Non nước Hùng Vương
Đền Hùng Thăng Long lẫm liệtRồng tiên thi sỹ anh hào
Sông núi mộng thơ linh kiệt
Làm người tâm trí đức cao
Say chơi thơ Đường mải miết
Đường thi gia đình điểm sao
Con là người có cội tìm về
Mỗi lá cỏ cây xin được đề
Gửi tấm lòng trinh tinh khiết nhất
Ngày xưa thương nhớ đến đê mê
Đền Hùng
Hùng Sơn vời vợi đất Phong ChâuBốn phía sông ôm núi ngóng chầu
Tam cấp uy nghi đền phụng Tổ
Bách cây lồng lộng bóng che lầu
Đường mây bậc bậc người lên viếng
Lối gió lâng lâng kẻ nguyện cầu
Nam quốc sơn hà Tiên Đế mở
Cháu con thề giữ mãi dài lâu!
Đế Minh Lộc Tục định Phong Châu
Đất đóng kinh đô vạn đại sau
Cổ kính lăng đền lưng núi ngự
Oai linh địa thế hổ long chầu
Chọc trời Tam Đảo Tản Viên thuẫn
Khuấy nước Đà Lô Thao thuỷ mâu
Bách Việt hà san Hùng kế nghiệp
Mở mang bờ cõi đất chôn rau.
Biển rộng trời cao đất Việt đây
Sông Thao núi Tản ghi nơi này
Bốn bề Cổ Tích cỏ cây mọc
Tư phía Hy Cương đền miếu xây
Tiên mẹ, Rồng cha ban phúc lớn
Hồng con, Lạc cháu đội ơn dày
Ngày xuân hội giỗ vua khai quốc
Lừng lẫy thiên thu truyền tục hay.
Đền Hạ Âu Cơ Quốc Mẫu thờ
Tương truyền nhà gỗ trẹo ngày xưa
Nôi sinh trăm trứng trăm trai tráng
Đất mở bách miền Bách Việt sơ
Con cháu soi trang bia đá tự
Ông Bà lập quốc nước non giờ
Trầm tư thiên tuế cây còn đó
Vương vấn khói hương về cõi mơ
Đền Trung ghế đá vẫn còn đây
Thuở ấy Hùng Vương bàn cấy cày
Tính quốc tính quân dựng giữ nước
Xem trời xem đất gieo trồng ngày
Dầy chưng bánh tết dâng tiên tổ
Chức sắc vương công thưởng bậc thầy
Cây cỏ trăm hoa hương tỏa ngát
Ríu rít chim muông nhảy nhót bay
Đền Thượng đỉnh non sương khói bay
Uy nghi lộng lẫy giữa ngàn cây
Kính Thiên Lĩnh Điện cầu trời đất
Cột đá Thục Vương nguyện nước mây
Hạt thóc khổng lồ thờ Thánh Lúa
Anh hùng thơ ấu đuổi beo cầy
Bốn nghìn năm ấy cao vời vợi
Hoài niệm chín tầng Tiên Tổ xây.
Mười tám đời vua lăng tẩm đâu?
Hai Bà an nghỉ Hy Sơn sau?
Còn đây một nấm HuyVương mộ
Nguyên đó hài linh gốc cỏ au
Thời Nguyễn xây lăng bát mái nhỏ
Cháu con cúng rượu tuần hương sầu
Bay lên ngọn khói mờ tâm niệm
Chói lọi mặt trời trên đỉnh đầu.
Đền Giếng dưới chân Nghĩa Lĩnh sơn
Thờ hai công chúa Thủy Tinh hờn
Ngọc Hoa lên núi khai dân trí
Sương nắng cày voi cất tiếng đờn
Về biển Tiên Dung xây phố cảng
Mở đường hải ngoại phát ngư thương
Còn đây Giếng Ngọc đâu người ngọc?
Đã bốn ngàn năm hương khói vờn
Tam Sơn Cấm Địa
Đã bốn thiên niên đất thánh Hùng
Núi Trọc Vặn Sơn và Cổ Tích
Tre pheo chò chỉ với chim muông
Đại bàng thần diệt trừ tham độc
Sinh vật linh đua nở lớn đông
Sao có kẻ dã tâm chiếm đất
Gẫy chân nhà cháy biết hay không?
