Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

HOÀNG ĐẾ CUỐI CÙNG (Hồi ký - Phổ Nghi)

60 trả lời, 184 lượt xem — Trang 1 / 3
HOÀNG ĐẾ CUỐI CÙNG
 
Tác giả: Phổ Nghi
Người dịch: Lê Tư Vinh
(Dịch từ nguyên bản Trung văn “Nửa đời trước của tôi”,
Nhà xuất bản Quần chúng - Bắc Kinh, 1964).
 
Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà nội, 1995
Khổ: 13 x19. Số trang: 765
 
Đánh máy: hoi_ls
 
 
 
LỜI NGƯỜI DỊCH  

            Sau 32 năm, vì nhiều lý do, đến nay tôi mới thực hiện được câu nói với ông Phổ Nghi: sẽ dịch cuốn hồi ký của ông ra tiếng Việt.
            Cuốn hồi ký “Nửa đời trước của tôi” của Phổ Nghi dày 590 trang (bản Trung văn) gồm hơn ba mươi vạn chữ , bằng lối viết theo chương, tiết, bằng văn phong bạch thoại pha cổ văn đã  thuật lại cuộc đời của Phổ Nghi từ khi được Từ Hy thái hậu đưa vào Tử Cấm Thành làm vua Tuyên Thống nhà Thanh lúc mới 3 tuổi cho đến khi trở thành công dân của nước Trung Hoa mới.
            Phổ Nghi tên chính là Ái Tân Giác La Phổ Nghi, sinh năm 1906, mất năm 1967, lên ngôi năm 1909 niên hiệu Tuyên Thống là hoàng đế thứ 12 của nhà Thanh, thoái vị sau cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) thành lập Trung Hoa Dân quốc, nhưng vẫn sống trong Tử Cấm Thành cùng với hoàng tộc với một số điều kiện ưu đãi của Chính phủ Trung Hoa Dân quốc.
            Năm 1924, khi quân phiệt Phùng Ngọc Tường tấn công Tử Cấm Thành, ông chạy vào trốn tránh ở sứ quán Nhật Bản tại Bắc Kinh. Sau một thời gian chuyển xuống Thiên Tân để mưu đồ khôi phục nhà Thanh mà không thành công tháng 3 năm 1934, ông được người Nhật đưa lên làm vua “Nước Mãn Châu” ở Đông Bắc Trung Quốc, kéo dài cuộc sống bù nhìn suốt thời kỳ phát xít Nhật tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc.
            Tháng 8 năm 1945, Hồng quân Liên Xô tấn công tiêu diệt đội quân Quan Đông của Nhật Bản ở vùng Đông Bắc Trung Quốc, ông bị Hồng quân Liên Xô bắt và đưa về Liên Xô. Năm 1949, Chính phủ Liên Xô trao trả Phổ Nghi cùng với một số tội phạm chiến tranh khác cho Chính phủ CHND Trung Hoa.
            Năm 1959, nhân dịp kỷ niệm 10 năm thành lập nước CHND Trung Hoa, Chính phủ Trung Quốc ra lệnh đặc xá một số tội phạm chiến tranh đã thực sự tiếp thu cải tạo và hối cải. Phổ Nghi cùng nhiều người khác đã được ân xá và hưởng quyền công dân. Ông được trở về Bắc Kinh làm nhân viên Vườn thực vật Bắc Kinh và sau đó làm nhân viên Viện Nghiên cứu lịch sử Trung Quốc.
            Qua màn ảnh nhỏ của Đài truyền hình chúng ta đã được xem bộ phim hai tập do nhà đạo diễn Italia dàn dựng mang tên “Hoàng đế cuối cùng” và bộ phim cùng tên rất đồ sộ nhiều tập do các nhà đạo diễn Trung Quốc dàn dựng.
            Tôi dịch cuốn hồi ký này ra tiếng Việt với hi vọng giúp bạn đọc hiểu thêm về nhân vật lịch sử này cùng với những chuyện đen tối trong cung đình nhà Thanh và những hành động thâm hiểm, tàn bạo của bọn phát xít Nhật ở Trung Quốc .
            Do khuôn khổ xuất bản, tôi đã lược bỏ một số tiết và câu, đoạn của cuốn hồi kí nếu có gì thiếu sót mong bạn đọc lượng thứ.
 
Người dịch
LÊ TƯ VINH
 
Đăng nhập để trả lời
1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 08.02.2022 09:33:09 bởi hoi_ls>
CHƯƠNG I
GIA THẾ CỦA TÔI
 
Cuộc đời của Thuần Hiền Thân Vương  

            Tôi sinh ngày 14 tháng giêng âm lịch năm 1906, tức năm thứ 32 thời vua Quang Tự đời Thanh, tại Thuần vương phủ, Bắc Kinh. Ông nội tôi tên Dịch Hoàn, là con trai thứ bảy của vua Đạo Quang, lúc đầu được phong quận vương, sau phong tước thân vương, sau khi chết được truy phong danh hiệu “hiền”, cho nên về sau được gọi là Thuần hiền thân vương. Cha tôi tên Tải Phong, là con trai thứ năm của ông nội tôi. Vì con cả, con thứ ba và con thứ tư chết sớm, con thứ hai Tải Điềm được Từ Hy thái hậu đón vào cung làm vua (tức vua Quang Tự), nên sau khi ông nội tôi chết thì cha tôi được thừa tập phẩm tước của ông nội tôi. Tôi là con cả của Thuần vương đời thứ hai. Ngày 20 tháng 10 âm lịch năm tôi lên ba, Từ Hy thái hậu và vua Quang Tự ốm nặng, Từ Hy Thái hậu bỗng quyết định dựng tôi lên làm vua kế thế, nối ngôi vua. Đồng Trị (tức Tải Thuần, con đẻ của Từ Hy, anh em con chú con bác của Tải Điềm), thừa kế vua Quang Tự. Trong hai ngày sau khi tôi vào cung, Quang Tự và Từ Hy thái hậu lần lượt qua đời. Mồng hai tháng chạp, tôi lên ngôi vua đời vua thứ mười hai và cũng là đời vua cuối cùng của nhà Thanh, đặt niên hiệu Tuyên Thống. Chưa đến ba năm, cách mạng Tân Hợi bùng nổ, tôi thoái vị.
            Trí nhớ của tôi bắt đầu có từ khi tôi thoái vị. Song, kể về nửa đời trước của tôi trước hết phải bắt đầu từ ông nội và Thuần vương phủ, nơi chôn rau cắt rốn của tôi thì mới càng rõ hơn.
            Thuần vương phủ từng chiếm ba nơi ở Bắc Kinh. Năm thứ 10 thời vua Hàm Phong, Thuần quận vương Dịch Hoàn mười chín tuổi phụng chỉ thành hôn với em gái của quý phi là Diệp Hách Na La Thị, theo lệ thì phải rời phủ đi ở riêng, địa điểm phủ mới của ông được ban nằm ở phía đông hồ Thái Bình tại Tuyên Vũ Môn Nội, nơi đặt Học viện âm nhạc Trung ương ngày nay. Đó là Thuần vương phủ đầu tiên. Về sau, Tải Điềm làm vua, theo lệ của triều đình Ung Chính thì “nơi sản sinh ra vua” (còn gọi là “Phủ rồng phục”) phải được nâng bậc thành một cung điện, hoặc bỏ trống hoặc phỏng theo cách nâng Ung vương phủ (nơi ở của vua Ung Chính trước khi lên ngôi) thành Ung Hoà cung và biến thành miếu đường thờ cúng phật. Để rời chỗ cho “phủ rồng phục” này, Từ Hy thái hậu đã thưởng Bối tử phủ (1) ở sau hồ Thậm Sa Hải cho ông nội tôi và bỏ ra 16 vạn lạng bạc tu sửa lại. Đó là Thuần vương phủ thứ hai, cũng là nơi mà một số người quen gọi là “Bắc phủ”. Sau khi tôi làm vua, cha tôi được phong Giám quốc Nhiếp chính vương, vì thế lại thêm một lý do dọn nhà so với trước, cho nên Long Dụ thái hậu (hoàng hậu của vua Quang Tự, cháu gái của Từ Hy thái hậu và là bà nội tôi) quyết định xây dựng một vương phủ hoàn toàn mới cho cha tôi. Địa điểm Thuần vương phủ thứ ba này được chọn ở vùng Tử Quan Các, Tập Linh Hựu, Tập Uyển Tam Hải. Phủ này đang trong thời kỳ khẩn trương xây dựng thì khởi nghĩa Vũ Xương bùng lên, vì vậy cái gia thế Thuần vương phủ ba lần tu sửa và xây mới, hai lần “rồng phục” và một lần nhiếp chính cuối cùng đã kết thúc theo lịch sử của nhà Thanh.
            Trong những năm cuối cùng đen tối nhất của nhà Thanh, cả gia đình Thuần vương đã làm đầy tớ trung thành trong nửa thế kỷ cho Từ Hy thái hậu, và ông nội tôi thì đã suốt đời làm việc trung thành cho bà ta.
            Ông nội tôi là con đẻ của Trang Thuận Ô Nha Nhị, hoàng phi của vua Đạo Quang, sinh năm thứ 22 thời vua Đạo Quang và mất năm thứ 16 thời vua Quang Tự. Giở “ngọc điệp” (sách kê dòng dõi nhà vua) ra xem thì, trong thời gian 11 năm vua Hàm Phong (anh con bác của Thuần hiền thân vương Dịch Hoàn) làm vua, trừ cái chức Thuần quận vương mà ông nội tôi lúc mười một tuổi được phong theo lệ vì Hàm Phong lên ngôi, ông nội tôi chưa từng được “ân thưởng” gì hết, nhưng trong nửa năm kể từ khi vua Hàm Phong chết, nghĩa là chỉ trong mấy tháng tôn hiệu của Từ Hy thái hậu xuất hiện, thì đột nhiên ông nội tôi liên tiếp được phong hàng loạt phẩm tước: Thống soái quân Hán kỳ Chính Hoàng, Nội thần lãnh thị vệ kỳ Chính Hoàng, Đại thần ngự tiền, Đại thần hậu hộ, Quản sự thiện quốc doanh, Quản sự thần phụng thần uyển, Quản sự tân cựu doanh phòng kỳ Chính Hoàng, Quản sự hoả thương doanh, Quản sự thần cơ doanh... Năm ấy ông mới 21 tuổi. Một thanh niên 21 tuổi mà có vai vế lớn như vậy, tất nhiên là vì có chị vợ làm hoàng thái hậu. Song sự việc cũng không phải hoàn toàn như vậy. Hồi tôi còn nhỏ đã từng nghe kể câu chuyện như sau: một hôm, trong vương phủ có buổi diễn kịch, khi diễn đến màn cuối vở “Trát mỹ án”, chú Tải Tuân lúc đó còn thơ ấu thấy Trần Sĩ Mỹ bị Ba Long Đồ đâm chém máu me đầy mình, sợ quá ngồi bệt xuống đất khóc oà lên. Ông nội tôi giận quá mắng chú tôi ngay trước mặt mọi người: “Thật chẳng ra cái thớ gì cả, năm tao 21 tuổi đã tự tay tóm được Túc Thuận. Còn mày như vậy thì sau này làm sao gánh gác nổi việc lớn của nước nhà?”. Thì ra, việc bắt Túc Thuận mới là khởi điểm thăng quan tiến chức của ông nội tôi.
            Sự việc xảy ra hồi năm 1861. Lúc bấy giờ chiến tranh Thuốc phiện lần thứ hai đã kết thúc bằng việc ký hoà ước một cách nhục nhã. Vua Hàm Phong trốn tới tỉnh Nhiệt Hà (2) ốm nằm liệt giường, trước khi mất, ông cho gọi ba vị đại thần ngự tiền và năm vị đại thần quân cơ đi theo ông tới bên cạnh giường dặn phải dựng người con sáu tuổi là Tải Thuần làm hoàng thái tử và cử tám vị đại thần này làm đại thần tán tương chính vụ (giúp đỡ quản lý việc nước). Hôm sau vua Hàm Phong “thăng hà”. Thể theo lệnh vua, tám vị “cố mệnh đại thần” này phù Tải Thuần lên nối ngôi, đặt niên hiệu “Kỳ Tường”, đồng thời nắm hết quyền bính của triều đình.
            Tám vị cố mệnh dại thần này là Di thân vương Tải Viên,Trịnh thân vương Đoan Hoa, thượng thư hộ bộ đại học sĩ hiệp biện Túc Thuận và năm đại thần quân cơ Cảnh Thọ, Mục Âm, Khuông Nguyên, Đỗ Hàn, Tiêu Hựu Doanh. Trong số người này, hai vị thân vương và đại học sĩ hiệp biện là những người nắm thực quyền, mà Túc Thuận lại là người chủ chốt nhất. Túc Thuận là người được coi trọng hồi thời vua Hàm Phong, nghe nói y giỏi đề bạt “nhân tài”, từng giới thiệu và đề bạt địa chủ người Hán là Tăng Quốc Phiên và Tả Tông Đường giúp triều đình nhà Thanh đàn áp cuộc cách mạng Thái Bình Thiên Quốc. Vì trọng dụng người Hán, nên y bị bọn quý tộc ghen ghét. Có người nói, trong thời kỳ Thái Bình Thiên Quốc hưng thịnh nhất, y vơ vét và bòn rút nhân dân cũng chỉ nhằm đối tượng là người “kỳ” ([3). Cũng có người nói y rất hung ác, tàn nhẫn, chuyên quyền ngang ngược, có nhiều thủ đoạn rất thâm độc đối với những ai không ăn cánh, vì vậy đã gieo mầm mống tai hoạ và bị mọi người thù oán. Kỳ thực, Túc Thuận bị giết, nguyên nhân căn bản nhất là vì giữa tập đoàn này với phái thế lực mới vừa hình thành có mâu thuẫn gay gắt như lửa với nước, bọn Túc Thuận chưa biết rõ Cung thân vương Dịch Hân (4) ở Bắc Kinh đang câu kết với người nước ngoài lúc bấy giờ đã có lực lượng như thế nào.
            Cung thân vương Dịch Hân vốn không phải nhân vật được lòng trong triều đình Hàm Phong. Hàm Phong khi bỏ trốn đi tỉnh Nhiệt Hà đã để Dịch Hân ở lại Bắc Kinh đàm phán với nước ngoài, song công việc chẳng có gì vui sướng này lại tạo cho y một dịp may rất tốt. Dịch Hân thay mặt triều đình nhà Thanh đàm hoà với liên quân Anh - Pháp và tiếp nhận “Điều ước Bắc Kinh” mất quyền nhục nước, do đó được đế quốc tán thưởng. Vị “hoàng thúc” được người nước ngoài ủng hộ này tất nhiên không cam chịu ở địa vị thấp kém hơn bọn Túc Thuận, hơn nữa lại được các vương công đại thần xưa nay vẫn ghen ghét Túc Thuận dung túng, nên càng muốn thử sức xuất đầu lộ diện. Đang lúc ấy, bỗng nhận được chỉ dụ của hai vị thái hậu ở “Ly cung” tỉnh Nhiệt Hà phái người bí mật mang đến.
            Hai vị thái hậu này, một là, hoàng hậu của vua Hàm Phong, sau mang tôn hiện Từ An, còn gọi là Đông thái hậu, vị khác chính là Từ Hy, còn gọi là Tây thái hậu. Tây thái hậu vốn là cung nữ, vì có thai với Hàm Phong nên được nâng làm quý phi, đẻ ra Tải Thuần là con trai duy nhất của Hàm Phong. Về sau Tải Thuần làm vua, mẹ nhờ con được vinh hiển, trở thành thái hậu. Không biết có sự sắp xếp gì trước hay không mà Từ Hy vừa lên thái hậu, tức thì có một ngự sử dâng sớ đề nghị hai vị thái hậu ra “thùy liêm thính chính” (5). Đề nghị đó bị Túc Thuận và những người khác kịch liệt phản đối, nói là triều đình nhà Thanh không có lệ này. Đối với Từ An thái hậu là người không có dã tâm thì không sao, nhưng đối với Từ Hy thì bà ta mang hận trong lòng. Trước hết bà cố để Từ An thái hậu tin rằng một số cố mệnh đại thần ấy rắp tâm làm phản, sau đó được sự đồng ý của Từ An, bà mật triệu Cung thân vương Dịch Hân tới “Ly cung” ở tỉnh Nhiệt Hà bàn mưu tính kế đối phó. Lúc bấy giờ, để củng cố được thế lực của mình, nhóm Túc Thuận từng trăm phương nghìn kế đề phòng Cung thân vương ở Bắc Kinh và thái hậu ở “Ly cung”. Có nhiều lời đồn về việc hai thái hậu làm thế nào tránh được tai mắt của nhóm Túc Thuận để liên hệ với Cung thân vương. Có người nói chỉ dụ của thái hậu là do một người làm bếp trong cung bí mật đem đến Bắc Kinh, lại có người nói Từ Hy cố tình công khai đánh mắng thái giám tâm phúc của bà ta là An Đức Hải rồi ra lệnh giải về nội triều ở Bắc Kinh để xử, và như vậy An Đức Hải đã mang chỉ dụ tới Bắc Kinh. Dù sao chỉ dụ cũng đã tới tay Cung thân vương. San khi được chỉ dụ, Cung thân vương đã lập tức gửi sớ tới “Ly cung” yêu cầu được vào triều yết vua. Túc Thuận lấy cớ “trách nhiệm quan trọng ở lại trông giữ Bắc Kinh” để ngăn cản nhưng không xong, y lại vin phép tắc “chị dâu và em chồng không được chuyện trò với nhau” để ngăn cản Cung thân vương gặp hai bà thái hậu, nhưng cũng không thành. Về việc Cung thân vương gặp hai thái hậu sau này có nhiều lời đồn, người thì nói Cung thân vương giả làm thầy mo lẩn vào được “Ly cung”, kẻ thì nói Cung thân vương “chiếu tướng” Túc Thuận rằng: “Nếu như chị dâu em chồng gặp nhau không tiện, thì ông hãy đứng tại chỗ mà giám sát”. Túc Thuận ngượng mặt quá đành phải nhượng bộ. Có người nói khi Cung thân vương đi cúng linh vị vua Hàm Phong, Từ Hy thái hậu sai An Đức Hải đem thưởng cho y một bát mì, trong bát có chỉ dụ của Từ Hy. Tóm lại, bất kỳ lời đồn nào đáng tin hay không tin, cuối cùng vẫn là Cung thân vương Dịch Hân đã gặp Từ Hy thái hậu và bàn bạc cụ thể mọi việc. Kết quả là sau khi hai bà thái hậu trở về Bắc Kinh, Dịch Hân liền được phong Nghị chính vương, còn Di thân vương Tải Viên và Trịnh thân vương Đoan Hoa thì “được” ban cho “tự vẫn”, Túc Thuận bị chém, năm cố mệnh đại thần khác đều bị giam hoặc sung quân. Niên hiệu của Tải Thuần cũng bị đổi là “Đồng Trị”, có nghĩa là hai bà thái hậu cùng nắm triều chính. Và từ đó bắt đầu 47 năm lịch sử “thuỳ liêm thính chính” của Từ Hy thái hậu trong hai thời vua Đồng Trị và Quang Tự. Công trạng của ông nội tôi trong cuộc đảo chính này là bắt được Túc Thuận tại Bán Bích Điếm trên đường y hộ tống quan tài vua Hàm Phong về Bắc Kinh, vì vậy được ban hàng loạt phẩm tước như đã kể trên.
            Năm thứ 3 đời vua Đồng Trị, ông nội tôi lại được phong danh hiệu “gia thân vương hàm”, năm thứ 11 Đồng Trị được chính thức tấn phong thân vương. Năm thứ 13, vua Đồng Trị tạ thế, vua Quang Tự nối ngôi, ông nội tôi lại được phong “thế tập võng thế”, ý là con cháu muôn đời đều được thừa tập tước vương.
            Trong triều đình Quang Tự, Cung thân vương Dịch Hân từng nhiều lần không được chuộng, nhưng Thuần thân vương Dịch Hoàn thì ngày càng được ân thưởng, hưởng đến mọi vinh hiển trên đời.
            Tôi từng trông thấy rất nhiều câu đối “cách ngôn gia huấn” của ông nội tôi để lại trong Thuần vương phủ do chính tay ông viết. Những câu đối và hoành phi ấy đều treo trong các phòng của con cháu. Có một câu đối viết: “phúc lộc trùng phùng tăng phúc lộc, ân quang bối bối thụ ân quang” (6) Lúc đó tôi nghĩ rằng ông nội tôi hình như đã thoả mãn lắm rồi, còn bây giờ tôi lại nghĩ khác, thậm chí hành động “xem kịch mắng con” xưa kia đều có dụng ý của ông.
            Nếu như Thuần quận vương năm 21 tuổi thiếu hiểu biết, thì qua 13 năm thời vua Đồng Trị ông đã có nhiều từng trải. Nhất là việc vua Đồng Trị và hoàng hậu chết, là thân vương quý tộc dòng dõi của vua, ông càng biết sự tình và càng thấm thía hơn ai hết.
            Theo sử sách ghi chép, thì vua Đồng Trị chết vì bệnh giang mai, nhưng theo tôi biết thì Đồng Trị chết vì bệnh đậu mùa (nhật ký của Ông Đồng Hoà cũng ghi chép như vậy). Lẽ ra bệnh đậu mùa không phải là bệnh không chữa được, nhưng Đồng Trị đã bị kích thích trong khi ốm, vì vậy bị biến chứng “Đậu chạy vào trong” không còn cách cứu chữa mà chết. Nghe nói sự tình như sau: Một hôm, hoàng hậu vào điện Dưỡng Tâm thăm vua Đồng Trị, ngồi trên giường bệnh vừa khóc vừa kể cho Đồng Trị nghe mẹ chồng trách mắng như thế nào. Đồng Trị khuyên hoàng hậu cố chịu đựng, sau này sẽ có ngày ngẩng đầu dậy. Từ Hy vốn không ưa gì con dâu này, từ lâu đã gài tai mắt theo dõi con đẻ và con dâu. Hôm đó được tin hoàng hậu đi thăm Đồng Trị bèn đích thân đến nấp ngoài điện Dưỡng Tâm để nghe trộm câu chuyện của con và dâu. Hai vợ chồng trẻ có ngờ đâu những câu thủ thỉ riêng tư của mình đã mang lại tai vạ tày trời! Đang lúc ấy, Từ Hy nổi giận đùng đùng lao vào giật lấy tóc con dâu đập túi bụi, và gọi người đem gậy đến đánh. Đồng Trị kinh hãi ngất lịm đi, Từ Hy thấy vậy mới thôi không hành hạ con dâu nữa. Đồng Trị chết, Từ Hy bèn đổ hết trách nhiệm lên đầu con dâu, ra lệnh hạn chế cơm nước không cho hoàng hậu ăn uống đầy đủ. Hai tháng sau, hoàng hậu cũng bị đầy đoạ đến chết. Sau khi hoàng hậu chết, Từ Hy vẫn chưa nguôi giận, lại cất chức Thị lang của bố hoàng hậu là Sùng Khởi. Năm sau, có một ngự sử dâng sớ nói là bên ngoài có nhiều lời đồn, người nói hoàng hậu chết vì đau buồn quá mức, kẻ nói chết vì không được ăn uống, dù sao đi nữa hoàng hậu rất mực tiết lễ, nên được khen ngợi, truy thưởng phẩm tước v.v... Song, chẳng thấy truy thưởng phẩm tước gì hết, chỉ thấy vị ngự sử ấy mất toi chức vụ của mình.
            Lúc Đồng Trị còn sống, sự bất hoà giữa mẹ con Đồng Trị không còn là chuyện bí mật nữa. Hồi tôi còn ở trong Cố cung, từng nghe thấy các thái giám già nói, mỗi lần Đồng Trị đi thỉnh an Đông thái hậu xong còn nán lại chuyện trò một lát nhưng trước mặt mẹ đẻ của mình thì trái lại không hề hé miệng nói lên một lời. Thời kỳ Đồng Trị, vây cánh của Từ Hy thái hậu đã sớm hình thành. Vì Đông thái hậu không bao giờ hỏi han đến công việc, nên mỗi lần vua Đồng Trị quyết định một việc gì, nếu không hỏi qua Tây thái hậu thì không thể nào thông qua dược. Đây là nguyên nhân chính của sự bất hoà giữa hai mẹ con. Từ Hy là người rất mực ham mê quyền thế, không bao giờ chịu để mất một quyền lực nào đã nắm được trong tay. Đối với bà cái mà gọi là tam cương ngũ thường, pháp chế tổ tông chỉ có thể để phục vụ cho mình. Để có thể duy trì quyền uy và tôn nghiêm của mình, Từ Hy đối xử với dòng họ, cốt nhục, đại thần, thân tín, bất kỳ là ai, nếu thuận thì sống, trái thì chết. Việc Đồng Trị và hoàng hậu chết càng phơi bày hơn nữa bộ mặt của Từ Hy. Nếu không hiếu rõ sự tình thì ông nội tôi không bao giờ bay hồn mất  vía khi nghe tin con mình được gọi đi làm vua. Trong nhật ký của Ông Đồng Hoà là người từng đi dự hội nghị ngự tiền lần ấy đã viết: khi Từ Hy vừa tuyên bố dứt lời dựng Tải Điềm làm vua kế thế, ông nội tôi liền “dập đầu khóc thảm thương, ngất lịm dưới đất, nâng dậy không đứng nổi...”
            Theo pháp chế của tổ tông, vua không có thái tử thì phải chọn lấy một người con của anh em ngang họ làm hoàng thái tử để nối ngôi. Sau khi Tải Thuần chết, lẽ ra phải chọn một người có tên đệm “Phổ” là bậc hàng con làm hoàng thái tử, song nếu như vậy Từ Hy sẽ là hoàng thái hậu, tiếp tục “thùy liêm thính chính” thì khó nói quá. Vì thế Từ Hy không tìm con thừa kế cho con mình, mà chọn Tải Điềm là cháu gọi mình bằng dì làm con mình để tiếp ngôi vua Đồng Trị. Lúc bấy giờ, một ngự sử là Ngô Khả Độc bằng cách “thi gián” (lấy tính mệnh của mình để mà can ngăn) yêu cầu lập con thừa kế cho Đồng Trị, nhưng cũng không làm Từ Hy thay đổi được ý định. Bà chỉ hứa rằng, bao giờ vua mới có thái tử thì sẽ lập con thừa kế cho Đồng Trị. Một học sĩ là bạn tâm giao của Thuần vương phủ, sau này kể cho tôi biết tình hình hội nghị ngự tiền lần đó. Hôm ấy Đông thái hậu không có mặt, Tây thái hậu nói với các vương công đại thần đang quỳ dưới đất rằng: “Chị em ta đã bàn rồi, chọn người hơi lớn thì chị em ta cũng không muốn lắm đâu! “thi gián” hay khóc ngất để can ngăn cũng chẳng được tích sự gì”.
            Từ đấy, ông nội tôi bắt đầu trải qua một quá trình kỳ lạ: hễ Từ Hy mỗi lần ban thưởng vinh dự cho ông thì ông lại một lần tạ ơn từ chối, và đến năm Tải Điềm vào cung lên ngôi thì ông nội tôi đã từ hết mọi chức quan, chỉ riêng ân hưởng “thân vương thế tập võng thế” là không thể từ chối được phải nhận. Mấy năm sau đó, công việc duy nhất của ông nội tôi là chăm lo việc học tập cho vua Quang Tự. Ông lo sợ nơm nớp, không dám lơ là trong công việc, vì vậy lại được Từ Hy ban cho song lộc và “ngồi kiệu bốn người khiêng, tự do đi lại trong cung cấm”. Về sau Cung thân vương Dịch Hân không được chuộng bị cất chức đại thần Nghị chính vương, Từ Hy thái hậu ra lệnh cho các đại thần quân cơ phàm việc nước trọng đại đều phải bàn bạc với Thuần thân vương, và như vậy coi như ban cho ông nội tôi cấp bậc càng cao hơn. Theo thường lệ đàn ông lấy vợ thì coi là trưởng thành, nếu như Quang Tự kết hôn, thì thái hậu đáng lý phải giao lại quyền hành cho vua. Điều đó tất nhiên Từ Hy không muốn, vì vậy trước khi Quang Tự kết hôn, Từ Hy bày cho Dịch Hoàn dẫn đầu một nhóm quần thần tâu xin thái hậu tiếp tục “huấn chính”. Lúc triều đình nhà Thanh xây dựng một hải quân kiểu mới. Dịch Hoàn được giao trọng trách này. Nhưng đến khi Dịch Hoàn thay mặt hoàng hậu đi duyệt hải quân mới hình thành bước đầu, thì thái hậu lại phái Tổng quản Lý Liên Anh là thái giám tâm phúc của bà ta cùng đi để theo dõi.
            Kể từ khi Quang Tự lên ngôi, ông nội tôi càng biết rõ tính tình của chị vợ mình. Trong những năm thời vua Quang Tự, Từ Hy vui giận bất thường. Có một thái giám chơi cờ hầu bà ta nói đùa một câu: “Bầy tôi diệt con ngựa này của lệnh bà”, Từ Hy lập tức nổi giận đùng đùng: “Ta giết cả nhà ngươi!” lập tức lôi thái giám này ra đánh chết tươi. Từ Hy rất chuộng tóc của mình, một lần, thái giám chải đầu cho bà ta xong thấy kẽ lược có mắc một sợi tóc, sợ quá định dấu, không ngờ Từ Hy nom thấy qua tấm gương soi, vì vậy thái giám này bị một trận đòn. Những thái giám hầu hạ Từ Hy thái hậu đều nói, ngoài Lý Liên Anh ra, bất kỳ ai tới phiên đứng trực hầu hạ chung quanh Từ Hy đều lo sợ nơm nớp. Từ Hy già dần, da mặt thường bị chứng bệnh co dúm, bà ngại nhất là người khác trông thấy. Có một thái giám có lẽ vừa thoáng nhìn lâu một chút, bà ta hỏi ngay: “Ngươi nhìn gì?” Thái giám không biết trả lời như thế nào, liền bị lôi ra đánh mấy chục hèo. Các thái giám khác biết vậy đến lượt mình đứng trước bà không ai dám ngẩng đầu, Từ Hy lại nổi giận: “Các ngươi cúi đầu làm gì?”. Thái giám không trả lời được lai bị lôi ra đánh mấy chục hèo. Lại một lần, Từ Hy hỏi thái giám hôm nay thời tiết như thế nào, thái giám này tiếng nói còn đặc giọng địa phương trả lời: “Thời tiết rớt lạnh rớt lạnh”, Từ Hy nghe không quen cũng sai người đánh ông ta một trận. Không những thái giám, mà cung nữ cũng thường bị hành hạ đánh đập.
            Những nô bộc chết vì bị đánh đập không phải là chuyện lạ trong cung đình và vương phủ Bắc Kinh, và cũng chẳng làm cho Thuần thân vương cảm thấy bị kích động lắm. Nhưng cái chết đột ngột của Đông thái hậu vào năm thứ 7 đời vua Quang Tự đối với ông thì không phải chuyện bình thường nữa. Nghe nói trước khi mất, Hàm Phong lo quý phi (tức Từ Hy) vì con nối ngôi mà được làm thái hậu sau này sẽ cậy thế hiếp người, hoàng hậu Nữu Hộ Lộc Thị (tức Từ An) không phải là đối thủ của bà ta nên có để lại một tờ sắc chiếu, ban quyền cho hoàng hậu lúc nào cần thiết thì giở ra để trị Từ Hy. Từ An tuy xuất thân dòng dõi hầu tước nhưng ít từng trải, có một lần nói lộ ra cho Từ Hy biết, từ đó Từ Hy trăm phương nghìn kế tán tụng để lấy lòng Từ An, cuối cùng, trước mặt Từ Hy, Từ An đã đốt sắc chiếu của Hàm Phong để lại. Chẳng bao lâu, Đông thái hậu chết đột ngột trong cung. Có người nói Đông thái hậu chết vì ăn bánh ngọt của Từ Hy sai người đem đến biếu, lại có người nói là ăn canh do chính tay Từ Hy nấu mang cho. Cái chết của Đông thái hậu tất nhiên tác động mạnh đến Thuần thân vương. Từ đó ông làm việc gì cũng thấp thỏm, và coi việc làm cho Từ Hy vừa ý và tin cậy là bổn phận duy nhất cua mình. Hồi ông phụ trách việc xây dựng hải quân (Lý Hồng Chương làm đại thần hộ biện), ông đã rút phần lớn kinh phí xây dựng hải quân ra xây dựng vườn Di Hoà để làm nơi vui chơi cho Từ Hy. Đang lúc công trình tiến hành khẩu trương thì tỉnh Trực Lệ (7) và vùng Bắc Kinh bị lụt lớn, ngự sử Ngô Triệu Thái đề nghị tạm ngưng lại vì sợ nhân dân bị nạn lụt gây loạn, đã bị cất chức và “giao cho bộ nghị xét xử”. Còn Thuần thân vương thì không dám hé một lời, vẫn nai lưng dốc thúc làm cho xong. Năm 1890, vườn Di hoà làm xong, và ông nội tôi cũng rời khỏi cõi đời. Bốn năm sau, hải quân do ông một tay xây dựng bị đánh bại thảm hại trong chiến tranh Giáp Ngọ (8). Những tàu chiến đổi bằng mấy chục triệu lạng bạc chỉ còn lại chiếc thuyền bằng đá để làm cảnh trong vườn Di Hoà, ngoài ra không còn gì hết.
 
 
---------------------------------------------------------------
(1) Phẩm họ của nhà vua chia làm Thân vương, quận vương, Bối lặc, Bối tử, Công, Tướng quân... “Bối tử phủ” là phủ của Bối tử. (Nguyên văn chú thích).  
(2) Một tỉnh cũ ở phía đông miền bắc Trung Quốc. (Nguyên chú)
(3) Biện pháp cai trị của giai cấp thống trị người Mãn đối với dân tộc người Mãn là thực hành chế độ tám kỳ hợp nhất quân sự, hành chính và sản xuất. Chế độ này phát triển từ chế độ “ngưu lục” (người Hán dịch là “tá lĩnh”, là một hình thức tổ hợp nhất sản xuất và quân sự hồi thời kì đầu lịch sử dân tộc Mãn), năm thứ 29 (công nguyên năm 1601) thời vua Vạn Lịch đời Minh, Nỗ Nhĩ Cáp Xích lập ra bốn kỳ Hoàng, Bạch, Hồng, Lam; năm thứ 44 (công nguyên năm 1615) lập thêm bốn kỳ Tương Hoàng, Tương Bạch, Tương Hồng, Tương Lam, cả thảy là tám kỳ. Phàm người Mãn đều được biên chế vào thời kỳ này, vì vậy gọi ]à người kỳ, thời bình thì sản xuất, thời chiến thì đi đánh trận. Thời vua Hoàng Thái Cực lại lập nên tám kỳ Mông Cổ và tám kỳ quân Hán.  
(4) Dịch Hân (1832 - 1898), con trai thứ 6 của vua Đạo Quang, được phong Cung thân vương hồi năm thứ 30 thời vua Đạo quang. Y được đế quốc tín nhiệm và ủng hộ nhân dịp đàm phán với liên quân Anh - Pháp, vì vậy đã làm đảo chính một cách thuận lợi. Sau đó kinh doanh công nghiệp quân sự cận đại, tích cực tham gia hoạt động dương vụ (những sự việc nước ngoài hay phỏng theo nước ngoài thịnh hành hồi cuối đời Thanh) và trở thành thủ lĩnh phái dương vụ. Nhưng về sau vì y có dã tâm, nên đã xảy ra mâu thuẫn với Từ Hy, vả lại bọn đế quốc cũng đã chọn được tay sai tốt hơn, vì vậy y bị bỏ rơi, vai trò thủ lĩnh phái dương vụ sau đó do Lý Hồng Chương và những người khác thay thế.
(5) Đời Đường, vua Đường Cao tông bàn việc nước với các đại thần tại triều đường, hoàng hậu Võ Tắc Thiên ngồi sau ngai vua buông rèm xuống để nghe ngóng và tham gia quyết định việc nước. Vì vậy, sau này thái hậu nắm triều chính được gọi là “thùy liêm thính chính”. ND  
(6) Tạm dịch: “Mãi mãi tăng phúc lộc, đời được ân thưởng”. ND
(7) Tên cũ của tỉnh Hà Bắc ngày nay. (ND)
(8) Năm 1894-1895, Nhật Bản thôn tính Triều Tiên và gây chiến tranh xâm lược Trung Quốc. Năm 1894 là năm Giáp Ngọ, vì vậy được gọi là chiến tranh Giáp Ngọ. (ND)
 
Đăng nhập để trả lời
0

Ông ngoại Vinh Lộc

 
            Thuần hiền thân vương có bốn “phu chin (9), bảy trai ba gái. Khi mất để lại ba trai một gái, lớn nhất là con trai thứ năm tức Tải Phong cha tôi, năm ấy tám tuổi, được thừa tập tước vương. Hai chú của tôi là Tải Tuân 5 tuổi và Tải Đào 3 tuổi, cũng được tấn phong tước công. Gia đình tôi từ đấy lại bắt đầu được “ân thưởng phúc lộc” mới. Cái “ân thưởng phúc lộc” trong mười mấy năm cuối của Thuần vương phủ so với mấy mươi năm trước càng tích tụ thêm sự khổ cực và tủi nhục của nhân dân Trung Quốc và cũng không thể tách rời với cái tên Từ Hy.
            Một việc lớn là Từ Hy chỉ định hôn nhân cho bố mẹ tôi. Lần “ân thưởng” cũng có thể nói là con đẻ cuộc đảo chính Mậu Tuất (1898) và vụ Canh Tý (1900). Trước hết, đó là một ân thưởng cho “trung thần”. Vinh Lộc đã lập công lớn cho Từ Hy trong vụ đảo chính Mậu Tuất. Vinh Lộc, ông ngoại tôi, là người kỳ Chính Bạch, Mãn Châu, thời vua Hàm Phong từng làm Ngân khố viên ngoại lang bộ Hộ suýt bị Túc Thuận chém vì tội tham nhũng. Không biết bằng cách nào ông đã thoát khỏi vận nguy đó và tung tiền mua được cái chức Hầu bổ đạo viên, sau đó từng là đại thần Tổng quản phủ nội vụ, năm đầu thời vua Quang Tự được lên tới Công bộ thượng thư. Về sau vì bị tố cáo tham ô hối lộ, bị giáng chức điều ra khỏi Bắc Kinh. Năm xảy ra chiến tranh Giáp Ngọ, Cung thân vương Dịch Hân ra làm việc quân, Vinh Lộc bèn nhân dịp vào Bắc Kinh chúc thọ Từ Hy thái hậu tìm đến nương tựa Cung thân vương và được y tín nhiệm.. Sau chiến tranh Giáp Ngọ, khi tiến cử Viên Thế Khải ra làm quan huấn luyện quân lính mới, Vinh Lộc đã làm tới Binh bộ thượng thư. Thời kỳ này Vinh Lộc càng lão luyện hơn trước nhiều, ông rất biết chộp thời cơ, nhất là không tiếc tiền đút lót Tổng quản thái giám Lý Liên Anh, vì thế khiến Từ Hy thái hậu dần dần thay đổi ấn tượng đối với ông. 
            Vinh Lộc được người bạn tốt Lý Liên Anh, lại thêm vợ mình rất khéo lấy lòng thái hậu và thường được triệu tập vào cung chuyện trò với thái hậu, nên ông ngày càng thấu hiểu tâm lý Từ Hy. Ông biết nội tình sự bất hoà giữa Từ Hy và Quang Tự, càng biết sự bất hoà ấy liên quan đến tiền đồ của mình, nên dĩ nhiên ông càng mong muốn bàn mưu tính kế cho Từ Hy trong sự lục đục này. Trong khi vua Quang Tự ra sắc chiếu thực hành biện pháp duy tân, những người đã bị cách chức và những người đang lo bị mất chỗ đứng chỉ biết than khóc, thì Vinh Lộc đã sớm bày kế cho Từ Hy. Lúc bấy giờ người ta gọi những người theo vua Quang Tự là Đế đảng, gọi những người theo Từ Hy là Hậu đảng. Vinh Lộc là người cầm đầu các đại thần nắm quyền thuộc Hậu đảng, Ông Đồng Hoà cầm đầu các đại thần không có thực quyền thuộc Đế đảng. Phái duy tân sở dĩ bắt mối được với vua Quang Tự là nhờ Khang Hữu Vi do Ông Đồng Hoà tiến cử. Theo kế của Vinh Lộc, Từ Hy trước hết buộc Quang Tự cho thầy học là Ông Đồng Hoà về vườn.
            Nghe nói trước khi Ông Đồng Hoà về vườn, Vinh Lộc còn đến giả vờ lau nước mắt bắt tay tiễn đưa và hỏi: “Sao ông lại mang tội với vua làm gì?”. Ông Đồng Hoà vừa rời khỏi Bắc Kinh vài ngày, Vinh Lộc liền được lên làm Uyên các đại học sĩ kiêm Tổng đốc tỉnh Trực Lệ và đại thần Bắc Dương. Với cương vị tột cùng này ông có quyền thống lĩnh cả ba quân. Sau khi nắm được các chức vị này, Vinh Lộc xúi các đại thần liên danh dâng sớ phế bỏ Quang Tự và do Từ Hy khôi phục “thính chính”, song vì phái đương quyền bị chỉ trích về mọi mặt sau khi chiến tranh Giáp Ngọ thất bại, có người sợ hành động này sẽ dẫn đến sự bất mãn của dân chúng nên không dám hưởng ứng, vì vậy Vinh Lộc buộc phải bỏ ý định đó. Nhưng cuối cùng thì Vinh Lộc cũng đạt được mong muốn nhân vụ đảo chính Mậu Tuất. Nghe nói sự việc xảy ra như sau: Thoạt đầu Vinh Lộc định kế làm đảo chính trong khi Từ Hy thái hậu cùng vua Quang Tự đi Thiên Tân duyệt tân binh, Quang Tự được tin này bèn sai người bí mật báo tin cho phái duy tân biết để tìm cách ứng cứu. Phái duy tân đặt hy vọng rất nhiều vào Viên Thế Khải lúc bấy giờ đang làm Án sát xứ Trực Lệ thống lĩnh tân binh, không ngờ sự việc đã hỏng ở tay y. Giữa lúc cả nước đang đàm luận sôi nổi về duy tân và coi đó như một thời kỳ mới, Viên Thế Khải đã gia nhập vào đoàn thể “Cường học hội” của nhân sĩ phái duy tân. Hồi Ông Đồng Hoà về vườn có qua Thiên Tân, Viên Thế Khải cũng từng bầy tỏ với ông sự đồng tình của mình, đồng thời khẳng định lòng trung thành vô hạn của  mình với vua Quang Tự. Bởi thế phái duy tân đặt niềm hy vọng ở y và đề nghị vua Quang Tự nâng chuộng y. Quang Tự đã triệu y vào hầu và đặc cách tấn phong y làm Thị Lang binh bộ chuyên trách việc huấn luyện quân lính, sau đó Đàm Tự Đồng (10) thuộc phái duy tân tìm đến gặp y ở nhà riêng và cho biết kế hoạch của phái duy tân: Phải giết cho bằng được Vinh Lộc bằng cách “binh gián” (dùng binh quyền để can ngăn hoặc yêu cầu) trong khi Từ Hy và Quang Tự duyệt binh, đồng thời giam lỏng Từ Hy, ủng hộ Quang Tự. Nghe xong, Viên Thế Khải hớn hở nhận lời ngay: “Giết Vinh Lộc chẳng qua dễ như giết một con chó mà thôi!”. Đàm Tự Đồng thăm dò thêm: “Ông không làm cũng được, cứ báo cho phía Từ Hy biết thì sẽ được hưởng phú quý vinh hiển”. Viên Thế Khải trợn trừng đôi mắt: “Ông tưởng thằng Viên Thế Khải tôi là kẻ như thế sao?”. Ấy thế mà sau khi tiễn Đàm Tự Đồng về, y liền về Thiên Tân ngay hôm ấy báo cáo hết cho Vinh Lộc, cấp trên của y. Được tin, Vinh Lộc vội đáp tàu hoả đến Bắc Kinh, tới Phong Đài (11) xuống tàu đi thẳng tới vườn Di Hoà báo cho Từ Hy. Rốt cuộc Quang Tự bị giam lỏng, Đàm Tự Đồng cùng năm nhân sĩ phái duy tân bị giết,  Khang Hữu Vi bỏ trốn sang Nhật, phong trào duy tân mới nhóm lên và tồn tại 100 ngày đã bị dập tắt. Còn Vinh Lộc ông ngoại tôi thì đúng như lời Lương Khải Siêu nói “kiêm chức văn võ, quyền thế ngập triều”, và trong “Thanh sử cảo”, cũng đã ghi chép rằng “được thái hậu hết sức tin cậy và quan tâm, chẳng ai sánh kịp. Bất kỳ việc lớn việc nhỏ, thường phải ông phán quyết một lời mới xong”.
            Trong vụ Canh Tý (1900) tai hại, Từ Hy lợi dụng Nghĩa hoà đoàn giết người nước ngoài, đồng thời lợi dụng người nước ngoài giết Nghĩa hoà đoàn, Vinh Lộc càng thêm trung thành với Từ Hy thái hậu. Sau cuộc đảo chính Mậu Tuất, Từ Hy tung tin Quang Tự bị ốm nặng để dễ bề thủ tiêu Quang Tự. Không ngờ âm mưu đó bị phát giác, rốt cuộc dẫn đến người nước ngoài muốn đến khám bệnh cho Quang Tự. Từ Hy không dám động đến người nước ngoài buộc phải để cho họ đến khám bệnh. Kế này không thành, bà lại bày cách chọn con thừa tự cho Đồng Trị rồi tiếp đó mới khử Quang Tự. Bà chọn Phổ Tuấn là con của Đoan vương Tải Y làm con thừa tự cho vua Đồng Trị, và theo mưu kế của Vinh Lộc đến ngày nguyên đán thì mời công sứ các nước tới dự lễ chúc mừng để tỏ ra họ cũng ủng hộ hành động này. Song, việc giao thiệp lần này của Lý Hồng Chương với người nước ngoài không thành, các công sứ đều từ chối không đến. Việc này hiện nay mọi người đều rõ như ban ngày, không phải là vì các công sứ bất mãn gì với cách cứ xử của Từ Hy, mà là công sứ các nước Anh, Pháp, Mỹ, Nhật.. không thích thú gì thế lực của Hậu đảng thân đế quốc Nga lên nước quá nhiều. Tất nhiên, kể từ ngày lên nắm quyền, Từ Hy chưa bao giờ dám động đến người nước ngoài. Người nước ngoài chém giết nhân dân Trung Quốc, cướp giật vàng bạc châu báu  của Trung Quốc, tất cả những việc ấy đối với bà chẳng có gì đáng kể, song việc người nước ngoài bảo hộ Khang Hữu Vi, phản đối việc phế truất vua Quang Tự và dựng vua kế thế, công khai tỏ ra không đồng ý sự thống trị của bà, thì bà không thể chịu dược nữa. Vinh Lộc khuyên bà dù thế nào đi chăng nữa cũng chớ nên trêu tức người nước ngoài, sự việc chỉ có thể thương lượng dần, về phần danh phận của Phổ Tuấn cũng đừng làm lộ liễu quá. Từ Hy tiếp nhận ý kiến của Vinh Lộc. Tập “Thanh sử cảo” có đoạn ghi chép: “Sợ người nước ngoài chống, nghe lời Vinh Lộc, đổi gọi Tải Tuấn là Đại A Ca”. Nhưng vì muốn con mình làm vua Tải Y, đã cùng với một số vương công đại thần như Cương Nghị, Từ Đồng... bày kế khác cho Từ Hy là lợi dụng Nghĩa hoà đoàn để chống người nước ngoài để gây sức ép với người nước ngoài, hòng đạt đến mục đích hai bên cùng bị thương tổn. Lúc bấy giờ vấn đề Nghĩa hoà đoàn là vấn đề đau đầu nhất của triều đình nhà Thanh. Trước tình hình bọn truyền đạo người nước ngoài ức hiếp, bòn rút thậm tệ, nhân dân các nơi không những không được sự bảo hộ của triều đình, trái lại còn bị người nước ngoài liên hợp đàn áp, cho nên cuộc đấu tranh của nhân dân đã bùng nổ, khắp nơi đều thành lập đội quân Nghĩa hoà đoàn, nêu khẩu hiệu diệt người nước ngoài. Qua đấu tranh không ngừng, Nghĩa hoà đoàn lúc đó đã trở thành một lực lượng vũ trang lớn mạnh. Triều đình mấy lần điều quân lính đi đàn áp, đều bị họ đánh cho không còn mảnh giáp. Đối với Nghĩa hoà đoàn phải “tiễu trừ” hay “phủ dụ” trở thành vấn đề mà Từ Hy còn lưỡng tự. Nhóm vương công đại thần chủ trương “phủ dụ” do Tải Y và đại học sĩ Cương Nghị cầm đầu định lợi dụng Nghĩa hoà đoàn đánh đuổi bọn người nước ngoài can thiệp vào việc phế truất, vua và chọn người làm vua kế thế rồi sau hãy hay. Nhưng Binh bộ thượng thư Từ Dụng Nghi, Hộ bộ thượng thư Lập Sơn và Nội các học sĩ Liên Nguyên kiên quyết phản đối, cho rằng lợi dụng Nghĩa hoà đoàn chống lại người nước ngoài ắt mang lại tai hoạ, vì thế chủ trương “tiễu trừ”. Giữa lúc hai bên giằng co chưa ngã ngũ, thì có tình báo đến làm Từ Hy hạ quyết tâm dứt khoát. Tình báo này cho rằng người nước ngoài coi nguyên nhân của cuộc bạo động ở khắp nơi là nhân dân muốn buộc Từ Hy phải trả lại quyền bính cho Quang Tự. Từ Hy nổi giận, lập tức hạ chiếu chỉ tuyên bố “phủ dụ” và mở kho cấp tiền cho Nghĩa hoà đoàn, treo giải thưởng lấy thủ cấp người nước ngoài, đồng thời ra lệnh tấn công các sứ quán ở phố Đông Giao Dân và các trại lính của họ. Để tỏ quyết tâm, bà sai đem xử chém Dụng Nghi, Lập Sơn, Liên Nguyên chủ trương “tiễu trừ”. Rút cuộc không đánh chiếm được phố Đông Giao Dân, trái lại pháo đài Đại Cô và thành phố Thiên Tân lần lượt thất thủ, liên quân của nước ngoài tiến đánh Bắc Kinh. Giữa lúc đó Từ Hy lại giở thủ đoạn mới, phái người bất chấp khói lửa bom dạn tới phố Đông Giao Dân ngấm ngầm liên lạc với người nước ngoài. Bắc Kinh thất thủ, bà trốn tới Tây An. Sau đó, để chứng minh với người nước ngoài bà vốn không phải là người chống họ, ra lệnh đem chém Cương Nghị, Từ Đồng và một số đại thần khác dã chủ trương “phủ dụ”. Trong trận “bão cuốn mưa dông” thất thường này, Vinh Lộc hết sức giữ ý không để mình bị cuốn vào cơn lốc ấy. Vinh Lộc xử đoán công việc theo sắc mặt của Từ Hy, không bao giờ trái với ý của bà, hơn nữa còn luôn luôn chuẩn bị “đường rút” cho Từ Hy. Ông thừa nhận phải tấn công trại lính ngoại quốc ở phố Đông Giao Dân nhưng lại không cấp phát đạn dược cho quân lính, hơn nữa lại ngấm ngầm đem hoa quả đến trại lính nước ngoài để  úy lạo. Sau khi liên quân tám nước vào Bắc Kinh và Từ Hy bỏ trốn, Vinh Lộc lại chỉ thị cho Lý Hồng Chương và Dịch Khuông có đặc trách hoà đàm với liên quân phải nắm được nguyên tắc miễn là không truy trách nhiệm của Từ Hy và không bắt Từ Hy giao quyền bính cho Quang Tự, thì có thể chấp nhận mọi điều kiện. Kết quả là dẫn đến việc ký kết điều ước Tân Sửu (1901) với nội dung bồi thường gần một tỷ lạng bạc kể cả lợi tức và đội quân nước ngoài được phép đóng tại Bắc Kinh. Vinh Lộc giải quyết xong công việc về tới Tây An liền được “ân điển” cho  mặc áo bào màu vàng (12), ban cho “song nhãn hoa linh” (13), ngoài ra đáng chú ý là Từ Hy thái hậu chỉ định việc hôn nhân cho con gái Vinh Lộc, gả cho Thuần thân vương Tải Phong làm “phu chin”.
            Về mối nhân duyên của cha mẹ tôi, sau này nghe các bô lão kể lại, tôi mới biết thâm ý của Tây thái hậu. Thì ra sau vụ đảo chính, Tây thái hậu rất nghi ngờ Thuần vương phủ. Nghe nói trên mộ ông tôi có cây bạch quả rất cao, không biết ai nói với thái hậu rằng Thuần vương phủ xuất hiện hoàng đế, là vì trên mộ Thuần vương có cây bạch quả, “bạch” trên mộ “vương” đúng là chữ “hoàng” rồi! Từ Hy nghe xong liền sai người đi chặt bỏ mất. Kỳ thực làm cho Từ Hy nghi ngờ không chỉ là cây bạch quả, mà quan trọng hơn là thấy người nước ngoài thích thú với Quang Tự và anh em Quang Tự. Trước vụ Canh Tý, Từ Hy đã cảm thấy những người nước ngoài đáng sợ ấy hơi ngả về Quang Tự và đối với bà thì không mấy nể nang. Sau vụ Canh Tý, thống soái liên quân đòi phải cử anh em của vua làm đại biểu sang Đức xin lỗi việc công sứ Đức bị giết. Cha tôi sang Đức được hoàng thất nước Đức tiếp đón trọng thể, đã làm cho Từ Hy không yên lòng và thêm nghi ngờ. Đối với bà, Quang Tự được người nước ngoài coi trọng là điều đáng lo ngại hơn Khang Hữu Vi thuộc phái duy tân. Để thủ tiêu mối lo ngại này, cuối cùng bà đã nghĩ ra cách kéo Vinh Lộc và Thuần vương phủ nối thành thông gia. Tây thái hậu là con người như thế đấy. Phàm việc dù nhỏ đến đâu chăng nữa hễ bà ta cảm thấy là mối đe doạ đối với mình, thì nhất định tìm cách xử lý dứt khoát. Năm 1901 trước khi trốn chạy đi Tây An, bà vẫn không quên sai người bắt Trân phi (14) đẩy xuống giếng (15) cho chết đuối để trừ hậu hoạ. Mọi suy nghĩ của bà đều nhằm làm thế nào duy trì được sự thống trị của mình. Năm thứ 27 thời vua Quang Tự, cha tôi sang Đức xin lỗi trở về nước, khi tới Khai Loan gặp loan giá hồi kinh, ông tâu lại tình hình được tiếp đón trọng thể ở Đức và tháng 11 theo giá tới Bảo Định thì nhận được chỉ dụ của thái hậu chỉ định việc hôn nhân.
 
 
---------------------------------------------------
(9) “Phu chin” âm Mãn ý là vợ, cũng có ý là phụ nữ quý tộc (nghe nói phiên âm từ “phu nhân” của tiếng Hán mà ra) - Nguyên chú
(10) Đàm Tự Đồng (1865-1893) người Lưu Dương tỉnh Hồ Nam, một nhà tư tưởng của phong trào duy tân cuối đời Thanh. Ông căm giận vì chiến tranh Trung - Nhật thất bại, tổ chức “Toán học xã” tại Lưu Dươn, viết sách “Nhân học”, sau tổ chức “Nam học hội” và chủ bút tờ “Tương báo” (báo Hồ Nam), trở thành một trong những lãnh tụ của phong trào duy tân. Sau khi Viên Thế Khải mật báo, ông cùng Lân Húc, Dương Nhuệ, Lưu Quang Đệ, Dương Thân Tú và Khang Quang Nhân là nhân sĩ phái duy tân bị giết hại, sử cũ gọi là “Lục quân tử” (Nguyên chú)   
(11) Một vùng ở ngoại thành Bắc Kinh (ND).
(12) Áo màu vàng là áo của vua mặc khi cưỡi ngưạ. Áo bào màu vàng là một trong những “ân điển” đặc biệt cho đại thần có công lớn (ND). 
(13) Đuôi mũ quan đời Thanh, của hoàng tộc và quan to thì làm bằng lông công, của quan thường thì làm bằng lông chim màu lam. “Hoa linh” của vua ban cho quần thần theo phẩm tước cao thấp, chia làm ba loại: đơn nhãn hoa linh, song nhãn hoa linh và tam nhãn hoa linh.
(14) Quý phi của vua Quang Tự.
(15) Giếng trong Cổ cung, hiện nay vẫn còn (ND)
 
Đăng nhập để trả lời
0

Quyết định của Từ Hy Thái Hậu

 
            Sau vụ Canh Tý, Tải Y bị coi là người trong những người chủ yếu phải chịu trách nhiệm trong vụ này và bị sung quân đi Tân Cương, con của y bị mất cái tên “Đại A Ca”. Sau đó trong 7 năm, việc phế truất Quang Tự và dựng vua kế thế không còn ai bàn tán công khai nữa. Tháng 10 năm thứ 34 (năm 1908 công nguyên) thời vua Quang Tự, sau khi ăn mừng sinh nhật 74 tuổi của mình tại vườn Di Hoà, Từ Hy bị bệnh kiết lỵ, đến ngày thứ 10 bà bỗng quyết định chọn con thừa tự cho vua Quang Tự. Hai ngày sau đó, Quang Tự và Từ Hy lần lượt qua đời. Trong nhật ký của cha tôi có ghi:
 
            Ngày 19. Triều yết.
            Dâng sớ khẩn của Khánh vương...
 
            Ngày 20. Triều yết.
            Phụng chỉ thay mặt phê sớ. Khánh vương tới Bắc Kinh... (Thần) phụng chỉ làm nhiếp chính vương..., phụng chỉ dắt Phổ Nghi vào cung.
 
            Ngày 21. Thần nghe tin hoàng thượng băng hà... Được hoàng thái hậu cho vời vào cung. Tiếp chỉ: Dựng con của Tải Phong làm vua kế thế.
 
            ...Lại tiếp chỉ: Vua kế thế hãy còn nhỏ, đang lúc chuyên tâm học tập, uỷ thác Nhiếp chính vương Tải Phong trông coi việc nước, mọi việc quân chính đều phải được sự huấn thị sau mới thi hành, chờ vua trưởng thành, học tập tiến bộ, lúc đó vua đích thân định đoạt chính  sự.
 
            Tôi chọn chép đoạn nhật ký ngày 19 là ngày đầu tiên Tây thái hậu tuyên bố quyết định của mình, là vì “dâng sớ khẩn của Khánh vương” ngày 19 và “Khánh vương tới Bắc Kinh” ngày 20 có quan hệ mật thiết tới việc dựng vua kế thế. Đây là sự sắp đặt cẩn mật của Tây thái hậu. Để nói rõ việc này, không thể không nói rõ tình hình của Khánh vương từ hồi trước.
            Khánh vương tức Dịch Khuông (16), nổi tiếng vì thực hiện đường lối ngoại giao bán nước và mua bán phẩm tước. Thời đại Tây thái hậu, chỉ cần được lòng thái hậu thì công danh hiển hách. Nếu muốn được lòng thái hậu thì trước hết phải biết nắm tình hình của bà trong mọi lúc. Vinh Lộc nhờ đút lót Tổng quản thái giám Lý Liên Anh và sai vợ vào cung chuyện trò bợ đỡ thái hậu, nên nắm được nhiều tin tức rất kịp thời, vì vậy được lòng thái hậu hơn mọi người. Cách làm của Dịch Khuông nếu nói có khác hơn Vinh Lộc chút ít là y không tiếc tiền đút lót nhiều hơn cho Lý Liên Anh và con gái của Dịch Khuông tinh khôn hơn vợ Vinh Lộc. Nếu thái hậu vô ý để lộ và thích cái gì, chẳng hạn như chiếc áo hoặc đôi giày thêu khảm... thì chỉ vài ba ngày sau con gái Dịch Khuông đã đem những thứ đó đến tận tay bà ngay. Vận đỏ thăng quan tiến chức của Dịch Khuông chính là bắt đầu từ chỗ đó. Từ một chức vị thấp nhất trong tôn thất là phụ quốc tướng quân, ông dần dần lên đến thân vương, và nắm mọi quyền hành quản lý những công việc quan hệ với nước ngoài.
            Cuộc hoà đàm Tân Sửu là sự kiện quan trọng nhất trong đời ông. Trong vụ này, ông không những hết lòng làm vừa ý thái hậu, để thái hậu khỏi chịu trách nhiệm chính, mà còn làm vừa ý liên quân tám nước trong việc ký kết điều ước. Người ta khi nói đến vốn liếng chính trị của vương công nào, chỉ nói vương công này có Đức làm hậu thuẫn, vương công nọ có Nhật đằng sau lưng..., đều chỉ có một nước ngoài nâng đỡ còn khi nói đến Khánh vương thì chẳng ai sánh kịp: vì ông có những tám nước ủng hộ. Vì vậy sau cuộc hoà đàm Tân Sửu, Tây thái hậu rất mực coi trọng ông. Năm thứ 29 thời vua Quang Tự, ông nắm quyền hành vượt cả đại thần quân cơ của Lễ thân vương đã già chỉ có tiếng chứ không có miếng. Về sau, Lễ thân vương rút lui, Dịch Khuông chính thức tiếp lấy chức vụ đó, con là Tải Chấn cũng được phong Thương bộ thượng thư, hai bố con vinh hiển không ai bằng. Mặc dù có một số vương công và ngự sử chống đối, tố cáo ông lộng quyền và tham nhũng, nhưng cuối cùng cũng chẳng có kết quả gì, thậm chí người tố cáo còn bị cách chức.
            Tây thái hậu có vừa lòng thật sự hay không? Theo nhiều tài liệu cho biết: về sau Tây  thái hậu vừa phải dựa vào Dịch Khuông nhưng cũng vừa lo ngại ông. Nỗi lo ngại của Tây thái hậu không phải vì Dịch Khuông tham nhũng và hay ăn của đút lót, mà là quan hệ đặc biệt giữa ông với Viên Thế Khải. Chỉ nhìn vào số tiền của Viên Thế Khải đã đút lót cho ông cũng đủ biết quan hệ không bình thường. Từ Thế Xương, tâm phúc của Viên Thế Khải sau này nói: việc trong Khánh vương phủ, bất kỳ là đẻ con sinh cháu, ma chay chúc thọ... đều do nha môn tổng đốc tỉnh Trực Lệ xuất tiền chi phí. Trước ngày Khánh vương Dịch Khuông nắm quyền quân cơ không bao lâu, một hôm, Khánh vương phủ nhận được 10 vạn lạng bạc (có người nói 20 vạn lạng) của Viên Thế Khải sai người mang đến, người mang bạc đến nhắn lời của Viên Thế Khải rằng: “Ngài Khánh vương sắp phải chi phí rất nhiều, xin nể mặt mà nhận cho.” Sau đó ít lâu tin Dịch Khuông được thăng quan công bố, mọi người rất đỗi ngạc nhiên tài bói toán của Viên Thế Khải.
            Sau vụ đảo chính Mậu Tuất, Tây thái hậu một mặt rất coi trọng Viên Thế Khải, chỉ trong vài ba năm đã phong cho y từ chức quan Án sát tỉnh Trực Lệ lên tới tổng đốc tỉnh Trực Lệ và ngoại vụ bộ thượng thư, nhưng mặt khác bà cũng rất lo ngại đại thần người Hán này thống  lĩnh quân Bắc Dương và rất biết đầu cơ. Khi nghe nói Viên Thế Khải sai người mang nhiều bạc đi đút lót Khánh vương, con người coi đồng tiền như tính mạng này thì thái hậu càng cảnh giác.
            Tây thái hậu từng có ý định gạt bỏ Dịch Khuông theo ý của đại thần quân cơ Cù Hồng Cơ. Song Cù Hồng Cơ thiếu từng trải, đem việc này nói cho vợ biết. Ai ngờ vợ ông có người bà con làm ở tờ báo tiếng nước ngoài vì thế tin này lọt đến tai một phóng viên nước ngoài, và được đăng trên báo chí xuất bản tại Luân Đôn. Công sứ Anh tìm đến bộ ngoại vụ chất vấn hư thực, Tây thái hậu không dám thừa nhận nhưng sau đó đã sai Thiết Lương và Lộc Tuyền truy xét, rốt cuộc Cù Hồng Cơ bị cách chức.
            Tây thái hậu định gạt Dịch Khuông không thành, hơn nữa vì Dịch Khuông có mối liên hệ với người nước ngoài sau này có việc còn phải nhờ ông vì vậy sau đó thái hậu không dám động đến ông nữa, nhưng đối với Viên Thế Khải thì bà không do dự. Năm 33 thời vua Quang Tự, Tây thái hậu điều Viên Thế Khải làm Ngoại vụ bộ thượng thư, đồng thời tham gia việc quân. Bề ngoài coi như trọng dụng, thực sự là tước binh quyền của Viên Thế Khải. Hiểu dụng ý đó, Viên Thế Khải không chờ sắc lệnh đã chủ động giao nộp quyền thống lĩnh quân Bắc Dương.
            Tây thái hậu rất hiểu khả năng thực tế của Viên Thế Khải khống chế quân Bắc Dương không phải một sớm có thể tước hết, quan hệ giữa Dịch Khuông và Viên Thế Khải cũng không thể cắt đứt ngay được. Trong khi còn đang dự định một biện pháp khác thì bà bị ốm, đồng thời nghe tin Viên Thế Khải định phế truất vua Quang Tự, dựng Tải Chấn con của Dịch Khuông lên ngôi. Lập tức bà điều Dịch Khuông đi trông coi công trình xây lăng, sau đó điều quân lính của Đoàn Kỳ Thụy (17) rời Bắc Kinh, lệnh Thiết Lương thống lĩnh đơn vị của mình vào đóng ở Bắc Kinh thay Đoàn Kỳ Thụy. Tới khi Dịch Khuông làm xong công việc trở về Bắc Kinh thì sự việc đã giải quyết xong xuôi, tức là đã tuyên bố tôi nối ngôi và cha tôi làm Nhiếp chính vương. Nhưng để tiếp tục lôi kéo Dịch Khuông được 8 nước ủng hộ, Từ Hy bèn “ân điển” cho dòng họ Dịch Khuông được đời đời thừa tập tước lộc thân vương.
            Âm mưu của Viên Thế Khải và Khánh vương Dịch Khuông có thật như vậy hay không, nội dung cụ thể ra sao, điều đó tôi cũng không rõ lắm. Nhưng theo Thiết Lương kể về việc sắp xếp này của Từ Hy thì, trước khi điều bộ phận quân Bắc Dương của Đoàn Kỳ Thụy rời khỏi Bắc Kinh, Từ Hy đã ra lệnh phát cho mỗi người lính hai lạng bạc, một bộ quần áo mới và hai đôi giầy. Ngoài ra, tôi còn được nghe thái giám già Lý Trường An nói về nghi án cái chết của Quang Tự. Thái giám già Lý Trường An nói trước ngày Quang Tự mất, Quang Tự vẫn bình thường, chỉ sau khi uống một thang thuốc bệnh tình mới trầm trọng. Về sau mới biết thang thuốc đó chính là do Viên Thế Khải sai người đem tới. Bệnh của Quang Tự chỉ là bị cảm mạo thông thường, trước khi chết một ngày có người còn trông thấy Quang Tự khoẻ mạnh đang đứng nói chuyện với người khác, vì vậy tin Quang Tự ốm nặng đã làm mọi người kinh ngạc, càng kinh ngạc hơn là tin ốm nặng loan báo mới được hai tiếng đồng hồ thì nghe nói đã “thăng hà”. Tóm lại cái chết của Quang Tự quả thật đáng nghi, và nếu lời nói của thái giám già Lý Trường An là đúng, thì quả thật Viên Thế Khải và Dịch Khuông đã có âm mưu rất tỷ mỉ.
            Cũng có người đồn rằng, Tây thái hậu biết mình ốm không dậy được, nhưng không cam tâm chết trước Quang Tự, nên đã hạ thủ một cách thâm độc. Lời đồn này cũng có thể đúng. Nhưng tôi được biết, hôm công bố tôi lên ngôi, bà vẫn không tin mình ốm liệt giường. Hai tiếng đồng hồ sau khi Quang Tự chết bà còn ra lệnh cho nhiếp chính vương: “Mọi việc quân chính phải được sự huấn thị mới thi hành”. Đến hôm sau mới nói: “ Vì nay bệnh tình trầm trọng, sợ không dậy nổi, sau khi dựng vua kế thế, mọi việc quân chính đều do Nhiếp chính vương định đoạt gặp việc trọng dại phải hỏi ý kiến hoàng thái hậu (18) mới được thi hành.”
            Tất nhiên, bà nghĩ mình cũng không sống được bao lâu nữa. Theo bà thì quyết định như vậy là đã tận sức gìn giữ được ngai vàng của dòng dõi Ái Tân Giác La. Bà thậm chí cho rằng, quyết định này đúng là ở chỗ chọn người em ruột của Quang Tự làm Nhiếp chính vương. Vì theo lẽ thường, chỉ có người như vậy mới không mắc mưu Viên Thế Khải.
 
