thanh xin nối nhà Lê làm vua An Nam.
Năm Đinh Dậu, nhân dịp Vương tử Cán sinh, lại mở một khoa thi hương. Đầu bài năm ấy ra
 Sơn xuyên anh dục,
 Hà hải tú chung phú.
 (Khi linh tú của non sông chung đúc lại). Sĩ tử khéo đón ý bề trên, thành ra bài thi nào cũng là một bài tán cả. Nhiều bài tán vô lối quá, quan trường phải đánh hỏng - Có bài nói lộ ý quá đến rằng: ‘‘Thiên ý nhân tâm qui Trịnh...’’ ( Ý trời, lòng người về theo Trịnh cả ), cũng bị đánh hỏng, Quyển tuy bị phê hỏng, nhưng người thì được đem vào vương phủ dùng làm nội thần.
Năm Mậu Tuất - Cảnh Hưng 39 - nhà Chúa lại triệu sĩ tử vào nội phủ, tự ra bài và tự chấm, tự hỏi lấy để lấy một bọn võ tuyển và văn tuyển cử nhân. Thật ra là ý Chúa muốn lựa lấy những người ở trong dân gian thật trung thành với họ Trịnh để dự bị sẵn. Nguyễn Danh Hiến, người khéo lựa ý Chúa một cách hoạt bát thông minh nhất, được bổ ngay.
Năm Kỷ Hợi - Cảnh Hưng 39 - Mở Thịnh Khoa.