Cổ Tích cao vời Nghĩa Lĩnh Sơn
Trăm voi hội tụ xanh trăm non
Hổ chầu núi Tản Viên Tam Đảo
Rồng phục Lô Đà Thao huyết son
Tứ miếu rừng thiêng bay khói xạ
Tam quan cổng rộng đón đàn con
Người về người ở vấn vương mãi
Dòng giống Rồng Tiên vạn đại còn
Núi Trọc nghìn xưa, nay mọc thông
Ai tìm khối đá cối xay chồng
Kẻ trông bốn cõi cầu trời đất
Người đợi mười phương nguyện núi sông
Ngũ đại đồng đường lên chóp đỉnh
Muôn đời chung hướng đến tâm lòng
Đồng bào Hồng Lạc muôn xuân phát
Non nước hòa bình thỏa ước mong
Núi Vặn còn đây kim cổ xanh
Chim muông ca hót rộn âm thanh
Mơ màng tiếng hú gọi con nhỏ
Văng vẳng lời hô thưa mẹ nhanh
Mẫu tử quây quần bên cổ thụ
Hươu nai tụ họp dưới cây cành
Năm mươi nhánh lộc lên miền núi
Nam Quốc Sơn Hà Bách Việt thành
Khối Đá Thiêng
Núi Trọc Khối tròn đá tối linh
Các vua Hùng cung thỉnh Thiên đình
Hạn khô ruộng, Mưa tuôn vàng ngọc
Lòa lụt đồng, Thánh đuổi Thủy Tinh
Loạn giặc loạn sâu đều tuyệt diệt
Yên dân yên lúa lại hồi sinh
Binh đao mấy độ ai cầu Đá
Đình chiến Văn Lang hòa thái bình
Nhớ cây chò Đền Hùng
Đền Hùng Vương từng có cây chò
Ngàn trượng vút cao trời đất cho
Tán rộng mênh mông che hết thẩy
Bao đời thi sỹ vịnh đề thơ
Cây mọc từ thời vua mở nước
Trông cây lại nhớ tay người trồng
Bốn nghìn năm ấy xanh cành lá
Bỗng mất một ngày không bão dông
Theo cây chu đá lá chu đồng
Răng sắt nào cưa cây Lạc Hồng
Như cắt lòng người trăm đoạn khúc
Đau này ai có xót xa không?
Làng Cổ Tích
Cổ Tích dưới chân Nghĩa Lĩnh lăng
Khởi sinh muôn Cổ nước Văn Lang
Cổ Đồ Cổ Sắc Cổ Đô... bạc
Cổ Phúc Cổ Đường Cổ Trúc... vàng 4
Thập bát đời vua ở khai quốc
Mười lăm bộ nước về chầu làng
Bâng khuâng nhớ cội ngàn xưa ấy
Còn mãi trăm voi hướng thánh đàng
Chín Kẻ Cố đô Văn Lang
Vi Trẹo Nuông Nang mở đồng nươngThậm Thình giã gạo tiến quân vương
Kim Đơi luyện chữ Lạc Hầu đảm
Cẩm Đội rèn quân Lạc Tướng đương
Đồng Lú dạy dân trồng lúa nước
Gát Tiên thi rể dựng lầu hường
Kẻ Trầu kẻ Sủ dinh đồng thiếc 5
Đấu cật vua tôi kiến quốc cường
Núi Voi Đầu Cộc
Chín chín voi chầu Lăng Tổ Tiên
Một voi bất nghĩa phát khùng điên
Chạy đi đón giặc về dày mộ
Hòng cướp tranh ngôi để tiếm quyền
Tới Phú Lộc làng kiếm chém xuống
Bay đầu Hùng Bạo sông vùi liền
Xác thành núi đứng trơ trơ đó
Đã bốn nghìn năm hối hận phiền
Đâu cây Mộc Tinh?