 
---------------------------------------------------------------
(16) Khánh vương, cháu nội của Khánh Hy thân vương Vĩnh Lân - con trai thứ 17 của vua Càn Long. Lúc đầu được thừa tập phẩm tước Phụ quốc tướng quân, năm thứ 2 thời vua Hàm Phong được phong Bối tử, năm thứ 10 được phong Bối lặc, năm thứ 11 thời vua Quang Tự được phong Khánh quận vương, năm thứ 20 được phong thân vương.
(17) Đoàn Kỳ Thụy (1864-1936), người Hợp Phì tỉnh An Huy, tướng lĩnh quân Bắc Dương đắc lực của Viên Thế Khải. Sau khi Viên Thế Khải chết, y được đế quốc Nhật ủng hộ, từng mấy lần nắm chính quyền Bắc Kinh, là tay sai trung thành của đê quốc Nhật. Sau sự biến ngày “18 tháng 9” năm 1931, được Nhật ủng hộ ý định tổ chức chính quyền Hán gian tại Hoa Bắc. Về sau bị Tưởng Giới Thạch giam lỏng đến chết tại Thượng Hải.
(18) Hoàng hậu của Quang Tự là cháu gái của Từ Hy (ND)
 
Đăng nhập để trả lời
0

Nhiếp Chính Vương giám quốc 

 
            Trong 3 năm tôi làm vua và cha tôi làm Nhiếp Chính Vương, mãi đến năm cuối cùng tôi mới được thấy cha tôi. Đó là hồi tôi vào học ở Cung Dục Khánh không lâu, một hôm ông đến xem xét việc học tập của tôi.
            Một thái giám vào bẩm: “Vương gia đã đến”.  
            Thày học vội xếp sách vở ngay ngắn lại đồng thời bảo cho tôi biết khi gặp cha tôi thì phải làm thế nào, xong rồi bảo tôi đứng chờ. Một lát sau, một người lạ mặt, đầu đội mũ quan, cằm không có râu xuất hiện ở ngưỡng cửa phòng học và đứng thẳng người trước mặt tôi. Đó chính là cha tôi.
            Theo gia lễ, tôi cúi chào, sau đó cùng ngồi xuống ghế. Ngồi xong tôi cầm sách và đọc theo lời thày chỉ dẫn trước.  
            “Mạnh Tử gặp Lương Huệ Vương, vương đứng trên đồng lầy....”.
            Không hiểu vì sao tôi hồi hộp quá không đọc tiếp được
            Cũng may cha tôi còn hồi hộp hơn tôi, nên vội gật đầu nói lập cập:
            “Tốt, tốt, hoàng thượng cố gắng mà học... học tập nhé”
            Dứt lời lại gật đầu lia lịa rồi đứng dậy đi ra. Cha tôi dừng lại ở chỗ tôi không quá hai phút.
            Từ hôm ấy tôi mới biết hình dạng của cha mình: ông không giống thầy học của tôi vì ông không để râu, mặt không vết nhăn, đuôi mũ bằng lông công như bay nhảy sau gáy. Về sau cứ một tháng là ông đến một lần, và lần nào cũng không quá hai phút. Tôi còn biết cha tôi  hơi nói lắp, và biết đuôi mũ lông công sau gáy ông sở dĩ cứ nhảy lên nhảy xuống là vì hễ ông cứ nói chuyện thì lại gật đầu lia lịa. Ông rất ít nói, ngoài mấy tiếng “tốt, tốt, tốt” ra khó mà nghe được những lời khác. Em trai tôi thường nghe mẹ tôi nói, năm Tân Hợi (1911) cha tôi từ chức Nhiếp chính vương, từ cung vua về đến nhà liền nói với mẹ tôi: “Bắt đầu từ hôm nay mình có thể về nhà bế con rồi!”. Thấy cha tôi nói một cách nhẹ nhõm mẹ tôi ức đến phát khóc, và sau đó khuyên em tôi: “Con lớn lên đừng bắt chước cha như thế con nhé!” Hồi đó cha tôi có viết hai câu đối “có sách thật phú quý, không việc tiểu thần tiên”, tuy không nói lên được đầy đủ chí “ẩn dật” của ông, nhưng cũng thấy ông rất khổ não trong 3 năm “giám quốc”. Có thể nói rằng ba năm ấy là ba năm thất bại nhất trong đời ông.
            Đối với ông, thất bại cay đắng nhất là không trừ được Viên Thế Khải. Có người đồn rằng, trước khi chết Quang Tự có tâm sự với Nhiếp chính vương và để lại chỉ dụ viết bốn chữ “giết Viên Thế Khải”. Theo tôi biết thì không có việc gặp gỡ lần đó giữa hai anh em Quang Tự. Việc Nhiếp chính vương muốn giết Viên Thế Khải để báo thù cho anh quả có thật, song đã bị bọn đại thần quân cơ đứng đầu là Dịch Khuông ngăn cản. Tình tiết cụ thể thì tôi không được biết, chỉ biết lời nói của Dịch Khuông “giết Viên Thế Khải không khó, nhưng nếu quân Bắc Dương nổi dậy làm phản thì làm thế nào” đã làm cha tôi chán ngán. Rốt cuộc là Long Dụ thái hậu nghe lời Trương Chi Động và vài người khác cho Viên Thế Khải về nhà “chữa bệnh đau chân” thả y đi mất.
            Có một người làm việc trong Phủ Nội vụ nói cho tôi biết, lúc bấy giờ Nhiếp chính vương muốn bắt chước cách của Khang Hy là triệu Ngao Bái vào cung ban cho ngồi trên một chiếc ghế có một chân hỏng, Ngao Bái không đề phòng ngồi xuống bị ngã, thế là buộc tội “khi quân” và bị giết. Cùng Nhiếp chính vương bày kế này là tiểu Cung thân vương Phổ Vĩ (19). Phổ Vĩ có một thanh đao Bạch Hồng của vua Hàm Phong ban cho ông nội y là Dịch Hân. Nhiếp chính vương bảo Phổ Vĩ đeo bên mình để giết Viên Thế Khải. Mọi kế hoạch đã xong xuôi, nhưng bị Trương Chi Động và đồng bọn ngăn lại. Câu chuyện này chưa đủ chứng cớ để tin, nhưng ít nhất cũng có một vài điểm là sự thật, tức là lúc bấy giờ có người cố sức bảo vệ Viên Thế Khải, cũng có người định giết bằng được Viên Thế Khải, những người bày mưu tính kế cho cha tôi cũng không phải là ít. Sau vụ đảo chính Mậu Tuất, Viên Thế Khải tuy bỏ ra rất nhiều tiền, đút lót, nhưng vẫn có một số thế lực không thể mua chuộc bằng tiền được. Những thế lực đối địch đó không hoàn toàn phải là phái duy tân và nhân vật thuộc Đế đảng hồi trước, mà không có những người tranh giành địa vị với Dịch Khuông, có những người cố sống cố chết cướp lấy binh quyền trong tay, cũng có những người vì mục đích nào đó đã đặt hy vọng vào việc lật đổ Viên Thế Khải. Vì thế, vấn đề giết chết và bảo vệ Viên Thế Khải không phải là cuộc đấu tranh giữa phái duy tân và phái thủ cựu giữa Đế đảng với Hậu đảng hồi trước, và cũng không phải là cuộc đấu tranh giữa quý tộc người Mãn với quý tộc người Hán, mà là cuộc đấu tranh giữa nhóm quý tộc này với nhóm quý tộc khác. Lúc ấy trong nội các quý tộc đã chia ra làm hai nhóm, một nhóm đứng đầu là Khánh vương Dịch Khuông, một nhóm đứng đầu là Công tước Tải Trạch. Bày mưu tính kế cho cha tôi và đòi quyền lực địa vị chủ yếu là nhóm Tải Trạch.
            Bất kỳ là nhóm nào cũng bao gồm một số người thuộc dòng dõi Ái tân giác la, quý tộc người Mãn, thế gia tám kỳ, đại thần người Hán, mưu sĩ nam bắc...; giữa những người này cũng có sự bất đồng, ai cũng đều có tính toán riêng. Ví như lớp người dòng dõi tên họ có chữ đệm  “Tải” như Tải Trạch chẳng hạn, thì cố sức tranh đoạt quyền hành của Khánh vương là người chú họ. Dòng dõi anh em trong Thuần vương phủ thì chỉ muốn nắm binh quyền của Viên Thế Khải và những đại thần người Hán khác. Cả đến anh em một nhà trong Thuần vương phủ, những người theo Anh học hải quân và theo Đức học lục quân cũng có ham muốn khác nhau. Nhiếp chính vương đứng giữa các nhóm đối lập, khi thì nghe bên này, lúc thì đồng ý bên kia, có khi nói với hai bên đều “tốt, tốt”, “ử, ử”, nhưng sau đó chẳng làm được gì hết, vì vậy nhóm nào cũng bất mãn với ông.
            Khó đối phó nhất phải kể Dịch Khuông và Tải Trạch. Trước khi Tây thái hậu chết, Dịch Khuông làm lãnh hàm quân cơ, sau khi thái hậu chết, chế độ quan nội các có sự cải cách, y lại làm nội thần tổng lý nội các, do đó càng khiến Độ chi bộ thượng thư Tải Trạch bất bình. Hễ có dịp là Tải Trạch tìm gặp Nhiếp chính vương và nói xấu Dịch Khuông trước mặt Nhiếp chính vương. Nhưng Tây thái hậu cũng chẳng gạt được Dịch Khuông thì Nhiếp chính vương làm thế nào mà gạt nổi?
            Nếu như Nhiếp chính vương ủng hộ Tải Trạch hoặc có thái độ đối lập với Dịch Khuông, thì Dịch Khuông chỉ cáo già từ chức ở tịt trong vương phủ không ra làm việc nữa là Nhiếp chính vương lập tức hoảng sợ ngay. Cho nên mỗi lần Tải Trạch và Dịch Khuông va chạm nhau cuối cùng Tải Trạch vẫn chịu thất bại. Người của Thuần vương phủ thường thấy Tải Trạch to tiếng với Nhiếp chính vương: “Ông anh hoàn toàn vì em; nếu không nghe ông anh thì  lão Khánh (tức Khánh vương Dịch Khuông) sẽ làm mất đứt nhà Thanh cho mà xem!”. Nhiếp chính vương lần nào cũng trầm ngâm hồi lâu mới nói : “Ừ, ừ, mai sẽ nói với lão Khánh...”. Hôm sau, tình hình vẫn như vậy: Dịch Khuông vẫn hành động theo ý mình, Tải Trạch lại mất công toi.
            Thất bại của Tải Trạch cũng là thất bại của Tải Phong, và thắng lợi của Dịch Khuông cũng thường là thắng lợi của Viên Thế Khải. Nhiếp chính vương Tải Phong không phải là không biết thế, cũng không phải là không muốn ngăn chặn, song không còn cách nào  khác.
            Về sau, bão táp khởi nghĩa Vũ Xương dấy lên, đại thần lục quân người Mãn là Am Xương dẫn quân Thanh đi đánh dẹp, tác chiến bất lợi phải tới tấp gửi điện khẩn về. Từ Thế Xương  “quân sư” của Viên Thế Khải thấy thời cơ đã đến, bèn vận động Dịch Khuông, Na Đồng và mấy đại thần quân cơ khác tiến cử Viên Thế Khải. Lần này Nhiếp chính vương đã có chủ định, liền nổi khùng quạt cho Na Đồng (người “nguyện đem tính mạng” bảo đảm cho Viên Thế Khải) một trận. Song ông quên rằng Na Đồng sở dĩ dám đứng ra bảo đảm cho Viên Thế Khải tất nhiên không lo sợ là vì y có chỗ dựa. Sau khi Nhiếp chính vương tức giận khiển trách, Na Đồng liền cáo già từ chức, Dịch Khuông cũng không vào triều làm việc, điện khẩn về tình hình quân sự tới tấp bay về, Nhiếp chính vương không giữ được ý định của mình nữa, vội vàng thưởng cho Na Đồng “ngồi kiệu hai người khiêng”, mời Dịch Khuông “thông cảm thời thế khó khăn” ra làm việc trở lại, và cuối cùng buộc phải ký sắc lệnh phong cho Viên Thế Khải làm Khâm sai đại thần chỉ huy ba quân, đồng thời uỷ nhiệm Phùng Quốc Chương (20) và Đoàn Kỳ Thụy là hai thân tín của Viên Thế Khải làm thống lĩnh quân lĩnh ở tiền tuyến. Sau khi ông mặt mày ủ dột về tới vương phủ, một nhóm vương công đại thần khác vây quanh lấy ông, oán trách ông trước đã thả hổ về rừng, nay lại rước sói về nhà. Ông hối hận và nhờ các vương công đại thần bày mưu đặt kế hộ. Nhóm này nói, cho Viên Thế Khải ra làm việc cũng được, song phải hạn chế binh quyền của y, không nên để Phùng Quốc Chương và Đoàn Kỳ Thụy là thuộc hạ cũ của y làm thống lĩnh quân lính ngoài tiền tuyến. Qua bàn luận một hồi, có người cho rằng Phùng Quốc Chương còn có chút tình nghĩa, có thể dùng được, Bối lặc Tải Tuân cũng yêu cầu cho Khương Quý Đề bạn thân với mình thay thế Đoàn Kỳ Thụy. Ngay sau đó các vương công bèn giúp Nhiếp chính vương thảo lại bức điện, Nhiếp chính vương phái người đi ngay trong đêm ấy đem bức điện này tới Khánh vương phủ, bảo Dịch Khuông phát đi thay cho bức điện trước. Song người trong Khánh vương phủ trả lời rằng Khánh vương Dịch Khuông đang ngủ, có việc gì thì mai vào triều hãy hay. Ngày hôm sau Nhiếp chính vương vào triều chưa kịp đưa bức điện đó thì Dịch Khuông đã vào báo là bức điện trước đã phát đi từ tối hôm qua rồi.
            Cha tôi không phải là người không có chút chủ định nào. Chủ định của ông là duy trì sự thống trị của hoàng tộc, trước hết là lấy lại và nắm chặt binh quyền. Đó là một điều mà ông học được ở hoàng thất nước Đức sau lần làm sứ giả sang Đức hồi trước, tức là quân đội nhất thiết phải do hoàng thất nắm. Sau mấy ngày tôi lên ngôi, ông đã phái em trai là Tải Đào làm đại thần chuyên trách việc huấn luyện quân cấm vệ để xây dựng một đội quân hoàng gia. Sau khi Viên Thế Khải mượn cớ không vào triều, ông thay vua làm đại nguyên soái thống lĩnh quân đội cả nước, phái em trai là Tải Tuân làm đại thần trù bị xây dựng hải quân và Tải Đào phụ trách Quân tư xứ (cơ quan tổng bộ tham mưu), sau đó hai chú này của tôi trở thành đại thần hải quân bộ (bộ trưởng Bộ hải quân) và đại thần Quân tư phủ (tổng tham mưu trưởng).
            Nghe nói, lúc bấy giờ cha tôi thường bàn với vương công đại thần là dù Viên Thế Khải đàn áp quân cách mạng được hay thua chăng nữa cũng phải khử y đi. Nếu y thua thì lấy cớ thua trận mà giết, nếu y được thì cũng tìm cách tước bỏ binh quyền và sau đó tìm cách diệt y.  Tóm lại là quyết không để người Hán nắm quân đội nhất là không thể để binh quyền lọt vào tay Viên Thế Khải. Đằng sau kế hoạch này còn có nhiều dự định về việc nắm quyền thực tế lãnh đạo trong cả nước. Giả sử những dự định này là do cha tôi đặt ra thì, chưa nói đến trở lực bên ngoài, chỉ nói tài năng của ông cũng không thể nào thực hiện được. Vì vậy không những người theo Viên Thế Khải bất mãn với ông, mà chính anh em trong họ cũng thường than ngắn thở dài về ông.
            Hồi con của Lý Hồng Chương là Lý Kinh Mại trước khi sang Đức làm công sứ có đến xin chỉ thị của Nhiếp chính vương, chú bảy Tải Đào đi cùng ông vào cung nhờ ông nhắc hộ Nhiếp chính vương về việc quân cấm vệ; có lẽ vì lo tự mình nói không có kết quả, nên định dựa vào uy tín của Lý Kinh Mại. Lý Kinh Mại nhận lời và bước vào điện, nhưng được một lát đã bước ra ngay. Tải Đào đứng ngoài chắc mẩm Lý đã quên việc ông nhờ, bèn hỏi sao mau vậy. Lý Kinh Mại cười ngán ngẩm: Nhiếp chính vương gặp tôi chỉ nói ba câu “ông ở đâu tới đó?”', tôi trả lời, Nhiếp chính vương hỏi tiếp “bao giờ lên đường?”, tôi mới trả lời xong chưa kịp thưa tiếp thì vương gia lại nói ngay “tốt, tốt, cố gắng nhé. Thôi lui xuống đi”. Đến việc của tôi còm chưa kịp nói nữa là việc của ông!
            Bà nội tôi bị sưng nhọt ở vú, thầy lang chữa mãi chưa khỏi, cha tôi nghe lời các chú tôi cho mời một bác sĩ người Pháp đến chữa. Bác sĩ định mổ, bị cả nhà Thuần vương phản đối, chỉ còn cách bôi thuốc băng bó. Trước khi bôi thuốc bác sĩ đốt đèn rượu cồn khử trùng cho y cụ, cha tôi nom thấy khiếp quá vội hỏi phiên dịch: “Làm làm làm cái gì vậy? Định thiêu bà cụ à?”
            Chú sáu Tải Tuân đứng sau cha tôi thấy ông không biết tí gì về y học, vội lắc đầu mím môi ra hiệu cho phiên dịch đừng dịch cho bác sĩ nghe.
            Bác sĩ để thuốc lại rồi ra về. Mấy hôm sau bác sĩ rất lạ thấy bệnh tình của bà nội tôi vẫn không giảm chút nào, bèn xin cho xem lại các hộp thuốc bôi, cha tôi mang cả ra cho bác sĩ, thì ra tất cả vẫn còn y nguyên chưa hề mở ra. Các chú tôi lại một lần nữa lắc đầu thở dài.
            Thuần vương phủ có một quản gia tên là Trương Văn Trị rất thích bàn luận về “vương già” (Nhiếp chính vương). Có lần ông kể, gần vương phủ có một ngôi miếu nhỏ với một cái giếng, nghe nói có một vị “tiên” sống trong đó. Sau vụ Ngân Định Kiều (21), có một lần Nhiếp chính vương đi qua ngôi miếu nhỏ đó muốn tạt vào vái lễ “tiên gia”, tạ ơn “tiên gia” từng bảo hộ cho ông thoát chết. Ông vừa quỳ xuống vái, bỗng một con chồn lông vàng từ dưới bàn thờ nhảy vụt ra chạy mất. Tuần cảnh bèn báo tin này lên trên, các đại thần liền đồn rằng, “vương già” mệnh trời rất lớn, đến “tiên gia” cũng không dám nhận một vái của ông. Kể xong Trương Văn Trị nói toạc móng heo ra rằng, thì ra “vương già” đã sai người trông miếu chuẩn bị sắp đặt từ trước rồi!
            Sau khi Từ Hy chết, những người trong Thuần vương phủ đều thích tự xưng mình là phái duy tân, cha tôi cũng vậy. Nói về đời sống của cha tôi thì có rất nhiều hành động chống mê tín và theo thời mới. Tôi từng nghe người ta nói, “Phật già” (22) không phải thật sự chống duy tân đâu, những việc làm sau vụ Mậu Tuất chẳng phải là những việc Quang Tự muốn làm đó sao? Thuần vương cũng là một nhân vật thức thời, nếu không Từ Hy sau này sao lại để ông làm đại thần quân cơ? Những việc duy tân và quan hệ với người nước ngoài của Từ Hy ra sao ở đây không cần nói đến làm gì, nhưng việc duy tân của cha tôi thì tôi có biết được chút ít. Đối với những sự việc mà các “lão thần” cho là mới lạ thì ông không có thái độ bài xích. Thuần vương phủ là vương phủ đặt điện thoại và sắm ô tô trước nhất, người trong Thuần vương phủ cũng là những người cắt bỏ đuôi sam sớm nhất, và trong đám vương công quý tộc mặc âu phục sớm nhất cũng có cha tôi. Song ông hiểu biết thực sự về những việc “Tây” ra sao thì có thể lấy việc mặc âu phục làm ví dụ. Có lần, sau khi mặc âu phục được mấy ngày, ông hỏi Phổ Kiệt em trai thứ hai của tôi: “Tại sao áo sơ mi của chúng bay thì vừa thế mà của tao thì cứ dài thườn thượt hơn áo Tây nhỉ?”. Phổ Kiệt kiểm tra lại quần áo ông mặc, thì ra ông bỏ áo sơ mi ngoài quần nên phải khó chịu mất mấy ngày vì việc ấy!
            Ông còn từng đuổi mụ thầy cúng chữa bệnh cho bà tôi ra khỏi cổng, và đối với con nhím mà trong nhà không ai dám mó đến thì ông cũng dám lấy chân đá xuống cống, song sau đó mặt mày lại tái mét. Ông phản đối tụng kinh niệm phật, nhưng mỗi năm cứ đến ngày giỗ ngày tết thì ông rất coi trọng việc thắp hương cúng bái. Sinh nhật của ông là ngày mồng 5 tháng giêng âm lịch, ở Bắc Kinh có tục lệ “phá ngũ” đúng vào ngày hôm ấy, ông bèn cấm không cho mọi người nói đến hai chữ ấy, và ông lấy mảnh giấy mầu đỏ dán lên tờ lịch này hôm ấy, trên viết một chữ Thọ với nét bút rất dài. Phổ  Kiệt hỏi sao nét bút lạ đến thế, ông nói: “Gọi là trường thọ mà lỵ!”
            Tôi từng đọc nhật ký của cha tôi viết trong ba năm làm Nhiếp chính vương trông coi việc nước để tìm hiểu tình hình lúc bấy giờ. Tôi nhìn thấy được nhiều tài liệu cần thiết, song phát hiện có hai loại ghi chép rất lý thú. Một loại là ghi chép các việc thường lệ như tới ngày lập hạ thì “theo tục lệ phải hớt tóc nửa trọc”, tới ngày lập thu thì “theo lệ phải hớt tóc rẽ đường ngôi”, ngoài ra thì theo lệ phải mặc quần áo gì, ăn những thức ăn gì v.v. và v.v. Một loại là ghi chép tỉ mỉ về quan sát hiện tượng thiên văn và những đoạn tóm tắt về tin tức thiên văn đăng trên báo,có lúc kèm theo một vài bản sơ đồ vẽ rất cẩn thận. Qua đó có thể biết được nội dung cuộc sống của ông rất nghèo nàn và ông rất ham mê thiên văn. Giả sử ông sống trong thời đại  ngày nay, không biết chừng ông sẽ trở thành một nhà thiên văn học nổi tiếng. Song đáng tiếc là ông đã sinh ra trong xã hội thời ấy và gia đình ấy, hơn nữa là năm lên 8 đã trở thành một vị thân vương trong hoàng tộc.
 
 
---------------------------------------------------------------
(19) Phổ Vĩ (1880-1937), cháu nội Cung thân vương Dịch Hân. Trước cách mạng Tân Hợi làm đại thần cấm thuốc phiện. Sau Tân Hợi ở Thanh Đảo dưới sự bảo hộ của đế quốc Đức. Thanh Đảo bị Nhật chiếm, y lại theo Nhật. Thời gian này cùng Thăng Doãn tổ chức ra đảng Tông Xã không ngừng hoạt động phục hồi. Sau sự biến 19 tháng 8 năm 1931, y đứng ra làm hội trưởng Hội duy trì Tứ Dân Thẩm Dương, định lập “đế quốc Minh Quang” dưới sự ủng hộ của Nhật, song không lâu y bị bỏ rơi, sống bằng một khoản tiền của Nhật cấp cho tới chết ở Lữ Thuận. (Nguyên chú)
(20) Phùng Quốc Chương (1857-1919), người tỉnh Hà Bắc, cũng là tướng lĩnh đắc lực giúp Viên Thế Khải xây dựng quân Bắc Dương. Sau cách mạng Tân Hợi, y trở thành một trong những thủ lĩnh quân Bắc Dương, đồng thời là tay sai của đế quốc Anh và đế quốc Mỹ (Nguyên chú)
(21) Cầu Ngân Định gần Địa An Môn ở Bắc Kinh là nơi Tải Phong hằng ngày vào triều phải đi qua.Năm 1901, Uông Tinh Vệ và Hoàng Phục Sinh cho người đặt mìn tự chế giấu dưới cầu định ám sát Tải Phong, bị quân cảnh phát hiện nên âm mưu không thành. Uông và Hoàng bị bắt nhưng không bị cực hình vì nhà Thanh sợ thanh thế của nhân dân, đến khi tiến hành cuộc hoà nghị nam bắc (triều đình nhà Thanh với đảng cách mạng ở miền nam) thì hai người được thả, vụ án này gọi là Ngân Định Kiều.
(22) Từ Hy thích mọi người gọi bà là Phật già. (ND)
 
Đăng nhập để trả lời
0

Gia đình thân vương

 
            Tôi có bốn bà nội, Diệp Hách Na La Thị, chính thất phu nhân của ông nội không phải là bà nội ruột của tôi, bà đã mất 10 năm trước khi tôi ra đời. Nghe nói tính tình của bà này khác hẳn với chị (Từ Hy), bà rất thủ cựu. Sau khi Đồng Trị chết, Từ Hy vẫn xem hát vui chơi như thường còn bà thì khác, có lần bà được triệu vào cung xem hát, bà ngồi trước sân khấu nhưng hai mặt nhắm tịt, Từ Hy nói bà làm gì vậy, bà vẫn không mở mắt nói: “Bây giờ là quốc tang, em không xem hát được!”. Từ Hy bị một vố không biết nói thế nào, bà có rất nhiều điều kỵ, người trong nhà nói chuyện trước mặt bà phải rất cẩn thận, những tiếng như “xong rồi” (23), “chết” v. v.. phải thay bằng những tiếng “được rồi “hỷ” v.v. , Bà cả đời thờ phật, quanh năm phóng sinh, thắp hưởng khấn vái, mùa hè không dám vào vườn hoa nói là sợ giẫm phải kiến. Bà nhân từ với loài kiến là thế nhưng đánh đập gia nhân nô bộc thì chẳng chùn tay chút nào. Nghe nói Thuần vương phủ có một thái giám có tật co giật ở mặt, chính là vì từng bị ăn đòn bằng roi mây của bà.
            Bà đẻ cả thảy năm người con, con gái đầu sống đến 6 tuổi, con trai đầu sống chưa đến 2 tuổi cả hai cùng chết cách nhau không tới 20 ngày hồi mùa đông năm thứ 5 thời vua Đồng Trị. Con trai thứ hai là Quang Tự, 4 tuổi rời khỏi bà. Sau khi Quang Tự vào cung, bà đẻ con trai thứ ba nhưng chỉ sống được một ngày rưỡi. Con trai thứ tư Tải Quang được bà yêu chuộng hết mức, mặc ít thì sợ lạnh, ăn nhiều thì sợ đầy. Gác tía lầu son, thịt thà quá nhiều đến thiu thối, con em nhà giầu thường bị tiêu hoá không lành là thế. Phủ Giả trong Hồng Lâu Mộng có những “ngày nhịn đói”, thật là tiêu biểu cho cái cái đạo dưỡng sinh này của bọn quý tộc. Bà nội tôi rất tin đạo dưỡng sinh này, thường không chịu để cho con ăn no, nghe nói một con tôm cũng phải chia làm ba khúc cho ăn ba bữa, rốt cuộc người con thứ tư chưa đến 5 tuổi đã chết yểu vì không đủ dinh dưỡng. Thái giám là Ngưu Tường Tăng trong vương phủ từng nói: “Nếu không thế sao cậu năm (Tải Phong) lại được thừa kế vương già (Dịch Hoàn), chỉ vì lão phu nhân quá thương con nên các cậu trước bị chết hết!”
            Cha tôi tuy không phải con ruột của bà, song theo phép tắc tổ tông, ông phải chịu sự dạy bản của bà. Về mặt ăn uống, bà không hạn chế cha tôi và các chú tôi, nhưng về mặt tinh thần thì không lơi lỏng chút nào. Theo thái giám Ngưu Tường Tăng kể: Trước mặt lão phu nhân. cậu năm cậu sáu muốn cười cũng phải giữ ý, nếu cười ra tiếng thì lại bị lão phu nhân mắng ngay: Cười gì? Con nhà không có phép tắc!”
            Phu nhân thứ hai của Thuần hiền thân vương là Nhan Trát thị mất sớm. Phu nhân thứ ba Lưu Giai thị là bà nội ruột của tôi. Sau khi Diệp Hách La thị mất, bà nội tôi chủ quản trong gia đình. Bà tuy không khô khan cứng nhắc như bà nội Na La thị, song thần kinh thường ở trạng thái không bình thường. Nguyên nhân chứng bệnh này cũng là do vận mệnh của con cháu mà ra. Bà nội ruột tôi cũng có một con gái 2 tuổi đã chết. Bà có ba người con trai: Tải Phong, Tải Tuân và Tải Đào. Chú bảy Tải Đào được bà nuông chiều từ tấm bé, năm chú 11 tuổi bà nội tôi bỗng nhận được chỉ dụ của Từ Hy thái hậu bảo cho Tải Đào làm con thừa tự Bối tử Dịch Mô, anh em con chú con bác của ông nội tôi. Nhận được “chỉ dụ” bà nội tôi khóc ngất. Bà bị kích mạnh và từ đó thần kinh không được bình thường.
            Dịch Mô không có con trai lẫn con gái, được con thừa tự tất nhiên mừng rỡ, coi như đẻ được con trai, ba hôm sau mở tiệc linh đình cho  mời đông đủ bà con khách khứa đến ăn mừng. Vị Bối tử này ngày thường không biết cách phỉnh nịnh Từ Hy, nên từ lâu Từ Hy đã không vừa lòng, lần đó thấy ông vui mừng hớn hở thì bực tức và rắp tâm không để ông yên vui. Từ Hy  thường có câu “danh ngôn”: “Ai mà làm ta không vui một lúc, thì ta sẽ làm cho người ấy không vui suốt đời.” Không biết Dịch Mô trước đây có bị Từ Hy đầy đoạ gì không mà ông đã có lần vẽ một bức tranh trong lúc bực tức; trong tranh chỉ vẽ có một cái chân ám chỉ Từ Hy chỉ biết đi quấy phá việc nhà việc nước rối bời. Trong tranh còn kèm theo một bài thơ trút nỗi bực tức của mình, thơ rằng:
                        Tội nghiệp ta đã cố tránh chân,
                        Nai lưng dựng đài cốt ẩn thân.
                        Đài cao vòi vọi ba trăm thước,
                        Ba trăm chân cũng bước lại gần.
            Không biết vì sao Từ Hy lại biết được việc này. Để trút giận, bà bỗng lại ra một chỉ dụ, lệnh cho chú bảy Tải Đào đã 5 năm làm con  thừa tự Dịch Mô chuyển sang làm con thừa tự của Chung quận vương Dịch Hợp, em trai thứ 8 của ông nội tôi. Vợ chồng Dịch Mô cùng bị ốm liệt giường vì bị kích động về việc này. Không lâu Dịch Mô ốm chết trên giường, Từ Hy lại cố ý lệnh cho Tải Đào, con thừa tự của Dịch Mô bị Từ Hy cướp đi thay mặt bà đến viếng Dịch Mô, tất nhiên vì thay mặt thái hậu Tải Đào không quỳ được. Thế là chưa đến nửa năm vợ Dịch Mô cũng uất ức đến chết.
            Trong khi Từ Hy lần thứ hai ra lệnh cho chú bảy Tải Đào làm con thừa tự, thì bà cũng lệnh cho chú sáu Tải Tuân đi làm con thừa tự cho Mẫu quận vương Dịch Chí là anh em con chú với ông nội tôi. Thật là như trong thơ của Bối tử Dịch Mô đã nói “đài cao vòi vọi ba trăm thước, ba trăm chân cũng bước lại gần”. Bà nội Lưu Giai Thị đóng cửa ngồi trong nhà bỗng chốc thiếu mất một người con. Hai việc này xảy ra không lâu bà lại gặp phải việc thứ ba. Chả là bà nội vừa mới dạm vợ cho cha tôi thì nhận được chỉ dụ của Từ Hy chỉ định việc hôn nhân cho cha tôi. Cha tôi vốn đã có một nơi rồi, năm Canh Tý liên quân 8 nước vào Bắc Kinh, nhiều người Mãn sợ liên quân giết nên cả nhà tự sát, gia đình bên gái này cũng tự sát hết, khi cha tôi theo Từ Hy và Quang Tự trốn đi Tây An, bà nội lại tìm cho cha tôi một đám khác, hơn nữa đã trao “đại định” (vật như ý) cho con dâu tương lai. Theo tục lệ, trao túi (24) nhỏ gọi là trao “tiểu định” , nghĩa là còn có thể thay đổi đến khi đã trao “đại định”, nếu chồng chưa cưới chết hoặc xảy ra việc gì thì theo lễ giáo phong kiến vợ chưa cưới sẽ giữ tiết suốt đời hoặc chết theo “chồng”. Từ Hy tất nhiên chẳng đếm xỉa gì đến đồng ý của hai bên thông gia hoặc bản thân hai người đính hôn, bà ta làm việc gì đố còn ai dám nói. Bà nội tôi ở vào thế khó xử, không đồng ý thì sợ tội chống lệnh của Từ Hy, mà đồng ý thì sợ đằng gái xảy ra điều đáng tiếc. Mặc dù lúc bấy giờ có người an ủi bà nội tôi rằng phụng chỉ của thái hậu đi thoái hôn thì sẽ không xảy ra vấn đề gì hết, song bà nội tôi vẫn không thông, do đó bệnh thần kinh lại tái phát.
            Sáu năm sau, hôm các đại thần quân cơ đem chỉ dụ đến rước tôi vào cung, bệnh của bà nội tái phát trầm trọng một lần nữa. Bà nội nuôi nấng tôi từ khi tôi mới lọt lòng mẹ, bà rất thương tôi. Nghe vú em nói, đêm nào bà cũng trở dậy một hai lần rón rén đến bên giường trông tôi ngủ, bà không đi giầy, guốc vì sợ gây tiếng động làm tôi thức giấc. Bà trông nom tôi như vậy cho đến khi tôi lên ba, bỗng nghe nói Từ Hy muốn tôi vào cung, bà liền ngất lịm. Từ đó bệnh thần kinh của bà càng dễ tái phát, cứ như vậy lúc khỏi lúc đau đến khi mất. Bà mất năm 59 tuổi, tức năm tôi rời Bắc Kinh đi Thiên Tân.
            Thuần thân vương Tải Phong 8 tuổi thì bố mất, ông sống cuộc đời quý tộc truyền thống theo di huấn của Thuần hiền thân vương và dưới sự giáo huấn của hai chị em Từ Hy. Ông làm Nhiếp chính vương được hưởng lộc trọng quyền cao, trên có mẹ trông nom việc nhà, dưới có cả một cơ cấu làm việc do quan Nhị phẩm trưởng sử (25) cầm đầu quản lý tài chính, thù tiếp ; có hàng loạt vệ quân, thái giám và người hầu để ông sai khiến, lại còn một đám quan khách bày mưu tính kế cho ông và cùng ông chuyện trò, vui chơi. Ông chẳng cần bận tâm đến đời sống trong nhà, cũng chẳng cần biết đến tri thức sản xuất. Ông tiếp xúc với bên ngoài không nhiều, trừ những cuộc giao tiếp theo lễ nghi, có thể nói ông chẳng có gì gọi là sự từng trải. Hoàn cảnh và đời sống của ông là chỉ như vậy mà thôi.  
            Cha tôi có hai vị “phu chin”, hai bà đẻ được 4 trai 7 gái.
            Bà mẹ thứ hai của tôi sau năm Tân Hợi (1911) mới đến, em gái thứ ba cùng mẹ và hai em trai với 4 em gái khác mẹ của tôi sinh ra trong thời kỳ Dân quốc. Em gái lớn và em trai thứ ba đã chết sớm. Cha tôi chết đầu năm 1951, mẹ tôi chết năm 1921.
            Mẹ tôi và cha tôi khác hẳn nhau. Có người nói dâu người Mãn giỏi hơn giang hơn rể người Mãn, điều đó có lẽ đúng. Chẳng hạn như Uyển Dung vợ tôi và mẹ tôi đều hiểu biết nhiều hơn tôi và cha tôi, nhất là biết hưởng thụ và mua sắm. Nghe nói cô gái Mãn đảm đang việc nhà, được anh và chị dâu kính nể, là vì cô gái Mãn nào cũng có dịp được chọn vào cung làm cung nữ (theo tôi nghĩ, có lẽ anh em trai vì bận chơi suốt ngày hoặc bận công việc quan lại, nên chị em gái phải gánh lấy trách nhiệm trông nom việc nhà, quản lý tài chính, do đó gái giỏi hơn trai là vậy). Mẹ tôi khi chưa xuất giá ở nhà rất được chiều chuộng, Từ Hy cũng từng nói “con bé này gớm lắm, đến ta cũng chẳng sợ”. Mẹ tôi mà tiêu tiền thì phải biết, bà nội và cha tôi cũng đành chịu. Thu nhập của cha tôi không kể địa tô lộc bổng và tiền dưỡng liêm (26). Mỗi năm được 5 vạn lạng bạc, cho đến khi sống trong “triều đình nhỏ” thời kỳ Dân quốc, ông vẫn lĩnh được nguyên số ấy. Mỗi lần tiền thu nhập vào tay, chẳng bao lâu đã bị mẹ tôi tung phí hết sạch. Về sau cha tôi nghĩ ra nhiều cách để hạn chế mẹ tôi tiêu tiền, như phân chia tiền bạc với mẹ tôi, quy định cho mẹ tôi chỉ được tiêu một số tiền nhất định..., song đều không có hiệu quả. Cha tôi còn nghĩ ra cách đập phá đồ đạc để doạ dẫm, như ném bình lọ trên bàn để tỏ ý tức giận và quyết tâm. Nhưng cứ đập phá mãi như vậy lại tiếc của, ông bèn sai người chuẩn bị sẵn những vật ném không vỡ như ấm đồng, hộp thiếc chẳng hạn (em trai tôi đã thấy những “đạo cụ” này) để ném cho sướng tay. Nhưng cũng chẳng bao lâu mẹ tôi đã biết tỏng cái “oai phong” ấy, rốt cuộc cha tôi lại phải lòi tiền ra để mẹ tôi vung phí. Mỗi lần bà nội tôi giở sổ chi phí do quản gia mang đến thì bà lại rớt nước mắt thở dài, và cha tôi chỉ còn cách lại sai quản gia tiếp tục đem bán đồ cổ, ruộng đất.
            Mẹ tôi cũng thường đem bán trang sức quý báu của mình. Sau này tôi mới được biết, mẹ tôi không những tung tiền để hưởng thụ, mà còn giấu cha tôi dùng vào hoạt động chính trị, đút lót cho Viên Đắc Lượng, tổng binh thống lĩnh bộ binh nha môn thời kỳ Dân quốc, thuộc hạ cũ của Vinh Lộc để lôi kéo tướng lĩnh Phụng Thiên. Mẹ tôi đã cùng với các thái phi tiến hành việc này, bỏ ra không biết bao nhiêu tiền của và trang sức hòng thực hiện phục hồi. Phổ Kiệt hồi nhỏ đã từng thấy mẹ tôi và các thái giám của thái phi dấm dúi bàn bạc sự việc, có hỏi thì mẹ tôi trả lời: “Bây giờ con hãy còn bé, sau này các con lớn lên khắc biết mẹ đang làm gì”. Mẹ tôi có biết đâu bao nhiêu tiền của chỉ làm đầy ắp cái túi của Viên Đắc Lượng mà thôi chứ không được việc gì hết. Đối với thuộc hạ cũ của cha mình, mẹ tôi rất mực tín nhiệm, đối với Viên Thế Khải xưng đế, trẻ con trong nhà cũng ghét mà chọc thủng mắt tấm ảnh Viên Thế Khải đăng trên báo, chỉ có mẹ tôi là nghĩ khác: “Dù sao cũng không đáng trách Viên Thế Khải, chỉ tại Tôn Văn mà thôi!”
            Các em tôi từ nhỏ chẳng đứa nào sợ ông nội và bố, chỉ sợ mỗi mẹ tôi. Còn nô bộc đày tớ thì càng không cần phải nói. Có một hôm cha tôi từ bên ngoài trở về nhà thấy cửa sổ chưa đóng kỹ bèn hỏi thái giám: “Sao không đóng kỹ?”. Thái giám này trả lời: “Bà lớn chưa về, chưa vội đóng ạ”. Bố tôi giận phạt ông này quỳ dưới đất. Một đầy tớ gái nói với thái giám: “May mà không phải là ông cụ, chứ không còn bị đánh nát da nát thịt cho xem”. “Ông cụ” là chỉ mẹ tôi, vì cũng như Từ Hy, mẹ tôi rất thích người khác gọi mình bằng cái tên đàn ông ấy.
            Tôi 3 tuổi vào cung, đến 11 tuổi mới được thấy bà nội và mẹ mình. Đó là lần bà nội và mẹ được thái phi vời vào cung. Gặp bà nội và mẹ tôi thấy như người lạ, không cảm thấy thân mật. Nhưng tôi vẫn nhớ rõ ánh mắt của bà nội tôi cứ dán mãi vào người tôi, và hình như ở khoé mắt ướt nhoà. Còn mẹ tôi đã để lại cho tôi ấn tượng khác hẳn, gặp mẹ, tôi không những xa lạ mà còn thấy sợ sệt. Mỗi lần thấy tôi bà lại nghiêm nét mặt lên giọng: “Hoàng đế phải đọc nhiều sách thánh huấn của tổ tông đấy nhé”, “Hoàng đế chớ ham ăn, thân mình của hoàng đế là thánh thể, hoàng đế phải ngủ sớm dậy sớm nhé...”. Bây giờ hồi tưởng lại tôi vẫn còn thấy cảm giác lành lạnh ấy. Nhân tình thế thái của bà nội xuất thân thấp hèn và mẹ tôi xuất thân tiểu thư trong phủ đại học sĩ thật là đã biểu lộ ra khác hẳn nhau.
 
 
---------------------------------------------------------------
(23) có nghĩa bóng là chết rồi. (ND)
(24) Túi bằng vải, gấm... nhỏ bằng  nửa bàn tay. (ND)
(25) Quan do nội phủ phái đi các vương phủ làm quản gia tối cao, là chức quan nhị phẩm thế tập. Thật ra không làm việc trong vương phủ, chỉ khi nào có việc hôn nhân, tang viếng thì mới vào vương phủ chốc lát, còn ngày thường không vào vương phủ.  
(26) Ngoài lộc bổng triều đình còn cấp cho quan lại một số tiền để tỏ ý yêu cầu quan lại phải liêm khiết. Số tiền này gọi là tiền dưỡng liêm. (Nguyên chú)
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 09.02.2022 05:17:45 bởi hoi_ls>
CHƯƠNG II
THỜI THƠ ẤU CỦA TÔI 
 
Lên ngôi và thoái vị  

            Sẩm tối ngày 20 tháng 10 âm lịch năm thứ 34 thời vua Quang Tự, trong phủ Thuần vương xảy ra một cuộc hỗn loạn rất lớn: Tải Phong mới được phong Nhiếp chính vương chưa kịp đem sắc chỉ của Từ Hy về phủ thì phu nhân của ông đã ngất lịm. Các thái giám và nữ tỳ trong vương phủ sắc nước gừng đổ cho phu nhân uống, kẻ thì chạy đi mời thầy thuốc, tíu tít cả lên. Đằng kia, tiếng bé Phổ Nghi gào khóc không ngớt và tiếng người lớn dỗ dành ồn ào, Nhiếp chính vương luống cuống hết chạy ra lại chạy vào, ông gọi các đại thần quân cơ và thái giám trong triều đi theo ông tìm quần áo thay cho đứa bé, chợt nhớ ra phu nhân đang ngất chưa tỉnh, vội vàng bảo mọi người mau đi trông nom phu nhân, lúc ấy ông lại quên mất các đại thần quân cơ đang chờ rước vua tương lai vào cung... Sau cuộc rối loạn hồi lâu, phu nhân mới tỉnh dậy và được dìu vào nghỉ ở buồng trong, nhưng ở buồng ngoài nhà vua tương lai vẫn ì ra đấy chống lại chỉ dụ, vừa khóc vừa đánh không cho thái giám đến bồng đi. Các thái giám chỉ biết cười gượng đứng chờ các đại thần quân cơ sai khiến, các đại thần quân cơ thì lại đứng bó tay chờ Nhiếp chính vương nghĩ cách, còn Nhiếp chính vương thì chỉ biết gật gật gù gù mà chẳng còn cách gì hơn... 
            Cảnh trên là do các phụ lão trong nhà kể lại, còn tôi từ lâu đã không còn ấn tượng về nó nữa. Họ nói, cũng may có vú em của tôi nên cuộc hỗn loạn mới kết thúc được. Vú em thấy tôi khóc quá, bèn chìa vú ra cho tôi bú, đến lúc đó mới bịt được tiếng khóc. Hành động tuyệt vời ấy đã gợi ý cho các đại thần quân cơ đang bó tay, họ liền bàn với cha tôi và quyết định để vú em bế tôi cùng vào cung, tới Trung Nam Hải thì giao cho thái giám trong cung bồng vào gặp Từ Hy thái hậu.
            Lần giáp mặt với Từ Hy ấy tôi còn nhớ mang máng, vì bị kích động mãnh liệt. Tôi nhớ lúc đó tự dưng mình ở giữa đám người lạ mặt, trước mắt tôi là bức rèm xám xịt, từ bên trong ló  ra một bộ mặt gày guộc và hết sức xấu xí, đó chính là Từ Hy. Nghe nói khi tôi vừa trông thấy Từ Hy liền khóc thét lên, mình run cầm cập. Từ Hy sai người lấy một xâu kẹo cho tôi bị tôi vứt luôn xuống dưới đất và gào khóc luôn mồm: “Vú bế cơ! Vú bế cơ!”. Từ Hy rất bực nói: “Thằng bé này chán quá, bế đi đâu chơi cho khuất mắt đi!”.
            Tôi vào cung đến ngày thứ ba thì Từ Hy mất, hơn một tháng sau tức ngày mồng 2 tháng chạp thì trong triều tổ chức “lễ đăng quang”. Buổi lễ đăng quang đó bị tôi gào khóc quấy phá làm mất cả vẻ trang nghiêm.
            Lễ đăng quang được cử hành tại điện Thái Hoà. Theo chương trình thì trước buổi lễ tôi phải tới điện Trung Hoà để các đại thần cai quản quân lính trong cung bái kiến, rồi ra điện Thái Hoà để trăm quan vào triều kiến chúc mừng. Tôi bị họ quấy rầy hồi lâu, hôm ấy trời lại rét, vì vậy khi người ta khiêng tôi tới điện Thái Hoà đặt trên ngai vua vừa cao vừa lớn thì đã vượt quá mức chịu đựng của tôi rồi. Cha tôi nghiêng mình quỳ một gối xuống bên ngai vua, hai tay đỡ tôi không cho tôi vùng vằng, tôi giãy nảy khóc thét: “Bé không ở đây! Bé muốn về nhà! Bé không ở đây! Bé muốn về nhà!”. Cha tôi vã cả mồ hôi trán. Văn võ bách quan ba lần quỳ xuống chín lần rập đầu lia lịa, còn tôi thì càng khóc nhiều. hơn. Cha tôi buộc phải dỗ ngọt: “Đừng khóc, đừng khóc, sắp xong rồi, sắp xong rồi!”. 
            Buổi lễ đăng quang kết thúc, văn võ bách quan thì thào bàn luận: Sao lại nói sắp xong rồi” (27)? Lại nói “về nhà” là ý gì nhỉ?... Họ xì xào bàn tán và đều chán nản, dường như phát hiện triệu chứng không lành từ lời nói đó.
            Về sau có một số ký sự tả về buổi lễ hôm đó đã thêm mắm thêm muối rằng, sở dĩ tôi khóc là vì tiếng chiêng trống nổi lên làm tôi sợ, còn nói cha tôi thấy tôi khóc quá bèn lấy con hổ con, đồ chơi trẻ em ra dỗ dành tôi mới nín. Thật ra buổi lễ hôm đó là tổ chức trong thời gian “quốc tang”, tuy có đội nhạc hoàng gia nhưng không nổi kèn trống, còn nói lấy đồ chơi trẻ em thì càng không có việc đó. Nhưng các vị đại thần lo âu vì hai câu nói gở là sự thật. Có sách còn nói, không đầy 3 năm, triều đình nhà Thanh bị chấm dứt thật và có người về vườn thật. Xem ra thì hai câu nói đó quả là hai câu nói gở, nên các đại thần cảm ứng rất nhạy.
            Thực ra, cảm ứng thật sự không phải vì hai câu nói ngẫu nhiên ấy. Nếu giở lịch sử ghi chép hồi đó thì sẽ dễ hiểu nỗi lo âu của văn võ bách quan bắt nguồn từ đâu. Chỉ cần giở Thanh giám cương mục ra xem đoạn ghi chép những sự việc lớn xảy ra trước một năm khi tôi lên ngôi thì cũng đủ rõ:
            Tháng 7 mùa thu năm thứ 33 thời vua Quang Tự. Đảng cách mạng... dấy binh ở Quảng Châu... đánh chiếm Dương Thành...
            Tháng 11, mùa đông, Tôn Văn, Hoàng Hưng cùng tấn công và chiếm được Trấn Nam Quan (nay đổi tên là Mục Nam Quan (28) - tác giả) ở Quảng Tây...
            Lệnh: Cấm học sinh làm chính trị và hội họp, diễn thuyết.
            Tháng giêng mùa xuân, năm thứ 34. Quảng Đông bắt giữ tàu Nhật Bản buôn lậu súng ống đạn dược: tìm cách thả đi.
            Tháng 3, Tôn Văn, Hoàng Hưng sai vây cánh tấn công đánh chiếm được Hà Khẩu ở Vân Nam...
            .....
 
            Quyển Thanh giám cương mục này được biên soạn và xuất bản trong thời kỳ Dân quốc (29) tài liệu làm căn cứ chủ yếu là lấy trong hồ sơ của chính phủ nhà Thanh. Trong số hồ sơ đó tôi thấy có nhiều chỗ có chữ “thua chết”, “thua chạy”. Những chữ này càng nhiều chứng tỏ bão táp cách mạng ở khắp nơi ngày càng mãnh liệt. Đây chính là nguồn lo âu của các vương công đại thần lúc bấy giờ. Tới thời Tuyên Thống thì tình hình ngày càng nghiêm trọng. Việc dùng Viên Thế Khải sau này làm cho một số người nơm nớp lo sợ, cho rằng bên ngoài có Đảng cách mạng, bên trong có Viên Thế Khải, những điềm gở từng xuất hiện trong lịch sử nay đều tập trung cả vào thời Tuyên Thống hết.
            Tôi làm vua ba năm một cách mơ hồ và cũng rời khỏi ngôi vua một cách mơ hồ. Việc xảy ra trong những ngày cuối cùng trước khi tôi thoái vị cho tôi ấn tượng sâu sắc nhất là: một hôm, trong gian nhà ấm phía đông điện Dưỡng Tâm, Long Dụ thái hậu ngồi trên giường ấm bên cửa sổ phía nam cầm khăn tay lau nước mắt, trước mặt thái hậu có một ông già béo phị quỳ trên thảm đỏ rải dưới đất, trên mặt vẫn còn vết nước mắt. Tôi ngồi bên phải đằng sau thái hậu lấy làm lạ, không.biết tại sao hai người lớn lại khóc? Lúc đó trong diện chỉ có ba người chúng tôi, ngoài ra không còn ai hết, thật là yên lặng. Ông già béo phị vừa nói vừa khịt mũi rất kêu, nói gì thì tôi hoàn toàn không hiểu. Về sau tôi mới biết ông già béo phị ấy chính là Viên Thế Khải. Đó là lần duy nhất tôi thấy Viên Thế Khải, và cũng là lần chót Viên Thế Khải gặp thái hậu. Người ta nói với tôi chính lần ấy Viên Thế Khải trực tiếp nêu với Long Dụ thái hậu vấn đề tôi thoái vị. Sau lần gặp thái hậu đó, Viên Thế Khải mượn cớ gặp nạn ở Đông Hoa Môn (30) không vào triều nữa.
            Sau cuộc khởi nghĩa Vũ Xương, khắp nơi nổi dậy hưởng ứng, thống soái người Mãn không chỉ huy nổi tân quân Bắc Dương ở các trấn để đánh dẹp quân Cộng hoà, Nhiếp chính vương không còn cách nào khác phải chấp nhận đề nghị sử dụng Viên Thế Khải do bọn Dịch Khuông nêu ra. Viên Thế Khải là người “được giá mới bán”, lại có bạn tâm giao Từ Thế Xương làm đại thần nội các hiệp biện trong cung cấp tin tức thường xuyên cho y biết. Khi được chức tổng lý nội các và đại thần khâm sai nắm hết toàn bộ binh quyền và chính quyền, lúc đó mới chịu nhận chức và hạ lệnh quân Bắc Dương tấn công quân Cộng hoà. Sau khi chiếm lại được Hán Dương, y án binh bất động và lúc ấy y được triệu về Bắc Kinh triều yết Long Dụ thái hậu và Nhiếp chính vương.
            Viên Thế Khải lúc này không còn là Viên Thế Khải hồi trước nữa, y không những đã nắm quyền chính trị và quân sự, mà còn được người nước ngoài thích thú, lại thêm có bạn trong Đảng cách mạng nữa. Sau khi quân Bắc Dương chiếm lại Hán Dương, công sứ Anh được chỉ thị của chính phủ mình bảo báo cho Viên Thế Khải biết: nước Anh “đã có tình cảm hết sức tốt đẹp” (31) đối với Viên Thế Khải. Viên Thế Khải tới Bắc Kinh không lâu thì tổng lãnh sự Anh ở Vũ Xương được lệnh của công sứ Anh, đứng ra điều đình chiến sự giữa quân Thanh với quân cộng hoà. Bạn của Viên Thế Khải trong Đảng cách mạng chủ yếu là Uông Tinh Vệ, người đã từng mưu giết Nhiếp chính vương nhưng không thành. Sau khi Uông Tinh Vệ bị bắt, y được Túc thân vương Thiện Kỳ đối xử rất tử tế. Trong tập niên giám của cha tôi có ghi, đó là “để ngăn chặn lòng phản trắc”, thật ra không phải như vậy. Tôi có một người bà con sau này cho biết lúc bấy giờ có một người Nhật tên là Nishida Koichi thông qua cố vấn người Nhật của Thiện Kỳ báo cho Thiện Kỳ rằng người Nhật không đống ý giết Uông Tinh Vệ. Lúc bùng nổ cuộc khởi nghĩa Vũ Xương thì Uông Tinh Vệ được thả, y bèn nắm lấy thời cơ đi lại làm quen với vương công quý tộc thuộc bọn Thiện Kỳ. Viên Thế Khải tới Bắc Kinh, Uông Tinh Vệ liền mò đến với ông ta và nhanh chóng trở thành bạn thân của Khắc Định, con cả của Viên Thế Khải và là mưu sĩ của Viên Thế Khải, đồng thời trở thành “chiếc cầu” giữa Viên Thế Khải với một số nhân vật trong quân Cộng hoà. Những tin tức phía quân Cộng hoà thông qua con đường này liên tiếp truyền đến Viên Thế Khải, các nhân vật phái lập hiến cũng dần dần tỏ ý có tình cảm với Viên Thế Khải. Do có thêm nhiều bạn mới cộng tác với nhóm bạn cũ trong ngoài nước và trong ngoài triều đình, vì vậy Viên Thế Khải trở thành nhân vật hiểu rõ tình hình của các phía nhất và có thể tiến hành mọi sự việc một cách thuận lợi. Không đầy một tháng về Bắc Kinh, Viên Thế Khải thông qua Dịch Khuông giở mánh khoé xúi Long Dụ thái hậu gạt Nhiếp chính vương ra rìa và cho Phan Để về vườn. Kế đó lại mượn cớ tiếp tế quân dụng, rút hết tài khoản của hoàng thất, đồng thời buộc các vương công quý tộc góp tiền cho quân đội. Các vương công quý tộc bị một vố đau như cát da cắt thịt, tài khoản của hoàng thất khô cạn, và đến lúc ấy quyền hạn về chính trị, quân sự và kinh tế đã nằm gọn trong tay Viên Thế Khải. Tiếp đó, Viên Thế Khải gợi ý cho Lục Chinh Tường, công sứ của triều đình nhà Thanh tại nước Nga liên hợp các công sứ trú tại nước ngoài khác gửi điện về triều đình nhà Thanh yêu cầu vua thoái vị, trong khi ấy y lấy danh nghĩa toàn thể quốc vụ viện vào cung bí mật tâu với thái hậu rằng ngoài con đường thực hành cộng hoà thì không còn con đường nào khác. Tôi tìm thấy trong đống hồ sơ ngày tháng mật tâu thì đúng là ngày mà tôi gặp Viên Thế Khải như đoạn trên đã kể, tức là ngày 28 tháng 11. Và như vậy tôi mới biết tại sao thái hậu sau đó cứ khóc mãi. Viên Thế Khải mật tâu hôm ấy làm cho thái hậu hoảng sợ nhất là mấy câu sau đây: “... hải quân đã làm phản hết, nơi hiểm trở không còn nữa, ai mà biết được với số quân ở sáu trấn ấy có giữ được Bắc Kinh và Thiên Tân hay không? Nếu như cố làm như nhà Chu rời đi nơi khác, thì cũng không có chỗ mà dung thân”, “... các nước bạn ở phương Tây và phương Đông đã cho người ra điều đình chỉ yêu cầu ta cải cách chính trị thôi, nếu chờ lâu, sự việc căng thẳng thì khó tránh được họ sẽ không can thiệp. Và quân cộng hoà cũng vì vậy sẽ ác cảm với triều đình. Xem qua lịch sử cách mạng Pháp, nếu như sớm thuận theo dư luận thì Louis sao đến nỗi chẳng còn con cháu nào...”.
            Long Dụ thái hậu nghe xong sợ quá vội triệu tập hội nghị ngự tiền, xin ý kiến của vương công quý tộc dòng dõi. Sau khi được biết nội dung mật tâu của Viên Thế Khải và nghe những lời nạt nộ của y, các vương công quýt tộc rất sửng sốt, họ sửng sốt không phải cân chuyện Cách mạng Pháp, mà sửng sốt vì Viên Thế Khải đã chuyển biến đột ngột. Viên Thế Khải vốn một mực chống lại việc thực hiện cộng hoà trong cuộc đàm phán giữa quân Thanh với quân cộng hoà, kiên quyết chủ trương quân chủ lập hiến. Trong một bức thư viết cho Lương Đỉnh Phần, y nói: “Quyết không phụ lòng trẻ mồ côi và quả phụ (chỉ tôi và thái hậu)”. Sau khi y đến Bắc Kinh không bao lâu, hôm công bố lệnh cho phép dân tự do cắt bỏ đuôi sam, trên đường về sau khi tan triều, Thế Tục chỉ vào đuôi sam sau gáy của mình cười hỏi Viên: “Ông anh ơi, ông tính sao với cái đuôi này hở?”. Viên Thế Khải trả lời nghiêm nghị: “Ông yên trí, tôi hãy còn rất thích nó, dù sao tôi cũng phải nghĩ cách giữ lấy nó!”. Vì vậy một số người từng tỏ ra không tin tưởng y lúc bấy giờ rất vui mừng, họ nói: “Viên Cung Bảo quyết không làm Tào Tháo đâu!”. Cuộc đàm phán giữa hai bên Cộng hoà và triều đình nhà Thanh đã đi đến hiệp nghị có tính chất nguyên tắc là sẽ giao vấn đề quốc thể cho quốc hội lâm thời biểu quyết, nhưng về vấn đề thành viên của quốc hội, thời gian và địa điểm họp quốc hội vẫn chưa ngã ngũ vì phía bên triều đình nhà Thanh một mực kiên trì ý kiến của mình. Trong khi còn đang bàn cãi thì ở Nam Kinh, chính phủ lâm thời ra đời và bầu ông Tôn Trung Sơn làm Đại tổng thống lâm thời. Ngày hôm sau Viên Thế Khải bỗng nhiên cách chức Đường Thiệu Nghi, và tự mình trực tiếp giao thiệp với đại biểu của quân đội Cộng hoà bằng điện báo. Vấn đề quốc thể còn chưa giải quyết bỗng nhiên lại xuất hiện vấn đề Viên Thế Khải yêu cầu vua Thanh thoái vị, tất nhiên khiến hoàng thất vô cùng kinh hãi.
            Thì ra lúc đó Viên Thế Khải đã có người nước ngoài ủng hộ, và trong quân Cộng hoà y cũng rất nhiều bạn bè với mức độ có thể ảnh hưởng được hành động của phía Cộng hoà. Những người thuộc Đảng cách mạng trước vốn theo Đảng lập hiến lúc này đã biết rõ Viên Thế Khải là niềm hy vọng của họ! Niềm hy vọng này san đó lại lan truyền sang một số người theo chủ nghĩa cộng sản ngây thơ. Vì thế phía quân Cộng hoà đã ra quyết định: Chỉ cần Viên Thế Khải tán thành Cộng hoà thì Cộng hoà sẽ thành công nhanh chóng, miễn là Viên Thế Khải chịu thì có thể mời Viên Thế Khải làm Đại tổng thống nhiệm kỳ đầu. Điều đó phù hợp với lý tưởng của Viên, vả lại xung quanh Nhiếp chính vương đã về vườn còn có một thế lực xưa nay vẫn đối địch với y, dù y có đánh thắng Đảng Cách mạng hay thua thì thế lực đó cũng chẳng dung tha gì y. Vì vậy y quyết định tiếp nhận điều kiện ấy, song còn cần phải suy nghĩ thêm về việc sắp xếp cho dòng dõi nhà Thanh. Giữa lúc đó bỗng nghe nói Tôn Trung Sơn ra làm Đại tổng thống lâm thời tại Nam Kinh, y không nôn nóng thế nào được. Triệu Bính Quân, một tâm phúc và là trợ thủ của y sau này tiết lộ: “Hạng Thành tức Viên Thế Khải vốn có chí lớn, lại biết lợi dụng thời cơ. Trong tay tuy có nhiều quân nhưng vẫn cố tránh mang tiếng lấy danh nghĩa vua để bịp người đời như Tào Mạnh Đức, nên một mặt dựa vào thế lực miền bắc cố dàn xếp với thế lực miền nam, mặt khác lại dựa vào thế lực miền nam để ức chế thế lực miền bắc. Hạng Thành thoạt đầu tưởng miền nam dễ gần gũi nên thiên về miền nam, tới khi miền nam bầu tổng thống xong mới ngớ ra nam bắc rốt cuộc vẫn là hai. Ông không muốn thế lực miền nam khống chế. Do đó ông quyết định tìm cách đối phó với dòng dõi nhà Thanh, trước hết đe dọa và ép buộc các vương công quý tộc, đe doạ và ép buộc vua Thanh, sau nữa là doạ già doạ non thái hậu để đoán dò tâm lý của thái hậu rồi đưa ra điều kiện ưu đãi làm mồi, để đạt đến mục đích tự thái hậu ban bố chỉ dụ hoàng đế thoái vị và y có toàn quyền tổ chức chính phủ lâm thời”. Đó mới là nguyên nhân chính khiến Viên Thế Khải thay đổi chủ trương một cách đột ngột.
            Dù cho thay đổi thế nào đi nữa, nhưng nếu muốn tìm thấy nét mặt hung dữ trên khuôn mặt Viên Thế Khải giỏi rớt nước mắt thì khó mà nhìn thấy được. Hôm y gặp thái hậu lần cuối, trên đường về qua Đông Hoa Môn bị ăn lựu đạn của vài ba đảng viên Đảng cách mạng manh động, khiến y có dịp vin cớ không vào cung nữa mà chỉ phái trợ thủ Triệu Bỉnh Quân, Hồ Duy Đức... thay thế để đối phó với hoàng thất. Cái vai trò mà y không tiện đóng đó đã để cho các trợ thủ của y đóng.
            Song kết quả của sự thay đổi ấy cũng dẫn đến sự thay đổi trong những người trước kia từng tin tưởng ở Viên Thế Khải.
            “Ai bảo Viên Thế Khải không phải là Tào Tháo?”
            Cung vương Phổ Vĩ, Túc vương Thiện Kỳ, công tước Tải Trạch đều luôn luôn nghĩ như vậy. Các bối lặc trẻ xung quanh Thuần vương cũng nghĩ như vậy. Có một học sinh trường con em quý tộc sau này nói, lúc bấy giờ Quế Xuân Tăng, đại thần dân chính người Mãn từng tuyên bố, để trả lời hành động thù địch và giết hại người Mãn xảy ra ở khắp nơi, y đã tổ chức cảnh sát người Mãn và học sinh trường con em quý tộc trả đũa người Hán ở Bắc Kinh. Thăng Doãn, thống đốc người Mông Cổ lúc bấy giờ ở thành Tây An xa xôi cũng đem quân rời Tây An đi “cần vương”, Viên Thế Khải gửi điện tán đồng và lệnh cho dừng lại Đông Quan. Trong khi ấy cũng có nhiều lời đồn rằng đảng Tông Xã (32) sẽ có nhiều hành động khủng bố. Tóm lại, một số vương công đại thần người Mãn và Mông Cổ đã hằm hè như muốn thí mạng. Hội nghị ngự tiền lần thứ nhất do thái hậu triệu tập đã vang lên những tiếng phẫn nộ. Dịch Khuông và Phổ Luân vì tỏ ra tán thành việc vua thoái vị liền bị công kích kịch liệt. Ngày hôm sau Dịch Khuông không dám đến nữa, và Phổ Luân cũng thay đổi lời nói tuyên bố tán thành quân chủ.
            Tình thế này không giữ được bao lâu, Dục Lãng từng tham dự hội nghỉ ngư tiền sau này có nói với con cháu của ông về tình hình hội nghị lần đó, Phổ Vĩ cũng có một trang nhật ký ghi chép chút ít, nội dung đều tương tự như nhau. Tình hình trong lần hội nghị ngự tiền đại để như sau.
            Thái hậu hỏi:
            - Các người xem quân chủ tốt hay cộng hoà tốt?
            Có chừng bốn, năm người liền đáp:
            - Chúng thần đều chủ trương quân chủ, không có lý do gì mà chủ trương cộng hoà cả.
            Tiếp đó những người khác cũng tỏ thái độ như vậy. Lần ấy Dịch Khuông và Phổ Luận không đến dự, nên không có ý kiến trái ngược. Có người còn nói, xin thái hậu “kiên trì chủ trương, đừng để bọn Dịch Khuông mê hoặc”. Thái hậu thở dài:
            - Ta lấy cộng hoà làm gì, chỉ tại Dịch Khuông nói với Viên Thế Khải rằng Đảng cách mạng lợi hại lắm, chúng ta không có súng ống, không có lương thảo, không thể nào đánh được. Ta nói, thế thì không nhờ người nước ngoài giúp được à? Họ nói để đi hỏi xem. Được hai ngày trả lời là đã đi hỏi rồi, người nước ngoài nói Nhiếp chính vương về vườn thì họ mới giúp. Tải Phong, có phải họ bảo như vậy không?
            Phổ Vĩ bực tức nói:
            - Nhiếp chính vương về vườn còn gì? Sao người nước ngoài vẫn chưa giúp? Rõ ràng là Dịch Khuông khi quân.
            Na Nhan Đồ nối lời: “Xin thái hậu sau này chớ có nghe lời Dịch Khuông nữa!”.
            Phổ Vĩ và Tải Trạch nói:
            - Đảng cách mạng chẳng có gì đáng sợ, chỉ cần xuất lương thảo tất sẽ có trung thần đánh dẹp. Phùng Quốc Chương từng nói, nếu cấp ba tháng lương thảo cho ông ta thì ông ta có thể đánh bại Đảng cách mạng.
            - Tiền của hoàng thất Viên Thế Khải đã lấy đi mất hết rồi, ta đâu có tiền nữa - Thái hậu lắc đầu thở dài.
            Phổ Vĩ đem câu chuyện hoàng hậu Nhật Bản lấy nữ trang và châu báu của mình ra thưởng cho quân lính Nhật sau chiến tranh Nhật - Nga để khuyên thái hậu noi theo. Thiện Kỳ ủng hộ ý kiến của Phổ Vĩ, cho đó là ý kiến hay. Long Dụ nói: “Nếu đánh thắng tất nhiên là tốt giả sử thua thì đến điều kiện ưu đãi cũng chẳng được thì làm thế nào?”.
            Lúc này, đại biểu hai bên triều đình nhà Thanh và Cộng hoà đã bàn xong nội dung Điều kiện ưu đãi.
            - Điều kiện ưu đãi chẳng qua là lời nói bịp, - Phổ Vĩ nói - thì cũng như đón Lý Tự Thành không cần nộp lương thực ấy thôi, đó là bịp dân, và đây là khi quân. Dù cho điều kiện này tốt thật đi nữa, nhưng lấy tôn nghiêm của triều đình để được thần dân ưu đãi, chẳng là để tiếng chê muôn đời và các nước diễu cười sao?
            - Nếu đánh thì chỉ một mình Phùng Quốc Chương cũng chẳng ăn thua gì. - Thái hậu vẫn không tin tưởng.
            Phổ Vĩ bèn thỉnh cầu: “Thái hậu và hoàng thượng khen thưởng quân lính tận trung vì đất nước”. Thiện Kỳ cũng nói, thiếu gì chí sĩ trung dũng. Thái hậu quay đầu lại hỏi Tải Đào từ lâu vẫn quỳ một bên nhưng không nói năng gì hết:
            - Tải Đào, người trông coi lục quân, có biết binh lính của chúng ta thế nào không?
            - Thần từng luyện quân, nhưng chưa đánh trận, không biết ạ! - Tải Đào vội rập đầu trả lời.
            Thái hậu không nói gì thêm nữa. Lát sau mới nói một câu:
            - Thôi, các người xuống đi.
            Cuối cùng, Thiện Kỳ còn dặn thái hậu lần nữa:
            - Lát nữa Viên Thế Khải và các đại thần tới triều yết xin thái hậu giáng chỉ phải thận trọng.
            - Ta thật sợ bọn chúng! - Thái hậu lắc đầu thở dài...
            Trong lần họp đó, Phổ Vĩ đã mách trước với thái hậu cách đối phó với các đại thần, tức là cứ thoái thác vấn đề thoái vị chờ cho quốc hội xa  xăm bờ bến giải quyết. Song, đại thần quốc vụ Triệu Bỉnh Quân mang lời của Viên Thế Khải đã chuẩn bị sẵn tới nói:
            - Vấn đề này mà đưa ra cho mọi người bàn thì chưa thắc còn có điều kiện ưu đãi để mà hưởng!
            Do đó, đối với ý kiến chủ chiến của các vương công quý tộc, thái hậu không còn muốn suy nghĩ nữa. Các vương công nhắc đi nhắc lại thái hậu đừng đem vấn đề này ra nói cho thái giám biết. Song, thái hậu vừa về tới cung, tổng thái giám Tiểu Đức Trương đã được Viên Thế Khải đấm mõm từ trước liền nói ngay:
            - Theo bầy tôi thì, cộng hoà cũng thế, quân chủ cũng vậy, chủ nhà cũng vẫn là một. Theo quân chủ, chủ nhà chẳng qua cũng chỉ trông coi việc dùng châu báu. Theo cộng hoà thì thái hậu vẫn là thái hậu. Song, dù sao cũng phải chấp nhận cái điều kiện ấy, bằng không, Đảng cách mạng đánh tới Bắc Kinh thì hỏng bét hết!
            Trong các cuộc hội nghị ngự tiền, những người phát biểu chủ trương đánh ngày càng ít, cuối cùng chỉ còn lại bốn người. Nghe nói chú sáu tôi năm ấy hơn hai mươi tuổi là một trong những người kiên quyết chủ trương đánh nhất, ông chủ trương xé chẵn ra lẻ, tấn phong cho các vương công làm “phiên vương” chia đi các nơi để chống lại cộng hoà. Nhưng chủ trương này chẳng ai nghe cả. Bối lặc Dục Lãng cũng nêu ra ý kiến của mình, nhưng mọi người không ai đoán nổi chủ trương của ông là gì. Ông nói:
            - Nếu đánh thì tận trung trên bãi chiến trường, đó là trách nhiệm không thể thoái thác được. Nếu hoà cũng phải sớm định kế lớn.
            Mỗi lần họp hội nghị ngự tiền đều không đạt kết quả gì hết. Lúc đó, Đoàn Kỳ Thụy, viên tướng quân Bắc Dương của Viên Thế Khải từ tiền tuyến bỗng nhiên gửi điện về yêu cầu “vua nhà Thanh” thoái vị, kế đó, Lương Bật bị đảng viên Đảng cách mạng ném lựu đạn giết chết. Và như vậy; trong hội nghị ngự tiền thậm chí ý kiến nhập nhằng như của Dục Lãng cũng chẳng còn ai nêu ra nữa. Thiện Kỳ và Phổ Vĩ kiên quyết chủ trương đánh nhất thấy thời thế đã qua liền rời khỏi Bắc Kinh họ muốn noi theo Thân Bao Tế khóc nhà Tần (33), một người chạy đi Thanh Đảo đang bị người Đức chiếm đóng, một người chạy đi Lữ Thuận đang bị người Nhật chiếm đóng. Họ bị giữ lại ở đấy không cho ra nước ngoài. Quan chức ngoại giao nói với hai người rằng lúc này sang nước họ không thích hợp. Vấn đề rất rõ, người ngoại quốc đã quyết định thừa nhận chính phủ của Viên Thế Khải rồi.
            Ngày 25 tháng Chạp năm thứ 3 (tức năm 1911) Tuyên Thống, Long Dụ thái hậu ra sắc lệnh tôi thoái vị. Một số vương công quý tộc chạy vào phố Đông Giao Dân cảng (phố có nhiều đại sứ quán nước ngoài), cha con Dịch Khuông mang theo của cải vàng bạc châu báu, dắt theo vợ lẽ dọn vào tô giới của nước ngoài ở Thiên Tân. Trong hội nghị ngự tiền, Thân vương không phát biểu câu nào, sau khi chiếu chỉ thoái vị vừa công bố, ông liền về nhà bế con. Viên Thế Khải một mặt thể theo chỉ dụ của hoàng thái hậu nhà Thanh tổ chức chính phủ lâm thời Cộng hoà Dân quốc, mặt khác căn cứ vào hiệp nghị đã nhất trí với Đảng cách mạng ở miền nam, từ đại thần tổng lý nội các của dế quốc đại Thanh chuyển thành Đại tổng thống lâm thời của Trung Hoa Dân quốc. Còn tôi trở thành người bạn láng giềng của đại tổng thống bắt đầu sống cuộc đời trong triều đình nhỏ theo Điều kiện ưu đãi hoàng thất nhà Thanh (34).
            Nội dung Điều kiện ưu đãi hoàng thất nhà Thanh như sau:
            Điều 1: Sau khi hoàng đế Đại Thanh từ bỏ ngôi vua, tôn hiệu vẫn được giữ mà không phải huỷ bỏ. Trung Hoa dân quốc sẽ đối xử theo lễ nghi đối xử với các quân chủ nước ngoài.
            Điều 2: Sau khi hoàng đế Đại Thanh từ bỏ ngôi vua, mỗi năm được hưởng bốn triệu lạng bạc. Chờ đến khi đúc tiền mới sẽ thay bằng bốn triệu đồng, khoản tiền này do Trung Hoa dân quốc đài thọ
            Điều 3: Sau khi Hoàng đế Đại Thanh từ bỏ ngôi vua, tạm thời cư trú trong cung cấm. Sau này dọn đi ở trong Di Hoà Viên. Vẫn được lưu dụng những người hầu hạ và vệ binh như thường.
            Điều 4: Sau khi hoàng đế Đại Thanh từ bỏ ngôi vua, tông miếu lăng tẩm vẫn được trông giữ mãi mãi. Do Trung Hoa dân quốc cho quân lính bảo hộ một cách cẩn thận và thoả đáng.
            Điều 5: Lăng Đức tông (Tức vua Quang Tự) chưa làm xong, phải tiếp tục làm cho tử tế theo quy định. Việc phúng viếng điển lễ theo như cũ. Mọi kinh phí thực dụng do Trung Hoa dân quốc chi xuất.
            Điều 6: Đối với nhân viên làm việc trong  cung hồi trước thì vẫn có thể lưu dụng như thường, nhưng không được lấy thêm thái giám.
            Điều 7: Sau khi hoàng đế Đại Thanh từ bỏ ngôi vua, tài sản riêng vốn có được Trung Hoa dân quốc đặc biệt bảo hộ.
            Điều 8. Quân cấm vệ vốn có quy vào biên chế của lục quân Trung Hoa dân quốc, lương bổng vẫn như cũ.
 
 
---------------------------------------------------------------
(27) “Xong rồi” nghĩa bóng là chấm dứt, hết... (ND).
(28) Sau đổi tên lại là Hữu Nghị Quan
(29) Thời kỳ Trung Hoa dân quốc (1911 - 1949) (ND).
(30) Ngày 16 tháng 1 năm 1912, Viên Thế Khải thoái triều về nhà qua phố Đông Hoa Môn bị ba người thuộc phái Đảng cách mạng lừ trên tửu lầu ném lựu đạn xuống giết hụt, lựu đạn nổ làm chết Viên Kim Tiêu, viên quan đi bảo hộ Viên Thế Khải và mấy người lính đi hộ tống. Sau vụ nổ đó, Viên Thế Khai mượn cớ “có bệnh tim đập và đau nhức phía bên trái hông”, xin nghỉ không vào triều mà để Hồ Duy Đức và mấy người khác đi thay.
(31) Ngày 15 tháng 11 năm 1911, ngoại trưởng Anh đánh điện trả lời cho công sứ Anh ở Trung Quốc. Toàn văn bức điện như sau: “Trả lời bức điện ngày 12 của ông. Chúng tôi đã có tình cảm hết sức tốt đẹp và lòng tôn kính đối với Viên Thế Khải. Chúng tôi mong thấy được một chính phủ có đủ sức lực, có thể xử lý quan hệ đối ngoại một cách không thiên lệch, duy trì trật tự trong nước và hoàn cảnh có lợi cho việc buôn bán ở Trung Quốc sau cuộc cách mạng. Chính phủ như vậy sẽ được mọi viện trợ về ngoại giao mà chúng tôi có thể viện trợ được”. (trang 40 sách Xanh Trung Quốc số 1, năm 1912).
(32) Đảng Tông Xã là tập đoàn ngoan cố nhất và phản động nhất của hoàng tộc Mãn Thanh trong thời kỳ Cách mạng Tân Hợi, do Lương Bật, Phổ Vĩ, Thiết Lương... cầm đầu, mục đích của nó là cứu vãn triều đình nhà Thanh, chống lại việc đòi vua thoái vị, chống Viên Thế Khải, chống đàm phán với phía Cộng hoà. Về sau Lương Bật bị Bành Gia Trân thuộc Đảng cách mạng giết bằng lựu đạn. Viên Thế Khải lại giật dây cho Phùng Quốc Chương và một số người khác gửi điện yêu cầu phế quân chủ dựng cộng hoà, cuối cùng đảng Tông Xã mới buộc phải đồng ý vua Thanh thoái vị và Long Dụ thái hậu đã ra chỉ dụ giải tán tổ chức này. Sau khi Đảng Tông Xã giải tán, một số nòng cốt đảng này đã nương tựa đế quốc hòng mượn thế lực của đế quốc để phục hồi.
(33) Thời Xuân Thu chiến quốc, nước Sở bị Ngũ Viên mang quân đánh báo thù. Vua tôi nước Sở phải bỏ chạy khỏi kinh thành. Thân Bao Tế là bề tôi nước Sở chạy sang nước Tần cầu cứu vua Tần Ai Công là người có quan hệ họ hàng với vua Sở. Vua Tần mải ăn chơi trong cung không trả lời. Thân Bao Tế đứng trước sân vua Tần kêu khóc liền trong 7 ngày đêm không ăn uống gì. Vua Tần cảm động hứa sẽ phát binh cứu Sở, Thân Bao Tế mới chịu ăn. (ND)
(34) Cùng lúc công bố “Điều kiện ưu đãi sau khi hoàng đế Đại Thanh thoái vị” còn có “Điều kiện đãi ngộ của các dân tộc Mãn, Mông Cổ, Hồi, Tạng” và “Điều kiện đãi ngộ của hoàng tộc nhà Thanh”.
 
