Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Ký Ức Vĩnh Cửu

4 trả lời, 19 lượt xem — Trang 1 / 1
 
KÝ ỨC VĨNH CỬU
DAVID BALDACCI
TÁC PHẨM
 
KÝ ỨC VĨNH CỬU là một tác phẩm điều tra trinh thám hình sự. Độc giả theo chân Amos Decker từng bước giải mã các bí ẩn trong vụ án thảm sát gia đình anh và xả súng trường trung học địa phương. Xuyên suốt câu chuyện là những bi kịch trong và ngoài vụ án cũng như nỗi đau đi cùng với nó, nỗi đau khi mất đi người thân nói chung, khi mất đi con cái của người cha người mẹ, khi bị cha mẹ bỏ rơi, khi không còn là chính mình... Tất cả như đau đáu, như quặn thắt lại, như bóp nghẹt lấy những người đang sống trong cái ngày hôm nay sao mà khác xa ngày hôm qua quá. Bi kịch là thứ làm thay đổi hoàn cảnh, tác động lớn nhất là nó làm thay đổi con người. Nhưng vượt lên tất cả là cách con người đối mặt và vượt qua hoặc sống chung với nó.
“Và con người ai cũng có giới hạn.” Decker nói. “Và anh cứ mặc sức luyên thuyên về việc cuộc đời bất công ra sao, hay về việc những người ở trên đời không được để mình bị chịu tác động bởi những điều tàn ác xảy đến với họ, nhưng mỗi người lại mỗi khác. Một số người vững như bàn thạch, nhưng số khác lại mỏng manh, và anh không bao giờ có thể biết anh sẽ thuộc nhóm nào.”
Cùng với những tình tiết ly kỳ, gợi mở, giật gân và không kém phần rùng rợn, đặc trưng của thể loại trinh thám điều tra, là những đoạn khai thác tâm lý nhân vật sâu sắc, góp phần làm hé mở những nỗi niềm của mỗi con người trong cái cảnh ngộ họ gặp phải. Tất cả được lột tả một cách chân thực thông qua những áng văn rất đỗi bình dị, trong sáng và chân thành của David Baldacci. Đúng như tên gọi của nó, “Kí Ức Vĩnh Cửu” là một tác phẩm sẽ khiến bạn còn nhớ mãi đến nó rất lâu sau khi đã gấp lại trang cuối cùng.
 
TÁC GIẢ:
DAVID BALDACCI là một nhà văn người Mỹ gốc Ý sinh ngày 5 tháng 8, 1960. Sinh ra va lớn lên ở Virginia, ông tốt nghiệp cử nhân tại Đại học Liên bang Virginia và lấy bằng Luật sư tại trường luật Đại học Virginia. Ông có thời gian hành nghề luật sư trong suốt chín năm tại thủ đô Washington.
Ông lần đầu tiên cầm bút sáng tác hồi còn nhỏ, khi được mẹ cho cuốn tập vở kẻ ngang. Sau này ông đều đặn gửi các bài viết của mình cho rất nhiều tạp chí, từ Arlantic Monthly đến cả Playboy, nhưng đều không được xuất bản. Đến năm 1996, khi còn đang làm tại hãng luật và chuyển sang viết tiểu thuyết, ông có được tác phẩm đầu tiên gây tiếng vang. Quyền lực tuyệt đối, cuốn sách bán chạy trên toàn cầu và đã được chuyển thể thành phim một năm sau đó. Sau thành công này, ông chính thức bỏ nghề luật chuyển sang cầm bút và từ đó đến nay đã cho ra mắt hơn 42 tiểu thuyết dàn cho người trưởng thành và 7 tiểu thuyết cho thanh thiếu niên.
Các tác phẩm của David Baldacci hiện đã được dịch ra hơn 45 ngôn ngữ trên hơn 80 quốc gia khác nhau, bán được hơn 150 triệu bản trên toàn cầu. Một số tác phẩm của David đã được xuất bản ở Việt Nam gồm: Hoa hồng máu, Bộ sưu tập tội ác, Bí mật núi sát nhân, Truy tìm sự thật...
 
 
CHƯƠNG 1
 
Amos Decker sẽ mãi mãi ghi nhớ cái chết thảm khốc của tất cả ba người đó trong một sắc màu buồn thảm, buồn tê tái nhất, không gì có thể sánh bằng. Kí ức đó sẽ ùa đến với anh vào những khoảnh khắc mà anh không lường trước, như một lưỡi dao móc gan móc ruột được tạo nên từ luồng sáng mang sắc xanh buồn thảm. Anh sẽ không bao giờ được giải thoát khỏi nó.
Cuộc trinh sát kéo ra rất dài mà cuối cùng chẳng thu được kết quả gì. Trên đường lái xe về nhà, anh đã mong chờ được ngủ tạm vài tiếng trước khi quay lại, tiếp tục công cuộc tìm kiếm. Anh đậu xe trên con đường dẫn vào của một căn nhà hai tầng khiêm nhường, vách ngoài ốp nhựa vinyl đã hai mươi lăm năm tuổi và phải mất ít nhất ngần ấy thời gian để trả xong tiền mua căn nhà này. Cơn mưa làm vỉa hè ướt nhẫy, và khi đôi ủng cỡ 44 của anh chạm xuống mặt đất, anh bị trượt nhẹ một chút trước khi kịp khựng lại. Anh nhẹ nhàng đóng cửa xe ô tô, bởi biết chắc ở trong nhà, vào lúc muộn thế này, tất cả mọi người đã ngon giấc. Anh sải bước tiến tới chỗ cánh cửa lưới dẫn vào bếp và đi vào trong.
Tất nhiên ở trong nhà sẽ rất yên tĩnh. Nhưng cái khung cảnh mang cảm giác tĩnh mịch quá đỗi như lúc này thì không bình thường tí nào. Vào thời điểm đó, anh đã không cảm nhận được sự bất thường này và sau này anh vẫn tự hỏi tại sao mình lại không nhận ra nó. Đó là một trong rất nhiều những thất bại mà anh gặp phải đêm hôm đó. Anh đã dừng lại ở trong bếp để lấy một ly nước từ vòi. Anh uống ừng ực, đặt cái ly thủy tinh vào bồn rửa, lau khô cằm, và đi thẳng vào căn phòng bên cạnh.
Chân anh trượt đi trên sàn, và lần này cái thân hình to lớn của anh ngã lộn nhào. Đó là sàn nhà được lát gỗ hình xương cá và trước đây anh đã từng có lần bị trượt ngã vì nó. Ấy thế nhưng lần này thì khác xa, khác ở những gì mà anh chuẩn bị nhìn thấy. Ánh trăng len lỏi chiếu vào từ ô cửa sổ, vừa đủ để anh có thể nhìn thấy rõ.
Khi anh giơ tay lên, nó đã nhuốm một màu sắc khác.
Đỏ. Của máu.
Nó chảy ra từ đâu đó. Và anh đứng dậy để đi tìm.
Anh phát hiện ra nó bắt nguồn từ căn phòng bên cạnh. Johnny Sacks, anh vợ của anh, một người to khỏe, vạm vỡ giống như anh, đang nằm bẹp dưới sàn. Anh cúi người xuống gần hơn, khuỵu gối quỳ xuống, mặt anh chỉ cách mặt Johnny chừng vài ba phân. Cổ họng anh ấy bị cắt đứt một đường kéo dài từ tai bên này sang tai bên kia. Không cần phải kiểm tra xem mạch còn đập hay không; chẳng thể nào còn được nữa. Phần lớn máu của anh ấy đã chảy tràn trên sàn nhà.
Đáng lẽ ra anh nên rút điện thoại và gọi 911 ngay tại giây phút đó. Anh biết là nên làm thế. Anh biết không được đi lại xung quanh hiện trường vụ án, bởi vì với sự xuất hiện của một xác người chết, bị sát hại bằng phương thức tàn bạo, nơi vốn là tổ ấm của anh đã trở thành hiện trường án mạng. Giờ đây nó là một cái bảo tàng; không ai được động chạm vào bất cứ thứ gì. Bản năng chuyên môn của anh đang gào thét lên với anh điều này.
Nhưng đó mới chỉ là một thi thể đầu tiên. Ánh mắt của anh quay ngoắt sang phía cầu thang và tâm trí anh đột nhiên không còn ở lại với anh nữa, một cơn hoảng loạn khủng khiếp dâng tràn, xâm chiếm từng phần nhỏ trên cơ thể anh - trong bụng anh dâng lên một cảm giác rằng ông trời vừa mới tước đoạt đi tất cả những gì mà anh từng có. Thế là anh chạy, đôi bốt của anh đạp lên những vũng máu đã đông, đẩy chúng xô về trước như một cơn thủy triều chuẩn bị ập vào bờ.
Anh đang phá hủy những chứng cứ quan trọng nhất, đường hoàng phá hỏng những gì đáng lẽ ra phải giữ gìn thật nguyên vẹn. Nhưng ngay lúc này, anh cóc quan tâm.
Anh bám theo vết máu của Johnny mà chạy thẳng lên tầng trân, cứ ba bậc một mà chạy. Hơi thở cùa anh hổn hển, tim cùa anh đập rất nhanh, cảm giác như đang căng phồng, căng khủng khiếp, tới mức thật lạ là thành ngực của anh vẫn đủ sức giữ được nó không bị vỡ bung ra. Đầu óc anh dường như đã tê liệt nhưng tứ chi của anh, bằng một cách nào đó vẫn tự nguyện cử động.
Anh phi tới hành lang, thân người anh va vào một bên tường, rồi bắn sang bên đối diện khi anh phóng như bay tới cánh cửa đầu tiên phía bên phải. Anh không hề rút súng, thậm chí còn chẳng buồn nghĩ đến việc có thể tên sát nhân vẫn còn ở trong nhà. Có thể hắn đang chờ anh về.
Anh dùng vai húc mở cánh cửa và điên dại nhìn xung quanh.
Chẳng có gì hết.
Không, không đúng.
Anh đứng đờ người ở bậc cửa khi ánh đèn trên chiếc kệ kê đầu giường lờ mờ chiếu rọi một bàn chân trần nhô ra khỏi mặt nệm ở góc phía xa.
Anh biết bàn chân đó. Anh đã từng cầm nó, mát-xa cho nó, và thi thoảng thơm lên nó suốt nhiều năm qua. Bàn chân dài, chiều ngang thì nhỏ, nhưng không biết vì sao vẫn rất xinh xắn, gón chân bên cạnh ngón chân cái dài hơn bình thường một chút. Cạnh bàn chân nổi đầy mạch máu, lòng bàn chân có những vết chai, móng chân sơn màu đỏ, tất cả đều giống như bình thường, chỉ trừ việc đáng lý nó không nên nhô lên trên mặt nệm vào thời điểm đó lúc nửa đêm. Điều đó có nghĩa là những phần thân thể khác của cô ấy đang nằm trên sàn, và tại sao lại như thế, trừ phi...
Cassandra Decker, hay còn được những người thân quen, và quan trọng nhất là anh, gọi thân mật là Cassie, đang hướng mắt nhìn lên chăm chăm từ vị trí mà cô đang nằm ở sàn nhà. Thế nhưng lúc này nhìn chăm chăm là một việc đã nằm ngoài khả năng của cô ấy. Anh loạng choạng lao về phía trước, dừng lại ngay bên cạnh cô, và rồi sau đó chầm chậm quỳ gối xuống, hai đầu gối của quần jean màu xanh anh mặc dần dần quỳ lên vũng máu đọng lại bên cạnh cô.
Máu của cô ấy.
Cổ của cô ấy vẫn nguyên lành, không có vết thương nào ở đó cả. Máu không chảy ra từ đó. Mà từ trán của cô.
Một vết thương do súng gây ra. Dẫu biết rằng không nên chạm vào cô ấy, nhưng anh vẫn dùng cánh tay của mình đỡ đầu của cô lên khỏi mặt sàn và ôm chặt lấy vào lồng ngực đang phập phồng của mình. Mái tóc đen dài của cô xõa ra như phần chóp của một con sóng bạc đầu đã bị đông cứng, phủ lấy cánh tay anh. Vết tròn trên trán của cô thẫm đen và phồng rộp do sức nóng từ viên đạn.
Đó là một vết phỏng vì thuốc súng ngay trước khi trúng đạn, vết phỏng hình thành trong vòng một giây trước khi viên đạn lấy mạng của cô. Lúc đó cô ấy đang ngủ say chứ? Cô ấy có thức dậy không? Cô ấy có phải trải qua nỗi kinh sợ nhìn thấy kẻ sát hại mình đứng ngay trước mắt không? Anh đã thắc mắc trong đầu tất cả những điều này khi anh ôm người vợ của mình, một lần cuối, trong vòng tay.
Anh đặt cô trở lại nơi anh tìm được cô. Decker nhìn chăm chăm xuống gương mặt lúc này đã trắng bệch và vô hồn, vết tròn đen thẫm ở chính giữa trán sẽ là ký ức cuối cùng của anh về cô, một dấu chấm hết cho một kết thúc thực sự.
Chấm hết của tất cả.
Anh đứng dậy, hai chân của anh có cảm giác đờ đẫn khi anh lảo đảo đi ra khỏi căn phòng và đi dọc theo hành lang, hướng tới căn phòng ngủ duy nhất còn lại ở trên tầng.
Anh không cần cố đẩy mở cánh cửa này. Bây giờ anh chẳng còn phải vội vàng gì nữa. Anh biết anh sắp sửa tìm thấy điều gì. Anh chỉ không biết tên sát nhân đó đã dùng phương thức gì mà thôi.
Đầu tiên là một con dao. Thứ hai là một khẩu súng.
Cô bé không ở trong phòng ngủ, nghĩa là chỉ còn phòng tắm ở ngay sát vách.
Bóng đèn trên trần nhà tắm vẫn đang để mở, sáng như muốn rực cháy. Tên sát nhân rõ ràng muốn anh nhìn thấy thật rõ cảnh tượng cuối cùng này.
Tại đó, cô bé đang ngồi, trên bồn cầu. Được giữ chặt bằng dải dây buộc từ chiếc áo choàng ngủ quấn quanh két nước bồn cầu, nếu không cô bé đã đổ gục. Anh tiến lại gần.
Chân anh không bị trơn trượt. Không có dấu vết của máu. Trên người cô con gái nhỏ của anh không có vết thương rõ ràng nào mà anh có thể thấy bằng mắt thường. Nhưng rồi sau đó khi anh tiến sát hơn và nhìn dấu vết dây xiết trên cổ cô, xấu xí và lấm lem như có kẻ nào đó đã làm cô bé bị bỏng ở đó. Có thể kẻ đó đã dùng dải dây buộc của chiếc áo choàng ngủ. Cũng có thể hắn đã dùng tay. Decker không biết nữa, cũng chẳng quan tâm. Bị siết cổ đến chết không thể nào không đau đớn. Đau dai dẳng. Và đầy khiếp sợ. Và có lẽ cô bé đã phải nhìn chăm chăm thẳng vào mắt hắn trong lúc hắn từ từ bóp nghẹn, lấy đi sinh mạng của mình.
Chỉ ba ngày nữa là Molly sẽ tròn mười tuổi. Một bữa tiệc đã được sắp xếp xong, khách khứa đã mời, quà đã mua, và một chiếc bánh sinh nhật có nhân chocolate đã được đặt. Anh đã xin nghỉ để giúp Cassie, bởi cô làm việc toàn thời gian, và cũng quán xuyến gần như tất cả mọi công việc trong nhà bởi vì công việc của anh không phải là công việc theo giờ hành chính, không theo giờ cố định. Họ đã từng đùa nhau về chuyện này. Anh biết gì về chăm lo cuộc sống gia đình chứ? Mua sắm đồ dùng tạp hóa ư? Thanh toán các loại hóa đơn ư? Đưa Molly đi bác sĩ ư?
Hóa ra là chẳng biết gì hết. Không biết một cái cóc gì luôn. Hoàn toàn gà mờ.
Anh ngồi xuống sàn nhà, ngay phía trước đứa con đã chết, bắt chéo đôi chân dài giống như cô con gái nhỏ của anh vẫn thích làm, để lỏng mỗi bàn chân gác lên bắp đùi trong của chân đối diện. Anh to con, nhưng người khá mềm dẻo. Tư thế kiết già, anh lờ mờ nghĩ. Hoặc cái gì đó tương tự như thế. Anh thậm chí chẳng biết tại sao anh lại đang nghĩ đến chuyện này nữa. Anh nhận ra chắc hẳn anh đang bị sốc.
Đôi mắt của cô bé mở to, nhìn đáp lại anh chăm chăm, nhưng không thấy anh. Giống như Mẹ. Cô bé sẽ không bao giờ nhìn thấy anh lần nữa.
Decker chỉ ngồi nguyên tại đó, lắc lư ra trước rồi về sau, nhìn cô bé, nhưng anh không thực sự thấy cô, cũng giống như cô con gái bé nhỏ của anh chắc chắn cũng không nhìn thấy cha của mình.
Thế đấy. Chẳng còn gì nữa. Mình sẽ không sống một mình đâu. Mình không làm được.
Anh rút khẩu súng chín li đầy đạn từ bao đựng ở thắt lưng ra và kéo khe trượt để đảm bảo một viên đạn đã được đưa vào ổ đạn. Anh cầm chặt khẩu súng giữa hai lòng bàn tay. Một món đồ nhỏ nhắn xinh xắn. Nó chính xác và có đủ sức mạnh để khiến mục tiêu không thể hoạt động được nữa. Anh chưa từng dùng nó để bắn bất kì ai. Nhưng giờ khắc này anh muốn bắn.
Anh chăm chăm nhìn họng súng qua đầu ruồi. Đã từng có bao nhiêu viên đạn được bắn ra trong những bài tập bắn nhỉ? Một nghìn à? Hay là mười nghìn? Ồ, đêm nay anh sẽ không thể bắn trượt được đâu.
Anh mở miệng và ngậm lấy nòng súng, chỉnh nó hướng lên trên để viên đạn sẽ nhắm thẳng vào não và nhanh chóng kết thúc tất cả. Ngón tay của anh dừng lại tại chốt an toàn. Anh ngước mắt lên nhìn Molly. Đột nhiên cảm thấy hổ thẹn, anh rút khẩu súng ra và đặt nó lên thái dương bên phải và nhắm chặt hai mắt để anh không nhìn thấy cô bé nữa. Một lần nữa, ngón tay trỏ của anh trượt đến chỗ chốt an toàn. Một khi mở xong chốt an toàn, ngón tay sẽ tìm đến cò súng, rồi sau đó, chậm rãi, đều đều, ngón tay siết cò cho đến khi không còn có thể quay đầu lại nữa. Anh sẽ không bao giờ cảm giác được gì. Não của anh sẽ chết trước khi nó kịp báo cho những bộ phận khác trên cơ thể rằng anh vừa tự nổ súng bắn mình.
Anh chỉ cần siết cò thôi. Siết cò đi, Amos. Mày chẳng còn gì để mất nữa vì mày còn gì nữa đâu. Họ đã đi cả rồi. Họ đã... đi rồi.
Anh giữ khẩu súng ở nguyên đó, tự hỏi anh sẽ nói gì với gia đình của mình khi tất cả sẽ lại được đoàn tụ với nhau.
Anh xin lỗi ư?
Hãy tha lỗi cho bố ư?
Giá như anh đã ở đó để bảo vệ mọi người trước bất cứ kẻ nào đã gây ra chuyện này ư? Đáng lẽ bố phải có mặt ở đó để bảo vệ mọi người ư?
Anh nắm khẩu súng chắc hơn, ghì cái nòng súng bàng kim loại vào thái dương sâu đến nỗi anh cảm nhận được nòng súng trơn nhẵn sắp xuyên qua da. Một giọt máu tứa ra và sau đó thấm vào mái tóc đang ngả bạc dần của anh, anh khá chắc là sau vài phút vừa qua, tóc của anh đã bạc đi thêm ít nhiều.
Không phải anh đang tìm can đảm để làm việc này.
Là anh đang tìm kiếm một sự thăng bằng trong vô vọng. Thế nhưng có lý do nào lại tìm được thăng bằng khi ai đó đang cố gắng tự tướt đoạt tính mạng của mình cơ chứ?
Vẫn giữ nguyên khẩu súng trên tay, anh rút điện thoại ra, gọi 911, đọc tên và số phù hiệu để xác định danh tính của mình, và nói ngắn gọn thêm hai câu miêu tả ba người đã bị sát hại ra sao. Anh thả rơi điện thoại xuống sàn nhà.
Dưới tầng kia là Johnny.
Phía kia của hành lang là Cassie.
Tại đây, trong nhà vệ sinh, là Molly.
Và đột nhiên, không một cảnh báo, anh nhìn thấy tất cả những hình ảnh này hiện ra trong một sắc xanh khiếp sợ nhất có thể. Những thi thể, căn nhà, toàn bộ buổi tối hôm ấy. Những bong bóng đau buồn màu xanh dương; ở khắp mọi nơi. Và anh nghiêng ánh mắt, hướng lên trần nhà và hét lên một câu chửi thề, câu chửi chất chứa mọi cơn giận dữ và mất mát dồn nén mà anh đang cảm thấy trong lúc này. Những sắc màu chết tiệt đó thậm chí dám xâm lấn cả vào trong khoảnh khắc này nữa. Tại sao anh không thể bình thường, chỉ một lần này thôi, trong cái nỗi đau đớn khôn cùng của riêng anh? Anh cúi đầu và ngồi nguyên tại đó, trên sàn nhà, với khẩu súng hướng thẳng vào đầu và trong anh hoàn toàn trống rỗng. Anh đã sẵn sàng để chết, đã sẵn sàng để đi theo họ.
Nhưng vì một lí do nào đó mà chính anh cũng không biết nữa, Amos Decker không bóp cò.
Chính trong tư thế giữ nguyên này mà cảnh sát phát hiện ra anh khi họ đến nơi bốn phút sau đó.
 
 
 
CHƯƠNG 2
 
Chiếc ghế dài trong công viên được sơn màu đỏ.
Một cơn gió giao mùa từ thu sang đông ớn lạnh như dao cắt.
Amos Decker ngồi trên chiếc ghế đỏ, chờ đợi.
Một con chim sẻ liệng qua trước mắt, đột nhiên né chiếc xe hơi đang băng qua trước khi lại bay vút lên, bắt theo một cơn gió rồi vụt bay đi mất. Anh đã ghi nhớ được nơi sản xuất, mẫu xe, biển số xe và các đặc điểm môt tả của chiếc xe đó trước khi nó khuất khỏi tầm mắt. Một chồng một vợ ngồi phía trước, một đứa trẻ nhỏ ngồi trên ghế nâng ở phía sau. Bên cạnh còn một đứa nữa, lớn hơn. Khoảng mười tuổi. Phía thanh cản sau có dán hình sticker, ghi rằng: Con tôi là học sinh ưu tú tại trường tiểu học Thorncrest.
Hay hớm chưa, hai người vừa tiết lộ cho kẻ tâm thần biết địa điểm chính xác để bắt cóc đứa con vô cùng thông minh của mình.
Một chiếc xe bus vừa lăn bánh đến trạm xe gần đó. Anh liếc mắt nhìn sang, vẫn giữ nguyên thái dộ quan sát như vậy. Mười bốn hành khách, hầu như đều trông rất thiểu não và mệt mỏi dù bây giờ mới là giữa trưa. Duy nhất chỉ có một người là năng nổ - một đứa trẻ. Cậu bé nhún nhảy bên cạnh người mẹ trông rất kiệt quệ, đang ngồi vật sang một bên, một chiếc túi to sụ đặt trên đùi. Người lái xe này mới đi làm, khuôn mặt toát ra vẻ lo lắng. Mặc dù đã có tay lái trợ lực nhưng cô vẫn vật lộn với chiếc vô lăng và rẽ vào điểm tiếp theo một cách chậm rãi đến nỗi tưởng rằng động cơ xe bus đã tắt ngóm.
Một chiếc máy bay lao vùn vụt trên đầu, bay đủ thấp để anh có thể nhận dạng được nó là dòng máy bay United 737, mẫu đời sau bởi vì có cánh nhỏ. Đối với anh, con số 737 nổi rõ lên màu bạc lóng lánh. Số 737 trong tâm trí anh là một sự kết hợp tuyệt đẹp. Bóng mượt, màu bạc, nhanh, như một viên đạn. Bất cứ thứ gì bắt đầu bằng con số bảy đều đem cho anh phản ứng như vậy. Anh cảm kích vô cùng khi hãng Boeing đã đánh số tất cả máy bay bắt đầu bằng số bảy.
Hai người đàn ông trẻ tuổi đi qua. Đã quan sát và ghi nhớ xong. Một người nhiều tuổi hơn, cao lớn hơn, kiểu người dẫn đầu, người còn lại là bạn, chỉ để cười đùa và bắt nạt. Sau đó anh ghi nhớ có bốn đứa trẻ đang chơi trong công viên đối diện bên đường. Độ tuổi, xếp hạng, số seri, thứ tự và cấp bậc đều được hành thành trước sáu tuổi, như một đàn sói. Đã ghi nhớ.
Tiếp theo là một phụ nữ đi cùng thú cưng. Giống chó becgie Đức. Không đến nỗi quá già nhưng xương hông rất tồi. Chắc chắn là bị loạn sản khớp háng, bệnh thường gặp ở giống chó này. Đã được liệt kê. Một người đàn ông khác đang nói liến thoắng trên điện thoại. Người mặc bộ âu phục Zegna, chân đi giày lười Gucci, một chiếc vòng vàng đính đá đeo trên tay trái, bự như một cái nhẫn Super Bowl. Một đồng hồ Zenith trị giá bốn nghìn dollar đeo trên cổ tay phải. Trông anh ta quá nhỏ và cơ thể quá sai khác để làm một vận động viên chuyên nghiệp. Phong cách ăn mặc lại quá đẹp để là một tay buôn thuốc điển hình. Có thể là một quản lý quỹ phòng hộ, một luật sư về vi phạm nguyên tắc nghề nghiệp1 hoặc là một người phát triển bất động sản. Trí nhớ đã lưu lại ngay lập tức.
1.Luật sư về vi phạm nguyên tắc nghề nghiệp (malpractice lawyer) là luật sư chuyên xử lý các vụ kiện liên quan đến sơ suất trong công việc hoặc vi phạm đạo đức nghề nghiệp (thường là trong y khoa)
Ở phía bên kia đường có một người phụ nữ già ngồi xe lăn đang được đưa đễn xe y tế chuyên dụng. Nửa mặt và nửa người bên trái bị liệt. Là do đột quỵ. Đã ghi nhớ. Nhân viên điều dưỡng của bà bị vẹo xương sống nhẹ, bàn chân quắp vào trong. Đã ghi nhớ.
Amos Decker ghi nhớ tất cả những điều đó và ghi nhớ nhiều hơn khi trí não anh phân loại mọi thứ ở trước mắt. Suy luận điểm này rồi điểm kia. Đôi khi là suy xét. Đôi khi là phỏng đoán. Mọi thứ chỉ là việc giết thời gian trong khi chờ đợi. Giống như đếm màu sắc. Đơn giản là anh làm vậy để giết thời gian.
Anh đã mất ngôi nhà với lý do tịch thu để thế nợ. Với mức lương của anh và Cassie gộp lại thì cũng chật vật lắm mới chi trả được tiền nhà. Chỉ với lương của anh thôi thì chẳng thể nào gồng gánh nổi. Anh đã cố gắng bán nó đi, nhưng ai lại muốn ở trong một ngôi nhà đã từng tắm trong máu chứ?
Anh đã sống trong căn hộ vài tháng. Sau đó là nhà nghỉ. Sau đó nữa, khi công việc của anh thay đổi, anh đã phải đổi chỗ ở sang ghế sofa của một người bạn. Sau khi người bạn đó cư xử ít thân hơn, anh đã chọn đến nơi dành cho dân vô gia cư. Thế rồi, quỹ hỗ trợ cạn kiệt, nơi đó bị đóng cửa, anh “giảm cấp” xuống ở trong túi ngủ ở ngoài công viên. Sau đó là dời sang ở trong hộp giấy carton ở bãi đỗ xe khi cái túi ngủ của anh đã sờn mòn hết cả và đội cảnh sát lùa hết dân vô gia cư ra khỏi công viên.
Anh đã chạm đáy của sự khốn khổ. Người xồ xề, bẩn thỉu, tóc tai rũ rượi, râu ria xồm xoàm, trông anh giống người sống trong hang hốc đâu đó để cố toan tính âm mưu với người ngoài hành tinh. Anh cứ sống thảm hại như thế cho đến một buổi sáng nọ, anh thức dậy trong bãi đỗ xa của Walmart, nhìn chằm chằm vào logo Georgia-Pacific phía bên trong chiếc hộp carton và dâng lên một cảm giác thức tỉnh khuấy động rằng Cassie và Molly sẽ cực kì xấu hổ về anh của hiện tại.
Thế là anh vệ sinh cơ thể sạch sẽ, làm đủ thứ việc vặt vãnh, tiết kiệm được mớ tiền, chuyển đến sống trong một căn phòng ở khu Residence Inn và treo tấm biển Thám tử tư lên. Anh nhận hết bất cứ vụ nào tìm đến mình; hầu hết những vụ án trả công rẻ mạt hoặc trả thấp, nhưng có còn hơn không. Anh chỉ cần có vậy.
Đó là một lối sống vô vị, vô vị như bản thân anh khi ấy. Râu vẫn rậm, tóc vẫn hoang dại, người vẫn còn quá cân, nhưng quần áo tương đối sạch sẽ và anh đã tắm rửa, đôi khi là nhiều hơn hai lần trong tuần. Anh không còn sống trong hộp carton nữa. Trong tâm trí anh, sự tiến triển luôn được đo theo từng bước nhỏ, đặc biệt là khi chẳng có bước nhảy thành công vĩ đại nào để mà khoe mẽ.
Anh nhắm nghiền hai mắt để ngăn chặn hoạt động quan sát đường phố hiện tại, nhưng tất cả quang cảnh đường phố đều còn hiện hữu trước mắt, như màn hình chiếu phim phía sau mắt anh. Mọi thứ luôn hiện hữu ở đó. Anh luôn muốn quên đi những thứ mà mình đã nhìn thấy. Nhưng tất cả được ghi lại vĩnh viễn trong đầu anh. Kí ức có thể được nhớ lại theo ý muốn hoặc cứ thế mà hiện lên trong tâm trí. Khi cần thì có ích biết bao, nhưng khi không cần thì cũng gây bực bội cũng không kém.
Vào đêm đó, cảnh sát cố thuyết phục anh hãy bỏ nòng súng ra khỏi thái dương. Kể từ đó anh đã nghĩ rất nhiều lần về việc tự sát. Nghĩ rất nhiều khi vẫn còn ở trong lực lượng, nhiều đến nỗi phải đi trị liệu để giải quyết vấn đề “nho nhỏ” đó. Thậm chí anhncofn đứng trước một vòng tròn những người có ý định tự sát như anh vậy1.
 
1.Phương pháp trị liệu tâm lý thường thấy bên Mỹ là cho những người có chung vấn đề (nghiện ngập, căng thẳng, ám ảnh tâm lý...) ngồi thành vòng tròn để tâm sự với nhau hoặc chia sẻ câu chuyện của bản thân.
Tôi là Amos Decker. Tôi muốn tự sát. Có thế thôi. Hết chuyện.
Anh mở mắt.
Mười lăm tháng, hai mươi mốt ngày, mười hai tiếng, mười bốn phút. Vì anh là một thứ quái đản nên đồng hồ vẫn quay đều đặn trong tâm trí anh. Một khoảng thời gian dài đã trôi qua kể từ khi anh phát hiện ra ba thi thể trong nhà mình, kể từ lúc gia đình anh bị xóa sổ. Sáu mươi giây nữa là tròn mười lăm phút, đủ năm đủ tháng đủ ngày. Kim vẫn quay đều và cứ thế quay đều.
Anh nhìn xuống mình. Một cầu thủ bóng bầu dục trong bốn năm Đại học và lên chuyên nghiệp trong một thời gian cực kì ngắn, anh đã giữ cơ thể cân đối khi làm cảnh sát và sau này là Thanh tra. Nhưng anh đã chẳng còn đoái hoài gì đến chuyện béo gầy sau khi chính thức xác nhận thi thể của vợ, ang vợ và con gái. Anh thừa cân đến những hai mươi ký, chắc chắn nặng hơn. Chắc chắn hơn rất nhiều. Một người đàn ông béo ị cao gần hai mét với hai đầu gối khục khặc. Cái bụng mềm mỡ phệ ra, hai cánh tay và ngực ổn, hai cẳng chân như hai que thịt. Anh không còn có thể nhìn thấy bàn chân dài quá độ của mình nữa.
Mái tóc anh dài, tóc đen xen tóc ngắn, và không sạch sẽ lắm. Nhưng lại có vẻ như phù hợp tuyệt đối để che giấu cái tâm trí không quên được gì cả và luôn khiến anh buồn rầu. Bộ râu thật khiến cho người ta giật mình vì độ độ xồm xoàm cũng như vẻ lờm xờm bù xù, từng búi, từng lọn, từng sợi mọc uốn cong lắt léo khắp nơi, như cây dây leo tìm kiếm đuổi bám lên thứ gì đó. Nhưng anh tự nhủ rằng như thế cũng tốt cho công việc của mình. Anh phải đuổi bắt những kẻ cặn bã, và những kẻ đó, theo định nghĩa, lắm lúc không trông giống như người bình thường chút nào. Thực tế thì chúng thường lảng tránh những kẻ có vẻ ngoài khác chúng.
Anh chạm miếng vải chắp vá mòn cả chỉ trên quần jean rồi nhìn xuống đầu gối, chỗ đó vẫn còn nhìn thấy vết máu.
Máu của cô ấy. Máu của Cassie. Bệnh rồi mới vẫn giữ nó.
Đốt cái quần đi, Amos. Phần lớn người thường sẽ làm thế mà.
Nhưng mày đâu có bình thường. Kể từ hồi mày đặt chân lên sân bóng và ăn cú va chạm đó thì mày đã không còn bình thường nữa rồi.
Cú bóng đó là thứ duy nhất anh không bao giờ nhớ được. Thật mỉa mai làm sao vì nó chính là chất xúc tác khiến anh không bao giờ quên được điều gì như bây giờ. Thế nhưng cú bóng đó đã được chiếu đi chiếu lại trên các chương trình thể thao lúc bấy giờ. Thậm chí chương trình thời sự quốc gia cho rằng họ phải làm phóng sự về tính ác liệt anh đã phải trải qua cho toàn thể khán giả truyền hình trên cả nước xem. Có người còn nói với anh rằng có một đoạn ghi hình ngắn đã được đăng lên YouTube vài năm trước và đã có hơn tám triệu lượt xem. Thế nhưng anh vẫn không bao giờ xem nó. Anh không cần phải xem. Anh đã ở đó. Anh đã cảm nhận cú va chạm đó. Thế là đủ rồi.
Tất cả những gì anh đã làm để đáng nhận được sự chú ý vớ vẩn này là chết trên sân bóng, không chỉ một lần mà hai lần.
Anh liếc trộm xuống chiếc quần jean, gần như bẽ bàng. Bụng anh trào ra khỏi vùng thắt lưng bởi vì ngày xưa anh gầy hơn nhiều. Anh đã giặt nó, nhưng vết máu vẫn không gột rửa được. Thế thì chiếc quần này khác chi bộ não của anh, cùng luôn bị quá khứ bám dính lấy? Chiếc quần này đáng lẽ có thể - nên là bằng chứng. Cảnh sát nên mang nó đi, nhưng họ đã không làm vậy và anh cũng không đề nghị. Anh giữ nó lại, vẫn mặc nó. Một cách ngu xuẩn để nhớ. Thực sự ngu như lừa. Một cách rùng rợn kinh người để giữ Cassie lại với anh. Giống hệt nnư mang tro của cô đặt trong hộp cơm hình Scooby - Doo. Nói đi cũng phải nói lại, anh không thực sự ổn. Mặc dù anh đã có nơi để sống, đã có một công việc và đang sinh hoạt bình thường, gần như thế. Nhưng anh thực sự không ổn. Dù thế nào thì anh sẽ không bao giờ ổn.
Về lý mà nói thì anh cũng đã từng là một nghi phạm trong vụ án này, vì những vụ kiểu như thế này thì người chồng luôn vào diện bị nghi ngờ. Nhưng anh không bị nghi quá lâu. Thời gian tử vong đã chứng minh anh trong sạch. Anh có người làm chứng. Anh không quan tâm đến những người làm chứng. Anh biết mình không động đến một sợi tóc trên đầu họ và cũng cóc thèm để ý dẫu có người nghĩ ngược lại.
Vấn đề thực sự là không ai bị bắt vì tội giết gia đình anh. Cũng chẳng có bất cứ nghi phạm nào, không có lấy một manh mối để tìm kiếm. Không có gì cả.
Khu vực gia đình anh sinh sống là khu của tầng lớp lao động, yên ắng lắm, hàng xóm thì thân thiện, luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác bởi vì người ở đây không có nhiều của cải, ai cũng sẽ có cần hỗ trợ vào lúc này lúc kia. Sửa xe hoặc lò sưởi, hoặc đóng đinh lên một cái bảng, hoặc nấu một bữa ăn vì mẹ bị ốm, hoặc để mắt đến lũ trẻ trên phương tiện đi lại công cộng, dựa trên niềm tin và nhu cầu.
Cũng có vài người điên rồ khó chịu sống ở đây nhưng anh vẫn chưa phát hiện ra người nào có dáng dấp của kẻ giết người trong đám này. Hầu hết là hội xe mô tô và hội hút cần. Anh đã kiểm tra. Anh chẳng làm gì khác ngoài việc điều tra tội phạm dù họ đã có lời chính thức yêu cầu anh không tham gia vào vụ này. Thế nhưng không có đầu mối nào xuất hiện, dù anh đã lục soát mọi chi tiết một cách như điên.
Có cả cơ hội và thách thức trong việc thực hiện loại tội ác này. Các cánh cửa không hề khóa, người đến người đi. Nên rất dễ ra vào nhà. Các ngôi nhà cứ san sát nhau, vì vậy phải nghe thấy âm thanh gì chứ. Nhưng không có một âm thanh nào được nghe thấy từ số 4305, đại lộ Boston vào đêm đó. Làm thế nào mà ba người chết lặng lẽ như vậy? Không phải cái chết bất đắc kì tử sẽ có chống trả hay sao? Tiếng thét? Tiếng vật lộn? Tiếng gì đó chứ? Thế nhưng lại không có. Tiếng súng? Đêm đó lặng như tờ. Hay là cả khu dân cư đã bị điếc vào đêm hôm đó. Còn bị mù, bị câm nữa.
Nhiều tháng sau đó vẫn không có gì lộ diện, rất lâu sau vết máu đã nguội lạnh, khả năng giải quyết vụ án và truy bắt hung thủ đã giảm xuống gần như là con số không. Sau đó anh rời khỏi lực lượng bởi anh không còn có thể xử lý giấy tờ, đi điều tra những vụ án khác và phiền nhiễu với những chuyện diễn ra ở đồn được nữa.
Cấp trên nói rằng họ rất tiếc khi để anh đi nhưng không ai buồn xin anh ở lại. Sự thật là, anh đã trở nên bừa bãi và khó kiểm soát. Anh đã hoàn toàn trở nên như vậy. Bởi anh không còn quan tâm đến điều gì khác.
Ngoại trừ một điều.
Anh vẫn luôn đến thăm mộ của mọi người. Cả nhà được chôn ở mảnh đất mà anh đã mua vội mua vàng, đâu có ai mua sẵn một mảnh cho một người đàn ông, một người phụ nữ mới đầu bốn mươi và cho một đứa trẻ mười tuổi chứ? Sau đó anh ngừng đến thăm mộ bởi anh không thể nào đối diện với những người đang nằm dưới ba tấc đất. Anh vẫn chưa báo thù cho gia đình. Anh có làm gì đâu ngoài việc xác nhận thi thể. Chỉ có cảm giác ăn năn hối lối vì đã để gia đình chết. Chúa sẽ chẳng thấy cảm kích nổi.
Cái chết của mọi người hẳn phải có liên quan đến những gì anh đã làm. Bao nhiêu năm qua, anh đã tống biết bao kẻ vào tù. Một vài kẻ giờ đã ra tù. Số khác thì có đồng bọn có thể tiếp tay. Ngay trước khi vụ thảm sát xảy ra ở số 4305, đại lộ Boston, anh đã hỗ trợ dẹp tan một ổ buôn bán thuốc đang cố gắng biến tất cả mọi người ở khu vực tàu điện trở thành người nghiện và vì thế cung thành “khách hàng trung thành”, trẻ có, già có, độ tuổi nào cũng có. Những tên này đều rất xấu xa ác độc, sẽ giết ngay khi nhìn thấy. Chúng có thể đã tìm thấy nơi anh sống. Quá dễ. Anh không sống ẩn dật. Có lẽ bọn chúng đã trút hết thù hằn lên vợ con anh và người anh vợ đã chọn sai thời điểm đến thăm họ ngày hôm đó. Ấy thế mà chẳng có một tí bằng chứng nào chống lại ổ nhóm đó. Không bằng chứng đồng nghĩa không có bắt giữ. Không xét xử. Không phán quyết. Không thi hành án.
Là lỗi của anh. Là tội của anh. Có thể chính anh đã dẫn chúng tới gia đình anh và giờ anh không còn gia đình.
Cộng đồng đã tổ chức gây quỹ cho anh. Thu thập được vài nghìn dollar. Toàn bộ vẫn nằm nguyên vẹn trong tài khoản ngân hàng. Đối với anh mà nói, nhận lấy số tiền đó chẳng khác nào hành động phản bội những người mà anh đã đánh mất, vì vậy số tiền vẫn ở đó, dù anh chắc chắn có thể sử dụng nó. Anh đang sống chật vật, khắc khổ. Nhưng với anh thế là đủ. Bởi vì khắc khổ là thứ làm nên toàn bộ con người anh của hiện tại.
Anh dựa lưng lên lưng ghế gỗ dài và xốc lại vai để chỉnh áo khoác bên ngoài. Anh không tình cờ xuất hiện ở đây.
Anh ở đây vì công việc.
Khi anh quay sang bên trái, anh nhận ra đã đến lúc bắt tay vào việc rồi.
Anh đứng dậy và đi theo hai người mà anh đã ngồi chờ họ nãy giờ.
 
 
 
CHƯƠNG 3
 
Quán bar đó cũng tương tự như bao quán bar khác mà Decker từng ghé.
Tối, lạnh, có mùi mốc, mùi ám khói, ánh đèn cho ta cảm giác hư ảo khiến tất cả mọi người trong quán đều nhìn có vẻ như là người mà ta quen biết hoặc muốn làm quen. Hoặc, phần nhiều hơn, là muốn quên. Đó là nơi tất cả mọi người đều là bạn bè của nhau cho tới khi biến thành kẻ thù và phang thẳng cây gậy chọc billiard vào sọ đối phương. Đó là nơi mọi thứ rất bình lặng cho tới một lúc nào đó thì không còn bình lặng nữa. Là nơi bạn có thể dốc mọi thứ để làm vơi đi mọi nỗi niềm trong cuộc sống. Là nơi mà hàng ngàn kẻ ôm mộng trở thành nghệ sĩ dương cầm vĩ đại Billy Joel sẽ đệm nhạc đưa bạn sanv ngày mới.
Chỉ có mỗi mình là uống cả ngàn ly rượu mà vẫn cóc quên được cái gì cả. Mình sẽ lại còn ghi nhớ từng chi tiết của cả ngàn ly rượu đó, nhớ đến cả hình thù của mỗi viên đá.
Decker ngồi xuống một ghế ở quầy bar, tại đây anh có thể nhìn hình ảnh phản chiếu của mình trong chiếc gương lớn phía sau cái kệ xếp từng hàng từng hàng các loại rượu, nào Bearm nào Beef, nào Glen nào Sapphire.
Anh gọi một vại bia tươi, ôm chặt cái cốc đựng bia trong lòng đôi bàn tay to và rắn chắc, và chăm chú nhìn vào gương. Ở góc phía sau, bên tay phải là chỗ ngồi của đôi trai gái mà anh đã đi theo vào quán.
Người nam ước chừng cuối bốn mươi, người nữ được một nửa con số đó. Người nam mặc bộ đồ đẹp nhất mà hắn ta có. Một bộ comple len kẻ sọc đồng bộ từ trên xuống dưới, cái cà vạt màu vàng điểm những chấm xanh nước biển có hình thù trông như mấy con tinh trùng đang tìm trứng để thụ tinh, và một cái khăn tay đút túi trông rất bảnh tỏn để hợp với bộ đồ. Mái tóc vuốt ngược ra sau để lộ đôi lông mày thẳng và rậm - đôi lông mày trông hấp dẫn trên mặt người đàn ông, nhưng sẽ không mấy đẹp dẽ nếu ở trên mặt người phụ nữ, song cuộc sống vẫn luôn thiếu công bằng như thế đấy. Những chiếc nhẫn kim cương trông rất ấn tượng đeo trên những ngón tay được cắt sửa gọn ghẽ. Có thể là đồ ăn trộm. Hoặc đồ rởm. Rởm như con người hắn ta vậy. Móng chân của hắn có khi cũng được cắt sửa cũng nên. Giày của hắn được đánh bóng, nhưng hắn đã bỏ sót hai gót giày. Gót giày cũng đã bị trầy xướt, điểm này gần giống với bản chất thật sự của hắn ta nhiều hơn. Hắn ta cũng tốt mã giẻ cùi y như thế. Và hắn ta chỉ muốn tạo ấn tượng trên khi mới gặp gỡ chứ không phải lúc từ biệt. Một khi chào tạm biệt rồi, thằng khốn nạn này sẽ lặn mất hút.
Cô gái kia có đôi mắt tròn to ngây thơ và một cái đầu bã đậu. Kiểu khá là ngây ngô, tù mù. Giống như xem một bộ phim 3D mà không dùng đến cặp kính cần đề xem cho rõ; cứ có cảm giác không đúng sau đó. Cô gái đó chung thủy đến mù quáng và mù mờ đến mức một phần trong bạn chỉ muốn bỏ đi và mặc kệ cô ta ra sao thì ra.
Nhưng Decker đang được trả tiền để không làm như thế. Trên thực tế, anh được trả công để làm điều ngược lại.
Cô ta đang mặc một chiếc chân váy cùng áo khoác và áo sơ mi có lẽ còn giá trị hơn chiếc xe ô tô của Decker. Hay đúng hơn là chiếc xe mà Decker từng sở hữu. Ngân hàng đã thu cả chiếc xe đó đi rồi, như họ vẫn thường làm.
Cô ta là con nhà thượng lưu. Cô ta đã qua quen thuộc với cuộc sống sung túc được ban tặng đến mức cô ta không thể nào hiểu được tại sao lại có người cố gắng dùng mọi cách chộp giật từ tay cô ta những thứ mà cô ta đơn giản chỉ phải đón lấy như một điều hiển nhiên. Điều đó khiến từng phút từng ngày trong đời, cô ta đều có khả năng trở thành một nạn nhân.
Tình hình hiện giờ là thế: con cá mập và kẻ khờ. Decker nhìn hắn ta gắn liền với số sáu, một con số bẩn thỉu trong tâm trí của anh. Cô ta là số bốn, tẻ nhạt, chẳng có gì thú vị.
Hai người họ tay chạm tay, rồi sau đó môi chạm mội. Họ cùng dùng chung đồ uống - của hắn ta là một ly whiskey sour, của cô ta là một ly martini hồng.
Đúng như dự đoán.
Decker cầm ly bia trong tay suốt một lúc lâu và chờ đợi thời cơ. Anh nhìn họ nhưng vờ như không nhìn. Ngoài con số gắn liền, đối với anh, hình dáng của cô ta hiện lên trong màu cam, còn gã kia là màu tím, tương tự như màu mà anh liên hệ đến con số không, một con số không được hoan nghênh. Như vậy gã đó đối với anh thực sự đại diện cho hai con số - sáu và không. Nghe có vẻ phức tạp, anh biết, nhưng đối với anh chẳng có gì là khó phân biệt cả, bởi nó hiện ra trong đầu anh như thế, rõ ràng như hình ảnh trong một tấm gương.
Và không phải là anh nhìn thấy họ chính xác có màu như thế. Đó là nhận thức tri giác rằng có màu như thế. Đó là cách đúng nhất và duy nhất mà anh có thể giải thích vè cảm giác của mình. Chẳng có ai dạy về điều này cả. Và anh cũng tiếp xúc với những thứ này khá là muộn. Anh chỉ đang cố hết sức trong khả năng của mình. Suy cho cùng, anh nghĩ sau khi học xong mầm non, anh sẽ không phải đá động gì đến mấy thứ bút màu nữa.
Hai người họ tiếp tục tình tự với nhau, tay nắm tay, chân cọ vào nhau, những màn mơn trớn, vuốt ve nhau. Rõ ràng là cô gái còn muốn nhiều hơn thế. Nhưng gã đàn ông thì miễn cưỡng đáp ứng, bởi vì còn phải chờn vờn nhau nữa. Dục tốc bất đạt. Và gã này khá giỏi. Không phải là kẻ giỏi nhất mà Decker từng gặp, nhưng đủ dùng. Có khi hắn kiếm ăn khá là dư dả cũng nên.
Dư dả đối với một thằng số không màu tím.
Decker biết gã này đang chờ cơ hội để moi tiền. Một khoản vay để đầu tư vào một vụ làm ăn nhiều triển vọng không thể bỏ lỡ. Một bi kịch mà gia đình đông người của hắn gặp phải, cần dùng đến tiền để vượt qua. Hắn không muốn làm việc này đâu. Hắn căm ghét bản thân vì phải làm thế này. Nhưng đây là phương cách cuối cùng của hắn rồi. Cô là cơ hội cuối cùng của hắn. Và hắn không trông mong cô sẽ hiểu. Hoặc đồng ý. Màn tranh luận sẽ được dựng lên theo cách đó, và cô gái còn biết đáp lại bằng cách nào khác nữa đây? Ngoại trừ, “Em đồng ý, anh thân mến của em. Hãy lấy gấp đôi. Thậm chí là gấp ba. Bố sẽ không bao giờ để tâm đâu. Suy cho cùng đó chỉ là tiền thôi mà. Tiền của bố.
Thêm một tiếng đồng hồ và sau hai ly martini hồng nữa cô ta để hắn ở lại đó. Nụ hôn chia tay âu yếm và cảm động làm sao, và hắn đáp lại tương ứng như thế, cho đến khi cô gái rời đi, và biểu cảm của hắn quay quắt sang hướng khác. Từ một vẻ âu yếm và yêu thương mà đôi lứa dành cho nhau, thành vẻ mặt của một kẻ thắng trận, và một vài người thậm chí còn có thể gọi đó là vẻ tàn ác. Chí ít đối với Decker là như thế.
Decker không thích tiếp xúc với người khác. Anh thích ở một mình hơn. Anh ghét những cuộc nói chuyện phiếm chẳng đi đến đâu, bởi vì anh đã không còn hiểu ý nghĩa của những cuộc nói chuyện đó là để làm gì. Nhưng chuyện phiếm vẫn là một phần trong công việc của anh. Đó là thứ giúp anh thanh toán những hóa đơn. Thế nên anh tự nhủ với bản thân phải vượt qua nó. Chí ít là vào lúc này.
Bởi vì đã đến giờ bắt tay vào làm việc.
Anh cầm theo ly bia đi đến bàn, vừa kịp lúc đặt bàn tay to lớn của mình lên vai gã kia và ấn hắn ngồi trở lại xuống ghế ngay khi hắn chuẩn bị định rời đi.
Decker ngồi đối diện với hắn, nhìn ly whiskey sour mà hắn không hề động đến - kẻ săn mồi không uống rượu lúc làm việc - và tiếp theo anh nâng ly bia của mình lên và khen ngợi hắn.
“Giỏi lắm. Tôi thích xem những tay chuyên nghiệp làm việc.”
Ban đầu, gã đàn ông đó không nói gì. Hắn nhìn Decker, ước lượng cái bề ngoài bù xù của anh, hắn có vẻ có ấn tượng không mấy thiện cảm với anh.
“Tôi quen anh à?” cuối cùng hắn nói, giọng hắn khó chịu. “Bởi vì tôi nghĩ chắc là không có khả năng đấy đâu.”
Decker thở dài. Ạnh đã kì vọng có thứ gì đó độc đáo hơn một chút. Nhưng rõ ràng là không có. “Không, và anh không cần phải biết tôi. Tất cả những gì mà anh phải làm đó là xem những thứ này.”
Anh rút ra một phong bì tài liệu từ trong túi áo khoác và đưa nó sang phía bên kia bàn.
Gã đàn ông ngập ngừng, nhưng rồi sau đó cũng cầm nó lên.
Decker uống một ngụm bia và bảo, “Mở ra đi.”
“Sao phải thế?”
“Tốt thôi, vậy thì đừng mở. Không sao hết.”
Anh đưa tay định lấy lại cái phong bì, nhưng gã kia đã giật lấy nó khỏi tầm với của anh. Hắn cởi dây quấn và rút ra năm sáu tấm ảnh.
“Quy tắc số một của một tay lừa đảo, thằng ranh ma ạ,” Decker nói. “Đã vào việc thì đừng có chơi ngoài luồng. Và khi tôi nói rằng anh là một tay chuyên nghiệp, ấy là tôi khen lấy lệ thôi.”
Anh chìa tay ra và gõ gõ lên bức ảnh trên cùng. “Cô ta không mặc đủ quần áo trên người và anh cũng thế. Và nhân tiện, hành động này là vi phạm luật pháp của hầu hết tất cả các bang phía Nam đường phân giới Mason-Dixon.”
Gã đàn ông liếc mắt nhìn lên, vẻ mặt hắn rất cảnh giác. “Anh lấy đâu ra những tấm ảnh này?”
Một lần nữa, Decker cảm thấy thất vọng trước lời chất vấn. “Bây giờ chúng ta chỉ quan tâm đến vấn đề đàm phán thôi nhé. Tôi được phép cho anh năm mươi nghìn dollar. Đổi lại anh sẽ bỏ mối này và tìm người khác mà tiếp tục. Ở bang khác.”
Gã đàn ông mỉm cười, đẩy những tấm ảnh ngược trở lại, và nói, “Nếu anh nghĩ đây thực sự là một vấn đề đối với tôi, tại sao không cho cô ấy xem hình? Tại sao lại đến đây và đề nghị dùng tiền để tôi rút lui?”
Decker thở dài một lần nữa, lần thứ ba anh cảm thấy thất vọng. Gã này chẳng có một tí tính thử thách nào cả. Anh nhặt lại những bức ảnh và đặt chúng gọn gàng vào trong phong bì.
“Anh đọc được suy nghĩ của tôi đấy, đồ ranh ma ạ. Chính xác những gì mà tôi đã nói với ông già cô ấy. Cám ơn vì đã công nhận ý kiến của tôi là có giá trị. Mà nhân thể tôi nói này, cô gái đó rất ngoan đạo. Những gì mà anh đang làm với cô gái trong tấm hình thứ ba ấy chính là điểm chết người, chưa kể một thực tế là cô ấy là vợ của anh. Một điểm quá đáng giá luôn.”
Anh đứng dậy định rời đi, nhưng gã kia nắm chặt lấy cánh tay anh. “Tôi có thể làm anh đau đấy,” hắn nói.
Decker nắm lấy những ngón tay của gã và bẻ ngược chúng cho đến khi gã ta thở gấp vì đau, đến tận lúc đó, Decker mới chịu thả tay.
Anh nói, “Tôi béo, nhưng sức tôi gấp đôi anh và xấu tính hơn rất là nhiều. Tôi không cần một gương mặt đẹp trai cho công việc của mình. Nhưng anh thì khác. Thế nên nếu tôi lôi anh ra sau và đập nát cái bản mặt anh, nó sẽ ảnh hưởng thế nào với dòng tiền trong tương lai của anh đây? Hiểu ý của tôi rồi chứ?”
Gã đàn ông cầm bàn tay bị thương, mặt tái mét. “Tôi sẽ nhận tiền.”
“Tốt. Ngay tại đây tôi có sẵn tấm séc trị giá hai mươi lăm ngàn dollar rồi đây.”
“Anh mới nói là năm mươi ngàn cơ mà!”
“Đó chỉ là nếu như anh chịu chấp nhận thỏa thuận khi được đề nghị. Nhưng anh đã không làm thế. Hậu quả là khoản anh nhận được chỉ còn một nửa thôi.”
“Thằng chó này.”
Decker lại ngồi xuống và rút ra một tờ giấy từ trong túi áo. “Vé máy bay. Một chiều. Xa nơi này nhất có thể mà không phải rời khỏi lục địa Hoa Kì. Trong vòng ba tiền nữa phải đi ngay. Một điều kiện để tấm séc có hiệu lực đó là anh phải lên máy bay. Họ sẽ có người ở đó để xác nhận, thế nên đừng có giở trò ngu xuẩn gì hết.”
“Séc đâu?” gã ta yêu cầu.
Decker rút ra một tờ giấy khác. “Trước tiên anh cần kí cái này đã.”
Anh đưa tờ giấy sang phía đối diện. Gã đàn ông đưa mắt nhìn một lượt. “Nhưng cái này -”
“Cái này để đảm bảo là cô gái sẽ không bao giờ nghĩ đến anh nữa, ngoại trừ nghĩ đến anh với một ấn tượng rất xấu. Điều đó có nghĩa là kể cả nếu anh cô tìm cách lén lút quay về đây, anh cũng sẽ không có cơ hội.”
Trong đầu gã đàn ông đang suy nghĩ về những gì đang xảy ra, tất cả những chuyện này thật ra là như thế nào vậy. “Vậy là anh đang tống tiền tôi bằng những tấm hình này và với sự thật là tôi đã kết hôn để ép tôi phải kí cái này á? Và nếu tôi không kí anh sẽ cho cô ấy xem ảnh và kể với cô ấy là tôi đã kết hôn và tin rằng như thế là đủ để rũ tôi khỏi cô ấy á?”
“Anh đúng là một thiên tài.”
Gã đàn ông nhếch mép cười khinh khỉnh. “Tôi có cả tá đàn bà giống cô ta. Mà còn xinh gái hơn nhiều. Cô ta muốn tôi ngủ với cô ta. Tôi vẫn cố trì hoãn mãi. Anh thấy mấy bức ảnh rồi đó. Ở nhà tôi có thịt bò thượng hạng. Tại sao tôi lại phải chấp nhận một cục thịt băm cơ chứ, kể cả nếu cục thịt đó đi kèm quỹ tín thác? Cô ta là một con đần độn. Và vào những ngày đẹp trời đi nữa cô ta nhìn cũng chỉ tầm thường, kể cả có trát hết tiền của bố lên người.”
“Ông Marks đã lường trước được về anh từ lâu, kể cả nếu cô con gái nhỏ của ông ta không thấy. Nhưng một lần nữa, Jenny đã từng bị một thằng cặn bả như anh lừa lọc. Cô ấy xứng đáng tìm được người tốt hơn.”
Decker đâu có quen biết Jenny Marks và cũng chẳng thể quan tâm gì nhiều đến mấy rắc rối tình ái của cô ta. Anh chỉ đưa ra những lời bình luận này bởi anh cần thằng ranh ma này tiếp tục. Tiếp tục nói. Dốc hết tâm can mà nói.
“Cô ta xứng đáng có người tốt hơn ấy hả? Chết tiệt, tôi chả hiểu tại sao tôi phải bận tâm luôn. Chả cần cố tôi vẫn tìm được con khác ngon hơn Jenny Marks. Mà tôi còn chẳng phải nghe mấy câu chuyện trẻ con của cô ta.”
“Đần độn á? Trẻ con á? Cô gái đó có bằng đại học đấy.” Decker đã có được nhiều hơn những gì anh cần, nhưng anh bắt đầu thấy thích thú việc này.
“Thực sự ấy, cô ta không phải là một con đần độn đâu. Cô ta là một con mất não quái gỡ.”
Được rồi, trò vui đến đây là kết húc nhé.
Decker rút lại tờ giấy chưa kí và nhét nó vào trong phong bì cùng với những bức ảnh. Anh bỏ tất cả vào trong túi áo khoác.
“Anh đang làm cái quái gì vậy hả?” gã kia nói với giọng ngờ vực.
Đáp lại, Decker rút ra một cáu máy ghi âm kỹ thuật số cỡ nhỏ và ấn nút chạy.
“Tôi dám chắc cô ta sẽ rất thích cách anh miêu tả cô ta,” Decker nói. “Mà nhân tiện hỏi này, cục thịt kiểu gì ấy nhỉ? Bò nguyên chất à? Hữu cơ không? Hay chỉ là mất não quái gỡ thôi?”
Gã đàn ông ngồi đó với vẻ mặt sửng sốt.
Decker cất chiếc máy ghi âm đi và đẩy tấm vé máy bay một chiều về phía gã ta. “Chúng tôi sẽ để anh giữ lại cái này. Hãy đảm bảo là sẽ đặt mông lên máy bay nhé. Gã tiếp theo tìm đến sẽ còn to con hơn tôi, và hắn sẽ không chỉ bẻ ngón tay cho anh đâu. Sẽ bẻ cả người anh luôn đấy.”
Gã ta nói với giọng đáng thương, “Vậy là tôi sẽ không nhận được một cắc bạc nào luôn sao?”
Decker đứng dậy. “Như tôi đã nói rồi đó, do anh thiên tài quá đó thôi.”
 
CHƯƠNG 4
 
Decker ngồi trên giường trong căn phòng bé như cái buồng giam. Để tiếp khách, anh sẽ dùng cái bàn trong phòng ăn của nhà trọ Residence Inn, tại đây tiền thuê phòng theo tháng đã bao gồm bữa sáng tự chọn phục vụ mỗi ngày. Chắc chắn là họ sẽ bị lỗ khi phục vụ cho anh với cái giá đó. Anh toàn bưng nguyên đĩa đồ ăn phục vụ buffet và mang thẳng về bàn. Có khi anh đã dùng máy xúc thay cho dĩa nếu được.
Anh nhận được tờ sec thanh toán từ sứ giả của ngài Marks. Một người anh em cùng ngành cảnh sát đã giới thiệu Decker cho người đàn ông giàu có đó để giúp giải quyết vấn đề nhạy cảm liên quan đến cô con gái tẻ nhạt luôn luôn si mê mấy thằng không ra gì. Anh chưa từng gặp mặt ông già đó, chỉ gặp những người đại diện. Cũng chẳng sao; anh đồ là ngài Marks cũng chẳng muốn anh làm vấy bẩn mấy món đồ nội thất xa hoa của ông ta. Họ gặp nhau ở quầy ăn sáng - hai thằng ôn nứt mắt trong những bộ comple giá hai ngàn dollars, từ chối dù chỉ nhấp thử một ngụm cà phê. Có lẽ hai đứa đó hào hứng với mấy ly double espresso rỉ ra từ mấy chiếc máy nhỏ sáng bóng do một tay barista vận hành hơn. Nhìn biểu cảm của chúng, anh có thể khẳng định chúng biết rất rõ mình ở đẳng cấp nào, còn Decker thì nghèo hèn tới đâu. Anh đã mặc chiếc áo sơmi đẹp nhất của mình tới cuộc gặp, nghĩa là chiếc áo còn lại trong số hai chiếc áo mà anh có.
Bố Marks đã cho phép được dùng một trăm ngàn dollar để rũ được con đỉa đói bám dính lấy con gái ông ta. Sau khi đánh giá tên lừa đảo đó, Decker đã nói với mấy người đại diện là anh có thể giải quyết được nó mà chỉ cần tốn kém ít hơn rất nhiều. Và đúng là như thế. Thực tế chỉ cần tốn tiền mua tấm vé máy bay một chiều. Vài xu tiền lẻ. Bạn sẽ nghĩ ông bố Warbucks - một người giàu có và rộng lòng nhân ái - có lẽ sẽ thưởng thêm cho Decker ít nhất là một phần trăm trong khoản sáu con số tiết kiệm được. Nhưng ông ta làm đúng theo như giấy tờ thỏa thuận, và Decker chỉ nhận được lương tính theo giờ còm cõi, mặc dù anh cũng đã nâng tiền công lên kha khá và có được một khoảng lương công nhật hậu hĩnh cho bản thân. Thế nhưng có thêm một tí vẫn tốt. Có khi đó là cách để người giàu cứ giàu mãi. Nhưng cũng đáng, xem một thằng lừa đảo bị lừa ngược. Và anh đoán chỉ thêm vài tháng nữa, Jenny Marks sẽ lại ngựa quen đường cũ, và người ta sẽ lại gọi đến anh mà thôi. Có khi lúc đó anh nên yêu cầu bố Warbucks trả trước một khoản đặt cọc.
Anh rời khỏi phòng và đi đến khu vực phòng ăn ở ngay phía bên tay phải của sảnh nhà trọ. Lúc đó vẫn còn sớm và anh là người duy nhất có mặt ở đó cùng với bà June. Bà lão tám mươi tuổi đang tận hưởng những năm tháng hưu trí quý hơn vàng của mình bằng công việc tiếp đầy món khoai tây chiên kiểu áp chảo đẫm mỡ lên khay đồ ăn ở quầy buffet.
Sau khi lấy đầy dĩa đồ ăn, anh ngồi xuống để dùng bữa ở chỗ cái bàn vẫn thường ngồi.
Anh chuẩn bị đưa dĩa thức ăn đầy ụ thức ăn vào miệng thì nhìn thấy một người phụ nữ bước vào.
Có lẽ bây giờ chị ta bốn mươi hai tuổi, cùng tuổi với anh. Chị ta nhìn già hơn anh. Công việc của chị ta khiến con người trở nên như thế. Anh cũng đã từng như thế.
Anh đánh mắt nhìn xuống dưới và hạ dĩa thức ăn xuống, anh rắc muối lên tất cả những đồ ăn có trong dĩa hơn bốn lần, bao gồm cả những chiếc bánh nướng. Anh đang hi vọng là một người đàn ông với kích thước to lớn như anh có thể teo nhỏ đến mức vô hình đằng sau bức tường được xây từ protein và tinh bột.
“Xin chào, Amos.”
Ồ, rõ là không được rồi.
Anh nhét một muỗng đầy trứng xào khô, cháo ngô, thịt xông khói, khoai chiên và tương cà chua ngập cổ họng. Anh há to miệng mà nhai, hi vọng cảnh tượng đó sẽ thúc giục chị ta quay ngoắt và bỏ về chỗ ban đầu mà chị ta tới.
Chuyện đó không có cửa xảy ra đâu.
Chị ngồi xuống đối diện với anh. Cái bàn rất nhỏ, và chị cũng nhỏ. Nhưng anh thì không. Anh to khổng lồ. Chị ngồi tại đó thôi cũng đủ để anh chiếm gần hết không gian chỗ bàn ăn.
“Anh đang thế nào rồi?” chị hỏi.
Anh nhồi nhét thêm nhiều đồ ăn hơn vào miệng và nhai nhồm nhoàm. Anh không ngẩng đầu nhìn lên. Làm thế để làm gì cơ chứ? Mọi điều chị ta có khả năng thốt ra đều là những điều anh không muốn nghe.
Chị nói, “Tôi có thể chờ được, nếu anh thích chơi như thế. Tôi là tỉ phú thời gian mà.”
Cuối cùng anh cũng chịu nhìn chị. Chị gầy như que củi do hút thuốc và nhai kẹo cao su, đó là những thứ chị dùng để thay thế cho đồ ăn và thức uống. Có khi chỉ riêng bữa này của anh cũng đã nhiều hơn những gì chị nạp vào người trong một tháng.
Tóc của chị màu vàng lợt, làn da của chị nhăn nheo và lấm tấm đồi mồi. Mũi của chị bị vẹo - có người nói rằng chị bị thế do một lần chạm trán với một thằng say hèn hạ khi còn là cảnh sát tuần tra. Cái cằm nhọn, nhỏ của chị trông như kiểu bị khuất hẳn đằng sau cái miệng rộng rất khôg cân đối, trong cái miệng đó, hàm răng cái to cái bé không đều, đã nhuốm màu nicotin và nhấp nha nhấp nhô như những con dơi treo mình trong hang.
Chị không đẹp. Vẻ bề ngoài không phải là thứ khiến người khác ghi nhớ về chị. Điều khiến chị đặc biệt ấy là chị là nữ thanh tra đầu tiên tại Phòng Cảnh sát Burlington. Theo như anh biết cho tới lúc này, chị vẫn là nữ thanh tra duy nhất. Và chị từng là cộng sự của anh. Họ đã bắt giữ, qua đó kết tội, được nhiều kẻ xấu hơn bất kì ai trong lịch sử của phòng cảnh sát. Một số người trong lực lượng nghĩ những gì họ làm được thật tuyệt. Những người khác nghĩ họ là hai kẻ tự phụ. Một đối thủ cạnh tranh từng gọi họ là Starsky và Hutch1. Decker không biết người ta nghĩ anh là ai trong hai người đó, gã tóc vàng hay gã tóc nâu.
 
1 Starsky và Hutch là hai nhân vật chính trong sê ri truyền hình Mỹ cùng tên của thập niên 70 về đề tài cảnh sát phá án. Nhân vật tóc nâu Starsky có tác phong làm việc phóng khoáng còn nhân vật tóc vàng Hutch thì làm việc có quy cũ hơn.
“Xin chào, Mary Suzanne Lancaster,” anh nói, bởi vì một lí do nào đó anh không thể không nói ra cái tên đó.
Chị mỉm cười, đưa tay sang bên và chọc vào vai anh. Anh hơi cau mặt và lùi ra sau một chút, nhưng chị có vẻ không để ý thấy điều đó. “Tôi không ngờ anh thậm chí còn biết cả tên đệm của tôi cơ đấy.”
Anh nhìn xuống dĩa đồ ăn, hạn mức trò chuyện hạn chế của anh đã dùng hết.
Chị nhìn anh từ trên xuống dưới, và khi đã nhìn xong, Lancaster dường như thầm hiểu ra rằng tất cả những lời đồn đại rằng Decker đã sa cơ lỡ vận là hoàn toàn chính xác.
“Tôi sẽ không hỏi dạo gần đây anh có ổn hay không, Amos ạ. Bởi tự mắt tôi cũng thấy là không ổn.”
“Tôi sống ở đây thay vì ở trong một cái thùng giấy,” anh nói cộc lốc.
Ngỡ ngàng, chị nói, “Tôi xin lỗi, tôi không có ý nói như thế.”
“Cô cần gì à?” anh hỏi. “Tôi có lịch rồi.”
Chị gật đầu. “Hẳn là thế. Ừm, tôi chỉ ghé qua để nói chuyện với anh.”
“Cô đã nói chuyện với ai rồi?”
“Ý anh là tại sao tôi biết anh đang ở đây ấy hả?”
Vẻ mặt của anh nói với cô biết đó chắc chắn là điều anh muốn hỏi.
“Bạn cùa một người bạn.”
“Không nghĩ cô lại có nhiều bạn thế,” Decker nói. Đó thật sự không phải là một câu nói đùa, và rõ ràng là anh không hề cười. Nhưng chị vẫn phải cố bật cười khúc khích, biết đâu làm thế có khả năng phá vỡ bầu không khí ảm đạm, nhưng rồi sau dó đột nhiên chị nhận ra có khi làm như thế thì thật là ngu ngốc.
“Ừm, tôi cũng là một thanh tra. Tôi có thể tìm ra được. Và Burlington đâu có lớn đến thế. Đây có phải là New York đâu. Cũng chẳng phải L.A.”
Anh vẫn nhồm nhoàm, nhét thêm đồ ăn vào trong miệng, và tâm trí anh bắt đầu vẩn vơ nghĩ tới những con số có màu và những thứ có thể báo hiệu thời gian trong đầu anh.
Chị dường như cảm nhận được anh đang lảng tránh. “Tôi rất lấy làm tiếc về tất cả những gì đã xảy đến với anh. Mất mát của anh rất to lớn, Amos ạ. Anh không đáng phải nhận lấy điều này, không ai đáng phải nhận cả.”
Anh liếc nhìn chị với một vẻ mặt hoàn toàn không thể hiện một chút biểu cảm nào. Anh không hứng thú với việc được người khác đồng cảm. Anh chưa bao giờ đi tìm sự đồng cảm cả, chủ yếu là bởi vì tâm trí của anh không thực sự hiểu được cái cảm giác đặc biệt đó. Ít nhất là không còn hiểu được nữa. Có thể anh biết quan tâm. Anh đã từng quan tâm chu đáo và đầy tình yêu thương với gia đình của mình. Nhưng đồng cảm và người anh em họ thậm chí còn đáng ghét hơn của nó, thấu cảm, đã không còn phải là chuyên môn của anh nữa rồi.
Có lẽ cảm nhận được chị lại sắp sửa để tuột mất anh, chị vội vả nói, “Và tôi còn đến để nói với anh vài điều.”
Anh đưa mắt nhìn chị từ trên xuống dưới. Anh không thể kiềm chế, thế nên anh nói, “Cô đã sút cân. Khoảng hơn hai cân, sút cân sẽ không tốt cho cô. Và có thể cô bị thiếu vitamin D.”
“Sao anh lại nghĩ thế?”
“Dáng bước đi lúc tiến vào của cô cứng đơ. Đau xương là một triệu chứng kinh điển.” Anh chỉ tay lên trán chị. “Và ngoài trời rét mướt nhưng đầu cô vẫn đang nhỏ mồ hôi. Thêm một dấu hiệu kinh điển nữa. Và cô đã bắt chéo rồi bỏ, bắt chéo rồi bỏ năm lần trong cái khoảng thời gian rất ngắn mà cô đã ngồi ở đó. Có vấn đề với bàng quang. Cũng là một triệu chứng nữa.”
Chị cau mày trước mấy đáng giá mang tính cá nhân này. “Sao nào, anh bắt đầu học trường y hay gì sao?” chị gắt gỏng.
“Bốn năm trước tôi đọc một bài báo như thế trong lúc ngồi chờ ở phòng khám nha sĩ.”
Chị chạm tay lên trán. “Chắc là tại tôi không ra nắng nhiều đấy thôi.”
“Và cô đốt thuốc như cái lò bể, không có lợi một tí nào. Thử dùng thêm thực phẩm bổ sung đi. Thiếu vitamin D sẽ không tốt đâu. Với cả bỏ thuốc đi. Thử dùng miếng dán cai thuốc xem nào.” Anh liếc mắt nhìn xuống và nhìn thấy thứ anh quan sát được ngay khi cô ngồi xuống ngay lúc đầu. Anh nói, “Và tay trái của cô cũng đang run nữa.”
Chị dùng tay phải nắm lấy nó, và trong vô thức xoa xoa vào vị trí đó. “Tôi nghĩ đó chỉ là do dây thần kinh thôi.”
“Nhưng cô bắn bằng tay trái đấy. Thế nên có khi cô phải đi khám thử xem sao.”
Chị liếc nhìn xuống một chỗ hơi phồng ở thắt lưng bên phải của áo khoác, tại đó khẩu súng của chị được gài trong cái bao da gắn trên dây thắt lưng.
Chị mỉm cười. “Còn có thể đọc vị kiểu Sherlock Holmes ra cái gì ở tôi nữa thì nói nốt luôn.. đi xem nào? Muốn kiểm tra đầu gối của tôi không? Xem móng tay nữa? Thử nói xem sáng nay tôi ăn gì?”
Anh nhấp một ngụm cà phê dài. “Đi kiểm tra đi. Có thể sẽ còn gì khác nữa. Không phải chỉ có run rẩy thế đâu. Điềm xấu bắt đầu từ đôi tay và hai con mắt. Đó là “hoàng yến trong mỏ than”[1], là dấu hiệu cảnh báo sớm đấy. Và tháng sau là có bài đánh giá định kì kỹ năng bắn súng của phòng rồi. Khó mà thi qua nếu tay cầm súng cứ chập cheng như thế.”
Nụ cười của chị tắt dần. “Tôi chưa nghĩ đến việc đó. Tôi sẽ để ý, cám ơn, Amos.”
Anh nhìn xuống dĩa thức ăn và hít một hơi sâu. Anh đã ăn xong, chỉ đang đợi chị rời đi. Anh nhắm mắt. Có khi anh sẽ ngủ gật ở luôn đây.
Chị vẩn vơ ngồi nghịch mấy cái khuy trên áo khoác, nhìn chăm chăm vào anh. Chuẩn bị để thực hiện mục đích thực sự mà chị tới đây ngày hôm nay. Để nói ra.
“Chúng tôi đã thực hiện một lệnh bắt, Amos ạ. Trong vụ án của anh.”
Amos Decker mở mắt. Và cứ mở nguyên không chớp mắt.
 Chú thích:
[1] Trong các mỏ than thời xưa người ta thường đem theo một con chim hoàng yến trong lồng. Nếu có khí độc, con chim sẽ chết trước, người hợ mỏ sẽ biết đó là dấu hiệu cảnh báo và rời khỏi hầm ngay tức khắc.
 
 
 
CHƯƠNG 5
 
Decker đặt hai tay lên mặt bàn.
Lancaster để ý thấy hai bàn tay đã nắm lại và ngón tay cái day mạnh vào ngón trỏ, mạnh đến nổi nó để lại cả vết hằn ở trên.
“Tên hắn là gì?” Decker hỏi, nhìn chằm chằm vào ụ trứng bác chưa ăn tới.
“Sebastian Leopold. Tên rất lạ. Nhưng hắn khai như thế.”
Decker một lần nữa nhắm mắt và mở lại cái mà anh thường thích gọi là cái đầu ghi hình của anh. Đây là một trong số những điểm tích cực của cái khả năng mà anh có. Các khung hình lướt rất nhanh qua mắt anh, nhanh đến nỗi rất khó để nhìn theo, nhưng anh vẫn có thể nhìn được tất cả mọi thứ trong đó. Nhưng đi hét một lượt cái hoạt động trong trí óc đó, anh vẫn không tìm thấy được bất cứ một manh mối nào.
Anh mở mắt ra và lắc đầu. “Chưa từng nghe đến tên hắn. Cô thì sao?”
“Chưa nghe. Nhưng nhắc lại, đó chỉ là những gì hắn nói với chúng tôi. Đó có thể không phải là tên thật của hắn.”
“Vậy là không có chứng minh thư sao?”
“Không, chẳng có gì. Túi quần túi áo trống không. Tôi tin là hắn không có chỗ ở.”
“Đã kiểm tra dấu vân tay chưa?”
“Như chúng ta đã nói đấy. Chưa thấy manh mối nào cả.”
“Lầm thế nào bên cô tìm ra hắn?”
“Rất dễ dàng. Hắn tự đi vào khu nhiệm sở và đầu thú lúc hai giờ sáng nay. Vụ bắt giữ dễ dàng nhất mà chúng tôi từng thực hiện. Tôi vừa mới từ chỗ thẩm vấn hắn về đây.”
Decker nhìn cô bằng một ánh mắt sắc lạnh. “Sau gần mười sáu tháng, gã đó đầu thú và thừa nhận thực hiện vụ sát hại ba người sao?”
“Tôi biết. Hiển nhiên việc này rất hiếm thấy.”
“Động cơ là gì?
Trông chị có vẻ không thoải mái. “Tôi tới đây chỉ để báo trước thông tin cho anh như một phép lịch sự thôi Amos ạ. Đó vẫn là một vụ án đang được cảnh sát điều tra. Anh biết quy trình mà.”
Anh rướn người lên trước, gần như che hết chiều rộng của cái bàn. Bằng một giọng đều và kiên quyết, như thể anh đang nhìn chị chằm chằm qua khoảng cách giữa hai cái bàn dính liền nhau như hồi còn làm việc ở đòn cảnh sát, anh nói. “Động cơ là gì?”
Chị thở dài, rút một thanh kẹo cao su từ trong túi áo, gập nó làm đôi, và bỏ vào trong miệng. Nhai mạnh ba lần và chị nói, “Leopold nói rằng đã có lần anh làm hắn bất mãn. Hắn bực tức.”
“Ở đâu và khi nào?”
“Ở cửa hàng 7-Eleven. Khoảng một tháng trước... trước khi hắn ra tay. Hiển nhiên gã đó ôm hận trong lòng. Nói riêng giữa anh và tôi, tôi không nghĩ gã đó đầu óc bình thường.”
“Cửa hàng 7-Eleven nào?”
“Sao cơ?”
“Cửa hàng 7-Eleven nào?”
“Ừm, cửa hàng gần nhà của anh, tôi nghĩ vậy.”
“Vậy là ở số 14 trên đường DeSalle rồi?”
“Hắn nói hắn đi theo anh về nhà. Đó là lí do hắn biết anh sống ở đâu.”
“Vậy là hắn vô gia cư nhưng lại có ô tô sao? Bởi vì tôi chưa từng một lần trong đời đi bộ tới cửa hàng 7-Eleven đó.”
“Hiện giờ hắn vô gia cư. Còn hồi đó thì tôi không biết tình trạng của hắn thế nào. Hắn chỉ vừa mới đầu thú thôi, Amos. Còn rất nhiều điều mà chúng ta vẫn chưa biết.”
“Ảnh chụp đâu.” Đó không phải là một câu hỏi. Nếu hắn đã bị bắt, họ phải chụp ảnh và lấy dấu vân tay của hắn.”
Cô giơ điện thoại lên và cho anh xem tấm ảnh. Trên màn hình nhỏ là gương mặt của một người đàn ông. Gương mặt cháy nắng và cáu bẩn. Mái tóc rối bời và râu ria lòa xòa. Và với ngoại hình như thế, Leopold trông cũng thật giống Decker.
Anh nhắm mắt lại và cái máy ghi hình trong óc anh bật trở lại, nhưng lướt hết một vòng, lại một lần nữa, không manh mối.
“Tôi chưa bao giờ gặp hắn.”
“Ừm, có thể hắn bây giờ đã khác ngày trước.”
Anh lắc đầu và nói, “Bao nhiêu tuổi?”
“Khó xác định và hắn cũng không khai. Có thể là đầu bốn mươi, có thể thôi.”
“Hắn cao to cỡ nào?”
“Một mét tám và dưới tám mươi kg.”
“Gầy hay béo?”
“Gầy. Khá là khẳng khiu, theo những gì tôi thấy.”
“Anh vợ của tôi áng chừng kích thước ngang tôi, làm công nhân xây dựng, và anh ấy có thể nâng cả một chiếc xe tải. Làm thế nào để Leopold đối kháng tay đôi với anh ấy?”
“Vụ việc vẫn đang được điều tra, Amos ạ. Tôi không thể nói được.”
Một lần nữa anh nhìn thẳng vào cô, nhưng lần này anh để sự im lặng nói thay lời mình.
Chị thở dài, nhai miếng kẹo cao su chóp chép, và nói, “Hắn nói với chúng tôi anh vợ của anh say rượu ở chỗ bàn bếp. Không biết hắn đang áp sát. Thật ra hắn nói hắn nghĩ đó là anh. Chí ít là từ đằng sau.
Hắn nghĩ hắn đang giết mình khi hắn cứa cổ anh vợ của mình sao?
“Tôi chẳng giống anh vợ tôi một tí nào cả.”
“Từ đằng sau mà Amos. Và tôi nói anh nghe này, gã Leopold có vấn đề về thần kinh. Óc gã không mở nổi máy chứ đừng nói là nảy số.”
Decker nhắm mắt lại.
Như vậy là thằng thần kinh với bộ não không hoạt động này sau đó đã đi lên tầng trên và bắn chết vợ mình rồi siết cổ con gái mình sao?
Anh mở mắt ra khi Lancaster nhấc người đứng dậy khỏi ghế.
“Tôi còn một câu hỏi nữa,” anh nói.
“Ồ, tôi không trả lời thêm được gì nữa đâu. Tôi có thể bị tước phù hiệu vì tới đây và nói cho anh biết những gì tôi vừa nói. Anh biết điều đó mà Amos.”
Anh cũng đứng dậy, dáng người của anh che khuất chị, một người đàn ông to lớn, xồ xề có thể khiến lũ trẻ nhỏ khóc thét mà bỏ chạy vì sợ hãi chỉ cần... bằng cách xuất hiện.
“Tôi cần về đồn để gặp gã này.”
“Không thể được,” Lancaster đã lùi ra xa. Rồi chị để ý tới cái chỗ nhô lên ở thắt lưng của anh.
“Anh có mang theo nó trên người đấy à?” chị nói với giọng nghi ngờ.
Anh không liếc nhìn xuống cái chỗ mà chị đang nhìn chằm chằm.
“Tôi đã giao nộp lại vũ khí khi rời khỏi lực lượng rồi.”
“Tôi không hỏi chuyện đó. Bất cứ ai đều có thể mua được súng mà. Tôi hỏi lại lần nữa. Anh có mang theo súng đấy à?”
“Nếu có đi nữa, tôi cũng có làm gì trái luật đâu.”
“Mang công khai thì được,” chị chỉnh lại lời anh. “Nhưng có luật cấm giấu kin súng mang theo người, trừ phi là cảnh sát.”
“Tôi có giấu đâu. Cô có thể nhìn thấy nó mà, chẳng phải sao? Từ vị trí mà cô đang đứng?”
“Chuyện đó không giống nhau, Amos, và anh biết điều đó mà.”
Anh giơ hai tay được đặt song song cạnh nhau. “Thế thì còng tay tôi lại đi. Bắt tôi và tống tôi vào cùng cái phòng đang giam Sebastian Leopold ấy. Cô có thể tịch thu súng của tôi. Tôi sẽ không cần đến nó.”
Chị lùi ra sau xa thêm nữa. “Đừng có cố thúc bách. Hãy để chúng tôi làm công việc của mình. Chúng tôi đã tóm được hắn. Hãy để mọi chuyện diễn ra tự nhiên và công bằng. Chúng ta có thể kết án tử hình mà. Hắn có thể sẽ phải nhận một mũi thuốc độc cho những gì hắn đã gây ra.”
“Phải, có khi là sau mười năm nữa. Và như thế là trong cả một thập kỉ hắn có nhà, có giường và cơm ăn ba bữa. Và nếu hắn thực là bị điên và luật sư biết lo liệu giấy tờ, hắn sẽ được cho về ở trọn đời tại một bệnh viện tâm thần đẹp đẽ, thoải mái nào đó, đọc sách, chơi xếp hình, đi tư vấn và được nhận thuốc miễn phí để giúp hắn không phải chịu đau đớn. Nhìn từ góc độ của hắn, thế không tệ chút nào. Thật lòng, nếu là tôi thì sẽ chấp nhận thỏa thuận đó ngay.”
“Hắn nhận tội sát hại ba người đấy, Amos à.”
“Hãy cho tôi gặp hắn.”
Chị đã quay người và bước nhanh quay về chỗ mà có thể là nơi chị đã đậu xe.
Chị quay người lại một lần nữa và hằm hè nói, “Mà nhân thể, không cần cảm ơn đâu, đồ vô ơn!”
Anh nhìn theo cho tới khi chị đi khuất khỏi tiền sảnh.
Anh ngồi xuống tại chỗ bàn của mình. Anh coi cái bàn đó là của mình bởi vì tất cả mọi người đều cần một chỗ nào đó gọi là của mình. Và vị trí đó là dành cho anh.
Sáng hôm nay anh thức dậy, không một mục đích trong đời, ngoại trừ sống tiếp đến sáng hôm sau.
Giờ đây tất cả đã thay đổi.
 