— Khéo chẳng mà voi xéo bẹp đó.
— Ui chà! mỗ đây thì voi nào xéo bẹp được. Nếu chết dưới chân voi thì đã chết từ đời tám hoánh nào rồi, còn đâu đến ngày nay nữa.
— Coi đó! giỡn mãi! voi tiến đến sau lưng rồi kia kìa.
— Không sao cả. Mọi khoa tựu trường từ giờ Sửu, trời còn tối mò mà mỗ đây cũng cứ đi cùng với voi, còn chẳng sợ chi, nữa là bây giờ trời đương đóng Ngọ.
Đó là tiếng hai ông Đồ đương nói chuyện trên con đường từ Giảng Võ đến trường thi. Một ông sợ voi xéo bẹp nhắc bạn đi cho cẩn thận, một ông khoe mình rằng đã đi thi nhiều phen, đã từng đi lẫn với voi mà đi vào giữa lúc còn tối mặt người.
Các khoa thi trước, học trò phải chực ở cửa trường từ quá nửa đêm, đợi gọi xong tên thì vào trường làm bài từ sáng đến tối. Khoa này, trái lệ mọi năm, kỳ đệ nhất, học trò tựu trường từ trưa đến tối mới gọi hết tên. Rồi thì bắt đầu làm bài từ tối đến sáng. Khoa này vì là thịnh khoa, nên văn sách ‘‘tháu đấm’’ làm ngay vào kỳ đệ nhất.
Tới đây, kẻ chép chuyện này có lẽ cần phải nói qua về lối thi văn sách viết ‘‘tháu đấm’’ hồi nhà Lê. Vì sợ gian lận nên cứ mỗi khoa thi, đến kỳ văn sách, nhà nước bắt sĩ tử làm bài vào lúc đêm tối. Khi đã chép xong đầu bài rồi, nghe xong ba hồi trống ‘‘diệt - hỏa’’ - (diệt hỏa cổ = trống tắt lửa) là bao nhiêu nến, bạch lạp, đèn dầu trong các lều phải tắt hết. Rồi thì, sĩ tử phải lấy tay bấm phỏng lấy dòng mà viết mò trong xó tối. Vì phải viết như thế nên được phép viết tháu. Vì phải viết tháu trong xó tối nên sĩ tử mới bày ra lối viết ‘‘tháu đấm’’ cho nhanh. Lối viết tháu ấy ra ngoài cả phép tắc viết của các thiếp chữ thảo của Tàu. Chữ ‘‘tháu đấm’’ là những chữ viết một bộ phận chữ ở giữa rồi ‘‘đấm’’ hai bên tả hữu hai nét chấm. Những chữ quốc viết tháu chữ vương ở giữa rồi đấm hai bên hai chấm ; chữ tuy viết một nửa rồi đấm hai bên hai chấm v...v... là những chữ còn sót lại của hồi ấy. Mười chữ thì viết ‘‘ tháu đấm’’ đến sáu bảy. Lâu dần ‘‘tháu đấm’’ thành một lối thư pháp đặc biệt. Những bản viết hồi ấy còn sót, ít người có thể đọc được nữa. Thế mà hồi ấy, thành một thói quen các ông ấy viết tài lắm. Bấm dòng trong xó tối, thế mà các ông viết thẳng thắn lắm, chỉ phải cái tội tháu lòi tói, tháu đấm nhiều quá mà thôi.
Mọi khoa, kỳ tháu đấm thường vào kỳ cuối để hạch lại lần cuối cùng xem sĩ tử có thật làm không, xem các bài kỳ trước có phải thật làm lấy không hay là mượn ai tá gà hộ.
Khoa này nhà chúa cho kỳ ‘‘tháu đấm’’ đi trước, là muốn lọc sĩ tử ngay từ kỳ đầu cho nhanh cho tiện.
Bốn con voi vẫn từ từ tiến giữa đám sóng người lều chiếu kềnh càng. Mỗi thí sinh vác theo mình một cái lều, một đôi chiếu, một cái tráp. Cái lều để giương lên làm chỗ trú mưa nắng, cái tráp để bút mực giấy và thực phẩm đủ ăn hai bữa trong trường. Người sang trọng thì lều chiếu trao cho một tên đầy tớ mang hộ đến cửa trường, mình chỉ đeo một cái ống quyển sơn đen. Trông bọn người đi thi - hoặc người mang hộ người đi thi - thật như một bọn lính ra đi chiến trường. Trong bọn hàng nghìn vạn người ấy, người ta phân biệt các ông sĩ tử với người nhà các ông ở chỗ vai đeo ống quyển.
Đeo ống chứa quyển thi là một nghĩa vụ, là một vinh dự mà không khi nào các ông cho bọn đầy tớ người nhà được có.
Bốn con voi vẫn rẽ làn sóng người mà thủng thỉnh bước đi.
— Nghếch mắt đi đâu thế ? Voi xéo chết bây giờ!
— Voi nào dám xéo cái bụng chứa kinh nghĩa văn sách, thơ phú, từ lúc này!
— Chứa cả bách gia chư tử mà vô ý thì nó cũng xéo bẹp cho mà xem.
— Bác này dáng chừng mới ‘‘đeo lọ’’ [15] đeo ống quyển một lần này ? Voi đội Nội Tượng khôn lắm, có bao giờ xéo chết học trò.
Đội quân lều chiếu vẫn kềnh càng nghênh ngang tiến đi một cách loạn trật tự như bầy cua, lộn xộn bò không hàng không lối. Bốn pho tượng vẫn ung dung chậm chạp tiến giữa đám lộn xộn ồn ào ấy. Trên bành con tượng đi đầu, ông Tứ Thành Đề Lĩnh Bùi Thì-Nhuận vẫn vắt vẻo ngồi dưới chiếc tàn đỏ.
Cuối giờ Ngọ, đội nội tượng đến cửa Nam trường thi. Trên mình voi, người chưởng cơ đội quân Kim Ngô, cất ống loa lên, vừa nói vừa quay miệng loa khắp bốn phía:
— Lùi ! lùi để bốn ông quận dẹp lối cho quan trường tiến trường...
Đội quân lều chiếu chạy giạt ra hai bên. Bốn pho tượng đứng sang hai bên cửa trường thi, để lối giữa trống.
Đội quân Kim Ngô vào trước, đứng sắp hàng hai bên vệ đường giữa hai vi giáp ất. Bốn cái võng đào, thứ tự đi giữa hai hàng rào voi và lính áo nẹp đỏ mà vào trường. Võng đầu, chung quanh có bốn tên lính cầm bốn lọng che, là võng quan Tri Cống Cử Thái Bảo, Quốc Sư Hoàn Quận Công Nguyễn Hoãn.
Võng thứ hai, kèm bốn lọng xanh, là võng quan Đề Điệu, Thự Phủ Sự, Huy Quận Công Hoàng Tố Lý. Võng thứ ba, che hai lọng, là võng quan Giám khão, tri Lễ phiên Kế Liệt hầu Bùi Huy Bích. Võng thứ tư, che một tàn, là võng quan Hành Tham Tụng Tứ Xuyên hầu Phan Lê Phiên.
Rồi, theo sau là một hàng tám võng tám quan phân khảo. Sau hàng tám võng ấy đến hai đội quân Nhưng Nhất, Nhưng Nhị. Rồi đến lũ người nhà các quan trường đứa nào đứa ấy mang tráp điếu chạy theo.
Các quan đã tiến trường - Cửa trường tạm đóng một lúc để các quan nhận công việc giữ trật tự trong trường.
Ngoài đường, tiếng bàn tán ồn ào như chợ. Ở một góc, người ta nhận thấy hai gia rể [16] bác Đồ Tốn vùng Hạ Hồng. Một sĩ tử đi qua thoảng nghe tiếng ông gia bảo chàng rể:
— Bá đạo, cứ bá dạo.
Người kia dừng bước lại hỏi:
— Bá đạo làm sao? Gia con ông định thi gian hay sao? Khéo chẳng lại mắc cái vạ Lê Quí Kiệt năm nọ.
Ông ba Chi Bình Vọng vội nói gạt đi:
— Chết! chết! thầy đừng nói nhảm mà vạ miệng chứ chẳng chơi. Chúng tôi bàn chuyện khác, không can thiệp gì đến chuyện thi cử cả.
Người kia dáng chừng say rượu, to tiếng sinh sự ngay:
— Việc gì cũng không bá đạo được! Việc gì cũng phải vương đạo hết. Anh này thật là danh giáo tội nhân!
Rồi một bọn học trò túm lại hỏi rối rít:
— Cái gì? Cái gì? Cái gì vương đạo với bá đạo?
Người kia chỉ ông ba Bình Vọng:
—   Ông Ba quán Tí Hàn dặn chàng rể cứ bá đạo cứ bá đạo! Chẳng biết ông định xui chàng rể làm cái bá đạo gì trước cổng trường thi?
Ông cống Ngô Tiêm đi xem thi len vào nói:
— Bác nghe nhãng tai đó. Ông Ba nhà ta có đời nào lại nói chuyện bá đạo. Trọng Mỗ chi đồ, đạo Hoàn Văn chi sự [17]
Người kia hăng hái nói:
— Thì rõ tai tôi nghe thấy. Ông ấy đứng đực mặt ra thế kia là ông ấy thú nhận đó.
Được dịp chơi khăm lại ông Ba Chi Bình Vọng, bọn sĩ tử mỗi người nói xói nói móc một câu, Bác đồ Cuồng xứ Đoài nói mát :
—   Ông ấy khinh bọn hậu bối chúng mình thì có, chứ ông ấy khi nào lại mở miệng nói bá đạo. Cái miệng ‘‘khải thánh học’’ có phải là cái miệng vừa.
Một người khác nói chêm:
— Cái miệng ăn nói toàn sách vở, cái bụng nghĩ toàn chuyện thánh hiền có đời nào xui ai làm điều bá đạo!
Trống trong trường vang ra ba hồi. Sĩ tử tắt câu chuyện đương nồng, ai nấy lắng tai nghe. Trên chòi bốn cổng, bốn tên đội Kim Ngô đã cất tiếng loa:
— Sĩ tử các trấn đầu đứng vào đấy để nghe tên mà vào trường.
Học trò các trấn chia rẽ nhau, người đến cổng Nam, người sang cổng Đông, kẻ chạy đến công Tây, kẻ sang cổng Bắc.
Trong khi rời bọn để sang cổng Bắc, bác Đồ Cuồng còn nói vớt một câu chuyện pha trò:
— Tôi người Sơn Tây phải đi trấn thủ Kinh Bắc, các bác ở lại mà trấn thủ trấn Đoài tôi.
Lại ba hồi trống nữa.
Trên chòi cổng đóng, tiếng loa gọi:
— Các sĩ tử Đông Đạo vào cổng Đông. Sĩ tử An Quảng vào trước, đứng lên trên. Sĩ tử Hải Dương vào sau, đứng xuống dưới.
Lại một dịp lên xuống ồn ào.
Loa lại cất lên:
— Nguyễn Thì Trung, An Bang xã, An Bang tổng, Hoành Bồ huyện, An Quảng trấn.
Một tiếng dạ ở sáu bảy miệng cùng ra. Nguyễn Thì Trung còn lúng túng với bộ lều chiếu, tráp tên người nhà trao lại. Trên chòi tiếng loa lại dục :
— Nguyễn Thì Trung !
Nguyễn Thì Trung luống cuống ôm đồ chạy vào, quên cả cầm giấy điểm danh và định chỗ. Tên lính Kim Ngô gọi giật lại:
— Bác khóa Trung! quên bản mệnh à?
Khóa Trung lộn lại cầm mảnh giấy vuông con tên lính Kim Ngô trao cho rồi vào, khi trên chòi tiếng loa thét:
— Phạm Mạnh Xứng ! Giản Thủy xã...
— Trần Bình Chi...
— Cao Như Bình...
— Trần Trọng Tốn, Hòa Loan xã. Vĩnh Lại huyện.
Mọi người khẽ bão nhau:
— Bá đạo! bá đạo!
Cuối giờ Thân, học trò vào hết. Lều bốn vi căng ra đất san sát như bát úp.
Một ông đồ hớt hơ hớt hãi chạy lên nhà thập đạo kêu với quan Giám Trường:
- Bẩm Quan Lớn con đánh rơi mất ống quyển.
Quan giám trường, ông Tứ Thành Đề Lĩnh Bùi Thì Nhuận gắt:
— Ai sẵn người làm đầy tớ giữ ống quyển cho anh? Sao không treo nó vào cổ.
— Dạ con vẫn treo nó vào cổ. Lúc đông người tuột đi lúc nào không biết. Con xin cánh quyển [18]
— Lính Kim ngõ! trao cho nó quyển khác.
Một tên lính cầm quyển khác trao cho thầy đồ vô ý. Lúc thầy đồ cúi xuống lĩnh quyển thì, than ôi! ống quyển của thầy nó lại đập vào ngực thầy. Thì ra, trong khi chen chúc, ống quyển lẻn ra sau lưng, nhưng vẫn còn treo ở cổ. Tên lính vừa gắt vừa cười:
— Chao ôi! người mới ngợm. Sách vở mà cũng quên cũng đãng thế thì đỗ vài cái cống sinh đó.
Bẽn lẽn, thầy đồ về vi, vào khu tứ, thấy đều đóng chật ních, thầy lại lên trình quan giám trường:
— Khu con chật hết, không có chỗ cắm lều.
Quan Lớn cho phép con sang khu nhị còn rộng chỗ.
Ông Bùi Thì Nhuận nhận thấy thầy đồ quên ống quyển lúc nãy, vừa cười vừa nói:
— Đưa phiếu danh đây xem. Anh lại quên lần nữa cũng nên.
Thì quả nhiên, xem xong phiếu, ông phá lên cười:
— Tôi đọc kỹ lại phiếu danh, xin ông đồ Hồng Châu nghe cho kỹ:
— Đặng Quí Hỏa, có phải tên anh không, hay anh lại làm phiếu người khác!
— Dạ phải,
— ... Đặng Quí Hòa, Hàm Giàng xã, Cẩm Giàng huyện... có đích là anh không? Hay anh đãng trí quên cả tên, cả làng, cả huyện.
— Dạ phải.
— Cẩm Giàng huyện, Hải Dương trấn, Vi Ất, khu nhị, khu nhị... Khỉ ơi là khỉ!
Thầy đồ vội hấp tấp chạy đi cắm lều.
Trời sắp tối. Tiếng vồ nện cọc lều vẫn chan chát. Sĩ tử chưa cắm hết lều.
Trời ngả dần mầu xám. Trong các lều đã le lói có ngọn lửa đèn dầu sở bằng đất Thổ Hà.
Tiếng giun dế đã bắt đầu rên rĩ như khúc nhạc âm ỷ não nùng. Trên nhà thập đạo, trên bốn chòi cổng, những ngọn bạch lạp cố hết sức phá màn tối trời đầu đông.
Trăng bắt đầu ló vừng gương bạc ở đằng đông, chiếu xuống hàng vạn cái lều khum khum san sát như bát úp trong trường thi. Dưới bóng trăng, vải lều cũ cũng như mới, đều tráng một mầu óng ánh dễ coi. Gió bấc lạnn lùng thổi lồng vào kẽ chân lều, khiến nó lung lay, bập bùng như muốn nhổ cọc mà bay. Đứng trên các chòi trông xuống, tựa như một bầy rùa vàng bạc động mui muốn bò.
Sĩ tử đã cắm xong lều, đương đề tên tuổi quê quán vào quyển và đương chép đầu bài.
Ở một khu, nghe tiếng thì thầm:
— Bá đạo thật! Gia rể nhà lão Ba Chi dùng bá đạo thật. Nó biết đầu bài trước.
— Không phải. Nếu thế thì khi nào nó lại dám lộ liễu ở giữa chỗ đông người.
— Lại còn không! Đầu bài hỏi một câu Mạnh Tử với một câu Luận Ngữ về Quản Trọng cùng bá đạo, thế mà lại chẳng là nó biết trước đầu bài hay sao?
— Có khi là ngẫu nhiêu. Biết đâu? Nó dặn rể nó chuyện khác cũng nên...
Ba hồi trống  ‘‘diệt đăng’’ đã nổi. Rứt hồi trống đèn lửa trong lều tắt cả. Sĩ tự cắm đầu nghĩ, cắm đầu viết ‘‘tháu đấm’’.
Giờ tí, lác đác đã có người nộp quyển giữa lúc nhiều người còn lấy dấu  ‘‘tí sơ’’ [19], còn cánh quyển.
Cuối Sửu, người nộp quyển đã hơi nhiều.
Lều cứ theo số người nộp quyển mà bớt số, Dần dần, trong trường chỉ còn vài trăm lều những sĩ tử nộp xong quyển ngủ lại trường thi và vài chục quyển chưa xong, sắp bị ngoại hạn.
Đầu mão, một hồi trống thu quyển lần cuối cùng. Lác đác khi đó có mươi mười lăm người lên nhà thập đạo nộp quyển.
Sáng ngày, lều nhổ đi hết, khu trường thi trông tựa một chiến trường-Thây nằm đầy đồng không có, nhưng có lá chuối gói bánh, giấy lộn vứt đầy trường. Máu chảy thành suối không có, nhưng có loang lổ hàng vạn miếng đất tròn tròn bị đè nhẵn, cỏ rẹt xuống. Sát khi không thấy ngất trời, nhưng ở đâu người ta cũng ngửi thấy mùi chả ba họ cơm nắm, ruốc bông [20]