Đăng nhập để trả lời
0

Đời sống đế vương

 
            Điều “Tạm ở lại cung cấm” ghi trong “điều kiện ưu đãi” không quy định thời hạn cụ thể. Trừ ba toà nhà cắt cho Dân quốc ra, những nơi khác còn lại trong Tử cấm thành đều thuộc phạm vi “cung cấm”. Trong khoảng thế giới nhỏ bé chật hẹp ấy, cho đến năm Dân quốc thứ 13 mới bị Quốc dân quân đuổi khỏi Hoàng cung, tôi đã sống qua thời niên thiếu rất hư hỏng. Hư hỏng vì đã là thời đại nước Trung Hoa được gọi là Dân quốc, loài người đã tiến vào thế kỷ 20 rồi mà tôi vẫn sống theo nếp đế vương cũ rích không một chút đổi thay, vẫn thở hút bụi bậm của thế kỷ thứ 19 để lại.
            Mỗi khi nhớ lại thời thơ ấu, trong óc tôi bất giác lại hiện lên toàn màu vàng. Mái ngói lưu ly màu vàng, kiệu màu vàng, đệm ghế màu vàng, thắt lưng màu vàng, lót áo, lót mũ màu vàng,  bát đĩa sứ dùng trong lúc ăn cơm uống nước, vỏ bông ủ liễn cháo, bìa bọc sách, rèm cửa, cương ngựa... không một thứ gì không màu vàng. Loại màu gọi là vàng chói thì chỉ một người có quyền sử dụng, từ thuở nào đã gây cho tôi ý thức “duy ngã độc tôn”, làm cho tôi khác hẳn mọi người về “thiên tính”.
            Đến năm tôi 11 tuổi, theo quyết định của các thái phi, bà nội và mẹ tôi bắt đầu được vào cung “hội thân”, em trai thứ hai - Phổ Kiệt - và em gái lớn cũng theo vào ở chơi với tôi mấy ngày. Hôm mọi người đến lần thứ nhất không khí hết sức buồn tẻ. Tôi và bà nội ngồi trên giường lò (35), bà xem tôi bày bài bói quẻ trên kỷ chè, các em khúm núm đứng dưới đất, yên lặng nhìn tôi không chớp mắt, khác nào đứng hầu ở một công đường. Về sau, tôi nghĩ ra một cách đưa các em tôi vào điện Dưỡng Tâm, nơi tôi ở; tôi hỏi Phổ Kiệt:
            - Ở nhà các ngươi hay chơi trò gì?
            - Phổ Kiệt biết chơi trò bịt mắt bắt dê - em trai thứ hai kém tôi một tuổi đáp lại một cách cung kính.
            - Các ngươi cũng biết chơi trò bịt mắt bắt dê ư, trò chơi này thú lắm.
            Tôi khoái lắm. Trò chơi này tôi đã từng chơi với bọn thái giám nhưng chưa được chơi với trẻ con ít tuổi hơn. Thế là chúng tôi chơi ngay ở điện Dưỡng Tâm. Càng chơi càng vui. Các em tôi cũng quên cả nghi lễ bó buộc. Sau chúng tôi buông tất cả rèm che ngoài cửa xuống khiến cho trong nhà tối om. Em gái kém tôi hai tuổi vừa  thích lại vừa sợ, tôi và Phổ Kiệt lại hè nhau doạ nó, chúng tôi thích quá vừa cười vừa kêu la ầm ỹ. Choi trò bịt mắt bắt dê đến mức mệt nhoài, chúng tôi leo lên giường lò nghỉ, tôi lại bảo các em nghĩ trò chơi mới lạ khác. Phổ Kiệt đăm đăm suy nghĩ hồi lâu không nói không rằng, chỉ nhìn tôi cười.
            - Nhà ngươi nghĩ gì thế?
            Hắn vẫn nhe răng cười thộn.
            - Nói mau, nói mau! - Tôi nóng nảy giục, đinh ninh là hắn đã nghĩ ra trò chơi gì thú vị, không ngờ hắn nói:
            - Tôi tưởng, à quên, Phổ Kiệt tưởng hoàng thượng nhất định phải khác thường, phải có bộ râu dài lê thê như trên sân khấu, - vừa nói hắn vừa hoa tay làm điệu vuốt râu. - Ai ngờ động tác ấy gây tai hoa cho hắn vì tôi trông thấy vải lót trong tay áo hắn rất giống màu sắc tôi quen. Mặt tôi tức khắc sa sầm:
            - Phổ Kiệt, đây là màu gì, nhà ngươi cũng đáng mặt được dùng ư? 
            - Đây thưa đây là màu vàng vỏ hạnh đấy ạ.
            - Nói càn, đây không phải là màu vàng chói sao?
            - Muôn tâu... 
            Phổ Kiệt vội vã buông thõng hai tay cúi dầu đứng nép một bên. Em gái chạy lại đứng nép sau lưng hắn sợ phát khóc. Tôi vẫn chưa thôi :
            - Đây là màu vàng chói, không phải thứ nhà ngươi dùng được.
            - Muôn tâu... - Em trai tôi trả lời phận bề tôi trong tiếng “muôn tâu”.
            Tiếng “muôn tâu” đã tuyệt tích từ lâu. Ngày nay nghĩ lại âm thanh ấy làm cho người ta bật cười. Nhưng từ tấm bé tôi đã quen cái đó lắm rồi, trái lại nếu có ai không dùng âm điệu ấy thì tôi không thể dung tha được. Với việc quỳ lạy cũng thế. Từ thuở nhỏ tôi đã quen thấy người ta lạy tôi, phần lớn là những người tuổi tác nhiều hơn tôi mấy chục lần, có người là bề trên trong họ tôi, có người mặc áo bào triều Thanh, cũng có người mặc đại lễ phục kiểu Tây của Dân quốc.
            Trong việc đó tôi không thấy quái đản chút nào và quen rồi, cho là chuyện bình thường còn có sự phô trương bày vẽ hàng ngày nữa.
            Nghe nói có một thanh niên khi đọc truyện “Hồng lâu mộng” cảm thấy kỳ lạ vô cùng, không hiểu tại sao sau lưng và xung quanh các nhân vật như Giả Mẫu, Vương Phượng Thư bao giờ cũng có một đám đông người, dù họ chỉ đi từ phòng này sang phòng khác cũng có một đám người như đàn ong theo sau, không khác một cái đuôi Thật ra cái đuôi trong “Hồng lâu mộng” còn nhỏ hơn cái đuôi ở Hoàng cung rất nhiều. Sự phô trương bày vẽ trong “Hồng lâu mộng” giống sự phô trương bày vẽ trong Hoàng cung thu nhỏ lại, cái đuôi ấy cũng thế. Những lúc tôi đến cung Dục Khánh học, đi thỉnh an các thái phi, du ngoạn hoa viên hàng ngày đằng sau đều có cái đuôi. Mỗi lần tôi đi chơi vườn Di Hoà không những phải có cái đuôi mấy chục chiếc xe ô tô mà còn phải thuê cảnh sát của Dân quốc canh phòng suốt dọc đường. Mỗi chuyến đi chơi như vậy tốn phí mấy nghìn đồng bạc. Mỗi lần tôi đến chơi ở Ngự hoa viên, cũng phải tổ chức thành hàng ngũ như sau: đi trước tiên là một thái giám của phòng Kính sự, phận sự của y không khác tiếng còi xe hơi, miệng y luôn luôn phát ra tiếng “xuýt xuýt” để bảo cho mọi người biết mà mau mau tránh ra. Sau đó chừng hai mươi bước là hai viên tổng quản thái giám, lạch bà lạch bạch đi trước dẫn rượu sát hai bên lề đường. Chừng mười bước sau là hàng trung tâm có tôi hoặc thái hậu. Nếu đi kiệu thì hai bên kiệu đều có Ngự tiền thái giám phù gióng kiệu đi theo để tiện sai bảo. Nếu đi bộ thì họ dìu đi. Theo liền đó là một thái giám cầm tàn, sau tàn mấy bước là đám đông thái giám bưng các đồ vật hoặc đi tay không, có người bê giường thêu để tiện bề nghỉ ngơi bất cứ lúc nào. Có người bưng quần áo để tiện thay đổi, có người cầm tàn che nắng, tàn che mưa. Sau đám Ngự tiền thái giám là thái giám Ngự trà phòng bưng một số quả son đựng các thứ bánh điểm tâm, cố nhiên là cả ấm đun nước, chén tách... Sau nữa là thái giám ngự phòng kĩu kịt quẩy gánh trong đó chứa các loại thuốc thông thường và thuốc cấp cứu, những thứ không thể thiếu được là bấc đèn, nước hoa cúc, nước rễ cỏ lau, nước lá tre, nước cật giang, mùa hè nhất định có Hoắc hương chính khí hoàn, Lục hợp dịch trung hoàn, Kim y thư khứ đan, Hương nhu đan, Vạn ứng đỉnh sa dược, Ty ôn tán, bất cứ mùa nào cũng phải có thuốc tiêu thực Tam điểu ẩm... Cuối cùng là thái giám xách bô đi đại tiểu tiện. Nếu không đi kiệu thì đi theo cùng, kiệu cũng theo mùa mà chia ra kiệu ấm, kiệu thoáng. Cái đuôi trăm thứ bà dằn ấy mấy chục người, ấy thế mà lúc đi đứng cũng rất im lặng, an nhàn, hàng lối ngay ngắn.
            Cái đuôi ấy cũng thường bị tôi làm rối tung lên. Như mọi đứa trẻ khác, lúc còn nhỏ hễ cao hứng lên là tôi cất chân chạy lung tung. Ban đầu bọn thái giám cũng phải chạy theo không rời xa nửa bước, chạy đến mũ mãng tả tơi, thở hồng hộc. Sau này lớn lên một chút, tôi cho họ đứng đợi, thế là trừ bọn ngự tiền thái giám ra, những người bưng quả, mang đồ vật, quẩy gánh đều đứng yên bên đường, đến lúc tôi chạy đã chán chê họ lại bắt đầu đứng vào đằng sau tôi. Sau này biết đi xe đạp, tôi ra lệnh cho mọi người cưa hết bậc cửa ở hậu cung đi, như vậy là tôi tha hồ phóng đi khắp mọi nơi không bị cản trở gì hết, cái đuôi tất nhiên cũng không tài nào theo tôi được nữa nên phải tạm thời bãi bỏ. Ngoài việc đó ra, những hoạt động hàng ngày như đi thỉnh an các thái phi, đến cung Dục Khánh học, v.v... vẫn phải có cái đuôi nhất định  theo sau. Lúc bấy giờ, nếu sau lưng không có cái đuôi ấy tôi cảm thấy mất tự nhiên. Trước kia, khi nghe người ta kể chuyện vua Sùng Trinh đời Minh đến đoạn chót nói rằng: bên cạnh vua Sùng Trinh chỉ còn một người thái giám thì trong lòng tôi cảm thấy ngậm ngùi.
            Sự phô trương bày vẽ hao phí nhân lực, tài lực hơn cả là việc ăn uống. Về việc ăn của vua có hẳn một lô thuật ngữ riêng, tuyệt đối không cho phép ai được nói lầm. Cơm không gọi là cơm mà là “thiện”, ăn cơm gọi là “tiến thiện”. Bếp gọi là “phòng ngự thiện”. Đến giờ ăn cơm - thật ra không có giờ giấc nhất định, hoàn toàn do vua tự quyết định. Tôi nói một câu “truyền thiện”, Ngự tiền thái giám đứng hầu liền theo đó mà nói “truyền thiện” với Điện thượng thái giám ở Minh Điện của diện Dưỡng Tâm. Điện thượng thái giám lại truyền câu đó cho thái giám phòng Ngự thiện chờ ở Tây trường... cứ như thế mà truyền mãi ra tận trong phòng Ngự thiện. Đó là một đội ngũ mấy chục thái giám ăn mặc chững chạc. Họ khiêng 7 chiếc bàn lớn nhỏ, bưng mấy chục chiếc quả sơn son vẽ rồng vàng tấp nập kéo đến điện Dưỡng Tâm. Tới Minh điện thì do các tiểu thái giám tay áo trùm thêm mảnh vải trắng muốt đỡ lấy đem bày ở Đông Noãn các. Hai bàn món ăn thường ngày, mùa đông đặt thêm bàn lò ăn nhúng, ngoài ra còn có ba bàn các thứ điểm tâm, cơm, cháo, một bàn nhỏ món ăn mặn. Đồ dùng ăn uống bằng sứ men vàng chói vẽ hoa vân rồng và viết chữ “vạn thọ vô cương”. Mùa đông thì dùng đồ bạc, để trong ang sứ chứa đầy nước sôi. Mỗi đĩa hay bát món ăn có một cái thẻ bạc, làm như vậy là để đề phòng bị đánh thuốc độc và cũng do nguyên nhân ấy trước khi bưng thức ăn cho vua dùng đều phải qua một thái giám nếm trước gọi là “thưởng thiện”. Sau khi bày biện xong các món ăn đã nếm qua rồi, trước khi tôi ngồi vào bàn ăn, một tiểu thái giám hô to “mở nắp”. Bốn năm tiểu thái giám khác tức khắc mở vung bạc đậy trên các món ăn ra, bỏ cả vào một cái quả lớn mang đi. Thế là tôi bắt đần “dụng thiện”. 
            Cái gọi là món ăn là những thứ gì? Món ăn của Long Dụ thái hậu mỗi bữa có chừng 100 thứ phải dùng tới 6 bàn ăn để bày. Bà đã thừa kế Từ Hy thái hậu về sự phô trương bày vẽ đó.  Món ăn của tôi ít hơn thái hậu nhưng theo quy định cũng phải trên 30 thứ. Hiện tôi đã tìm được một trong bản thảo thực đơn tháng 3 năm Dân quốc đầu tiên trong đó ghi nội dung bữa ăn như sau:
            - Gà om măng
            - Vịt tần bát trân (8 thứ quý)
            - Gà xé xào nấm, măng, hành ớt, nõn rau
            - Thịt ninh
            - Cổ hũ phổi tần
            - Thịt tần cải trắng
            - Thịt dê om vàng
            - Thịt dê hầm lót rau cải, cà chua
            - Thịt dê xào củ cải Tứ Xuyên
            - Vịt thái chỉ hầm hải sâm
            - Vịt thái hạt lựu hầm hạt cát tiên
            - Củ tróc rán
            - Thịt om măng
            - Thịt gói nhồi rán
            - Chả nem
            - Rau cải trắng thái chỉ
            - Gan hầm thái mỏng.
            Những món ăn ấy bày vẽ ra, ngoài sự bày biện, tuyệt nhiên không dùng làm gì. Chỉ sau một tiếng truyền lệnh, thức ăn nhanh chóng được bày trên bàn là vì phòng Ngự thiện đã làm xong từ trước, để sẵn trên bếp hâm nóng. Họ cũng biết rõ, có lẽ từ thời Quang Tự, Hoàng đế cũng không hề ăn những thứ hâm nóng ấy. Những món tôi ăn trong bữa đều do thái hậu gửi tới. Sau khi thái hậu qua đời thì do 4 vị thái phi gửi tới. Thái hậu và các thái phi đều có phòng ăn của mình mà đầu bếp đều là loại cao cấp nên các món ăn họ nấu rất ngon miệng, mỗi bữa ăn thường có hai chục món như vậy, đó là những món bầy trước mặt tôi, còn những thứ khác bày ở góc xa chẳng qua chỉ để bày biện mà thôi.
            Để bày tỏ sự quan tâm tới tôi, các Thái phi ngoài việc gửi món ăn còn quy định mỗi khi ăn xong phải có một thái giám trực ban đi báo cáo tình hình tôi ăn ra sao. Đó cũng là một kiểu báo cáo công thức. Dù tôi ăn như thế nào, thái giám trực ban khi tới trước Thái phi đều quỳ tâu: “Nô tài bẩm lệnh bà, Đức vua dùng một bát cơm (hoặc một bát cháo), một chiếc bánh màn thầu (hoặc một chiếc bánh rán), ăn ngon miệng”.
            Vào ngày tết hoặc ngày sinh các Thái phi (ngày đó gọi là “thiên thu”) để tỏ lòng hiếu thuận cần có, phòng Ngự thiện của tôi cũng nấu một số món ăn tới dâng các Thái phi. Có thể dùng 4 câu nói để nhận xét những món ăn đó: đẹp mà không thật, tốn mà không ngon, nhạt  mà không thơm, dinh mà không dưỡng.
            Ăn uống như vậy, mỗi tháng tốn bao nhiêu tiền. Tôi đã tìm thấy một quyền “Sổ ghi phần quy định thịt gà, vịt hàng ngày của các phòng ăn từ mùng 1 đến 30 tháng 9 năm Tuyên Thống thứ hai” trong đó ghi như sau:
            - Phần quy định thịt làm món ăn của Hoàng thượng 20 cân x 30 ngày cộng là 660 cân (cân Trung Quốc bằng nửa kilôgam)
            - Bên dưới còn có phần quy định của Thái hậu và của mấy bà Thái phi, để dễ xem, nay gộp cả lại thành bảng thống kê như sau:
 
            Tên hậu, phi      Số cân thịt       Số con gà       Số con vịt
            Thái hậu                 1.860                   30                    30
            Cẩn quý phi              285                      7                      7
            Du hoàng quý phi    360                    15                     15
            Cẩn Hoàng quý phi  360                   15                      15
            Tân quý phi              285                      7                       7
            Cộng là:                  3.150                    74                    74
 
            Sáu người trong nhà tôi, tổng cộng một tháng dùng 3.960 cân thịt, 388 con gà; vịt, trong đó tôi là đứa trẻ nhỏ 5 tuổi dùng 810 cân thịt và 240 con gà, vịt. Ngoài ra, trong cung, còn rất nhiều người phục vụ cho gia đình 6 người này như: quân cơ đại thần, ngự tiền thị vệ, thày dạy học, thầy vẽ, thợ chữ, các thái giám cũng như những thầy cúng hàng ngày tới cúng thần... cũng đều có phần của mình.
            Kể cả gia đình 6 người chúng tôi tổng số ăn hết 14.642 cân thịt lợn, tính thành bạc hết 2.342 lạng 7 đồng cân 2 phân. Ngoài số cố định kể trên, hàng ngày còn phải thêm thức ăn mà khoản thêm này còn trội hơn phần quy định rất nhiều. Số thịt ăn thêm trong tháng này là 31.844 cân, mỡ lợn 814 cân, gà vịt 4.786 cân, thêm vào tiền tôm, cá, trứng... là 11.641 lạng linh 7 phân bạc cộng với 348 lạng tiền chi tạp phí, cộng với phần quy định là 14.794 lạng 1 đồng cân 8 phân. Rất rõ ràng trừ một số bị ăn cắp ăn bớt đút túi riêng ra, toàn bộ số tiền này hầu như đều phung phí vào việc để biểu thị cái tôn nghiêm của đế vương. Đây còn chưa kể đến sự chi tiêu về điểm tâm, hoa quả; kẹo bánh, đồ uống... liên tiếp suốt năm.
            Cơm nước thổi nấu rất nhiều mà không ăn, còn quần áo thì may rất nhiều mà không mặc. Về mặt may mặc, tôi không nhớ được nhiều, chỉ biết rằng Hoàng hậu, quý phi có phần quy định, còn vua thì hoàn toàn không hạn chế, suốt năm lúc nào cung tíu tít may cắt nhưng đã may những thứ gì tôi cũng không biết, dù sao thì bao giờ cũng là mặc quần áo mới toanh.
            Tôi giữ được một tấm danh đơn không ghi rõ niên hiệu đầu đề “Phúc báo giá cả nhận thầu vật liệu đã dùng về việc may mặc” của Hoàng thượng từ ngày mùng 6 tháng 10 đến ngày 5 tháng 11”. Theo các khoản ghi trên đơn thì trong tháng này tôi đã may: 11 áo ngắn lót da thú, 6 áo bào lót da thú, 2 áo nịt lót da thú, 30 chiếc quần áo nịt và bông. Không kể công may vật liệu chính, chỉ riêng các khoản chi lặt vặt về chèn, viền, vải, bọc, khuy và chỉ đã hết 2.137 đồng 6 hào 3 xu.
            Phần quy định của Hoàng hậu và quý phi cũng rất đáng kể. Trong một cuốn sổ ghi các khoản chi tiêu sau khi tôi đã lấy vợ, trong đó có ghi luật lệ quy định số hàng dùng may mặc hàng năm của Hoàng hậu, quý phi nay thống kê cả lại như sau:
 
            Loại hàng           Hoàng hậu          Thục phi             4 thái phi            Tổng cộng
            Các loại đoạn          29 tấm                  15 tấm                92 tấm                 136 tấm
            các loại vóc             40 tấm                  21 tấm              108 tấm                 169 tấm
            Các loại da               16 tấm                   8 tấm                60 tấm                    81 tấm
            Các loại lĩnh               8 tấm                   5 tấm                28 tấm                    41 tấm
            Các loại vải              60 tấm                 30 tấm               144 tấm                 234 tấm
            Len và sợi                16 cân                    8 cân                 76 cân                  100 cân
            Bông                        40 cân                  20 cân               120 cân                  180 cân
            Kim tuyến                20 con                  10 con                76 con                  106 con
            Da điêu                     90 tấm                  30 tấm             280 tấm                  400 tấm
 
            Quần áo thay đổi của tôi cũng được quy định bằng văn bản hẳn hoi do thái giám kho “Tứ chấp sự” chịu trách nhiệm chuẩn bị. Theo  lời văn ghi trong đơn thì chỉ riêng một thứ bào khoác mặc thường hàng ngày mà trong một năm cũng phải thay đổi 28 loại, từ kiều bào khoác xanh trắng viền da thú mặc ngày 19 tháng giêng lần lần thay đến khoác da điêu thử mặc ngày mùng 1 tháng 11, còn các ngày tết, ngày hội lớn thì mức phức tạp của sắc phục càng không thể nào nói hết được.
            Một quản gia của vua là Phủ nội vụ, cai quản 7 ty: Quảng Trữ, Đô Ngu, Chưởng lễ, kế toán, Khánh phong, Thận hình, Doanh tạo (mỗi Ty đều có đầy đủ các đơn vị kho tàng, nơi làm việc như Ty Quảng Trữ có 66 kho vàng bạc, đồ sứ gấm vóc, quần áo, chè...) và 48 Sở trong hoàng cung, theo ghi chép trong cuốn “Thống kê chức tước phẩm trật” mùa thu năm Tuyên Thống thứ nhất thì số quan chức trong Phủ Nội vụ gồm 1.023 người (không kể quân cấm vệ, thái giám và tạp dịch). Năm Dân quốc thứ nhất đã giảm một số lớn, còn lại 600 người, đến khi tôi phải rời khỏi hoàng cung, ở đó vẫn còn trên 300 người. Cơ cấu to lớn, cồng kềnh, số người phục dịch đông đúc như thế nào thì một người bình thường còn có thể tưởng tượng ra được, nhưng đến cái buồn tẻ của công việc ấy thì không phải ai cũng biết được. Ví dụ: Như ý quán là một trong 48 Sở ở trong hoàng cung. Nơi này chuyên môn phục dịch cho vua cùng hoàng hậu vẽ và viết, nếu Thái hậu muốn vẽ gì thì nhân viên Như ý quán vẽ sẵn rồi Thái hậu tô mầu, đề từ. Viết đại tự, hoành phi, câu đối thì do Cấu tự tượng của điện Nhu Cần dạm thảo hoặc Hàn Lâm nam thư phòng viết thay. Những cái gọi là “Thái hậu ngự bút” hay “Ngự chế chi bảo” cuối thời Thanh phần lớn đều như vậy cả.
            Ngoài sự phô trương bày vẽ, những đền đài lầu các ở xung quanh, những vật trang trí, bày biện ở trong cung điện đối với tôi đều có tác dụng cả. Duy chỉ có đế vương mới được dùng ngói lưu ly vàng, điều này không phải nói, ngay đến tầm cao cửa nhà cửa cũng là thứ đặc cách dành riêng cho đế vương.
            Điều đó khiến tôi từ nhỏ đã nhận thức là không những khắp gầm trời đều là của nhà vua mà cả đến mảnh trời xanh trên đầu cũng không thuộc về một người khác. Mỗi vật bày biện trong cung là một giáo cụ trực quan của tôi. Nghe nói rằng nhà vua Càn Long đã từng quy định: tất cả mọi đồ vật trong hoàng cung dù chỉ là một ngọn cỏ cũng không để mất. Để câu nói ấy thành sự thật, vua Càn Long đã để mấy ngọn cỏ ở trên bàn đặt trong cung, cho người kiểm soát hàng ngày, thiếu một ngọn cũng không được, đặt tên là “Thôn thảo vi tiêu” (Tấc cỏ làm tiêu biểu - ND). Suốt mười mấy năm tôi ở trong cung, nắm cỏ ấy vẫn được bầy ở điện Dưỡng Tâm. Đó là một cái ống sắt tráng men “Cảnh thái lam” nhỏ, trong đựng 36 ngọn cỏ khô, xác dài chừng một tấc. Nắm cỏ khô ấy đã từng gợi nên lòng sùng bái man mác của tôi đối với tổ tiên và nó cũng gợi nên lòng căm thù sâu sắc của tôi đối với cuộc cách mạng Tân Hợi. Nhưng tôi tuyệt nhiên không nghĩ rằng nắm cỏ của Càn Long để lại ấy, tuy rằng không thiếu ngọn nào nhưng số đất  đai mọc đầy cỏ xanh mượt của Càn Long để lại đã bị con cháu hiến không cho các “nước thân thiện” thì kể có hàng ngàn kilômét vuông.
            Sự lãng phí do đời sống đế vương tạo nên đến nay, không có cách nào thống kê chính xác được. Theo bản “So sánh chi tiêu giữa năm Tuyên Thống thứ 7 với ba năm gần đó” của Phủ Nội vụ biên soạn, tài liệu ghi rằng: số chi trong năm Dân quốc thứ tư lên tới trên 2.790.000 lạng bạc. Tóm lại, dưới sự dung túng của nhà đương cục Dân quốc lúc đó, nhóm người do tôi đứng đầu vẫn phô trương bày vẽ như cũ, vẫn sống đời sống ỷ lại theo tiêu chuẩn cũ, hao phí biết bao mồ hôi nước mắt của nhân dân.
            Trong hoàng cung có một số quy tắc thoạt đầu không phải do sự phô trương bày vẽ mà ra, ví dụ như để thẻ bạc trong thức ăn, mỗi lần ra khỏi cửa là phải tiền hô, hậu ủng rầm rộ, bày binh bố trận cảnh giới mà lại là để phòng ngừa bị ám hại. Nghe nói vua không có nhà xí chính là vì có một đời vua ra ngoài đại tiện chạm phải thích khách. Nhưng ảnh hưởng của những câu chuyện này với sự phô trương bày vẽ kia để lại cho tôi chỉ là một: chẳng kể từ mặt nào, nó cũng buộc tôi phải xác nhận mình cao quý tuyệt vời, là trên mọi người, thống trị hết thảy, chiếm hữu hết thảy.
 
 
--------------------------------------------------------------
(35) Giường đắp bằng đất nện, bên dưới đốt than để sưởi ấm trong mùa đông.
 
Đăng nhập để trả lời
0

Quan hệ mẹ con

 
            Tôi vào cung làm con kế tự hai vua Đồng Trị và Quang Tự, vợ của hai vua ấy cố nhiên trở thành mẹ tôi. Nối dõi vua Đồng Trị đồng thời thừa tự vua Quang Tự, nếu theo chính thống thì tôi nặng về phía vua Đồng Trị, nhưng vợ vua Quang Tự là Long Dụ thái hậu bất chấp lý lẽ đó. Dùng quyền uy thái hậu, bà tống các quý phi của vua Đồng Trị, những người dám đấu tranh với bà trong vấn đề này vào lãnh cung nên họ không được coi là mẹ tôi. Ngay Cần quý phi của vua Quang Tự cũng không được coi là thứ mẫu của tôi.
            Khi mọi người ăn cơm, Long Dụ thái hậu và tôi ngồi đàng hoàng còn Cần quý phi phải đứng mà ăn. Mãi đến khi Long Dụ thái hậu qua đời ba bà quy phi của vua Đồng Trị và Cần quý phi hợp nhau lại khiếu nại với các vương công về vụ này, lúc ấy địa vị Thái phi của họ mới được xác định. Và cũng từ lúc ấy tôi mới gọi các bà là “mẹ”.
            Tuy có nhiều mẹ như vậy mà suốt đời tôi chưa hề được hưởng tình yêu của người mẹ bao giờ. Ngày nay, hồi tưởng lại chỉ thấy sự quan tâm lớn nhất của các bà đối với tôi là hàng ngày cho tôi thức ăn và nghe thái giám báo cáo là tôi “ăn rất ngon miệng” mà thôi.
            Thật ra, từ nhỏ tôi đã đau dạ dày, có bao giờ ăn ngon miệng đâu. Mà nguyên nhân sinh bệnh của tôi cũng liên quan đến cái tình “mẹ yêu con” ấy. Năm lên 6 tuổi, có một lần tôi ăn quá nhiều hạt dẻ nên bị đầy bụng, thế là suốt cả tháng đó, Long Dụ thái hậu chỉ cho tôi ăn thuần một thứ cháo bột gạo, đặc như bánh đúc, mặc dù lúc nào tôi cũng kêu đói, nhưng nào có ai chịu để ý đến tôi! Còn nhớ có hôm đi chơi Trung Nam Hải, thái hậu sai người đưa bánh bao khô đến để tôi cho cá ăn. Thèm ăn đã lâu tôi háu đói đưa luôn vào miệng nhai ngấu nghiến. Thấy tôi đói thiểu não như vậy, Long Dụ thái hậu không thay đổi ý kiến, ngược lại bà bố trí, đề phòng nghiêm ngặt. Bà càng đề phòng nghiêm ngặt càng gợi nên tính tham ăn của tôi. Tôi đã vồ lấy thịt ăn để trong quả của các Vương phủ mang vào ngày mùng một và mười rằm hàng tháng  và người ta đã phải giằng lại thịt từ trong miệng tôi.
            Năm lên sáu, lên bảy tôi thay đổi tính nết, hay bẳn gắt. Mỗi lúc lên cơn là hành hạ những người xung quanh. Hễ đến lúc như thế, Trương Khiếm Hoà thái giám tổng quản của tôi liền chẩn đoán bệnh cho tôi. “Hoả của Hoàng thượng vượng quá, phải hát to một lúc cho hạ hoả”.
            Nói đoạn y đẩy tôi vào một căn phòng nhỏ phần nhiều là phòng chứa ghế ngồi đại tiện ở cung Dục Khánh. Khoá trái cửa lại, mặc cho tôi kêu gào nguyền rủa, đá cửa thình thình, van xin kêu khóc đến mấy cũng không ai để ý tôi.  Theo cách nói của họ là “hát xong rồi, hoả sẽ xuống”, lúc ấy mới mở cửa cho tôi ra. Cách chữa bệnh kỳ quái như vậy cũng không phải sự phát minh của cá nhân Long Dụ thái hậu mà là một truyền thống của gia đình hoàng tộc. Các em trai, em gái tôi trong Vương phủ đều được nếm qua mùi vị ấy. Tôi lên 8 tuổi thì Long Dụ thái hậu qua đời. “Lòng thương âu yếm” của tôi đối với thái hậu chỉ có thể nhớ được qua những chuyện kể trên thôi.
            Bốn bà thái phi cùng ở với tôi khá lâu nhưng lúc thường cũng ít khi gặp mặt. Quây quần trò truyện với nhau một cách ấm cúng như mọi gia đình bình thường khác là chuyện không bao giờ có. Mỗi buổi sáng, tôi đến chỗ các thái phi ở để thỉnh an. Nơi nào thái giám cũng đặt đệm bọc đoạn vàng cho tôi quỳ xuống một cái rồi đứng sang một bên chờ thái hậu nói mấy câu công thức nhạt nhẽo, khô khan nghìn lần như một: “Hoàng thượng có ngủ ngon không?”, “Trời lạnh lắm phải mặc nhiều áo vào”, “Học đến đâu rồi?”, thảng hoặc cũng có khi ban cho tôi đồ chơi như tượng đất nung... Cuối cùng là một câu không bao giờ thiếu: “Hoàng thượng đi chơi thôi”. Cuộc gặp mặt hàng ngày thế là kết thúc, suốt ngày hôm ấy tôi không gặp ai nữa.
            Thái hậu, thái phi gọi tôi là hoàng thượng. Bà nội và cha mẹ đẻ tôi cũng gọi như thế. Mọi người khác cũng gọi tôi là hoàng thượng. Mặc dù tôi có tên chữ, tên hèm, nhưng đều không được bà mẹ nào gọi đến. Trong mùa lạnh tôi thường hay sổ mũi, nhức đầu. Lúc đó các bà thái phi lần lượt xuất hiện. Bà nào cũng chỉ nói mấy câu tương tự:
            - Hoàng thượng thấy đỡ nhiều chưa? Có ra mồ hôi không?
            Rồi mỗi bà nán lại không quá hai ba phút là rút lui ngay. Ấn tượng sâu sắc hơn cả là đám thái giám theo đuôi các bà, lượt nào cũng đứng chật ních căn phòng nhỏ của tôi. Trong mấy phút đó, hết tốp này vào đến tốp khác kéo ra làm xáo động không khí trong phòng. Bà thái phi này vừa đi ra, bà thái phi khác đến. Trong một ngày bốn lần người ta lũ lượt ra vào. May mà bệnh của tôi bao giờ cũng độ hai ngày là khỏi nên phòng nghỉ lại được yên tĩnh.
            Mỗi lần tôi ốm đều do phòng thuốc cung Vĩnh Hoà sắc thuốc. Cung Vĩnh Hoà là nơi ở của thái phi Đoan Khang do kế thừa của Long Dụ thái hậu nên phòng thuốc của bà sắp đặt tốt hơn phòng thuốc của các thái phi khác. Thái phi Đoan Khang quản thúc tôi càng nhiều hơn, rõ ràng thay thế địa vị của Long Dụ thái hậu. Hiện tượng trái với tiên liệt nhà Thanh này là do sự can thiệp của Viên Thế Khải.
            Sau khi Long Dụ thái hậu qua đời, Viên Thế Khải can thiệp với phủ Nội vụ nhà Thanh, đòi tấn phong và tôn hiệu cho bốn bà quý phi của hai vua Đồng Trị và Quang Tự. Ông tỏ ý ủng hộ Cần quý phi đứng đầu bốn quý phi. Các vương công và cha tôi cũng chấp nhận sự can thiệp này. Tôn hiệu quý phi là Trung Hoà, tấn phong Tấn quý phi và Cần quý phi là Hoàng quý phi và tôn hiệu là Vinh Huệ và Đoan Khang. Từ đó, Đoan Khang hoàng quý phi trở thành mẹ số một của tôi và cũng từ đó, bà xét nét rất ngặt nghèo cho đến khi xẩy ra cuộc xung đột gay go mới chấm dứt.
            Với sự “chăm nom” của bốn bà thái phi, tôi đã được 13, 14 tuổi. Cũng như những trẻ nhỏ khác, tôi rất thích đồ chơi mới. Để mua vui cho tôi có một số thái giám khi ra ngoài đã mua về một số thứ.
            Có lần, một thái giám may cho tôi bộ đại lễ phục mà các tướng lĩnh Dân quốc mặc, trên mũ còn có ngù giống như mào gà trắng, ngoài ra lại  có dây da và dao găm. Tôi mặc vào rất nghênh ngang đắc ý. Ai ngờ Đoan Khang thái phi biết, bà ta nổi giận lôi đình, qua một hồi kiểm tra, biết tôi còn đi cả bít tất Tây do thái giám mua ở ngoài về, cho rằng đó là những việc tầy trời, lập tức gọi hai thái giám mua quân phục và bít tất Tây cho tôi là Lý Trường An và Lý Đình Niên tới cung Vĩnh Hoà đánh mỗi người 200 gậy, đẩy tới nơi quét dọn làm lao động khổ sai.
            Đẩy xong thái giám, bà lại cho gọi tôi đến lớn tiếng đay nghiến: “Hoàng đế đại Thanh mặc quần áo Dân quốc, lại còn đi tất Tây, thế thì còn ra thế nào nữa?”. Tôi cực chẳng đã phải bỏ quân phục, dao găm, tất Tây mà tôi rất thích để mặc lại áo thụng và tất vải thêu vẩy rồng.
            Nếu như Đoan Khang quản giáo tôi chỉ  giới hạn ở quân phục và bít tất, tội cũng không nhất định có hành vi bất kính sau này. Vì kiểu quản giáo này chỉ càng làm cho tôi cảm thấy mình khác người thường, càng phù hợp với sự giáo dục ở cung Dục Khánh. Tôi tin là việc bà cho thái giám ăn một trận đòn và đay nghiến tôi chính là vì mục đích giáo dục này. Song Cần phi, con người một lòng một dạ muốn bắt chước Từ Hy thái hậu này, mặc dù chị ruột bà ta là Trân phi chết vì tay Từ Hy thái hậu, bà ta vẫn coi Từ Hy làm tấm gương. Bà không chỉ học được đánh thái giám một cách độc ác, còn học được cách cử thái giám theo dõi hoàng đế. Sau khi bà đuổi những thái giám cạnh tôi như Lý Trường An, Lý Đình Niên, bà phái thái giám thân tín của bà đến hầu tôi ở điện Dưỡng Tâm. Hàng ngày viên thái giám này phải đến báo cáo với bà về nhất cử, nhất động của tôi giống như Tây thái hậu đối xử với Quang Tự. Mặc dù mục đích của bà ra sao, việc đó đã tác hại lớn đối với lòng tự tôn của hoàng đế. Thày Trần của tôi rất bất bình với việc đó, đã giảng cho tôi một số lý luận về phân biệt bậc trong gia đình, càng kích động nỗi căm giận chứa chất trong lòng tôi.
            Không lâu, một thày thuốc trong Viện thái y là Phạm Nhất Mai bị Đoan Khang đuổi; đã làm nỗi căm hờn của tôi thêm khoét sâu. Phạm Nhất Mai là một trong những thày thuốc chữa bệnh cho Đoan Khang, việc này vốn không liên can gì đến tôi. Tuy nhiên, khi đó bên tôi lại xuất hiện không ít lời bàn tán có tính chất khuyến khích. Thầy Trần nói: “Thân làm thái phi, chuyên quyền quá đáng”. Thái giám tổng quản Trương Khiếm Hoà vốn là người tố cáo chuyện  mua quân phục và bít tất Tây khi đó cũng trở thành “đế đảng” xổ ra những lời lẽ bất bình: “Hoàng thượng chẳng phải lại trở thành Quang Tự hay sao?”. Lại nói chuyện Thái y viện, đến kẻ tôi tớ này cũng chướng mắt”. Nghe những lời lẽ ấy sự kích động của tôi lên tới cực điểm, hầm hầm chạy đến cung Vĩnh Hoà, vừa thấy Đoan Khang liền quát:
            - Bà dựa vào cớ gì mà đuổi Phạm Nhất Mai, bà quá chuyên quyền! Tôi có phải là hoàng đế không? Ai là người quyết định? Thật là chuyên quyền quá đáng...!
            Tôi quát lớn một lúc, bất chấp Đoan Khang giận tái mặt nói những gì, tôi phất tay áo bỏ ra. Về tới cung Dục Khánh, các thày dạy khen ngợi tôi một hồi.
            Đoan Khang thái phi bừng bừng nổi giận, không tìm tôi, trái lại sai người gọi cha tôi và mấy vị vương công, khóc lóc với họ một hồi yêu cầu họ có ý kiến. Ngay những vương công ấy cũng không ai dám có ý kiến. Nghe tin ấy, tôi gọi họ đến thư phòng trên (là nơi hoàng đế học tập) khảng khái hiên ngang nói:
            - Bà ta là gì? Chẳng qua là một cung phi. Từ xưa đến nay, triều đình ta không có hoàng đế nào gọi cung phi là mẹ kế! Có cần chia thứ bậc không? Nếu không cần, dựa vào cái gì để tôi gọi bà ta, lại còn phải vâng lời bà ta nữa?...
            Mấy vị vương công nghe tôi quát một hồi, vẫn không ai nói gì.
            Kính ý thái phi vốn bất hoà với Đoan Khang, khi đó bà đắc ý bảo tôi:
            - Nghe nói cung Vĩnh Hoà sẽ mời bà và mẹ tới, xin hoàng đế lưu tâm.
            Quả nhiên, bà nội tôi và mẹ tôi được Đoan Khang triệu tới. Bà ta không có cách gì đối với các vương công nhưng một trận kêu khóc đã có tác dụng đối với bà và mẹ tôi, đặc biệt là bà tôi vô cùng sợ hãi, bà cùng mẹ tôi quỳ xuống cầu xin bà ta bớt giận, hứa sẽ khuyên tôi đến xin lỗi. Tôi đến cung Vĩnh Hoà thấy bà và mẹ tôi, nghe thấy Đoan Khang vẫn đang kêu gào trong điện, thực ra tôi vẫn còn muốn tranh cãi, tuy nhiên nhìn thấy nước mắt của bà nội và mẹ đẻ tôi tôi mềm lòng. đáp ứng lời khuyên đến xin lỗi Đoàn Khang.  
            Tôi đến trước mặt Đoan Khang, nhìn bà thỉnh an nói một câu hàm hồ: “Thưa mẹ, tôi sai rồi”, sau đó tôi lùi ra. Đoan Khang có thể diện, nín khóc. Hai ngày sau, tôi được tin mẹ tôi tự sát.
            Nghe nói, từ nhỏ mẹ tôi không bị ai nói nặng, mắng mỏ bao giờ. Cá tính mẹ tôi rất mạnh không chịu nổi sự kích động ấy. Từ hoàng cung về đến nhà, bà lập tức uống thuốc phiện tự sát. Sau đó Đoan Khang sợ tôi truy cứu trách nhiệm của bà nên từ đó thay đổi thái độ đối với tôi, không những không dám xét nét tôi nữa mà còn hết sức chiều ý tôi. Thế là gia đình tôi ở Tử Cấm Thành lại khôi phục sự yên tĩnh như cũ, giữa tôi và các thái phi cũng khôi phục quan hệ mẹ con. Song, trái lại mẹ đẻ của tôi thì không còn nữa.
 
Đăng nhập để trả lời
0

Học tập ở  cung Dục Khánh

 
            Năm tôi 6 tuổi, Long Dụ thái hậu đã tuyển cho tôi mấy thày dạy học. Khâm thái giám chọn ngày giờ tốt cho tôi khai học. Giờ Thìn ngày 18 tháng bảy âm lịch năm thứ ba Tuyên Thống tôi bắt đầu học tập.
            Mới đầu phòng học tại Bổ đồng thủ ốc ở Doanh Đài trong Trung Nam Hải, sau chuyển đến cung Dục Khánh, bên trái Trai cung ở Tử Cấm Thành - đây là nơi vua Quang Tự học tập lúc còn nhỏ. Trước hơn nữa là phòng ngủ của hoàng tử Ngung Viêm con vua Càn Long (sau này là hoàng đế Gia Khánh). Cung Dục Khánh rất nhỏ, là một toà nhà hình chữ công (I), các phòng cũng không lớn, chỉ có hai gian tương đối lớn ở phía tây dùng làm phòng học, ngoài ra đều bỏ không. 
            So với các nhà khác ở trong cung, bài trí của hai phòng này tương đối đơn giản. Dưới tường phía Nam là một bàn dài bên trên bày các thứ như lọ hoa, giá mũ... Dựa vào tường phía tây là một bệ sưởi, ghế trên bệ sưởi là bàn học, sau chuyển xuống sàn nhà, ghế bát tiên thay cho bệ sưởi. Dựa vào vách tường phía bắc là hai chiếc ghế dài, nơi để hòm sách và giấy bút, dựa vách tường phía đông là một bàn trà nước. Trên hai tường đông - tây treo bài thơ của Thuần hiền thân vương tự tay viết khuyên răn Quang Tự. Nổi bật là trên tường phía bắc có một đồng hồ lớn, mặt đồng hồ rộng khoảng 2 mét, kim đồng hồ còn dài hơn cánh tay tôi, máy móc đồng hồ ở phía sau tường. Khi lên dây cót, phải đến phía sau tường quay một cái giống như tay lái xe ô tô. Cái thứ đồ vật kềnh càng này từ đâu tới, tại sao phải đặt ở đây tôi đều không nhớ, thậm chí từng chuyển động của có, tiếng chuông báo giờ kêu thế nào tôi cũng không có ấn tượng.
            Dù cho đồng hồ của cung Dục Khánh to đến kinh người, trái lại người cung Dục Khánh là những người không có thời gian nghĩ tới nhất. Hãy xem tôi học những sách gì sẽ biết. Sách học chủ yếu của tôi là 13 kinh, có thêm sách phụ trợ như “Đại học diễn nghĩa”, “Chu tử gia huấn”, “Đinh huấn cách ngôn”, “Thánh dụ quảng huấn”, “Ngự phê thông giám chấp bản”, “Thánh vũ ký”, “Đại Thanh khai quốc phương liệt”... Đến 14 tuổi lại thêm khoá tiếng Anh. Ngoài “Anh ngữ độc bản” tôi chỉ học hai cuốn sách “Êlixưman kỳ cảnh ký” (Alice in Wonderland - “ghi chép về Êlixưman chơi cảnh lạ” - ND) và “Tứ thư” của Trung Quốc bằng tiếng Anh. Tiếng Mãn là môn học cơ bản nhưng ngay chữ cái tôi cũng không học được và kết thúc khi thày Yi Ko Tan chết. Tóm lại từ năm thứ ba đến thứ 11 Tuyên Thống, tôi chưa từng học về cộng trừ nhân chia, càng không biết gì về thanh, quang, hoá, điện. Về tổ quốc mình, qua sách vở chỉ thấy “Đông quang trung hưng”... Về nước ngoài, chỉ theo Alice du ngoạn cảnh lạ. Tôi hoàn toàn không biết gì về George Washington, Napoleon, Watt phát minh  máy hơi nước , Newton nhìn quả táo rơi... Về vũ trụ cũng không vượt qua “Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh.tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái”. Nếu không có các thày dạy kể chuyện ngoài sách học và tự mình đọc một số sách giải trí tôi không thể biết rõ vị trí của Bắc Kinh ở Trung Quốc, cũng không biết lúa gạo vốn từ đất mọc ra. Khi nói đến lịch sử, các thày dạy tôi cũng không chịu vạch trần huyền thoại về tiên nữ núi Trường Bạch cho nên trong một thời gian dài, tôi luôn tin rằng tổ tiên tôi là tiên nữ Phật Khố luân, ăn một quả táo đỏ mà sinh ra. Tôi luôn luôn cho rằng mỗi người dân thường bữa ăn đều có một bàn thịt cá. 
            Tôi học không ít sách cổ, thời gian cũng dài, lẽ ra phải có kiến thức nhất định về cổ văn, thực ra không như vậy. Trước hết, tôi rất lười học. Ngoài việc vin cớ ốm vặt để không đi học, khi không muốn học liền gọi thái giám báo thày nghỉ một ngày. Dưới 10 tuổi tôi thấy đọc sách ở cung Dục Khánh không vui bằng ở dưới cây bách ngoài cung. Tại vườn phía Đông cung Dục Khánh có một cây bách, vào mùa hè thường có đàn kiến suốt ngày lên lên xuống xuống bận rộn không ngừng. Chúng gây cho tôi sự tò mò rất lớn. Hàng ngày tôi ra đó quan sát cuộc sống của chúng, lấy thức ăn điểm tâm thừa nuôi chúng, giúp chúng chuyển vận lương thực còn mình quên cả ăn. Sau đó, tôi lại thích chơi dế, ve sầu... bảo thái giám mang nhiều lọ cổ đến để nuôi chúng. Đọc sách trong nhà tôi chẳng có hứng thú gì, khi đọc tới đoạn khô khan vô vị, tôi chỉ muốn chạy ra ngoài xem các bè bạn của mình.
            Quá 10 tuổi, tôi bắt đầu hiểu được mối quan hệ giữa đọc sách và bản thân mình, làm “một ông vua tốt” như thế nào cũng như đã là hoàng đế thì phải giỏi giang như thế nào nên có hứng thú học hành.
            Sự hứng thú ấy cũng chỉ ở chỗ “đạo làm vua” chứ không phải ở văn chương chữ nghĩa, mà “đạo làm vua” ấy phần lớn lại là quyền lợi, chứ rất ít nghĩa vụ của vua. Mặc dù các vị thánh hiền đã dạy những điều như “dân vi trọng, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (dân là trọng, thứ đến xã tắc, vua là nhẹ), “Vua coi bày tôi như cỏ rác, bày tôi sẽ coi vua như giặc thù”... nhưng những điều được nói nhiều hơn cả vẫn là lý thuyết trị vì trăm họ như “quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử” (Vua ra vua, bề tôi ra bề tôi, cha ra cha, con ra con), trong “Hiếu kinh”, cuốn sách giáo khoa đầu tiên rành rành đã quy định đạo lý “trung với vua rồi mới hiếu với cha mẹ”. Những lý luận xuôi tai này, tôi đã được nghe các thày dạy nói trong những cuộc chuyện phiếm ngoài giờ trước khi giảng sách, sau khi giảng sách, lời các thày vẫn nhiều hơn là sách cho đến ấn tượng của cổ văn chân chính để lại cho tôi không sâu sắc như những lời lẽ cổ hủ của các thày.  
            Nhiều nhà xuất thân cựu học đều học thuộc sách; nghe nói công việc khổ sở ấy rõ ràng mang lại điều tốt cho họ, trái lại, tôi chưa từng hưởng thụ điều tốt đó. Các thày chưa bao giờ bắt tôi đọc thuộc sách. Họ cũng tính đến việc học thì cần phải nhớ cho nên định ra hai cách: một là khi tôi đến thỉnh an thái hậu, phải mang sách đọc cho bà nghe; cách khác là mỗi sáng khi tôi thức dậy, thái giám tổng quản đứng ngoài giường tôi lớn tiếng đọc mấy lần bài học hôm trước để tôi nghe. Còn như tôi nhớ nhiều hay ít, có muốn nhớ hay không, không có ai quản cả.
            Đối với bài học, các thày chưa bao giờ ra đề làm bài. Tôi nhớ có mấy lần tôi làm câu đối, viết vài bài thơ, làm xong thày cũng không bình luận, càng khỏi nói đến sửa chữa. Thực ra, thời thiếu niên tôi thích viết sách trong điện Dục Khánh. Tuy nhiên do các thày không coi trọng những trò chơi đó nên tôi chỉ tự mình viết, tự mình trình bày, tự mình thưởng thức. Năm 13, 14 tuổi, tôi đọc khá nhiều sách giải trí như bút ký, dã sử, lịch sử diễn nghĩa xuất bản thời kỳ cuối nhà Thanh, đầu Dân quốc, tiểu thuyết kiếm tiên hiệp khách, công án... Lớn lên một chút, tôi lại đọc một số truyện tiếng Anh. Dựa vào những tác phẩm trong và ngoài nước đó, theo tưởng tượng của mình, tôi đã viết ra nhiều “truyện ký” tự viết, tự xem. Tôi còn lấy bí danh gửi bài đăng báo, phần lớn đều thất bại. Tôi nhớ có lần lấy tên Đặng Đông Lân, tôi chép một bài của nhà thơ triều Minh gửi cho một tờ báo nhỏ. Toà soạn báo bị mắc lừa đăng lên. Ngoài tờ báo bị lừa, thày Johnston dạy tiếng Anh cũng bị lừa.
            Ông dịch bài thơ ra tiếng Anh, đưa vào tác phẩm “Hoàng hôn Tử Cấm Thành” và coi đó là một bằng chứng về người học trò của mình có “Khí chất thi nhân”.
            Kết quả học tập tồi nhất của tôi là môn tiếng Mãn. Học nhiều năm chỉ nhớ một chữ, đó là mỗi lần đại thần tộc Mãn đến thăm tôi, quỳ trên sàn dùng tiếng Mãn nói một câu chiếu lệ (hạ thần là... quỳ chúc bề trên thánh an), tôi phải trả lời “y la” (đứng lên).
            Năm tôi lên chín, các thày nghĩ ra một cách thúc đẩy tôi học tập, cho một số học sinh cùng học với tôi. Mỗi người cùng học mỗi tháng có thể nhận 80 lạng bạc tiền thù lao, ngoài ra được “thưởng cưỡi ngựa trong Tử Cấm Thành” ([link=file:///E:/TIFF/TVE/VnThuquan/Hoangdecuoicung_HoikyPhoNghi.doc#M36]36[/link]). Mặc dù khi đó đã bước vào thời đại Dân quốc, song trong con cháu hoàng tộc vẫn được coi là vinh dự rất lớn. Có 3 người được vinh dự này là Phổ Kiệt, Dục Sùng (con Phổ Du, cùng học tiếng Mãn), Phổ Giai (Con chú bảy Tải Đào, cùng học tiếng Anh từ khi tôi 14 tuổi). Những người cùng học còn có một vinh dự là thay hoàng đế chịu sự quở trách trong phòng học. “Thành vương có lỗi thì nọc đánh Bá Cầm” từ xưa đã có lệ như vậy. Cho nên khi tôi học kém là thầy phạt bạn cùng học.
            Trên thực tế, hoàng đệ Phổ Kiệt không bao giờ bị phạt cả. Không may hơn cả là Dục Sùng, trong số ba người học Hán văn ở cung Dục Khánh, bài vở của Phổ Kiệt đã có thày dạy riêng, ngày ngày vào cung chẳng qua là mất nửa ngày làm bạn học với tôi mà thôi. Kết quả học tập của Dục Sùng tồi nhất, điều đó không phải vì hắn thiếu thày dạy riêng mà vì nếu học khá cũng vẫn bị khiển trách cho nên hắn không có hứng thú học hành. Dục Sùng học kém chẳng qua vì phải làm bạn học của vua.
            Khi không có bạn học, rõ ràng tôi vô cùng nghịch ngợm. Khi đọc sách, lúc cao hứng tôi cởi giầy tháo tất, vứt bít tất trên bàn, các thầy chỉ còn cách nhặt và đi lại cho tôi. Có một lần, thấy bộ râu dài của thày Từ Phương rất hay, tôi vẫy ông đến để vuốt. Khi ông vâng lệnh cúi đầu tới, tôi thừa lúc ông không đề phòng nhổ ngay một sợi. Sau đó Từ Phương chết. Các thái giám đều nói là do bị “đức vua” nhổ mất sợi râu thọ. 
            Từ sau khi có bạn cùng học, quả nhiên tôi khá lên, có thể ngồi yên học tập trong phòng học. Tôi có lỗi gì các thầy cũng có cách khuyên nhủ và răn dạy. Còn nhớ có lần tôi vừa nhảy vừa chạy vào phòng học, tức khắc nghe thầy Trần bảo Dục Sùng lúc đó đang ngồi rất ngay ngắn ở bên rằng: “Nhìn anh sao thiếu trang nghiêm đến thế!”.
            Hàng ngày, tôi học từ 8 giờ sáng đến 11 giờ. Sau đó thêm môn tiếng Anh từ 1 đến 3 giờ chiều. Trước 8 giờ sáng tôi ngồi kiệu vàng, nóc dát vàng đến cung bục Khánh. Tôi nói một tiếng:
            - Gọi.
            Thái giám lập tức vâng chạy ra gọi thầy dạy và các bạn học của tôi đã chực sẵn ở phòng xép đến. Họ vào điện cũng có trình tự nhất định; trước hết là thái giám bưng sách vở, theo liền là thầy dạy giờ đầu, sau cùng là các bạn học. Sau khi bước vào cửa, thầy dạy dừng lại, chăm chú nhìn tôi một chút làm lễ ra mắt. Tôi không cần đáp lễ vì “tuy thầy mà là bề tôi, tuy trò mà là vua” đó là điều phép tác đã quy định. Tiếp đó, Phổ Kiệt, Dục Sùng quỳ thỉnh an tôi. Thầy dạy ngồi bên trái tôi, mắt nhìn về phía tây, thuận theo đó là chỗ ngồi của các bạn học. Lúc này thái giám đã đặt xong mũ của mọi người trên ống úp mũ, khép nép lui ra, bài học của lớp bắt đầu.
            Tôi tìm được 3 trang nhật ký viết lúc 15 tuổi, qua đó có thể thấy rõ tình hình sinh hoạt học hành của tôi. Sau Tân Hợi, trong cung vẫn luôn giữ tôn hiệu năm Tuyên Thống, mấy trang nhật ký này viết “tháng 11 năm thứ 12 Tuyên Thống”.
            - Ngày 27, tạnh. 4 giờ sáng dậy, đọc 18 trang chữ lớn. 8 giờ lên lớp. Cùng Phổ Kiệt, Dục Sùng đọc Luận Ngữ, Chu lễ, Lễ Ký, Đường Thi, nghe thầy Trần giảng bài.
            9 giờ rưỡi ăn xong 1ại đọc Tả truyện.
            Nghe thầy Chu giảng Đại học diễn nghĩa và tập viết câu đối. Đến 11 giờ, học xong, đi thỉnh an 4 cung. Hôm đó Jonshton chưa tới, vì cảm nhẹ lại trở về điện Dưỡng Tâm, tập viết 30 trang chữ Phúc, Thọ, đọc các báo. Đến 4 giờ chiều, ăn cơm, 6 giờ đi nằm. Trong màn lại đọc Cổ văn rất có hứng thú.
            - Ngày 28, tạnh. 4 giờ sáng dậy. Tĩnh toạ hồi lâu, đến 8 giờ lên lớp. Vẫn như hôm trước đã ghi. Đến quá 12 giờ 3 khắc, Johnston tới. Cùng Phổ Giai học tiếng Anh. 3 giờ học xong, về điện Dưỡng Tâm. 3 giờ nrỡi, do cảm thấy đau bụng gọi Phạm Nhất Mai tới khám bệnh, kê đơn thuốc như sau:
            Bạc hà: 8 phân - Bạch chỉ: 1 tiền - Thanh bì: 1 tiền 5 phân - Uất kim: 1 tiền 5 phân - Biểu lâu: 2 tiền (sao) - Vi khúc: 1 tiền 5 phân (sao) - Tiêu tra: 3 tiền - Thanh quả: 5 nhánh - Sắc lên uống nóng.
            Sau cơm chiều một lúc uống thuốc - 5 giờ rưỡi đi ngủ.
            - Ngày 29: tạnh. Một giờ đêm bị đánh thức, cảm thấy khó chịu, bước xuống đất mới biết bị hơi độc than. Hai người dìu đi, đến nhà trước đã mê đi. Nằm trên tràng kỷ, một lúc thì tỉnh, qua mấy giờ đồng hồ mới dễ chịu. Hai thái giám lớn ở phòng ngủ khác cũng bị ngã. Nay mới biết phải cẩn thận về than. 8 giờ vẫn lại lên lớp, đọc tiếng Anh.
            3 giờ mới học xong, ăn xong, đến 6 giờ đi ngủ.
            Thầy Lục Nhuận Tường ([link=file:///E:/TIFF/TVE/VnThuquan/Hoangdecuoicung_HoikyPhoNghi.doc#M37]37[/link]) là người Nguyên Hoà - Giang Tô đã từng làm Đại học sĩ, dạy tôi chưa được một năm thì mất. Thày Yi Ko Tan, dạy tiếng Mãn là người chính bạch kỳ tộc Mãn, xuất thân là tiến sĩ phiên dịch tiếng Mãn dạy tôi hơn 9 năm tiếng Mãn. Cùng với hai thầy trên là thày Trần Bảo Thám, người huyện Mân tỉnh Phúc Kiến, thời Tây thái hậu, đã được làm Học sĩ nội các và Lễ bộ thị lang. Thầy Trần ở với tôi lâu nhất. Sau khi thầy Lục mất, lại thêm các thầy dạy chữ Hán Tử Phương đã từng làm Quốc Tử thừa.
            Nam thư phòng Hàn lâm Chu Ích Phan và Lương Đỉnh Phần ([link=file:///E:/TIFF/TVE/VnThuquan/Hoangdecuoicung_HoikyPhoNghi.doc#M38]38[/link]) nổi tiếng về trồng thông  trước lăng Quang Tự. Ảnh hưởng lớn nhất đối với tôi trước hết là thầy Trần Bảo Thám sau đó đến Johnston thầy dậy tiếng Anh. Thầy Trần nổi danh tài tử ở Phúc Kiến, là tiến sĩ triều Đồng Trị, 20 tuổi đậu hàn lâm. Sau khi vào cung đã nổi tiếng dám can Thái hậu cùng với Trương Chi động nổi tiếng thanh liêm. Về sau, ông không như Trương Chi Động, gió chiều nào theo chiều ấy. Năm 17 Quang Tự, vin cớ công việc Nam Dương không hoàn thành tốt bị giáng 5 cấp từ đó về ẩn dật. Ở quê nhà, đến 30 năm không xuất đầu lộ diện. Cho đến trước cách mạng Tân Hợi mới được sử dụng, được cử làm Tuần Vũ tỉnh Sơn Tây , chưa đến nơi nhậm chức được giữ lại làm thầy dạy tôi, từ đó không rời tôi cho đến khi tôi lên Đông Bắc mới thôi. Trong các di lão bên cạnh tôi, ông là một người nổi tiếng cẩn thận, vững vàng nhất. Khi đó, tôi coi ông là người trung thực nhất đối với tôi, trung thực nhất với “Đại Thanh”.
            “Có vua tuy nhỏ nhưng bao trùm thiên hạ”. Đó là câu nói Trần Bảo Thám mỉm cười ca tụng tôi. Khi ông cười đôi mắt ông ánh một vệt sáng sau cặp kính lão, một tay nhè nhẹ vuốt chòm râu toả xuống trắng như tuyết.
            Những câu chuyện phiếm của ông càng làm tôi thích thú. Khi tôi lớn một chút, hầu như sáng sớm nào cũng vậy, tôi đều muốn nghe ông nói một số tin tức có quan hệ tới Dân quốc như sự bất hoà giữa Nam - Bắc, quân đội đánh nhau, phủ viện tàn ác... đều là những đề tài của ông. Nói xong những chuyện đó, hầu như ông lại dùng một giọng khác, ôn lại một chút về “Đồng Quang trung hưng, Khang - Càn thịnh thế”. Đương nhiên ông rất thích nói về câu chuyện năm trước ông dám can ngăn Tây thái hậu. Mỗi khi nói đến những cựu thần đi làm quan cho Dân quốc ông đều rất giận dữ. Ông cho rằng: Từ Thế Xương, Triệu Nhĩ Tôn, phải xếp vào loại tặc thần. Theo lời ông cách mạng, Dân quốc, Cộng hoà, tất cả đều là nguồn gốc của tai nạn, mà những nhân vật có quan hệ với những từ ngữ đó đều có thể xếp vào loại giặc cướp. “Không có thánh nhân thì không có phép tắc, không có con hiếu thì không có cha mẹ, đó là cái đạo đại loạn”, đó là những kết luận chung của ông đối với những điều mà ông cho là ngang tai trái mắt ấy. Tôi còn nhớ, ông đã nhắc lại câu đối do một di lão viết:
                        Dân ưu thị dã, quốc ưu thị dã hà phân Nam - Bắc.
                        Tổng nhi ngôn chi, thống nhi ngôn chi bất thị đông tây.
            (Chơi chữ Dân - Quốc - Tổng - Thống, ý nói: nhân dân và đất nước lo lắng tại sao chia Nam - Bắc. Tổng thống chẳng ra cái thứ gì. - ND).
            Sau khi nói về thời cuộc, ông thường kết luận: “Dân quốc chẳng qua chỉ mấy năm đã sớm bị trời oán, dân oán, hơn hai trăm năm ơn lộc sâu của quốc triều, lòng dân nhớ nhà Thanh, cuối cùng trời và người sẽ quay về”.
            Thầy Chu Ích Phan khi giảng dạy không hay nói chuyện phiếm, tinh thần ông thường không được phấn chấn, sau tôi mới biết ông thích đánh bài, đã đánh là đánh suốt đêm. Do đó thiếu ngủ, ông biết khám bệnh, khi tôi ốm có lúc mời ông bắt mạch.
            Thầy Lương Đỉnh Phần rất hay nói chuyện. Ông có chỗ khác với thầy Trần là nói nhiều hơn về mình. Có một câu chuyện mà tôi đã nghe tới mấy lần. Sau khi Quang Tự qua đời ông đã thề sẽ dựng lều trông giữ lăng Quang Tự cho đến hết đời. Câu chuyện đã xảy ra khi ông trông coi lăng. Có một đêm, ông đọc sách sử dưới đèn bỗng có một gã cao lớn từ trong vườn nhảy tới, tay cầm một con dao sáng loáng, tiến vào phòng. Mặt không biến sắc, ông hỏi :
            - Tráng sĩ đến có việc gì? Phải chăng muốn lấy đầu lão Lương?
            Vị khách không mời mà đến đó bị ông cảm hoá, không ra tay được. Ông đặt sách xuống khảng khái nói:
            - Lương mỗ có thể chết trước lăng tiên đế, xin mời!
            Người đó cuối cùng đặt dao xuống, quỳ lạy tự xưng là vâng lệnh Viên Thế Khải đến hành thích, khuyên ông lập tức rời đi để khỏi chết. Ông ngang nhiên từ chối lời khuyên, tỏ ý quyết không sợ chết. Nghe câu chuyện nay tôi rất cảm động. Tôi còn nhìn thấy một tấn ảnh ông chụp ở Sùng lăng, mặc triều phục nhà Thanh, bên cạnh có một cây tùng non. Thầy Trần Bảo Thám đã đề thơ tặng ông có câu “Bất kiến tùng thanh tâm bất tử” (không thấy cây tùng xanh tốt lòng không yên).
            Tại sao ông đổi lời nguyền thề coi lăng cho đến khi chết thành “Không thấy cây tùng xanh tốt lòng không yên”, rồi lại không đợi cho cây tùng xanh tốt, đã chạy vào thành, điều đó có trời biết.
 
 
 
----------------------------------------------------------
(36) “Thưởng cưỡi ngựa trong Tử Cấm Thành”“ còn gọi là “ thưởng triều mã”, mỗi năm có trên 60 đại thần nhất, nhị phẩm được thưởng danh hiệu này. (ND).
(37) Lục Nhuận Tường cũng là một nhà tư bản công nghiệp thời đó. Ông xây dựng nhà máy dệt lụa sớm nhất ở Giang Tô. Sau cách mạng Tân Hợi được nhà Thanh phong chức Thái bảo.
(38) Lương Đỉnh Phần (1859-1919) người Quảng Đông, năm Tuyên Thống thứ ba là Tuyên Vũ sứ tỉnh Quảng Đông, chưa nhận chức thì triều Thanh sụp đổ, đến Tích Châu khóc trước lăng Quang Tự, được triều đình nhỏ phong “Sùng lăng lăng công đại thần”.
 
Đăng nhập để trả lời
0

Vú nuôi tôi

 
            Trong bản “ghi sinh hoạt” ngày 15 tháng giêng năm thứ năm Tuyên Thống, Lương Đỉnh Phần có đoạn ghi chép: “Hoàng thượng thường đánh thái giám, gần đây vin lỗi nhỏ đánh 17 người, thần và Trần Bảo Lương cùng những người khác can, không nghe”. Đó là nói khi tôi đã mười một tuổi, đánh mắng thái giám đã thành cơm bữa trong nhà.
            Mỗi lần tôi cáu giận hoặc không vui, thái giám liền gặp tai hoạ, còn nếu tôi bỗng nhiên phấn khởi, muốn bày trò vui thái giám cũng có thể ăn đòn. Khi còn nhỏ, tôi có nhiều ham thích quái gở. Ngoài thú chơi lạc đà, nuôi kiến, nuôi giun, xem súc vật cắn nhau... thú vui lớn hơn của tôi là hay bày trò chơi ác. Trước khi tôi biết dùng “Phòng kính sự” để đánh người, nhiều thái giám đã khốn khổ vì những trò chơi ác của tôi. Một lần, khi khoảng tám chín tuổi, tôi bỗng ra oai với những người thái giám cung cúc vâng lời ấy, muốn thử một chút xem họ có thật vâng lời “Thánh thiên tử” hay không, tôi chọn một thái giám, trỏ một vật nhơ bẩn trên mặt đất và bảo: “Ngươi hãy ăn đi giúp ta”, viên thái giám đã qùy phục xuống đất ăn hết vật nhơ bẩn đó.
            Một lần tôi dùng vòi chữa cháy phun nước chơi. Đúng lúc đó, một thái giám già từ phía trước đi tới. Tôi bỗng nảy trò chơi ác, dùng vòi nước lạnh chết người phụt vào ông ta, sau đó phải qua một cuộc cấp cứu mới cứu sống viên thái giám già.
            Trước những người luôn luôn nghênh đón, cung cúc vâng lời đó, tạo cho tôi một thói xấu là hành hạ người khác để mua vui. Các thầy dạy học cũng can ngán, giảng giải cho tôi về đạo nhân hoà, nhưng cũng chính họ đã thừa nhận uy quyền của tôi và giáo dục uy quyền đó cho tôi. Mặc dù họ đã dùng biết bao nhiêu chuyện về “thánh quân, anh chúa” trong lịch sử để giáo dục tôi, nói đi, nói lại, tôi vẫn là vị hoàng đế “khác biệt người thường”, nên sự khuyên dạy của họ chẳng có mấy hiệu quả.
            Trong cung chỉ có một người có thể ngăn cản tôi bày trò tai ác, đó là Vương Tiêu thị, vú nuôi tôi. Vú nuôi là người đàn bà không biết một chữ nào, không biết nói về “đạo nhân từ”, về chuyện “thánh quân anh chúa” trong lịch sử nhưng khi bà can, tôi cảm thấy không thể trái lời bà.
            Một lần, một thái giám biết trò chơi múa rối, biểu diễn cho tôi xem một cảnh múa rối. Tôi xem rất thích thú, quyết tâm thưởng cho y một miếng bánh trứng gà. Lúc đó, cái thú chơi ác của tôi bỗng hứng lên, định trêu y một cái. Tôi mở cái túi đựng mạt sắt, bốc một nhúm nhét trong miếng bánh, Vú trông thấy liền hỏi: “Ông lớn nhét mạt sắt vào thì người ta ăn làm sao được?”.
            - Tôi muốn xem hắn nhai bánh trứng gà ra sao?
            - Thế thì có gẫy răng không? Răng gãy thì còn ăn thứ gì được nữa. Người không ăn có được không?
            Tôi nghĩ, bà nói đúng nhưng tôi không mua vui được. Tôi nói:
            - Tôi muốn xem răng hắn gẫy thế nào, để xem một chút thôi.
            - Thế thì dùng đậu xanh, nhai đậu xanh cũng buồn cười dấy .
            Thế là viên thái giám biết múa rối ấy thoát được tai nạn.
            Một lần khác tôi chơi súng hơi, dùng dạn chì bắn vào các cửa sổ nhà thái giám, thấy giấy dán cửa sổ thủng lỗ tôi thích lắm, không biết ai đã đưa Vú đến.
            - Ông lớn ơi, trong nhà có người, bắn vào sẽ làm người ta bị thương đấy.
            Chỉ có vú bảo tôi: người khác và tôi đều là người. Không những tôi có răng, người khác cũng có răng. Không những chỉ răng tôi không nhai được mạt sắt, người khác cũng không nhai được. Không phải chỉ tôi ăn cơm, người khác không ăn sẽ đói. Người khác cũng có cảm giác, da thịt người ta bị đạn chì bắn vào cũng đau như thế. Những lời nói giản dị ấy không phải tôi không hiểu nhưng trong hoàn cảnh ấy, tôi không dễ dàng nghĩ tới vì điều căn bản tôi nghĩ rằng mình không thể đem so với người khác, càng không thể đem mình và người khác để nói. Từ nhỏ đến lớn tôi ở trong cung, chỉ khi có vú, tôi mới được nghe bà nói những lời giản dị khiến tôi nghĩ đến lẽ phải là tôi cũng như mọi người khác.
            Tôi lớn lên trong lòng vú, bú sữa bà cho đến năm chín tuổi. Chín năm đó tôi không thể rời bà như con không thể rời xa mẹ. Năm tôi lên chín, các thái phi đã phản tôi đuổi bà đi. Khi đó, tôi thà bỏ cả bốn bà mẹ trong cung đế đổi lấy bà vú “quê mùa” của tôi. Nhưng mặc tôi gào khóc, các thái phi không tìm vú về cho tôi. Nay xem ra, từ sau khi vú đi, cạnh tôi không còn một người nào hiểu “tính người”. Nếu như trước chín tuổi, tôi còn hiểu được chút “tính người” từ sự nuôi dạy của vú thì chút “tính người” đó từ sau cũng dần dần mất hết.
            Sau khi lấy vợ, tôi cử người đi tìm thấy bà vú, có khi đón bà ở chơi ít ngày. Cuối thời ngụy Mãn, tôi đón bà đến Trường Xuân nuôi nấng cho đến khi tôi rời Đông Bắc. Bà chưa hề lợi dụng địa vị đặc biệt của mình để đòi hỏi một điều gì. Tính bà hiền hoà, không hề cãi cọ với ai bao giờ. Bà ít nói, cũng có thể nói bà thường trầm lặng. Nếu không có người khác chủ động nói với bà, bà thường luôn luôn trầm lặng mỉm cười. Lúc nhỏ, tôi thường cảm thấy lạ lùng về kiểu mỉm cười đó. Mắt bà hình như chăm chú nhìn vào một nơi rất xa xôi. Tôi thường nghi ngờ hay là bà nhìn thấy vật gì thú vị, trên trời hoặc trong tranh vẽ trên tường ngoài cửa sổ. Bà chưa bao giờ nói về lai lịch, thân thế của mình. Mãi tới khi tôi được đặc xá, hỏi thăm người con kế của bà mới biết người đàn bà dùng sữa của mình nuôi vị “hoàng đế Đại Thanh” đã phải chịu đựng biết bao gian khổ và tủi nhục của triều “Đại Thanh” như thế nào.
            Năm thứ 13 Quang Tự (1887), bà sinh ra trong một gia đình bần nông họ Tiêu ở nông thôn huyện Nhiệm Khâu, phủ Hà Gian, Trực Khang. Khi đó, bà có cha mẹ và một người anh lớn hơn bà sáu tuổi, cha bà khoảng năm mươi tuổi, trồng trọt mấy mẫu đất bài, trời không mưa thì hạn, mưa thì ngập úng, cộng với sưu cao thuế nặng nên năm nào cũng thiếu ăn. Năm bà lên ba (năm thứ 16 Quang Tự), phía bắc Trực Khang xảy ra nạn lụt lớn, cả nhà bà mấy lần định vứt bỏ bà, mấy lần lại được bỏ vào gánh sọt rách, một đầu là quần áo cũ, tài sản của cả gia đình,không có lấy một hạt gạo. Sau này kể chuyện với con mình, bà không hề oán trách cha mình về việc bà có nguy cơ bị vất bỏ trong cơn hoạn nạn, chỉ nói đi nói lại rằng cha bà đã đói đến mức không cử động được nữa vì không kiếm được thứ gì ăn. Những người gặp trên đường cũng trong tình cảnh ấy. Một nhà bốn người; cha, mẹ, con trai lên chín, con gái lên ba rõ ràng  khó mà tới được Bắc Kinh. Họ vốn định tìm đến một nhà người quen đang làm thái giám ở Bắc Kinh, không ngờ viên thái giám đó không chịu tiếp nên họ phải lang thang như những người ăn mày trên đường phố. Trong thành Bắc Kinh có hàng nghìn, hàng vạn dân chạy nạn sống vật vờ trên các đường phố. Cùng lúc đó, trong triều đình lại huy động của cải, nhân lực xây vườn Di Hoà cho Từ Hy thái hậu. Trong cuốn “Quang Tự triều Đông Hoa lục” có thể tìm thấy đoạn ghi chép như sau: năm đó, ông nội qua đời, Tây thái hậu cử đại thần ban lễ tang, cha tôi kế lập tước vương. Số bạc của Thuần vương phủ dùng tổ chức lễ tang như nước chảy. Cha tôi đội ơn tập tước bỏ số bạc do những người dân chạy nạn bằng mồ hôi nước mắt tạo ra mua mấy con hầu. Gia đình họ Tiêu muốn bán con gái nhưng không có ai mua. Khi đó, Phủ Doãn Thuận Thiên sợ dân nổi loạn nên đã mở một trạm tế bần nên họ tạm thời có chốn nương thân. Người con trai chín tuổi được một thợ cắt tóc nhận làm thợ học việc. Họ trải qua một mùa đông khó khăn như vậy. Mùa xuân tới, nông dân lưu lạc nhớ quê hương, trại tế bần đóng cửa nên đều lần lượt trở về quê nhà. Gia đình họ Tiêu về đến quê hương trải qua mấy năm đói rét. Tai hoạ liên quân tám nước năm Mậu Tý lại giáng xuống hai phủ Bảo Định và Hà Gian, cô bé lúc đó đã mười ba tuổi, lại chạy tới Bắc Kinh nương nhờ người anh làm thợ cắt tóc. Nhưng người anh cũng không còn cách nào nuôi nổi em. Đến năm cô mười sáu tuổi đã nửa gả, nửa bán cho sai dịch họ Vương. Chồng bị bệnh phổi, sống phóng túng. Cô chịu cảnh ba năm làm con ở,  chịu nhục đánh đập, vừa mới sinh được con gái thì chồng chết. Hai mẹ con cùng cha mẹ chồng, một nhà bốn miệng ăn lại lâm vào cảnh đường cùng. Khi đó, tôi mới ra đời, Thuần vương phủ đi tìm vú nuôi tôi, trong số mười hai người ứng tuyển, bà được trúng tuyển vì thể mạo đoan chính, sữa tốt. Vì cần tiền để nuôi sống con gái và mẹ chồng, bà phải nhận điều kiện khuất phục là không được về nhà, không được thăm con mình, mỗi ngày phải ăn một bát thịt nhạt. Hai lạng bạc biến một con người thành con bò sữa.
            Sau ba năm làm vú nuôi tôi, con gái bà chết vì không đủ dinh dưỡng. Để tránh việc bà vì thương cảm ảnh hưởng tới chất lượng sữa, Thuần vương phủ bịt kín tin này.
            Năm thứ chín, một thái giám cãi nhau với người ở gái, Thái phi quyết định đuổi họ, nhân thể đuổi cả vú nuôi tôi. Con người hiền thục chịu đựng tất cả, sau chín năm thường mỉm cười và trầm mặc ấy mới biết con gái mình không còn trên đời nữa.
 
Đăng nhập để trả lời
0

Lấy vợ

 
            Khi vương công đại thần vâng lệnh các Thái phi đến nhắc là tôi đã đến tuổi “kết hôn”, nếu bảo tôi đối với việc này mà tôi còn chút hứng thú đó là vì kết hôn là cái mốc đánh dấu  rằng tôi đã khôn lớn, qua thủ tục lấy vợ sẽ không ai được câu thúc tôi như đối với một đứa trẻ nữa.  
            Bận tâm nhất về việc này là các bà già. Đầu năm Dân quốc thứ 10, tức là lúc tôi vừa mười mười lăm tuổi, các thái phi đã năm lần bảy lượt vời cha tôi tới Hoàng cung bàn bạc, tiếp sau đó lại triệu tập mười vị vương công họp bàn. Từ lúc thảo luận cho đến lúc thành hôn phải qua thời gian gần hai năm. Trong thời gian đó, vì thái phi Trang Hoà và mẹ tôi nối nhau qua đời và cũng vì thời cuộc rối ren nên các thầy dạy tôi khuyên tôi tạm hoãn. Đặc biệt là có cuộc tranh chấp trong tình thế rất phức tạp, việc tôi lấy vợ phải bàn đi bàn lại mà không dứt khoát được.
            Khi ấy thái phi Trang Hoà vừa qua đời, thái phi Vinh Huệ không có ý kiến gì, giữa hai bà thái phi còn lại đã xảy ra tranh chấp kịch liệt về người ứng cử “hoàng hậu” tương lai. Đó không phải là vì các bà yêu tôi mà là vì có quan hệ rất lớn đến địa vị của mỗi bà sau này. Kính Ý thái phi nguyên là phi của vua Đồng Trị, bà không thể nào quên được lời căn dặn chọn tôi là người kế tự vua Đồng Trị kiêm nối dõi vua Quang Tự ghi trong di chúc của Tây thái hậu. Khi Long Dụ thái hậu còn sống, bà bất chấp chuyện này, không những không vì lời di chúc mà tôn trọng các phi của Đồng Trị, ngược lại còn tống hết các bà vào lãnh cung là khác. Sau khi Long Dụ thái hậu qua đời, tuy các thái phi đã được tôi đồng loạt gọi là mẹ nhưng do Viên Thế Khải nhúng tay can thiệp vào “nội chính” chỉ định thái phi Đoan Khang chủ trì mọi công việc trong cung nên Kính Ý thái phi là “chính thống” mà không được tôn trọng. Chí lớn ấp ủ bấy lâu nay chưa đạt khiến bà rất căm Đoan Khang. Cho nên trong quá trình bàn việc hôn nhân, cả  hai thái phi đều đề cử người mình ưng ý, không ai chịu nhường ai.
            Buồn cười nhất là hai chú tôi, giống hệt như một người chủ trương tăng cường hải quân, một người tăng cường lục quân, trước mắt Nhiếp chính vương trước kia không ai chịu nhượng bộ ai. Ngày nay, mỗi người cũng chạy vạy cho một thái phi. Ông “hải quân” chủ trương tuyển con gái Đoan Cung. Ông “lục quân” chủ trương tuyển con gái Vinh Nguyên. Để hoàn thành việc mối lái ấy, hai vị thống soái suất ngày bôn ba sương gió trên con đường Bắc Kinh - Thiên Tân rồi lại hối hả ra vào cung Vĩnh Hoà và điện Thái Cực.
            Tuyển lựa ai, cố nhiên phải do “hoàng đế” lên tiếng “khâm định” mới được. Biện pháp ở thời đại Đồng Trị và Quang Tự là các cô ứng cử xếp hàng ngang để tân lang tương lai chọn ngay tại chỗ. Về việc này tôi nghe thấy có hai cách nói: một cách là buộc cái túi nhỏ đựng tiền vào khuy áo cô gái. Một cách là đưa ngọc như ý cho cô gái được tuyển. Đến thời đại tôi, qua bàn bạc của các vương công đại thần thấy rằng bắt con gái nhà người ta xếp hàng để chọn đi chọn lại không ổn lắm, thay bằng cách chọn qua ảnh. Nếu tôi ưa ai hơn thì dùng bút chì đánh dấu lên ảnh.
            Bốn tấm ảnh được đưa đến điện Dưỡng Tâm. Với con mắt nhận xét của tôi, bốn người cùng một mẫu nặn ra: thân hình đều thẳng đuỗn như chiếc ống phất bằng giấy. Bộ mặt trên các tấm ảnh đều bé tẹo, khó phân biệt xấu đẹp. Nếu nhất định phải có sự so đo thì chỉ có thể kết luận là kiểu hoa trên áo dài người nào đặc biệt hơn một chút mà thôi.
            Lúc đó tôi không hề nghĩ đến vấn đề chung thân đại sự gì và cũng không có tiêu chuẩn nào, chỉ ù xịa cầm bút chì khoanh một vòng tròn trên tấm ảnh dường như vừa mắt hơn một chút.
            Đó là Văn Tú, còn có tên Huệ Tâm, kém tôi ba tuổi, con gái Đoan Cung dòng họ Ngạch Nhĩ Đức Đặc ở Mãn Châu. Năm tôi xem ảnh cô mới mười hai tuổi. Đó là người mà thái phi Kính Ý vừa lòng. Kết quả là việc lựa chọn này được đưa đến các thái phi. Đoan Khang thái phi không đồng ý. Bất chấp sự phản đối mãnh liệt của Kính Ý, bà ép các vương công phải khuyên tôi chọn lại, lấy người mà bà ưng ý, với lý do là nhà Văn Tú bần hàn, mặt mũi không đẹp, còn người bà chọn là con nhà phú hộ, mặt mũi rất kháu. Người của Đoan Khang tiến cử là con nhà Vinh Nguyên họ Quách Bố La, người Mãn Châu thuộc kỳ Chính Bạch, tên Uyển Dung, tự Mộ Hồng, cùng tuổi tôi. Năm tôi xem ảnh, cô mười sáu tuổi. Thấy các vương công khuyên, tôi thầm nghĩ: sao các người không nói sớm. May mà dùng bút chì khoanh vòng tròn cũng chẳng vất vả gì nên tôi vẽ lần nữa lên ảnh Uyển Dung. Nhưng hai thái phi Kính Ý và Vinh Huệ lại phản đối, không rõ các thái phi tranh luận các vương công ra sao, kết quả thái phi Vinh Huệ ra mặt nói:
            - Một khi Hoàng đế đã chấm Văn Tú thì Văn Tú không thể lấy thần dân được nữa, phải nhận là quý phi.  
            Tôi nghĩ, một vợ còn cảm thấy chưa cần  lắm, tại sao bỗng dưng lại lấy những hai vợ một lúc làm gì. Tôi không muốn tiếp thu ý kiến ấy nhưng không bác được đạo lý “hoàng đế cần phải có hậu, có phi” của tổ tiên để lại mà các vương công đã nặn ra để làm căn cứ. Tôi nghĩ: nếu đó là đặc điểm của một hoàng đế thì cố nhiên tôi phải có đủ lệ bộ. Thế là tôi đồng ý.
            Quá trình tuyển hậu, phi nói thì đơn giản như vậy nhưng thực ra phải mất hàng năm ròng mới quyết định dứt khoát được, nhưng sau khi quyết định rồi lại xảy ra chiến tranh giữa phe Trực Lệ với phe Phụng Thiên (hai phe quân phiệt - ND), việc cưới xin phải hoãn lại. Mãi đến năm Dân quốc thứ 12 (trước tết âm lịch) cánh Từ Thế Xương sụp đổ mà lễ cưới đại quy mô lại trên đà tiến hành thật sự nên không thể hoãn lại được nữa, cứ phải tiến hành.
            Đối với Lê Nguyên Hồng, lần thứ hai lên làm tổng thống, các vương công không tin tưởng như với Từ Thế Xương, chỉ lo ông ta phá thối, can thiệp vào sự phô trương bày vẽ trong lễ cưới. Nhưng trái lại sự ủng hộ của chính phủ Lê Nguyên Hồng lại tốt quá sức tưởng tượng, dù cho Từ Thế Xương có tại chức cũng đến thế là cùng.
            Bộ tài chính Dân quốc viết thư cho Phủ Nội vụ thành khẩn cáo lỗi, nói rằng kinh phí quả khó khăn đến nỗi món tiền ưu đãi hàng năm cũng không sao trù liệu được. Hiện giờ, để gom góp lễ cưới, Bộ phải bớt ở khoản thuế quan ra 10 vạn đồng, là lễ mừng của Dân quốc. Đồng thời các cơ quan quân đội của Dân quốc cũng chủ động đặc phái quan quân đến đảm nhận kế hoạch cảnh vệ, liệt kê như sau:
            - Khi của hồi môn của Thục phi tiến cung, Nha thống lĩnh phái bộ binh 30 sĩ quan, 300 binh sĩ đứng gác ở Thần Vũ Môn, Đông An Môn và trên các con đường đi qua.
            - Khi của hồi môn của hoàng hậu tiến cung, Nha thống lĩnh bộ binh phái 31 sĩ quan, 416 binh sĩ (trong đó có 6 lính kèn) đứng gác ở Thần Vũ Môn, nhà hoàng hậu ở, trên các con đường phải đi qua và theo sau hộ tống.
            - Khi cử hành lễ sách phong hoàng hậu, phái 34 sĩ quan (trong đó có 3 sĩ quan đội quân nhạc), 438 binh sĩ (trong đó có 12 lính quân nhạc, 6 lính hiệu) của Nha thống lĩnh bộ binh đứng gác ở Thần Vũ Môn, nhà hoàng hậu ở, trên các con đường phải đi qua và hộ tống. Ngoài 9 sĩ quan và 40 hiến binh của Bộ tư lệnh hiến binh ra, còn phải thêm hai tiểu đoàn đầy đủ số quân đứng gác trên các con đường phải đi qua.
            - Các khu Thần Vũ Môn, Đông An Môn, nhà hoàng hậu ở và Thục phi ở cũng như các con đường phải đi qua thuộc quyền quản hạt của Ty, Sở cảnh sát nào thì nơi đó phải tăng cường cảnh sát bảo vệ.
            Trước kia, Dân quốc đã quy định: chỉ có Thần Vũ Môn thuộc phạm vi cung cấm nhà Thanh. Lần này, cũng phá bỏ thể lệ đã quy định, đặc cách cho “xe loan” đi qua Đông Hoa Môn vào cung.
            Toàn bộ chương trình nghi thức lễ cưới là 5 ngày:
            - Ngày 29 tháng 11, giờ Tỵ, hồi môn của Thục phi tiến cung.
            - Ngày 30 tháng 11, giờ Ngọ, hồi môn của hoàng hậu tiến cung. Giờ Tỵ cử hành lễ sách lập hoàng hậu. Giờ Sửu, Thục phi tiến cung.
            - Ngày 1 tháng 12, giờ Tý, cử hành điển lễ thành hôn, giờ Dần nghênh đón hoàng hậu.
            - Ngày 2 tháng 12, giờ Tý, hoàng đế và hoàng hậu làm lễ bái yết tổ tiên ở điện Thọ Hoàng trên Cảnh Sơn.
            - Ngày 3 tháng 12, Hoàng đế nhận lễ mừng ở cung Càn Thanh. Ngoài chương trình nghi thức này, sau lễ cưới còn liên tiếp có 3 ngày diễn tuồng. Trước ngày lễ cưới, tức ngày 10 tháng 11  có mấy việc phải làm là lễ nạp thái, lễ tấn phong 4 thái phi (từ lúc đó trở đi mới được chính thức gọi là thái phi). Sau đó là một cuộc lễ phong thưởng linh đình cho các vương công đại thần.
            Điều gây công phẫn cho xã hội hơn cả là sau tấn tuồng “phục tích” (âm mưu khôi phục lại triều Thanh - ND) vừa qua, triều đình lại trắng trợn ra tận ngoài Cấm Thành trưng trổ oai phong. Dưới sự tuần tra canh gác và cung kính hộ vệ của đông đảo quân đội, cảnh sát dân quốc nghi trượng của cung nhà Thanh rầm rộ đảo qua hiện lại trên đường phố Bắc Kinh một cách ngông nghênh, coi đời bằng nửa con mắt. Hôm chính thức cử lễ nghênh hôn, đằng sau hai ban quân nhạc của Dân quốc, một đôi chánh phó sứ giả làm nhiệm vụ sách phong (Khánh thân vương và Trịnh thân vương) nai nịt cân đai bối tử cưỡi ngựa, tay cầm tiết mao (như cái roi của Tô Vũ chăn dê) tiếp ngay là đội quân nhạc và kỵ binh lục quân, kỵ binh bảo an của Dân quốc. Sau cùng là 72 bộ cờ xí tàn quạt rồng phượng, nghi trượng xe loan, 4 cỗ kiệu vàng (trong để lễ phục, vàng ngọc của hoàng hậu), 30 đôi đèn lồng ào ạt kéo tới “dinh hoàng hậu”. Cửa dinh chăng đèn kết hoa rực rỡ tưng bừng cũng có một đám đông quân đội, cảnh sát túc trực để bảo vệ. Vinh Nguyên - bố Uyển Dung và anh em Uyển Dung quỳ dưới đất nghênh tiếp chánh phó sứ giả mang “thánh chỉ tới”.
            Đồ mừng của các nhân vật đứng đầu Dân quốc cũng làm người ta phải chú ý. Trên tấm thiếp đỏ của đại tổng thống Lê Nguyên Hồng viết: “Đại tổng thống Trung Hoa Dân quốc Lê Nguyên Hồng kính tặng Đại Hoàng đế Tuyên Thống” kèm theo tám thứ đồ mừng gồm: 4 loại đồ tráng men, hai loại gấm vóc, một bức trướng, một bức câu đối viết:
                        Lấy gạch Hán làm văn, chúc sống lâu muôn tuổi
                        Mượn đồng Chu tạo chữ, mừng hạnh phúc ngàn đời.
            Cựu tổng thống Từ Thế Xương mừng lễ 20.000 đồng và rất nhiều đồ vật quý giá bao gồm 28 loại sứ, một tấm thảm len dệt rồng phượng cực kỳ rực rỡ. Các cánh quân phiệt, chính khách Trương Tác Lâm, Ngô Bội Phu, Tào Côn... đều mừng tiền mặt và nhiều tặng phẩm khác.
            Dân quốc cử Ấm Xương, đứng đầu hàng võ quan tuỳ tùng ở phủ tổng thống đến chính thức chúc mừng theo nghi lễ đối với vua nước ngoài. Y cúi đầu chào tôi xong, bỗng nhiên tuyên bố:
            - Lễ mừng vừa rồi là đại biểu cho Dân quốc giờ mới đến lượt kẻ nô tỳ này lạy mừng Hoàng thượng. - Nói đoạn y quỳ xuống lạy như tế sao.
            Đối với hành động lố bịch đó, lúc bấy giờ các báo, đài bình luận nghiêm khắc nhưng dù sao cũng không ngăn được niềm vui như mở cờ của các vương công đại thần. Di lão ở các địa phương lại càng như loài sâu sau tiết “lập xuân” lũ lượt mang lễ mừng bằng tiền mặt, đồ cổ... của họ và của người khác tới tấp kéo về Bắc Kinh. Điều quan trọng không phải là tiền của mà là thanh thế. Thanh thế đó lẫy lừng quá, vượt ra ngoài sức tưởng tượng của chính họ, đến nỗi làm cho họ cảm thấy tình hình dường như có thể làm nên chuyện ăn thua một phen cũng chưa biết chừng.
             Điều làm cho các vương công đại thần, di lão di thiếu và các thái phi đặc biệt phấn khởi là nhóm khách của khu sứ quán Đông Giao đến dự lễ mừng. Sau cách mạng Tân Hợi, đây là lần đầu tiên có nhân viên chính phủ nước ngoài xuất hiện trong Tử Cấm Thành. Tuy họ đến với danh nghĩa tư nhân nhưng dù sao cũng là quan chức chính thức của nước ngoài.
            Do Johnston (thầy dạy tiếng Anh của Phổ Nghi - ND) gợi ý, một tiệc rượu chiêu đãi trọng thể được tổ chức ở cung Càn Thanh để bầy tỏ sự cảm ơn khách nước ngoài. Lời cảm ơn viết bằng tiếng Anh do Lương Đôn Ngạn, nguyên là “ngoại vụ đại thần” thời kỳ Trương Huân “phục tích” viết cho tôi, tôi cứ thế đọc trước quan khách nước ngoài. Lời cảm ơn như sau:
            “Hôm nay, được thấy các vị khách cao quý từ khắp nơi trên thế giới đến nơi đây, Trẫm cảm thấy vô cùng vinh hạnh. Cảm ơn sự có mặt của các vị chúc sức khoẻ các vị, vạn sự như ý”.
            Trong cái ồn ào nhộn nhịp ấy, ngay từ hôm đầu tôi nghiền ngẫm mãi một vấn đề:
            - Ta có một hậu, một phi rồi, đã thành lập gia đình hẳn hoi thế thì hiện nay và trước kia có gì khác nhau?
            Và lần nào cũng thế, tôi tự trả lời mình:
            - Ta đã khôn lớn nên người. Nếu không bùng nổ cách mạng thì giờ đây là lúc ta đích thân chủ trì triều đình rồi.
            Ngoài suy nghĩ đó, hầu như tôi không nghĩ đến chuyện vợ chồng, gia đình. Mãi đến lúc hình dáng hoàng hậu đầu phủ kín mít dưới tấm gấm đỏ rực thêu rồng phượng xuất hiện trước mắt, do tính hiếu kỳ tôi mới nảy ý muốn biết mặt mũi hoàng hậu thế nào mà thôi.
            Theo truyền thống, đêm tân hôn, vua và hoàng hậu phải ngủ trong phòng cưới chỉ rộng độ hơn 10 mét vuông ở cung Khôn Ninh. Điều đặc biệt ở đây là không bày biện trang hoàng gì hết. Giường lò chiếm hẳn một phần tư căn phòng, trừ mặt đất còn đâu cũng chỉ quét một màu sơn đỏ. Lễ “hợp cẩn” xong, ăn “bánh xốp đông con nhiều cháu” rồi vào căn phòng chật hẹp chỉ một màu đỏ quạch này, tôi cảm thấy ngột ngạt khó thở. Cô dâu mới đầu cúi gục ngồi trên giường lò. Tôi đứng bên ngắm một lúc chỉ thấy trước mắt một màu đỏ chói: màn đỏ, điện đỏ, váy đỏ, hoa đỏ, mặt đỏ... y như sáp nến đỏ cháy bết thành một tảng. Tôi cho rằng điện Dưỡng Tâm dù sao cũng dễ chịu hơn, thế là lập tức đẩy cửa đi luôn.
            Đến điện Dưỡng Tâm, trông thấy bảng danh sách các đại thần dưới triều Tuyên Thống ở các địa phương trong cả nước dán trên tường, tâm tư băn khoăn lại nổi dậy:
            - Ta có một hậu một phi rồi, đã khôn lớn nên người, vậy có gì khác với trước không?
            Uyển Dung bị bỏ rơi một mình trơ trọi trong cung Khôn Ninh, tâm tư thế nào? Văn Tú chưa đầy mười bốn tuổi đang suy nghĩ gì? Tôi không bận tâm. Điều mà tôi suy nghĩ rất lung chỉ là: 
            - Nếu không bùng nổ cách mạng, ta đã bắt đầu đích thân chủ trì triều chính... Ta phải khôi phục sự nghiệp của tổ tiên.
 