 
 
CHƯƠNG 6
 
Decker quay lại phòng và rút điện thoại ra. Anh không thích phải trả tiền cho một cái điện thoại có thể truy cập Internet, nhưng nó giống như anh có trong tay một cái thư viện khổng lồ cùng một binh đoàn trợ lý hỗ trợ tìm kiếm với giá rẻ. Anh kiểm tra bảng tin. Chắc hẳn họ bị lệnh hạn chế thông tin về vụ bắt giữ bởi vì anh không tìm được gì cả. Khi anh tìm cái tên trên mạng, có thấy một số kết quả nhưng rõ ràng đó chỉ là những người khác trùng tên mà thôi.
Gã đó đã đầu thú và thừa nhận sát hại ba người. Kể cả nếu gã thực sự biện hộ là mình bị thần kinh, gã vẫn có thể phải sống trọn đời trong trại. Có thật là gã không? Là gã đã làm ư? Cảnh sát đáng lẽ ra có thể đưa ra kết luận rất dễ dàng. Decker biết họ giấu nhiều chi tiết không công khai cho công chúng về các tội ác. Họ sẽ chất vấn cặn kẽ Leopold, nếu đó là tên thật của gã, và nhanh chóng xác định được là gã đã làm hay gã đang nói dối vì một lí do nào đó.
Nếu đúng là gã, Decker sẽ làm gì đây? Tìm cách phá ngang hệ thống tư pháp hình sự và giết chết gã ư? Và rồi sau đó tự kết thúc đời mình bằng những ngày trong tù à? Nhưng nếu không phải do gã làm, ồ, vậy thì cũng sẽ có nhiều khả năng có thể xảy ra.
Ngay lúc này, anh không thể làm bất cứ điều gì. Không một điều gì có tính xây dựng, ít ra là thế. Leopold có thể sẽ bị buộc tội và chính thức bị khởi tố, hoặc được thả, tùy thuộc vào kết quả thẩm vấn. Nếu hắn bị nhốt lại, hắn sẽ bị đưa ra xét xử, hoặc có thể là không nếu hắn thừa nhận có tội, phần lớn các bị cáo đều làm thế, là do họ nghèo nên không có tiền để thuê luật sư giỏi hoặc đúng thật là họ có tội, hoặc có khi là cả hai. Những gã giàu có thì luôn tìm cách đấu tranh đến cùng, đặc biệt là khi đem thời gian phải ở trong tù lên bàn cân. Bọn họ có quá nhiều thứ để đánh mất.
Nhưng bên nguyên thì chưa chắc đã phải đề nghị bị cáo chủ động nhận tội. Họ có thể muốn xoay kẻ đần độn này để lấy danh tiếng trong nghề. Nếu như thế, Decker sẽ có mặt ở tòa án mỗi ngầy. Mỗi phút. Anh muốn nhìn thấy gã này. Đánh hơi gã. Định lượng gã.
Anh nằm xuống giường. Trông anh giống như đang ngủ, nhưng anh không hề chợp mắt dù chỉ một phút. Anh đang nhớ lại. Anh đang nghĩ lại thời ngày xưa anh đã từng. Và anh của hiện tại. Anh thường xuyên nghĩ về chuyện này, kể cả vào lúc anh không muốn. Đôi khi, phần lớn thời gian, quyết định không nằm trong tay anh. Nó phụ thuộc vào bộ não của anh, bộ não đó, châm biếm làm sao, dường như tự nó cũng có trí óc của riêng mình.
☆☆☆
Tôi là Amos Decker. Tôi bốn mươi hai tuổi và trông già hơn ít nhất mười tuổi (vào một ngày đẹp trời, và tôi chưa từng có một ngày nào như thế trong bốn trăm bảy mươi chín ngày vừa qua), và cảm giác tôi già hơn thế ít nhất cả một thế kỉ. Tôi đã từng là một cảnh sát và sau đó là một thanh tra, nhưng tôi đã không còn kiếm được tiền lương nhờ làm bất cứ nghề nào trong hai nghề đó. Tôi mắc chứng trí nhớ siêu phàm hyperthymesia, nghĩa là tôi không bao giờ quên được bất cứ thứ gì. Tôi không nói tới những kĩ năng ghi nhớ mà bạn có thể tự học để ghi nhớ các thứ tốt hơn, như các mẹo liên tưởng dùng để nhớ thứ tự các lá trong một bộ bài. Không, đối với tôi, cứ như có một bộ não được cường hóa mà bằng một cách nào đó đã giải phóng những khả năng mà tất cả chúng ta đều có nhưng không bao giờ dùng đến. Không có nhiều người có chứng siêu nhớ - cách gọi tắt của tôi cho hội chứng này - trên giới. Nhưng tôi chính thức là một trong số đó.
Và có vẻ các hệ thần kinh giác quan của tôi còn giao với nhau nữa, vì thế tôi nhìn thấy màu sắc và hình dung thời gian như những hình ảnh trong đầu. Thật ra, các màu sắc xâm chiếm suy nghĩ của tôi vào những lúc không cố định. Chúng tôi được gọi là những người mang hội chứng cảm giác kèm synesthesia. Nghĩa là tôi thấy được màu sắc và tôi “nhìn thấy” thời gian, và đôi khi tôi liên hệ màu sắc với người hoặc các đồ vật.
Rất nhiều người có hội chứng cảm giác kèm cũng mắc chứng tự kỷ hoặc hội chứng Asperger. Tôi thì không. Nhưng tôi không còn thích bị người khác chạm vào người. Và những câu chuyện đùa vui không còn thực sự gây ấn tượng với tôi nữa. Nhưng đó có thể là tôi không có ý định bật cười thêm một lần nào nữa.
Tôi đã từng có lúc bình thường, hoặc gần đến mức đủ để được coi là bình thường.
Và giờ tôi không còn như thế nữa.
☆☆☆
Điện thoại của anh rung. Anh nhìn vào màn hình. Anh không nhận ra số gọi đến, nhưng điều đó cũng chẳng sao. Để quảng cáo cho công việc thám tử tư, anh đã cho số điện thoại của mình ở rất nhiều chỗ khác nhau. Ngay lúc này anh không muốn tập trung vào công việc, nhưng rồi một lần nữa, anh cũng không thể ngó lơ các khách hàng sẽ trả tiền cho mình. Nếu anh bị đá đít ra khỏi cái nơi tồi tàn này chỉ vì không thể trả tiền trọ, những ngày sống trong hộp carton sẽ quay trở lại. Và mùa đông đang tới gần. Và mặc dù người anh có rất nhiều mỡ có thể giúp anh giữ ấm, anh vẫn sẽ luôn lựa chọn một mái nhà vững chãi thay vì mấy sản phẩm từ giấy.
“Decker nghe,” anh bắt máy.
“Anh Decker, tôi là Alexandra Jamison từ trang báo News Leader. Tôi có thể hỏi anh một vài câu về những tiến triển gần đây trong vụ án liên quan tới gia đình anh được không ạ?”
“Làm sao cô có số này vậy?”
“Từ một người bạn của bạn tôi.”
“Lần thứ hai tôi được nghe câu đó trong ngày hôm nay đấy. Vòng vo như thế tôi không có thích.”
“Anh Decker, đã mười sáu tháng trôi qua. Chắc hẳn anh phải có cảm nghĩ gì đó khi biết rằng cuối cùng cảnh sát cũng đã bắt giữ được một đối tượng.”
“Sao cô biết họ đã bắt được người?”
“Tôi làm việc với đội cảnh sát tuần tra. Tôi có mối riêng. Một nguồn tin tin cậy nói cho tôi biết có kẻ tình nghi đã bị tạm giữ. Anh có biết thêm gì khác nữa không? Nếu có - “
Decker ấn nút kết thúc và giọng của người phụ nữ tắt ngóm. Điện thoại ngay lập tức đổ chuông trở lại, và anh tắt hẳn máy.
Anh không thích giới báo chí từ hồi còn làm thanh tra, mặc dù trong một số trường hợp họ cũng có ích. Tuy nhiên, giờ là thám tử tư, anh chẳng thích thú gì tiếp chuyện mấy người đó. Và đừng hòng bọn họ moi được chuyện hoặc xin xỏ trợ giúp từ anh về vụ án “liên quan” đến gia đình anh.
Anh rời khỏi phòng ở và bắt một chuyến xe bus ở góc phố và đi chặng đó để bắt được chuyến thứ hai, chuyến này đưa anh thẳng vào trung tâm thị trấn. Có một vài tòa nhà chọc trời xen lẫn giữa một mớ các tòa nhà khác với độ cao tầm thấp và trung, một số còn mới, đẹp, số khác thì không. Phố phường đan xen thành hệ thống đường kẻ dày đặc với các góc vuông vức và các con phố lớn thẳng tắp. Anh không qua lại khu trung tâm này nhiều. Tội phạm, chí ít là các tội phạm nghiêm trọng, thì hoặc ở phía Bắc của thị trấn hoặc ở khu vực ngoại ô. Nhưng nơi nhiệm sở nơi anh từng làm việc, và là khu tạm giam cho những kẻ bị bắt giữ thì nằm ở ngay đây, lại tọa lạc ngay chính giữa trung tâm thị trấn này.
Anh đứng trên phố và nhìn chăm chăm vào tòa nhà đối diện, nơi anh từng bước vào mỗi ngày trong suốt một khoảng thời gian dài: Khu nhiệm sở thứ 2. Đó thật ra là Khu nhiệm sở số 1, bởi vì khu nhiệm sở số 1 cũ đã bị thiêu rụi. Nhưng không ai chịu bỏ thời gian đặt lại mấy con số cả. Mà có khi việc đó không nằm trong chi ngân sách.
Tòa nhà được đặt theo tên của Walter James O’Malley, một cảnh sát trưởng xuất chúng từ đâu đó bốn mươi năm trước. Ông ta đột tử bên ngoài một quán bar với cô nhân tình đang níu chặt trong vòng tay. Nhưng điều đó cũng không ngăn được họ đặt tên tòa nhà theo tên ông ta, điều đó là một minh chứng thuyết phục rằng việc ngoại tình thật ra không gây tổn hại gì đến di sản mà một người để lại. Kể cả nếu mất mạng vì nó.
Phòng làm việc ngày xưa của anh nằm trên tầng ba. Anh có thể nhìn thấy ô cửa sổ mà hồi đó anh chăm chăm nhìn ra ngoài, vào những lúc anh không nhìn Lancaster, người ngồi đối diện thẳng với anh trong cái góc làm việc chật chội. Buồng tạm giam nằm ở tầng hầm và nằm ở mặt nhìn ra con phố này, điều đó có nghĩa là Sebastian Leopold đang cách anh chắc chỉ mười lăm mét.
Anh chưa từng ở gần đến mức này với kẻ được cho là đã sát hại gia đình mình. Nhưng cũng có khi anh đã từng, nếu như theo lời kể anh từng làm hắn bất mãn ở cửa hàng 7-Eleven.
Anh quay đi khi anh nhìn thấy một cảnh sát mặc thường phục và một cảnh sát mặc cảnh phục mà anh biết. Mặc dù anh đã thay đổi rất nhiều kể từ lúc rời khỏi lực lượng, anh đồ rằng họ vẫn có thể nhớ anh. Bước vào trong một con ngõ, anh tựa người lên tường. Mức độ lo lắng của anh đang tăng cao. Những cơn đau đầu đến rồi đi. Bộ não của anh dần trở nên mệt mỏi bởi nó gần như chẳng bao giờ ngừng làm việc. Thậm chí kể cả lúc anh đang ngủ. Nó giống như thể tiềm thức của anh thật ra cũng chính là ý thức của anh. Với một người không bao giờ quên bất cứ điều gì, anh lại thấy khó nhớ được con người ngày trước của mình ra sao. Lẫn những gì anh đã trải qua để trở thành con người của ngày hôm nay.
Anh nhắm mắt lại.
☆☆☆
“Khả năng” này đến với tôi khi tôi mới vừa tròn hai mươi hai tuổi. Tôi đang làm trung vệ trong đội bóng bầu dục của trường đại học, được tuyển lên đội dự giải quốc gia NFL với năng lực cũng thường thường nhưng hừng hực khát khao chiến đấu mãnh liệt. Tôi đặt chân lên sân bóng cho trận đấu đầu tiên của mùa giải sau khi thi đấu hết mình trong suốt các trận đấu trước mùa giải và sóng sót cho tới trận cuối cùng. Tôi nằm trong đội được giao bóng trước. Công việc của tôi rất đơn giản: hi sinh thân thể để tạo ra hỗn độn và lỗ hổng trong hàng ngũ đối phương để các anh chàng khác có thể cản được người bắt bóng bên họ. Tôi cắm đầu cắm cổ chạy trên sân đấu. Tôi chuẩn bị gây ra được hỗn độn. Tôi chạy hùng hục, đến mức mà nước mũi, nước dãi bay ra khỏi mũi, khỏi miệng. Tôi sẽ nhận được khoản lương cao nhất mà tôi từng được trả trong đời. Mục tiêu của tôi là kiếm được nó. Tôi chuẩn bị hạ gục một vài anh bạn đây, sẽ đè cho chết ngắc.
Và đó là những gì mà tôi nhớ được. Dwayne LeCroix, một tân binh của đội LSU, thấp hơn tôi chừng mười phân và nhẹ hơn năm mươi cân, nhưng hiển nhiên có một sức mạnh đáng kể, bởi hắn đó đã hạ gục tôi bẹp trên sân thi đấu với một cú húc không ngờ. Anh ta húc bay tôi, như người ta thường nói trong giải NFL. Bốn năm sau ngày đó, anh ta rời khỏi giải khi sụn hai đầu gối thoái hóa sạch, vai bên trái bị teo chẳng còn gì ngoài xương với xẩu, và tài khoản ngân hàng rút quá số tiền gửi. Hiện tại anh ta đang định cư trong một nhà tù an ninh tối cao ở Shreveport vì những tội ác mà anh ta gây ra cho đồng loại của mình, và anh ta đã chết gục trong đó, có thể là vào một ngày gần đây hoặc trong tương lai xa. Nhưng còn ngày hôm đó, anh ta nhởn nhơ, không ai trói cùm, thong thả, ngạo nghễ như con gà trống giữa một đàn gà mái, còn tôi thì nằm bất tỉnh trên sân bóng.
Và sau cú va chạm đó cuộc đời của tôi đã chẳng còn gì giống như trước.
Không một thứ gì.
 
CHƯƠNG 7
 
Decker mở mắt khi anh nghe thấy tiếng ồn ào ở phía bên kia đường. Các cánh cửa bật mở. Tiếng xe ô tô rít lên do bánh xe cao su ma sát với vỉa hè quá mạnh. Tiếng còi tầm vang rộn. Tiếng người ồn ào huyên náo, tiếng kim loại va đạp vào nhau ken két. Tiếng gót giày nện mạnh trên nền bê tông.
Anh bước hẳn ra khỏi con ngõ nhỏ, nhìn sang phía bên kia đường và nhìn thấy các xe tuần tra, với còi tầm rền vang, đổ ra từ cái gara ngầm của khu nhiệm sở. Thêm nhiều sĩ quan cảnh sát và cả những cảnh sát mặc thường phục đang ào ra từ cửa trước của khu nhiệm sở và lao tới những chiếc xe tuần tra và những chiếc xe không gắn phù hiệu cảnh sát đậu con phố.
Anh tiếp tục dõi theo khi một chiếc xe tải đồ sộ của đội đặc nhiệm SWAT nặng nề di chuyển từ con ngõ bên sườn của nhiệm sở, đánh lái, và sau đó người lái xe đạp mạnh chân ga và con tê giác khổng lồ bằng kim loại rầm rầm lao xuống phố.
Decker tiến gần hơn vào con phố, hòa mình vào cùng một nhóm cư dân bỏ dở côg việc làm thường ngày của mình để tụ tập theo dõi quang cảnh hỗn loạn này. Anh lắng nghe những người khác nói chuyện để xem họ có biết chuyện gì đang xảy ra hay không, nhưng tất cả mọi người dường như đều sửng sốt trước những gì mà họ đang chứng kiến.
Decker vội vã chạy sang bên kia đường thì anh nhìn thấy một người đàn ông từ trong nhiệm sở đi ra.
“Pete phải không?” Decker nói.
Người đàn ông mặc một bộ vest với hai ống tay áo lem bẩn. Ông ta khoảng đầu sáu mươi, rất gần đến tuổi nghỉ hưu, lưng hơi gù một chút và mái tóc hoa râm chải hất sang bên. Ông dừng lại và ngước mắt nhìn anh. Decker nhìn thấy Pete Rourke đã rút vũ khí được cấp của mình ra và đang kiểm tra băng đạn.
“Amos à? Anh đang làm cái quái gì ở đây vậy?”
“Tôi chỉ vô tình đi ngang qua. Có chuyện gì thế?”
Mặt Pete tái mét và trông như sắp sửa ngã quỵ xuống vỉa hè. “Có thằng bệnh hoạn nào đó đến trường cấp ba Mansfield. Mang theo súng sẵn sàng gây sự và bắt đầu nổ súng bắn giết tại đó. Nhiều người chết lắm, Decker ạ. Hầu hết là trẻ con. Tôi phải đi đây.” Ông nức nở vài tiếng. “Chết tiệt, cháu nội cùa tôi học ở trường đó. Nó vừa mới vào trường thôi mà. Không biết liệu thằng bé có...”
Ông quay người và lập tức đi tới chỗ xe ô tô của mình, một chiếc malibu màu nâu nhạt, lao vào xe, nổ máy và phóng đi.
Decker nhìn ông rời đi. Một đội quân cảnh sát đang tiến đến ngôi trường cấp ba bị khủng bố à? Trường cấp ba Mansfield. Đó là trường Decker từng theo học, từ cả nghìn năm trước rồi.
Anh nhìn xung quanh khi tiếng còi tầm đã tan. Những người ở bên kia đường đang giải tán, quay lại với công việc của mình. Rất nhiều người đang mở điện thoại kiểm tra tin tức. Decker cũng làm giống họ, nhưng vẫn chưa có tin gì cả. Mọi việc chỉ vừa mới xảy ra. Tuy nhiên, giới báo chí sẽ đón tin nhanh thôi và sau đó sẽ không ngừng đưa tin về vụ việc này đâu.
Đấy là chừng nào vụ nổ súng mới chưa diễn ra. Khi đó báo giới mới chịu buông tha để rồi cắm đầu cắm cổ đi săn tin vụ tiếp theo.
Chừng nào vụ nổ súng mới chưa diễn ra...
Decker ngước mắt nhìn chằm chằm cánh cửa dẫn vào nhiệm sở. Anh tự hỏi sẽ còn lại bao nhiêu nhân sự ở trong tòa nhà. Chắc chắn họ sẽ để lại một số người. Họ đang giam giữ một tội phạm nghiêm trọng trong nhà giam ở đó.
Anh chạm tay vào chỗ giấu khẩu súng đang phồng lên ở thắt lưng. Đó sẽ là một vấn đề. Có một cửa kiểm soát an ninh ở ngay đằng sau cửa chính. Anh nhìn xung quanh và trông thấy cái thùng rác ở bên cạnh tòa nhà. Anh bước tới và mở nắp thùng. Nó mới đầy chưa đến một phần tư thùng. Lịch lấy rác sẽ là vào cuối tuần, anh nhớ lại. Có một miếng giẻ rách nằm trên cùng của đống rác. Anh rút khẩu súng ra, gói nó trong tấm giẻ và đặt nó vào thùng.
Anh cúi xuống nhìn áo quần đang mặc trên người. Lại là một vấn đề khác nữa. Anh liếc nhìn xung quanh và trông thấy một cửa tiệm. Trước đây anh đã từng mua một vài thứ ở đó. Rất lâu trước đây.
Cửa hàng dành cho người béo và cao quá khổ của Grady.
Ờ, mình béo và mình cao. Ngay lúc này chiều ngang của mình lớn hơn chiều cao.
Anh rút thẻ tín dụng của mình ra. Thẻ này có hạn mức. Một hạn mức khá thấp. Nhưng có thể là vừa đủ dùng.
Anh đi vào trong cửa hàng và tiếng chuông cửa vang lên khi anh bước vào.
Một người đàn ông ăn mặc đẹp đẽ, tròn trĩnh thoăn thoắt bước đến chỗ anh và sau đó lùi lại một bước cũng nhanh chóng khôg kém.
“Tôi giúp được gì cho anh ạ?” ông ta nói từ một khoảng cách khá xa. Có lẽ ông ta nghĩ Decker là một người vô gia cư và đang định trấn lột ông ta.
Decker rút ví ra và giơ nhanh cho ông ta xem cái phù hiệu thám tử tư. Anh làm rất nhanh để nhìn thoáng qua trông có vẻ giống như một phù hiệu khác. Anh liếc nhìn sang nhiệm sở ở đầu kia con phố để tăng thêm lớp ngụy trang cho màn lừa gạt. Nói dối không phải là một việc anh có thể làm một cách tự nhiên. Và sau cú va chạm trên sân bóng, khả năng giữ gìn ý tứ trong lời nói của anh đã suy giảm đi rất nhiều, thế nên đối với anh, việc không nói lên sự thật là một thách thức to lớn hơn trước. Bản năng nài khẩn có được sự chuẩn xác và không bằng lòng với bất cứ thứ gì thiếu tính chuẩn xác. Ấy thế nhưng là một cảnh sát thường xuyên hoạt động ở khu vực nhạy cảm của thế giới tội phạm, anh đã phải nói dối quanh co nhiều lần. Sau này là thanh tra và giờ là thám tử tư, anh cần phải có khả năng nói lập lờ, nếu không anh sẽ chẳng thể hoàn thành công việc. Và cuối cùng anh tìm được một phương pháp có vẻ là có hiệu quả.
Mình sẽ nói dối, một cách thật hoàn hảo.
Anh nói với người đàn ông, “Tôi làm một nhiệm vụ quá lâu. Bỏ mặc bản thân ghê quá. Muốn bám dấu lũ “chuột” thì trông mình cũng phải giống bọn nó chứ. Giờ tôi phải tìm về với văn minh nhân loại thôi. Hiểu chưa?”
Người đàn ông đã nhìn theo ánh mắt của Decker hướng về khu nhiệm sở và gật đầu. Thái độ của ông ta dãn ra, thoải mái hơn. Ông ta thậm chí còn mỉm cười.
“Anh không phải là người đầu tiên,” ông ta nói với giọng khích lệ. “Chúng tôi có rất nhiều khách hàng từ Phòng cảnh sát Burlington.”
“Ngày trước tôi đã từng mua hàng ở đây,” Decker nói.
“Chắc hẳn là vậy rồi, tôi nhớ anh mà,” người đàn ông nói dối.
Decker lựa hàng nhanh chóng. Áo khoác, một chiếc cỡ XXL. Quần, cỡ XL, mà vẫn hơi chật, thế nên anh để bụng rủ xuống che qua thắt lưng như nhiều người ngoại cỡ vẫn để. Anh bỏ qua không chọn mua thắt lưng nữa. Cái quần chắc chắn không thể tụt xuống được. May mắn là chân của anh cũng dài, và anh tìm được một chiếc quần đã may gấu vừa người. Áo sơmi to như cho voi. Cà vạt, rẻ tiền nhưng đủ xài. Giày, cỡ 48. Anh chọn một đôi da nhân tạo. Chúng bó chặt hai bàn chân của anh. Anh không quan tâm.
“Ở đây không có bàn chải với máy cạo râu nhỉ?” Decker hỏi khi đang nhìn mình trong gương.
“Khu vực đồ dùng nhà vệ sinh của chúng tôi ở đằng kia có.”
“Cặp táp thì sao nhỉ?”
“Quầy phụ kiện, đằng kia.”
Anh trả tất cả bằng thẻ tín dụng. Khi Decker hỏi, nhân viên thu ngân bán thêm cho anh một cuốn sổ kẻ ngang và ít bút mà anh ta cất trong một cái hộp đồ văn phòng phẩm ở đằng sau quầy thanh toán.
“Họ cứ cắt giảm ngân sách chi cho chúng tôi,” Decker giải thích. “Làm sao chúng tôi bảo vệ được mọi người khi mà thậm chí còn chẳng có tiền mua bút cơ chứ?”
“Thật đáng buồn,” người đàn ông nói. “Thế giới này sẽ đến ngày tàn mất thôi. Anh muốn một cái kẹp cà vạt hoặc khăn túi ngực khong?”
Decker mang tất cả đồ đạc vào nhà vẹ sinh, dùng bồn rửa mặt rửa ráy sạch sẽ cáu bẩn, thoa lọ khử mùi mà anh đã mua, cạo sạch hầu hết râu ria, chỉ để lại một lớp mỏng ở cằm, hai bên quai hàm và trên mép, cắt tỉa gọn gàng mái tóc, mặc quần áo mới lên người và đi giày mới, và bỏ những đồ cũ vào trong cái túi xách của cửa hàng.
Anh bước ra ngoài mang theo cái túi và quay trở lại khu nhiệm sở. Cái cà vạt thít chặt ở cổ anh, và mặc dù đã dùng lăn khử mùi, anh vẫn cảm thấy hơi có chút mồ hôi đang chảy ra dưới hai cánh tay, mặc dù không khí khá mát mẻ. Nhưng trông anh không còn giống như hình thù lúc trước nữa. Kể cả cái hồi anh còn là cớm, anh cũng chưa từng trông chỉnh tề đến như thế.
Anh bỏ cái túi đựng quần áo vào trong thùng rác cùng với khẩu súng và tiến lên những bậc thang dẫn vào nhiệm sở. Anh biết làm thế này là ngu ngốc lắm. Là điên rồ. Anh rời khỏi lực lượng chưa lâu đến mức đó. Anh có thể bị nhận ra bất kì lúc nào, giống như Pete Rourke có thể nhận ra anh vậy. Nhưng anh không quan tâm. Anh thật sự không quan tâm. Đây là cơ hội của anh. Có thể là cơ hội duy nhất. Anh sẽ nắm lấy cơ hội này.
Anh vượt qua cái máy kiểm tra an ninh. Có một cậu cảnh sát trẻ ở sảnh để điều hành khu vực lối vào. Decker không quen cậu ta và cậu ta cũng không biết Decker.
Tốt cho cả hai.
Anh đi tới quầy thông tin. Người phụ nữ lớn tuổi đang ngồi ở đó rõ ràng không phải là cảnh sát đang mặc cảnh phục. Chắc hẳn chị ta được tuyển dụng hệ dân sự. Để một cán bộ không phải cảnh sát ngồi ở bàn tiếp đón không phải là một cách điều phối nguồn nhân lực thông minh.
Với câu chuyện bịa đặt đã được hình thành xong trong đầu, Decker cúi xuống nhìn chị ta. Chị ta ngước mắt nhìn anh. Hai mắt chị ta mở to, có thể đơn giản chỉ là để nhìn thấy được hết toàn bộ thân hình của anh.
“Tôi giúp được gì cho anh?” chị ta hỏi.
“Các anh chị đang tạm giữ một phạm nhân, Sebastian Leopold, phải chứ?”
Chị ta chớp mắt vì bối rối. “Tôi không biết anh muốn nói đến a -”
“Tôi muốn nói chuyện với anh ta.”
“Vậy anh là -”
“Anh ta cần tư vấn. Tôi không nghĩ đã có ai đó được chỉ định tới đại diện cho anh ta.”
“Tôi không chắc -”
“Từ chính án thứ sáu, quyền được tư vấn. Không thể bác bỏ. Chỉ cần một vài phút với anh ấy thôi.”
“Tôi sẽ phải gọi điện -”
“Nếu cần thì cứ gọi. Nhưng tôi biết ngay lúc này quanh đây mọi người đang khá bận rộn và vất vả. Thế nên nếu không có ai bắt máy, tôi chỉ cần vài phút với anh ấy thôi.”
Decker nhấc cái cặp táp lên để chị ta có thể nhìn thấy nó và vỗ vỗ vào cạnh sườn. “Cáo trạng của anh ấy sắp được công bố. Anh ấy cần chuẩn bị để biện hộ. Tôi có một vài ý tưởng.”
“Anh ngồi chờ chút được chứ.”
Decker nhìn xung quanh, nhìn cậu cảnh sát quản lý cái máy an ninh. Cậu ta đang nhìn Decker chằm chằm, thế là không tốt.
Nhận ra có thể anh vừa mới vứt qua cửa sổ cả một mớ tiền mà thật ra không phải là tiền mà mình có cho những áo quần trông giống luật sư, Decker ngồi xuống cái ghế được gắn vào tường và chờ đợi. Người phụ nữ lớn tuổi nhấc điện thoại lên và chậm rãi, chậm quá thể quá đáng, ấn các con số.
Con số. Lại là các con số.
Chúng có tác động thôi miên đối với anh, gợi anh nhớ tới những khoảnh khắc mà không phải lúc nào anh cũng muốn nhớ đến.
Decker nhắm mắt và tâm trí anh bắt đầu quay ngược ... quay ngược về cái ngày hôm đó, không, về chính xác cái khoảnh khắc khi cuộc đời anh thay đổi mãi mãi.
 
 
 
CHƯƠNG 8
 
Đám đông phát cuồng mỗi lần cú va chạm được tua lại trên màn hình lớn, và việc đó diễn ra thường xuyên, sau này người ta kể lại cho tôi như thế. Mũ bảo hộ văng xa cả mét rưỡi và lăn thêm gần hai mét nữa, rồi dừng lại dưới chân của một trọng tài, ông này đã nhặt chiếc mũ lên và có lẽ đã kiểm tra xem liệu đầu của tôi có còn ở trong đấy hay không.
Tôi nghĩ não của mình bật nảy trong sọ nhiều lần như một con chim cố gắng lao đầu vào cửa sổ cho tới khi cổ nó gãy rời.
Đúng thế, đám đông reo hò và huýt sáo mỗi khi màn hình lớn chạy đoạn băng tua lại.
Rồi tôi được kể lại rằng mọi người không reo hò nữa. Bởi vì tôi không đứng dậy. Bởi vì tôi bất động hoàn toàn. Và rồi sau đó một ai đó nhận thấy tôi đã ngừng thở, và người chuyển sang tím ngắt. Họ kể lại rằng huấn luyện viên trưởng luân phiên thụi vào ngực tôi như một cái máy dập đè lên những tấm kim loại và hà hơi, thổi ngạt cho tôi. Sau này, họ kể với tôi rằng tôi đã chết đi hai lần trên sân đấu, nhưng cả hai lần ông đều mang tôi từ cõi chết trở về. Họ kể với tôi rằng ông thét vào tai tôi, “Cố lên nào, chín mươi lăm. Cố gắng lên.” Tôi là kẻ vô danh tiểu tốt đến mức ông ấy chỉ biết số áo đấu chứ không biết tên tôi. Danh tính cầu thủ bóng bầu dục chuyên nghiệp của tôi là một con số chín và một con số năm được in trước ngực. Chín và năm. Màu tím và màu nâu trong trí óc đếm màu của tôi. Tôi chưa từng chủ đích gắn màu sắc với con số. Là bộ não làm việc đó mà không cần tôi cho phép.
Cú va chạm đã làm thay đổi tất cả về tôi, bởi vì bản chất nó đã kết cấu lại bộ não cho tôi. Thế là tôi đã chết, hai lần, và sau đó hồi sinh, về cơ bản, thành một con người khác. Và suốt một thời gian dài tôi đã nghĩ đó sẽ là điều tồi tệ nhất từng xảy đến với mình. Nhưng rồi cái đêm với ba thi thể nhuốm màu sắc xanh ánh điện xảy đến, và cú đâm từ sau trên sân đấu đã tụt ngay xuống vị trí thứ hai trong danh sách những điều khủng khiếp nhất từng xảy đến với bản thân.
 
☆☆☆
“Anh ơi? Thưa anh?”
Decker mở mắt và nhìn thấy người phụ nữ đang cúi nhìn anh chằm chằm. Không phải người phụ nữ lớn tuổi ngồi sau bàn. Cô gái này trẻ hơn nhiều, có lẽ là gần ba mươi, mặc quần âu màu đen và một chiếc áo sơmi màu xanh nước biển nhạt, để mở hai cúc trên cùng. Cô có nước da tươi sáng và từ người cô toát ra một cảm giác lạc quan, làm được việc. Chắc hẳn cô ta vừa mới vào làm gần đây thôi, anh nghĩ. Chỉ một năm nữa thôi là cô ta sẽ không còn như thế này nữa đâu. Hoặc có thể thậm chí chỉ cần sáu tháng thôi. Khi suốt ngày toàn phải lo việc truy đuổi và bắt giam lũ tội phạm cặn bã, bạn sẽ già nhanh hơn cả phơi mình dưới nắng.
Anh nhìn cái bảng tên đeo cổ lủng lẳng ngang hông cô.
Sally Brimmer. Nhân viên quan hệ công chúng. Chắc hẳn cô ta mới vào làm sau khi anh rời ngành. Ngay lúc này, vận may của anh đang rất ổn.
Nói dối cho hay thật là hay vào Amos ạ. Mày có thể làm được. Mày phải làm được. Từng chữ được nói ra đều có giá trị. Bởi vì từng chữ một mày nói ra đều có thể chống lại mày. Từng chữ một... Cố mà làm cho tốt.
Anh đứng dậy và chìa tay ra. “Vâng, cô Brimmer?”
Họ bắt tay. Tay của cô gái nằm gọn trong tay anh, và anh hi vọng cô ta sẽ không diễn giải lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi của cô là bằng chứng làm lộ tẩy rằng anh đang gian dối.
Cô nói, “Tôi được thông báo anh muốn gặp Sebastian Leopold?”
“Đúng vậy. Tôi được biết là anh ta cần cố vấn pháp luật.”
“Và anh biết việc này từ đâu vậy ạ?”
Decker kìm nén nỗi lo lắng đang lớn dần trong lồng ngực, nhanh chóng chắp ghép chi tiết từ cái máy ghi hình trong đầu để tạo ra một câu trả lời, và diễn đạt nó bằng lời.
“Tôi có liên hệ với tòa soạn báo News Leader, cô Alex Jamison. Từng nghe qua về cô ấy rồi chứ hả?”
“Vâng, tôi có biết. Cô ấy rất giỏi. Có khi cô ấy biết thật. Và anh là luật sư sao?”
Anh đưa cho cô xem một tấm danh thiếp với địa chỉ văn phòng ở đầu kia của thành phố, và đó thực sự là địa chỉ của một công ty luật.
Cô chăm chú cúi nhìn tấm danh thiếp và sau đó đưa trả nó lại. “Chúng tôi đang phải xử lý một tình huống khẩn cấp,” cô nói.
“Tôi có nghe. Pete Rourke đã kể trên đường tôi vào đây. Trường cấp ba Mansfield. Cháu nội của anh ấy học trường đó. Tôi hi vọng thằng bé không sao.”
“Vậy là anh biết Pete sao?”
“Chúng tôi quen biết nhau lâu rồi, cô Brimmer ạ.”
Cô thở dài và nhìn xung quanh. “Thực sự thì tôi không phải là người có thể quyết định việc này.”
“Tôi có thể quay lại sau.” Trước khi cô gái kịp đáp lại lời đề nghị này, anh nhanh chóng nói tiếp. “Nhưng Leopold cần phải bị khởi tố trong vòng bốn mươi tám giờ hoặc nếu không anh ta sẽ được thả. Tôi nghĩ chẳng ai ở đây muốn điều đó xảy ra cả.”
“Không, không ai muốn cả. Chỉ là -”
Những từ ngữ phù hợp nảy ra trong đầu Decker. Nó giống như anh đang đọc từ một cái máy nhắc chữ vậy. “Và đưa anh ta tới buổi luận tội mà không có cố vấn hoặc cố vấn đại khái có thể bị đàm tiếu là thiếu tôn trọng pháp luật mà có khi còn bị đùng để đớp ngược lại Phòng cảnh sát, xin lỗi tôi dùng từ hơi quá đáng. Tôi biết cô cũng không mong muốn chuyện đó. Chẳng có công dân tôn trọng pháp luật nào lại muốn thế cả.”
Cô gái bắt đầu gật gù trước bài diễn văn đầy thuyết phục của anh.
“Anh sẽ chỉ cần vài phút thôi phải không?”
“Chỉ cần có thế,” anh nói.
Cô lưỡng lự và anh có thể đọc được sự do dự trong ánh mắt cô.
Cô không muốn dính vào chuyện này và không biết phải đưa ra quyết định như thế nào cho đúng.
Càng đi sâu với lời nói dối này, anh càng bắt đầu cảm thấy bồn chồn nhiều hơn. Anh hít một hơi thật sâu, nén vị đắng của mật đang dâng trong cổ họng theo nhịp thở ra. “Chỉ một vài phút thôi,” anh nói. “Sau đó tôi sẽ ra khỏi đây. Và sau này anh ta chẳng thể khiếu nại gì thêm.”
Đoạn cuối là suy nghĩ thực lòng của Decker.
“Anh có biết anh ta bị cáo buộc tội trạng gì không?” cô hỏi.
“Có, thật tình là tôi biết khá rõ. Nhưng cho dù hành vi của anh ta có tàn ác thế nào, anh ta vẫn có quyền được tư vấn. Và nếu đúng là anh ta có tội, người ta có thể tiêm thuốc độc cho anh ta mà cô sẽ không nghe thêm bất cứ lời khiếu nại nào từ tôi nữa. Điều này tôi xin hứa.”
Nói thật chắc chắn sẽ giúp mày được giải thoát, Amos ạ.
Sự do dự của cô gái cuối cùng cũng tan biến, như nước trong bọc đã vỡ ra.
“Được rồi, đi theo tôi nào.”
Và Amos đi theo cô ta.
 
CHƯƠNG 9
 
Họ rẽ vào một góc ngoặc ở cuối sảnh và hắn ta kia rồi, con chuột trong lồng, chí ít trong suy nghĩ của Decker là thế. Nhưng như vậy là chưa đủ. Anh cần phải khẳng định chắc chắn.
Brimmer nhìn Decker và sau đó là Leopold.
“Anh ta đây. Tôi có thể cho anh mười lăm phút, tối đa.”
“Tôi chỉ cần thế thôi,” Decker đáp.
Ở đó có một người canh tù, lại là một người nữa mà Decker khôg biết. Mười lăm năm làm thanh tra, anh không giao thiệp gì nhiều với hội cảnh sát mặc cảnh phục.
“Làm ơn mở cửa đi ạ,” Brimmer nói với người canh tù.
Chìa khóa rút ra và cánh cửa trượt ra sau. Decker tiến vào trong buồng giam và cúi đầu nhìn chăm chăm vào người đàn ông, lúc này đang ngồi co ro như một con mèo trên chiếc giường tầng.
Brimmer nói, “ Mười lăm phút thôi, được chứ?”
Decker gật đầu nhưng không nhìn cô. Tiếng gót giày của cô lọc cọc rời đi. Decker chờ cho tới khi người canh tù quay lại chỗ bàn làm việc của mình ở cuối hành lang trước khi anh tiến lên trước và dành toàn bộ sự tập trrung vào gã tù nhân.
Sebastian Leopold không to lớn như trong suy nghĩ của anh qua lời miêu tả của Lancaster.
Hoặc có khi mình do đã phát phì hơn rất nhiều.
Họ đã thay cho hắn ta bộ áo liền quần màu da cam của tù nhân. Hai tay và hai chân của hắn dều bị còng, và một sợi xích quấn quanh eo gắn chặt vào tường. Thật tiếc làm sao, bởi nếu hắn định tìm cách tấn công Decker, Decker có thể cứ thế mà giết chết hắn với lý do tự vệ.
Cái đầu của hắn quay sang nhìn Decker và anh đã chuẩn bị tâm lý để tên Leopold này nhận mặt anh. Nhưng hắn không có vẻ gì là nhận ra anh cả. Thật kì lạ, bởi vì theo như lời anh được nghe kể, anh làm cho gã này bất mãn khủng khiếp lắm đến mức hắn trả thù bằng cách sát hại cả gia đình của Decker.
Hai con mắt đỏ ngầu, hai con ngươi giãn căng. Decker đoán cảnh sát đã đưa hắn đi xét nghiệm chất gây nghiện, bắt hắn tiểu vào một cái chai, lấy mẫu nước bọt để xét nghiệm ADN và kiểm tra hơi thở để xác định nồng độ cồn trong máu. Bộ áo liền quần là đồ ngắn tay thế nên hai cẳng tay của hắn ta để hở. Trên cánh tay phải của hắn có một hình xăm hai con cá heo. Đó là một điểm đáng chú ý.
Có cả dấu vết tiêm thuốc. Và trông mấy vết đó tương đối mới. Anh tự hỏi không biết gã này có làm một liều trước khi tung tăng lướt vào đây và nhận tội sát hại ba người hay không. Phải có chút chất kích thích trong người mới dám làm một việc như thế, Decker nghĩ.
Một đoạn đầu ngón tay bên tay trái của hắn đã bị cụt, bị cắt mất đốt đầu tiên. Trên mặt hắn có một vết sẹo. Cái mũi vẹo của hắn bị lệch sang trái khoảng 10 độ. Hai bàn tay chai sạn gồ ghề và trông rất khỏe mạnh. Hắn đã từng làm công việc chân tay.
Liệu đó có phải là đôi bàn tay đã tướt đoạt Molly khỏi mình không?
“Anh Leopold?” anh nói.
Leopold tiếp tục hướng mắt vào anh nhưng không thực sự nhìn thấy được gì . Hoặc chí ít là Decker cảm thấy như vậy.
Hắn vẫn không nhận mặt anh. Và sau khi cắt tỉa râu và tóc, trông Decker bây giờ đã gần giống hơn với anh chàng cảnh sát của mười bảy tháng trước đây, khi anh được cho là đã gây bất mãn cho Leopold tại cửa hàng 7-Eleven.
Anh nhìn chăm chú vào gương mặt của gã này và bắt đầu tua máy ghi hình trong đầu. Hết khung hình này đến khung hình khác lướt qua trong tâm trí anh, quay lại chính xác vào khoảng thời gian được cho là anh đã chạm mặt với gã này. Ngày giờ đó hiện lên trong đầu anh gần gũi như thể nó đang ở ngay trước mắt anh. Một tháng trước vụ giết người, theo lời Lancaster đã nói. Decker đã cộng thêm một tuần cả trước và sau ngày đó để chắc chắn hơn.
Máy ghi hình của anh tua o o và những khung hình lướt qua theo giờ, rồi theo phút. Decker đã ghé qua cửa hàng 7-Eleven ba lần trong khoảng thời gian đó.
Sebastian Leopold hoàn toàn không có mặt trong trí nhớ của anh.
Decker tắt đầu máy ghi hình trong đầu đi và ngồi xuống chiếc ghế được gắn chặt vào tường.
“Anh Leopold,” anh nói bằng một giọng nhỏ nhẹ. “Anh có nhận ra tôi không?”
Leopold có vẻ là đang nghe nhưng không thực sự nghe thấy gì.
“Anh có nhận ra tôi không?”
Leopold lắc đầu.
Hắn di chuyển hai tay phía trước mặt theo một cách rất kì cục. Decker quan sát hình thù chính xác mà gã này đang cố vẽ.
“Anh cần một luật sư,” Decker nói, và anh vỗ vỗ tay lên cái cặp táp.
Leopold dừng chuyển động tay và gật đầu trước lời này.
Decker lấy tập giấy và cây bút ra.
“Anh nói tôi nghe đã có chuyện gì xảy ra tôi hôm đó được chứ?”
“Tại sao?”
Giọng nói đột nhiên có một sắc thái kín đáo khiến Decker cũng hơi bất ngờ. Anh đã thẩm vấn rất nhiều tù nhân, nhiều bị cáo. Rất nhiều tên đần như cục đất và thừa nhận phạm tội vì những lý do còn ngu ngốc hơn bản thân chúng. Nhưng một số thông minh hơn nhiều so với những gì chúng thể hiện. Và có thể Leopold là một trong số đó.
“Anh cần luật sư bào chữa. Anh đã thú nhận sát hại ba người.”
“Tôi có tội. Là tôi đã làm.”
“Anh vẫn cần người đại diện pháp luật.”
“Tại sao?”
“Đó là cách mà hệ thống pháp luật hoạt động. Do đó tôi cần biết các thông tin.”
“Họ sẽ xử tử tôi.” Giọng nói này là của một đứa trẻ đang thú nhận hình phạt chờ đợi nó. Gã tù nhân khó gần đã biến thành một đứa trẻ con. Decker tự hỏi không biết đó có phải là do thuốc phiện đang khiến hắn thành ra thế này không, khiến dòng suy nghĩ của hắn nhảy lung tung như bắn bi.
“Đó là điều mà anh muốn sao?”
“Tôi có quyết định được đâu.”
“Anh nói đúng. Phần lớn do thẩm phán và bồi thẩm đoàn quyết định. Nhưng anh vẫn có thể can thiệp được. Vậy nên, anh có muốn kể tôi nghe đã có chuyện gì xảy ra không?”
Decker kiểm tra đồng hồ. Bốn phút đã trôi qua. Và bất kì lúc nào cũng có thể có một ai đó biết anh đi ngang qua đây. Anh quay người để lưng hướng ra cửa buồng giam.
“Tôi đã giết họ,” Leopold nói ngắn gọn. Lúc này hắn đang nhìn Decker chết trân, và Decker đang cố tìm kiếm trong mắt gã bất kì một dấu hiệu nào cho thấy gã nhận ra anh. Nếu nhìn thấy dấu hiệu đó, anh sẽ làm gì đây? Siết cổ gã như cái cách mà có thể là hắn đã làm với con gái anh hay sao?
Leopold lại bắt đầu cử động hai bàn tay. Hắn trông như người chỉ huy đang chỉ đạo cho một dàn nhạc không tồn tại. Decker nhìn theo trong vài giây, rồi tập trung trở lại.
“Và tại sao anh lại làm thế?”
“Gã đó làm tôi bực.”
“Gã nào?”
“Gã đó đó. Cái gã sống ở đó.”
“Hắn làm anh bực thế nào?”
“Chỉ là làm tôi bực thôi.”
“Nhưng bằng cách nào?”
“Không tôn trọng tôi gì cả.”
“Anh làm việc ở đó hả? Hay là một khách mua hàng ở đó? Ở cửa hàng 7-Eleven trên đường DeSalle sao?”
Leopold bỏ qua những câu hỏi này và nói, “Ừm, tôi xử được hắn rồi, chẳng phải sao?”
“Bằng cách nào?”
“Giết người nhà hắn.”
“Không, ý tôi là làm sao anh biết hắn sống ở đâu?”
“Đi theo hắn.”
“Bằng cách nào?”
Giờ thì trong ánh mắt của gã hiện lên sự cảnh giác mà trước đó Decker không nhìn thấy.
“Việc đéo gì phải kể với anh. Anh là cảnh sát đúng không? Đang định lừa tôi à?”
“Anh đã nhận tội rồi, anh Leopold ạ. Còn gì mà phải lừa nữa chứ. Anh hiểu chứ?”
Leopold chớp mắt và xoa xoa cổ. “Ờ, tôi nghĩ là tôi hiểu.”
“Và không, tôi không phải cảnh sát. Vậy là anh đi theo anh ta. Bằng cách nào?”
“Ý anh là sao, cách nào là cách nào?”
“Ô tô, đi bộ, hay xe đạp?”
“Làm chó gì có xe đạp.”
“Vậy là bằng ô tô à?”
“Nếu đã chả có xe đạp thì lấy quái đâu ra ô tô.”
“Vậy là đi bộ rồi?”
Leopold chầm chậm gật đầu và rồi quan sát Decker chằm chằm, có lẽ là để xem phản ứng của anh trước câu trả lời này.
Decker ghi chép gì đó xuống cuốn sổ. Anh lau giọt mồ hôi trên lông mày mặc dù buồng giam dưới tầng hầm khá lạnh. Nếu anh bị phát hiện đang ở trong này, chính anh có thể sẽ phải ngồi tù. Và thật sự anh không thích nói chuyện với người khác, thế nên cuộc trò chuyện càng vắn tắt càng tốt. Nhưng anh phải làm việc này. Đây có thể là cơ hội duy nhất của anh.
“Vậy là anh tìm ra được ‘gã đó’ sống ở đâu và lên kế hoạch sát hại người nhà anh ta. Nhưng anh đã chờ đâu đó những một tháng liền. Tại sao lại thế?”
“Ai nói tôi đã chờ một tháng?”
“Đó là những gì anh khai với cảnh sát.”
Leopold co người ngồi xổm một góc, con chuột đang tìm chỗ trốn giữa những kẽ hở. Chỉ có điều ở trong này chẳng có nơi nào để trốn.
“Được rồi, đúng là thế. Tôi phải vạch ra kế hoạch chứ. Quan sát chỗ đó, kiểu như là phải xem bố trí các chỗ thế nào.”
Decker liếc nhìn hình xăm. “Anh đi lính hải quân khi nào thế?”
Hai mắt Leopold bừng sáng trong giây lát. “Ai bảo tôi từng đi lính?”
Decker chỉ tay vào hình xăm. “Hai con cá heo. Thủy thủ thường xăm hình này. Anh xăm nó ở đây để không bị lộ vì đã có tay áo đồng phục che kín, theo quy định.”
Leopold đưa mắt nhìn xuống hình xăm như thể nó đã phản bội lại hắn.
“Tôi không có đi lính hải quân.”
“Vậy là anh nắm được bố trí của căn nhà và rồi đêm ấy đã đi tới đó. Kể chi tiết tôi nghe đi.”
Decker liếc nhìn phía sau khi nghe thấy tiếng động. Nhưng đó chỉ là người canh tù đang đi dọc hành lang. Anh lau thêm một giọt mồ hôi nữa nhỏ trên má.
“Kể chi tiết anh nghe á?” Leopold lặp lại.
“Từ lúc anh đến đó cho tới lúc anh rời đi. Hãy bắt đầu kể xem anh đến đó bằng cách nào.”
“Đi bộ.”
“Địa chỉ nhà ở đâu?”
Leopold chần chừ. “Đó là một căn nhà hai tầng, ốp ván ngoài màu vàng, nhà để xe bên cạnh.”
“Anh vào trong nhà bằng cách nào?”
“Cửa lưới bên ngách đi vào bếp.”
“Còn nhớ chi tiết nào của căn phòng không?”
“Có cái bếp thôi mà, trời ơi. Bếp này, máy rửa bát này, bàn và ghế này.”
“Còn nhớ tường sơn màu gì không?”
“Không.”
Decker lại liếc nhìn đồng hồ lần nữa. Anh cần phải đẩy nhanh tiến độ, và nỗi bồn chồn khi có mặt ở đây trong anh đang tăng dần theo từng giây.
“Anh đã giết ai đầu tiên?”
“Gã đó. Cứ nghĩ đó là thằng đã chọc mình. Nhưng té ra là không phải.”
“Sao anh biết là không đúng người?”
“Ảnh trên báo. Sau này mới biết.”
“Kể tiếp đi.”
“Hắn đang ngồi ở bàn ăn. Đang uống bia.”
“Sao anh biết?”
Leopold ngước mắt nhìn, rõ ràng là đang rất khó chịu. “Sao cứ hỏi tôi tại sao mãi thế?”
“Bởi vì cảnh sát cũng sẽ hỏi thế. Tòa sẽ hỏi thế. Bồi thẩm đoàn sẽ muốn biết những chi tiết này.”
“Chết tiệt, tôi nhận tội rồi còn gì.”
“Họ vẫn có thể đưa anh ra xét xử.”
Trông Leopold có vẻ sửng sốt trước điều này. “Tại sao?”
“Để làm màu cho bọn họ. Sao anh biết là anh ta đang uống bia?”
“Có chai bia trên bàn.”
“Anh giết anh ta như thế nào? Anh ta to cao hơn anh rất nhiều.”
“Hắn say mà. Tôi lấy dao của mình và cắt cổ hắn, ngay đây này.” Hắn chỉ tay lên cổ mình.
“Anh ta được phát hiện ở phòng bên cạnh.”
“Phải, phải, đúng là thế. Nhưng, nghe này, hắn bò vào trong đó, sau khi tôi đã cắt cổ. Máu hắn phun ra. Sau đó hắn, thật tình, hắn không cử động nữa.”
“Anh ta có gây ra tiếng động gì không?”
Leopold nói, “Có, nhưng không to tát gì.” Hắn lại chỉ tay lên cổ. “Cắt ở đây này. Không gây ồn ào gì được nhiều.”
“Còn nhớ anh ta mặc gì không?”
Leopold ngây người nhìn anh. “Lâu lắm rồi. Quần à? Hay sơmi nhỉ?”
“Sau đó rồi sao?”
“Biết hắn có người nhà. Đi giết nốt.”
“Kể chi tiết đi nào,” Decker bình tĩnh nói, mặc dù trong lòng anh cảm xúc hoàn toàn trái ngược. Tim anh đang đập rất nhanh đến mức anh có thể cảm nhận được nhịp đập trong từng bộ phận của cơ thể anh, như thể có hàng ngàn trái tim nhỏ đang đập điên cuồng khắp thân thể anh.
Sắp xong rồi, bình tĩnh nào Amos, hãy cố giữ bình tĩnh nào.
“Tôi đi lên tầng. Phòng đầu tiên ở, ở -”
“Bên trái à?” Decker gợi ý.
Leopold chỉ tay vào anh. “Đúng rồi. Bên trái.”
“Rồi?”
“Rồi tôi đi vào. Cô ta đang trong nhà tắm – không, cô ta trên giường. Đúng rồi, trên giường. Khá xinh xẻo. Cô ta mặc váy ngủ. Nhìn xuyên thấu luôn. Mẹ kiếp, con khốn đấy trong ngon lắm.”
Decker nắm chặt mép của chiếc ghế đang ngồi và giữ ánh mắt nhìn thẳng vào Leopold. Vợ của anh không bị cưỡng hiếp. Điều này đã được xác thực. Nhưng vợ anh còn bị một chuyện khác nữa.
“Vậy là đèn vẫn mở à?” Decker hỏi.
“Gì cơ?”
“Anh nói anh nhìn xuyên được qua váy ngủ của cô ta. Tôi cho thế tức là đèn vẫn sáng.”
Leopold trông mặt có vẻ không chắc chắn. “Không, tôi không nghĩ là đèn còn mở.”
“Rồi sau đó sao nữa?”
“Tôi lại gần sát cô ta.”
“Trong lúc cô ta vẫn đang nằm trên giường sao?”
Leopold cáu kỉnh nhìn anh. “Mẹ kiếp, có để tôi kể hét được không?”
“Xin lỗi, anh kể tiếp đi.”
“Tôi lấy súng. Tôi tì súng vào trán và bắn cô ta.”
“Súng loại nào?”
Leopold trả lời ngay tức khắc. “Mười một li. Súng của hãng Smith and Wesson.”
“Anh lấy súng ở đâu?”
“Ăn trộm của một gã.”
“Gã đó có tên không?”
Leopold chỉ nhún vai.
“Kể tiếp đi.”
Xa xa Decker nghe thấy tiếng cửa đang mở và tiếng bước chân đi qua đi lại. Có vẻ như một số cảnh sát đã từ chỗ trường cấp ba quay về.
“Thế là tôi bắn cô ta. Không, chờ đã. Cô ta có tỉnh giấc, nhận ra tôi ở đó. Cô ta ngồi dậy, cô ta bắt đầu la hét. Đúng rồi. Và tôi bắn cô ta. Rồi con khốn đó ngã xuống giường.”
“Ngã bẹp xuống sàn à? Cả người sao?”
Leopold nhìn anh vẻ cảnh giác. “Có thể còn một phần vướng trên giường. Chân hoặc tay hoặc gì đó.”
“Rồi sau đó sao nữa?”
Đây là điểm quan trọng. Một điểm không được lưu trong giấy tờ. Vết thương trên đầu không phải là vết thương duy nhất trên người Cassie. Điều đó đã được phát hiện khi giải phẫu tử thi.
Cô ấy không bị cưỡng hiếp. Nhưng phần ngoài bộ phận sinh dục của cô bị cắt xẻo.
“Biết hắn còn một đứa con gái. Tôi đi theo hành lang tới phòng con bé. Con bé đang ngủ.”
“Vậy là đã xong việc với người phụ nữ à. Không còn làm gì khác với cô ta nữa sao?”
Leopold trợn mắt lên nhìn anh chăm chăm. “Tôi đã kể những gì tôi đã làm. Tôi đã bắn cô ta. Chết tươi!”
“Được rồi.”
“Sau đó tôi đi dọc hành lang tới chỗ đứa con.”
“Chờ chút, tiếng nổ súng không đánh thức đứa con gái à?”
Leopold một lần nữa trông có vẻ lúng túng. “Tôi, không, không nghĩ vậy. Con bé đó đang ngủ.”
“Sau đó rồi sao?”
“Tôi kéo con bé ra khỏi giường.”
“Tại sao?”
“Cứ thế mà làm thôi. Lúc đó đầu óc đâu có nghĩ tỉnh táo đâu. Đưa nó vào trong nhà tắm.”
“Hỏi lại, tại sao? Không suy nghĩ tỉnh táo á?”
“Đúng thế. Có lẽ tôi phải đi đái và không muốn con bé đó chạy mất.”
“Anh có đái không?”
“Không nhớ.”
“Và con bé không hét lên khi nó thấy anh sao?”
“Không. Nó sợ quá, tôi đoán thế. Và... và tôi bảo con bé phải im lặng.”
“Rồi sao?”
“Rồi tôi siết cổ nó. Để tay quanh cổ nó và siết chặt như là -”
Decker giơ tay lên bảo hắn dừng lại. Anh nhìn sang hướng khác trong giây lát. Một màu xanh sáng chói làm anh lóa mắt. Màu sắc chói quá làm anh nghĩ có khi anh sẽ nôn mất. Cứ như thể như anh đang bị đè chết ngạt giữa màu xanh của ngọc bích.
“Này anh, anh ổn chứ?” Leopold hỏi với một sự quan tâm thực lòng hiện rõ trên gương mặt.
Trán Decker ướt đẫm mồ hôi. Anh chậm rãi lau khô. “Được rồi, anh đã giết con bé, sao đó sao nữa?”
Một lần nữa Leopold trông có vẻ không chắc chắn.
Decker nói, “Anh có làm gì với xác của nó không? Làm gì đó với quần áo của nó chẳng hạn.”
Leopold búng tay. “À đúng rồi,” hắn nói, mặt hắn bừng sáng như thể hắn vừa mới tìm được đáp án đúng trong lớp đại số. “Tôi dựng con bé ngồi lên bồn cầu và buộc nó lại, bằng một cái khỉ gì í.”
“Dây buộc áo choàng ngủ hả?” Decker gợi ý.
“Ờ phải, dây buộc áo choàng ngủ, quanh nó và cái bồn cầu.”
“Tại sao?”
Leopold chỉ nhìn anh chằm chằm. “Tại vì... tại vì lúc đó tôi nghĩ phải làm thế.”
“Anh rời đi như thế nào?”
“Tôi đi ra bằng đường tôi đi vào.”
“Anh có xe ô tô không?”
“Không, tôi đã kể là tôi đi bộ mà!”
“Có ai thấy anh không?”
“Không biết nữa.”
“Anh đã làm gì với khẩu súng?”
“Vứt đi.”
“Ở đâu?”
“Không nhớ.”
“Con dao?”
Leopold nhún vai. “Cũng thế.”
“Anh có kể cho ai những gì mình đã làm không?” Decker hỏi.
“Không, cho đến giờ.”
“Tại sao lại chờ đến giờ.”
Leopold lại nhún vai. “Họ sẽ thiêu tôi à?”
“Tiêm thuốc độc. Thiêu là sau.”
“Hả?”
“Dưới địa ngục.”
“À, ờ.” Leopold cười khúc khích giống như hắn nghĩ là Decker đang nói đùa. “Đùa vui đấy.”
“Vậy tại sao bây giờ lại ra thú tội?” Decker hỏi.
Leopold nói, “Còn thời điểm nào tốt hơn nữa đâu. Có còn gì nữa đâu.”
Decker nhìn thấy một cái bướu ở một bên cổ của Leopold. “Cái bướu đó là gì thế? Anh bị bệnh sao?”
Leopold vươn tay và rón rén chạm vào nó. “Chẳng có gì đâu?”
“Anh kiểm tra thử chưa?”
Leopold khịt mũi. “Ờ. Đi máy bay riêng đến khám bệnh ở Mayo Clinic[1]. Thanh toán bằng tiền mặt.”
 Chú thích:
1 Mayo Clinic là trung tâm y tế học thuật, tổ chức phi lợi nhuận được thành lập từ năm 1889. Nơi đây được xếp hạng là bệnh viện số 1 ở Mỹ về nhiều chuyên khoa hơn bất kì bệnh viện nào khác của Mỹ. Chi phí điều trị ở đây rất đắt đỏ.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
Biết nói mỉa nữa cơ à. Thú vị đấy.
“Nếu từng đi lính hải quân, có thể anh được bảo hiểm y tế chứ.”
Leopold lắc đầu. “Bị tướt quân tịch.”
“Vậy là anh đã từng đi hải quân?”
“Đúng,” Leopold thừa nhận.
Âm thanh từ phía trên ngày một lớn hơn. Decker kiểm tra đồng hồ. Còn hai phút nữa và Brimmer có vẻ là kiểu người sẽ xuất hiện đúng giờ để hộ tống anh ra ngoài.
“Có gặp phải hậu chấn tâm lý gì không?”
“Có cái gì?”
“Vấn đề ở đâu? Trầm cảm? Do đi chiến đấu?”
“Tôi đã bao giờ ra trận đâu.”
“Vậy là anh chỉ là một thằng chó chết bệnh hoạn xóa sổ cả một gia đình chỉ bởi vì có ai đó làm anh bất mãn thôi sao?” Decker cố giữ giọng bình tĩnh.
Leopold cố gắng nở một nụ cười. “Tôi đoán thế. Tôi là cái thứ xấu xa mà, anh bạn. Luôn luôn là thế. Nếu mẹ tôi còn sống, bà sẽ kể cho anh nghe. Tôi chỉ là một thứ vứt đi. Cả đời này, tôi chỉ phá nát tất cả mọi thứ mà tôi từng động tay vào. Không có nói xạo đâu.”
“Và nếu chúng tôi kiểm tra hồ sơ quân nhân, sẽ tìm được kết quả anh từng ở hải quân với cái tên Sebastian Leopold?”
Leopold gật đầu, nhưng tỏ vẻ lơ đễnh, như thể hắn không thực sự đồng tình với điều nói trên.
Decker ghé sát lại gần. “Để tôi hỏi cho rõ nhé. Sebastian Leopold có phải là tên thật của anh không?”
“Một trong những tên tôi từng dùng.”
“Khai sinh hay mới gần đây?”
“Không phải khai sinh, không.”
“Vậy tại sao lại dùng cái tên đó, nếu đó không phải là tên của anh?”
“Tên họ thì có là gì đâu hả anh bạn? Chỉ là những chữ cái gắn vào với nhau thôi mà.”
Decker rút điện thoại ra và hướng nó vào Leopold, nói, “Cười lên nào.”
Anh chụp một bức ảnh của Leopold và sau đó cất điện thoại đi.
Sau đó anh lấy ra một cái bút và một tờ giấy. “Anh viết tên mình ra cho tôi nhé?”
“Tại sao?”
“Để lưu hồ sơ thôi.”
Leopold đón lấy cây bút và chậm rãi viết tên của mình.
Decker cầm lại tờ giấy và cây bút, đứng dậy và nói, “Tôi sẽ giữ liên lạc.”
Anh đi ra cửa và gọi người canh tù. Khi người đàn ông tới và mở cửa, Decker nói, “Theo tôi nhớ, đằng dưới kia có nhà vệ sinh phải không?” Anh chỉ hướng ngược lại với hướng lúc đi vào.
Người canh tù gật đầu. “Phải, phòng vệ sinh nam ở cửa ngoài cùng.”
Decker nhét tập giấy và cây bút trở vào trong cặp táp và nhanh chóng đi dọc hành lang hướng về phía nhà vệ sinh. Kế hoạch của anh bị thay đổi do những tiếng bước chân mà anh nghe thấy đang vang lên từ chỗ cầu thang. Nhiều hơn một người, nghĩa là Brimmer đã có tiếp viện. Nghĩa là họ biết đã có chuyện bất thường.
Decker đi qua cửa nhà vệ sinh và rẽ trái rồi rẽ phải và đi tới hành lang khác. Anh quen với bố trí ở nơi này hơn bất kì ai khác.
Ở phía cuối cùng của hành lang là một cánh cửa. Anh mở cửa và bước ra, đó là cửa bốc dỡ hàng hóa. Ở đó không có ai. Và chỉ có duy nhất một chiêc xe tải đang quay lưng vào với cửa dỡ hàng, cửa sau thùng xe để mở, bên trong thùng xe để trống.
Decker bước vội xuống bậc cầu thang cho đến khi đôi giày mới cóng và chật ních của anh chạm vào mặt đường. Anh rẽ trái chạy vào trong một con ngõ và phóng ra phố chính mười giây sau đó. Anh rẽ phải một lần nữa và sau đó là rẽ trái ở ngã tư tiếp theo. Ở đó có một cái khách sạn và một bến xe taxi.
Anh nói với người lái taxi đỗ đầu tiên, “Đi về hướng Bắc, hết năm đô thì thôi.”
Một lát sau, chiếc xe thả anh xuống đường. Anh đi bộ đến một bến xe bus, và sau hai chuyến xe anh đã quay lại Residence Inn. Khi bước xuống xe bus, anh đã trông thấy có hai chiếc xe cảnh sát đỗ bên ngoài phía trước nhà trọ, và một chiếc xe công vụ của phòng mà anh biết chủ nhân của nó không chỉ là một cảnh sát tuần tra.
Chết tiệt chưa!
 
 
 
 
 
CHƯƠNG 10
 
Decker thầm nghĩ, điều may mắn duy nhất hiện tại là anh không có cơ hội lấy lại khẩu súng trong thùng rác cùng với mấy bộ quần áo khác của mình. Gặp phải cái tình huống trước mắt mà trong người còn trang bị vũ khí là không hay tí nào. Anh nghĩ, mình cũng có thể chạy thoát thân, nhưng có thể họ cũng đã dự trù đến tình huống đó. Mà anh cũng không thích bỏ chạy. Lý do đơn giản là cơ thể anh không còn phù hợp với hoạt động này nữa.
Anh nới lỏng cà vạt, bung cúc áo trên cùng, buông một tiếng thở dài nhẹ nhõm khi cái cổ béo núc được giải phóng khỏi cái thòng lọng người ta cho là đẹp đẽ này, và bước thẳng vào trong sảnh của khu Residence Inn. Ngay lập tức, bốn sĩ quan cảnh sát vây xung quanh anh.
Decker bình tĩnh dò xét họ. “Xét đến chuyện đang xảy ra ở trường Mansfield, tôi không ngờ bên các anh còn nguồn nhân lực cho chuyện này.”
“Thôi diễn kịch đi, Decker,” một giọng nói thân quen cất lên.
Decker liếc nhìn sang bên. “A, chào Mac.”
“Gọi là đội trưởng Miller.”
“Tôi có thuộc lực lượng nữa đâu.”
“Thể hiện chút lòng tôn trọng hay là vào ngồi trong bốn bức tường trước khi tôi hết kiên nhẫn với cậu đây.”
MacKenzie Miller cũng phải quá năm lăm gần sáu mươi, cơ thể phì nộn như con ễnh ương, đến màu da cũng giống con vật ấy. Anh ấy vừa cao lại vừa béo, Decker đứng cạnh trông thật bé nhỏ. Anh ấy mặc âu phục, áo khoác mở bung ra theo từng bước chân của Miller sải bước trên sảnh tòa nhà, Decker có thể trông thấy cái dây đeo quần có bán nhan nhản khắp nơi đang giữ chiếc quần của anh ấy lại, mặc dù cái vòng bụng chắc nịch kia, giống như của Decker, cũng tự mình hoàn thành tốt nhiệm vụ giữ quần rồi.
“Sao lại phải thế?”
Miller ném cho anh một ánh nhìn chiếu cố rồi bỗng hét lên, “Cô Brimmer!”
Cô Sally Brimmer trông có vẻ bẽn lẽn vội vội vàng vàng lao tới từ chỗ đang đứng bên cạnh một cây sanh già, cành lá bị phủ bụi dày cộp.
“Là người này phải không, cô Brimmer?”
“Đúng chính xác là người này, thưa sếp,” cô vội đáp lời, nheo mắt lại và nhìn Decker đầy nham hiểm.
“Cảm ơn cô,” Miller nói, giọng khe khẽ toát lên niềm hân hoan. Anh ấy quay lại nói với Decker. “Anh đã xuất hiện ở đồn cảnh sát trong khi chúng tôi đang bị thiếu lực lượng do tai nạn kinh hoàng xảy ra ở Mansfiled, và lợi dụng tình huống để là trục lợi cho bản thân, anh đã giả dạng danh tính luật sư để được chấp nhận tiếp cận phòng giam của Sebastian Leopold.”
“Chà, đó là một phiên bản của sự việc,” Decker nói.
Brimmer kêu lên, “Đó là phiên bản duy nhất.”
“Không, thực sự không phải,” Decker vẫn bình tĩnh đáp.
Miller xòe rộng hai bàn tay vừa béo vừa ngắn của mình ra. “Thế thì xin anh Decker tường thuật lại sự việc cho tôi nghe. Phải hợp lý đó.”
“Tôi đến khu vực cảnh sát và xin hỏi gặp Sebastian Leopold. Tôi nói hắn ta cần có luật sư. Tôi không bao giờ nói Tôi là một luật sư.”
“Anh còn đưa danh thiếp cho tôi,” Brimmer nói.
Trí não của Decker đã tính trước sáu bước. Giống như anh đang chơi cờ vua còn họ đang chơi cờ đam. “Tôi đưa cho cô một tấm danh thiếp. Đó là của Harvey Walkins. Anh ấy là thành viên của hiệp hội luật sư. Tôi từng làm thám tử riêng cho anh ấy. Anh ấy xử lý các vụ án liên quan đến tội phạm. Anh ấy cừ lắm. Trước đây tôi còn kiếm thêm việc cho anh ta nữa ấy chứ. Không có luật nào cấm.”
“Nhưng anh giới thiệu mình là cái người tên Walkins này mà,” Brimmer kêu lên.
“Cứ cho là cô tự hiểu là thế. Nhưng tôi chưa bao giờ cung cấp thẻ ID nào nói rằng tôi là Harvey cả. Và cô cũng không bao giờ hỏi xem thẻ ID của tôi. Tôi chỉ đưa danh thiếp của anh ấy cho cô khi cô hỏi liệu tôi có phải là luật sư hay không.”
“Nhưng anh còn nói anh quen biết Pete Rourke,” giọng Brimmer ngày càng cáu tiết hơn.
“Tôi thực sự có quen biết Pete. Đã từng làm việc nhiều năm cùng với nhau. Xin nhắc lại lần nữa là không có phạm tội gì khi toàn nói sự thật.”
“Nhưng anh... anh...” Brimmer ấp a ấp úng rồi quay ra nhìn Miller cầu cứu. Nhưng vị đội trưởng vẫn cứ dán mắt nhìn Decker. Hiển nhiên anh ấy muốn xem vở kịch này sẽ hạ màn như thế nào.
Decker tiếp tục nói, “Chắc là do tôi mặc âu phục, thắt cà vạt và mang một cái cặp tài liệu đi cùng, cô đã cho rằng tôi là luật sư. Tôi xin phép cô được phỏng vấn Leopold. Cô nói tôi có mười lăm phút. Tôi hỏi đúng mười lăm phút được cho đó, sau đó tôi để Leopold ngồi trong phòng giam.” Anh nhìn đám cảnh sát quanh mình một lượt. “Thế nên tôi đang không hiểu tại sao có hẳn một đội cảnh sát đang ở đây.”
Cô Brimmer kinh ngạc. Đội cảnh sát trông cũng lưỡng lự. Miller vỗ tay đầy ngợi khen rồi chỉ tay vào đám người mặc cảnh phục. “Các cậu có thể đi được rồi.” Anh chỉ ngón tay cái về phía Brimmer. “Và đưa có quý cô này quay lại, nhé?”
“Đội trưởng Miller,” Brimmer lên tiếng nhưng anh giơ tay xua cô đi đi.
“Để sau, Brimmer. Cứ đi về với mọi người đi đã.”
Tất cả lũ lượt kéo nhau ra ngoài, chỉ còn lại Miller và Decker đang chăm chú nhìn nhau.
Miller lên tiếng trước, “Chúng ta có thể nói chuyện một chút không nhỉ?”
“Anh cần tập trung vào vụ ở Mansfield ấy, Mac. Nếu anh muốn quay lại đây và bắt giữ tôi, tôi sẽ ở nguyên đây.”
Miller gật đầu, một nụ cười cảm kích hiện lên khuôn mặt trước khi lại biến mất. “Ngồi xuống nói chuyện chút đã. Liệu tôi có thể uống được một ly cà phê ngon lành nào ở nơi này không nhỉ?”
Decker dẫn anh vào ngồi bàn quen của mình trong nhà hàng nằm trong sảnh tòa nhà. Sau đó anh rót hai ly cà phê từ một quầy phục vụ đồ uống được kê dựa sát tường, bê chúng quay trở lại bàn, ngồi xuống đối diện với anh sếp cũ.
“Mansfield thế nào rồi?” Decker hỏi.
“Thảm họa kinh hoàng. Chúng tôi vẫn đang phát hiện ra... nhiều thứ. Các thi thể. Số người tử vong được ghi nhận sẽ còn tiếp tục tăng lên. Chắc chắn sẽ tăng.”
“Thế còn cháu trai của Pete thì sao?”
Miller lắc đầu. “Tôi không biết nữa, Amos. Tôi vẫn chưa lập được danh sách tên nạn nhân. Rất nhiều con cháu của đội cảnh sát theo học ở đó. Ngôi trường trung học lớn nhất ở đây.”
“Thế còn kẻ xả súng?”
Miller nghiến răng ken két. “Hắn ta trốn thoát rồi.”
“Làm sao lại thế được?”
“Vẫn chưa biết. Mọi thứ vẫn còn đang... được điều tra.”
“Thường thì mấy gã thế này phải tự sát bằng súng ngay trên hiện trường chứ nhỉ.”
“Nhưng lần này thì không. Thời nay cứ như thể tuần nào cũng có một vụ xả súng ở trườmg học trên khắp đất nước. Đến khi nào chuyện này mới kết thúc, Amos? Cậu là người thông minh. Cậu nói xem?”
“Tôi không thông minh đến thế.”
Miller gật gật gù gù, các đầu ngón tay cứ đập thình thịch lên mặt bàn giả gỗ. Đột nhiên anh ta uống một hơi hết ly cà phê. Tay vừa xoa môi vừa nói, “Sao cậu lại làm thế, Amos? Dùng đễn ba tấc lưỡi để vào gặp cái thằng khốn nạn đó?”
“Muốn tận mắt nhìn hắn.”
“Còn nhiều cách khác ngoài cách cậu đã làm cơ mà.”
“Đừng bắt tội cô Brimmer.”
“Chậc, dù sao cậu cũng dạy cho cô ta một bài học vô cùng đắt giá: Không được tin tưởng bất cứ ai.” Anh nhìn bộ âu phục và cà vạt của Decker. “Tôi nghe phong phanh rằng cậu đã trượt dốc dữ lắm. Tôi nghe vậy có sai không?”
“Tôi thật ra trượt dốc hơn vẻ ngoài hiện tại rất nhiều.”
“Cậu và Mary là một đội xuất sắc. Tiếc thật đấy.”
“Mọi chuyện đều đáng tiếc cả, không phải sao?”
Miller bóp nát ly cà phê giấy đã hết. “Cậu đã nói chuyện gì với Leopold?”
“Tôi có ghi chép lại đó, nếu anh muốn xem.”
Miller nới lỏng cà vạt hơn. “Tôi muốn nghe từ miệng cậu hơn.”
“Hắn ta là kẻ quái đản.”
“Nếu hắn đã lạnh lùng giết chết ba mạng người thì tôi sẽ nói hắn ta cực kì quái đản. Tôi hi vọng là dù cho thế giới này đã trở nên điên loạn cỡ nào đi chăng nữa thì những kẻ như hắn vẫn luôn được xem là thứ “quái đản”.”
“Hắn ta có nói một chút về hành vi phạm tội, nhưng có thể hắn ta đã mót lượm thông tin đó từ trên báo. Hoặc –”
“Hoặc gì?” Miller nhanh nhảu hỏi, đôi mắt màu xanh dương nhạt vẫn đang kiên định nhìn Decker.
“Hoặc được một kẻ biết chi tiết hơn về hành vi phạm tội kể lại.”
“Kẻ ấy là người hoặc nhóm người đã thực sự ra tay á?”
“Anh có thấy Leopold là thủ phạm không?”
“Tôi không thấy hay coi hắn ta là gì hết. Tất cả những gì tôi biết là hắn ta đã bước vào nhiệm sở buổi sớm hôm đó và thú tội. Còn gì nữa?”
Decker nói tiếp, “Hắn đã từng là lính hải quân. Tôi có nhận thấy vết xăm và hắn cuối cùng cũng thừa nhận. Sebastian chắc chắn không phải là tên thật. Kiểm tra thông tin ở Bộ Quốc Phòng là sẽ biết hắn ta là ai. Gã đó có một khối u lồi ở cổ. Nhìn không có vẻ đang làm hắn đau đớn. Nhưng có thể là ung thư. Hắn trông có vẻ rất bối rối trước một vài chi tiết quan trọng ở hiện trường.”
“Ví dụ như?”
“Ví dụ như hắn ta có vẻ không thể nhớ nổi phòng ngủ đầu tiên là nằm ở phía bên nào của hành lang. Tôi thử gợi ý bên trái. Hắn liền thừa nhận. Nhưng thực ra là nằm bên phải. Điểm này chắc chắn không phải vấn đề to tát gì. Nhưng sau đó hắn nói hắn bắn Cassie khi cô ấy đang ngủ, sau đó lại thay đổi câu chuyện là bắn cô ấy sau khi tỉnh dậy. Vết phỏng cho thấy súng bắn khi dí sát trán. Tôi không hiểu hắn ta sao có thể kề súng sát người cô ấy nếu cô ấy tỉnh dậy rồi la hét, có khi còn đánh trả hắn nữa. Cô ấy được tìm thấy nằm trên sàn nhà. Tôi nghĩ hắn ta nhớ điều đó và thay đổi câu chuyện cho phù hợp với chi tiết ấy. Còn lại hắn không hề nhắc đến việc cô ấy còn bị gì khác nữa.”
Miller gật đầu. Anh hoàn toàn hiểu điều Decker đang muốn ám chỉ là gì. “Nói tiếp đi.”
“Gã này có vẻ hơi có ý thoái thác khi trả lời, nhưng không chỉ có thế. Hắn kiểu quên quên nhớ nhớ. Tôi không nghĩ trí nhớ của hắn tốt đến thế. Ngoài ra, hắn còn nghiện nữa. Nhiều vết kim tiêm trên cánh tay hẳn còn mới.”
“Tiếp đi.”
Decker đã quyết định không kể cho anh ấy nghe tất cả mọi thứ mà anh đã phát hiện hoặc suy nghĩ của mình. Linh tính mách bảo anh rằng phải giữ kín nhiều điều, để xem xem mọi chuyện diễn biến ra sao. “Hắn bảo rằng tôi đã nói năng thiếu tôn trọng hắn ở cửa hàng tiện lợi 7-Eleven ở khu đấy. Hắn không nói là có làm việc ở đó hay không. Chắc chắn hắn cũng sẽ nói với các anh điều tương tự. 7-Eleven. Cửa hàng đó à? Tôi chỉ lái xe ngang qua đó. Không bao giờ bước vào. Hắn cũng không có xe ô tô. Nhưng lại nói rằng hắn đi theo tôi về tận nhà. Vậy câu hỏi là hắn đi bằng cách nào? Tôi cũng chưa từng gặp hắn trước đó. Tôi sẽ nhớ nếu có ai đó có gây sự với tôi.”
Miller suy ngẫm toàn bộ lời kể, một tay mân mê dọc chiếc cà vạt và nghịch vẩn vơ cái kẹp cà vạt. Cậu không bao giờ quên điều gì cả, có phải không?”
Decker chưa từng kể với ai về chuyện đã xảy ra với anh. Khi được chẩn đoán tình hình sức khỏe xong, anh được chuyển đến một cơ sở nghiên cứu phía ngoài Chicago để làm thêm các xét nghiệm bổ sung. Anh trải qua nhiều tháng liền gặp gỡ những người có khả năng tương tự mình, có cả đàn ông lẫn phụ nữ. Họ đã tham gia biết bao nhiêu buổi nghiên cứu nhóm với nhau. Vài người đã điều chỉnh tốt hơn những người khác. Vài người thực sự gặp khó khăn để điều chỉnh trạng thái hiện tại của mình. Số khác không bao giờ có thể thích ứng nổi. Với những gì anh biết, Decker là người duy nhất không phải có khả năng này một cách bẩm sinh. Những người khác trong nhóm có vẻ đã phải sống chung với nó lâu hơn anh nhiều, điều đó vừa lợi lại vừa hại, anh nghĩ vậy.
“Ai cũng có lúc quên cái này cái kia,” anh nói.
“Tôi đã cho người kiểm tra thông tin của cậu. Tôi đã nói với cậu việc đó chưa nhỉ?”
Decker lắc đầu.
“Được biết cậu từng là vận động viên. Đã xem trận bóng đó trên TV.”
“Ý anh là xem trên YouTube ư?”
“Không, ý tôi là lúc cậu bị đốn gục, tôi đang xem trận đấu đó. Pha bóng hiểm hóc nhất mà tôi từng thấy. Tôi không biết làm sao mà cậu còn sống sau pha bóng đó, Amos, tôi thực sự bất ngờ đấy.”
“Tại sao anh lại xem trận cầu đó?”
“Cậu là một cầu thủ xuất sắc của Mansfield. Tiền vệ giỏi nhất mà đội bóng có, một anh hùng có khu vực ném phạt. Vóc dáng cơ thể như thế mà cậu có thể chạy quá nhanh. Cậu đã từng là một cầu thủ đại học giỏi. Theo như tôi biết, cậu là người duy nhất xuất thân từ thành phố Burlington bé nhỏ được phép chởi ở giải NFL. Là thế đó, tôi đã xem trận đấu đó. Sẵn sàng đến xem trực tiếp, nếu có thể.”
“Chậc, may là anh đã xem, vì trận đó là trận duy nhất tôi chơi ở giải NFL.”
Miller tiếp tục nói, “Tôi còn kiểm tra điểm số của cậu tại học viện cảnh sát. Các bài kiểm tra của cậu đạt đến điểm Thanh tra cơ mà.”
“Sao anh lại làm thế?”
“Bởi vì tôi rất tò mò về con người cậu, Amos. Không hề nghĩ rằng phòng cảnh sát không chú ý tới tỉ lệ thành công của cậu ở vị trí cảnh sát và sau đó là Thanh tra. Cậu có một thứ mà những người khác không có.”
“Mary là một cảnh sát tốt.”
“Đúng, rất giỏi. Giỏi nhưng chưa phải xuất sắc. Giỏi nhưng không hoàn hảo. Nhưng này, điểm số của cậu tại học viện và sau này là bài kiểm tra năng lực thanh tra đều hoàn hảo. Cậu không bỏ một câu hỏi nào. Người ta nói với tôi rằng đây là trường hợp đầu tiên trong lịch sử của bang. Tôi nhắc lại hồi cậu đang học đại học nhé. Cậu là một học sinh giỏi, nhưng chỉ là giỏi kiểu hạng B thôi. Không có gì gọi là hoàn hảo trong điểm số của cậu hồi trước đó cả.”
“Bóng bầu dục không để chừa nhiều thời gian cho việc học hành cho lắm.”
Miller cọ cằm và trông rất suy tư. “Quay trở lại vấn đề chính nào. Cậu còn phát hiện ra gì nữa không?”
Decker có thể cảm nhận được chứng đau nửa đầu đang bò râm ran phía sau gáy. Rõ ràng ánh sáng trong căn phòng này cứ lờ mờ nhưng sao hiện tại lại sáng sủa như ba chum đèn rọi tròn chói lóa trong rạp xiếc. Cái ánh sắc xanh dương, chói đến nhức nhối, đang bắt đầu len lỏi xuất hiện từ mọi ngóc ngách của vạn vật, đang đổ dồn về sâu thẳm trong tâm hồn anh. Anh có thể cảm nhận được nó đang dâng lên.
“Tôi không nghĩ Leopold là thủ phạm,” cuối cùng lời nói cũng bật thành tiếng.
“Tôi đã biết điều đó trước khi ngồi xuống đối diện với cậu như bây giờ.”
“Sao anh đi đến kết luận đó?” Decker hỏi.
“Cậu không giết hắn trước khi cậu đi khỏi khu vực cảnh sát. Bởi đó là lí do cậu tìm cách vào đó không phải sao? Đánh giá hắn, hỏi hắn, nhìn hắn chằm chằm, đọc suy nghĩ của hắn, để xem liệu đây có phải là kẻ cần tìm? Và nếu cậu quyết định hung thủ chính là hắn thì làm gì còn mạng của Leopold nữa.” Anh nghếch đầu nhìn Decker. “Dễ đoán. Một cầu thủ bóng bầu dục, khỏe như một con ngựa. Hiện tại cậu có thể không còn sức vóc như xưa nhưng cậu là một gã đô con. Leopold không có cơ hội thoát nổi.”
“Anh không thể bắt giữ một người chỉ mới có ý đồ muốn làm điều phạm pháp được.”
“Không thể, đôi khi như thế lại dở nhiều hơn hay.”
“Thế còn cái màn kéo băng kéo nhóm với cảnh sát và cô Brimmer vừa rồi là sao?”
“Tôi là đội trưởng nhưng tôi còn có cấp trên nữa.”
“Vậy ra anh làm vậy chỉ để bảo toàn chức vụ của mình à?”
Miller đứng thẳng người dậy, điều chỉnh lại cà vạt, trượt nút thắt về phía yết hầu.
Decker ngước lên nhìn anh, cơn đau nửa đầu lại dội bình bịch lên khắp sọ não. Anh nhắm hờ mắt lại để chắn bớt cái ánh sáng yếu ớt nhưng cảm giác như hàng triệu bóng đèn rực rỡ chiếu vào mắt vậy. “Vậy anh tính thế nào?”
“Với cậu thì không làm gì cả. Hiện tại Leopold sẽ được luận tội dựa trên lời thú tội của hắn. Sau đó chúng tôi sẽ hoặc xác minh lại câu chuyện của hắn hoặc sẽ chứng minh nó sai lệch. Tôi sẽ nghiêm túc suy nghĩ mọi điều cậu nói với tôi. Sau khi chính thức kết thúc điều tra, hắn ta sẽ hoặc phải ngồi tù và lên tòa xét xử hoặc tự thú hoặc là được thả tự do.”
“Thế giả sử có người bắt hắn ta làm việc này thì sao?”
“Có thể cho chúng tôi một cơ hội nữa. Tôi chắc chắn cậu đã nghĩ về chuyện này rồi.”
“Anh sẽ cho tôi biết các anh sẽ quyết định thi hành án với Leopold như thế nào chứ?”
“Cậu không còn thuộc lực lượng nữa. Tôi ước cậu vẫn làm, nhưng hiện tại cậu không còn là cảnh sát nữa.”
“Đó là lựa chọn mà tôi phải đưa ra tại thời điểm đó.”
Miller đưa tay cọ mũi và cài khuy áo khoác. “Hừm, thời điểm khác nhau đòi hỏi sự lựa chọn khác nhau mà.”
Anh bước đi rồi quay người lại. Anh giơ một ngón tay lên. “Tha cho cậu hôm nay là quà cho cậu, Amos. Cậu chỉ nhận có một lần thôi, không còn lần nào khác. Đừng quên điều đó. Và quên luôn cả Sebastian Leopold đang sống trên cùng một hành tinh với cậu đi. Chúng tôi sẽ xử lí từ đây. Nếu cậu còn nhún tay vào, tôi sẽ không còn là đồng minh của cậu nữa. Tôi sẽ bắt cậu chịu đau chịu đớn. Vô cùng khổ sở.”
Amos Decker ngồi đó một lúc rồi chạy nhanh về phòng của mình, khóa trái cửa lại, kéo hết rèm vào, nằm vật lên giường, cái gối che phủ kén mặt để ngăn không cho những tia sáng còn lại chiếu vào, không chống đỡ nổi con quái vật đang ăn tươi nuốt sống trí não vốn đã bị biến đổi rất nhiều của anh.
 