Một đêm kia, trời tối đã lâu, bọn lính gác trên cửa Tuyên Vũ thấy xa xa có hai chiếc đèn lồng.
— Quan nào đi đêm thế chẳng biết.
— Lại quan Ngoại Thành Đề Lĩnh đi tuần chứ gì.
— Này, anh em ạ, hình như đèn đi đến đây.
— Nói nhảm. Đèn đi đến đây làm gì !
— Kia kìa, nhìn mà xem. Chỉ còn cácb đây một quãng thôi. Đi lối này mà cứ tiến, chẳng đến cửa Tuyên Vũ này thì lên trời à?
Hai ngọn đèn lồng cứ tiến dần, đến sát cửa Tuyên Vũ, rồi có tiếng gọi :
— Ai canh trên ấy! Bảo mở cửa ra.
_ Ai?
— Mở ngay, quốc sư vào phủ có việc cần.
Bọn lính vội vàng xuống mở cửa.
Võng quan Quốc Sư Nguyễn Hoãn đi vào khỏi, cửa đóng rồi, lũ cai đội lính canh mới bàn tán mảnh cùng nhau.
Quốc Sư đương ở trường thi mà đêm bỏ trường thi vào phủ, tất có việc gì quan trọng lắm. Hay là học trò định phá trường ?
— Hay họ phá rồi ?
— Không phải, nếu thế thì quan Đề điệu, Giám trường về cũng được, việc gì Quốc Sư phải thân đến hầu Chúa thượng.
Chúa Trịnh đương ở nội tẩm, thấy tên tiểu hoàng môn [21] vào bảo có Quốc Sư xin vào ra mắt, hiện đương chờ lệnh ở Thảo Đường, liền ra lệnh đòi vào ngay hỏi:
— Đương đêm Quốc Sư đến chỉ giáo, chắc có việc gì quan trọng lắm.
— Thần phụng mệnh làm trường quan, kén chọn nhân tài...
Không để Nguyễn Hoãn nói nốt, Chúa cắt lời:
— Quốc Sư đến vì việc trường thi?
— Chính vậy.
— Có việc gì quan trọng?
— Có một quyển thần không biết nên lấy hay nên bỏ. Kể văn thì hay, lời lẻ cứng cáp, nhưng...
-     Nhưng, làm sao ?
— Nhưng lấy thì e... khuê giốc quá [22].
— Chi mà khuê giốc?
— Đầu bài ra về đoạn ấy... mà ở quyển này, tên học trò công nhiên dương nghĩa ‘‘bất tôn Chu’’, thần e... lộ liễu quá.
— Khanh có hồi phách lại để xem tên không?
— Bẩm có.
— Khanh có cho ta xem quyển ấy không.
Thần có mang vào đây trình ngự lãm.
Nguyễn Hoãn lấy trong tay áo ra một quyển thi đưa cho Chúa.
Xem hết một lượt, Chúa Trịnh nói:
— Khanh tạm lui ra Thảo Đường nghỉ. Khi nào ta nghĩ xong, thì ta cho triệu.
Nguyễn Hoãn vái rồi lui ra. Chưa xuống hết bực thềm, Tĩnh Đô Vương gọi giật lại.
— Ta nghĩ được rồi. Ta quyết rồi. Khanh đánh hỏng quyển ấy đi.
Nguyễn Hoãn hỏi:
— Chúa thượng còn cần truyền gì thần nữa không.
— Không. Khanh lui về trường thi ngay.
Nguyễn Hoãn chưa xuống hết thềm thì lần thứ hai, Tĩnh Đô Vương lại gọi lại.
— Nội các khảo quan, có ai biết quyển ấy không?
— Bẩm không.
— Thôi được. Khanh ra.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 07.02.2022 11:39:55 bởi Thanh Vân>
Nguyễn Hoãn ra rồi, Tĩnh Đô Vương ngồi trầm ngâm giờ lâu, rồi lại giơ quyển bài ra đọc lại.
Văn bài thế nào mà Quốc Sư cùng nhà Chúa phải để ý đến thế, độc giả chắc có người muốn biết. Dưới đây là bản lược dịch bài văn lạ lùng ấy. Tước bỏ những đoạn khai mào và đóng bài lề lối, bài văn đại khái ý như sau đây:
‘‘Bốn chữ vương đạo bá đạo là mấy tiếng thường dùng của nhà nho ta. Trên từ việc đế vương chinh phạt, dưới đến việc chữa bệnh, đánh bài, chỗ nào người ta cũng tha bốn chữ ấy vào.
‘‘Nói đến vua chúa dùng vương đạo thì Thành Thang, Chu Vũ ; nói đến vua chúa theo bá đạo thì Tề Hoan, Tấn Văn. Đánh bài, tỉ như đánh tổ tôm, cứ thuận ăn thuận đánh, cứ đánh đúng lề lối là vương đạo. Nếu lựa quân đánh sói cánh dưới, ăn kìm, đánh moi, hoặc, tệ hơn nữa, tráo bài hút nọc là lối chơi bá đạo - Đến cắt thuốc chữa bệnh mà cũng có vương bá ở trong, cái đó mới kỳ hơn nữa! Thuốc cắt những vị chính trong sách thuốc, như sâm; hoài, linh, thảo, xuyên, qui, thục, thược... là đơn vương đạo. Cắt những vị thuốc ngang như thủy ngân ban miêu, rau má, lá bạc thau... là đơn bá đạo.
‘‘Tóm lại, theo cái nghĩa người đời đã định từ trước đến giờ thi vương đạo cũng như chính đạo, mà bá đạo tựa như tà đạo. Định nghĩa như thế là hàm hồ quá mà oan cho người thiên cổ.
« Thế nào là vương đạo và bá đạo?
‘‘Theo như Mạnh tử : ‘‘ ... lấy sức mạnh giả nhân là bá ; lấy đức làm việc nhân là vương’’.
‘‘ Mạnh tử là người day tay mắm miệng nhất về hai chữ vương, bá. Ngay ở thiên đáp lời Lương Huệ Vương, thầy đã nói như đấm vào họng người ta về chữ lợi : ‘‘ Nhà vua cần gì nói lợi, chỉ nhân nghĩa mà thôi’’.
Hỏi việc Tề Hoàn, Tấn Văn, thầy bảo ‘‘Đồ đệ thầy Trọng Ni không nói việc vua Hoàn, vua Văn... Tôi nói chuyện vương đạo thay vào, cái đó nên chăng ?’’
‘‘ Lại khi Công tôn Sửu hỏi thầy rằng: ‘‘Phu tử giá có địa vị trọng yếu ở nước Tề, thì cái công như Quản Trọng, Án tử lại có thể có được chăng? Vin lời Tăng Tày, thẩy lại già mồm chê Quản Tử : Quản Trọng được vua dùng chuyên như thế, giữ quốc chánh lâu như thế, mà công nghiệp thấp như thế; mày sao lại ví ta như Quản Trọng ?’’ Rồi thầy nói trời nói đất, nói từ chuyện vua Thang đến vua Vũ Định, kể một sốc thánh hiền đời cổ, nói lớn rằng, đương thời bấy giờ ‘‘làm nửa việc của cổ nhân, công phải gấp đôi?’’
‘‘Người mà Mạnh Tử rhờ làm thầy là Khổng tử, đối với Quản tử, lại có ý kiến khác hẳn:
‘‘Tử Cống hỏi : ‘‘Quản Trọng không nhận chăng? Hoàn công giết công tử Củ, đã chẳng chết theo thì chớ, lại làm tướng cho Hoàn công !’’
‘‘Thầy đáp : ‘‘Quản Trọng làm tướng vua Hoàn Công, bá chư hầu, sửa lại thiên hạ. Cho tới ngày nay dân còn chịu ơn. Không có Quản Trọng, chúng ta đều bện tócc, cài khuy bên trái (như giống Rợ Hồ) cả rồi. Quản tử há như lũ thất  phu thất phụ kia, bỏ mình ở nơi khe lạch, chẳng ai biết tới đâu !’’
‘‘Thánh vậy thay, đúng Chí Thành ! Lời nói của ngài thật thông đạt, khác người lắm.
‘‘ Từ ngày vua U vương nhà Chu thất chính thế lực quân rợ Bắc đã bắt đầu tràn vào Trung quốc. Đến hồi vua Hoàn Công nước Tề lên ngôi, Quản Trọng làm tướng, rợ Bắc tràn vào diệt nước Vệ. Quản Trọng trong sửa quốc chính ngoài đuổi rợ Bắc, phong nước Hình, cứu nước Vệ, khiến Trung quốc thoát nạn rợ Hồ, ‘‘nước Hình được như về đất cũ, nuớc Vệ như quên nỗi bại vong’’.
‘‘Cứu được Trung quốc ra khỏi sự giầy xéo của các giống Rợ, sửa lại nước Tề đương loạn, thành trị, xếp đặt chư hầu cho có trật tự, công ấy mà thầy Mạnh nói là ‘‘công liệt như thử kỳ ti’’, thì công nào thầy mới cho là cao ?
‘‘Xem ngữ ý thầy ở chương Công tôn Sửu thì dường như thầy muốn nói rằng : Ta không thèm làm đó thôi, nếu làm thì còn bằng trăm Quản Trọng. Ta có làm thì làm cái sự nghiệp vương giả kia, chứ cái sự nghiệp thấp hèn ‘‘lấy sức giả nhân’’ ta chẳng thèm làm nào.
‘‘Những kể chê người mà sự-nghiệp chưa có gì hơn người, bằng người, thường lấy một việc cao hơn tự gán cho mình. Ai có hỏi làm sao thì lại tạ khẩu : ‘‘Lúc đó một thì, nay lại một thì khác’’.