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG III TRONG NGOÀI TỬ CẤM THÀNH
 
 
Thời đại Viên Thế Khải  
            Vào lúc bình minh, Tử Cấm Thành đôi lúc có hiện tượng kỳ lạ, ở trong thâm cung nhưng vẫn nghe thấy những tiếng động xa xa ngoài đường phố. Có tiếng rao lanh lảnh của trẻ con đi bán hàng, có tiếng lóc cóc của bánh xe vận tải bằng gỗ, có lúc còn nghe thấy tiếng hát của quân lính. Các thái giám gọi đó là tiếng “Vang thành”, sau khi rời khỏi Tử Cấm Thành tôi thường nhớ lại hiện tượng “Vang thành” khiến tôi kinh ngạc này. Tiếng “Vang thành” để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc nhất là mấy lần nghe thấy đội quân nhạc hoà tấu trong Trung Nam Hải.
            Viên Thế Khải ăn cơm, thái giám tổng quản Trương Khiếm Hoà một lần nói với tôi: “Viên Thế Khải khi ăn cơm còn tấu nhạc, thật là “Chuông kêu tiệc mở”, so với Hoàng thượng còn oai vệ hơn”. Môi Trương Khiếm Hòa mím lại, nét mặt hầm hầm giận dữ. Khi đó tôi mới khoảng chín tuổi nhưng qua giọng nói và nét  mặt của ông ta tôi cũng đã cảm thấy đắng cay chua xót. Tiếng quân nhạc đưa tôi vào cơn mê nhục nhã không sao chịu nổi. Những thức ăn bày ra trước mặt Viên Thế Khải so với Thái hậu còn nhiều hơn, rõ hàng đoàn người vây quanh hắn, tấu nhạc, phe phẩy quạt...
            Tuy nhiên cùng có tiếng “Vang thành” khác dần dần khiến tôi cảm thấy vô cùng phấn khởi. Tiếng vang thành này là tôi nghe thấy từ miệng các thầy học ở cung Dục Khánh. Đó là những truyền thuyết có liên quan đến việc phục tích.
            Phục tích - theo cách nói trong Tử Cấm Thành là “phục hồi cơ nghiệp của tổ tiên”, theo cách nói của các di lão và cựu thần là quang phục cố vật, trả lại chính quyền cho nhà Thanh”, những hoạt động này không chỉ bắt đầu từ “sự kiện Đinh Tỵ” mà mọi người đều biết, cũng không phải kết thúc từ “Âm mưu Giáp Tý” đã bị phát giác vào năm thứ 13 Dân quốc. Có thể nói, từ khi công bố chiếu thoái vị đến khi thành lập “đế quốc Mãn Châu” việc phục tích không bao giờ ngừng. Mới đầu, tôi được người lớn chỉ đạo đúng vai diễn, về sau, tôi hoạt động theo bản năng giai cấp của mình. Khi tôi còn nhỏ, trực tiếp chỉ đạo tôi là các thầy học, phía sau họ tất nhiên còn có các đại thần phủ nội vụ cũng như “cha Vua” (họ gọi cha tôi như thế) người được sự đồng ý của Tổng thống Dân quốc mời đến chăm sóc hoàng thất. Tinh thần hăng hái của họ không kém bất cứ ai ở ngoài Tử Cấm Thành song về sau tôi dần dần biết rõ lực lượng thực tế để thực hiện lý tưởng phục tích không phải là bản thân họ. Ngay chính họ cũng hiểu rõ điều này. Nói ra có vẻ khôi hài nhưng lại là sự thật: hy vọng của Tử Cấm Thành đặt vào các nhà quý tộc mới thay nhà Thanh thống trị thiên hạ. Nhân vật đầu tiên được gửi gắm ảo tưởng này là Đại tổng thống Viên Thế Khải. Cho đến nay, tôi vẫn còn nhớ rõ trong Tử Cấm Thành đã từ chỗ tuyệt vọng đến chỗ cảm thấy hy vọng, khiếp sợ biến thành vui mừng như thế nào? Trong một thời gian ngắn đó không khí trong cung thay đổi đột ngột như vậy khiến đứa trẻ chín tuổi như tôi cũng rất kinh ngạc.
            Tôi còn nhớ khi Thái hậu còn sống trong cung rất khó nhìn thấy một nét mặt tươi cười. Các thái giám đều nơm nớp sợ hãi, hầu như tai họa giáng xuống bất cứ lúc nào. Khi đó tôi chưa chuyển đến điện Dưỡng Tâm, còn ở trong cung Trường Xuân của Thái hậu. Khi tôi đến thỉnh an Thái hậu, thường thấy bà lau nước mắt. Có một lần, tôi đi dạo ở đường Nhị Trường phía Tây, thấy hàng đoàn thái giám đang chuyển vận các thứ bày trong điện Thể Nguyên như chuông tự kêu, những chiếc lọ lớn... Trương Khiếm Hòa mặt nhăn nhó than thở:
            - Đây là Thái hậu bảo chuyển đến Di Hoà Viên. Đến Di Hoà Viên không biết sẽ ra sao?
            Khi đó, thường xảy ra việc thái giám bỏ trốn. Các thái giám đều bảo nhau: đến Di Hoà Viên, bọn chúng ta đến sẽ không thể sống nổi. Cả ngày Trương Khiếm Hoà ca cẩm về việc này. Mỗi lần ca cẩm tất nhiên lại nói an ủi tôi: “Bề trên đến đó, kẻ tôi tớ này sẽ đi theo bảo giá, quyết không như bọn nhát gan”.
            Năm mới Dân quốc năm thứ hai, không khí lại bắt đầu thay đổi. Ngày trừ tịch Tết dương lịch, thầy Trần đến cung Dục Khánh, thái độ khác thường, không cầm lấy bút, sách, trái lại mỉm cười nhìn tôi một lúc rồi nói:
            - Ngày mai tết nguyên đán, Dân quốc đến chúc mừng năm mới Hoàng thượng, đó là người đại tổng thống cử tới.
            Phải chăng đây là lần đầu tiên ông chỉ dẫn tôi về công việc chính trị, tôi không còn nhớ nữa, nhưng vẻ đắc ý của ông hôm đó có thể là lần đầu tiên tôi phát hiện. Ông bảo tôi: lần tiếp lễ quan Dân quốc này dùng nghi lễ triều kiến bề tôi bên ngoài, không cần nói chuyện, đã có Thiệu Anh, đại thần phủ nội vụ sắp xếp mọi việi, tôi chỉ cần ngồi ở sau long án chứng kiến là được. 
            Đến ngày nguyên đán, tôi mặc long bào, đội mũ miện, ngồi đàng hoàng trên ngai ở cung Càn Thanh. Đứng hai bên là đại thần ngự tiến, Ngự tiền hành tẩu và ngự tiền thị vệ mang đao. Lễ quan Chu Khởi Linh do tổng thống cử đến tiến vào cửa điện, sênh sang vái tôi một vái, bước lại phía trước mấy bước và đứng lại, lại vái một vái, tiến đến trước ngai tôi lại kính cẩn vái ba vái. Sau đó đọc lời chúc mừng tôi. Mừng xong, Thiệu Anh tiến lên đài, quỳ trước mặt tôi, từ chiếc hộp gỗ thếp vàng đặt trên án thư trước mặt, tôi lấy ra bản lời đáp đã viết sẵn đưa cho y. Thiệu Anh đứng lên, quay mình về phía Chu Khởi Linh đọc một lượt, sau khi đọc xong trao lại cho tôi. Lúc đó Chu Khởi Linh lại vái lạy, lui ra khỏi điện.
            Sáng sớm hôm sau, không khí càng thay đổi hơn. Trước hết là giọng rõ ràng của Trương Khiếm Hoà cạnh giường tôi, tiếp đến là trong cung Dục Khánh thầy Trần mỉm cười vuốt chòm râu bạc phơ gật gù nói:
            - Điều kiện ưu đãi treo ở phủ được các nước công nhận, ngay ông tổng thống cũng không thể nhắm mắt làm ngơ.
            Qua năm mới không lâu, gần tới ngày sinh nhật của tôi, ngày 13 tháng giêng đại tổng thống Viên Thế Khải lại cử lễ quan đến chúc mừng theo nghi lễ. Qua sự kính trọng như vậy của Viên Thế Khải, các vương công đại thần năm Dân quốc nguyên niên một dạo đã im hơi lặng tiếng lại cân đai mũ, mãng, thậm chí khôi phục cả gióng ngựa mở đường đi kiệu có nghi trượng. Trước Thần Vũ môn và Tử Cấm Thành nhộn nhịp tấp nập một thời gian. Năm thứ nhất Dân quốc khi đến Tử Cấm Thành phần lớn những người này đều mặc thường phục, sau khi vào trong thành mới đổi mặc triều phục. Từ năm thứ hai Dân quốc, họ lại dám mặc triều phục đàng hoàng đi trên đường phố lớn.
            Hoàn toàn khôi phục không khí phồn vinh trong thành là ngày mừng thọ và ngày lễ tang Long Dụ thái hậu; 15 tháng 3 là ngày mừng thọ. Sau bảy ngày thì bà qua đời. Trong ngày mừng thọ, Viên Thế Khải cử bí thư trưởng Lương Sĩ Thai đến đọc lời chúc mừng, quốc thư viết rành rọt: “Đại tổng thống đại Trung Hoa Dân quốc kính gửi Đại Thanh Long Dụ thái hậu bệ hạ!” Sau khi Lương Sĩ Thai ra về, thủ tướng quốc vụ Triều Thừa Quân dẫn đầu toàn thể các thành viên nội các đến làm lễ chúc mừng. Sau khi Long Dụ thái hậu qua đời, cử chỉ của Viên Thế Khải càng cảm động. Ông ta tự đính giải lụa đen trên áo và ra lệnh cho toàn quốc treo cờ rủ nửa ngày, quan chức văn võ để tang 27 ngày, còn cử toàn thể thành viên quốc vụ viện đến tế. Tiếp đó tại điện Thái Hoà đã cử hành cái gọi là lễ truy điệu của lục quân toàn quốc, điều khiển là thượng tướng Đoàn Kỳ Thụy, tâm phúc của Viên Thế Khải. Trong Tử Cấm Thành, trong tiếng khóc cử ai của thái giám, triều phục màu tím của nhà Thanh sát cánh ra vào với âu phục đại lễ của Dân quốc. Những người thân thích được thưởng mặc hiếu phục một trăm ngày khi đó lộ rõ vẻ mặt đắc ý. Điều khiến họ cảm thấy phấn chấn nhất là Từ Thế Xương cũng từ Thanh Đảo về, tiếp nhận nhà Thanh thưởng đeo hai giải mũ hoa lông công.
            Sau khi tôi thoái vị, vị thái phó nhà Thanh này chạy xuống Thanh Đảo, nơi người Đức bàn cứ, lấy biệt hiệu “Đông Hải” với ý tứ và có quan hệ với cả hai bên. Ý nghĩa của việc ông ta xuất hiện ở Bắc Kinh tôi sẽ nói ở phần sau.
            Tang lễ Long Dụ thái hậu chưa kết thúc, phía Nam đã phát động phong trào trừng phạt. Viên Thế Khải tức là “cuộc cách mạng lần thứ hai”. Không bao lâu, cuộc chiến tranh này kết thúc bằng thắng lợi của Viên Thế Khải. Tiếp đó, Viên Thế Khải huy động quân cảnh bao vây Quốc hội, buộc Quốc hội bầu ông ta làm tổng thống chính thức. Khi đó, ông viết một báo cáo gửi cho tôi bày tỏ sự tuân thủ điều kiện ưu đãi để “Dân quốc được củng cố, năm dân tộc được thuận hoà và để an ủi vong linh của Long Dụ thái hậu đại Thanh trên trời”.
            Do một loạt tin tức như vậy, trong các di báo đã có nhiều lời bàn tán.
            - Phải chăng Viên Thế Khải là Tào Tháo?
            - Năm trước Hạng Thành đã từng nói với Từ, Phạm, Đoàn (Từ Thế Xương, Phạm Ngọc Tường, Đoàn Kỳ Thụy): đối với Dân quốc chỉ có thể dùng trí chứ không thể dùng lực được. Từ, Phạm, Đoàn đáp ứng làm cộng hoà! Có lẽ đó cũng là dùng trí?
            - Tôi đã nói từ lâu, chữ “từ” trong “từ vị” trong điều kiện ưu đãi là có ý tứ. Tại sao không dùng thoái vị? Viên Cung Bảo chỉ yêu cầu viết thành từ vị? Người từ vị là tạm thời từ biệt vậy.
            - Đại tổng thống nói: “Làm cộng hoà”, làm như thế nào? Cố nhiên làm tức là ý thử làm.
            Mùa đông năm đó, an táng Quang Tự và Long Dụ, tại rạp đặt linh cữu ở Lương Cách Trang đã diễn ra một màn kịch sống. Chủ diễn là Lương Đỉnh Phần, con người rất khéo biểu lộ tình cảm. Khi đó ông ta chưa vào cung làm thầy dạy tôi. Vai phụ là Lao Nãi Tuyên, tự coi là Cô thần. Năm thứ ba Tuyên Thống là phó đại thần Bộ học kiêm giám đốc đại học đường Bắc Kinh. Sau Tân Hợi, ông ta trốn ở Thanh Đảo lập ra “Tôn khổng Văn xã” và chủ trì tổ chức này, ở nơi mà người Đức chuyên tập hợp và che giấu họ. Trong màn kịch này, người đóng vai hề làm trò là Tôn Bảo Kỳ, Tuần vũ tỉnh Sơn Đông triều Thanh, thành viên trong Chính phủ Viên Thế Khải, khi đó mới làm tổng trưởng ngoại giao. (Cha Tôn Bảo Kỳ là Tôn Trị Kinh, được các di lão coi là một trong những danh thần thời đại Quang Tự). Ngày hôm đó, một đám thành viên quốc vụ do Triệu Thừa Quân dẫn đầu đã tới. Trước khi tế, Triệu Thừa Quân cởi bỏ lễ phục, đổi sang áo bào triều Thanh, cử hành ba lần quỳ, chín lần vái.
            Cô thần Lương Đỉnh Phần rất phấn chấn, cũng chẳng biết tại sao, trong những thành viên quốc vụ đến không mặc áo bào triều Thanh ông ta đã nhìn thấy Tôn Bảo Kỳ. Ông ta chạy tới trước mặt thành viên quốc vụ này, chỉ vào mũi hỏi :
            - Ông là ai? Ông là người nước nào?
            Bị ông bạn cũ hỏi, Tôn Bảo Kỳ ngây người, những người xung quanh cũng chẳng hiểu ra sao? Tay Lương Đỉnh Phần run run, chỉ Tôn Bảo Kỳ giọng nói càng to:
            - Ông quên mình là con Tôn Trị Kinh! Ông đã làm đại thần triều đại Thanh, hôm nay ông mặc quần áo này làm lễ tiên đế, tiên hậu, ông có liêm sỉ không? Ông... là cái thứ gì?
            - Câu hỏi hay! Ông là cái thứ gì? - Lao Nãi Tuyên cùng chạy tới. Kẻ hô người ứng dẫn tới như đám đông vây quanh ba người. Tôn Bảo Kỳ tái mặt cúi đầu hốt hoảng nói:
            - Đúng, đúng, tôi chẳng ra cái thứ gì! Tôi chẳng ra cái thứ gì!
            Sau này thầy Lương mỗi khi nói đến màn kịch đó đều miêu tả có thanh có sắc. Câu chuyện này cùng với “Kết cỏ giữ lăng”, “hiên ngang đuổi thích khách” được coi là những sự tích đắc ý nhất trong cuộc đời ông. Ông đã kể với tôi không biết đến bao nhiêu lần mà mỗi lần kể tình tiết càng hoàn chỉnh, càng giàu tính ly kỳ.
            Đến năm thứ ba dân quốc, có người gọi năm đó là năm phục tích. Những sự việc cảm thấy phấn chấn về cô thần ngày càng nhiều. Viên Thế Khải tế Khổng Tử, dùng quan bậc Tam Khanh sĩ đại phu, lập Thanh sử quán, dùng cựu thần nhà Thanh. Đặc biệt điều làm người ta bối rối là việc Triệu Nhĩ Soạn, nguyên tổng đốc Đông Tam Tỉnh được cử làm Trưởng quán Thanh sử. Thầy Trần và nhiều người khác coi hắn là tặc thần. Triệu Nhĩ Soạn cũng tự xưng: “Tôi là quan triều Thanh, tôi viết sử triều Thanh, ăn cơm triều Thanh, làm việc triều Thanh”. Tại Thanh Đảo, Lao Nãi Tuyên, người phụ vai kịch với Lương Đỉnh Phần ở Lương Cách Trang công nhiên viết bài tuyên truyền “Trả lại chính quyền cho nhà Thanh” đồng thời viết thư gửi Từ Thế Xương đề nghị ông ta khuyên Viên Thế Khải. Khi đó, Từ Thế Xương vừa là thái phó triều Thanh đồng thời là Quốc vụ khanh Chính phủ Dân quốc đã đưa bài của Lão Nãi Tuyên cho Viên Thế Khải xem. Viên Thế Khải sai người mang thư gửi Lao Nãi Tuyên, mời ông ta đến Bắc Kinh làm tham nghị, Lương Đình Thám, nguyên giám đốc Đại học đường Bắc Kinh cũng viết một bài “Phục lễ chế quán thư”, lại có một vị làm Hiệp tu Quốc sử quán là Tống Dục Nhân công bố bài nói “trả chính quyền cho nhà Thanh”. Những việc như thế loan truyền một dạo ở các nơi. Nghe nói, trong năm phục tích đó, một tên thổ phỉ nổi tiếng ở Từ Xuyên gọi là Thập Tan ca cũng mặc áo bào triều Thanh, đi kiệu, nghênh ngang tự coi là di lão, chuẩn bị chia hưởng thành quả phục tích.
            Trong Tử Cấm Thành, khi đó không ai nói đến việc chuyển nhà nữa. Thế Tục, đại thần Phủ nội vụ, con người cẩn thận, vững trãi muốn làm rõ hơn sự việc còn đặc biệt một lần tìm đến Viên Thế Khải, người anh em kết nghĩ của ông ta. Phấn khởi vì Viên Thế Khải đã nói với ông ta: “Đại ca vẫn chưa rõ, những điều đó chẳng là đối phó với phía Nam hay sao? Thái miếu ở trong thành, Hoàng thượng làm sao rời đi được”. Lại nói: “Ngoài Hoàng thượng còn bảo ai ở hoàng cung?”. Những chuyện này đều do một vị di lão đã làm việc ở Phủ nội vụ mãi sau này mới nói với tôi. Khi đó, Thế Tục và cha tôi hoàn toàn không nói với tôi những việc như vậy, muốn nói thì cũng qua thầy Trần. Cách nói của thầy khi đó là: “Xem ra, tổng thống của họ có vẻ như ưu đãi Đại Thanh, bản diều kiện ưu đãi treo ở minh phủ…”.
            Lời các thầy, có vẻ như chưa nói hết. Nay nhớ lại, đó chính là thái độ “thận trọng” có căn cứ. So với các di lão bên ngoài Tử Cấm Thành, sự lạc quan một thời gian biểu hiện bên trong Tử Cấm Thành rõ ràng là thận trọng và có bảo lưu. Mọi cử động của Viên Thế Khải - từ công khai không quên “Vong linh” của Long Dụ đến nhận định riêng tư: “Hoàng thượng không thể rời hoàng cung và thái miếu”, những điều đó cố nhiên mang lại cho những người ngoài Tử Cấm Thành có thể thấy được từ “Viên Cung Bảo” cũng chỉ giới hạn ở đó. Vì vậy, người Tử Cấm Thành không thể biểu hiện phấn chấn quá mức. Đến cuối năm phục tích, khi Bắc Kinh bắt đầu đổi gió, chứng minh sự “thận trọng” ấy rõ ràng có căn cứ.
            Luồng gió thay đổi bắt đầu từ một viên quan chính sử đòi tra xét những tin đồn về phục tích. Viên Thế Khải phê án giao bộ Nội vụ “tra xét rõ và xử lý”, tiếp đó Tống Dục Nhân, người diễn giảng về trả lại chính quyền cho nhà Thanh bị thống lĩnh quân bảo vệ bắt giải về nguyên quán. Tin này vừa đưa ra, nhiều người đã hoảng sợ, không còn thấy những bài khuyến khích trả chính quyền cho nhà Thanh nữa. Tuy nhiên mọi người vẫn có chút hoang mang khó hiểu vì Viên Thế Khải đã phê những lời kỳ lạ trên bán cáo của Bộ dân chính về tra xét và xử lý phục tích: “Nghiêm cấm đồn đại phục tích, vụ đã qua không xét”, còn Tống Dục Nhân khi bị giải về quê quán, Viên Thế Khải đã gửi cho 3.000 lạng bạc, dọc đường lại được quân hảo vệ tiệc tùng tiễn đưa khiến người ta không rõ ông ta bị phạt hay được khen thưởng. Mãi đến năm thứ tư Dân quốc, Frank J. Goodnow, cố vấn Mỹ tại Phủ tổng thống phát biểu một bài nói chế độ cộng hoà không phù hợp tình hình Trung Quốc (39) sau đó lại xuất hiện “Trù an hội” (cơ quan thực hành đế chế của Viên Thế Khải), chủ trương cử Viên Thế Khải làm hoàng đế đế quốc Trung Hoa. Điều đó mới quét sạch mây mù, khiến mọi người hiểu rõ Viên Thế Khải muốn phục tích cái gì. Làn gió đã rõ, không khí trong Tử Cấm Thành cũng thay đổi.
            Từ lúc tôi nghe thấy tiếng quân nhạc trong tiếng “Vang thành”, ở Trung Nam Hải đang tiến hành sơn phết ba toà diện lớn, từ thềm điện Dưỡng Tâm có thể nhìn rõ những hoạt động của các công nhân trên dàn giáo sơn phết. Trương Khiếm Hoà bảo tôi: đó là để chuẩn bị cho Viên Thế Khải lên ngôi. Sau đó “Du bối tử” (Phổ Luân) đại biểu hoàng thất và tám kỳ đăng biểu khuyến khích Viên Thế Khải, Viên Thế Khải đã hứa thưởng cho y “song phụng thân vương” (ý nói: thân Vương của Tuyên Thống và thân vương của Viên Thế Khải), tiếp đó ông ta lại vào cung hướng thái phi đòi nghi trượng và ngọc tỷ. Những tin này khiến tôi cảm thấy đau lòng, căm giận cũng khiến tôi hoảng sợ. Tuy thầy Trần không muốn nói rõ, tôi cũng hiểu câu nói xưa nay rằng “trời không có hai mặt trời, nước không có hai vua”. Viên Thế Khải tự làm hoàng đế, há còn để một hoàng đế thừa tồn tại ư? Những ví dụ trên lịch sử đã quá nhiều rồi. Thái sử Công đã thống kê “trong thời Xuân thu giết ba mươi sáu vua” cơ mà”.  
            Trong những ngày đó, động tĩnh của ba điện lớn ngoài cửa Cấm Thành liên quan đến nỗi sợ thầm kín của mỗi người trong Cung. Bất cứ ai đi lại trung tâm đều quan tâm nhìn một chút vào phía đó xem công trình đang sơn phết có quan hệ đến số phận của mình đã xong chưa. Hàng ngày, các thái phi đều đốt hương lễ phật, cận thần hộ quốc “Hiệp thân đại đế quan thánh đế quân” bảo trợ các đại Thanh. Nghi trượng thì cực chẳng đã để Phổ Du mang đi, ngọc tỷ do Hán - Mãn hợp bích không phù hợp với yêu cầu của Viên Thế Khải nên không bị lấy đi.
            Khi đó, sự thay đổi ở cung Dục Khánh là rõ nhất, đó là các thầy đặc biệt hoà nhã với Dục Sùng, không thấy ai còn đối xử với anh ta như Bá Cầm. Ở chỗ thái phi, anh ta còn trở thành người tin cậy thường được gọi tới ban thưởng những thứ đồ chơi. Mỗi khi ai nói đến Viên Thế Khải, các thầy dạy đều lừ mắt, ám hiệu tôi im miệng không để Dục Sùng nghe thấy chuyền đến tai cha hắn là Phổ Du.
            Có một hôm, Dục Sùng được gọi tới nơi các thái phi, Trần Bảo Thám nhìn ngoài cửa không có bóng anh ta, từ trong áo lấy ra một tờ giấy nói với tôi một cách thần bí:
            - Hôm qua xem bói được quẻ dịch, hoàng thượng hãy xem.  
            Tôi cầm lấy thấy một hàng chữ:
            “Kẻ thù của ta tật, không thể thay ta, tốt”.
            Ông giải thích: điều đó nói rằng kẻ thù Viên Thế Khải tiền đồ xấu không thể nguy hại tới tôi. Đó là quẻ tốt ông còn đốt mai rùa, sạo cỏ thi, tất cả đều tốt lành, bảo tôi có thể rất yên tâm. Vì vận mệnh của tôi, ông già này đã sử dụng mọi biện pháp đoán mệnh của thời nguyên thuỷ. Vì vậy ông đưa ra kết luận một cách lạc quan:
            - Trời gây tai hoạ có thể chống, tự gây tai hoạ không thể sống. Viên Thế Khải hung hăng gây ác như vậy, ắt không thể tốt lành! Kẻ thù của ta có tật, cuối cùng không đáng lo! Huống chi điều kiện ưu đãi cất ở Minh phủ, được các nước công nhận, Viên Thế Khải làm sao dám làm hại tôi?
            Để “không thể thay ta” và giữ vững điều kiện ưu đãi, các thầy, cha tôi và các đại thần Phủ nội vụ ngoài hoạt động bói toán, họ tuy không nói với tôi, tôi cũng biết một ít. Họ tiến hành một số giao dịch với Viên Thế Khải, nói một cách đơn giản là do nhà Thanh ủng hộ Viên hoàng đế, Viên hoàng đế thừa nhận điều kiện ưu đãi Phủ nội vụ gửi Viên Thế Khải một công văn chính thức nói: “Hiện quốc thể quân chủ lập hiến do đại biểu quốc dân toàn quốc quyết định và cử đại tổng thống làm đại hoàng đế đế quốc Trung Hoa, vì kế sách bỏ cũ đổi mới, mưu tính trị an lâu dài, hoàng tộc chúng tôi hết sức tán thành”. Công văn này đổi được một đoạn ghi của Viên Thế Khải trong điều kiện ưu đãi:
            Chính quyền tiên triều không thể bảo toàn, chỉ giữ tôn hiệu đến nay vẫn như thế. Mọi điều khoản trong điều kiện ưu đãi bất cứ lúc nào cũng không cho phép thay đổi, cho đưa vào hiến pháp.
                                                            VIÊN THẾ KHẢI
                                                        Mùa Đông năm Ất Mão
 
            Nội dung văn kiện này sau này đều thấy trong : “Lệnh của Đại Tổng thống” ngày 16 tháng 12 năm thứ tư Dân quốc. Trước khi công bố “Lệnh” này không lâu nhật ký của cha tôi cũng có một đoạn ghi chép:
            Mùng mười tháng mười một (tức 16 tháng 11 âm lịch) vào cung. Cùng Thế thái phó hội kiến 4 hoàng quý phi bàn việc nên kết thân với đại tổng thống Viên Thế Khải, đều thừa nhận có thể, lệnh trù tính mà biện pháp thoả đáng. Trong cung xem văn kiện bí mật, rất thoả đáng, mọi thứ như cũ...”
            Cái gọi là văn kiện bí mật tức là lời bạt Viên Thế Khải tự phê. Cái gọi là kết thân, tức là Viên Thế Khải gọi Giang Hồ Tôn, thống lĩnh bộ binh nói với cha tôi cùng Thế Tục lập con gái ông ta làm hoàng hậu. Các thái phi trong bụng tuy không muốn cũng không thể không theo. Kết quả là, điều kiện ưu đãi đã không được đưa vào hiến pháp, tôi cũng không kết hôn với con gái Viên Thế Khải vì Viên Thế Khải chỉ làm hoàng đế 83 ngày đã chết trong tiếng hô chống Viên Thế Khải.
 
 
---------------------------------------------------------
(39) Frank J. Goodnow là giáo sư đại học chính trị Mỹ, phát biểu bài nhan đề: “Cộng hoà và dân chủ” nói rằng: “Trung quốc nếu như dùng chế độ quân chủ thích hợp hơn các chế độ cộng hoà” tạo căn cứ lý luận cho Viên Thế Khải thực hành đế chế - (Nguyên chú).
 
Đăng nhập để trả lời
0

Phục tích Đinh Tỵ

 
            Ngày Viên Thế Khải qua đời, tin vừa chuyển đến Tử Cấm Thành, mọi người đều vui mừng, các thái giám chạy đi thông báo. Các thái phi đến thắp hương trước hộ quốc “Hiệp thiên đại đế quan thánh đề quân”. Cung Dục Khánh vô hình chung nghỉ học một ngày.
            Tiếp đó, trong Tử Cấm Thành nghe thấy một tiếng vang thành mới:
            “Viên Thế Khải thất bại vì chó nhảy bàn độc”.
            “Không thể thực hành đế chế, trăm họ trái lại mong chủ cũ”.
            “Viên Thế Khải và Napoleon III khác nhau, hắn không như Napoleon có phúc tổ phù hộ”. 
            “Lấy họ Viên làm hoàng đế chẳng bằng vật hoàn chủ cũ”.
            Những thanh âm đó cùng hoạ với các thầy “ân sâu nghĩa nặng bản triều, lòng người cả nước còn nhớ?
            Khi đó, tư tưởng tình cảm của tôi rất khác với mấy năm trước, lại cảm thấy hứng thú đối với báo chí. 
            Sau khi Viên Thế Khải chết được ít ngày, báo chí đăng tin “Đảng tôn xã khởi sự chưa thành” “thế lực thổ phỉ Mãn - Mông điên cuồng”. Tôi biết đó là những hoạt động của vương công đại thần - Thiện Kỳ, Phổ Vĩ, Thăng Sung, Thiết Lương đang vì tôi công khai chống cộng hoà. Lúc mới đầu, bốn người này bị gọi là Thân Bao Tế, khóc triều Tần đều không thành công. Sau đó Thiết Lương đến Thiên Tân trốn ở tô giới nước ngoài, số còn lại ở đất thuê của Nhật Bản ở Lữ Thuận và Đại Liên, thông qua bọn lưu manh Nhật Bản, cấu kết với quân phiệt - tài phiệt Nhật Bản hoạt động vũ trang phục tích. Trong số bốn người, hăng hái nhất là Thiện Kỳ. Khi ông ta giữ chức thượng thư Bộ Dân chính đã thuê cố vấn cảnh sát chính trị Nhật bản Kawashima Naniwa luôn luôn cùng ở một nơi. Nam tước Ohira Kihachiro, tài chủ Nhật bản cho ông ta một triệu yên hoạt động phí.
            Các quân nhân Nhật bản Omari, Tori... đã chiêu mộ bọn thổ phỉ Mông Mãn cho ông ta tổ chức và huấn luyện thành quân đội có tới mấy nghìn người. Viên Thế Khải vừa chết là gây rối ngay. Trong số đó có một đội do Babojab quý tộc Mông Cổ chỉ huy một dạo đã tiến gần đến Trương Gia Khẩu, khí thế vô cùng điên cuồng. Cho đến sau này, Babojab bị bộ hạ giết trong một cuộc binh biến, hoạt động của chúng mới kết thúc. Trong những ngày hoạt động hung hăng nhất xuất hiện một hiện tượng rất ly kỳ; một mật “quân cần vương” và quân đội Dân quốc bắn nhau đùng đùng rất ác liệt ở mấy vùng Mông Mãn, mặt khác chính phủ Dân quốc và triều đình nhỏ của nhà Thanh ở Bắc Kinh qua lại chúc mừng nhau như trước, thù tạc không ngớt. Từ hôm Viên Thế Khải chết Tử Cấm Thành bắt đầu không khí hưng vượng, đã không bị ảnh hưởng về sự nổi loạn của hưng binh Thiện Kỳ và Babojab cũng không bị liên luỵ về sự thất bại của họ.
            Sau khi Viên Thế Khải chết, Lê Nguyên Hồng kế nhiệm Tổng thống. Đoàn Kỳ Thụy làm thủ tướng quốc vụ. Tử Cấm Thành cử Phổ Du - người đã từng khích lệ Viên Thế Khải đến chúc mừng. Lê Nguyên Hồng cũng cử đại biểu đến cảm ơn đồng thời trả lại Tử Cấm Thành nghi trượng hoàng đế mà Viên Thế Khải đã lấy đi. Một số vương công đại thần còn được Dân quốc thưởng huân chương. Một số vương công đại thần trong thời đại Viên Thế Khải cũng đã xuất hiện ở các nơi giao tế. Ngày tết nguyên đán và ngày sinh của tôi, đại tổng thống cử lễ quan đến chúc mừng, cha tôi cũng biếu Lê tổng thống và Đoàn thủ tướng những đặc sản. Khi đó, Phủ nội vụ bận rộn nhiều so với trước còn giấu giếm tuyển thêm thái giám mới mà điều kiện ưu đãi đã cấm. Đương nhiên, còn có những thủ tục giao tế tôi chưa từng biết, từ tiệc riêng cá biệt đến công yến của các nghị sĩ quốc hội.
            Nói chung, Tử Cấm Thành lại nhộn nhịp như trước kia, đến năm Đinh Tỵ (năm thứ sáu Dân quốc) Trương Huân vào cung thỉnh an, bắt đầu xuất hiện cao trào phục tích.
            Trước khi đó, số người tôi tự triệu kiến thỉnh an không nhiều mà chỉ giới hạn trong tộc Mãn. Hoạt động hàng ngày của tôi, ngoài việc đến học ở cung Dục Khánh, xem báo ở điện Dưỡng Tâm, phần lớn thời gian còn lại vẫn là rong chơi. Tôi cảm thấy vui mừng thấy mũ lông công, áo thụng ngày càng nhiều ở cửa Thần vũ. Tôi đặc biệt phấn khởi nghe nói quân cần vương đã được phát động và cũng cảm thấy chán nản khi quân cần vương bị tiêu diệt. Song nói chung, tôi cũng rất dễ quên những chuyện đó. Túc thân vương trốn đi Lữ Thuận, tin tức không rõ, tôi cũng không quan tâm. Đã có cha tôi và các thầy, các đại thần, tôi việc gì phải lo lắng nhiều? Khi sự việc do các thầy báo cho tôi thì đúng là mọi thứ đều đã được bàn bạc, sắp xếp rồi. Tình hình ngày 27 tháng 9 âm lịch là như thế.
            Ngày hôm đó, Trần Bảo Thám, vị thái bảo mới nhận chức và Lương Đỉnh Phần, quan hành tẩu cung Dục Khánh mới tới Tử Cấm Thành không lâu, cả hai thầy tiến vào cung Dục Khánh. Chưa đợi ngồi yên, thầy Trần mở miệng trước.
            - Hôm nay hoàng thượng không phải học. Có đại thần đến thỉnh an hoàng thượng, lát nữa thái giám Phòng tâu việc sẽ đến báo cáo.
            - Ai vậy?
            - Nguyên tổng đốc Lưỡng Giang (Chiết Giang và Giang Tây) kiêm Tuần vũ Giang Tô Trương Huân.
            - Trương Huân? có phải là Định vũ quán Trương Huân, người không cắt bím tóc đuôi sam không?
            - Đúng là ông ta, - Lương Đỉnh Phần gật đầu tán đồng. - Trí nhớ của hoàng thượng thật tốt, đúng là Trương Huân ấy.
            Thầy Lương vốn không bao giờ bỏ lỡ dịp tán dương, chính vì mục đích đó, ông đang viết về sinh hoạt hàng ngày của tôi.
            Thực ra tôi cũng chẳng có trí nhớ tốt, chẳng qua là trước đó không lâu, tôi đã nghe các thầy kể câu chuyện về Trương Huân. Từ năm  đầu Dân quốc đến nay, ông ta và quân đội của ông ta vẫn giữ các bím tóc đuôi sam. Năm thứ hai Dân quốc, Viên Thế Khải dập tắt “cuộc cách mạng lần thứ hai” là do dùng quân bím tóc của ông tấn công vây hãm Nam Kinh mà thành công. Quân bím tóc đốt nhà cướp của ở Nam Kinh, làm bị thương nhân viên lãnh sự quán Nhật Bản dẫn tới việc Nhật Bản phản kháng, thủ lĩnh quân tóc đuôi sam phải vội vã đến trước lãnh sự quán Nhật Bản xin lỗi nhận bồi thường mọi thiệt hại mới xong việc. Sau khi Long Dụ chết, Trương Huân gửi điện viếng gọi là “quốc tang”, còn nói “phàm là quan lại Dân quốc đều là thần dân đại Thanh”.
            Viên Thế Khải chết không lâu, báo chí đăng một thông điện của Trương Huân bày tỏ thái độ của hội nghị đốc quân ở Từ Châu đối với thời cuộc sau khi Viên Thế Khải chết, điều đầu tiên là “tôn trọng các điều kiện ưu đãi nhà Thanh”. Tóm lại, tôi tin rằng ông ta là trung thần, mong muốn nhìn thấy ông ta như thế nào.
            Căn cứ quy tắc của triều Thanh, khi hoàng đế triệu kiến đại thần, những người không có liên quan đều không được dự. Vì vậy trước mỗi lần triệu kiến những người không thường gặp, các thầy học đều chỉ dẫn trước, nói rõ tôi cần nói gì. Lần này thầy Trần, với thần khí đặc biệt cẩn thận nói với tôi: cần biểu dương lòng trung thành của Trương Huân, bảo ông ta cần nhớ mình hiện nay là Tuần duyệt sứ Trường Giang, có 60 tiểu đoàn quân ở vùng Từ Châu, Ngạc Châu, có thể thăm hỏi về quân đội và hai nơi của ông ta, khiến ông ta biết, hoàng thượng rất quan tâm đối với ông ta. Cuối cùng thầy Trần dặn đi dặn lại:
            “Trương Huân thế nào cũng ca ngợi hoàng thượng, hoàng thượng hãy nhớ: “nhất định phải đáp lại một cách khiêm tốn, đó tức là biểu thị thánh đức”.
            Thầy Lương vội vã bổ sung nói: “càng khiêm tốn càng là thánh thinh. Lần trước Lục Vinh Đình được thấy thiên nhan, đến nay gửi thư tới vẫn không quên ca ngợi thánh đức...”.
            Lục Vinh Đình là Thần duyệt sứ Lưỡng Quảng (Quảng Đông - Quảng Tây). Ông ta là viên tướng Dân quốc đầu tiên được ban thưởng cưỡi ngựa trong Tử Cấm Thành. Hai tháng trước, ông ta đến Bắc Kinh gặp gỡ Đoàn Kỳ Thụy không biết tại sao đã vào cung thỉnh an tôi, còn báo giúp một vạn đồng để trồng thông ở Sùng Lăng. Ngồi kiệu về điện Dưỡng Tâm, tôi bỗng nhớ ra, khi gặp Lục Vinh Đình lần đó, thần sắc và sự căn dặn của các thầy cũng giống như lần này. Sự xuất hiện của Lục Vinh Đình lần đó, giống như một sự kiện lớn trong Tử Cấm Thành. Phủ nội vụ và các thầy sắp đặt sự ban thưởng khác thường, có câu đối và chữ Phúc - Thọ do vua viết, một đài thờ phật bằng vàng, một thanh ngọc như ý nạm vàng, ba thứ trần thiết bằng ngọc. Lục Vinh Đình sau khi về đã gửi một bức thư đề nghị Thế Tục “thay mặt tâu tạ ơn trời”. Bắt đầu từ đó “Nam Lục, Bắc Trương (Lục Vinh Đình ở phía nam, Trương Huân ở phía Bắc) thành câu chuyện hàng đầu của trên thì thầy dạy học, dưới đến thái giám. Trương Khiếm Hoà đã nói với tôi: “Có hai vị trung thần Nam Lục - Bắc Trương, Đại Thanh có hy vọng”.
            Căn cứ một số hoạ báo do các thái giám mua cho tôi, tôi đã tưởng tượng ra bộ dạng của Trương Huân, cho tới khi tôi xuống kiệu ông ta vẫn chưa thành hình trong đầu óc tôi. Tôi vào điện Dưỡng Tâm không lâu, ông ta tới. Tôi ngồi trên ngai, ông ta khấu đầu trước mặt tôi.
            - Thần Trương Huân quỳ xin thánh an... 
            Tôi chỉ vào chiếc ghế đặt bên cạnh bảo ông ta ngồi. (Khi đó trong cung cũng không để các đại thần quỳ nói nữa), ông ta lại rập đầu cảm ơn sau đó ngồi xuống. Theo lời chỉ dẫn của các thầy, tôi hỏi về tình hình quân đội ở hai vùng Từ -Ngạc. Ông ta nói những gì tôi cũng không để ý nghe. Tôi có chút thất vọng về tướng mạo của vị “trung thần” này. Ông ta mặc triều phục, da nâu, mi rậm, phục phịch. Nhìn dáng thấp lùn của ông ta, tôi cảm thấy không lý tưởng. Nếu như ông ta không có râu thì thật giống một thái giám phòng ăn. Tôi chú ý cái bím tóc đuôi sam của ông ta rõ ràng có một sợi màu hoa trắng. (ý nói bím tóc giả).
            Sau đó, lời lẽ của ông ta không ngoài dự đoán của thầy Trần, quả là cung kính. 
            Ông ta nói: “Hoàng thượng thật thông minh tính trời”.
            Tôi nói: “Tôi còn kém xa, tuổi còn trẻ, biết việc chưa nhiều”.
            Ông ta nói: “Thánh tổ nhân hoàng đế bản triều cũng thông linh mẫn tuệ, sáu tuổi đã lên ngôi”.
            Tôi vội vàng nói: “Tôi làm sau so sánh được với tổ tông, đó là tổ tông…”.
            Lần triệu kiến này thời gian không lâu hơn các lần khác; ông ta ngồi đó năm, sáu phút là đi. Tôi cảm thấy ông ta nói thô lỗ, đại thể không thể so với Tăng Quốc Phiên, cũng cảm thấy không thật phấn khởi. Tuy nhiên, ngày hôm sau Trần Bảo Thám, Lương Đỉnh Phần gặp tôi cười hì hì nói: Trương Huân khen tôi thông minh, khiêm tốn, tôi lại hài lòng. Còn như vì sao Trương Huân đến thỉnh an, các thầy vì sao rõ ràng phấn khởi hơn so với lần Lục Vinh Đình, Phủ nội vụ vì sao chuẩn bị ban thưởng càng phong phú hơn so với Lục Vinh Đình, các thái phi vì sao còn ban thưởng yến tiệc v.v... tôi nghĩ cũng không ra.
            Qua nửa tháng, ngày 13 tháng 5 âm lịch, vẫn tại cung Dục Khánh, ba thầy Trần Bảo Thám, Lương Đỉnh Phần, Chu Ích Phan cùng xuất hiện, nét mặt vô cùng trang nghiêm, vẫn là thầy Trần mở miệng trước:
            - Trương Huân sắp đến rồi!
            - Ông ta lại thỉnh an ư?
            - Không phải thỉnh an, vạn sự đã chuẩn bị, tất cả đã đâu vào đấy, đến giúp Hoàng thượng phục vị thinh chính, phục tích Đại Thanh!
            Thấy tôi hoảng hốt, ông vội nói: “Hoàng thượng cần đáp ứng Trương Huân. Đấy là vì lòng dân mong đợi”.
            Tôi bàng hoàng mê mẩn vì sự việc vui mừng bất ngờ này. Tôi ngây ngô nhìn thầy Trần, mong ông nói nhiều hơn một chút để tôi hiểu rõ cần làm một “hoàng đế thật” như thế nào.
            “Không cần phải nói gì nhiều với Trương Huân, đáp ứng ông ta là được rồi”. Thầy Trần đã có chủ kiến nói: “Tuy nhiên không nên đáp ứng ngay, trước hết hãy từ chối, cuối cùng mới nói đã như thế thì đành vậy”.
            Tôi về điện Dưỡng Tâm lại triệu kiến Trương Huân. Lần này Trương Huân nói cũng giống như bản tấu viết của ông ta về phục tích.
            “Long Dụ thái hậu không nỡ để vì tôn vinh một họ mà trăm họ bị tai hoạ mới xuống chiếu lập cộng hoà. Ai ngờ lập cộng hòa dân không sống nổi... Cộng hoà không phù hợp với tình hình nước ta, chỉ có Hoàng thượng trở lại ngôi, mới cứu được muôn dân…”
            Nghe ông ta đọc xong, tôi nói: “Tôi tuổi quá nhỏ, vô tài vô đức, không làm nổi trách nhiệm lớn đó”. Ông ta tán dương tôi một hồi , lại nhắc chuyện vua Khang Hy tám tuổi làm hoàng đế. Nghe ông ta lẩm bẩm, tôi bỗng nhớ lại một vấn đề:
            - “Làm thế nào với ông đại tổng thống? Ưu đãi ông ta hay là làm gì?”
            - “Lê Nguyên Hồng tâu xin để ông ta tự thoái vị. Hoàng thượng chuẩn y lời tâu của ông ta là được”.
            - “À…” - tôi vẫn chưa rõ, bụng nghĩ phải chăng các thầy đã bàn bạc xong rồi, hôm nay tôi phải kết thúc cuộc triệu kiến, liền nói “đã như vậy tôi biết làm thế nào!”. Do đó tôi lại là hoàng đế đế quốc đại Thanh.
            Sau khi Trương Huân lui ra, có hàng loạt, người lục tục kéo đến, người thỉnh an, người cảm tạ. Sau đó thái giám phòng tâu việc đưa tới một đống “Thượng dụ”. Một ngày đầu, một lúc sau ra 9 bản “Thượng dụ”.
            Chiếu lên ngôi:
            Lê Nguyên Hồng xin trả lại chính quyền đất nước, phong Lê công nhất đẳng để tỏ phép nước.
            Đặc biệt lập ra nội các nghị chính đại thần, chế độ quan hàm khác tạm theo năm đầu Tuyên Thống, các quan văn võ lớn nhỏ hiện nay vẫn giữ chức như thường.
            Phong bảy đại thần nghị chính (Trương Huân, Vương Sĩ Trân, Lương Đôn Ngạn, Lưu Đình Thám, Viên Đại Hoá, Trương Chấn Phương) và hai vị thừa các nội các (Vạn Thang Thức, tham mưu trưởng của Trương Huân và Hồ Tự Viên tham mưu của Phùng Quốc Chương).
            Phong thượng thư các Bộ (Lương Đôn Ngạn Bộ ngoại vụ; Trương Chấn Phương Bộ Tài chính; Vương Sĩ Trân Bộ tham mưu, Lôi Chấn Xuân Bộ lục quân; Chu Gia Bảo Bộ Dân chính).
            Phong Từ Thế Xương, Khang Hữu Vi làm chánh phó Viện trưởng Viện Bật Đức.
            Phong nguyên đốc quân các tỉnh làm Tổng đốc, Tuần vũ và Đô thống (Trương Huân kiêm nhiệm tổng đốc Trực Khang, đại thần Bắc Dương).
            Theo hồi ức của những người Bắc Kinh cũ nói chung về tình hình đường phố Bắc Kinh khi đó: sáng sớm hôm đó, cảnh sát bỗng nhiên gọi các nhà dân treo cờ rồng, cư dân không có cách nào thì còn cách dùng cờ giấy để ứng phó. Tiếp đó áo thụng áo chẽn triều Thanh mấy năm không trông thấy lại xuất hiện, từng nhân vật hình như từ trong quan tài nhảy ra. Các báo ra phụ trương về tin tức phục tích, bán còn đắt hơn báo hàng ngày, trong cảnh tượng kì lạ đó, khắp nơi có thể nghe thấy tiếng rao bán báo “Tuyên Thống thượng dụ”.
            Khi đó, ngoài tiền môn có một số cửa hàng buôn bán cũng rất phát đạt. Một loại là cửa hàng may sẵn gấp rút may cờ rồng để bán; một loại là cửa hàng quần áo cũ, bào phục triều Thanh trở thành món hàng mà các di lão mới được phong quan tranh nhau mua. Một loại khác là làm các đạo cụ rạp hát, tới tấp có người đi tìm mua đuôi ngựa làm bím tóc giả. Tôi còn nhớ, trong những ngày đó, trong Tử Cấm Thành là áo thụng, áo chẽn, mũ lông công, sau gáy mọi người là bím tóc dài. Sau này, quân thảo nghịch tiến vào thành Bắc Kinh khắp nơi lại có thể đụng những bím tóc thật. Nghe nói đó là đội quân bím tóc của Trương Huân chạy thục mạng cắt vứt lại.
            Nếu như những người ra vào Tử Cấm Thành có một chút nhãn quan của trẻ bán báo có thể dự tính đến số phận các bím tóc và đạo dụ của vua; họ sẽ không khoái chí như mấy ngày đầu tiên.
            Trong mấy ngày đó, người Phủ nội vụ ăn mặc đặc biệt chỉnh tề, số người cũng rất đông. Đại thần tổng quản Phủ nội vụ đã đặc biệt ra lệnh: vì số người vẫn lo chưa đủ, tạm thời điều động mấy người từ trong các nhân viên hầu sai. Có một người nay vẫn còn sống khoẻ mạnh, ông ta nhớ lại nói: “Trong hai ngày đó, những người viết chữ trong bọn chúng tôi nghỉ rất muộn. Nói chung là viết không xuể. Mỗi ngày các thái phi đều ban cho cơm. Khi ban cơm cũng không quên bảo: không phải tạ ơn, nói rằng các ông rất vất vả, bề trên bốn cung đều biết rõ.”. Ông ta không biết rằng, bốn bà Thái phi đang vui đến mức không biết làm thế nào cho phải, hầu như hàng ngày đến thấp hương trước thần phật, hoàn toàn không có thì giờ tiếp họ.
            Trong những ngày đó, các vương công chưa đạt được dục vọng chính trị rất không vui. Ngày thứ hai sau khi phát động phục tích, Trương Huân công bố một đạo dụ cấm chỉ các thân vương quý tộc không được can dự công việc chính quyền khiến họ vô cùng phẫn nộ. Thuần Thân Vương lại trở thành trung tâm của một đám bối tặc, bối tử, muốn tranh luận với Trương Huân, lại còn muốn đích thân tìm tôi làm chủ. Nghe tin đó, Trần Bảo Thám vội vã đến dặn tôi.
            “Triều ta nhường nước năm Tân Hợi, chính là do các vương công, quý tộc can dự công  việc chính quyền gây ra, hiện nay vẫn còn muốn gây chuyện thật quá hồ đồ! Hoàng thượng muôn vàn không thể đáp ứng họ!”
            Tôi đương nhiên tin theo thầy dạy. Các vương công tự biết là cô lập nhưng vẫn chưa chịu, suốt ngày tụ tập với nhau tìm đối sách. Đối sách vẫn chưa nghĩ ra thì quân trừng phạt đã tiến vào thành, điều đó đổi thành sự an toàn cho họ, khiến họ tránh được trách nhiệm về lần phục tích này.
            Trần Bảo Thám vẫn là người cẩn thận nhất, rất có kiến thức. Qua sự việc xảy ra năm đó tôi vẫn thấy ông như vậy. Lúc đó, Lao Nãi Tuyên lặng lẽ từ Thanh Đảo mang về một bức thư. Tên người gửi thư nay không nhớ rõ, chỉ biết rằng đó là một người Đức, thay mặt hoàng thất nước Đức tỏ ý sẵn sàng ủng hộ nhà Thanh phục tích. Lao Nãi Tuyên cho rằng, đó là cơ hội rất tốt, nếu như thêm vào sự kết thân giữa hai hoàng thất Thanh - Đức thì càng có điều kiện. Đối với việc đó thầy Trần tỏ ý phản đối kịch liệt, nói rằng Lao Nãi Tuyên quá hoang đường, đó là con người thất bại nhiều hơn thành công.  Ai ngờ bắt đầu từ ngày phục tích, ông già họ Trần cẩn thận ấy lại hoàn toàn thay đổi.
            Ngày đầu tiên phục tích, tôi nhận được hàng đoàn cô thần nghiệt tử chúc mừng, về đến cung Dục Khánh, liền nghe thấy lời ca tụng của thầy Trần. Ông vuốt chòm râu bạc, sau cặp kính lão ánh lên vệt sáng lấp lánh thể hiện sự hưng phấn khác thường.
            Tuy vậy điều khiến tôi kinh ngạc nhất lại không phải là sự hưng phấn của ông, cũng không phải việc ông tỏ ra đối lập với các vương công trong vấn đề “thân vương quý tộc can dự chính quyền” (Tuy nhiên trực tiếp mạo phạm là cha tôi) mà là sự thể hiện thái độ quyết liệt trong vấn đề xử lý Lê Nguyên Hồng. Trước hết là Lương Đỉnh Phần tự bảo hăng hái đi gặp Lê Nguyên Hồng khuyên ông ta thoái vị (Lương Đỉnh Phần và Lê Nguyên Hồng là thông gia). Không ngờ bị cự tuyệt. Khi trở về, Lương Đỉnh Phần giận dữ báo tin cho Trần Bảo Thám và Chu Ích Phan. Nghe tin này, Trần Bảo Thám cùng Lương Đỉnh Phần và Chu Ích Phan đến cung Dục Khánh, vẻ tươi cười trên nét mặt hoàn toàn biến mất, tím mặt nói với tôi với vẻ mất tự chủ.
            - Lê Nguyên Hồng dám cự tuyệt, cự không vâng mệnh, xin hoàng thượng ban cho hắn tự vẫn đi!
            Tôi giật mình cảm thấy quá đáng:
            - Tôi vừa phục vị đã bắt Lê Nguyên Hồng chết, như vậy chẳng ra sao cả. Dân quốc chẳng phải cũng đã ưu đãi tôi sao?
            Đây là lần đầu tiên Trần Bảo Thám bị tôi công khai bác bỏ, trong sự giận dữ đối với kẻ thù khiến ông quên tất cả. Ông hổn hển nói: “Lê Nguyên Hồng không chịu rút lui, còn ở lỳ trong Phủ Thủ tướng, loạn thần tặc tử, nguyên hung đại ác, làm sao có thể hàng ngày sống với Hoàng thượng?”.
            Sau đó, thấy tôi tỏ ý kiên quyết, ông không dám kiên trì, đồng ý để Lương Đỉnh Phần lại đến phủ tổng thống tìm cách khuyên ông thông gia rời đi. Lương Đỉnh Phần chưa đi, Lê Nguyên Hồng đã ôm ấn tín tổng thống chạy đến công sứ quán Nhật Bản.
            Quân trừng phạt tiến gần thành Bắc Kinh, phục tích đã trở thành thời kỳ giãy giụa.Trần Bảo Thám cùng Vương Sĩ Trân, Trương Huân bàn bạc một biện pháp cuối cùng, quyết định viết một đạo dụ của hoàng đế gửi Trương Tác Lâm, phong ông ta làm tổng đốc Đông tam tỉnh, hạ lệnh cho ông ta hoả tốc tiến về Bắc Kinh cứu vua. Khi đó Trương Tác Lâm là đốc quân Phụng-Thiên, đối với việc Trương Huân cử ông ta một chức Tuần vũ Phụng Thiên là không đủ. Thầy Trần khi đó gửi gắm hy vọng rất lớn đối với Trương Tác Lâm. Đạo dụ viết xong, khi dùng “ấn vua” thì xảy ra vấn đề. Vốn là chìa khoá hòm ấn ở trong tay cha tôi. Nếu cử người đi lấy thì quá mất thời gian. Do đó thầy Trần quyết đoán gọi người đập khoá lấy ra chiếc “ấn khắc “Pháp thiên lập đạo” (đạo dụ cũng chưa gửi đến tay Trương Tác Lâm vì Trương Hải Bằng là người mang thư ra khỏi thành đã bị quân trừng phạt bắt giữ). Tôi có ấn tượng sâu sắc về việc thầy Trần bỗng nhiên biến thành bạo gan quyết đoán như vậy.
            Phục tích bắt đầu mấy ngày, mỗi ngày tôi ở cung Dục Khánh một nửa thời gian. Nghỉ học nhưng các thầy nhất định phải gặp vì mỗi việc đều phải nghe theo sự chỉ đạo của các thầy. Thời gian còn lại là xem các đạo dụ đợi phát và “Nội các quan báo”, tiếp nhận mọi người đến lễ bái, hoặc là đi xem kiến thay tổ như trước, gọi thái giám viện Thượng Tứ (40) thả lạc đà ra chơi đùa. Cuộc sống như thế kéo dài bốn, năm ngày thì bom của máy bay quân trừng phạt rơi xuống cung điện, tình thế hoàn toàn thay đổi. Người quỳ lạy không đến nữa, các đạo dụ không có nữa, không thấy bóng dáng phần lớn các đại thần nghị chính, họ vội chạy trốn khắp nơi, chỉ còn lại có Vương Sĩ Trân và Trần Bảo Thám. Hôm máy bay ném bom, tôi đang ngồi nói chuyện với các thầy trong thư phòng, nghe thấy tiếng máy bay và tiếng bom nổ xưa nay chưa từng nghe thấy tôi sợ run bắn người, mặt các thầy cũng không còn hạt máu. Trong một đám hỗn loạn, các thái giám vây quanh tôi gấp rút chạy về điện Dưỡng Tâm, có vẻ như chỉ có nơi đó mới an toàn nhất. Tình hình các thái phi càng tệ hại, có bà trốn vào góc giường nằm, có bà chui vào gầm bàn. Lúc đó tiếng các cung nhân huyên náo, rối loạn. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc xảy ra trận ném bom, lần đầu tiên trong lịch sử nội chiến dùng không quân Trung Quốc. Nếu như đáng nói một chút về tình hình lần đầu tiên phòng không thì đó là: mọi người nấp vào các phòng ngủ của mình, buông hết mành xuống - theo hiểu biết của các thái giám và quân hộ vệ thì đó là biện pháp thông minh nhất. May mắn là lần này, máy bay của quân trừng phạt không phải thực sự tấn công mà chỉ là doạ một chút, chỉ ném ba quả bom nhỏ dài một mét, một quả rơi ngoài của Long Tôn làm bị thương một phu kiệu, một quả rơi trong hồ nước Ngự Hoa viên phá vỡ một góc hồ, quả thứ ba rơi ở mái ngói cửa Long Phúc đường Tây trường không nổ làm cho các thái giám đáng tụ tập đánh bạc ở đó sợ gần chết.
            Ngày thứ hai sau khi gửi dụ cho Trương Tác Lâm, trong Tử Cấm Thành nghe thấy tiếng súng đại bác, Vương Sĩ Trân và Trần Bảo Thám đều không đến, trong và ngoài cung mất liên hệ. Sau đó tiếng súng thưa thớt, thái giám phòng tâu việc chuyển đến tin tức báo cáo của Dục Địch Bầm “Hộ quân thống lĩnh” : “quân đội Trương Huân thắng trận, quân đội Đoàn Kỳ Thụy hoàn toàn thất bại rồi! Tin tức này cũng chuyển đến nơi các thái phi. Trong khi nói chuyện, bên ngoài hoàn toàn không còn tiếng súng nữa. Từ lúc đó, mọi người lại tươi tỉnh, những chuyện ma quỷ của các thái giám lại tuôn đổ ra, nào là đức Quan thánh cưỡi ngựa xích thố đẫm mồ hôi, nào là Quan đế hiển thánh cưỡi ngựa xích thố hộ giá Trương Huân mới đánh bại Đoàn Kỳ Thụy... Tôi nghe thấy, vội đến nơi thờ Quan thánh (Quan Công) vuốt ve bức tượng gỗ điêu khắc đó, trái lại thấy sạch bóng. Lúc có thái giám nói, sáng sớm nay, hắn nghe thấy tiếng mũ giáp tinh tinh tang tang ở sân Tây noãn các diện Dưỡng tâm, chắc là Quan thánh đền đó lấy thanh long yển nguyệt đao. Nghe những câu nói đó, các thái phi và tôi đều đến khấu đầu trước điện Khâm An. Tối hôm đó đại gia đình ngủ một giấc yên ổn. Sáng sớm hôm sau, Phủ nội vụ báo đến tin thật: “Trương Huân đã chạy vào sứ quán Hà Lan rồi!”.
            Khi đó cha tôi và thầy Trần xuất hiện. Nét mặt các ông xám lại, bơ phờ thất vọng. Tôi nhìn các ông thảo xong chiếu thoái vị, vừa sợ lại vừa đau xót, không nín được tiếng khóc lớn. Dưới đây là nội dung tờ chiếu thoái vị:
            “Ngày 20 tháng 5 năm thứ 9 Tuyên Thống:
            Kính gửi nội các:
            Thượng dụ: trước đây nghe lời tâu của Trương Huân và một số người khác, đất nước xáo động lòng người nhớ cũ, khẩn thiết xin nghe triều chính. Trẫm còn nhỏ, ở lâu trong cung cấm, từ lâu không hiểu quốc kế dân sinh.
            Trẫm:
            “…Luôn nhớ di huấn, vốn không hề có ý mưu tính thiên. hạ, duy căn cứ lời nói để cứu dân, cứu nước đã nhận lời yêu cầu, tạm thời nghe chính sự, cũng lại do nghe lời tâu trình của Trương Huân, các tỉnh tới tấp ra quân và do tranh giành quyền chính đã dẫn đến binh lửa. Những năm qua, dân ta đau khổ, đã như trong nước bỏng dầu sôi há lại muốn khốn khổ vì lại lâm vào cảnh can qua. Tâm niệm như vậy, trăn trở không yên. Trẫm quyết không muốn cướp chính quyền này khiến cho sinh linh lầm than.
            Hiếu định đức dày của Cảnh hoàng hậu giao Vương Sĩ Trân gặp Từ Thế Xương nhanh chóng thông điệp Đoàn Kỳ Thụy, thương lượng làm mọi việc giao tiếp để yên lòng người, tránh nạn binh đao.
            Khâm thử.”
 
 
---------------------------------------------------------------
(40) Thượng Tứ là một trong 3 viện của Phủ nội vụ quản lý việc nuôi ngựa, lạc đà... Nguyên chú. 
 