 
 
 
CHƯƠNG 11
 
Những đám mây nặng trĩu nuốt gọn lấy bầu trời mỏng manh cho đến khi không còn sót lấy một vệt sáng nào, dù mặt trời đã lên cao, nhòa dần và lơ đãng. Quang cảnh ấy trông như đang ngước nhìn vào một bóng đèn điện 40W sau lớp dây bịt mắt mỏng nhẹ. Với một người bị ảnh hưởng sâu sắc bởi màu sắc của vạn vật như Decker, có vẻ như thứ sắc màu duy nhất còn sót lại trên thế giới lúc này là một màu xám ảm đạm.
Anh nhét hai tay vào túi áo khi cơn gió lạnh buốt cắt lên da thịt. Anh đã thấy khỏe lại sau cơn đau nửa đầu, sau đó đến cửa hàng thức ăn nhanh Wendy’s địa phương, nốc ừng ực từng ngụm Coca Cola, để cho đường cuốn sạch những dấu tích cuối cùng của cảm giác khó chịu - như một sự gột rửa bằng acid lên kim loại nhuốm màu buồn thảm - và để cho mồ hôi ở lỗ chân lông khô lại. Sau đó anh leo lên xe bus để quay về khu trung tâm, lấy lại khẩu súng và quần áo trong thùng rác. Thật may, chúng vẫn chưa bị ai phát hiện. Anh không còn khả năng tài chính để đánh mất món vũ khí duy nhất cũng như bộ quần áo làm việc duy nhất còn lại của mình.
Giờ anh đang đứng đây trong bộ quần áo cũ, gồng mình trước cơn gió khắc nghiệt và đau đáu nhìn trường trung học Mansfield. Ngôi trường này, cùng với hàng ngàn ngôi trường khác trên khắp đất nước, được xây dựng trong thời kì bùng nổ xây dựng hậu chiến tranh. Tỉ lệ sinh nở tăng vọt đỉnh vào năm 1946 và những đứa trẻ được sinh ra cần phải đến trường. Xa nhà để ra chiến trường trong bốn năm đã khiến người đàn ông trở nên như vậy. Khiến anh ta thèm muốn nhục dục đến phát điên. Những người vợ của những anh lính trở về từ chiến trận chắc chắn đã không có đêm nào tròn giấc trong suốt một năm.
Trường trung học Mansfield là tòa nhà cao ba tầng được xây dựng bằng gạch, thời gian đã đối xử không hề nhẹ nhàng với nó. Các cửa sổ đã được đóng ván gỗ cố định hoặc bị nứt vỡ. Vôi vữa đã rỉ ra từ các khe mạch giữa các khối gạch hình chữ nhật, làm mặt tiền của ngôi trường xuất hiện những vết lốm đốm như bức họa graffiti vô nghĩa. Dưới nền đất, cây tình thảo mọc dày như nêm, xen lẫn những khoảng đất trọc, mặt nhựa đường nứt gãy, hàng rào lưới sắt quây quanh trong oằn èo nham nhở, cổng trường được gắn lên những tấm bản lề vặn vẹo hoen gỉ. Nơi này hiện tại trông giống nhà thương điên bị bỏ hoang của thành phố hơn là một trường học.
Mục đích ban đầu của việc xây dựng ngôi trường này là để dành cho con em của quân nhân làm việc trong khu căn cứ quân sự nằm ngay bên cạnh. Khu căn cứ này đã từng là một trong những nơi thuê nhân công lớn nhất ở thành phố Burlington, phục vụ cho toàn bộ lính tráng ở đây là một cú hích kinh tế đối với khu vực này. Sau đó, Lầu Năm Góc tiến hành cắt giảm, căn cứ ở Burlington nằm trong số những khu vực phải giải thể đầu tiên. Hiện tại khu căn cứ quân sự đã chết đó vẫn nằm ngay đó, cách khoảng một trăm mét so với hàng rào lưới của trường trung học Mansfield và những bức tường thực vật đã xâm chiếm lên phần đất hiện tại. Burlington chưa bao giờ phục hồi trở lại kể từ khi quân lính rút đi, về sau, suy thoái kinh tế biến thành cây đinh cuối cùng đóng lên cỗ quan tài, kết liễu cơ hội vực dậy của thị trấn.
Ngày nay, giống nhiều ngôi trường khác, trường trung học Mansfield không được tài trợ đầy đủ và hoạt động kiệt quệ, một ngôi trường không có kỉ luật, không có giáo viên bám trụ lại lâu, tỉ lệ lạm dụng rượu bia và ma túy không kiềm chế nổi. Số lượng học sinh ít hơn một nửa so với trước đây, tỉ lệ tốt nghiệp cũng tụt dốc không phanh, nhanh như đàn chim tuyết bay tháo thân về Florida trước khi mùa đông ập đến.
Burlington, cho dù trước đây chưa từng có căn cứ quân sự, cũng đã từng là một thị trấn sản xuất sầm uất, giống như hàng ngàn các cộng đồng dân cư khác ở khu vực trung tâm của đất nước, xây dựng và sản xuất ra những thứ mà người Mỹ và thế giới cần. Giờ đây, toàn bộ việc sản xuất được thực hiện ở nước ngoài, thứ duy nhất có thể sản xuất ra từ nơi này chính là sự thống khổ. Thành phố này có hai chuỗi cửa hàng. Theo quan sát của Decker, hai loại thực phẩm đại trà được mua nhiều nhất là món thực phẩm đóng hộp Hamburger Helper mua theo cân và nước cam sủi bọt có đường mua theo thùng. Các quán đồ ăn nhanh cũng kiếm được hàng đống tiền, nhồi béo cả người trẻ lẫn người già đến mức độ khó tin nên đúng như dự đoán, số liệu thống kê về tỉ lệ người mắc các bệnh tiểu đường, bệnh ung thư, đột quỵ và các bệnh lý về tim tăng vượt ngưỡng.
Chẳng phải chính anh là người trực tiếp trải qua chuyện tương tự sao?
Ở thành phố Burlington, người giàu có chiếm số ít, họ sống trong những khu dân cư kín cổng cao tường ở phía Tây thành phố, và không bao giờ bước chân ra khỏi đó. Còn những dân cư khác thì sống ở ba phía còn lại. Dân vô gia cư sống ở trên phố, thiếp đi trong những chiếc túi ngủ rách nát, những chiếc chăn cũ mèm và trong những “căn hô” ọp ẹp bằng bìa thùng giấy.
Giống như mình trước đây.
Hơn hai mươi lăm năm trước, Decker đã theo học tại trường trung học Mansfield. Vài chiếc cúp thể thao có ghi tên anh vẫn nằm trong tủ kính có khóa ở phòng thể dục. Anh đã từng là một vận động viên trung học vượt trội, tham gia ba môn thể thao khác nhau. Đơn giản chỉ vì anh cao lớn hơn, chạy nhanh hơn và mạnh mẽ hơn hết thảy. Anh đã từng rất nổi tiếng, hẹn hò tất cả những cô nàng nóng bỏng nhất trường, ngủ với nhiều cô trong số ấy, học lực ở mức trung bình, ai cũng nghĩ rằng anh đã được định sẵn là đi theo con đường vận động viên thể thao chuyên nghiệp.
Hóa ra tưởng thế lại là lầm, lầm to là đằng khác.
Anh đã từng là một cầu thủ đại học giỏi, nhưng còn xa mới đến mức xuất sắc. Sau đó, cơ hội ngày càng ít đi. Anh đã bị loại vào ngày tuyển chọn cầu thủ chuyên nghiệp bởi vì có hàng trăm cầu thủ triển vọng tài năng hơn anh gấp nhiều lần. Hồi đó anh coi đó là sự công kích cá nhân. Decker đã phải làm hết khả năng để vào đội Cleveland Browns bằng cách mài mông trên sân tập, hi sinh thân thể mình theo nhiều cách ngu xuẩn mà giờ đây nó quay lại ám ảnh anh ở tuổi bốn mươi, và là người cuối cùng rời khỏi phòng lưu trữ băng ghi hình trận đấu. Với tất cả nổ lực như thế, sự nghiệp của anh kéo dài duy nhất một mùa và “tặng” anh một bộ não bị biến đổi mãi mãi.
Ít nhất, trong cái rủi lại có cái may. Anh đã gặp Cassie trong khi đang phục hồi những vết thương “khác”. Bởi vì hóa ra, cú bóng đó không chỉ làm đầu óc anh quẫn trí. Mà sự nghiệp chơi bóng cũng bị chững lại từ lúc Dwayne LeCroix san phẳng anh. Kết quả là gãy xương đùi phải, đứt dây chằng chéo trước bên gối trái, rách dây chằng giữa đùi phải. Một loạt chấn thương nặng, bác sĩ phẫu thuật đã nói với anh như vậy. Chậc, đã chấn thương thì chấn thương cho bằng hết.
Cassie từng là một bác sĩ trị liệu vật lý mới chân ướt chân ráo vào nghề khi theo chăm sóc anh. Anh đã phải tập luyện thể chất để đi lại bình thường. Cuối cùng chân và hai đầu gối cũng hồi phục. Còn trí não thì vẫn vậy. Nhưng cô ấy đã ở bên cạnh anh trong mỗi bước đi, động viên khi cần thiết và dọa nạt bệnh nhân là anh mỗi khi những lời khích lệ không tạo được động lực.
Trong suốt thời gian trị liệu đó, anh và Cassie đã đem lòng yêu nhau sâu đậm hết mức mà một người có thể yêu người khác, như anh nghĩ. Sau khi hoàn thành quá trình trị liệu ở học viện bên ngoài Chicago, nơi mà họ nghiên cứu những người có khả năng trí óc phi phàm, anh và Cassie đã đính ước với nhau và kết hôn, sau đó quay về quê nhà. Trước đó, anh đã suy nghĩ rất nhiều về việc mình sẽ làm gì trong tương lai, và quay trở lại đây với mục đích rõ ràng là vào Học viện cảnh sát. Khối lượng kiến thức trên lớp đúng là dễ ợt với trí nhớ không thể nhớ sai, đã được cải thiện và mới mẻ của anh. Các kĩ năng thể chất, dù phần nào có bị giảm bớt do các chấn thương, vẫn tốt hơn nhiều so với hầu hết các bạn trong Học viện. Anh đã hoàn thành quá trình học tập một cách xuôi chèo mát mái, được tuyên thệ và được nhận phù hiệu và súng. Chín năm sau, anh được thăng chức làm Thanh tra. Trong gần mười năm trời, anh đã điều tra những vụ án lớn gây hại cho những cư dân mẫu mực của Burlington - mặc dù hầu hết các vụ phạm tội đều do những cư dân thiếu mẫu mực của Burlington và những kẻ nhập cư trà trộn vào đây gây ra.
Hai người muốn xây dựng tổ ấm nhưng lại gặp khó khăn trong việc sinh con. Họ đã chi những khoản tiền ngoài khả năng kiếm được cho những chuyên gia, thế rồi cuối cùng, sau một thời gian dài, Cassie đã mang thai. Và họ có Molly. Cô bé sẽ là đứa con duy nhất của họ. Việc mang thai đã suýt giết chết Cassie, việc sinh nở rất phức tạp đã yêu cầu đến phẫu thuật, cũng vì thế đã khiến cho cô không thể mang thai lần nữa.
Họ đã đặt tên cô bé theo tên mẹ của Decker. Bố mẹ anh đều đã bỏ mạng trong vụ tai nạn xe hơi khi Decker đang học đại học, vì vậy Molly không còn ông bà nội. Cái tên ấy sẽ luôn đi theo cô bé, đến khi cô bé chết dưới bàn tay có lẽ là của Sebastian Leopold.
Anh ngước nhìn Mansfield, nay đã thành một “tòa pháo đài bằng gạch”. Băng dính đánh dấu hiện trường căng chằng chịt khắp nơi, như mạng nhện màu vàng vừa đầy nọc độc vừa khiếp đảm. Xe cảnh sát, xe khám nghiệm và xe thùng màu đen không có cửa sổ đang đứng chờ đưa các túi thi thể lên xe, Decker chắc chắn rằng những thi thể vẫn còn đang nằm trong trường. Ngoại trừ những người bị thương và cần chăm sóc y tế thì bất cứ thứ gì ở hiện trường đều phải được để nguyên vị trí đến chừng nào còn chưa được kiểm tra, được chụp ảnh, được đo đạc, được thúc, được chọc và được phân tích một cách kĩ càng. Người chết nằm trên vũng máu cùa mình bao lâu cũng được, họ không còn quan tâm chi cả, mạng sống của họ đã bị một kẻ tâm thần nào đó tướt đoạt bởi họng súng vô tình. Một khi đã ra đi là mãi mãi, có thế thôi.
Nếu như Decker vẫn còn thuộc lực lượng, anh sẽ được vào trong ngay lập tức. Từ chỗ đang đứng, anh đã nhìn thấy Mary Lancaster bước qua bước lại đến hai lần. Trông chị ấy thật phờ phạc, chán chường và tuyệt vọng. Chị ấy đã liếc về hướng anh một lần nhưng có vẻ không nhận ra anh. Anh biết chị còn suy nghĩ nhiều điều khác nữa. Chắc chắn chị cũng đã quên gã đàn ông tên Sebastian Leopold đang ngồi trong phòng tạm giam rồi. Quên rằng hắn đã thú nhận giết chết ba người, mà có hai người trong đó là cả thế giới với Decker. Lancaster có một đống thi thể vừa mới chết đang cần xử lý. Và còn một kẻ phạm tội đang tự do đi lại ngoài kia, có thể tiếp tục giết người, trái ngược hẳn với kẻ giết người khác đang ngồi yên bình trong phòng tạm giam.
Chuyện xảy ra ở trường học tất nhiên đã chiếm trọn kênh tin tức quốc gia. Thành phố này trở thành tiêu đề thời sự trong mọi mặt trận truyền thông. Danh sách tên của những người tử vong vẫn chưa được công bố. Decker đã kiểm tra trên điện thoại. “Vẫn đang chờ xác nhận danh tính” là câu nói thông dụng tiêu chuẩn. Anh đã nghe phong phanh từ một người bạn trong lực lượng rằng cháu trai của Pete Rourke bình an vô sự. Nhưng con trai của một cảnh sát tuần tra không may mắn như thế. Và chồng của một cảnh sát trực tổng đài điều phối, Andy Jackson, giáo viên môn tiếng Anh tại trường Mansfield, đang trong tình trạng nguy kịch trong bệnh viện, với nhiều vết đạn trên người.
Decker bắt đầu bước đi, cẩn trọng chọn lựa đường đi khi anh đi thành một đường vòng cung dài xung quanh khu vực trường học và bên ngoài hàng rào điều tra. Miller nói kẻ xả súng đã tẩu thoát. Cả thị trấn Burlington đang phẫn nộ về diễn biến này. Họ đã mất những người thương yêu vẫn còn chưa đủ hay sao? Thế mà còn có tên sát nhân đang nhởn nhơ đi lại, có lẽ đang sẵn sàng giết thêm nữa? Thông tin này khiến cho vụ việc vốn dĩ đã nhuốm màu tai ương lại thêm phần kinh hoàng.
Tuy nhiên, kẻ đó đã trốn thoát như thế nào? Đối với Decker, việc bất kì một tên tội phạm nào có thể ung dung bước ra khỏi cảnh tai ương do chính tay hắn gây nên là một sự xúc phạm đến cá nhân lẫn lương tâm công việc của anh.
Thế nhưng còn có lý do phức tạp hơn. Decker không làm gì Leopold được nữa. Anh chỉ có thể hoặc ngồi im bất lực, suy nghĩ không ngừng, và cuối cùng đưa ra những suy đoán chẳng đi đến đâu cả. Hoặc anh có thể ngẫm nghĩ về thảm họa ở trường Mansfield và kẻ đã gây ra chuyện đó. Và giờ kẻ đó đang ở đâu. Anh chọn làm việc này.
Anh tiếp tục bước đi, về phía sân bóng, ở nơi ấy anh đã từng trải qua những vinh quang rực rỡ nhất của đời mình. Mùa giải năm nay đã đi được nửa chặng đường, cỏ đã rạp xuống. Trận đấu sân nhà dự kiến diễn ra vào thứ sáu này sẽ không được chơi nữa. Họ có thể không chơi trận nào khác nữa trong năm nay. Có thể sẽ mãi mãi không có trận bóng nào nữa tại sân này.
Anh đi đến ghế khán đài, đặt người xuống ghế gần cột mốc 50 Yard. Nhấc cái cơ thề béo phì bước lên từng bậc đúng là hoạt động khó nhọc, anh lại tự nhủ với mình rằng anh cần giảm cân, lấy lại vóc dáng xưa kia. Cứ với đà này, khi đang bốn mươi hai tuổi, anh có thể không trụ được đến năm mươi hai tuổi. Quỷ thần ơi, có thể anh không sống qua nổi tuổi bốn ba mất.
Anh nhìn chăm chú xuống mặt sân bóng, anh nhớ lại như in mọi trận đấu mà anh đã tham gia khi còn là cầu thủ trung học. Những kí ức đó ắt phải ở đâu đó trong trí não, anh đã từng không thể nào đào xâu qua lớp chất xám để chạm đến chúng. Nhưng giờ không cần phí công sức. Đầu ghi hình cứ thế quay lại ngày mà anh đã chọn, và thước phim kí ức về trận đấu đó cứ tự chạy.
Cảm giác vừa phấn khích vừa có chút khó chịu khi nhìn thấy bản thân mình khi còn là một thanh niên trẻ khỏe chạy khắp sân bóng và chạy vượt qua những cầu thủ trẻ khác. Anh có thể ném bóng bay xa cả cây số và ném chuẩn xác. Khi vào đại học, anh nhanh chóng nhận ra rằng cánh tay anh không đủ khỏe để thực hiện tất cả các cú ném đúng yêu cầu của vị trí tiền vệ. Anh đã đổi vị trí sang làm hậu vệ và phát hiện ra rằng hàng cầu thủ ở phía bên này còn to lớn hơn, khỏe hơn và chạy nhanh hơn cả anh. Quả là một sự thức tỉnh nghiệt ngã với một gã đã quen với sự thành công không cần cố gắng. Anh có thể từ bỏ, nhưng anh đã chọn tập luyện chăm chỉ hơn tất cả những người đồng đội tài năng hơn anh.
Cuối cùng mọi thứ đều hóa công cốc. Những ngày chơi bóng của anh đã kết thúc từ lâu, sự nghiệp trong lực lượng hành pháp của anh cũng trôi xuống bệ xí, anh ngồi trên hàng ghế khán đài bằng hợp kim cứng ngắt có chấn song ngang để đảm bảo mông không bị chà xát đau buốt chỉ sau một hiếp đấu. Với anh bây giờ, sống ngày nào biết ngày đó. Nhưng anh có cả phần ngày còn lại để suy nghĩ đến nhiều thứ. Điều anh đang suy nghĩ là những cách khả thi để tên sát nhân trốn thoát khỏi nơi này.
Xung quanh trường trung học Mansfield có nhiều cửa thoát hiểm, cửa trước, cửa sau, cửa bên trái, cửa bên phải. Nơi này được xây dựng từ thời mà mọi người không được bước vào với khẩu AK-47 trên tay và tự do bóp cò, những người đầu tiên xây dựng chưa bao giờ suy tính đến khả năng này. Nhiều năm trôi qua, số lượng các vụ xả súng trường học diễn ra liên tục, nhiều cửa thoát hiểm đã được khóa lại hoặc chỉ có thể mở ra từ bên trong. Hiện tại khách đến trường phải đi từ cửa trước và khai báo ở văn phòng. Việc lắp đặt hệ thống máy phát hiện kim loại đã từng được mang ra thảo luận nhưng kinh phí cho việc này cao đến mức không thể thực hiện nổi với một trường học gần như bên bờ phá sản. Trên thực tế, trường học có cơ chế báo động tự động sẽ được gửi đến thư điện tử của mọi người trong trường hợp khẩn cấp. Có thể đoán chừng hôm nay hệ thống đó đã được kịch hoạt trong trường hợp khẩn cấp tồi tệ nhất mà thành phố này gặp phải từ trước đến nay.
Đứng bên ngoài vòng các loại xe cảnh sát và xe của giới truyền thông là gia đình của các nạn nhân. Khi nãy Decker có đi ngang qua họ, anh chưa từng nhìn thấy nỗi đau nào tột cùng bằng nỗi đau hằn lên trên những khuôn mặt ấy.
Chắc hẳn Molly sẽ theo học ở trường Mansfield khi con bé lên lớp chín. Anh có thể sẽ là một trong số cha mẹ đang đứng ngoài kia, bàn chân nhấp nhổm trên mặt đất, hai tay đút vào túi, mắt nhìn cắm xuống giày, thì thầm vài lời khi đứng giữa những người đang đau buồn. Tất cả thật kinh khủng, lòng Decker bỗng thắt lại.
Anh thò tay vào trong túi áo và lôi cái ví ra. Phía bên trong là một tấm hình nhòe nhòe của con gái trong ngày sinh nhật thứ chín - và hóa ra là sinh nhật cuối cùng của con bé. Anh sờ đôi môi mỉm cười tinh quái của con, rồi đến những lọn tóc xoăn xoăn của cô bé. Con anh thừa hưởng đôi mắt của mẹ, màu nâu lục nhạt và đầy sức sống. Dĩ nhiên anh vẫn nhớ chính xác thời gian tấm hình này được chụp, và chính xác hành động của mình khi mát ảnh nháy đèn. Đó là một ngày đầu hè, anh đang nướng thịt ở sân sau, làm hai món yêu thích nhất của cô bé: món sườn nướng kiểu Kansas và món ngô ngọt tươi ngậm nước vẫn còn ở trong vỏ.
Anh ngước lên nhìn ngôi trường và lại băn khoăn không biết kẻ đó đã thực hiện trót lọt vụ việc như thế nào. Trước tiên là đi vào trường cùng vũ khí. Kế đến thực hiện vụ thảm sát. Rồi là trốn thoát thành công. Thực sự là một vấn đề nan giải. Vấn đề ở cái cuối cùng: Trốn thoát. Có biết bao nhiêu người xung quanh, bao nhiêu người còn sống, làm thế nào mà hắn thoát ra được mà không có ai nhìn thấy?
“Cho xin chút ý kiến cãi cọ?”
Anh cúi xuống nhìn khoảnh đất gần với con đường sỏi vụn chạy xung quanh sân bóng, được bao quanh bởi hàng rào lưới cao đến thắt lưng người lớn.
Mary Lancaster đang đứng nhìn anh từ bao giờ, điếu thuốc đã chực sẵn bên bàn tay phải, còn bàn tay trái đang vung vẩy theo nhịp hông bước đi.
Chị chậm rãi bước từng bước lên bậc ghế khán đài và ngồi xuống cạnh anh. Sáng nay, sắc mặt chị trông xanh xao và khó chịu. Giờ đây trông lại rúm ró, thậm chí là mất phương hướng. Thật kì diệu làm sao mà chỉ trong một ngày, sự đời có thể làm con người ta thay đổi đến thế.
Chị nhả ra một làn khói thuốc, không nói gì, nhưng ánh mắt vẫn dán xuống sân bóng trống vắng.
“Một ngày không ra gì nhỉ?” Decker khe khẽ nói.
Chị gật đầu nhưng không đáp lại.
“Tình hình thế nào rồi?” anh hỏi tiếp.
“Anh muốn tự đến xem không?”
Anh quay ra nhìn chị chằm chằm. Trước khi anh có thể mở lời, chị nói tiếp, “Tôi đã nghe chuyện anh làm với Leopold.”
“Tôi không cần chị đến nói với tôi về chuyện ấy.”
“Nếu tôi là anh thì chắc chắn tôi sẽ bắn chết hắn.”
Anh biết Lancaster có một đứa con, tên là Sandy, mắc chứng Down. Chồng của chị, anh Earl, làm việc ở công trường, đồng nghĩa tại thời điểm này, chắc chắn anh không nhận được nhiều việc. Cả gia đình họ sinh sống chủ yếu vào lương của Lancaster, tuy không nhiều nhặn, nhưng ít ra thì vẫn được hưởng phúc lợi y tế.
“Anh không nghĩ hắn ta đủ trình để làm thế, phải không?” chị hỏi.
“Tôi phải biết nhiều thông tin hơn.”
“Hắn ta sẽ bị luận tội vào buổi sáng. Với lời thú tội đó, chúng tôi có thể tạm giữ hắn. Họ yêu cầu không bảo lãnh vì hắn không có địa chỉ cố định, không có ràng buộc với cộng đồng, vì thế dễ có khả năng cao chạy xa bay. Bên tòa sẽ sắp xếp xét xử ngay khi hắn ta có luật sư.
“Luật sư do tòa chỉ định à?” Decker hỏi.
“Có vẻ là vậy. Thế còn hiện trường vụ xả súng trường Mansfield thì sao? Anh muốn xem không?”
“Tôi không thể vào trong đó, Mary, chị biết mà.”
“Anh có thể vào, nếu Mac nói cho một tiếng. Với tư cách là tư vấn chính thức của Phòng cảnh sát Burlington. Tư vấn được trả lương. Tuy anh không làm giàu nổi từ vị trí đó nhưng chắc chắn ăn đứt cái khoản kiếm được từ việc làm thám tử tư anh đang làm.”
“Ông ấy thực sự nói thế sao?”
Chị lôi chiếc điện thoại ra. “Muốn tự đọc thư không? Hay để tôi đọc cho anh?” Chị quay màn hình điện thoại về phía mình và đọc to, “Gọi Decker đến Mansfield. Xem cậu ấy thấy gì. Chúng ta cần hỗ trợ, chứ để cậu ta ngồi đàn người tiếc nuối bản thân, ám ảnh vụ Leopold hay chơi trò điều tra thậm thụt mấy kẻ đồi bại thật quá lãng phí thời gian.”
“À, thế là anh ấy có theo dõi sự nghiệp hiện giờ của tôi à.”
“Coi bộ vậy.” Chị đứng dậy, rít lấy một hơi hết điếu thuốc, rồi búng đầu lọc bay xa. Decker quan sát nó rơi xuống nền sỏi vụn, tiếp tục cháy vài giây rồi tàn lụi.
Tàn lụi như những người đã chết trong ngôi trường này, Decker thầm nghĩ khi anh đứng dậy và đi theo người đồng nghiệp cũ đang bước xuống bậc ghế khán đài.
 
CHƯƠNG 12
 
Trường học không nên yên ắng như vậy. Đó là suy nghĩ đầu tiên hiện lên trong đầu Decker khi anh đi dọc hành lang bên cạnh Lancaster. Suy nghĩ thứ hai: Đây là nơi ảm đạm nhất mà anh từng có mặt.
Anh đi lướt qua những bức ảnh treo tường, chụp các vị hiệu trưởng trường Mansfield từ hồi xưa, có cả người lèo lái ngôi trường này thuở anh còn tới lớp. Anh liếc nhìn từng căn phòng mà anh đã ngồi học, lúc thì nghe giảng, lúc thì ghi chép, có lúc thì ngủ trong khi giả vờ lắng nghe và ghi bài.
Cẳng chân phải hiện ra ở ngã giao giữa hai hành lang khiến anh đột nhiên quên hết luồng kí ức thời xưa. Chỉ cần nhìn bắp chân trần thôi, Decker cũng đoán được thi thể nằm đó chắc chắn là nữ.
Hai người vừa rẽ vào hành lang, suy đoán của anh đã được xác nhận. Decker vẫn bước đều, nhìn cô gái nằm sõng soài trên tấm vải sơn lót nền nhà trông cũ kĩ như thể có từ thời anh mới đặt chân vào ngôi trường.
Ảnh cũng đã chụp, việc đo đạc cũng đã xong, đội khám nghiệm đã thu lượm gần như tất cả, Lancaster nói với anh. Cô gái ấy như được tạo dáng, một tay vươn ra như thể đang vẫy chào bạn mình thì đột nhiên có kẻ xuất hiện, tàn bạo cướp lấy sinh mạng cô.
“Debbie Watson,” Lancaster nói khi Decker nhìn cô gái chăm chú. “Năm cuối. Vừa mới mười tám tuổi. Bố mẹ cô bé đã được báo tin.”
Decker nhìn ngó xung quanh. Anh đã làm việc tại hiện trường vụ án gần hai mươi năm với tư cách là cảnh sát hiện trường và sau đó là Thanh tra. Đáng nhẽ ra anh nên cảm thấy hoàn toàn tự nhiên khi nhìn thấy những cảnh tượng mà trước đây anh đã nhìn đến cả nghìn lần chứ. Ấy thế mà anh chẳng cảm thấy tự nhiên chút nào. Anh thấy mình như kẻ ngoài cuộc. Anh cảm thấy không khí trong ngôi trường này bin rút cạn khỏi chỗ anh đứng.
Anh cố đè nén cảm xúc hỗn loạn bên trong và nói, “Nhưng họ vẫn chưa nhìn thấy con phải không?”
Chị lắc đầu. “Anh biết quy tắc mà. Hiện trường vụ án. Không ai được phép bước vào, kể cả cha mẹ nạn nhân. Hơn nữa, sao họ lại muốn nhìn cô bé... trong bộ dạng này chứ?”
Decker đã đi thêm bao nhựa giày và đeo găng tay mà Lancaster đã đưa cho anh. Anh quỳ gối xuống bên cạnh Debbie Watson. Vừa mới hạ thấp người xuống thôi, đầu óc anh đã bắt đầu thấy quay cuồng. Anh hắng giọng và tập trung quan sát thi thể của cô học sinh.
Cô gái hứng trọn một băng súng đạn chì chuyên để săn thú lên trên mặt. Kết quả là cô bé không còn mặt nữa. Anh liếc nhìn bức tường phía sau cô bé. Vài phần khuôn mặt bị bắn lên đó. Sách giáo khoa nằm bên cạnh, một quyển vở viết nằm ướt sũng trong vũng máu. Anh cúi xuống nhìn một trang giấy bi rơi ra khỏi sách. Nếu đây là nét vẽ nguệch ngoạc đầy nghệ thuật của cô gái ấy thì Decker nghĩ cô là họa sĩ giỏi.
“Chị đã có thứ tự các phát súng chưa?” anh hỏi.
“Theo mọi thứ thu thập lại đến hiện tại, có vẻ như cô bé này là nạn nhân đầu tiên bị bắn chết.”
“Hướng vào của kẻ xả súng ở đâu?”
“Lối này.”
Lancaster dẫn anh đi thêm một đoạn hành lang nữa, anh nhận ra nơi đó nằm ở phía sau trường. Chị chỉ về phía cửa. “Chúng bị khóa suốt trong giờ học.” Chị chỉ tiếp lên chiếc máy quay được gắn ở góc tường phía trên. “Góc máy quay này cho chúng ta một cái nhìn toàn thể rõ ràng về lối vào.”
“Trông hắn thế nào?”
“Tôi đã tải sẵn hình ảnh tải về máy tính cá nhân ở hệ thống máy trung tâm chỉ huy được cài đặt trong thư viện. Nhưng mà gã đô con này mặc đồ ngụy trang từ đầu đến chân. Đeo khiên che mặt giấu kín mặt mũi.”
“Cẩn tắc vô áy náy,” Decker nhận xét. “Vô cùng thận trọng.”
Lancaster nói tiếp, “Chúng tôi tin hắn ta đã bước vào từ lối này, rẽ vào góc hành lang, chạm mặt Debbie Watson và bắn em ấy.”
“Không có những học sinh khác ở hành lang sao?”
“Vào thời điểm đó buổi sáng, mọi người đều đang ở trong lớp.”
“Thế sao Debbie lại không vào lớp?”
“Cô bé đến phòng y tế. Cô bé bị đau bụng. Theo lời của giáo viên kể lại, cô bé được phép rời khỏi lớp học.”
Decker lại nhìn ngó xung quanh. “Ai ai cũng ở trong lớp. Vậy là hoặc tên xả súng gặp may hoặc là hắn biết rõ thời gian hoạt động thường ngày của ngôi trường này.”
“Tôi cũng đã nghĩ đến điều đó.”
“Thế sao khi Debbie gục xuống thì sao?”
“Hắn ta đi tới phòng thể chất, giết Joe Kramer, giáo viên thể dục, rồi đánh một vòng ngược lại, đi qua thi thể của Debbie, hướng thẳng đến phía trước của ngôi trường. Cho đến lúc ấy, tiếng súng đã báo động cho tất cả học sinh và giáo viên, nhưng ít nhiều thì mọi người đều bị mắc kẹt ở trong lớp học. Hắn bước vào lớp thứ hai và tự do bóp cò. Thêm một người chết và một người bị thương - là giáo viên.”
“Andy Jackson? Dạy tiếng Anh? Tôi nghe trên thời sự.”
“Đúng rồi. Sau đó hắn ta đi về phía hành lang đối diện và vào một lớp học khác. Thêm một người chết. Tiếp tục vào một lớp học khác ở hành lang đó, người thứ sáu bị bắn chết. Hắn ta di chuyển tiếp đến văn phòng trường, bắn chết Trợ lý hiệu trưởng. Sau đó hắn bắn chết thêm một học sinh nữa ở lớp khác. Tất cả có tám người chết. Và Jackson đang trong tình trạng nguy kịch, vì vậy con số tử vong có thể có thêm một người nữa.”
“Vậy là sáu học sinh và hai người lớn?”
“Đúng. Và một người bị thương nghiêm trọng.”
“Chị nói kẻ bắn súng mặc đồ ngụy trang, đeo khiên che mặt kín mít?”
“Phải.”
“Còn gì nữa không? Hắn mang giày dép gì?”
“Đoạn ghi hình chỉ quay từ phần thắt lưng trở lên. Chúng tôi chưa phỏng vấn được ai nhìn thấy giày dép mà hắn đi. Hắn còn đeo cả găng tay nữa. Vũ khí là một khẩu súng hoa cải và một khẩu súng lục. Đội nghiên cứu đạn đạo vẫn đang tìm kiếm và lập tờ trình số liệu. Nhiều đầu đạn vẫn nằm trong cơ thể các nạn nhân. Khi hắn ta sử dụng súng lục, hắn đã nã nhiều băng đạn lên người nạn nhân.”
“Để đảm bảo rằng họ đã chết,” Decker tiếp lời. “Dùng súng hoa cải thì không phải lo về chuyện đó.”
“Không cần lo.”
“Vậy là đội mũ kín, thêm khiên che mặt?”
Chị gật đầu.
“Việc che chắn kĩ rất quan trọng với hắn. Chắc hắn sợ có người nhận ra mình. Chị nói gã to con nhỉ? To lớn đến mức nào?”
Chị lôi quyển sổ ghi chép ra. “Trong đoạn ghi hình chụp lại hắn lúc đứng cạnh bức áp phích dán trên tường. Chúng tôi đã tiến hình đo đạc. Trước mắt ta có một gã cao ít nhất một mét tám bảy, bờ vai rộng. Giống như anh. Khỏe mạnh. Chắc chắn là đàn ông. Nặng hơn chín mươi cân.”
“Thế hắn ra đi lại khắp trường như vậy mà ta chỉ có một mẫu ghi hình vậy thôi sao?”
“Có thể hắn biết vị trí cụ thể của từng chiếc máy quay và tránh chúng,” Lancaster nói tiếp. “Có thể hắn đã xuất hiện ở đây, nghiên cứu đo đạc kĩ càng trước khi thực hiện màn thảm sát.”
“Nhưng có một đoạn hắn không tránh né máy quay,” Decker nói.
“Anh nghĩ tại sao lại thế? Do chủ quan? Hay là do sơ suất?”
“Còn quá sớm để kết luận, nhưng nếu là tính toán có chủ đích thì chúng ta cần tìm lí do tại sao.”
Lancaster ghi ghi chép chép.
“Chị nói hắn ta bước hẳn vào lớp học à?”
Chị gật đầu.
“Nhưng ở mỗi lớp học chỉ giết một học sinh trước khi tiếp tục sang phòng khác?”
“Đúng vậy. Ngoại trừ hắn đã làm bị thương một giáo viên trong lớp.”
“Những người đó có bất cứ điểm chung gì không?”
“Anh nghĩ hắn có thể chủ đích nhắm đến các nạn nhân đó ư?”
“Vẫn chưa thể loại trừ khả năng đó.”
“Nếu vậy hắn sẽ phải biết đích xác những người đó đang trong lớp nào vào một giờ nhất định trong buổi sáng.”
“Có thể bằng cách nào đó hắn đã tìm ra được thông tin đó.”
“Tôi sẽ kiểm tra sâu thêm chi tiết này,” Lancaster bồi thêm. “Nhưng tôi vẫn ngờ là hắn có thể nhắm bắn đúng bấy nhiêu người đã định trước trong cảnh hỗn loạn khi ấy.”
“Có thể với những người khác là hỗn loạn. Nhưng không phải với hắn. Hắn là người cầm súng.”
“Nhưng vẫn hỗn loạn lắm, Amos,” chị hồ nghi nói.
“Thế còn lối thoát?” anh hỏi tiếp, làm vẻ không nghe thấy lời nói vừa rồi của chị.
“Chúng tôi vẫn chưa tìm ra được.”
Anh chăm chú nhìn chị. “Bao nhiêu thời gian trôi qua khi gã vừa xả súng xong?”
“Khung thời gian sơ bộ mà chúng tôi tập hợp lại là khoảng mười phút, có thể lâu hơn một chút.”
Decker liếc nhìn ra ngoài cửa sổ. Mặt tiền của ngôi trường nằm cách xa khỏi đường chính, lọt thỏm trong khu đất riêng. Phía bên kia đường là nhà cửa dân cư.
“Không có ai ở đây nghe thấy âm thanh gì sao? Tiếng súng, tiếng la hét?”
“Vẫn đang thăm dò. Có thể hắn ta đã sử dụng ống giảm thanh.”
“Súng hoa cải thì không gắn thứ đó được. Tuy nhiên, ý của tôi là làm sao một gã mặc đồ ngụy trang, đội mũ kín, đeo khiên che mặt cùng với ít nhất hai loại súng khác nhau, mà trong đó có một khẩu súng nòng dài như thế, bước đi tự do ngoài kia mà không có ai trợn mắt nhìn hắn cho được? Cũng là thắc mắc đó, vào sao hắn vào được đây mà không ai trông thấy?”
Không khí bắt đầu ngột ngạt trở lại. Mồ hôi ứa ra ướt đẫm trán anh. Một tay đeo găng của anh chống lên tường. Nếu Lancaster nhận ra tình cảnh quằn quại của anh thì chị đã không nói tiếp.
“Đoạn băng ghi hình cho thấy hắn ta bước vào từ phía sau trường. Thực sự không có gì ở phía sau, trừ khu căn cứ quân sự cũ. Có thể hắn đã lẻn vào mà không có ai trông thấy. Có thể hắn đã trốn trong thùng rác đằng sau và nhảy bổ ra.”
Decker xoa xoa bụng.
“Anh ổn chứ, Amos?”
“Ăn trúng cái gì đó thôi. Chị đã kiểm tra thùng rác chưa?”
“Chúng tôi đã lục tung mọi thứ nhưng vẫn không tìm thấy gì. Thậm chí chúng tôi còn kiểm tra hàng rào xung quanh khu căn cứ. Không có gì bị làm náo động cả. Cây cỏ mọc cao lắm, nếu có người di chuyển theo hướng đó sẽ để lại vài dấu vết ngay.”
“Vậy là hắn đi vào từ phía sau trường rồi vừa nổ súng vừa tiến đến trước trường. Có thể đoán rằng hắn ta trốn thoát bằng lối trước luôn. Thế thì sao không ai thấy hắn? Phía bên kia đường có nhà ở. Còn xe cộ đi lại tấp nập trên đường.”
“Thì những ngôi nhà nằm chính diện bên kia đường đều không có ai ở bởi vì đều bị tịch thu để thế nợ. Đó là khu dân cư ở tầng lớp lao động. Có thể là do không có nhiều người ở nhà vào khoảng thời gian buổi sáng đó. Ngoài ra, trường học nằm khá xa, thụt về phía trong, nên những âm thanh như tiếng súng tiếng hét không thể vang xa được.”
“Nhưng còn dòng xe cộ đi lại trên đường nữa mà. Và bọn trẻ và giáo viên ở gần khu cửa sổ chắc chắn sẽ la hét rầm trời. Điện thoại nhấn gọi đầu dây 911 đến cháy máy. Xe tuần tra lao đến. Khi đám cảnh sát bắt đầu tràn ra đường, tôi đang ở khu nhiệm sở hai. Từ chỗ đó mà phóng xe ô tô đến ngôi trường này mất bao lâu? Mười lăm phút?”
“Ừ, khoảng đó.”
“Kể cả nếu không có ai phía ngoài trường trông thấy hắn ta rời đi thì phải có nhiều đôi mắt theo dõi ở khu vực cửa sổ trường học chứ. Bọn trẻ sẽ sử dụng điện thoại làm máy quay. Theo những gì tôi nhớ, không có một lối thoát nào trong tòa nhà này mà không nhìn thấy được từ cửa sổ lớp học.”
“Anh biết điều này vì bởi anh, thế nào nhỉ, lẩn ra ngoài rất nhiều?”
“Thành thần luôn.”
“Chà, thế thì anh hơn tôi rồi. Tôi học trung học ở hạt khác cơ. Đây là địa bàn của anh, không phải của tôi.”
“Nhưng thế vẫn chưa lí giải được “lối vào” của hắn. Làm sao hắn ta bước vào trong trường mà không có ai nhìn thấy? Kể cả là vào từ đằng sau đi chăng nữa. Còn có bao nhiêu cửa sổ hướng ra phía sau.”
“Ừ, nhưng tầng hai và tầng ba đều không được sử dụng.”
“Nhưng tầng một có cửa sổ hướng ra phía sau trường.”
Lancaster chỉ có thể lắc đầu.
“Đã tìm kiếm khắp trường chưa?”
“Đang được lục soát rồi.”
“Thế còn giáo viên, bộ phận hành chính và học sinh thì sao?”
“Đã được sơ tán đến nơi an toàn.”
“Đến nơi an toàn?” Decker hỏi tiếp, anh phớt lờ đi những cơn đau đang âm ỉ trong đầu và trong bụng.
“Chúng tôi vẫn chưa chắc chắn liệu gã xả súng còn ở đây hay không, Amos. Ưu tiên hàng đầu trong hoàn cảnh này là đưa những người vô tội đến một nơi an toàn và phong tỏa khu vực.”
“Nói đến điều hiển nhiên, nếu không ai nhìn thấy hắn rời đi, làm sao chị biết mình cũng không sơ tán cả gã bắn súng đến nơi an toàn?”
“Không ai được phép rời khu vực này cho đến khi chúng tôi có được đặc điểm nhận dạng của gã xả súng. Toàn bộ nữ giới rõ ràng đều nằm ngoài danh sách nghi ngờ. Tất cả nhân chứng đều nói đó là đàn ồn. Và không có một người đàn ông nào trong tòa nhà này khớp với mô tả của hắn cả.”
“Kể cả học sinh? Bây giờ bọn trẻ lớn nhanh lắm nhé.”
“Tất cả học sinh nam có chiều cao cân nặng giống như hắn đều có người làm chứng. Hầu hết chúng thuộc đội bóng bầu dục và khá nổi tiếng. Bọn chúng đều ở trong lớp học, cùng với ba mươi đứa trẻ khác. Chúng không thể nào là gã xả súng được. Có bốn học sinh nam vắng mặt vì nhiều lí do. Không có đứa nào cao hơn một mét bảy lăm và nặng hơn bảy mươi cân cả. Tất cả nhân chứng đều nói gã xả súng nhẹ nhất cũng phải hơn chín mươi cân cùng với chiều cao như thế. Và vạm vỡ rắn chắc, như vận động viên.”
“Thế còn những người vắng mặt ở trường hôm nay thì sao?”
“Vẫn đang kiểm tra. Có thể sẽ phát hiện ra điều gì đó. Thế nhưng linh tính mách bảo tôi đây là người lạ.”
“Không có giáo viên thể dục nam nào có cùng kích thước như thế à?”
“Có giáo viên thế đó. Nhưng anh ta chết rồi. Cả trợ lý hiệu trưởng cũng có kích thước tương tự. Anh ta cũng chết rồi. Tất cả những người còn lại đều thấp dưới mét tám và không nặng hơn bảy mươi bảy cân. Và chẳng có ai trong số họ có bờ vai rộng cả. Giáo viên duy nhất còn sống tiệm cận với số cân nặng ấy là ông thầy dạy Hóa học, nhưng ông ta chỉ cao có một mét bảy, còn có cả một cơn đau tim chực chờ ấy chứ.”
“Cái gã này đã đi đâu? Hắn ta có lái xe đến đây không?”
Lancaster lắc đầu. “Không nghĩ vậy. Không có ai nhìn thấy phương tiện nào đến hoặc đi vào thời gian đó cả.”
“Theo chị, không có ai nhìn thấy bất cứ ai đến hoặc đi vào những khoảng thời gian đó cả, chị Mary nhỉ.”
“Khó giải quyết, tôi biết,” chị thừa nhận. “Nghe này, nếu gã đó vẫn đang lẩn trốn trong tòa nhà này, chúng ta sẽ bắt hắn. Khu vực này đã bị cảnh sát bao vây. Nội bất xuất, ngoại bất nhập.”
“Chị nói đã tiến hành lục soát rồi nhỉ?”
“Chúng tôi đang lục tung từng centimet một trong ngôi trường này cho đến khi chúng tôi quét sạch sẽ tòa nhà này. Không ai có thể thoát ra ngoài mà không bị trông thấy, Amos.”
“Câu chuyện sau tiếp là chị sẽ bước vào mê cung không lối thoát.”
Chị hếch mặt lên và nhai kẹo cao su. “Giải thích xem?”
“Nếu nơi này không có người, không ai nhìn thấy gã rời đi, thế thì gã phải là một người ở trong trường. Giáo viên hoặc học sinh hoặc cán bộ hàn chính. Bao gồm cả nhân viên vệ sinh?”
Chị gật đầu. “Họ đều lớn tuổi hơn hoặc có gan lớn hơn. Nhưng tôi hiểu ý của anh.”
“Tôi có thể xem đoạn băng ghi hình hắn được không?”
Anh theo chị vào trong thư viện. Sau khi họ đi qua cánh cửa gỗ, Decker có thể nhận ra không khí bên trong thư viện này đã trở nên trái ngược với dãy hành lang yên ắng kia. FBI ngồi một góc, cảnh sát bang, Lancaster và đội của chị được phân cho một xó xa phía sau, bên trái của thư viện.
Lancaster bắt đầu bước đến phía các đồng nghiệp đang làm việc, nhưng Decker vẫn chỉ đứng ở lối vào thư viện. Anh mới xa rời thế giới này một thời gian ngắn thôi nhưng đột nhiên cảm thấy như thể đã lâu lắm rồi. Anh không thích đám đông. Anh không buồn quan tâm bước vào và tham gia với một nhóm lớn các điều tra viên dù cho tất cả họ đều có chung một mục đích. Một phần trong anh muốn lẩn về khu Residence Inn, đóng cửa lại, nhắm nghiền mắt và để cho những sắc màu bao trùm lấy mình. Hơn nữa anh cũng có tài cán gì? Anh không tài nào tìm ra được những kẻ đã giết gia đình anh. Làm sao anh có thể tìm ra kẻ xả súng? Mắt anh hướng về cánh cửa. Anh vẫn có thể lỉnh đi.
“Amos!”
Anh nhìn về phía tiếng gọi và quan sát trong lặng lẽ khi Đội trưởng Miller đi về phía anh. Tối hôm nay, ông ấy mặc cảnh phục. Ông ấy chìa một tay ra, Decker nắm lấy và bắt tay đầy miễn cưỡng.
“Cám ơn cậu hỗ trợ chúng tôi, Amos,” Miller nói. “Có thêm người giúp thật tốt.”
Decker đưa mắt nhìn cả một lực lượng đang có mặt trong thư viện. “Trông như anh đã có đủ người rồi.”
Anh cố rút tay ra, nhưng Miller tiếp tục nắm chặt lấy, ánh mắt vẫn dán vào vị cựu Thanh tra từng dưới quyền mình.
“Nhiều lúc trông vậy mà lại không phải vậy. Và tôi muốn cậu tham gia. Cậu nhìn thấy nhiều thứ. Ý tôi là cậu thực sự nhìn ra nhiều thứ. Chúng tôi phải bắt được gã này. Chúng tôi phải làm cho đúng. Chúng ta phải khép lại vụ này.” Anh ấy tiếp tục dán mắt nhìn lên gương mặt Decker cho đến khi anh ngước lên nhìn anh ấy. “Amos, chúng ta cần khép lại vụ này. Cậu hiểu chứ. Tôi biết cậu hiểu ý tôi mà.”
“Tôi hiểu,” Decker đáp lại. “Tôi hiểu, chẳng qua là do tôi chưa bao giờ được khép lại vụ của mình.”
Miller buông tay anh ra. “Tại sao cậu không qua bên kia và nhập hội với “cộng sự” đi? Thật vui khi thấy hai người lại cùng làm việc với nhau.”
Decker lặng thinh. Anh chỉ quay người và bước đến chỗ Lancaster đang đứng chờ anh.
Cơ hội bỏ trốn của anh giờ đã tan thành mây khói. Phần lớn trong thâm tâm anh tin rằng Miller biết chính xác anh đang suy tư điều gì khi anh đang đứng ở ngưỡng cửa thư viện. Vị đội trưởng cảnh sát này đã chặt đứt đường thoái lui của anh một cách kiên quyết.
Decker khệ nệ len thân hình quá khổ của mình bên cạnh Lancaster ở cái bàn nằm giữa hệ thống máy trung tâm của cảnh sát khu vực. Các loại máy tính đã được lắp đặt thành hàng trên cả chiếc bàn. Vô số các loại ổ điện đa cổng nằm rải rác trên sàn nhà, chúng được kết nối với những loại dây điện nối dài, được gắn vào các dây nối này là các loại máy tính, máy in và máy quét hình ảnh. Mọi người đi đi lại lại xung quanh với tập hồ sơ, các loại giấy tờ, máy tính bảng điện tử trong tay, tất cả đều có chung một vẻ tuyệt vọng thầm lặng, Decker nhận thấy. Anh cũng biết rằng nhiều cảnh sát có con theo học trường này. Không cần khích lệ gì thêm họ cũng đã quyết tâm để tóm được gã xả súng.
Sau khi Miller gọi to tên anh, một vài người mặc âu phục và người mặc cảnh phục đã nhận ra Decker, họ gật đầu chào anh hoặc nhìn anh đầy khắc nghiệt, nhưng không một ai nói một tiếng nào với anh. Anh đã rời khỏi phòng cảnh sát trong hoàn cảnh không phải hay ho gì cho lắm, nhưng anh nghĩ khó có người thực sự vẫn còn để bụng khó chouj với anh.
Nhưng giờ anh đã có mặt ở đây rồi, và có lẽ anh nên bắt tay vào việc.
Anh nhìn Lancaster. “Đoạn ghi hình đâu?”
Lancaster gõ dãy mã khóa theo yêu cầu, một vài giây sau, Decker nhìn chăm chú đoạn băng ghi hiện trường vừa nhiễu vừa sạn.
“Thằng khốn đây,” Lancaster lên tiếng.
Anh liếc nhìn vào mốc thời gian. “8 giờ 41 phút. Các lớp học bắt đầu lúc mấy giờ?”
“Đúng 8:30. Đến giờ đó, mọi người cần có mặt trong lớp rồi.”
“Chị nói hắn ta tiến vào từ cửa sau nhỉ? Đó là nơi thu được hình ảnh này, phải không?”
“Đúng vậy.”
“Không phải các cửa thoát hiểm phía sau đều được khóa sao?”
“Bình thường là vậy. Nhưng chúng cũng đâu có được khóa chặt đến mức phải dùng xà beng nạy ra.”
“Thế thì chị có tìm thấy dấu hiệu phá cửa không?”
“Những cánh cửa đó vẫn chưa được thay mới từ những năm bảy mươi, Amos. Chúng mòn rục rồi. Thực sự không có cách nào để biết xem có dấu hiệu bị phá hay không.”
Chị gõ thêm mấy phím nữa và phóng to hình ảnh ở trên hành lang. “Hiện tại chúng ta đã xác định được đây - dãy hành lang đẫm máu này...” Chị bỗng ấp úng. “Xin lỗi, tôi dùng từ không phải phép cho lắm. Hành lang này thông với lối mà chúng ta đã xác định hắn dùng để ra vào. Hắn đã đi vòng ở hướng này, chính chỗ này hắn chạm mặt Debbie Watson, có thể nói là một phút sau.”
“Thế là phát súng đầu tiên xảy ra ở 8:42 hoặc tầm đó, tính là một phút từ mốc thời gian trên đoạn ghi hình và hắn chạm mặt Watson?”
“Gần như thế. Tiếng súng hoa cải nổ, mọi người đều nhớ. Thực tế, có một nhóm người xem giờ khi họ nghe thấy tiếng. Vì vậy 8:42 là mốc giờ chuẩn cho phát súng đầu tiên.”
“Được rồi.” Decker suy nghĩ nội dung của câu hỏi tiếp theo. Đáng lẽ câu hỏi phải nảy ra một cách tự nhiên, nhưng anh không nghĩ ra được gì. Năng lực của anh chắc chắn đã sa sút. Anh nhìn tất cả những điều tra viên đang cặm cụi xung quanh. Anh đã từng giống như bọn họ. Sự thật là, anh đã xin rút khỏi công việc ngay khi anh phát hiện ra gia đình mình đã chết. Anh phải thừa nhận, thực ra anh giống chướng ngại vật hơn là người trợ giúp.
Anh cúi xuống nhìn Lancaster, người đang ngước lên nhìn anh chăm chú, vẻ thương cảm toát lên gương mặt.
“Đơn giản như đi xe đạp thôi mà, Amos,” chị nói nhưng rõ ràng đang đọc thấy cảm giác nghi ngờ bản thân trên khuôn mặt anh.
“Có thể không đơn giản như vậy, Mary. Tôi nghĩ rồi sẽ biết tôi có làm được hay không. Nhưng nếu tôi còn không làm tròn được phần mình, tôi không nên ở đây.”
Chị quay lại nhìn màn hình. “Được rồi, máy ghi hình ở đây đều không có tiếng, nên anh sẽ không nghe thấy gì. Ở phía hành lang bên kia thì không có máy quay.”
“Tại sao lại không có?”
“Còn tại sao nữa? Không còn tiền ngân sách. Chúng ta may mắn khi vẫn có máy quay hoạt động được đó.”
Anh trầm tư một hồi. “Nhưng họ vẫn để chúng đó làm vật răn đe à.”
“Đúng vậy. Người ta không biết máy quay không hoạt động.”
“Nhưng gã chúng ta đang theo đuổi tránh tất cả các máy quay trừ cái này.”
“Hắn có tránh được hay không thực sự không thành vấn đề. Hắn ta hoàn toàn trùm kín mít, Amos. Không có cách để nhận ra bất cứ đặc điểm nào.”
Decker gật gù, một lần nữa cảm thấy trí óc lại trì trệ và chậm chạp.
Anh quay lại nhìn hình ảnh hiện trên màn hình. Đội mũ trùm đầu và đeo khiên che mặt. Chiếc máy quay phản chiếu ánh sáng trên tấm khiên che mặt đó. Anh dịch người mình gần hơn vào với màn hình, như một con chó săn đang đánh hơi dấu vết con mồi.
“Không có góc máy quay nào chiếu thẳng lên gương mặt có mũ che của hắn cả. Hắn biết chỗ nào có máy quay để tránh đi, mặc dù hắn đã ngụy trang kín người.”
“Anh nghĩ điểm này quan trọng ư?” chị hỏi.
“Đến thời điểm điều tra này, không có điểm gì là không quan trọng cả.”
Lancaster gật đầu. “Tôi nghĩ đó là quy tắc thứ hai mà anh từng dạy tôi.”
“Quy tắc đầu tiên là nghi ngờ tất cả mọi người.” Decker lơ đãng tiếp lời, mắt anh vẫn đau đáu nhìn hình ảnh kẻ xả súng.
Chị không nói gì, cuối cùng anh cũng quay lại nhìn chị.
“Đơn giản như việc đạp xe đạp thôi mà, Amos. Anh là người giỏi nhất mà tôi từng gặp. Tôi nghĩ anh vẫn có thể là người giỏi nhất.”
Anh quay mặt đi, tâm trạng không cảm thấy khá hơn trước lời khen của chị, bởi trí não bị biến đổi của anh đã không còn có phản ứng với những lời như thế nữa rồi. “Chị có thể cho chạy một lượt đoạn ghi hình cho đến lúc hắn rẽ vào góc kia không?”
Lancaster làm theo lời yêu cầu của Decker, sau đó là thêm ba lần nữa.
Cuối cùng anh cũng ngồi xuống, mơ màng chìm trong suy nghĩ, mắt vẫn dán vào màn hình.
Chị quay ra nhìn anh. “Anh có thấy điểm bất thường gì đập vào mắt không?”
“Tôi thấy rất nhiều thứ đập vào mắt. Nhưng không có gì ngoài một gã ăn mặc như thế, mang theo vũ khí, có thể tự dưng biến mất như thể đã độn thổ kia.”
“Tôi không tin vào ma quỷ hay phép thuật.”
“Tôi cũng không tin, Mary. Nhưng tôi chắc chắn biết một điều.”
“Điều gì?”
“Gã này sẽ không thoát được.”
Chị vẫn cứ chăm chú nhìn anh như thế, biểu cảm trên gương mặt biến thành lo âu. “Anh chắc chắn mình không đang nói về Leopold đó chứ?”
Anh nhún vai, ánh mắt dường như đang nhìn vào đâu đó cách đây hàng triệu dặm. “Xét theo mọi phương diện, thì mấy thằng như thằng này cũng không khác gì Leopold.”
 
CHƯƠNG 13
 
Nhờ có ý tốt của Đội trưởng Miller, Lancaster đã sắp xếp tạm thời được giấy ủy nhiệm và phù hiệu ra vào dành cho Decker. Anh đã ngó nghiêng hiện trường vụ án đủ nhiều để quyết định mình sẽ đi đâu và không làm xáo trộn hay phá hủy chứng cứ tiềm năng. Anh ngâm cứu kỹ các báo cáo, chăm chú xem đoạn ghi hình hiện trường nhiều lần nữa, nói chuyện gãy gọn với những cảnh sát ở phòng mà anh biết, gật đầu chào hỏi với những người anh không quen. Còn một chặng đường rất dài nữa anh mới lại cảm thấy thoải mái khi làm việc trên hiện trường, nhưng anh cũng bắt đầu cảm giác nhiều thứ chắc chắn đang quay trở lại với anh. Sở trường mạnh nhất của anh luôn là quan sát. Nhìn ngó xung quanh và nhìn ra nhiều điều, không giống như cách nhìn cùa đại đa số. Anh đã chấp nối dần những lời luận tội từ những chi tiết nhỏ nhất, những chi tiết hay dễ bị bỏ qua nhất nhưng quan trọng nhất mà những kẻ phạm tội hay thực hiện.
Cho đến thời điểm này, anh đã quan sát vô vàn thứ ở đây nhưng chẳng có một thứ gì có sợi dây kết nối với vụ xả súng.
Phần lớn anh nhận ra đội FBI đang làm trò khoe mẽ như thường lệ. Vênh vênh váo váo đi xung quanh và khiến mọi người choáng ngợp với nguồn lực của mình. Tuy là vậy, cuối cùng anh biết cảnh sát sẽ không ngần ngại nhận sự giúp đỡ. Mục đích của ai thì cũng giống nhau. Bắt được thủ phạm làm chuyện này.
Anh quay trở lại guồng làm việc vốn được anh áp dụng khi điều tra vô số các vụ khác. Anh đi lại, quan sát, đặt câu hỏi và đọc nhiều báo cáo hơn. Chỉ có đi đi lại lại thôi cũng khiến anh đi hết một vòng chu vi khuôn viên trường học đến mấy lần. Anh nhìn ngôi trường từ mọi vị trí thuận lợi cho việc ra tay nhất. Sau đó anh quay trở lại bên trong và nhìn ra ngoài qua từng khung cửa sổ của nơi này. Hiện giờ trời tối đen như mực, một chốc nữa thôi là bình minh sẽ hé sáng. Anh đã ở đây nhiều giờ liền. Thế mà cảm giác như chỉ mới mười phút, bởi vì anh thực sự vẫn chưa rút ra được kết luận gì. Nhưng thế cũng được. Những điều kì diệu và điểm sáng hé mở hiếm khi xảy ra trong quá trình điều tra tội phạm. Bạn chỉ có thể thấy những điều phi thường như thế trên các chương trình TV. Mọi kết luận điều tra trong thế giới thực là kết quả của một quá trình chậm và dai dẳng, thông qua việc tập hợp các dữ kiện, xây dựng các lời kết luận và suy luận dựa trên các dữ kiện đó. Mặc dầu là có thêm chút yếu tố may mắn thì càng hay.
Một vài phút trước khi bình minh hé rạng, các phương tiện di chuyển đã được điều động để bắt đầu đưa các thi thể về nhà xác. Có một khu trung chuyển nằm phía sau ngôi trường. Cảnh sát đã che chắn khu vực này lại bằng vải bạt và các trụ thép gia cố để tránh cho người dân nhìn thấy. Các phương tiện lái xe lần lượt đi khe hở ở bức tường này. Phái đằng sau tấm vải bạt kia, Decker biết các thi thể được bọc kín trong túi đen dày dặn cứng cáp đang được chuyển ra. Các thi thể đều được ghi tên và đánh số. Họ không còn là con người nữa. Họ trở thành một phần trong công cuộc điều tra vụ án. Debbie Watson sẽ là Nạn nhân số 1. Thi thể của cô gái trở thành cột mốc đầu tiên cho việc đánh số những người đã ngã xuống. Joe Kramer, giáo viên thể dục, được đánh số Nạn nhân số 2. Số thứ tự cứ tiếp tục, cho đến hết danh sách tử vong.
Decker dựa lưng vào phía tường bên ngoài trường học, gần với khu trung chuyển và nhìn vào tấm vải xanh. Sau đó anh nhắm mắt lại, bởi vì anh liên tưởng sắc xanh nước biển với cuộc tàn sát gia đình anh. Anh không cần nhìn thấy màu sắc ở thế giới bên ngoài. Anh đã thấy quá đủ những màu sắc trong đầu rồi.
Trở lại với những điều căn bản nhất nào, Amos. Chậm rãi và thoải mái. Mày biết phải làm như thế nào mà. Đó là việc mày đã làm trong suốt bao nhiêu năm. Mary nói đúng. Mày có thể làm được.
Động cơ.
Luôn phải bắt đầu tìm động cơ, bởi vì động cơ gây án chỉ là một cách nói khác của câu hỏi: Tại sao anh làm chuyện như vậy? Vì tham lam, vì ghen tuông, vì vui thú, vì tư thù cá nhân, vì bị coi thường, vì quẫn trí? Động cơ cuối cùng luôn rất khó để giải mã được, bởi làm thế nào bạn có thể đọc được bộ não bị loạn trí chứ?
Thế nhưng gã này có phương pháp. Gã biết thông tin nội bộ trong ngôi trường này. Gã vô cùng cẩn trọng, đến một mảnh da cũng không được phép để lộ ra. Người ta sẽ không biết màu da của gã, là đen hay trắng. Mặc dù hầu hết các kẻ gây thảm sát đều da trắng. Và là đàn ông. Với chiều cao, cân nặng và vóc dáng của gã xả súng này, thủ phạm chỉ có thể là đàn ông.
Đeo tấm khiên che mặt là một bước lạ thường. Vật đó không dùng để bảo vệ. Nó không thể nào chặn một viên đạn được. Mục đích là để che giấu.
Anh nhìn chiếc xe cuối cùng trong đoàn xe rời đi, ánh đèn xe nhấp nháy phía trên nhưng không có tiếng còi xe cảnh sát. Người chết không hề vội vã. Từng thi thể sẽ bị giải phẫu khi nhân viên giám định y tế tìm kiếm manh mối. Thế nhưng, điều lạc quan nhất mà họ có thể hi vọng kiếm được sẽ là các loại đầu đạn. Loại đạn nào đã giết chết họ? Anh không tin rằng kẻ xả súng này đã chạm một ngón tay lên bất cứ nạn nhân nào. Không chạm nghĩa là không để lại bất cứ dấu vết có thể sử dụng được. Với những viên đạn này, ít nhất vào một ngày nào đó có thể lần ra các khẩu súng đã bắn chúng. Nếu những khẩu súng đó có chủ thì lai lịch của kẻ gây ra sự kiện kinh hoàng này có thể bị truy vết.
Anh quay trở lại thư viện, Lancaster vẫn đang ngồi đó và chăm chú đọc các ghi chú của vụ án. Chị ngước mât nhìn lên khi anh tiến lại gần.
“Tôi thấy ngạc nhiên khi anh vẫn ở đây đó,” chị vừa nói vừa kiềm cái ngáp.
“Tôi làm gì có nơi khác để phải về,” Decker đáp.
Anh ngồi xuống cạnh chị.
“Anh làm một chuyến vòng quanh như thường lệ à?” chị hỏi.
Anh gật đầu. “Nhưng tôi thực sự vẫn chưa nhìn ra bất cứ gì.”
“Anh sẽ nhìn ra thôi, Amos, dần dần sẽ được.”
“Earl đang trông bé Sandy à?”
Chị gật đầu. “Anh ấy đã quen với việc này. Cũng đã nhiều đêm dài rồi.” Chị liếc nhìn quanh phòng. “Nhưng chưa lần nào bằng lần này.”
Decker chậm rãi gật gù. Một lần nữa, mấy lời chuyện trò ngoài lề công việc bỗng chìm vào im lặng. “Chị đã có được hết lời khai của nhân chứng chưa?”
“Tôi đã nhập một vài lời khai vào hệ thống máy tính. Không có nhiều lắm. Tuy nhiên tôi vẫn chưa được nói chuyện với người giáo viên bị thương. Khả năng cao là anh ta sẽ không thể nào qua nổi. Nếu anh ta chết thì tổng cộng sẽ có chín nạn nhân.”
“Andy Jackson. Anh ta bị bắn như thế nào?”
“Các học sinh trong lớp nói anh ta cố gắng chặn tên bắn súng lại.”
“Chặn như thế nào?” Decker hỏi tiếp.
“Chạy thẳng về phía hắn. Chen giữa họng súng của hắn và học sinh.”
“Trước hay sau khi hắn bắn một học sinh?”
“Sau khi.”
Decker dựa người ra sau và suy ngẫm về hành động đó, còn Lancaster thì quan sát anh.
“Một người khá dũng cảm,” Lancaster nói.
Decker không đáp lại lời nói ấy.
“Tôi cần xem bản lời khai của nhân chứng.” Giọng nói anh bây giờ bỗng nhanh nhẹn và tự tin.
Lancaster nhận ra sự thay đổi nhỏ ấy và cho phép một nụ cười rất khẽ hiện lên môi khi chị lôi bản lời khai ra cho anh.
Anh chăm chú đọc từng trang ghi lại lời khai. Lúc anh đọc xong, anh lật ngược về trang số hai sau đó lại lật tiếp đến trang số mười trước khi đặt cuốn sổ ghi lời khai sang bên cạnh.
“Nhìn ra gì không?” Lancaster hỏi, chị đã ngồi quan sát anh tiếp tục rồi lại thôi khi chị cũng làm việc.
Bỗng anh đứng dậy. “Tôi sẽ quay lại.”
“Decker!”
Mặc dù bự con mà lại thừa cân, nhưng anh có thể di chuyển nhanh hơn người ta tưởng. Có lẽ một chút linh hồn của cầu thủ bóng bầu dục vô tư lự ngày nào vẫn còn nằm trong anh. Anh đóng cửa thư viện phía sau mình và sải bước đi trên hành lang.
Lancaster không đi theo anh. Đã làm cộng sự gần mười năm với anh, chị đã quá quen với hành động này. Anh là kiểu người cứ thích đến thì đến, thích đi là đi mà không cần nói một câu với chị hay bất cứ ai khác. Chị quay trở lại công việc đang dang dở.
☆☆☆
Decker bước được độ chục bước thì bỗng đứng lại, anh liếc nhìn qua cửa sổ hướng đến khu vực đỗ xe đằng trước. Anh thấy trời bắt đầu đổ mưa. Anh cũng có thể trông thấy một đống nến xếp chi chít cạnh nhau cứ như đang trôi lềnh bềnh giữa không trung. Tất nhiên chúng không phải là nến thật. Mưa sẽ dập tắt chúng ngay. Đó là đèn phát ra từ điện thoại di động. Có một nhóm cầu kinh ban đêm đang đứng phía trước ngôi trường. Cứ như toàn bộ cư dân thành phố Burlington đang ở đây, có thể lắm chứ. Sau những gì đã xảy ra ở nơi này, có lẽ nên như vậy.
Cũng đã từng có một nhóm cầu kinh đã đứng phía ngoài nhà anh vào cái đêm sau khi xảy ra án mạng. Hồi đó là nến thật. Thêm những bó hoa, những câu biểu ngữ và thú nhồi bông. Chúng là những vật tượng trưng cho sự hỗ trợ, tình yêu, sự đoàn kết và quan tâm. Tất cả đều tử tế. Thế nhưng hình ảnh của những chồng nến xếp chen hoa, thú bông như thế khiến anh cảm thấy phát ốm và mất định hướng. Và cảm thấy quẫn trí hơn cả nỗi đau.
Anh quay mặt khỏi cửa sổ và tiếp tục bước đi khi những hạt mưa bắt đầu đổ xuống rầm rầm trên mái của ngôi trường.
Anh có thể mường tượng ra những chiếc điện thoại nhấp nháy tắt khi nhóm người cầu kinh vội vã tắt chúng đi. Hoặc có thể họ sẽ giữ chúng ngoài trời mưa. Để chúng chết đi, như là tượng trưng của tình đoàn kết với những người đã khuất bên trong nơi này.
Decker đi ngang qua một vị thanh tra anh quen biết đang đứng ở hành lang. Anh ta đang nói chuyện với một người mặc âu phục mà Decker đã từng trông thấy ở trong thư viện; người đàn ông đó là đặc vụ FBI. Vị thanh tra gật đầu chào Decker.
“Nghe nói cậu đang hỗ trợ vụ này, Decker. Rất vui khi gặp cậu.”
Decker gật đầu chào lại một cách do dự khi anh liếc sang nhìn đặc vụ FBI. Người đàn ông đó soi xét Decker từ đầu tới chân, từ nét biểu cảm hiện trên gương mặt, Decker có thể thấy sự đánh giá của anh ta không mấy dễ chịu cho lắm.
Decker “Ừ” với giọng cộc lốc, đó là tất cả những gì anh có thể nói ra trước khi vội vàng đi.
Thế nhưng sau đó, anh gác cuộc gặp mặt lúng túng vừa rồi sang một bên, tâm trí anh cho phép anh làm việc này thật dễ dàng. Anh có thể phân chia tư tưởng một cách rạch ròi đến không tưởng. Điều này có được là nhờ vào thái độ cóc-thèm-quan-tâm đến mọi sự của ạnh.
Và vì có một điểm không hề có lý chút nào. Đó là lý do tại sao anh lại vội vàng đi khỏi thư viện đến vậy.
Trang hai trong bản ghi lời khai nhân chứng.
Melissa Dalton, mười bảy tuổi, học sinh, đang lấy sách ra khỏi tủ cá nhân. Thời gian lúc đó vẫn còn sớm, 7:28, hơn một tiếng trước khi giờ học chính thức bắt đầu. Cô bé này đến sớm để làm bài thi lại do hôm đi thi bị ốm.
Dalton biết giờ chính xác bởi vì cô bé đã nhìn đồng hồ treo tường phía trên tủ đồ của mình, sợ rằng mình sẽ trễ giờ thi. Trong suốt thời gian học trung học, cô bé đã đi học vô cùng đầy đủ, thậm chí không hề muộn một buổi nào. Việc này vô cùng quan trọng với cô, ấy là do ba mẹ cô bé đã nói rằng nếu suốt bốn năm học mà không đến lớp trễ thì ba mẹ sẽ thưởng cho cô chiếc xe cũ của họ, vậy là lúc tốt nghiệp Dalton sẽ có được một chiếc xe cho riêng mình.
Vậy là 7:28.
Đó là lúc Melissa Dalton đã nghe thấy một âm thanh gì đó. Theo lời cô bé đã kể lại với Lancaster khi Mary phỏng vấn cô bé.
Cô bé đã nghe một tiếng gì đó vào lúc một tiếng hai phút trước khi chuông vào học kêu. Có thể hai mươi phút sau khi chuông reo, hoặc gần khoảng 8:42, là lúc Debbie Watson bị bắn nát mặt khi gã bắn súng rẽ vào hành lang và giương khẩu súng hoa cải lên. Cô bé bị như thế chỉ vì bị đau bụng.
Nhưng làm sao Melissa Dalton có thể đã nghe thấy điều gì?
Mọi quan sát nhỏ đều có thể dẫn tới một phát hiện lớn.
Anh tiếp tục bước đi.
 
CHƯƠNG 14
 
Decker dừng lại và nhìn xung quanh. Phòng thể chất nằm ở xa, về phía bên trái của dãy hành lang cuối cùng của tầng một. Tiếp đến là các phòng học, sau đó là lối cửa sau. Phía bên kia của dãy hành lang chính có các phòng học khác, một nhà kho chứa đồ vệ sinh, và một khu trung chuyển hàng hóa phía sau. Hành lang chính chạy dọc từ trước ra sau trường, chia khu vực tầng một thành hai khu bằng nhau, thêm ba hành lang khác nhô ra từ hành lang chính sang trái và phải, giống như các cành cây thẳng tưng mọc ra từ thân cây.
Do chỉ có dãy hành lang nằm chính giữa tầng trệt có hai lối ra ở phía hai đầu, nên tức là có bốn cặp cửa ra vào nằm ở bốn hướng Đông Tây Nam Bắc.
Anh đi thẳng xuống dưới lối cửa sau và liếc nhìn lên máy quay. Sau đó anh bước tiếp các điểm khác dọc theo hướng cửa phía sau và kiểm tra máy quay mỗi lần tiến đến.
Đáng chú ý đây.
Anh quay người đi lại cung đường vừa rồi và đi đến sảnh chính cho đến khi anh đến gần khu vực lối vào phía trước. Sau đó anh đổi hướng sang bên trái, tiếp tục đi dọc hành lang đến vị trí có căn tin nằm bên trái và thư viện nằm bên phải.
Đây chính là vị trí đặt tủ đựng đồ của Melissa Dalton, đối diện trực tiếp với căn tin. Anh nhìn tủ đựng đồ. Ngay phía sau nó là phòng thư viện, nơi Lancaster đang cần cù làm việc. Phía đối diện, bên cạnh một vài phòng học rải rác, là khu vực căn tin rộng lớn.
Decker nhớ lại hồi anh vẫn còn đi học, có một kho hàng hóa và khu vực chuẩn bị thực phẩm nằm ở phía cuối khu vực căn tin, kèm với một cửa bên ngoài dẫn thẳng đến khu vực hiên có mái nhỏ bằng bê tông, nơi chồng chất các thùng thực phẩm. Thế nên thực tế là có đến sáu cửa ra vào. Bốn cửa chính nằm ở hành lang, một cửa nằm ở khu trung chuyển hàng hóa phía sau trường và một cửa nằm ở đây, trong khu vực căn tin.
Vào lúc 7:28, Melissa Dalton đã nghe thấy tiếng cửa mở ra và đóng lại. Âm thanh đó không phải tiếng cửa lớp học, bởi vì nó có tiếng “phụp” đi kèm, theo lời cô bé kể lại. Giống như tiếng thiết bị hút chân không.
Giống tiếng thiết bị hút chân không. Đó là lời tường thuật lại của Dalton. Lancaster đã ghi lại trong bản lời khai rằng Dalton nói với chị rằng cô bé rất yêu thích môn khoa học, tiết học vừa mới giải thích chi tiết về hệ thống chân không, thế nên chắc chắn đó là lý do tại sao thuật ngữ “chân không” mới mẻ trong tâm trí của cô bé đến thế. Lancaster đã viết rất nhiều dấu hỏi xung quanh lời khai này, thêm một dấu hoa thị. Chị đang có ý định kiểm chứng lại lời khai này sau. Decker không thể trách móc gì chị khi đánh dấu lại lời khai ấy. Rõ ràng nó có vẻ không hề hợp lý.
Đó là trang hai trong bản ghi lời khai.
Trang mười của bản ghi lời khai mới là “mỏ vàng nhỏ”. Chính thông tin đối chiếu này mới thực sự khiến Decker đến đây.
Các nhân viên ở khu căn tin đến làm việc vào đúng chính xác 8:45. Không đến sớm, cũng không đến muộn. Thông tin này đã được xác nhận là xác đáng bởi nhiều nguồn vào ngày hôm qua. Tất cả nhân viên căn tin đều là nữ giới. Nên không cần tìm một nhân viên nam cao khoảng mét chín, nặng khoảng chín mươi cân, có bờ vai rộng trong số họ.
Vụ xả súng bắt đầu từ 8:42, chưa có một nhân viên căn tin nào thực sự vào trong trường. Bốn người đang mới bước ra khỏi xe ở khu vực đỗ xe, một người khác đang đợi để được rẽ xe vào trong bãi đỗ lúc cảnh tượng địa ngục đó diễn ra.
 