‘‘Lúc đó một thì, bây giờ lại một thì khác, đó là lời nói của thầy Mạnh.
‘‘Quản tử hành bá đạo cũng là theo thì đó mà thôi!
 Quản tử rằng :
‘‘... Nước mạnh nhiều thì họp mạnh đánh yếu mà đồ nghiệp bá. Nước mạnh ít thì họp yếu đánh mạnh mà đồ nghiệp vương. Nước mạnh nhiều mà bàn chuyện vương là ngu. Nước mạnh ít mà làm việc bá là mưu việc thất bại...’’
‘‘Đời Xuân thu chính là đời nước mạnh nhiều. Nhà Chu từ khi thất chính, chư hầu dần dần thoát ly quyền chính phủ trung ương, tự sửa sang lấy nước. Lúc Quản tử làm tướng nước Tề, mạnh nhất là các nước Sở, Tần, Tấn, Tề, Tống; thứ đến các nước Trịnh, Vệ, Lỗ; còn các nước Tào, Trần, Thái, Cử, Giang, Hoàng, Tùy, Yên... là nước yếu. Thế bấy giờ phải đồ bá. Trong các nước mạnh mà ngang nhiên khinh nhờn nhà Chu là nước Sở. Quản tử bèn hợp chư hầu, nên nước Sở, giúp nhà Chu để bước lên vị bá. Bá nghiệp của Quản tử, xét ra không có gì là lấy sức giả nhân cả. Còn việc gì nhân bằng cứu nòi giống Trung Hoa ra ngoài vết chân giầy xéo của Tây Nhung, Bắc Địch ? Còn nhân nghĩa nào hơn việc làm cho nước Vệ mất thành còn, nước Tề nguy thành an? Quản tử tuy có giả danh giúp nhà Chu, nhưng đương thì ấy, không  ‘‘hiệp thiên tử mệnh’’ thì sai khiến sao nổi chư hầu. Có sai khiến nổi chư hầu thì mới ‘‘khuông thiên hạ’’ được.
‘‘Hậu nho về sau bàn tán nát mãi, liệt hẳn ngũ bá là hạng bất nhân.
‘‘Vương học đạo học các ông Tống Nho hay đến nỗi rằng còn một nửa thiên hạ của nhà Tống hàng trăm năm bị bọn Khiết Đan, Tây Hạ giầy xéo !
«Vương học, đạo học các ông hay đến nỗi rằng còn một mảnh phía Nam Trường Giang các ông giữ không nổi, hết cống Khiết Đan, đến thờ Liêu, Kim, kết cục đến mất vào tay rợ Thát Đát.
‘‘Vương học đạo học các ông hay mà để nhà Tống đến nỗi ‘‘nhất Biện, ,hị Hàng, tam Mân, tứ Quảng’’,[23]
‘‘Trộm nghĩ:
‘‘Liệt tiên vương ta,
‘‘Trên giữ tông thống cho Hoàng gia, dưới vỗ về trăm họ, công-nghiệp có thể sánh với Chu công, Y Doãn, tài đức có thể sánh với Chu Văn Thành Thang.
  ‘‘Vì nghĩ công nghiệp sâu dầy của đức Thái Tổ Cao hoàng đế mà chẳng nỡ để tông miếu nhà Lê không kẻ thờ cúng đó thôi, chứ thiên mệnh nhân tâm thật qui Trịnh đã lâu rồi.
‘‘Ngụy Võ đế rằng : Thiên mệnh bằng về ta thì ta làm Chu Văn Vương.
‘‘Làm Chu Văn Vưong tới nay đã cửu truyền [24] mà chưa có việc Ngụy Văn đế thụ thiện ở Hán [25]
‘‘ Liệt tiên vương ta thật quá nhún nhường vậy...’’
Tĩnh đô vương xem đi xem lại bài văn hai ba lần rồi mới lật trang bìa xem chỗ đề tên:
Trần trọng Tốn
Quán : Hải-Dương trấn, Vĩnh lai huyện, Hòa Loan tổng, Hòa Loan xã.
Phụ : Trần văn Canh ; nghiệp: nông.
Tổ phụ : Trần-văn Giáp ; nghiệp : nông.
Tằng tổ phụ : Trần văn Bính ; nghiệp, nông [26]
— Con nhà cầy ruộng mà học hành giỏi quá. Giá năm Ngọ mà ta có người này rồi, thì không có cái việc gàn dở của anh Vũ trần Thiệu [27].
Đêm hôm ấy, khuya lắm Tĩnh độ Vương mới đi nghỉ. Vừa chợp mắt đi, Vương nằm mộng thấy Vũ Trần Thiệu. Vương hỏi:
— Tiên sinh sao hoài thân đi thế?
— Vương thượng sai tôi việc ấy là bắt tôi chết. Quân sử, thần tử, thần bất tử bất trung [28]. Tôi chết thế là trọn đạo làm tôi.
— Tiên sinh vị chủ mưu mà bất trung [29] sao gọi là Khổng-đồ [30] được ! Nói chi đến đạo làm tôi ! Nhưng thôi, việc cũ bỏ qua. Khanh xem liệu ta có thể lên vị cửu ngủ [31] được chăng?
— Cái đó thì tùy Vượng thượng. Nhưng Vương thượng muốn lên vị cửu ngũ thi tôi xin đưa đến chỗ để lên vị ấy.
Rồi Vũ Trần Thiệu đưa Vương đến một cái lầu. Vào trong lầu, Vương thấy trên tường có treo một bức tranh vẽ một tòa cung điện bỏ hoang, trên đề bốn chữ  Điện - Ấp, Vãn - Ảnh. Cạnh bức tranh ấy, một bức tranh khác cũng vẽ cảnh ấy nhưng cung điện chỉ còn tro tàn.
Vũ Trần Thiệu chỉ hai bức tranh :
— Đó, Vượng  Thượng coi. Bức thứ nhất là cảnh Điện-ấp lúc xế chiều. Bức thứ hai là cảnh lâu đài cung điện Điện-ấp sau trận hỏa tai.
Chúa Trịnh nói:
— Điện-ấp là chữ Trịnh, phải không?
— Vương thượng tự hiểu lấy.. và... xin rước người lên trên thượng từng cho tới vị cửu ngũ.
Trịnh vương tay vịn cầu thang trèo lên, miệng đếm từng bực. Trèo tới bực bốn mươi mối, thang rung rinh như sắp đổ, không dám trèo nữa. Vừa toan xuống thì hốt nhiên thang gẫy, giật mình tỉnh dậy.
 