Đăng nhập để trả lời
0

Chưa hết hy vọng

 
            Một hôm, tôi cưỡi xe đạp rong chơi trong Ngự Hoa viên, đạp đến một khúc queo hầu như đụng phải một người. Sự việc như thế xảy ra ở trong cung cần phải bị coi là tội thất lễ trước vua, song tôi cũng chẳng để ý. Xe của tôi quành một vòng chuẩn bị quay đi. Không ngờ người đó quỳ xuống không đi, miệng còn nói.
            - Kẻ mọn này thỉnh an vạn tuế.
            Người này mặc áo khoác màu tím giống như áo thái giám. Nhìn thấy trên mép anh ta có râu lún phún tôi biết không phải là thái giám. Tôi quay một vòng xe hỏi:
            - Làm gì?
            - Kẻ mọn trông nom đèn điện ạ.
            - À, mi làm cái nghề đó, vừa rồi may ta không ngã, coi như mi gặp may, tại sao lại vẫn quỳ đó?
            - Kẻ mọn này vận thật may, hôm nay được thấy dung nhan thiên tử. Xin Hoàng thượng mở ơn trời ban cho kẻ mọn này một chút quan tước!
            Nghe lời ngu ngốc của hắn tôi cũng vui. Tôi nhớ các thái giám nói với tôi: trên đường phố Bắc Kinh người ta đặt tên đùa cho ăn mày ở đầu Đôn Kiều liền nói: 
            - Được, phong ngươi là “Trấn Kiều Hầu” (dùng chữ hầu là con khỉ - ND) ha ha...!
            Tôi đùa xong trò này cũng không nghĩ rằng con người mơ quan tước này sau đó quả thật đã tìm Phụ nội vụ đòi “báo quan”. Người Phủ nội vụ nói: “Đây là một câu nói đùa, tại sao anh cho là thật?” Anh ta bẳn lên:
            - Lời Hoàng thượng là lời vàng ngọc, các ông tại sao dám nói là nói đùa, không được!...
            Việc này về sau kết thúc ra sao tôi cũng không  biết nữa.
            Khi đó, tôi thường nghe thấy các thầy và các thái giám nói: các nơi ở trong nước thường có người hỏi: “Hoàng đế Tuyên Thống ra sao?”. “Hiện nay ai ngồi ở triều đình?”, “Chân long thiên tử ngồi trên ngai, thiên hạ sẽ hưởng thái bình”. Căn cứ một bài trên báo, thầy dạy tiếng Anh của tôi nói: Ngay những người rất phản đối đế chế cùng cảm thấy thất vọng đối với Cộng hòa, có thể thấy những người phản đối đế chế cũng đã thay đổi ý kiến. Thực ra người ta nhớ một chút “thời nhà Thanh trước” chẳng qua là tỏ ý căm thù tai hoạ quân phiệt mà thôi. Các thầy của tôi thu thập những câu nguyền rủa đó làm chứng cho việc lòng người nhớ thủa trước, cũng trở thành tài liệu giáo khoa sử dụng đối với tôi.
            Tuy nhiên, trong cuối thời đại Từ Thế Xương cũng thường có thể thấy những người bị mê hoặc. Có một nhà buôn tên là Vương Cửu Thành, phát tài vì may quân trang cho quân đội, ông ta muốn được ban thưởng mặc áo chẽn vàng (áo chẽn ngắn ngoài áo thụng của dân tộc Mãn - ND) đã từng tốn khá nhiều công phu, chi khá nhiều tiền. Các thái giám đặt vụng cho ông ta một biệt hiệu là “tán tài đồng tử”. Không rõ ông ta qua móc ngoặc như thế nào mà dịp tết, ông ta lẫn vào trong các di lão khấu đầu tiến cống. Khi tới mang khá nhiều tiền, đi tới đâu vung tiền tới đấy. Các thái giám rất thích ông ta tới vì dù là dẫn đường hay chuyền gặp, vén rèm pha trà cho đến không có việc gì chỉ đến nói với ông ta vài câu đều có thể nhận được hàng cuộn tiền của ông ta. Còn như việc chi tiền vào các khâu móc nối thì khỏi phải nói. Cuối cùng ông  ta thật sự đạt được mục đích, được ban thưởng “vinh dự” mặc áo chẽn màu vàng.
            Có áo chẽn vàng ấy để sau này trong gia phả ghi một quan hàm triều Thanh, sau khi chết có một tên hiệu, khi đó hàng ngày đều có người chạy đến Tử Cấm Thành hoặc là từ nơi xa xôi gửi tấu tới Lương Cự Xuyên, biệt hiệu là Lương Phong Tử (thằng Lương điên) không tiếc tính mạng, nhảy xuống hầm nước ở Tích Thuỷ Đàm để đổi lấy một tên hiệu là “Trịnh Thụỵ”. Sau đó, số người xin tên hiệu quá nhiều, không tránh khỏi tổn hại đến sự tôn nghiêm của triều đình nhỏ. Do đó đã quy định hạn chế từ quan tam phẩm trở xuống không ban tên hiệu. Còn như việc ban thưởng cưỡi ngựa trong Tử Cấm Thành, ngồi kiệu hai người khiêng, thưởng viết chữ phúc thọ, câu đối v.v... việc hạn chế càng nghiêm ngặt hơn. Khi đó, không những là vương công đại thần, ngay đến các tướng lĩnh Dân quốc nếu được một trong những loại ban thưởng đó cũng coi là “vinh dự đặc biệt”. Một số quan chức tương đối thấp hoặc chưa có “tiến trình” thời nhà Thanh lại không có nhiều tiền như Vương Cửu Thành không vào được Tử Cấm Thành như loại “thân sĩ” khi ấy ở các nơi, cũng có thể theo đuổi mục tiêu đó là xin các di lão “điểm chủ” vào bài vị khi chết, khắc bia trên núi, là người làm chứng trong hôn lễ của con cái. Tại Thượng Hải, một bà người dân tộc Mãn, lấy chồng người Do Thái quốc tịch Anh, với lễ nghi long trọng đã mời Lưu Xuân Lâm, vị trạng nguyên cuối triều Thanh tới Thượng Hải, đặc biệt làm cho ông ta một chiếc kiệu lớn 8 người khiêng, đề nghị ông ta mặc triều phục nhà Thanh để điểm chủ cho bài vị của ông chồng đã  mất. Khi đó, một số người gọi là văn nhân mới như Hồ Thích, Giang Khang Hổ... cũng có những hành động tương tự.
            Năm tôi mười lăm tuổi, qua nói chuyện với Johnston, biết rằng có ông tiến sĩ Hồ Thích để xướng văn chương bạch thoại. Vì tính hiếu kỳ muốn tìm hiểu suy nghĩ của ông này, tôi gọi điện thoại cho ông. Không ngờ ông ta đến ngay. Về cuộc gặp gỡ này, tôi sẽ nói sau. Ở đây tôi chỉ nói đến việc sau cuộc gặp gỡ vô bổ đó, qua bức thư Hồ Thích gửi Johnston, tôi phát hiện vị tiến sĩ Tây này cũng có tâm tình như các vị di lão. Thư của ông ta có đoạn viết:
            “Tôi không thể không thừa nhận, tôi rất cảm động trước cuộc triệu kiến này. Khi đó, tôi đã có thể giữ một vị trí trước một vị hoàng đế cuối cùng của nước ta - vị đại biểu cuối cùng của nền quân chủ qua các triều đại”.
            Quan trọng hơn là Tử Cấm Thành đã được cổ vũ qua dư luận của người nước ngoài. Johnston đã thông báo cho tôi nhiều tin tức về mặt này. Theo ông, rất nhiều người nước ngoài cho rằng phục tích là nguyện vọng của người Trung Quốc nói chung. Có lúc ông mang báo chí ngoại văn đến đọc cho tôi nghe. Sau đó ông chép một đoạn đưa vào tác phẩm “Hoàng hôn ở Tử Cấm Thành”. Đây là một đoạn xã luận nhan đề “Phải chăng một cuộc phục tích mới lại sắp xảy ra” của tờ “Bưu điện Hoa Bắc hàng ngày” ở Thiên Tân số ra ngày 19 tháng 9 năm 1919:
            “Quá trình trải qua của Chính phủ cộng hoà là bi thảm và đau xót. Ngày nay chúng ta thấy, Nam Bắc đang diễu võ dương oai, tình hình đó chỉ có thể dẫn đến kết luận: Ở Trung Quốc, qua thực nghiệm đã phát hiện chính thể cộng hoà có khuyết điểm. Những phần tử trung kiên của đất nước này - tầng lớp thương nhân và thân sĩ - rất căm ghét chiến tranh nồi da nấu thịt. Chúng ta tin rằng, chúng ta nhất định sẽ hết lòng ủng hộ bất cứ hình thức chính phủ nào, chỉ cần chính phủ đó đảm bảo thái bình cho 18 tỉnh là được.
            Không nên quên rằng, đảng Bảo hoàng là đảng có thế trận vững mạnh. Từ trước tới nay họ bất mãn với chính thể cộng hoà. Song do nguyên nhân này khác, mấy năm gần đây họ giữ im lặng. Rõ ràng là, họ đồng tình hành động của quân phiệt, họ có một số nhân sĩ vẫn từng lui tới những nơi quân nhân hội họp, điều đó không phải không có ý nghĩa.
            Luận điểm của những người ngầm tán đồng và hy vọng cựu hoàng đế phục tích thành công là những người cộng hoà đang phá hoại đất nước này. Vì vậy cần tiến hành những biện pháp - thậm chí những biện pháp mạnh mẽ để khôi phục cảnh tượng phồn vinh của ngày trước. Phục tích đế chế quyết không được hoan nghênh về nhiều mặt, trái lại còn có thể gặp sự chống đối tương đối lớn về mặt ngoại giao, không chỉ là một công sứ quán phản đối. Tuy nhiên chỉ cần Chính phủ thành công sẽ khiến sự chống đối đó mất đi, vì chúng ta biết rằng: được làm vua, thua làm giặc.
            Đương nhiên, dù báo chí của người nước ngoài có biết bao lời cổ vũ như thế, trực tiếp quyết định an nguy và hoạ phúc tiền đồ của triều đình nhỏ vẫn là những quân nhân cầm súng. Đúng như tờ “Bưu điện Hoa Bắc hàng ngày” đã nói: “Lui tới những nơi quân nhân tập hội, điều đó không phải là không có ý nghĩa”. Tôi nhớ cuối năm đó (năm 1919) sự giao thiệp giữa triều đình nhỏ ở Tử Cấm Thành với các quân nhân ngoài hệ Bắc Dương cũ càng thêm mật thiết. Đối tượng thứ nhất là sứ giả của Trương Tác Lâm, thủ lĩnh hệ Phụng Thiên.
            Mới đầu, Tử Cấm Thành nhận được một khoản tiền bán giúp trang viên tài sản hoàng gia do cha tôi nhận và chuyển vào. Cha tôi viết thư cảm ơn, sau đó Phủ nội vụ chọn hai loại đồ cổ một là bức tranh “Ngự chế đề vịnh Đổng Bang Đạt đạm nguyệt hàn lâm đồ” (bức tranh Rừng lạnh trăng suông của Đổng Bang Đạt có chữ đề của vua), một vật khác là một đôi lọ sứ Càn Long, lấy danh nghĩa cha tôi tặng Trương Tác Lâm và do Đường Danh Thịnh, chuyên sai hàng tam phẩm trực tiếp đưa tới Phụng Thiên. Trương Tác Lâm cử Trương Cảnh Huệ, người anh em kết nghĩa lúc đó là phó tổng tư lệnh quân Phụng Thiên, sau này là thủ tướng quốc vụ ngụy quyền Mãn Châu đi cùng Đường Danh Thịnh về Bắc Kinh cảm ơn cha tôi. Từ đó thay mặt triều đình nhỏ, Thuần Vương phủ và quân Phụng Thiên có sự qua lại ngấm ngầm khi Trương Huân phục tích, có 3 tướng lĩnh quân Phụng Thiên (Trương Hải Bằng, Phùng Lâm Các, Dương Ngọc Lâm) thân tín đến Bắc Kinh tham gia phục tích nay lại có Trương Cảnh Huệ, Trương Tôn Xương được ban thưởng cưỡi ngựa trong Tử Cấm Thành. Khi đó Trương Tôn Xương là Sư trưởng quân Phụng Thiên, khi cha ông ta làm lễ đại thọ 80 tuổi ở Bắc Kinh, cha tôi đã đích thân tới chúc mừng. Năm thứ 9 Dân quốc trong cuộc chiến tranh Trực - Hoản, quân Trực liên hợp với quân Phụng đánh bại quân Hoản, thủ lĩnh quân Trực (Phùng Quốc Chương đã chết) Tào Côn và thủ lĩnh quân Phụng Trương Tác Lâm sau khi vào Bắc Kinh, Thiệu Anh, đại thần Phủ nội vụ đi đón. Thuần Vương Phủ cũng bận rộn về giao thiệp vì một dạo nghe nói Trương Tác Lâm muốn vào cung thỉnh an. Để chuẩn bị đồ ban thưởng, đại thần Phủ nội vụ đặc biệt đến Thuần Vương Phủ họp bàn kết quả  quyết định: ngoài những thứ đã định, thêm vào một thanh đao cổ. Tôi nhớ Trương Tác Lâm không đến lại quay về Phụng Thiên. Hai tháng sau, một Bối lặc trẻ nhất Thuần Vương Phủ được làm cố vấn của Trương Tác Lâm theo ông ta đến Phụng Thiên. Quân Hoản thất bại, thời kỳ quân Phụng-Trực hợp tác, Hội quán Phụng Thiên ở Bắc Kinh thành nội tụ họp của tướng lĩnh quân Phụng. Ngay Trương Văn Trị, tổng quản Thuần Vương Phủ cũng là khách thường xuyên của nơi này và ở đó đã kết nghĩa anh em với Trương Cảnh Huệ.
            Trong hai năm đó, tình hình cũng giống như thời kỳ trước khi Trương Huân phục tích. Lời đồn về phục tích lan truyền khắp nơi. Dưới đây là một tin phát từ Phụng Thiên trên tờ “Đạo báo” tiếng Anh ngày 27 tháng 12 năm thứ tám Dân quốc (cũng tức là sau hai tháng người Thuần Vương Phủ đến Phụng Thiên trao tặng phẩm và cùng Trương Cảnh Huệ về Bắc Kinh):
            “Mấy ngày gần đây, trong các giới nhân sĩ ở Thẩm Dương đặc biệt là trong đám tay chân của tướng Trương Tác Lâm, loan truyền một loại tin đồn, nói sẽ khôi phục đế chế ở Bắc Kinh thay chính phủ Dân quốc. Căn cứ các kiểu dự đoán hiện nay lần đế chế này do Trương tướng quân phát động, có sự hợp tác của hoàng tộc và những người lãnh đạo quân sự của Tây Bắc, tướng Trương Huân trước cũng có tác dụng quan trọng... tức là thậm chí đến tổng thống Từ Thế Xương và nguyên tổng thống Phùng Quốc Chương trước nguy hiểm của tình hình đất nước và từ bên ngoài hiện nay cũng đều đồng ý khôi phục đế chế. Còn như Tào Côn, Lý Thuần cũng như những quân nhân thứ yếu khác, để họ giữ địa vị hiện có và thêm tước vương công cũng sẽ thoả mãn...”
            Biết tin này Johnston, thời gian hơi muộn. Tôi vẫn còn nhớ ông ta đồng thời còn nói về những truyền thuyết về hoạt động phục tích của Trương Tác Lâm, đại thể những loại tin này được truyền bá đến năm thứ 11 Dân quốc, tức là đến khi Trương Tác Lâm thất bại quay về Đông Bắc mới thôi. Đối với loại tin tức nới trên, ấn tượng của tôi rất sâu sắc khiến tôi từ đáy lòng cảm thấy vui mừng, qua đó tôi cũng hiểu rõ vì sao thủ lĩnh quân Phụng nhiệt thành với Tử Cấm Thành đến thế, vì sao khi Đoan Khang mất, Trương Cảnh Huệ đứng cúi đầu trong hàng ngũ các đại thần, vì sao người ta nói Hội quán Phụng Thiên vô cùng nhộn nhịp, một số vương công hăng hái phấn chấn như thế. Tuy nhiên, sự vui mừng của chúng tôi không giữ được lâu. Những việc không vui kéo tới: sự hợp tác của quân Trực - Phụng đột nhiên tuyên cáo tan vỡ, hai bên nổ súng bắn nhau, kết quả quân Phụng thất bại, chạy khỏi Sơn Hải Quan.
            Những tin tức khiến người ta lo lắng liên tiếp đến. Từ Thế Xương bỗng nhiên sụp đổ, quân Trực thống trị Bắc Kinh, Lê Nguyên Hồng bị hạ bệ thời kỳ Trương Huân phục tích làm tổng thống lần thứ hai. Trong Tử Cấm Thành xảy ra những kinh hãi mới. Các vương công đại thần yêu cầu Johnston mang tôi đến tỵ nạn ở sứ quán Anh thu xếp một số phòng ở công sứ quán Anh để khi cần tôi có thể là khách riêng của Johnston đến ở nơi đó. Đồng thời cùng còn thương lượng với Công sứ quán Bồ Đào Nha và Hà Lan có thể dung nạp những người khác trong hoàng thất đến tỵ nạn. Cách suy nghĩ của tôi khác với họ. Tôi cho rằng trốn tránh trong sứ quán nước ngoài chẳng bằng đi ra nước ngoài. Tôi nêu ra với Johnston, yêu cầu ông lập tức mang tôi ra nước ngoài. Vì tôi đột nhiên tìm ông ta đến và nêu ra cho nên ông thầy người Anh này sững người, hầu như không kịp suy nghĩ đã trả lời tôi: “Như vậy không nên, xin bệ hạ hẵng bình tĩnh suy xét. Từ Tổng thống vừa chạy khỏi Bắc Kinh, hoàng đế bệ hạ lập tức biến mất khỏi Tử Cấm Thành, điều đó có thể dẫn tới sự liên tưởng nói rằng Từ Thế Xương có âm mưu gì với nhà Thanh. Lại nói, trong tình hình đó nước Anh cũng không thể đón tiếp bệ hạ”.
            Khi đó tôi cũng không đủ trình độ liên tưởng như vậy, vì mọi người chưa hề nói với tôi về quan hệ giữa Trương Tác Lâm và Từ Thế Xương cũng như những việc xảy ra trong quan hệ bí mật giữa hai người và triều đình nhỏ, đương nhiên càng không thể nghĩ tới cuộc chiến tranh Trực-Phụng nổ ra và mối quan hệ thắng bại của cuộc chiến tranh này với khu sứ quán nước ngoài. Khi đó, vừa nghe thấy yêu cầu của tôi không thể thực hiện được chỉ còn biết bỏ qua. Sau đó, thời cuộc ổn định lại, không có ai còn nêu ra việc ra nước ngoài, ngay vấn đề tỵ nạn cũng không nêu ra nữa.
            Đó là việc giữa mùa xuân và mùa hè năm thứ 11 Dân quốc. Năm sau, thủ lĩnh quân Trực Tào Côn dùng biện pháp chi 5.000 đồng mua một lá phiếu bầu, lôi kéo được các nghị viên bầu ông ta làm tổng thống. Sự khiếp sợ của triều đình nhỏ đến với vị thủ lĩnh phái Trực này vừa tiêu tan lại nảy sinh sự thích thú đối với một vị thủ lĩnh khác danh vọng ngày càng cao của phái Trực là Ngô Bội Phu. Sau đó, Trịnh Hiếu Tế đến cạnh tôi, đã có lúc hiến kế sách cho tôi nói rằng Ngô Bội Phu là quân nhân rất có hy vọng. Ông ta tự cho mình là Quan Vũ (Quan Vân Trường - ND), có lòng với xã tắc đại Thanh, rất có khả năng đi du thuyết. Năm đó, Ngô Bội Phu mừng thọ 50 tuổi ở Lạc Dương. Được sự đồng ý của tôi, Trịnh Hiếu Tế mang một lễ hậu hĩnh đến mừng thọ. Song thái độ của Ngô Bội Phu lấp lửng, không biểu thị rõ ràng. Sau đó Khang Hữu Vi lại đến thuyết phục ông ta cũng không nhận được sự trả lời khẳng định. Sự thật là thời kỳ đắc ý của Ngô Bội Phu cũng quá ngắn ngủi, tức là sau một năm ông ta mừng thọ đã nổ ra chiến tranh giữa hai phái Trực-Phụng, Phùng Ngọc Tường, bộ hạ của Ngô Bội phu đã “quay giáo” tuyên bố hoà bình, kết quả Ngô Bội Phu thất bại đổ sụp; tôi cũng ngồi không vững trong Tử Cấm Thành, bị quân Quốc dân của Phùng Ngọc Tường đuổi đi.
            Trong mấy năm dâu biển trước khi tôi kết hôn, sự thay đổi tâm tư của các vương công đại thần trong triều đình nhỏ hoàn toàn không giống nhau. Biểu hiện tiêu cực nhất là Thế Tục, đại thần Phủ nội vụ. Bắt đầu từ phục tích Đinh Tỵ, ông ta ngày càng mất tinh thần, sau đó trở thành người hoàn toàn bi quan chán nản. Thậm chí ông ta đã nói với người khác rằng dù phục tích có thành công, đối với tôi cũng chẳng hay ho gì vì những vương công trẻ tuổi ngu ngốc nhất định lại gây rối loạn còn lớn hơn nam Tân Hợi. Ông ta lại nói: “Dù cho vương công không gây loạn, vị hoàng đế này cũng không tự bảo vệ được mình”. Chủ trương của ông ta là để tôi kết thân với vương công Mông Cổ để khi cần thiết chạy đến sống ở nhà bố vợ. Thế Tục chết khoảng một năm trước khi tôi kết hôn. Một năm trước khi chết, do ốm đau nên không làm việc nữa. Thay ông ta là Thiệu Anh, kiến thức Thiệu Anh không bằng người tiền nhiệm của ông ta. Cẩn thận, nhút nhát sợ việc sẽ có sai lầm. Tư tưởng Thiệu Anh chỉ có lùi để giữ chứ không có mưu toan tiến thủ. Ông ta muốn giữ “điều kiện ưu đãi” vì giữ vững được điều này tức là giữ vững được mọi thứ của ông ta từ tài sản tính mạng đến quan tước. Ông ta trước hết từ con người Johnston thấy được tác dụng bảo hiểm này, ông ta cho người nước ngoài ở những nhà bỏ không của mình không lấy tiền, chứ không cho người Trung Quốc thuê với giá cao.
            Ở giữa các vương công trẻ tuổi và các dại thần già nua của Phủ Nội vụ là thầy Trần Bảo Thám. Ông không bi quan như Thế Tục, cũng không như Thiệu Anh, ngoài giữ vững điều kiện ưu đãi không còn nghĩ đến việc gì khác; cũng không cảm thấy thích thú đám quân nhân như các vương công trẻ. Ông cũng không phản đối việc liên hệ với đám quân nhân, thậm chí tự đến thăm hỏi Phùng Ngọc Tường. Điều mà ông hy vọng là đám quân nhân đánh nhau, cuối cùng Dân quốc sụp đổ, xuất hiện cục diện “Trời và người cùng quay về”.
            Vì vậy sau thất bại của Trương Huân, ông luôn luôn giảng cho tôi câu nói của Mạnh tử: “Trời đã trao nhiệm vụ lớn lao cho người thì trước hết phải lao tâm khổ chí, suy vi thân thể, việc làm không rối loạn, sao cho chuyển động tâm tư, nhẫn nại tính tình, tăng cường khả năng thực hiện những điều khó thực hiện.
            Trần Bảo Thám vốn là linh hồn duy nhất của tôi, song từ khi Johnston đến, tôi lại thêm một linh hồn nữa.
 
Đăng nhập để trả lời
0

Johnston

 
            Lần đầu tiên tôi nhìn thấy người nước ngoài là trong buổi chiêu đãi các phu nhân công sứ nước ngoài lần cuối cùng của Long Dụ thái hậu. Nhìn thấy trang phục kỳ lạ của phụ nữ nước ngoài đặc biệt là đôi mắt xanh và tóc màu của họ, tôi cảm thấy họ vừa lạnh lẽo vừa đáng sợ. Khi đó tôi vẫn chưa nhìn thấy đàn ông nước ngoài. Đối với đàn ông nước ngoài, tôi có hiểu biết sơ sài qua hoạ báo: mép họ đều có râu chữ bát, ống quần có một đường thẳng tắp, cầm một chiếc gậy. Theo thái giám nói, râu người nước ngoài rất cứng, chòm râu có thể treo một chiếc đèn lồng. Chân người nước ngoài rất thẳng cho nên năm Mậu Tý, có vị đại thần đã bày mưu cho Tây thái hậu là khi đánh nhau với người nước ngoài, chỉ cầm gậy tre quật ngã họ là họ không bò dậy được. Còn như cây gậy trong tay người nước ngoài, thái giám gọi là “gậy văn minh” dùng để đánh người. Thầy Trần Bảo Thám của tôi đã từng đến Indonesia trông thấy người nước ngoài. Thầy đã nói với tôi những hiểu biết về nước ngoài, dần dần thay đổi ấn lượng thời thơ ấu của tôi và những lời đồn đại của thái giám. Tuy nhiên khi tôi nghe nói có một người nước ngoài đến làm thầy dạy tôi, một thiếu niên mười bốn tuổi như tôi vẫn có cảm giác hiếu kỳ và lo lắng.
            Ngày 4/3/1919, cha tôi và các thầy Trung Quốc của tôi “dẫn kiến” Reginald Johnston tiên sinh tại cung Dục Khánh. Trước hết, theo nghi thức tiếp kiến bề tôi nước ngoài, tôi ngồi trên ngai, ông cúi đầu vái tôi. Tôi đứng lên và bắt tay ông. Ông lại vái tôi một vái, lui ra ngoài cửa. Sau đó, ông tiến vào; tôi vái lại ông, đó là lễ bái thầy. Xong mọi nghi thức, có thầy Chu Ích Phan cùng ngồi, ông bắt đầu giảng bài cho tôi.
            Tôi thấy thầy Johnston năm đó trạc 40 tuổi, rõ ràng nhiều hơn tuổi cha tôi nhưng cử động rất nhanh nhẹn khéo léo. Lưng ông rất thẳng, thậm chí tôi ngờ rằng trong ấy có khung bằng sắt, tuy nhiên ông không có râu chữ bát và gậy văn minh. Chân ông cũng uốn cong được song vẫn gây cho tôi một cảm tưởng cứng đơ đơ thế nào ấy. Đặc biệt đôi mắt xanh lam và mái tóc vàng của ông khiến tôi không thoải mái.
            Khoảng một tháng sau khi ông tới, một hôm sau khi giảng một hồi sách, bỗng nhiên ông quay đầu lại, hầm hầm nhìn viên thái giám đứng ở góc tường, mặt đỏ bừng, dằn giọng nói với tôi:
            - Phủ nội vụ đối xử với tôi như thế thật rất không lịch sự. Tại sao các thầy Trung Quốc lên lớp không có thái giám, duy có tôi lên lớp phải có một thái giám đứng ở đó? Tôi không thích như thế... tôi sẽ nói với Từ Tổng thống vì Từ Tổng thống mời tôi tới.
            Ông chả cần phải đi tìm Tổng thống. Triều Thanh mời ông làm thầy dạy tôi, ít nhất nửa phần là vì dựa vào sự “bảo hộ” của ông do đó không dám có lỗi với ông ta... Ông ta vừa đỏ mặt, cha tôi và các vị đại thần lập tức phải nhượng hộ, đuổi thái giám đi.
            Tôi cũng thấy người nước ngoài này rất lợi hại, trước hết tôi phải theo ông học tiếng Anh một cách quy củ, không dám như với thầy Trung Quốc.
            Chỉ qua vài ba tháng, tôi đã phát hiện điểm giống nhau giữa vị thầy dạy tiếng Anh này và các thầy Trung Quốc ngày càng nhiều. Ông không những như các thầy Trung Quốc cung kính gọi tôi là hoàng thượng mà khi tôi học đã mệt cũng rời cuốn sách cùng tôi đi dạo, kể các câu chuyện xưa nay ở những miền xa lạ trong nước, ngoài nước.
            Ông già người Anh này là thạc sĩ văn học của trường đại học Oxford nước Anh, ông vào cung dạy học là do sự tiến cử của Lý Kinh Mại (con Lý Hồng Chương). Ông đã từng làm thư ký của Tổng đốc Hương Cảng. Theo ông nói, ông đến Châu Á đã gần 20 năm, đi khắp các tỉnh ở Trung Quốc. Ông thông hiểu lịch sử Trung Quốc, hiểu biết phong thổ, nhân tính các địa phương, có nghiên cứu về các đạo Nho, Mặc, Dịch, Lão đặc biệt rất tán thưởng thơ cổ Trung Quốc, tôi chỉ thấy ông giống như các thầy Trung Quốc, gật gù rung đùi đọc thơ Đường. 
            Cũng như các thầy Trung Quốc, ông lấy làm vinh dự khi được tôi ban thưởng. Sau khi ông được ban thưởng đệ nhất phẩm, ông may một bộ triều phục nhà Thanh, mặc triều phục đứng trước biệt thự Anh Đào ở Tây Sơn, đứng dưới bức hoành “Lạc tĩnh Sơn trai” do tôi viết chữ chụp ảnh gửi tặng bạn bè ở khắp nơi.
            Johnston dùng câu chí kẻ sĩ ở đạo trong “Luận ngữ” đặt biệt hiệu mình là “chí đạo”. Ông rất thích thưởng thức trà Trung Quốc và hoa mẫu đơn, thường cùng các di lão đàm luận cổ kim. Sau khi về nước dưỡng lão, ông dành một căn nhà trưng bày những vật được tôi ban thưởng và bộ triều phục nhà Thanh. Trước ngực mình ông đính một quốc kỳ “Nước Mãn Châu” để bày tỏ sự trung thành đối với hoàng đế. Vì vậy tạo nên mối quan hệ gắn bó với thầy trò của chúng tôi trước hết vẫn là sự bền bỉ của ông. Ngày nay nhớ lại, sự đối xử của vị người Anh hay đỏ mặt đối với một người học trò như tôi quả thật là công việc không dễ dàng.
            Có lần, ông mang đến cho tôi một số hoạ báo nước ngoài về cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất với nhiều hình ảnh xe tăng, máy bay và đại bác của quân đội đồng minh, thấy tôi có vẻ thích thú, ông giảng giải cho tôi về tác dụng của xe tăng như thế nào, máy bay loại nào tốt nhất, quân đội đồng minh dũng cảm ra sao... Lại có  lần, cũng mang cho tôi một số kẹo nước ngoài.
            Tôi rất thích những chiếc hộp thiếc nhẹ, giấy gói màu bạc, và hương vị các loại trái cây của kẹo. Ông nói, mùi kẹo trái cây sản xuất bằng phương pháp hoá học, hình dáng đều đặn là do làm bằng máy. Tôi nghe không hiểu và cũng không muốn hiểu.
            Johnston hết lòng dạy dỗ tôi khiến tôi dần dần hiểu và cảm thấy hào hứng, nghe theo. Ông không những dạy tôi tiếng Anh mà càng chú ý dạy tôi phong cách cư xử của người Anh quý tộc. Năm 15 tuổi, quyết tâm bắt chước trang phục của ông, tôi gọi thái giám lên phố mua một bộ  quần áo Âu phục. Tôi mặc bộ quần áo quá rộng, thắt lưng ra ngoài vạt áo, khi bước vào cung Dục Khánh gọi ông xem, ông giận run người bảo tôi lập tức về thay ngay. Hôm sau, ông đưa vào cung một người thợ để may cho tôi những quần áo của quý tộc Anh. Sau đó ông nói: “Nếu mặc những bộ âu phục không vừa thì thà là mặc y phục vốn có là hơn. Nếu Hoàng thượng mặc những bộ quần áo tầm tầm thì không còn là quý tộc nữa, sẽ là…”. - ông không nói ra được.
            Ông nói: “Nếu hoàng thượng ở Luân Đôn sẽ thường được mời đi dự tiệc trà. Đây là những cuộc họp mặt tương đối thoải mái mà lại quan trọng. Ở đó, có thể gặp gỡ các nhà quý tộc, học giả, giới trí thức cũng như những người mà Hoàng thượng cần gặp.
            Quần áo không cần cầu kỳ nhưng lịch sự là điều hết sức quan trọng. Nếu uống cà phê như nước ngọt, ăn bánh điểm tâm như ăn cơm, hoặc khua dĩa leng keng thì hỏng. Ở nước Anh, điểm tâm, cà phê là refreshment, không phải là ăn cơm.
            Văn minh phương Tây, hình ảnh xe tăng, máy bay trong hoạ báo, kẹo kỹ nghệ hoá học, các buổi tiệc trà ở Luân Đôn đã gây ấn tượng sâu sắc trong tim tôi. Từ khi xem hoạ báo chiến tranh ở Châu Âu, tôi thích xem hoạ báo nước ngoài. Trước hết là tôi bị kích thích về những quảng cáo trên báo, lập tức ra lệnh cho Phủ nội vụ đặt mua từ nước ngoài những viên kim cương và chó tây. Theo các kiểu mẫu trên hoạ báo, tôi bảo Phủ nội vụ mua các đồ dùng trong nhà kiểu Tây. Bắt chước Johnston, tôi mua rất nhiều vật trang sức trên người, đồng hồ, nhẫn, kim cài, mang sét, cà vạt... Tôi yêu cầu ông đặt tên nước ngoài cho tôi. Tôi cũng đặt tên nước ngoài cho các em trai, em gái, hoàng hậu,quý phi của tôi. Tôi tên là Henry, Uyển Dung là Elizabeth... tôi bắt chước cách nói Trung Anh lẫn lộn, suốt ngày nói với các bạn học của tôi.
            - Arthur (tên Phổ Kiệt) today gọi Lily (em gái thứ ba của tôi) đến hear (nghe) quân nhạc nước ngoài!
            Khi nói dương dương đắc ý khiến thầy Trần Bảo Thám chau mày nhắm mắt, nghiến răng nghiến lợi.
            Tóm lại, sau này trong mắt tôi, mọi thứ của Johnston là tốt nhất. Thậm chí ngay mùi long não sức áo quần ông ta cũng thơm tho. Johllston khiến tôi tin rằng người Châu Âu là người văn minh nhất mà ông là người rất có học vấn trong những người Châu Âu. E rằng, ngay bản thân ông ta cũng không ngờ rằng ông có thể phát huy ảnh hưởng như thế đối với tôi. Len dạ ông đang mặc khiến tôi hoài nghi giá trị gấm đoạn dệt bằng tơ của Trung Quốc, chiếc bút máy cài trên túi ông khiến tôi cảm thấy xấu hổ về người Trung Quốc dùng bút lông, giấy bản. Từ lúc ông đưa đoàn quân nhạc của quân đội Anh vào cung diễn tấu khiến tôi cảm thấy không thích nghe nhạc dây Trung quốc, thậm chí ngay sự uy nghiêm của dàn nhạc cung đình cũng giảm đi. Chỉ vì Johnston chê cười cái đuôi sam của người Trung Quốc như cái đuôi lợn tôi mới cắt phăng nó đi.
            Bắt đầu từ năm thứ hai Dân quốc, Bộ Nội vụ Dân quốc đã mấy lần gửi công hàm cho Phủ Nội vụ yêu cầu Tử Cấm Thành khuyên người cùng cắt đuôi sam và mong Tử Cấm Thành cũng cắt đi, lời lẽ rất hoà nhã, căn bản không nhắc đuôi sam của tôi và các đại thần, Phủ nội vụ dùng nhiều lý do để biện bạch với Bộ Nội vụ, thậm chí đuôi sam có thể là vật để phân rõ người ra vào cung môn cũng thành một lý do. Việc này kéo dài mấy năm, trong Tử Cấm  Thành vẫn là thế giới đuôi sam như cũ. Qua tuyên truyền của Johnston, tôi cắt đuôi sam  trước. Tôi vừa cắt chỉ trong mấy ngày hàng nghìn đuôi sam biến mất, chỉ có ba thầy dạy Trung Quốc và mấy đại thần Phủ Nội vụ là giữ lại.
            Do tôi cắt đuôi sam, các thái phi mấy lần khóc lóc nét mặt các thầy cũng buồn bã nhiều ngày. Sau đó Phổ Kiệt và Dục Sùng cũng vin cớ “phụng chỉ” ở nhà cắt đuôi sam. Ngay hôm đó trước mấy cậu học trò đầu trọc, thầy Trần chỉnh cho một trận, cuối cùng cười nhạt nói với Dục Sùng: “Hãy mang đuôi sam của ngươi bán cho phụ nữ nước ngoài, ngươi cũng có thể được nhiều tiền đấy!”
            Không thích Johnston là những người ở Phủ nội vụ. Khi đó, chi tiêu của Phủ nội vụ vẫn hết sức lớn, mà kinh phí của điều kiện ưu đãi  quy định năm nào cũng thiếu. Để trù liệu kinh phí, mỗi năm Phủ nội vụ đều mang cầm hoặc  bán các loại đồ cổ, tranh vẽ, vàng bạc, đồ sứ... Qua miệng Johnston, tôi dần dần biết trong việc đó có sự mờ ám. Một lần, Phủ nội vụ muốn bán đi một cái tháp vàng cao bằng người, tôi nhớ lại lời Johnston: Phủ nội vụ đem bán những chế phẩm bằng vàng bạc, nếu bán theo sản phẩm nghệ thuật giá trị rất cao, song mỗi lần đều bán theo trọng lượng, thiệt rất lớn. Theo Johnston nói thì có kẻ ngu ngốc mới làm như vậy. Tôi gọi người của Phụ nội vụ tới, hỏi cách bán chiếc tháp vàng đó như thế nào, quả nhiên họ nói là bán theo trọng lượng. Tôi lập tức nổi giận lôi đình.
            - Đó chỉ có kẻ ngu ngốc mới làm như vậy! Các người không có người nào thông minh ư?
            Người của Phủ nội vụ cho rằng đó là Johnston tố cáo họ. Họ nghĩ ra một cách: đưa tháp vàng đến nhà Johnston nói rằng hoàng thượng nhờ bán giúp. Johnston lập tức thấy rõ trò này, cả giận nói: “Nếu như các người không mang đi, ta lập tức tâu Hoàng thượng!”. Kết quả, người Phủ nội vụ lặng lẽ mang chiếc tháp vàng đi. Họ không có cách nào với Johnston vì ông vừa là người bảo hộ của nhà Thanh, lại được tôi hết sức tin cậy.  
            Năm cuối cùng ở cung Dục Khánh, Johnston đã trở thành một bộ phận quan trọng của linh hồn tôi. Những vấn đề ngoại khoá mà chúng tôi bàn luận ngày càng chiếm nhiều thời gian lên lớp, phạm vi bàn luận càng ngày càng rộng. Ông đã nói với tôi về đời sống của vương thất nước Anh, tình hình chính thể các nước, thực lực của các cường quốc sau đại chiến, phong cảnh các nơi trên thế giới, sản vật của đất nước “đại đế quốc mặt trời không bao giờ lặn”, tình hình cuộc nội chiến ở Trung Quốc, “Cuộc vận động bạch thoại” của Trung Quốc (ông gọi cuộc vận động văn hoá mới Ngũ Tứ như thế) và quan hệ với văn minh phương Tây. Ông còn nói đến khả năng của phục tích và thái độ không đáng tin cậy của bọn quân phiệt...
            Một lần ông nói: “Từ mỗi tờ báo đã có thể thấy rõ nhân dân Trung Quốc tưởng nhớ đại Thanh, mỗi người đều oán ghét cộng hoà. Tôi nghĩ, tạm thời không những cần quan tâm đến thái độ của đám quân nhân, cũng tạm thời không cần nói mục đích cuối cùng của việc họ ủng hộ phục tích và cứu vãn cộng hoà có gì khác nhau. Nói tóm lại, lời thầy Trần là đúng. Hoàng đế bệ hạ hoàn thiện thánh đức là điều quan  trọng và cấp thiết nhất. Song, hoàn thiện thánh đức không thể cứ ở trong Tử Cấm Thành. Tại Châu Âu đặc biệt là trên đất đai của Anh vương bệ hạ, tại trường đại học Oxford nơi thái tử Anh học tập, hoàng đế bệ hạ có thể đạt được những tri thức cần thiết, mở rộng tầm con mắt…”
            Trước khi tôi nghĩ đến việc lưu học ở nước Anh, ông đã mở ít nhiều “tầm con mắt” cho tôi. Qua sự giới thiệu của ông, Tư lệnh hải quân nước Anh, Tổng đốc Hương Cảng đã từng xuất hiện ở Tử Cấm Thành. Mỗi người đều lễ phép bày tỏ sự tôn kính đối với tôi, gọi tôi là Hoàng đế. Lòng say mê cuộc sống Châu Âu, sự bắt chước y hệt của tôi đối với Johnston cung chưa khiến cho ông thầy nước ngoài này hài lòng. Ví dụ như mặc quần áo, ông có sự kiến giải khác; hoặc là nói ông ta có hứng thú đặc biệt đối với tôi. Ngày tôi kết hôn, tôi có lộ mặt trong tiệc chiêu đãi khách nước ngoài chúc rượu. Sau khi về tới điện Dưỡng Tâm, cởi bộ long bào thay chiếc áo thụng bình thường bên trong mặc đồ lót Châu Âu, đầu đội mũ lưỡi trai, lúc đó Johnston đưa bạn bè của ông tới. Một bà phu nhân nước ngoài thấy chướng mắt, trước hết bà ta nhìn tôi từ đầu tới chân, hỏi Johnston:
            - Vị thiếu niên này là ai?
            Johnston nhìn tôi, cân nhắc một chút về trang phục trên người tôi lập tức đỏ mặt. Bộ dạng đó khiến tôi giật thót người, còn nét mặt người nước ngoài lộ rõ sự thất vọng lại khiến tôi chẳng hiểu ra sao. Sau khi những người nước ngoài ra về, Johnston vẫn chưa hết giận nói với tôi:
            - Thế này gọi là kiểu gì? Hoàng đế bệ hạ! Hoàng đế Trung Quốc đội mũ đi săn, trời ơi!
 
Đăng nhập để trả lời
0

Xung đột nội bộ 

 
            Từ sau khi Johnston vào cung, đối với các vương công, đại thần, tôi trở thành vị hoàng đế rất khó ứng phó. Cho tới trước khi tôi cưới vợ, những ước mơ và hành động của tôi càng khiến họ cảm thấy kỳ lạ và lo lắng kinh hãi.
            Hôm nay tôi gọi phủ Nội vụ mua một viên kim cương 3 vạn đồng, ngày mai lại mắng phủ Nội phủ chả biết làm việc gì, chỉ biết tham ô lãng phí. Buổi sáng tôi triệu tập đại thần, ra lệnh cho họ thanh tra tranh cổ, đồ cổ và tâu lên trong ngày, buổi chiều lại gọi chuẩn bị xe đi chơi Hương Sơn. Tôi tỏ ý chán ghét cảnh xếp hàng nghi trượng thậm chí không muốn ngồi kiệu vàng. Để dễ dàng phóng xe đạp tôi gọi người dỡ bỏ bậu cửa, khung cửa mà từ mấy trăm năm qua tổ tiên tôi không cảm thấy bất tiện. Chỉ vì một việc nhỏ, tôi có thể kết tội thái giám bất trung, tuỳ tiện gọi Phòng tâu việc đánh đập, thay đuổi họ. Thần kinh của các vương công, đại thần căng thẳng nhất là tôi lúc thì đòi chỉnh đốn nội bộ cung đình, lúc thì tuyên bố sẽ rời Tử Cấm Thành ra nước ngoài du học.  
            Về vấn đề ra nước ngoài du học, có một số vương công đại thần còn nghĩ sớm hơn tôi, đó vốn là một trong những động cơ mời thầy nước  ngoài dạy tôi. Sau khi tôi tự đưa ra chủ trương này thì hầu như mọi người đều phản đối. Trong các lý do của những người phản đối, tôi thường nghe nhất là câu này: “chỉ cần Hoàng thượng rời Tử Cấm Thành, coi như từ bỏ sự ưu đãi của Dân quốc. Dân quốc đã không thủ tiêu quyền ưu đãi tại sao mình lại tự bỏ trước”.
            Dù là đồng tình hay phản đối việc tôi ra  nước ngoài dù là đã tuyệt vọng trong việc “khôi phục sự nghiệp tổ tiên” hay vẫn còn hy vọng, đều không thể tách rời điều kiện ưu đãi đó. Mặc dù “4 triệu lạng bạc chi tiêu” quy định trong điều khoản ưu đãi biến thành lời hứa suông nhưng vẫn có điều “tôn hiệu đế vương vẫn giữ mà không phải huỷ bỏ” chỉ cần tôi ở lại Tử Cấm Thành, giữ được triều đình nhỏ này là rất quan trọng đối với những người chưa hết niềm tin khôi phục sự nghiệp của tổ tiên; đối với những người đã tuyệt vọng vẫn có thể giữ được bát cơm và địa vị đã có.  
            Cách nghĩ của tôi khác họ. Trước hết tôi không tin rằng điều kiện ưu đãi có thể giữ được  mãi mãi. Không những thế, so với bất cứ ai khác, tôi càng cảm thấy rõ mối nguy hiểm đối với mình, từ sau khi nội chiến mới lại nổ ra, Trương Tác Lâm thất bại rút ra ngoài, Từ Thế Xương sụp đổ, Lê Nguyên Hồng lại nắm quyền tôi cảm thấy mối nguy hiểm bỗng nhiên tới gần. Tôi chỉ nghĩ đến nhà cầm quyền mới có thể hại tôi hay không chứ không phải nghĩ vấn đề ưu đãi hay không ưu đãi. Huống chi, khi đó lại lan truyền tin một số nghi sĩ quốc hội chủ trương thủ tiêu quyền ưu đãi. Trong chính cuộc hỗn loạn, ai biết rằng ngày mai quân nhân nào nắm quyền, ngày kia chính khách nào lập nội các. Từ nhiều mặt, đặc biệt là từ miệng thầy Johnston tôi đã hiểu rõ mọi sự thay đổi chính cuộc đó không lần nào không có tác động trực tiếp của các cường quốc ở phía sau. Vậy tại sao không trực tiếp đi tìm người nước ngoài mà cứ ngồi đợi ưu đãi của nhà cầm quyền mới? Nếu như nhân vật thù địch tôi lên cầm quyền mới tìm cách đối phó thì có kịp không?
            Tôi tranh luận với các vương công, đại thần:
            “Tôi không cần ưu đãi, tôi muốn để dân trăm họ và các nước trên thế giới đều biết, tôi không muốn dân quốc ưu đãi tôi, tốt hơn là để họ thủ tiêu trước quyền ưu đãi”.
            “Điều kiện ưu đãi treo ở phủ, các nước công nhận Dân quốc chưa thủ tiêu, nước ngoài nhất định giúp chúng ta nói chuyện”.
            “Người nước ngoài giúp chúng ta, tại sao các người không để tôi ra nước ngoài?”.
            Mặc dù tôi nói rất có lý, họ vẫn không đồng ý. Đã mấy lần tôi tranh luận với cha tôi, thầy dạy tôi và các vương công, chỉ đạt hiệu quả là: họ gấp rút tổ chức “đám cưới lớn”.
            Sở dĩ tôi gấp rút muốn ra nước ngoài, ngoài những lý do đã nói với các vương công, đại thần, còn có một điều tôi không hề nói với họ, đặc biệt là không dám nói với cha tôi, đó là tôi càng ngày càng chán ghét mọi thứ xung quanh tôi kể cả bản thân ông.
            Điều này nảy sinh từ trước khi tôi có ý định ra nước ngoài. Từ khi Johnston vào cung, do ông ta truyền bá trí thức và văn minh phương Tây cho tôi, do tâm lý hiếu kỳ của tuổi trẻ phát triển, tôi ngày càng không hài lòng với hoàn cảnh của tôi, cảm thấy mình bị trói buộc. Tôi rất đồng ý với phân tích của Johnston: đó là do các vương công, đại thần lạc hậu thủ cựu.
            Dưới con mắt của các vương công, đại thần, mọi thứ mới mẻ đều đáng sợ. Năm tôi 15 tuổi, Johnston phát hiện mắt tôi có khả năng cận thị, đề nghị mời bác sĩ mắt nước ngoài tới khám mắt cho tôi, nếu đúng như thế sẽ mua kính cận. Không ngờ đề nghị đó như đổ nước vào thùng dầu sôi, Tử Cấm Thành như muốn nổ tung ra. Không thể được! Tại sao có thể gọi người nước  ngoài khám mắt của hoàng đế? Hoàng thượng đang tuổi thanh xuân, tại sao có thể đeo kính như ông già? Từ thái phi đến mọi người đều không đồng ý. Sau đó, Johnston phải tốn công giải thích, thêm vào đó là tôi kiên trì đòi thực hiện mới được giải quyết.
            Mọi thứ tôi muốn, dù là thứ mà các vương công đại thần đã có từ lâu, họ vẫn cứ phản đối, điều đó càng khiến tôi tức giận; ví dụ như đặt máy điện thoại.
            Năm tôi mười lăm tuổi, có lần nghe Johnston nói về ,tác dụng của điện thoại, đã kích động tính hiếu kỳ của tôi. Sau đó, nghe Phổ Kiệt nói: Bắc phủ (nơi ở của cha tôi khi đó) cũng có thứ đồ chơi này, tôi liền gọi Phủ nội vụ đặt cho tôi một máy ở điện Dưỡng Tâm. Nghe tôi giao nhiệm vụ, Thiệu Anh, đại thần Phủ Nội vụ mặt biến sắc. Tuy nhiên trước mặt tôi, ông ta không dám từ chối, chỉ “vâng” một tiếng rồi đi. Ngày hôm sau, các thầy dạy đều kéo đến can:
            - Đặt máy điện thoại, ai cũng có thể nói chuyện với Hoàng thượng, tổ tiên chưa làm thế bao giờ... tổ tiên không dùng những thứ kỳ quái phóng đãng ấy của phương Tây.
            Tôi cũng có lý lẽ của tôi: “Đồng hồ chuông, dương cầm, đèn điện trong cung đều của phương Tây, tổ tiên chưa hề có, chẳng phải là tổ tiên cũng dùng đó sao?”
            “Bên ngoài tuỳ tiện gọi điện thoại, mạo phạm thiên nhan, há chẳng làm mất sự tôn nghiêm sao?”
            “Mạo phạm cửa bên ngoài, tôi đã đọc nhiều báo, mắt thấy và tai nghe chẳng phải như nhau sao?
            Khi đó, ngay các thầy dạy cũng không hiểu rõ Phủ nội vụ mời họ đến can vua là có ý gì. Phủ nội vụ sợ nhất không phải là “mạo phạm thiên nhan” mà sợ qua điện thoại, tôi sẽ càng tiếp xúc nhiều hơn với bên ngoài. Bên cạnh tôi là một Johnston hay nói đặc biệt là 12 loại báo chí đã quá sức chịu đựng của họ rồi. Đọc báo chí Bắc Kinh khi đó, hầu như mỗi tháng ít nhất có một lần tuyên bố của Phủ nội vụ bác bỏ tin bịa đặt, không phải là phủ nhận nhà Thanh giao thiệp với một nhà đương cục tỉnh nào đó cũng là phủ nhận nhà Thanh gần đây gán nợ hoặc bán vụng cổ vật nào đó. Trong 10 điều đồn đại bị phủ nhận đó có 9 điều là sự thật, ít nhất có một nửa họ không muốn để tôi biết. Có những báo chí ấy, lại thêm một Johnston từ lâu đã khiến họ bối rối nay lại thêm một máy diện thoại làm nhịp cầu thứ ba giữa tôi và bên ngoài há chẳng khiến họ lúng túng hơn sao? Vì vậy họ kịch liệt phản đối thấy các thầy không thuyết phục được tôi, họ mời cha tôi tới.
            Khi đó cha tôi đã trở thành phái triệt để duy trì hiện trạng, chỉ cần tôi cứ ở yên trong Tử Cấm Thành, mỗi năm ông được lĩnh 42.480 lạng bạc, mọi thứ đều đầy đủ. Vì vậy ông là người dễ bị Phủ nội vụ lôi kéo nhất. Song người ủng hộ Phủ nội vụ lại không có tài nói mà họ mong đợi. Ngoài việc nhắc lại những lời các thầy dạy, ông không có lý lẽ nào mới để thuyết phục tôi và khi tôi hỏi lại một câu thì ông không trả lời được.
            - Vương phủ của cha chẳng dùng một máy điện thoại đó sao?
            - Là, là, nhưng mà, nhưng mà hoàng đế khác, việc này hai ngày nữa lại lại nói....
            Nghĩ đến việc ông cắt bím tóc sớm hơn tôi, đặt máy điện thoại trước tôi, không cho tôi mua xe ô tô nhưng ông lại mua, tôi rất bực bội trong lòng.
            - Tại sao hoàng đế lại khác? Ngay điều tự do ấy tôi cũng không có. Không được, tôi cần có máy điện thoại. Tôi quay gọi thái giám: “truyền Phủ nội vụ hôm nay đặt máy điện thoại cho ta”.
            - Vâng, vâng, - cha tôi gật đầu lia lịa; - vâng vâng sẽ đặt.
            Điện thoại được đặt lại xảy ra rắc rối mới.
            Cùng với máy điện thoại, cục điện thoại gửi đến một danh bạ điện thoại. Tôi cứ theo danh bạ, gọi đến khắp nơi để đùa chơi; có lần bịa địa chỉ gọi một khách sạn đặt tiệc... cũng quá vui đùa trên điện thoại, tôi đã nói chuyện với Hồ Thích (41) và sau đó đã mời Hồ Thích vào cung, tiếp chuyện 20 phút. Buổi tiếp “nhân vật mới” này gây náo động, tranh cãi trong cung đình. Tuy nhiên đỉnh cao của cuộc xung đột giữa tôi với vương công đại thần là khi chính thức đòi đi học ở nước Anh.
            Việc này khác với đặt máy điện thoại. Vương công đại thần quyết không nhượng bộ. Cuối cùng, những người rất đồng tình với tôi là chú bảy Tải Đào cũng chỉ đồng ý chuẩn bị một nơi ở cho tôi trong tô giới Anh ở Thiên Tân làm nơi vạn nhất khi cần có thể đến lánh mình. Do không có khả năng công khai rời khỏi Tử Cấm Thành, tôi bèn tìm sự giúp đỡ của Johnston. Ông cho rằng thời cơ chưa thích hợp, không đồng ý tôi hành động lúc đó.
            Do đó tôi đành nén lòng chờ đợi thời cơ đồng thời bí mật tiến hành chuẩn bị cho việc trốn đi. Khi đó, tôi có một người hết lòng sẵn sàng giúp đỡ, đó là Phổ Kiệt, em trai tôi.
            Tôi và Phổ Kiệt khi đó là một đôi anh em tâm đắc, tính tình và ước vọng của chúng tôi còn giống hơn diện mạo của chúng tôi. Em tôi cũng một lòng một dạ sẵn sàng rời bỏ gia đình của mình, cao chạy xa bay tìm lối thoát cho mình, cho rằng mọi mong muốn của mình, đến nước ngoài đều có thể thoả mãn. Dưới đây là một đoạn em tôi ghi chép về bản thân:
            “Năm tôi mười hai tuổi, gia đình tôi là Vương Phủ có mấy trăm gian nhà, một vườn hoa lớn từ 70 đến 80 người hầu hạ. Trong nhà luôn luôn sử dụng niên hiệu Tuyên Thống, vào ngày lễ tết vẫn công nhiên mặc triều phục nhà Thanh... Nước Anh diệt Ấn Độ, vương hầu Ấn Độ đến nay vẫn đời đời thế tập. Nhật Bản thôn tính Triều Tiên, một nhà Lý Vương hiện vẫn là điện hạ…” cha tôi thường nói với tôi như thế. Trước khi chết mẹ tôi thường bảo tôi: “sau khi lớn lên, con hãy hết sức giúp đỡ anh con, dù thế nào cũng đừng quên mình là con cháu Ái Tân Giác La, như thế mới là phải đạo với mẹ”...
            Phổ Kiệt kém tôi một tuổi, hiểu biết xã hội bên ngoài phong phú hơn tôi, quan trọng nhất  là hắn hoạt động bên ngoài, chỉ cần vin cớ vào cung là có thể che dấu người nhà. Bước hành động đầu tiên là chúng tôi chuẩn bị kinh phí. Phương pháp là lấy danh nghĩa thưởng cho Phổ Kiệt, mang những tranh cổ, đồ cổ, sách cổ đáng giá nhất trong cung chuyển ra ngoài, cất tại nơi ở trong tô giới Anh ở Thiên Tân. Mỗi ngày đi học về Phổ Kiệt mang đi một bao lớn. Liên tục trong nửa năm, Phổ Kiệt đã chuyển ra ngoài 1000 tranh cổ, hơn 200 loại đồ cổ, trên dưới 200 quyển sách đời Tống trong đó có những thứ cực kỳ quý giá như bức tranh “Bia Tào Nga” của hai cha con Vương Nghị Chi và Vương Hiến Chi; tranh “Trường Giang vạn lý đồ” của Tống Mã Viễn, Hạ Khuê và Mã Lân. Sách có các tác phẩm của Diêm Lập Bản, Tống Huy Tôn và toàn bộ sách đời Tống ở Cung Cấm Thanh.
            Năm 13 Dân quốc, tôi ra khỏi cung “uỷ ban xử lý công việc nhà Thanh”, khi kiểm tra cung Dục Khánh phát hiện việc “Thưởng Phổ Kiệt” in ra và công bố, trong đó nói khá đầy đủ những thứ đã được đưa ra ngoài cung. Những thứ này chuyển đến Thiên Tân, sau đó bán đi mấy chục cái. Sau khi thành lập Ngụy-Mãn, Yoshioka, tham mưu quân Quan Đông lại chuyển toàn bộ những thứ quý giá đó đến Đông Bắc. Sau khi Nhật Bản đầu hàng, không rõ những thứ đó ở đâu nữa.
            Kế hoạch bước hai của chúng tôi là bí mật chuồn ra khỏi Tử Cấm Thành. Chỉ cần bản thân tôi ra khỏi thành, vào công sứ quán nước ngoài thì coi như ván đã đóng thuyền, dù vương công đại thần hay nhà đương cục Dân quốc đều sẽ không có cách gì nữa. Đây là sự hiểu biết cần thiết mà lịch sử Dân quốc mấy năm qua đã cho tôi; càng quan trọng hơn là thầy Johnston đã bày cách cho tôi một cách cụ thể. Ông bảo tôi trước hết hãy liên hệ tốt với công sứ Hà Lan W. J. Oudendijk, trưởng đoàn công sứ để họ có sự chuẩn bị trước. Thầy Johnston gợi cho tôi ý này đã là tháng ba năm thứ 12 Dân quốc. Chín tháng trước đó ông ta từng phản đối tôi ra nước ngoài, cho rằng chưa đúng thời cơ. Nay vì sao ông ta cho rằng thời cơ đã đến cũng như ông đã thương lượng với các công sứ quán ở Đông Giao Dân cảng như thế nào, tôi hoàn toàn không biết. Từ sự chỉ dẫn của ông, tôi rất tin tưởng. Trước hết tôi đề nghị ông thay tôi đến thông tin với chỗ công sứ. Sau đó tôi sẽ trực tiếp gọi điện thoại cho công sứ Oudendijk. Để công việc được sắp xếp thoả đáng, tôi lại cử Phổ Kiệt đích thân đến công sứ quán Hà Lan một chuyến. Kết quả mọi việc đều hài lòng. Oudendijk qua điện thoại nhận lời tôi và đích thân sắp đặt cùng Phổ Kiệt. Tuy ông không thể lái xe ô tô tiến vào cung nhưng sẽ đợi ở cửa ngoài Thần Vũ. Chỉ cần tôi có thể lọt qua cửa lớn này thì mọi việc tôi sẽ xong, từ việc ăn ở ngày đầu tiên đến việc tôi đặt chân lên đất Anh, vào cửa lớn trường học nước Anh ông cũng có thể hoàn toàn phụ trách. Khi đó, chúng tôi đã quy định ngày giờ cụ thể tôi ra khỏi cung.
            Cho đến ngày 25 tháng hai năm thứ 12 Dân quốc (1923) chỉ còn một vấn đề là làm thế nào ra khỏi cửa Thần Vũ. Tình hình Tử Cấm Thành là như sau: bên cạnh tôi luôn có một đám thái giám; các cửa cung cũng có thái giám, bên ngoài cung đình có các vọng gác của quân bảo vệ, ngoài cửa Thần Vũ còn có “Đội bảo vệ nội thành” do bộ binh Dân quốc chỉ huy. Tôi cho rằng: quan trọng nhất là đám thái giám chúng luôn bên cạnh tôi, chỉ cần cho ít tiền là xong. Nào ngờ, trước thời gian dự định một giờ đồng hồ, một thái giám nhận tiền đã bí mật báo Phủ nội vụ. Tôi chưa ra khỏi điện Dưỡng Tâm đã nghe cha tôi ra lệnh: cấm không cho một ai ra, vào các cửa cung, toàn bộ Tử Cấm Thành ở trong tình trạng giới nghiêm. Nghe tin này, tôi và Phổ Kiệt ngồi thừ ra trong điện Dưỡng Tâm.
            Một lát sau, cha tôi bực bội bước vào nói:
            - Nghe, nghe, nghe nói hoàng thượng muốn, muốn, muốn đi?
            - Làm gì có chuyện đó!
            - Như vậy không được, không được!
            Từ đó về sau, tôi sợ nhất. là nhìn thấy những bức tường cao.
            Ngày hôm sau gặp Johnston, tôi mắng ông ta một trận. Ông an ủi tôi mấy câu, nói tạm thời hãy gác chuyện đó, trước hết hãy chỉnh đốn lại Tử Cấm Thành, ông nói:
            - Trịnh Hiếu Tế mới tới là người rất có tài có chí lớn, hãy nghe cách chỉnh đốn của ông ta.
            Trong lòng tôi bỗng loé sáng một hy vọng mới - chưa khôi phục được sự nghiệp của tổ tiên ở trong và ngoài Tử Cấm Thành, hãy chỉnh đốn trước tài sản trong thành. Tôi rất hài lòng về đề nghị của Johnston.. Khi đó tôi không hề nghĩ rằng, sau này khi viết về cuộc chạy trốn không thành đó trong cuốn sách, ông ngang nhiên nói mình không hề can dự mà là người phản đối.
 
 
----------------------------------------------------------------
(41) Hồ Thích (1891-1962) quê An Huy, là nhà văn hoá nổi tiếng của Trung Quốc. Lúc đó là giáo sư triết học, văn học Anh của trường Đại học Bắc Kinh - ND
 
Đăng nhập để trả lời
0

Di tán thái giám

 
            Bề ngoài, Tử Cấm Thành là một nơi yên tĩnh, trái lại trật tự bên trong rất hỗn loạn. Từ khi tôi hiểu biết, thường nghe nói trong cung đã xảy ra trộm cắp, hoả hoạn cho đến các vụ hành hung, còn như cờ bạc, hút sách thì khỏi phải nói. Cho đến khi tôi kết hôn, trộm cắp đã phát triển đến mức: vừa cử hành hôn lễ xong toàn bộ trân châu bảo ngọc trang sức trên mũ phượng quan của hoàng hậu đã bị đánh tráo bằng đồ giả.
            Qua các thầy học tôi biết, từ lâu các loại tài sản quí báu trong cung nhà Thanh đã nổi tiếng thế giới, chỉ nói về tranh cổ, đồ cổ thì về số lượng và giá trị cũng đã cực kỳ đáng giá. Những vật báu mà hai triều Minh-Thanh thu về trừ hai lần bị quân đội nước ngoài lấy đi, phần lớn vẫn để trong cung. Những đồ vật này, phần lớn không có số mục, dù có số mục cũng không có ai kiểm tra cho nên mất, còn, mất bao nhiêu đều không có ai biết, điều đó tạo thuận lợi lớn cho bọn trộm cắp.
            Ngày nay nhớ lại, thật đáng sợ. Tham gia trộm cắp, có thể nói từ trên xuống dưới, gồm mọi loại người. Nói cách khác, phàm những người có cơ hội lấy cắp thì không từ một thứ gì. Cách lấy cắp cũng đủ kiểu. Có người nậy cửa mở khoá bí mật lấy cắp, có người bằng các thủ tục hợp pháp ngang nhiên lấy cắp. Phần lớn thái giám dùng cách thứ nhất. Các đại thần và quan chức thì dùng biện pháp cầm cố, rao bán hoặc mượn cớ ban thưởng cũng như cầu xin ban thưởng v.v... Còn như tôi và Phổ Kiệt áp dụng cách người thưởng, người nhận là phương thức cao nhất. Đương nhiên khi đó tôi không thể có cách suy nghĩ như vậy; tôi chỉ nghĩ là người khác đang đánh cắp tài vật của mình.
            Năm mười sáu tuổi, một hôm do tính hiếu kỳ thôi thúc, tôi gọi thái giám mở gian phòng cạnh cung Kiến Phúc, cửa kho niêm phong rất dày, ít nhất cũng đã mấy chục năm không mở ra. Tôi thấy đầy phòng là những hòm lớn nhất cao đến trần nhà. Tôi bảo thái giám mở một hòm. Hoá ra đều là tranh vẽ và các đồ cổ, ngọc khí rất tinh xảo. Sau đó mới biết đó là những của báu mà lúc đương thời Càn Long rất thích. Sau khi Càn Long chết, Gia Khánh hạ lệnh niêm phong toàn bộ những báu vật đó, chất dầy nhiều kho suốt cạnh cung Kiến Phúc, nơi tôi phát hiện chỉ là một kho. Có kho hoàn toàn là đồ tế lễ, có kho hoàn toàn là đồ sứ, có kho hoàn toàn là danh hoạ. Tại kho sau diện Dưỡng Tâm, tôi phát hiện rất nhiều “Hòm bách bảo” rất thú vị, nghe nói cũng là những đồ chơi của Càn Long. Những hòm gỗ này làm bằng gỗ tử đàn, nhìn hình dáng bên ngoài như những hòm sách, mở ra giống như những bậc thang gác, mỗi bậc chia thành những ô nhỏ, mỗi ô là một thứ đồ chơi, ví dụ: lọ sứ nhỏ đời Tống, một bộ tứ thư bề rộng nửa thốn (khoảng 15 cm) do một danh nhân chép tay, một quả cầu bằng ngà điêu khắc tinh xảo, một hạt đào khác truyện cổ dại, quả bầu có khắc tranh đề thơ, cho đến một đồng tiền cổ Ai-cập.. Trong một hòm bách bảo có đủ: tranh vẽ, vàng bạc, ngọc khí, đồ đồng, đồ sứ... thứ gì cũng có nên gọi bách bảo (trăm thứ quý). Một hòm loại nhỏ cũng có mấy trăm thứ, hòm lớn hàng mấy nghìn.
            Tôi cho chuyển 40, 50 hòm do tôi phát hiện đến điện Dưỡng Tâm. Khi đó tôi nghĩ: rốt cục tôi có bao nhiêu tài sản quý báu, những thứ tôi đã nhìn thấy, lấy được, còn bao nhiêu thứ chưa thấy. Làm gì đối với những của báu cả kho, cả viện này? Bị người ta lấy cắp đi bao nhiêu? Làm thế nào để ngăn chặn trộm cắp?
            Thầy Johnstnn đã từng nói với tôi: đường Địa An môn mà ông đang ở mới mở nhiều quán  bán đồ cổ, nghe nói có quán do thái giám mở, có quán do quan chức Phủ nội vụ hoặc gia đình quan chức mở. Sau đó, một thầy khác cũng cảm thấy phải quét sạch trộm cắp. Cuối cùng tôi tiếp thu kiến nghị của các thầy học quyết định kiểm tra. Từ đó phiền toái lại càng lớn.
            Trước hết là các vụ trộm cắp ngày càng nhiều. Cửa khoá phòng kho Diên Khánh bị phá tung. Cửa sổ sau cung Càn Thanh bị người ta mở ra. Tình hình ngày càng lộn xộn. Viên kim cương lớn tôi vừa mua đã không thấy nữa. Để truy tìm các vụ mất trộm, thái phi đã gọi Phòng bẩm việc cùng 9 tổng quản xét hỏi các thái giám, thậm chí dùng cả tra tấn nhưng dù là tra hỏi hay hứa khen thưởng đều không đạt chút kết quả nào. Không những thế, vừa bắt đầu kiểm tra cung Kiến Phúc, đêm 17 tháng sáu liền xẩy ra nạn cháy, nơi kiểm tra và nơi chưa kiểm tra đều cháy sạch.
            Nghe nói, vụ cháy do đội bảo vệ sứ quán Italia ở Đông Giao Dân cảng phát hiện trước, khi xe cứu hoả đến gọi cửa Tử Cấm Thành, người coi cửa vẫn chưa biết có việc gì. Vụ cháy lớn này được các đội cứu hoả các nơi tới cứu trong một đêm kết quả vẫn làm biến cả một vùng rộng lớn gần cung Kiến Phúc bao gồm: Tĩnh Di Hiên, Tuệ Dực Lâu, Cát Vân Lâu, Tích Lâm Quán, Diệu Liên hoa thất, Đinh Xuân Các, Tích Thuý đình, Quảng Sinh Lâu, Ngưng Huy Lâu, Hương Vân đình cháy thành tro bụi. Đây là khu vực cất giữ nhiều bảo vật nhất của cung nhà Thanh. Rút cục vụ cháy này đã đốt đi bao nhiêu đến nay vẫn chưa thể biết được. Sau đó Phủ nội vụ công bố một bản thống kê nói: số đồ vật bị cháy gồm 2.665 tượng phật vàng, 1.157 bức tranh, 435 đồ cổ, mấy vạn bộ sách cổ. Căn cứ vào đâu để ghi những thống kê này, chỉ có trời mới biết. Sau khi dập tắt đám cháy, ngoài việc mở tiệc trà chiêu đãi những người đến chữa cháy, Phủ Nội vụ còn tặng cảnh sát và đội chữa cháy 6 vạn đồng tiền thù lao.
            Muốn đánh giá sự tổn thất lần này, hãy nói một chút về việc xử lý những thứ còn lại và bới được trong đống tro tàn. Khi đó tôi đang muốn tìm một khoảng đất trống để xây một sân quần vợt để Johnston dạy tôi đánh quần. Theo ông nói, giới quý tộc nước Anh đều biết đánh quần. Tôi bảo Phủ nội vụ nhanh chóng thu dọn để xây sân quần vợt trên khu vực bị cháy này. Tất nhiên trong đống tro tàn đó không thể tìm thấy tranh vẽ, đồ cổ song còn nhiều vàng, bạc, đồng, thiếc bị nung chảy. Phủ nội vụ gọi các hiệu vàng ở Bắc Kinh tới đấu giá. Một cửa hàng vàng đã mua được đống tro tàn này với giá 50 vạn đồng để có quyền xử lý, luyện những kim loại bị nung chảy được hơn 17.000 lạng vàng. Sau khi hiệu vàng chuyển những thứ đó đi, Phủ nội vụ đã chất những đám tro còn lại chia cho những người trong phủ. Sau đó một quan chức trong Phủ nội vụ cho tôi biết; chú ông ta đã từ những đống tro trong bao tải được chia luyện được hai thỏi vàng, mỗi thỏi bề rộng và bề cao đến hơn một thước (33 xăng ti mét).
            Không thể tra xét được nguyên nhân xảy ra vụ cháy cũng như sự tổn thất. Tôi ngờ rằng đó là do bọn trộm cắp cố ý phóng hoả để thủ tiêu tang tích. Sau đó không lâu, trên cửa sổ viện Vô Dật Trai phía đông điện Dưỡng Tâm cũng bốc lửa, may mà phát hiện sớm. Một búi bông tẩm dầu vừa bốc cháy đã bị phát hiện và dập tắt. Mối hoài nghi của tôi càng phát triển. Tôi cho rằng không những có người muốn phóng hoả thủ tiêu tang tích mà còn muốn mưu sát tôi.
            Theo quy định của cung nhà Thanh, dù bận rộn đến thế nào, mỗi ngày hoàng đế cũng phải đọc mục “Thanh huấn”. Khi đó tôi rất khâm phục “Chu phê dụ chỉ” (dùng bút son phê các đạo dụ - ND) của vua Ung Chính. Ung Chính đã từng nói: “có thể tin người mà không thể tin cũng là người, hoàn toàn không tin người ắt không hại cho mình...”. Tôi cũng nhớ câu nói của Khang Hy: “Làm người trên dùng người tuy nên tin nhưng cũng không nên quá tin”. Đặc biệt Khang Hy đã nói: “Không thể tin thái giám... Trẫm xem xưa nay, ít thái giám lương thiện”.
            Tôi quyết định làm theo huấn thị của Ung Chính. Tôi nghĩ ra hai cách: một cách là hỏi han các thái giám nhỏ hầu cận, cách khác là tự mình đi nghe trộm các thái giám nói chuyện với nhau. Sau đó, tôi dùng cách thứ hai, đứng ở quãng hẹp giữa đông và tây ngoài cửa phòng thái giám ở, phát hiện họ bàn luận sau lưng tôi, nói tính nết tôi ngày càng xấu. Khiến tôi càng nghi ngờ. Tới hôm xảy ra lửa cháy ở Vô Dật Trai, tôi lại đến của sổ nhà thái giám nghe trộm, không ngờ nghe lời lẽ của họ càng phát triển hơn, nói rằng ngọn lửa đó là do tôi đốt. Nếu tôi không ra tay trước tai hại sau này vô cùng.
            Khi đó vừa xảy ra một vụ hành hung. Một thái giám bị tố cáo tội gì đó bị tổng quản đánh. Mang hận trong lòng, một buổi sáng sớm, khi người tố cáo còn nghỉ, viên thái giám tay cầm dao, tay cầm hòn đá tiến vào phòng, lúc đập hòn đá vào mặt người đó làm mờ mắt anh ta sau đó dùng dao rạch mặt anh ta. Kẻ hành hung sau đó bị bắt, người bị thương được đưa vào bệnh viện. Khi đó tôi nghĩ: rất nhiều thái giám đã bị tôi đánh đập, liệu họ có hành hung tôi không? Ngoài phòng ngủ của tôi đều có thái giám trực canh, nếu có kẻ nào đó hận tôi, muốn tôi chết chẳng phải là rất dễ hành động sao? Tôi muốn chọn một người canh đêm cho tôi, chọn lại chọn đi chỉ chọn được hoàng hậu. Từ đó tôi để Uyển Dung canh tôi suốt đêm, nếu có động tĩnh gì hãy gọi tôi tỉnh dậy. Đồng thời tôi chuẩn bị một chiếc gậy để cạnh giường để đối phó. Liền trong mấy này, Uyển Dung suốt đêm không ngủ. Tôi thấy biện pháp này không xong. Để “nhất đao vĩnh dật (một lần ra tay mãi mãi yên ổn - ND), cuối cùng tôi quyết định đuổi sạch thái giám.
            Tôi biết việc này nhất định sẽ gây sóng gió,  không làm cho cha tôi ưng thuận là không xong. Tôi nghĩ ra một cách: tự tìm đến cha mình, ông không có cách nào bàn bạc với đại thần Phủ nội vụ cũng như các thầy dạy tôi; bỗng nhiên gặp vấn đề này, tài nói của ông càng bế tắc. Ông rất tốn sức mới đưa ra được mấy lý do vụn vặt để khuyên tôi nào là tổ tiên định ra như thế, đã nhiều năm những người đó chưa có mưu toan gì.
            Dù ông nói thế nào, tôi chỉ trả lời một câu:
            - Lão vương không đáp ứng, từ hôm nay trẫm không về cung!  
            Thấy tôi đối phó như thế, ông ngồi không yên đứng không yên, hết vò đầu lại xoa trán, đi lại quanh phòng, ống tay áo gạt phải bình nước ga rơi xuống đất nổ một tiếng. Trước bộ điệu của ông, tôi ung dung mở một cuốn sách trên bàn, làm ra vẻ quyết không rời di.
            Cuối cùng cha tôi khuất phục, quyết định: ngoài một số không thể rời canh các thái phi, các thái giám khác đều phải di tán.
            Hành động của tôi di tán thái giám được dư luận xã hội rất tán thưởng và khuyến khích.
 
Đăng nhập để trả lời
0

Chỉnh đốn Phủ nội vụ

 
            Hành động di tán thái giám của tôi được dư luận xã hội khen ngợi và khuyến khích. Được sự chỉ dẫn của thầy Johnston tiếp đó tôi chuyển sang mục tiêu Phủ nội vụ. 
            Phần lớn người của Phủ nội vụ mù chữ nhưng chi tiêu hàng năm đến kinh người, dù cho có 4 triệu đồng tiền ưu đãi vẫn thu không đủ chi. Năm Dân quốc thứ 13, sau khi tôi ra khỏi cung, “Uỷ ban xử lý công việc nhà Thanh” tố cáo trên tờ “Kinh báo” năm đó, riêng khoản tiền cầm cố vàng bạc, đồ cổ tới hơn 5 triệu đồng đã bị chi tiêu hết không còn đồng nào. Theo ghi chép của một người trong phủ nội vụ, mấy năm đó hàng năm Phủ này chi trên dưới 360 vạn lạng bạc. 
            Một ví dụ khác là một lần cầm cố của Vinh Nguyên, bố vợ tôi. Ngày hợp đồng cầm đồ là 31 tháng 5 năm thứ 13 Dân quốc. Những người ký tên là Thiệu Anh, Kỳ Linh, Vinh Nguyên và giám đốc ngân hàng Bắc Kinh Nhạc Càn Trai. Đồ cầm cố là đồng hồ vàng cùng nhiều loại đồ bằng vàng khác, tiền cầm được 80 vạn đồng, trong một năm, tiền lãi 1% một tháng. Hợp đồng quy định: 40 vạn đồng do 46 đồng hồ vàng (nặng 111.439 lạng) làm đồ cầm cố, 40 vạn đồng khác là nhiều đồ trang sức bằng vàng của 8 hoàng thái hậu và 5 hoàng hậu cộng 10.969 lạng, 7 tiền, 9 phân, 6 ly; 36 kim khí vàng kém tuổi nặng 883 lạng, thêm vào đó là 1952 hạt ngọc trai, 184 miếng đá ngọc, 45 chiếc bát mã não. Chỉ mới riêng khoản 40 vạn đồng tiền cầm cố sau đã coi như mang các đồ vật bằng vàng mười biến thành vàng vụn. Mỗi năm có mấy lần cầm cố và đổi giá như vậy, đặc biệt là mỗi lần lễ tết cần chi tiêu. Mỗi lần như thế, trên báo chí lại xuất hiện tin đồn, cũng có tuyên bố của Phủ nội vụ về những tin đồn đó, nói rằng những thứ bán đi đều là thứ loại bỏ, trong đó quyết không có những thứ trang sức của Từ Hy thái hậu v.v..
            Con số chi tiêu mỗi năm của Phủ nội vụ của tôi đã vượt kỷ lục cao nhất Phủ nội vụ của Từ Hy thái hậu.Theo thống kê của Phủ nội vụ, trừ tiền phát cho các vương công, đại thần, Phủ nội vụ đã chi:
            - Năm thứ tư Dân quốc: 264 vạn lạng
            - Năm thứ tám, chín, mười: 238 vạn lạng, 189 vạn lạng, 171 vạn lạng.
            Phủ nội vụ thời Từ Hy thái hậu, mới đầu mỗi năm chi không quá 30 vạn lạng, năm mừng thọ Từ Hy bảy mươi tuổi cũng chỉ chi đến 70 vạn lạng.
            Các thầy dạy tuy giúp Phủ nội vụ phản đối tôi mua xe ô tô, đặt máy điện thoại song nêu những chuyện đó của Phủ nội vụ thì lại cũng khó chịu. Thầy Yi Ko Tan trước khi chết không lâu đã kết tội thầy Trần Bảo Thám là “tội dối vua” vì thầy Trần, đã không muốn tố cáo tội của Phủ nội vụ. Còn đối với thầy Johnston thì khỏi phải nói: Dưới mắt ông, Phủ nội vụ là hoá thân của “trùng hút máu”. Quan điểm của ông đã thúc đẩy tôi quyết tâm chỉnh đốn Phủ nội vụ. Có lần ông nói : “Phủ nội vụ của cung đình đến những người quản gia của các Vương công là những người nhiều tiền nhất”, chủ nhân không biết gì về tài sản của mình; chỉ có hỏi những quản gia của mình thậm chí không thể không cầu cạnh họ, nếu không, một xu cũng không nhận được. Không nói về khôi phục vật cổ, ngay một ít châu báu trên tay, nếu không chỉnh đốn các quản gia e rằng cũng khó giữ nổi”. 
            Ông còn nói: “Phủ nội vụ có một câu cách ngôn: duy trì hiện trạng. Dù một câu cách nhỏ cũng là lý tưởng vĩ đại. Gặp câu cách ngôn này đều phải - stop - (dừng xe).
            “Xe” của tôi đã do các thầy đổ đầy dầu, nổ máy dẫn lối. Nếu như trước đó do người khác lái xe cho tôi thì nay đã do tôi ngồi vào ghế lái xe, hướng đi đến một mục liệu lý tưởng. Tôi vừa mới lái xe thành công qua đường “di tán thái giám”, dù ai kêu tôi “dừng xe” cũng không được nữa.
            Tôi hạ quyết tâm và tôi tìm được “lực lượng”. Sau lễ kết hôn, tôi vận dụng trước hết quyền làm chủ, đó là từ các bậc nguyên lão tham gia hôn lễ, chọn lấy một số người mà tôi cho là trung thành nhất; có tài năng nhất làm người phù tá cho tôi. Tôi chọn được tất cả hơn mười người, đó là: Trịnh Hiếu Tế, La Chấn Ngọc, Cảnh Phương Sưởng, Chu Nhữ Trân, Vương Quốc Duy, Dương Trung Nghĩa, Ôn Tiêu... Tôi phong cho họ chức “hành tẩu”, ngoài ra còn chọn hai người trong họ đó là: Kim Lương, đã từng là thầy dạy Trương Học Lương và Vinh Nguyên, bố vợ tôi làm đại thần Phủ nội vụ. Những lời tâu của họ đều không được ghi lại. Những bản điều trần của họ cũng không thể tìm được. Trong tay tôi chỉ có bản điều trần của Kim Lương đề “tháng giêng năm 16 Tuyên Thống”, viết hai tháng trước khi làm đại thần Phủ nội vụ.
            Bản điều trần của Kim Lương nêu các biện pháp nhằm khôi phục nhà Thanh trong đó có biện pháp thống kê và bảo vệ tài sản của nhà Thanh ở cung đình cũng như ở các địa phương. Sau khi làm đại thần, Kim Lương lại tâu trình cái gọi là “Hai cách tự bảo, tự dưỡng” trước hết là phải chỉnh đốn Phủ nội vụ.
            Ngoài một số người tích cực “bí mật mưu đồ phục tích”, ngay các vị nguyên lão tiêu cực bi quan cũng không phản đối “thanh lý tài sản, bảo hộ cung đình”. Chỉ có một bộ phận nhỏ mà đại biểu là thầy Trần Bảo Thám của tôi thường lắc đầu khi nói đến các chế độ cải cách Phủ nội vụ. Những người này cho rằng vấn đề của Phủ nội vụ tích tụ từ lâu, bắt đầu từ đời Càn Long, sự sinh hoạt cung đình ngày càng tồi tệ, thời đại Gia Khánh và Đạo Quang cũng đã muốn chỉnh đến nhưng không làm được, hiện nay càng khó. Theo thầy Trần, không chỉnh đốn Phủ nội vụ tốt hơn, nếu chỉnh đốn thì sẽ ngày càng tồi tệ hơn, sẽ làm cho nội bộ triều đình nhỏ không yên, chẳng bằng hãy tạm để đó, đợi khi thời vận thay đổi hãy hay. Tuy nhiên các bậc nguyên lão như thầy Trần, mặc dù không tán thành chỉnh đốn nhưng cũng không nói tốt cho Phủ nội vụ, thậm chí còn có thể giữ trung lập.
            Trước ngày hôn lễ không lâu, đã xẩy ra một lần thanh lý tài sản ngu xuẩn. Khi đó theo đề nghị của Johnston tôi quyết định tổ chức một bộ máy chuyên tiến hành công việc này. Tôi mời Lý Kinh Mại, bạn thân của Johnston thuộc phái thân phương tây cũ đến chủ trì. Lý không chịu đến, tiến cử một người thân thuộc họ Lưu đến thay ông ta. Phủ nội vụ cũng không trực tiếp tỏ ý phản đối nhưng đẩy cha tôi ra cản trở. Tôi không nghe lời khuyên của cha tôi. Kiên trì muốn uỷ nhiệm người nhà Lý Kinh Mại tiến hành công việc, họ nhượng bộ mời ông Lâm nhận chức. Tuy nhiên, làm việc chưa được ba tháng, ông ta xin nghỉ dài hạn quay về Thượng Hải.
            Qua mấy lần thất bại, tôi vẫn chưa thấy được thủ đoạn của Phủ nội vụ. Tôi quy thất bại là do dùng người chưa đúng và mình “chưa đích thân nắm công việc”… Tôi cho rằng, tình hình đã khác trước, một là tôi đã trưởng thành, không ai có thể ngăn cản tôi. Mặt khác, bên cạnh tôi có một số người, lực lượng đã mạnh. Từ đám người đó, tôi hăng hái chọn ra Trịnh Hiếu Tế để đảm đương trọng trách chỉnh đốn.
            Trịnh Hiếu Tế cùng quê với Trần Bảo Thám, triều Thanh đã từng làm lãnh sự ở Nhật Bản và làm quan ở tỉnh Quảng Tây. Trước kia, hai thầy Trần Bảo Thám và Johnston đã tiến cử ông ta, đặc biệt là Johnston rất hăng hái tiến cử nói rằng Trịnh Hiếu Tế là người mà ông ta khâm phục nhất trong 20 năm ở Trung Quốc, về đạo đức, văn chương Trung Quốc không thể chọn được người thứ hai, về sự hiểu biết và tài năng làm việc không có ai tốt hơn ông ta. Thầy Trần còn nói: Trịnh Hiếu Tế đã nhiều lần cự tuyệt lời mời của tổng thống Dân quốc. Không chịu làm quan Dân quốc, không nhận tiền của Dân quốc. Qua báo chí, tôi được biết Trịnh Hiếu Tế được ca ngợi là người văn hay chữ tốt; nghe nói thu nhập nhuận bút viết chữ của ông ta ngày tới nghìn vàng. Ông ta bỏ công danh, lợi lộc tới phục vụ có thể là trung thần hiếm thấy.
            Lần thứ nhất tôi gặp Trịnh Hiếu Tế là mùa hè năm thứ 12 Dân quốc. Ông nói từ thời Bàn Cổ khai thiên lập địa đến trung hưng đại Thanh trong tương lai, nói đến đoạn cao hứng mặt ông rạng rỡ, nói đến đoạn khẳng khái hiên ngang ông nghẹn ngào xúc động khiến tôi hoàn toàn bái phục. Tôi lập tức quyết định gọi ông ta, đề nghị ông triển khai chí hướng của mình.
            Sau khi Trịnh Hiếu Tế làm “Hành tẩu điện Mậu lệ”, đã mấy lần nói với tôi rằng muốn thành sự nghiệp lớn phải chính đến Phủ nội vụ. Ông đã đưa ra kế hoạch chỉnh đốn còn cụ thể hơn điều trần của Kim Lương. Theo kế hoạch này, toàn thể Phủ nội vụ chỉ cần 4 khoa là đủ. Cần giảm bớt nhiều người, giảm bớt nhiều khoản chi tiêu không những có thể ngăn chặn mất mát mà còn có cách mở nguồn của cải. Tóm lại nếu kế hoạch chỉnh đốn của ông ta có thể thực hiện, trước hết có sự đảm bảo tài vụ cho việc khôi phục sự nghiệp. Do đó, tôi đã phá lề luật phong vị đại thần sang làm thu tương Phủ nội vụ, đồng thời nắm tay hòm chìa khoá đứng đầu các đại thần Phủ nội vụ.
            Tuy nhiên, nếu cho rằng Phủ nội vụ thô tục mà vô học chịu thất bại trong tay Trịnh Hiếu Tế là đánh giá thấp những người quản gia cung đình có hơn 200 năm lịch sử. Mặc dù Trịnh  Hiếu Tế “hoa trời lả tả...(42), lại được tôi ủng hộ và tin cậy, số phận ông cũng giống như người nhà Lý Kinh Mại, chỉ làm được 3 tháng. Trong những người thô tục, vô học của Phủ nội vụ, ai là người đã đẩy Trịnh Hiếu Tế đi, trước sau tôi hoàn toàn không làm rõ được.
            Sau khi nắm quyền, việc thứ nhất Trịnh Hiếu Tế phải đối phó là các vụ án chồng chất từ năm Tân Hợi. Biện pháp đối phó của ông là trước hết ra oai, loại bỏ quan lang trung đương nhiệm, tự mình nắm lấy vị trí quan trọng này, giao cho người thân tín tiếp nhiệm. Không ngờ, từ đó Phủ nội vụ như người bại liệt, cần tiền không có tiền, cần đồ vật tìm không ra nơi cất...
            Để lôi kéo nhân viên cấp dưới, Trịnh Hiếu Tế tỏ ra khoan dung rộng rãi, lắng nghe tình hình cấp dưới, quy định mỗi tuần lễ cùng nhân viên cấp dưới toạ đàm một lần, mời họ góp ý kiến về cải cách. Có một vị tư viên đề nghị giảm bớt đồ tế lễ trong cung cho đỡ tốn kém. Trịnh Hiếu Tế rất tán thưởng đề nghị đó, nâng một cấp cho người đó. Tuy nhiên đồ tế lễ vốn là thu nhập hợp pháp của bản thân các thái giám (sau khi bị di tán vẫn còn khoảng 100 người) nên họ căm thù Trịnh Hiếu Tế đến xương tủy, Trịnh Hiếu Tế trở thành người bị căm ghét nhất trong Tử Cấm Thành.
            Trịnh không chịu lùi lập tức nhận được thư đe doạ. Thư viết: nhà ngươi đang ở bước đường cùng, hãy lưu ý cái đầu của mình. Cùng lúc đó, Johnston được cử đi Di Hoà Viên cũng nhận được thư đe doạ. Thư viết : nếu nhà ngươi đến đó, trên đường đi sẽ có người đợi giết chết.
            Cuối cùng, người dẹp đám vẫn là tôi.
            Tôi vừa bổ nhiệm Trịnh Hiếu Tế làm việc liền nhận được một tin rất đau đầu: trong quốc hội Dân quốc, một số nghị viên đưa ra nghị án cần bãi bỏ điều kiện ưu đãi, do Dân quốc tiếp thu Tử Cấm Thành. Từ hai năm trước, trong quốc hội đã có nghị án này. Lý do là: trong 6 năm Dân quốc, nhà Thanh gây chuyện phục hồi hiện nay không ngừng ban quan tước cho quan. lại Dân quốc, ngang nhiên vượt lên trên Dân quốc, rõ ràng mưu đồ phục hồi nhà Thanh. Hiện  nay lại nhắc lại án cũ, nói rằng tôi không những phạm pháp trong vụ Trương Huân, càng trái phép là ban thưởng người Hán Trịnh Hiếu Tế được cưỡi ngựa trong Tử Cấm Thành và làm đại thần phủ nội vụ. Báo chí đưa tin “tin này như một tín hiệu, những hành động công kích phủ nội vụ; liên tiếp xuất hiện như phủ nội vụ bán đồ cổ cho thương nhân Nhật Bản; Vinh Nguyên, đại thần Phủ nội vụ mang của báu các triều đại cầm cố vào bốn ngân hàng lớn…
            Không lâu, “cách mở nguồn của cải” của Trịnh Hiếu Tế - định đưa toàn bộ sách của bốn kho đến Thương vụ ấn thư quán Thượng Hải xuất bản đã bị nhà đương cục ngăn chặn, thu giữ toàn bộ số sách.
            Khi đó, cha tôi tìm tôi nói: Cần xem xét lại biện pháp của Trịnh Hiếu Tế, nếu như đến nhà đương cục Dân quốc cũng không hài lòng, sau này càng khó thực hiện.
            Thiệu Anh, Kỳ Linh, Bảo Hy, những đại thần Phủ nội vụ vẫn là những người hiếu thuận, không nói một lời xấu về Trịnh, Kim, Vinh. Tuy nhiên, do bán của báu lộ chuyện, Vinh Nguyên lánh mặt. Điều trần nói trên của Kim Lương có khuyên tôi để Thuần Thân Vương (cha Phổ Nghi) nghỉ hưu, bị cha tôi mắng cho một trận, cũng không biết Kim Lương bỏ đi đâu.
            Một hôm Thiệu Anh vẻ sợ hãi xuất hiện trước tôi nói rằng: Vương Hoài Khánh, thống  lĩnh quân bộ hiện nay rất không bằng lòng cách làm của Trịnh Hiếu Tế. Vương Hoài Khánh nói: cứ để Trịnh Hiếu Tế gây rối, nếu Dân quốc có hành động gì ông ta không có cách nào giúp tôi.
            Nghe câu nói đó, tôi thấy thật sự sợ hãi. Kết quả là Trịnh Hiếu Tế quay về “Mậu lệ điện hành tẩu”. Thiệu Anh lại nắm tay hòm chìa khoá Phủ nội vụ.
 