Decker bước vào trong khu căn tin và nhìn xung quanh. Theo bản năng, bàn tay anh lần xuống dưới báng khẩu súng ngắn đang được gài trong thắt lưng và giấu mình phía sau lớp áo khoác. Ngón cái đẩy chốt an toàn. Ổ đạn đã được lên. Hệ thống đèn phía bên trong đang tắt. Decker tìm thấy bảng công tắc đèn, gạt khuỷu tay để bật chúng lên.
Anh đi ngang qua không gian chính giữa của căn tin, băng qua những cái bàn có ghế được chồng ngay ngắn trên mặt. Cuối phòng căn tin là quầy phục vụ thực phẩm được làm bằng thép không gỉ và kính. Những khay phục vụ thức ăn đều trơn nhẵn. Mọi đồ đạc đều sạch sẽ, đĩa được xếp chồng gọn gàng, tất cả đều sẵn sàng phục vụ, chỉ thiếu mỗi sự hiện diện của các học sinh đói và những nhân viên phục vụ các em.
Ánh mắt anh loanh quanh dưới nền nhà khi anh bước đi. Thế nhưng không có một dấu chân nhìn thấy được nào ở trên đó. Decker dò dẫm từng bước qua khoảng trống để tiến vào khu vực phía sau. Ở đó có các loại giá đựng di chuyển được dùng để mang đồ ăn từ khu vực này sang khu vực phục vụ. Chúng được kê dựa vào sát tường. Ngoài ra còn có các bộ giẻ lau sàn kèm xô và các dụng cụ dọn vệ sinh khác.
Những vật này không có chút thu hút với Decker.
Tâm điểm chú ý với anh lúc đó là kho lạnh đặt nằm ở tận cuối nhà kho hàng hóa.
Một tiếng “phụp”. Là thiết bị chân không. Đó là tiếng cửa kho lạnh đóng lại.
Hoặc mở ra.
Anh rút khẩu súng ra. Thực sự anh không hi vọng sẽ tìm thấy gã xả súng, người vẫn mặc nguyên bộ đồ ngụy trang, xuất hiện bên trong kho lạnh. Họ chắc hắn đã phải kiểm tra ở bên trong đó, và tất nhiên mở cả kho lạnh ra. Đời luôn có một chữ “nhưng”, anh đã chứng kiến đủ những chuyện lạ trên đời để không loại trừ khả năng này. Và coi đó là việc đương nhiên tại thời điểm này có thể đồng nghĩa rằng anh có thể lúc rời trường anh sẽ ở phía sau chiếc xe vận chuyển lặng câm kia, trong một túi đựng thi thể.
Anh chĩa khẩu súng ngắn về phía cửa, bước sang một bên, lấy ống tay áo khoác gối bàn tay, nắm lấy tay nắm cửa, giật rồi kéo mạnh một cái. Cánh cửa kho lạnh bật mở dứt khoát.
Có một tiếng “phụp”, anh chú ý đến âm thanh này, khi lớp màng hút không khí bị bong ra. Anh hình dung ra vào buổi sáng sớm, âm thanh đó có thể vang vọng trong hành lanh yên tĩnh và trống vắng này và lọt vào trong tai của Melissa Dalton. Chà, cái thử nghiệm nho nhỏ này của anh có vẻ như đã chứng thực thêm điều cô học sinh đã nọ.
Decker lùi lại phía sau và chọn một vị trí phía sau bàn làm việc. Anh cứ đi men theo mép bàn cho đến khi anh có thể quan sát trọn vẹn kho lạnh. Nó không có gì hết ngoại trừ thực phẩm. Thế nhưng liệu nó có trống rỗng vào lúc 7:28 vào buổi sáng điên cuồng ấy không?.
Decker bước vào trong kho lạnh và nhìn xung quanh. Anh nhận ra cánh cửa kho lạnh có cơ chế an toàn, cho phép bất cứ ai ở trong đều có thể mở được. Nhờ có cơ chế đó, không ai có thể bị mắc kẹt và chết cóng trong đó.
Thế rồi anh nhận ra một điều. Hay nói chính xác hơn, anh cảm nhận được điều đó.
Kho lạnh phải được đặt nhiệt độ cực kì lạnh, thực tế là giảm xuống mức 0 độ C. Riêng kho lạnh này chỉ gọi là lạnh bình thường. Thậm chí nó còn không lạnh bằng nhiệt độ ngoài trời.
Anh kiểm tra nhiệt kế. Bảo sao. Đồng hồ chỉ tám độ C. Anh mở thêm vài hộp đựng thực phẩm trong kho lạnh ra và thấy đúng như dự đoán: Thịt và các thực phẩm tươi sống khác đã bị tan giá và bắt đầu bị ôi thiu. Nhà trường sẽ phải vứt chúng đi.
Vậy là gã xả súng đã tăng nhiệt độ trong kho lạnh và tận dụng nó làm nơi ẩn náu. Melissa Dalton đã nghe chính xác được âm thanh mà cô bé nghĩ đã nghe thấy được. Một tiếng “phụp” phát ra khi gã xuất hiện vào lúc 7:28. Thế nhưng tại sao lại trốn ở trong kho lạnh? Và làm thế nào mà gã có thể đặt chân vào trong trường để bắt đầu ra tay? Có lẽ kho lạnh được sử dụng trong suốt cả ngày nên hắn phải bước vào sau giờ tan trường. Hắn phải vào lúc ban đêm trước vụ xả súng. Nếu không hắn sẽ bị phát hiện khi nhân viên nhà bếp mở cánh cửa kho lạnh để bắt đầu làm nhiệm vụ.
Câu hỏi tiếp theo: Vào trong kho lạnh sẽ có lợi gì cho hắn?
Câu hỏi lớn nhất trong tất cả: Làm thế nào mà từ chỗ trốn trong khu căn tin nằm ở gần cổng trước của ngôi trường, hắn lại có thể xuất hiện từ tít sau rồi bắt đầu cơn hoành hành mà không một ai trông thấy? Cứ như thể hắn đã dịch chuyển tức thời vậy.
Những câu hỏi mới bắt đầu ào ạt như sóng vỗ bờ trong tâm trí Decker khi danh sách kẻ tình nghi tiềm năng thay đổi.
Là khách thăm trường? Là phụ huynh học sinh? Là những nhân viên phục vụ ngoài trường? Lancaster chưa có nhắc đến bất cứ ai như vậy. Tuy thế anh vẫn cứ cho là bất cứ ai có mặt trong trường vào thời điểm đó cũng sẽ bị giữ lại để tra hỏi. Đó là quy tắc cơ bản nhất trong điều tra tội phạm. Không ai cứ thế mà được rời đi. Bất luận thế nào cũng vẫn còn một khoảng thời gian trống giữa thời điểm xả súng và thời điểm cảnh sát khóa chặt các lối ra vào. Kẻ xả súng phải chạy thoát thân vào lúc đó. Nhưng hắn ta đã làm thế nào mà không bị nhìn thấy?
Decker bước ra ngoài kho lạnh và đóng cánh cửa lại phía sau mình. Anh bước đi vài mét rồi ngước nhìn lên. Kho lạnh không có chỗ trốn nào. Nhưng ở đây thì có.
Anh nhấc lấy một cái ghế và đặt nó giữa căn phòng. Anh cố gắng kéo cả thân hình lên trên ghế. Với chiều cao này, anh đụng đầu mình lên một tấm trần nhà. Đây là dạng trần nhà thả, mọi người còn hay gọi là trần treo, bởi vì các ô đèn chiếu sáng được gắn lên khung kim loại, chúng được treo thả cách trần nhà thực sự khoảng sáu mươi phân. Anh biết đây là phần cải tiến mới được thực hiện rất lâu sau khi trường học này được xây dựng từ những năm đầu tiên. Không ai lại đi lắp đặt hệ thống trần thả vào thập niên 40 cả.
Anh nhấc một tấm trần giả lên và thò đầu qua. Sử dụng điện thoại làm đèn pin, anh rọi sáng xung quanh không gian bên trong tối tăm này. Vô số thứ hỗn độn có mặt trên này, bao gồm các đường dây điện, các đường ống của hệ thống phun nước và hệ thống kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm và chất lượng không khí của tòa nhà. Không thể nào có chuyện một gã cao lớn như thế có thể chui vừa chỗ này. Giả sử như hắn ta có chui được đi nữa thì các thanh gia cố hệ thống đèn chiếu sáng cũng sẽ không giữ nổi cân nặng của hắn. Anh tiếp tục dịch chuyển vị trí của chiếc ghế thêm ba lần nữa cho đến khi anh tìm thấy một thứ. Không phải trên trần nhà là dưới sàn nhà. Một chút bụi rơi từ trần nhà. Anh nhìn lại những vị trí vừa được kiểm tra. Dưới mỗi tấm trần đều xuất hiện một chút bụi trên nền nhà bởi vì anh đã nhấc các tấm lợp trần lên và tác động vào các hạt bụi sạn ấy. Thế nhưng ở vị trí kia, anh vẫn chưa đụng vào tấm trần nào.
Anh chụp lại toàn bộ từ mọi góc. Sau đó anh lại di chuyển ghế và kéo mình lên trên một lần nữa. Anh sử dụng bàn tay được che phủ bằng ống tay áo khoác để không làm mờ hoặc đè lên bất cứ dấu vân tay nào có sẵn ở đó và nhẹ nhàng đẩy tấm lợp trần lên. Anh thò đầu qua lỗ trần nhà đó và quan sát xung quanh. Không gian trên này trống trải. Không có đường ống nước, đường dây điện hay hệ thống thông gió. Đây chính là không gian để cất giấu đồ. Có thể cất bộ đồ ngụy trang hay có lẽ là cả vũ khí nữa.
Anh soi xét mọi ngóc ngách vị trí của không gian này và tìm thấy một thứ vô giá.
Một sợi chỉ chỉa ra từ thanh giá đỡ kim loại. Anh chiếu đèn vào nó. Có vẻ là màu be. Tại một điểm thanh giá đỡ khác có dấu vết mờ mờ trên thảm bụi. Tại thanh giá đỡ số ba có một chút dầu cặn, có thể là từ khẩu súng hoa cải bị nhét vào đó.
Anh không chạm vào thứ gì hết, trèo xuống và nhắn tin cho Lancaster. Đội khám xét hiện trường sẽ xuống đây và “xới tung” cả khu này lên. Trong lúc chờ họ, anh bước tới một cánh cửa dẫn vào khu vực bốc dỡ hàng hóa nhỏ.
“Chết tiệt.”
Cánh cửa trông giống như bị khóa, nhưng anh vừa tì thân hình nặng nề của mình lên cánh cửa, nó đã đổ nhào xuống, một tiếng chửi rủa nhanh chóng phụt ra. Anh bước qua cửa vào khu vực bốc dỡ hàng hóa nhỏ. Nó được bao quanh bởi một hàng rào gỗ cao một mét tám. Với chiều cao của mình, anh có thể nhìn qua được bên kia. Một vầi thùng rác nhỏ được đặt ở đó cũng như một thùng rác dành cho xe chở rác. Các loại sọt gỗ được chất đống vào một góc. Decker huých khuỷu tay vào cổng rào và ngó nhìn sang.
Hai chỗ đỗ xe trống không. Từ chỗ đó còn có một vệt nhựa đường ngắn bị nứt gãy và một hàng rào mắt xích dẫn đến bụi cây lớn cao đến ba mét và một bụi cây khác mọc ngay bên cạnh hàng rào. Anh rảo bước đi qua hàng rào. Từ vị trí đối diện với lối vào nhà bếp, anh lao mình đi qua bụi cây. Hàng rào mắt xích bị cắt ra làm đôi ở giữa. Anh cầm điện thoại chiếu đèn sáng vào đó. Đã bị gỉ. Nó đã bị như thế được một thời gian rồi. Anh tiếp tục len mình qua bụi cây và tiến sang phía bên kia. Ở đó xuất hiện một con đường mòn dẫn thẳng vào cánh rừng, mà nó đã nằm cạnh ngôi trường này tự bao giờ.
Một điểm dễ chui vào, dễ lẻn ra.
 
CHƯƠNG 15
 
Lancaster vo nhỏ miếng kẹo cao su trong khi đội kỹ thuật sục sạo mọi ngóc ngách trong khu vực căn tin và nhà bếp. Phía bên ngoài, đội cảnh sát và đặc vụ FBI đang đi theo lối mòn mà Decker đã chỉ cho họ.
Decker đứng tựa lưng vào một bưc tường ở phòng căn tin, hai tay nhét vào trong túi áo, và tiếp nhận mọi thứ đang diễn ra. Lancaster bước đến đứng cạnh anh.
“Lúc trước chúng tôi đã từng kiểm tra trong kho lạnh,” chị lên tiếng. “Nhưng lại không kiểm tra thực phẩm hay đồng hồ đo nhiệt. Đúng là sơ suất. Tôi chắc chắn sau này chúng tôi sẽ chú ý hơn.”
“Bên chị đang tìm kẻ xả súng mà, lại tìm từng phòng một,” Decker tiếp lời. “Nên cũng không quá chú tâm đến vài ba cái bánh hanberger bị ôi thiu. Tôi cũng không quá chú tâm đến điều đó. Tôi chỉ đang đánh hơi xung quanh.”
“Phải, sau khi anh phi như bay ra khỏi thư viện mà không nói một lời. Tôi đã gọi với theo anh, anh biết đó. Có lẽ tôi đã có thể đi cùng với anh, Amos.”
Anh nhận ra thấy vẻ mặt đau đớn của chị sau đó liếc nhìn xung quanh. Anh chưa hiểu vẻ mặt đó ngay tức khắc. Chị vẫn còn thuộc lực lượng cảnh sát, việc chị và Decker cùng nhau tìm kiếm manh mối điều tra mới sẽ giúp chị củng cố sự nghiệp. Thế nhưng nó lại là phát hiện của Decker nên manh mối đó chẳng hỗ trợ được gì cho Lancaster.
“Tôi... tôi không -”
“Thôi bỏ đi,” chị bỗng nhiên nói. “Anh lúc nào chả hành động như vậy hồi chúng ta chính thức làm việc với nhau.”
“Tôi có làm vậy á?”
“Tôi nghĩ đó chỉ là cái tật của anh. Mặc dù với một người có trí nhớ siêu phàm như anh thì tôi nghĩ anh phải nhớ chứ. Ít nhất đối với tôi là vậy.”
“Tôi cảm thấy mình vẫn chưa hoàn toàn ổn định, chị Mary.”
Cảm giác bực bội trong chị có vẻ như lại tăng lên. “Không, tôi nghĩ anh đang dần dần lấy lại được phong độ rồi. Tôi biết anh sẽ lấy lại được. Quan trọng là chỗ đó.”
“Có vẻ như chị không cần tôi xử lý vụ án này. Chị có bao nhiêu nguồn lực thế mà.”
“Điểm quan trọng là, Amos.” Chị cúi đầu xuống nhìn một lúc, miện vẫn nhai kẹo cao su. Sau đó chị liếc qua nhìn anh và nói, “Sự thật là tôi nhớ được làm việc cùng với anh. Tôi nghĩ hai ta là một đội ăn ý.”
Decker chỉ gật đầu, không nói gì.
Khoảnh khắc sâu lắng đó trôi qua, rõ ràng Lancaster nhận ra anh sẽ không định nói thêm lời nào đối với lời thú nhận kia. Chị lên tiếng, “Nhưng có điều tôi vẫn chưa hiểu, nếu hắn ta ở trong này, làm sao máy quay lại ghi lại hình ảnh hắn xuất hiện ở lối cửa sau trường được? Nghe không hợp lý.”
Decker đẩy người ra khỏi tường. “Tôi sẽ dựng lại cho chị xem.”
Anh dẫn chị ra phía sau của ngôi trường và chỉ lên chiếc máy quay đã ghi lại hình ảnh của gã cầm súng. “Kiểm tra góc này xem.”
Chị nhìn chằm chằm lên ống kính. “Được rồi.”
Tiếp tục men theo phía sau của khu vực phía sau trường, Decker xoay người một vòng sao cho lưng của anh hướng về lối cửa phía sau. Sau đó anh bước chân sang bên trái. “Đây chính là vị trí mà máy quay đã ghi lại hình ảnh. Tôi có thể nhìn thấy nó trên máy tính. Cánh cửa ở giữa phía sau tôi là cái duy nhất xuất hiện trong khung hình.”
“Chắc là gã xả súng có thể hành động như anh vừa làm? Bước vào từ phía bên cạnh, sau đó bị máy quay ghi hình lại.”
“Và làm ra vẻ rằng hắn ta bước vào từ lối cửa sau trong khi thực tế là không phải thế.”
“Tôi không biết tại sao máy quay lại được đặt chĩa vào góc như thế nhỉ?”
“Chắc là nó đã bị dịch chuyển.”
Decker tiến lại gần chiếc máy quay, vươn thẳng cánh tay lên và chạm vào nó. “Tôi có chạm được nhưng đó là do tôi cao. Nếu có người nào thấp hơn sử dụng cây que, cây chổi hoặc vật dụng tương tự cũng có thể đổi hướng góc máy quay. Chắc chắn không ai sẽ nhận ra. Không phải lúc nào cũng có người giám sát hệ thống máy quay liên tục phải không?”
“Chết tiệt, vụ này càng lúc càng thấy phức tạp.”
“Không, nó càng ngày càng giống đã được lên kế hoạch trước, Mary.”
“Anh có muốn đi ra ngoài và hút một điếu với tôi không?” chị hỏi.
Anh nhìn chị vẻ khôi hài. “Tôi không hút thuốc.”
“Tôi cứ nghĩ vụ này sẽ khiến anh muốn hút đấy.”
“Tôi có thể phát phì hoặc tôi có thể nghiện hút thuốc. Tôi chỉ cần dính một trong hai thứ thôi là đủ rồi.”
Họ quay trở lại phòng căn tin.
Vừa vào đến nơi, Lancaster đã bóc ngay một thanh kẹo cao su cho vào miệng nhai. “Đội trưởng Miller đã thêm anh vào danh sách được chia phần.”
Decker nhìn chị. “Danh sách chia phần nào?”
Chị chỉ vào căn phòng mà họ đang đứng. “Nhờ tìm ra chỗ này, Decker. Ôi Chúa ơi. Người thông minh như anh mà cũng có lúc chậm hiểu thế sao.”
“Tôi hiểu, hiểu rồi, nhưng thế thì đã là gì? Còn chưa thật sự là một manh mối dẫn đến gã bắn súng.”
“Hắn ta ẩn náu ở trong kho lạnh, nhiệt độ trong đó được chỉnh tăng lên. Có vẻ như hắn đã giấu vũ khí và có thể bộ đồ ngụy trang ở trên trần nhà nữa. Tức là hắn đã ở đây, lý giải tại sao không ai nhìn thấy hắn bước vào.”
“Nhưng chị đã tìm thấy dấu vết khác chưa?”
“Vết dầu máy ở trên thanh giá đỡ trần nổi. Có thể từ khẩu súng. Sợi chỉ anh tìm thấy nữa. Giống chất vải sùng cho quần áo ngụy trang. Đội FBI đang xác định. Thế là có gì rồi.”
Anh rút hai tay từ trong túi áo ra, giơ ngón tay cái và ngón trỏ lên, cách nhau một đoạn nhỏ. “Tôi mới tìm ra có ngần này thôi. Chẳng có gì đáng ăn mừng cả.”
“Chậc, nhiều hơn những gì chúng tôi đã tìm ra.”
“Tôi có nhìn thấy bảng điều khiển. Hệ thống an ninh ở đây bật vào lúc mấy giờ nhỉ?”
“Bình thường là mười giờ tối. Nhưng hôm qua có sự kiện. Một vở kịch diễn ra muộn. Rất nhiều người đã có mặt. Thế nên hệ thống không được bật cho đến lúc nửa đêm, để mọi người có thể ra ngoài tòa nhà.”
“Không có hoạt động nào hiển thị trên nhật kí báo động à?”
Chị lắc đầu. “Không có gì. Việc đầu tiên mà chúng tôi đã làm là kiểm tra với công ty giám sát. Nhật kí ghi lại báo động trắng trơn.”
“Vậy là kẻ xả súng phải xâm nhập vào trong trường trước nửa đêm. Liệu vở kịch này có liên quan gì đến số đồ ăn thức uống mới ở trong phòng căn tin không?”
“Không. Một người bạn của tôi đã đến đây vì con của cô ấy cũng học trường này. Cô ấy nói mọi người rời đi ngay sau khi vở kịch vừa kết thúc.”
“Vậy là hắn ta đã đến trong khung giờ trống trước khi hệ thống báo động được bật lên và chui vào cái ổ ẩn náu.”
“Thế tại sao lại cất súng lên trần nhà, Amos? Tại sao không cầm chúng theo người vào trong kho lạnh luôn?”
“Đấy là chị đang nghĩ hắn bước vào với hai khẩu súng, sau đó tìm đến chỗ trốn. Giả sử hắn mang vũ khí đến và giấu chúng đi vào một thời điểm khác thì sao? Nếu thế thì không thể giấu trong kho lạnh. Sẽ có người phát hiện ra chúng. Thế nên giấu trên trần nhà là hợp lý. Đấy là nếu như hắn ta đã thực sự giấu hai khẩu súng trên đó.”
Chị vẫn lắc đầu ngang bướng. “Tại sao không làm mọi thứ cùng một lúc? Mang súng đến và giấu đi là hành động khá rủi ro. Sau đó lại còn phải lén lút đi vào và trốn trong kho lạnh? Càng làm tăng rủi ro bị người khác trông thấy.”
“Đồng ý với chị. Nhưng nếu mọi chuyện đã diễn ra như ta vừa nói thì phải có một lời lý giải. Gã này để lại cho tôi một ấn tượng là người thận trọng và có tính toán.”
“Tôi cũng thấy thế,” Lancaster nói.
Decker tiếp tục suy xét lại mọi thứ, có vẻ như đang tự nói chuyện với bản thân. “Đầu tiên là giấu súng và đồ ngụy trang. Sau đó là tên xả súng vào chỗ nấp. Có lẽ là hắn đã đến tham gia buổi kịch của trường cùng với những người khác. Hoặc giả vờ tham dự. Khu hội trường chỉ cách khu căn tin có một dãy hành lang chính. Bước vào từ cổng chính, rẽ trái vào khu hội trường. Có thể gã này đã lạng lách sang bên phải để đến khu căn tin. Hoặc nếu mọi người đến từ cửa sau từ bãi đỗ xe ngoài kia, thì ngược lại, rẽ trái vào căn tin, rẽ phải vào hội trường. Hắn đã thức trắng đêm và bắt đầu trút cơn thịnh nộ vào sáng hôm sau. Vậy nên bây giờ chị cần kiểm tra xem có ai nhìn thấy người mà họ không nhận ra nhưng có mặt ở trường tối qua không.” Anh bỗng dừng nói. “Nhưng vẫn còn một nút thắt cũ chưa gỡ được.”
“Gì thế?” Lancaster hỏi khi chị lại ném một thanh kẹo cao su nữa vào miệng sau khi đã nhét miếng cũ vào trong giấy ăn và vứt nó vào thùng rác.
“Nếu theo giả thuyết của chị, Debbie Watson là nạn nhân đầu tiên, cô học sinh đó có mặt trên hành lang bên cạnh cửa ra vào đằng sau. Thế tức là nếu gã đó đang trốn trong kho lạnh qua đêm, hắn ta sẽ phải vào sảnh chính, đi qua hai hành lang ở hai bên, đi qua các lớp học và có lẽ băng qua cả vài người nữa, để hạ gục nạn nhân đầu tiên là Watson và sau đó di chuyển xuống cuối hành lang khác để bắn giáo viên thể dục Kramer. Sau đó hắn đi ngược đường lại và bắt đầu tàn sát các nạn nhân khi hắn di chuyển về phía cổng trước ngôi trường.” Decker nhìn chị với vẻ hoài nghi. “Nghe có vẻ không hợp lý chút nào. Tại sao không bắt đầu nổ súng từ nửa trước ngôi trường, sau đó đi về phía sau? Đồng nghĩa với việc Watson sẽ là một trong các nạn nhân cuối, chứ không phải đầu tiên.”
“Nhưng mốc thời gian trên đoạn ghi hình thì sao?”
“Đấy mới là nút thắt thực sự trong toàn bộ vụ này. Chính đoạn ghi hình đó nói rằng hắn ta thực sự bắt đầu xả súng từ phía sau ngôi trường. Hắn muốn chúng ta nhìn thấy hắn trên máy quay là có lý do. Hiện tại chúng ta đã biết hắn có thể đã lẩn trốn ở trong căn tin, thì đoạn băng ghi hình đó trông giống như là thứ dùng để đánh lạc hướng. Đồng nghĩa với việc chúng ta đã có một điểm đã được chứng minh - mốc thời gian trên máy quay, và một điểm gần chứng minh trọn vẹn - gã xả súng đã trốn trong căn tin. Nếu cả hai điểm này đều đúng thì toàn bộ mạch lạc của vụ này đều không hợp lý. Như thể nói rằng Mặt trời mọc đằng Tây vậy.”
“Tôi bắt đầu không theo kịp ý anh rồi, Amos.”
“Chị có sơ đồ thiết kế bên trong trường học có đánh dấu thứ tự bắn không?”
Chị gật đầu.
“Để cùng xem kĩ nào. Bởi vì rất có thể gã này thực ra làm ngược lại theo thứ tự chúng ta đã suy đoán.”
“Nhưng nếu đúng như những gì anh phát hiện ra, và thực sự hắn đã đi từ đằng trước ra đằng sau trường, rồi lại vòng ra trước cổng trường, hắn sẽ tìm đường thoát thân qua khu vực nhà kho ở trong căn tin và sah đó đi qua lối mòn dẫn vào rừng. Đó là lối vào dễ dàng nhất. Các chi tiết đều ăn khớp với nhau.”
Decker hít một hơi sâu rồi thở ra, và nhìn chằm chằm lên trần nhà.
“Có thể thằng khốn nạn đó muốn chúng ta suy nghĩ như vậy.”
 
 
 
 
 
 
CHƯƠNG 16
 
Với sự tự tin tăng dần về khả năng điều tra của bản thân, Decker dành thêm cả giờ đồng hồ xem đi xem lại các ghi chép ban đầu của vụ nổ súng. Những dữ liệu được dựa trên tường thuật của các nhân chứng mà Decker biết là không thực sự đáng tin cậy; các bằng chứng pháp y, những thứ mà anh biết không phải hoàn toàn không có lỗ hổng như được miêu tả trên tivi; còn linh cảm là thứ giản đơn và chẳng có gì hơn; và cuối cùng, khả năng suy luận hợp lý có lẽ là thứ có tính chính xác và hữu ích nhất trong một công cuộc điều tra.
Lancaster rời mắt khỏi màn hình laptop và quan sát anh.
“Thế nào, anh nghĩ sao?”
Decker lơ đễnh vuốt ve bộ râu đã được tỉa ngắn, bụng anh sôi ùng ục. Lúc này ngoài trời đã sáng. Và khoảng thời gian từ bữa ăn gần nhất cho tới giờ cũng đã khá lâu rồi. Bỏ ăn vài bữa với anh không sao hết. Thật ra một vài trăm bữa cũng được. Anh giống như một con gấu Bắc cực. Anh có thể sống sót qua cả mùa đông nhờ lớp mỡ dự trữ.
“Điểm thứ nhất. Tôi nghĩ hắn từ căn tin đi ra.”
“Ok.”
“Điểm thứ hai. Tôi nghĩ Debbie Watson là nạn nhân thứ nhất.”
“Vậy là chúng ta đã quay lại đúng điểm còn đang tắc. Mặt trời mọc đằng Tây. Làm thế nào để một gã cao to mặc đồ rằn ri, đội mũ và khiên che mặt có thể đi lại khắp ngôi trường, mang theo vũ khí mà hoàn toàn không có một ai nhìn thấy gù? Và rồi sau đó hắn đã đi đâu? Hắn không thể cứ biến mất như thế được.”
“Chẳng lẽ không thể có hai tay súng sao?” anh nói. “Một từ kho lạnh đi ra và một từ phía sau đi vào?”
Chị lắc đầu. “Không thể nào. Chỉ có duy nhất một tay súng thôi. Các mô tả giống hệt nhau. Trừ phi anh nghĩ có hai kẻ dáng hình tương tự nhau cùng thực hiện việc này.”
“Được rồi, một tay súng. Khẩu súng lục thì dễ giấu. Còn súng hoa cải có thể được xếp gọn trong ống quần.”
“Nhưng còn trang phục của hắn. Đeo khiên che mặt thì sao?”
Decker suy nghĩ thêm một lát về câu hỏi này. “Có ai nói hắn mặc sẵn những thứ đó trong căn tin đâu?”
“Chúng tôi tìm được sợi vải trên trần nhà.”
“Vẫn không có nghĩa là hắn mặc tất cả những thứ đó trong căn tin rồi bước ra.”
“Vậy là hắn mang bộ quần áo theo mình đi dọc hành lang sao? Bỏ vào đâu chứ? Và còn hai khẩu súng nữa? Nếu vậy hẳn phải mang vác đồ đạc lỉnh kỉnh lắm và mọi người đáng lẽ đã phải chú ý đến hắn ta. Đặc biệt nếu hắn là người lạ. Và tiếp nữa hắn đã thay đồ ở đâu?”
“Cô có chắc không một người nào được nhìn thấy đi lại dọc các hành lang vào thời điểm đó không?”
“Có.”
“Không một ai? Thật sao? Tại một ngôi trường đông đúc ư?”
“Tất cả mọi người đều ở trong lớp học, cả học sinh và giáo viên. Nhân viên giáo vụ thì bận làm việc. Hầu hết mọi người vừa mới ngồi xuống bàn làm việc. Thầy giáo thể dục đang ở phòng làm việc của mình khi bị bắn. Trên bàn làm việc của anh ta có một chiếc bánh Egg Mcmuffin ăn dở và một ly cà phê gần như còn nguyên. Nhân viên vệ sinh thì ở các khu vực mà họ phụ trách, làm các công việc theo thời gian biểu trong ngày.”
“Nhưng nếu không ai có mặt trong các hành lang, sẽ không có người nào nhìn thấy một người lạ đang lang thang.” Nhưng rồi sau đó Decker ngay lập tức đổi lại những gì mới nói. “Chỉ có điều tất cả các cánh cửa đều có ô cửa kính. Hắn chắc hẳn đã phải đi ngang vô số những ô cửa như thế.”
“Chính xác,” Lancaster đồng tình.
“Không có khách viếng thăm sao?”
“Không có khách nào trong nhật kí ra vào và cũng không ai nhớ là có khách cả. Nhưng điều đó không có nghĩa là sẽ không có kẻ lẻn vào. Luôn luôn có khả năng đó. Và giống như anh nói, có thể hắn đã lẻn vào từ đêm hôm trước trong thời gian diễn ra vở kịch. Khi đó trường mở cửa tự do.”
“Nhưng tại sao gã đó lại trốn trong kho lạnh?” Decker nói. “Buổi tối trường này có bảo vệ không?”
Lancaster lắc đầu. “Không, nhưng nếu hắn lẻn vào trong khoảng thời gian vở kịch diễn ra, hắn sẽ không muốn để bị ai nhìn thấy. Hắn không thể biết chắc chắn sẽ không có một người nào, vì lí do nào đó, đi vào căn tin tối hôm ấy.”
“Được rồi, có lí đấy. Chuyển sang Debbie Watson đi. Cô bé khi ấy đang đi tới phòng y tế à?”
Lancaster gật đầu. “Phải. Có vẻ như cô bé đã dừng lại, để lấy gì đó từ trong tủ đựng đồ. Nó ở ngay gần nơi cô bé được tìm thấy. Cửa tủ vẫn để mở.”
“Và phòng y tế nằm trong khu vực văn phòng?”
Lancaster lại gật đầu. “Cô bé chắc hẳn đã phải đi dọc theo hành lang chính từ phía sau ra phía trước.”
“Cô bé rời lớp nào để đi tới phòng y tế?”
“Lớp toán. Phòng 144.”
“Cùng hành lang với phòng để thiết bị vệ sinh à?”
“Đúng thế,” Lancaster nói. “Tại đó có chỗ giao nhận hàng. Và do đó có lối thoát.”
“Vậy là nếu đúng như chúng ta đoán là gã đó tiến vào qua căn tin, lộ trình của hắn sẽ là như sau: Hắn đi từ phía trước ra phía sau cửa ngôi trường ở tầng một. Tôi đoán tầng hai và ba không có gì?”
“Tất nhiên, chúng tôi đã lục soát cả hai tầng này. Nhưng tỉ lệ đăng kí nhập học ở trường Mansfield theo thời gian đã dần dần giảm đi. Số học sinh chỉ vừa đủ để lấp đầy tầng thứ nhất và chỉ có thế thôi. Họ thậm chí còn rất khó khăn mới tìm được đủ người cho đầy đội bóng bầu dục của trường. Các tầng trên được dùng làm kho chứa và mấy thứ linh tinh. Và hai tầng này được khóa kĩ và rào chắn cẩn thận. Và khóa với rào vẫn còn chắc nguyên khi chúng tôi tới kiểm tra, không có dấu hiệu xáo trộn nào hết.”
“Vậy là vì lí do nào đó hắn không nổ súng cho tới khi tới được cổng sau của ngôi trường. Sau đó hắn bắt đầu bắn người, đi dọc các hành lang, đi vào lớp học, bắn giết trên đường đi. Hắn đi tới văn phòng ở phía trước, giết chết trợ lí hiệu trưởng. Và sau đó hắn trốn thoát qua cửa nhập hàng ở căn tin và đi theo con đường đất để vào rừng. Có khả năng xảy ra như thế không nhỉ?”
“Ý của anh là tại sao hắn không bắt đầu nổ súng khi tiến vào cổng trước luôn đi, sau đó ra tay dọc đường trở lại cổng sau, và trốn thoát từ đó?”
Decker chăm chú quan sát trần nhà. “Hãy tạm bỏ qua phương thức sang bên và thử xem xét động cơ đi nào. Trường Mansfield thực sự là tồn tại một vài chuyện bạo lực. Các băng nhóm, buôn bán ma túy, hành hung. Trẻ con đang lớn ngày một nhanh hơn.”
“Không có gì để tranh cãi.”
“Vậy vụ này giống vụ xả súng ở trường Columbine sao? Một đứa trẻ mang hận thù trong lòng? Có thể thậm chí không phải là học sinh trong trường. Hoặc từ trường khác hoặc đã tốt nghiệp, hoặc bỏ học giữa chừng.”
Lancaster nói, “Chúng tôi đang tổng hợp một cơ sở dữ liệu với tất cả các thông tin đó. FBI đang giúp sức.”
“Khi nào thì họ cho được câu trả lời?”
Lancaster dụi mắt và xem đồng hồ. “Tôi không chắc. Nghe này, tôi phải về nhà, chợp mắt một tiếng và thay quần áo. Và tôi cần đỡ cho Earl nghỉ ngơi một chút. Dạo gần đây Sandy ngủ không ngon lắm.”
Decker biết Sandy Lancaster là một đứa trẻ ngoan ngoãn, vui vẻ, hoạt bát và hăng hái cuồng nhiệt với mọi thứ và mọi người. Nhưng anh biết cô bé cũng có thể trở nên phiền muộn và bồn chồn trước một thứ gì đó khá nhỏ nhặt. Và khi đó cô bé sẽ không thể ngủ được. Điều đó có nghĩa là tất cả mọi người trong gia đình Lancaster cũng không thể.”
“Cô cần giúp gì không?” Decker hỏi.
Chị trông có vẻ ngạc nhiên. “Anh đang đề nghị trông trẻ hộ sao?”
“Tôi không biết. Tôi chỉ... hỏi thôi,” anh lúng túng nói hết câu. Anh chưa bao giờ làm được gì nhiều cho Molly khi con bé nhỏ tí xíu. Anh quá to lớn còn con bé thì quá bé bỏng, anh đã sợ mình có thể làm con bé bị thương.
Chị mỉm cười. “Tôi xử lí được, Amos ạ. Nhưng cảm ơn anh. Cuối buổi sáng hôm nay tôi sẽ quay lại đồn. Chúng ta có thể cùng uống cà phê và dò lại các chi tiết một lượt. Anh có cần đi nhờ xe về nhà trọ không?”
“Không, tôi sẽ ở lại đây một lát.”
“Tùy anh nhé. Nếu muốn nói chuyện, về bất kì việc gì, hãy gọi cho tôi.”
Chị thu dọn đồ đạc và chuẩn bị rời đi. Nhưng chị dừng lại và nhìn anh. “Thực sự cảm giác giống như ngày xưa ấy.”
Decker không nói gì, mà chỉ gật đầu nhẹ với chị, làm chị nở một nụ cười. Chị quay người và rời đi.
Anh ngồi trên chiếc ghế trong thư viện. Anh hiện tại dành nhiều thời gian ở nơi này hơn hẳn quãng thời gian bốn năm làm học trò. Không phải là bởi việc học hành ở trường dễ dàng đối với anh; không hề. Mà bởi vì anh không phải là kiểu người có thể ngồi im và đọc sách. Nhưng điều đó đã thay đổi. Anh giờ đây đọc ngấu nghiến một lượng thông tin đồ sộ. Giờ đây anh có thể ghi nhớ tất cả, đọc bao nhiêu dường như với anh vẫn là chưa đủ. Anh tự hỏi, liệu bộ não của mình có một giới hạn tiếp nhận không. Nếu có, anh hi vọng nó lớn như thân hình anh ấy.
Anh nhìn theo mấy nhân viên FBI đang làm việc ở bàn đối diện với khu vực chính của thư viện. Tất cả họ đều trông gọn gàng, có phần trẻ trung, phong thái chuyên nghiệp không gì bì được, áo sơ mi ủi phẳng lì, những chiếc cà vạt chắc chắn thẳng băng như sống lưng của họ. Một vài người thi thoảng lại ngước lên nhìn anh, chắc hẳn đang tự hỏi cái gã lập dị to béo ăn mặc như một kẻ vô gia cư kia đang làm gì giữa công cuộc điều tra của họ.
Ờ, ít ra thì mình đã tỉa râu và cắt tóc. Nếu không khéo họ đã bắt mình vì trông chẳng khác gì gã tội phạm Charlie Manson phiên bản đít to.
Và rồi khoảnh khắc sau đó, anh quên hết tất cả về nhóm đặc vụ FBI. Thật ra tâm trí của anh không còn ở trong thư viện của trường Mansfield nữa. Anh không còn theo dõi vụ xả súng ở đây nữa. Anh nhớ về điều mà Lancaster đã nói.
Cuối buổi sáng hôm nay tôi sẽ quay lại đồn. Chúng ta có thể cùng uống cà phê và dò lại các chi tiết một lượt.
Decker sẽ không có mặt ở đồn cuối buổi sáng hôm nay. Anh cần đến một chỗ khác.
Mình có một cuộc hẹn.
 
☆☆☆
Hình ảnh của Sebastian Leopold rõ mồn một trong suy nghĩ của Decker. Anh quay ngược trở lại từng giây trong cuộc nói chuyện với hắn. Từng từ, từng ánh nhìn, từng cử chỉ động tác. Có thứ gì đó cảm giác không bình thường, nhưng anh vẫn chưa nhận ra là thứ gì, trong khi bình thường gần như anh luôn luôn có thể nhìn thấy ngay. Nhưng chi tiết “mồ côi”, anh thích gọi chúng như vậy. Không được ai thừa nhận bởi chúng là những lời nói dối.
Ấy thế nhưng vì một lí do nào đó thì Leopold lại dám thừa nhận những chi tiết trong vụ án. Đó là một điều đáng quan ngại nhưng cũng đem lại hi vọng. Đem lại hi vọng là sao ư? Đơn giản đó là sự tồn tại của Leopold. Trước đó, Decker chẳng có gì để bước tiếp. Giờ đây, với sự xuất hiện của một tên tù nhân, có một lớp thông tin đã được bóc tách một phần. Và khi việc đó xảy ra, nó chắc chắn sẽ giúp tiết lộ những gì được ẩn giấu bên dưới.
Anh rời khỏi thư viện và đi ra ngoài.
Trời vẫn đang mưa. Và còn mưa nặng hạt hơn. Xe chở thi thể đã rời đi cả, và cùng với đó đám đông cũng đã giải tán. Không còn những ngọn nến từ điện thoại di động nữa. Nhưng ở phía trước ngôi trường là một núi hoa, những dòng biểu ngữ vẽ tay, gấu bông.
Tất cả đều ngấm mưa và sũng nước. Nhưng ý nghĩa đằng sau chúng thì vẫn rõ ràng. Vẫn tràn đầy sức mạnh.
Anh đọc một vài bức biểu ngữ.
Yên nghỉ nhé thầy Kramer.
Nhớ cậu, Debbie ạ.
Sẽ không bao giờ quên cậu đâu, Eddie.
Mặc dù chưa chính thức công bố tên của bất kì nạn nhân nào, người trong thành phố biết ai đã mất vì một lí do rất đơn giản: Những người này không trở về nhà.
Là gã mặc đồ rằn ri đã gây ra sự tình này. Gã mặc đồ rằn ri không lộ mặt và có khả năng bay qua những hành lang dài trong ngôi trường mà không tốn chút sức lực nào. Bởi vì chắc chắn đó là những gì mà hắn đã làm, đã biến một nơi thành địa điểm bắn giết với “Nhớ cậu, Debbie.”
Decker quay lại chỗ khán đài và ngồi ở đó dưới một mái che cho khỏi ướt, mặc dù người anh đã ướt sũng gần hết.
Chỉ vài giờ nữa thôi Sebastian Leopold sẽ bị khởi tố. Decker dự định sẽ có mặt tại đó. Các buổi đọc cáo trạng khởi tố thông thường khá nhàm chán và là một bước thủ tục theo luật. Thế nhưng có một mẫu thông tin mà Decker muốn nhìn thấy tận mắt.
Anh ngồi đó thêm vài phút nữa, sau đó, khi mưa đã ngớt hơn, anh đứng dậy và đi bộ quay về Residence Inn. Mất một lúc kha khá, bởi vì anh không còn di chuyển nhanh như ngày xưa. Nhưng như thế lại cho anh có thời gian để suy nghĩ. Và anh tới nơi vừa kịp giờ ăn sáng. Anh nuốt gọn một nửa bữa buffet, chợp mắt trong chính xác một giờ đồng hồ, tắm táp, chải tóc, và mặc bộ đồ “luật sư” lên người, và đi tới tòa án để xem cho rành rõ Sebastian Leopold sẽ nói gì trước câu hỏi quan trọng nhất mà thẩm phán sẽ hỏi hắn ngày hôm nay.
 
 
 
 
CHƯƠNG 17
 
Thông thường, tòa án sẽ chật ních người trong một sự kiện như thế này. Một vụ sát hại ba người và có một gã tự đầu thú, xác nhận là do mình làm. Hai ngày trước, đó sẽ là câu chuyện nổi bật nhất ở Burlington, mà có thể là ở cả tiểu bang.
Nhưng sau vụ thảm sát ở trường Mansfield, chẳng còn ai quan tâm đến nữa.
Ừm, thật ra là có một người.
Decker biết tuần tự thủ tục, anh đã ra làm chứng trước tòa vô số lần theo quy trình để khởi tố những kẻ mà anh đã góp sức tóm cổ. Anh đi qua cửa an ninh, gật đầu chào một vài cảnh sát trưởng các hạt mà anh biết, và kiểm tra số phòng xử đăng trên cái bảng ở gần bàn thông tin. Sau đó anh đi tới phòng xử án, tại đây trong khoảng hai mươi phút nữa, Sebastian Leopold sẽ xuất hiện lần đầu tiên trước tòa kể từ khi hắn đi tới đồn cảnh sát và tự đầu thú.
Decker đẩy mở cánh cửa bằng gỗ sồi to nặng và ngồi xuống tại một vị trí chính giữa căn phòng lớn. Anh là người duy nhất có mặt ở đó. Không một chấp hành viên tòa án. Không một phóng viên. Không một luật sư. Báo chí đang bận quan tâm chuyện ở Mansfield rồi, anh nghĩ chừng. Một phần trong anh cũng muốn có mặt ở Mansfield hơn. Nhưng phần quan trọng nhất trong anh muốn bản thân có mặt ở ngay tại chính nơi này.
Một phút sau, luật sư bên nguyên, một người phụ nữ ngoài bốn mươi, bước vào trong phòng xét xử, đi ngang qua Decker và ngồi xuống vị trí của mình ở bàn luật sư. Decker biết Sheila Lynch, nhưng chị ta không nhìn anh. Chị ta mở cặp táp, lấy ra một tập hồ sơ và đọc nó. Decker nhìn chằm chằm vào phía sau gáy của chị ta, phần gáy để lộ bởi vì tóc đã được búi cao, gọn gàng, chuyên nghiệp. Chân váy và áo khoác của Lynch màu đen có vài vết bám bẩn. Phía sau chiếc giày bên phải của chị ta bị thủng một lỗ và đôi tất hơi sờn một chút ở chỗ mép giày chạm tất.
Năm mười phút sau, chính cánh cửa mà Decker đã đi vào lại bung mở một lần nữa. Anh ngoái nhìn ra sau. Lancaster vẫy nhẹ tay với anh. Sau lưng chị là Đội trưởng Miller. Hôm nay, ông đang mặc cảnh phục.
Họ ngồi xuống bên trái và bên phải của anh.
Lancaster nói, “Chẳng biết tôi đã nghĩ gì lúc bảo anh là tôi sẽ gặp anh ở đồn nữa. Tất nhiên anh sẽ phải đến đây chứ.”
“Sao hai người không ở trường Mansfield?” Decker hỏi.
Miller đáp, “Tôi đã đến đó rồi. Từ sáu giờ ba mươi sáng nay. Giờ thì chúng tôi ở đây. Sau vụ này, Lancaster sẽ quay lại trường còn tôi thì ngồi dính đít ở bàn làm việc, giải quyết mấy thứ khắm thối mà tôi không hề muốn đụng đến.”
“Chưa trả lời tại sao hai người lại ở đây,” Decker nói.
“Ờ, hình như là chưa trả lời thật.”
Decker tiếp tục tròn mắt nhìn Miller. “Tôi không mang súng đâu. Tôi đã đi qua cửa an ninh ở cổng vào rồi. Tôi không thể bắn hắn được đâu,”
“Chưa từng nghi ngờ anh dù chỉ một giây,” Miller vừa nói vừa vuốt phẳng một nếp nhăn trên chiếc áo khoác màu xanh thẫm của mình. “Nhưng đây là một vụ án quan trọng, và đó là lý do chúng tôi có mặt ở đây.”
“Các anh có truy được danh tính thật của Leopold không? Có phải hắn từng ở trong hải quân?”
“Chúng tôi đã gửi dấu vân tay tới cơ sở dữ liệu nhận dạng vân tay IAFIS của FBI. Không có kết quả nào.”
Decker nói, “Hắn bảo với tôi hắn từng ở hải quân. Hắn có vết xăm. Nhưng có khi hắn không phải ở hải quân cùa nước ta.”
“Người nước ngoài sao?” Miller nói bằng một giọng trầm ngâm. “Có khi là thế thật.”
“Anh có nghĩ Sebastian Leopold là tên thật của hắn không?” Lancaster hỏi.
“Trước thì không,” Decker trả lời. “Nhưng giờ thì tôi không chắc.”
“Ừm, chúng ta có thể yêu cầu Cục thực hiện điều tra quốc tế cho chúng ta,” Miller nói. “Họ có thể tìm kiếm các cơ sở dữ liệu ở nước ngoài dễ dàng hơn chúng ta.”
Mười giờ đúng, cánh cửa phía sau dẫn vào phòng làm việc của thẩm phán bật mở, và một chấp hành viên tòa án, một người đàn ông béo tốt với bộ ria cong vểnh, bước vào. Ông ta bảo mọi người đứng dậy, và cả bốn người làm theo. Decker nghe thấy tiếng cánh cửa kẽo kẹt đẩy mở, và anh quay lưng lại, nhìn thấy một người phụ nữ trẻ lao vào và chọn một chỗ ngồi ở phía sau. Một tay cô ta cầm một cuốn sổ ghi chép, và tay còn lại thì cầm một cái máy ghi âm nhỏ xíu.
Báo giới. Cả bên báo giới chỉ có đúng một người. Cô ta chắc hẳn là một người rất mới, Decker nghĩ. Nếu không cô ta đã bận đưa tin ở trường Mansfield rồi. Bộ não của anh lục tìm trong cái đống trí nhớ đầy ự trong đầu và rút ra một cái tên.
Alex Jamison.
Người phụ nữ đã gọi điện cho anh để hỏi han về Leopold. Cô ta làm việc cho tờ New Leader. Anh đã cúp máy không tiếp cô ta. Anh đã quay người lại trước khi cô ta có thể hướng sự tập trung vào anh.
Đúng lúc này, thẩm phán Christina Abernathy trong bộ áo choàng màu đen bước vào phòng xét xử. Ông thẩm phán già, đeo kính, yếu ớt, có mái tóc bạc, còn vài sợi, mọc lởm chởm khắp đầu trông như những sợi bông bị xù được dán vào một tờ giấy nến màu hồng giả làm da người. Hội cảnh sát vẫn thường cá cược với nhau chừng nào thì Abernathy sẽ chết gục trên ghế, ngã lộn nhào trên nền đá hoa cương. Decker còn nhớ, ông thẩm phán này chưa bao giờ để cảnh sát kết tội một ai đó một cách dễ dàng, nhưng có lẽ đúng ra thì nên như vậy, anh nghĩ.
Abernathy ngồi xuống ghế và họ cũng vậy.
Cánh cửa phía bên phải mở ra. Buồng tạm giam được đặt ở bên đó, Decker biết điều này.
Sebastian Leopold bước ra trong bộ áo liền quần màu cam sáng, hai tay và chân của hắn bị xích, cùng với hai cảnh sát mặc cảnh phục to cao lực lưỡng áp tải hai bên. Hắn có dáng điệu lê chân trong lúc bước đi do bị xích. Hắn nhìn xung quanh phòng xử án rộng với trần nhà cao như thể hắn chưa hoàn toàn nhận thức được mình đang ở đâu và đang làm gì ở đây.
Hắn được áp tải tới bàn luật sư, mặc dù chẳng có luật sư nào ở đó cả.
Decker ghé sát vào Miller. “Luật sư chỉ định đâu?”
Miller lắc đầu và mấp máy môi, “Rõ là không có.” Trông mặt ông có vẻ không hài lòng trước điều này. Rất không hài lòng.
Hai cảnh sát tháo còng và lùi ra sau.
Chấp hành viên tòa án đứng dậy, cầm một tờ phiếu ghi bản án lên, tóm tắt về vụ án và đọc cáo buộc mà Leopold đang phải đối mặt. Sau đó, khi nhiệm vụ đã hoàn thành, anh ta lùi ra sau với cử chỉ máy móc y như con chim cúc cu trong đồng hồ đang quay trở lại nơi ẩn nấp của mình.
Abernathy chỉnh kính ra nhìn xuống vị trí của luật sư bên nguyên.
“Cô Lynch?”
Lynch đứng dậy, chỉnh ống tay áo, và nói, “Trước hết, ông Leopold bị cáo buộc sát hại ba người, thưa Tòa. Ông ta không có địa chỉ nơi ở cụ thể, và dường như không có mối quan hệ giáo tiếp nào với cộng đồng. Do cáo buộc vô cùng nghiêm trọng, chúng tôi yêu cầu không cho phép tại ngoại và tạm giam nghi phạm ở nhà tù hạt cho tới khi xét xử.”
Ừm, Decker nghĩ trong đầu, tất cả đều đúng như dự đoán. Họ sẽ không thả cho gã này tự tung tự tác đâu.
Abernathy quay sang Leopold và nhìn xuống hắn ta từ cái ghế cao của mình. Rồi ông đánh mắt nhìn sang phía Lynch.
“Luật sư của ông Leopold đâu rồi hả cô Lynch?”
Lynch hắng giọng và nói, “Ông ta không đủ khả năng thuê luật sư và đã có một luật sư công được chỉ định để đại diện cho ông ta. Tuy nhiên, ông Leopold đã từ chối sử dụng các dịch vụ này. Rất nhiều lần, tôi xin nói thêm là như vậy.”
Ánh mắt của Abernathy lại hướng sang phía bị cáo. “Ông Leopold, ông có hiểu các cáo buộc vừa được đọc cho ông nghe không?”
Leopold nhìn xung quanh như thể hắn thắc mắc Abernathy đang nói chuyện với ai thế nhỉ.
“Ông Leopold, ông không muốn có luật sư tư vấn pháp lý sao?” Abernathy hỏi rất rõ ràng.
Leopold quay mặt hướng về phía ông, lắc đầu và nói, “Tôi không có tiền.”
“Đó là lý do chúng tôi chỉ định các luật sư bào chữa công, ông Leopold ạ,” Abernathy cáu kỉnh nói, “Họ đâu có mất phí. Ông có thể cảm ơn Tòa án tối cao đã diễn giải Hiến pháp để có được điều này. Tạm thời tôi sẽ dừng buổi tuyên đọc cáo trạng này lại sau cho tới khi có một ai đó -”
“Là tôi đã làm thưa ông,” Leopold ngắt lời, nói.
Abernathy nhìn chằm chằm xuống hắn ta như thể gã bị cáo là một con bọ yếu đuối đang nằm trên vỉa hè. “Anh nói sao cơ?”
“Tôi đã làm chuyện đó, thế nên tôi không cần luật sư.”
“Có phải anh đang nói với tôi là anh đang nhận tội sát hại ba người ở mức độ cao nhất?”
“Tôi đã giết họ, thế nên vâng thưa ông, tôi đoán là tôi đang nhận tội.”
Abernathy dừng một lát để lau sạch cặp kính, như thể làm thế sẽ khiến cho những gì đang diễn ra sẽ rõ ràng hơn một chút. Sau khi đặt lại cặp kính lên cái mũi khoằm dài của mình, ông nói, “Giờ không phải là lúc để đoán đâu, ông Leopold ạ. Đây là cáo buộc hết sức nghiêm trọng, nói đúng ra là nghiêm trọng nhất trong tất cả. Ông có nhận thức được rằng ông đang đánh cược không chỉ sự tự do, mà còn có thể là tính mạn của mình không? Đây sẽ là một vụ có thể sẽ lĩnh mức án cao nhất.”
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
“Ý ông là án tử hình à?”
Abernathy trông như muốn đột quỵ đến nơi. “Đúng. Tất nhiên ý tôi là đúng là như thế, ông Leopold ạ!”
“Ừm, tôi đang nhận tội bởi vì tôi đã phạm tội. Thế nên tôi đoán chúng ta không cần xét xử gì đâu.”
Abernathy quay sang nhìn Lynch và nói bằng một giọng khiển trách, “Cô Lynch, tôi cảm thấy việc này thật đáng trách.”
“Thưa thẩm phán Abernathy, chúng tôi đã cố gắng hết sức. Ông Leopold từ chối tất cả dù chúng tôi khẩn khoản nài xin ông ấy -”
Abernathy nhìn vượt qua vai Lynch và trông thấy Miller. Giơ tay vẫy chầm chậm, ông ra hiệu cho vị cảnh sát trưởng tiến lên phía trước.
“Chết tiệt,” Miller lẩm bẩm.
Ông đứng dậy, đi trước mặt Decker và Lancaster và vội vã tiến lên hàng ghế cùng với Lynch.
Decker nhìn theo vị đội trưởng cảnh sát, luật sư bên nguyên và thẩm phán tham gia vào một cuộc tranh luận nảy lửa. Ừm, thực ra hì người nói nhiều nhất là Abernathy. Vị thẩm phán có vẻ khá là năng nổ, và hai lần khoa chân múa tay chỉ về phía Leopold.
Miller gật đầu và nói gì đó. Lynch cũng có hành động tương tự và họ vội vã quay lại chỗ ngồi của mình, cả hai trông đều có vẻ buồn bực.
Khi Decker nhìn ông với vẻ mặt thắc mắc, Miller lắc đầu và nói, “Để sau đi.”
Abernathy nói với Leopold, “Tôi yêu cầu tạm thời ông sẽ được đưa quay trở lại chỗ tạm giam. Sẽ có một luật sư công được chỉ định để đại diện cho ông. Sau đó ông sẽ quay trở lại tòa án này để nghe tuyên đọc cáo trạng vào sáng ngày mai.” Ông nhìn sang Lynch. “Và nhanh chóng làm xong đánh giá tâm lý, cô Lynch nhé. Rõ chưa nhỉ?” Chị ta gật đầu, ánh mắt của chị ta né tránh, không nhìn vị thâmt phán. Abernathy nói, “Cảnh sát, làm ơn đưa bị cáo đi.”
Ông gõ búa. Hai cảnh sát mặc cảnh phục ngay lập tức tiến lên trước, đeo còng cho Leopold lúc này vẻ mặt đang hết sức bối rồi, rồi dẫn hắn ra ngoài.
Abernathy nói với chấp hành viên tòa án, “Gọi vụ án tiếp theo đi. Và tôi tin rằng người này sẽ có luật sư.” Khi nói điều này, ông đánh mắt nhìn Lynch trước và tiếp đó đến Miller với vẻ mặt khinh miệt.
Decker, Lancaster và Miller đứng dậy và đi ra khi tù nhân thứ hai được dẫn vào để nghe đọc cáo trạng.
Cô phóng viên đã rời đi tự lúc nào.
Ở ngoài hành lang, Lynch cau có tiến đến chỗ Miller.
Chị ta nói, “Tôi không muốn bị vả vào mặt như thế này trước tòa đâu, Mac ạ.”
“Chúng ta không thể ép buộc hắn ta chấp nhận một luật sư được, Sheila ạ. Cô cũng là người trong cuộc. Cô biết mà.”
“Hừm, hắn sẽ phải chấp nhận có luật sư bất luận hắn có thích hay không, kể cả chỉ là để nhận tội.” Chị ta đưa mắt nhìn Lancaster và sau đó là Decker. “Xin chào Amos, thật tình tôi không bấy ngờ khi thấy anh có mặt ở đây.”
“Thật là không,” Decker đáp.
Lynch quay sang Miller. “Do Abernathy đã yêu cầu đánh giá tâm lý, tôi không dám chắc hắn có khả năng nhận bất kì một tội gì nếu kết quả đánh giá cho ra giống như những gì tôi nghĩ.”
“Ý cô là tâm thần không bình thường,” Lancaster nói.
“Cô đã gặp gã đó rồi. Cô có nghĩ hắn bình thường không?”
“Nhưng mười sáu tháng trước có khi hắn bình thường,” Decker nói.
“Cũng chẳng nghĩa lý gì nếu ngay bây giờ hắn không đủ năng lực pháp lý để ra tòa.”
Chị ta quay người và vội vã rời đi, chiếc cặp táp đập đồm độp vào người.
Decker quay sang Miller. “Sao nào?”
“Thì chúng tôi bị ông Abernathy sạc cho một trận. Ông ấy bực bội khi Leopold không có luật sư biện hộ và ông ấy đúng. Một vụ án khung tử hình mà lại không có luật sư ư? Bất cứ việc gì xảy ra ở cấp này đều sẽ tự động bị lật lại khi kháng cáo. Và Abernathy không thích bị tòa thượng thẩm lật ngược kết luận. Đó là lý do mà ông ấy chỉ trích mạnh nhưu vậy. Tôi ghĩ ông ta cho rằng chúng ta đang cài bẫy ông ta. Ai mà thèm làm vậy chứ.”
“Thế tại sao lại không có luật sư công được chỉ định?” Decker hỏi.
“Như Lynch đã nói đấy, Leopold không muốn. Hắn hoàn toàn bất hợp tác. Hắn cứ nói rằng là đã có tội nên cần đến luật sư làm gì. Chúng tôi đã quá bận với vụ Mansfield, nếu không chúng tôi đã tìm hướng giải quyết khác rồi. Về cơ bản, là chúng tôi đã sai ở điểm này.”
Decker đút hai tay vào túi quần và để cằm hạn xuống tựa vào ngực. “Vậy nếu chỉ định luật sư cho hắn, hắn quay lại, nhận tội, và sau đó thì sao nữa?”
“Ừm, hi vọng là luật sư sẽ thuyết phục hắn không nhận tội, làm như thế trông sẽ ổn hơn. Chúng ta có thể thử thỏa thuận và xem kết quả thế nào. Nhưng chúng ta cũng phải chờ xem kết quả đánh giá tâm lý nói gì. Nếu hắn không đủ năng lực ra tòa thì coi như đổ bể hết.”
“Và nếu hắn ta không có tội thì sao?” Decker hỏi.
“Cậu nghĩ hắn có tội không?” Miller hỏi.
“Tôi gặp gã này có một lần. Tôi không thể nói chắc chắn được gì.”
“Ừm, dù sao thì tất cả những việc đó sẽ không xảy ra trong hôm nay. Thế nên chúng ta còn thời gian.” Miller liếc nhìn sang Lancaster. “Tốt hơn cô nên quay về chỗ Mansfield đi. Tôi nghe nói FBI đang cố tìm cách tiếp quản vụ đó đấy.”
“Và nếu họ muốn, chúng ta có cản được họ không?” Lancaster hỏi.
“Chúng ta sẽ không mặc kệ và để họ muốn làm gì thì làm, Mary ạ,” Miller nghiêm khắc nói. Ông nhìn Decker. “Anh có thể tiếp tục giúp chúng tôi vụ này không? Leopold thì sẽ ở nguyên đó. Còn thằng chó chết ở trường Mansfield, càng để lâu, chúng ta càng khó tìm ra được hắn.”
Mặt Decker rũ xuống. Câu trả lời đáng lẽ ra phải rất dễ dàng. Nhưng lần này thì không hề.
Miller chăm chú nhìn anh một lúc lâu. “Ừm, có gì báo tôi biết nhé.”
Ông quay người và bước đi, để Lancaster và Decker đứng lại trong sảnh. Quang cảnh tòa án đã bắt đầu nhộn nhịp hơn và các hành lang đang ngày một đông đúc hơn. Các bà mẹ gào khóc vì những cậu con trai vướng vào rắc rối. Các luật sư túm tụm với nhau như gà trong lồng. Các cảnh sát đến rồi đi, và đi qua đi lại quanh những người đã hoặc chuẩn bị vướng vào rắc rối.
Lancaster gay gắt nói, “Sao lại do dự thế? Tối qua anh mới nói rằng không để cho kẻ nổ súng thoát cơ mà.”
Decker không trả lời ngay tức thì. Anh đang nhìn theo người phóng viên đứng ở cạnh lối vào của tòa án. Rõ ràng là cô ta đang chờ anh.
“Amos?” Lancaster nói.
Anh liếc nhìn lại về phía người cộng sự cũ của mình. “Tôi sẽ có mặt ở trường cấp ba sau, trong hôm nay.”
“Thế có phải có nghĩa là anh vẫn tham gia?”
“Hôm nay, nhưng để sau,” Decker nói. Anh đi về phía cửa sau.
Cô phóng viên bắt kịp anh ở đoạn giữa hành lang.
“Anh Decker? Anh Decker?”
Kế hoạch ban đầu của Decker là cứ bước đi tiếp, nhưng người phụ nữ tỏ rõ ý là cô ta sẽ cứ thế mà đi theo anh, ra khỏi tòa án, đi xuống phố, và bám theo anh tới kiếp sau nếu cần thiết. Thế nên anh dừng lại ở cửa ra, quay người và cúi đầu nhìn cô ta. Bộ não của anh tự động thu thập các quan sát và đánh giá, chiết lọc chúng thành các nhóm suy luận.
Cô ta tuổi gần hai mươi, xxinh xắn, cao, thanh mảnh, và tóc nâu, với mái tóc cắt ngắn ngang tai. Hai tai không bấm lỗ kể cả chỉ để đeo khuyên. Anh nhìn thấy hình xăm là các chữ cái trên cổ tay trái mà cô ta đã xắn áo lên.
Iron Butterfly. Ồ, nhóm nhạc rock đó đã tái xuất sau khi cô gái này ra đời.
Đôi mắt màu xanh đục tương phản với nước da của cô ta. Một trong số răng cửa bị mẻ, móng tay bị cắt sát đến thịt, ngón tay trỏ bên phải của cô ta từng bị gãy, tuy đã liền nhưng không lành lặn lắm, thế nên nó hơi cong một chút ở chính giữa, và đôi mpoi của cô ta mỏng quá đỗi, lại nứt nẻ. Người cô ta không có mùi thuốc lá, rượu hay nước hoa.
Quần áo của cô ta không mới, cũng không quá sạch sẽ, nhưng hài hòa với dáng người cao, mảnh khảnh. Mặt trong ngón tay giữa bên phải của cô ta có một vết mực đen, đó là vị trí mà cô ta đặt bút. Vậy là không phải một kẻ chỉ biết đánh máy. Cô ta dùng mực.
Gương mặt cô ta sáng bừng nhiệt huyết tuyệt vời của tuổi trẻ và chưa bị cuộc đời làm cho vấy bẩn. Tuổi đó là quãng thời gian tuyệt đẹp trong cuộc đời của bất kỳ ai. Và đó là quãng đời cần thiết. Để có thể vượt qua những gì sắp tới trong những năm sau này.
Nếu tất cả chúng ta đều bắt đầu bước vào đời với nỗi hoài nghi về những điều tốt đẹp, thế giới này sẽ kinh tởm ra làm sao.
“Anh Decker? Tôi là Alex Jamison từ báo New Leader.”
“Cô thích bài In-A-Gadda-Da-Vida? Đó là bài hát bán chạy nhất của Butterfly. Ba mươi triệu bản và vẫn còn đang bán tiếp. Nằm trong top bốn mươi mọi thời đại.” Decker đã đọc được điều này trong một bài viết trên cuốn tạp chí Rolling Stone ba năm trước, trong lúc đang ăn một chiếc sandwich kẹp mức với bơ lạc và uống một ly cà phê tại một quán ăn ở trung tâm thành phố, trong lúc anh là nhân chứng của một vụ phá vỡ đường dây đột nhập ăn trộm mà anh và Lancaster đã tham gia. Nó nằm ở trang bốn mươi hai của cuốn tạp chí, góc dưới bên tay phải. Anh nhìn thấy trang tạp chí cùng bức ảnh đính kèm trong đầu rõ mồn một như thề đang xem qua một màn hình tivi độ phân giải cao. Lúc đầu, khả năng ghi nhớ toàn bộ này khiến anh sợ phát khiếp. Giờ thì với anh nó là một thứ tự nhiên như là việc nhai rồi nuốt.
Trông cô có vẻ bất ngờ trước câu hỏi đó cho tới khi cô ta đưa mắt liếc nhìn hình xăm. Cô ta ngẩng đầu nhìn anh, mỉm cười. “Là mẹ giới thiệu cho tôi âm nhạc của họ giai đoạn đầu. Sau này khi ban nhạc tái hợp lần gần đây nhất, tôi gần như là kiểu bị ám ảnh đấy. Ý tôi là, họ chơi với Jimmy Page và Zeppelin. Nhưng có rất nhiều chuyện bi kịch xảy ra với họ.”
Decker không đáp lại gì để tiếp câu chuyện này, bởi vì âm nhạc không phải là lý do mà cô ta có mặt ở đây, và anh còn cần đi việc khác nữa. Cô ta có vẻ hiểu ý khi thấy anh im lặng.
“Tôi đã cố gọi cho anh. Tôi không thích bám theo người khác tới tận tòa án,” cô ta nói với một chút dè chừng.
Decker tiếp tục nhìn cô ta chăm chăm. Xung quanh họ, mọi hoạt động ở tòa vẫn tiếp tục diễn ra, như đàn ông trong tổ, lãng quên hai kẻ không mời mà xâm phạm vào thế giới luật pháp hết sức lộ xộn của chúng.
“Sebastian Leopold không có luật sư biện hộ.”
“Đúng là thế,” Decker nói. “Nhưng sẽ có.”
“Anh nghĩ sao về tất cả những chuyện này?” Cô ta giơ máy ghi âm. “Anh không phiền chứ?”
“Tôi không có gì để nói cả.”
“Tôi dám chắc ngay lúc này anh đang rất không vui. Ý tôi là, gã đó không biết từ đâu xuất hiện và nhận tội. Chắc hẳn anh phải thấy rối như tơ vò.”
“Tôi chẳng thấy rối gì,” Decker nói. Anh quay người định rời đi.
“Nhưng chắc hẳn anh phải cảm thấy gì đó chứ. Và cảm giác khi đối mặt với Leopold trong đó thế nào? Chắc hẳn nó đã khiến cho anh nhớ lại mọi chuyện.”
Decker mặt đối mặt với cô ta. “Tôi không nhớ lại gì hết.”
Trông cô ta có vẻ sửng sốt. “Nhưng tôi nghĩ -”
“Bởi vì tôi chưa bao giờ quên đi mọi chuyện. Còn bây giờ, tôi còn có việc phải đi.”
Decker bước ra khỏi tòa án và Jamison không bám theo anh.
 
 
 
 
CHƯƠNG 18
 
Decker bắt chuyến xe bus ở cách tòa án một khu nhà và xuống xe ở cách nơi anh đang tới chừng một cây số. Khi đôi bàn chân to lớn đưa anh chạm xuống vỉa hè, màu xanh nước biền trong đầu anh dâng lên mãnh liệt cho đến khi dường như cả thế giới đang ngập chìm trong sắc màu đó. Kể cả mặt trời cũng dường như đã biến thành một quả việt quất xanh khổng lồ trương phình khủng khiếp, đến mức trông như thể nó có thể nổ tung bất kì lúc nào.
Nó khiến anh cảm thấy nôn nao, nhưng anh vẫn bước đi. Hơi thở của anh nặng nề hơn, và bước đi chậm dần. Anh thừa cân, nhưng đó không phải là lý do khiến anh trở nên như vậy. Mà là do thứ ở ngay phía trước mặt.
Khi anh rẽ vào góc phố và nhìn thấy căn nhà, anh dừng lại, nhưng chỉ một vài giây ngắn. Nếu không tăng tốc độ, anh biết anh sẽ quay người và bỏ chạy.
Ngôi nhà vẫn thuộc sở hữu của ngân hàng. Chẳng ai muốn chuyển vào, kể cả giá có giảm. Chết tiệt, có khi cho cũng chẳng ai thèm. Và có vô số những căn nhà bỏ trống ở Burlington. Khu này là nơi mà người ta muốn tránh xa, chứ không phải chuyển vào ở. Cửa trước của căn nhà đã được khóa, anh biết điều này. Cánh cửa bên cạnh nhà để xe và dẫn vào bếp vẫn luôn rất dễ cạy. Anh tự hỏi liệu có phải kẻ sát nhân đã vào trong nhà bằng đường đó. Leopold đã nói rằng hắn đã đi vào bằng cách đó, nếu lời hắn nói là đáng tin.
Anh đi qua cửa chính và mở cánh cửa rào mắt cáo dẫn vào sân sau. Màu xanh nước biển ban đầu chỉ giới hạn với các thi thể. Giờ đây toàn bộ khu đất và tất cả mọi thứ trong phạm vi một cây số của chúng đều có màu xanh. Anh gặp phải tình trạng này vào lần thứ ba quay trở lại căn nhà, và tiếp tục bị như thế kể từ đó trở đi. Anh chưa bao giờ có thể giải thích gãy gọn cho bất kì ai cảm giác sẽ như thế nào khi nhìn thấy thảm cỏ màu xanh da trời, cây cối màu xanh da trời, lớp ván gỗ ốp ngoài mà anh biết chắc được sơn màu vàng cũng mang lại cảm giác khác thường bởi vì tất cả các đám mây cũng đều mang màu sắc đó.
Anh nhìn cái cây ở phía sau và cái xích đu đung đưa treo trên cây. Anh đã tự tay treo nó, bởi vì Molly muốn có một cái xích đu. Khi cô bé còn nhỏ, Decker đã đẩy xích đu cho cô bé. Đôi khi anh đẩy xích đu có cả Cassie và Molly cùng ngồi trên. Đó là một cách giải trí giá rẻ cho một cặp đôi trẻ không có nhiều tiền.
Giờ đây sợi dây thừng treo xích đu đã mục, tấm ván gỗ dài mà Decker đã tạo hình thành một cái ghế ngồi đã bị cong và nứt vỡ. Ngân hàng có thuê người cắt cỏ, nhưng cỏ dại vẫn mọc đầy.
Anh quay sang nhìn vào phần phía sau của ngôi nhà. Cánh cửa phía sau dẫn vào một căn phòng nhỏ cất các đồ linh tinh. Có khi nào đó mới thật sự là nơi mà kẻ sát nhân tiến vào nhà?
Anh dễ dàng cạy mở cánh cửa này. Có vẻ như tất cả các ổ khóa trong căn nhà này chẳng có ổ nào có tác dụng, một lần nữa, đó là một điều khiến cho anh cảm thấy vô cùng tội lỗi. Là một cảnh sát nhưng chẳng thể đảm bảo an ninh cho chính căn nhà cùa mình ư?
Anh bước vào, đóng cánh cửa lại và nhìn xung quanh. Một đoạn cầu thang ngắn dẫn lên bếp. Nơi ông anh vợ của anh ngồi uống bia cho tới khi bị ai đó cứa cổ một đường từ tai này sang tai kia.
Anh bước lên các bậc cầu thang màu xanh và bước vào trong căn bếp cũng màu xanh nốt. Bên trong phủ đầy bụi và có xác một vài con côn trùng trên sàn nhà và trên các mặt bàn, mặc kệ. Anh nhìn vào một vị trí từng là nơi đặt bàn ăn. Đó là vị trí mà Johnny Sacks bị tấn công.
Máu đã được lau dọn từ lâu, nhưng Decker vẫn ghi nhớ vị trí của từng giọt máu. Giờ không còn màu đỏ nữa, tất cả là màu xanh da trời, giống như màu của máu nhìn thấy bên trong các tĩnh mạch ở dưới da, có điều sắc màu đó mạnh hơn gấp cả ngàn lần.
Anh đã đi vào căn phòng tiếp theo và đi lên tầng. Chính là cái cầu thang mà đêm hôm đó anh nhảy ba bậc một lần. Va nảy vào các bức tường, không hề quan tâm tới bất kì nào đến kẻ đã hãm hại gia đình anh có thể còn đang ở đây.
Giường và đệm đã được chuyển đi khỏi phòng ngủ. Bằng chứng. Chúng đang ở trong nhà kho được bảo vệ an ninh do cảnh sát Burlington lưu giữ. Có thể chúng sẽ ở đó vĩnh viễn.
Cho dù là thế, anh vẫn nhìn thấy rõ ràng bàn chân trần của cô ấy giơ cao vượt mặt giường. Anh đi ngang qua căn phòng và cúi đầu nhìn xuống, và nhìn thấy Cassie trong màu xanh ánh điện đang nằm trên sàn. Thứ duy nhất không có màu xanh trên người cô ấy là vết thương duy nhất di súng gây ra trên đầu cô. Kể cả trong trí óc đã bị biến đổi của Decker, vết thương đó sẽ vĩnh viễn y nguyên như thế trong quá khứ: thâm đen và sưng rộp.
Anh quay người và rời đi bởi vì anh sắp sửa không chịu thêm được nữa, hơn nữa anh còn cần ghé thăm những căn phòng khác.
Anh mở cánh cửa phòng tắm và nhìn chăm chú cái bồn cầu mà đứa con gái bé nhỏ của anh được đặt ngồi, đoạn dây buộc áo choàng tàn nhẫn giữ chặt thi thể của cô bé đã khuất tại vị trí đó.
Leopold đã không giải thích được việc này. Hắn chỉ làm mà thôi. Không thực sự biết lý do. Cảm thấy thế là đúng. Hắn nói. Một gã không ai có thể xác minh danh tính. Một gã muốn nhận tội và chết.
Anh nhìn xuống vị trí mà anh từng ngồi bắt chéo chân cùng khẩu súng, lúc đầu nhét trong miệng và sau đó là áp sát thái dương. Cô con gái đã mất ngồi trước mặt anh. Anh đã muốn đoàn tụ cùng cô bé, có lẽ là ở thế giới bên kia. Nhưng anh đã không bóp cò. Cảnh sát đã đến, nhận ra anh và khuyên nhủ anh bỏ vũ khí. Đó là một kì tích khi họ không nổ súng bắn anh. Có khi nếu họ làm thế thì đã tốt hơn.
Anh quay người và quay lại hành lang, đi tiếp tới căn phòng tiếp theo.
Phòng của Molly. Anh mới chỉ bước vào đây vài lần để dọn dẹp sau cái chết của cô bé.
Tiếng động từ bên trong làm anh dừng lại, tay của anh đã gần chạm vào nắm cửa. Anh nhìn xung quanh. Anh đã để khẩu súng ở lại phòng trọ bởi anh biết mình chuẩn bị đi tới tòa án. Anh lắng nghe thêm chút nữa, và rồi sự căng thẳng cũng được giãn ra. Anh nghe thì đó không phải là tiếng bước chân người.
Tiếng chạy vụt qua, tiếng gõ lách cách, nhỏ xíu.
Anh mở cửa vừa kịp lúc nhìn thấy một con chuột chạy lẩn vào một cái lỗ trên vách tường thạch cao.
Anh có thể nhớ lại từng món đồ nội thất, vị trí đặt của từng con thú nhồi bông, vị trí của mỗi cuốn sách, bởi Molly là một đứa trẻ cực kì ham đọc.
Decker đã chuẩn bị bước hẳn vào trong căn phòng thì anh khựng lại, người cứng đờ. Có một thứ trong phòng mà trí nhớ hoàn hảo của anh không nhớ đến nó, vì một lí do. Bởi vì lần cuối cùng Decker ở trong căn phòng này, nó không có mặt ở đây.
Trên bức tường, viết bằng chữ in hoa, màu đỏ.
Chúng ta quá giống nhau, Amos ạ. Rất giống. Như anh em vậy. Anh có anh em trai không? Tất nhiên là không rồi. Tôi đã kiểm tra. Chị em gái thì có, nhưng anh em trai thì không. Tôi làm em của anh được không? Thực sự thì giờ ta là tất cả những gì mà người kia có. Chúng ta cần nhau.
Anh đọc đi đọc lại lời nhắn này ba lần. Anh muốn đào xới bên dưới từng từ để tìm ra tác giả của nó là ai. Nhưng càng nhìn chăm chăm vào những câu từ, anh càng thêm bồn chồn, rối trí. Kẻ này đã quay trở lại đây. Đã quay trở lại đây để viết lời nhắn này cho anh. Đây không phải chỉ là một kẻ cảm thấy bị coi nhẹ ở cửa hàng 7-Eleven. Đây là một kẻ có quan hệ cá nhân sâu sắc với Decker.
Như lời nhắn có nói, Decker không có anh em trai. Anh chỉ có hai chị em gái. Họ đã chuyển đi từ lâu. Một người sống ở California cùng người chồng là quân nhân, có bốn con. Người còn lại ở Alaska, không có con nhưng giàu có và đang tận hưởng cuộc sống cùng người chồng làm giám đốc điều hành công ty dầu mỏ. Họ đã tới tham dự tang lễ và sau đó ai về nhà nấy. Kể từ đó đến nay anh không liên lạc với họ. Là lỗi của anh. Họ đã cố tìm anh. Nhiều lần. Anh cự tuyệt. Nhiều lần.
Ấy thế nhưng, anh vẫn cần làm rõ cho chắc chắn. Bất luận là kẻ nào đã viết lời nhắn này, hắn đã phải tìm hiểu về anh. Chị em gái.
Anh chầm chậm rút điện thoại từ trong túi ra và nhắn tin cho từng người. Anh chờ, chờ, và chờ mãi. Rồi điện thoại rung lên một tiếng. Người chị ở California vẫn ổn và rất mừng khi nghe tin từ anh.
Hai phút sau anh vẫn đang ở nguyên tại chỗ. Lúc này ở Alaska thậm chí còn sớm hơn cả California. Có khi cô ấy chưa dậy –
Điện thoại lại rung. Cô chị gái ở Fairbanks đã nhắn tin lại. Chị ấy vẫn ổn. Rất muốn nhận cuộc gọi khi nào anh thấy tiện.
Anh bấm một số điện thoại khác và chờ người này bắt máy.
“Lancaster nghe,” giọng người nói.
Decker nói, “Mary, tôi cần cô xem cái này. Và cô cần phải xem nó ngay bây giờ.”
 
 
 
CHƯƠNG 19
 
Lancaster đã tới. Rồi sau đó là đội trưởng Miller. Rồi đến các cảnh sát mặc cảnh phục. Rồi đến đội pháp y cùng tất cả các túi đồ nghề. Một lần nữa, tất cả lại giống như đêm hôm ấy, chỉ có điều anh không đang nhìn chằm chằm cô con gái quá cố, và tay không cầm khẩu súng ghì lên đầu.
Lời nhắn được viết bằng một cây bút lông dầu Sharpie màu đỏ. Mực gần như khô ngay tức khắc, và không thể xác định được nó đã ở trên đó từ bao giờ. Do đó Leopold vẫn chưa thể được loại trừ. Hắn mới chỉ bị giam giữ từ sáng sớm ngày hôm qua.
Miller muốn biết làm thế nào tên sát nhân biết được Decker sẽ quay trở lại đây, đi vào căn phòng này, và nhìn thấy lời nhắn này.
“Trước đây tôi đã từng quay lại đây,” Decker thừa nhận.
“Và lần nào anh cũng đi vào trong nhà,” Lancaster nói.
“Không. Không phải lần nào cũng đi vào. Tôi không thể... tất cả mọi lần.”
“Lần cuối cùng anh bước vào căn phòng này là khi nào?”
“Bốn tuần và ba ngày trước, cũng vào khoảng đúng thời gian này.”
“Vậy là ít nhất chúng ta cũng có một mốc thời gian để suy xét,” Lancaster nhận xét.
“Có thể tên này vẫn theo sát cậu và biết là cậu đến đây,” Miller nói. “Đó là lí do mà hắn để lại lời nhắn.”
“Chúng ta có thể thăm dò mọi người trong khu dân cư, hỏi xem có ai nhìn thấy điều gì đó không,” Lancaster nói.
“Họ không nhìn thấy kẻ đã sát hại ba mạng người,” Decker vặn vẹo. “Tôi không nghĩ lí do gì mà họ thấy kẻ đã làm việc này.”
“Biết là thế,” Miller đáp. “Chúng ta vẫn sẽ đi thăm dò.”
“Anh em trai?” Lancaster thể hiện rõ vẻ tò mò khi cảnh sát chụp ảnh lời nhắn. “Chúng ta có thể sẽ muốn thu gọn quanh nội dung này để phân tích trong đầu gã này đã suy nghĩ những gì.”
“Vậy anh có nghĩ đây là tác phẩm của Leopold không?” Miller hỏi. Ông đang nhìn chằm chằm vào bức tranh vẽ như thể đó là một phần câu đề khắc trên cánh cửa dẫn tới địa ngục.
Decker không nói gì bởi vì anh chẳng cò gì để nói. Trong đầu anh, những từ ngữ này thực sự là một màu đỏ rực cháy, do đó nó cũng gợi nhớ đến địa ngục. Bất kể là kẻ nào đã viết lời nhắn này, hoặc hắn đang muốn nói chuyện thẳng thắn, dù câu từ có phần lộn xộn, hoặc hắn đang muốn chơi trò đấu trí với anh. Decker quay người và rời đi, mặc kệ Lancaster đang gọi với theo anh.
Anh không hề nhìn thấy Miller tóm lấy cánh tay Lancaster. Anh không nghe thấy vị đội trưởng cũ của mình bảo chị hãy để kệ anh. Anh không nghe thấy Lancaster cãi lại, và rồi sau đó yêu cầu của Miller gay gắt hơn, trở thành một mệnh lệnh trực tiếp bắt chị lùi lại.
Cả hai người họ nhìn theo anh từ ô cửa sổ đang bước ra vỉa hè một cách có chủ đích. Rất nhanh chóng anh rẽ khỏi góc phố và đi khuất tầm nhìn của họ.
Decker không dừng bước cho tới khi anh tới cửa hàng 7-Eleven trên số 14 đường DeSalle. Đây là lần đầu tiên trong đời anh tới đây mà không phải bằng xe ô tô.
Bên ngoài cửa hàng không có ô tô nào đang đỗ. Anh mở cánh cửa, nghe thấy tiếng chuông reo vang, và rồi sau đó bước vào, để cánh cửa đóng lại.
Phía sau quầy là một người phụ nữ. Người phụ nữ này thấp thôi nhưng trông cao hơn nhờ sàn nhà trong đó được nâng lên. Mái tóc của chị ta đen và thẳng, thả xỏa trên vai. Trông chị ta có vẻ giống người gốc Latin. Chị ta mặc một chiếc áo sơmi dài tay màu be, đai áo ngực ở một bên hằn lộ. Chị ta khoảng năn mươi, và hai hốc mắt đã bắt đầu dính chặt vào gương mặt giống như một hồ nước đã bắt đầu cạn dần. Má bên trái của chị ta có một nốt ruồi đen sậm khá to. Trước mặt chị ta có một ít giấy tờ và chị ta đang nghiền ngẫm nó, và rồi sau đó đứng đếm thành tiếng số bao thuốc lá được bày trên các vị trí giá phía trên đầu.
Một người đàn ông xuất hiện từ một lối đi giữa gian hàng. Anh ta cầm cây lau nhà trong tay và khuấy nó vào trong xô nước trắng bọt xà phòng. Decker nhìn anh ta từ trên xuống dưới, các bài huấn luyện của cảnh sát giúp điều chỉnh hướng nhìn của đôi mắt vào những thống kê thiết yếu nhất định. Anh ta da trắng, giữa ba mươi, thiếu vài phân nữa thì được mét tám, rất gày gò và khẳng khiu, với đôi bờ vai hẹp. Chiếc áo sơmi ngắn tay để lộ các đường mạch máu trên cánh tay. Tóc của anh ta màu nâu, xoăn và rủ xuống như vỏ táo gọt xong vắt ngang đầu.
Người phụ nữ ngẩng đầu nhìn Decker đang đứng ngoài bậc cửa. “Tôi giúp được gì cho anh?” chị ta hỏi. Chị ta nói giọng bản địa.
Anh tiến lên trước và lấy điện thoại từ trong túi ra. Anh bấm vài nút và giơ nó lên.
“Cô đã từng gặp người này chưa?”
Chị ta nhìn vào bức ảnh của Sebastian Leopold. “Anh ta là ai?” chị ta hỏi.
“Một người hoặc có thể từng làm việc ở đây hoặc lảng vảng quanh đây vào một thời điểm nào đó.”
Chị ta lắc đầu. “Tôi không nhớ từng gặp anh ta. Tại sao anh lại muốn biết?” Decker rút giấy phép thám tử tư và giơ nhanh nó trước mặt chị ta. “Tôi đang cố tìm được anh ta. Có thể anh ta đang nợ ít tiền. Nghe nói anh ta ở đây nên tôi tìm đến. Thế còn anh bạn đằng kia thì sao?”
Anh nhìn người đàn ông đang dựa trên cây lau nhà và quan sát anh với vẻ thắc mắc.
Người phụ nữ nói, “Billy, anh có muốn xem qua bức ảnh này không?”
Billy để cây chổi và xô nước dựa vào một giá bày kẹo, chùi hai tay lên chiếc quần jean đã bạc màu, và thong thả bước đến. Anh ta trông có vẻ hài lòng vì có lí do tạm nghỉ tay.
Anh ta nhìn vào bức ảnh và sau đó lắc đầu. “Không. Trông chẳng quen gì cả. Gã đó nhìn kì quặc thế. Như phê thuốc ý.”
Decker hạ điện thoại xuống. “Hai người làm việc ở đây bao lâu rồi?”
Người phụ nữ nói, “Tôi thì gần hai tháng. Billy thì vừa mới làm vài tuần.”
Decker gật đầu. Vậy là quá gần đây rồi. “Thế còn những người làm ở đây trước hai người thì sak?”
Chị ta nhún vai. “Tôi không biết. Có một người phụ nữ, vài người đàn ông. Ở đây người ta luôn bỏ việc ấy mà. Lương trả không cao. Thời gian làm việc thì lại dài. Tôi sẽ không làm ở đây nếu tìm được việc nào tốt hơn. Nhưng thị trường việc làm thảm quá,” chị ta thẳng thừng nói thêm.
Decker nhìn sang Billy. “Anh thì sao?”
Billy cười nham nhở. “Tôi chẳng biết cóc gì về chỗ này cả. Chỉ biết có séc để lấy lương thôi. Có bia uống vào cuối tuần. Muốn vui vẻ bên các cô nàng. Mấy thứ đó đều cần tiền cả.”
Anh ta quay trở lại với việc lau nhà.
“Tôi rất tiếc chúng tôi không thể giúp được anh,” người phụ nữ nói.
“Một phần công việc thôi,” Decker nói. “Cảm ơn nhé.”
Anh quay người và rời đi.
Điện thoại của anh rung. Anh nhìn nó.
Lancaster.
Anh kệ nó mà không bắt máy.
Điện thoại lại đổ chuông.
Anh lại nhìn nó lần nữa.
Lancaster.
Anh thở dài, và ấn nút trả lời.
“Sao?”
“Amos?”
Decker ngay lập tức cứng đờ người. Lancaster nghe giọng gần như kiểu đang bị kích động. Và chị chưa bao giờ là kiểu người dễ bị kích động đến thế.
“Mary, có chuyện gì thế? Không phải lại có vụ xả súng nữa đấy chứ?” Decker đã lo lắng chuyện này sẽ xảy ra ngay từ lúc bắt đầu. Những thứ liên quan đến vụ tấn công ở trường Mansfield khiến anh tin rằng gã này -
“Không,” chị nói không ra hơi. “Nhưng, nhưng có vài chuyện -”
“Cô đang ở đâu?” anh ngắt lời.
“Ở trường Mansfield.”
“Vậy là có liên quan đến trường Mansfield à? Các cô tìm được -”
“Amos!” chị rít lên. “Để im cho tôi nói hết.”
Decker im bặt, chờ đợi. Giống như thể anh có thể nghe thấy tiếng tim của chị đang đập truyền đến qua không gian số.
“Chúng tôi phân tích đường đạn đạo của khẩu súng được dùng trong vụ Mansfield.”
“Và các cô tìm -”
Ngắt lời anh, chị nói, “Và chúng tôi tìm được dữ liệu trùng khớp.”
Tay anh siết chặt cái điện thoại. “Trùng khớp á? Khớp với cái gì?”
“Với khẩu súng đã lấy mạng vợ của anh.”
 