[23] Nhà Tống trước đóng đô ở Biện, sau mất phía Bắc, lùi về đóng đô ở Hàng Châu, lần thứ ba, lần thứ tư lùi về Mân, lần thứ tư lùi về Quảng Đông cho đến mất hẳn.  
 [24] Truyền đến đời thứ chín.
[25] Được vua Hán nhường ngôi cho.
[26] Ngày xưa đi thi phải khai tên cha, ông và cụ, tục gọi là cung khai tam đại. [27] Năm ngọ, chúa Trịnh sai Vũ Trần Thiệu mang biểu sang nhà Thanh, xin thay nhà Lê làm vua ? Trần Thiệu đến hồ Động đình đốt biểu rồi uống thuốc độc chết.
[28] Vua khiến tôi chết, tôi không chết không trung.
[29] Chữ Luận ngữ : vị nhân mưu nhi bất trung, nghĩa là vì người mưu mà chẳng trọn vẹn. Trịnh chủ đổi một chữ trong câu Luận ngữ cho câu nói thích hợp hơn.
[30] Học trò Khổng tử.
[31] Tức là vị Hoàng đế
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 08.02.2022 17:19:41 bởi Ct.Ly>
VI
Viếng sống thành Thăng-long
 
 
Một buổi sáng hôm đầu tháng Một, trời chưa rõ mặt người, hai ông đồ Trạc phường Đồng  Xuân và đồ Ngọc phường Đồng Lạc đã thức dậy cả, đương cùng nhau ngồi uống nước chè ở nhà Đồ Trạc. Hai ông ngồi ngay cạnh cái cửa sổ tròn trông ra củi phương đình cùng cây đề đình Đồng xuân, tức là chỗ hai tháng trước ông đồ Trạc thấy con yêu Đồng Xuân.
Hôm ấy trời đã chuyển sang đông.
Cây đề trong sân đình đã trút hồ hết lá, không ngâm gió như độ cuối hạ đầu thu nữa. Cái cửa sổ tròn bấy giờ cũng có cái liếp che kín.
Trong nhà, trên một bộ ghế ngựa đã mọt trải một chiếc chiếu rách, hai ông đồ đương ngồi hưởng hương trầm nghi ngút với ấm chè tàu cuối mùa. Đồ đạc sơ sài cũ kỹ trong nhà, ghế mọt giường tre, đối với cái nhà kiểu đại khoa, hoành rui đều trạm long hóa, hoa điểu, làm lộ hẳn cái vẻ sa sút của chủ nhân. Nhất là bộ ấm chén chuyên chè, cái lư trầm nghi ngút nó lại càng làm cho nỗi sa cơ ấy càng thêm rõ rệt đáng thương. Bộ đồ chè kiểu ‘‘Tô Vũ mục dương’’, cái ấm chuyên da chu trái tộm, cái khay bằng cũ gô xưa, cái lư đốt trầm bằng đồng Tụ, những cái ấy phải đặt trên cái kỷ gụ, cái sập gụ, ở giữa những câu đối hoành phi vàng son rực rỡ mới là đúng chỗ, đúng nơi.
Những cái đó là cái vết rớt lại từ cái đời trưởng giả hào hoa vài mươi năm về trước của ông Đồ. Những cái ấy, dù nghèo kiết đến đâu, ông cũng cố giữ lại, một là ông nghiện hãm văn bằng nước chè hương trầm, hai là muốn giấy rách giữ lấy lề đôi chút.
Ta cứ tưởng tượng một quyển sách, giấy mọt đục gần hết, chất giấy đã bở ra như cám mà cái bia phất cậy quang dầu, cái gáy lề gai phủ sơn vẫn cứng ở trong, những hàng chữ còn sót lại, nét chữ mềm mại mà sương kinh; ta cứ tưởng tượng một quyển sách như thế là ta có thể mường tượng được tất cả cái khu ông Đồ ở và toàn thể những vật chứa ở trong, từ người đến đồ vật. Cái bìa phất cậy quang dầu là kiểu nhà đại khoa của ông quan cũ nhà Lê kia ; cái gáy sơn then bóng lộn là những bộ ấm chén lư trầm kia ; những tờ giấy mủn ra như cám là những giường chõng cùng chổi cùn rế rảch kê luộm thuộm vứt lôi thôi kia; mà những chữ nét trông sương kinh là bản thân ông Đồ Trạc kia. Cầm quyển sách bìa sách gáy cứng, ai cũng muốn mở ra xem. Khi mở ra, bị mùn giấy bay ra bám vào quần áo vào chân tay, người ta đã toan gập lại hoặc vứt vào xó, nhưng, ngó hàng chữ tốt, người ta lại phải dằn lòng giở từng tờ mà ngắm nghía không thôi.
Chè chuyên năm ấm rồi mà trời vẫn chưa sáng. Thỉnh thoảng, sốt ruột, ông Đồ hé bức cửa phên ra nhìn, thì một ngọn gió Bắc lạnh lùng lại tạt vào lạnh giá đến xương.
Ngồi trơ mãi ra đâm chán, Đồ Ngọc buông một câu khôi hài:
— Chúng ta ngồi ‘‘đãi đán’’ thế này kém gì Chu-Công  [1]
Đồ Trạc không nói gì, vẫn còn vẻ căm hờn vì thi hỏng. Câu khôi hài của bạn làm cho ông khó chịu, ông gắt liền :
— Bác thì chỉ được cái chuyện cợt nhả cả đời, sung sướng lắm đấy mà còn cợt nhả !
— Chẳng sung sướng mà cũng chẳng buồn bả gì cả. Tôi coi như một tiếng sóc đĩa mà thôi. Bốn đồng ngửa sấp cứ việc trút tiền kẻ nọ vào người kia, cứ việc mua cười bán khóc của người ‘‘khát nước’’ [2]. Tôi đây cao hứng đánh chơi mấy tiếng, có vẻ gì mà tức tối với vui buồn! Tiếng bạc chập tối, nửa đêm, tôi cũng chẳng thèm quan tâm, nói gì đến tiếng bạc về sáng!
Thấy bạn vẫn thiu thỉu rầu rầu, Đồ Ngọc vỗ mạnh vào vai bạn:
— Bác Trạc! việc gì mà ủ rủ thế? Chính bác bảo không nên thi nữa kia mà! Bác đi thi là vì tôi nèo ép chứ bản tâm bác định thôi hẳn nghề  ‘‘đeo lọ’’ kia mà! Tôi buồn thì còn có lý, chứ bác buồn thì còn có nghĩa lý gì?
Mấy câu của bạn khiến cho ông sực nhớ ra tự lấy mình làm buồn cười.
-      Ừ bác ạ, buồn cười thật. Mình thật bản tâm cũng vô tâm chuyện đỗ hay hỏng. Thi là thi mà chơi cho biết cái vẻ ‘‘thịnh khoa’’ của nhà nước mà thôi. Thế mà lúc hỏng nó cũng thế nào trong dạ.
Nó chẳng thế nào cả. Nó là một sự tập quán của linh hồn. Con chó nằm ở cũi mà cũng cào như nằm ở đống rạ; con mèo phóng uế trên hòn đá cũng cào cào để chôn phân khi phóng uế ngoài vườn là nghĩa làm sao? Các nhà bác vật học, dựa vào những thuyết khoa học, cắt nghĩa rằng:
Con mèo con chó trước kia đều là giống thú rừng trước khi làm giống thú nhà. Khi ở rừng, mèo phải cào đất chôn phân đánh mất dấu tích, đễ tránh các thú dữ ; chó phải cào cỏ lá để làm ổ nằm. Tính ấy di truyền hàng ức triệu đời thành một cái thiên tính. Thiên tính ấy tới nay cứ việc phát lộ dù chẳng có ích gì.
Ông Đồ Trạc buồn vì thi hỏng nhiều quá rồi, cái buồn ấy thành một thiên tính. Thiên tính ấy gặp dịp là phát lộ ra, là rầu rầu buồn bã, chứ chẳng phải ông có quan tâm lắm về chuyện hỏng thi, khoa thi ổng tin là cuối mẻ.
Từ hôm hỏng thi ông càng tin lời nói con yêu cây đề. Câu nói đã đúng phần dưới thì tất phải đứng phần trên : Quân đã bất đệ rồi, thì rồi đây, quốc cũng tương vương. Bởi thế ông định cùng bạn là ông Đồ Đồng Lạc, cùng bạn hỏng thi, đi chơi khắp ba mươi sáu phố phường một phen, đi thăm hết cả các cửa Đại Hưng, Tuyên Vũ ... tất cả tám cửa ô, tất cả các đền chùa danh thắng, tất cả những quán cũ lầu xưa, tất cả những cung vua, phủ chúa, phủ Lượng, phủ Doãn, phủ Thừa ...
Đi chơi để thăm lần cuối cùng cái chốn ‘‘ long bàn hỗ cứ’’ [3], trước ngày loạn lạc mà các ông tin là sắp tới nay mai, trước ngày cái nơi lầu son gác tía, dân cư trù mật thành một đóng tro tàn.
Cuộc đi chơi này, theo ý định của hai ông, có tính cách như một cuộc ‘‘điếu lai nhật chiến trường [4]như cổ nhân. Bởi thế, các ông định dùng cả một ngày đi chơi.
— Mãi chửa sáng.
— Tiết trời bây giờ sang đông, ngày ngắn lắm. Đến mười sáu tháng này đã đông chí [5] rồi kia mà …À ! bác Trạc, tí nữa tôi quên mất. Đêm qua nằm mãi không ngủ được, nghĩ được một bài thơ Nôm nghe cũng được.
— Ừ,  bác đọc lên nghe rồi tôi phê phách vào nữa, bác thôi sao [6] vào nữa thì trời vừa sáng đó.
— Nhưng tôi chỉ mới nghĩ được có sáu câu thôi. Mà tôi không muốn nối nữa, vì sáu câu ấy nhất khí, nối thêm e thơ mất hay.
— Bác cứ đọc, rồi tôi xem có thể nối được thì tôi nối.
Rồi Đồ Ngọc đọc :
Hắt hiu án sách, dầu vơi đĩa.
Lác đác sân hoa, lá trút cành
 Người cứ mong hoài, đêm vẫn tối!
 Trời còn trên mãi, sáng chưa tinh.
 Bực mình suốt cả năm canh vắng,
 Ngủ chẳng yên cho, dậy chửa đành.
 