 
-----------------------------------------------------------
(42) Theo truyền thuyết, Pháp sư Vân Quang thời Lương Vũ Đế giảng kinh, cảm động trời, hoa trời lả tả rơi xuống. - ND
 
Đăng nhập để trả lời
0

Ngày cuối cùng ở Tử Cấm Thành

 
            Thất bại trong lần chỉnh đốn Phủ nội vụ này cũng không làm cho tôi “dừng xe”. Xe không đừng lại song chuyển hướng. Từ khi tôi lên xe, luôn luôn có người “tiếp dầu, bơm hơi” hoặc chỉ phương hướng biển báo hiệu.
            Các bậc nguyên lão bí mật trình tôi “kế lớn” phục tích. Sau khi tôi kết hôn, nơi nào cũng có người muốn giúp sức tôi. Ví dụ Khang Hữu Vi và hai cha con Từ Cần, Từ Lượng - học trò ông ta dựng chiêu bài. Đảng hiến chính đế quốc Trung Hoa hoạt động ở trong và ngoài nước. Tình hình hoạt động của họ có lúc qua Johnston truyền đến trong cung. Từ Cần viết sớ tâu nói khoác rằng ở hải ngoại, đảng này có 10 vạn đảng viên và 5 tờ báo. Hai năm trước khi tôi rời cung, Từ Lương đã đến Quảng Tây tìm quân phiệt Lâm Tuấn Đình hoạt động phục tích. Y gửi thư cho Johnston nói: “Quảng Tây có thủ lĩnh đứng đầu ba phái quân nhân: Lâm Tuấn Đình, Lục Vinh Đình và Thẩm Hồng Anh. Ba người đều cùng tôn chỉ với đảng chúng tôi, ngày nào có việc ắt sẽ giúp đỡ đảng đối lập”.
            Sau tết năm thứ 13 Dân Quốc, Khang Hữu Vi gửi thư cho Johnston nói: ông ta “mấy năm bôn ba, đêm trừ tịch mới quay về may mà du thuyết đều có người nghe, cũng do các nơi đã chán loạn lạc, có sự đồng lòng”. Theo ông ta: Thiểm Tây, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tô, An Huy, Giang Tây, Quý Châu, Vân Nam đều đã nói xong hoặc khi đến lúc, nói là xong. Ông ta đặt nhiều hy vọng vào Ngô Bội Phu, nói người này có thể xoay chuyển tình thế, “nếu có thể gửi điện; đến ngày sinh nhật, có thể ban thưởng”.
            Nay nhìn lại, thư Khang Hữu Vi nói nhiều lời hão huyền, chỉ là hành động gây thanh thế, không có hiệu quả. Tuy nhiên khi đó, tôi và Johnston không những không hoài nghi mà còn rất hân hoan, phấn khởi, đã theo chỉ dẫn của ông ta để gửi lễ mừng thọ Ngô Bội Phu, thưởng chữ phúc cho Khang Hữu Vi.
            Dưới sự chỉ dẫn của họ, tôi bắt đầu hiểu rằng phải động dụng của cải cho “lý tưởng” của mình. Ví dụ như “quyên giúp từ thiện”. Khi đó tôi hiểu rõ giá trị của dư luận xã hội. Trong mục xã hội, báo chí Bắc Kinh khi đó hầu như ngày nào cũng có tin về “tiền quyên góp của vua Tuyên Thống”. Hoạt động “quyên giúp” của tôi có hai cách, một là căn cứ vào những tin tức về dân nghèo đăng trên báo chí, tôi gửi tiền tới tờ báo nhờ phát giúp. Hai là cử người trực tiếp mang tới hộ dân nghèo. Dù là cách nào, chỉ một vài ngày sau đều có tin trên báo. Tôi rất vui vì các bán tuyên truyền cho tôi, thậm chí có báo đăng bài ca ngợi.
            Món tiền tôi quyên góp lớn nhất là “vụ động đất” ở Nhật Bản tháng 9 năm 12 Dân quốc. Khi đó, thiệt hại về động đất ở Nhật Bản chấn động thế giới. Tôi muốn toàn thế giới biết “lòng từ thiện” của “Vua Tuyên Thống”, quyết định đưa ra món tiền lớn ủng hộ. Thầy Trần Bảo Thám còn nhìn xa hơn. Sau khi ca ngợi “hoàng ân mênh mông, lòng trời nhân từ”, ông nói với tôi: “Ảnh hưởng của việc này không chỉ giới hạn ở đó”. Sau đó, do có khó khăn về tiền mặt tôi đã gửi các loại đồ cổ, tranh vẽ trị giá khoảng 30 vạn đô-la. Công sứ Nhật Bản cùng đi với đoàn đại biểu quốc hội Nhật đến cảm ơn tôi. Trong cung xuất hiện không khí phấn khởi như khi có sứ thần nước ngoài đến dự hôn lễ của tôi.
            Trong thời kỳ này, tôi sống càng buông thả làm nhiều việc tự mâu thuẫn. Ví dụ, một mặt tôi quở trách Phủ nội vụ chi tiêu quá nhiều, mặt khác lại vung tiền vô độ. Thấy ảnh chó tây trên hoạ báo nước ngoài, tôi bảo Phủ nội vụ đặt mua từ nước ngoài, ngay thức ăn của chó cũng đặt mua ở nước ngoài. Chó ốm phải mời bác sĩ thú y, tiền chữa bệnh còn nhiều hơn chữa cho người. Một bác sĩ thú y ở trường cảnh sát Bắc Kinh họ Tiền có lẽ nắm được tính cách của tôi đã ra sức móc nối, gửi cho tôi mấy bản chỉ dẫn về nuôi chó đã được tôi ban thưởng luôn mười thứ đồ vật quý như vòng ngọc, nhẫn vàng… 
            Về số tiền tôi chi tiêu hàng năm, căn cứ tài liệu được rút bớt của Phủ nội vụ gửi tôi trước khi tôi kết hôn một năm, chưa kể số tiền dùng cho ăn mặc, chưa kể sự chi tiêu của các ty của Phủ nội vụ ở các nơi, dự tính số tiền “phụng chỉ” chi “ân thưởng”, “giao tiến” của Phủ nội vụ mỗi năm tổng cộng là 870.587 lạng.
            Cuộc sống hoang tàng ấy kéo đến ngày 5 tháng 11 năm thứ 13 Dân quốc, khi quân Dân quốc của Phùng Ngọc Tường đuổi tôi ra khỏi Tử Cấm Thành.
            Tháng 9 năm đó, bắt đầu cuộc chiến tranh Trực - Phụng (Trực Lệ và Phụng Thiên) quân Trực Lệ của Ngô Bội Phu đang phát động cuộc tổng cộng kích quân Phụng Thiên của Trương Tác Lâm ở Sơn Hải Quan thì bị Phùng Ngọc Tường phản bội. Phùng Ngọc Tường mang quân vào Bắc Kinh. Với sự hợp tác của Phùng Ngọc Tường và Trương Tác Lâm, quân đội Ngô Bội Phu ở tuyến Sơn Hải Quan hoàn toàn thất bại, Ngô Bội Phu bỏ chạy về Lạc Dương. Sau đó Ngô không đứng vững được ở Hà Nam, lại mang tàn quân chạy về Nhạc Châu. Tin quân Ngô thất bại ở Sơn Hải Quan chưa về tới Bắc Kinh, quân quốc dân của Phùng Ngọc Tường chiếm lĩnh Bắc Kinh đã giam lỏng Tào Côn, tổng thống được bầu gian lận, tiếp đó đã giải tán “quốc hội”. Nội các Nhạn Huệ Khánh tuyên bố từ chức, quân Dân quốc ủng hộ Hoàng Phù tổ chức Nội các nhiếp chính.
            Tin đảo chính vừa truyền vào cung, tôi lập tức cảm thấy tình hình rất nguy hiểm. Đội bảo vệ trong Tử Cấm Thành bị tước vũ khí và bị đuổi khỏi Bắc Kinh, quân Dân quốc tiếp quản doanh trại của họ. Cửa Thần Vũ đổi thành vọng gác của quân Dân quốc. Tại Ngự Hoa Viên, tôi dùng kính viễn vọng quan sát Cảnh Sơn (đối diện với cổng sau của Tử Cấm Thanh - ND) nhìn thấy những người lên lên, xuống xuống đều là quân lính trang phục khác nhau. Phủ nội vụ cử người mang trà và thức ăn tới, quân Dân quốc thu nhận, không có thái độ gì khác. Tuy nhiên không có ai trong Tử Cấm Thành có thể yên tâm. Mọi người đều nhớ, lần Trương Huân phục tích, Phục Ngọc Tường tham gia “thảo nghịch quân” (quân đội trừng phạt quân phản nghịch), nếu như Đoàn Kỳ Thụy không kịp thời điều y ra khỏi thành thì y chắc sẽ đánh thẳng vào Tử Cấm Thành.
            Sau khi Đoàn Kỳ Thụy lên nắm chính quyền, Phùng Ngọc Tường và một số tướng lĩnh đã gửi điện yêu cầu đuổi triều đình nhỏ ra khỏi Tử Cấm Thành. Qua kinh nghiệm đó, chúng tôi đã cảm thấy sự chẳng lành trước cuộc đảo chính và sự thay đội quân bảo vệ lần này. Tiếp đó, nghe nói các chính trị phạm bị giam trong nhà tù đều được thả ra; lại nghe nói các “đảng quá khích” đều nhảy ra hoạt động... Lời dạy bảo của các thầy Johnston và Trần Bảo Thám về điều chủ yếu nhất của các nhóm khủng bố, quá khích là giết mỗi tên quý tộc lúc đó có tác dụng. Tôi gọi Johnston đến, đề nghị ông ta đến Đông Giao Dân cảng (khu vực sứ quán nước ngoài) thăm dò tin tức, nhờ ông thu xếp nơi lánh nạn cho tôi.
            Các vương công cũng lo lắng không yên, một số người đã đặt phòng ở “Lục quốc phạn điếm” trong Đông Giao Dân cảng nhưng khi nghe nói tôi muốn ra khỏi thành thì cho rằng lúc này chưa cần thiết. Họ vẫn căn cứ vào điều kiện ưu đãi được các nước công nhận có thể không xảy ra chuyện gì.
            Tất nhiên, việc phải xảy ra cuối cùng đã xảy ra.
            Sáng hôm đó, khoảng hơn 9 giờ, tôi đang cùng Uyển Dung ăn sáng ở Trữ Tú Cung, các  đại thần Phủ nội vụ bỗng nhiên hốt hoảng chạy tới. Đi đầu là Thiệu Anh, tay cầm một công văn, hổn hển nói:
            - Hoàng thượng, Hoàng thượng, Phùng Ngọc Tường phái quân tới rồi, nói Dân quốc đòi bãi bỏ điều kiện ưu đãi, đưa tờ giấy này đòi, đòi ký tên...
            Tôi giật bắn người, chộp lấy tờ công văn. Công văn viết:
 
            “Đại tổng thống ra lệnh:
            Cử Lộc Trung Lân, Trương Bích Giao trao lệnh sửa đổi điều kiện ưu đãi nhà Thanh.
            Ngày mồng 5 tháng 11 năm thứ 13 Trung Hoa Dân quốc, Thủ tướng lâm thời quốc vụ Hoàng Phù sửa đổi điều kiện ưu đãi nhà Thanh: do hoàng đế đại Thanh muốn quán triệt tinh thần năm tộc cộng hòa, không muốn chống lại các chế độ của Dân quốc vẫn tồn tại hiện nay, đặc biệt sửa đổi điều kiện ưu đãi nhà Thanh như sau:
            Điều 1: Từ hôm nay, bãi bỏ tôn hiệu hoàng đế Tuyên Thống đại Thanh cũng hưởng quyền lợi về mặt luật pháp như mọi công dân Trung Hoa Dân quốc.
            Điều 2: Từ sau bản điều kiện sửa đổi này, chính phủ Dân quốc mỗi năm hỗ trợ nhà Thanh 50 vạn đồng, đồng thời đặc biệt chi 200 vạn đồng mở nhà máy cho dân nghèo Bắc Kinh, trước hết thu nhận dân nghèo tộc kỳ (Mãn Thanh).
            Điều 3: Nhà Thanh cần theo điều thứ ba của chính sách ưu đãi trước, rời khỏi cung cấm, sau đó được tự do lựa chọn nơi cư trú nhưng chính phủ vẫn chịu trách nhiệm bảo hộ.
            Điều 4: Lăng tẩm, tôn miếu của nhà Thanh mãi mãi thờ phụng do Dân quốc cử vệ binh bảo hộ.
            Điều 5: Tài sản riêng của nhà Thanh quy về nhà Thanh hoàn toàn hưởng. Chính phủ Dân quốc đặc biệt bảo hộ những tài sản công phải quy về sở hữu chính phủ Dân quốc.
                                                                                    Ngày....tháng 1 năm thứ 13
                                                                                                Trung Hoa Dân quốc
 
            Quả thật là điều kiện mới này cũng không đáng sợ như điều tôi đã tưởng tượng trước đây. Tuy nhiên Thiệu Anh nói một cầu khiến tôi bật dậy: “Họ nói, hạn trong 3 giờ đồng hồ, toàn bộ phải rời đi!”.
            Làm thế nào? Tài sản của tôi ư? Thái phi ư? Tôi vội vã quay gọi điện thoại cho thầy Johnston.
            - Đường điện thoại bị cắt đứt. Cắt, cắt rồi. - Vinh Nguyên trả lời.
            - Cử người mời Vương gia tới! Tôi đã sớm nói sẽ xảy chuyện nhưng lại không cho tôi ra đi. Tìm Vương gia, tìm Vương gia!.
            - Không ra được, Bảo Hy nói: bên ngoài có người gác, không cho ai ra!
            - Để tôi đi giao thiệp!
            Khi đó, thái phi Đoan Khang mới chết. Trong cung chỉ còn lại hai thái phi Kinh Từ và Vinh Huệ. Nói thế nào hai cụ già cũng không chịu đi. Thiệu Anh lấy cớ đó làm lý do đi thương lượng với Lộc Trung Lân. Kết quả cho phép kéo dài đến 3 giờ chiều. Quá trưa, qua giao thiệp, cha tôi được vào cung. Hai thầy Chu, Trần được thả ra đã tới, chỉ có Johnston bị chặn ở bên ngoài.
            Nghe nói cha tôi tới, tôi vội ra khỏi phòng đón ông; vừa thấy ông bước vào cửa cung, tôi lập tức kêu:
            - Vương gia! Làm thế nào?
            Nghe tiếng tôi gọi, ông như người bị phép định thân, đứng sững ở đó, đã không tiến lại gần cũng không trả lời, miệng lắp bắp hồi lâu mới bật ra câu nói chẳng có nghĩa gì:
            - Nghe, xin nghe chỉ ý, xin nghe chỉ ý…
            Tôi vừa giận lại vừa bực, quay mình vào phòng. Sau đó, theo thái giám nói với tôi, ông nghe nói tôi ký tên vào bản sửa đổi điều kiện nói trên đã lập tức ném mũ lông công xuống sàn lẩm bẩm: Hết rồi! Hết rồi! Ta không cần cái này nữa!
            Tôi quay về phòng không lâu thì Thiệu Anh quay trở về, nét mặt càng khổ sở, hổn ha hổn hển nói: “Lộc Trung Lân thúc giục nói lại gia hạn 20 phút, nếu không... Cảnh Sơn sẽ nã pháo…”.
            Thực ra, Lộc Trung Lân chỉ mang một đội 20 tay súng tuy nhiên câu nói đó rất có hiệu quả. Trước tiên là Vinh Nguyên, bố vợ tôi chạy đến Ngự Hoa Viên, ngó đông ngó tây, tìm nơi trú ẩn tránh đạn pháo, không chịu ra nữa. Thấy các vương công đại thần đều sợ hãi như vậy, tôi nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của Lộc Trung Lân, quyết định trước hết đến nhà cha tôi.
            Lúc đó, quân Dân quốc đã chuẩn bị sẵn xe ô tô tất cả có 5 chiếc, Lộc Trung Lân ngồi xe đầu, tôi ngồi xe thứ hai, Uyển Dung, Văn Tú, Trương Bích, Thiệu Anh và những người khác ngồi những xe sau.
            Xe tới cửa Bắc Phủ, khi tôi xuống xe, Lộc Trung Lân bước tới, khi đó tôi mới gặp ông ta. Lộc Trung Lân bắt tay tôi hỏi:
            - Phổ Nghi tiên sinh, từ nay về sau ông vẫn tính làm hoàng đế hay làm người dân thường?
            - Tôi vui lòng từ hôm nay làm người dân thường.
            - Tốt - Lộc Trung Lân cười nói: - Thế thì tôi bảo hộ ông. Hiện nay đã là Trung Hoa Dân quốc mà lại có xưng hiệu hoàng đế là không hợp lý. Từ nay về sau, cần lấy tư cách công dân góp sức cho đất nước.
            Lộc Trung Lân lại nói:
            - Đã là một công dân, có quyền bầu cử và ứng cử! Tương lai càng có thể được bầu làm đại tổng thống!
            Nghe ba tiếng đại tổng thống, tôi rất khó chịu bèn nói:
            - Từ lâu tôi đã không cần điều kiện ưu đãi ấy, nay phá bỏ chính hợp ý tới nên tôi hoàn toàn tán thành lời các ông. Làm hoàng đế cũng không tự do, hiện nay tôi đã được tự do rồi.
            Nghe câu nói của tôi, lính Dân quốc đều vỗ tay.
            Câu nói cuối cùng của tôi cũng không phải hoàn toàn giả dối. Tôi thật sự chán ghét sự hạn chế và ngăn cấm của các vương công, đại thần. Tôi muốn “tự do”, tự do thực hiện lý tưởng và cách nghĩ của mình - ngồi lại cái ngai vàng đã mất.
 
Đăng nhập để trả lời
0

Tại Bắc Phủ

 
            Tôi nói mấy câu bóng bẩy, từ từ bước vào cửa Bắc Phủ do quân Dân quốc bảo vệ. Ngồi trong thư phòng của cha tôi, tôi nghĩ đây không phải là vương phủ mà là tiến vào miệng hùm. Hiện nay, việc đầu tiên cần làm là làm rõ rút cục tình thế của tôi nguy hiểm đến mức nào. Trước khi rời cung, tôi đã gửi thư cho một số “bề tôi đắc lực” ở ngoài cung để họ tìm cách cứu tôi thoát khỏi bàn tay của quân Dân quốc. Khi đó, không những không có tin tức gì về tình hình chạy chọt của họ mà ngay bất cứ tin tức gì ở bên ngoài cũng đều không có cách nào mà biết được. Tôi rất muốn tìm người thương lượng, thương lượng chỉ nghe mấy câu an ủi cũng tốt. Trong tình thế đó, cha tôi khiến tôi vô cùng thất vọng. Ông còn kinh hãi hơn tôi. Từ lúc tôi vào Bắc Phủ, ông không đứng yên được, cũng không thể ngồi yên. Ông không đi đi lại lại, miệng lẩm bẩm, chạy ra, chạy vào làm cho không khí rất căng thẳng. Sau đó, tôi không chịu nổi yêu cầu ông:
            - Vương gia, hãy ngồi xuống bàn bạc, nghĩ cách, trước hết thăm dò tin tức bên ngoài một chút!
            - Nghĩ cách, nghĩ cách, vâng, vâng, - ông ngồi xuống chưa được hai phút bỗng lại đứng lên - Thăm dò tin tức! vâng, vâng!, - ông lại đi ra liếc nhìn lại quay vào: Bên ngoài không cho ra, cửa lớn có lính! 
            - Gọi điện thoại!
            - Gọi điện thoại, vâng, vâng, - đi mấy bước ông quay lại hỏi: Gọi điện thoại cho ai?
            Xem ra không còn cách nào, tôi gọi thái giám báo các đại thần Phủ nội vụ đến. Lúc đó, Vinh Nguyên vào bệnh viện nước ngoài chữa bệnh thần kinh (hai tháng sau mới ra); Kỳ Linh bận chuyển quần áo, đồ vật của tôi, xử lý vấn đề cung nữ, thái giám; Bảo Hy đang chăm lo cho hai bà Thái phi còn ở trong cung. Bên cạnh tôi chỉ còn có Thiệu Anh. Tình hình ông ta cũng chẳng khác gì cha tôi , không gọi nổi một cú điện thoại May sao sau đó, các vương công đại thần khác và các thầy lục tục kéo đến, nếu không, sự hoảng loạn trong Bắc Phủ không biết sẽ phát triển đến đâu.
            Sẩm tối, Johnston đến mang lại tin tốt nhất. Qua sự chạy chọt của ông, trưởng đoàn công sứ, công sứ Hà Lan Oudendijk, công sứ Anh Macleay, công sứ Nhật Bản Kenyoshi Yoshizawa gửi “kháng nghị” cho Vương Chính Đình tổng trưởng ngoại giao nội các nhiếp chính - Vương Chính Đình đã hứa với họ sẽ bảo đảm an toàn, sinh mạng và tài sản cho tôi. Tin này có tác dụng trấn an những người trong Bắc Phủ, song đối với cha tôi, hình như “liều lượng” vẫn chưa đủ. Tối hôm đó, một hành động khác của cha tôi khiến tôi không hài lòng.
            Johnston tới một lúc, Trịnh Hiếu Tế đưa hai người Nhật Bản tới. Từ sau việc quyên giúp “nạn động đất Tokyo”, Công sứ quán Nhật Bản ở Đông Giao Dân cảng đã có sự giao tiếp với những người “phò tá” tôi. Sau khi La Chấn Ngọc và Trịnh Hiếu Tế đến Tử Cấm Thành lại có sự qua lại với doanh trại quân Nhật Bản. Khi đó Trịnh Hiếu Tế đã cùng Takemoto Obashi vạch một kế hoạch: đại uý Aragamatsu Nhật Bản mặc thường phục cùng một bác sĩ giả trang đưa tôi vào bệnh viện, chuyển tôi ra khỏi Bắc Phủ đưa vào doanh trại quân Nhật.
            Trịnh Hiếu Tế đưa đại uý Aragamatsu và bác sĩ Nhật Bản đến Bắc Phủ nói rõ kế hoạch của họ nhưng bị các vương công đại thần và các thầy nhất trí phản đối. Họ cho rằng, cách làm  này rất khó lừa được binh lính ngoài cửa lớn, có lừa được thì trên đường phố vẫn còn có quân bộ Dân quốc, vạn nhất bị phát hiện sẽ rất gay go. Thái độ của cha tôi quyết liệt nhất. Lý do ông phản đối là: “Cứ cho là vào được Đông Giao Dân cảng nhưng Phùng Ngọc Tường đến tìm tôi đòi người thì tôi làm thế nào?”. Kết quả, Trịnh Hiếu Tế và hai người Nhật Bản bị đưa ra khỏi cửa lớn.
            Đến hôm sau, cửa Bắc Phủ bỗng nhiên bị cấm ngặt, chỉ cho phép vào, không cho phép ra. Sau đó nới lỏng một chút, chỉ cho phép hai thầy Trần Bảo Thám, Giang Tiểu Chu cùng các vương công đại thần ra vào, người nước ngoài cấm không được vào. Tình hình đó khiến người Bắc Phủ càng kinh hoàng vì rằng người nước ngoài bị xem thường thì không còn có bảo hiểm nữa. Tôi càng nghĩ càng sợ, hối hận đã không đi cùng Trịnh Hiếu Tế và hai người Nhật; đồng thời oán cha tôi chỉ nghĩ đến mình mà không quan tâm sự an toàn của tôi.
            Đúng lúc đó, La Chấn Ngọc từ Thiên Tân trở về. Khi Phùng Ngọc Tường tiếp quản nội thành, ông ta đáp xe lửa xuống Thiên Tân cầu cứu. Ông đến Bộ Tư Lệnh quân đội Nhật đóng ở Thiên Tân yêu cầu Bộ Tư Lệnh quân đội Nhật ra mặt “bảo hộ”. Bộ Tư Lệnh quân đội Nhật nói với ông ta. Lộc Trung Lân đã vào cung. Quan Tư lệnh Nhật Bản bảo ông ta đi tìm Đoàn Kỳ Thụy gửi một bức điện phản đối Phùng Ngọc Tường “bức cung” (buộc nhà Thành rời khỏi cung). La Chấn Ngọc đọc bức điện đó thấy rõ Đoàn Kỳ Thụy sẽ ra tay ngay, tuy nhiên La Chấn Ngọc vẫn yêu cầu Bộ Tư Lệnh quân đội Nhật ra mặt “bảo hộ”. Bộ Tư lệnh Quân đội Nhật nói với ông Takemoto (chỉ huy các lực lượng Nhật ở Bắc Kinh sẽ có biện pháp. Theo chỉ thị của Bộ Tư lệnh quân đội Nhật, ông trở về Bắc Kinh tìm Takemoto. Takemoto cho biết: Kỵ binh Nhật Bản sẽ tuần tra gần Bắc Phủ. Nếu như quân đội Dân quốc có hành động gì không hay đối với Bắc Phủ, quân đội Nhật Bản lập tức tiến hành “biện pháp đặc biệt”. 
            Tôi đọc điện của Đoàn Kỳ Thụy chỉ trích Phùng Ngọc Tường “bức cung”, lại nghe tin quân Phụng Thiên sẽ giao chiến với quân Phùng Ngọc Tường, hai sự việc đó mang lại cho tôi niềm hy vọng mới. Cùng lúc đó, Trần Bảo Thám mang cho tôi điện mật của Đoàn Kỳ Thụy do trại quân Nhật Bản chuyển, bức điện viết: “ra sức duy trì công việc hoàng thất đồng thời bảo toàn tài sản”. Tiếp đó canh gác ngoài cửa được nới lỏng, cho phép càng nhiều vương công đại thần cũng như người trong hoàng tộc ra vào, thậm chí ngay người không có “công danh mũ mãng” như Hồ Thích cũng không bị ngăn cản. Chỉ có Johnston vẫn không được phép ra vào.
            Không lâu, quan hệ Trương Tác Lâm và Phùng Ngọc Tường mà Bắc Phủ quan tâm nhất có sự phát triển mới, tin chuyển đến là Phùng Ngọc Tường bị quân Phụng Thiên bắt giữ ở Thiên Tân. Sau đó, tuy chứng minh là tin đồn, song tin tức tới tấp đến càng cổ vũ người Bắc Phủ. Tại Bắc Kinh, nội các nhiếp chính Hoàng Phủ mà quân Quốc dân ủng hộ mời tiệc các công sứ ở Đông Giao Dân cảng bị cự tuyệt. Bắc phủ đánh giá một cách lạc quan: số mạng của Nội các nhiếp chính chống tôi sắp hết, thay thế nó tự nhiên là Đoàn Kỳ Thụy vừa lòng Đông Giao Dân cảng (ít nhất là người Nhật). Quả nhiên, tin tức ngày hôm sau chứng thực tình báo của La Chấn Ngọc. Phùng Ngọc Tường không thể không đồng ý quyết định của Trương Tác Lâm để Đoàn Kỳ Thụy xuất hiện. Sau đó mấy ngày, Trương Tác Lâm và Đoàn Kỳ Thụy đều đến Bắc Kinh.  
            Sau khi hai người đến Bắc Kinh; các vương công cử đại biểu cùng Trịnh Hiếu Tế đi tìm Đoàn Kỳ Thụy. Trương Văn Trị, quản gia Bắc Phủ đi tìm anh họ là Trương Tác Lâm. Bắc Phủ vui mừng nhất là việc Trương Tác Lâm uỷ thác Trương Văn Trị mời Johnston đến. Kết quả, Johnston đến hai lần. Mục đích của Trương Tác Lâm tìm Johnston là để thăm dò thái độ của Đông Giao Dân cảng đối với ông ta, còn Bắc Phủ thì hy vọng qua Johnston thăm dò thái độ của Trương Tác Lâm. Tôi nhờ Johnston mang tặng Trương một tấm ảnh có chữ ký của tôi và một chiếc nhẫn kim cương lớn. Trương nhận ảnh và trả lại nhẫn, tỏ ý đồng tình. Cùng lúc đó Trịnh Hiếu Tế bày tỏ với Trương Tác Lâm rằng có thể xem xét việc khôi phục điều kiện ưu đãi. Đã có sự “đồng tình” của Đông Giaao Dân cảng, lại có sự ủng hộ của hai nhân vật đương quyền, tuy quân Dân quốc của Phùng Ngọc Tường vẫn còn ở trong thành Bắc Kinh mà người Bắc Phủ đã cảm thấy có sự “phản công” rồi.
            Ngày 28/11, tức là ngày thứ hai sau khi quân Dân quốc rút khỏi cửa lớn, Phùng Ngọc Tường gửi điện từ chức. Với danh nghĩa Phủ nội vụ Bắc phủ gửi một công hàm cho Bộ Nội vụ Dân quốc như sau:
            “.. Xét: nguyên tắc pháp lý quy định về luật hình, phàm là những người dùng bạo lực bức hiếp người khác cần phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại. Về nguyên lý dân pháp, phàm là những hành vi cường bạo bức hiếp lừa dối đe doạ đều không có hiệu lực về mặt luật pháp.
            Công hàm đặc biệt này tuyên bố: năm điều kiện mà nội các nhiếp chính tuỳ tiện sửa đổi, căn cứ pháp lý nhà Thanh không thể cho rằng có hiệu lực…”
            Đồng thời, Bắc phủ còn gửi công hàm cho các sứ quán nước ngoài kêu gọi chi viện. Đối với “Ủy ban xử lý công việc nhà Thanh” do nội các Nhiếp chính thành lập, tuy đại biểu nhà Thanh đã tham dự mấy lần họp nay cũng phủ nhận.
            Ngày hôm đó, phóng viên tờ “Thuận Thiên thời báo” do Nhật Bản thành lập đã đến phỏng vấn tôi. Lời phát biểu của tôi với phóng viên hoàn toàn khác với những lời phát biểu khi ra khỏi cung.
            “Hành động của quân Dân quốc lần này, đã giả mạo tổ chức tuần cảnh của Dân quốc dùng vũ lực buộc tôi phải ký. Tôi quyết không phải hân hoan vui vẻ như bên ngoài tuyên truyền…”. (43)
            “Thuận Thiên thời báo” là tờ báo của nhà buôn Nhật do sứ quán Nhật Bản chi phối. Nói đến “nhiệt tình” của người Nhật đối với tôi khi đó quyết không thể không chú ý đến tờ báo này. Nó không giống như Takemoto, mọi hoạt động  đều tiến hành bí mật, mà là dựa vào đặc quyền báo chí la lối ầm ỹ, làm hết mọi khả năng kích  động giật gân. Bắt đầu từ ngày thứ hai sau khi tôi vào Bắc phủ, “Thuận Thiên thời báo” liên tiếp đưa ra những bình luận và tin tức đồng  tình “vô hạn đối với “nhà vua”, vô cùng “phẫn nộ” đối với Nội các Nhiếp chính và quân đội Dân quốc. Trong đó dùng rất nhiều từ “buộc rời cung điện”, “lừa bịp” cũng như “lấy thịt đè người”, “bắt nạt quả phụ cô nhi”, “bắt cóc”... ra sức tung ra những chuyện “người Kỳ tự sát hàng loạt”, “Mông Tạng phát sinh hoài nghi”, thậm chí đã bịa ra những tin kinh người “Thái phi nọ đổ máu chết vì triều Thanh”, “Thục phi cắt tay lấy máu viết thư, quyết lấy thân mình bảo vệ cửa cung” và “Thục phi nắm bánh xe ngăn chặn lên xe”. Các báo chí ngoại văn khác cũng đăng một số tin bài loại đó nhưng không đậm đặc như “Thuận Thiên thời báo”.
 
 
-------------------------------------------------------------------
(43) Bài viết của phóng viên này đăng trên “Thuận Thiên thời báo” ngày 29 tháng 11 năm thứ 14 Dân quốc.. cơ bản nhất trí với tư tưởng tôi lúc đó - Tác giả.
 
Đăng nhập để trả lời
0

Ngã ba đường 

 
            Người Bắc Phủ tuy có niềm phấn khởi chung nhưng lại có cách nghĩ khác nhau. Nhật ký của Kim Lương sau đó viết: “Sau khi Đoàn, Trương tới Bắc Kinh họ đều chỉ hứa suông, thực ra chẳng có biện pháp gì. Bị lừa dối, mọi người cho rằng sắp phục tích đến nơi. Song sự thật chưa thấy mà ý kiến lại nảy sinh. Có người chủ trương phải giữ nguyên điều kiện, một chữ cũng không được sửa. Có người chủ trương phải về cung, phục hồi tên hiệu. Có người chủ trương sửa đổi đế hiệu. Có người chủ trương chuyển đến Di Hòa Viên... thực ra chủ quyền thuộc người ta, mơ tưởng hão huyền chẳng ai biết có thực hiện được hay không.
            Cơn lốc ngày mùng 5 tháng 11 năm 1924 đã thổi bay tôi ra khỏi Tử Cấm Thành, rơi vào ngã ba đường.
            Tôi đứng trước ngã ba con đường: một đường là “điều kiện mới”, rồi bỏ tên hiệu đế vương làm một “dân thường” có nhiều tài sản và điền trang. Một đường là tranh thủ sự chi viện của “những người đồng tình”, thủ tiêu đến kiện mới của quân Dân quốc, khôi phục toàn bộ điều kiện cũ thời Viên Thế Khải, hoặc là “phục hiện hoàn cung” (khôi phục tên hiệu trở về cung), trở về Tử Cấm Thành sống cuộc đời như trước. Một đường khác là con đường khúc khuỷu nhất, nó thông với hải ngoại, sau đó quay hướng Tử Cấm Thành nhưng phải là Tử Cấm Thành trước Tân Hợi. Khi đó, con đường này là “mượn thế lực bên ngoài mưu đồ khôi phục”.
            Đứng trên ngã ba đường đó, tôi bị mọi loại người bao vây, nghe đủ mọi cuộc tranh cãi vô cùng vô tận.
            Các vương công đại thần đứng đầu là cha tôi một lòng một ý muốn khôi phục nguyên trạng, tranh thủ khôi phục tôn hiệu trở về cung. Họ căm thù quân đội Dân quốc nhưng hy vọng tôi có thể nén chịu, chờ đợi. Quân Dân quốc thủ tiêu tôn hiệu hoàng đế của tôi nhưng họ cho rằng tôi có thể làm hoàng đế ở nhà. Nền thống trị của quân Dân quốc vừa bộc lộ triệu chứng không ổn định (Trương Tác Lâm và Phùng Ngọc Tường bất hoà, nội các Hoàng Phù bị đoàn ngoại giao cự tuyệt) ảo tưởng của họ lại ngóc đầu dậy. Một mặt họ khuyên tôi bình tĩnh đợi tin lành, mặt khác ra sức công kích những người chủ trương ra khỏi phủ hoặc ra nước ngoài. Kim Lương đọc báo thấy lời phát biểu của tôi với Lộc Trung Lân, sau khi cửa cấm vừa nới lỏng đã  mắng tôi một bản “tuyên ngôn thư” do ông ta thay tôi viết, ra sức ca ngợi những câu nói của tôi, đề nghị tôi “trao công việc bên trong cho những nhân sĩ trung thành trước hết ra nước ngoài du học. Khi có thời cơ lập tức về nước. Luận điểm của ông ta là nên bỏ hoàng đế giả hiện nay để hy vọng hoàng đế thật tương lai.
            Sau khi cha tôi biết đã nổi giận đùng đùng, gọi ông ta là “thằng điên”, yêu cầu ông ta từ sau đừng vào nữa.
            Sau khi đuổi Kim Lương, để đề phòng ảnh hưởng của người khác đối với tôi, mỗi khi có người không đáng tin cậy đến thăm tôi, nếu không ngăn cấm thì ông cũng đứng cạnh theo dõi. Do đó một người khác chủ trương ra nước ngoài là La Chấn Ngọc không có cách nào nói chuyện với tôi. Chỉ với Johnston, cha tôi không dám sử dụng uy phong vương gia của mình song quân lính ở cửa lớn đã vô hình chung giúp cha tôi. Từ ngày thứ hai, Johnston không vào được nữa.
            Sự phong toả của cha tôi gây phản cảm trong lòng tôi. Mặc dù chưa có tính toán rõ ràng gì đối với tiền đồ của mình, song có một điều đã rõ sau khi tôi tìm vào cửa lớn Bắc phủ: dù thế nào tôi cũng phải đi khỏi nơi này. Tôi không thể ra khỏi Tử Cấm Thành lớn lại chui vào Tử Cấm Thành nhỏ, huống chi nơi đây cũng không an toàn. Sau đó tôi bày tỏ sự bất mãn đối với cha tôi, yêu cầu ông đừng có mặt khi tôi tiếp khách cũng như đừng cản trở những người muốn gặp tôi. Cha tôi nhượng bộ do đó tình hình có thay đổi, các loại người dẫn đường đều mang tới những gợi ý tốt nhất. Bạn cũ của tôi là Hồ Thích tới khuyến khích tôi ra nước ngoài. Johnston cũng trở về bên cạnh tôi truyền đạt sự quan tâm của Trương Tác Lâm, hoan nghênh tôi đến Đông Bắc. Tôi nghĩ, trước hết đến Đông Bắc ở một thời gian, tới được Đông Bắc tôi lúc nào cũng có thể ra nước ngoài. Tôi vừa xác định chủ ý lại xuất hiện vấn đế mới.
            Sau khi quân Dân quốc rút khỏi cửa lớn, tình hình vốn đã lắng dịu. Tôi đã dám có gan mắng quân đội Dân quốc trước các nhà báo, bỗng nhiên Trịnh Hiếu Tế vẻ mặt nghiêm trang xuất hiện hỏi tôi đã đọc báo chưa?
            - Đọc rồi, không có chuyện gì.
            - Hoàng thượng hãy đọc “Thuận Thiên thời báo” - ông rút tờ báo, chỉ vào đầu đề “Bài ca tự trị của phong trào đỏ hoá bình dân” để tôi đọc. Bản tin này nói: sau khi quân Phùng Ngọc Tường vào Bắc Kinh, chủ nghĩa đỏ hoá” nhân cơ hội hoạt động, gần đây xuất hiện mấy vạn tờ truyền đơn chủ trương “không cần chính phủ tự trị thật không cần pháp luật đại tự do”. Khi đó từ miệng Trịnh Hiếu Tế, Trần Bảo Thám và Johnston và tờ “Thuận Thiên thời báo” tôi thường nghe thấy, dọc thấy những lời quỷ quái Đảng Cộng sản là chủ nghĩa quá khích, chủ nghĩa đỏ hoá. Đỏ hoá, quá khích là hồng thuỷ, mãnh thú, cộng tài sản, cộng vợ, quân phiệt. Phùng Ngọc Tường và đỏ hoá, quá khích có liên quan... Hiện nay, căn cứ vào sự giải thích của Trịnh Hiếu Tế thì thiên hạ sắp loạn to, “chủ nghĩa đỏ hoá” diệt tôi là vấn đề càng không nghi ngờ gì nữa.
            Lời Trịnh Hiếu Tế đang khiến tôi kinh hoàng táng đảm thì La Chấn Ngọc âu sầu xuất hiện. Tôi luôn luôn rất coi trọng những tin tức của La Chấn Ngọc từ phía Nhật Bản. Lần này ông báo cáo: người Nhật được tin Phùng Ngọc Tường và các phần tử “quá khích chủ nghĩa” sẽ có hành động không có lợi đối với tôi. Ông nói: “hiện nay quân Phùng Ngọc Tường chiếm Di Hoà Viên, việc xảy ra có thể trong một vài ngày tới, Hoàng thượng phải sớm rời nơi này, đến Đông Giao Dân cảng ẩn nấp mới được.”
            Lúc đó, Johnston cũng tới, mang lại tin tức trên báo chí phương tây nói: Phùng Ngọc Tường sẽ có hành động lần thứ ba tới Bắc Kinh.
            Từ đó, tôi thở không ra hơi, ngay Trần Bảo Thám cũng kinh hoàng. Trần Bảo Thám đồng ý với ý kiến đó, cần tranh thủ lúc quân Phùng Ngọc Tường không có mặt đến lánh ở Đông Giao Dân cảng; trước tiên vào bệnh viện Đức vì bác sĩ Đức quen tôi. Tôi và hai thầy thì thầm bàn một kế sách, kế sách này không những tránh không để nhà đương cục Dân quốc biết, cũng cần đề phòng cha tôi.
            Chúng tôi tiến hành theo kế hoạch bí mật đó. Bước thứ nhất, tôi cùng với thầy Trần Bảo Thám đi thăm hai thái phi Kính Từ và Vinh Huệ, ra khỏi cung sau tôi mấy ngày đang ở ngõ bia Kỳ Lân sau khi thăm lại trở về Bắc Phủ gây ấn tượng tin cậy với Bắc phủ. Làm xong bước này, ngày hôm sau chúng tôi tính làm bước thứ hai, mượn cớ đến ngõ Biểu Giai xem một nhà ở chuẩn bị thuê, sau đó lượn một vòng đến Đông Giao Dân cảng trước lúc vào bệnh viện Đức. Bước thứ ba sẽ vào ở sứ quán. Chỉ cần đến được Đông Giao Dân cảng, thực hiện bước thứ tư dưa Uyển Dung tới là công việc xong xuôi. Tuy nhiên khi tiến hành bước thứ hai lúc chúng tôi vừa lên xe cha tôi cử quản gia Trương Văn Trị cùng đi với tôi. Tôi và Johnston ngồi xe đầu, Trương Văn Trị ngồi xe thứ hai.
            - Tình hình hơi phức tạp - Johnston dùng tiếng Anh nói với tôi.
            - Mặc kệ nó - tôi bực bội bảo lái xe nổ máy.
            Xe ra khỏi Bắc phủ. Tôi thật sự nghĩ rằng suốt đời sẽ không bao giờ bước vào nơi này nữa.
            Johnston cho rằng, mặc kệ Trương Văn Trị là không xong, cần nghĩ ra cách thoát khỏi hắn ta. Trên đường ông nghĩ ra một cách: trước hết chúng tôi dừng ở trước một cửa hàng  giả vờ mua đồ, sai Trương Văn Trị quay về.
            Có một cửa hàng mở ở cửa phía Tây vào Đông Giao Dân cảng, là nơi người nước ngoài mua bán đồng hồ, máy ảnh. Chúng tôi vào Ôlivơ, tôi đến quầy hàng chọn một chiếc đồng hồ đeo tay bằng vàng, lần lữa một lúc tuy nhiên Trương Văn Trị vẫn đứng ở bên ngoài. Không có ý bỏ đi. Đến lúc đó, Johnston phải đưa ra biện pháp cuối cùng, nói với Trương Văn Trị rằng tôi cảm thấy khó chịu cần đến bệnh viện Đức kiểm tra.Vẻ băn khoăn nghi ngờ, Trương Văn Trị cùng chúng tôi đến bệnh viện Đức. Đến bệnh viện, chúng tôi bỏ rơi anh ta. Johnston nói rõ với Dipper, bác sĩ Đức về ý tứ của chúng tôi, trước lúc đưa chúng tôi đến nghỉ ngơi ở một phòng bệnh. Trương Văn Trị thấy không ổn lập tức quay về. Chúng tôi biết hắn sẽ về Bắc Phủ báo tin cho cha tôi. Johnston không dám chậm trễ, lập tức đến sứ quán Anh giao thiệp. Ai ngờ, lần đi này liền tuyệt vô âm tín khiến tôi nóng lòng chờ đợi. Tôi sợ Trương Văn Trị lại đưa cha tôi tới. Chính lúc đang rối bời như vậy, Trần Bảo Thám và Trịnh Hiếu Tế tới.
            Nhật ký của Trịnh Hiếu Tế có đoạn ghi như sau:
            “…lên gác, chỉ thấy hoàng thượng nói: Jonhnston đã đến sứ quán Anh. Tôi bàn: Hoàng thượng nên đến sứ quán Nhật. Hoàng thượng bảo tôi đến nói trước với người Nhật. Tôi lập tức đến gặp Takemoto. Takemoto báo cáo với công sứ Yoshizawa. Công sứ bảo tôi “mời Hoàng thượng đến mau”. Lúc đó gió lớn, cát vàng mù trời, ngoài mấy bước không thấy mặt nhau.. Tôi đến bệnh viện, sợ xe ôtô không vâng lệnh, đề nghị đi xe ngựa. Lại sợ ngoài cửa nhiều người nên dẫn xe ngựa đến cửa sau. Một hộ lý đưa xuống gác, bác sĩ Đức cầm chìa khóa đi theo mở cửa, lên xe ngựa.
            Từ bệnh viện Đức đến sứ quán Nhật có hai ngả, một từ Đông Giao chuyển lên Bắc Phủ, hai là từ đường Trường An xuống phía Nam. Tôi bảo người đánh xe: “Đến sứ quán Nhật”. Người đánh xe lợi dụng lối phía Bắc gần nên đánh xe qua đường Trường An. Hoàng thượng sợ hãi nói: “đường có cảnh sát, sao lại ra đó”. Thấy xe đã chạy nhanh, tôi nói: “một lát tới ngay, ai dám ngờ trong xe có hoàng đế, xin đừng sợ”.
            Đến sứ quán Nhật, Takemoto đón, đưa hoàng thượng vào doanh trại”...
            Về Johnston, trong nhật ký Trịnh Hiếu Tế chỉ ghi một câu: “tại sứ quán Nhật, tôi có gặp ông thầy đi không quay lại này. Ông giải thích: “tôi đến sứ quán Anh, Macleay nói: ở đó rất chật chội, không tiện đón tiếp. Nay bệ hạ được công sứ Nhật đón tiếp thế là tốt rồi.
 
Đăng nhập để trả lời
0

Từ “khu sứ quán” đến “Tô giới”

 
            Ở thời đại ấy, “khu sứ quán” và “tô giới” đúng là nơi rất “hiếu khách”. Vào sứ quán Nhật Bản rồi tôi mới hay mình không phải là khách duy nhất ở đây. Lúc ấy còn có một nhân vật tên gọi Trương Dực Chi, mưu sĩ tâm phúc của Tào Côn, đại tổng thống trong cuộc bầu cử mua phiếu. Tào Côn không kịp trốn vào sứ quán, bị quân Dân quốc giam lỏng. Còn Trương Dực Chi nhanh chân hơn nên đã chạy được vào đây làm khách trọ. Còn nhớ, khi tôi lên làm vua lần thứ hai hồi bảy năm trước, Lê Nguyên Hồng bị Trương Huân đuổi gấp cũng đã ở nơi này. Sau khi tôi thoái vị lần thứ hai, Trương Huân bị Đoàn Kỳ Thụy rượt theo cũng làm khách trọ ở sứ quán Hà Lan. Mỗi khi công sứ quán phải tiếp đón khách đến thì khách sạn và bệnh viện trong khu sứ quán cũng tưng bừng, náo nhiệt lên bởi vì mỗi lần như thế, dù sao cũng có những người yếu bóng vía mà giá trị con người ấy lại không thuộc loại đủ tiêu chuẩn để vào ở. sứ quán mới đổ dồn đến đây làm cho nơi này đông như nêm cối, thậm chí đến cả gầm cầu thang cũng có người tình nguyện bỏ tiền và thuê. Trong các vụ Đinh Hợi, Đinh Tỵ và đến  lượt tôi bị đuổi ra khỏi Tử Cấm Thành lần này, có rất nhiều quý tộc Mãn Châu tranh nhau, xô lấn nhau đến đây ở trọ. Đã có lần chủ khách sạn dám ra một bản yết thị láo xược thế này.
            - Xét rằng người trọ trong khách sạn tới quá đông, gầm cần thang cũng ở chật ních, tình trạng vệ sinh rất kém, có lắm người còn khạc nhổ bừa bãi rất không văn minh. Nay quy định ai khạc nhổ xuống đất phải phạt 10 đồng bạc, nhất quyết không tha!
            Mặc dù chủ quán vô lễ như vậy, thế mà bao nhiêu người vẫn đổ đến đây như thiêu thân say lửa, lưu luyến đến quên cả đường về.  
            Nhiệt tình ở đây đối với tôi thật thắm thiết chưa từng có mà có lẽ sau này cũng không bao giờ có nữa. Khi tôi cho người trở lại Bắc Kinh đón Uyển Dung, Văn Tú bọn cảnh sát ở đấy không chịu để cho họ đi. Sứ quán đã cử một viên bí thư đặc cách đi can thiệp việc này nhưng cũng không thành công. Cuối cùng công sứ Yoshizawa thân hành đến tìm Đoàn Kỳ Thụy nói chuyện thì Uyển Dung, Văn Tú mới được thái giám và cung nữ của họ đưa đến nơi tôi ở.
            Chủ nhân sứ quán thấy xung quanh tôi có một đám đông người như vậy rõ ràng là ba gian nhà không thể chứa xuể nên đã dành riêng một tòa nhà lầu để tôi sử dụng. Thế là toàn bộ quân tướng của tôi - quan hành tẩu Nam thư giám, cung nữ, nữ tỳ , đầu bếp… ai nấy có nơi ăn, chốn ở của mình. Trong công sứ quán Nhật Bản, Phòng tâu việc và phòng trực ban của “Hoàng đế Đại Thanh” lại được phục hồi toàn bộ.
            Điều quan trọng là công sứ Yoshizawa đã tranh thủ được sự hiểu biết và thông cảm của phủ chấp chính đối với tôi. Ngoài việc biểu thị rõ ràng với công sứ Yoshizawa Phủ chấp chính còn phái trung tướng lục quân Khúc Hồng Phong thân hành đến tận nơi đại tá Takemoto ở doanh trại quân đội Nhật Bản một lần nữa xác định.
            Phủ chấp chính hết sức tôn trọng ý chí tự do của vua thoái vị và trong phạm vi có thể làm  được tình nguyện giữ gìn an toàn về tính mạng, tài sản của nhà vua thoái vị cùng những người có liên quan với nhà vua.
            Các vương công đại thần do cha tôi đứng đầu khuyên tôi trở về, nói rằng hiện nay Bắc Phủ đã an toàn. Đoàn Kỳ Thụy và Trương Tác Lâm có mặt ở đây nhất định quân quốc dân không dám giở trò bậy bạ và còn nói Đoàn Kỳ Thụy và Trương Tác Lâm đã đảm bảo với họ như vậy. Nhưng tôi tin lời bọn La Chấn Ngọc nói: Đoàn Kỳ Thụy và Trương Tác Lâm phải đảm bảo thế vì tôi đã vào ở trong sứ quán nên mới nói đãi bôi. Nếu tôi còn ở Bắc Phủ, quân Dân quốc còn ở Bắc Kinh thì đảm bảo gì cũng không chắc. Tôi từ chối, sự thật thì các vương công cũng đang tìm nhà ở khu sứ quán, và sau có người vào doanh trại quân đội Đức, có người vào Lục Quốc phạn điếm. Cha tôi thì một mặt khuyên tôi, mặt khác lại thuê các kho hàng ở nhà thờ Tây Thập Khố để cất dấu của cải, châu báu của mình. Về sau, các em trai, em gái tôi ở Bắc Phủ cũng chạy vào ở Tây Thập Khố.
            Thấy sứ quán Nhật Bản ân cần chăm sóc tôi ngay những di lão không có tên tuổi gì cũng hoạt động hẳn lên. Họ từ các nơi điện cho Đoàn Kỳ Thụy yêu cầu phục hồi chế độ ưu đãi; họ gửi tiền đến (gọi là “tiền phụng”) cho tôi chi dùng. Có người từ tỉnh ngoài lặn lội tới Bắc Kinh để thỉnh an tôi, để bí mật trình bày kế lớn. Như được uống thang thuốc kích thích, các vương công Mông Cổ gửi điện, đưa đơn chất vấn Phủ chấp chính định giải quyết chế độ ưu đãi ra sao. Phủ chấp chính phải vội vã trả lời là vẫn theo như tục lệ cũ, không thay đổi gì hết. Thái độ của các vương công đại thần cũng cứng rắn lên, từ chối không dự “Ủy ban giải quyết những việc của nhà Thanh”.
            Các di lão, quan lại cũ hết tỏ lòng khí khái, thỉnh an lại đưa “tiền phụng” bí mật trình bày các loại “kế hoạch trung hưng to lớn”. Thậm chí còn chất vấn Phủ chấp chính, tấp nập ra vào sứ quán Nhật Bản ngày một dông. Đến ngày tết nguyên đán âm lịch, trong căn phòng nhỏ của tôi bỗng nhiên mọc lên chi chít những bím tóc đuôi sam. Thay cho ngai vàng, tôi ngồi trên chiếc ghế kiểu Tây lưng quay về phía Bắc, mặt hướng về phía Nam tiếp nhận lễ mừng của  quần thần.
            Rất nhiều di lão lòng tràn ngập cảm kích đối với chủ nhân của sứ quán. Qua sự chiêu đãi của sứ quán, họ đã thấy có hy vọng hay ít nhất về tâm lý cũng được thoả mãn nào đó. Trong sớ tâu Vương Quốc Duy nói:
            - Công sứ Nhật.Bản...  không phải chỉ vì sự tôn nghiêm của hoàng thượng mà còn vì coi Hoàng thượng là vị chủ chung của Trung Quốc sau này. Như vậy, phàm là kẻ bề tôi, ai mà không vui mừng, sung sướng.
            Qua tết nguyên đán âm lịch lại sắp đến ngày sinh của tôi thọ lần thứ 22. Tôi vốn không muốn làm tiệc thọ ở nhà người ta, không ngờ chủ nhân nằng nặc đòi chiều bằng được ý tôi mới nghe, đòi để cả gian lễ đường của sứ quán để tôi làm nơi tiếp nhận lễ mừng. Lễ đường đã  bày biện xong, mặt đất trải thảm lộng lẫy, trên chiếc ghế bành dùng làm ngai vàng phủ đệm gấm vàng, bức bình phong sau ghế dán giấy vàng, những người hầu đều đội mũ loe ngũ đỏ của triều Thanh. Đến hôm sinh nhật, những di lão của các tỉnh, thành phố Thiên Tân, Thượng Hải, Quảng Đông, Phúc Kiến v.v.. kéo về tới hơn một trăm người. Nhân viên các sứ quán ở Đông Giao cũng có người tới dự, cộng với vương công  đại thần, di lão các địa phương nhiều tới năm, sáu trăm người. Vì đông người quá đành phải theo thể lệ cũ, viết ra chương trình thứ tự chia ban mà lần lượt làm lễ mừng.
            Hôm ấy tôi mặc áo thụng lụa nâu hoa tím, ngoài phủ áo chẽn đoạn đen, vương công đại thần và di lão ở các nơi cũng mặc tương tự như thế. Ngoài điểm đó ra, về nghi lễ không có gì khác trong cung. Không khí của màu vàng chói,  bím tóc và lễ “ba quỳ, chín lạy” làm cho tôi bỗng vô cùng buồn đau, sầu não. Sau khi làm xong mọi nghi thức, do sự thúc đẩy nào đó, tôi ứng khẩu đọc bài diễn văn trước năm sáu trăm người ngay ở trong sân. Bài diễn văn đó được các báo ở Thượng Hải đăng lên. Không hoàn toàn đúng nhưng đoạn này thì những nét lớn không sai:
            “Ta năm nay hai mươi hai tuổi, còn non trẻ, không đủ để nói là thọ. Huống chi, hiện giờ là lúc lâm nan phải ăn đậu nằm nhờ, thì lại càng không có lòng nào bày vẽ tiệc thọ. Nhưng các khanh từ xa tới đây, ta rất muốn nhân dịp này gặp các khanh, và càng muốn nhân dịp này, nói chuyện với các khanh. Theo thế lớn của thế giới, đế vương là không thể tồn tại được nữa, ta rất biết rõ, nhất quyết không phiêu lưu theo sự nguy hiểm đó. Hàng ngày ở sâu trong đại nội, khác nào kẻ bị tù đồ, bao nhiêu cái ràng buộc mất hết tự do, đó là điều ta không muốn chút nào. Từ lâu ta đã có ý định xuất dương du học, nên hàng ngày chuyên tâm nghiên cứu Anh  văn, vốn là để chuẩn bị cho việc xuất dương. Song vì trong đó có nhiều cái gò bó nên không thể thực hiện ngay được. Còn điều kiện ưu đãi có tồn tại hay không, đối với ta thật không đáng kể. Nhưng việc đó phải do ta tự động xoá bỏ mới được, nhất định không được do người khác cưỡng bức. Điều kiện ưu đãi do hai bên ký kết với nhau khác nào điều ước quốc tế, tuyệt nhiên không phải một bên ra mệnh lệnh mà đổi thay đi được. Lần này, Phùng Ngọc Tường phái quân đội vào cung quá ư cưỡng bức, quả thật không hợp lý, hợp tình. Nếu việc này đưa ra bàn bạc tử tế, thiết nghĩ cũng có thể làm được đến nơi đến chốn. Ta không muốn bo bo giữ danh hiệu hão ấy, đó là thành tâm thiện ý của ta từ lâu, nếu dùng uy lực quân đội bức hiếp, ta cảm thấy không vui lòng chút nào. Đối với Dân quốc hành động dã man ấy cũng làm nhà nước mất thể  diện không ít, mất uy tín không ít, huống hồ đuổi ta ra khỏi cung cấm là có tác dụng khác. Không cần ta nói rõ chắc các khanh cũng biết cả rồi. Lần này ta là người không có chút thế lực nào, Phùng Ngọc Tường dùng thủ đoạn ấy với ta, thắng đã không vinh dự, huống chi tình hình bức hiếp lúc rời khỏi cung, khác nào một sự lăng nhục, một đôi lời khó mà nói hết được. Đuổi ta ra khỏi cung còn lý mà nói được nhưng tại sao lại giữ cả quần áo, đồ dùng, giấy tờ của bao đời tiên tổ ta để lại, thậm chí đến cả chén cốc bát đĩa và đồ dùng thổi nấu trong bếp cũng không cho mang đi. Đó cũng là vật đáng tiền ư. Hành động như thế e rằng so với lũ giặc cướp tội tù cũng chưa chắc đã đến nỗi phải khe khắt đâu vậy. Chỉ riêng phía họ nói rằng việc phục tích năm Đinh Tỵ là phá vỡ điều kiện ưu đãi, cần phải hiểu rằng năm Đinh Tỵ ta mới 12 tuổi có năng lực tự động phục tích hay không, không cần rườm lời bàn cãi. Nhưng từ khi thành lập điều kiện ưu đãi đến nay, cái gọi là khoản tiêu phí hàng năm đã từng được phát đúng hẹn lần nào chưa? Rõ ràng chịu trách nhiệm phá vỡ đó trước tiên là Dân quốc. Thế mà nay họ lờ tất không đả động đến, chỉ một mực đổ tội cho việc phục tích năm Đinh Tỵ. Như vậy là không công bằng. Hôm nay ta nói đây không phải là vì bực dọc mà vì trong lòng uất ức, không thể không nhân cơ hội này nói hết ra. Được cái may là có quốc hội phát hiện, nếu như lòng người còn chưa hẳn đen tối, chắc là phải có sự giải quyết công bằng, ta chỉ bình tĩnh chờ đợi mà thôi. Ta còn trịnh trọng thanh minh rằng, có người đưa ra kiến nghị khuyên ta vận động ngoại giao đứng ra can thiệp hộ. Ta đến chết cũng không nghe theo, nhất quyết không bao giờ mượn thế lực người nước ngoài can thiệp vào nội chính của Trung Quốc”...
            Khoảng thời gian trước và sau khi tôi làm sinh nhật, trên nhiều báo đã xuất hiện dư luận công kích nhóm người chúng tôi, phản ảnh sự công phẫn của nhiều người trong xã hội do việc tôi bán mình cho người Nhật, do hành động láo xược của tiểu triều đình được nhà cầm quyền nuông chiều dung túng và được người ngoài bao che, nâng đỡ. Ngay lúc ấy, khi “Uỷ ban giải quyết các việc tồn tại của nhà Thanh” kiểm điểm tài sản ở trong cung tìm thấy một số tài liệu như lời bạt của Viên Thế Khải lúc làm vua đã tự tay viết ra điều kiện ưu đãi; các văn bản, chứng từ của Phủ nội vụ về việc cầm cố, bán hạ giá, chuyên chở đồ cổ ra nước ngoài v.v.. đều được cộng bố rộng rãi. Thế là dư luận sôi sục lên. Cố nhiên, điều làm người ta căm phẫn hơn cả là mối quan hệ của triều đình với người Nhật cùng cuộc vận động “yêu cầu phục hồi điều kiện ưu đãi” do các di lão khuấy lên. (Khi tôi làm sinh nhật, trên báo đăng là có trên 300 người ở 15 tỉnh; chia làm 13 nhóm ký tên chung vào đơn thỉnh nguyện). Để đối phó lại tiểu triều đình, ở Bắc Kinh xuất hiện một đoàn thể gọi là “Đại đồng minh phản đối ưu đãi nhà Thanh” tiến hành những hoạt động chống đối gay gắt. Sự công phẫn đó của xã hội biểu hiện trên báo chí bằng những tiểu phẩm châm biếm, cũng có những bài lên án chính diện một cách nghiêm  túc; có bài khuyên can tôi một cách đầy thiện ý.  Cũng có bài viết theo kiểu cảnh cáo đối với công sứ quán Nhật Bản và nhà cầm quyền Dân quốc. Ngày nay mới thấy việc tôi chỉ tiếp thu một ý kiến trong số những bài đó thôi cũng không đến nỗi làm cho nửa đời trước của tôi sa đọa đến vậy. Còn nhớ mấy bài tố cáo âm mưu đen tối của người Nhật Bản mà nay tôi đã tìm thấy. Đó là một tin của “Tân văn phiên dịnh xã” đăng trên tờ Kính báo trong đó có một đoạn nói rõ dự định của người Nhật đối với tôi. Bài đó sao mà khớp với những việc xảy ra sau này đến thế khiến tôi vô cùng kinh ngạc.
            “Sự ám muội cực lớn là đặc cách nuôi dưỡng hắn, đợi đến khi tỉnh X xảy ra sự đột biến gì là lập tức dùng sức mạnh hộ tống hắn đến đó khôi phục lại địa vị, tôn hiệu xa xưa của tổ tiên hắn, tách rời khỏi Dân quốc, chịu sự bảo hộ của nước X. Bước thứ hai là cũng thực hiện cùng một biện pháp ấy để X và hắn gộp hai nước làm một”.
            Đoạn sau bài báo do còn nói: “Sự hoảng sợ và việc đi trốn của Phổ Nghi lần này vì có người cố tâm doạ nạt mà rơi vào cạm bẫy ắt hẳn là có kế hoạch từ lâu... Người ta vung tiền bạc, cung cấp đầy đủ mọi thứ ưu đãi hiện nay nên bao  nhiêu nhân viên tùy tùng đều được nước X mua chuộc cả. Những người này không biết rằng họ đã rơi vào vòng lung lạc của người ta mà sau này trở thành con rối”. Lúc đó có nhiều bài rõ ràng tác giả không phải là đảng viên Cộng sản mà cũng không phải là đảng viên Quốc Dân đảng, ví dụ như bài bình luận ngắn của “Kinh báo”, có lẽ còn là tay người một lòng trung nghĩa với phong kiến mà viết ra biểu hiện sự quan  tâm đến quyền lợi của tôi, sự việc nói đến cũng  là thật
            “Di lão có hận thù gì với họ Ái Tân Giác La cớ sao phải làm cho của hết, nhà tan mới hả dạ?
            Kết quả cuộc kiểm kê tài sản trong cung cấm nhà Thánh mới biết rằng một phần rất lớn trong số những đồ cổ đó đã bị cầm cố, bán chác ngay cả Kim bảo, Kim sách của các đời vua cũng đều ở trong kỳ hạn cầm cố. Dù những dân thường đến lúc khốn khó, cùng cực cũng không đến nỗi bán đá bia trên mộ, hoành phi nhà thờ tổ tiên, tại sao Kim sách chói lọi của bao đời Hoàng hậu cũng đều lọt vào tay con buôn bụng phệ, áo dài…
            Tôi kính xin bày đặt kế hoạch cho lớp trung thần, hãy dấy lên lòng trung nghĩa, mưu đồ an ninh cho con côi của chủ cũ, chớ có khoe khoang ầm ỹ suông mà để bọn con buôn trục lợi, vớ bẫm những món hàng lời. Khiến những vật trần thiết lý lịch không rõ ràng được bày đầy các phòng, các sảnh”.
            Đọc bài báo như vậy, tôi không còn cảm thấy người ở Phủ nội vụ là không đáng tín nhiệm như hồi tôi còn ở cung cấm đối với tờ Kinh báo và tác giả bài bình luận ngắn ấy tôi dứt khoát coi là kẻ thù của mình. Còn với các bài chỉ trích khác, phản ứng của tôi chỉ là thù hận.
            Ở sứ quán Nhật Bản, vì tính hiếu kỳ mà tôi cùng mấy người hầu cưỡi xe đạp nửa đêm ra ngoài chơi (về sau sứ quán Nhật khoá cổng chính không để cho tôi ra nữa), có một lần tôi cưỡi xe đạp đến sông Ông ở ngoài Tử Cấm Thành mà tôi mới rời khỏi không bao lâu, nhớ đến ngai vàng và các thứ đồ vật của tôi đều một màu vàng chói, ý chí phục thù và phục tích dã tràn ngập tim tôi, bất giác người tôi nóng ran như lửa đốt, mắt rưng rưng lệ. Tôi ngầm thề rằng sau này tôi nhất định phải trở lại đây với tư thế một ông vua chiến thắng như tổ tiên đời thứ nhất của tôi.
            - Tạm biệt!
            Tôi khe khẽ nói lên hai tiếng mang hai ý nghĩa đó rồi nhảy lên xe đạp phóng đi.
            Ba tháng ở sứ quán, cái mà tôi tiếp xúc hàng ngày là sự chăm sóc ân cần của chủ nhân Nhật Bản, lời thề thốt trung thành của các di lão và sự phản kháng gay gắt ở ngoài xã hội dội đến. Tham vọng và hận thù của tôi ngày đêm không ngừng phát triển dưới ba loại ảnh hưởng khác nhau ấy. Tôi nghĩ cứ nằm khàn thế này là không được, đã đến lúc tôi cần phải tiến hành chuẩn bị cho tương lai của tôi, sự dự tính từ hồi trước kia nay lại trở lại đầu óc tôi - tôi cần phải xuất dương sang Nhật Bản.
            Đối với ý định của tôi, sứ quán đều tỏ ý ủng hộ, công sứ quán không chính thức bày tỏ ý gì nhưng viên bí thư thì công khai tỏ ý nhiệt tình.
            Sau sinh nhật tôi không lâu, La Chấn Ngọc đến nói với tôi: ông ta cùng Jkebe bàn bạc xong xuôi. Việc xuất dương phải đến Thiên Tân làm công việc chuẩn bị, ở đây không được tiện lắm. Đến Thiên Tân, tốt nhất tìm một ngôi nhà trong tô giới Nhật Bản để ở, toà nhà tậu trước kia trong tô giới Anh, địa điểm không thích hợp. Thấy ông ta nói có lý và bản thân tôi cũng muốn xem cái thành phố to lớn ấy nên đã đồng ý ngay. Tôi phái “Nam thư phòng hành tẩu” tìm nhà ở tô giới Nhật Bản, kết quả đã chọn được biệt thự “Trương Viên”.
            Mấy hôm sau La Chấn Ngọc lại đến nói “Trương Viên đã chuẩn bị tươm tất, hiện nay quân Quốc Dân đảng đang dời đến, trên đường sắt chỉ có lèo tèo một ít quân đội Phụng Thiên, chính là cơ hội tốt, có thể khởi hành ngay”. Tôi đem việc này nói với công sứ Yoshizawa, ông  ta tỏ ý tán thành tôi đi Thiên Tân. Về việc di chuyển của tôi, công sứ nhật Bản đã cho người đến báo cho Đoàn Kỳ Thụy biết. Đoàn Kỳ Thụy cũng tỏ ý bằng lòng và còn muốn cho quân đội hộ tống nữa. Nhưng công sứ Yoshizawa đã từ chối sự quan tâm ấy. Ông ta quyết định cho viên trưởng ty cảnh sát và cảnh sát mặc thường phục của sứ quán Nhật ở Thiên Tân đến Bắc Kinh để hộ tống tôi đi, còn Uyển Dung và  những người khác đi sau. Như vậy là công việc đã bàn xong.
            Bảy giờ tối ngày 23 tháng 2 năm thứ 14 Dân quốc, tôi từ biệt vợ chồng công sứ Yoshizawa. Chúng tôi chụp ảnh chung, tôi ngỏ lời cảm ơn họ. Họ chúc tôi đi đường bình yên rồi dưới sự che chở của Jkebe Masatoba và cảnh sát Nhật, tôi ra cổng sau sứ quán Nhật Bản đi bộ đến ga Tiền Môn Bắc Kinh. Trên xe tôi đã thấy cha con La Chấn Ngọc. Suốt con đường xe chạy, mỗi khi đến ga đỗ lại, lại có vài tên cảnh sát Nhật Bản mặc thường phục lên xe. Lúc đến Thiên Tân, quá nửa xe là những người như thế. Viên tổng lãnh sự Yoshida Shigera của Nhật Bản ở Thiên Tân cùng sĩ quan binh lính đồn trú chừng mấy chục người đã đến đón tôi xuống xe.
            Ba hôm sau, lời tuyên bố của sứ quán Nhật Bản xuất hiện trên “Thiên Tân nhật báo”:
            “Trong lúc vua Tuyên Thống triều Thanh tạm trú ở sứ quán chúng tôi, đêm 23 đột nhiên khởi hành đi Thiên Tân. Ngay chiều 24 sứ quán chúng tôi đã thông báo cho Đoàn chấp chính cùng tổng trưởng ngoại giao biết sự việc. Vua Tuyên Thống vốn có ý định rời Bắc Kinh từ lâu. Chính phủ chấp chính đã sớm biết rõ nhưng  không hề có ý cản trở. Đó là điều mà sứ quán chúng tôi cũng hiểu biết nhưng đinh ninh là từ dự định đến ngày thực hành chắc còn phải một thời gian lâu. Không ngờ lại rời Bắc Kinh nhanh chóng như vậy. Ý hẳn là vì mấy hôm nay báo chí luôn luôn đăng những tin tình hình không ổn định nên nhà vua phải đi gấp v.v…”
 