 
 
 
CHƯƠNG 20
 
Một khẩu đạn 11,5 li.
Bọc một nữa. Rỗng đầu.
Một viên SJH, theo cách gọi tắt trong thuật ngữ súng đạn.
Đó là một thứ vũ khí có sức mạnh hung bạo. Không hẳn là một viên đạn nở dum-dum, được đặt theo tên của thành phố Dum-Dum, Ấn Độ, nơi một sĩ quan quân đội Anh đã phát minh ra một loại đạn có thể nở ra như mũ nấm khi va chạm với mục tiêu và hoạt động như một quả văng thu nhỏ ở bên trong cơ thể.
Không phải phát minh nào cũng tốt cho con người cả.
Viên đạn SJH 11,5 li bắn xuyên qua phần trước sọ của Cassie Decker và găm sâu vào trong não bộ của cô. Viên đạn đã được lấy ra khi mổ tử thi và được giữ lại như là bằng chứng trong quá trình điều tra vụ án mạng. Hình dạng và các đường gờ, rãnh vẫn còn nguyên vẹn, đủ để một ngày nào đó truy ra được gốc gác món vũ khí đã bắn viên đạn này. Ừ thì hiện họ chưa có được món vũ khí ấy, nhưng cũng phát hiện được đôi điều.
Giờ đây họ biết được rằng chính cái khẩu súng đã bắn viên đạn kết liễu tính mạng của Cassie Decker cũng đã chấm dứt mạng sống của một nửa số nạn nhân tại trường cấp ba Mansfield. Một nửa số còn lại đã phải chịu lực tàn phá yếu hơn từ khẩu súng hoa cải. Bác sĩ pháp y đã lấy được viên đạn trùng khớp trên người Kramer, thầy giáo dạy thể dục, theo quy định thông thường, họ khớp viên đạn với cơ sở dữ liệu của phòng. Kết quả cho ra gần như ngay lập tức.
Do mức độ quan trọng của phát hiện này, FBI cũng tự mình tiến hành kiểm tra dữ liệu viên đạn và cho ra kết luận tương tự.
Cùng là khẩu súng đó. Phân tích đường đạn đạo không thể nói dối. Lần lượt từng dấu vết của rãnh và gờ trên viên đạn đều khớp như một dấu vân tay. Và đó vẫn chưa phải là tất cả. Họ đã thu được vỏ của viên đạn trong phòng ngủ của gia đình Decker. Họ đã so sánh nó với một vài vỏ đạn tìm thấy ở trường học. Hạt lửa ở dưới đáy của vỏ đạn, vị trí mà kim hỏa chọc vào, rõ ràng chẳng khác gì một dấu vân tay. Và tất cả nhưng vị trí quan trọng đều có kết quả trùng khớp.
Vụ sát hại gia đình Decker và vụ thảm sát tại trường Mansfield giờ đây có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
 
☆☆☆
Decker khoác vội chiếc áo khoác khi anh đứng bên ngoài mặt tiền đã tối đen của ngôi trường, mặc cho cơn mưa tầm tã dội lên tóc và lên đôi vai vạm vỡ. Vụ án đã mở rộng, bao trùm từ trường cấp ba Mansfield tới ngôi nhà của anh trên con phố vắng lặng dù khoảng cách giữa hai nơi có thể hình dung là xa cách như giữa hai bờ đại dương. Anh chưa từng một lần nghĩ rằng sẽ có mối quan hệ nào đó giữa hai tội ác. Giờ đây mối liên hệ này đang chi phối đầu óc anh.
Có khả năng kẻ giết người là hai kẻ khác nhau. Sau vụ nổ súng ở nhà của anh, khẩu súng có thể đã bị thất lạc, hoặc bị lấy mất, hoặc bị tên giết người thứ nhất bán đi. Cùng một khẩu súng được các thủ phạm khác nhau sử dụng trong các tội ác khác nhau là thường gặp. Nhưng Decker tin rằng trong cả hai trường hợp, kẻ nổ súng là một. Và nếu đúng là như vậy, thì Leopold được loại trừ. Tức là Leopold đang nói dối. Thế nhưng có khả năng hắn được tên sát nhân thực sự kể cho nghe những sự việc trong vụ án của gia đình Decker. Và nếu là như thế, vậy thì Leopold sẽ là hi vọng lớn nhất mà anh có để tìm ra được kẻ đã sát hại gia đình anh. Cũng như đã sát hại tất cả những người khác ở đây.
Mặc dù phát hiện những dòng chữ viết gần đây trên bức tường phòng ngủ, vụ án của gia đình Decker vẫn là một vụ đã nguội lạnh. Ngược lại vụ án tại trường trung học Mansfield là một vụ nóng bỏng tay. Thế nên vụ án ở Mansfield sẽ là chỗ mà anh tập trung nhiều hơn - chỗ đó và ở chỗ Sebastian Leopold. Nếu Leopold biết kẻ sát hại gia đình Decker là ai, vậy thì hắn cũng sẽ biết kẻ đứng đằng sau những tội ác ở Mansfield.
Anh chìa các giấy tờ chứng minh cho cảnh sát an ninh phía bên ngoài và đi vào qua cửa chính. Tất cả mọi thứ xảy ra ngày hôm qua đối với anh cảm giác không có gì liền mạch và rất bối rối. Anh đã cảm thấy mình bị tách rời khỏi tất cả mọi người vầ tất cả mọi thứ diễn ra xung quanh anh. Nhưng khi những thứ này nhiều khả năng có liên hệ tới vụ sát hại những người thân trong gia đình, Decker biết anh thực sự có bổn phận trong đó. Anh sẽ tham gia vào vụ án này bất luận nó kéo dài bao lâu. Họ sẽ phải dùng thuốc nổ mới hòng đuổi được anh rời đi.
Anh không đi vào trung tâm chỉ huy ở thư viện. Anh đi tới căn tin và nhìn chằm chằm vào chỗ kho lạnh. Rồi anh nhìn lên các miếng ốp trần nhà.
Sợi vải rằn ri, dấu vết có thể là dầu bảo quản súng. Có thể tất cả đều là vớ vẩn. Có thể vậy.
Anh nhìn cửa thoát hiểm. Manh mối giả, hiện giờ anh tin là như thế.
Anh rời căn tin, đi vào hành lang phía trước thư viện, rẽ phải vào hành lang chính chia đôi tầng một và đếm số bước chân mà anh cần để đi ra phía sau của ngôi trường.
Tại mỗi giao điểm với một hành lang khác, anh nhìn bố cục xung quanh, trước tiên là bên trái, rồi bên phải. Phòng học có ở cả hai bên. Hành lang cuối cùng là nơi mà Debbie Watson chết. Và bên trái chỗ này là nơi Kramer, thầy giáo thể dục, mất mạng bên chiếc bánh sandwich và ly cà phê cho bữa sáng. Lối vào cổng sau có camera mặt đối mặt với anh. Góc của chiếc máy quay vẫn khiến anh phải suy nghĩ. Nó để thế là có chủ đích. Và hành động có chủ đích luôn luôn đi kèm động cơ được tính toán thận trọng.
Rồi anh nhìn vào phòng học bên tay phải, nơi mà Debbie bỏ mạng. Phòng 141 được ốp kính.
Anh thử mở cửa, nhưng nó đã bị khóa. Anh lôi một bộ đồ nghề mở khóa từ trong túi ra và mở khóa. Anh bước vào trong và bật đèn. Anh bất ngờ khi nhìn thấy bên trong căn phòng được bố trí như một lớp học nghề. Hồi Decker học ở trường này họ cũng có các lớp học nghề. Nhưng anh đã nghĩ bây giờ những lớp họ như thế đã là chuyện ngày xửa ngày xưa. Anh đưa mắt xung quanh, nhìn những chỗ thực hành, bàn và máy cưa, máy bào, khoa, các xô dụng cụ, bàn kẹp ê-tô kẹp vào gỗ, các giá sát tường bên trên để các loại ống kim loại, ốc, bu-lông, gỗ, các loại dụng cụ sửa chữa khác, ổ cắm điện, đèn chiếu sáng, gần như đủ hết tất cả mọi thứ mà một người sẽ cần để dựng nên một cái gì đó. Phía sau căn phòng này có ba cánh cửa. Anh mở hai trong số đó. Kho chứa đồ. Anh nhìn thấy nhữnng chồng đồ trông giống như các thành phẩm thực hành cũ của học sinh: những đống ngổn ngang các món nội thất làm xong một nửa, kim loại được vặn xoắn thành các hình thù khác nhau, lồng sắt, một phần mái nhà, giá cưa, các tấm ván ép, những chồng gỗ, rất nhiều bụi và rất nhiều thứ vô nghĩa.
Cánh cửa cuối cùng không để mở. Anh lại lấy bộ phá khóa ra và dùng nó để mở cửa. Anh nhìn vào trong. Có một cái nồi hơi cũ ở góc phía xa, hiện tại thì không được cắm vào ổ điện nào. Một vài cục điều hòa gắn vào cửa sổ xếp chồng lên nhau trên sàn nhà ở sát một phía tường, cao chừng ba mét.
Lại thêm những thứ vô nghĩa. Anh đóng cánh cửa lại, và đi ngược về phòng học nghề, tắt đèn, bước ra và đóng cửa. Phía dưới hành lang từ chỗ lớp học nghề là phòng 144, căn phòng mà Debbie Watson đang từ đó đi ra thì bị bắn.
Decker kiểm tra nhanh ô tủ khóa đang mở trên tường. Đó là ngăn tủ của Debbie. Cô bé đang ở bên cạnh tủ của mình khi bị sát hại. Có thể là đang lấy gì đó để mang theo tới phòng y tế. Điều đó có thể giải thích cho lí do cô bé đi vòng tới đây. Hoặc có thể không phải. Lũ trẻ mới lớn rất khó lường. Chúng nó có thể ốm dặt ốm dẹo nhưng vẫn dừng lại ở tủ đồ để tìm chút kẹo cao su. Hoặc kiểm tra xem mặt có cái mụn nào không bằng cái gương treo ở trong tủ. Anh để ý thấy có một tuýp kem bôi mụn dựng đứng trên giá trong tủ đựng đồ bên cạnh một gói kẹo thơm miệng nhỏ đã mở.
Các vết máu bắn tung tóe cho thấy cô bé đã đứng phía trước tủ đựng đồ khi bị bắn. Cô bé đã quay đầu lại để mặt đối mặt với kẻ tấn công, bởi vì cô bé đã hứng trọn phát bắn từ khẩu súng hoa cải vào thẳng mặt.
Cô bé qua đời lúc 8h:42.
Decker đã kết luận rằng Watson thực sự là nạn nhân đầu tiên. Điều đó khiến anh tự hỏi tay súng đã làm gì trong khoảng thời gian giữa tiếng “phụp” mà Melisa Dalton nghe thấy ở sảnh trước vào lúc 7:28 và lúc Debbie bị thổi bay khuôn mặt ở hành lang phía sau một giờ và mười lăm phút sau đó.
Decker nhắm mắt lại và suy nghĩ về điều này.
Mình mất sáu mươi tư bước chân và chưa cần tới hai phút để đi từ đằng trước ra đằng sau. Kẻ nổ súng xuất hiện trong đoạn video vào lúc 8:41. Nhưng hắn rời khỏi căn tin vào lúc nào? Không có cách nào để xác định chắc chắn. Và câu hỏi lớn hơn cả: làm thế nào để hắn di chuyển từ trước ra sau mà không bị nhìn thấy? Mình trả lời được câu hỏi đó, mình sẽ giải đáp được tất cả. Không trả lời được nó, vụ án sẽ chẳng đi đến đâu hết.
Ít nhất một mét tám bảy, vai rộng và dày, trên chín mươi cân. Decker đã xem đoạn băng ghi hình kẻ nổ súng và không tranh cãi gì về các ước tính thể hình này. Thế nhưng ngôi trường này không có một nam giới nào có kích thước và chiều cao như thế cả, ngoại trừ ông thầy dạy thể dục và ông trợ lý hiệu trưởng đều đã chết cả, hoặc nhóm học sinh trong đội bóng bầu dục đang bận ngồi trong lớp học với hàng trăm bằng chứng ngoại phạm đi liền với chúng. Và hai trong số cầu thủ có kích cỡ người như thế đã thiệt mạng trong vụ xả súng.
Cứ như thể gã này xuất hiện, thực hiện xong việc thảm sát, và rồi cứ thế mà lặn mất tăm. Nhưng vì chuyện đó không thể nào xảy ra được, Decker, bằng cách này hay cách khác, buộc phải tìm xem quá trình suy luận sai ở đâu.
Anh đi vào phòng 144 và ngồi xuống chỗ bàn giáo viên. Anh quan sát lớp học. Hai mươi mốt chỗ ngồi để trống sắp xếp thành ba dãy từ trước ra sau. Một trong số đó là chỗ mà Debbie Watson đã ngồi. Khoảnh khắc cuối đời của cô bé đã rất rõ ràng: bụng đau; được phép đi tới phòng y tế; rẽ ngang đi tới tủ đựng đồ. Và vài phút sau cô bé đã thành người quá cố.
Cô bé ngồi ở hàng ba, ghế thứ tư. Anh tưởng tượng ra cô bé giơ tay, cảm thấy người không khỏe, biểu hiện ra mặt, xin phép ra khỏi lớp học, bước ra khỏi cửa và không bao giờ bước vào trở lại nữa.
Anh đứng dậy và đi ra ngoài cửa, dừng lại và quay người. Anh đang nhìn thẳng vào tủ đựng đồ để mở của Debbie. Cái gương ở mặt trong cánh cửa tủ phản chiếu hình ảnh của anh. Vì lí do nào đó Decker không nhận ra chính bản thân mình. Gã râu ria to béo này, người ướt sũng nước, trông thảm hại quá.
Nhưng rồi anh bỏ qua những hình ảnh phản chiếu và nhìn thấy một số thứ khác trong tủ để đồ của Debbie: một chồng sách giáo khoa và vở viết.
Decker nhìn lại về phía phòng học 144 và rồi nhìn vào tủ để đồ.
Cuộc sống chứa đầy những sự trùng hợp ngẫu nhiên. Sự tình cờ luôn diễn ra. Sai chỗ, sai thời điểm. Đó là kết quả được sinh ra từ việc có đến bảy tỷ con người chen chúc với nhau trong phạm vi của một hành tinh duy nhất.
Nhưng có một điều luật bất thành văn trong công việc cảnh sát: không có gì là trùng hợp ngẫu nhiên. Tất cả những gì cần phải làm đó là điều tra sâu hơn để chứng minh không có gì là trùng hợp ngẫu nhiên cả.
Anh gọi điện cho Lancaster. Chị đang ở trong thư viện.
“Cô nói chuyện với ba mẹ của Debbie Watson chưa?”
“Rồi.”
“Họ có nhắc gì đến việc cô bé thấy không khỏe lúc đến trường không?”
“Không. Tôi có hỏi chuyện đó. Mẹ cô bé nói cô bé có vẻ vẫn ổn. Nhưng có khi cũng chỉ là buột miệng trả lời thế.”
“Thế còn giáo viên thì sao? Khi Watson xin phép ra ngoài?”
Decker nghe được tiếng người phụ nữ đang lật cuốn sổ ghi chép của chị.
“Cô ấy nói rằng Debbie trông khỏe nhưng sau đó cô bé giơ tay, nói rằng cảm thấy buồn nôn và xin phép ra ngoài.”
“Con bé có viết giấy phép hay -”
“Họ có mẫu sẵn. Giáo viên điền tên của Debbie vào và đưa nó cho con bé.”
“Vậy là chỉ khoảng ba mươi giây từ đầu đến cuối trước khi Debbie rời khỏi phòng học?”
“Tôi đoán khoảng đó.”
“Thực sự thì con bé rời khỏi lớp học lúc mấy giờ?”
“Giáo viên nghĩ có lẽ khoảng vài phút trước đó. Có thể là khoảng năm phút trước khi nghe thấy tiếng súng nổ.”
“Quãng thời gian như thế là lâu lắm. Tủ đựng đồ của con bé chỉ cách lớp học có vài giây thôi. Và tôi đã đi từ phía trước của trường ra đằng sau chưa mất đến hai phút.”
“Có thể con bé đã nán lại bên tủ đồ trong vài phút. Có thể nó nghĩ nó sắp nôn và cố nén thì sao. Nghe này, tại sao -”
“Tôi sẽ giải thích sau. Có lẽ cũng chẳng có gì.”
Decker cúp máy và bỏ điện thoại xuống. Anh vừa mới nảy ra một suy nghĩ rất khác thường có khả năng khiến một số người cực kì khó chịu. Anh sẽ không làm việc này một cách khinh suất. Anh làm việc này chỉ để tìm ra được sự thật. Sự thật là tất cả những gì đáng giá đối với anh. Nhưng anh cần bám vào một vài thông tin chắc chắn đã trước khi có thể tiến tiếp.
Cái chết đến với Debbie là lúc 8:42 bên ngoài cánh cửa này. Sau thời điểm đó cô bé không còn nữa, tính mạng của cô đã kết thúc. Mọi việc diễn ra như thế nào nhỉ? Debbie giơ tay, xin phép ra ngoài. Cô bé đi ra khỏi lớp học, nhưng không đi thẳng tới phòng y tế. Cô bé đi đến chỗ tủ đựng đồ và mở nó. Thêm một phút nữa trôi đi. Nhưng Lancaster đã nói rằng người giáo viên nghĩ là phải mất vài phút, rất có thể là lên tới năm phút. Debbie đã làm những gì trong suốt khoảng thời gian ấy? Có thể cô bé nấn ná đứng lại đó hoặc cố gắng chờ cho cơ thể ổn hơn, giống như Lancaster đã nói. Nhưng cũng có thể còn có điều khác nữa.
Anh nhìn chằm chằm một lần nữa vào những thứ bên trong tủ đựng đồ.
Cuốn vở nhuốm máu và các đồ khác vương trên sàn bên cạnh thi thể của Watson đã được cảnh sát đưa đi cùng với thi hài của cô. Nhưng thứ trong tủ thì không. Không, không hề. Nó vẫn còn ở nguyên trong đó. Và hình dáng của nó vẫn còn khá tươm tất bởi thân hình của cô gần như đã che chắn cho tất cả những thứ bên trong khỏi phát súng nổ.
Anh ôm lấy chồng các món đồ, quay trở lại phòng 144, và ngồi xuống. Anh mở cuốn sách đầu tiên và lật xem từng trang một. Anh xem tất cả các cuốn sách giáo khoa, tìm các ghi chú bên lề, chú thích, phát họa, bất kì thứ gì.
Anh đã xem hết tất cả ba cuốn vở có dòng kẻ và đã xem đến trang thứ mười chín của cuốn thứ tư thì anh nhìn lại, không tìm nữa.
Debbie đã vẽ một bức tranh trên trang giấy này. Thực sự thì đó là một bức phát thảo khá đẹp. Cô bé này có tài năng đấy.
Nhưng Decker tập trung nhiều hơn vào chủ thể của bức tranh.
Đó là một người đàn ông mặc trên người trọn bộ đồ rằn ri.
Với một trái tim lớn được vẽ bên cạnh nó.
 
CHƯƠNG 21
 
Decker đã tắm rửa, thay quần áo, chải tóc một cách cẩn thận và khoác lên mình một diện mạo chuyên nghiệp nhất. Anh tin rằng những người ngồi đối diện mình hoàn toàn xứng đáng với điều đó.
Cả cha và mẹ của Debbie Watson đều nhìn anh chằm chằm. Cha cô bé là một người đàn ông nhỏ nhắn, rụt rè ở độ tuổi trung niên với chút ria mép phía trên cặp môi mỏng. Cánh tay phải anh ta trông còi cọc, bàn tay dị tật buông thõng xuống khỏi khuỷu tay.
Trông anh ta nặng trĩu vì đang phải trải qua những ngày giông bão.
Mẹ của Debbie thì hút thuốc liên tục. Chiếc gạt tàn trước mặt bà đầy ắp tàn thuốc. Khả năng cướp lấy oxy trong máu của nicotine đã sớm mài mòn đường viền quanh miệng, hằn lên những nét không mấy đẹp đẽ trên khuôn mặt mà có lẽ ngay từ khi còn trẻ cũng không có nhan sắc cho lắm. Cánh tay bà gân guốc, đen sạm và lốm đốm, có lẽ là do nằm ngoài trời trong suốt mùa hè trên chiếc võng buộc giữa hai cái cây ở khoảng sân nhỏ bên cạnh mà Decker nhìn thấy. Người mẹ trông không có vẻ là đang gặp giông tố chi cả. Trông bà ta như người mất hồn vậy. Mùi rượu xộc lên qua bề rộng của cái bàn cà phê trầy xước được đặt giữa họ.
Bên phải Decker, Lancaster ngồi trên ghế divan như một con mèo trên mỏm đá. Các nét trên mặt chị căng lại, nghiêm túc, thu người về phía trước và chị đã như vậy từ lúc Decker cho chị xem bức vẽ người đàn ông mặc đồ rằn ri trong cuốn sổ tay của Debbie. Thi thoảng chị liếc nhìn điếu thuốc của Beth một cách thèm muốn, như thể đang đợi chờ một lời mời gọi thôi thúc chị tự lấy thuốc ra hút.
Họ chưa cho FBI hay bất cứ ai xem bức vẽ ấy. Bây giờ họ quyết định giữ nó bên mình. Decker đã nói, Lancaster cũng đã đồng tình, rằng trước khi bất cứ thông tin gì được công bố cho công chúng, họ cần phải nói với cha mẹ nạn nhân trước. Nếu bản thảo không liên quan đến vụ giết người thì họ không muốn gia đình Debbie phải chịu thiệt thòi không đáng có. Trong một thế giới mà tin tức luôn được cập nhật 24h, gia đình Watson sẽ bị “mổ xẻ” đến mức mà cho dù có bất cứ bằng chứng mang tính bào chữa nào được tiết lộ sau đó, sự thật cũng sẽ không bao giờ có thể lấn át được cơn sóng thần thông tin điện tử trước đó.
Decker mở đầu những câu hỏi của mình bằng rất nhiều lời tuyên bố miễn trừ trách nhiệm. Trước khi cho họ xem hình vẽ, anh đợi cho đến khi gia đình Watson chuẩn bị hoàn toàn. Khi ánh mắt của cả hai người họ dính vào bức hình, họ lùi lại và sau đó cứng đờ như thể bị điện giật.
Decker nhìn thấy cả hai người họ đều có sắc mặt màu trắng kem. Đối với anh, cái chết có màu xanh lam, còn màu trắng thì tượng trưng cho nỗi tuyệt vọng. Khi anh nhìn vào bản thân mình trong gương tròn một năm sau vụ thảm sát của gia đình mình, anh đã mường tượng rằng mình chính là người da trắng trắng nhất trên thế giới này.
“Chị có thể nghĩ được lí do tại sao Debbie lại vẽ những bức hình này không?” Decker khẽ hỏi. Đầu tiên anh chỉ vào người mặc bộ đồ rằn ri và sau đó là hình trái tim. “Có phải con bé ấy đang gặp gỡ ai đó?” Anh nói thêm. Hình trái tim dường như chỉ ra rằng đây chính là một khả năng. Ngay cả trong thế kỉ 21, một trái tim được vẽ bởi một cô gái trẻ bên cạnh tấm hình một người đàn ông có lẽ vẫn luôn mang cùng một ý nghĩa qua từng ấy thời gian.
George Watson lắc đầu, bộ ria mép của ông cũng run lên theo toàn bộ phần cơ thể còn lại. Cánh tay còi cọc của anh ta vung lên bên cạnh thân mình. Decker tự hỏi liệu người đàn ông này đã phải chịu đựng bao nhiêu nỗi bất công trong suốt cuộc đời với phần thân phụ bất thường như vậy. Chính sự bất thường đó có lẽ đã định hình nên mọi thứ về anh, không phải vì mọi chuyện như vậy là lẽ thường mà là bởi vì đôi khi thiên hạ có thể quá tàn nhẫn.
Beth Watson không hề lắc đầu. Bà khẽ gật đầu và khiến cả Decker lẫn Lancaster phải ngay lập tức tập trung vào bà.
“Cậu ta là ai vậy?” Lancaster hỏi.
“Chưa từng biết đến,” Beth ngập ngừng nói. “Con bé chưa bao giờ dẫn người nào mà chúng tôi không biết về nhà.”
“Chúng tôi quan tâm đến bất kỳ người nào mà có thể cô bé đã dẫn về nhà,” Decker nói.
“Không, nó toàn dắt về mấy nhóc con. Anh nói là người này to lớn. Trên giấy tờ ghi hắn cao một mét tám bảy, tầm chín mươi cân hoặc hơn. Debbie chưa từng dẫn ai về nhà mà to hơn bố con bé cả.”
George hắng giọng và buồn bã nói, “Và tôi thậm chí còn chưa cao đến một mét bảy sáu nữa. Tôi cao vọt lên vào năm lớp mười và chưa từng cao thêm nữa.” Sau đó anh ta rơi vào im lặng, trông lúng túng và có chút thất thần khi nói chút chuyện cỏn con về bản thân khi đang trong thảm cảnh như vậy. “Và tất cả những người đó đều là mấy đứa con trai ở trường,” Beth nói. “Thực ra một trong số đó cũng đã chết. Giống như Debbie tội nghiệp của tôi vậy.”
“Là ai vậy?” Lancaster hỏi, cây bút của chị cắm dựng xuống tập giấy.
“Jimmy Schikel. Một đứa trẻ ngoan, chơi trong đội bóng đá. Rất nổi tiếng. Chúng quen nhau nhiều năm rồi. Debbie và Jimmy học tiểu học cùng nhau. Thằng bé đưa Debbie tới buổi dạ hội năm lớp 11, nhưng chúng chỉ là bạn bè thôi.” Chị ta cúi đầu xuống và nói, “Cô không thể tưởng tưởng nổi việc mất con sẽ như thế nào đâu.” Chị với lấy một tờ khăn giấy trên bàn cà phê và chấm nước mắt trong khi người chồng lúng túng xoa vai chị ta.
Từ những lời nói của người phụ nữ, Lancaster liếc nhìn Decker, nhưng anh không nhìn lại chị. Anh vẫn giữ ánh mắt của mình theo Beth. Anh biết chính xác cảm giác mất đi đứa con là thế nào. Nhưng điều đó hoàn toàn không có ý nghĩa gì cả trong tình huống này. Mặc dù dường như đều cùng chịu chung một nỗi mất mát, nhưng giữa những người cùng chịu nỗi đau mất con thì lại chẳng thể thông cảm cho nhau được, bởi thực chất mỗi nhà mỗi cảnh, mỗi bậc cha mẹ lại đau đớn theo những cách riêng của mình.
“Nhưng hẳn phải còn có ai khác nữa chứ?” Decker gợi nhắc. “Một người nào đó chị không biết mà Debbie cũng không dẫn đến đây? Chị có nghĩ đến điều đó mà, phải không?”
Beth vò chiếc khăn giấy lại và thả nó xuống thảm. Chồng bà nhặt nó lên và đặt lại lên mặt bàn. Chị ta liếc sang anh ấy bằng một cái nhìn đầy khó chịu, và khi quan sát thấy điều đó, Decker tự hỏi rằng cuộc hôn nhân này phải tồi tệ đến mức nào. Chỉ là những vết cắt nhỏ chồng chất lại sau một khoảng thời gian dài và chất thành đống? Hay là còn hơn cả thế? Đến mức là khi không còn Debbie nữa thì giữa họ có một vết nứt không thể hàn gắn lại nữa? Nhưng cũng có thể chuyện này sẽ khiến họ quay qua bảo ban an ủi lẫn nhau. Anh cũng từng chứng kiến điều đó xảy ra rồi.
“Con bé có đăng vài thứ trên mạng về cậu ta. Nhưng con bé chưa bao giờ trực tiếp nói về cậu ta cả. Mặc dù vậy, tôi cũng nhặt nhạnh các dấu hiệu ở đây đó thôi. Cách mà một người mẹ vẫn làm.”
“Vậy là chị đã đọc những bài đăng trên mạng đó rồi?”
“Đã có một khoảng thời gian tôi có mật khẩu của con bé. Khi con bé phát hiện ra thì nó đã đổi rồi. Con bé chưa bao giờ gọi tên cậu ta. Nhưng con bé có gọi cậu ta bằng một biệt danh.”
“Là gì vậy? Lancaster hỏi.
“Jesus.”
“Làm thế nào mà chị biết được điều đó? Nó được nhắc đến trong bài đăng nào ư?”
“Không. Tôi thấy nó trên tấm bảng phấn trong phòng con bé. Con bé đã làm một vài bài thơ nhỏ về Jesus. Debbie không theo đạo. Chúng tôi không đến nhà thờ hay làm điều gì tương tự, nên không phải vậy đâu. Đó là một tên con trai. Bài thơ... có chút riêng tư. Đó chắc chắn là về một người con trai. Khi tôi hỏi con bé về nó, con bé chạy lên phòng và xóa nó đi luôn.”
Decker và Lancaster liếc nhìn nhau. Anh nói, “Nhưng chị có biết nó ám chỉ đến kinh thánh hay tham khảo từ nguồn Latinh nào không?” Khi chị ta bối rối nhìn anh, anh nói thêm, “Ý tôi là Jesus hay Hey-soos [1].”
“Ôi, trời ạ, tôi chưa từng nghĩ đến điều đó nữa. Tôi chỉ... tôi chỉ nghĩ con bé kiểu tôn thờ cậu ta hay gì thôi. Nhưng tôi không nghĩ là Debbie của tôi sẽ chơi cùng mấy đứa người Mexico đâu,” chị nói thêm với một giọng điệu khó nghe. Chị ta lau mũi và hút một điếu thuốc. “Người mẹ nào cũng luôn biết, ngay cả khi con gái họ không tin là họ biết. Debbie chắc chắn nghĩ rằng chúng tôi không biết gì cả.” Chị liếc sang phía chồng mình. “Và có người thì không biết gì thật. Không biết cái gì hết.”
Người chồng bỏ tay ra khỏi vai chị ấy và thả xuống giữa hai chân, như cách một chú chó làm với cái đuôi của nó vậy. Anh ấy hẳn là đã có thể đưa ra quyết định, Decker nghĩ, nhưng rõ ràng là anh không phải người nắm vai trò quyết định trong gia đình này rồi.
Decker liếc nhìn sang Lancaster. “Những bài đăng trên mạng?”
Chị gật đầu. “Chúng ta sẽ thu thập tất cả chúng.”
“Vậy là cô bé chưa từng nói điều gì về điều này? Không gì cả ư?”
“Tôi đã hỏi. Rất nhiều lần. Nhưng con bé không cắn câu.” Bà ngừng lại. “Con bé có lỡ lời và nói răng tôi sẽ không hiểu được cậu ta đâu. Cậu ta rất... trưởng thành.”
“Nghĩa là hơn tuổi rồi. Không phải học trung học sao? Decker hỏi.
“Chính là ý tôi muốn nói đó, đúng vậy. Con bé là học sinh cuối cấp. Con bé chắc chắn là không nói đến bất kì bạn cùng lớp nào đâu. Và con bé còn chẳng bận tâm đến tụi nhóc lớp dưới. Và Debbie thực chất là rất ưa nhìn. Con bé phát triển rồi. Có rất nhiều đứa con trai để mắt đến con bé. Tôi đã cố gắng cho lời khuyên, nhưng con bé không nghe. Tôi cũng không nghe khi mẹ tôi cố nói với tôi. Tôi lúc nào cũng thích mấy đứa trai hư.”
Chồng chị ấy nhìn về phía các thám tử gần như muốn biện hộ gì đó. “Và rồi cô ấy cưới tôi.”
“Bị buộc phải cưới anh thôi, George. Khi ấy chúng tôi sắp sinh Debbie. Mẹ tôi còn suýt lên cơn đau tim nữa. Cho tới giờ thì điều tuyệt nhất đến từ cuộc hôn nhân này chính là Debbie. Và giờ tôi thậm chí còn chẳng có con bé nữa. Nghĩa là tôi chẳng còn gì hết.”
Lancaster nhìn sang phía khác, George Watson cắn chặt lấy môi mình và quyết định tập trung vào vệt nước tròn trên bàn.
Decker chăm chú vào cả hai người họ. Trong tình cảnh bi kịch như vậy, mọi quy tắt mang tính xã hội trong một cuộc hôn nhân có xu hướng biến mất. Những gì chưa từng được nói ra đến nay đã được thổ lộ một cách đơn giản và dễ dàng. Cứ như thể con đập giữ tất cả lại đã đổ vỡ. Debbie có thể đã là con đập ấy. Và giờ chính cái chết của cô bé đại diện cho sự đổ vỡ.
“Tại sao lại là bản phác của dụng cụ lại có họa tiết rằn ri?” Lancaster hỏi. Cô nhìn George. “Anh có đi săn không? Anh có đồ ngụy trang ở đây không?”
Anh ta lắc đầu nguầy nguậy. “Tôi không thể bắn động vật được. Tôi thậm chí còn không có khẩu súng nào.”
Decker nói, “Tôi đoán có lẽ thể trạng của anh khó mà có thể cầm được vũ khí.”
George nhìn xuống cánh tay dị tật của mình. “Tôi sinh ra đã vậy rồi.” Anh ta dừng lại. “Nó khiến nhiều việc trở nên khó khăn,” anh nói thêm một cách cam chịu.
“Vậy thì dụng cụ họa tiết rằn ri có thể có liên quan đến cậu Jesus này?” Decker nói.
“Có thể là vậy,” George nói một cách đầy thận trọng.
“Chắc chắn là vậy rồi,” Beth ngắt lời. “Con bé vẽ một hình trái tim ngay cạnh!” Bà liếc sang Lancaster cùng một cái nhìn thông thạo và đầy bực bội. “Đàn ông các anh không bao giờ để ý đến cái gì cả. Đến đi siêu thị mua đồ cho gia đình còn chẳng chịu làm nữa là.”
Decker nói, “Tôi đã thấy một chiếc laptop trên bệ bếp. Debbie có dùng nó không?”
“Không, con bé có một cái riêng. Ở trong phòng con bé.”
“Chúng tôi có thể xem qua phòng của con bé bâh giờ không?”
Họ được Beth dẫn xuống sảnh. Trước khi quay đi, chị ta rít một hơi thuốc cuối và nói, “Cho kết quả rút ra được là gì, không đời nào con gái tôi có liên quan đến vụ này, dù cho nó có bức hình vẽ thằng khốn nạn này. Không đời nào. Nghe thấy tôi nói rồi chứ? Cả hai người?”
“Rất rõ ràng,” Decker nói. Nhưng anh nghĩ nếu Debbie thực sự có nhúng tay vào thì dù gì cũng đã phải trả cái giá quá đắt rồi. Chính quyền chẳng thể giết cô bé thêm lần nữa.
Beth thản nhiên búng điếu thuốc xuống sảnh, mẩu thuốc tóe lửa và rồi tắt ngóm trên tấm thảm đã bạc màu. Sau đó chị ta quay bước đi.
Họ mở cửa và đi vào phòng của Debbie. Decker đứng giữa không gian nhỏ xíu ấy và nhìn quanh.
Lancaster nói, “Chúng tôi sẽ cho các nhân viên kĩ thuật xem qua những nội dung trên mạng của cô bé. Ảnh trên điện thoại, cái laptop nằm đằng kia, bộ lưu trữ đám mây, bất cứ thứ gì. Instagram, Twitter, Facebook... Bất cứ nơi nào mà bọn trẻ dùng để làm sống ảo trên thiết bị điện tử. Tụi nhỏ cứ đổi mạng xã hội xoành xoạch. Nhưng các nhân viên của chúng ta sẽ biết phải tìm ở đâu.”
Decker không trả lời chị. Anh chỉ tiếp tục nhìn quanh, tập trung xem xét căn phòng, xếp gọn từng thứ vào những ngóc ngách nhỏ trong trí nhớ mình và rồi lôi lại chúng ra nếu có điều gì đó có vẻ không ổn khi so với một thứ khác.
“Tôi chỉ thấy căn phòng của một cô gái tuổi teen điển hình thôi. Nhưng anh thì thấy gì?” Lancaster cuối cùng cũng hỏi.
Anh không nhìn chị nhưng vẫn đáp, “Tôi cũng thấy giống cô vậy. Đợi tôi một phút.”
Decker đi quanh không gian nhỏ bé ấy, nhìn xuống dưới đống giấy tờ, trong tủ quần áo của cô gái trẻ, quỳ xuống xem gầm giường của cô bé, quan sát kỹ lưỡng những bức tranh tường được treo khắp nơi, có nguyên cả một phần là bìa tạp chí People. Cô bé cũng có những tấm bảng phấn đen vuông dán trên một mảng tường. Trên đó là một bản nhạc, những đoạn thơ ngắn và những thông điệp cá nhân dành cho chính cô:
Deb, Hãy thức dậy mỗi ngày và chứng tỏ bản thân nhé.
“Phòng khá kín chỗ đó,” Lancaster ngồi trên mép bàn của cô gái và nhận định.
“Chúng tôi sẽ cho bên pháp lý đến và thu thập tất cả.”
Chị nhìn sang phía Decker, rõ ràng là đang chờ anh phản ứng với lời nói này, nhưng thay vào đó, anh bước ra khỏi phòng.
“Decker!”
“Tôi sẽ quay lại,” anh nói với qua vai.
Chị nhìn anh đi và rồi lẩm bẩm, “Mình thật là, chọn ai không chọn mà lại chọn ngay ông nội to xác có thói quen tự kỷ này làm cộng sự.”
Chị rút một thanh kẹo cao su ra khỏi túi, bóc vỏ và thả vào miệng. Vài phút sau đó, chị rảo bước quanh phòng và rồi tiến đến chỗ gương ở phía sau cánh cửa tủ quần áo. Chị soi xét ngoại hình của mình và kết thúc bằng một tiếng thở dài cam chịu từ một người biết rằng những ngày tháng hình thể tuyệt nhất của mình đã là quá khứ rồi. Chị tự động với lấy điếu thuốc nhưng rồi lại quyết định thôi. Phòng của Debbie có thể là một phần của cuộc điều tra. Tàn và khói thuốc của chị chỉ có thể phá hỏng cuộc điều tra đó.
Chị quay ngoắt lại khi Decker quay trở lại phòng. “Anh vừa đi đâu vậy?” chị hỏi.
“Đặt vài câu hỏi cho phụ huynh, và tôi muốn xem xét phần còn lại của ngôi nhà nữa.”
“Và?”
Anh tiến về phía bản phổ nhạc được viết trên tấm bảng treo tường và chỉ vào nó.
“Debbie không viết cái này.”
Lancaster nhìn chằm chằm vào các nốt nhạc. “Làm sao anh biết điều đó?”
“Cô bé không chơi nhạc cụ. Tôi đã kiểm tra học bạ của cô bé trước đó rồi. Cô ấy chưa từng tham gia ban nhạc. Tôi đã hỏi mẹ cô bé. Cô ấy chưa từng chơi nhạc cụ và không có nhạc cụ nào trong nhà cả. Thứ hai, không có tờ phổ nhạc nào trong phòng này hết. Giả dụ cô không chơi nhạc cụ mà chỉ sáng tác nhạc thôi, thì cũng phải có vài bản phổ nhạc hay nhiều khả năng là vài tờ giấy với khuông nhạc trống ở trong phòng. Thứ ba, đó không phải chữ viết tay của Debbie.”
Lancaster tiến lại gần bức tường, nghiên cứu kỹ các dấu vết trên đó và so sánh chúng với những chữ viết khác trên tường.
“Nhưng làm thế nào mà anh biết chắc là vậy?” chị hỏi. “Phổ nhạc không giống như viết chữ. Ta vẽ nên các nốt, không phải viết thành chữ.”
“Bởi vì Debbie thuận tay phải. Ai đó viết cái này thì thuận tay trái. Ngay cả khi đó không phải chữ cái thì cô vẫn có thể nhìn ra sự khác biệt trong các nét uốn, nét vung và mạch chung của các vết tích.” Anh nhặt lên chút phấn và viết lên phần khác của tấm bảng bằng một vài kí hiệu âm nhạc. “Tôi thuận tay phải nên khi tôi viết là cô sẽ thấy được sự khác biệt.”
Anh chỉ vào một vài vết nhòe trên tấm bảng. “Đó là chỗ mà tay áo bên trái của người đó quệt vào bản nhạc. Đối với một người thuận tay phải, vết nhòe sẽ nằm ở phía đối diện. Giống như của tôi đây.” Anh chỉ vào chỗ tay áo của mình quệt vào một số vết phấn. “Và tên Leopold thì lại thuận tay phải.”
“Làm sao anh biết được điều đó?”
“Hắn ta đã kí vào một tờ giấy mà tôi đưa khi tôi gặp hắn - trong phòng giam.”
“Được rồi, nhưng có khi một đứa bạn là nhạc sĩ của cô bé viết.”
Nhưng Decker đã lắc đầu. “Không.”
“Tại sao không thể? Tôi thấy việc một người bạn của cô bé viết ra một giai điệu hay thứ gì đó là hoàn toàn có thể. Có thể là theo cảm hứng, để khớp với một trong số những câu mà Debbie viết.”
“Bởi vì những nốt nhạc đó chẳng có ý nghĩa gì cả. Cô không thể chơi nó bằng nhạc cụ nào đâu, tôi biết mà. Từ góc độ sáng tác nhạc, nó thật vô nghĩa.”
“Sao anh biết? Anh chơi nhạc ư?”
Decker gật đầu. “Thời trung học, ghitta và trống. Tôi biết cách phổ nhạc. Chứ không chỉ biết mỗi banh bóng không thôi đâu.”
Lancaster liếc nhìn lại những biểu tượng đó. “Vậy thì đó là gì?”
“Tôi nghĩ đó là một mật mã,” Decker đáp. “Và nếu tôi đúng, có nghĩa là Jesus đã ở trong căn nhà này.”
 Chú thích:
Hey-soo: cách gọi tên “Jesus” trong tiếng Mexico.  
 
 
 
CHƯƠNG 22
 
Decker và Lancaster đã phong tỏa phòng ngủ của Debbie và gọi đội pháp y đến, họ đã xem xét kỹ lưỡng toàn căn phòng và cả ngôi nhà. Burlington chưa từng trải qua một vụ án nào nghiêm trọng như vụ này, và tất cả mọi người, từ tân binh trong đội cho đến nhân viên lão thành nhất của bộ, đều dốc hết tài nghệ của mình ra.
Nhà Watson nói rằng họ không biết gì về nhạc phổ hết. Decker có vẻ tin họ. Sau khi đội pháp y xong xuôi, Decker và Lancaster mới ngồi xuống với hai vợ chồng nhà Watson lần nữa.
“Nếu người đàn ông ấy đến căn nhà này để viết nhạc lên tường, liệu hắn ta có thể làm vậy mà hai người không hề hay biết không?” Decker hỏi họ.
“Ôi, chúng tôi phải ngủ mà,” Beth cẩn trọng nói. “Nhưng căn nhà không lớn đến vậy. Và phòng ngủ của chúng tôi ngay cạnh phòng của Debbie. George và tôi đều rất dễ bị đánh thức. Tôi không hiểu làm thế nào mà con bé có thể đưa một gã trai vào phòng mà chúng tôi không hề hay biết điều đó.”
“Vậy vào ban ngày thì sao?” Lancaster nói.
“Tôi là một bà mẹ nội trợ mà. George thì đi làm vào ban ngày. Thực ra tôi ở nhà nhiều hơn Debbie nhiều.”
“Chị có nhớ mình đã nhìn thấy bản phổ nhạc trên tấm bảng từ bao lâu rồi không?” Decker hỏi.
“Hai tuần trước nó không ở đó, tôi có thể nói với anh như vậy,” chị ta trả lời.
“Sao chị biết điều đó?” Decker hỏi.
“Bởi vì tôi đã lau sạch tấm bảng ấy.” Chị ngừng lại. “Chúng tôi đã có một cuộc tranh cãi và tôi đã... đã nổi điên lên và xóa sạch ba cái hình vẽ tào lao đó đi.” Giọng chị ta bật ra có chút nức nở. “Vậy mà giờ đây tôi sẽ không bao giờ được gặp lại con bé nữa.”
“Hai người đã tranh cãi về chuyện gì?” Decker hỏi, phớt lờ sự đau khổ của chị. Anh cần câu trả lời. Và anh cần chúng ngay lúc này. Chị ấy có thể đau buồn sau đó.
Beth tự trấn tỉnh bản thân lại. “Debbie là học sinh cuối cấp. Con bé đã thi SAT và làm ổn, nhưng con bé lại không nộp đơn vào một trường đại học quái nào cả. Con bé viện lí do về chi phí. Và đúng là chúng tôi thực sự không thể giúp con bé. Nhưng tôi vẫn nói với nó rằng có những khoản hỗ trợ tài chính ngoài kia. Và nếu không có bằng cấp thì con bé định sẽ làm gì? Trở thành một người như tôi ư?” Chị ta ngừng lại lần nữa khi người chồng nhìn đi hướng khác. “Vậy nên tôi phát điên lên và đã lau sạch cái bảng chết tiệt của con bé đi. Tất cả thông điệp mà con bé viết trên đó là về việc thay đổi thế giới và có một mục đích. Thật là nhảm nhí! Con bé chẳng làm gì cả và cũng chẳng có tương lai gì hết! Vậy nên tôi đã xóa sạch nó đi. Lau sạch tấm bảng đó. Hy vọng là con bé sẽ hiểu được ý mình. Nhưng có vẻ như con bé không hiểu. Bây giờ con bé sẽ không bao giờ hiểu. Bây giờ và mãi mãi về sau. Ôi, chết tiệt, con tôi. Con tôi.”
Beth vỡ òa trong nước mắt và bắt đầu quằn quại không kiểm soát trên chiếc ghế divan. Với sự giúp đỡ của Decker, người chồng cố gắng đưa chị ấy vào phòng ngủ để ngã lưng xuống. Decker có thể nghe thấy tiếng chị ấy gọi đứa con gái đã chết của mình trong suốt đoạn đường đi xuống sảnh cùng Lancaster.
George Watson quay trở lại trong vài phút sau đó và nói, “Tôi nghĩ hôm nay vợ chồng tôi chỉ giúp được đến đây thôi, nếu anh không còn hỏi gì thêm nữa.”
Decker nói, “Gần đây anh và vợ có đi du lịch đâu đó không?’
George nhìn anh với vẻ ngạc nhiên. “Sao anh biết hay vậy?”
“Người đàn ông đó đã đến đây và viết những dòng đó. Nếu còn ở nhà thì có thể anh chị đã thấy hắn ta rồi. Hắn không dám làm thế khi anh chị còn ở đây. Vậy là hai người đã vắng nhà trong một lúc nào đó?”
“Một tuần trước chúng tôi lái xe đến Indianna để ở với em gái của Beth. Cô ấy bị ốm. Chúng tôi ở đó hai ngày và rồi lái xe quay về.”
“Và Debbie đã ở lại đây?”
“Vâng, chúng tôi không thể để con bé nghỉ học ở trường được.”
“Vậy có thể đó chính là lúc mà gã kia đến,” Decker nói.
George bắt đầu run rẩy, vòng tay quanh mình. “Anh có thực sự nghĩ là tên cầm thú đó đã ở trong nhà chúng tôi? Trong phòng ngủ của con gái tôi?”
Decker xoa nhanh vào cánh tay bị tật của người đàn ông. “Tôi nghĩ khả năng cao là có thể, đúng vậy.”
Lancaster ném qua Decker một ánh nhìn đầy cáu giận và nhanh chóng nói, “Được rồi, cảm ơn sự giúp đỡ của anh, anh Watson. Chúng tôi sẽ đi ngay bây giờ. Và chúng tôi rất lấy làm tiếc vì nỗi mất mát của anh.”
George dẫn họ ra đến cửa. Khi mở cửa anh ta nói, “Debbie sẽ không giúp bất cứ ai giết người ở Mansfield đâu. Ở trường toàn là bạn của con bé,”
“Tôi có thể nhận thấy điều đó,” Decker nói. “Tôi hi vọng điều anh nói là đúng.”
George chớp mắt nhanh như thể anh ta chưa từng cho rằng điều mình vừa nói có thể bị phủ định. Anh ta đóng cửa lại sau lưng họ.
Decker và Lancaster bước xuống vỉa hè.
“Thái độ an ủi người nhà nạn nhân của anh vẫn tuyệt như mọi khi nhỉ,” Lancaster nói một cách mỉa mai.
“Tôi không ở đây để làm bạn và nắm tay anh ấy, Mary. Tôi ở đây để tóm kẻ đã giết con gái anh ấy.”
“Được rồi, được rồi,” chị nói, “Tôi đã nhận được một email từ bên pháp y. Họ không tìm thấy thứ gì có liên quan trên điện thoại hay laptop của Debbie hết. Không có ảnh, email, tin nhắn hay thư thoại nào cả. Và cũng không có bài đăng trên mạng nào trên các trang web mà họ có thể nghĩ đến hay Debbie có thể truy cập vào. Mẹ cô bé nói rằng cô ấy có vài lần ám chỉ đến gã này, nhưng Debbie chắc hẳn đã xóa chúng đi rồi. Nhưng có lẽ người của chúng ta vẫn có thể đào được chúng lên bằng cách nào đó.”
“Tên này sẽ không bao giờ để cô bé chụp ảnh mình đâu. Cũng không có dấu vết điện tử nào hết. Nếu vậy thì quá dễ rồi. Tên này thậm chí có thể còn không truy cập web.”
“Sao anh nghĩ vậy?”
“Theo tôi thấy hắn đang ở ngoài luồng. Không có ràng buộc gì. Một kẻ đơn độc. Hắn lang thang hết từ nơi này sang nơi khác.”
“Dựa vào đâu cơ? Anh đã thấy điều gì đó sao?”
“Không, tôi cảm nhận được điều gì đó. Nhưng có một điều khiến tôi bối rối.”
“Chỉ một thôi à, vậy thì anh may mắn đó,” chị nói. “Tại sao lại là Debbie? Tại sao lại chọn cô bé để thông đồng?”
“Thông đồng? Chính xác thì cô ấy đã làm gì? Tôi nghĩ là cô bé chỉ là bạn gái hắn thôi.”
“Cô bé cho hắn thứ mà hắn cần.”
“Thứ mà hắn cần? Ở trường? Ý anh không phải là súng đấy chứ? Làm gì có chuyện cô ấy mang súng lục và súng ngắn được.”
“Ý tôi không nhất thiết phải là súng, không phải.”
“Nhưng tại sao hắn lại cần cô bé mang cho hắn thứ gì đó?”
“Đó cũng là điều khiến tôi bối rối. Tại sao lại là cô bé và tại sao lại là cuộc gặp gỡ ở trường vào ngày hôm đó?”
“Whoa, Decker, anh đang dẫn trước tôi rồi đấy. Cuộc gặp gỡ nào cơ?”
“Cô bé đã giả vờ ốm. Cô ấy ra khỏi lớp, gặp tên đó, có lẽ là đưa hắn ta thứ gì đó, và rồi hắn giết cô ấy. Nhưng có một khoảng thời gian trống mà tôi không thể xác định được ngay lúc này.”
Chị hỏi anh một câu hỏi khác, chỉ có Decker là đang không nghe. Ánh mắt anh đang di chuyển xuống phố, về phía bên trái. Trời đã tối, không khí ban đêm se lạnh với hơi sương bốc ra từ miệng họ khi thở ra. Dường như chẳng có gì tốt đẹp từ màn đêm tối đen đó hết. Nhưng đối với Decker, buổi đêm bỗng nhưng có đầy những con số ba, con số mà anh không ưa nhất.
Con số ấy lần đầu tiên xuất hiện khi anh còn là một cảnh sát tân binh. May thay, anh đã đi tuần tra một mình. Anh đang ngồi trong xe đi tuần để nhâm nhi ly cà phê thì từ trong bóng tối có động. Thoạt đầu anh nghĩ là có vài người đang lén đến gần mình. Thời đó, Burlington gặp vấn đề lớn với băng đảng, phần lớn bao gồm những gã trai trẻ vô công rỗi nghề, không có hi vọng gì, dư thừa năng lượng và có quá nhiều súng trong tầm với.
Anh ném ly cà phê ra ngoài cửa sổ, một tay nắm lấy khẩu súng và tay còn lại với lấy bộ đàm. Anh chuẩn bị bước ra khỏi xe và đưa ra lời cảnh báo cho bất cứ ai đang ở bên ngoài. Đó là khi những con số đó hiện ra rõ trước mặt anh. Những con số ba khổng lồ, cao ngất ngưởng.
Khi đó như thể anh đột nhiên bị đẩy vào một cuốn tiểu thuyết khoa học viễn tưởng dở tệ vậy.
Anh nghĩ rằng mình sắp phát điên rồi. Nhưng có thứ gì đó tụ lại ngay giữa não bộ anh. Một mẩu kí ức nhỏ về một trong những vị bác sĩ ở ngoại ô Chicago nơi mà anh đến sau chấn thương và mọi thứ kì quặc đã bắt đầu xảy đến với anh.
Vị bác sĩ nói, “Amos, đối với anh, mỗi ngày mới có thể sẽ xảy ra những điều mới. Não bộ không bao giờ ngừng hoạt động. Nó không hề ngơi nghỉ. Nó liên tục định hình và tái định hình. Tôi đang cố nói với anh rằng những điều từng xảy ra với anh cho đến giờ có thể không phải là thay đổi duy nhất mà anh trải qua với tâm trí mình. Ngày mai, tháng tới, năm tới, một thập kỉ, kể từ bây giờ, anh có thể thức dậy và phát hiện ra rằng bộ não đang làm điều gì đó khác. Thật không may, sẽ chẳng có cách nào để dự đoán nó sẽ làm gì. Và khi điều đó diễn ra trải nghiệm có thể sẽ thật kinh hoàng. Nhưng anh chỉ cần biết rằng đó là tâm trí của anh. Mọi thứ chỉ đang diễn ra trong đầu anh. Nó không có thật.”
Bằng sự hồi tưởng đó, Decker quay lại đối mặt với đội quân những con số đông đảo, nỗi sợ hãi ban đầu của anh giảm dần xuống, nhưng nó đã được thay thế bởi một nỗi sợ mới.
Liệu ngày mai mình có phải đối mặt với chuyện mới gì nữa không đây?
Anh tan sở, quay về nhà, nằm gục xuống giường và lặng lẽ khóc để không đánh thức Cassie. Vào buổi sáng, anh kể với Cassie chuyện đã xảy ra. Như có thể dự đoán trước, cô ấy rất thông cảm và động viên anh. Và cũng có thể đoán trước là Decker rất lạc quan, phủi tay và xem chuyện đêm qua như một chuyện hài hước. Nhưng nó không hài hước. Không hài hước chút nào cả. Những con số ba đã biến mất một thời gian rồi. Thực tế anh đã không còn thấy chúng bước ra từ bóng tối kể từ khi Cassie và Molly chết. Nhưng giờ chúng lại quay trở lại.
Thật kì lạ.
Và những con số ba ấy đã thêm một khía cạnh mới. Một bộ ba con dao đang phóng ra từ thân của mỗi con số. Không, chuyện này không hề hài hước chút nào.
“Hãy cho tôi biết tin nếu họ giải được mật mã nhé,” anh nói khi những con số ba lao về phía trước, lăm lăm những con dao trong tay.
Sau đó anh quẹo trái và đi xuống đường. “Anh không muốn đi xe về à?” Lancaster hỏi.
Decker vẫn tiếp tục bước đi, hai bàn tay anh đút sâu vào túi áo khoác.
Anh không cần đi xe. Anh cần suy nghĩ.
Anh nhìn xuống bàn chân mình để tránh đụng mặt với khuôn mặt của những quân đoàn số đang lao vào anh từ trong bóng tối.
Debbie Watson có gì mà gã xả súng cần? Súng? Không phải. Bộ đồ rằn ri? Có thể. Nhưng tại sao hắn không tự mình mang theo? Hắn không cần cô bé vì những thứ đó.
Trái tim và bức hình. Cô bé đã yêu. Cô bé đã phải lòng hắn ta. Sẽ làm bất cứ điều gì vì hắn. Nhưng liệu cô ấy có hi sinh cả bạn học của mình không? Tấm hình vẽ người đàn ông mặc đồ rằn ri không có bất cứ vũ khí nào. Liệu có phải Debbie không hề biết về kế hoạch thực sự? Vậy thì tại sao cô bé vẫn ra khỏi lớp để gặp hắn?
Anh ngước mắt lên, nhìn thấy những con số ba đang bay thẳng vào mình, anh hạ ánh mắt của mình xuống một lần nữa. Khi phải đi giám sát hay tăng ca vào ban đêm, anh đều đeo một cái kính đặc biệt giúp nhuộm bóng tối thành màu vàng. Màu vàng đối với anh là một bầu trời đầy những chú ngỗng đang cất cánh bay cao. Không có con số ba nào làm phiền anh hết. Anh đã mất cái kính đó từ lâu. Giờ thì những con số ba đã quay trở lại và chúng còn được trang bị cả dao. Anh sẽ cần phải có một cái kính mới.
Anh dừng bước, dựa vào một cái cây, nhắm mắt lại, truy cập vào đầu máy ghi hình trong tâm trí mình và tua lại tất cả những gì anh đã nhìn thấy trong căn nhà của gia đình Watson. Trong đầu anh, cuộn băng được tháo ra và rồi làm chậm lại tốc độ của các khung hình trong tâm trí. Sau đó anh bấm nút dừng trên máy ghi lại và một dãy các bức ảnh nhìn chằm chằm vào anh như những bức tượng nhỏ trên mặt lò sưởi. Thực tế thì đúng là vậy.
Chúng ở trên mặt lò sưởi.
Decker quay lại và bước thật nhanh về phía căn nhà của gia đình Watson. Anh gõ cửa và George trả lời.
“Anh quên gì à?” George hỏi, nghe giọng có chút khó chịu.
“Những tấm hình trên mặt lò sưởi. Tôi đã nhìn thấy chúng trước đó. Anh có thể dẫn tôi xem qua chúng không?”
“Những tấm hình trên mặt lò sưởi?” George nói với một vẻ mặt khó hiểu. “Đi xem qua chúng ư?”
Decker bước vào trong nhà, buộc người đàn ông nhỏ bé hơn nhiều phải nhanh chóng lùi lain.
“Tôi cho rằng họ là thành viên trong gia đình?”
“Đúng vậy. Nhưng điều đó thì có liên quan gì?”
“Tôi đã điều tra nhiều vụ án và rút ra được rằng một thứ mà anh cho qua, sau rốt lại có khi chính là đáp án mà anh cần. Chúng tôi không thể để xảy ra bất kì sai sót nào ở đây, thưa anh Watson, tôi chắc chắn là anh có thể hiểu điều đó. Chúng ta phải làm vậy để tìm ra bất cứ kẻ nào đã giết Debbie và những người khác.”
Người đàn ông ấy còn biết nói gì hơn ngoài việc đồng tình?
Watson chậm rãi gật đầu, mặc dù trông anh ta vẫn có vẻ chưa thuyết phục. “Được thôi, chắc chắn rồi, theo tôi.”
Anh ta dẫn Decker vào căn phòng khách nhỏ và đến chỗ mặt lò sưởi bằng gạch cũ có vữa rỉ xuống từ các đường bản lề.
“Anh muốn bắt đầu từ đâu?”
Decker chỉ vào bức ảnh phía bên trái. “Từ ông ấy.”
“Được rồi, đó là ba vợ tôi, Ted Knolls. Ông ấy đã qua đời khoảng hai năm trước. Vì đau tim.”
“Ông ấy làm gì để kiếm sống vậy?”
“Cái đó thì liên quan quái gì đến -”
Decker cắt lời anh ấy. “Chỉ cần nói cho tôi biết ông ấy làm gì để kiếm sống.”
Decker nhìn xuống người đàn ông nhỏ con một cách đầy đe dọa. Anh là một con gấu xám đang đấu với một con sóc chuột, anh muốn Watson cảm thấy như vậy.
Watson lùi lại một bước, đổi sắc mặt và nhìn vào tấm ảnh. “Ông ấy lái xe tải đường dài. Chế độ ăn uống không tốt, không tập thể dục. Ông ấy to như cả một căn nhà khi ngã gục xuống bãi cỏ phía trước để nhặt một tờ báo. Ông ấy đã chết trước khi ngã xuống cỏ.” Ông nhìn vào thân hình khổng lồ của Decker khi nói điều này. “Nhưng ông ấy chỉ làm có vậy thôi, lái xe tải xuyên suốt vùng Trung Tây đến Texas rồi quay lại.”
“Ông ấy có thân với Debbie không?”
Watson bất giác xoa lấy cánh tay dị tật của mình. “Không, không hẳn. Ý tôi là, vợ chồng tôi chỉ gặp gia đình vợ vào những dịp lễ thôi. Nhưng thú thật thì mọi chuyện giữa hai chúng tôi và gia đình vợ không được tốt đẹp cho lắm. Mẹ vợ chưa từng có thiện cảm với tôi.”
“Và người đàn ông bên cạnh ông ấy thì sao? Bức hình đó trông khá cũ.”
“Đó là ông tôi, Simon Watson. Ông ấy đã qua đời được sáu năm rồi. Trong bức ảnh đó ông ấy còn là một chàng trai trẻ.”
“Vậy đó là cụ của Debbie,” Decker nói và Watson gật đầu.
“Ông ấy sống đến hơn chín mươi tuổi. Mặc dù hút thuốc, uống rượu và, như ông ấy vẫn thích nói, cóc quan tâm chúng làm hại sức khỏe ra sao.”
“Nhưng Debbie biết ông ấy chứ, bởi ông ấy mới chỉ qua đời được sáu năm?”
“Ồ, vâng. Thực ra thì ông ấy sống cùng chúng tôi năm năm cuối đời mình.”
“Vậy thì hẳn là cô bé đã dành thời gian với ông ấy chứ?”
“Tôi chắc chắn là con bé đã làm vậy. Khi đó Debbie vẫn còn là một đứa trẻ và ông tôi từng có một cuộc đời thú vị. Đã từng đi đánh trận trong Thế chiến thứ II và rồi đến là Chiến tranh Triều Tiên. Sau đó ông ấy rời nghĩa vụ và đến làm việc cho bên dân sự của Bộ Quốc Phòng.”
“Làm gì?”
“À, ông ấy làm việc tại căn cứ quân sự ở đây khi nó được thành lập.”
“Căn cứ bên cạnh Trường Trung học Mansfield? Căn cứ Quân sự McDonald?”
“Đúng rồi.”
“Ông ấy có một đống việc. Chuyên ngành đào tạo của ông ấy là về kỹ thuật và xây dựng. Vậy nên ông ấy làm công việc liên quan đến cơ sở vật chất và nhà máy.”
“Anh có biết ông làm việc trong bao lâu không?”
“Thôi nào, chuyện này thì có liên quan gì?”
“Tôi chỉ đang tìm kiếm manh mối tiềm năng thôi, thưa anh Watson. Trong bao lâu?”
“Tôi không thể nói chắc chắn với anh được.” Anh ta dừng lại và suy nghĩ. “Ông ấy xuất ngũ chính quy vầo độ tuổi khoảng sáu mươi. Sau đó ông ấy đến McDonald có lẽ vào khoảng năm 1968 hoặc 69. Chắc là năm 69. Tôi nhớ là vì năm ấy diễn ra sự kiện các phi hành gia đặt chân lên mặt Trăng lần đầu tiên. Rồi ông ấy làm việc ở đó đến khi về hưu. Khoảng hai mươi năm sau đó.”
“Và căn cứ ấy đã đóng cửa từ tám năm trước rồi.”
“Nghe có vẻ đúng đó.”
“Đó không phải câu hỏi, anh Watson, nó đã đóng cửa tám năm trước rồi, vào thứ Hai. Hôm đó có mưa tuyết.”
Watson nhìn anh một cách kì lạ và đó ho hắng. “Nếu anh nói vậy. Tôi còn không nhớ được mình đang làm gì tuần trước nữa kìa. Dù sao thì nó cũng là một phần công cuộc tái cơ cấu căn cứ của Lầu Năm Góc và Burlington thì bị đóng cửa. Tôi nghe nói rằng hầu hết các chiến dịch đều được dời về phía đông, có lẽ là tới Virginia. Gần hơn với Chú Sam và dollas ở D.C.”
“Vậy thì có lẽ Simon đã từng kể chuyện công việc ở căn cứ với anh và Debbie rồi?”
“Ồ, vâng, ý tôi là những chuyện mà ông ấy có thể kể. Một vài chuyện thì thuộc loại tuyệt mật, như người ta thường gọi.”
“Tuyệt mật à?”
Các nét trên mặt George dần giãn ra nhẹ nhõm. “À, tôi không nghĩ là quân đội chế tạo vũ khí hạt nhân hay cái gì tương tự ở căn cứ đó. Nhưng họ lúc nào cũng có rất nhiều bí mật.”
“Vậy thì Simon đã kể với anh những chuyện gì? Ý tôi là chuyện liên quan đến căn cứ ấy?”
“Một vài câu chuyện lịch sử về nó thôi. Những người mà ông ấy gặp. Một vài công việc mà ông ấy làm. Họ cứ tiếp tục xây căn cứ đó suốt nhiều năm liền. Xây dựng, rồi xây thêm, xây miết không thôi. Tất cả những ai làm việc ở đó đều gửi con của họ đến trường học Mansfield. Con của cụ, tức cha tôi, theo học ở trường này. Tôi cũng thế. Về vấn đề đó thì vợ tôi cũng vậy.”
“Debbie có từng đề cập với ông về những chuyện mà cô bé và cụ trao đổi chứ?”
“Theo tôi nhớ là không. Khi Debbie lớn hơn thì con bé không còn dành nhiều thời gian với ông ấy như thế nữa. Người già, trẻ nhỏ, như dầu và nước ấy. Ông ấy không còn thú vị đối với con bé nữa, có lẽ vậy.” Anh ta nhìn xuống. “Và tôi cũng không khác gì.”
“Được rồi, cho tôi xem qua những bức ảnh khác đi.”
Nửa giờ đồng hồ sau Decker lại một lần nữa dạo bước trên những con phố tối tăm.
Người đàn ông với bộ đồ rằn ri đã đến nhà của gia đình Watson và viết lên tường một mật mã được ngụy trang dưới hình thức một bản phổ nhạc. Đó là điều mà anh có thể chắc chắn. Anh không biết nội dung của mật mã đó là gì, và anh cũng không biết người đàn ông đó cần gì ở Debbie. Tuy nhiên, trong số tất cả các học sinh ở trường Mansfield, tại sao hắn lại thông đồng với cô bé? Chắc hẳn phải có một lí do. Một lí do chính đáng.
Điện thoại anh rung lên. Là Lancaster nhắn.
“Cục nghĩ là họ đã phá được mật mã rồi. Đó là một kiểu mã thay thế. Thực ra khá đơn giản. À, họ thực tình chắc chắn rằng đã phá được nó rồi.”
“Làm sao mà họ dám chắc chắn là đã phá được?”
“Bởi vì đó là những gì mà thông điệp nói.”
“Đừng khiến tôi hồi hộp, Mary. Nó nói gì?”
Anh nghe thấy chị thở ra một hơi dài nghe chừng có vẻ đầy e ngại.
“Nó nói, Làm tốt lắm, Amos. Nhưng sau cùng thì nó sẽ chẳng giúp mày có được thứ mày muốn đâu, người anh em.”
 
 
 
 
CHƯƠNG 23
 
Tôi là một người “mắc hội chứng Savant [1] không do bẩm sinh.”
Chính xác hơn thì tôi là một người mắc hội chứng Savant không do bẩm sinh chức năng cao.
Decker đang nằm trên giường trong căn nhà một phòng ngủ của mình tại Residence Inn. Anh vẫn chưa ngủ. Anh không thể nào ngủ được.
Orlando Serrell.
Orlando Serrell cũng là một người mắc hội chứng Savant không do bẩm sinh, do bị một quả bóng chày đập vào đầu khi anh mới lên mười tuổi. Kể từ đó, anh sở hữu những khả năng phi thường trong tính toán lịch, trí nhớ chính xác về thời tiết vào bất kể ngày nào, cũng như khả năng ghi nhớ gần như hoàn hảo về nơi chốn hoặc hành động cụ thể của anh khi ấy vào bất cứ ngày nào.
Danniel Tammet
Danniel Tammet từng trải qua hàng loạt những cơn động kinh từ khi còn là một đứa trẻ. Anh đã thoát khỏi trải nghiệm gần như chết người đó và trở thành một trong những bộ óc vĩ đại nhất thế kỉ, có khả năng đọc thuộc lòng số pi đến vị trí thập phân thứ hai mươi hai nghìn và học toàn bộ các ngôn ngữ trong một tuần. Anh từng được chẩn đoán mắc hội chứng Asperger, cũng nhìn thấy các con số và nhìn thấy cả mọi vật đi kèm màu sắc giôang như Decker.
Decker từng nghiên cứu mọi thứ mà anh có thể tìm được về những người mắc hội chứng Savant không bẩm sinh, những người có được những khả năng xuất chúng sau một sự kiện nào đó, cho dù là sau một chấn thương trong trường hợp của Serrell hay sau một căn bệnh trong trường hợp của Tammet.
Không có quá nhiều người mắc hội chứng Savant trên thế giới, và Decker cũng chưa từng hoàn toàn chuẩn bị cho việc gia nhập hàng ngũ này. Khi LeCroix hạ gục anh trên sân bóng bầu dục, các bác sĩ đã kiểm tra toàn diện cho anh sau đó và đưa ra kết luận rằng chấn thương đã gây ra hai ảnh hưởng lên bộ não của anh.
Đầu tiên, nó đã mở ra các kênh mới trong trí não anh, giống như khơi thông một ống dẫn nước vậy, nó cho phép thông tin luân chuyển hiệu quả hơn nhiều. Thứ hai, nó khiến cho các mao mạch khác trong trí não anh giao nhau, giúp anh có khả năng thấy được màu sắc của các con số.
Nhưng đó mới chỉ là suy đoán. Decker tin rằng so với các bác sĩ một trăm năm về trước, các bác sĩ ngày nay cũng chỉ biết nhiều hơn chút ít về nguyên lý hoạt động thực sự của não bộ.
Decker đã tỉnh dậy trong bệnh viện sau cú va chạm, nhìn vào thiết bị theo dõi các dấu hiệu sinh tồn và những chỉ số hiện trên đó. Anh đã nhìn thấy nhịp tim của mình, 95 - tương tự với con số trên áo bóng đá của anh - số chín hiện ra với màu tím và số năm là màu nậ. Trước chấn thương, anh thậm chí còn không biết đến màu tím. Và những con số phình to khổng lồ trong đầu anh, cao lớn và đồ sộ. Anh có thể nhìn thấy mọi chi tiết của chúng. Chúng giống như những sinh vật sống vậy.
Anh nhớ lại, khi đó mình ngồi bật dậy trên giường, mồ hôi túa ra. Anh nghĩ mình đang sắp phát điên rồi. Anh rung chuông gọi y tá. Một bác sĩ được gọi đến và Decker lắp bắp kể lại những gì anh đang phải trải qua. Các chuyên gia được gọi đến. Nhiều tháng sau đó, và sau một quãng thời gian đằng đẵng ở cơ sở nghiên cứu phía ngoại ô Chicago, kết quả thống nhất rằng lúc này anh đã chính thức trở thành một người mắc hội chứng Savant không bẩm sinh cùng với hội chứng trí nhớ siêu phàm hyperthymesia và khả năng gặp cảm giác kèm synesthesia. Chấn thương trên sân cỏ đã chấm dứt mãi mãi sự nghiệp bóng bầu dục của anh, nhưng đã đem lại cho anh một trong những bộ não đặc biệt nhất thế giới. Đã nhiều năm rồi nhưng anh vẫn nhớ được tên và lai lịch của tất cả những chuyên gia khác, những người anh đã gặp qua, những hơn một trăm người.
Có thể anh đã được lên các trang tạp chí về học thuật và có rất nhiều sự chú ý từ truyền thông xung quanh những gì đã xảy ra với anh, tỉ lệ tình trạng anh gặp phải là khoảng đâu đó một trên một tỷ. Nhưng anh đã không cho phép bất cứ điều nào trong số đó xảy ra. Anh chưa từng xem bản thân mình là một thần đồng. Anh coi mình là một kẻ quái dị. Trong hai mươi hai năm cuộc đời mình, con người anh vẫn luôn là một kiểu một. Anh chỉ lơ là trong vài phút thôi để rồi vô tình trở thành một con người khác hoàn toàn. Trở thành người mà một ngày nào đó anh sẽ chết với danh phận ấy. Nó giống như một người lạ bước vào cơ thể anh và chiếm lấy nó, và anh chẳng thể làm gì để đưa người đó ra ngoài hết.
Một kẻ chiếm đoạt cuộc đời đang trú ngụ trong tâm trí tôi. Và tình cờ anh ta lại chính là tôi.
Mỗi lực tác động sẽ có một phản ứng đối nghịch tương ứng. Ồ, trong trường hợp của anh, một cầu thủ bóng bầu dục trẻ dễ gần, thích giao du, đùa cợt đầy hứng khởi lại trở nên dè dặt, thu mình và kém giao tiếp xã hội. Anh không còn hiểu được rất nhiều điều mà con người vẫn dành phần lớn thời gian để làm: nói chuyện phiếm, một vài lời nói dối vô hại, trút ra sắc thái cảm xúc, tán gẫu. Anh không thể hiểu được sự cảm thông hay đồng cảm. Anh chẳng hề quan tâm đến cảm xúc của người khác. Nỗi đau đớn và sầu khổ của họ. Cứ như thể những thứ này bị bật nảy ra khi chạm vào bộ não mới và cải tiến của anh, tình trạng này chưa từng thuyên giảm. Dù khiến anh trở nên thông minh hơn nhiều, cú va chạm ấy đã cướp đi khỏi anh những điều làm nên một con người. Như thể đó là một khoản được yêu cầu phải thanh toán vậy. Anh không có quyền lựa chọn chấp nhận hay không.
Anh thậm chí còn không quan tâm đến việc xem thể thao nữa. Anh chưa từng xem một trận bóng nào kể từ chấn thương đó.
Việc kết hôn với Cassie thực sự đã cứu rỗi anh. Cô biết bí mật của anh. Cô chia sẻ những nỗi lo toan ấy cùng anh. Nếu không có cô, Decker nghi ngại về việc liệu anh có thể xoay chuyển cuộc đời mình, tìm được sự nghiệp mới là cảnh sát và rồi thăng tiến thành một thanh tra, dùng bộ não mới mẻ và được cải thiện đáng kể của mình cho việc theo đuổi sự công bình. Và mặc dù anh không bao giờ có thể thể hiện sự yêu thương với Cassie như trước khi gặp phải cú va chạm được nữa, anh vẫn quan tâm cô, một cách sâu sắc. Anh sẽ làm bất cứ điều gì vì cô. Họ thậm chí còn cười đùa về việc khả năng kết nối với người khác của anh giống như một cái máy hơn là một con người. Nhưng Decker biết rằng cả hai người họ đều thầm ước rằng anh có thể làm được như bao người khác.
Mỗi khi ôm lấy con gái mình, Decker đều chẳng thể nghĩ gì khác ngoài cô bé, như thể bộ óc quái vật của anh đã bị mê hoặc bởi con người nhỏ bé thích âu yếm với người cha khổng lồ của mình - một con gấu và đứa con của nó. Anh sẽ vuốt tóc và xoa má cô bé và mặc dù hồi ức thật mờ nhạt, giống như khi xem một chiếc TV cũ bằng chiếc mắc áo thay cho ăng-ten, anh vẫn có thể nhớ lại con người cũ của mình một cách đầy sức sống hơn bất cứ lúc nào khác.
Như thể bộ óc mới của anh cho hai con người này là một ngoại lệ, cho phép anh gần trở lại là con người xưa kia.
Nhưng chỉ khi ở bên hai người đó thôi.
Giờ thì anh chỉ có một mình.
Và sẽ chỉ là một cỗ máy mãi mãi về sau.
Giờ lại có kẻ châm chọc, chế nhạo anh. Chính là con quái vật bệnh hoạn nào đó đã giết chết gia đình anh và sau đó chuyển hướng sang Trường Trung học Mansfield. Và nếu bức hình graffiti trên tường nhà anh vẫn chưa đủ sức thuyết phục, thì đoạn thông điệp được mã hóa đã xóa tan mọi nghi ngờ.
Kẻ bắn súng trong hai vụ là một người.
Và gia đình anh đã chết vì hắn. Từ lâu anh đã biết rằng điều này là hoàn toàn khả thi, thậm chí là khả năng cao. Nhưng chút ít không chắc chắn đó thực ra là một điều tốt, nó cho phép anh tin rằng vẫn có khả năng anh không phải là động cơ cho cuộc tàn sát của chúng.
Giờ thì sự không chắc chắn đó đã biến mất rồi. Và sự rõ ràng tuyệt đối trở nên thật kinh khủng, nó khiến ý định buông xuôi của anh giảm xuống. Vầ cảm giác tội lỗi ập đến với anh mạnh mẽ thậm chí còn mạnh hơn cả cú va chạm mà Dwayne LeCroix từng giáng cho anh.
Vào 5 giờ sáng, anh bật dậy, tắm rửa, khoác lên mình bộ vest và đứng trước chiếc gương nhở phòng tắm có kích thước tương đồng với anh. Trong hình ảnh phản chiếu, anh nhìn thấy những hạt ánh sáng, màu sắc và con số bay vụt qua tấm kính. Anh nhắm mắt lại và hình ảnh đó vẫn không hề thay đổi. Chúng không nằm trên tấm kính ấy, mọi thứ đều nằm trong đầu anh. Người ta nói rằng những người mắc hội chứng Savant, đặc biệt là những người được chẩn đoán mắc hội chứng Asperger, bị thu hút bởi những chủ đề rất riêng: các con số, lịch sử, một lĩnh vực khoa học hay ngôn ngữ nhất định. Decker không biết chủ đề riêng biệt mà đáng ra anh phải quan tâm là gì. Anh không biết liệu cú va chạm từ LeCroix có khiến anh mắc chứng Arperger hay không. Thậm chí anh còn không biết liệu điều đó có khả thi không và anh cũng chưa từng được chẩn đoán một cách chính thức đã mắc chứng nói trên.
Tất cả những gì anh biết đó là anh không bao giờ có thể quên được điều gì. Trí não anh gán màu sắc lên những thứ mà đáng ra không hề có màu đó. Anh có thể nhớ được một ngày cụ thể khi chọn một thứ bất kì nào trong tuần của lịch hàng trăm năm qua. Trí não anh là một trò chơi ghép hình mà tất cả được ghép lại với nhau, nhưng bằng cách nào đó nó vẫn lộn xộn, bởi vì anh chẳng hiểu gì về nó hết. Con người anh hiện tại là vậy. Và điều đó đã khiến anh sợ chết khiếp ngay từ ngày đầu tiên.
Vậy mà khi có Cassie ở cạnh, anh lại kiểm soát được nó. Nếu không có cô, không có Molly, những người đã cho anh điều gì đó để suy nghĩ về cuộc đời phía trước của chính mình, Amos Decker lại một lần nữa trở thành kẻ quái dị. Một kẻ có đa nhân cách. Chỉ khác một điều là phần nhân cách tốt đã biến mất và ra đi mãi mãi.
Một đội quân những con số ba đợi anh khi anh lê bước trong bóng tối đến chỗ buffet ăn sáng được mở vào đúng sáu giờ. Anh gắp đầy ắp thức ăn lên dĩa và đi đến chỗ bàn nhỏ kiêm văn phòng của mình, rồi chỉ ngồi đó nhìn chằm chằm vào đống đồ ăn trên dĩa và không ăn dù chỉ một miếng.
June, một nhân viên phục vụ buffet, vội vã đi về phía anh.
“Amos, cậu ổn chứ?” bà nói, khuôn mặt già nua của bà hằn rõ lên sự lo lắng. Chưa có khi nào anh lại không ngấu nghiến đồ ăn của mình.
Khi anh nói không có gì, bà bưng một ly cà phê lên. “Tôi có thể rót cho cậu một ly không? Có rất nhiều vấn đề được giải quyết bằng một ly cà phê đó.”
Coi sự im lặng của anh là đồng ý, bà rót cà phê đang còn bốc hơi nónh vào ly, để lại trên bàn anh rồi bước đi.
Decker không trả lời bà ấy bởi vì anh thậm chí còn không biết bà đang ở đó. Tâm trí anh đang ở cách nhà hàng tại Residence Inn đó một khoảng rất xa.
Anh không cần nhìn vào đồng hồ của mình. Lúc này đã là 6:23. Một phần trong tâm trí anh luôn giữ một cái đồng hồ nội tâm, một cỗ máy tính giờ tốt hơn bất cứ cái đồng hồ nào mà bạn có thể mua.
Vào lúc mười giờ, Sebastian Leopold sẽ thưa kiện, lần này là có đi kèm luật sư. Decker dự định có mặt tại đó.
Anh đi bộ. Anh thích đi bộ hơn, ngay cả trong bóng đêm. Đội quân những con số ba vẫn ở đó nên anh luôn phải cúi đầu xuống.
Decker từng đọc được rằng những người mắc hội chứng Savant khác cảm thấy được an ủi bởi đại dương và bầu trời những con số thường xuyên bao phủ lấy họ. Đối với Decker, các con số chỉ là công cụ để đạt được mục đích. Chúng không đem đến cho anh hạnh phúc thật sự. Có lẽ bởi vì anh đã từng được trải qua niềm vui hạnh phúc khi còn là một người chồng và người cha. Những con số chỉ đơn giản là không thể cạnh tranh được với điều đó, ngay cả đối với mắc hội chứng Savant.
Anh ngồi trên một chiếc ghế dài phía ngoài tòa án và ngắm mặt trời dần nhú lên, ánh bình minh ló dạng và phá vỡ đi màu đen, quệt lên đó những dải màu đỏ, vàng và hồng. Hoặc trong tâm trí của Decker, vẽ lên đó một loạt những con số liên quan tới màu sắc ấy.
Lúc 9:45, anh nhìn thấy chiếc xe cảnh sát tấp vào lối đi nhỏ cạnh bên tòa án. Xe di chuyển phạm nhân đã đến. Anh tự hỏi không biết có bao nhiêu bị cáo khác cũng đi cùng Leopold hay liệu kẻ sát nhân được cho là sát hại ba người ấy sẽ đến một mình.
Decker gắng đứng dậy và chậm rãi băng qua đường để tới lối vào tòa án. Vài phút sau đó, anh ngồi vào hàng thứ hai. Anh để ý thấy vị luật sư công đang ngồi xem qua hồ sơ tại bàn luật sư. Anh ta trông khoảng ngoài bốn mươi tuổi với những sợi bạc đang bắt đầu len lỏi vào mái tóc của anh. Bộ vest hai mảnh màu nâu của anh ta được thiết kế rất đẹp cùng với một chiếc túi hình vuông có màu sắc sặc sỡ. Anh ta trông thật tự tin và có cái vẻ của một vị luật sư kì cựu. Decker không tin là có ai muốn một tân binh tham gia vào vụ này.
Vẫn là nhân viên chấp hành đó, anh ta đứng cạnh cửa phòng thẩm phán trò chuyện với Sheila Lynch, có vẻ cô vẫn mặc chiếc váy và áo khoác giống như hôm qua.
Decker nghe thấy tiếng cửa phòng xét xử mở ra và quay lại nhìn.
Đó không phải Lancaster hay Miller.
Đó là phóng viên Alex Jamison. Cô nhìn thấy Decker, gật đầu, mỉm cười và rồi chọn một chỗ ngồi gần phía sau.
Decker quay lại mà không thèm đáp trả cô.
Nhân viên chấp hành đó đã biến mất trong phòng thẩm phán. Lynch quay lại bàn luật sư, nói một vài câu với vị luật sư công và sau đó ngồi vào chỗ của mình.
Cánh cửa dẫn tù nhân mở ra và đó là Sebastian Leopold, trông hắn không khác gì ngày hôm qua.
Hắn được áp giải qua chỗ luật sư của mình, còng tay được tháo ra và các viên cảnh sát lùi lại.
Nhân viên chấp hành mở cửa, đọc tuyên bố, mọi người đứng dậy và Abernathy bước qua, chọn chỗ ngồi ngay sau băng ghế.
Ông ta mất một lúc để nhìn qua phòng xét xử và mỉm cười một cách hài lòng khi thấy vị luật sư ngồi cạnh Leopold.
Sau đó ông nhìn sang Lynch.
“Việc đánh giá tâm lí đã hoàn tất chưa?”
Đã được thực hiện xong, Lynch nói với ông. Và kết quả cho thấy Leopold hoàn toàn có khả năng hầu tòa.
Điều này khiến Decker ngạc nhiên.
“Ông Leopold, ông định bào chữa thế nào?”
Luật sư của hắn ta giữ chặt lấy cánh tay của thân chủ mình và cùng đứng dậy. “Tôi từ chối nhận tội,” Leopold tuyên bố chắc nịch.
Decker nghe rõ tuyên bố của hắn ta nhưng dường như không thể hiểu được những gì hắn vừa nói.
Luật sư của hắn nói, “Thưa ngài, tôi đề nghị bác bỏ mọi cáo buộc chống lại thân chủ của tôi. Chính quyền không có bằng chứng về việc ông ấy có liên quan đến vụ sát hại ba người.”
Lynch bật dậy. “Ý của ông là không có bằng chứng nào khác ngoài lời thú nhận của hắn.”
Vị luật sư công đáp lại một cách trôi chảy, “Ông ấy hiện giờ đang công khai rút lại lời thú nhận. Ông Leopold là người mắc chứng bệnh lưỡng cực, đã ngưng dùng thuốc, điều này dẫn đến một vài tình trạng căng thẳng đáng tiếc về mặt tinh thần. Hiện giờ ông ấy đã quay trở lại dùng thuốc và lí trí đã quay trở lại, vì vậy ông ấy mới có thể vượt qua bài kiểm tra tâm lí.” Vị luật sư giơ lên một số tài liệu được ghim lại. “Và rồi có cái này. Xin phép tôi lại gần chứ?”
Abernathy vẫy cô lại gần phía ông ta. Lynch vội vã đi qua bên bị.
Vị luật sư công nói bằng một giọng đủ để Decker nghe thấy, “Đây là báo cáo bắt giữ hoàn chỉnh đã được xác thực có kèm ảnh căn cước và dấu vân tay, có thể cho thấy kết luận là ông Leopold bị giam ở Cranston, cách đây hai thị trấn, vào chính cái đêm mà vụ giết người xảy ra. Tôi cũng có một bản sao của hồ sơ bắt giữ ông Leopold từ Burlington. Chúng đã được đánh giá độc lập, hình ảnh và dấu vân tay khớp hoàn hảo. Không có lí gì lại là ông ấy, tôi dám chắc là cô Lynch sẽ đồng tình.”
Lynch giận dữ nói, “Thưa Ngài, luật sư bào chữa không hề chia sẻ thông tin này với tôi.”
Abernathy nhìn cô với thái độ khinh khỉnh. “Cô có thể lập một hồ sơ bắt giữ nhanh hơn luật sư bào chữa mà, cô Lynch. Nếu ngài ấy tìm được thì đáng ra cô cũng phải tìm được chứ.”
Lynch đỏ bừng mặt. “Hắn ta bị bắt vì tội gì?” cô nói bằng giọng cáu kỉnh.
“Vô gia cư,” vị luật sư công nói. “Ông ấy được thả vào sáng ngày hôm sau. Cranston cách đây bảy mươi dặm và ông Leopold không có phương tiện di chuyển. Nhưng điểm quan trọng hơn nữa là báo cáo của cảnh sát cho thấy ông Leopold bị bắt lúc sáu giờ chiều và được thả ra lúc chín giờ sáng hôm sau. Do đó ông ấy không thể thực hiện hành vi giết người được, vụ án xảy ra vào khoảng nửa đêm.” Anh ta chuyển tập tài liệu sang chỗ Lynch, cô nhìn xuống chúng, nghị lực và sự tự tin của cô hoàn toàn biến mất khi đọc đến trang cuối cùng. “Hắn có thể có đồng phạm,” cô đáp lại một cách yếu ớt.
“Ồ, nếu cô có thể chứng minh được điều đó, thì đó sẽ là lợi thế cho cô,” vị luật sư công nói. “Nhưng cho đến giờ cô vẫn chưa chứng minh được điều gì cả. Thân chủ của tôi đã bỏ thuốc và vô tình nói dối về việc gây ra tội mà ông ấy không thể thực hiện. Toàn bộ vụ việc này tóm gọn lại là vậy, cũng tức là không có vụ xử án nào cả.”
“Chúng tôi có thể buộc tội hắn ta vì đã làm lãng phí thời gian của cảnh sát, cản trở tư pháp công chính.”
“Như tôi đã nói, ông ấy đã dừng thuốc. Ông ấy không thể hình thành chủ ý cần có cho bất cứ tội danh nào trong hai tội danh đó.”
Lynch nói, “Tôi tin là khoảng thời gian được đưa ra đó -”
Abernathy cắt lời cô. “Cô có bằng chứng nào khác ngoài lời thú tội đã được rút lại để cáo buộc bị cáo vào những tội danh chống lại ông ta không?”
Rõ ràng rơi vào trạng thái bối rối, Lynch nói, “Thưa Ngài, bị cáo đã tự giao nộp mình cho cảnh sát và thừa nhận gây án. Do đó chúng tôi đã không cố dựng hiện trường pháp lý chống lại hắn ta.”
“Bị cáo có kí vào bản thú tội không?”
“Có,” cô đáp lại chắc nịch.
“Trong đó có bao gồm những tình tiết mà chỉ thủ phạm thực sự của vụ án mới biết không?”
Một lần nữa Lynch lại bị bất ngờ. “Tôi... tôi không nghĩ vậy, không. Tôi cứ nghĩ là một cuộc thẩm vấn bổ sung sẽ diễn ra, nhưng -”
Ngắt lời cô, Abernathy nói, “Vậy không bàn đến lời thú nhận đó nữa, cô không có bằng chứng gì khác ư?”
“Không,” Lynch thừa nhận, cô giận ra mặt nhưng đã kiềm chế lại.
“Và giờ thì chúng ta đã biết chắc chắn là ông Leopold đã ở trong tù cách bảy mươi dặm khi vụ giết người diễn ra.”
“Đúng vậy, chúng ta đều biết,” vị luật sư công nói, gần như không thể che giấu đi nụ cười.
“Xin hãy lùi lại,” Abernathy nhẹ nhàng nói.
Các vị luật sư quay trở lại khu vực tương ứng của họ.
Abernathy nhìn lướt nhanh từ băng ghế. “Các cáo buộc chống lại bị cáo Sebastian Leopold được bác bỏ và bảo lưu quyền truy tố. Ông Leopold, ông đã được tự do. Và hãy tiếp tục dùng thuốc của ông.”
Ông ta gõ búa xuống.
Luật sư của Leopold quay sang hắn ta để bắt tay, nhưng Leopold lại nhìn quanh phòng xét xử như thể hắn ta vẫn chưa chắc chắn được mùnh đang ở đâu. Khi ánh nhìn của hắn ta dừng lại ở Decker, hắn khẽ mỉm cười và nhẹ nhàng vẫy tay một cái ngượng ngùng.
Không mỉm cười hay vẫy tay đáp lại khi các viên cảnh sát đưa Leopold ra khỏi căn phòng.
Khi Abernathy biến mất khỏi căn phòng, Decker nhìn thấy Lynch và vị luật sư công đang trao đổi qua lại bằng những lời lẽ sắc bén. Sau đó Decker đứng dậy và đi khỏi phòng xét xử.
Alex Jamison đi ra cùng anh.
“Leopold vẫy tay với anh à, anh Decker?” cô hỏi, giọng điệu đầy tò mò, và trong giọng nói nhẹ nhàng đó, dường như có một dấu vết nghi ngờ đang thấm qua.
“Tôi không biết hắn làm gì.”
“Cô từng gặp hắn ta trước đó chưa?”
Decker tiếp tục bước đi.
Cô gọi với theo anh. “Mọi người muốn nghe từ phía anh.”
Anh quay lại và đi về phía cô. “Cái gì từ phía tôi cơ?”
“Anh có biết Leopold không, bởi vì tôi nghĩ hắn đã giao tiếp bằng mắt với anh. Hắn mỉm cười và vẫy tay. Anh là người duy nhất ngồi phía đó.”
“Tôi không biết hắn ta.”
“Nhưng hai người từng nói chuyện trước đây rồi phải không? Trong phòng giam của hắn?”
Decker liên hệ ngay lập tức. Brimmer. Đây chính là cách cô ta đáp trả lại anh vì đã gài cô khi ở trong nhà giam. Cô đã tiết lộ cuộc gặp mặt của anh vơiz Leopold cho Jamison.
“Tại sao anh lại gặp kẻ bị cáo buộc tội giết gia đình mình vậy?”
Decker quay lưng và bỏ đi. Và lần này anh không dừng lại.
 Chú thích:
[1] Hay còn gọi là Hội chứng bác học. Người có hội chứng - bệnh này thường có khả năng xuất chúng như tính toán nhanh, nhớ giỏi, khả năng ngôn ngữ hay nghệ thuật siêu phàm,... Tuy nhiên họ cũng thường bị mắc các chứng liên quan như tự kỉ, Asperger...
 