Đồ Trạc tấm tắc khen :
— Hay, hay quá! Lời văn bác nhẹ nhàng lắm,
— Nhưng tôi sợ sái, nhất là câu cuối.
— Tôi lại lấy làm hay nhất, có ý vị nhất.
— Thì tôi cũng chịu câu ấy là hay. Hay thì có hay, nhưng mà sái chết. Ngủ không yên, dậy chửa đành, thận thế bác rồi suốt đời lúc nào cũng ‘‘chẳng yên’’ với ‘‘chửa đành’’ cả thôi.
— Không! Ý tôi định nói rằng: Thôi hẳn chuyện đời đi thì cũng chưa yên một bề mà sắn tay làm chuyện kia khác thì chưa đến lúc.
— Tôi cũng hiểu ý bác như thế, nhưng mà sái thì vẫn sái.
— Vâng thì sái. Sái tôi chịu. Nhưng bác hãy nghĩ mà tiếp hai câu nhất nhị tôi còn bỏ dở đi đã.  
— Thôi, thơ nhất khí thế là hay. Đừng thêm bớt gì vào nữa, tôi mà thêm thì lại họa xà thiêm túc [7] ngay.
Tới đó, trống tan canh trên cửa ô Hàng Đậu bắt đầu đánh. Đồ Ngọc bảo bạn:
—Thôi canh tan rồi, ta đi đến bãi chiến trường nay mai đi thôi.
Hai người cùng đứng dậy bắt đầu đi. Ra tới cửa. Đồ Trạc hỏi bạn:
— Ta bắt đầu đi lối nào?
Bắt đầu hãy ra cửa ô Hàng Đậu đã, rồi theo đường đê Đĩnh nhĩ [8] ta đi lên cửa ô An Hoa, rồi theo đường Cổ Ngư ta về thăm đền Quán Thánh cùng chùa Trấn Quốc. Rồi lên chơi Khán sơn, Nùng sơn, về Giám. Thăm Giám xong đến phường Tả Bà Ngô ăn cơm xong rồi đi thăm Lượng quốc Phủ, Đại hung môn, phủ Doãn, Kình thiên tháp, Thủy  quân hồ. Cuối cùng xuống thăm trường Bắn, đàn Nam giao rồi lại quay về thăm hồ Hoàn Kiếm, núi Ngọc sơn. Xong đó ta theo lối Hàng Sũ qua Hàng Bè, về phường Đồng Lạc ăn cơm chiều ở nhà tôi rồi nghỉ luôn ở tôi, Hôm nay tiết Đại tuyết vào giờ Dậu, tối đến lạnh, ta ở nhà đánh chén cho vui.

— Dân tộc Việt-nam cứ tiến dần về Nam Thành Thăng-long cứ tiến dần về Đông.
Thành Thăng long bắt đầu dựng hồi cuối nhà Tùy, vào khoảng niên hiệu Đại nghiệp đời vua Tùy Dạng đế. Quan nhà Tùy cũng không định làm thành, chỉ xây một bức tường vuông chu vi chín trăm bộ (ước chừng 1400 đến 1500 mètres), để làm chỗ ở và nha môn của quan Thái thú. Bức tường vuông mỗi bề không nổi bốn mươi thước tây ấy gọi là Tư Thành và phỏng chừng ở vào địa phận làng Kim Mã bây giờ. Khách đi chơi bây giờ nếu đi con đường từ chợ Bưởi đến Cầu giấy thì đi được chừng hơn một cây số sẽ có hai lối dốc đi xuống con đường đi đến trường Đua ngựa. Khách đứng trên con đường cao, giữa đôi bên con đường dốc, mà nhìn thẳng xuống con đường đi trường Đua ngựa. Rồi khách tưởng tượng rằng con đường ấy đâm thẳng vào cổng hậu cái Tư Thành kia.

Nhà Đường dựng nước ta thành một Đô hộ phủ. Tới năm Đại lịch thứ hai đời vua Đường Đại Tông, các quan cai trị nhà Đường xây thêm vòng thành bọc chung quanh Tư thành. Thành ấy, mặt Bắc chạy từ chỗ đường Parreau rẽ xuống trường Đua ngựa đến chỗ đường Parreau tiếp với đường vòng quanh đô thành (Route Ciculaire) ở địa phận làng Nghĩa Đô; mặt Tây tiếp đấy chạy theo đường vòng đến Ô Cầu Giấy; mặt Nam từ Ô  Cầu Giấy, chạy theo con đường xe điện đến địa phận làng Vạn Phúc ; mặt Đông chạy thẳng hướng Nam đến hướng Bắc nối chỗ góc làng Vạn Phúc với đoạn đường Parreau rẽ xuống trường Đua ngựa. Thành ấy gọi là La thành.
 
Năm 862 — Đường Ý Tông, niên hiệu Hàm Thông thứ hai - quân Nam - Chiếu ở Vân nam xuống xâm lược Giao châu, La thành. Mãi tới năm 866 quan Tĩnh Hải Tiết độ sứ [9] Cao Biền mới lấy lại được La thành. Khi đó thành đã bị tàn phá hồ hết. Cao Biền mới đắp thêm lần thành nữa, gọi là Đại La thành. Đại la thành gồm một lần thành ở trong và một lần quách ở ngoài. Lần thành ở trong tiếp vào và ở phía Đông La thành cũ. Hai con đường Parreau (từ góc Đông bắc La thành cũ tới chỗ Biên sắt phân địa giới Hà nội Hà đông bây giờ và đường đi Ô-Cầu-giấy là hai mặt Bắc nam của thành. Lần quách ngoài đi theo con đường từ  Ô Cầu giấy qua làng Giảng Võ) đến Ngã tư chợ Dừa (ngã tư Khâm thiên hàng Bột); rồi lại từ đó chạy theo con đường đi cửa Ô đồng Dầm (gần làng Kim liên bây giờ) ; rồi lại từ đó theo con đường đi qua cửa Ô Cầu Rền (bây giờ vào chỗ ngã tư dưới bót cảnh sát và trường Trần văn Khánh); rồi theo đó qua làng Thanh nhân mà nối vào lần quách chạy theo bờ sông Nhị hà cho tới cửa ô An hoa (bây giờ là Yên phụ).

 
Chú thích:
[1] Chu Công làm việc chăm, đêm ngồi đợi sáng (đãi đán) để làm việc
[2] Người nào đánh bạc thua nhiều, đánh đuổi mãi để gỡ, càng đuổi càng thua, càng thua càng đuổi, gọi là khát nước.
[3] Rồng phục hổ ngồi, nói chỗ nào địa thế hiểm yếu đáng chỗ đế vương ở.
[4] Cổ văn có bài ‘‘Điếu cổ chiến trường’’ (Viếng chiến trường cổ)
[5] Một trong 24 tiết trong một năm. Hôm ấy ngày ngắn đêm dài nhất trong một năm (Solstice d’hiver)
[6] Thôi là đẩy, sao là gõ Đời Đường, Giả Đào đến Kinh thi, cưỡi lừa làm thơ. Trong thơ có câu ‘‘Tăng thôi nguyệt hạ môn’’ (Dưới trăng sư đẩy cửa) . Giả muốn đổi chữ thôi ra chữ sao, trù trừ nghĩ mãi chưa quyết. Sau hai chữ ấy, vì thế nghĩa là chữa văn cân nhắc từng chữ.
[7] Vẽ rắn thêm chân.
[8] Con đê đắp sát thành Thăng Long, bờ sông Nhị Hà.
|9] Khi đó nhà Đường gọi nước ta là Tĩnh Hải quận. 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
Đại La thành chu vi bốn ngàn bộ (chừng trên dưới 6 kilomètres rưỡi). Lần quách ngoài chu vi một vạn hai ngàn bộ (chừng hơn 19 kilomètres).
Bây giờ, tuy La thành, Đại La thành đều không còn nữa, nhưng nó đã vạch đường cho những con đường chạy vùng ngoại ô đô thành Hà nội. Đoạn nào đường cao như đê, tức là chạy vào giữa nền cũ bức tường đất thành Đại La.
Nhà Lý nối vào phía đông Đại la thành cũ mà xây một lần thành vuông nữa, gọi là Thăng Long thành. Những núi Khán sơn, Nùng sơn đều là những mô đất vua nhà Lý xây đắp lên để chữa phong thủy [10] cho đế đô Thăng Long thành sau này bua mấy hồi tàn phá.
Nhà Lê lại theo cũ mà xây lại, nhưng cho nó hơi né về Tây bắc chứ không né về phía Đông bắc như thành nhà Lý. Đến đời Gia long thì thành Hà nội lại xây né về Đông bắc như nhà Lý.
Nửa phần căn cứ vào sách vở, nửa phần theo tưởng tượng, tôi tạm phác qua cái bản đồ thành Thăng Iong hồi nhà Lê dưới đây.
Tám cửa ô hiện bây giờ chỉ còn một, nhưng lại đổi tên. Còn ra chỉ còn cái tên nhắc cho dân gian biết rằng khi xưa chỗ đó là cửa quách.
[10] Ta gọi lầm là địa lý. Chính ra địa lý là géographie. Phong thủy học mới là cái học tìm long tróc hổ để mồ để mã.
 