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG IV HOẠT ĐỘNG Ở THIÊN TÂN  
 

Cố gắng của La Chấn Ngọc 

 
            Đến Thiên Tân mới biết không phải như La Chấn Ngọc nói “nơi ở đã chuẩn bị thỏa đáng”. Vì đầu tiên tôi ở một ngày trong khách sạn Đại Hòa. Ngày hôm sau, Uyển Dung, Văn Tú và những người của sứ quán Nhật Bản đều tới mới chuyển đến Trương Viên, nơi bố trí một cách vội vã.  
            Trương Viên là một khu vườn rộng khoảng hơn một hecta trong đó có một ngôi nhà mà người Thiên Tân gọi là lầu Bát giác. Đây là nơi vui chơi của Trương Bưu, Thống chế trấn thứ 8 đóng ở Vũ Xương triều nhà Thanh trước đây. Khi khởi nghĩa Vũ Xương, Trương Bưu sợ hãi đến vứt cả ấn tín, ôm châu báu vàng bạc cùng gia đình chạy đến Thiên Tân làm kẻ lưu vong ở khu tô giới Nhật bản. Tôi vừa đến Trương Viên, vị “danh tướng” triều Thanh này kiên quyết không thu tiền thuê nhà, mỗi buổi sáng đến mang một chiếc chổi, đích thân đến quét nhà cho tôi, đại thể là bày tỏ lòng trung thành của mình. Sau đó, không rõ có ai khuyên can, ông ta mới vứt cái chổi đi. Tôi ở nơi này 5 năm. Sau khi Trương Bưu chết, con trai ông ta đòi tiền thuê nhà. Tôi cũng thấy thiếu tiền nhà của hắn không tiện do đó lại chuyển đến “Tĩnh Viên” của Lục Tôn Hưng.
            Mục đích tôi đến Thiên Tân vốn là để ra nước ngoài. Kết quả đã ở đó bảy năm. Trong bảy năm đó, tôi sống trong sự ngả nghiêng giữa các phái di lão, các loại chủ trương. Khi đó, lực lượng các vùng bên cạnh tôi đã sút giảm rất nhiều. Lúc mới đầu, cha tôi không hay đến Thiên Tân, sau đó đã đến luôn (ở tại căn phòng nhà tôi mua từ trước ở khu tô giới Anh). Đối với tôi ông cũng không có tác dụng gì. Trong thời gian đó thầy Johnston bỏ tôi đến làm chuyên viên ở Uy Hải Vệ (44). Sau là tô giới Anh trong 25 năm. Sau khi chính phủ Trung Quốc thu hồi Uy Hải Vệ, năm 1926 ông đến Thiên Tân và gặp tôi một lần. Ông chạy vạy cho tôi với đám Ngô Bội Phu nhưng không có kết quả gì. Sau đó ông về nước Anh nhận tước vị Huân tước, làm giáo sư Hán học trường đại học Luân Đôn kiêm cố vấn Bộ Ngoại giao Anh. Trong 7 năm đó, những nhân vật gắn bó chúng tôi đại thể chia làm mấy phái.
            Một phái gồm đám cựu thần do Trần Bảo Thám đứng đầu, lúc đầu đặt hy vọng vào việc khôi phục quyền ưu đãi, sau co lại thành duy trì nguyên trạng, có thể gọi là phái “Hoàn cung”.
            Một phái đứng đầu là La Chấn Ngọc trong đó có một số di thần già, trẻ, cũng có vương công cá biệt như Phổ Vĩ, đặt hy vọng vào việc liên lạc, mua chuộc bọn quân phiệt tức cái gọi là phái “dùng vũ lực”. Các nhân vật của phái này rất phức tạp; có di lão triều Thanh trước, cũng có cả chính khách Quốc Dân Đảng, nhân vật trung tâm là bản thân tôi. Sau đó, Trịnh Hiếu Tế lại về bên cạnh tôi. Mới đầu ông ta cũng không thuộc phái nào, hầu như đã từng tán thành và cũng đã phản đối chủ trương của bất cứ phái nào. Sau đó, khi khẳng định chủ trương dựa vào Nhật Bản, ông ta đã chiến thắng mọi đối thủ. Không những ông ta đã chiến thắng họ, trong giai đoạn giành giật này ngay những thành quả kinh doanh trong nhiều năm của La Chấn Ngọc, thủ lĩnh cũ của phái “Liên Nhật”, đối thủ cũ của ông ta cũng dần dần bị ông ta thâu tóm. Song  đó là chuyện sẽ nói sau, ở đây trước hết hãy nói về La Chấn Ngọc.
            Khi La Chấn Ngọc vào cung mới hơn năm mươi tuổi. Người tầm thước, đeo kính cận gọng vàng (trước mặt tôi ông bỏ kính ra). Cuối triều Thanh ông làm tới Học bộ tham sự, vốn không thể tiếp cận với tôi. Sau khi tôi kết hôn, do sự tiến cử thăng chức, cũng do ông nổi tiếng về khảo cổ học, tôi tiếp thu đề nghị của Trần Bảo Thám, giữ làm Hành tẩu Nam thư phòng, mời tham gia giám định các loại đồ cổ trong cung. Một số học giả nổi tiếng thỉnh thoảng qua lại với ông ta có anh em rể Vương Quốc Duy và Kha Cật Mân, nổi tiếng về sửa Nguyên sử. Trần Bảo Thám cho rằng Nam thư phòng có mấy người đó tăng thêm uy tín cho nhà Thanh. Đương nhiên,tiếng tăm của La Chấn Ngọc về mặt hoạt động phục tích được tôi chú ý hơn là về mặt học thuật. Năm cách mạng Tân Hợi, ông sang phía Đông, sống lưu vong ở Nhật bản 10 năm, viết sách khảo cổ. Thăng Sung và Thiện Kỳ đến Nhật bản hoạt động tìm kiếm viện trợ phục tích đã cùng ông ta kết thành bè bạn. Sau đó Thăng Sung chán nản về ở Thanh Đảo một thời gian rồi chạy về sống lưu vong ở khu tô giới Nhật tại Thiên Tân. Thiện Kỳ định cư ở Lữ Thuận - Đại Liên được người Nhật nuôi dưỡng. So với hai người, La Chấn Ngọc hoạt bát hơn. Năm 1919, ông ta về nước, đầu tiên ở Thiên Tân, kết giao với người Nhật. Sau đó mở một của hàng đồ cổ ở bến tàu Đại Liên tên là Hắc Duyên Đường, vừa mua bán đồ cổ, vừa tiếp tục lôi kéo người Nhật, tìm kiếm những người đồng minh phục tích.
            Nghề kinh doanh kiếm tiền bằng đồ cổ, tranh vẽ, vàng, đá quý... của La Chấn Ngọc đã có từ lâu ông xuất thân tại một nhà bán sách cũ ở huyện Thượng Lư tỉnh Chiết Giang. Đến tuổi trưởng thành ông dạy học ở một nhà thân sĩ lớn họ Khâu tỉnh Giang Tây. Vị thân sĩ lớn này là một nhà bảo tàng sách. La Chấn Ngọc dạy học được ba năm thì ông chủ đột ngột qua đời. Lợi dụng con gái ông chủ không biết gì, La Chấn Ngọc một mặt làm ra vẻ rất đau thương, từ chối không nhận một năm tiền học để góp vào việc tang lễ, mặt khác tỏ ý muốn được giữ  lại của chủ nhà một số sách và tranh vẽ cũ làm kỷ niệm. Con gái chủ nhà cho rằng tấm lòng ông thầy này quá tốt nên đề nghị ông tự đến lầu chứa sách tùy ý lựa chọn. Do đó, ông thế tử buôn sách này liền chọn ra mấy hòm “Kỷ niệm phẩm” trong đó có hơn một trăm cuốn Kinh do người đời nhà Đường viết, hơn 500 bức tranh vẽ đời Đường, Tống, Nguyên, Minh chất đầy mang về. Trên cơ sở đó, do ông ta khắc các cuốn sách Tam tự Kinh, Bách gia tính... nên trở thành nhà buôn đồ cổ, tranh cổ, buôn bán ngày càng phát đạt, danh tiếng là nhà kiểm định tranh vẽ, đồ cổ ngày càng lớn. Sau đó cũng thông qua con đường mua bán các loại văn vật cổ, ông ta lập được quan hệ với người Nhật. Trong những năm ở Nhật bản, kết giao với một số nhân vật có tên tuổi, nhiều người Nhật coi ông ta là giới có thẩm quyền về học thuật văn vật cổ Trung Quốc thường đưa tranh vẽ đến để ông giám định. Ông ta khắc một số con dấu “La Chấn Ngọc giám định”, “La Chấn Ngọc thẩm định”. Các nhà buôn đồ cổ Nhật bản mỗi lần đưa tranh đến để ông ta đóng dấu phải trả 3 đồng Yên (Nhật), sau đó mang đi lừa dối người. Về sau, ông ta còn phát triển đến mức theo mẫu dấu nổi tiếng của người xưa, trên các bức vẽ vô danh, thêm vào dấn “La Chấn Ngọc giám định”, bán với giá cao. Thường lấy cớ bận rộn, ông ta giữ lại những thứ đồ dùng quý giá người ta mang tới nhờ ông giám định, ra sức in một số mảnh in để bán.
            Sách bản in đời Tống do Hắc Duyên Đường của ông ta bán ra, nghe nói có một số làm giả bằng giấy phi cống của Cố Cung. Khi đó, tôi hoàn toàn không biết chuyện này. Có người nói: nhân phẩm La Chấn Ngọc cố nhiên không tốt, tài học còn được. Theo tôi, tài học của ông ta có bao nhiêu cũng rất đáng hoài nghi. Trong thời kỳ ngụy Mãn, một lần ông ta mang tới một số ngọc đời Hán mời tôi xem. Đối với Hán ngọc tôi không thể nói có nghiên cứu gì chỉ vì tôi vô cùng ưa thích, thu nhập không ít. Cái gọi là không sợ không biết hàng, chỉ sợ hàng so sánh với hàng, đương nhiên, gọi là Hán ngọc cũng không phải nhất định là triều Hán mà chỉ là quen gọi đồ ngọc cổ. Xem qua Hán ngọc do La Chấn Ngọc mang tới tôi ngầm giật mình về “tài học” của ông ta vì rằng toàn bộ đều là đồ giả...
            Điểm nút tranh luận giữa hai phái lúc mới đầu là có ra nước ngoài hay không? Sau khi tôi từ sứ quán Nhật Bản tại Bắc Kinh chạy xuống tô giới Nhật Bản ở Thiên Tân, sự đả kích của xã hội đạt tới cao trào mới. Thiên Tân xuất hiện một “Đồng minh chống đại Thanh” đối chọi với tôi. Đám người của La Chấn Ngọc nhân cơ hội đó nói với tôi: dù để an toàn hay phục tích ngoài việc ra nước ngoài, không còn con đường nào khác. Thanh thế của đám này một thời lớn mạnh, ngay một nguyên lão ở Quảng Đông là Trần Bá Đào cũng gửi lời tâu nói: “Không ra nước ngoài khó giữ được an toàn, càng khó mưu đồ khôi phục”, đồng thời chủ trương: sau khi du lịch Âu - Mỹ có thể định cư ở Nhật bản để đợi thời cơ thay đổi.
            Đám Trần Bảo Thám thì cho rằng: điều đó hoàn toàn là hành động nông nổi.  
            Họ cho rằng: một là Phùng Ngọc Tường chưa chắc đã đứng vững, nguy hiểm cũng không lớn; mặt khác, xuất dương đến Nhật bản, Nhật bản chưa chắc hoan nghênh. Nếu như ở Nhật bản không xong, mà trong nước lại không dung càng không thể mong đám Đoàn Kỳ Thụy và Trương Tác Lâm cho tôi về Tử Cấm Thành. Khôi phục tình hình như trước. Tôi cảm thấy không ưng ý kiến của đám người Trần Bảo Thám song sự cảnh cáo mà họ nêu ra khiến tôi chú ý. Tôi do dự đối với chủ trương của Trần Bảo Thám.
            Năm 1926, chính cuộc đã có lúc xảy ra biến động như đám Trần Bản Thám hy vọng. Trương Tác Lâm chuyển sang liên hợp với Ngô Bội Phu, cuối cùng Trương Tác Lâm và Phùng Ngọc Tường nổ ra xung đột. Quân của Phùng Ngọc Tường bị quân Phụng Thiên công kích. Phùng Ngọc Tường rút quân đội ở Thiên Tân. Quân của Phùng ở Bắc Kinh ở vào thế bị bao vây. Đoàn Kỳ Thụy cấu kết với Trương Tác Lâm bị quân Phùng Ngọc Tường phát hiện. Đoàn Kỳ Thụy bỏ chạy, tiếp đó quân của Phùng Ngọc Tường không trụ được ở Bắc Kinh, rút lui về Nam Khẩu. Quân Phụng Thiên của Trương Tôn Xương tiến vào Bắc Kinh. Khoảng tháng 7, “hai đại soái” Trương Tác Lâm và Ngô Bội Phu gặp nhau ở Bắc Kinh khiến phái “hoàn cung” vô cùng lạc quan. Phái “hoàn cung” lại hoạt động nhộn nhịp. Trần Bảo Thám ở bên cạnh tôi đã đích thân về Bắc Kinh, tìm Đỗ Tích Khuê, bạn cũ của mình mới được cử làm thủ tướng nội các để hoạt động. Bên ngoài, Khang Hữu Vi gửi điện cho Ngô Bội Phu, Trương Tác Lâm và Trương Tôn Xương kêu gọi khôi phục điều kiện ưu đãi. Khang Hữu Vi gửi một bức thư dài cho Ngô Bội Phu, ca ngợi “công đức” của triều Thanh, lấy lý do “Trung Hoa làm Dân quốc do triều Thanh nhường cho, không phải là Dân quốc tự mình giành được”, đề nghị Ngô Bội Phu nhân thời cơ phục tích. Ông ta nói với Ngô Bội Phu: đám Trương Tác Lâm không có vấn đề, về mặt ngoại giao cũng có sự đồng lòng, thậm chí “người Quốc Dân Đảng khi nói chuyện riêng tư cũng không lấy việc phục tích làm ngạc nhiên”, “sĩ phu toàn quốc không ai không nghi ngờ Quốc Dân và chủ trương phục tích”, vì vậy “nay chờ minh công quyết định”.
            Thực ra, tuy các hệ quân nhân phía Bắc bỗng nhiên lại hợp tác. Trương Tác Lâm lại được tôn làm Tổng tư lệnh An quốc quân, trong năm 1924 bắt đầu sự hợp tác lần thứ nhất giữa Quốc Dân Đảng và cộng sản. Quân tiền phong Bắc phạt thế như chẻ tre. Quân tiền duyên của Tôn Truyền Phương, Ngô Bội Phu, Trương Tác Lâm không đứng vững, tan rã và thất bại. Bọn chúng đang không lo nổi mình, còn lòng dạ nào tính chuyện điều kiện ưu đãi? Hoạt động của Trần Bảo Thám chẳng có kết quả gì. Thư Ngô Bội Phu trả lời Khang Hữu Vi cũng rất đơn giản, biện bạch nói: “Vàng đá không đổi thay, khúc cao không hòa được”.
            Một năm sau, Khang Hữu Vi ôm hận chết ở Thanh Đảo. Hy vọng “hoàn cung” tiêu tan, đám Trần Bảo Thám chán nản, phía La Chấn Ngọc lại nhộn nhịp. Tháng 3/1926, trong lúc tôi đang lo lắng về việc quân đội Bắc phạt đang đến gần, từ Lữ Thuận Phổ Vỹ cử người đưa tới lời tâu và một bức thư gửi La Chấn Ngọc, nói rằng ông đã móc nối tốt với phía Nhật bản, mong tôi chuyển đến ở Lữ Thuận, “trước hết xa nguy hiểm, sẽ mưu tính chuyện lớn”, “đi đông đi Tây, trước hết cần có nơi định cư”. Do đã nghe nhiều lời nói suông của La Chấn Ngọc nên tôi cũng có chút không yên tâm đối với họ, tuy nhiên tôi có ấn tượng tốt đối với Phổ Vỹ. Tôi đến Thiên Tân chưa bao lâu, Phổ Vỹ đã từ Lữ Thuận đến thỉnh an. Lần đầu gặp mặt, vị “Cung thân vương” này nói với tôi một câu rất cảm động: “Phổ Vỹ còn, đại Thanh không thể mất”. Đọc thư ông ta khuyên tôi đến Lữ Thuận tự nhiên tôi có chút động tâm. Vì ông ta thông qua La Chấn Ngọc để khuyên tôi, nên sự nghi ngờ của tôi đối với La Chấn Ngọc cũng giảm nhiều. Sau đó, quân Bắc phạt chiếm lĩnh Vũ Xương, toàn tuyến quân đội phía Bắc dao động, La Chấn Ngọc càng tuyên truyền với tôi rằng quân cách mạng đấy là “hồng thủy, mãnh thú”, “giết người đốt nhà”, nếu rơi vào tay họ ắt không có đường sống. Nghe những lời đó, tôi đã quyết định theo họ đến Đại Liên. Song do Trần Bảo Thám khuyên can lại quyết định tạm hoãn. Từ công sứ quán Nhật bản, Trần Bảo Thám được tin: tình hình có vẻ không đến nỗi bi quan. Tôi ngóng chờ không bao lâu, quả nhiên tin tức thanh đảng của Quốc Dân Đảng đã tới. Tưởng Giới Thạch tàn sát hàng loạt người bị gọi là người cộng sản “hồng thuỷ mãnh thú”. Trước và sau thời gian đó còn liên tiếp truyền tới những tin: quân hạm nước Anh bắn đại bác vào Nam Kinh, Nhật bản ra quân ở Sơn Đông ngăn cản quân phía Nam lên phía Bắc. Những tin tức đó khiến tôi tin vào sự vững vàng của đám Trần Bảo Thám, cảm thấy tình hình không đến nỗi nghiêm trọng như đám La Chấn Ngọc nói. Tưởng Giới Thạch cố nhiên giống như Viên Thế Khải, Đoàn Kỳ Thụy. Trương Tác Lâm sợ người nước ngoài, tôi ở trong tô giới nước ngoài chẳng phải là được bảo hiểm như trước sao?
            Lý tưởng cuối cùng của hai phái “hoàn cung” và “xuất dương” thực ra không mâu thuẫn. Họ nhất trí hy vọng phục tích. Sau khi hy vọng “hoàn cung” của đám Trần Bảo Thám bị tan vỡ, lại chủ trương áp dụng chính sách “yên lặng đợi xem sự thay đổi”, song về mặt “liên Nhật” cũng không phản đối chủ trương của bọn La Chấn Ngọc. Ví dụ: một vị di lão Hành tẩu Nam thư phòng tên là Ôn Túc (Khi Trương Huân phục tích đã làm Phó đô ngự sử Viện đô sát trong 12 ngày) đã tâu: “Trần Bảo Thám có tài không ai có thể so sánh được, rất thân với Yoshizawa” (công sứ Nhật bản - ND). “Hành tại” (nơi ở tạm thời của vua) đặt ở Thiên Tân, có thể do Trần cùng Yoshizawa liên hệ gần gũi, lấy “liên kết chặt chẽ với bên ngoài, ngầm xây dựng thế lực”, “Bắc Kinh và Thiên Tân gần nhau, đi lại có thể không để dấu vết”. Hiện nay tôi có thể nhớ lại, di lão kiên quyết phản đối xuất dương nhất chỉ là cá biệt. Thậm chí cũng có người đã nói: “Nhật Bản chỉ có lợi thì làm, không thể nghĩa khí hiệp trợ phục tích”. Họ cho rằng, phục tích chỉ có thể gửi gắm vào bản thân các “di thần, di dân”. Trong các “di thần, di dân” của họ, phải gạt La Chấn Ngọc ra ngoài.
            Hai đám người này cố nhiên cũng không phải tranh chấp về chủ trương biện pháp mà là tranh chấp giữa người và người. Vì vậy ngoài việc công khai bàn luận, điều trần, sự đấu đá ngầm bên trong cũng quyết liệt. Về mặt này, mặc dù có nhiều thủ đoạn, kết quả La Chấn Ngọc vẫn là kẻ thất bại.
            Một hôm, La Chấn Ngọc được tôi gọi tới, đến căn phòng nhỏ nơi tôi gặp những người gọi tới. Ông ta mang theo một túi vải dài nói với tôi:
            - Tội thần muôn vàn đáng chết, không dám làm rối loạn lòng thiên tử. Song nếu thần vì giao thiệp riêng tư, chỉ dấu cái ác, dương cái thiện thì lại bất trung bất nghĩa.
            - Ông nói cái gì thế?
            Tôi nhìn ông ta chẳng hiểu gì cả. Chỉ thấy ông ta gật gà gật gưỡng như viên thái giám già rửa mặt chải đầu, lấy tay mở chiếc túi. Túi được mở ra, bên trong là một đôi câu đối. Ông ta từ từ mở ra, chưa mở hết tôi đã nhận ra, đó là đôi câu đối tôi viết cho Trần Bảo Thám.
            - Thần phát hiện bản chữ viết của hoàng thượng ngoài chợ, nghĩ thật là may mắn, được thần mang về đây…
            Lúc đó tôi chưa biết đám người La Chấn Ngọc chuyên làm một số việc buôn bán xấu xa, chỉ nghĩ đến sự bất kính của Trần Bảo Thám  đối với “ân thưởng” của hoàng thượng, dám mang bản ngự bút ra bày ở ngoài chợ, lòng tôi thật không vui, một lúc đầu óc rối bời chẳng biết nói gì, chỉ biết xua xua tay bảo La Chấn Ngọc nhanh chóng lui ra.
            Lúc đó, Trần Bảo Thám đi Bắc Kinh. Hồ Từ Viện biết sự việc này kiên trì nói: đây quyết không phải là lỗi của Trần Bảo Thám. Ông không tin là người hầu của nhà họ Trần dám mang thứ đó ra chợ bán. Song cũng có khả năng người hầu của nhà họ Trần lấy cắp mang bán. Vậy ai là người đem ra chợ bán, tại sao lại rơi vào tay La Chấn Ngọc? Ông ta không nói ra được. Bị tôi truy hỏi, ông chỉ kể một câu chuyện:
            “Tùng Duân, đại học sĩ triều Gia Khánh là một vị trung thần, hoàng thượng chắc đã biết. Câu chuyện của Tùng Duân, nếu Hoàng thượng muốn nghe thần sẽ kể. Năm thứ 24 Gia Khánh, Nhân Tôn Nhuệ Hoàng đế muốn xuất quan ngự giá tuần du. Đại học sĩ Tùng Duân biết trong lòng rất lo lắng, chỉ sợ Nhân Tôn đi chuyến này chẳng lành. Những lời trong lòng Tùng Duân không thể nói rõ với bề trên, chỉ tâu bằng những lời vòng vo, nói đêm xem thiên tượng không nên xuất du. Nghe tâu, Nhân Tôn cả giận ra một đạo dụ nói: từ xưa lấy hiếu trị thiên hạ, trẫm xuất quan tế tổ tiên lẽ sao lại chẳng lành. Do vậy Tùng Duân bị tước quan giáng làm Hiệu phiên kỵ. Sau đó Nhân Tôn băng hà ở hành cung tại Nhiệt Hà, Nghi Tôn (Đạo Quang) nối ngôi về triều. Vừa tiến vào Tây Trực Môn trông thấy Tùng Duân mang quân dẹp đường, nhớ lại những lời Tùng Duân tâu can hoàng đế Nhân Tôn mới rõ hàm ý trong lời nói, biết rõ đó là trọng thần có lòng trung thành vô hạn, lập tức khôi phục cho nguyên chức...”
            Tôi vội hỏi:
            - Ngươi nói gì thế? Điều đó có gì quan hệ đến Trần Bảo Thám?
            - Thần nói là Trần Bảo Thám như Tùng Duân, có lời không thể nói rõ.
            - Thế thì ta là Nhân Tôn hay Nghi Tôn?
            - Không, không... - Hồ Từ Viện sợ quá không biết nói thế nào. Tôi không nhịn được nói :
            - Ngươi là người thẳng thắn, đừng có học những lời vòng vo như thế, hãy nói thẳng ra?
            - Dạ, thần nói Trần Bảo Thám chính là lòng trung thành vô hạn, chẳng qua là những lời tâu can của ông đối với bề trên luôn luôn không đạt, luôn luôn bị trả về. Hoàng thượng thiên tư thông minh tự nhiên có thể thấy được.
            - Được, ta biết thầy Trần là người thế nào?
            Tôi tuy không hiểu rõ hàm ý câu chuyện về Tùng Duân, cũng vui vẻ nghe Hồ Từ Viện nói những lời tốt đẹp về thầy Trần, ít nhất cũng có thể gạt bỏ việc câu đối khiến lòng tôi không thoải mái, và mong rằng nó thật sự bị đánh cắp là tốt rồi.
            Qua những thất bại liên tiếp, đặc biệt là một sự việc khác về sau La Chấn Ngọc mất hết sự tín nhiệm của tôi. Cuối năm 1928, ông ta rời đến Lữ Thuận tìm con đường khác.
            Ở đây tạm thời không nói về cuộc đấu tranh giữa các di lão, trước hết nói một chút về nguyên nhân khiến tôi ở lại Thiên Tân mà không ra nước ngoài, đó là hy vọng của tôi đối với đám quân phiệt.
 
 
---------------------------------------------------------------------------
(44) Uy Hải Vệ thuộc huyện Văn Đăng, tỉnh Sơn Đông, ba mặt là núi đá, một mặt là biển, có hai cửa khẩu. Đồi Quang Tự là một trấn quan trọng bị Nhật Bản chiếm.
 
Đăng nhập để trả lời
0

Quan hệ giữa tôi và các các tướng hệ Phụng Thiên

 
            “Ngày mùng 5 tháng 8, 7 giờ sáng dậy. Tiêu Bính Viêm bắt mạch. 8 giờ, Trịnh Hiếu Tế nói về “Thông giám”. 9 giờ, tản bộ trong vườn, tiếp kiến Khang Hữu Vi. Hơn 10 giờ Khang cáo từ ra, Trương Hiến và Trương Khánh Sưởng đến, giữ lại ăn sáng, ban cho mỗi người một tờ chữ thọ, cùng chụp ảnh trong vườn. Trương Hiếm là tướng mạnh của Lý Cảnh Lâm, Trương Khánh Sưởng là hiệu tướng của Tôn Truyền Phương. 12 giờ họ cáo từ ra về. Tiếp kiến Tế Hú, một lát liền đi, nghỉ ăn quả, uống trà. Nữ sĩ Anh Giênnơ tới cùng trò chuyện (45). Nữ họa sĩ do hoàng hậu gọi cũng tới. Xong vào phòng ngủ nghỉ.
            Đạp xe vận động trong vườn. Gần tối đi xe ô tô ra khỏi trang viên đến nơi nhà mới mua, một lúc quay về. Hơn 8 giờ ăn cơm tối. Nghỉ và tiếp kiến bác sĩ Kết Bảo Xuyên. 11 giờ đi ngủ.
            Ngày mồng 6 tháng 8: hơn 8 giờ dậy. 10 giờ triệu kiến Viên Lệ Chuẩn. 11 giờ ăn sáng và gặp Kết. Bảo Xuyên. 12 giờ tiếp kiến Khang Hữu Vi đến 1 giờ chiều Khang cáo từ. Thầy Trần đến gặp. 3 giờ nghỉ ngơi. Lỗ quân Quân trưởng Tất Thứ Đăng cùng anh rể Lữ trưởng Thường Chi Anh đến thăm. Một lát cáo từ. Lát sau Ngô Trung Tài đến, giao khi xuống phía Nam hỏi thăm Ngô Bội Phu. 6 giờ Tất Dụ Chương đến thăm. 6 giờ hơn cáo từ. Tản bộ trong vườn, một lát Vinh Nguyên tới. Nói chuyện một chút, vào nhà nghỉ ngơi”.
            Đây là một trang nhật ký năm 1927. Có thể thấy rõ khi đó sinh hoạt ngày tháng của tôi và những nhân vật tôi tiếp kiến. Từ năm 1926 đến 1928, những người như Tất Thứ Đăng, Trương Tôn Xương... là khách thường xuyên của Trương Viên. Ngoài họ ra, tôi còn đã tiếp kiến Trương Học Lương, Chử Ngọc Hầu, Từ Nguyên Toàn, Lý Cảnh Lâm... là các tướng lĩnh hệ Phụng Thiên. Người đầu tiên gặp tôi là Lý Cảnh Lâm. Khi tôi tới Thiên Tân, đúng vào lúc quân hệ Phụng Thiên chiến thắng Ngô Bội Phu chiếm lĩnh Thiên Tân. Đốc ban Trực hệ Phụng Thiên Lý Cảnh Lâm lập tức với danh nghĩa quan địa phương đến thăm tôi, tỏ ý bảo hộ tôi. Mặc dù ông ta cũng như bất cứ ông tướng Trung Quốc nào, chính lệnh quân pháp của họ cũng không thể vào “tô giới” được. Trong 7 năm ở Thiên Tân, tôi đã lôi kéo một số quân phiệt mà tôi muốn lôi kéo, họ đến gây cho tôi ít nhiều ảo tưởng. Ngô Bội Phu đã từng giu thủ xưng bề tôi, Trương Tác Lâm đã rạp đầu trước tôi, Đoàn Kỳ Thụy chủ động xin tôi tiếp kiến. Trong số đó, gây nhiều ảo tưởng cho tôi nhất cũng là những  người tôi tốn sức lôi kéo nhất, thời gian dài nhất là đám tướng lĩnh hệ Phụng Thiên. Điều đó bắt đầu từ khi Trương Tác Lâm rạp đầu trước tôi.
            Tháng 6 năm tôi đến Thiên Tân, một hôm Vinh Nguyên rất phấn khởi nói với tôi: Trương Tác Lâm cử Diêm Trạch Phổ, thân tín của mình gửi cho tôi 10 vạn đồng và nói rằng Trương Tác Lâm muốn gặp tôi ở hành quán của ông ta. Trần Bảo Thám biết việc này lập tức tỏ ý phản đối cho rằng hoàng thượng đến nhà tướng lĩnh Quốc Dân Đảng mà nơi đến lại ngoài tô giới là điều hoàn toàn không nên. Tôi cũng nghĩ không nên hạ mình như thế và mạo hiểm như thế nên đã cự tuyệt. Không ngờ đêm hôm sau, Vinh Nguyên bỗng nhiên đưa Diêm Trạch Phổ tới nói Trương Tác Lâm đang đợi tôi tại nơi ông ta ở đồng thời nói: trong địa giới Trung Quốc quyết không có gì nguy hiểm. Bản thân Trương Tác Lâm không tiện vào tô giới, do đó mời tôi đi một chuyến. Qua Vinh Nguyên ra sức tuyên truyền về lòng trung thành của Trương Tác Lâm, thêm vào việc tôi nhớ lại sự quan tâm của ông ta cách đó không lâu, khi tôi còn trong cung, lại nghe nói: ngoài Trương Huân (hai họ Trương là thông gia) Trương Tác Lâm là người rất có cảm tình với triều Thanh. Vì vậy tôi không nói với ai khác, lên xe ra đi.
            Đó là một đêm đầu mùa hạ, lần đầu tiên tôi ra khỏi tô giới Nhật bản, đến “hành quán” của Trương Tác Lâm ở hoa viên nhà họ Tào. Ngoài cửa hoa viên có đội nghi trượng rất kỳ quái - mặc lễ phục màu xám, tay cầm đao, súng, kiếm, kích thời cổ dại và súng trường hiện đại, xếp hàng từ ngoài vào trong cửa lớn. Xe ô tô đi qua hàng ngũ đó tiến vào trong vườn.
            Tôi xuống xe được người dẫn vào đại sảnh rực rỡ ánh đèn. Lúc đó, một người nhỏ bé, mặc quần áo dân sự, để chòm râu chữ bát tiến đến. Tôi nhận ra ngay là Trương Tác Lâm. Tôi do dự không biết dùng nghi thức gì với ông ta, đây là lần đầu tiên tôi ra ngoài hội kiến một nhân vật cỡ lớn của Quốc Dân Đảng mà Vinh Nguyên lại không sắp đặt trước cho tôi - điều bất ngờ là ông ta không chút do dự, tiến đến trước tôi quỳ trên sàn gạch rạp đầu nói: “Kính chào Hoàng thượng”.
            “Kính chào Thượng tướng quân”, tôi vội vàng nâng ông ta dậy, cùng tiến vào phòng khách. Lòng tôi rất vui mừng và ít nhiều - tuy nhiên đã không giống như tâm lý một hoàng thượng - có chút cảm kích về hành động của ông ta vừa rồi. Đương nhiên, tôi càng phấn khởi là nhân vật hết sức quan trọng này xem ra không quên cũ.
            Trong phòng khách bày bàn ghế gỗ cứng, sô pha kiểu châu Âu, bình phong thuỷ tinh, rất ngắn nắp lịch sự. Chúng tôi ngồi xuống cạnh một chiếc bàn tròn đối diện. Trương Tác Lâm hút hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác bắt đầu nói. Ông ta cứ mở miệng là chửi mắng thậm tệ Phùng Ngọc Tường “bức rời cung”, nói Phùng Ngọc Tường làm như thế để lấy những của báu trong cung, còn ông ta hết sức chú ý giữ gìn tài sản quý và văn hóa cổ. Do nguyên cớ đó, ông ta không những đã chú ý giữ gìn cung điện ở Phụng Thiên rất tốt mà lần này còn mang được bốn kho toàn thư của Bắc Kinh đi, giữ gìn chu đáo. Ông ta còn nói với giọng lấy làm lạ rằng, sau khi ông ta mang quân tới Bắc Kinh tôi không nên chạy vào sứ quán Nhật bản vì ông ta đã có lực lượng để bảo vệ tôi. Ông ta hỏi về đời sống của tôi sau khi ra khỏi cung, bảo tôi thiếu thứ gì cứ bảo ông ta.
            Tôi nói, tình cảm sâu sắc của thượng tướng quân đối với tôi, tôi hoàn toàn biết rõ. Khi đó, do quân của Phùng Ngọc Tường còn ở đó, thật sự bất đắc dĩ mới vào sứ quán Nhật Bản. Tôi lại nói thêm, từ lâu tôi đã biết tôn miếu, lăng tẩm và cung điện ở Phụng Thiên được bảo vệ rất tốt. Tôi rất hiểu tấm lòng của Trương thượng tướng quân.
            - Hoàng thượng nếu vui lòng đến Phụng Thiên của chúng tôi, ở trong cung điện, có tôi ở đó việc gì cũng xong.
            - Trương thượng tướng quân thật quá tốt…
            Tuy nhiên vị thượng tướng họ Trương này cũng không nói tiếp kiểu nói đó nữa mà chuyển sang nói về mặt sinh hoạt của tôi: “Sau này thiếu thứ gì xin viết thư cho tôi.”
            Tôi thiếu cái gì? Thiếu cái ngai vàng. Song tối hôm đó, tôi không có cách nói rõ ra, đó là việc hiển nhiên.
            Khi chúng tôi nói chuyện, không ai có mặt. Cùng với chúng tôi, chỉ có ruồi nhặng trong nhà. Tôi lập tức nhận ra, ban đêm vẫn có ruồi nhặng bay, hiện tượng này không có trong tô giới.
            Sau đó, có một phó quan tiến đến nói:  “Dương tham mưu trưởng xin gặp” (Dương Đình). Trương Tác Lâm xua tay nói: “ Không vội gì đợi một chút hãy nói”. Tôi vội đứng dậy nói: “Thượng tướng quân rất bận, tôi xin cáo từ”. Ông ta vội nói: “Không bận, không bận gì”. Lúc đó hình như có khuôn mặt một người đàn bà thoáng sau tấm bình phong (sau đó nghe nói là vợ thứ năm của Trương Tác Lâm), tôi cảm thấy ông ta thật sự bận, lại cáo từ. Lúc đó ông ta không ngăn lại nữa.
            Mỗi lần tôi đi ra ngoài, cảnh sát thường phục Nhật Bản ở Trương Viên đều nhất định bám theo, lần đó cũng không loại trừ. Tôi không biết Trương Tác Lâm có nhìn thấy một người Nhật bản mặc âu phục đứng cạnh xe ô tô hay không, lúc tiễn tôi lên xe, ông nói to với tôi: “Nếu bọn nhóc Nhật Bản bắt nạt Hoàng thượng, Hoàng thượng cử bảo tôi, tôi có thể trị bọn chúng”.
            Xe ô tô lại chạy qua đội nghi trượng kỳ quái ra khỏi Hoa viên nhà họ Tào, quay về khu tô giới. Bảy hôm sau, tổng lãnh sự Nhật Bản Arido Hachino cảnh cáo tôi:
            “Nếu bệ hạ còn tự mình đi ra địa giới Trung Quốc, Chính phủ Nhật Bản không thể đảm bảo an toàn cho bệ hạ”.
            Tuy rằng Trương Tác Lâm nói rằng ông ta có thể trị bọn nhóc Nhật Bản, tuy rằng lãnh sự Nhật Bản đưa ra lời phản đối như vậy, trong khi đó, bất cứ ai cũng đều biết về quan hệ giữa người Nhật và Trương Tác Lâm. Nếu như không phải là người Nhật cung cấp súng đạn cho Trương Tác Lâm, Trương Tác Lâm vị tất đã có nhiều quân như vậy. Cho nên, do cuộc hội kiến này đã tăng thêm hy vọng cho tôi, tôi không bị ảnh hưởng về lời phản đối càng không nói đến sự phản đối của phái Trần Bảo Thám.
            Hy vọng phục tích của tôi càng được những sự việc sau này khích lệ. Đó là thái độ của nội các Tanaka lên cầm quyền năm 1927 thể hiện qua lời tâu nổi tiếng của Tanaka.(46)
            Lời tâu Tanaka mãi đến 1929 mới bị vạch ra tuy thực ra nội dung của nó đã được tiết lộ từ năm 1927. Ở đây, tôi dẫn một đoạn trình bày (47) của “Bản án phán xét của tòa án quân sự quốc tế Viễn Đông” đối với tình hình khi đó:
            “Chính sách tích cực” mà thủ tướng Tanaka Giichi đề xướng là lấy cớ hợp tác với nhà đương cục Mãn Châu đặc biệt là Trương Tác Lâm, Tổng tư lệnh quân biên phòng Đông Bắc, thủ trưởng Hành chính Nhiệt Hà để mở rộng và phát triển quyền lợi đặc biệt mà Nhật Bản cho rằng đã giành được ở Mãn Châu. Thủ tướng Tanaka còn tuyên bố: mặc dù Nhật Bản tôn trọng chủ quyền của Trung Quốc đối với Mãn Châu và bằng mọi cách thực hành “chính sách mở cửa” đối với Trung Quốc. Song Nhật Bản có đầy đủ quyết tâm tuyệt đối không cho phép xẩy ra quấy rối sự bình yên và quyền lợi lớn lao của Nhật Bản ở nơi này. Nội các Tanaka nhấn mạnh việc sẽ coi Mãn Châu hoàn toàn khác với các nơi khác ở Trung Quốc, đồng thời tuyên bố nếu như khi cuộc rối loạn từ các nơi ở Trung Quốc lan đến Mãn Châu và Mông Cổ, Nhật bản sẽ dùng vũ lực bảo vệ quyền lợi của mình ở nơi đó.
            Trương Tác Lâm rạp đầu trước tôi. Sau khi được nội các Tanaka ủng hộ trở thành lãnh tụ của các hệ quân ở phía Bắc, làm Tổng tư lệnh An quốc quân, sau đó lại làm Đại nguyên soái quân chính phủ. Khi quân đội của Tưởng Giới Thạch lên phía Bắc, quân đội Nhật Bản “bảo hộ” quyền lợi khu vực Mãn - Mông đã tràn tới Tế Nam cách Mãn - Mông mấy nghìn kilômét, gây nên vụ “thảm án Tế Nam” kinh người. Viên tư lệnh quân đội Nhật Bản Yasuji Okamura còn ra một bản cảnh cáo Tưởng Giới Thạch. Để tỏ ý quan tâm đã với tôi, Viên tham mưu quân đội Nhật bản đóng ở Thiên Tân còn sao gửi cho tôi một bản. Để lấy lòng chủ nghĩa đế quốc vừa mới giết hại công nhân, học sinh và những người cộng sản, sau khi xem bản bố cáo, Tưởng Giới Thạch đã ngoan ngoãn rút quân khỏi Tế Nam đồng thời cấm chỉ dân chúng có những hành động chống Nhật.
            Cùng lúc này, tiếp xúc giữa tôi và các tướng lĩnh hệ Phụng Thiên cũng tăng lên.
            Những cuộc qua lại thù tạc công khai bắt đầu từ sau khi tôi gặp Trương Tác Lâm. Trương Văn Trị, đại quản gia của cha tôi có khá nhiều anh em kết nghĩa trong đám tướng lĩnh hệ Phụng Thiên. Khi đó lại móc nối với Trương Tôn Xương trở thành một trong những người dẫn tiến các tướng lĩnh quân Phụng. Lý Sĩ Khuê, nguyên đội trưởng đội quân nhạc quân bảo vệ thành nội khi đó cũng trở thành nhân vật quân Phụng. Chử Ngọc Hầu và Tất Thứ Đăng cũng do ông ta dần tiến. Hồ Nhược Ngu còn đưa Trương Học Lương đến với tôi. Những tướng lĩnh đó đến Trương Viên cũng đã có chỗ khác so với việc vào Tử Cấm Thành trước kia. Họ không dùng thỉnh an cúi đầu, chỉ vái tôi một vái hoặc bắt tay, sau đó cùng ngồi cùng đứng. Tôi viết thư cho họ cũng không quá xưng cái vai hoàng đế. Sự qua lại thân, sơ giữa tôi và các tướng lĩnh quân Phụng quyết định ở thái độ của họ đối với phục tích. Tất Thứ Đăng là người khiến tôi có cảm tình sớm nhất, vì nhiệt tâm của ông ta đối với sự nghiệp tương lai của tôi, nào là “lòng người nhớ cũ”, “tương lai chỉ có đế chế mới cứu được Trung Quốc, hiện nay là đàn rắn không đầu”, nói không khác gì lời các di thiếu, di lão. Ông ta là một quân trưởng của Trương Tôn Xương, kiêm tư lệnh hạm đội Bột Hải đã từng mời tôi tới tham quan hạm đội của ông ta, sau đó khi nghe tin ông ta bị Chử Ngọc Hầu bắn chết tôi rất thương cảm. Sau khi ông ta chết, hy vọng của tôi lại chuyển sang Trương Tôn Xương. Trương Tôn Xương tự Hiệu Khôn người huyện Dịch tỉnh Sơn Đông. Khi tôi gặp ở Thiên Tân ông ta đã hơn 40 tuổi, mới nhìn là một người đàn ông vạm vỡ, mặt bự thịt, nếu nhìn kỹ sẽ có thể thấy trên da mặt tai tái của người đàn ông vạm vỡ này có màu xám xanh trúng độc thuốc phiện. Năm 15, 16 tuổi, hắn đến Doanh Khẩu làm người hầu sòng bạc. Suốt ngày giao du với bọn lưu manh trộm cắp ở đó, ở Quan Đông đã từng làm một tiểu đầu mục thổ phỉ, sau đó lại lưu lạc đến Vladivostok của Sa hoàng, làm đầu mục gác cửa cho Tổng hội Hoa thượng. Do tháo vát lanh lợi lại khéo giao thiệp đưa đón, có thể hợp tác chặt chẽ với hiến binh Sa hoàng hắn đã trở thành thủ lĩnh của xã hội lưu manh ở Vladivostok trở thành một tên trùm bao các quán gái điếm, bao sòng bạc, tiệm hút thuốc phiện.
            Sau khởi nghĩa Vũ Xương, quân cách mạng phía Nam cử người đến biên giới Trung - Nga tranh thủ Lưu Đàn Tử, đầu mục thổ phỉ địa phương đi theo cách mạng. Hai bên đàm phán thành công, tổ chức bộ hạ của Lưu thành một trung đoàn kỵ binh do Lưu làm trung đoàn trưởng. Trương Tôn Xương là người giới thiệu giữa hai bên cùng về Thượng Hải, chưa rõ làm thế nào bản thân trở thành trung đoàn trưởng quân cách mạng. Lưu Đàn Tử trái lại thành một tiểu đoàn trưởng cấp dưới của hắn. Cuộc “cách mạng lần thứ hai” nổ ra. Trương Tôn Xương chạy sang bọn phản cách mạng, có công tàn sát quân cách mạng được Phùng Quốc Chương dùng làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn bảo vệ của Phùng. Sau đó, do những vận động liên tiếp, lại chiếm được vị trí Sư trưởng Sư đoàn 11. Không lâu do bại trận ở Giang Tô, An Huy, hắn chạy lên phía Bắc theo Trương Tác Lâm làm Lữ đoàn trưởng. Từ đó về sau, dựa vào thế quân Phụng. Từ ngày quân Phụng tiến vào trung nguyên, dần dần leo cao, từ Sư trưởng, Quân trưởng đến Đốc ban quân vụ Sơn Đông, Tổng tư lệnh tiễu phỉ cho đến Tư lệnh liên quân Trực - Lỗ, trở thành một thứ hoàng đế chiếm cứ một vùng. Do bản tính lưu manh, báo chí phía Nam đã đặt  cho hắn một biệt hiệu “Tướng thịt chó”. Sau đó thấy hắn cứ bại trận là bỏ chạy lại đặt cho một biệt hiệu “Tướng cẳng dài”.
            Ngày mùng 2 tháng 4 năm 1928, do Tưởng Giới Thạch và Trương Học Lương kẹp đánh, Trương Tôn Xương bại trận ở Loan Hà chạy đến Lữ Đại. Sau đó lại chạy đến cơ quan của Nhật Bản được vài người Nhật che chở. Năm 1932, lấy danh nghĩa về nhà tảo mộ, ông ta về đến Sơn Đông, ngầm vận động bộ hạ của Lưu Trân Niên phản biến, lấy đội ngũ phản biến làm cơ sở lại dựng cờ gióng trống chiếm lấy địa bàn của Hàn Phục Cừ chủ tịch tỉnh Sơn Đông, khôi phục sự thống trị đối với Sơn Đông. Ngày 3/9/1932, ông ta bị một người tên là Trịnh Kể Thành bắn chết tại chỗ ở ga xe lửa Tế Nam. Hung thủ đó tự thú nói là để trả thù cho chú (chú ông ta bị Trương Tôn Xương bắn chết là Trịnh Kim Thanh, Quân trưởng, bộ hạ của Phùng Ngọc Tường). Thực ra, đây là do Hàn Phục Cừ, chủ tịch tỉnh Sơn Đông sai ám sát. Nghe nói, sau khi bị bắn chết, xác của Trương nằm ở ngoài trời. Bí thư trưởng của ông ta chi tiền mà không thuê được người mang thi thể Trương đi. Chủ hiệu quan tài cũng không muốn bán quan tài cho hắn. Tên ác bá mà mọi người đều nói đáng giết ấy lại là khách quen thuộc của Trương Viên, là nhân vật mà tôi gửi gắm hy vọng lớn.
            Khi tôi ở Bắc Phủ, Trương Tôn Xương đã hóa trang đến thăm tôi, bày tỏ sự quan tâm đối với tôi. Sau khi tôi đến Thiên Tân, mỗi khi ông ta đến Thiên Tân đều đến thăm tôi; mỗi lần đến đều vào đêm khuya vì ban ngày ông ta ngủ, buổi tối hút nhiều thuốc phiện, tinh thần no đủ, bắt đầu nói là núi Nam, biển Bắc thao thao bất tuyệt.
            Năm 1926, Trương Tôn Xương và Ngô Bội Phu liên hợp đánh Phùng Ngọc Tường, kịch chiến với quân đội của Phùng ở Nam Khẩu. Sau khi quân Phùng rút lui, chiếm lĩnh Nam Khẩu trước tiên là đội ngũ Trương Tôn Xương. Vừa nghe được tin đó, tôi tự viết ngay cho Trương Tôn Xương một bức nửa là thư, nửa là dụ:
                        Gửi:
            Hiệu Khôn Đốc ban mạnh khỏe.
            Lâu chưa được tin, rất lấy làm nhớ. Việc quân Nam Khẩu lần này đã kết thúc, công diệt đỏ 10 phần đã hoàn thành 8, 9. Với binh 10 vạn,  tướng quân chuyển chiến Trực - Lỗ đập tan kẻ địch mạnh, lúc mùa hạ nóng nực, gian hiểm vô cùng, kiên trì trừng phạt quân giặc, chỉ trong mấy ngày, đánh thẳng sào huyệt giặc lập công lao vĩ đại, cứu nguy Trung Quốc, diệt cộng sản đã thành. Nay quân đỏ tuy đã chạy xa song gốc rễ chưa nhổ, sợ sẽ là mối lo về sau vẫn mang tâm trừ kẻ ác, một sớm dẹp yên, thật may cho Trung Quốc, thật may cho nhân dân.
            Nay cử Tố Ngọc Sơn tặng tướng quân một đôi lọ bạc làm kỷ niệm lần công phá Nam Khẩu này, mong thu nhận.
            Hán Khanh, Phương Chấn, Uẩn Sơn (48) đều gửi lời thăm.  
                        Ngày 13 tháng bảy năm Bính Dần
            Tôi nhận được tin thắng lợi của Trương Tôn Xương cũng không chậm hơn tin tức đăng trên báo chí vì tôi có công tác tình báo của mình. Có một số người thu lượm tin tức cho tôi, có người dịch báo chí nước ngoài cho tôi. Căn cứ tin tức báo chí trong, ngoài nước và những tin tình  báo của tôi, biết thắng lợi và thanh thế của Trương Tôn Xương khiến lòng tôi như hoa nở. Tôi hy vọng Trương Tôn Xương giành được thắng lợi toàn diện sẽ đặt cơ sở phục tích cho tôi. Song vị “tướng thịt chó” này trong lúc cất cánh bay cao thì không bao giờ muốn nói rõ ràng những việc nó, hầu như chỉ khi nào biến thành “ông tướng cẳng dài” mới lại nghĩ tới việc đó.
            Năm 1928, Tưởng Giới Thạch, Phùng Ngọc Tường, Diêm Tích Sơn tuyên bố hợp tác, quay lại địa bàn phía Bắc, theo tuyến đường Tân Phố, vòng qua người Nhật Bản giúp đỡ Trương Tôn Xương, thôn tính căn cứ Sơn Đông của Trương Tôn Xương. Quân Trương Tôn Xương thất bại như núi lở, chạy thẳng ra Sơn Hải Quan, quân đội của Trương Tôn Xương bị vây chặt ở tuyến Lữ Đài, Nhạc Châu, bị tấn công phía trước phía sau ngày đêm nguy ngập. Ngày hôm đó, Kim Trác, tham mưu trưởng của ông ta đến tìm tôi, mang tới một bức thư của ông ta, nói huyênh hoang rằng ông ta còn nhiều quân, súng ống, đại bác, khôi phục Kinh - Tân không phải việc khó. Tiếp đó lại nói: ông ta đang huấn luyện quân đội, mỗi tháng cần 250 vạn đồng, ông ta “cầu xin sáng suốt ban cho”... Đảm đương nhiệm vụ liên lạc, Kim Trác nói đi nói lại rằng Trương Tôn Xương sắp thắng lợi, chỉ đợi sự chi viện của tôi. Lúc đó, Trần Bảo Thám, Hồ Từ Viện nghe nói tôi lại sẽ chi tiền đều đến khuyên ngăn tôi. Kết quả tôi chỉ viết một bức thư có tính chất động viên. Không lâu, Trương Tôn Xương hoàn toàn sụp đổ, chạy sang Nhật Bản. Ông ta càng cách xa tôi, càng có người ở giữa chúng tôi tự động chuyển thư, chuyển lời. Thư của Trương Tôn Xương càng ngày càng thể hiện ông ta mất sự trung thành với nhà Thanh, song lại có chung một đặc điểm là xin tiền tôi. Những người đưa thư ngoài Kim Trác đã nói ở trên (sau này làm vũ quan tùy tùng của tôi ở Ngụy Mãn) còn có Tạ Giới Thạch sau là Bộ trưởng Ngoại giao Ngụy Mãn, Vương Kế Hùng, tri huyện Đức Châu, Chu Diện, Cục trưởng đường Tân Phố, Lưu Tương Nghiệp, cháu ngoại Trần Bảo Thám và Từ Quan Chính tự xưng là thư ký của Trương. Họ đưa tới tôi các loại tin tức về Trương Tôn Xương. Tôi cũng không nhớ là đã đưa họ mang đi bao nhiêu tiền. 
            Qua Trần Bảo Thám, Hồ Từ Viện can ngăn, tôi cũng không gửi thư đi nữa. Song, đồng thời tôi cũng không thể quên tình nghĩa đối với hệ Phụng Thiên. Tuy nhiên khi đó Trương Tác Lâm đã chết. Cái chết của Trương Tác Lâm (49) ai cũng đều biết là do người Nhật mưu sát. Về sau tôi nghe nói, người Nhật mưu sát Trương vì Trương ngày càng không vâng lời, muốn vứt bỏ Nhật Bản kết duyên mới với Mỹ. Do đó, người Nhật nói ông ta là người “quên ơn bội nghĩa, không đáng là bè bạn”. Ông ta bị hại trong lúc đó khiến tôi chú ý tấm gương đó. Song sau đó tôi chẳng để ý những lời của các di lão vì tôi tự cho rằng mình là người khác với Trương Tác Lâm. Người như thế ngoài ông ta có thể tìm người khác. Còn tôi là hoàng đế, là người Trung Quốc, người Nhật khó tìm được người thứ hai. Khi đó những người bên cạnh tôi có một luận điểm như sau: “người Quan Đông căm thù người Nhật đến tận xương tủy, Nhật Bản cấm Quan Đông thỏa hiệp vời quân đảng (chỉ Trương Học Lương và Quốc Dân đảng) đủ sức giành lấy nhưng người Nhật dù chiếm Quan Đông cũng không thể tự cai trị được, nếu không phải là Hoàng thượng trị vì thì mọi việc đều khó”. Tôi tin tưởng sâu sắc rằng người Nhật thừa nhận điều này. “Tôi muốn mượn sức người Nhật ắt trước hết phải được lòng người Quan Đông”, đó là sách lược theo thời thế. Vì vậy, tôi tìm kiếm những đầu mục cũ của Trương Tác Lâm từ hệ Phụng Thiên sử dụng cho việc phục tích của tôi. Có một di lão tên là Thương Diễn Doanh, người Quảng Dông, trước đã làm tới Hàn lâm, khi đó là người nổi tiếng biết chữ Phạn ở Đông Bắc, khi đó ra giúp tôi hoạt động với các tướng lĩnh hệ Phụng Thiên. Do Trương Học Lương đã rõ ràng tỏ ý hợp tác với Tưởng Giới Thạch cho nên những hoạt động của Thương Diễn Doanh rất kín đáo. Nói một cách đơn giản, những hoạt động cuối cùng nay cũng chẳng có kết quả gì.
 
 
-------------------------------------------------------------------------
(45) Giênnơ: giáo viên tiếng Anh của Uyển Dung.
(46) “Lời tâu của Tanaka” là lời tâu bí mật của Tanaka lên Nhật hoàng nói: “Người của ta nếu như muốn chinh phục Trung Quốc, cần trước hết chinh phục Mãn - Mông. Người của ta nếu như có thể chinh phục Trung Quốc thì các nước châu Á khác và các nước Nam Thái Bình Dương đều sẽ sợ ta, đầu hàng ta.. Khi người của ta chi phối được toàn bộ tài nguyên của Trung Quốc, người của ta sẽ có thể tiến lên chinh phục Ấn Độ, Nam Dương quần đảo, các nước nhỏ khác ở châu Á cho đến châu Âu”. Lại nói: “Bước thứ nhất chinh phục Đài Loan, nước thứ hai chinh phục Triều Tiên hiện đều đã thực hiện. Duy bước thứ ba: tiêu diệt Mãn Mông cũng như chinh phục toàn lãnh thổ Trung Quốc thì chưa hoàn thành” - Nguyên chú.
(47) Năm 1948 công bố bản án phán xét này.
(48) Tố Ngọc Sơn là nguyên trung đoàn trưởng quân cấm vệ. Hán Khanh là Trương Học Lương, Phương Chấn là Lý Cảnh Lâm, Uẩn Sơn là Chử Ngọc Hầu.
(49) Về diễn biến và nguyên nhân cuộc mưu sát, một chiến phạm Nhật Bản tham gia cuộc mưu sát đã cung khai: 5h30 ngày 4/6/1928, Trương Tác Lâm đi xe lửa có toa bọc sắt đến ga Hoàng Cô Đông bị Okamoto đại úy Nhật Bản nổ mìn. Trương và toa xe bị nổ tan.
 
Đăng nhập để trả lời
0

“Tiểu Gia Cát” Semionov

 
            Về mặt lôi kéo, mua chuộc đám quân nhân, tôi tốn bao nhiêu tiền, gửi bao nhiêu châu báu, ngọc quý tôi không thể nhớ hết được, chỉ nhớ một số mục tương đối lớn trong đó do người Bạch Nga Semionov mang đi.
            Semionov là một viên tướng của Sa hoàng, sau khi bị Hồng quân Liên Xô đánh tan ở Viễn Đông đã mang tàn quân chạy sang vùng biên giới Mãn - Mông của Trung Quốc, đốt nhà cướp của, hãm hiếp phụ nữ, không từ một hành động tàn ác nào. Đám thổ phỉ này một dạo đã muốn xâm nhập nước CHND Mông Cổ. Sau khi bị đánh tan, lại muốn lập căn cứ ở biên giới Mông - Trung, lại bị quân đội Trung Quốc ở địa phương càn quét. Đến năm 1927 trên thực tế đã thành đám thổ phỉ quân số không nhiều. Trong thời gian này, Semionov qua lại Bắc Kinh, Thiên Tân, Thượng Hải... hoạt động nhằm vào đám quân phiệt Trung Quốc và các chính khách nước ngoài tìm chủ mướn. Cuối cùng, do chẳng ai dùng, hắn trở thành một kẻ thuần túy đi lừa bịp bịa đặt.
            Sau đại chiến thế giới lần thứ hai, Semionov bị quân đội Liên Xô bắt đi. Thời kỳ tôi bị giam giữ ở Liên Xô đã nghe tin về việc hắn bị xử tử hình. Trong 7 năm tôi ở Thiên Tân, đã luôn luôn qua lại với tên đao phủ hai tay nhuốm đầy máu nhân dân ba nước Trung Quốc, Liên Xô, Mông Cổ. Tôi đã tốn với hắn rất nhiều tiền, gửi gắm vào hắn biết bao hy vọng.
            Mới đầu, Semionov do Thăng Sung và La Chấn Ngọc tiến cử, do Trần Bảo Thám phân đổi, tôi không tiếp hắn. Sau đó, do La Chấn Ngọc giới thiệu, Trịnh Hiếu Tế đã gặp Semionov, cho ràng hắn là nhân tài “khách khanh” rất có thể sử dụng, giúp hắn kế hoạch “dùng khách khanh” tìm được mục tiêu thứ nhất. Trịnh Hiếu Tế tâng bốc với tôi, chủ trương đừng ngại việc Semionov hợp lực với Trương Tôn Xương. Khi đó đúng là lúc tôi ôm hy vọng đối với Trương Tôn Xương do đó đồng ý với biện pháp của Trịnh Hiếu Tế. Như vậy, với sự hoạt động trực tiếp của Trịnh Hiếu Tế, Trương Tôn Xương tiếp nhận lính đánh thuê nước ngoài do Semionov cung cấp, mở rộng quân đội Bạch Nga. Sau đó, Trương Tôn Xương và Semionov còn ký một “hiệp định Trung - Nga trừng phạt quân đỏ”. Qua sự môi giới của Trịnh Hiếu Tế, tháng 10 năm 1925 tôi gặp Semionov ở Trương Viên. Khi đó, tôi rất hài lòng về cuộc nói chuyện này, tin vào sự nghiệp chống đỏ phục quốc của hán ắt có thể thực hiện, cho ngay 5 vạn đồng để giúp thực hành. Sau đó Trịnh Hiếu Tế, Semionov, Tất Dụ Chương, Lưu Phượng Trì... cùng chụp ảnh kết nghĩa anh em bày tỏ một lòng tận trung với nhà Thanh.
            Khi đó đúng là lúc 14 nước liên quân thất bại trong cuộc tiến quân vào Liên Xô, trên thế giới xuất hiện một cao trào chống Liên Xô, chống cộng sản. Tôi còn nhớ, Trịnh Hiếu Tế và Semionov đã nói với tôi: các nước Anh - Mỹ - Nhật quyết định lấy Semionov làm tiên phong chống Liên Xô, sẽ giúp vũ khí, tiền bạc cho Semionov. “Hoàng thất nước Nga” đang đặt rất nhiều hy vọng vào Semionov. Đại biểu hoàng thất đã có sự qua lại với Trịnh Hiếu Tế. Song tình hình cụ thể thì tôi không nhớ được, điều tôi nhớ là Semionov có kế hoạch quan hệ, làm ăn lớn với tôi, đó là sẽ dùng quân đội và vây cánh ở Mãn-Mông chiếm lấy khu vực Mãn-Mông xây dựng căn cứ “chống đỏ” của chúng, do tôi lên ngồi thống trị ở đó. Để cung cấp chi phí hoạt động cho Semionov, tôi chuyên lập cho hắn một tài khoản ở Ngân hàng do Trịnh Hiếu Tế làm chủ tài khoản sẵn sàng chi dùng cho hắn. Số tài khoản lần thứ nhất là một vạn đồng. Semionov đã tỏ ý: hắn vốn không cần tôi cung cấp chi phí hoạt động cho hắn vì hắn sẽ được kiều dân Bạch Nga quyên giúp 180 triệu rúp (sau đó lại nói là 300 triệu) sau đó còn có thể có sự chi viện tài chính của các nước Anh - Mỹ - Nhật. Tuy nhiên, những khoản tiền này tạm thời vẫn chưa nhận được nên phải dùng trước một số tiền của tôi. Sau đó nhiều lần lấy lý do “chưa nhận được tiền” luôn tìm Trịnh Hiếu Tế chi tiền mà mỗi lần dùng tiền đều có một lô lý do cảm động. Còn nhớ có một lần hắn nói: Takada Fuju, tư lệnh quân đội Nhật ở Thiên Tân đã giúp hắn liên hệ với Trương Tác Lâm, hắn phải gấp đi Thiên Tân để bàn kế lớn, tạm thời không có tiền đi đường; lại có lần nói: lãnh sự Liên Xô ở Thượng Hải được lệnh cấp trên tìm hắn để tìm cách thỏa hiệp, tỏ ý cho hắn khu vực Viễn Đông để hắn xây dựng khu tự trị vì vậy hắn cần một số tiền đi đường để có thể đến Tokyo nghiên cứu việc này. Rút cục, Semionov lấy của tôi bao nhiêu tiền tôi cũng không có cách nào thống kê được, chỉ nhớ rằng cho đến trước “sự biến 18 tháng 9” 3 tháng, hắn vẫn còn lấy 800 đồng.
            Trong thời gian Semionov và tôi qua lại, xuất hiện không ít nhân vật liên lạc Trung  Quốc, trong đó có người tên là Vương Thức. Theo nhân vật này tự khoe, không những Semionov rất tín nhiệm y mà người Nhật và quân phiệt Trung Quốc đều có quan hệ chặt chẽ với y. Từ miệng ông ta tôi thường xuyên nghe thái mấy câu: “đây là giờ phút quan trọng nhất”, “đây là cơ hội cuối cùng”, “là cơ hội nghìn năm có một quyết không thể để mất”, “thời cơ không thể mất, thời gian không quay lại”...
            Công kích Vương Thức mạnh nhất là Hồ Từ Viện. Cuối triều Thanh, Hồ Từ Viện là Hàn Lâm, khi Trương Huân phục tích cùng Vạn Thăng Thức làm Các thừa nội các. Sau khi tôi đến Thiên Tân ông ta đến Trương Viên được mọi người đặt cho biệt. hiện là “Hồ đại quân cơ” vì phàm là có người muốn gặp tôi hoặc gửi lời tâu cho tôi ắt phải qua ông ta lọc một chút. Đó là vì tôi tin ông ta là người “thật thà” mà giao chức vụ đó, danh nghĩa là quản lý “nơi làm việc ở Thiên tân”. Ông ta rất phản đối việc tôi tiếp xúc với Trịnh Hiếu Tế và La Chấn Ngọc. Xem lời tâu của Vương Thức, ông ta liền có lời tâu lên tôi phân tích kỹ những chỗ mâu thuẫn giữa lời nói và việc làm của Vương Thức và Tạ Giới Thạch, vạch rõ đó chỉ là một trò hoàn toàn lừa bịp. Trần Bảo Thám nhìn tôi lắc đầu, thở dài không hài lòng việc tôi giao thiệp với Trịnh Hiếu Tế và những nhân vật đó, nói rằng: “Tô Kham (tên tự Trịnh Hiếu Tế), Tô Kham hắn thật quá nông cạn”.
            Nghe lời họ, tôi động tâm quyết định không chấp nhận bất cứ đại biểu nào của Vương  Thức và Semionov nữa nhưng Trịnh Hiếu Tế cứ về đến Thiên Tân, qua ông ta nói đi nói lại, tôi lại tin lời ông ta, lại chi tiền cho các vị khách khanh chi dùng.
            Tôi nhớ, về sau Trịnh Hiếu Tế còn tiến cử một người Áo và một người Anh tên là Ross. Người Áo nguyên là một quý tộc, đã từng làm việc ở Cục Bộ Công nghiệp ở tô giới Áo ở Thiên Tân. Ông ta tự khoe rất có địa vị ở Châu Âu, có thể triển khai hoạt động ở Châu Âu giành sự giúp đỡ cho phục tích. Vì vậy tôi cử ông ta làm cố vấn, bảo ông đến Châu Âu hoạt động và một lần chi cho vị khách khanh này 1800 đồng tiền chi phí hoạt động nửa năm. Ross là nhà báo, nói rằng muốn hoạt động phục tích cần ra báo, yêu cầu tôi chi 2 vạn đồng để ra báo. Tôi đưa ông ta 3000 đồng, sau đó báo có ra tên là “Thành báo” song được vài ngày là đóng cửa.
            Sự thật là như vậy, mặc dù có cung chắn cửa của “Hồ đại quân cơ” vẫn có nhiều người chỉ cần mang vé vào cửa “quân nhân liên lạc ủng hộ phục tích” là có thể vào Trương Viên. Đặc biệt là bắt đầu từ năm 1926, môn khách của tôi lại càng đông. Trong số các nhân vật đó, đáng nói là “Tiểu Gia Cát” Lưu Phượng Trí. Tôi biết Lưu Phượng Trí là do sự giới thiệu của Hứa Lan Uyên, một quận phiệt cũ hệ Phụng Thiên thủ hạ của Trương Huân. Lưu là bộ hạ cũ của Hứa, qua miệng Hứa, Lưu là “Gia Cát Lượng hiện đại”, “được người này bằng được Ngọa Long, Phượng Sồ, đã nắm chắc đại nghiệp phục tích”. Năm đó, Lưu Phượng Trí trạc 40 tuổi, khi gặp tôi, sau khi tự khoe tài năng của mình, lập tức đề nghị tôi lấy một số đồ cổ, tranh cổ, đồng hồ vàng cho ông ta để ông ta đi liên lạc với các nhân vật trên trường hoạt động. “Đối với loại nhân vật đó, chữ Phúc - Thọ, Xuân là không được”, câu nói này lần đầu tiên tôi nghe từ miệng ông ta, tuy có chút. khó tin, nhưng lại cho rằng con người này thẳng thắn. Tôi cho rằng ông ta dám nói những điều người khác không dám nói, có thể thấy lời nói của ông ta là đáng tin cậy. Do đó tôi khảng khái mở hòm, bảo ông ta lấy đi hết thứ này đến thứ khác đầy túi. Sau đó ông ta còn chỉ tên nói thứ này, thứ kia. Ví dụ có lần ông ta nói cần hoạt động với Trần Tác Hoa, bộ hạ của Trương Tác Lâm đã biên thư cho tôi nói:
            “Họ Trần có tài lớn, khi Trương Tác Lâm thắng trận, công ông ta rất lớn, Trương đãi rất trọng thể. Đồ vật nhỏ không thể lay động lòng ông ta, cần gửi trân châu, đá ngọc quí, hoặc kim cương, thứ đáng giá khoảng một vạn đồng. Sẽ có lợi gấp mấy chục lần”.
            Để lôi kéo Vinh Trăn, Mã Chiếm Sơn, Trương Tác Tương của hệ Phụng Thiên, ông ta chỉ rõ phải gửi cho mỗi người, mười hạt ngọc trai. Để lôi kéo một nghìn họ Mục, ông ta chỉ rõ phải gửi hạt châu nào trên mũ đính trân châu. Loại thư này cứ 4, 5 ngày lại có một bức. Trong đó phần lớn lại những câu: “Muốn người có thực tài phải tốn nhiều tiền, làm việc lớn không ngại tiểu tiết”, “Cần gửi nghiên đá Quảng Đông, lọ  tinh xảo, những thứ bên ngoài khó kiếm được”. Nếu như những báo cáo về tình hình hoạt động đều như thật thì hầu như các lữ trưởng hệ Phụng Thiên trở lên (thậm chí cả trung đoàn trưởng như khi Phú Song) cho đến các thủ lĩnh của 40 vạn Hồng Thương Hội, anh hùng giặc cỏ do Chiếm Sơn là vua... đều nhận được trân chân, ngọc quí, kim cương của tôi, đều rất cảm động dưới sự “không ngại tiểu tiết” của tôi, chỉ đợi tôi hạ lệnh là có thể ra tay. Tuy nhiên ông ta đã lấy bao nhiêu thứ, song chẳng thấy động tĩnh gì cả. Sau đó, do Trần Bảo Thám can ngăn, tôi hoang mang, không tích cực cho tiền nữa. Song Tiểu Gia Cát dù là nói trước mặt hay gửi thư tới đều là những câu:
            “Tình hình hiện muôn phần cấp bách, thành bại ở lần này, dù sao cũng xin tiếp tế 2 vạn đồng”, “khoản tiền hết sức cấp bách, mong dù thế nào cũng ban cho khoản tiền đó để tránh lỡ thời cơ”. Sau đó tôi cảm thấy sự việc không đúng, không muốn lại cho tiền, không lâu liền nhận được thư ông ta như sau: “Hoàng thượng nếu mỗi ngày không biết nghiên cứu, cũng không thật chú ý thời cuộc, há dám mong thành công sao? Nếu không tiến mạnh, cũng không thể hy vọng sẽ thành công...
            Lịch sử Trung Quốc đã mở, nếu là chủ mở nghiệp trung hưng, lại có người lãnh đạm như thế sao?”. Tôi đã quên việc “Tiểu Gia Cát” đó lìa bỏ tôi như thế nào. Chỉ nhớ sau đó ông ta khóc lóc trước tôi, chỉ xin mười đồng cứu tế. Về sau nghe nói ông ta đi ba hoa ở các vùng Đông Bắc bị Vạn Phúc Lân bắn chết.
            Giống như nhân vật kiểu Lưu Phượng Trì tôi có thể đưa ra hàng loạt tên như: Tất Hàn Chương, Lưu Duy Sâm... đều dùng thủ đoạn như vậy kích thích tôi lại lên ngôi báu, lấy di nhiều tiền bạc, đồ cổ, trân châu, ngọc quí... Những nhân vật đó cuối cùng chia tay với tôi, mỗi người mỗi kiểu, có người do “Hồ Đại Quân Cơ” hoặc người khác ngăn chặn, có người do tôi không gọi vào. Trong số đó, có một chính khách nhỏ tên là Phi Dục Giai có biệt hiệu là “anh béo phị” thường báo cáo với tôi rằng hắn đã liên hệ được với Okamoto người nổ mìn giết chết Trương Tác Lâm, đã tổ chức được các thị vệ của Trương Học Lương, sẽ tổ chức bạo động, tiến hành vũ trang phục tích ở Đông Bắc đón tôi “lên ngôi”. Lời khoác lác chấn động khó tin ấy đến tai Trần Bảo Thám, tất nhiên ông lại ra sức can ngăn, ngay Vinh Nguyên bố vợ tôi cũng phản đối việc tôi lại giao thiệp với hắn. Cuối cùng chia tay với Trương Viên “anh béo phị” có màn kịch khác người. Khi bị cự tuyệt không cho vào, hắn lập tức cả giận hung hăng gào thét với Vinh Nguyên: “Ta tốn bao nhiêu công sức thế mà coi thường ta. Được, ta sẽ dẫn chính phủ Quốc Dân tố cáo tội trạng lật đổ Dân quốc của Hoàng thượng các người”.
            Vinh Nguyên đã giao thiệp với đủ mọi hạng người nên nghe nói chẳng coi ra gì, trái lại cười nói: “Ta khuyên mi hãy thôi đi. Những thứ mi viết đến còn trong tay Hoàng thượng”. Tên “béo phị” nghe xong chỉ còn hậm hực rút lui.
            Sự biệt tăm của những nhân vật đó quanh tôi đã là lúc gần đến sự biến “mười tám tháng chín” cũng tức là sau khi bọn quân phiệt ở phía Bắc đổi sang cờ thanh thiên bạch nhật. Khi đó, tôi đã thật sự bỏ ảo tưởng đối với họ, đồng thời do những nguyên nhân khác nói sau, tôi đã đặt hy vọng vào nơi khác rồi.
 
Đăng nhập để trả lời
0

Sự kiện Đông Lăng

 
            Năm 1928 là năm đầy sự kiện kích thích tôi cũng là năm thê thảm đối với tôi. Trong năm đó một mặt nội các Tanaka của Nhật bản ra tuyên bố không cho phép quân đội Trung Quốc tiến vào Mông, Mãn, đồng thời xuất quân ra Tế Nam chặn bước tiến của quân đội phía Nam. Mặt khác Trương Tác Lâm, Ngô Bội Phu, Trương Tôn Xương và những quân đội có quan hệ với tôi do thất bại liên tiếp mà tan rã, không thành quân đội nữa. Các nhà hoạt động giúp tôi liên lạc với đám quân phiệt vừa báo lại những tin tức kích động lòng người, tôi lập tức lại đọc được những tin tức mà những quân nhân tương đối trung thành với tôi bỏ chạy và bị bắn chết.
            Tôi nghe nói: Chính phủ Nam Bắc Trung Quốc đều tuyệt giao với Liên Xô. Anh và Liên Xô cũng tuyệt giao. Quốc dân đảng ra sức thanh lọc đảng. Cơn “Hồng Thủy mãnh thú” mà Trịnh Hiếu Tế, Trần Bảo Thám cũng như người Nhật nói với tôi hầu như giảm bớt sự đe dọa đối với tôi song cũng theo những người này nói, nguy hiểm đang đến gần tôi, khắp nơi có hoạt động của những người thù ghét tôi. Tôi đọc được những tin tức trên báo chí về Quảng Đông có bạo động đồng thời, Phùng Ngọc Tường kẻ luôn luôn bị tôi coi là phần tử “quá khích”, “đỏ hóa” đã hợp tác với Tưởng Giới Thạch, đang từ tuyến Nam Kinh và Vũ Hán đánh tới. Nửa cuối năm 1928 những tin tức khiến người ta hoang mang chán nản ngày càng nhiều. Trương Tác Lâm chết, Công sứ Mỹ làm môi giới cho Trương Học Lương và Tưởng Giới Thạch… Ngoài những sự kiện đã nói ở trên, năm đó còn xẩy ra sự kiện kích động nhất là Tôn Điện Anh đào trộm Đông Lăng.
            Đông Lăng ở Mã Lan Dụ, huyện Tuần Hóa tỉnh Hà Bắc, là lăng tẩm của Càn Long và Tây Thái Hậu. Tôn Điện Anh là một quân nhân xuất thân lưu manh, đầu trộm đuôi cướp đã làm sư trưởng, quân trưởng bộ hạ của Trương Tôn Xương.
            Năm 1927, Tôn Điện Anh chịu sự sắp xếp của Tưởng Giới Thạch làm quân trưởng quân đoàn 41. 
            Năm 1928, Tôn mang bộ đội đến vùng huyện Kế, Mã Lan Dụ tiến hành đào trộm một cách có kế hoạch. Trước hết hắn ra thông báo, nói là tiến hành diễn tập quân sự, phong tỏa đường giao thông xung quanh. Sau đó do Tôn Tử Du, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn công binh của hắn mang quân đào bới, dùng thời gian ba đêm vét sạch các thứ của báu chôn theo Càn Long và Từ Hy.
            Càn Long và Từ Hy là những người sống xa xỉ nhất trong cuối triều đại nhà Thanh. Từ một bản tư liệu văn sử, tôi thấy một đoạn miêu tả Đông Lăng của họ:
            “Đường hầm trong mộ toàn dùng Hán bạch ngọc ghép thành. Có bốn cửa đá tiến vào cũng toàn là Hán bạch ngọc điêu khắc. Tẩm cung hình tám cạnh bên trên là vòm cuốn đắp chín con rồng vàng lấp lánh tỏa sáng. Diện tích tẩm cung tương đương với điện Trung Hòa ở Cố cung.
            Quan tài Càn Long làm bằng gỗ trầm, đặt trên một cái giếng tám cạnh. Các thứ đồ vật chôn theo hai ngôi mộ ngoài vàng bạc châu báu và các đồ dùng đều là những thứ của báu hiếm thấy. Các đồ vật chôn theo Từ Hy phần lớn là châu báu kim cương. Mũ phượng quan của bà dùng rất nhiều hạt trai lớn xuyên bằng chỉ vàng cấu thành. Trên tấm phủ liệm có một đóa hoa mẫu đơn to cũng dùng toàn hạt trai kết thành. Vòng tay dùng kim cương lớn nhỏ kết thành một đóa hoa cúc lớn và sáu bông hoa mai nhỏ, trong suốt tinh xảo. Chân bà ta đi một đôi giày hạt trai. Ngoài ra trong quan tài còn có 17 chuỗi hạt kết bằng châu ngọc và mấy đôi vòng ngọc thúy. Những vật chôn theo Càn Long đều là một số tranh vẽ, thư kiếm và những thứ điêu khắc bằng đá ngọc, ngà voi, san hô cũng như tượng Phật bằng vàng trong đó những sản phẩm bằng tơ đều đã mục nát không phân biệt được”.
            Khi nghe quan đại thần giữ Đông Lăng báo cáo tin Tôn Điện Anh đào trộm Đông Lăng, tôi bị kích động còn nặng nề hơn lúc bị buộc phải ra khỏi cung.
            Các di lão và hoàng tộc đều bị chấn động. Trần Bảo Thám, Chu Ích Phan, Trịnh Hiếu Tế, La Chấn Ngọc, Hồ Từ Viện, Vạn Thăng Thức, Cảnh Phương Sưởng, Viên Lệ Chuẩn, Dương Chung Nghĩa, Thiết Lương, Viên Đại Hóa, Thăng Sung... chẳng kể là người thuộc phái nào, chẳng kể đã mất tinh thần hay chưa mất tinh thần đều tới tấp đến chỗ tôi bày tỏ sự phẫn nộ đối với quân đội của Tưởng Giới Thạch. Di lão ở các nơi tới tấp gửi tôi tiền chi phí cho việc sửa lăng tổ. Với sự đề nghị và sắp xếp của những người nói trên, tại Trương Viên bày hình vị Càn Long và Từ Hy cùng hương án chiếu tế, giống như làm lễ tang, mười ngày ba lần tế lễ, các di lão di thiếu nối nhau đến làm lễ cúng vái khóc lóc sụt sùi. Nhà Thanh và các di lão liên tiếp gửi điện cho Tưởng Giới Thạch và tư lệnh quân bản vệ Bình - Tân, Diêm Tích Sơn cũng như các tòa báo yêu cầu trừng phạt Tôn Điện Anh, yêu cầu nhà đương cục sửa trả lăng mộ quyết định sẽ đặt linh đường ở Trương Viên tới khi nào lăng mộ được xây lại mới thôi.
            Lúc đầu, phản ứng của chính phủ Tưởng Giới Thạch còn khá, hạ lệnh Diêm Tích Sơn tra xét và giải quyết việc này. Một sư trưởng do Tôn Điện Anh cử tới Bắc Bình bị Diêm Tích Sơn giữ lại. Sau đó không lâu, có tin viên sư trưởng do Diêm Tích Sơn giữ lại đã được thả ra, Tưởng Giới Thạch quyết định không tra xét nữa. Lại có tin nói Tôn Điện Anh gửi biếu Tống Mỹ Linh, vợ mới cưới của Tưởng Giới Thạch một số đồ trang sức. Những hạt trai trên mũ phượng quan của Từ Hy trở thành vật trang sức trên đôi giày của Tống Mỹ Linh.
            Lòng tôi bốc lên ngọn lửa hận thù khôn xiết, đi tới trước linh đường ảm đạm phát ra lời thề làm mọi người trong hoàng tộc ràn rụa nước mắt:
            - Không báo thù này thì không phải là con cháu Ái Tân Giác La!
            Lúc đó, nhớ lại lời Phổ Vĩ trong lần đầu gặp tôi ở Thiên Tân: “Có Phổ Vĩ còn sống, đại Thanh không thể mất được!”, tôi cũng thề:
            - Tôi còn sống, đại Thanh sẽ không thể mất!
            Tư tưởng phục tích, phục thù của tôi lúc đó đạt tới đỉnh cao mới.
            Trong những ngày đó, Trịnh Hiếu Tế và La Chấn Ngọc là những người gần gũi nhất của tôi. Mỗi sự tích lịch sử và tin tức đương thời mà họ nói đến khiến tôi bị kích động và phẫn khái không thôi, đều tăng cường quyết tâm phục tích và phục thù của tôi. Đấu tranh đến cùng với chính phủ của Quốc Dân Đảng, đặt linh đường cho tới khi sửa chữa và khôi phục lăng mộ mới thôi; đó là chủ ý của họ nghĩ ra. Tuy nhiên, tình hình về sau ngày càng bất lợi. Bọn đào trộm mộ không bị tra xét, tình hình giữa  Bắc Kinh - Thiên Tân hoàn toàn thay đổi. Trong giới đương quyền không còn những bạn bè cũ như loại Đoàn Kỳ Thụy, Vương Hoài Khánh. Cha tôi cũng không dám trở lại Bắc Kinh, cả nhà đều đã rời tới trong tô giới ở Thiên Tân. Vì vậy tâm tình của tôi cũng từ căm giận chuyển thành lo âu. Hai nhà Tưởng - Tống kết thông gia khiến Trương Viên hiểu rõ sự kết hợp giữa các nhà mại bản Anh - Mỹ, chứng tỏ Tưởng Giới Thạch có chỗ dựa càng vững hơn so với đám quân nhân đã sụp đổ như Đoàn Kỳ Thụy, Trương Tác Lâm, Tôn Truyền Phương, Ngô Bội Phu. Cuối năm đó, chính phủ Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch được các nước trong đó có Nhật Bản công nhận. Thế lực và địa vị của ông ta đã vượt bất cứ tên quân phiệt nào trước đó. Tôi cảm thấy tiền đồ của mình vô cùng ảm đạm, cho rằng dưới sự thống trị của nhân vật đầy dã tâm này, đừng nói đến phục tích, ngay việc có thể chiếm một chỗ trong phạm vi thế lực của hắn hay không, e rằng cũng thành vấn đề.
            Từ đáy lòng, tôi thốt ra những lời nguyền rủa chính phủ Tưởng Giới Thạch và vận mệnh của mình, tôi bói hết quẻ này đến quẻ khác, rút hết thẻ này đến thẻ khác. Tôi đã từng bói xem Chính phủ Dân quốc có thể kéo dài hay không, được quẻ viết: “Thiên hạ đồng nhân biến ly, chủ thân niên hóa sung nhi tán”, đại ý là chính phủ Tưởng Giới Thạch bị quần chúng phản đối, người thân xa lìa, đến năm 1932 sẽ tiêu vong. Đương nhiên, nếu chính phủ Tưởng Giới Thạch sụp đổ có thể giải mối thù hận của tôi khiến tôi vô cùng sung sướng... Nhưng bất cứ ai có dục vọng mạnh mẽ và hận thù tất cả cũng đều không nên chỉ nhớ câu nói “Thành sự tại trời” mà quên “Cầu sự tại người”. Đặc biệt là lịch sử làm nên của Tưởng Giới Thạch cho tôi một tín niệm quan trọng. Đó là muốn nên việc ắt phải nắm binh quyền. Có binh quyền, thực lực, người nước ngoài tự nhiên sẽ đến giúp đỡ. Như tôi, một “Hoàng đế đại Thanh” chính thống, nếu như có quân đội, tự nhiên cũng được sự trọng thị của người nước ngoài hơn là bọn cướp biển hoặc bọn tướng soái xuất thân lưu manh. Vì vậy tôi quyết định cử anh em thân tộc, thân tín nhất cạnh tôi đi Nhật Bản học lục quân. Tôi cảm thấy điều đó còn cần thiết hơn là tự tôi đi nước ngoài.
            Tôi nảy ra cách nghĩ đó còn có một nguyên nhân đó là Phổ Kiệt đang thôi học, theo quân đội, gây rối loạn trong gia đình. Động cơ theo quân đội của em tôi cũng rất tức cười, nói rằng chịu ảnh hưởng của lời căn dặn của mẹ tôi, lập chí hướng muốn khôi phục triều Thanh, lại còn nói y hâm mộ những tướng soái trẻ tay nắm hổ phù, tự mình cũng muốn làm quan võ nổi tiếng. Sau khi Trương Tác Lâm chết, trước khi trở về Phụng Thiên Trương Học Lương có nới với Phổ Kiệt: “Tôi sẽ gửi ông đến võ đường” (trường học sĩ quan của quân hệ Phụng). Do đó em tôi cùng gia quyến Trương Học Lương rời Thiên Tân. Cha tôi đọc thư của y để lại, sợ muốn chết, yêu cầu tôi dù thế nào cũng nghĩ cách kéo y trở về. Tổng lãnh sự Nhật Bản ở Thiên Tân đáp ứng yêu cầu của tôi gửi điện cho  Đại Liên. Tại cảng Đại Liên, Phổ Kiệt vừa ở trên tàu bước xuống liền bị quân cảnh Nhật Bản giữ lại. Y được người của tôi cử đi đưa về Thiên Tân, vừa gặp tôi liền nói chí hướng vào quân đội là để khôi phục cơ nghiệp của tổ tiên. Lời nói của y thôi thúc ý nghĩ của tôi gửi y đi học lục quân ở Nhật Bản.
            Tôi quyết định phái Phổ Kiệt và Nhuận Kỳ, chồng em gái thứ ba tôi tới Nhật Bản học lục quân. Để chuẩn bị cho các em tôi lưu học, tôi đề nghị tổng lãnh sự Nhật Bản ở Thiên Tân giới thiệu một thầy dạy họ học tiếng Nhật. Tổng lãnh sự Nhật Bản tiến cử một người Nhật tên là Toyama Takeo, sau này mới biết đó là một hội viên Hội Hắc Long Nhật Bản, quen biết nhiều chính khách Nhật Bản. Người này về sau cũng vì lý tưởng phục tích của tôi, thay tôi bôn ba đến Nhật Bản. Sau khi tôi đến Đông Bắc. Vì ông ta không phải hệ thống quân đội nên bị loại bỏ và xa rời tôi. Ông thầy này dạy Phổ Kiệt và Nhuận Kỳ tiếng Nhật một ít ngày đã về Nhật Bản một chuyến để lo việc lưu học của họ. Theo ông ta, tạm thời vẫn chưa thể vào học trường sĩ quan Nhật Bản nhưng có thể vào học tập ở học viện chuyên dành cho con em quí tộc Nhật Bản, và còn được Okura Hachiro đại tài phiệt Nhật Bản giúp đỡ.
            Tháng 3/1929 tức bảy tháng sau xảy ra sự kiện Đông Lăng, hai vị tướng võ tương lai đã cùng Toyama Takeo đến Nhật Bản.
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 21.02.2022 08:04:24 bởi hoi_ls>