 
 
 
CHƯƠNG 24
 
Decker trực tiếp bắt xe bus đến đó bởi vì anh không muốn bỏ lỡ dịp gặp hắn ta.
Trong lúc chờ đợi, anh quan sát những người đi bộ và lái xe qua. Burlington có một dáng vẻ tàn tích nặng nề, như thể đã có kẻ ác độc nào đó đột nhập vào thị trấn và lấy đi những tài sản quí giá nhất của nó. Đó chính xác là những gì đã xảy ra.
Hai mươi phút sau đó, Decker có chút cứng đờ lại khi cánh cửa phòng giam mở ra và Sebastian Leopold bước ra trong bộ quần áo mà hắn đã mặc khi mới vào, bộ quần áo tù nhân màu cam và còng tay cùng với tội danh giết người đã được tháo bỏ.
Hắn nhìn quanh một lúc như thể đang định hướng bản thân mình với khung cảnh xung quanh. Sau đó hắn rẽ phải và bắt đầu đi về hướng Bắc.
Decker đợi khoảng hai mươi giây và sau đó đi theo hắn, bước ở phía bên kia đường. Đi song song với y, anh nhìn về phía trước nhưng vẫn giữ Leopold trong tầm mắt.
Mười lăm phút sau, họ đã đến một khu vực ở Burlington mà Decker biết rất rõ - một nơi thảm hại, nhơ nhuốc và được biết đến là chỗ chứa chấp những phần tử tội phạm ham vui.
Một quán rượu lụp xụp nằm ở phía bên phải. Leopold bước xuống những bậc thang gạch thấp lỏng lẻo và đi vào phía trong.
Decker nhìn quanh quất hai bên, sau đó vội vã băng qua đường, bước xuống những bậc tương tự. Anh đã từng đến quán rượu này vài năm về trước trong các cuộc theo dõi tội phạm và lần nào cũng ra về tay trắng. Có lẽ là quá tam ba bận.
Leopold ngồi ngay giữa trung tâm quán rượu. Bên trong tối tăm và ảm đạm, ánh đèn được hạ xuống mức leo lét. Decker biết rằng ánh đèn lờ mờ chủ yếu là do mọi thứ ở nơi này đều bẩn thỉu và chủ quán cho rằng như thế là không thể hút khách. Dẫu sao thì Decker cũng không nghĩ là khách quen ở đây sẽ bận tâm điều đó. Khi anh tới đây, họ gần như đã ngã ngớn vì rượu, vì ma túy hoặc cả hai.
Anh ngồi vào một bàn ở phía sau có vách ngăn cao đến ngực mà anh có thể nhìn qua đó nhưng vẫn khiến anh có chút cảm giác được che chắn. Anh to con nên rất dễ bị nhìn thấy, và mặc dù anh mới chỉ gặp Leopold một lần, anh vẫn phải dè chừng là tên này sẽ nhớ mặt anh. Dường như hắn đã nhận ra Decker trong phòng xét xử.
Nhưng có chỗ không đúng. Mình và hắn đã gặp nhau hai lần, theo lời Leopold. Mình đã phỉ báng hắn ta ở cửa hàng 7-Eleven. Vậy thì tại sao mình lại không thể nhớ được lần gặp đó trong khi mình vẫn luôn nhớ được mọi thứ?
Leopold gọi đồ uống, và khi người pha chế đưa đồ đến, hắn ta chỉ nhìn chằm chằm vào ly nước trong suốt một phút dài trước khi đưa nó lên môi và nhấp một ngụm nhỏ, sau đó đặt nó lại đúng vào vị trí cũ. Hắn xê dịch cái ly một chút, có vẻ như để khớp với vệt nước tròn trên quầy bar.
Động tác này cũng không nằm ngoài tầm chú ý của Decker.
Có lẽ là chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD)1.
 
1 Rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD) là một căn bệnh tâm lý, người mắc bệnh luôn có những ý nghĩ và hành vi lặp lại liên tục một cách vô lý nhưng không thể kiểm soát được. Ví dụ như họ cảm thấy cần phải liên tục rửa tay, sắp xếp đồ đạc lại cho ngay ngắn,... nếu không thì sẽ cảm thấy bồn chồn, lo lắng không thôi.
Trong suốt cuộc gặp gỡ trước đó của Decker với người đàn ông này, anh từng ghi lại những chuyển động liên tục của tay Leopold. Khi đó hắn ta không thực sự tỉnh táo ư? Vị luật sư công nói rằng hắn ta mắc chứng lưỡng cực nhưng giờ thì đã quay trở lại dùng thuốc rồi. Có lẽ cuối cùng họ cũng có thể có một cuộc trò chuyện đầy sức thuyết phục.
Một người phục vụ tiến tới chỗ Decker. Cô cao và gầy cùng với một mái tóc tẩy vàng, uốn thành những lọn xoăn che lấy gần như hết cả khuôn mặt cô. Mùi tóc đã xử lý qua hóa chất thoảng qua anh, ngọt và hơi buồn nôn. Anh gọi một ly bia và cô ấy mang ra chỉ một phút sau đó.
Anh uống một ngụm, lau miệng và chờ. Không có cái gương nào phía sau quầy bar cả, vậy nên Leopold sẽ không thể nào phát hiện ra Decker đang ở phía sau hắn trừ khi hắn quay đầu lại.
Hai mươi phút trôi qua và không có ai tiếp cận Leopold cả. Người đàn ông đã uống thêm hai ngụm đồ uống và nhìn chằm chằm vào nó như thể hắn ta không biết bằng cách nào mà nó lại xuất hiện ở đó.
Decker để lại hai dollas trên bàn, cầm ly bia lên, bước tới chỗ quầy bar và ngồi xuống cạnh hắn.
Leopold không hề nhìn sang. Hắn ta vẫn đang nhìn chằm chằm vào đồ uống của mình. “Cảm thấy ra ngoài tốt chứ?” Decker hỏi. “Đang ăn mừng à?”
Leopold nhìn anh. “Anh đã ở trong phòng xét xử. Tôi đã thấy anh.”
“Tôi cũng đã ở trong trại giam của anh.”
Leopold gật đầu, nhưng câu nói này dường như không thực sự lọt vào đầu óc hắn ta. Hắn lẩm bẩm điều gì đó mà Decker không nắm bắt được.
Ánh mắt của Decker lướt nhanh qua người đàn ông này. Họ đã chải chuốt lại cho hắn trong cả hai lần hầu tòa và quần áo của hắn cũng được giặt sạch, có lẽ là do cảnh sát không thể chịu được mùi hôi hám.
Leopold đáp lại bằng giọng nói lớn hơn, “Trong phòng giam của tôi. Đúng rồi. Chúng ta đã nói chuyện.”
“Đúng vậy, chúng ta đã nói chuyện. Vậy là anh đã rút lại?”
Leopold trông có vẻ hoảng hốt. “Tôi đã làm gì cơ?”
“Rút lại lời thú tội ấy.”
Leopold nhấc đồ uống của hắn lên và nhấp một ngụm nữa. “Tôi thực ra không hay uống. Nhưng món này mà ngon.”
“Ăn mừng, như tôi nói đó.”
“Tôi phải ăn mừng vì điều gì?” Leopold tò mò hỏi.
“Không bị buộc tội sát hại ba người. Không phải ngồi tù. Cả hai thứ đều tốt, anh không đồng ý à?”
Leopold nhún vạ. “Họ cho tôi ăn. Tôi có giường ngủ.”
“Đó là lí do tại sao anh thừa nhận giết người ư? Vì một chiếc giường và ba bữa ăn no mỗi ngày?”
Leopold lại nhún vai lần nữa.
“Vậy là anh đã ở trong trại giam ở Cranston vào đêm xảy ra vụ án mạng ư?”
“Hẳn là vậy. Đã lâu lắm rồi. Tôi không nhớ nữa. Còn nhiều thứ tôi không nhớ lắm.”
“Như tên thật của anh à?”
Leopold liếc nhìn anh nhưng dường như không thực sự nắm được điều mà Decker vừa nói.
“À, thẩm phán sẽ không thả anh ra đâu nếu có bất cứ nghi ngờ nào. Đó ắt hẳn là ảnh và dấu vân tay của anh trên biên bản bắt giữ đó rồi.”
“Luật sư đã rất vui,” Leopold nói, nhìn xuống đồ uống của hắn ta.
“Làm thế nào mà anh thậm chí biết về vụ giết người đó?” Decker hỏi.
“Tôi... tôi đã giết những người đó, phải không?” Leopold nói bằng một giọng điệu rụt rè, trong đó không có chút tội lỗi nào, hoặc thậm chí, có vẻ khá hiểu chuyện.
Nhân viên pha chế rượu, một người khoảng ngoài năm mươi tuổi với phần bụng to gần bằng bụng của Decker mặc dù anh ta thấp hơn Decker phải mười lăm phân, nhìn lên tấm kính mà anh ta đang lau rồi nhìn chằm chằm vào Leopold một lúc lâu trước khi nhìn sang hướng khác.
“Đó không phải những gì anh nói với thẩm phán sáng nay. Anh đã nói điều ngược lại. Có phải luật sư của anh bảo anh nói vậy không?”
“Anh ta nói rằng tôi không nên nói điều này với bất cứ ai.”
Decker nhìn người đàn ông này một cách tò mò.
Một tia sáng của sự tỉnh táo, một phần con người thật của hắn chợt xuất hiện giữa tình trạng mất trí chăng? Liệu có phải là đang say thuốc không?
“Ồ, vậy thì tôi đoán là anh không nên nói rồi, trừ khi anh muốn. Nhưng tôi không thấy có vấn đề gì với anh cả. Cảnh sát không có gì cả. Lúc đó anh đang ở trại giam. Thẩm phán đã bác bỏ vụ kiện và bảo lưu quyền truy tố, nhưng họ không thể bắt giữ lại anh trừ khi họ có bằng chứng chứng minh anh liên quan đến vụ án. Giờ thì có thể họ sẽ đi tìm bằng chứng. Tìm đồng phạm thực hiện vụ sát hại đó giúp anh vì lí do nào đó. Họ thậm chí còn có thể ngụy tạo bằng chứng được nữa.”
“Họ có thể làm thế ư?” Leopold thắc mắc như một đứa trẻ.
“Chắc chắn rồi. Họ làm vậy suốt. Nếu họ nghĩ anh là kẻ xấu, họ sẽ làm bất cứ điều gì để bắt giữ anh, giam lỏng không cho anh ra đường. Họ rất cực đoan trong việc bảo vệ và bào chữa. Anh có thể thấy điều đó mà phải không?”
Leopold cúi xuống và nhấp một ngụm đồ uống nữa mà không nhấc ly lên, như một con chó đang liếm bát vậy.
“Anh cũng vậy à, Sebastian?”
“Tôi thế nào cơ?”
“Một kẻ xấu cần giam lỏng không cho ra đường?”
“Tôi không biết nữa.”
Decker cảm thấy sự bực bội của mình bắt đầu dâng lên. Những gì đã xảy ra với anh có thể đã định tuyến lại các chức năng não bộ của anh và khiến các chức năng khác giao nhau về mặt tâm lý, nhưng nó cũng đã cướp đi khả năng đối mặt với các hành vi nhảm nhí và gian dối nói chung. Anh thích các đường thẳng, từ A đến B, 1 đến 2. Anh không thích việc vòng vo tam quốc một cách vô nghĩa, chỉ tổ bực mình. Tính cách này vừa có lợi nhưng cũng có hại đối với một cảnh sát.
“Anh nói rằng anh đã giết những người đó. Anh nói với tôi rằng anh đã làm vậy. Nói với cảnh sát như thế. Thế mà sáng nay anh lại nói là anh không làm. Nhưng khi ngồi ở đây, trong quán rượu này anh lại nói có lẽ mình đã làm mặc dù anh đã ở trại giam cách đây hai thị trấn và thậm chí không thể nào đến căn nhà đó được. Vậy nên anh có thể thông cảm cho sự rối trí của tôi mà, phải không? Và của cảnh sát nữa? Đâu mới là sự thật? Đó là điều mà chúng ta cần xác định.”
Leopold quay sang anh và dường như đây là lần đầu tiên hắn thực sự thấy Decker.
“Anh quan tâm làm gì?”
Nếu Decker đã phỉ báng gã này ở cửa hàng 7-Eleven mười bảy tháng trước thì Decker cũng không thay đổi gì nhiều đến mức Leopold không nhận ra anh. Giờ anh chỉ là béo và xấu hơn thôi. Vậy thì gã này hoặc là vô tội, hoặc là một thằng khốn đang nói dối. Và Decker cũng không có dấu hiệu nào rõ ràng cho thấy được câu trả lời nào mới là đúng.
“Tôi quan tâm đến vụ này thôi. Chưa bao giờ nghĩ là họ sẽ bắt ai đó sau từng ấy thời gian.”
“Đó là án chưa giải quyết.”
Cụm từ này đã thu hút sự chú ý của Decker.
“Anh biết về án chưa được giải quyết ư?”
“Tôi thích xem chương trình truyền hình. Đôi khi tôi xem ở chỗ trú ẩn.”
“Chỗ trú ẩn cho người vô gia cư?”
Leopold gật đầu. “Tôi là người vô gia cư, vậy nên tôi phải đi khắp nơi. Đôi khi tôi ngủ ở ngoài. Hầu như lúc nào tôi cũng ngủ ở ngoài cả,” hắn nói thêm bằng một giọng điệu đầy mệt mỏi.
“Tại sao phải thế?”
“Bởi vì nó an toàn hơn. Có vài tên ở chỗ trú không được... tốt cho lắm.”
“Có phải đó là điều khiến anh hứng thú với vụ án mạng này không? Bởi vì đó là án chưa được giải quyết.”
“Tôi nghĩ vậy, ừm.”
“Dù thế thì tại sao nhất định phải là vụ này? Nó không phải là án duy nhất chưa được giải quyết mà. Có ai nói với anh về nó à?”
Leopold đang gật đầu. Hắn nhìn xuống đồ uống của mình, nhấp một ngụm nữa mà không dùng đến tay.
“Anh gọi món gì vậy?” Decker hỏi, nhìn vào chiếc ly ấy, che lấp đi sự ghê tởm với cách uống rượu của gã.
Leopold mỉm cười. “Kamikaze. Tôi thích chúng.”
“Anh nói là anh không thực sự uống rượu.”
“Tôi không uống bởi vì tôi chưa bao giờ có tiền. Nhưng tôi đã tìm thấy một tờ năm dollas mà tôi không hề biết là mình có. Khi tôi uống, tôi sẽ gọi Kamikaze bởi vì tôi thích chúng.”
“Theo tôi hiểu là ta đang nói về món đồ uống, chứ không phải về kamikaze - những phi công cảm tử Nhật Bản1?”
 
1 Tên món đồ uống là Kamikaze. Kamikaze cũng là tên gọi các phi công cảm tử Nhật Bản trong thế chiến II. Phi công Kamikaze sẽ lái máy bay của mình, thường là chở đầy thuốc nổ, bom, thủy lôi để đâm thẳng vào tàu địch.
Leopold nhún vai vẻ hờ hửng. “Hồi còn nhỏ tôi muốn làm phi công.”
“Nhưng không muốn làm phi công cố tình đâm sầm máy bay vào đâu đó chứ?”
“Không, không phải kiểu vậy.”
“Vậy là anh có người đã nói chuyện với anh? Người đó kể cho anh về vụ án này? Có thể anh đã rất hào hứng. Vậy nên anh quyết định tận dụng nó để có một chiếc giường ấm và ba bữa một ngày? Đó có phải điều mà có người nói với anh, phải thừa nhận tội để có chúng? Đồ ăn và giường?”
“Ai lại đi nói với tôi điều đó chứ?”
Decker uống nốt chỗ bia của mình và đập mạnh ly xuống quầy bar cùng một lời kết tội sắc lẹm khiến Leopold giật bắn mình, đó chính là điều mà Decker muốn. Anh muốn thằng khốn này phải thức tỉnh.
“Tôi không biết, Leopold. Đó là lí do tôi đang hỏi anh đó. Người này có tên mà phải không?”
“Tôi phải đi rồi.”
Hắn ta bắt đầu đứng dậy, nhưng Decker đặt tay lên vai hắn và ghìm hắn ngồi xuống. “Tiện nhắc đến ba bữa một ngày, ăn chút gì không? Trông anh có vẻ đói. Cảnh sát không cho anh ăn phải không?”
“Sao anh biết điều đó?”
“Anh đang bị gán tội danh giết người mà. Họ đang phẫn nộ. Họ không cho anh gì hết. Vậy nên hãy gọi chút đồ ăn và bàn về vấn đề này nào.”
“Tôi thực sự cần phải đi.”
“Đi đâu? Anh cần gặp ai à? Có lẽ tôi sẽ đi cùng.”
“Tại sao anh muốn làm vậy?”
“Tôi không có nơi nào để đi cả và trông anh có vẻ là một người thú vị. Tôi thích những người thú vị. Không có mấy ai thú vị trong thị trấn này hết.”
“Thị trấn này toàn bọn đểu.”
“Đểu? Toàn bọn đó, anh nói đúng. Có ai đặc biệt đểu với anh không?”
Leopold đứng dậy và lần này Decker để hắn đi. Nhân viên pha chế nhìn anh chằm chằm. Anh không muốn tình huống xấu nhất xảy ra: người đàn ông này gọi cho cảnh sát.
“Hẹn gặp lại nhé,” Decker nói.
Chắc chắn sẽ còn gặp lại.
Leopold bước ra khỏi quán rượu. Decker đợi khoảng mười lăm giây rồi bám theo hắn ta ra ngoài. Anh sẽ theo dõi Leopold đến bất cứ nơi nào hắn gọi là nhà.
Vấn đề duy nhất đó là khi Decker bước ra ngoài thì Sebastian Leopold đã biến mất rồi.
 
CHƯƠNG 25
 
Decker leo bộ lên xuống con phố này theo cả hai hướng đã được hơn trăm mét rồi. Có một con hẻm bên cạnh quán rượu, nhưng đó là ngõ cụt và không có cửa nào thông với nó ngoài lối vào bên hông quán và một cửa dẫn sang hiệu thuốc gần đó mà đã bị rào lại và đóng chặt. Không có con phố nào cạnh đó mà Leopold có thể đến được trong vòng mười lăm giây ngay cả khi hắn chạy nước rút. Decker quay lại quán rượu để xem liệu Leopold có vòng ngược lại đó qua cánh cửa bên hông trong con hẻm không, nhưng hắn đã không ở đó.
Chỉ còn rất ít cửa hàng còn mở, nhưng Leopold không ở bất cứ đâu trong số đó và không có cửa hàng nào nhớ đã từng thấy hắn đi ngang qua cả. Không có ai trên phố thấy bất cứ điều gì.
Chỉ một đáp án khả thi duy nhất:
Có ai đó đã đón Leopold lên xe và rời đi. Và chiếc xe đó, nghe tuy có vẻ vô lý, nhưng có lẽ là đã được sắp đặt từ trước. Điều này đương nhiên càng khiến sự nghi ngờ của Decker đối với gã đàn ông này sâu sắc hơn. Và nó khiến anh rối loạn gấp bội khi đã để vuột mất hắn ta.
Tuy nhiên anh cũng chẳng thể làm gì được hơn ở nơi này, vì vậy anh lên đường đến phía trường Mansfield.
Những người khóc than đã rời đi và thay vào đó là hai nhóm biểu tình đóng chốt ngay phía ngoài dải băng cảnh sát màu vàng. Một nhóm ủng hộ việc trang bị súng, nhóm còn lại nghiêng về phía đối lập của cuộc tranh luận. Họ hò hét, la lối và thi thoảng có những xô xát với nhau.
Thêm súng nữa! Không dùng súng! Tu chính án thứ hai! Súng giết người! Không, chính người giết người! Khi nào con người mới thôi giết lẫn nhau chứ! Xuống địa ngục đi!
Decker bước qua tất cả những điều này và dùng giấy tờ ủy quyền mới của mình để đi qua vòng an ninh. Anh gặp Lancaster ở trung tâm điều hành trong thư viện.
Khi anh nói với cô về những gì đã xảy ra tại buổi thưa kiện, cô dường như chết lặng.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
“Hắn ta cứ thế mà đi thôi sao?”
Decker gật đầu.
“Mac sẽ rất cáu về điều đó. Và tôi đã kì vọng ở Sheila Lynch hơn thế. Có vẻ như cô ấy đã bị luật sư công che mắt.
“Anh ta chỉ đang làm nhiệm vụ của mình thôi. Sự thật và công lý không nhất thiết lúc nào cũng phải ngang bằng. Thực tế là, Abernathy có lẽ đã đưa ra quyết định đúng. Khi lời thú tội bị rút lại rồi thì chẳng có bằng chứng nào để giữ hắn ta lại cả. Và Abernathy cũng đã kiểm lại vụ khởi tố rồi. Có lẽ ông ta đang tìm cách để được gõ búa thẩm phán. Và ông ta từng làm vậy rồi. Cả hai chúng ta trước đây đều từng được chứng kiến ông ấy làm vậy rồi mà.”
Decker từng tham gia nhiều phiên tòa trong nhiều năm đến nỗi anh cảm thấy mình đã trở thành một luật sư xét trên mọi phương tiện chỉ thiếu mỗi tấm văn bằng chính thức và một tấm thẻ luật sư.
“Tôi mừng là anh có thể nhìn nhận sự việc theo một cách hiệu quả đến lạnh lùng như vậy đó, Amos,” chị nói, sự lãnh đạm thể hiện rõ ra từ giọng điệu của chị.
“Vậy thì cô còn muốn tôi nhìn nhận theo cách nào nữa?” anh nói thẳng thừng không kém. “Nếu không thì tôi chỉ bơ chuyện này thôi, và như vậy thì sẽ đưa chúng ta đến đâu chứ?”
Chị nhìn sang hướng khác và nhai kẹo cao su. “Thôi quên nó đi,” chị nói. “Chỉ là tôi đang có một ngày tệ hại thôi.”
Decker không nói với chị về việc anh đã bám theo và rồi để vuột mất Leopold ở quán rượu. Anh không nghĩ là nó sẽ giúp ích được gì cho tình cảnh này cả, và anh cảm thấy mình thật giống một tên ngốc vì đã để điều đó xảy ra. Và ngay cả với một bộ não mới, ai mà muốn mình trông giống một kẻ ngốc chứ?
“Bên FBI có vẻ lăng xăng thế,” anh quan sát. Những bộ vest đang chạy quanh với một mức năng lượng thậm chí còn lớn hơn cả mức thường thấy.
“Kẻ giết người hàng loạt, những vụ án có liên quan đến nhau, những thứ anh tìm ra từ Debbie Watson. Chắc chắn là vụ này ngày càng lớn hơn rồi.” Chị dừng lại và mân mê mấy tờ giấy trước mặt. “Và họ muốn nói chuyện với anh đó, Amos. Ý tôi là bên FBI ấy.”
Anh trông có chút ngạc nhiên. “Sao lại thế?”
“Trước hết, bởi vì anh chính là người phát hiện ra tất cả những manh mối mới. Nhưng rõ ràng là kẻ sát nhân có vấn đề cá nhân với anh. Thông điệp ở nhà cũ anh nhắm đến anh. Đoạn ghi chú được mã hóa ở nhà Debbie cũng là về anh. Vậy nên về cơ bản là FBI muốn thẩm vấn anh để xem liệu họ có thể tìm được chút manh mối nào từ bất cứ ai có khả năng chống lại anh không?”
“Và khi nào thì họ muốn làm vậy?”
“Thực ra thì bây giờ chính là thời điểm tốt.”
Decker nhìn lên và thấy ngay một người đàn ông cao khoảng một mét tám ba, vai rộng khoảng hơn một trăm centimet đang đứng cạnh mình. Bộ vest của anh ta trông hoàn hảo cùng với một chiếc túi vàng hình vuông khá hợp với cà vạt. Anh ta có bộ râu nhẵn nhụi và một thân hình cân đối. Có vẻ như anh ta là đội trưởng, dựa vào dấu hiệu đó là cách mà các đặc vụ khác nhìn chằm chằm vào anh ta một cách đầy e sợ.
Decker chưa từng gặp người này bao giờ. Hẳn là anh ta vừa mới đến hiện trường, có lẽ là từ Washington. Anh ta là “thứ dữ” được cắt cử cho một vụ án lớn đang nhận được sự chú ý rộng rãi trên toàn quốc. Đúng kiểu làm việc của cảnh sát liên bang. Để lại những vụ án nhảm nhí cho những kẻ gà mờ cấp địa phương còn họ thì nắm lấy vinh quang từ những vụ án được định sẵn là sẽ lên kênh tin tức quốc gia.
Người đàn ông ấy chìa tay ra và mỉm cười, để lộ ra một khe hở nhỏ giữa hai chiếc răng cửa trắng sáng. “Đặc vụ chuyên môn Ross Bogart. Tôi xuất hiện có chút muộn. Tôi đang hoàn tất một số thứ ở D.C. Anh Decker, hãy cùng tìm một nơi yên tĩnh để giải quyết một vài việc, nếu anh khôn ngại.”
“Nếu tôi ngại thì có vấn đề gì không?”
“Chúng ta đều có chung mục đích mà. Tôi biết trước đó anh là một cảnh sát và sau này là thám tử. Anh cũng biết rồi đấy, không có gì là vụn vặt cả. Không có gì là mờ mịt đến mức không thể lần theo. Chúng ta sẽ làm chứ?” Anh ta chỉ vào một cánh cửa ở phía sau thư viện mà Decker trước đó đã khám phá ra là được dùng như một phòng đọc cho học sinh ESL[1].
Anh đứng dậy và đi theo sau người đàn ông đó. Một đặc vụ khác cũng đi cùng họ, một người phụ nữ mà Decker từng thấy qua trước đây. Cô có mái tóc vàng, ngoài ba mươi tuổi, bắp chân săn chắc và phần xương hàm nhô ra như một phiến đá. Một tay cô cầm máy ghi âm và tay còn lại cầm sổ, bút. Một huy hiệu hình tấm khiên liên bang được gắn trên hông cô.
“Đặc vụ chuyên môn Lafferty sẽ tham gia cùng chúng ta,” Bogart nói.
“Vậy Thanh tra Lancaster tham gia cùng nữa thì sao? Cô ấy cũng đang theo vụ án này.” Decker đề xuất.
“Có lẽ để khi khác,” Bogart nói cùng với một nụ cười khi anh ta mở cửa và bật đèn lên.
Tất cả mọi người ngồi quanh một chiếc bàn nhỏ, Decker ngồi một phía, hai đặc vụ ngồi ở phía còn lại. Lafferty bật máy ghi âm lên và mở sẵn cuốn sổ, trông có vẻ như đã sẵn sàng để ghi lại mọi thứ được nói ra trong căn phòng.
“Đến byg giờ mà họ vẫn dạy tốc kí trong khi đã có mọi thiết bị kĩ thuật số ư?” Decker hỏi, nhìn sang cô. “Dường như một bản thu âm sẽ có độ chính xác một trăm phần trăm, trong khi bản tốc kí có thể chứa các diễn giải và những cảm xúc cá biệt của bản thân, thậm chí cô còn không thể nhận thức một cách có chủ ý về chúng, thay vì ghi lại những gì thực sự đã được nói ra. Chỉ là suy nghĩ của tôi thôi.”
Cô có vẻ như không biết phải đáp lại điều này thế nào, vì vậy cô nhìn sang sếp của mình.
Bogart nói, “Xin anh vui lòng kể lại mọi chuyện từ đầu, cốt để tôi hiểu rõ đầu đuôi mọi sự.”
“Tại sao anh không để tôi tóm tắt lại thì sẽ đỡ tốn thời gian hơn?” Decker nói. Anh không đợi sự đồng tình từ phía Bogart mà cứ thế tiếp tục. “Gia đình tôi đã bị sát hại mười sáu tháng về trước. Vụ án đó vẫn chưa được giải quyết.” Sau đó anh nói với các đặc vụ FBI về lời thú tội của Sebastian Leopold, bị bỏ tù, rút lại lời thú tội, và sau đó được thả vì không có bằng chứng nào để bắt giữ hắn ta. “Như anh biết đấy, đạn đã gắn kết vụ án đó và vụ án này lại với nhau.”
“Và anh chắc là hắn ta không thể là kẻ xả súng trong trường học chứ?” Bogart hỏi.
“Không thể nào. Vào thời điểm đó hắn ta đang trong trại giam. Vài giờ trước khi kẻ xả súng bắt đầu cuộc tàn sát.”
“Anh đã phát hiện ra nơi mà hắn có khả năng ẩn náu. Tủ đồ ăn trong căn tin.” Bogart nói.
“Tôi đã gán một vài lời khai của nhân chứng lại với nhau và đưa ra một phỏng đoán có căn cứ.”
“Sau đó anh tìm thấy cuốn sổ trong tủ đồ của Debbie Watson cùng với bức hình có mặt kẻ xả súng.”
“Một phỏng đoán có căn cứ khác.”
Bogart tiếp tục, có vẻ như không nghe thấy lời anh. “Sau đó anh đến nhà gia đình Watson và phát hiện ra lời nhắn được mã hóa dưới hình thức phổ nhạc. Và rồi có một lời nhắn trước đó, hay nói đúng ra là lời thách thức, mà có ai đó để lại trên tường nhà cũ anh, nơi mà gia đình anh bị sát hại. Anh cũng phát hiện ra điều đó.” Bogart dừng lại một lúc rồi nói, “Không phải anh định nói ‘Một phỏng đoán có căn cứ khác’ đấy chứ?”
“Tôi đoán là giờ mình không phải nói thế nữa, khi anh đã giúp tôi nói ra rồi.”
“Anh có vẻ xem nhẹ tất cả những chuyện này. Tôi có thể hỏi tại sao không?”
“Tôi không xem nhẹ bất cứ chuyện nào trong những chuyện này. Đó chính là lý do tại sao tôi đang xử lý vụ án ngay cả khi tôi không thuộc lực lượng cảnh sát.”
Bogart liếc nhìn tập tài liệu trước mặt. “Phải là xử lý các vụ án mới đúng chứ? Những hai vụ, cách nhau mười sáu tháng.”
“Thực ra là mười sáu tháng, hai ngày, mười hai tiếng và sáu phút.”
“Và làm thế nào mà anh biết điều đó một cách chính xác đến vậy? Anh thậm chí còn không nhìn vào đồng hồ.”
“Có một cái đồng hồ ở trên tường phía sau anh.”
Bogart không quay lại nhìn nhưng Laferty đã làm vậy và cô ghi chép xuống điều gì đó.
Decker không cần nhìn vào đồng hồ treo tường. Anh có một cỗ máy đếm giờ trong tâm trí mình để giữ cho con số đó được chính xác. Tốt hơn cả một chiếc Rolex và còn rẻ hơn nhiều.”
Nhưng,” Bogart nói. “Đến cả phút?”
“Đến cả giây, nếu anh muốn biết,” Decker trả lời bằng giọng đều đều. “Và nếu anh thắc mắc xem tôi đang ở đâu vào thời điểm vụ xả súng xảy ra ở trường học thì tôi đang ở Khu nhiệm sở số 2.”
Chân mày Bogart nhíu lại và anh nhìn Decker một cách đầy kinh ngạc. “Tại sao anh lại đưa ra chứng cứ ngoại phạm? Bằng cách nào đó anh nghĩ mình đang bị đưa vào diện tình nghi ư?”
“Nếu anh thực sự suy xét thì ai cũng thuộc diện tình nghi theo cách nào đó thôi.”
Decker nhìn thấy Lafferty viết câu đó xuống từng từ một. “Anh đang cố tình chống đối phải không, anh Decker?” Bogart hỏi một cách lịch sự.
“Không, tính tôi là vậy đó. Hãy hỏi bất cứ ai quen biết tôi. Tôi không còn khả năng giữ gìn ý tứ trong lời nói nữa. Tôi đã đánh mất chúng nhiều năm về trước và không bao giờ có thể tìm lại được nữa.”
“Anh có một thành tích xuất sắc trong lực lượng cảnh sát. Anh và cộng sự của anh.”
“Cựu cộng sự,” Decker chữa lại, vì anh có nhu cầu cần mọi thứ phải chính xác, đặc biệt là vào thời điểm này.
“Cựu cộng sự,” Bogart thừa nhận. “Nhưng khi trò chuyện với mọi người, có vẻ rõ ràng trong hai người anh là người dẫn dắt. Tôi sẽ không nói là toàn bộ là công của anh, bởi vì tôi không muốn hạ thấp những đóng góp của Thám tử Lancaster trong những lần phá án của hai người.”
“Thật mừng khi nghe điều đó,” Decker nói. “Bởi vì Mary là một thám tử giỏi và làm việc chăm chỉ.” Anh nhìn sang Lafferty. “Và nếu cô cũng làm việc chăm chỉ, cô sẽ còn hơn là một người ghi chép cho sếp của mình. Tôi chắc chắn cô có khả năng nếu cô từng được trao cho cơ hội sử dụng nó.”
Lafferty đỏ bừng mặt và đặt bút xuống. Bogart ngả người về phía trước. “Người này có vẻ có mối thù hận từ lâu với anh. Anh có thể nghĩ đến ai không?”
“Nếu tôi biết thì tôi đã cung cấp thông tin cho Phòng Cảnh sát Burlington rồi.”
“Chúng ta đều tham gia vụ này cùng nhau,” Bogart nói, anh không còn nở nụ cười lịch thiệp nữa.
“Tôi mừng là anh nghĩ vậy.”
“Vậy là không có ai mà anh nghĩ đến cả?”
“Khi tôi nói chuyện với Leopold, hắn nói tôi đã phỉ báng hắn ở cửa hàng 7-Eleven. Đó là khoảng một tháng trước khi gia đình tôi bị sát hại. Tôi chưa từng phỉ báng ai ở đó cả. Và nếu ai đó có vấn đề với tôi, tôi hẳn đã nhớ rồi.”
“Anh đang muốn nói là trí nhớ của anh không thể sai lệch được?”
“Tôi đang nói là tôi hẳn sẽ nhớ nếu có ai đó có vấn đề với tôi.”
“Nhưng chuyện đã qua từng ấy thời gian, có thể anh đã quên rồi. Và có thể là chuyện không quá lớn, hoặc có vẻ như vô hại. Có thể anh không để ý đến nó. Chúng ta ai cũng có quên chuyện này chuyện kia. Và kí ức vốn dĩ đã có thể sai lệch rồi.”
“Anh sinh ra khi nào?”
“Gì cơ?” Bogart gắt hỏi.
“Hãy nói cho tôi anh sinh khi nào, ngày, tháng, năm.”
Bogart liếc nhìn Lafferty rồi nói, “Ngày 2 tháng 6, 1968.”
Decker chớp mắt năm lần và nói, “Vậy thì anh sinh vào Chủ nhật.”
Bogart ngồi ngả lưng lại. “Đúng vậy. Tất nhiên là tôi không biết vào thời điểm đó. Làm thế nào mà anh biết được vậy? Anh tra cứu hồ sơ nhân sự của tôi à?”
“Tôi không có quyền truy cập. Và cho đến năm phút trước, tôi thậm chí còn không biết đến sự tồn tại của anh. Nếu anh muốn có thêm bằng chứng, tôi có thể làm điều tương tự với đồng nghiệp của anh.”
“Ý anh muốn nói là gì?”
“Tôi hẳn là sẽ nhớ mình đã phỉ báng ai đó ở cửa hàng 7-Eleven cho dù đó là mười bảy tháng hay mười bảy năm.”
“Vậy thì anh nghĩ là Leopold đang nói dối ư?”
“Tôi nghĩ là Sebastian Leopold không giống như vẻ ngoài hắn đang ngụy tạo.”
“Vậy thì chính xác hắn đang ngụy tạo vẻ gì?”
“Một kẻ vô gia cư và hơi mất trí.”
“Vậy anh đang muốn nói là hắn không phải vô gia cư và cũng không hề mất trí?”
“Tôi đang nói là tôi nghĩ hắn ta nguy hiểm.”
“Nhưng anh đã nói là hắn không thể nào là kẻ xả súng ở trường. Anh có nghĩ là hắn đã sát hại gia đình anh không?”
“Cá nhân hắn không thể nào thực hiện được nó. Hắn còn có chứng cứ ngoại phạm cho điều đó nữa. Nhưng tôi đang suy nghĩ lại về việc hắn có còn nhúng tay vào bằng cách nào đó hay không?”
“Tại sao?”
“Bởi vì hắn đã thoát khỏi tội danh giết người mà hắn đã thừa nhận. Và giờ thì hắn lại biến mất. Cả hai việc đó không thể chỉ nhờ vào may mắn mà thực hiện được.”
“Vậy là anh có nghĩ là hắn có liên quan bằng cách nào đó. Và giờ thì hắn biến mất?”
“Tôi không có bằng chứng nào cả. Và ngay cả khi chúng ta tìm thấy hắn, chúng ta cũng không thể buộc tội hắn với những gì chúng ta đang có, vì sự thật là chúng ta đang chẳng có gì cả.”
“Vậy thì tại sao anh lại nghĩ là hắn có liên quan?”
Câu hỏi này đến từ Đặc vụ Lafferty.
Bogart quay sang cô, có vẻ ngạc nhiên vì cô đã thực sự thốt ra lời.
Decker chết trân nhìn cô. “Bởi vì không thể nào lý giải được hắn ta. Và tôi thì không thích những người không thể lý giải được.”
 Chú thích:
[1] English as a Second Lauguage - những người học ngôn ngữ thứ hai là tiếng Anh.
 
 
 
 
CHƯƠNG 26
 
Decker để Bogart và Lafferty ở lại trong phòng đọc nhỏ và đi sang căn tin ở phía bên kia hành lang. Đây là nơi mọi thứ bắt đầu, và dường như căn phòng với cái sàn cũ phủ vải sơn họa tiết caro đó cứ mời gọi anh ghé sang.
Có lẽ giống như tiếng hát của mỹ nhân ngư mê hoặc một người phụ nữ vậy.
Anh đi xung quanh phía bên ngoài của khu vực căn tin, nhìn vào cái kho lạnh, rẽ vào góc phòng, và kiểm tra khu vực bếp, rồi sau đó đến khu vực nhập hàng phía bên ngoài, từ đó dẫn vào trong rừng. Ban đầu mọi người nghĩ kẻ nổ súng đã bỏ trốn theo hướng đó. Ừm, thật ra thì nhiều người vẫn đang nghĩ như thế, đó là lý do vì sao một đội pháp chứng vẫn đang sục sạo toàn bộ con đường và không gian xung quanh nó kể từ lúc Decker phát hiện ra những gì anh tìm được trong căn tin.
Nhưng giờ Decker không còn tin vào nó nữa.
Anh quay vào trong và ngồi xuống một trong số những chiếc ghế mà lũ trẻ dùng. Bờ mông bự của anh tràn ra cả hai bên cạnh ghế, và anh thoáng nghe thấy tiếng kêu ca từ những cái chân ghế khẳng khiu khi chúng phải đỡ một tải trọng quá khổ mà thông thường ít gặp ở một ngôi trường cấp ba.
Vậy là lý do thực sự mà tay súng có mặt trong căn tin là gì? Căn tin cách rất xa vị trí mà vụ xả súng bắt đầu. Đây là vị trí xa vụ xả súng nhất, ngoại trừ văn phòng và thư viện, những nơi đáng lẽ sẽ có người vào thời điểm đó của buổi sáng.
7:28 - Melissa Dalton nghe thấy tiếng “phụp” như tiếng cửa kho lạnh mở ra.
8:42 - Hình ảnh gã mặc đồ rằn ri được ghi lại trên video.
8:42 - Debbie Watson bị bắn nát mặt và thiệt mạng.
Về cơ bản, một giờ mười ba phút không được giải thích rõ ràng.
Đã có chuyện gì trong toàn bộ quãng thời gian đó? Liệu hắn đã mặc đồ và chuẩn bị súng ống sẵn sàng? Tại sao hắn lại phải đợi? Hoặc có thật là hắn đã đợi không? Có khi hắn đang làm việc gì đó. Có khi hắn đang làm một việc rất quan trọng trong kế hoạch của mình mà cần phải có thời gian.
Decker ngồi đó thêm một vầi phút trong lúc tâm trí của anh nghiền ngẫm những câu hỏi này.
Không có một người nào được nhìn thấy đi bộ từ căn tin tới cái hành lang ở góc xa nơi Debbie Watson thiệt mạng. Họ đã xác định và lấy lời khi của hai người - đều là giáo viên - hai người nhiều khả năng nhất có thể nhìn thấy ai đó đi tuyến đường này vào thời điểm ấy. Nhưng lời khai của họ cũng không mang tính đảm bảo, bởi vì chỉ một phút lơ đễnh hoặc một cái ngoái đầu sang trái thay vì sang phải, và thế là đã xuất hiện một điểm mù.
Nhưng nếu tên sát nhân bắt đầu từ trong căn tin, hắn phải đi được đến đầu kia của trường mà không bị ai nhìn thấy. Đó là điểm A.
Hắn đã làm được như thế. Đó là điểm B.
Điểm C là phương thức thực hiện của hắn. Điểm C là điểm mà Decker thực sự cần phải biết được.
Rời một thứ gì đó chợt tràn vào trong đầu anh, một thứ đã phải trải qua cái bộ lọc siêu tỉ mỉ vốn là bộ não của anh, sau cú đánh kinh hoàng mà đôi bốt Bayou boys gây nên đã mang tính chất như thế. Và dòng suy nghĩ từ đâu rỉ vào đã biến đổi thành một thứ gì đó.
Decker đứng dậy và vội vã chạy ra ngoài. Anh vội vã chạy đến chỗ viên đá đánh dấu nền móng của ngôi trường và đọc ngày tháng trên đó.
1946.
Anh đã biết điều này, nhưng nhìn vào những con số dường như củng cố thêm sự tự tin vào giả thiết vừa mới hình thanhg trong đầu anh. Màu sắc đã lập lòe trong tâm trí khi ánh mắt của anh hướng đến một vài con số trong dãy số, nhưng ngay lúc này màu sắc không phải là thứ khiến anh quan tâm.
1946.
Một năm sau khi đại chiến kết thúc.
Và một cuộc chiến mới gần như bắt đầu ngay sau đó.
Chiến tranh lạnh.
Đe dọa chiến tranh hạt nhân. Cuộc chiến dẫn đến ngày tận thế. Trẻ con ôm nhau dưới những cái bàn học mỏng manh, một trong những bài diễn tập khẩn cấp phòng trường hợp có bom hydro sắp sửa trút xuống. Như thể cái lớp chắn bằng gỗ ép dày có ba phân có thể bảo vệ chúng khỏi một thứ có sức tàn phá tương đương một triệu tấn thuốc nổ TNT.
Decker vội vã quay trở lại căn tin, băng qua một vài cái nhìn nghi ngại của các đặc vụ của Cục trong hành lang trong lúc họ nhìn theo anh. Anh không chào hỏi gì họ. Anh gần như không hề chú ý đến họ. Anh đang bận đuổi theo manh mối. Anh đã dựng nên những bức tường trong đầu, những bức tường đã ngăn cách tất cả chỉ chừa mỗi một dòng câu hỏi duy nhất có thể trả lời cho một câu hỏi có vẻ như không có đáp án.
Anh đứng ở chính giữa căn phòng và nhìn cả bốn góc nhà, rồi thu tầm mắt lại, anh đi vào trong bếp và làm điều tương tự. Khi đến khu bốc dỡ hàng anh cũng lặp lại hành động này.
Anh không nhìn thấy bất cứ một thứ gì dù chỉ hơi giống một chút với thứ mà anh đang tìm kiếm. Vấn đề là anh vẫn chưa biết được cái cần biết. Bao giờ làm công việc cảnh sát cũng gặp phải cái vấn đề khó đỡ này.
Mình chưa biết được cái cần biết. Một người không thể quên bất cứ thứ gì lại không biết được cái cần biết. Thật châm biếm làm sao.
Nhưng nếu Decker không biết cái cần biết, vậy thì có khi kẻ nổ súng cũng thế. Có khi kẻ nổ súng đó đã tìm đến một ai đó biết cái cần biết.
Hoặc một ai đó có người quen biết cái cần biết.
Giờ đây giả thiết đó, nếu đúng, có thể trả lời một vài câu hỏi.
Ngôi trường là một cơ sở hạ tầng, một tòa nhà. Có thể đã bị sửa đổi ít nhiều. Suốt ngần ấy thập kỉ, chắc chắn là nó đã được tu sửa. Cái trần treo trên đầu anh chắc chắn không có mặt ở đây từ những năm 1946. Còn thứ gì khác đã được thêm vào hoặc bớt đi nhỉ?.
Hoặc được che khuất? Bởi vì không còn cần dùng đến nữa? Rồi sau đó bị lãng quên.
Decker lẻn vào thư viện và ra dấu cho Lancaster ra chỗ anh. Chị dừng cuộc gọi và vội vã đi tới chỗ cửa dẫn vào thư viện mà Decker đang đứng chờ. Decker hoàn toàn nhận ra được cả đặc vụ Bogart và đặc vụ ghi chép Lafferty đang nhìn anh từ góc xa của căn phòng.
Anh nói với Lancaster bằng một giọng nhỏ, dáng vẻ thả lỏng. Trông như anh đang chém vài chuyện phiếm với chị. Họ quay người và cùng rời đi.
Khi họ đã ra đến ngoài hành lang, Lancaster nói, “Anh có thực sự nghĩ có khả năng đó không? Ý tôi là, tôi chưa từng nghe đến một thứ như thế.”
“Đâu phải cô chưa từng nghe đến thì có nghĩa là nó không tồn tại.”
“Anh đã học ở trường này. Đã bao giờ anh nghe nói đến thứ gì như thế chưa?”
“Chưa? Nhưng nói đi thì phải nói lại tôi cũng chưa bao giờ nghĩ sẽ hỏi thử. Và có thể nó đã từ xa xưa lắm rồi. Thật sự thì, có thể nó cũng cổ lắm rồi.”
“Nhưng ai sẽ biết chắc chắn đây? Từ những gì anh nói, có thể nó đã từng được xây dựng từ hơn sáu mươi năm trước. Và có thể chưa bao giờ được dùng tới. Bất cứ người nào có thể biết về nó có lẽ đều đã qua đời hoặc cũng sắp.”
“Các học sinh hồi đó thì sao?”
“Ừm, cả họ cũng khá là nhiều tuổi rồi. Và các giáo viên thì gần như chắc chắn đều đã đi cả rồi.”
“Phải có cách nào đó, Mary ạ. Chắc chắn phải có hồ sơ.”
Họ đã đi ra ngoài, và Decker chưa nói hết câu khi anh nhìn sang bên tay trái, và nhìn thấy cái căn cứ quân sự cũ.
“Có thể Quân đội có ghi chép về nó,” anh nói.
“Quân đội á? Sao phải thế?”
“Cái căn cứ kia đã ở đó từ lúc nào nhỉ, những năm ba mươi à?”
“Đúng thế. Ông của tôi làm việc ở đó cùng với nửa số cư dân ở Burlington. Họ đã tích trữ rất nhiều để chuẩn bị cho chiến tranh trong suốt Thế chiến thứ hai, giống như tất cả các căn cứ quân sự khác trên cả nước.”
“Vậy rõ ràng là nó đã ở đó trước khi trường học được xây dựng. Và rất nhiều cha mẹ làm việc ở căn cứ gửi con tới học ở trường Mansfield.”
Lancaster có vẻ hiểu anh đang định nói gì. “Vậy là anh nghĩ có thể là họ là những người xây dựng nó đầu tiên.”
“Và sẽ thế nào nếu cụ của Debbie Watson, làm việc ở căn cứ này từ cuối những năm sáu mươi, biết mọi điều về nó, và kể cho Debbie bé nhỏ khi cụ chuyển tới sống cùng gia đình.?”
“Và anh nghĩ có thể cô bé đã kể cho kẻ nổ súng?”
“Tôi không thể nghĩ ra được lí do nào khác để giải thích tại sao hắn lại cần đến cô bé.”
“Nhưng làm thế nào hắn phát hiện ra Debbie có thể biết một chuyện như thế?”
“Có thể có nhiều cách. Việc đó không quan trọng. Nhưng nếu tôi đúng, chúng ta sẽ biết kẻ nổ súng đi từ căn tin ra hành lang phía sau mà không bị ai nhìn thấy bằng cách nào. Và nếu chúng ta có thể xác minh chắc chắn, có thể chúng ta sẽ truy ngược ra được thằng chó chết đó từ đâu đến.”
Họ vội vã chạy tới xe ô tô của Lancaster.
Đứng ở cửa sổ, nhìn theo họ là đặc vụ Bogart. Và người đàn ông đến từ Washington trông có vẻ không lấy gì làm hài lòng.
Bên cạnh anh ta, đặc vụ Lafferty đang bận rộn ghi chép.
 
 
 
 
CHƯƠNG 27
 
George Watson ra mở cửa cho họ. Anh ta trông bù xù và có một vết tím thâm, ửng vàng trên má phải.
“Anh ổn chứ?” Lancaster hỏi.
Watson dựa vào khung cửa, có vẻ như là cần tìm một điểm tựa chứ không phải vì lí do gì khác. “Tôi ô-ổn. Vợ... v-vợ tôi đ-đang định bỏ tôi, nhưng tôi ô-ổn. Chết tiệt, c- cớ gì mà tôi lại k-không ổn chứ?”
Decker tiến lại gần hơn một bước và khịt mũi, còn Lancaster đang nhìn theo ánh mắt của Watson.
Decker nhìn chị và gật nhẹ đầu. Họ đã có thói quen như thế kể từ khi còn là cộng sự. Gật đầu là say, lắc đầu là tỉnh hoặc khá tỉnh, còn nhận thức được. Thực ra, anh chẳng cần phải ngửi thử làm gì. Miệng nói líu nha líu nhíu, không thể đứng thẳng nếu không có bức tường trợ giúp, và đôi mắt đục ngầu đã là những dấu hiệu quá đủ để nhận thấy rồi.
“Vợ của anh có đây không?” Decker hỏi.
George chỉ tay vào trong nhà. “Đ-đang d-dọn đồ. C-con kh-khốn đó!”
“Đây là khoảng thời gian khó khăn với cả hai anh chị,” Decker nhận xét.
“M-mất con gái và... và g-giờ đ-đến vợ. Nhưng anh b-biết gì kh-không?”
“Không, gì thế anh?” Decker hỏi.
“Biến m-mẹ đi” Anh ta vung vẩy cánh tay đã biến dạng. “B-biến mẹ đi.”
“Có khi anh muốn nằm xuống một chút, anh à,” Lancaster. “Và dừng uống rượu đi.”
George trông bực như bị sỉ nhục. “Tôi... tôi kh-không có uống r-rượu.” Anh ta ợ một tiếng rất to và trông như chuẩn bị nôn.
“Thế mừng quá. Nhưng dù sao vẫn cần ngủ một chút.”
Decker đỡ lấy cánh tay còn lành của người đàn ông và đưa anh ta đi vào căn phòng phía trước và nằm lên ghế sofa. “Hãy nằm đây nghỉ một lát chờ chúng tôi nói vài lời với vợ anh.”
Khi George nằm xuống ghế, anh ta nói, “Cô ta kh-không ph-phải vợ tôi. Không c-còn nữa. C-con kh-khốn!”
Anh ta nhắm mắt và im lặng, chỉ còn tiếng thở.
Decker dẫn Lancaster đi dọc hành lang và tới chỗ cánh cửa phía sau mà họ nghe thấy tiếng động bên trong.
Decker gõ lên cánh cửa gỗ. “Bà Watson?”
Họ nghe thấy tiếng thứ gì đó rơi và va xuống sàn nhà. “Ai đó?” Beth Watson hét lớn.
“Cảnh sát,” Lancaster nói.
Beth Watson gào lên, “Thằng chó đẻ đó gọi cảnh sát đến sao? Chỉ vì tôi đánh nó sao? Ồ, là nó đánh tôi trước nhé, cái thằng chó chết què quặt đó.”
“Không phải là như thế. Là về chuyện của con gái bà.”
Cánh cửa bị giật mở tung và Beth Watson đứng trước cửa, chỉ đi một đôi giày cao gót cùng chiếc váy ngủ màu trắng, không còn gì khác nữa. Làn da nhợt nhạt của chị ta trông thậm chí càng nhợt nhạt hơn trong khung cảnh đó. Da xung quanh hai cánh tay của chị ta bị lõm xuống. Một bên má của chị ta đỏ và sưng tấy. Decker không cần phải tiến lại gần để ngửi thử xem chị ta còn tỉnh táo hay không. Nhưng dường như dù chị ta có uống rượu, song vẫn có thể đứng thẳng và nói chuyện có đầu có cuối được. Chí ít là chị ta hi vọng mình đang nói chuyện mạch lạc.
“Có chuyện gì về con bé vậy?” Beth hỏi.
“Lần trước khi chúng tôi đến, chúng tôi có hỏi chồng chị về ông của anh ấy.”
Hai hàng lông mày chị ta nhíu lại với vẻ khó hiểu. “Simon á? Sao nào?”
“Ông ấy làm việc ở căn cứ quân sự McDonald trước khi nghỉ hưu phải không?”
“Đúng thế. Rồi sao? Ông ấy qua đời nhiều năm rồi.”
“Nhưng ông đã sống ở đây với chị và chồng chị. Và Debbie nữa.”
“Phải, đúng rồi, thế rồi sao?” Khác với chồng mình, Beth không cảm thấy cần phải dựa vào khung cửa để có thể đứng ngay ngắn. Rõ ràng tửu lượng của chị ta tốt hơn chồng. Có thể là vì chị ta được rèn giũa nhiều hơn, Decker nghĩ.
“Đã bao giờ ông kể cho chị nghe về công việc của ông ở đó chưa?” anh hỏi.
“Ông ấy đến cái tuổi mà chỉ còn kể về quá khứ. Thế chiến thứ hai. Chiến tranh Triều Tiên. Làm việc cho chính phủ. Luyên thuyên đủ thứ. Cả ngày cả đêm. Sau ít lâu bọn tôi phát ngán cả lên. Có người quái nào muốn sống trong quá khứ đâu chứ?”
Chị ta đi ngang qua mặt Decker và hét lên vào trong hành lang. “Có người quái nào muốn sống trong quá khứ đâu hả George? Tôi không hề muốn! Tôi đã hoàn toàn sẵn sàng cho tương lai! Tương lai của tôi! Quá khứ biến mẹ đi được rồi. Anh biến mẹ khỏi đời tôi đi, thằng què đéo phải đàn ông ạ!”
Decker dùng cánh tay to lớn của mình nhẹ nhàng đưa chị ta quay trở vào trong phòng.
“Ông có bao giờ nhắc đến với chị về bất kì một công trình nào được xây ở trường Mansfield không?” anh hỏi.
Hai con ngươi của người phụ nữ trông như đang lảo đảo trong hốc mắt. “Ở trường Mansfield á? Ông ấy có làm việc ở trường Mansfield đâu. Ông ấy làm ở căn cứ quân sự cơ mà.”
“Đúng là thế. Nhưng căn cứ và ngôi trường ở ngay sát nhau.”
Chị ta móc lấy một bao thuốc lá từ trên cái kệ tủ đầu giường và châm lửa. Chị ta thở ra khói và nhìn Decker. “Tôi chả thấy hai chuyện đó liên quan quái gì đến nhau.”
“Ngôi trường được xây dựng ngay khi bắt đầu Chiến tranh lạnh, ít lâu sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc. Người dân trên khắp cả nước đều xây dựng hầm trú bom ở sân sau nhà mình. Thật ra, người ta xây những nơi như vậy cho cả các tòa nhà nữa, bao gồm trường học. Những chỗ trú ẩn tránh được bom ở bên dưới các tòa nhà.”
Ánh mắt người phụ nữ thoáng như nhớ ra điều gì.
“Chờ chút. Rất lâu về trước đúng là Simon có từng nói gì đó về một... về một thứ gì gì đó ở trường Mansfield. Không phải ông ấy xây nó từ đầu. Ông ấy chỉ xây thêm thôi. Nhưng mà tôi quên sạch, chẳng nhớ gì nữa rồi.”
“Chính xác thì cái gì gì đó mà chúng ta đang nói đến là cái gì thế?” Lancaster hỏi, nhấn mạnh.
Beth chỉ tay vào Decker. “Giống như anh ta nói đấy. Một nơi an toàn để trốn bên dưới ngôi trường phòng khi người Nga tấn công chúng ta.”
“Người Xô Viết,” Decker chỉnh lại. “Nhưng cũng gần như thế. Ông ấy có kể cho chị nghe chuyện gì về nó không? Kiểu như nó nằm ở đâu chẳng hạn?”
“Không, không kể gì chuyện đó cả. Có vẻ như nó chưa bao giờ cần dùng tới. Và rồi sau đó tôi đoán nó được lấp đi hay gì đó bởi vì quân đội đâu có muốn có ai trốn xuống dưới đó. Anh biết mà, bọn học sinh cấp ba đang tuổi sinh lý trỗi dậy mà. Anh có thể tưởng tượng được tụi nó chui xuống dưới đó để làm gì.” Chị ta dừng lại và nói nhỏ, “Thác loạn.” Rồi chị ta cười khúc khích và nấc. “Nếu ngày còn đi học ở đấy mà biết có nó, tôi sẽ là đứa đầu tiên dùng nó.”
Rồi chị gào lên với người ở phía kia hành lang, “Thác loạn, thằng chó chết ạ. Tao sẽ lamg như thế vào ngày mai! Thác loạn với những thằng khác! Rất nhiều thằng khác!”
Decker một lần nữa dẫn chị ta trở vào trong phòng ngủ.
“Vậy là ở dưới đó có một chỗ trú ẩn. May mắn cho chúng tôi là chị có nhớ về việc này,” Lancaster nói và liếc mắt nhìn Decker.
Beth nở một nụ cười méo mó. “Thật ra, trí nhớ của tôi tệ lắm. Nhưng tôi nhớ Simon kể cho tôi nghe về nó vào một tối nọ khi tôi đang nấu bữa tối. Buồn cười thật, tôi chưa bao giờ nghe ông lão đó nói chuyện, và như tôi đã nói đấy, trí nhớ của tôi rất tệ. Tôi chưa bao giờ nhớ được ngày sinh nhật của mọi người, kiểu thế. Nhưng hôm đó tôi đang làm bánh chocolate kiểu Đức khi ông ấy kể cho tôi nghe về nó. Lần duy nhất tôi từng thử làm món đó. Và tôi đoán đó là thứ khơi mào.”
“Cái gì khơi mào cái gì cơ?” Lancaster bối rối hỏi lại.
“Cái bánh chocolate kiểu Đức ấy. Nó khơi mào câu chuyện kể ấy. Giữa Đức và Nga có sự liên hệ. Họ ở Đức mà, phải không? Ý tôi là người Nga ấy.”
“Đúng thế,” Decker nói. “Đúng là họ đã từng hành quân lên đó. Ít nhất là một nửa nước Đức.”
Chị ta mỉm cười. “Bộ não hoạt động mới kì quặc làm sao.”
“Khỏi phải nói,” Decker nói. “Simon có bạn bè nào trong thị trấn có thể vẫn còn sống và có thể biết về cái nơi trú ẩn dưới lòng đất đó không?”
“Ông ấy chưa từng nhắc đến chuyện đó. Ý tôi là, khi mất ông ấy đã hơn chín mươi rồi. Tính đến giờ ông ấy cũng phải gần một trăm. Họ chết cả rồi, chẳng phải sao?” Chị ta nhỏ nhẹ nói thêm, “Giống như Debbie của tôi.”
Tất cả chìm trong im lặng một cách khó xử, cho đến khi Decker nói, “Nếu chị còn nhớ ra được chuyện gì nữa, làm ơn hãy gọi cho Thanh tra Lancaster đây. Chuyện này rất quan trọng. Chúng tôi muốn tìm ra là kẻ nào đã làm việc này. Kẻ nào đã gây ra việc này với... Debbie.”
“Anh vẫn nghĩ con bé... con bé móc ngoặc với kẻ gây nên chuyện này sao?”
“Không, thực sự tôi không có ý nghĩ đó.”
Đôi môi của người phụ nữ run rẩy. “Debbie là một đứa bé ngoan.”
“Tôi dám chắc đúng là như thế, điều đó khiến việc tìm ra kẻ nào đã gây ra chuyện này càng thêm quan trọng.”
Lancaster liếc nhìn cái vali đã chất một phần đồ đạc. “Nghe này, đây không phải là việc của tôi, nhưng chị có nghĩ chị nhất định phải thay đổi quyết liệt đến mức này khi vừa mới mất con không? Có lẽ sẽ tốt hơn cho chị và chồng của chị nếu hai người cùng nhau vượt qua chuyện này đã, rồi quyết định tiếp thế nào chờ sau này mới tính. Quyết định bộp chộp nhiều khi sẽ khiến chị hối hận về sau.”
Hai mắt Beth lác đi, nhìn Lancaster. “Tôi đã muốn bỏ đi từ hai năm trước, nhưng tôi ở lại là vì Debbie. Giờ Debbie có còn ở đây nữa đâu. Thế nên tôi sẽ không lãng phí thêm một giây nào của cuộc đời mình ở cái nơi khốn nạn này. Giờ thì, xin phép hai người, tôi cần sắp xếp cho xong để có thể đi khỏi cái chỗ quỷ quái này.”
Chị ta đóng rầm cánh cửa phòng ngủ ngay trước mặt họ.
“Không còn đủ tỉnh táo để nghĩ đến điều tốt xấu nữa rồi,” Lancaster nói.
“Đối với một số người, hôn nhân càng kéo dài thì nó càng trở nên tệ hơn,” Decker nói. “Nhưng chí ít chúng ta biết có thể giả thiết của tôi có khả năng là đúng. Simon có biết về một thứ ở trường học. Một nơi trú ẩn ngầm dưới lòng đất.”
“Giờ chúng ta làm gì?” Lancaster hỏi.
“Ra ngoài thôi. Cô có thể hút một điếu thuốc còn tôi có thể gọi vài cuộc điện thoại.”
“Anh biết tôi có thể cai bất cứ khi nào tôi muốn mà.”
Anh nhìn chị chằm chằm. “Không, cô không cai được đâu, Mary ạ. Cô là con nghiện nicotine rồi.”
“Tôi đang đùa thôi mà. Bố khỉ, anh nhất định phải hiểu mọi thứ theo nghĩa đen thế à?”
Nhưng Decker đã đang nghe điện thoại rồi.
Cần ba cuộc gọi và được giới thiệu từ người này sang người khác thì Decker mới tìm được một ai đó biết sơ sơ về thứ mà anh đang nói đến. Anh kiên nhẫn giải thích anh là ai và anh muốn gì.
“Trường Mansfield,” người phụ nữ ở đầu dây bên kia nói. “Nơi xảy ra vụ xả súng á?”
“Đúng thế,” Decker nói. “Chúng tôi đang cố tìm ra tên sát nhân vào và ra khỏi trường bằng cách nào. Do ngôi trường ở rất gần với căn cứ quân sự McDonald, chúng tôi nghĩ có thể có gì đó ở đây. Chúng tôi tìm hiểu được hóa ra có một lối đi ngầm dưới lòng đất hoặc một cơ sở hạ tầng có chức năng tương tự như thế. Chúng tôi muốn có thông tin xác nhận việc này và cũng muốn có thêm một số chỉ dẫn cụ thể về việc làm thế nào để vào được chỗ đó, như thế chúng tôi không cần lục tung cả ngôi trường chỉ để tìm được nó.”
“Tôi sẽ cần anh phải gửi yêu cầu dưới dạng văn bản với tiêu đề chính thức, như thế yêu cầu của anh mới được xác minh và thực hiện.”
“Được rồi, nhưng khi đã được xác minh và thực hiện, sẽ mất bao lâu? Chúng tôi đang truy tìm một tên sát nhân. Một kẻ đã giết hại nhiều đứa trẻ. Càng để lâu hắn sẽ trốn càng xa.”
“Tôi ước có thể nói với anh là nhanh thôi. Nhưng đây là Quân đội Hoa Kỳ. Nơi duy nhất mà chúng tôi hành động nhanh đó là trên chiến trường. Những thứ còn lại đằng sau chiến tuyến thì không nhanh cho lắm.”
Decker lấy thông tin về địa chỉ gửi yêu cầu rồi tắt máy.
Anh nhìn sang Lancaster, đang dựa người trước mui xe trong suốt khoảng thời gian anh gọi điện lẫn chơi trò Đập chuột chũi với Quân đội và rít hết không chỉ một mà ba điếu thuốc.
Lancaster thả đầu mẩu điếu thuốc cuối cùng và dùng gót giày nghiền nát nó vào với mặt đường. “Sao rồi?”
“Có khi tất cả chúng ta sẽ chết vì tuổi già trước khi họ phúc đáp yêu cầu.”
“Vậy giờ sao?”
“Thì có vẻ như chúng ta sẽ phải tự mình tìm nó thôi.”
 