HÌNH
Thành Thăng long nhà Lê bao bọc một phần lớn các đường trong thành cũ của nhà Nguyễn và cả cái vườn Bách thảo, vùng chợ hàng Da và các nhà cửa ở các đường Carnot, Quán thánh bây giờ. Trên bản đồ thành phố Hà nội bây giờ, ta sẽ vạch một con đường đi đóng đôi với đường hàng Gai hàng Bông, từ góc hai đường hàng Bồ hàng Bút đến hết địa phận đền Giám. Đó, bức thành phía Nam thành Thăng-long nhà Lê. Giữa bức tường đó, ở góc đường Puginiervà đường vào thành (đường gióng đôi với đường Maréchal Joffre) là cửa Đại Hưng, cửa thành to nhất hồi Lê.
 Ta lại vạch một con đường từ góc hai đường hàng Bồ và hàng Bút đến góc đường Đỗ hữu Vị và Jambert. Đó, bức thành đông thành Thăng long, cửa Đông hoa ở vào góc hai đường Maréchal Joffre và Carnot, cửa ấy trông chéo sang vườn hoa hàng Đậu.
Ta lại vạch một đường từ góc hai đường Đỗ hữu Vị và Jambert tới góc hai đường Brière de l’lsle và Quán thánh (chỗ nghĩa địa).
Chỗ góc ấy, xưa là Trần bắc môn, trông thẳng sang đường Cổ ngư và đền Quán thánh. Từ Trấn bắc môn trở đi thành xây vòng theo đường Barreau, bọc cả vườn Bách thảo; rồi đến bực thành xây đi sát cạnh chùa Một cột (chùa ở ngoài thành) đến gần Giám. Tới Giám, thành thụt vào một ô vuông, để Giám ở ngoài.
Phủ chúa Trịnh ở vảo cánh đồng làng Thịnh hào, trông ra con đường đưa đến Đại Hưng môn. Bây giờ đứng trước nhà bảo - cô Sœur Antoine làng Bột, nếu ta cứ tưởng tượng rằng cửa chính trại ấy là Cốc môn cũ Trịnh phủ thì tưởng chừng cũng không sai là mấy.
Lượng  quốc phủ, phủ đệ của các vị thế tử nhà Chúa thì ở vào chỗ nhà Tế sinh bây giờ. Hướng quay về Tây nam, nhìn sang phủ Chúa. Phía Đông bắc có một cửa để đi sang cửa Đại Hưng cho gần. Phía Đông nam có một cửa nữa để sang phủ đường Phủ Phụng Thiên là phủ sở tại ở đế đô, coi hai huyện Thọ Xương và Quảng Đức.
Phủ Phụng thiên đóng ở đường Borgnis Desbordes và Richaud bây giờ, cổng quay về phía vườn hoa cửa Nam- tức là cửa Đại-hưng- trên cổng viết mấy chữ son to:
                    Kinh Triệu Phủ Nha
Về phủ Phụng thiên có ông Kinh Triệu Phủ Doãn đứng đầu, nên dân gian vẫn quen gọi là Phủ Doãn. Tên ấy còn sót đến ngày nay, dùng để gọi bệnh viện đường Borgnis Desbordes.
Ba mươi sáu phường thì huyện Thọ xương gồm 27 phường, huyện Quảng Đức chỉ có chín phường thôi. Các phường thuộc Thọ xương có phố, xá [11], việc buôn bán thịnh, người đông đúc. Các phường thuộc Quảng Đức là những phường ngoại ô, cũng tựa như các làng ở nhà quê.
Chữ ‘‘phố’’ nguyên nghĩa là cái nhà. Người Trung quốc dùng để chỉ cái cửa hàng. Như nói rằng: ông ấy ở đường Lâm do, phố số 25.
Sang tiếng ta, chữ ấy cũng dùng để gọi cái nhà để làm cửa hàng, xoay mặt ra đường. Các (phố) hàng Bồ ở tụ lại một chỗ ; các phố hàng Nón tụ lại một chỗ. Sau lâu dần, vì hiểu lầm, vì dùng sai mãi, chữ phố mới biển nghĩa đi. Bây giờ dùng
 
[11] Xá= quán chữa khách.
 
 
như chữ thong cù, lộ, nhai hoặc boulevard, rue, avenue. Ở trong Nghệ, dân gian dùng chữ ấy còn đúng nghĩa như lúc Lê, nghĩa là đúng nguyên nghĩa của nó. Ở Nghệ, ta thường nghe thấy nói : Bà Mỗ làm bốn phố ở đường Sarraut, tốn linh vạn bạc.
Các phường có phố buôn bán, ở đời Lê đều ở vào khoảng giữa thành, phủ chúa, hồ Kiếm và bờ sông.

Cuộc viếng sống thành Thăng long của hai ông đồ đến chập tối thì kết liễu.
Chiều tối hôm ấy hai ông thi nhau uống rượu. Câu chuyện cảm khái về thì thế kéo dài mãi đến nửa đêm.
Khi say, Đồ Ngọc đứng lên giường thét lên mà hát:
Dốc bầu cạn chén ta ca
Hỏi rằng thân thế biết là làm sao ?
Dường như sương lộ sớm chiều
Ngày qua nghĩ lại bao nhiêu bất bình.
Khái nhiên mình lại hỏi mình
Sao cho quên nỗi bất bình hôm nay ?
Rượu tăm chuốc chén cho đầy
Xanh xanh chàng áo lòng này nhớ ai !
Lần lần ngày một ngày hai
Trầm ngâm đợi mãi một người đến nay
Ví chăng có mặt lúc này
Cùng nhau chuốc chén rượu đầy cùng ca.
Đồ Trạc hỏi:
— Ca cái gì? Ngụy Vô Đế hoành sáo phú thi [12] thi ca rằng:
Trên trời trăng sáng sao mờ
Về Nam ô thước hững hờ trên không
Quanh cây lượn đã ba vòng
Cành cây để đỗ vẫn không có mà.
Đồ Ngọc hát nối :
Núi kia chẳng có từ cao
Nước sâu sấu biết chừng nào mới thôi
Hoàng hà nước tự trên trời
 Bon bon đổ bể có đời nào thôi !
Lầu cao gương sáng đem soi,
Soi vào tóc trắng rụng rời chưa ai ?
Ngày xanh lần lữa dùi mài
Tóc xanh thành trắng, đời người còn chi?
Chi bằng đắc ý cười khì.
Vui cho vẹn kiếp, mãn thì, thì thôi
Dưới trăng cốc rượu đừng vơi
Còn thân rồi cũng có ngày vinh hoa
Tiền tiêu hết lại kiếm ra
Rượu ngon hãy biết uống và trăm thưng.
 
[12] Ngụy Vô Đế (Tào Tháo) xầm ngang ngọn giáo mà ngâm thơ.
 
 
Những câu các ông hát, câu thì như dịch bài ‘‘Đoản ca hành’’ câu thì như dịch bài ‘‘Tương tiến tửu’’. Đương phỏng theo bài nọ các ông nhẩy chồm sang bài kia, rõ là người say rượu dịch thơ. Có Iẽ các ông cũng không biết là mình dịch thơ cổ nữa, nghĩ đến đâu hát đến đó, rồi tự nhiên những bài thơ cũ cứ hiện ra trong trí một cách tiềm thức lờ mờ.
Người say có biết mình làm gì đâu!
Ca hét, gầm, thét, chán các ông ngã gục cả xuống mâm rượu, mặc kệ cả thì lẫn thế, trị lẫn loạn...
 
Vinh, Septembre — Octobre 1937
 
 
DAI NAM CO.
p.o. Box 4279 Clendale, CA 91202 U.S.A.




Đăng nhập để trả lời
0