Lãnh sự quán, Bộ Tư lệnh, Hội Hắc Long

 
            … Đối với Nhật Bản, nên bí mật liên hợp mà bề ngoài thì tuyên bố cự tuyệt. Người Quan Đông căm thù Nhật Bản đến tận xương tủy. Nhật Bản cấm Quan Đông hòa hiệp với Quốc Dân đảng mà đủ sức để chiếm lấy, tuy nhiên Nhật Bản dù lấy được Quan Đông không thể tự trị, không được… 
            Hoàng Thượng lên ngôi sẽ bó chân bó tay. Nay thế người Nhật rất khẩn trương, Quan Đông đã không thể giữ được, người Nhật không có cách ổn định về sau. Do đó Tanaka phải mấy lần tỏ thiện ý. Hoàng thượng không một thành, một lữ, không dùng Nhật Bản lấy gì khôi phục? Thời cơ khó được mà dễ mất, trời cho không lấy sau hối không kịp. Cố nhiên đối với Nhật Bản chỉ có thành ý liên hợp, muôn vàn không có lý cự tuyệt. Cái khó là ta mượn sức Nhật Bản mà ắt phải trước tiên, được lòng Quan Đông. Nếu nay người Quan Đông nghi ta hợp với người Nhật mưu tính họ, thì sau này muốn do Đông tam tĩnh ủng hộ thế sẽ khó. Ý này không ngại nói rõ với người Nhật.
            Hoàng thượng khôi phục địa vị, Nhật Bản giành quyền ở Đông tam tĩnh, bề trên cần nhượng bộ mới dễ làm việc…. 
            Đây là một đoạn trong một bản sờ tâu mà tôi nhận được năm 1928. Đoạn nói này đại biểu cho cách nghĩ của đa số người trong Trương Viên cũng là kết luận ngày càng tin phục sau nhiều năm hoạt động của tôi.
            Phần trên tôi đã nói: Từ khi tôi vào Bắc Phủ được sự “quan tâm” của người Nhật đến nay, đã có một số tin cậy đến với người Nhật. Tôi đã ở một số ngày trong lãnh sự quán Nhật Bản, sau khi đến Thiên Tân, tôi ngày càng tin rằng người Nhật là lực lượng hàng đầu giúp đỡ từ bên ngoài đến với sự phục tích của tôi trong tương lai.
            Năm đầu tiên tôi đến Thiên Tân, Tổng lãnh sự Nhật Bản Oshida Abagemi mời tôi tham quan một trường tiểu học kiều dân Nhật Bản. Trên đường về các học sinh nhỏ Nhật Bản tay cầm cờ giấy, xếp hàng đứng hai bên đường hướng tôi hoan hô muôn năm.
            Cảnh tượng đó khiến tôi trào nước mắt suýt xoa mãi. Khi ngọn lửa nội chiến lan tới sát Thiên Tân, quân các nước đóng ở tô giới đã tổ chức liên quân tuyên bố sẽ đối phó với quân Dân Quốc dám đến gần tô giới. Trung tướng Koizuni Rokuichi thủ lĩnh quân đội Nhật Bản đóng tại Thiên Tân báo cáo với tôi: “Xin Hoàng đế Tuyên Thống yên tâm, chúng tôi quyết không cho phép lính Trung Quốc tiến một bước vào tô giới”. Tôi nghe rồi rất đắc ý.
            Mỗi khi năm mới tới hoặc mừng thọ tôi, lãnh sự quán và các tướng tá đến chúc mừng tôi. Đến tiết “Thiên trường” Nhật Bản, họ còn mời tôi xem lễ duyệt binh. Còn nhớ có một lần duyệt binh tiết “Thiên trường”, Uedakenyoshi tư lệnh quân đội Nhật Bản mời nhiều nhân vật lưu vong cao cấp ở tô giới như Tào Nhữ Lâm, Lục Tiên Hưng, Cận Vân Bằng... đi dự. Khi tôi đến nơi tư lệnh Uedakenyoshi đặc biệt cưỡi ngựa đến chào. Khi duyệt binh xong, các vị khách Trung Quốc chúng tôi tụ lại một nơi, cùng người Nhật đồng thanh hô to “Thiên Hoàng muôn năm”.
            Bộ tư lệnh quân đội Nhật thường xuyên cử một viên tham mưu cấp tá đến nói thời sự với tôi trong nhiều năm rất cố gắng nghiêm túc, có khi còn mang đến cả những biểu đồ chuyên môn. Người thứ nhất đến nói là tham mưu tên là Kawatari. Sau khi y được điều di nơi khác, người tiếp tục đến nói là Kinsutatsu, tiếp đến là Yoshioka Yasunori, sau này làm “ngự dụng quải” (Cái mắc áo của vua) cho tôi ở Ngụy Mãn. Con người này đã ở với tôi tại Ngụy Mãn trong mười năm, phần sau tôi sẽ dành một tiết nói về hắn.
            Thời sự mà tham mưu quân đội Nhật nói chủ yếu là tình hình nội chiến, trong lúc giảng giải thường phân tích như sau: “Sự rối loạn của Trung Quốc căn bản là do “quần long vô thủ” (đàn rắn không đầu) không có Hoàng đế”. Đồng thời từ đó nói đến tính ưu việt của thể chế Thiên Hoàng của Nhật Bản; nói đến “lòng dân” của Trung Quốc chỉ có “hoàng đế Tuyên Thống” mới tập hợp được. Quân đội Trung Quốc hủ bại hèn yếu là khóa đề không thể thiếu được, tự nhiên cũng lấy hoàng quân Nhật Bản để so sánh. Còn nhớ sau khi xẩy ra vụ thảm án Tế Nam, Yoshioka đã dành ít nhất một tiếng đồng hồ miêu tả với tôi về sự yếu kém của quân đội Trung Quốc Tưởng Giới Thạch. Bản sao thông cáo của Nhật Bản cũng là hắn mang tới cho tôi lần đó.
            Lần nói chuyện đó cùng với ấn tượng về mấy lần duyệt binh của quân đội Nhật khiến tôi tin tưởng sâu sắc rằng quân đội Nhật lớn mạnh, tin tưởng sâu sắc vào sự ủng hộ của quân đội Nhật đối với tôi.
            Một lần tôi đến bờ sông Bạch Hà để dạo chơi, nhìn xuống binh hạm của Nhật Bản đậu giữa dòng sông. Không rõ vì sao hạm trưởng binh trạm biết bỗng nhiên tự lên bờ kính cẩn mời tôi xuống tham quan hạm đội của ông ta. Đến chiến hạm, hải quân Nhật xếp hàng chào tôi. Lần đó, do vội vã hai bên đều không chuẩn bị phiên dịch, chúng tôi dùng bút đàm một hồi. Tên binh hạm này là “Đằng”, hạm trưởng họ Hoda. Sau khi tôi quay về, Hoda và một số sĩ quan đến thăm lại tôi. Theo yêu cầu của ông ta, tôi tặng một tấm ảnh có chữ ký. Ông ta bày tỏ đây là vinh hạnh rất lớn của ông ta. Qua sự kiện trên, tôi cảm thấy người Nhật Bản thật sự tôn kính tôi. Sau khi tôi lôi kéo quân phiệt, mua chuộc chính khách, nhiệm dụng khách khanh đều không có hiệu quả gì, vị trí người Nhật Bản trong tâm lý tôi càng thêm quan trọng.
            Mới đầu, “Người Nhật Bản”, ba từ đó trong tâm lý tôi là một chỉnh thể. Đó đương nhiên không bao gồm thường dân Nhật Bản, mà là người Nhật Bản của công sứ quán Nhật Bản, tổng lãnh sự quán Nhật ở Thiên Tân và Bộ Tư lệnh quân Nhật Bản đóng ở Thiên Tân cho dến những người Nhật lang thang không phải văn, không phải võ giao thiệp với La Chấn Ngọc, Thăng Sung. Tôi coi họ thành một chỉnh thể vì họ đều “bảo hộ” tôi, coi tôi là một hoàng đế, đều coi thường Dân quốc, ca ngợi đại Thanh. Khi mới đầu tôi nêu ý kiến cần xuất dương đến Nhật Bản, họ đều tỏ ý tán thành và ủng hộ. Năm 1927, do sợ hải quân Bắc phạt đã đến gần, một dạo tôi đã tiếp thu lời khuyên của La Chấn Ngọc, quyết định sang Nhật. Qua sự môi giới của Tổng lãnh sự quán Nhật Bản, Tổng lãnh sự quán xin ý kiến trong nước, nội các Tanaka tỏ ý hoan nghênh và quyết định tiếp đãi tôi theo nghi lễ quân chủ. Theo La Ngọc Chấn nói: Phía quân đội Nhật Bản đã chuẩn bị dùng quân đội bảo hộ tôi khởi hành. Chỉ vì do tình thế hòa dịu, cũng còn do Trần Bảo Thám, Trịnh Hiếu Tế phối hợp can ngăn nên việc đó không thành. Sau đó, chính phủ Quốc dân Đảng ở Nam Kinh được thành lập. Khẩu hiệu chính thức “đả đảo chủ nghĩa đế quốc”, “bãi bỏ hiệp ước bình đẳng” không còn nữa. Tôi dần dần phát hiện: mặc dù sự “tôn kính”, “bảo hộ” của Nhật Bản vẫn chưa thay đổi song trên loại vấn đề như tôi xuất dương, thái độ của họ có sự khác nhau. Sự khác nhau đó thậm chí tới mức tôi hết sức căm phẫn.
            Nửa cuối năm 1927, một hôm La Chấn Ngọc nói với tôi: “Tuy tô giới Nhật tương đối an toàn song rút cục là vàng thau lẫn lộn. Theo Bộ Tư lệnh Nhật Bản nói: bọn mật vụ của đảng cách mạng (đó là cách gọi ở Trương Viên gộp Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản làm một) lẫn vào không ít. Sự an toàn của “thánh giá” đáng lo ngại. Thần thấy rằng, vẫn là tạm đi sang phía Đông là hơn, có thể trước hết đến Lữ Thuận. Ở đó, Cung thân Vương có sự chuẩn bị thỏa đáng. Phía quân đội Nhật Bản cũng sẵn sàng giúp đỡ đảm đương trách nhiệm hộ giá. Khi đó tôi lo lắng bàng hoàng về những lời đồn đại về “bọn mật vụ”, nghe lời La Chấn Ngọc, đặc biệt là Phổ Vỹ lại gửi thư tới nên tôi lại một lần hạ quyết tâm xuất hành. Bất chấp lời phản đối của Trần Bảo Thám và Trịnh Hiếu Tế, tôi lập tức bảo Trình Hiếu Tế tới Tổng lãnh sự Nhật Bản, tôi muốn đích thân gặp và bàn với ông ta. Nghe tôi bảo, Trịnh Hiếu Tế sững người hỏi:
            - Hoàng thượng gặp Kato Tobametsu, ai làm phiên dịch? là Tạ Giới Thạch ư?
            Tôi hiểu ý ông ta. Tạ Giới Thạch là người Đài Loan do Thăng Sung giới thiệu, khi ở Bắc Kinh đã ra vào trong cung. Khi Trương Huân phục tích, đã 12 ngày làm quan chức Bộ Ngoại giao sau đó do người Nhật Bản tiến cử đã làm thư ký bộ hạ Lý Cảnh Lâm. Khi đó, Tạ Giới Thạch theo sát La Chấn Ngọc không những cung cấp tin tức cho tôi về “hành động của bọn mặc thường phục”, đảng cách mạng tiến hành ám sát tôi v.v... Khuyên tôi đến Lữ Thuận lánh nạn cũng có ý kiến của hắn. Trịnh Hiếu Tế rõ ràng không thích người của La Chấn Ngọc làm phiên dịch cho tôi, mà đồng thời tôi biết rằng trên vấn đề quan trọng này... La Chấn Ngọc cũng không thích Trịnh Thùy, con trai Trịnh Hiếu Tế hoặc Lưu Nhượng Nghiệp, cháu ngoại Trần Bảo Thám làm phiên dịch. Nghĩ một chút tôi quyết định:
            - Dùng phiên dịch tiếng Anh, Kato biết tiếng Anh. 
            Tổng lãnh sự Kato và các phó lãnh sự Okamato, Issaku, Shirai đều tới. Nghe tôi nói xong, Kato trả lời.
            - Vấn đề bệ hạ nêu ra, tôi chưa thể trả lời ngay, vấn đề này cần phải xin ý kiến của Tokyo.
            Tôi nghĩ thầm: đây vốn là việc mà Bộ Tư lệnh Nhật Bản nói với La Chấn Ngọc rằng không có vấn đề. Lại nói, tôi không phải đi Nhật Bản, sao lại phải hỏi Tokyo? Các nhà lưu vong cao cấp ở Thiên Tân cũng có người đến Lữ Thuận nghỉ hè. Họ đi cũng không cần báo Tổng lãnh sự quán Nhật Bản, với tôi sao lại tăng phần phiền phức như vậy? Tôi không hoàn toàn nói ra những điều tôi thầm nghĩ, Kato đã lại nêu thêm một vấn đề nữa:
            - Xin hỏi, đây là ý của bệ hạ ư?
            - Là ý kiến của tôi. - Tôi trả lời một cách không vui vẻ. Tôi lại nói: - Hiện nay có nhiều tin tức không có lợi với tôi. Tôi ở đây không được yên tâm. Theo Bộ Tư lệnh Nhật Bản nói: hiện nay đảng cách mạng phái tới nhiều mật vụ. Tổng Lãnh sự quán nhất định có tin này chứ?
            - Đó là tin đồn, bệ hạ đừng có tin.
            Khi nói, Kato mặt không vui. Ông ta nói tình báo Bộ Tư lệnh là tin đồn, khiến tôi cảm thấy rất lạ lung. Tôi đã từng căn cứ vào những tình báo đó yêu cầu ông ta tăng thêm cảnh vệ. Cảnh vệ đã tới ông ta rút cục có tin hay không tin những tin tức đó? Tôi không nhịn được liền nói:
            - Tình báo của phía Bộ Tư lệnh sao lại có thể là tin đồn?
            Nghe câu nói đó, Kato im lặng hồi lâu. Hai vị phó lãnh sự, không rõ họ có hiểu tiếng Anh không, cọ quậy một hồi trên ghế sô pha.
            Cuối cùng Kato nói: “Bệ hạ có thể tin chắc rằng, an toàn không thể có vấn đề, đương nhiên vấn đề xin đến Lữ Thuận tôi xin vâng mệnh đi xin ý kiến chính phủ chúng tôi”.
            Hắn nói chuyện này khiến tôi lần đầu tiên cảm thấy giữa Tổng lãnh sự quán và Bộ Tư lệnh Nhật Bản không có sự ăn ý. Tôi cảm thấy lạ lùng và cũng rất bực mình. Tôi gọi La Chấn Ngọc và Tạ Giới Thạch tới hỏi lại. Họ khẳng định nói: phía Bộ Tư lệnh và những người gần gũi Bộ Tư lệnh đều nói như thế. Họ nói:
            - Tình báo của Bộ Tư lệnh là rất đáng tin cậy. Về nhất cử nhất động của đảng cách mạng từ trước tới nay là rất rõ ràng. Dù nói thế nào, dù ám sát chỉ là lời đồn cũng cần đề phòng.
            Sau đó mấy ngày, Vinh Nguyên, bố vợ tôi báo cáo với tôi: Bạn bè bên ngoái nói với ông, thích khách mật vụ của Phùng Ngọc Tường từ tô giới Anh đến, tình hình rất đáng lo ngại.
            Khâu Kế Trung, “người hầu” tôi cũng báo cáo: hắn phát hiện gần cửa lớn có một số người dáng vẻ khả nghi, ngó nghiêng nhìn vào trong vườn.
            Nghe những tin đó, tôi vội gọi Đồng Tế Hy, người quản lý tạp vụ và Tố Ngọc Sơn người quản quân bảo vệ…, bảo họ báo với quân cảnh Nhật tăng cường kiểm soát, dặn dò quân bảo vệ chú ý những người lảng vảng bên ngoài và cấm ra vào ban đêm. Ngay hôm sau, tôi nghe một người hầu nói: tối hôm trước vẫn có người ra vào không tuân thủ lệnh cấm của tôi. Tôi lập tức hạ lệnh ghi một lầm lỗi lớn của Đồng Tế Hy và phạt tiền lương (50) những người trái lệnh ra vào để nhắc nhở.
            Tóm lại, thần kinh của tôi khá căng thẳng. Có một đêm, trong giấc mộng, tôi bỗng bị một phát súng đánh thức, tiếp đó, lại một phát súng nữa. Tiếng nổ chuyền từ phía sau ngoài cửa sổ tới. Tôi lập tức nhảy khỏi giường, gọi người triệu tập quân bảo vệ. Tôi cho rằng nhất định là mật vụ của Phùng Ngọc Tường tới. Toàn bộ người ở Trương Viên đều thức dậy, quân bảo vệ được bố trí khắp nơi. Quân tuần tiễu Nhật Bản (người Hoa) canh gác cửa lớn tăng cường cảnh giới. Cảnh sát Nhật Bản đóng trong trang viên ra ngoài xem xét. Kết quả, bắt được người bắn súng, tôi không ngờ tới kẻ bắn súng đó là người Nhật.
            Hôm sau, Đồng Tế Hy báo cáo với tôi: Người Nhật đó tên là Kishida là phần tử Hội Hắc  Long. Cảnh sát Nhật đã giải hắn đến cơ quan cảnh sát Bộ Tư lệnh Nhật Bản lập tức mang hắn đi. Nghe nói như thế, tôi đã hiểu sự việc đến bảy, tám phần.
            Đối với nhân vật Hội Hắc Long tôi đã có lần tiếp xúc: Mùa đông năm 1923, tôi đã tiếp kiến Tsukuda Nobuo, nhân vật quan trọng của Hội Hắc Long. Đầu mối dẫn tới cùng là do sự hô hào của La Chấn Ngọc. La Chấn Ngọc nói với tôi: Khắp Nhật Bản đều rất đồng tình với tôi sau khi bị buộc phải ra khỏi cung và tỵ nạn. Nhiều nhân vật quyền thế ở Nhật Bản, bao gồm cả quân đội đều đang vạch kế hoạch giúp tôi phục tích. Hiện nay, Tsukuda, đại biểu của họ đã được cử tới, muốn đích thân bàn bạc với tôi ông ta nói: “quyết không để mất cơ hội, cần lập tức triệu kiến nhân vật này. Tsukuda là người thế nào, tôi vẫn chưa hề nghe tới. Trong phủ Nội vụ có người biết ông ta, nói sau Cách mạng Tân Hợi, ông ta thường lui tới các vương phủ, có một số giao thiệp với các vương công tôn thất. Tin tức của La Chấn Ngọc thúc đẩy tôi song tôi cảm thấy Tổng lãnh sự Nhật Bản là đại biểu chính thức của Nhật, lại là người bảo hộ tôi, lẽ tất nhiên cần mời họ đến cùng bàn bạc. Do đó tôi gọi người thông báo Tổng lãnh sự Nhật Aridahachiro, mời ông ta đến dự. Ai ngờ khi Tsukuda tới, thấy có mặt Aridahachiro lập tức quay người đi ra, khiến Trần Bảo Thám, Trịnh Hiếu Tế có mặt đều vô cùng kinh ngạc. Sau đó Trịnh Hiếu Tế đến trách hỏi ông ta sao lại đám “Vô lễ trước Thánh thượng” như thế, ông tả trả lời: “Mời Aridahachiro tới chẳng phải là không thật lòng đối với tôi hay sao? Đã như vậy, đổi ngày sẽ bàn luận”.
            Nay xem lại, hoạt động đó của La Chấn Ngọc cũng như việc nổ súng tạo không khí khủng bố của Kishida là sự tiếp tục hoạt động của Tsukuda. Kiểu hoạt động đó rõ ràng là có Bộ Tư lệnh quân đội Nhật đứng đằng sau.
            Sau đó tôi gọi Trần Bảo Thám và Trịnh Hiếu Tế tới nghe quan điểm của họ đối với sự kiện này.
            Trịnh Hiếu Tế nói: “Xem ra, hai giới chính trị và quân sự Nhật Bản đều muốn xin bệ hạ ở trong phạm vi thế lực của mình để bảo hộ. Họ tuy không hợp tác cũng không thiệt hại gì cho ta. Tuy nhiên, La Chấn Ngọc làm việc khó tránh hoang đường, cách làm đó của ông ta chỉ có thất bại mà không thể thành công, muôn vàn không thể trọng dụng”.
            Trần Bảo Thám nói: “Chẳng kể là Bộ Tư lệnh quân Nhật hay Hội Hắc Long, họ làm việc đều hoàn toàn không có trách nhiệm. Ngoài Công sứ và Tổng Lãnh sự Nhật, ai nói cũng chớ có nghe!”. Tôi cân nhắc một chút, cảm thấy lời họ nói rất có lý nên không nghĩ đến việc yêu cầu Tổng Lãnh sự rời Thiên Tân nữa. Từ đó, tôi cũng không còn hứng thú đối với La Chấn Ngọc. Năm sáu, ông ta bán nhà ở Thiên Tân, chạy lên Đại Liên.
            Kể cũng lạ, La Chấn Ngọc vừa đi, tin đồn cũng ít đi. Ngay Vinh Nguyên và Khâu Kế Trung cũng không có tin báo kinh người nữa. Mãi rất lâu về sau, tôi mới biết rõ một đầu mối trong đó.
            Đó là người phiên dịch tiếng Anh của tôi nói với tôi. Ông ta là anh em đồng hao của Vinh Nguyên. Do mối quan hệ đó, cũng do ông ta có giao tiếp về công việc phiên dịch đối với Bộ Tư lệnh quân đội Nhật, thăm dò được một chút tình hình bên trong, sau đó tiết lộ với tôi. Thì ra, Bộ Tư lệnh quân đội Nhật chuyên đặt một cơ quan mật vụ, công tác rất lâu ở Trương Viên. Quan hệ với cơ quan này, ít nhất là mấy người La Chấn Ngọc, Tạ Giới Thạch, Vinh Nguyên phiên dịch tiếng Anh của tôi đã được ba người đưa tới một nơi bí mật của cơ quan đặc vụ. Nơi đó bề ngoài gọi là “Sanno công quán”.
            Ông ta được họ đưa đi là sau hôm tôi tiếp Kato. Sau khi ông ta làm xong công việc phiên dịch, bị ba người La - Tạ - Vinh giữ lại, thăm dò tình hình hội đàm. La Chấn Ngọc và mấy người nghe nói Kato hoàn toàn không nhiệt tình đối với việc ra đi của tôi, lập tức hoảng hốt. Qua bàn bạc của họ, phiên dịch tiếng Anh nghe được hoàn toàn khác với có người phía Bộ Tư lệnh bày tỏ thái độ dối với La Chấn Ngọc, đó là nói: được, cần đưa tôi đến ở Lữ Thuận. Để báo cáo với người của bộ Tư lệnh về lời nói của Kato, đám ba người La Chấn Ngọc đưa phiên dịch tiếng Anh đến “Sanno Công quán” tìm người đó. Kết quả không tìm thấy mà phiên dịch tiếng Anh lại phát hiện ra nơi bí mật này. Sau đó qua Vinh Nguyên và phía khác, ông ta được biết đó là nơi có khói thuốc phiện, đàn bà và tiền bạc. Vinh Nguyên là khách thường xuyên của nơi này, có lần ông ta thậm chí làm nhục một người được gọi là Okuma, người Nhật Bản. Okuma báo cáo việc đó với Bộ Tư lệnh Nhật Bản cũng không đụng được tới ông ta. Còn về Vinh  Nguyên và mấy người cùng “Sanno công quán” có những hoạt động cụ thể như thế nào, Vinh Nguyên cũng không chịu tiết lộ.
            Tên đầy đủ của Sanno là Sanno Tomoyoshi. Tôi biết người này, hắn là một thiếu tá của Bộ Tư lệnh thường đi với viên tư lệnh quân đội Nhật đến làm khách của Trương Viên. Khi đó tôi tuyệt nhiên không nghĩ tới, chính là con người này, qua “công quán” của hắn thiết lập quan hệ qua lại rất thân thiết với một số  người ở Trương Viên, nắm chắc tình hình trong Trương Viên, khiến bọn người như Vinh Nguyên trong Trương Viên rất vâng lời cho đến  về sau qua họ, đưa tin đồn đến tận tai tôi, khiến tôi mấy lần muốn chạy đến Lữ Thuận. Sau khi nghe phiên dịch của tôi tiết lộ một số tình hình của “Sanno công quán” tôi chỉ nghĩ tới việc Bộ Tư lệnh Nhật tốn công lôi kéo đám Vinh Nguyên chẳng qua là để giành giật tôi với lãnh sự quán, sự giành giật của hai phía như vậy đúng như Trịnh Hiếu Tế nói là rất có ích, không có hại đối với tôi.
            Sự thật là, hiện tượng cuộc giành giật tôi thấy được cũng như thế. Cuộc giành giật kịch liệt và phức tạp giữa lãnh sự quán và Bộ Tư lệnh không kém những điều xẩy ra giữa các di lão xung quanh tôi. Ví dụ: Bộ Tư Lệnh cử tham mưu mỗi tuần đến nói thời sự với tôi, lãnh sự quán cũng cử Enzan Takeo làm thầy dạy học ở hoàng thất. Mỗi lần lãnh sự quán mời tôi ắt đồng thời mời Trịnh Hiếu Tế, trong lời mời của Bộ Tư lệnh thì không thể thiếu La Chấn Ngọc.
            Lãnh sự quán cử sĩ quan cảnh sát Nhật Bản đóng ở Trương Viên còn Bộ Tư lệnh đặt “Sanno công quán” chuẩn bị đàn bà, thuốc phiện, ... cho đám người Vinh Nguyên, La Chấn Ngọc, Tạ Giới Thạch, v.v...
            Còn về Hội Hắc Long, tôi hiểu được muộn nhất, vẫn là Trịnh Hiếu Tế nói với tôi. Đây là đoàn thể lớn nhất của những người lang bạt Nhật Bản, tiền thân gọi là “Huyền Dương xã” thành lập sau chiến tranh Trung - Pháp do Hiraoka Kotaro, một người Nhật lang bạt sáng lập, là tổ chức đặc vụ tiến hành hoạt động gián điệp lớn nhất ở Trung Quốc. Mới đầu ở Phúc Châu, Yên Đài, Thượng Hải đều có cơ quan lấy Lãnh sứ quán, trường học, quán chụp ảnh làm nơi che dấu như “Đông dương học hiệu” ở Thượng Hải và sau đó là “Đồng văn thư viên” đều như thế. Tên “Hội Hắc Long” có nghĩa là “Vượt qua Hắc Long Giang” xuất hiện năm 1901. Trong chiến tranh Nhật Nga, tổ chức này cũng đã có tác dụng rất lớn, nghe nói lúc đó hội viên Hội Hắc Long lên tới mấy chục vạn người, có số tiền vốn hoạt động rất lớn. Toyama Mitsuru là lãnh tụ nổi tiếng của Hội Hắc Long. Dưới sự chỉ huy của hắn, vây cánh của hắn đã thâm nhập vào các tầng lớp ở Trung Quốc, tức bên cạnh các vương công đại thần cuối Nhà Thanh như bọn Thăng Sung đến bọn đầu cơ tay sai như trong đoàn người hầu ở Trương Viên không có nơi nào không có bọn chúng tiến hành những công việc mưu sâu tính xa. Nhiều nhân vật Nhật Bản nổi tiếng như Doihara, Hirota Koki, Hiranuma Kiichiro, Arita Hachiro và Kazuki Seiji... đều là học trò của Toyama Mitsuru. Theo Trịnh Hiếu Tế nói: Toyama Mitsuru là tín đồ Phật giáo, có bộ râu bạc dài, nét mặt “hiền từ”, bình sinh rất thích hoa hồng, suốt năm không muốn rời vườn hoa của ông ta. Chính là một tín đồ đạo Phật, trong mùi thơm ngào ngạt của hoa hồng, vuốt chòm râu bạc, nét mặt “hiền từ” đã đặt ra những âm mưu hại người và những hung án chưa từng thấy của con người. Trịnh Hiếu Tế về sau có thể thấy được lực lượng của Hội Hắc Long và hệ thống quân đội Nhật Bản cần phải quy công cho La Chấn Ngọc. Trịnh Hiếu Tế, Trần Bảo Thám là ba loại tư tưởng khác nhau. La Chấn Ngọc cho rằng: các quân nhân cũng như các nhân vật Hội Hắc Long đều đáng tin cậy. Trần Bảo Thám cho rằng ngoài Tổng Lãnh sự quán đại biểu chính phủ Nhật Bản, lời những người Nhật Bản đều không thể tin cậy được. Trịnh Hiếu Tế công khai phụ họa Trần Bảo Thám để phản đối La Chấn Ngọc. Mới đầu ông ta cũng hoài nghi đối với Bộ Tư lệnh và Hội Hắc Long song ông ta dần dần qua sự huyênh hoang của La Chấn Ngọc và những việc làm sai trái của Hội Hắc Long thấy rõ động hướng của một số thế lực phía Tokyo, thấy rõ ý đồ thực tại của nhà cầm quyền Nhật Bản, thấy được lực lượng mà ông ta có thể dựa. Vì vậy, cuối cùng ông ta quyết định: tạm thời bỏ kế hoạch mưu tìm các nước cùng quản lý, chuẩn bị hành trang sang phía Đông, đến Nhật Bản tìm Hội Hắc Long và Bộ Tổng tham mưu.
            Đề nghị đến Tokyo hoạt động của ông ta được tôi tán thành, được công sứ Yoshizawa đồng ý. Cùng đi với ông ta có một người Nhật tên là Datoho, một người có quan hệ giữa quần chúng và triều đình. Qua sự xắp xếp của con người lang bạt này, ông đã tiếp xúc được với quân đội Hội Hắc Long. Sau đó, ông ta rất hài lòng nói với tôi: triều đình và dân chúng Nhật đều tỏ ý “quan tâm” và “đồng tình” đối với việc phục tích của tôi, và cảm thấy hứng thú đối với chính sách mở cửa của chúng tôi trong tương lai.. Tóm lại, nếu thời cơ đến, chúng ta có thể đưa ra yêu cầu chi viện.
            Ở Nhật Bản, ông ta là đại biểu của tôi, được những nhân vật nhiệt tình khôi phục triều Thanh tiếp đãi, trong đó có nhiều người là quen cũ của tôi, ví dụ như Tokada Fuju, nguyên là Tư lệnh quân Nhật đóng ở Thiên Tân, phó lãnh sự Shirai, Takemoto Ohichi là Đại tá, khi ở Bắc Kinh đưa tôi đến doanh trại quân đội Nhật, Kishida, hội viên Hội Hắc Long, là người nổ súng ngoài cửa của tôi, Tsukuda Nobuo, nhân vật quan trọng của Hội Hắc Long, không chịu bàn việc “cơ mật” trước tổng lãnh sự... Chẳng kể ở Trung Quốc họ bất hòa như thế nào, khi đó trái lại đã cùng tiếp đãi rất thân mật “Trịnh đại thần”. Ngoài những nhân vật trước đó đã trực tiếp có mặt, một số nhân vật cỡ lớn vẫn còn trong bí mật nhưng sau đó giữ những chức vụ quan trọng thủ tướng, bộ trưởng... như Konoe Fumimaro, Ugaki Kazushige, Yonai Mitsumasa, Hiranuma Knchiro, Suzuki Kantaro, Minami Jiro cho đến Yoshida Shigeru, còn có một số chính khách tài phiệt nổi tiếng khi đó đều lộ mặt. Có lẽ khi hội đàm với những nhân vật đó “chính sách mở cửa cả nước” của Trịnh Hiếu Tế dẫn tới phản ứng khiến ông ta quá vui mừng. Cho nên sau khi Ngụy Mãn thành lập, đám “khách” đầu tiên đến “mở cửa” ông ta vẫn không quên lý tưởng “cùng quản lý”, khi có dịp là tuyên truyền với bên ngoài về “mở cửa, cơ hội như nhau”. Điều đó giống như người ở ném dây thừng cho kẻ cướp, mở cửa lớn của chủ nhà cho một toán cướp tiến vào, làm người coi việc cho bọn cướp; cảm thấy chưa đủ, còn phát giấy mời cho các toán cướp khác. Như vậy, tự nhiên chọc tức bọn cướp đã vào cửa, co chân đạp ông ta ngã lăn chiêng. 
 
 
---------------------------------------------------------
(50) Khi đó biện pháp quản lý cấp dưới ở Trương Viên, căn cứ lời tâu can của các thầy và lời cầu khẩn của Đồng Tê Hy đã bỏ phạt roi, đổi thành nhẹ thì quỳ, nặng thì phạt trừ tiền lương. (Nguyên chú).
 
Đăng nhập để trả lời
0
Cuộc sống “hành tại” (51)
 
            Sau một thời gian sống ở Trương Viên, tôi cảm thấy hoàn cảnh ở đây thoải mái hơn nhiều so với Tử Cấm Thành ở Bấc Kinh. Tôi cho rằng trừ phi thời cơ phục tích đã chín muồi, hoặc xẩy ra lực lượng bên ngoài không thể chống cự được, tôi ở đây vẫn hơn. Đó cũng là nguyên nhân khiến ý muốn xuất dương của tôi tiêu tan.
            Trương Viên (và sau này là Tĩnh Viên) đối với tôi không có những thứ mà tôi không thích như ở Tử Cấm Thành lại hầu như vẫn giữ được mọi thứ cần thiết. Ở Tử Cấm Thành, tôi không thích nhất trước hết là sự gò bó, lúc nào cũng ngồi trên xe, ra phố không được tự do; sau đó là đám người Phủ Nội vụ mà tôi bực mình. Nay tôi đã được tự do, muốn làm gì thì làm, người khác chỉ có việc tâu can chứ không có cách nào can thiệp. Tại Tử Cấm Thành, tôi cho rằng điều cần thiết là sự uy nghiêm của tôi thì ở đây vẫn tồn tại. Tuy nhiên tôi đã không mặc bộ long bào hoàng đế nặng nề, thường xuyên mặc áo thụng, nhiều hơn là mặc âu phục. Song điều đó không ảnh hưởng gì đến việc người khác đến vái chào tôi. Nơi tôi ở, trước đã từng là nơi vui chơi giải trí không có ngói lưu ly, cũng không có cột xà trạm trổ, song vẫn có người gọi đó là “hành tại” (tôi cảm thấy thiết bị phun nước và hơi ấm của nhà lầu dễ chịu hơn nhiều so với điện Dưỡng Tâm). Những người trong tôn tộc ở Bắc Kinh còn muốn trốn đến đây để “trực ban” cho tôi. Gian phòng bán vé của nhà giải trí Trương Viên trước kia cũng như “Phòng thủ vệ của Cấm Thành”. Tuy rằng nơi này không có những căn nhà nổi tiếng như Nam thư phòng, Mao Cần điện, Phủ nội vụ song mọi người vẫn coi tấm biển “Phòng làm việc của Nhà Thanh ở Thiên Tân” là hóa thân của những nhà đó. Còn sự sủng hộ của mọi người đối với tôi, niên hiệu Tuyên Thống sử dụng trong viện càng được giữ gìn chặt chẽ, đối với tôi cũng là sự cần thiết tự nhiên.
            Trong thời đại Trương Viên, đại thần Phủ nội vụ chỉ còn lại có một mình Vinh Nguyên, những người khác hoặc ở Bắc Kinh lo liệu, hoặc cáo lão về hưu. Sau khi tôi đến Thiên Tân, những chỉ dụ phát ra đầu tiên có hai bản: “Trịnh Hiếu Tế, Hồ Từ Viện, Dương Chung Nghi, Ôn Túc, Cảnh Phương Hằng, Nghiêm Bích Viêm, Trần Tăng Thọ, Vạn Thăng Thức, Lưu Nhượng Nghiệp đều ở Thiên Tân làm cố vấn”. “Đặt Tổng vụ xứ do Trịnh Hiếu Tế, Hồ Từ Viện phụ trách, Thư vụ xứ do Đồng Tế Hy phụ trách, thu chi xứ do Cảnh Phương Hằng phụ trách, Giao thiệp xứ do Lưu Nhượng Nghiệp phụ trách”. “Trần Bảo Thám, La Chấn Ngọc là “cận thần” gặp hàng ngày”. Họ và các cố vấn mỗi. buổi sáng đến một lần, ngồi ở một gian phòng phía Tây nhà là đợi “triệu kiến”. Ở cạnh cửa lớn có một gian phòng là nơi dành cho những người xin gặp ngồi đợi. Những người đã từng tới đây có quân nhân, chính khách, di lão, các nhân vật “kiểu mới”, tao nhân mặc khách, cho đến thầy thuốc, thày bói. Như thủ lĩnh đảng Thanh niên Khôi Tăng Kỳ, danh thủ quần vợt Lâm Bảo Hoa, chủ bút “Thiên Tân nhật báo” Lưu Tái Công, ủy viên giám sát Quốc Dân Đảng Cao Hữu Đường... đều đã từng gia nhập hàng ngũ Trương Tôn Xưởng, Lưu Phương Trì, tại đây đã đợi “Quan tâu việc” “dẫn kiến”. Cảnh sát Nhật đứng trong trang viên, người Thiên Tân gọi bọn “mũ trắng” đứng ở một gian phòng đối điện, hằng ngày đăng ký những nhân vật lui tới. Mỗi lần tôi ra ngoài là có một cảnh sát Nhật mặc thường phục đi theo.
            So với Tử Cấm Thành, tình hình kinh tế ở Trương Viên tất nhiên kém nhiều tuy nhiên tôi vẫn có một khoản tài sản khá lớn. Tôi đã lấy từ trong cung một số lớn đồ vật, một phần đổi thành tiền, gửi ngân hàng nước ngoài lấy lãi, một phần biến thành nhà ở, thu tiền hàng tháng. Ở trong và ngoài cửa quan, tôi lại còn rất nhiều đất đai, tức là sau khi nhà Thanh vào trung nguyên, đã “đua ngựa khoanh đất” tạo ra cái gọi là “tài sản nhà vua”; con số tôi không rõ, đọc tư liệu qua một tờ báo lịch sử, chỉ riêng tài sản nhà vua ở tỉnh Trực Khang đã có khoảng 12 vạn khoảnh. Để xử lý tô tức và tiền bán những đất đai này, Đốc ban tỉnh Trực Khang của chính phủ Dân quốc cùng nhà Thanh lập ra “Tư sản quản lý xứ”, hai bên ngồi tại chỗ chia của, bán một khoảnh, chia một khoản tiền, cũng là một khoản thu nhập. Ngoài ra, như trên tôi đã nói, tôi và Phổ Kiệt mất nửa năm tốn công chuyển ra rất nhiều tranh vẽ, đồ cổ quý giá nay đều trong tay tôi.
            Sau khi tôi đến Thiên Tân, ở Bắc Kinh, Phụng Thiên, Thiên Tân vẫn có nhiều nơi cần tiếp tục chi tiêu hàng tháng vì vậy phải đặt ra “Lưu kinh biện sự xứ”, “Lăng miếu thừa biện sự vụ xứ”, “Trú Liêu Ninh biện sự xứ”, “Tôn nhân phủ”, “tư sản quản lý xứ” (cùng nhà đương cục Dân quốc hợp tác tổ chức), “Đông Lăng thủ hộ đại thần” và “Tây Lăng thủ hộ đại thần” ... chia nhau quản lý. Tôi tìm được một bản tài liệu trong đó chỉ tính số tiền chi cố định mỗi tháng mấy nơi ở Bắc Kinh và Đông Lăng đã tới 15.837 đồng 8 hào 4 xu. Còn về chi tiêu ở Thiên Tân mỗi tháng khoảng 1 vạn đồng. Số tiền chi lớn nhất là lôi kéo và thu nạp đám quân phiệt vẫn chưa tính vào đây, cũng chưa tính cái khoản xe ô tô, kim cương... Số tiền chi để mua các vật phẩm trong thời kỳ ở Thiên Tân lớn hơn nhiều so với thời kỳ ở Bắc Kinh mà mỗi tháng mỗi tăng như đàn dương cầm, đồng hồ chuông, máy thu thanh, âu phục, giầy da, kính đeo mắt mua liên tục, chẳng biết bao nhiêu. Uyển Dung vốn là một tiểu thư ở Thiên Tân tung tiền mua đồ vật còn nhiều hơn tôi. Cô ta mua thứ gì, Văn Tú cũng nhất định đòi mua. Tôi mua cho Văn Tú, Uyển Dung nhất định lại đòi, mà tiêu tiền càng nhiều thì mình mới tỏ ra là hoàng hậu.  Kiểu thi đua mua sắm đó khiến tôi không thể không qui định mức chi tiêu của họ hàng tháng, tất nhiên mức quy định cho Uyển Dung phải nhiều hơn Văn Tú một chút; nhớ được lúc đầu Uyển Dung 1000 đồng, Văn Tú là 800 đồng, sau đó khó khăn giảm xuống còn 300 và 200 đồng. Còn như số tiền tôi đã tự chi tiêu đương nhiên không hạn chế (52). 
            Do kiểu vung tiền bạc quá xá như vậy, Trương Viên lại xuất hiện tình trạng như Tử Cấm Thành, có lúc không tổ chức được lễ tiết, không trả được tiền thuê nhà, sau đó ngay tiền thù lao “cận thần” và cố vấn cũng không chi được.
            Tôi đã tiêu không biết bao nhiêu tiền bạc, mua rất nhiều thứ không dùng đến, cũng đồng thời mua được quan niệm còn mạnh mẽ hơn so với việc Johnston dạy cho tôi đó là mọi thứ của người nước ngoài đều tốt mà so sánh một chút tôi cảm thấy ở Trung Quốc, ngoài đế chế ra, cái  gì cũng không tốt.
            Mấy thứ giá mấy xu như viên kẹo thơm nhãn hiệu Lưu Lan Hương cũng khiến tôi xuýt xoa cho rằng người Trung Quốc quá ngu xuẩn, người nước ngoài đầy thông minh nhất. Đương nhiên, tôi nghĩ đến người Trung Quốc không phải bao gồm bản thân tôi cho rằng, tự mình đã ngự trên mọi thần dân. Tôi thấy rằng ngay những người nước ngoài thông minh cũng coi tôi như vậy.
            Khi đó, tôi ở trong tô giới của người nước ngoài, được sự ưu đãi mà người Trung Quốc tuyệt đối không được hưởng. Ngoài người Nhật Bản, các Tổng lãnh sự Mỹ, Anh, Pháp, Italia, các sĩ quan đóng quân, các ông chủ nước ngoài đối với tôi cũng rất tôn kính, gọi tôi là “hoàng đế bệ hạ”, mời tôi đi duyệt binh trong ngày quốc khánh của họ, tham quan trại lính, tham quan loại máy bay mới, chiến hạm, vào ngày tết năm mới và ngày sinh của tôi đến chúc mừng.
            Trước khi rời Thiên Tân, Johnston đã giới thiệu tôi với Tổng lãnh sự và tư lệnh quân đội Anh, sau đó họ luân chuyển giới thiệu các viên tư lệnh các nhiệm kỳ đều không ngớt cùng tôi thù tạc Hoàng tử thứ ba quốc vương Anh đến Thiên Tân đã đến thăm tôi, mang tấm ảnh tôi gửi tặng cho ông. Sau đó vua Anh gửi thư cảm ơn và gửi thư trao cho Tổng lãnh sự Anh mang ảnh của ông đến tặng tôi. Qua tổng lãnh sự Italia, tôi và quốc vương Italia cũng gửi tặng ảnh nhau.
            Tôi đã thăm nhiều trại lính, tham dự nhiều cuộc duyệt binh của quân đội nước ngoài. Những quân đội này đóng trên lãnh thổ Trung Quốc là căn cứ theo “Hiệp ước Mậu Tý” của Tây thái hậu - tổ tiên tôi đã thừa nhận. Khi họ diễu võ dương oai đi qua trước mặt tôi, tôi cảm thấy rất đắc ý, cho rằng người nước ngoài đối đãi với tôi như vậy có thể thấy họ vẫn coi tôi là hoàng đế.
            Ở Thiên Tân có một người Anh tổ chức một câu lạc bộ “Hương nghệ hội” (Country Club) là nơi ăn chơi sang trọng chỉ cho phép các ông chủ tư bản lớn nước ngoài ra vào, người Trung Quốc hoàn toàn không được bước vào cửa này, chỉ có tôi là ngoại lệ (53). Tôi có thể tự do lui tới, ra vào, có thể đưa người nhà đi theo cùng hưởng mùi vị “Người Trung Hoa đặc biệt”.
            Để trang điểm mình giống như một người châu Âu, tôi ra sức lợi dụng quần áo, kim cương của các tiệm buôn bán như công ty Whiteway, Laidlaw & Co. trang điểm cho mình  như kiểu một quý tộc nước ngoài trên tạp chí các ông lớn. Mỗi khi ra bên ngoài, tôi mặc âu phục hàng dệt nổi tiếng của Anh, trên cà-vạt cài kim nạm kim cương, cửa tay áo gài khuy kim cương, ngón tay đeo nhẫn kim cương, tay cầm “gậy văn minh”, mặt đeo kính Đức, do hãng Zeiss sản xuất, khắp người sực nức mùi nước hoa, đi theo bên người còn có vài ba con chó béc giê Đức và một thê, một thiếp trang phục lòe loẹt...
            Kiểu sống đó của tôi ở Thiên Tân đã gây nên không ít lời bàn tán của Trần Bảo Thám, Hồ Từ Viện và các di lão.
            Họ chưa bao giờ phản đối tôi vung tiền mua sắm đồ đạc, cũng không phản đối tôi giao thiệp với ngươi nước ngoài. Nhưng, khi tôi đến cắt tóc ở Công ty Trung nguyên hoặc ngẫu nhiên đi xem kịch, hoặc mặc quần âu phục đến làm khách của trại lính nước ngoài thì họ đều cho rằng quá mất quyền nghi đế vương, không thể không can ngăn. Có lần do can ngăn mà tôi không nghe, Hồ Từ Viện đã viết lời tâu xin cáo lui… Qua mấy lần tôi an ủi giữ lại, thậm chí lấy hai tấm da cáo ban thưởng, bày tỏ quyết tâm nghe lời tâu can ông mới chuyển ý, ca ngợi tôi là “anh chủ” chịu nghe lời tâu can, kết quả hai bên đều hài lòng.
            Năm tôi mới tới Thiên Tân, nhân dịp 20 năm ngày sinh của Uyển Dung, Vinh Nguyên bố vợ tôi muốn mời một đội nhạc Tây đến diễn tấu. Di lão Đinh Nhân Trưởng nghe tin vội vã đến can, nói rằng “Tiếng nhạc Tây trong có giọng buồn”, muôn vàn không thể nghe “trong ngày thiên thu của hoàng hậu”, kết quả bãi bỏ nhạc Tây, Đinh Nhân Trưởng được thưởng 200 đồng bạc trắng. Lấy vật chất thưởng bề tôi can, đại thể là bắt đầu từ lần đó.
            Từ đó về sau, cho đến khi tôi vào trại giam, tôi không hề ra ngoài xem kịch, cắt tóc. Tôi nghe theo ý kiến của Hồ Từ Viện cũng không phải vì sợ ông lại gây rối mà thật sự do tiếp xúc sự giáo dục của ông, coi việc đến rạp hát xem kịch là việc làm mất tư thế của mình. Có một ví dụ có thể chứng tỏ sự “tiến bộ” của tôi. Sau đó, có một vị Vương tử Thụy Điển đến Thiên Tân, muốn cùng tôi gặp mặt. Do thấy trên báo có ảnh ông ta chụp với Mai Lan Hương (nghệ sĩ Kinh kịch nổi tiếng chuyên đóng vai nữ), cho rằng ông ta mất tư thế, tôi cự tuyệt đề nghị của ông ta, không gặp ông ta.
            Các di lão Hồ Từ Viện, Đinh Nhân Trường của phái Trần Bảo Thám, đến thời kỳ sau, hầu như tuyệt vọng đối với việc phục tích, không muốn thăm dò bất cứ suy nghĩ mạo hiểm nào, đó là chỗ khác nhau giữa họ với Trịnh Hiếu Tế, La Chấn Ngọc. Song, đối với sự uy nghiêm của đế vương, họ trái lại hầu như càng xem trọng hơn so với đám Trịnh Hiếu Tế. Đó cũng là nguyên nhân khiến tôi tin cậy các vị lão thần này. Mặc dù ý kiến của họ thường bị coi là câu nệ, khi gặp lúc họ có biểu hiện một lòng trung thành, tôi vẫn luôn thu nhận ý kiến của họ. Vì vậy, trong cuộc tổng kết hết sức mới mẻ của phương Tây, tôi trước sau vẫn không quên thân phận của mình, ghi nhớ vững vàng “quy tắc” của “hoàng đế”.
            Năm 1927, Khang Hữu Vi chết, học trò ông là Từ Lượng xin tôi ban thưởng tên hiệu (54) , mới đầu tôi nghĩ sẽ ban cho ông ta. Một năm trước khi chết, Khang Hữu Vi thường đến Trương Viên thăm tôi, lần đầu tiên gặp tôi, đã dàn dụa nước mắt rạp đầu trước tôi. Sau đó ông ta tiếp tục vì tôi chạy chọt các nơi, tìm kiếm người ủng hộ phục tích, bảo học trò tuyên truyền rộng rãi trong Hoa kiều ở nước ngoài: “muốn cứu Trung Quốc, phải do vua Tuyên Thống cai trị thiên hạ lập lại đế quốc”. Không lâu trước khi chết, còn hô hào Ngô Bội Phu cũng như các phái đương quyền khác phục tích... Qua những việc làm đó, tôi cho rằng rất đáng đặt cho tên hiệu. Song Trần Bảo Thám đứng ra phản đối. Khi đó theo ông, phân biệt trung hay gian không thể chỉ xem búi tóc, ngay hành động phục tích, thực tế cũng chưa đủ là căn cứ. Ông nói: “Tôn chỉ của Khang Hữu Vi không thuận, có thuyết giữ Trung Quốc, không giữ Đại Thanh. Còn năm xưa ông ta đã chống đối Hiếu Khâm Thái hoàng hậu (Từ Hy) không thể tha thứ được”.  
            Hồ Từ Viện và những người khác hoàn toàn phụ họa với Trần Bảo Thám. Trịnh Hiếu Tế cũng nói: Quang Tự năm xưa cũng bị Khang Hữu Vi làm hại. Như vậy, tôi lại một lần nữa được “lên lớp” về phân biệt trung, gian, cự tuyệt việc ban tên hiệu cho Khang Hữu Vi. Nghe nói, sau đó Từ Lượng tuyên bố sẽ “lấy nắm đấm gặp gỡ” Trần Bảo Thám, Trịnh Hiếu Tế… 
            Năm 1931, Văn Tú bỗng nhiên đưa ra yêu cầu ly hôn, sau khi được giải quyết các di lão vẫn không quên một điều: cần ra dụ của hoàng thượng: phạt Thục phi làm dân thường, tôi tất nhiên làm theo.
            Nói về đoạn Văn Tú và tôi ly hôn. Tôi nhớ lại sinh hoạt gia đình không bình thường giữa vợ chồng tôi. Đây là nói vấn đề bí mật tình cảm chứ không phải do cuộc sống trống rỗng ở Trương Viên. Thực ra, dù tôi chỉ có một người vợ, người vợ đó cũng không thể cảm thấy có ý nghĩa gì. Vì rằng, sự ham muốn của tôi, ngoài phục tích vẫn là phục tích. Nói thật ra, tôi không hiểu tình yêu là thế nào; với người khác là vợ chồng bình đẳng, còn ở tôi, quan hệ vợ chồng là quan hệ chủ và đầy tớ, thê thiếp là công cụ phục vụ quân vương.
            Từ nhỏ Văn Tú được sự giáo dục về tam tòng, tứ đức, chưa đến 14 tuổi bắt đầu cuộc sống “cung phi”, vì vậy quan niệm rất sâu sắc về “quyền vua” và “quyền chồng”. Trong hoàn cảnh đó cô dám đưa ra yêu cầu ly hôn, không thể nói vấn đề đó không phải là việc làm đòi hỏi vô cùng dũng cảm. Văn Tú gạt bỏ muôn vàn khó khăn, thực hiện yêu cầu ly hôn. Sau khi ly hôn, vẫn phải chịu nhiều sức ép. Có người nói, cô đưa ra ly hôn là do sự thúc đẩy của gia đình, là do tham một khoản tiền nuôi dưỡng đáng kể. Sự thật là sự bức hại của gia đình về mặt tinh thần đối với cô ta không ít hơn sự bức hại của bên ngoài. Nghe nói, khoản tiền phí nuôi dưỡng 5 vạn đồng mà cô nhận được, qua sự bớt xén, chiếm dụng, xin giúp đỡ... của luật sư, người trung gian cũng như của người trong gia đình, số còn lại chẳng được bao nhiêu. Còn sự tổn hại về tinh thần mà cô vẫn phải chịu đựng càng lớn. Một người anh cô đã từng đăng một bức thư ngỏ trên “Thương báo” ở Thiên Tân gửi cô, trong đó có đoạn như sau:
            “Gia đình tôi chịu ơn sâu của Thánh đế hơn 200 năm, tổ tôn tôi làm đại quan đến nhất phẩm. Còn nhà vua đối với cô không hề có việc gì ngược đãi; mà nếu họ có. ngược đãi, cô cũng cần phải chấp nhận đến chết... Cô theo hầu nhà vua, mình mặc lụa là, miệng ăn thịt cá, có người hầu hạ; tiền lương, tiền mua sắm đồ vật có nơi chi trả, mỗi tháng có tới 200 đồng chi tiêu. Thử hỏi cô. Một người con gái khuê các còn thiếu thứ gì? Là phận vợ lẽ, còn oan nỗi gì?”.
            Bức thư ngỏ này một dạo được chuyền đọc trong các di lão. Không rõ tình hình Văn Tú sau này ra sao, chỉ nghe nói cô ta làm một giáo viên tiểu học ở Thiên Tân, mất năm 1950, cuối đời không lấy ai nữa.
            Nhìn hiện tượng bên ngoài, Văn Tú bị trong cung xua đuổi. Tuy nhiên, không phải toàn bộ, cũng là một trong những nguyên nhân. Trạng thái tâm lý của Uyển Dung khi đó có thể thấy rõ qua một lời phán truyền khi phụ đồng của cô ta (trong lời phán Kim Vinh Thị là Uyển Dung, Đoạn Thị là Văn Tú).
            Lời phán truyền khi phụ đồng của Uyển Dung: (55)
            “Ngô tiên sư gọi Kim Vinh Thị nghe ta khuyên: Vạn tuế (tức Phổ Nghi) cùng Vinh Thị thật lòng, không có ý khác. Vinh Thị không nên quá nghi ngờ Ngô tiên sư bảo hộ vạn tuế. Vinh Thị sao này có con cháu, vạn tuế sau này có hy vọng lớn. Vinh Thị nghe lời tiên sư của ta. Vạn tuế cùng Đoan Thị không thật lòng thật ý. Vinh Thị, người hãy yên tâm”.
            Nhân thể nói một chút: kiểu phụ đồng khiến người ta buồn cười này cùng với việc xem tướng, bói toán, phê tám chữ... khi đó là hiện tượng xã hội không gì lạ, ở Trương Viên càng là trò chơi không thể thiếu trong đời sống hàng ngày. Sau khi tôi đến ở Tĩnh Viên lại có “đàn cầu đảo” do Lục Tân Hưng đặt trong phòng. Nói một cách đơn giản, khi đó đàn phụ đồng và bói toán đã cho tôi sức mạnh tinh thần, có tác dụng chỉ đạo đối với tôi, chỉ sau sự dạy bảo của các thầy và các bạn thân khác. Từ mặt này tôi thấy được sự cổ vũ và dự báo “năm nào nhập vận”, “tuổi nào đại hiển”. Tôn Học Nhiệm, hội trưởng Thương hội Bắc Kinh tự xưng là người tinh thông bói toán dã dự đoán “ngự dung” của tôi khi nào sẽ “nhập vận”, khi nào sẽ nắm “quyền lớn”. Một vị thầy tướng Nhật Bản trong lãnh sự quán Nhật cũng nói rằng đến năm nào tôi ắt thành việc lớn: Tất cả những cái đó là động lực của tôi quay ngược bánh xe.
 
 
----------------------------------------------------------------------------
(51) Hành tại: Nơi ở của vua khi ra khỏi cung điện.
(52) Số liệu chi tiêu mỗi tháng như sau:
- Hai thứ phi: 8000 đồng
- Thuần thân Vương: 2800 đồng
- Thái giám tổng quản điện Thọ Hoàng: 72 đồng
- Thái giám trông coi thái miếu: 19 đồng 44
- Phụng tế Đông Lăng: 960 đồng.
- Phụng tế Tây Lăng: 832 đồng.
- Đại thần coi Đông, Tây lăng: 200 đồng
- Vật phẩm tế lễ Thuần hiền Thần vương mỗi quí 266 đồng 4
- Khẩu phần sĩ quan và binh lính gác trang viên: 144 đồng
- Tiền lương trưởng quan và nhân viên ở Biện sự xứ Bắc Kinh: 1932 đồng
- Kinh phí Tôn nhân phủ: 500 đồng
- Tiền ]ương công nhân viên khoảng 4000 đồng
- Uyển Dung, Văn Tú mỗi tháng 1800 đồng
- Tiền nhà: 536.511 đồng
- Tiền điện: 234.914 đồng
- Tiền nước: 61.341 đồng
- Tiền ăn: 215.115 đồng
- Chi cho quân đội: 113.947 đồng
- Điện thoại: 113.947 đồng
- Tiên đi chơi giải trí: 38.364 đồng
- Tiền thưởng: 142.902 đồng
- Tiền mua các đồ vật: 4.128. 754 đồng
- Chi linh tinh: 236.825 đồng
(Nguyên chú)
(53) Về sau cũng cho phép người Trung Quốc tới nhưng chỉ dành cho các nhà tư bản mại bản do hội viên người nước ngoài dẫn vào.
(54) Thời đại phong kiên, đế vương, quý tộc, đại thần... sau khi chết, căn cứ công lao lúc còn sống mà đặt tên hiệu. Ví dụ: Khổng Minh đặt là “Trung vũ”, Nhạc Phi là “Vũ Mục”. (ND).
(55) Hình thức phụ đồng mê tín kiểu như gọi hồn.
 
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG V
TRỐN ĐI ĐÔNG BẮC  

“Tĩnh Viên” không yên tĩnh  

            Tháng 7 năm 1929, tôi từ Trương Viên trong tô giới Nhật Bản chuyển đến “Tĩnh Viên” ở đường Hiệp Xương. Nơi đây là nhà thuê của Lục Tôn Hưng, chính khách hệ Phúc An, vốn tên là “Càn viên”, tôi đổi tên cho nó là do có dụng ý.
            Sau Bắc phạt, thế lực Quốc Dân Đảng vươn tới phương Bắc, các quân phiệt có quan hệ với tôi liên tiếp sụp đổ. Đông tam tỉnh (Liêu Ninh - Cát Lâm - Hắc Long Giang) mà tôi gửi gắm hy vọng tuyên bố “đổi cờ”. Vì vậy từ trên xuống dưới ở Trương Viên một dạo tôi cảm thấy thất vọng, bi quan. Một bộ phận di lão và môn khách tẩu tán đi. Những cận thần cố thủ với tôi, ngoài Trịnh Hiếu Tế, La Chấn Ngọc, hầu như không còn thường bàn bạc về phục tích nữa. Những người như Trần Bảo Thám trước kia luôn miệng nói “Trời và người quay về”, “nằm gai nếm mật” cũng không nói nữa. Mọi người chỉ cân nhắc một vấn đề là đến vương triều mới của đất nước sẽ có thể đối xử như thế nào đối với tôi - hoàng đế cuối cùng… Bản thân tôi đắm chìm trong sự lo lắng sâu sắc. Cờ 5 màu vừa kéo xuống, cờ thanh thiên bạch nhật lại xông tới. Hôm nay A - B liên hợp chống C, ngày mai B - C hợp tác chống A. Sự “thống nhất” mà Tưởng Giới Thạch đạt được ngày càng xem chẳng ra sao. Giang sơn mà Tưởng Giới Thạch giày đạp xem ra ngày càng không được ổn định như dự đoán. Trương Viên lại cảm thấy có ánh sáng cuối đường hầm, không tránh khỏi dần dần hâm lại giấc mộng cũ, cảm thấy sự nghiệp lớn “định về một mối” hầu như vẫn không có tôi không xong. Không những các di lão và môn khách sau đó khôi phục lại luận điệu này, ngay các viên tham mưu Nhật Bản mỗi lần đến “báo cáo, thời cuộc cũng không lẩn tránh quan điểm đó. Ý tứ của tôi đợi chờ ở nơi mới “Tĩnh Viên” không phải là muốn yên tĩnh mà là muốn ở nơi này “lẳng lặng xem sự thay đổi, lẳng lặng đợi thời cơ”.
            Tại Tĩnh Viên, ngày ngày ngóng đợi, tháng tháng chờ mong. Mùa hè năm 1931, tin tức chờ mong đã tới.
            Hai tháng trước sự kiện “18 tháng 9”, học tập ở “Viện học tập” ở Tokyo Nhật Bản, Phổ Kiệt đang đợi về nước nghỉ hè, bỗng nhận được bức thư của Yoshioka Yasunori, nguyên là sĩ quan tham mưu của Nhật ở Thiên Tân thường đến Trương Viên thông báo thời cuộc cũng có quen biết Phổ Kiệt, Yoshioka mời Phổ Kiệt đến nơi đang đóng quân chơi mấy ngày. Vợ chồng thiếu tá Yoshioka ân cần tiếp đón Phổ Kiệt. Đến lúc từ biệt, riêng Yoshioka trịnh trọng nói với Phổ Kiệt một cách rất bí mật: “Ông đến Thiên Tân, có thể báo cho lệnh huynh: hiện nay, Trương Học Lương gây rối chẳng còn ra sao, tại Mãn Châu sắp tới có thể xảy ra chuyện gì đó... mong hoàng đế Tuyên Thống hết sức giữ gìn, không phải là nhà vua không có hy vọng”.
            Ngày 10 tháng 7, Phổ Kiệt đến Thiên Tân, báo cáo với tôi tin này. Ngày 27 tháng 7, tử tước Mizuno Katsukum, người Nhật gốc Hoa đến thăm tôi, tôi tiếp ông ta có sự tham dự của Trịnh Hiếu Tế và Phổ Kiệt. Vị khách đã tặng tôi một lễ vật không bình thường - một chiếc quạt Nhật Bản trên quạt đề một câu thơ:
                        Trời không bỏ Câu Tiễn
                        Thì phải có Phạm Lãi.
            Vốn là trước khi Phổ Kiệt về nước, tử tước Mizuno đã tìm em tôi thương lượng việc tặng quạt vì vậy Phổ Kiệt hiểu rõ lai lịch hai câu thơ này và lập tức viết thư báo cáo với tôi. Đây là câu chuyện xẩy ra trong nội chiến Nam - Bắc Nhật Bản đại thể là: Vua Nhật Godaigo bị Mạc phủ Kamakura khống chế, phát động một cuộc lật đổ Mạc phủ nhưng thất bại, bị Mạc phủ bắt đày ra một hòn đảo. Trong khi bị đi đày, có một số võ sĩ khắc hai câu thơ nói trên ngầm tỏ ý với vua. Sau đó vị “Câu Tiễn” Nhật Bản này quả nhiên được sự phò tá của một nhóm “Phạm Lãi” lật đổ Mạc phủ trở về kinh đô bắt đầu thời kỳ “Kiến vũ trung hưng...”.
            Đương nhiên, khi đó tôi cũng chẳng có bụng dạ nào nghiên cứu lịch sử Nhật Bản. Điều quan trọng là sự ám chỉ của người Nhật này vào lúc “Mưa núi sắp tới gió đầy lầu”, tình hình Đông Bắc ngày càng căng thẳng, giấc mộng đẹp “lại lên ngôi báu” của tôi đã liên tiếp trong mấy đêm. Vào lúc đó sự ám chỉ như vậy - dù là do sự quan tâm của cá nhân hay là do sự gợi ý của phía nào đó - đối với tôi mà nói, thật sự có tác dụng phát tín hiệu.
            Tình hình ở Tĩnh Viên mấy ngày trước và sau “18 tháng 9”, nhật ký của Trịnh Hiếu Tế có ghi lại như sau.
            “Ngày mùng sáu Ất Hợi (17 tháng 9) đến hành tại.
            Được vời vào bàn việc cử Lưu Nhượng Nghiệp, Trịnh Thùy đi Đại Liên...
            Ngày mùng bảy Bính Tý ( 18 tháng 9) đến hành tại.
            Được vời vào bàn bạc công việc xuất hành… 
            Ngày mùng tám Đinh Sửu (19 tháng 9) báo “Mainichi Shimbun” Nhật Bản gửi tới tờ truyền đơn phụ trương nói: theo điện từ Phụng Thiên hồi 3 giờ 23 phút Trung - Nhật đã đánh nhau. Triệu gấp Lưu Nhượng Nghiệp, Trịnh Thùy, lệnh Lưu Nhượng Nghiệp đi Đại Liên trước. Viết giấy. Bàn bạc với Trần Bảo Thám, dự tính chiến sự e rằng trở thành chiến tranh Nhật - Nga. Lưu Nhượng Nghiệp tới yêu cầu viết hai trang giấy, gửi Uchida Yasuda, tổng tài đường sắt Mãn Châu và Honjo Shigeru, tư lệnh quân đội Nhật. Trịnh Thùy đến lãnh sự quán Nhật Bản. Nói: ngày hôm trước quân Nhật đã chiếm Phụng Thiên, quân Trung Quốc tự rút lui. Trường Xuân cũng có chiến sự… 
            Ngày mùng chín Mậu Dần (20 tháng 9), đến hành tại. Báo cáo bề trên: báo chí nói quân Nhật đã chiếm Thẩm Dương đồng thời chiếm Trường Xuân, Doanh Khẩu, An Đông, Liêu Dương… 
            Ngày mùng mười Kỷ Ty (21 tháng 9), đến hành tại. Tưởng Giới Thạch quay về Nam Kinh, kháng nghị đối với Nhật Bản. Trương Học Lương ra lệnh cho quân Phụng Thiên không kháng cự... Đồng Tế Hy tới, tự nói muốn đi Phụng Thiên, lo toan sự nghiệp phục tích. Tôi nói: nếu được hơn 100 quân nhân và thương nhân đề nghị, thoát ly họ Trương, lấy 3 tỉnh Nội Mông làm nước độc lập, gửi thư thỉnh nguyện cho Nhật Bản là việc cần làm ngay.
            Từ khi nghe được tin về sự biến, mỗi giờ phút tôi đều nghĩ đến việc đi Đông Bắc. Song tôi biết nếu không có sự đồng ý của người Nhật thì không thể thực hiện được. Trịnh Hiếu Tế nói với tôi: tình hình Thẩm Dương vẫn chưa sáng tỏ, không cần quá vội vã, sớm muộn người Nhật sẽ đến mời hoàng thượng, tốt nhất là liên lạc với các nơi. Vì vậy, tôi quyết định cử Lưu Nhượng Nghiệp đi tìm Uchida và Honjo Shigeru là những người thống trị cao nhất của Nhật Bản ở Đông Bắc. Mặt khác tôi giao Đồng Tế Hy đầu mục quản gia của tôi đi Đông Bắc xem xét tình hình các di lão ở đó. Lúc đó, Thương Diễn Doanh cũng muốn đi tìm một số tướng lĩnh có quân lực ở Đông Bắc. Sau khi những người “kịp thời làm việc cần làm” đi rồi, chẳng bao lâu lời Trịnh Hiếu Tế ứng nghiệm, quân Quan Đông cử người đến tìm tôi.
            Chiều 30 tháng 9, Yochida Chutaro, sĩ quan phiên dịch của Bộ Tư lệnh quân đội Nhật đóng ở Thiên Tân đến Tĩnh Viên, nơi trung tướng tư lệnh Kashii Kohei mời tôi đến Bộ tư lệnh bàn một việc quan trọng. Ông ta bảo tôi không nên mang người đi theo, đi một mình. Tôi mang cảm tưởng việc tốt lành sắp đến trại binh của Nhật ở Hải Quang Tự. Kashii đứng đợi tôi ở phòng khách của ông. Ở đây tôi thấy có hai người cung kính đứng sẵn, một là La Chấn Ngọc trong áo thụng ngoài áo chẽn, một người khác mặc âu phục là một người dân thường, qua tư thế khom lưng của ông ta có thể thấy rõ đây là một người Nhật. Kashii giới thiệu nói: ông ta do đại tá tham mưu quân Quan Đông Itagaki cử đến gặp tôi tên là Kaeisumi Toshnchi. Sau khi giới thiệu xong Kashii ra ngoài.
            Trong phòng chỉ còn lại ba người. La Chấn Ngọc cung kính hỏi thăm sức khỏe tôi, lấy ra một bức thư lớn và đưa cho tôi. Đây là thư của Hy Hiệp, họ tôn thất chi họ xa của tôi, tham mưu trưởng của Trương Tác Tương, Phó tư lệnh bảo an Đông Bắc. Trương Tác Tương kiêm chức chủ tịch tỉnh Cát Lâm, vì đến Cẩn Châu làm ma cho cha, không ở Cát Lâm. Hy Hiệp bèn lợi  dụng chức quyền, thừa cơ hạ lệnh mở cửa thành đón quân Nhật, vì vậy quân dội của sư đoàn trưởng, thầy cũ của hắn trong thời kỳ hắn học ở trường sĩ quan Nhật Bản đã chiếm Cát Lâm không tốn một viên đạn nào. Trong thư hắn nói: đây là cơ hội hắn chờ đợi 20 năm qua, ngày nay đã đến, mong tôi đừng để lỡ thời cơ, đến ngay “nơi tổ tôn nổi lên” để chủ trì kế lớn. Thư còn nói: có thể dưới sự giúp đỡ của Nhật Bản, trước chiếm lấy Mãn Chân, lai mưu tính việc quan nội, chỉ cần tôi về tới Thẩm Dương, Cát Lâm sẽ lập tức tuyên bố phục tích.
            La Chấn Ngọc đợi tôi đọc xong bức thư, ngoài việc nhắc lại ý tứ trong thư, lại nói nhiều về việc ông ta đi vận động sự “hiệp trợ tương nghĩa” của quân đội Quan Đông. Theo ông ta nói “quang phục” toàn giải Đông Bắc đã trong tầm tay, 30 triệu “con dân” mong đợi tôi về. Quân Quan Đông muốn tôi đi phục vị, đặc biệt cử Kaeisumi Toshnchi đến đón tôi. Tóm lại là mọi mặt đều đã sắp xếp tốt, chỉ đợi tôi khởi hành, cho tàu chiến Nhật đưa tôi đến Đại Liên. Ông ta nói một cách hăng hái, mặt mày đỏ rựa, toàn thân chấn động, con ngươi hầu như muốn bật ra khỏi hố mắt. Sự hưng phấn của ông này là có nguyên nhân. Ông ta không những chỉ có dục vọng của Hy Hiệp mà còn có lòng hăng hái của Lã Bất Vi (56). Ông ta hiện đã tin rằng chẳng bao lâu nữa ông ta sẽ thấy được lợi nhuận của món “hàng lợi” gấp nghìn vạn lần “Hắc Duyên đường”.
            Về những hoạt động của La Chấn Ngọc cuối năm 1928 sau khi chuyển đến Lữ Thuận, ông ta đã có thư nói đại thể với tôi. Khi đó, qua sự tuyên truyền của Trần Bảo Thám, Trịnh Hiếu Tế và những người khác, đối với con người “nói quá sự thật, lá mặt lá trái” này tôi cũng  không đặt hy vọng quá lớn. Cũng may là mấy tháng trước, ông ta mới để lại cho tôi một ấn tượng xấu. Mấy tháng trước, ông ta bỗng nhiên hùng hổ từ Đại Liên tới, mang theo bản “lời khuyên” của Tano Yutaka, một người Nhật Bản lưu vong nói với tôi: Tano Yutaka là người có nhiều tay chân trong quân đội Nhật Bản, gần đây cùng hoạt động với Tahayami Kotori, người gần gũi giới quân đội Nhật Bản, được giới quân đội ủy thác, vạch ra một kế hoạch, căn cứ vào những tình báo về “hoạt động của đảng đỏ”, của Siemonov dẫn quân Nga trắng được sự chi viện của quân Nhật thừa cơ chiếm lấy “Phụng Thiên”, đồng thời sẽ liên lạc với quan lại tại chỗ ở Đông Bắc “đón xa giá trở về Mãn Châu, tuyên chiến thu phục Mãn - Mông, phục tích Đại Thanh”. Để thực hiện kế hoạch này, mong tôi đưa cho ông ta một số kinh phí. Nghe kế hoạch này, tôi cảm thấy rất rắc rối chưa dám tin tưởng. Hai ngày sau, Mori, võ quan Nhật Bản ở Bắc Kinh bỗng nhiên đến tìm Trịnh Hiếu Tế, yêu cầu tôi chớ có tin vào kế hoạch của Tanyo. Trịnh Hiếu Tế vội vã báo cáo với tôi đồng thời công kích La Chấn Ngọc một trận. Sự việc này mới xảy ra chưa lâu, nay La Chấn Ngọc lại đến cùng tôi bàn về vấn đề nghênh giá, tôi tự nhiên không thể không cảnh giác. Tôi nhìn La Chấn Ngọc, lại nhìn Kaeisumi, trong lòng do dự không quyết định. Rõ ràng, sự xuất hiện của La Chấn Ngọc lần này khác với bất cứ lần nào trước đây; một là nơi nói chuyện là Bộ Tư lệnh quân đội Nhật, cùng tới còn có đại biểu của đại tá Itagaki, hai là tay chân ông ta mang tới là bức thư chữ viết của Hy Hiệp. Mặt khác trước đó một ngày qua báo chí từ Đại Liên, tôi thấy tin “các giới ở Lạc Dương chuẩn bị lập hoàng đế Tiền Thanh”, báo chí Thiên Tân liên tiếp đăng tin quân đội Trung Quốc liên tiếp rút lui, tin tức Anh - Mỹ ủng hộ việc làm sai trái của Nhật Bản tại Liên minh quốc tế. Xem ra, sự thông tri của quân Nhật ở Đông Bắc là có thể thực hiện được, tất cả những cái đó đều là điều mong mỏi của tôi. Tất nhiên, tôi cảm thấy việc này tốt hơn là là bàn bạc một chút với Trần Bảo Thám và Trịnh Hiếu Tế. Tôi nói với La Chấn Ngọc và Kaeisumi hãy đợi tôi xem xét một chút rồi sẽ trả lời họ. Lúc đó, không rõ núp ở đâu, Kashii đã xuất hiện. Ông ta bày tỏ với tôi: tình hình trị an ở Thiên Tân không tốt, mong tôi hãy xem xét ý kiến của đại tá quân Quan Đông Itagaki lên đường đi Đông Bắc. Mấy câu nói của ông ta khiến tôi sau khi ngồi vào xe ô tô càng nghĩ càng thấy sự việc không giả tạo, cảm tưởng nghi ngờ của tôi đã hoàn toàn thay bằng sự vui mừng. Không ngờ, tôi về tới Tĩnh Viên, lập tức bị dội nước lạnh.
            Đi đầu phái phản đối là Trần Bảo Thám theo đuôi ông ta là Hồ Từ Viện, Trần Tăng Thọ (thầy dạy Uyển Dung). Nghe tôi thuật lại, họ lập tức cho rằng La Chấn Ngọc lại phạm sai lầm xấu xa lỗ mãng cũ, cho rằng một đại biểu của đại tá quân Quan Đông thì không thể tin cậy được. Họ nói: tình hình Đông Bắc thay đổi, thái độ thật sự của các cường quốc trên thế giới cũng như chiều hướng của “lòng người”, v.v... hiện nay vẫn chưa thấy rõ ràng, ít nhất cần đợi sau khi Lưu Nhượng Nghiệp tìm hiểu được sự thật sau đó mới quyết định hành động. Nghe những lời xì hơi ấy, tôi chỉ bối rối lắc đầu.
            - Thư của Hy Hiệp quyết không thế nói sai.
            Nghe tôi nói, Trần Bảo Thám 84 tuổi, vẻ rất đau khổ, sau một hồi lặng thinh đã nói rất thống thiết.
            - Trời và người quay về, thế ắt như vậy, quang phục sự nghiệp há chẳng phải là nguyện vọng suốt đời của tiểu thần. Duy có tình hình trắng đen chưa rõ, vội vã hành động, chỉ sợ đi dễ, trở về khó!
            Thấy nói không được mấy ông già này, tôi lập tức gọi Trịnh Hiếu Tế tới. Tuy đã 71 tuổi, Trịnh Hiếu Tế vẫn rất linh hoạt minh mẫn. Nhiều ý kiến, kế hoạch của ông ta khiến tôi khâm phục. Trước đó không lâu, theo ý kiến của ông, tôi đã viết một bức hoành “Quốc sĩ vô song” cho thủ tướng Italia Mussolini mà ông ta rất sùng bái. Ông ta dã từng nói: “Italia sẽ trở thành một bá chủ ở phương Tây, đế quốc Đại Thanh sẽ dựng lại ở phương Đông, hai nước chia nhau làm bá chủ ở phương Đông và phương Tây chẳng phải là ý trời hay sao?”. Để động viên vị tể tướng áo đen tương lai của tôi, mùa xuân năm đó, theo ý kiến của cha tôi đã cho em gái thứ hai của tôi đính hôn với cháu trưởng của Trịnh Hiếu Tế, ban cho vinh dự đặc biệt “hoàng thân”. Tôi cho rằng, hiện nay ông ta nghe được tin tức về Hy Hiệp và quân Quan Đông yêu cầu tôi ra ngoài cõi “chủ trì kế lớn” ắt sẽ phản ứng khác với Trần Bảo Thám, sẽ hết sức vui mừng. Không ngờ, ông ta cũng không tỏ ra hăng hái như tôi dự đoán.
            - Tình hình chuyển biến, đã có ngày nay. Mãn Châu thề ắt quang phục trước tiên. Nhật Bản không đến thánh giá cũng không thể đạt được kết quả. - Trầm ngâm một lát ông nói: - Tuy nhiên, khi nào lên đường, đợi Đông Tế Hy trở về sẽ quyết định. Càng thỏa đáng.
            Ý tứ như vậy cũng như Trần Bảo Thám, cũng là cho rằng thời cơ chưa chín mùi.
            Thật ra, điều mà Trịnh Hiếu Tế suy nghĩ. trong đầu cũng không phải là vấn đề thời cơ mà là đối phó với sự khiêu khích mới của La Chấn Ngọc như thế nào...
            Trịnh Hiếu Tế sợ tôi bị La Chấn Ngọc lũng đoạn. Về điều này, khi đó tôi tất nhiên chưa nhận rõ được. Tôi cảm thấy mọi người đều chủ trương đợi người đi Đông Bắc một chút, mà người đi Đông Bắc cũng sắp về rồi. Khi đó, sợ tôi lại thay đổi chủ ý, Trần Tăng Thọ vội viết một bản tấu dâng tôi, lời tâu là tài liệu điển hình đại biểu cho tư tưởng của phái Trần Bảo Thám khi đó.
            Lời tâu có đoạn viết: “Từ xưa đến nay chưa có ai chuyên dựa vào sức bên ngoài mà có thể dựng nước. Tình thế hiện nay, trước hết phải có sự biểu thị quay trở về của các thân sĩ, tướng soái ở Đông tam tỉnh và sau đó có chỗ dựa là Nhật Bản làm nguồn phụ trợ. Thời cơ này hầu như chưa tới”... Với các kiểu suy nghĩ khác nhau, Tĩnh Viên ngày càng không thể yên tĩnh. Cùng lúc đó, lại xẩy ra một sự việc hầu như bất ngờ.
 
 
-----------------------------------------------------------
(56) Lã Bất Vi là một nhà buôn thời Xuân Thu Chiến quốc. Biết Tử Sở là con của thái tử nước Tần đang phải làm con tin của Tần ở nước Triệu và bị bạc đãi đã nói: “Món hàng lạ này có thể buôn được đây”. Lã Bất Vi đã dốc tiền bạc trọng đãi Tử Sở, bỏ hàng trăm cân vàng sang nước Tần vận động đưa Tử Sở về làm vua, kén một người vợ đã có mang dâng cho Tử Sở, sau đẻ ra con là Chính, làm vua nước Tần là Tần Thủy Hoàng. Lã Bất Vi được làm tể tướng - (ND).
 
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 3 » »»