CHƯƠNG 28
 
Decker và Lancaster đi dọc theo căn tin, mỗi người đi từ một đầu khác nhau.
“Vậy là có thể hiểu sẽ có một lối vào ở trong này,” Lancaster nói. “Phòng lớn, có thể tập trung nhiều học sinh ở đây và sau đó là dẫn các em xuống nơi trú ẩn trong trường hợp có sự cố khẩn cấp.”
Decker gật đầu mà không nói gì.
Chị tiếp tục, “Nếu nó ở trong này, chắc hẳn nó phải được giấu sau một cái gì đó. Có thể là các thiết bị chăng?”
Decker lắc đầu. “Không thể là thứ gì đó kiên cố thế được. Trong trường hợp khẩn cấp, cần phải có thể di tản sao cho nhanh chứ.”
“Nhưng có thể nó đã được che phủ một lớp gì đó lên,” Lancaster nêu ý kiến. “Xây đè chẳng hạn.”
“Nhưng kẻ nổ súng vẫn không thể đục tường, sàn nhà hoặc trần, bởi làm như thế sẽ tạo ra tiếng động và để lại bằng chứng về việc hắn đi từ đây ra hành lang phía sau như thế nào.”
“Ồ, hắn có để lại bằng chứng là hắn ở trong này đấy thôi. Đồ ăn ôi thiu, nhớ không?”
“Hắn cố tình để lại bằng chứng đó. Hắn hoàn toàn có thể dễ dàng hạ nhiệt độ trở lại sau khi đã ra khỏi đó. Chết tiệt, dù sao hắn cũng đâu cần phải ở lại trong kho lạnh suốt cả đêm. Hắn muốn chúng ta biết là hắn đã ở trong đó. Nhưng hắn không muốn chúng ta tìm ra được hắn đi từ trước ra sau như thế nào. Chí ít là không muốn bị lộ ngay tức thì. Đó là lý do hắn để lại dấu vết trên trần và vụn gạch trên sàn. Một biện pháp đánh lạc hướng kinh điển. Hắn đang chơi chúng ta. Và hắn khiến chúng ta mất thời gian. Tất cả có lợi cho hắn và bất lợi cho chúng ta.”
Lancaster tiếp tục liếc nhìn xung quanh. “Vậy là chúng ta đang tìm kiếm một lối dẫn vào trong này đã được che kín. Chỉ có điều chúng ta không biết nó ở đâu và được che thế nào.”
“Từ ‘che’ có thể chỉ rất nhiều thứ khác nhau. Nhưng điểm mấu chốt là, gã này kết bạn với Debbie vì một lí do và một lí do duy nhất - tìm hiểu về lối đi này.”
“Thôi nào, Decker. Làm thế nào hắn biết là cô bé biết mà hỏi chứ?”
“Tôi phát hiện ra điều đó dựa trên quan sát, linh cảm và một chút tìm hiểu. Hắn có thể làm điều tương tự. Đây là một thị trấn tương đối nhỏ. Có vô số cách để hắn phát hiện ra Simon Watson đã từng làm việc ở căn cứ. Hắn cũng có thể biết được ông ấy từng sống với gia đình Watson. Hắn có thể đã tiếp cận Debbie để dò hỏi xem cô bé liệu có biết gì về nó hay không. Và tất nhiên là cô bé có biết.”
“Như thế sẽ cần lên kế hoạch và tính toán trước rất lâu.”
“Và đó có vẻ như là một thế mạnh của gã này.”
Decker đi qua đi lại trước một phần của bức tường.
Lancaster nhìn thấy và nói, “Tôi cá là những quy định đó sáu mươi năm nay không hề thay đổi. Tôi đoán anh ngoan ngoãn tuân thủ tất cả những cái đó hồi còn học ở đây chứ hả?”, chị nở một nụ cười theo cùng.
Những “quy định” mà chị đang nhắc tới được dán trên một khoảng rộng của bức tường mà Decker đang chăm chú quan sát. Các quy định bao gồm: không nói to, không ném đồ ăn, không ăn đồ ăn trên dĩa của người khác, không được bỏ lại vỏ hộp sữa trên bàn, bỏ rác vào thùng, không chạy, vân vân và vân vân.
“Amos, tôi nói -”
Anh giơ một tay lên ra hiệu cho chị im lặng, trong lúc đó anh bước đi bước lại dọc theo bức tường và rồi sau đó nhìn xuống sàn nhà.
“Cô nhìn dưới này có thấy gì không Mary?”
Chị cúi xuống thấp và nhìn vào vị trí mà anh đang chỉ.
“Một vài vết hằn. Có lẽ là dấu giày của tụi học sinh.”
“Tôi không nghĩ vậy. Trường Mansfield không yêu cầu mặc đồng phục. Hầu hết nam sinh đều đi giày thể thao. Và từ những gì tôi nhìn thấy, phần lớn nữ sinh đi giày thể thao, giày bệt hoặc cao gót đế vuông. Các loại giày dép đó không thể để lại những vết hằn kiểu như vậy được. Thật ra dấu này giống như cào rách cả lớp vải sơn lót sàn vậy. Và những vết đó không hề ngắn, không giống vết mà gót giày có thể tạo ra. Chúng khá dài. Và chúng hơi uốn sóng nhẹ. Trông như có tận vài vết cả thảy.”
“Hừm, thế anh nghĩ chúng là gì?”
Anh đứng gần hơn vào cái phần của bức tường mà tại đó các quy định được in vào một tấm gỗ lớn có màu sơn tương đồng với màu của bức tường. Tấm gỗ bám sát với sàn nhà và chạm gần tới trần.
“Không có dấu vết của bản lề,” anh nói. “Nhưng -”
Anh dí các ngón tay vào dưới khu vực bên phải của bức tường và chọc vào nhiều vị trí khác nhau. Anh làm tương tự với phía bên trái của bức tường. Cuối cùng, sau mười phút thăm dò, chọc và đẩy, một tiếng tách nhẹ vang lên và toàn bộ khu vực phía sau tấm biển bật mở, hướng ra ngoài. Anh kéo tiếp nó, để mở rộng hơn. Để lộ ra phía sau đó là hai cánh cửa bằng gỗ cũ được sơn màu trùng với màu của bức tường.
“Nhìn sàn nhà kìa,” Decker nói.
Lancaster để ý thấy có một vài những vết kéo xước mới xuất hiện tại vị trí mà tấm gỗ bắt đầu di chuyển từ đó dọc theo sàn nhà khi anh đẩy mở nó.
“Chết tiệt, Amos ạ. Dấu vết trên sàn nhà là từ cánh cửa, khi nó được kéo mở.”
“Bản lề được đặt ở bên trong, cách khoảng ba mươi phân và được đặt trên một cấu trúc đỡ để không ai nhìn thấy được. Nhưng bản lề đã bị cong đi đôi chút theo thời gian, do đó mới kéo xước sàn nhà.” Anh vuốt những ngón tay dọc theo một bộ bản lề, và khi bỏ tay ra, đầu ngón tay của anh bị đen đi.
“Mới được tra dầu gần đây,” anh nói.
Có một cái tay nắm cửa nhỏ ở chính giữa mặt phía sau của bức tường.
“Anh nghĩ cái đó để làm gì?”
Decker suy nghĩ một lúc. “Khi đã sang được phía bên kia, nó được dùng để kéo kín bức tường lại.”
“Phải rồi. Nhưng tại sao lại phải có cửa nhỉ? Nếu họ muốn che kín nó, tại sao không che luôn đi?”
“Tôi không biết, Mary ạ. Chắc hẳn xây được nó tốn kém nhiều tiền của lắm. Có thể họ muốn có một lối vào tương đối dễ dàng trong trường hợp có thể phải sử dụng đến nó lần nữa.”
“Có lẽ vậy.”
“Tôi không thấy có dấu vân tay nào, nhưng chúng ta không nên bỏ qua. Vẫn có những dấu vân tay ẩn, và chúng được gọi với cái tên đó là có lí do.”
Anh cầm lấy một con dao từ trong cái hộp trên một kệ bếp để cạy mở cánh cửa bằng ấn cái khóa loại thường dùng đang giữ hai cánh cửa với nhau ra sau. Cánh cửa được đẩy mở nhẹ nhàng, cho thấy bản lề của nó cũng mới được tra dầu gần đây.
Có một hàng các bậc cầu thang dẫn xuống một nơi tối đen như mực.
Decker chộp lấy chiếc đèn pin khẩn cấp cắm trên cái giá treo gắn vào tường bên cạnh quầy phục vụ và quay trở lại, đứng trước bậc cửa. “Sẵn sàng không?”
“Chẳng phải chúng ta nên báo cho những người khác nữa sao?” Lancaster lo lắng nói.
“Sẽ báo, sau khi chúng ta xem thử nó dẫn tới đâu.”
“Nhưng FBI thì sao?”
“Kệ mẹ tụi FBI đi, Mary. Vụ này là của chúng ta, không phải của họ.” Anh nhìn chị chằm chằm. “Cô đi với tôi chứ?”
Cuối cùng chị gật đầu và theo anh bước xuống cầu thang.
Họ đi tới bậc thang cuối cùng, và tại đây Decker dừng lại và rọi đèn xung quanh.
“Nhìn ở kia kìa.”
Họ nhìn thấy treo ở một mặt tường là hai miếng gỗ ép lớn được sơn màu. Những cái đinh bị đập cong nhô ra trên những miếng gỗ.
Decker nói, “Đó mới thật là cách họ che giấu lối đi này. Tôi nhìn thấy các lỗ đóng đinh ở xung quanh cánh cửa đôi. Tấm gỗ ép đó được đóng phía trước hai cánh cửa, tất cả những gì mà họ nhìn thấy là một bức tường kiên cố.”
“Anh nghĩ là kẻ nổ súng đã làm việc đó sao?”
Decker rọi đèn xuống sàn nhà. “Chắc chắn là thế. Mùn cưa trên sàn trông khá là mới. Nếu hắn nạy đinh, bụi mùn cưa chắc chắn sẽ rơi ra và rớt xuống sàn. Tương tự khi hắn kéo tấm biển gỗ để ra được cầu thang. Và có thể hắn đã dùng cưa để cắt lớp ván gỗ nữa.”
“Nghĩa là hắn đã phải làm việc này từ trước đó. Chẳng lí gì hắn có thể cắt được lớp tường gỗ trong giờ học. Sẽ tạo ra rất nhiều tiếng động.”
“Có thể hắn đã làm việc này từ đêm hôm trước. Hắn từ trong kho lạnh đi ra và bắt tay vào làm việc. Ở đây không có ai nên chẳng ai nghe thấy gì. Hắn mở bức tường có tấm biển ra, cắt lớp tường gỗ, mở hai cánh cửa, và dồn tất cả mọi thứ xuống đường hầm.”
“Nếu là hắn làm tất cả những việc đó, thì Amos ạ, có thể đó là lí do vì sao hắn trốn trong kho lạnh.”
“Có thể là thế,” Decker nói.
Decker chỉ tay xuống sàn nhà thêm một lần nữa. Dưới lớp bụi là những dấu giày rất rõ ràng dẫn theo hướng mà họ đang đi.
Hai nhóm dấu giày rõ ràng dẫn đi dọc theo đường hầm.
“Đi sang bên phải đi, Mary, để bảo toàn chúng. Và dùng điện thoại chụp ảnh lại trong lúc chúng ta đi.”
“Được thôi, nhưng tại sao lại có những hai dấu chân nhỉ? Liệu có phải là của hai người khác nhau không?”
Decker ngồi xuống và rọi đèn vào chúng. “Không. Các dấu chân trông có vẻ là giống hệt nhau. Và không phải là của hai người đi bên cạnh nhau. Khoảng cách giữa các dấu chân quá gần nhau. Nhưng có hai nhóm dấu chân thì có thể hiểu được.”
“Tại sao?”
“Đi nào.”
Họ tiếp tục, vừa đi chị vừa chụp ảnh lại. Họ đi qua một cánh cửa lớn, bằng kim loại dày cả chục phân, nó được mở dễ dàng là bởi vì nó được gắn với bản lề thủy lực.
“Một dạng cửa chịu được sức nổ,” Decker nói.
Giờ, không gian mở rộng thành một căn phòn lớn rộng khoảng hơn ba mét rưỡi và sâu gấp đôi quãng đó. Sàn nhà bằng bê tông, các bức tường và trần nhà cũng vậy. Trên các bức tường gắn các tấm biển, chỉ dẫn những việc phải làm trong trường hợp xảy ra sự cố khẩn cấp. Một số được in thêm biểu tượng đầu lâu xương chéo, dấu hiệu quốc tế thể hiện có nguy hiểm. Dọc theo các bức tường là các tủ đựng đồ bằng kim loại đã cũ, trên đó cũng được gắn biển tên. Một trong số đó ghi MẶT NẠ PHÒNG ĐỘC. Một biển khác ghi, ĐỒ SƠ CỨU. Biển thứ ba ghi, NƯỚC VÀ THỰC PHẨM. Bụi và mạng nhệ giăng kín, và không khí có mùi cũ kỹ và ẩm mốc.
“Chắc hẳn họ phải có một nguồn cung cấp không khí độc lập,” Decker nói. “Nếu bị tấn công hạt nhân, không thể lấy được không khí từ bên ngoài.”
“Nhưng dưới này cũng không thể kín khí được. Tôi vẫn thở bình thường.”
“Điều đó có nghĩa là dưới này có chỗ nào đó thông khí, như thế các công nhân mới có thể đưa nhu yếu phẩm chất đầy trong này, và những người xuống đây có thể thở được, nhưng họ sẽ đóng lỗ thông đó khi có chuông báo động.”
Đi theo dấu giày, họ vượt qua không gian của hầm trú bom và đi qua một cánh cửa chịu sức nổ khác, bên kia cánh cửa có thêm một đường hầm khác y hệt như đường hầm vừa rồi. Bóng tối được xua đi sau mỗi giây nhờ ánh đèn flash từ điện thoại của Lancaster khi chị chụp ảnh những dấu giày tiếp tục đi theo đường hầm này.
Decker đang nhẩm đếm số bước chân trong đầu. Tiếp đó họ bắt gặp một dãy cầu thang nữa. Những bậc thang này hướng lên trên. Cứ qua một lúc, Decker lại soi đèn xuống sàn nhà một lần. Các dấu giày mà họ nhìn thấy lúa trước song song với họ suốt cả chặng đường. Chúng hướng lên trên. Ở phía cuối của cầu thang là một bức tường trắng trơn.
“Đường cụt sao?” Lancaster khác.
“Không thể nào.” Decker ấn đầu ngón tay quanh gờ của bức tường, sờ lên rồi xuống ở cả hai cạnh mép. Rồi anh sờ thấy một cái tay cầm, kéo nó. Bức tường bắt đầu tách ra, và rồi sau đó nó mở ra.
“Là gỗ bấc,”anh nói, dễ dàng nhấc nó ra và đặt sang bên. Ở phía bên kia của bức tường đã mở là một không gian mở nhỏ chất đầy rác rưởi. Phía bên kia của đống rác là một cánh cửa.
“Chính quyền không thể che chỗ này bằng gỗ bấc được,” Lancaster nhận xét.
“Tôi dám chắc là không. Nhưng khác với trong căn tin, bức tường không thấy được bằng mắt thường, bức tường có lẽ được đặt ở đây phòng trường hợp có người mở cánh cửa đó. Kẻ nổ súng chắc hẳn đã thay thế bức tường từng ở đây bằng gỗ bấc. Trông có vẻ chắc chắn nhưng lại có thể dễ dàng di chuyển được.”
“Những việc anh nói nãy giờ là rất nhiều, Amos ạ. Hắn không thể nào làm tất cả chỉ trong một đêm.”
“Nhưng nếu hắn có thể thâm nhập vào trường mỗi tối, có thể hắn đã ở đây nhiều lần, làm tất cả những gì hắn cần.”
“Nhưng làm thế nào hắn làm được việc đó? Hắn không thể chỉ trông chờ vào các buổi kịch ở trường mỗi tối, đúng không? Và còn mang theo cả cưa và những dụng cụ khác nữa?”
“Tôi không biết chắc hắn làm được việc đó bằng cách nào.” Decker rọi đèn xuống sàn nhà. “Kiểm tra mảng gỗ ngay phía trước bức tường đi. Không có nhiều bụi lắm. Đống rác kia đã từng ở ngay phía trước bức tường, nhưng đã được di chuyển để không ngáng đường.”
Decker kiểm tra tay nắm cửa để tìm dấu vân tay, và sau đó dùng con dao mà anh đã mang theo để cố nạy mở chốt cửa.
“Nó bị khóa rồi. Hộ tôi một giây.” Anh đưa cái đèn pin sang cho chị và lấy dụng cụ phá khóa từ trong túi ra.
“Dụng cụ tiêu chuẩn của thám tử tư à?” chị nói với vẻ chế giễu.
“Hồi làm cảnh sát cô chưa phá khóa bao giờ à?”
Một phút sau cánh cửa bung mở ra sau chừng vài chục phân và va vào cái gì đó.
“Cái gì thế?” Lancaster thì thầm.
Decker để ý thấy chị đã rút súng ra. Và rằng tay trái của chị vẫn đang run rẩy.
“Có cái gì đó chặn ở cửa.” Anh thò đầu qua phần cửa đã mở và nhận ra họ đang ở đâu.
“Đây là kho chứa của lớp học nghề. Tôi đã từng xem qua chỗ này. Cánh cửa va phải một chồng các cụm máy điều hòa gắn cửa sổ đã cũ. Đó là lí do vì sao lúc trước tôi không nhìn thấy cánh cửa. Mấy cụm máy đó đã che kín nó từ vị trí mà tôi đứng ở phía bên kia.”
“Và tôi dám cá khi chúng ta lục soát khu vực này, không ai để ý thấy cánh cửa ở phía bên kia cũng vì lí do này.”
“Nghe có vẻ hợp lý.”
Lancaster nhìn khoảng trống. “Tôi có thể đi qua đó được.”
Chị xoay ngang người và dễ dàng đi qua khoảng hẹp.
Chị nhìn xung quanh. “Nếu anh có thể tiếp tục đẩy cánh cửa từ bên anh, tôi sẽ chỉnh mấy cụm máy điều hòa đi theo cho cân, để chúng khỏi đổ xuống.”
Anh dùng sức nặng của mình tiếp tục đẩy cảnh cửa, và cánh cửa mở rộng thêm nữa, cùng với mấy cụm máy điều hòa di chuyển theo, trong khi Lancaster bám chắc người theo chúng, giữ cho chúng đứng thẳng.
“Được rồi, Amos, thế là thừa chỗ cho anh đi qua rồi.”
Decker đi qua khoảng trống đã được mở rộng, nhìn cánh cửa đã được mở một phần và rồi sau đó nhìn mấy cụm máy điều hòa chồng lên nhau, và sau đó nhìn chằm chằm xuống sàn nhà.
Và rồi anh cau mày.
“Giờ sao?” Lancaster hỏi.
“Ở trong này không có nhiều bụi lắm, thế nên tôi không nhìn thấy dấu giày nào nữa.”
“Nhưng chúng ta đã nhìn thấy dấu giày đi lên cầu thang. Chắc hẳn hắn cũng đã phải đi vào đây.”
“Đồng ý. Vậy là cứ giả sử hắn đã đi vào đây và đi vào lớp học nghề.”
Họ rời kho chứa đồ và đi vào trong căn phòng rộng với đầy đủ dụng cụ và bàn thực hành.
“Nhưng làm thế nào để gã đó biết sẽ không có ai trong phòng học nghề?” Decker nói.
“Ồ, vậy là anh không biết à?” Lancaster nói, giọng có vẻ hài lòng khi có điều chị biết mà Decker không biết.
“Biết gì?”
“Giáo viên dạy nghề thôi việc hồi cuối năm ngoái. Họ không tìm được người thay, thế nên cả năm nay đâu có lớp dạy nghề.”
“Đó là lý do mà cửa phòng học bị khóa. Và cũng là lý do mà kẻ nổ súng biết phòng học không có người. Chắc chắn Debbie đã kể cho hắn rằng lớp học nghề không mở.”
“Nhưng anh đã đúng, Amos ạ. Đây là cách để hắn đi từ căn tin tới đầu kia của trường mà không để bị nhìn thấy.”
Anh gật đầu. “Thật ra ngày hôm đó hắn đã làm việc này hai lần. Hắn đi ra khỏi kho lạnh, đi xuống tầng hầm, đi ra và xuất hiện trong hành lang, bắn những người trên đường hắn đi tới khu vực phía trước. Sau đó hắn lại đi vào đường hầm trong căn tin, đóng bức tường lại, vav đi ngược trở xuống đường hầm.”
“Đó là lí do vì sao lại có hai nhóm dấu chân giống hệt nhau.” Lancaster nói thêm.
“Phải. Rồi, vì lớp học nghề cũng có không gian rộng, thế nên có thể họ đã tính toán sẽ tập tring bọn trẻ ở cả hai đầu của ngôi trường và dẫn xuống nơi trú ẩn trong trường hợp xảy ra tình huống khẩn cấp.”
“Anh tính toán thì đường hầm sâu bao nhiêu?” chị hỏi.
“Dựa theo số bậc, khoảng ba mét rưỡi.”
“Không chắc đủ để bảo vệ khỏi vụ nổ hạt nhân. Kể cả nếu được xây bằng bê tông và có cửa gia cố.”
Anh nhìn chị chằm chằm. “Ồ, thế chính xác thì cái gì có thể bảo vệ cô khỏi bom hạt nhân?”
“Rồi rồi.”
“Tôi đã đi vào đây đêm đầu tiên mà tôi tới xem xét xung quanh. Những dấu giày đằng kia là của tôi.” Anh chỉ tay vào bức tường ở góc xa. “Tôi đi xung quanh, và rồi sau đó, như tôi đã nói, tôi kiểm tra qua phòng kho ở phía sau.”
Decker hạ gối quỳ xuống và quan sát sàn nhà. “Mary, rọi đèn vào chỗ này đi. Chắc hẳn lúc trước tôi đã bỏ qua nó.”
Lancaster làm theo, để lộ ra một dấu dài cắt ngang qua lớp bụi đang lấp lánh dưói ánh đèn, cùng với dấu in giày.
“Anh nghĩ đó là cái gì?”
“Rọi đèn nhích sang trái khoảng mười lăm phân đi.”
Chị làm theo. Không có gì cả.
“Thử nhích sang phải mười lăm phân xem nào.”
Chị làm theo và họ nhìn thấy một dấu vết tương tự.
“Đó là cái gì?” Lancaster hỏi.
“Dấu vết từ chân của Debbie Watson.”
“Chân của cô bé sao?”
“Hoặc nói đúng hơn là dấu giày cao gót, khi cô bé bị kéo ra khỏi đây. Dấu giày là của kẻ nổ súng.”
“Ra khỏi đây á? Cô bé đang làm gì ở trong này chứ?”
“Gặp mặt thằng bạn trai Jesus của cô bé.”
“Không phải là thật đâu, đúng không?”
“Debbie là bệnh nhân đầu tiên được giải phẫu tử thi. Cô có đọc báo cáo pháp y không?”
“Tất nhiên là có.”
“Nguyên nhân tử vong là gì?”
“Tại sao phải lãng phí thời gian thế hả Amos? Nguyên nhân tử vong của cô bé là một phát đạn bằng súng hoa cải vào mặt, như anh đã biết rất rõ.”
“Cái đó thì rõ ràng rồi. Nhưng cô có để ý nhân viên điều tra tìm được gì trong miệng cô bé không?”
“Ý anh là còn gì nữa ngoài mấy viên đạn ấy hả?” Lancaster nói bằng giọng mỉa mai.
“Anh ấy tìm được một ít còn sót lại của kẹo ngậm bạc hà.”
“Kẹo ngậm bạc hà sao? Tôi không nhớ từng đọc qua đoạn đó.”
“Nó nằm ở gần cuối của báo cáo. Tôi luôn luôn đọc đến hết.”
“Nhưng kẹo ngậm bạc hà sao?”
“Một ít còn sót lại của kẹo ngậm bạc hà. Một gói kẹo như thế được tìm thấy trong tủ đựng đồ của cô bé. Hai gói khác đã bị lấy mất. Đó là lí do vì sao mà cô bé đi tới tủ khóa của mình. Để lấy kẹo bạc hà. Để hơi thở thơm tho hơn trước khi đi gặp bạn trai. Và cũng là kẻ sát hại cô bé. Và việc này giải thích được vì sao lại có khoảng trống thời gian. Hắn từ trong kho lạnh đi ra vào lúc bảy giờ hai mươi tám phút. Hắn đi xuống đường hầm. Nhưng hắn phải đợi Debbie ra khỏi lớp. Có thể bọn họ đã có thời gian chuẩn bị trước. Cô bé giả vờ không khỏe, xin giấy nghỉ, đi tới chỗ tủ khóa, lấy kẹo bạc hà, và rồi đi vào phòng học nghề.”
“Nhưng anh nói cửa bị khóa cơ mà?”
“Jesus có thể đã mở khóa cho cô bé từ bên trong.”
“Phải rồi.” Chị nhìn anh với vẻ hoài nghi. “Chính xác thì anh đã suy ngẫm đến những điều này trong bao lâu rồi?”
“Không lâu lắm.” Decker nhắm mắt và đưa tay ra sau đầu, chạm vào khoảng giữa đầu từ trên xuống. “Và kết quả giải phẫu cho thấy có một vùng tụ máu bán cấp dưới màng cứng ở phía sau đầu, ngay vị trí này. Bên trái của xương chẩm bị rạn, đó là một loại xương rất cứng và rất khó có thể bị tổn thương đến mức đó. Vết thương đó đủ để giết chết cô bé kể cả nếu khẩu súng không làm được việc đó, nó sẽ gây chảy máu trong và dẫn tới làm tăng áp lực lên não. Bác sĩ pháp y suy đoán vết thương xuất hiện khi cô bé ngã ngửa ra sau, đập đầu xuống sàn sau khi bị bẵn.” Anh mở mắt ra và nhìn người cộng sự của mình. “Bên trái.”
“Nghĩa là cú đánh sẽ xuất phát từ bên trái và từ đằng sau? Đó là một kẻ thuận tay trái? Như anh đã nói kẻ viết bản nhạc, chính là thuận tay trái.”
“Phải, nhiều khả năng là như thế.”
“Vậy là hắn gặp cô bé trong này và hạ gục cô bé, nhưng tại sao chứ?”
“Hắn cần loại bỏ cô bé. Và hắn cần phải giết chết cô bé đầu tiên, trước bất kì ai khác. Hắn không thể mạo hiểm để cô bé có khả năng sống sót. Cô bé có thể chỉ mặt điểm tên hắn. Thế nên hắn sắp xếp để gặp cô bé, dùng đường hầm để đi dọc trường mà không bị ai nhìn thấy. Tôi có thể hình dung đây không phải là lần đầu tiên mà cả hai làm việc này. Có thể hai đứa nó đã từng quan hệ tình dục trong lớp học nghề trong hoặc sau giờ học trong một vài dịp khác. Tôi tự hỏi Debbie có thường xuyên xin phép lên phòng y tế không?”
“Quan hệ tình dục sao? Anh nói nhiêm túc đấy à?”
“Một nơi riêng tư của riêng hai đứa ngay giữa trường học kia mà. Còn gì có thể tuyệt hơn thế trong mắt một đứa trẻ vị thành niên say đắm men tình với người đàn ông trưởng thành của nó, một kẻ thậm chí không hề học tại đây? Và kẻ sát nhân chắc hẳn cũng muốn nhân dịp ghi nhớ mọi lối đi trong đường hầm khi hắn lên kế hoạch toàn bộ chuyện này. Hắn còn có thể mang đồ và cất giữ ở trong đây. Quá hoàn hảo.”
“Vậy anh đoán mọi việc đã diễn ra như thế nào?”
“Hắn gặp cô bé trong phòng học nghề, cô bé nghĩ hai đứa sẽ thân mật với nhau, thế nên dùng đến kẹo bạc hà. Hắn đánh ngất cô bé, lấy dụng cụ, lẻn ra khỏi phòng, đi vòng qua góc khuất tới trước camera và để hình ảnh của mình được ghi lại.” Anh liếc nhìn Lancaster. “Cô nhìn thấy dấu giày trong đường hầm rồi chứ?”
“Anh biết là tôi thấy mà.”
“Tôi ước tính giày sẽ có cỡ khoảng 39 hoặc có thể là 40, nhưng không to hơn thế.”
Lancaster trông có vẻ bối rối. “Vậy là cỡ chân không hề lớn đối với một kẻ to cao,” chị chậm rãi nói. “Earl cao một mét tám mà đã đi giày cỡ 44 rồi.”
“Tôi cao một mét chín lăm và đi giày cỡ 47, với người kích cỡ như tôi thì như thế chẳng có gì là bất thường. Một gã cao gần một mét chín và nặng khoảng trên 90 cân mà lại đi giày cỡ 39 ư?” Không đúng lắm. Và tôi không thể lách qua cái khe cửa nếu có mấy dàn máy điều hòa chắn đường. Tôi phải đẩy chúng ra xa hơn mới đủ chỗ. Và do không có dấu vết nào trên sàn nhà, chứng tỏ tôi là người duy nhất từng đẩy dàn máy điều hòa ra. Cô thì có thể đi qua quá dễ rồi, nhưng cô thấp và gầy gò. Gã trong đoạn băng ghi hình có phần eo nhỏ hơn tôi rất nhiều, nhưng vai và ngực của hắn thì rộng không kém gì tôi. Như vậy làm thế nào để hắn đi qua được khe cửa mà không cần dịch chuyển mấy cái máy nhỉ?”
“Tôi không biết. Anh có biết không?”
“Tôi có vài ý này.”
Lancaster bồn chồn nhìn xung quanh và miệng nhai kẹo điên cuồng, đến nỗi răng của chị va vào nhau. “Chúng ta cần điều một đội pháp chứng vào đây. Tôi cầu Chúa là chúng ta chưa làm nhiễu bằng chứng. Cục sẽ xé chúng ta tan tành, sau khi Mac sạc cho chúng ta một trận.” Chị nhìn xung quanh và rồi dường như chị chợt nhận ra điều gì đó.
“Chờ chút đã. Nếu gã đó đánh ngất Debbie và kéo cô bé ra khỏi đây, làm thế nàk để hắn bắn cô bé ở tư thế đứng thẳng bên ngoài hành lang? Phân tích đường đạn đạo đã xác nhận rất rõ ràng. Cô bé đứng thẳng. Các vết máu bắn ra không thể làm giả được. Và giữa thời điểm hình ảnh của hắn bị ghi lại trên video và thời điểm giết Debbie cũng chỉ có khoảng cách là một phút thôi.”
“Có một cái lỗ ở sau lưng áo khoác của cô bé, ngay vị trí đằng sau cổ,” Decker nói. “Có thể hắn đã móc cái áo khoác lên tủ khóa của cô bé. Nó có thể giữ cô bé đứng thẳng trong một thời gian ngắn. Hắn lách người, đi vòng qua góc khuất, để hình ảnh của mình được thu lại, vòng trở về và bắn cô bé. Phát súng đã đốn ngã cô bé. Đó là khi mà chiếc áo khoác bị xé rách, nó bị giật bung ra khỏi tủ khi cô bé ngã xuống.”
Decker rọi đèn xung quanh căn phòng và phát hiện ra thêm nhiều dấu giày khác, bao gồm một nhóm dấu giày dẫn vào trong kho và sau đó là quay ngược xuống đường hầm. Trong lớp học nghề cũng có những dấu chân, thuộc về Debbie Watson. Cô bé đi loại bốt hầm hố. Đôi bốt đó vẫn ở nguyên trên thi thể cô. Nhìn theo dấu vết dưới sàn, Decker có thể dần hình dung được cảnh tượng đã diễn ra. Hai nhóm dấu chân tiến lại rất sát với nhau. Có thể là khi hai người đó hôn nhau. Cô bé đã mong chờ được quan hệ thể xác với người đàn ông mà cô gọi là Jesus, ấy thế nhưng mà thay vào đó cô bé lại bị vứt thẳng xuống mồ ở tuổi đời quá trẻ.
Decker dựa vào tường và tua lại cái đầu máy ghi hình của mình cho tới khi anh dừng lại tại điểm mà anh muốn. “Cô có để ý thấy thứ gì khác dưới đường hầm không hả Mary?”
“Cái gì khác? Chẳng hạn là cái gì?”
Anh mở mắt ra. “Có hai nhóm dấu chân đi lên cầu thang dẫn vào phòng kho của lớp học nghề.”
“Đúng thế.”
“Và có một nhóm là đi ngược cầu thang để xuống.”
“Cũng đúng. Rồi sao?”
“Và mặc dù có những vết xước ở khắp cái khu vực đó cho thấy hắn đã từng sử dụng đường hầm này, thế nhưng lại chẳng có một nhóm dấu chân rõ ràng nào đi ngược xuống đường hầm quay về căn tin để khớp với hai nhóm dấu chân đi từ trước ra sau ngôi trường.”
Hai mắt Lancaster mở to. “Chết tiệt, đúng là như thế. Vậy thì gã này đã trốn thoát khỏi trường bằng cách nào.”
“Giờ thì, đó là một câu hỏi rất hay.”
 
 
 
 
CHƯƠNG 29
 
Trong lúc Lancaster vội vã chạy đi báo cho các đồng nghiệp của mình về tiến triển mới này, Decker lại lẻn quay ngược trở vào đường hầm và đi xuống cuối cầu thang.
Vậy là nếu kẻ nổ súng không quay trở lại đường hầm này và trốn thoát qua căn tin hoặc đi ra bằng cửa trước hoặc cửa sau, những nơi mà chắc chắn đã có ai đó phải nhìn thấy hắn, vậy thì hắn đã đi đâu? Cả ngôi trường đã được lục soát, bao gồm cả các tầng ở trên không được dùng tới, không hề phát hiện được một thứ gì cả. Cảnh sát không hề biết về đường hầm này, tất nhiên rồi, và do đó chưa từng ai lùng sục dưới này cả. Nhưng giờ thì gã đó đã không còn ở dưới này nữa rồi. Hắn đã đi theo cầu thang từ nhà kho của lớp học nghề xuống đây và rồi đi... đâu?
Decker dùng đèn pin rọi quanh toàn bộ khu vực ở cuối cầu thang.
Có hai bức tường trống ở hai bên cầu thang. Tại đó không có bụi và do đó dấu giày cũng chỉ dừng lại ở cuối cầu thang.
Anh nhìn lại vào vị trí đó thêm một lần nữa. Nhưng tại sao ở đây lại không có bụi trong khi tất cả những nơi khác đều có? Đã có ai dọn sạch bụi đi hay sao? Nếu đúng là vậy, thì lí do là gì? Anh có thể nghĩ ra ít nhất là một lí do.
Đó là một thứ mà ai đó đã nói với anh.
Một điều mới được nói ra rất gần đây thôi.
Beth Watson.
Chị ta đang thu dọn đồ đạc để bỏ chồng. Ôg nội chồng đã kể cho chị ta nghe về đường hầm. Nhưng chị ta cũng nói điều gì đó mà Simon đã kể cho chị ta.
Ông ấy không xây nó từ đầu. Ông ấy chỉ xây thêm thôi.
Decker tiến lại gần hơn với bức tường ở bên tay phải và dùng ngọn đèn chiếu lên bề mặt của bức tường từ mọi góc độ.
Chẳng có gì hết.
Anh làm tương tự với bức tường bên trái.
Có gì đó.
Có một đường nối mờ ở chỗ bức tường nối với cầu thang. Anh nhét ngón tay vào khe hở và kéo. Và bức tường mở ra nhờ bản lề, trơn tru và không một tiếng động, y hệt như bức tường giả ở trong căn tin. Nó mới được dùng gần đây.
Decker đang nhìn xuống một hành lang dài và tối.
Không khí trong này cũng có mùi cũ kĩ và ẩm mốc. Nhưng không quá đậm mùi, điều đó có nghĩa là bằng một cách nào đó không khí trong lành đang được đưa vào đây, từ một chỗ nào đó. Anh di chuyển xuống hành lang này, ngọn đèn của anh rọi xuống sàn nhà bằng bê tông bẩn thỉu. Có dấu giày ở đó, lại là cỡ chừng 39. Anh chụp lại chúng bằng điện thoại của mình.
Anh dừng lại khi anh nhìn thấy cánh cửa. Dựa vào bên cạnh cánh cửa này và sát lên tường là những tấm gỗ ép với đinh bị uốn cong nhô ra từ trên mặt gỗ. Giống như ở trong căn tin. Chúng đã từng được dùng để che đậy thứ ở cuối con đường này, nhưng đã có kẻ nào đó tháo mở chúng.
Kẻ nổ súng.
Anh rút súng của mình ra, chạm tay lên cánh cửa gỗ, và đẩy mở nó. Anh chiếu đèn về phía trước. Anh có thể nghe thấy tiếng nước nhỏ tí tách, tiếng lạo xạo mà anh đoán là của lũ chuột và tiếng tim anh đang đập.
Decker là một người can đảm, bởi vì chẳng có ai theo nghề của anh mà lại không can đảm hơn người bình thường. Nhưng anh cũng sợ, bởi vì không ai có thể theo nghề, hoặc chí ít là tồn tại được trong nghề rất lâu, nếu không có một hiểu biết rất sơ đẳng về rủi ro tính mạng có thể bị lấy mất.
Anh tiến lên phía trước. Sau chừng ba mươi mét, sàn nhà dốc lên trên. Sau đó anh lại đi tới một dãy cầu thang, cố gắng đi nhẹ nhàng nhất có thể để không gây ra tiếng động. Lại có thêm một cánh cửa nữa ở phía trên cùng của dãy cầu thang. Cửa khóa. Anh thử dùng đồ phá khóa. Nhưng không mở được.
Anh cố gắng dùng bờ vai cùng sức nặng gần một trăm sáu mươi cân phía sau bờ vai ấy.
Thế lại mở được thật.
Anh bước qua, đi vào một khu vực tối mờ mờ và nhìn xung quanh. Căn phòng nơi anh đang đứng rộng, có cửa sổ ở tít trên cao. Có mùi của dầu mỡ bôi trơn, và khi anh nhìn xung quanh, anh nhìn thấy các bộ khung xe rải rác đây đó.
Chúng là các phương tiện cũ dùng trong Quân đội bị bỏ đi. Bởi vì bây giờ anh đang đứng trong một tòa nhà thuộc căn cứ quân sự McDonald đã đóng cửa từ lâu.
Một đường hầm nối một ngôi trường với căn cứ quân sự ư?
Nhưng càng nghĩ anh càng thấy hợp lí. Bố mẹ của nhiều đứa trẻ học ở trường Mansfield hồi đó làm việc trong căn cứ. Khi có tình huống khẩn cấp, còn nơi nào an toàn cho lũ trẻ hơn là trong căn hầm trú ẩn “chống bom” bên dưới ngôi trường hoặc ở trong căn cứ cùng với cha mẹ chúng? Hoặc có thể chỗ trú ẩn dưới lòng đất được thiết kế để bảo vệ cho cả nhân viên căn cứ lẫn các em học sinh. Bất luận sự thật là gì, có một thực tế là nó đã bị lãng quên từ lâu. Và có thể nó chưa bao giờ được dùng đến.
Nhưng anh đã chỉnh lại suy nghĩ của mình. Nó mới được dùng tới gần đây, thế nên nó không hề bị lãng quên.
Kẻ nổ súng đã đi ra bằng đường này; về điểm này thì anh dám chắc chắn. Căn cứ là một nơi rất rộng lớn để có thể lục soát hết, và nó đã bị bỏ hoang từ nhiều năm nay. Sẽ không có nhân chứng nào nhìn thấy được điều gì. Tất cả mọi thứ đều trong tình trạng đổ nát, và xung quanh căn cứ chỉ có một hàng rào mắt cáo với đủ loại dây leo, cây bụi và cây cao mọc um tùm. Rất dễ để một người có thể trốn thoát mà hoàn toàn không bị ai nhìn thấy.
Khi Decker rọi đèn xung quanh, anh nhìn thấy các vỏ lon bia và vỏ chai rượu bỏ đi, vỏ bao cao su, và đầu mẩu thuốc lá vứt bừa bãi trên sàn. Nơi này là một cơn ác mộng cho đội pháp chứng. Có lẽ có cả trăm mẩu ADN ở đây, phần lớn thuộc về đám trẻ vị thành niên buồn chán với đời tìm đến đây để trai gái, rượu chè và hút sách - ngọn đèn của anh rọi vào một cái bơm tiêm cùng với một đoạn ống cao su để chích vào mạch máu - hoặc một cái gì đó mạnh hơn.
Nhưng anh cho là chẳng có đứa nào biết về đường hầm nối khu căn cứ với ngôi trường. Kể cả nếu chúng có đi khám phá chỗ này, chúng sẽ vẫn gặp phải cánh cửa bị khóa đó. Nếu chúng đã phá khóa được, chúng sẽ gặp phải bức tường trống. Kết thúc màn thám hiểm. Và đây là nơi để tụ tập vào mùa hè. Giờ đã gần tới mùa đông, cái chỗ không có lò sưởi này đang lạnh giá. Kẻ nổ súng không cần phải lo lắng sẽ chạm mặt với lũ thiếu niên tìm tới đây để chim chuột, để rượu chè khi hắn lên kế hoạch thực hiện vụ thảm sát.
Anh đi vòng quanh và không tìm được gì, cũng chẳng gặp ai.
Anh rút điện thoại ra và gọi đến nhà Watson. George mắt máy. Decker tự hỏi không biết Beth đã bỏ đi mãi mãi hay chưa.
“Alo, ai đấy?” Giọng Watson không còn lè nhè nữa. Có lẽ ngủ xong anh ta đã tỉnh.
“Anh Watson, lại là thám tử Decker đây.”
“Anh muốn gì?” anh ta hỏi, rõ ràng là cảm thấy bực bội.
“Chỉ hỏi nhanh một câu thôi. Sau giờ học Debbie ở trường nhiều lắm phải không, hoặc cũng có thể là vào buổi sáng, trước khi giờ học bắt đầu?”
“Thế quái nào mà anh biết chuyện đó? Thế quái nào mà anh lại biết quá nhiều về gia đình tôi thế hả?”
“Chỉ là phỏng đoán thôi. Nhưng tôi là một thám tử. Đó là công việc mà tôi làm. Và vợ của anh có nhắc tới chị ấy ở nhà nhiều hơn Debbie rất nhiều. Thế nên tôi đoán là cô bé đang làm gì đó sau giờ học. Vậy chính xác là cô bé đang làm gì thế?”
“Nó tham gia vài câu lạc bộ. Bọn nó vẫn tụ tập gặp gỡ nhau. Đôi khi kéo dài đến tối muộn. Con bé sẽ không về nhà cho tới khi trời đã tối hẳn. Mà sao, chuyện này quan trọng lắm à?”
“Có thể là thế. Cám ơn anh.”
Decker tắt máy. Anh biết Debbie Watson sẽ không tham gia các buổi gặp ở câu lạc bộ đâu. Cô bé hẹn hò với “Jesus” của mình ở cái chốn riêng tư của hai đứa.
Tiếp đến anh gọi cho Lancaster và kể cho chị nghe những gì anh tìm được.
Anh bỏ điện thoại xuống, và ngồi xuống một cái thùng phi chứa dầu, và chờ đợi, hai mắt nhắm nghiền. Anh ước đoán sẽ không phải chờ lâu. Anh đã mở sẵn cánh cửa trên bức tường.
Anh nghe thấy tiếng bước chân đang chạy tới. Nếu chỉ là một, có thể anh sẽ mở mắt. Nhưng lần này là cả chục. Thế nên mắt anh vẫn nhắm nghiền. Một kẻ sát nhân sẽ chỉ đến một mình, chứ không phải với cả một đội quân.
Anh mở mắt ra và nhìn thấy đặc vụ Bogart đang đứng ở đó.
“Lại thêm một phỏng đoán có căn cứ nữa sao?” người đàn ông hỏi.
“Lại là một phỏng đoán có căn cứ khác,” Decker đáp.
Phía sau Bogart là một nhóm các đặc vụ FBI và thành viên Phòng cảnh sát Burlington. Lancaster bước lên phía trước.
“Tôi đã gọi cho Mac, anh ấy đang trên đường tới,” chị thông báo, và Decker chậm rãi gật đầu.
“Làm sao anh phát hiện ra những thứ này?” Bogart hỏi Decker.
Decker dành hai phút thuật lại cho anh ta về những suy luận của mình.
“Nếu anh cung cấp vắn tắt cho chúng tôi về cuộc gặp gỡ với Beth Watson, có lẽ chúng tôi đã giúp được anh trong việc này,” Bogart nhận xét. “Có thể chúng ta đã tìm được đến đây nhanh hơn.”
“Cũng có thể,” Decker đồng tình.
Bogart hạ lệnh lục soát toàn bộ địa điểm và khu vực xung quanh, sau đó kéo một chiếc ghế băng bằng gỗ đã cũ và ngồi xuống bên cạnh Decker, còn Lancaster thì đi qua đi lại gần đó.
“Vậy là kẻ nổ súng đã làm thân với Debbie Watson, biết được về đường hầm nối với trường học và dùng nó để bỏ trốn sao?” Bogart nói.
“Hắn dùng nó cả để đi vào và để bỏ trốn. Bằng đường hầm đó, hắn có thể đến và đi lúc nào hắn muốn. Hắn đã quyến rũ cô bé. Hắn là một kẻ trưởng thành. Cô bé là một đứa trẻ vị thành niên đang tuổi nhạy cảm, có cuộc sống ở gia đình không mấy hoàn hảo. Chắc chắn hai người họ đã có nhiều cuộc hẹn hò ở đây mà không ai hay biết. Mãi cho đến khi hắn xả khẩu súng hoa cải đó vào mặt cô bé.”
“Chúng tôi sẽ liên hệ với Quân đội và lấy tất cả những thông tin có thể liên quan đến cái căn cứ này.”
“Được thôi. Cứ cố thử đi nhé, có mà chờ đến Tết Công Gô.”
“Tôi thấy bất ngờ khi không ai biết về đường hầm,” Bogart nói. “Ngoại trừ gia đình Watson.”
“Ồ, nếu nó bắt đầu được xây dựng vào năm 1946 hoặc gần gần quãng đó, hầu hết những người xây nó đều đã không còn nữa. Tôi đoán ít có khả năng họ sẽ kể lại cho con cái mình về nó, thế nên chỉ có lãnh đạo nhà trường có lẽ có biết đến nó. Có thể người ta chưa bao giờ sử dụng đến nó. Có thể nhà trường thậm chí còn chưa từng dùng nó để diễn tập. Tôi không biết nữa. Mà kể cả nếu có dùng qua, thì những học sinh thời đó đến thời điểm này cũng đã tương đối nhiều tuổi rồi. Có thể họ đã quên, không còn nhớ đến nó nữa.”
“Nhưng anh nói Simon Watson đã xây thêm vào đường hầm à?”
“Ông ấy tới làm ở căn cứ McDonald vào cuối những năm 60, và một thời gian sau đó đoạn đường hầm nối từ căn cứ mới được bổ sung thêm. Nhưng khi căn cứ đóng cửa, tất cả mọi người đều rời đi. Rất nhiều người từng là quân nhân ở đây có thể đã được thuyên chuyển đi các nơi khác.”
Lancaster cắt ngang, “Và kể cả có người đã chuyển khỏi đây nhưng biết về đường hầm, tôi nghĩ họ cũng chẳng ngờ đến việc có một kẻ sát nhân sử dụng nó để di chuyển quanh ngôi trường. Họ sẽ cho rằng nó đã được bịt kín sau ngần ấy thời gian. Công chúng có lẽ tin rằng hắn xả súng, rồi bỏ chạy và trốn thoát.”
Bogart gật đầu. “Nhưng hắn có thể tiến vào trường dễ dàng hơn theo hướng này, ý là xuất phát từ phía căn cứ quân sự. Nhưng có vẻ như hắn đã ở trong căn tin và từ đó đi một vòng quanh trường. Tại sao?”
“Tôi không biết,” Decker nói. “Chúng ta đã nghĩ có thể làm thế cho hắn có thời gian để phá bức tường che cánh cửa đằng sau tấm biển trong căn tin. Nhưng giờ do tôi đang tin là hắn có thể ra và vào đây rất nhiều lần, hắn có thể đã làm việc đó vào bất cứ lúc nào. Và có thể hắn sẽ không đợi cho tới tận đêm trước thời điểm tấn công theo kế hoạch, phòng trường hợp có gì đó không như tính toán.” Anh ngừng lại. “Vậy nên, tóm lại, tôi không biết nữa.”
“Tôi cứ nghĩ anh đã có tất cả các câu trả lời.”
“Thế thì anh nghĩ sai rồi,”
Bogart trầm ngâm quan sát anh. “Thực sự là anh không quên bất kì điều gì, phải vậy không?” Decker không nhìn anh ta. Bogart tiến lại gần hơn và nói rất nhỏ, chỉ đủ để mình Decker nghe thấy, “Điều gì khiến anh như thế vậy hả Decker? Trong đầu anh có những gì mà lại cho phép anh làm được những điều này?”
Decker vờ như không nghe thấy lời nhận xét đó.
“Anh luôn luôn tỏ ra như thế khi có ai đó cố gắng bắt chuyện sao?” Bogart nói.
“Kĩ năng xã hội của tôi không có giỏi,” Decker nói. “Tôi đã nói trước với anh rồi.”
“Nhưng anh có thể vừa đi bộ vừa nhai kẹo cao su[1]kia mà. Thế nghĩa là nếu anh có một khả năng đặc biệt nào đó với trí óc, nó không hề ảnh hưởng đến khả năng sinh hoạt trong đời sống của anh.”
Giờ đến lượt Decker nhìn anh ta. “Tại sao anh lại nói như thế?”
Bogart nói, “Anh trai của tôi mắc một chứng bệnh tự kỉ. Xuất sắc trong lĩnh vực của anh ấy. Nhưng hoàn toàn không có khả năng tương tác với những đồng loại khác. Anh ấy không thể duy trì một cuộc giao tiếp nào dài hơn là lẩm bẩm vài ba từ. Vầ thực sự anh ấy được đánh giá là có chức năng cao [2] vì anh ấy có thể đi làm được.”
“Lĩnh vực của anh ấy là gì?”
“Vật lý. Cụ thể là nghiên cứu về các hạt hạ nguyên tử. Anh ấy có thể trình bày cả ngày về các hạt cơ bản như quark, lepton và gauge boson. Nhưng anh ấy quên ăn và hoàn toàn không biết phải làm thế nào để đặt vé máy bay hoặc thanh toán hóa đơn tiền điện.”
Decker gật đầu. “Tôi hiểu.”
“Nhưng anh thì có vẻ làm được mấy việc đó.”
“Tùy theo mức độ cả thôi, đặc vụ Bogart ạ.”
“Anh như thế này từ khi sinh ra sao?”
“Sau này mới bị,” Decker trả lời cụt lủn. “Có thể đó là lí do tôi có thể vừa đi vừa nhai kẹo cao su,” anh nói thêm bằng một giọng cáu kỉnh trước khi quag mặt đi.
Bogart gật đầu. “Anh không muốn nói về chuyện này, phải không?”
“Anh thôi được chưa?”
Bogart xoa hai tay lên đùi. “Chúng ta cần phải tóm được tên này. Và còn một điều mà thực tình chúng ta chưa đề cập đến.”
Decker nhìn anh ta. “Việc của hắn với tôi.”
Bogart gật đầu. “Hắn đã gửi cho anh hai lời nhắn. Một được mã hóa, một thì không. Đó là một hành động liều lĩnh đối với hắn. Hắn phải quay lại căn nhà nơi hắn gây ra vụ thảm sát đối với gia đình anh để viết một trong hai lời nhắn. Có thể có người nào đó nhìn thấy hắn. Và hắn đã đến nhà Debbie. Một lần nữa, lại có rủi ro bị người khác trông thấy. Và giờ, theo đúng định nghĩa, kẻ nào dám giết người là một kẻ dám mạo hiểm. Nhưng giống như anh đã nói, vấn đề là mức độ tới đâu. Một kẻ sát nhân kiểu thế này có lẽ không muốn bị bắt. Thế nên hắn sẽ giảm thiểu tối đa rủi ro. Nhưng điều đó không thể lấn át nổi khát khao được trò chuyện với anh của hắn. Điều này rất quan trọng. Bởi nó khiến tôi tin rằng hắn cảm thấy, bằng một cách nào đó, hắn có một mối liên kết với anh, rất mạnh, rất sâu sắc.”
Decker nhìn chăm chăm vào người đàn ông kia. “Anh từng theo học tại học viện FBI ở Quantico à? BAU à?”
“Đơn vị phân tích hành vi (Behavioral Analysis Unit), đúng thế. Tôi là người lập hồ sơ theo cách gọi trên phim và các chương trình tivi. Và tôi khá giỏi trong việc đó.”
“Trong đội ngũ FBI làm gì có người lập hồ sơ?”
“Anh nói đúng. Về cơ bản, chúng tôi được nhắc đến là các chuyên gia phân tích. Và đôi khi chúng tôi đúng, và cũng có lúc chúng tôi sai. Một số người nói rằng việc lập hồ sơ tâm lí thiếu tính xác thực về mặt kiểm chứng thực tế, và có thể họ nói đúng. Nhưng tôi thực sự không quan tâm cho lắm. Tất cả những gì tôi quan tâm là bắt được kẻ xấu trước khi chúng kịp làm hại thêm một ai khác, và tôi sẽ sử dụng bất cứ công cụ nào mà tôi có thể sử dụng để làm việc đó.” Anh ta nhìn Decker sát hơn, chăm chú hơn. “Và tôi đang coi anh là một trong số những công cụ đó.”
“Thế chính xác nghĩa là sao?”
“Nghĩa là tôi muốn anh làm việc chặt chẽ hơn với chúng tôi. Cùng làm với nhau, có thể chúng ta sẽ tiến triển được nhanh hơn.”
Decker liếc nhìn ra phía Lancaster, rõ ràng chị đã nghe thấy câu trao đổi cuối cùng này.
Decker đứng dậy. “Tôi đã có một cộng sự rồi. Nhưng khám phá được gì, chúng tôi sẽ báo cho anh biết.”
Anh bước đi. Lancaster chờ một lát, thoáng nở một nụ cười gượng gạo với Bogart, và vội vã chạy theo Decker. Đặc vụ Bogart vẫn ngồi nguyên, chăm chăm nhìn theo cả hai người họ.
 Chú thích:
1 Ám chỉ đến khả năng làm việc đa nhiệm. Thường những người có vấn đề với chức năng não sẽ gặp khó khăn trong việc làm hai hành động đơn giản cùng một lúc.
[2] Thuật ngữ được sử dụng trong trường hợp rối loạn tâm thần. Người có rối loạn có thể che giấu các triệu chứng của mình hoặc tham gia vào xã hội được coi là có chức năng cao.
 
 
 
 
CHƯƠNG 30
 
Decker mở mắt. Anh đang nằm trên giường, nhưng không ngủ nổi. Bên ngoài căn phòng của anh ở Residence Inn, trời đang mưa. Thời điểm này trong năm - khi thu đã gần qua đi, chuẩn bị nhường chỗ hẳn cho mùa đông - trời lúc nào cũng mưa tầm tã, thông thường sẽ có thêm cả gió lớn, tạt nước mưa buốt vào đến tận xương tủy.
Giày cỡ 39. Họ đã xác nhận kích cỡ chính xác. Trên người một gã cao gần một mét chín và nặng chín mươi cân, vai rộng tương đương với anh. Anh nhắm mắt lại và tâm trí anh quay về với hình ảnh trên máy quay. Nhưng hình ảnh chỉ cho thấy từ phần eo đổ lên. Giờ thì Decker có thể dám chắc đó là cố tình. Từ eo đổ lên. Hắn cũng bước ra trước máy quay theo một cách có chủ đích để che giấu cách mà hắn thực sự thâm nhập vào trong ngôi trường. Không phải từ cửa sau, mà là từ căn tin, thông qua một đường ngầm dưới lòng đất.
Ấy thế nhưng Decker đã nhìn thấy có một thứ gì đó thiếu hợp lí; chỉ là anh chưa thể dám chắc đó là gì hay nằm ở đâu. Anh chưa bao giờ quên bất cứ một thứ gì, nhưng điều đó không có nghĩa là mọi thứ luôn luôn được đặt trong ngữ cảnh thích hợp, được tự động đối chiếu với những dữ kiện sẵn có mang tính bổ sung hoặc mâu thuẫn với bản thân nó.
Anh vừa mới định bắt đầu điều nói trên đó thì nghe thấy tiếng động bên ngoài cửa.
Các phòng ở Residence Inn được thiết kế để mỗi phòng mở ra là sẽ đi thẳng ra bên ngoài. Decker đang ở trên tầng hai. Bên ngoài của tầng này có một hành lang cùng với lan can bằng song sắt, cùng cầu thang ở hai đầu dẫn xuống bãi đậu xe.
Tiếng động lại vang lên. Có vẻ như tiếng cào lên tường bên ngoài cửa phòng của anh. Hai phòng liền kề của anh không có người ở. Tầng một của nhà trọ thì gần như kín khách. Anh ngồi dậy trên giường và nhìn vào cánh cửa. Anh với tay và nắm lấy khẩu súng mà anh để trên kệ đầu giường.
Anh lên đạn, kéo bệ trượt thật chậm rãi để tiếng kéo xuống rồi đẩy lên mà nó tạo ra là nhỏ nhất. Anh tung chăn, mặc quần, nhét điện thoại vào trong túi và nhón chân trần áp sát cửa.
Anh đứng phía bên phải cửa, cả hai tay ôm chặt lấy khẩu súng được hướng xuống dưới. Anh lắng nghe. Lại vang lên. Tiếng cào cửa.
Có cái gì đó ở ngoài kia. Cũng có thể là ai đó đang ở ngoài kia.
Anh biết mình nên làm gì bởi vì hồi còn làm cảnh sát, anh đã từng nhiều lần tham gia các cuộc bắt giữ và khám xét. Chỉ khác là bây giờ anh đang làm theo hướng ngược lại. Đi ra chứ không phải đi vào. Anh kéo mở dây xích chốt an toàn trên cửa, đứng sang bên, siết chặt tay nắm cửa, nhẩm đếm đến ba trong đầu, rồi kéo tung cửa. Anh phóng ra khỏi ô cửa đã mở, vung khẩu súng sang trái trước rồi sang phải.
Anh khựng lại và ngước mắt, nhìn chằm chằm vào cô. Cô bị treo lên cái giá đỡ bóng đèn ở bên ngoài. Chân của cô va vào cạnh tường, tạo ra tiếng cào cửa mà anh nghe thấy.
Anh kiểm tra mạch đập trên cổ của cô, nhưng chỉ làm cho đúng quy trình. Cô đã chết, hai mắt mở to, tròng mắt đục ngầu và bất động theo cái cách mà một sinh vật còn sống không bao giờ có được.
Đặc vụ FBI Lafferty đã không còn có thể ghi thêm một dòng bút kí nào nữa rồi.
Anh nhìn toàn thân của cô nhưng không nhận ra dấu hiệu rõ ràng nào cho thấy nguyên nhân tử vong.
Sau đó anh quay người và chạy dọc hành lang, chạy tới chỗ cầu thang, và vội vã lao xuống. Chắc chắn cô ấy chưa ở đó lâu. Bất luận là hung thủ là ai, có khả năng hắn vẫn còn ở quanh đây. Anh rút điện thoại ra và gọi 911. Anh nói với nhân viên trực tổng đài tất cả những gì cô ta cần biết bằng ba câu súc tích. Sau đó anh gọi cho Lancaster. Chị bắt máy sau bốn hồi chuông. Lúc đó là ba giờ sáng. Chắc chắn là chị đang ngủ. Sau câu đầu tiên mà anh nói, chị tỉnh hẳn. Sau câh thứ hai, anh nghe được tiếng chị đang vội vã mặc quần áo. Anh tắt máy và vội chạy quanh bãi đậu xe phía trước Residence Inn. Anh đang nhìn và lắng nghe. Nghe tiếng bất kì phương tiện nào nổ máy. Bất kì bước chân nào định bỏ chạy.
Anh không nghe thấy gì hết, chỉ nghe thấy tiếng hơi thở hổn hển của mình. Anh dừng lại và cúi gập người, cố gắng để lắp đầy không khí vào hai lá phổi. Anh cảm nhận được người mình đang run, bụng anh đang quặn lại. Khi anh ngẩng đầu lên, anh nhìn thấy chúng. Một đội quân những con số ba đông đúc đang lao vào anh, dao vung lên cao, sẵn sàng hạ sát. Anh biết chúng không phải là thật, nhưng đêm nay nỗi khiếp sợ đã thắng được anh, như lần đầu tiên anh nhìn thấy chúng.
Anh cúi gập người sâu hơn và nôn lên mặt đường, bắn lên đôi chân trần giờ đã tê cóng của mình.
Khi đứng thẳng trở lại, anh nghe thấy tiếng còi tầm từ chiếc xe đầu tiên, và cái đội quân những con số ba dường như tan biến đi theo âm thanh của tiếng còi. Một phút sau, có thêm một tiếng còi khác cùng hòa vang với những tiếng thứ nhất. Anh đi những bước chân không vững quay trở lại cầu thang và đi lên phòng. Anh tựa vào lan can, mặt đối mặt với thi thể của Lafferty. Anh muốn vuốt mắt cho cô, nhấc cô ra khỏi cái giá treo và nhẹ nhàng đặt cô xuống sàn bê tông, gập hai tay ngay ngắn để trên bụng. Bình yên. Như thể anh có thể khiến những cái chết tàn khốc trở nên bình yên hơn. Nhưng chắc chắn anh đã chẳng thể làm điều đó cho những người thân của mình.
Thế nhưng anh không thể làm bất kì một việc nào trong số những điều kể trên mà lại không gây rối hiện trường vụ án. Thế nên anh chỉ đứng đó. Khi những chiếc xe tuần tra đậu khựng lại trong bãi đậu, anh lẻn vào trong phòng và đặt khẩu súng trở lại vào kệ đầu giường. Khi anh quay trở ra, các cảnh sát đã ào lên cầu thang và dừng lại đó cách vài mét.
Decker giơ thẻ đeo cổ của mình. Cả hai cảnh sát tuần tra này anh đều không quen, và anh không muốn họ hiểu sai sự tình.
“Amos Decker. Tôi là người báo tin. Thanh tra Lancaster đang trên đường tới.”
Hai cảnh sát đã rút súng và đang quan sát anh chăm chăm. Một người tiến lại gần anh và kiểm tra tấm thẻ.
Anh ta nói với đồng đội, “Tôi đã nhìn thấy anh ấy ở trường học cùng các thanh tra khác ngày hôm qua. Không vấn đề gì đâu.”
Các cảnh sát cất súng vào bao và chăm chú ngước nhìn Lafferty đã chết.
“Cô ấy là đặc vụ FBI Lafferty,” Decker nói. “Có lẽ các anh cũng đã nhìn thấy cô ấy ở trường học.”
Cả hai cảnh sát lắc đầu, nhưng người đầu tiên nói, “Chết tiệt, người của Cục sao? Cô ấy chết thế nào vậy?”
“Tôi không biết. Không nhận ra được dấu hiệu nào rõ ràng bằng mắt thường.”
“Ừ.”
Decker lùi xa khỏi thi thể. “Không phải chỉ trỏ gì đâu, nhưng tôi đã làm cảnh sát suốt hai mươi năm. Các anh nên tiếp tục công việc, bảo vệ hiện trường và thông báo cho đội pháp chứng và gọi bác sĩ pháp y tới đi. Tôi dám chắc Thanh tra Lancaster sẽ thông báo cho những người cần thiết, nhưng vì đó là người của Cục như anh nói, các anh cần tuân thủ quy trình thật nghiêm ngặt đối với vụ này.”
Người cảnh sát đầu tiên nói, “Anh khuyên rất phải, tôi sẽ gọi báo ngay đây.”
Người còn lại nói, “Tôi sẽ căng băng dính khoanh vùng ngay.”
Decker chỉ tay vào cánh cửa phòng đang mở. “Đây là phòng của tôi. Tôi nghe thấy có tiếng động và đi ra để kiểm tra. Khi đó, tôi nhìn thấy cô ấy. Tôi chạy xuống bãi đậu xe. Nhưng tôi không thấy ai cả. Cũng không nghe thấy có tiếng xe cộ. Hoặc có ai đó bỏ chạy. Và bãi nôn dưới bãi đậu xe là của tôi. Tôi không còn quen với việc phải chạy nhanh và xa như thế nữa.”
“Được rồi, anh Decker. Tôi muốn anh hãy đi vào trong phòng. Tôi dám chắc Thanh tra Lancaster sẽ đến gặp anh khi chị ấy đến nơi.” Anh ta ngước nhìn thi thể và đột nhiên trông vẻ mặt có gì đó không chắc chắn. “Chắc chắn là chị ấy đã tử vong rồi à?”
“Không còn mạch đập nữa. Tôi đã kiểm tra. Và người cô ấy đã lạnh rồi. Đã qua đời được một thời gian.”
Decker đi vào phòng, đóng cửa lại, đi vào phòng tắm, rửa mặt và chân, đi giày, ngồi trên giường và chờ đợi.
Anh biết Lancaster sống ở đâu. Anh tính toán sẽ mất tối đa là ba mươi phút. Mười phút sau anh nghe thấy tiếng các hoạt động bắt đầu diễn ra bên ngoài cánh cửa.
Mười tám phút sau đó, có tiếng gõ cửa. Anh mở cửa, và chị ấy đã đến.
Anh nhìn ngang qua chị. Thi thể đã được hạ xuống sàn, nằm trên một tấm vải, mục đích là để thu thập tất cả dấu vết bằng chứng bất kì. Một đội kĩ thuật đang tỏa đi toàn bộ khu vực nhỏ bé đó, chụp ảnh, đo đạc và tìm kiếm bằng chứng ở tất cả những nơi dễ có liên quan.
Bác sĩ pháp y, một người đàn ông nhỏ bé, có râu, chừng sáu mươi, đang quỳ gối bên cạnh Lafferty. Sau khi làm xong bài đánh giá thời gian tử vong, ông ngẩng đầu nhìn Lancaster.
“Cô ấy đã tử vong trong khoảng ba giờ đồng hồ.”
Decker nói, “Nghĩa là cô ấy mất mạng vào khoảng quá mười hai rưỡi.”
“Nguyên nhân tử vong là gì?” Lancaster hỏi.
Bac sĩ pháp y nhấc áo sơmi của thi thể lên. Bên dưới là một vết thương duy nhất do dao đâm.
“Cao và sâu,” ông nói. “Thẳng vào tim. Gần như thiệt mạng ngay tức thì. Rõ ràng là cô ấy đã bị chảy máu ở một nơi nào đó khác. Nhưng không chảy máu ngoài nhiều đâu. Con dao đâm thủng tim. Tim sẽ dừng bơm máu ngay.”
Có điều gì đó chợt lóe lên trong đầu Decker. Anh nói, “Anh kiểm tra cơ quan sinh dục của cô ấy chưa? Có gì không?” Lancaster trợn mắt liếc nhìn anh, rồi nhìn sang bác sĩ pháp y.
Vẻ mặt của bác sĩ pháp y đã cho Decker câu trả lời. Ông cho họ xem vị trí đó. “Kẻ giết người đã sử dụng một con dao rất nham nhở để cắt xẻo.”
Lancaster nhìn Decker. “Giống như lúc trước. Với...”
Decker nói, “Giống như lúc trước.”
Ba chiếc SUV màu đen đi vào bãi đậu.
“Người của Cục đến rồi,” Lancaster nói với giọng lo lắng. “Tôi đã gọi cho họ trên đường đến đây.”
Bogart dẫn đầu, hai bước một mà chạy lên. Tóc anh ta rối bời, và anh ta đàn mặc quần jean cùng một cái áo thun và đi một đôi giày không đi tất. Những người theo sau cũng ăn mặc theo cách tương tự, nhưng mặc thêm áo khoác FBI màu xanh nước biển.
Bogart đi thẳng tới chỗ thi thể và cúi xuống nhìn. Rồi anh ta dụi mặt, rồi đến cằm, và quay mặt đi, nhìn qua lan can, hướng vào bóng tối ở đằng xa.
Decker nghe thấy tiếng anh ta lẩm nhẩm, “Chết tiệt.”
Rồi vị đặc vụ FBI quay sang phía họ. “Chúng ta đã biết những gì rồi.”
Lancaster thuật lại cho anh ta thời gian và nguyên nhân tử vong. Và kể cả về vết cắt xẻo mà bác sĩ pháp y đã tìm thấy.
“Anh có nhìn hoặc nghe thấy gì không?” Bogart hỏi, mặt tái mét lúc nhìn sang Decker.
Decker kể cho anh ta nghe những gì mà anh biết. Anh nói thêm, “Tôi đang nửa tỉnh nửa mê. Tiếng cào đó có lẽ đã có trước đó một lúc rồi tôi mới nghe thấy.”
Lancaster nói, “Anh có biết lịch trình di chuyển của cô ấy tối nay không?”
Bogart có vẻ như không nghe chị nói.
Decker nói thêm, “Nếu xác định được lịch trình di chuyển, có lẽ chúng ta sẽ có manh mối là kẻ nào đã gây ra việc này.”
“Tôi biết mà!” Bogart gắt.
Lancaster nói, “Chúng tôi biết việc này là vô cùng khó khăn, đặc vụ Bogart.”
Decker cắt ngang lời chị. “Nhưng anh hiểu hơn ai hết, càng sớm có manh mối thì cơ hội của chúng ta càng nhiều. Và ngược lại.”
Bogart liếc nhìn Lafferty một lần nữa và ra dấu cho họ đi xuống cầu thang.
Họ bước vào một trong số những chiếc SUV màu đen, Bogart ngồi ghế trước, Lancaster và Decker ngồi phía sạ. Bogart uống hết một chai nước nhỏ đặt ở hộc đồ phía trước, dùng tay chùi miệng và quay người lại nhìn họ.
“Lafferty là một đặc vụ giỏi. Thực ra đó là một người mà tôi dẫn dắt. Không phải chỉ có ghi chép thôi đâu,” anh ta nói thêm, cùng một cái liếc nhìn gay gắt dành cho Decker. Decker không đáp lại câu gì.
Bogart ngả ra sau, thở ra một hơi dài, và nói, “Tôi chưa từng mất đi một đặc vụ nào. Thật khó để chấp nhận.”
“Chắc chắn là thế rồi,” Lancaster nói.
“Nhưng cô ấy ở đâu?” Decker nói. “Tất cả các anh đều ở cùng một chỗ à?”
“Phải. Khách sạn Century.”
“Tất cả ở cùng một tầng chứ?”
“Không, chúng tôi ở rải rác ba tầng khác nhau. Nhưng Lafferty ở cạnh phòng một đặc vụ khác.”
“Lần cuối cùng có ai đó nhìn thấy cô ấy là khi nào?” Lancaster hỏi.
“Tôi đã hỏi tất cả mọi người khi trên đường tới đây. Có vẻ như là vào chín giờ ba mươi. Cô ấy đang làm việc trong phòng của đặc vụ Darrow, xem xét lại một số hồ sơ. Cô ấy chào tạm biệt và quay trở về phòng của mình.”
“Nhưng chúng ta có biết thực sự cô ấy có về phòng hay không?” Decker hỏi.
“Thực ra cô ấy có nói với Darrow là cô ấy đi ra ngoài mua một vài thứ cần thiết.”
“Cô ấy có nói là mua gì và đi đâu không?”
“Từ những gì cô ấy nói, Darrow nghĩ đó có thể là vài thứ mua được ở hiệu thuốc. Tôi không nghĩ đây là lần đầu tiên cô ấy phải đi mua như thế. Chúng tôi bị triệu tập tương đối nhanh. Các đặc vụ không có nhiều thời gian để chuẩn bị.”
“Vậy là cô ấy đã từng đi mua thêm đồ à?” Lancaster nói. “Có thể là mua ở cùng một chỗ chăng?”
“Đúng thế. Có thể chỉ là mấy đồ nhu yếu phẩm khi đi công tác thôi,” Bogart nói, mắt nhìn ra ngoài cửa sổ, tâm trí của anh ta rõ rang là đang nghĩ sang chỗ khác.
Decker ngả người ra sau, nhắm mắt và suy nghĩ trong giây lát. “Có một hiệu thuốc mở xuyên đêm cách khách sạn Century hay khu nhà. Nếu tôi là người cần mua đồ dùng cần thiết khi đi công tác hì tôi sẽ đến đó. Và ở đó có camera ghi hình ở bãi đậu xe.”
“Ồ, vậy hãy tới đó xem nó có gì không?” Bogart nói.
Chuyến đi chỉ mất khoảng hai mươi phút vào thời điểm đó vào buổi sáng và Bogart đã phóng vượt tất cả các loại biển giới hạn tốc độ. Lúc đó chưa đến bốn giờ sáng và do đó cà thị trấn Burlington vẫn còn rất ngái ngủ. Xe cộ thưa thớt, nười đi bộ thì hoàn toàn không có.
Có hai người trong tiệm thuốc mở xuyên đêm đó. Một người ngồi phía sau tấm kính chống đạn cùng máy tính tiền, người còn lại đang xếp lăn khử mùi lên giá. Cả hai người đang trong ca làm việc bắt đầu từ lúc tám giờ tối. Bogart cho họ xem ảnh chụp của Lafferty và hỏi liệu có ai trong hai người họ từng gặp cô ấy.
“Tối nay thì tôi không có gặp. Nhưng tối hôm trước thì cô ấy có tới mua hàng.”
Decker nói, “Như vậy có nghĩa là có thể cô ấy đã không tới đây.”
Họ yêu cầu và được cung cấp dĩa ghi hình từ các máy quay giám sát ở bãi đậu xe.”
Có lẽ cô ấy đã đi bộ tới đây,” Decker nói. “Quá gần để phải lái xe.”
“Và số phương tiện của chúng tôi không thiếu chiếc nào,” Bogart nói.
Họ cho dĩa DVD vào máy tính xách tay mà Bogart có sẵn trên chiếc SUV. Dĩa phim có đánh dấu mốc thời gian, thế nên Bogart tua đến đoạn trươc 9:30. Các khung hình cứ chạy khi cả ba người họ túm tụm với nhau quanh màn hình, chăm chú xem. Khi đến 9:58, Decker đã nhìn thấy.
“Cô ấy kìa.”
Lafferty từ trong một con gõ bên cạnh tiệm thuốc đi ra. Cô ấy đã đi được hai bước trước khi đột ngột bị kéo ngược trở vào trong con ngõ.
“Tua lại đi, và cho nó chạy chậm lại,” Decker nói.
Bogart làm theo, cho cảnh phim chạy đi chạy lại gấp năm lần và phóng to khung hình nhiều nhất có thể trên cái màn hình nhỏ xíu.
Decker chăm chú quan sát màn hình, anh ghi nhớ và lưu trữ vào đầu từng điểm ảnh. “Không thể nhìn ra là ai.”
“Chúng ta có thể thử phóng to khung hình,” Bogart nói. “Người của tôi giỏi mấy khoản này lắm.”
“Hắn biết ở đó có camera,” Decker nói. “Giống như ở trường học ấy. Hắn không muốn bị nhìn thấy. Chí ít là không muốn một số bộ phận nhất định bị nhìn thấy.”
“Làm sao hắn có thể chế ngự cô ấy nhanh thế nhỉ?” Bogart nói. “Lafferty không phải người yếu đuối.”
Decker nói, “Có một bàn tay đeo găng quanh cổ cô ấy. Có thể trong găng tay có thứ gì đó. Người cô ấy có vẻ bị cứng đi khá nhanh. Tôi nghĩ hắn đã tiêm thuốc để cô ấy bị tê liệt.”
“Xét nghiệm máu trên thi thể cô ấy sẽ xác minh được điều này,” Lancaster nói.
“Vậy là cô ấy được ghi hình vào lúc chín giờ năm mươi tám phút.” Decker nói.
“Nhưng thời gian tử vong của cô ấy là vào khoảng nửa đêm,” Lancaster nhắc.
“Nghĩa là chúng đã giữ cô ấy hai tiếng trước khi sát hại cô ấy,” Decker nói nốt.
Bogart trông căng thẳng. “Anh nói cô ấy bị cắt xẻo. Anh có nghĩ chúng đã làm gì khác với cô ấy không?”
Decker lắc đầu. “Vợ tôi không bị hãm hiếp. Nhưng cô ấy cũng bị cắt xẻo. Ở cùng... chỗ đó,” anh nói thêm.
“Vậy thế là sao?” Bogart hỏi. “Tại sao lại làm vậy? Thật vô lý.”
“Khi tôi hỏi Leopold hắn có làm gì khác với vợ tôi không, hắn không trả lời. Việc cắt xẻo này chưa từng được công bố. Hắn chỉ có thể biết về việc này nếu hắn có mặt ở đó, mà chúng ta đều biết là hắn không hề có mặt ở đó. Nhưng có thể có ai đó từng có mặt ở đó đã kể cho hắn nghe về chuyện này. Nhưng vì hắn không trả lời, tôi không biết là liệu hắn không biết thật hay chỉ là không muốn kể với tôi. Dù là thế nào, hắn vẫn là một kẻ tình nghi.”
Bogart xoa mặt. “Còn gì nữa không?”
“Chúng đã bắt giữ cô ấy hai giờ đồng hồ. Có thể có lúc nào trong khoảng thời gian đó cô ấy tỉnh lại trước khi chúng sát hại cô ấy.”
“Chúng có thể làm gì với cô ấy?” Lancaster hỏi.
“Cố tìm hiểu việc điều tra đang diễn ra theo hướng nào chẳng hạn,” Bogart nói.
Decker gật đầu với ý kiến này. “Chúng sẽ muốn biết chúng ta biết những gì. Liệu chúng ta đã tìm hiểu được những điểm nào đó hay chưa.”
“Ồ, Lafferty sẽ không kể gì cho chúng biết đâu,” Bogart nói rành mạch.
“Khi bị tra hỏi, chẳng ai có thể cam đoan không bị cạy miệng hết, tất cả phụ thuộc vào thủ đoạn mà chúng sử dụng,” Decker nói. “Có thể cô ấy đã nói ra, cho dù không hề muốn. Dù thế nào, để an toàn, chúng ta nên coi như lúc này chúng đã biết những gì chúng ta biết. Chủ yếu nhất là việc chúng ta đã tìm ra về đường hầm dưới lòng đất.”
Bogart nhìn vào màn hình đứng im, vào đôi tay quanh cổ người đồng nghiệp của mình. “Nhưng làm sao cô ấy lại không biết có kẻ đang bám theo cô ấy nhỉ?” anh ta nói. “Chắc hẳn hắn đã phải ở ngay phía sau cô ấy.”
Lancaster nói, “Có thể hắn đã trốn trong con ngõ.”
Bogart lắc đầu. “Sao nào, chờ cô ấy đi ngang sao? Mà làm sao hắn biết cô ấy sẽ đi tới hiệu thuốc chứ?”
“Có thể hắn đã chờ và theo dõi, rồi bám theo cô ấy khi cô ấy bước ra. Trước đó cô ấy đã từng tới hiệu thuốc ít nhất một lần. Có thể bằng cách nào đó bọn chúng biết điều này, và thấy có cơ hội nếu cô ấy lại tới đó lần nữa. Và có thể cô ấy biết hắn đang ở đó, nhưng vì lí do nào đó lại không cảm nhận được mối đe dọa,” Decker nói thêm.
“Không cảm nhận được mối đe dọa sao?” Bogart cảm thán. “Trong một con ngõ tối ư? Khi mà có một tên sát nhân vẫn đang nhởn nhơ sao? Làm sao mà cô ấy lại không đề phòng đến như thế được chứ?”
“Có thể cô ấy không cảm thấy bị đe dọa nếu đó là một kẻ mà cô ấy không cảm thấy có lí do để nghi ngại,” Decker diễn giải thật chi tiết.
Mặt Bogart đỏ gay gắt và anh ta trông như đang xù lông nhím. “Anh đang buộc tội tôi hoặc một trong số những người của tôi là thủ phạm sát hại cô ấy đấy ư?” anh ta cáu giận nói. “Bởi vì cô ấy đâu có quen ai khác ở cái hố phân chết tiệt này!”
“Thật ra ý tôi không phải như thế,” Decker bình tĩnh đáp.
Bogart chỉ tay vào mặt Decker. “Cô ấy bị bỏ lại ngay trước bậc cửa nhà anh. Có thể là anh đã giết cô ấy, thằng chó chết ạ!”
Gương mặt Decker vẫn bình thản và từng lời anh nói ra thong thả, chậm rãi. “Và bỏ cô ấy lại trước cửa để tự đổ tội cho mình hay sao? Và rồi gọi điện báo cảnh sát trong khi vẫn ngồi nguyên tại đó sao? Nếu tôi thực sự đã làm việc ngu xuẩn đến mức đó, có khi tôi cứ nhận bị điên cho được thoát tội.”
Bogart trông như muốn đấm Decker, nhưng rồi anh ta kiềm chế được cảm xúc của mình và quay đi.
Lancaster nói, “Amos, có phải ý của anh là một kẻ nào đó mặc cảnh phục? Một cảnh sát tuần tra chẳng hạn? Cô ấy sẽ không nghi ngờ một kẻ như thế?”
“Phải,” Decker nói. “Đó chính xác là ý của tôi.”
Bogart liếc nhìn anh với vẻ nghiêm khắc và gật đầu. “Phải rồi. Xin lỗi vì đã phản ứng mạnh như thế.” Anh ta dừng lại và rồi tuyên bố, “Được rồi, chúng ta sẽ xới tung cái con ngõ chết tiệt đó.” Anh ta cầm điện thoại và huy động đội của mình. Rồi anh ta quay sang Decker. “Chúng ta cần làm việc này cùng nhau. Chúng ta cần ngăn chặn gã này lại.”
Decker lắc đầu. “Không phải một gã. Mà là nhiều gã.”
“Điều gì khiến anh nói vậy?” Lancaster sửng sốt hỏi, còn Bogart thì nhìn anh chằm chằm. “Có vẻ như kẻ nổ súng chỉ có một. Anh đã nói như thế.”
“Và tôi đã nhầm,” Decker kiên định nói.
“Nhưng cụ thể điều gì đã khiến anh nghĩ rằng có hơn một kẻ có liên quan?” Bogart hỏi.
“Bởi vì không ai có thể ở hai nơi trong cùng một thời điểm.”
 
CHƯƠNG 31
 
Bình minh tới.
Mây đã tan biến cùng với cơn mưa. Bình minh tới thật rồi, những vết màu trên trời thoạt đầu biến đổi một cách huyền ảo, sau đó mang lại cho trời cao một diện mạo mới, một vẻ đẹp ngỡ ngàng mà không một hiện tượng nào có thể tạo nên được. Duy chỉ có một quả bom hạt nhân và đám mây hình đầu nấm cao vời vợi có khả năng tương ứng.
Tuy nhiên cả hai thứ đó vẫn có khả năng biến đổi vạn vật theo cách riêng của mình. Một thứ chiếu sáng thế giới, còn thứ kia bao trùm thế giới trong bóng tối. Một cú nổ của quả bom cũng ra trò lắm chứ. Sự dịch chuyển của mặt trời hóa ra cũng chỉ là một phép ẩn dụ để nói bóng tối đang chìm xuống hoặc ánh sáng đang lên.
Decker đứng bần thần bên lề đường, ngắm nhìn toàn bộ khung cảnh này diễn ra. Mặc dù ánh sáng đang dần lấp ló nhưng sao tâm trạng của anh vẫn còn kẹt trong bóng tối sâu thẳm. Anh vẫn chưa chợp mắt được giây nào sau khi bỏ lại Bogart và Lancaster. Ngủ để làm gì chứ.
Cửa hàng tiện ích 7-Eleven nằm chềnh ềnh gần với mặt đường nhựa từ phía anh nhìn sang. Nó đang mở cửa. Lúc nào nó chẳng mở cửa. Qua lớp cửa kính, anh có thể nhìn thấy vẫn là nười phụ nữ ấy đang đếm từng bao thuốc lá. Chỉ có người lau sàn nhà là khác với mọi khi. Chắc là “Billy” đã chuyển cái xô hành nghề sang một thành phố khác. Hoặc có thể anh ta đang dưỡng sức sau một đêm tưng bừng với các cô gái.
Anh không biết sao mình lại đến đây sau khi bỏ lại Lancaster và Bogart. Nơi này cứ thu hút anh quay lại như miếng kim loại bị hút về phía nam châm.
Anh bước qua cánh cửa, tiếng chuông nhỏ kêu lên leng keng nhưng nghe như tiếng mũi khoan đang xoắn ầm ầm qua hộp sọ của anh.
“Anh ổn chứ?”
Decker định thần và trông thấy người phụ nữ đang nhìn anh chăm chú. Nét mặt cô ta thoáng chút hoảng sợ, khi anh nhìn hình ảnh phản chiếu của mình trên cánh cửa gương của tủ làm mát soda, anh hiểu ngay lí do. Khuôn mặt man rợ và loạn trí, quần áo thì bẩn thỉu, còn đầu tóc thì nhếch nhác.
“Anh... anh hôm trước cũng đến,” cô ta nói. “Vẫn đang tìm người sao?”
Decker gật đầu và ngó ngàng xung quanh. “Billy đâu? Cái người lau sàn ấy?”
“Hôm nay anh ta làm ca chiều. Anh đã tìm thấy người anh đang tìm chưa?”
Decker lắc đầu. “Nhưng tôi sẽ tiếp tục tìm.”
“Nhìn bộ dạng anh lúc này có vẻ nên uống chút cà phê. Cà phê mới. Tôi vừa pha xong. Ở ngay sau thôi. Chỉ một đô một ly to. Hời lắm đấy. Có thể thêm chút đồ ăn nữa?”
Tiếng chuông cửa lại kêu leng keng, hai người đàn ông xỏ quần yếm, chân đi ủng, người mặc áo sơ mi nỉ mỏng, nặng nề bước vào. Một người bước về quầy thu ngân để mua thuốc lá. Người còn lại đi về phía vòi bơm soda và trút đầy một ly Coca lớn.
Trong khi người phụ nữ tiếp đón khách hàng mới, Decker luồn mình về phía sau cửa hàng, lấy một ly cà phê, chộp lấy một gói bánh ở trên kệ, và quay về quầy thu ngân. Anh đứng đợi phía sau người đàn ông đang hỏi mua thuốc lá, cũng đang muốn mua thêm vài tấm vé số có một dãy số nhất định. Decker đang chờ thì hai mắt bỗng chốc nhìn sạp báo bên cạnh quầy thu ngân. Tờ báo nằm phẳng phiu trên đó, nửa mặt trang đầu nằm lộ ra đầy đủ. Anh suýt nữa làm rơi ly cà phê và gói bánh. Anh đặt chúng xuống, giật lấy tờ báo và bắt đầu đọc.
Anh bắt đầu vô thức bước ra ngoài cửa hàng khi đọc tờ báo.
Người phụ nữ gọi với theo anh, “Này, anh phải trả tiền chỗ này chứ.” Cô ta chỉ vào ly cà phê và gói bánh. “Và tờ báo nữa.”
Decker thọc tay vào trong túi áo, lôi ra một tờ năm đô và đặt lên quầy thu ngân, rồi bước vội ra ngoài, để lại ly cà phê và gói bánh. Người phụ nữ và hai người đàn ông nhìn chằm chằm theo bóng dáng anh.
Anh loạng choạng bước qua đường rồi sẩy chân ngã ngồi xuống làm méo thùng rác nằm dưới cột đèn giao thông đang nhấp nháy.
Đó là câu chuyện dài, chi tiết, có kèm theo hình ảnh.
Hình của mình. Câu chuyện của mình. Không, không phải câu chuyện của mình. Phiên bản về chuyện của mình do một người khác kể lại, viết thiếu sự thật hơn cả lời đồn đại. Và toàn điều dối trá.
Anh liếc nhìn dòng chữ ghi tên tác giả mặc dù việc này không thực sự cần thiết. Anh vốn đã biết chủ nhân của bài báo này là ai.
Alexandra Jamison.
Anh bắt một chiếc xe bus quay về Residence Inn, xồng xộc lao về phòng, ngồi lên giường và đọc lại bài báo tới ba lần. Tất nhiên, câu chuyện vẫn không thay đổi. Thế nhưng cứ mỗi lần đọc lại, các chi tiết trong bài báo lại tác động mạnh hơn một chút vào đầu anh, như một con dao cứ đâm đi đâm lại vào da thịt.
Anh ngả vật người lên giường, cuối cùng cũng chợp mắt được một lúc. Khi anh tỉnh dậy, đồng hồ đã điểm gần chín giờ sáng.
Anh bước vào nhà tắm, vẩy nước lên mặt rồi đi xuống phòng ăn, chất đầy thức ăn lên dĩa, đổ liền ba ly cà phê đen, bưng hết ra bàn rồi ngồi xuống nhìn chằm chằm tất cả.
Mặt trời đã lên hẳn, ánh sáng tràn qua từng ô cửa sổ kính. Nguồn sáng ấy dường như chiếu đến anh rất gay gắt, cứ như anh là một diễn viên đang biểu diễn trên sân khấu, đang đứng dưới cái sức nóng đến héo hon của ánh đèn rọi.
Anh chờ đợi, nhìn chằm chằm vào dĩa thức ăn. Sau đó ánh mắt anh liếc qua tờ báo đã được đặt cạnh chiếc dĩa.
Chiếc điện thoại bỗng rung bần bật. Anh nhìn nó, bấm nút trả lời.
Lancaster lên tiếng, “Chết tiệt, Amos, anh đã làm cái quái gì vậy?”
“Chẳng làm gì hết. Vấn đề là chỗ ấy.”
“Bất cứ ai đọc bài báo này đều có suy nghĩ rằng anh đã thuê Sebastian Leopold giết gia đình mình.”
“Tôi cũng có cùng cảm nhận, dù tôi là người hiểu rõ sự tình.”
“Tại sao cô ta lại bám theo anh vậy?”
“Bởi vì tôi không tiếp chuyện cô ta.”
“Thế là anh không cho cô ta lựa chọn nào khác ngoài bịa cái chuyện chết tiệt kia sao?”
“Tôi có gặp Leopold.”
“Ý anh là ở trong tù.”
“Sau khi hắn ra tù.”
“Cái gì?”
“Tôi đi theo hắn sau khi hắn được thả. Chính là bức hình trên bài báo đó. Chúng tôi ở trong quán rượu.”
“Anh đi theo hắn làm cái quái gì?”
“Bởi tôi muốn nói chuyện với hắn. Tôi muốn hiểu tại sao hắn lại nói với cảnh sát và với tôi rằng hắn đã giết cả gia đình tôi khi mà chắc chắn hắn không có khả năng đó.”
“Và hắn có nói với anh không?”
“Không. Hắn biến mất luôn.”
“Ý anh là anh mất dấu hắn?”
“Ý tôi là hắn đi vào trong xe và biến mất.”
“Anh tận mắt thấy?”
“Không, nhưng đó là khả năng duy nhất.”
Anh nghe thấy tiếng chị thở dài não nề. Anh đã từng nghe thấy Lancaster thở dài nhiều lần, thường là sau mỗi lần Decker làm chuyện gì đó hoàn toàn quái gở, dù cho sau rốt hành động đó cũng giúp lột trần sự thật trong vụ án mà họ đang điều tra.
“Amos, lắm lúc tôi thực sự không hiểu anh muốn gì.”
Anh cũng đã nghe câu này rất nhiều lần, anh biết chị không mong có câu trả lời và sự thật là anh cũng chẳng muốn đáp lại.
“Vậy là Leopold biến mất?”
“Hiện giờ là vậy,” anh nói.
“Người ta sẽ ăn tươi nuốt sống anh sau khi đọc bài báo kia mất thôi. Thậm chí con phù thủy kia còn kèm thông tin nơi anh đang sống nữa chứ.”
“Tôi còn có một chiêu đối phó cơ mà.”
“Chiêu gì?” chị tò mò hỏi.
“Chiêu kệ-mẹ-đời.”
“Amos, tôi không nghĩ anh hiểu--”
“Tôi phải đi đây.” Anh cúp máy và đặt điện thoại lên trên mặt bàn, cạnh một chồng đồ ăn vẫn chưa được đụng tới. Anh cứ đắm đuối nhìn đống trứng, xúc xích, thịt xông khói và khoai tây nướng lò, anh không nhìn thấy đồ ăn mà chỉ nhìn thấy bức hình chụp anh và Leopold đang ngồi trong quán rượu. Anh biết trong mắt người đời, bức hình đó quá lạ kì ki anh ngồi đó và uống bia với một kẻ đã thú nhận rồi sau đó rút lại lời khai đã giết chết gia đình anh. Nhưng nếu anh giải quyết hết những vụ giết người này, anh sẽ phải dấn thân vào bất cứ con đường nào hiện ra trước mắt. Và Leopold là một con đường như vậy.
Anh thở dài, đẩy dĩa thức ăn đi và ngước mặt lên. June đang đứng một bên, tay cầm một khay bánh muffin. Bà không nhìn Decker. Bà đang nhìn về phía cửa ra vào.
Decker nhìn theo hướng ấy. Và trông thấy cô ta.
Alex Jamison đang đứng ở cửa khu vực phục vụ bữa sáng. Cô ta mặc một chiếc quần âu đen, một chiếc áo khoác rộng đã sờn cũng màu đen, lấp ló bên trong là chiếc áo cổ lọ màu xanh ngọc lam. Mái tóc buộc túm đuôi ngựa, đôi giày cao gót khiến cô cao thêm được vài phân.
Cô bước tới bàn của anh rồi nhìn xuống tờ báo đang đặt bên cạnh dĩa ăn sáng.
“Tôi đoán là anh đã đọc rồi,” cô khẽ nói.
Decker không đáp lại. Anh cầm nĩa lên, kéo cái dĩa về phía mình và bắt đầu ăn.
Cô vẫn đứng bên cạnh bàn anh, trông rất kì quặc. Không thấy anh nói gì, cô lên tiếng, “Tôi cho anh một cơ hội nữa để nói chuyện với tôi.”
Decker vẫn tiếp tục nhai.
Cô ngồi xuống đối diện anh. “Không phải tôi muốn viết câu chuyện ra như vậy đâu.”
Anh đặt cái dĩa xuống, lấy khăn giấy lau miệng, và nhìn cô, “Tôi thì lại thấy rằng người ta thường làm chính xác điều mà người ta muốn.”
Cô đập ngón tay bộp bộp lên tờ báo. “Anh vẫn có cơ hội để biến nó thành câu chuyện đúng.”
“Người khác muốn sửa mọi chuyện lại cho đúng là bởi họ làm sai. Còn tôi chẳng làm gì sai trái cả.”
“Anh đã gặp gỡ người đàn ông được cho là đã sát hại toàn bộ gia đình anh.”
“Được cho là ư. Thế là hiện tại mọi cáo buộc đã bị hủy bỏ rồi nhỉ, và cô cũng biết trước khi viết ra câu chuyện kia. Và cũng là điều tôi đã biết trước khi tôi gặp hắn ở trong quán rượu đó.”
“Tại sao anh lại gặp hắn?”
“Tôi có nhiều câu hỏi dành cho hắn.”
“Câu hỏi gì?” Cô lôi ra một chiếc máy ghi âm, một quyển sổ viết và bút, nhưng Decker giơ một tay lên chặn trước.
“Khỏi bận tâm.”
Cô ngồi dựa ra sau. “Anh không muốn chuyện của mình được biết đến sao?”
Decker gạt đĩa thức ăn sang bên, vừa tì vừa rướn người lên bàn và nói, “Tôi không có chuyện nào để kể lại hết.” Anh lại ngồi xuống, kéo chiếc dĩa về phía mình và tiếp tục ăn.
“Được rồi, tốt thôi. Nhưng anh có nghĩ Leopold có đồng phạm trong những vụ giết người không? Kể cả nếu cá nhân hắn ta không ra tay? Còn một sự thật nữa là cũng khẩu súng ấy được dùng trong vụ thảm sát ở trường trung học.”
Decker hằm hằm sát khí nhìn cô. “Brimmer có thể bị đuổi việc vì cung cấp thông tin này. Nó không được phép thông cáo báo chí. Cô cũng biết là không được phép, nếu không thì cô đã viết về chi tiết đó luôn rồi. Tôi có thể bắt cô ta chịu trách nhiệm giải trình việc này. Cô muốn nhìn thấy “nguồn thông tin” của mình mất sạch sự nghiệp chứ? Hay cô ấy chỉ được coi là một vật hi sinh để có được câu chuyện này?”
“Anh đúng là người cực kì khác thường.”
“Tôi chẳng có ngữ cảnh nào để đáp lại nhận định này của cô cả.”
“Cách nói năng như thế này càng chứng minh là tôi đưa ra nhận xét đúng, có phải không?”
Decker ngồi dựa lưng ra sau và nhìn cô. “Kể về bản thân cô cho tôi nghe,” anh bỗng nói.
“Gì cơ, tại sao?” cô đề phòng.
“Tôi có thể tự tìm ra, cũng dễ thôi. Mọi thứ về cuộc sống của mọi người đều có trên mạng. Nên là xin phép mượn lời cô, tôi đang cho cô một cơ hội để kể câu chuyện của cô đó.”
“Đây là lúc tôi phải thốt lên ‘anh bắt thóp được tôi rồi à’?”
“Cô có chuyện cần giấu sao?”
“Anh có không?”
“Không. Nhưng cô biết hết về tôi rồi.” Anh vỗ ngón tay lên tờ báo nằm cạnh dĩa đồ ăn sáng. “Bằng chứng là ngay ở đây. Thế nên kể cho tôi nghe về bản thân cô.”
“Anh muốn biết điều gì?”
“Quê quán, gia đình, giáo dục, sự nghiệp, các mục tiêu cuộc sống.”
“Chao ôi, anh hỏi ít quá,”
Decker chờ đợi. Anh không có vấn đề gì với sự im lặng và với việc chờ đợi. Tính kiên nhẫn, cũng giống như tâm trí anh, đều không có giới hạn.
Cô khoanh tròn hai tay lại trước ngực và nói, “Tôi đến từ Indiana, Bloomington. Tôi học ở Purdue, tốt nghiệp ngành Truyền thông đại chúng. Bắt đầu làm việc ở những tòa soạn báo nhỏ ở miền Trung Tây, nhiệm vụ cơ bản là mua cà phê, viết những chuyện vớ vẩn mà không ai khác muốn viết, và nhận những ca mà không ai muốn làm. Tôi đã thử làm báo trực tuyến và viết blog nhưng thấy ghét chúng.”
“Tại sao?”
“Tôi thích nói chuyện với mọi gnười, một cách trực tiếp, chứ không thông qua máy móc. Như thế không phải là báo chí thực thụ. Chúng chỉ là công việc quản lý dữ liệu được giao bởi những kẻ đáng khinh mà mình thậm chí còn không biết là ai. Đó là công việc báo cáo cho những kẻ lười biếng chỉ sống trong bộ quần áo ngủ. Không phải điều tôi muốn. Tôi muốn giải báo chí và văn học Pulitzer cơ. Nói thật là tôi muốn một rổ giải thưởng như thế.”
“Nên cô đến đây. Tại sao? Burlington có phải thủ phủ náo nhiệt đâu?”
“Nó lớn hơn bất cứ thị trấn nào tôi đã từng ở trước đó. Nó có tội phạm và nền chính trị thú vị. Chi phí sinh hoạt cũng thấp nữa, việc này rất quan trọng, bởi vì khi anh tăng giờ làm việc lên, tôi còn chẳng kiếm nổi mức lương tối thiểu. Thế là họ mặc tôi muốn làm gì thì làm và theo đuổi những câu chuyện của riêng tôi.”
“”Gia đình thì sao?”
“Một đại gia đình. Tất cả đều sống ở Bloomington.”
“Còn lí do nào khác lôi kéo cô đến đây không?”
“Không có lí do khác.”
Anh chỉ vào ngón tay bên bàn tay trái. “Ở đó có hai chiếc nhẫn. Vết hằn đã mờ bớt nhưng trông vẫn rõ. Nhẫn đính hôn và nhẫn cưới. Không còn đeo nữa.”
“Tôi đã li hôn rồi. Hoan hô chưa. Giống như một nửa dân số của đất nước này.”
“Bắt đầu lại từ đầu để quên đi người cũ ư?”
Cô xoa xoa vết hằn trên bàn tay. “Đại loại vậy. Được rồi, chúng ta chia sẻ xong chưa?”
“Cô có muốn tôi nghe xong không?”
“Anh thừa biết anh thực sự không đang chơi đùa tôi, phải không? Tôi đang rộng lượng thôi, kiểu như cứ xuôi theo mạch câu chuyện, để xem chúng ta sẽ bàn đến đâu.”
“Cô theo đuổi những câu chuyện của riêng mình, cô nói vậy nhỉ?”
“Đúng vậy.”
“Thế cô có ý định thử lần theo mối liên hệ giữa vụ sát hại gia đình tôi và vụ xả súng ở trường Mansfield không?”
“Tất nhiên.”
“Bạn bè hay gọi cô là gì nhỉ?”
“Anh nghĩ tôi có bạn bè sao?”
“Thế Brimmer gọi cô là gì nhỉ?”
“Alex.”
“Được rồi, Alexandra, để tôi nói rõ về vấn đề này hết sức có thể nhé.”
Cô đảo mắt một vòng và nhìn anh với thái độ khinh khỉnh. “Sao tôi ngửi thấy có mùi mặt dạy đời thế nhỉ?”
“Thế cô có muốn nghe tin sốt dẻo không?”
Biểu cảm trên khuôn mặt cô thay đổi. Cô cầm chiếc máy ghi âm lên. “Thông tin này thu vào máy được không?”
“Nếu cô để nguồn tin của mình ẩn danh.”
“Tôi xin hứa.”
“Cô có thường thề thốt nhanh lẹ như thế không?”
“Tôi xin thề,” cô chắc nịch nói.
“Một đặc vụ FBI đã bị giết tối qua, thi thể của cô bị treo ngang tầm phía trên đầu, ngay lối đi vào. Cô ấy là một đặc vụ liên bang có dày dạn kĩ năng và có vũ khí, một người thực sự có thể tự lo liệu cho mình. Hiện giờ cô ấy lại là nạn nhân bị sát hại, bị trừ khử nhanh gọn lẹ một cách dễ dàng như người ta giẫm nghiến một con bọ dưới chân.” Anh lại kéo chiếc dĩa sang một bên, với tay lên phía trước và bấm nút tắt chiếc máy ghi âm.
Cô không dịch chuyển người để ngăn anh lại.
“Tôi đã chứng kiến rất nhiều vụ trong suốt hai mươi năm hành nghề trong lực lượng, nhưng tôi chưa bao giờ từng thấy--” Anh dừng lại, chọn từ ngữ một cách khó khăn. “Tôi chưa bao giờ từng thấy mối đe dọa nào như vậy. Mà không chỉ có thể. Còn...” Anh lại dừng lại, đập các ngón tay lên mặt bàn và nhắm mắt lại. Khi mở mắt ra, anh lại nói tiếp, “Mối đe dọa kết hợp với đầu óc và sự xảo quyệt. Một sự kết hợp vô cùng nguy hiểm, Alexandra. Tôi muốn hỏi về gia đình cô là do tôi muốn biết cô sẽ còn có người thân thích nào để khóc tang thương xót cô khi cô bị ám hại hay không thôi. Bởi vì xin hãy thận trọng, hắn sẽ giết cô dễ như thổi tắt làn khói một điếu thuốc.”
“Nghe này, nếu anh đang cố--”
Decker không để cô nói hết câu. “Với những gì tôi biết, hắn ta có thể đang theo dõi chúng ta ngay lúc này, rồi đánh giá định lượng nơi nào và làm thế nào để hắn ta lên lên hoạch tước đoạt mạng sống của cô. Có vẻ như cũng là cách hắn muốn để hủy hoại tôi. Giết những người thân thiết với tôi hoặc hay giao tiếp với tôi. Cô đã viết một bài báo rất hay về tôi. Việc đó đã khiến tôi và cô lại có mối liên hệ với nhau theo cách mà gã kia yêu thích vô cùng. Tôi chắc chắn hắn sẽ lên kế hoạch để tiếp tục giết người cho đến khi hắn hạ được nạn nhân cuối cùng.”
Jamison không còn vẻ khinh khỉnh trên mặt nữa. Nét mặt cô trông kinh hãi dù đã cố không để lộ ra.
“Và người cuối cùng đó là ai?” Cô cố nói ra vẻ xấc xược nhưng giọng nói lại đứt quãng.
“Đó sẽ là tôi.”
 