Đầu cộc Núi Voi vẫn đứng đâyĐâu chiên đàn mọc Mộc Tinh cây
Thét gào vượn khỉ phá Thần Lúa
Làm hại Rồng Tiên tàn tháng ngày
Ông Lạc Long Quân chặt gốc đổ
Phép bùa thần chú tan tinh bay
Núi non sơn cước thái bình mở
Mẫu Tổ Âu Cơ dạy cấy cày
Trống Đồng Đền Hùng
Lộc Tục phát minh đúc trống đồngCác vua tiếp tục tạo điều mong
Tượng hình đa dạng tư trường phái
Thư hoạ thần kỳ bách Lạc Hồng
Tiếng dũng ngoại xâm bay mất vía
Âm hùng hồng thủy ngã lăn hồn
Thanh hoà lễ hội vui già trẻ
Nhạc khí nhiệm màu thánh núi sông
Cây Thiên Tuế Đền Hùng
Mỗi đông một chiếc lá vàng rơiCuống dấu ghi thân thêm tuổi đời
Nhân chứng nghìn năm trang quốc sử
Sách biên trăm trận lửa binh thời
Miếu lăng hủy diệt xan bằng địa
Non nước hồi sinh dựng ngất trời
Con cháu tháng ba hội giỗ Tổ
Trước đền Thiên Tuế bóng xanh tươi
Hồ Lạc Long Quân
Núi Hùng hồ biếc Lạc Long QuânTượng biển Người về mở dặm xuân
Năm chục con theo đua vượt sóng
Một trăm đời chẳng ngớt dừng chân
Giết kình giành vịnh Hạ Long ngọc
Đâm cáo được Tây Hồ nguyệt ngân
Quần đảo Cát Vàng Trường Cát bạc
Văn Lang muôn hải lý đông ngàn
Tháng Ba chảy hội
Tháng ba chảy hội đền Hùng VươngĐồi núi trập trùng trăm ngả đường
Dốc sỏi hoa sim tim tím nở
Mảnh nương nhành kiệu lơ thơ vươn
Tam Quan vào cổng bậc trèo đá
Ngũ quả vái đền nhang tỏa hương
Lớp lớp đồng bào tưởng nhớ Tổ
Tiên Rồng non nước bao là thương
Mỗi bậc Đền Hùng
Mỗi bậc Đền Hùng ai đã đi
Hùng Vương mỗi chuyện kể thầm thì
Ghẹo xoan khúc khúc ca hoa chữ
Văn nghệ trang trang họa nhạc thi
Phương thuật bài bài diệt tặc quỉ
Sắt cầu quả quả thiêu kình kỳ
Lên ba đánh giặc đã là muộn 7
Ngựa sắt ầm ầm phun lửa phi..
Mỗi bậc Đền Hùng ai đã lên
Dưới cây hiển hiện bao người hiền
Trăm thần khai quốc Việt Thường cổ
Vạn vật lập nền sinh thái bền
Dương Tử phân mao cỏ rẽ giới
Điền Trì dậu gạo cây dào biên 8
Ước ao được hóa hải đường dại
Gió bấc lửa hoa ấm núi Đền
Mỗi bậc Đền Hùng ai bước lên
Mây xanh thăm thẳm cõi cao thiên
Bút thần mực thánh thần thư sách
Voi chín ngà gà chín cựa tiên
Thanh kiếm vàng nồi cơm bất tận
Đùng Đà Đổng Cốt 9 sức vô biên
Bốn thiên kỷ ấy phi tranh địa
Quốc Mẫu hiện hình quân Thục tan
Mỗi bậc lên viếng núi Hy Cương
Đứng ở bốn đền lòng vấn vương
Ông Thái Học tuyên thề phục quốc
Giang Phu Nhân cầu nguyện noi gương
Nghìn xưa nhi nữ quân vương ái
Vạn hậu anh hùng mỹ nữ thương
Dấu dấu hoa chân in bậc đá
Tạc vào vạn kỷ Rồng Tiên trường
Mỗi bước chân ai bậc núi Hùng
Mỗi hồn thanh thản đến vô cùng
Gió mây cây cỏ tiền nhân thấu
Đồi núi đất trời Thượng Đế thông
Người đục người trong người tối sáng
Kẻ may kẻ rủi kẻ đen hồng
Âu Cơ Đức Mẹ gương soi xét
Qui chính bỏ tà theo Tổ Tông
Mỗi bậc Đền Hùng ai đã qua
Không nguôi bài học giữ sơn hà
Vua tôi chung đúc hành nhân nghĩa
Phụ tử luyện rèn kiến quốc gia
Nước thái dân an cần có chữ
Cơm no áo ấm ắt về ta
Trừ tham trừ độc trừ ngang bạo
Mất vía sài lang tự chạy xa
Đền Hùng mỗi bậc một trang thơ
Quá khứ tương lai vẫn hiện giờ
Nam Quốc Sơn Hà một cội thực
Kính Thiên Lĩnh Điện chín tầng mơ
Tản Đà non nước chầu lăng phụng
Hồng Lạc cháu con bái mộ thờ
Tổ thánh tôn thần xây đại nghiệp
Núi sông Bách Việt phất cao cờ
Mỗi bậc Đền Hùng một áng văn
Muôn đời con cháu lên tri ân
Làm vua lập quốc nuôi trăm họ
Mở núi khai sông dưỡng triệu dân
Cùng cuốc cùng cày cùng đánh giặc
Chung ăn chung ở chung ca xoan
Ra đi để lại âm công lớn
Vằng vặc một trời sao nghĩa nhân
Mỗi bậc Đền Hùng sương khói mờ
Lời ru vương vấn Mẫu Âu Cơ
Hơi may mát mẻ con an ngủ
Mai mốt khôn ngoan nước cậy nhờ
Trong ấm ngoài yên trăm họ thái
Dưới nhường trên kính bách dân thơ
Trường sinh vạn đại nòi Hồng Lạc
Vẳng tiếng ầu ơ trong gió thu
Lê Quốc Hùng