CHƯƠNG 32
Alexandra chộp lấy máy ghi âm, cuốn sổ và bút, nhét tất cả vào trong túi xách rồi đứng dậy. Cô còn không buồn nhìn Decker.
“Được lắm, nếu nói năng kiểu đó khiến tâm trạng anh cảm thấy khá hơn thì anh chính thức đã dọa tôi sợ mất hồn mất vía rồi,” cô nói.
“Cô có nhìn thấy Leopold rời khỏi quán rượu đó không?”
“Gì cơ?”
Anh gõ nhẹ ngón tay lên tờ báo. “Quán rượu ấy, chỗ mà bức ảnh được chụp?”
Giờ cô nhìn anh, nét mặt thận trọng. “Tôi sẽ không trả lời câu hỏi đó.”
“Cô vừa cho tôi câu trả lời rồi đấy thôi. Được rồi, tôi có một câu hỏi khác dành cho cô.”
“Câu gì?”
Anh giơ tờ báo lên. “Cô đứng ở chỗ nào trong quán rượu để chụp được tôi và Leopold vậy? Không thấy có chữ kí bản quyền của người chụp ảnh. Tôi biết công việc này sẽ rất khắt khe về vấn đề đó, nên tôi vẫn đang băn khoăn sao lại không có tên trên bức hình đó.”
“Tôi đã chụp nó.”
“Cô không chụp.”
“Làm sao mà anh biết được?”
“Tôi là người rất hay quan sát. Và tôi biết cô không có mặt trong quán rượu đó. Bất kể người chụp bức hình này là ai thì kẻ đó mới là người theo dõi Leopold và tôi. Tức là kẻ đó đã theo dõi cả hai chúng tôi ở đó, mặc dù tôi cũng là người đang theo dõi Leopold.” Anh dừng nói một lúc. “Tôi sẽ không hỏi vấn đề này nếu nó không quan trọng. Làm thế nào cô có được bức hình này?”
“Tôi nhận nó từ một nguồn tin ẩn danh,” cuối cùng cô thừa nhận.
“Và nguồn ẩn danh đó cũng cung cấp các chi tiết trong câu chuyện mà cô đã viết ư?”
“Tôi thực sự không thể nói thêm.”
“Nếu cô thực sự không biết tên người cung cấp thông tin, cô không phải lo lắng bảo vệ danh tính của kẻ đó.” Decker thả tờ báo rơi lên trên bàn. “Thông tin đến từ thư điện tử hay tin nhắn? Chắc chắn không bằng thư từ truyền thống. Cô sẽ không có đủ thời gian để viết câu chuyện đó.”
“Qua thư điện tử.”
“Cô có thể gửi cho tôi đường dẫn của bức thư điện tử đó không?”
“Sao bức thư đó lại quan trọng đối với đến vậy?”
“Bởi kẻ gửi bức thư đó cho cô cũng là người đã giết tất cả những người này.”
“Anh không thể chắc chắn biết được.”
“Tôi biết chắc chắn. Và tôi cũng nghĩ, nội dung bức thư bảo cô nên viết câu chuyện này bởi chi tiết nào trong đó cũng ‘bốc mùi’ kinh hãi. Rằng ở đó tôi đang hẹn gặp gã đàn ông bị buộc tội hạ sát gia đình tôi. Còn nhiều điều hơn thế, phải không?”
Càng nghe anh nói, hai mắt Jamison lại càng mở to hơn. “Anh có phải là người gửi bức thư đó đến cho tôi không vậy?” giọng cô rít lên giận dữ.
“Ý cô là tôi có thể đọc một câu chuyện được in đầy trên báo, buộc tội tôi đã thông đồng ám hại chính gia đình mình sao?”
Cô cắn chặt môi. “Tôi xin lỗi, thật ngu xuẩn.” Cô nuốt nước bọt xuống đầy khó khăn. “Anh thực sự nghĩ là hắn ta sao?”
“Hắn đã ở đó. Trong vòng ba mét cách tôi, nhưng tôi lại chưa bao giờ nhìn thấy hắn. Tôi chỉ đang không chắc chắn sao có thể như thế được.”
“Anh đã nói là hắn là kẻ gian xảo.”
Decker gật đầu. “Đúng thế. Rõ ràng hắn muốn phá hủy sự nghiệp của tôi trước khi giết tôi.”
“Tôi có thể hỏi anh một câu không?”
Decker ngước lên nhìn cô. “Mời cô.”
“Anh đã chọc tức ai đến nỗi hắn ta làm tất cả đều này với anh?”
Decker không trả lời, bởi vì anh không có đáp án. Anh viết địa chỉ thư điện tử lên mặt khăn giấy và đẩy nó sang phía bên cô.
Jamison nhét nó vào túi, quay người bỏ đi.
Decker vẫn ngồi đó.
Một lúc sau, chiếc điện thoại của anh bỗng rung lên. Anh liếc nhìn màn hình rồi cho phép mình khẽ cong môi cười.
Jamison vừa mới chuyển tiếp bức thư điện tử ấy được gửi từ nguồn ẩn danh đến cho anh. Decker hiểu rằng địa chỉ hòm thư kia sẽ không dẫn họ ngược đế người gửi. Quá rõ ràng. Nhưng anh muốn tìm hiểu xem gã đàn ông kia đã viết những gì.
Anh đẩy dĩa thức ăn sang một bên và chăm chú đọc tin nhắn. Tên của người gửi là Mallard2000. Chẳng có ý nghĩa gì với anh. Anh đọc tin nhắn. Căn bản chỉ phản chiếu lại những gì mà Decker đã suy luận. Người gửi muốn Jamison viết nên một câu chuyện dấy lên nghi ngờ giữa Decker và kẻ sát hại gia đình của anh. Lựa chọn ngôn từ đơn giản và ngay thẳng. Trong tâm trí của mình, Decker hình dung Sebastian Leopold đang thốt ra từng tiếng, cố gắng đồng nhịp điệu nội dung trog bức thư ấy nhưng thật cứng nhắc. Sao lại lạc điệu đến vậy, ít nhất trong tâm trí anh. Khôg có vẻ gì là xuất phát từ một người cả.
Có hai người. Cùng bày mưu tính kế. Một người không thể xuất hiện ở hai nơi tronb cùng một thời điểm. Leopold đang ở tù trong suốt thời gian xảy ra sát hại. Thế nên, nếu hắn ta có liên quan, và mình tin là vậy, thì còn có một người khác nữa. Thế nhưng vẫn có điểm khó hiểu trong giả thiết này.
Một người có mối thù sâu nặng với anh như thế thì còn có thể hiểu được. Nhưng có đến hẳn hai người như vậy?
Anh chuyển tiếp bức thư đến Lancaster và nhờ chị cố gắng truy lùng nguồn gốc. Anh chẳng nghĩ rằng chị hay đội FBI có thể tìm ra nhưng họ vẫn phải thử. Anh không có máy tính, vì thế anh đến thư viện công cộng và sử dụng máy tính ở đó.
Anh không phải là một người thành thạo công nghệ, khả năng có thể theo dấu một người từ một địa chỉ hòm thư điện tử của anh rất hạn chế. Anh nhanh chóng cảm thấy hết khả năng truy vết và đứng dậy khỏi máy tính. Anh đi lang thang khắp các giá sách, đến khu vực dành cho sách thể loại phi hư cấu.
Bỗng có một suy nghĩ lướt qua trong đầu anh, thư viện là nơi hoàn hảo để kiểm tra giả thiết đang thành hình trong tâm trí anh.
Vụ án gia đình Clutter.
Anh rà hét toàn bộ tên tác giả có họ bắt đầu bằng chữ C. Không phải trong từ Clutter, mà tên tác giả của câu chuyện bi thảm đó.
Anh tìm thấy cuốn sách và rút nó ra khỏi kệ.
Máu lạnh, tác giả Truman Capote.
Câu chuyện này cũng vừa đơn giản mà cũng vừa phức tạp. Decker đã đọc cuốn sách này nhiều năm trước, cũng như với nhiều cuốn khác, mỗi trang truyện đều được lưu trữ trong đầu anh một cách ngăn nắp.
Một gã ngồi tù đã được một gã bạn tù khác tuồn cho một tin, rằng một người nông dân tên là Clutter ở vùng quê Kansas giữ rất nhiều tiền ở trong két. Gã đó sau khi ra tù đã câu kết với tên bạn tù cũ, sau đó chúng đến nhà của người nông dân kia. Chúng đột nhập vào trong nhà, chỉ thấy trong đó không có két sắt và cũng không có tiền; tin đồn nhảm nhí. Câu chuyện đáng lẽ đã kết thúc tại đây nhưng thật kông may cho gia đình Clutter. Tên nhút nhát hơn nhưng tinh thần bất ổn hơn đã quyết định rằng chúng phải giết hết gia đình này. Bạn đồng phạm của hắn, người dẫn đầu của nhóm và là người nghe được tin đồn, bất đắc dĩ làm theo. Từng người trong gia đình bị giết. Những kẻ sát nhân không hề thông minh. Cuối cùng chúng bị truy đuổi và bắt lại. Sau vài phiên tòa theo đúng trình tự và các lần kháng cáo dài đằng đẳng, cả hai tên đều bị treo cổ tại phòng thi hành án ở Kansas.
Câu chuyện tràn đầy bi kịch. Cả hai tên sát nhân đều có những vấn đề trong lí lịch, các rắc rối, các tệ nạn. Chẳn có gì có thể biện hộ được cho những gì mà chúng đã làm, không có gì có thể.
Phần nội dung đó của câu chuyện không gợi lên nhiều hứng thú với Decker vào lúc đó. Điểm thực sự thu hút anh chính là khả năng khiến hai gã có gia cảnh cực kì khác nhau lại tìm đến với nhau vào đúng thời điểm, hình thành mối quan hệ hợp tác mà sau này dẫn đến vụ tàn sát rất nhiều người. Anh không biết Leopold. Anh chưa từng gặp hắn cho đến khi hắn ngồi trong nhà tù đó. Thế nên Leopold không phải là nhân vật có mối thù sâu đậm với anh. Mà phải là người mà Leopold đã câu kết. Nhưng hắn là ai?
Anh đặt cuốn sách về chỗ cũ rồi rời khỏi thư viện.
Khi anh đang bước đi, chiếc điện thoại lại rung lên lần nữa. Đó là Lancaster.
“Vẫn chưa có đầu mối gì từ bức thư điện tử đó,” chị nói. “Anh thực sự nghĩ gã gửi thư là thủ phạm sao?”
“Đúng vậy.”
“Đội FBI cũng đang kiểm tra nó.”
“Có tin gì mới về Lafferty chưa?”
“Đó là lí do tại sao tôi gọi điện đó. Anh có thể gặp tôi ở nhà xác không?”
“Được. Sao thế?”
“Cứ gặp tôi ở đó. Anh phải đích thân thấy mới được.”
 
☆☆☆
Decker nhảy lên một chiếc xe bus để đến nhà xác nằm ngoài ngoại ô của thành phố Burlington, ở một khu vực, cũng giống như đa số khu vực khác trong thành phố, đã qua rồi cái thời huy hoàng. Anh cứ suy nghĩ mãi về lời của Lancaster đã nói trong suốt chuyến xe nhưng không thể suy đoán được nhiều. Chị ấy muốn anh đích thân thấy cái gì?
Khi anh vừa đến cổng trước của nhà xác, chị đang đứng đợi anh. Nét mặt căng thẳng, cáu kỉnh, bàn tay run lên còn tệ hại hơn.
“Chuyện gì thế?” anh hỏi.
“Vào đi, Bogart đã vào bên trong rồi.”
Hai người cùng đi trên hành lang bốc mùi thuốc khử trùng nồng nặc. Và mùi của cái chết. Tử hi tỏa ra mùi cái mùi rất riêng, chúng xộc vào trong hai hốc mắt, mũi và cổ họng. Nhà xác không phải là nơi sạch sẽ. Thực tế, chúng vô cùng bẩn thỉu. Không ai phải lo lắng về chuyện những người “khách” ra vào nơi này sẽ chết vì bị nhiễm trùng cả.
Lancaster dẫn đường, cuối cùng cũng đến đẩy hai cánh cửa xoay. Decker theo chị bước vào. Không gian bên trong rộng rãi, chất đầy các loại giá kệ và bàn khám nghiệm tử thi bằng thép không gỉ, nằm trên ba chiếc bàn là những thi thể được phủ một tấm khăn lớn lên. Những vòi nước áp lực được treo trên trần rủ xuống, các tủ đựng đủ thứ chai dung dịch và các dụng cụ cần thiết để cắt xẻ thi thể. Tiếng vo vo của lưỡi cưa cầm tay phát ra từ một căn phòng khác. Decker đã nghe thấy âm thanh đó trước đây. Sọ của một người nào đó đang bị mở ra. Anh tự hỏi liệu đó có phải là một nạn nhân từ trường trung học Mansfield sắp sửa bị lôi não ra khỏi sọ để đo đạc, cân đong và làm thí nghiệm hay không.
Một nhóm người đứng túm tụm xung quanh chiếc bàn nằm tít phía trong, Bogart đang đứng cùng họ. Đã có lần anh thấy anh ta mặc âu phục, đeo cà vạt có ghim cài, cổ áo dựng phẳng, hoàn hảo, không có một sợi tóc chỉa ra, một bức tranh tổng thể về đặc vụ chuyên nghiệp. Nhưng trên khuôn mặt béo phị, đôi mắt đỏ lòm, dáng người khòm xuống, lúc này Decker chỉ thấy một người đàn ông rất khác. Còn hai đặc vụ khác đứng cạnh anh ta và một người đàn ông mà Decker đã biết là trưởng đội pháp y. Họ sẽ không để một người có tay nghề non nớt cắt xẻ thi thể của đặc vụ FBI. Thú thật, Decker thấy khá ngạc nhiên khi Cục không điều động cho nhân viên pháp y của mình bay đến tận nơi này.
Bogart ngước lên nhìn khi anh ta nghe thấy tiếng chân họ bước tới. Anh gật đầu nhanh lẹ, chào hỏi gắng gượng với Decker bằng ánh mắt, sau đó quay lại nhìn thi thể dưới tấm vải.
Lancaster nói với trưởng đội pháp y, “Chúng ta đã biết được gì cho đến bây giờ?”
“Như đã được ghi nhận sơ bộ tại hiện trường, nguyên nhân tử vong là một nhát dao đâm thẳng tim. Thi thể được di chuyển sau khi đã chết. Hồ máu tử thi đã cho thấy điều đó. Máu tụ lại ở các mô kẻ phổi ở phía sau lưng, nhưng cô ấy lại được tìm thấy trong tình trạng bị treo dưới đèn ốp trần.” Anh ta để lộ ra một cánh tay của Lafferty, nhấc nó lên một cách nhọc nhằn bởi vì thi thể vẫn còn bị co cứng. “Thi thể cô ấy bắt đầu sắp hết giai đoạn co cứng, từ tứ chi trước rồi đến hàm và cổ, hiện tượng này phần nào xác nhận thời gian tử vong sơ bộ là vào lúc nửa đêm.”
“Thế còn nhiệt độ xung quanh thì sao?” Decker hỏi. “Trời lạnh mà.”
“Đồng nghiệp ở hiện trường đã xem xét điểm đó. Còn người chết đã bị tiêm thuốc an thần liều nặng. Chúng tôi đã tìm thấy các vết tiêm. Loại thuốc này sẽ khiến cho cô ấy bị mất nhận thức và không có khả năng tự vệ.”
“Còn có cả tổn thương ở bộ phận sinh dục nữa,” Decker nói.
Nhân viên khám nghiệm gật đầu. Nhưng khi anh ta bắt đầu kéo tấm vải thấp xuống để lộ ra khu vực nhạy cảm, Decker ngăn anh ta lại. “Chúng tôi đã thấy phần này rồi.”
Anh quay ra nhìn Lancaster vẻ khẩn khoản. Đổi lại, cô liếc sang nhìn Bogart và nói, “Tôi vẫn chưa nói với anh ấy. Nghĩ anh ấy nên tự mình nhìn thấy.”
Bogart gật đầu rồi đưa mắt nhìn sang hai đặc vụ khác, hai người đàn ông vạm vỡ trông như muốn giết người, giết bất cứ ai. “Lật người cô ấy lại.”
Nhân viên khám nghiệm kéo hết tấm vải ra, để lộ toàn bộ cơ thể của Đặc vụ đặc biệt Laffferty. Ở mặt trước, làn da của cô tái nhợt cực kì. Tất nhiên nhân viên khám nghiệm đã mổ phanh cô ra; những vết khâu theo hình chữ Y phía trên bụng trông tàn bạo, kinh hoàng, giống như hình hai chiếc khóa kéo song sinh rạch lên thịt người. Da mặt cô hơi chảy xuống do đã bị cắt một miếng lớn rồi sau đó úp ngược vào. Sọ đã bị cưa rồi mở ra, não đã được đưa ra ngoài trước khi quy trình được đảo ngược, mọi thứ được đặt vào chỗ cũ.
Khi họ lật ngược cơ thể cô lại, sự nhợt nhạt đã biến mất. Màu da phía sau đỏ rực, trông như vết bỏng rát từ những chỗ máu tụ vào.
Decker không tập trung nhìn vào chỗ đó.
Anh đang nhìn vào thứ đang hiện lên trên lưng cô.
Anh kéo người tới gần hơn bởi sự biến đổi màu da khiến khu vực đó rất khó nhìn rõ ràng.
Thế nhưng anh cũng nhìn ra nó.
Có người đã rạch gì đó lên lưng của Lafferty.
Có người đã dùng lưỡi dao khắc chữ, lấy người cô làm giấy viết. Hai dòng chữ, dòng này nằm ngay dưới dòng kia.
Bao giờ sẽ kết thúc, người anh em.
Anh nói tôi nghe.
CHƯƠNG 33
 
Tất cả đều đi ra ngoài. Bogart nhìn hai đặc vụ của mình rồi nói, “Chờ chúng tôi ít phút. Tôi sẽ gặp các cậu trên xe.” Họ rời đi. Bogart quau ra phía Lancaster. “Tôi có vài lời muốn nói riêng với cộng sự của cô.”
Lancaster liếc nhìn Decker, anh nói, “Tôi sẽ gặp chị sau, Mary.”
“Anh chắc chứ?”
“Anh ta chắc chắn,” giọng Bogart gay gắt.
Lancaster nhìn Bogart chằm chằm. “Tôi rất lấy làm tiếc cho Đặc vụ Lafferty.”
“Đặc vụ đặc biệt Lafferty. Cảm ơn.”
Chị quay người bước đi, ngoái lại nhìn một lần nữa trước khi chị vòng vào góc và biến mất khỏi tầm mắt.
Giây tiếp theo, Bogart đã đẩy Decker dính vào bức tường gạch của nhà xác. Ông ta chèn cả cẳng tay lên họng anh.
“Nghe đây thằng khốn nạn béo phệ, chúng ta phải nói cho rõ ràng tại đây, ngay lúc này.”
Bogart là người cao lớn, khỏe mạnh, hình thể tốt hơn Decker nhiều phần. Hơn nữa, anh ta còn đang dồn nén cảm xúc căm hận và thất vọng ngút ngàn, chính chúng đang tiếp thêm sức mạnh cho cơ thể ấy. Thế nhưng Decker cũng có thân thể nặng cả trăm cân, và đã từng là một cầu thủ bóng bầu dục chuyên nghiệp. Sau khoảng một phút vật lộn với nhau, người nào cũng muốn chiếm thễ thượng phong, Decker cong đầu gối và đạp tường bật ra, sức đẩy đó kết hợp với thân thể to lớn của anh xô mạnh cả hai người lên phía trước, mặc dù thật ra là đẩy lùi đối với Bogart. Cùng lúc đó, Decker ngoắc cổ chân trái phía sau bàn chân phải của đặc vụ FBI, anh ta ngã sầm xuống đất. Decker hạ cả thân hình mình lên người ông ta như bức tường đổ sập xuống.
Dù ngã sấp lưng, thêm thân hình nặng hơn một trăm năm mươi cân chèn lên người, Bogart vẫn có thể vung tay tung một nắm đấm lên hàm của Decker. Decker nếm thấy máu trong miệng và cảm nhận một chiếc răng bị lung lay. Anh giã thẳng khuỷu tay mình thẳng vào bên đầu Bogart, lập tức nghe thấy người đàn ông kêu rên rỉ vì chấn động khi đầu ông ta đập nẩy xuống nền đất.
“Tao sẽ giết mày!” Bogart gào toáng lên khi ông tiếp tục vung tay đá chân trong khi Decker gắng kìm kẹp đôi tay đôi chân quờ quạng.
Decker đứng dậy lên cao một vài phân so với Bogart rồi bỗng thả phịch người xuống, nã thẳng vai phải ụ thịt chính giữa cơ hoành của người đàn ông kia. Sau đó anh làm lại lần nữa. Bogart gằn tiếng, thở hổn hển, kêu rên đau đớn, sau đó không vùng vẫy nữa.
Decker đứng dậy, loạng choạng vài bước, cong lưng lại, cố hít lấy không khí, hai bàn tay chống lên hai bên đầu gối đang run bần bật, bụng phập phồng, hai lá phổi cũng vậy.
Khi anh nhìn qua bên kia, Bogart đã ngồi dậy, súng của anh ta đang chĩa thẳng lên đầu Decker. Rõ ràng trông rất đau đớn, người đàn ông từ từ đứng dậy, họng súng vẫn chĩa thẳng vào Decker.
“Anh vừa hành hung một đặc vụ liên bang đó,” Bogart vừa hổn hển vừa bịt cái đầu bị thương đang chảy máu bằng bàn tay còn lại.
Decker nhìn khẩu súng rồi sau đó nhìn Bogart.
“Tôi có thể bắt giữ anh,” vị đặc vụ liên bang nói thêm.
Decker đứng thẳng người rồi lại khuỵu chân xuống, dựa vào bức tường gạch để chống đỡ. Cuối cùng, anh cũng điều hòa được nhịp thở, anh nói, “Không phải anh có điều muốn nói với tôi sao?”
Vẫn chĩa thẳng súng về phía Decker, Bogart quệt tóc ra khỏi mặt và vuốt phẳng chiếc cà vạt. Anh ta tiến lại gần hơn. “Điều gì?”
“Anh nói anh muốn nói chuyện rõ ràng còn gì. Tôi không nghĩ anh có ý muốn tẩn tôi. Tôi nghĩ câu đó có nghĩa là có chuyện muốn nói.”
Bogart chỉ vào cánh cửa nhà xác. “Hắn để lại lời nhắn trên… trên người đặc vụ của tôi nhắm thẳng đến anh.”
“Tôi biết hắn đã làm vậy.”
“Tức là anh phải biết hắn chứ. Chắc chắn anh đã gây thù hằn với gã này. Hắn gọi anh là anh em cơ mà.” Bogart quát lên ở câu cuối.
Decker buông tiếng hở phào cuối cùng và đạp tường đứng thẳng dậy. “Tôi không biết gã này. Tôi cũng không phải anh em gì của hắn.”
“Anh nói anh không bao giờ quên. Đấy, gã này cũng thế. Anh đã làm gì. Có thể anh không nhận ra mình đã làm gì, nhưng hắn đã giết… hắn đã giết…” Giọng Bogart bỗng lạc đi, anh hạ khẩu súng xuống, sau đó cứ nhìn mãi xuống nền nhà và lắc đầu, nét mặt chỉ toàn tuyệt vọng.
Decker sờ lên vết rách và tím trên bên trên má mà Bogart đã đấm anh. Đầu lưỡi đẩy vào chiếc răng lung lay.
“Hắn đã giết cả tá người, bao gồm gia đình tôi và Đặc vụ đặc biệt Lafferty,” Decker nói.
Bogart liếc nhìn anh và gật gù. “Gồm cả Nora.” Bogart cất vũ khí đi. “Nghe này, tôi xin lỗi tôi… nếu anh muốn tố cáo thì cứ làm đi. Hành động đó không thể bào chữa được.”
Decker nói, “Tôi không chắc chuyện gì đã xảy ra, ngoài việc tôi đã vấp chân và ngã xuống, lôi cả anh theo. Vụng về đến cạn lời. Nhưng dù sao tôi cũng to con, béo ị và không cân đối. Tôi nghĩ anh sẽ cần phủi sạch bộ âu phục và kiểm tra vết rách trên đầu đi.”
Bogart chà mấy vết bẩn trên ống tay áo và liếc nhìn Decker. “Chúng ta nên làm gì tiếp đây?”
“Những việc chúng ta đã làm cho đến giờ chưa thực sự thu được kết quả gì cả. Anh có tìm thấy thứ gì có ích ở căn cứ quân sự không?”
“Không có gì cả. Chỉ toàn ba cái thứ tạp nham. Tất cả đều biến thành bùn nhão. Lầu Năm Góc vẫn chưa hồi âm lại với ta. Chưa chắc họ còn có thể bổ sung thêm thông tin gì không. Thế còn bài báo thì sao?”
“Tôi đã nói chuyện với phóng viên rồi.”
“Lancaster đã kể chúng tôi nghe. Cho chúng tôi địa chỉ IP. Đội đặc vụ vẫn đang lùng theo nó, đến giờ vẫn chưa truy ra được gì.”
“Tôi không nghĩ nó sẽ dẫn đến địa chỉ nào cụ thể. Thế thì quá dễ dàng.”
“Thế là chúng ta vẫn không có gì trong tay sao?” Bogart nẫu ruột nói.
“Chúng ta sẽ có rất nhiều thứ, chỉ cần chúng ta xâu chuỗi chúng lại một cách hợp lí. Chúng ta có Sebastian Leopold.”
“Nhưng hắn ta có người làm chứng trong cả hai vụ giết người.”
“Nhưng không có trong vụ giết Lafferty.”
“Ý anh là hắn bắt tay với người khác nữa? Đó là ý anh khi anh nói không ai có thể có mặt ở hai địa điểm cùng một lúc cả?”
Decker gật đầu.
“Nhưng làm thế nào anh có thể chắc chắn chính hắn đã giết Nora?”
“Tôi không thể. Nhưng tôi không nghĩ chính Leopold đã khắc những từ đó lên người cô ấy.”
“Tại sao?”
“Tôi đã gặp Leopold. Nếu tôi đã gặp gã kia, tôi sẽ nhớ hắn. Nhưng tôi lại không nhớ, chứng tỏ tôi chưa từng gặp hắn. Chỉ có thể là cộng sự của hắn. Gã này sẽ không cho phép Leopold làm thế. Đó là chuyện cá nhân. Tôi là anh em của hắn. Không phải ai khác. Hắn là người có thù với tôi.”
“Nhưng Decker, làm sao anh có thể bắt gặp gã kia mà không nhớ ra hắn chứ? Trong khi hắn căm ghét anh đến mức dám giết người?”
“Tôi không thể trả lời câu hỏi mà tôi không có đáp án,” Decker thừa nhận. “Nhưng tôi hứa với anh, tôi sẽ tìm ra.”
 
CHƯƠNG 34
 
Decker chăm chú nhìn mặt tiền quán rượu. Sau đó anh nhìn sang phía bên phải rồi ngó sang trái. Những tòa nhà ở đây đều được xây bằng gạch và cũ nát.
Anh đi bộ xuống cầu thang, chìm dần vào trong không gian tối tăm ngập ngụa khói thuốc.
Anh nhìn ngó xung quanh, thấy hai nười công nhân đang ngồi ở một bàn ở phía trong, tay đều đang nâng cốc vại uống bia. Một phụ nữ ngồi một mình ở bàn tròn cao bằng quầy rượu, một tay cầm li rượu vang trắng, tay còn lại cầm điếu thuốc hút dở. Anh quan sát cô ta để điếu thuốc lá xuống gạt tàn nhựa màu đen, tiếp đến là đặt li rượu xuống bàn, lôi chiếc hộp phấn sáp và thỏi son ra khỏi ví, dặm lại sắc môi.
Decker đi ngang qua bọn họ, tiến thẳng đến quầy rượu. Vẫn là người phục vụ ấy. Decker ngồi xuống và gọi một li bia Coors. Người phục vụ rót bia ra li, gạt sạch bọt bia trên miệng li bằng con dao phết bơ, rồi đẩy nó qua, để đổi lại, Decker đưa cho anh ta một đồng năm đô và bảo anh ta cầm lấy tiền thừa. Hành động đó thu hút sự chú ý của người đàn ông.
“Anh đã từng đến đây rồi,” người phục vụ nói.
Decker gật đầu và nhấp một ngụm bia. “Từng đến. Cùng với một người khác.”
“Ừ, cái người đó. Gã kì quặc.”
“Anh ta đã quay lại đây chưa?”
“Chưa.” Người đàn ông bắt đầu lau chùi quầy rượu được đóng bằng gỗ dái ngựa bằng miếng giẻ lau, từng vòng tay chuyển động mạnh mẽ.
“Anh ta đến đây lần nào chưa?”
“Vài lần.”
“Anh đã nói chuyện với anh ta lần nào chưa?”
“Anh ta chẳng nói chuyện với ai cả. Trừ anh ra.”
“Anh ta sống gần đây sao?”
“Không biết nữa. Chỉ nhìn thấy anh ta quay lưng rời đi. Chỉ thấy nhiêu đó hôi.”
“Tôi không thấy cô phục vụ ở đây.”
Người phục vụ bật cười khoái trá. “Phải rồi.”
“Có chuyện gì với cô ấy sao?”
“Cô ấy?” Anh ta bật cười khoái trá còn hơn lúc nãy rồi dừng động tác lau chùi, đặt hai khuỷu tay lên trên mặt quầy, rướn người lên phía trước và nói, “Anh hãy gọi nó là cô ấy. Còn tôi thì không.”
“Thế anh gọi nó là gì?”
Người phục vụ chỉ ngón tay vào người Decker. “Hỏi câu hay đấy. Tôi không làm nhiệm vụ thuê mướn ở đây. Tôi chỉ rót rượu, lau chùi đồ dùng và tống mấy thằng khốn say khướt ra khỏi cửa thôi.”
“Thế ai thuê cô ta?”
“Ban quản lí, chẳng biết là ao. Quán này đã bị bán bốn lần trong vòng có ba năm. Chỉ có tôi đây là còn trụ lại, tôi cũng chẳng muốn làm ở đây chỉ là tôi không thể tìm được chỗ nào trả công cao hơn.”
“Anh nói cô phục vụ bàn là đàn ông mặc đồ giả gái à?”
“Ừm, hoặc đại loại thế. Không biết chắc nữa. Mà tôi cũng chẳng buồn kiểm chứng. Tôi không có thói quen tọc mạch quá sâu.”
Decker nhắm mắt lại, những khung hình kí ức lật qua lật lại trong đầu anh.
Cao, gầy, tóc xoăn vàng.
Như thế giấu giếm gần hết toàn bộ khuôn mặt của cô ta.
Hoặc khuôn mặt của hắn ta.
Hoặc có thể là che yết hầu, một đặc điểm làm lộ giới tính thật. Chỉ có đi phẫu thuật mới xử lí được cái này.
“Anh có thông tin gì về người đó không? Phải có tên, địa chỉ. Mấy cái thông tin cần thiết để được nhận lương?”
“Ban quản lí có tất cả các thứ đó. Thậm chí họ không phải là người ở đây. Có thể là người ở bang khác. Tôi cho là họ xoay vòng kinh doanh và két hợp chúng lại thành một hợp thể. Kinh tế quy mô hay cái bố khỉ gì đấy. Tôi cá là họ kiếm được cả đống tiền, còn tôi thì chẳng kiếm được bao nhiêu.”
“Không có bản lưu trữ nào được để lại đây à?”
“Không.”
“Ai phỏng vấn người kia làm vị trí này?”
“Đến từ văn phòng tuyển dụng.”
“Anh có biết văn phòng nào không?”
Người phục vụ nhìn Decker. “Tại sao anh tọc mạch nhiều thế?”
Decker lôi tờ giấy ủy quyền cảnh sát của mình. “Đang điều tra một vụ án. Người này có thể là người mà tôi cần nói chuyện.”
Người đàn ông đọc kĩ tờ giấy ủy quyền rồi nói, “Được rồi. Sự thật là tôi không biết là văn phòng nào. Một ngày nọ, nó bỗng xuất hiện và bắt đầu làm việc.”
“Thế mà anh không thắc mắc gì sao?”
“Ơ kìa, chúng tôi cần có phục vụ nữ. Một cô khác không thèm đi làm. Bảo rằng cô ta đã bị văn phòng thời vụ mà ban quản lí thuê bố trí làm việc khác. Thế là tôi cho nó làm việc.”
“Lúc bắt đầu làm là khi nào nhỉ?”
“Một ngày trước khi anh đến đây với cái người kia.”
“Nếu cô ta không phải do văn phòng tạm thời gửi đến thì sao?”
“Chậc, thế nó nói dối làm cái quái gì?”
“Chỗ anh có nhà vệ sinh dành cho nhân viên không?”
“Có chứ, ở phía sau.”
“Người đó có khi nào sử dụng không?”
“Tôi chắc chắn là có rồi. Ai mà chẳng phải đi tiểu tiện với các việc tế nhị, phải không? Đi đứng hay đi ngồi cũng cần phải đi chứ.”
“Chỉ cho tôi xem.”
Người phục vụ quầy dẫn anh xuống hành lang phía sau, đến một cánh cửa xiêu vẹo méo mó có ghi chữ “Phòng vệ sinh.”
“Anh có băng dính to không?” Decker hỏi.
“Ở phía sau.”
“Lấy nó giúp tôi.”
Người phục vụ rời đi với vẻ bối rối, một phút sau quay lại với cuộn băng dính trong tay.
Decker kéo băng dính dán chồng chéo lên cửa ra vào.
“Anh làm cái quái gì vậy?” Người phục vụ quầy rượu hỏi.
“Tôi sẽ gọi đội khám nghiệm hiện trường đến trong vòng năm phút nữa. Không ai được vào trong nữa.”
“Nhưng nếu tôi phải sử dụng thì sao?”
“Dùng cái dành cho khách hàng ấy. Anh sẽ được hỏi một vài câu để mô tả vè nó, thế nên cố nhớ kĩ lại mọi chi tiết dù là nhỏ nhất.”
Decker gọi điện cho Lancaster.
Chị nói, “Tôi điều đội tới ngay. Cuộc nói chuyện của anh với Bogart thế nào?”
“Không ngoài dự đoán.”
Anh tắt máy và bước ra ngoài.
Nhờ đến chỗ này anh đã giải quyết được hai khúc mắc.
Đầu tiên, nữ phục vụ đã chụp ảnh anh và Leopold ở quán rượu, sau đó gửi tấm hình kèm với các chi tiết chính trong câu chuyện đời anh đến Alexandra Jamison. Cô ta là người duy nhất có thể làm thế. Mục đích là để hủy hoại tiếng tăm của Decker, đến mức nhiều người biết đến anh hơn trước. Nhưng quan trọng hơn, chúng muốn anh bắt đầu chất vấn sự thật.
Điều thứ hai, cô ta đã rời khỏi quán rượu, đi lấy xe, sau đó đón Leopold khi hắn ta rời khỏi quán rượu. Chắc chắn đó phải là một chiếc xe lai hoặc là xe điện, bởi Decker không nghe thấy tiếng động cơ mà đáng lẽ ra anh sẽ nghe thấy.
Trong khung hình đang chạy trong đầu anh, chỉ có người đàn ông phục vụ quầy rượu rời đi ngày hôm đó trong khi Leopold ra khỏi quán. Nữ phục vụ không có mặt ở đó. Bởi vì cô ta đã chạy đi lấy xe ô tô.
 
☆☆☆
Một người đàn ông mặc đồ phụ nữ.
Hoặc có thể là một người phụ nữ đã từng là đàn ông mặc quần áo phụ nữ. Tình huống này giống trong bộ phim mà anh đã xem nhiều năm trước có James Garner và Julie Andrews đóng, Victor Victoria.
Và có thể nữ phục vụ bàn đó là đồng phạm của Sebastian Leopold.
Decker đã không nhìn xuống chân của người đó, để giờ đây anh ước mong tha thiết rằng mình đã làm thế. Nhưng nếu anh phải đoán thì cô ta chắc sẽ đi giày cỡ chín. Anh cố ước chừng chiều cao của cô ta trong trí nhớ của mình. Lúc đó anh đang ngồi. Có thể cô ta đã đi giày cao gót. Anh kéo từng khung hình kí ức.
Cao khoảng một mét bảy bảy đến một mét tám. Vóc người mảnh mai, vai xuôi, hông hẹp.
Kém xa với một người cao một mét tám bảy, nặng hơn chín mươi cân, bờ vai rộng rãi như Decker.
Thế nhưng không gì là không thể. Còn nước là còn tát. Bất cứ điều gì đều có khả năng xảy ra.
Anh đứng chờ đội khám nghiệm hiện trường đến. Họ vừa xuất hiện, anh đã chỉ cho họ ngay những chỗ anh muốn được khám xét kĩ. Lancaster ra lệnh họ phải làm theo đúng đến từng chữ trong lời yêu cầu cùa Decker. Một họa sĩ vẽ phác thảo ngồi xuống với ngườ phục vụ quầy rượu.
Sau đó Decker khởi hành đến nơi tiếp theo.
Bởi vì có một thứ vừa mới lướt qua đầu anh.
 
CHƯƠNG 35
 
LỚP HỌC NGHỀ.
Năm nay lớp học nghề chưa bao giờ được mở bởi giáo viên phụ trách đã bỏ việc trước khi năm học bắt đầu.
Decker tự hỏi liệu còn có lí do nào khác không - ngoài việc lối hành lang dẫn thẳng đến phòng kho chứ không phải lớp học - một lí do khiến kẻ xả súng muốn được ra vào chính nơi chốn này.
Anh bước qua lớp học nghề, tiến vào trong kho ở phía sau. Anh nhìn chồng rác rưởi của các dự án cũ bị bỏ lại, như là xương khủng long đang chờ được đào lên vì mục đích khảo cổ.
Chậc, Decker thật có ý định muốn đào.
Anh bắt đầu đào từ đỉnh, đào từng chồng một, đào tuần tự cho đến cái cuối cùng.
Anh không tìm thấy gì hữu ích. Thế là anh ngồi bệch xuống nền nhà và suy ngẫm. Chỗ này, anh kết luận, không phải là nơi lí tưởng. Kẻ xả súng sẽ cần nơi riêng tư hơn, giống vùng đệm chuyển tiếp giữa hai nơi.
Anh đi khỏi phòng lưu trữ và bước đến một căn phòng khác có bức tường giả làm bằng gỗ xốp nhẹ. Một chồng gỗ sắt phế thải ở đây đã được dịch chuyển sang một bên bởi kẻ xả súng.
Decker không phải đào bới quã kĩ đống rác.
Anh lôi một vật ra rồi giơ nó lên.
Một loại dụng cụ bằng da và dây thép, tích hợp thêm đệm mút. Hình dáng ấy ngay lập tức hiện ra quen thuộc với con mắt của một cầu thủ bóng bầu dục như Decker.
Đệm độn vai chơi bóng bầu dục.
Nhưng không chỉ là miếng đệm thông thường. Cấu trúc của miếng đệm này là kéo dài xuống tận thắt lưng, bao gồm cả phần lót hỗ trợ cho cánh tay, rộng hơn và dày hơn ở mọi điểm. Nó được may thành các khớp nối có thể bật mở ra khi anh cởi chốt áo, giống như một phiên bản ngắn hơn của dụng cụ tra tấn “Trinh Nữ Sắt” thời Trung cổ. Nó giống như một phần thân giả có thể đeo lên người, làm kích thước cơ thể lớn gấp đôi vậy.
Anh mở toàn bộ bộ đệm vai ra và thử mặc nó lên người. Vấn đề là, người anh đã to gần bằng kích thước vật này, nên nó không vừa vặn ngườ anh được. Nhưng nó sẽ vừa với người nào nhỏ bé bằng nửa người anh. Họ sẽ hóa khổng lồ trong chớp mắt. Anh thấy kinh ngạc trước độ linh hoạt và dễ uốn của dây thép, lớp da và lớp dây nối chúng lại với nhau. Nó phải linh hoạt đến mức này thì người mặc nó mới có thể vừa di chuyển vừa cầm súng bắn.
Từ một người nặng sáu mươi ba cân đã trở thành chín mươi cân có thừa. Từ gầy biến thành cơ thể phốt pháp của một cầu thủ phòng ngự.
Ngay bên cạnh đống phế thải, anh tìm thêm được hai miếng đệm lót cẳng chân, vừa tăng thêm cân nặng và chiều sâu cho dáng nười thấp bé hơn, hoàn toàn ăn nhập với phần đệm người thân trên.
Được rồi, thế là giải quyết được nút thắt về tầm vóc
Tiếp theo là đến câu hỏi về chiều cao.
Anh tiếp tục đào bới.
Và phát hiện ra một vật bị nhét chặt giữa hai cây đèn bàn cũ và một cái bàn được làm từ một phần gốc cây.
Anh giơ vật này lên, đo đạc bằng mắt thường. Đó là một chiếc giày ống cao cổ không có gót, mà chỉ là một lớp đế dày cộp dài bằng độ dài của bàn chân. Đi nó vào chân có thể tăng chiều cao của một người lên khoảng bảy tám phân. Anh kết luận rằng chiếc giày này hữu dụng hơn mọt đôi giày cao gót. Một đôi giày cao gót bảy phân hạn chế khả năng vận động nhanh nhẹn của một người đi rất nhiều. Còn kiểu giày này thì giống đi trên một cái bục cao mà thôi. Anh đặt chiếc giày ống đó bên cạnh giày mình. Nhỏ hơn rất nhiều. Khoảng cỡ giày 39-40.
Anh tìm thấy chiếc còn lại chỉ vài giây sau đó.
Anh đặt đôi giày lên trên sàn. Mặc dù anh không thể lèn bàn chân khổng lồ vào bên trong giày nhưng anh vẫn có thể giẫm đè lên chúng.
Từ một mét chín lăm cao lên ngay hai mét.
Tương tự chiều cao từ một mét bảy bảy hoặc mét tám lên thành một mét tám bảy.
Anh rất nghi ngờ việc gã xả súng có thể mang ngần này thiết bị cùng với mình vào đêm diễn ra vở kịch của trường, giấu chúng vào trong căn tin, sau đó lại mang nó trên hành lang. Thế nhưng hắn không cần phải làm vậy. Hắn có thể lén lút mang tất cả đống này vào trường lúc nào chẳng được và cứ để đấy thôi.
Anh tìm một túi đựng rác và chất tất cả đệm mút và giày vào trong.
Ổn rồi, đã xử lí được vấn đề kích thước và cách gã đó bước qua cánh cửa từ lối đi ngầm mà không cần dời dàn máy điều hòa. Vậy thì hắn ta phải là một nười cực kì gầy, có lẽ là người khẳng khiu như Lancaster, cô ấy đã không gặp trở ngại gì khi luồn qua cái lối nhỏ hẹp. Mảnh dẻ như nữ phục vụ; cô ta có thể làm thế.
Trí não Decker bỗng vọt ra hình ảnh chiếc máy quay nằm phía cửa sau của ngôi trường. Chỉ ghi hình lại từ thắt lưng lên. Kẻ xả súng không muốn có bất cứ khả năng nào đôi giày ống cao cổ đế bằng sẽ lọt vào ống kính.
Kẻ bắn súng sẽ không phải lo lắng về những nhân chứng nhìn xuống bàn chân hắn. Những người còn sống chắc chắn cũng sẽ không buồn để tâm đến đôi giày, nhất là khi có người đang nã súng vào họ.
Anh gọi cho Lancaster và tường thuật lại những gì anh phát hiện.
Sau vài câu chửi thề “chết tiệt”, chị nói sẽ có mặt ở đó trong mười phút nữa để thu thập bằng chứng trong túi rác.
Decker ngồi lên một chiếc bàn nằm giữa lớp học nghề và nhìn một lượt. Anh muốn sắp xếp tất cả những thứ này trong đầu mình, đặt những mảnh ghép lại với nhau, để xem còn bao nhiêu lỗ hổng nữa cần xử lí.
Tên xả súng thâm nhập vào trường học vào đêm diễn kịch, chui lủi vào kho lạnh trong căn tin. Hắn xuất hiện vào buổi sáng hôm sau, dùng lối đi ngầm trong căn tin để đi ra phía sau của trường học để không bị bắt gặp. Hắn sắp xếp hẹn gặp Debbie Watson trong lớp học nghề. Sau đó hắn đánh ngất cô bé, thay quần áo, mặc đồ ngụy trang, lên đạn, bước ra phía trước máy quay sau khi kéo lê Debbie ra khỏi lớp học nghề và đặt cô bé cạnh tủ đựng đồ của mình, tiếp đó rẽ vào góc và bắn chết cô bé. Sau đó hắn tiếp tục cuộc bắn giết. Nã súng từ sau trường ra trước trường. Sau đó hắn cao chạy xa bay bằng lối đi trong căn tin có thông với căn cứ quân sự McDonald, nơi anh đã phát hiện qua lời kể của Debbie Watson. Hắn giấu toàn bộ đống đồ cải trang vào trong đống rác phế thải, việc đó giải thích dấu giày thứ hai bước lên cầu thang. Sau đó, hắn tìm đường thoát bằng căn cứ quân sự sau khi đi vào hành lang ở đằng sau bức tường trong có vẻ chắc chắn mà Decker đã phát hiện.
Được rồi, nếu như đó là trình tự mọi sự kiện diễn ra thì Decker có một câu hỏi vô cùng quan trọng.
Tại sao lại chọn Mansfield? Tại sao lại xả súng ở ngôi trường này?
Anh có một giả thuyết.
Anh đã từng học ở ngôi trường này. Nhưng nếu việc này thực sự là thù hằn cá nhân đối với gã, thì ở đây cũng có những điều thực sự rất cá nhân với Amos Decker. Chúng thực sự có liên quan đến tên anh.
Anh trườn người xuống khỏi bàn và sải chân bước lên sảnh.
Trường học vẫn chưa được hoạt động trở lại, còn có tin nói rằng học sinh sẽ phải chuyển sang trường trung học khác trong vùng để học nốt ít nhất là học kì một còn lại. Sau đó, sau ki mùa nghỉ lễ qua đi, thành phố sẽ tìm phương án giải quyết những tháng học còn lại.
Anh cảm thấy giằng xé về việc học sinh vẫn còn quay trở lại đây.
Một phần trong anh muốn người ta phá hủy nơi này và biến nó thành một khu tưởng niệm những người đã khuất.
Một phần khác trong anh không muốn cho lũ khốn nạn đó cảm thấy thõa mãn khi đã ép chính quyền thành phố phải đưa ra một phương án quyết liệt thế. Như thế chẳng khác nào là đầu hàng lũ khủng bố.
Anh tiến vào phòng tập thể chất và rảo chân đến dãy tủ trưng bày lớn được gắn chặt vào tường. Ở đó có bày tất cả các loại cúp và các giải thưởng khác của trường trung học Mansfield trong nhiều năm qua. Chúng được sắp xếp theo trình tự thời gian, vậy nên thật dễ dàng để Decker tìm thứ anh đang tìm kiếm.
Chỉ có điều là thứ anh tìm không còn ở đó.
Mọi giải thưởng mà anh đã thắng được, mọi chiếc cúp có ghi tên anh - có khoảng chục cái như thế - đã biến mất. Anh kiểm tra đi kiểm tra lại. Chúng đều không có ở đó.
Anh dựa người vào tủ, một tay đặt lên che miệng.
Có người đã đến đây và xả súng cả trường Mansfield. Một tên giết người hàng loạt đã ra tay một cách tàn bạo bởi vì anh. Amos Decker.
Giống với động cơ giết gia đình anh.
Là vì mình. Amos Decker.
Đột nhiên anh cảm thấy hình như bị Dwayne LeCroix hạ gục lần nữa.
Chiếc điện thoại của anh rung lên. Anh cứ nghĩ là từ Lancaster.
Nhưng không. Là Bogart gọi.
“Decker, chúng tôi tìm thấy một thứ ở khu đỏ rác trong ngõ mà Nora Lafferty bị bắt. Anh nói đúng. Đó là một bộ cảnh phục.”
Decker cảm thấy còn một tin khác nữa sắp đến qua giọng nói mất bình tĩnh của người đàn ông kia.
“Còn gì nữa?”
“Bộ cảnh phục đó là hàng thật. Quần áo tiêu chuẩn cùa Phòng cảnh sát Burlington.”
“Và?”
“Và bộ đồng phục này có khâu tên trên đó.”
“Bộ nào cũng có. Tên của ai?”
Bằng một thứ linh cảm nào đó, Decker đã biết câu trả lời.
“Là tên của cậu,” Bogart đáp lại.
 
CHƯƠNG 36
 
Decker thở không ra hơi khi chạy đến bên ngoài tòa nhà. Anh vội vã lao qua cửa và nhập mật khẩu vào hộp khóa. Đó không phải là mật khẩu bảo mật tốt. Nó là ngày sinh của Molly.
Cánh cửa bật mở và anh bước qua. Tất cả các kho chứa đều có cửa riêng ở bên ngoài. Anh vội vã lao tới cánh cửa cuối cùng của dãy. Anh móc chìa khóa từ trong túi, nhưng rồi nhìn thấy khóa ở kho chứa của mình đã bị tháo đi.
Chúng đã cố tình làm như thế. Chúng muốn anh biết.
Anh nâng cánh cửa cuốn lên, súng đã cầm sẵn trong tay để đề phòng. Nhưng ở nơi đó trống không. Không có một sinh vật sống nào ở đó cả.
Trong này là những tài sản mà anh đã mang đi từ căn nhà cũ, bởi vì nơi mà anh chuyển đến sau đó không có chỗ để cất. Nhưng anh không thể vứt bỏ chúng. Vả lại ở trong đây cũng là những kí ức hữu hình của một phần đời mà anh từng được ở bên hai người thân thiết nhất trên đời: Cassie và Molly.
Tất cả chúng được đóng thùng gọn gàng, dán nhãn riêng và đặt trên những cái giá kim loại chắc chắn. Chi phí duy trì nơi này không hẳn nằm trong khả năng của anh, nhưng anh chưa từng bỏ lỡ một kì thanh toán nào. Dù phải chịu đói chịu rét, anh vẫn trả đủ để giữ cho nơi này, những kí ức này, được nguyên vẹn. Nơi này là hình ảnh phản chiếu bộ não của anh - chậc kín đồ đạc, nhưng được sắp xếp ngăn nắp, tất cả từng thứ đều có thể tìm lại được mà chỉ phải tốn rất ít sức lực.
Anh cần kiểm tra một thùng trong số này. Chỉ duy nhất một thùng.
Nó nằm ở phía sau, bên trái, giá thứ hai, thùng thứ tư bên tay phải.
Anh đi tới chỗ đó và dừng lại. Cái thùng vẫn ở đó nhưng nắp đã được mở. Anh nhấc nó ra khỏi giá và đặt nó xuống sàn nhà bê tông. Trong thùng là những vật dụng còn lại từ hồi còm làm việc trong lực lượng thực thi pháp luật. Và một phần trong đó là bộ cảnh phục cũ mà anh đã giữ lại từ hồi chuyển sang làm thanh tra. Anh giữ lại bởi vì có nhiều lúc khi đến trụ sở phòng, hội thanh tra mặc dân sự vẫn phải khoác cảnh phục lên người. Khi anh rời ngành, đúng ra anh phải nộp lại cảnh phục, nhưng nhiều khả năng là sẽ chẳng có ai dùng lại đến nó cả. Ở Phòng cảnh sát Burligton, chẳng có ai có cỡ người to gần bằng anh hết.
Bộ cảnh phục không còn nằm trong thùng đồ. Có kẻ nào đó đã dùng nó để đánh lừa Nora Lafferty, để cô ấy mất cảnh giác trong một vài giây quý giá, vài giây cuối cùng chết người, trong cái con ngõ đó.
Chúng biết mình sống ở đâu. Chúng biết mình sở hữu cái kho chứa này.
Chúng đã dùng nó cho những điều tội lỗi.
Trong đầu, anh nhớ lại lần cuối cùng từng tới đây.
Hai mươi bảy ngày trước, 1:35 chiều. Là chúng đã theo dõi anh vào lúc đó chăng? Hay là từ trước cả lần đó.
Rồi anh vội vã chạy tới cửa, ở đó có camera an ninh.
Anh không nghĩ có khả năng có manh mối ở đó, và hóa ra anh đã nghĩ đúng.
Ống kính máy quay đã bị phun sơn đen. Dễ thấy là camera này không có người giám sát, bởi vì họ không hề phát hiện ra nó không còn ghi lại được gì trong ít nhất là gần một tháng.
Anh gọi cho Bogart.
Mười lăm phút sau, một vài chiếc SUV đậu lại trước cổng chính. Decker mở cổng cho họ và dẫn cả đội về chỗ kho chứa của mình.
Vừa đi anh vừa giải thích cho họ. Khi tới kho chứa, đội của Bogart bắt tay vào làm việc, tìm kiếm dấu vân tay hoặc các dấu vết khác hoặc bất cứ thứ gì bị bỏ lại.
Bogart và Decker đứng bên cạnh nhau và quan sát.
“Tại sao anh không nộp lại cảnh phục khi rời lực lượng?” người đặc vụ FBI hỏi.
Decker biết rõ cuộc trò chuyện này sẽ diễn ra như thế nào, nhưng anh không thể làm gì khác được. Và ở một mức độ nào đó, Bogart là người đúng.
”Đáng ra tôi nên làm thế,” Decker thừa nhận. “Nhưng tôi đã không làm.”
Bogart từ tốn gật đầu.
Decker không dám chắc liệu người này có nổi giận mất kiểm soát lần nữa hay không, nhưng anh đoán có lẽ là không, khi mà có những người khác trong đội của anh ta ở đây.
“Ừm,” Bogart nói, “Dù sao chúng cũng phải lấy được cảnh phục thật thì mới đánh lừa được Lafferty. Những kẻ này có lẽ hiểu điều đó.”
Lời nói này càng làm Decker cảm thấy có lỗi hơn, và đây rõ ràng là mục đích của người nói. Một đòn choáng váng mà không cần vung ra một nắm tay bằng xương bằng thịt.
“Các anh thu được bộ cảnh phục chưa?” Decker hỏi.
“Trong túi đựng bằng chứng trên xe.”
“Tôi xem được không?”
Họ lấy túi đựng bằng chứng ra.
Bogart nói, “Bộ cảnh phục và nón đã được kiểm tra vết tích. Khô g thu được kết quả gì hữu ích.”
Nhưng Decker không kiểm tra cái đó. Anh đang tìm kiếm ở gần lai quần. Cách phía dưới cùng của ống quần khoảng mười lăm phân, anh tìm được thứ đang cần tìm.
Anh đưa nó cho Bogart.
“Lỗ sao?” vị đặc vụ FBI nói.
“Từ kim. Kim cố định vải.”
“Kim cố định vải sao?”
“Tôi cao một mét chín lăm và chân đặc biệt dài,” Decker giải thích. “Kẻ mặc chiếc quần này đã phải xắn ống quần lên chừng mười lăm phân. Nếu không Lafferty sẽ nhận ra bộ cảnh phục này không phải của hắn. Hồi đó tôi gầy hơn bây giờ, nhưng tôi dám chắc gã này đã phải nịt eo rất chặt và có thể phải ghim lại ở phía sau. Áo cũng vậy.”
Anh kiểm tra chiếc áo và cũng tìm thấy hai lỗ kim trên vải ở gần lưng áo phía sạ. “Ở đây và ở đây. Và gã này có lẽ đã cuộn cổ tay áo lên rồi đóng khuy lại để giấu bớt độ dài. Và dải đệm trên chiếc nón giúp chiếc nón rộng vừa hơn với cái đầu có kích thước tầm trung.”
“Là một gã nhỏ con hơn nhiều sao?”
“Khoảng một mét tám. Và gầy.”
“Lancaster kể với tôi về những thứ anh tìm được ở trường học. Bốt tăng chiều cao và một số đồ độn để phần thân trên của kẻ nổ súng có vẻ to lớn hơn.”
“Giống đệm vai và đệm bắp đùi cho vận động viên bóng bầu dục. Giúp một gã cao một mét tám và gày gò trông to lớn hơn rất nhiều.”
“Chúng tôi khôg tìm được dấu vết gì từ cái email cả. Địa chỉ IP không tồn tại,” Bogart nói.
“Không có gì bất ngờ.”
Decker cúi nhìn cái tên trước ngực bộ cảnh phục.
Decker.
Một người đàn ông trong bộ đồ màu xanh. Con người anh của trước đây.
Rồi anh nhìn thấy thêm một thứ gì đó. Nó rất mờ, nhưng anh biết nó còn mới.
“Nhìn phù hiệu kìa,” anh nói.
Bogart làm theo. “Đó có phải là một…?”
“Đó là một chữ X. Có kẻ nào đó đã đánh chữ X lên tấm phù hiệu.”
“Nó có thể đại diện cho điều gì nhỉ? Để báo hiệu đó là kẻ sát hại Lafferty sao?”
“Tôi không biết.”
Anh chuyển bộ cảnh phục trả cho Bogart. Người đặc vụ FBI nhận lấy nó và rồi sau đó hướng ánh mắt vào các hoạt động đang diễn ra bên trong kho chứa.
“Tại sao anh giữ lại tất cả những thứ này?”
Decker ngước mắt lên và nói chậm rãi, chủ yếu là tự nói với mình chứ không hẳn là nói với Bogart, “Đó là tất cả những gì mà tôi còn lại.”
Bogart liếc nhìn anh, nét mặt anh ta hiện lên sự đồng cảm.
Chắc hẳn Decker đã nhận ra điều này, bởi vì anh nói, “Không việc gì phải thế đâu. Lựa chọn là do mình. Và mình phải sống cùng những lựa chọn đó.”
“Anh đâu có lựa chọn để gia đình mình bị sát hại đâu Decker?”
“Tôi nghĩ kẻ làm việc đó tin rằng lựa chọn đó hoàn toàn là do tôi.”
“Như thế thì thực sự quá bệnh hoạn.”
“Phải, hắn chính là như thế.”
 
CHƯƠNG37
 
Khi Decker quay trở về đến Residence Inn sau khi việc lục soát ở kho chứa không cho kết quả gì, anh phát hiện ra đã có người ghé thăm anh và để lại những biểu tượng với ngụ ý rõ ràng.
Một chiếc rìu nhỏ găm vào cánh cửa gỗ. Những lời đay nghiến được viết bằng sơn phun lên cửa sổ và tường gạch phái trước. Những búp bê em bé mất đầu vứt trên sàn bê tông. Các bản sao bài viết của Alex Jamison bị rải dọc hành lang hoặc không cũng được dán lên tường, với những lời lẽ độc địa viết loằng ngoằn trên đó. Bức ảnh chụp của Decker bị tô vẽ thêm để trông anh giống như một kẻ xấu xa.
Bên dưới bức ảnh đó có viết “Quân giết trẻ con.”
Decker rút chiếc rìu ra, đá những đồ khác sang bên, mở cửa và đi vào, khóa chặt cửa lại.
Anh thả chiếc rìu lên cái tủ có ngăn rồi đi tới giường và nằm xuống. Anh nhắm mắt lại và cố gắng nghĩ xem anh đã bỏ sót cái gì. Bởi vì mọi thứ đều ở trước mắt. Anh biết chắc chắn là vậy. Lần thứ một trăm anh bắt đầu dò lại tất cả những chi tiết đã biết của vụ án theo trình tự thời gian.
Tiếng gõ của cắt đứt mạch suy nghĩ của anh. Anh đứng dậy một cách khó khăn, đi sang phía bên kia căn phòng, và nói, “Ai đấy?”
“Một người nợ anh lời xin lỗi.”
Anh nhận ra giọng nói và mở cửa.
Alex Jamison đang đứng ở đó, trong tay cầm một trong số những con búp bê mất đầu.
“Tôi thực lòng xin lỗi,” cô ta nói, và vẻ mặt của cô ta có vẻ chân thành.
“Cô phải xin lỗi về chuyện gì?”
“Chết tiệt, Decker, anh đang làm tôi càng cảm thấy có lỗi nhiều hơn đấy.”
Cô ta mặc bộ đồ đen từ đầu đến chân, quần tất, áo len dài che qua mông, bốt cổ thấp với đế gót vuông và một chiếc áo khoác vải jean dáng ngắn. Một chiếc túi to đeo lủng lẳng một bên vai.
“Anh có thời gian uống một tách cà phê chứ?” cô ta hỏi.
“Tại sao?”
“Tôi không tới đây để phỏng vấn anh.”
“Rồi sao?”
“Brimmer kể cho tôi những phần việc quan trọng trong vụ này là do anh làm cả. Tìm ra tất cả các manh mối, mặc dù cô ấy không kể cho tôi nghe những manh mối đó là gì.”
“Vậy là cô biết sửa đổi đấy.”
“Uống chút cà phê nhé? Có mấy chuyện này tôi muốn nói với anh. Tôi sẽ mời. Làm ơn đi, quan trọng lắm.”
Anh đóng cánh cửa lại phía sau và họ cùng đi xuống cầu thang, qua vài khu nhà, tới một quán cà phê nằm kẹp trong một góc nhỏ giữa hai cửa hàng lớn, một trong số đó đã đóng cửa, được niêm phong kĩ cành, cửa hàng còn lại thì cũng sắp đến ngày giống thế.
“Cả thành phố này sắp đến ngày tàn rồi,” Jamison nhận xét khi họ đi qua cái cửa hàng đã đóng cứa. “Chẳng mấy chốc tôi sẽ chẳng còn gì để viết ngoài các vụ phá sản và tịch thu tài sản thế chấp.”
Họ nhận lấy cà phê và ngồi xuống một cái bàn nhỏ ở gần phía sau. Decker nhìn theo khi cô ta xúc đường bỏ vào tách của mình.
“Cô muốn nói chuyện gì?” anh hỏi cộc lốc.
“Tôi rất xin lỗi về bài viết, anh Decker ạ. Nhìn lại mà nói, anh không đáng phải chịu việc này. Tôi không nghĩ anh có liên quan một tí gì đến những việc đã xảy ra với gia đình anh. Như anh đã nói, tôi nghĩ có một thằng thần kinh nào đó đang tìm cách trước tiên là quấy rối anh và sau đó là triệt hạ anh. Và hắn đã sử dụng tôi để làm việc đó, và tôi đã sa chân vào bẫy chỉ bởi vì làm như thế tôi sẽ có chuyện để viết bài. Nhưng việc đó khiến tôi cứ tự hỏi vì sao. Ý tôi là, kẻ nào lại hận thù anh đến như thế mà anh thì không hay biết gì về chuyện đó nhỉ?”
Decker nhấm cà phê, mắt nhìn thẳng vào cô ta nhưng không nói gì.
Cô ta nói tiếp, “Và tôi dám chắc anh cũng đang vắt óc cố suy nghĩ chuyện tương tự.”
“Đúng là thế.”
“Đó chắc hẳn phải là một chuyện liên quan tới cá nhân,” cô ta nói.
“Các vụ giết người gần như luôn luôn là như thế.”
“Không, ý tôi là còn hơn thế. Brimmer kể với tôi kẻ sát nhân có để lại một vài lời trao đổi. Nhắc lại, cô ấy không kể cho tôi đó là gì, nhưng có vẻ như những lời nhắn đó nhằm thẳng vào anh.”
Decker không nói gì, nhưng vẻ mặt của anh rõ ràng đang nói với cô ta là anh cảm thaays hứng thú.
“Thế nên tôi đã tìm hiểu một chút.”
“Tìm gì?”
“Tìm về anh.”
“Như thế nào?”
“Tôi là một nhà báo. Chúng tôi có cách riêng của mình.”
“Và cô đã tìm được gì?”
“Anh là dân Burlington. Ngôi sao thể thao sáng giá nhất mà thành phố từng có. Một người trẻ rất thành đạt.”
Lời nhận xét này khiến Decker nghĩ tới cái giá để cúp ở trường học. “Kẻ xả súng đã lấy đi tất cả những chiếc cúp có tên của tôi từ trên giá lưu niệm ở trường Mansfield.”
Cô ta ngả người ra sau, nhìn có vẻ hài lòng, nhưng cũng khó hiểu trước điều này. “Tôi tự hỏi hắn đã làm việc đó từ khi nào. Rõ ràng không phải là vào ngày nổ ra vụ nổ súng. Hắn sẽ không lôi mấy thứ đồ nặng nề đó đi loanh quanh đâu.”
“Sẽ có cách,” Decker nói. “Nhưng hiện tại tôi chưa hiểu được là bằng cách nào. Có thể một ngày nào đó cô có thể viết lên thành cả một câu chuyện trọn vẹn.”
Cô ta nói, “Vậy là xuất hiện một câu hỏi, liệu đó có phải là một người từ Burlington vẫn luôn thù ghét anh suốt những năm qua không? Một ngôi sao bóng đá bầu dục đối nghịch nới một kẻ nào đó bị làm nền phía sau, một kẻ ganh tị với thành công của anh? Chi tiết hắn lấy hết những chiếc cúp có thể chỉ ra rằng đó là một người bản địa. Một kẻ từng học cùng trường Mansfield với anh chẳng hạn? Có thể hắn đã nghĩ anh đã rời đi mãi mãi khi anh học đại học, và rồi sau đó anh quay trở về đây và trở thành cảnh sát rồi làm được tất cả những điều vĩ đại. Và suốt những năm qua mối căm ghét cứ tích tụ dần, bưng mủ dần cho đến khi gã ta bùng nổ.”
“Nhiều gã,” Decker nói.
“Nhiều gã sao? Ý anh là thủ phạm không phải chỉ có một?”
“Cô không được viết chi tiết này lên báo.” Anh rướn người về phía trước. “Thực sự đấy, cô không thể viết chuyện này, Alexandra ạ. Nếu hắn đọc được, hắn sẽ cho rằng cô biết không chỉ tới đó mà còn biết nhiều hơn thế. Nhiều đến mức có thể gây nguy hiểm cho hắn. Và như thế sẽ nguy hiểm cho cô.”
“Tôi hiểu chuyện đó, anh Decker ạ. Anh đã từng dọa tôi đến nơi đến chốn. Tôi chẳng đi đâu mà không mang theo bình xịt hơi cay và điện thoại luôn luôn đặt quay số nhanh tới 911.”
“Nhưng cô đã quay trở lại. Cô đang có mặt ở đây, cố gắng giúp tôi tìm hiểu chuyện này. Có thể chúng đang theo dõi chúng ta. Tại sao phải mạo hiểm như thế chứ?”
“Tôi không bước chân vào nghề báo vì mong muốn được an toàn. Tôi làm nghề này bởi vì tôi muốn được mạo hiểm. Anh và tôi rất giống nhau ở điểm này.”
“Giống hế nào?”
“Tôi nghĩ rằng công việc duy nhất mạo hiểm hơn chơi bóng bầu dục chuyên nghiệp và cảnh sát là ra chiến trường. Thế nên anh là một người chấp nhận mạo hiểm. Và tôi cũng thế. Trươc khi rủi ro xảy ra, nếu chúng ta có thể làm được một vài điều tốt lành thì tại sao lại không làm? Được rồi, có bất cứ một kẻ nào là người ở đây mà anh nhớ từng ghét anh không?”
“Ngày ấy tôi giỏi thể thao, nhưng tôi không còn giỏi thêm gì khác nữa. Và tôi không phải kẻ đáng ghét. Tôi rất vui vẻ. Tôi là một kẻ ngố. Tôi chọc cười mọi người. Tôi cũng mắc sai sót. Nhìn chung tôi không phải là một Quý ngài hoàn hảo. Ngoài những gì tôi làm được ngoài sân thi đấu, tôi không có gì đặc biệt đến thế.”
“Thật khó để tưởng tượng ra anh là một kẻ ngốc như thế nào.”
“Con người ai rồi cũng thay đổi mà.”
“Anh thực sự đã thay đổi, phải thế không?”
Decker nhấp thêm một ngụm cà phê nữa. “Con người ai cũng phải thay đổi. Tôi không phải là ngoại lệ.”
“Con người ai cũng cũng sẽ đổi khác. Nhưng tôi nghĩ anh thay đổi nhiều hơn phần đông mọi người.”
“Chính xác thì ý cô là sao?”
“Cú va chạm ấy. Tôi đã xem trên Youtube.”
“Hay lắm.”
“Xem nó thấy thật khủng khiếp. Tôi không hình dung ra nổi sẽ như thế nào khi là người thực sự tiếp nhận nó.”
“Tôi không còn nhớ quá rõ về nó nữa. Sau này họ kể là tôi hoảng đến độ đùn ra quần. Va chạm mạnh cỡ đó làm áp đảo hệ thần kinh trung ương. Trước mùa giải, sau trận đấu, người phụ trách trang phục thi đấu sẽ vào thu dọn hết đống quần đệm dính phân ở trong để đảm bảo không ai trông thấy, và fan hâm mộ không bao giờ được biết. Cùng với đó là lau sạch máu me trong nón bảo hộ và đồng phục thi đấu. Và họ không cho phóng viên vào phòng huấn luyện sau giờ đấu để họ không nghe thấy những tiếng gào thét. Và vận động viên được cho hít amoniac hoặc uống thuốc giảm đau để họ có thể nói chuyện trước truyền thông và giấu đi sự thật là một nửa bộ não của họ đã bị rơi mất.”
“Tôi không khoái bóng bầu dục cho lắm. Cứ như những võ sĩ giác đấu của thế kỉ hai mươi mốt, vật lộ nhau để mua vui trong lúc chúng ta uống bia, ăn hotdog và reo hò khi có người bị đánh gục. Ta cứ ngỡ loài người đã qua cái thời đó lâu rồi chứ. Xem chừng tiền bạc kiếm ra từ trò đó là quá nhiều đi.”
“Thấy chưa, thật sự thì con người đâu có thay đổi nhiều tới vậy.”
“Sau cú va chạm, anh đã mất tích suốt một thời gian dài. Bị loại khỏi đội, rơi vào quên lãng. Tôi không tìm được thông tin gì nữa về anh. Và rồi sau đó anh xuất hiện trở lại ở đây và gia nhập học viện cảnh sát. Một người quen của tôi đã lấy điểm thi của anh cho tôi.”
“Cô có nhiều người quen quá nhỉ?”
“Một phóng viên giỏi cần có nhiều nguồn trợ giúp nhất có thể. Còn chuyện đạt điểm tối đa tất cả các môn.”
“Một chi tiết mà đội trưởng cũ của tôi cũng đã nói với tôi.”
“Vậy là đội trưởng Miller cũng đã điều tra chuyện này à?”
“Tại sao mọi sự lại tập trung vào tôi nhỉ?”
“Bởi vì tôi cho rằng để tìm được gã, hoặc những gã này, chúng ta cần đào ngược trở lại, từ động cơ tới nguồn gốc. Anh là động cơ. Thế nên tôi cần phải hiểu anh mới tìm được chúng.” Cô ta dừng lại và gõ cái thìa lên tách cà phê. “Vậy là anh đã ở đâu trong khoảng thờ gian đó?”
“Đó là việc riêng của tôi.”
“Anh không muốn tóm những tên sát nhân này sao?”
“Tôi không có ý đó.”
“Nhưng anh biết là tôi đúng. Anh là chìa khóa cho những gì đang diễn ra.” Cô ta rướn người ra trước và chạm lên bàn tay to chắc của anh. “Tôi muốn giúp sức, anh Decker ạ.”
“Thứ cô muốn là một giải Putlizer.”
“Tôi nói anh nghe. Anh để tôi giúp sức và tôi sẽ không viết bất cứ một câu chuyện nào nếu không được anh cho phép. Anh sẽ là người hiệu đính và chấp thuận thông qua toàn bộ câu chuyện. Hoặc nếu anh nói không, thì câu chuyện sẽ không bao giờ được công bố.”
“Cô bằng lòng với điều đó?”
“Vâng.”
“Tại sao?”
“Andy Jackson. Anh biết thầy ấy chứ?”
“Thầy giáo Anh văn ở trường Mansfield. Nạn nhân cuối cùng còn sống sót từ tay kẻ nổ súng. Anh ấy đã cố ngăn cản hắn.”
“Thầy ấy vừa qua đời một giờ trước. Thầy Andy không phải chỉ dạy ở trường Mansfield. Thầy ấy từng là giáo sư ở trường Purdue, là trường mà tôi từng học. Thầy là lí do mà tôi trở thành phóng viên. Thầy quay về đây để chăm sóc cho mẹ già đang ốm. Thầy ấy là người như thế.”
“Trước đây cô chưa từng kể chuyện này.”
“Bởi vì đó là việc riêng của tôi. Nhưng giờ tôi đang kể đây.” Cô ta đưa một tay ra. “Và đó là thỏa thuận của tôi. Sẽ không có một bài viết nào nếu anh nói không. Nhưng đổi lại, tôi sẽ giúp anh lần ra dấu vết của những thằng khốn kiếp này. Anh thấy sao?”
Decker chầm chậm đưa tay ra và họ bắt tay nhau.
Anh đứng dậy. “Từ một kho chứa.”
 
CHƯƠNG 38
 
Đã tối muộn và họ đang ngồi khoanh chân trên sàn nhà bê tông của kho chứa, lục tìm các thùng chứa đồ. Vài phút trước Jamison mới quay về cùng bữa tối là món Trung Quốc mang đi. Cô đã bày khăn ăn, đĩa giấy, muỗng nhựa và lấy đầy đồ ăn vào dĩa cho Decker trước khi lấy đồ ăn cho mình.
Anh nhìn cô với một chút ngạc nhiên.
Cô giải thích, “Tôi không phải người giỏi chăm lo gia đình, nhưng tôi là chị cả trong gia đình bảy chị em. Và tôi đã quen với việc đóng vai phụ huynh trong mỗi bữa ăn.”
Anh gật đầu và cắn một miếng nem cuộn còn Jamison thì xúc một ít súp trứng đưa vào miệng. Cô còn mua cho mỗi người một chai bia. Decker uống một hơi rồi đặt chai bia của mình xuống.
Jamison nhìn quanh cái kho chứa. “Thực sự là anh lưu giữ tất cả mọi thứ, phải vậy không?”
“Những thứ này rất quan trọng đối với tôi.”
“Tôi không thấy có bất kì thứ gì ở đây là từ những ngày anh chơi bóng.”
Anh nhún vai và cắm cái nĩa vào một con tôm. “Chúng không quan trọng đối với tôi.”
Cô chậm rãi gật đầu. “Nhưng đối với những gì đã xảy ra với gia đình anh, chẳng phải lưu giữ lại những thứ này sẽ đau đớn lắm sao? Quần áo của con gái anh này? Sách dạy nấu ăn của vợ anh này? Các bức thư? Những tấm ảnh?”
“Điều duy nhất đau đớn là không có họ ở đây.” Anh nhìn cô. “Hôn nhân của cô kéo dài bao lâu?”
“Quá lâu.”
Anh nhìn cô vẻ chờ đợi.
“Hai năm và ba tháng,” cuối cùng cô nói. “Thực ra, có lẽ là cũng không đủ để gọi là quá lâu.”
“Đã có chuyện gì?”
“Mọi chuyện không như ý. Anh ta không phải là người như tôi từng hằng tưởng. Và tôi đoán tôi cũng không phải là người phụ nữ giống như anh ta từng hằng tưởng vậy.”
“Có con không?”
“Tạ ơn Chúa là không. Việc đó sẽ khiến chuyện giữa hai người sẽ khó giải quyết hơn.”
“Phải, đúng thế. Con cái khiến mọi thứ tốt hơn. Và cũng khó khăn hơn.”
Cô ngả lưng ra sau, dựa vào một cái thùng carton, co hai đầu gối lên, và nhấm nháp chai bia. Cô gõ gõ tay lên đầu. Vậy là cú va chạm bằng một cách nào đó đã làm thay đổi bộ óc của anh à?”
Decker gật đầu và uống một hớp bia.
“Tôi có nhìn thấy một vài báo cáo từ viện nghiên cứu đó trong cái thùng ở đằng kia. Cảm giác kì lắm nhỉ?”
Anh đặt chai bia xuống và xoa xoa bộ râu. “Ý cô là tôi có cảm thấy mình giống một con chuột bạch không ấy hả? Có đấy.”
“Những người khác đã mắc hội chứng của họ như thế nào?”
“Chính thức mà nói thì không ai kể cho chúng tôi nghe cả. Tôi đoán đó là quyền riêng tư của các bệnh nhân. Nhưng lúc nào chẳng có người này người kia đồn thổi cho nhau. Hầu hết đều là bẩm sinh như thế. Một số ít, giống như tôi, là do tổn thương não. Tôi nghĩ một số người ở viện nghiên cứu biết về tôi bởi vì cú va chạm đó được chiếu trên tivi.”
“Có phải tất cả mọi người đều tương tự, có…?”
“Khả năng như nhau á? Phần cốt lõi thì như nhau. Gần như có thể ghi nhớ toàn bộ một số thứ nhất định. Ngoài phần đó ra, mỗi người lại khác nhạ đôi chút. Một người có thể chơi bất kì nhạc cụ nào mà gần như không cần ai chỉ dẫn. Người khác lại có thể nhẩm chia bất kì một số nguyên tố bất luận số lớn đến đâu. Có một người phụ nữ này được công nhận là cao thủ ghi nhớ khi cô ấy lên bảy.”
“Cao thủ ghi nhớ sao? Cô ấy đã phải làm gì?”
“Ba nhiệm vụ. Nhiệm vụ thứ nhất là ghi nhớ một nghìn con số ngẫu nhiên trong vòng một giờ. Tiếp đó, cô ấy phải ghi nhớ trật tự của mười bộ bài trong một giờ. Và cuối cùng là ghi nhớ trật tự của một bộ bài trong thời gian dưới hai phút.”
“Ồ, nghe là thấy dễ èo rồi,” Jamison nói với giọng châm biếm.
“Có khoảng một trăm năm mươi người trên thế giới có thể thực hiện thành công cả ba nhiệm vụ.”
“Không ngờ lại có nhiều thế cơ đấy”
“Không hề nhiều, trong tổng cộng bảy tỉ người.”
“Anh có làm được không?”
“Tôi chưa từng thử. Chẳng hiểu làm thế có ý nghĩa gì.”
Cả hai cùng chìm vào im lặng.
Jamison nhìn Decker chằm chằm.
“Kể cả động cơ của gã này là anh, vấn đề không phải là do anh, anh nhận ra điều đó chứ?”
“Tính đến giờ mười ba người đã bị sát hại bởi một kẻ nào đó có một vấn đề gì đó với tôi. Chắc chắn chuyện này là do tôi.”
“Anh không phải là người nổ súng. Là một kẻ khác đã làm. Và bất luận hắn có nghĩ là do anh làm đi nữa, điều đó cũng chẳng thể biện minh cho những gì hắn đã gây ra.”
“Hãy nói điều đó với người nhà của các nạn nhân ấy.”
“Anh chính là người nhà của nạn nhân đấy.”
Decker đẩy dĩa thức ăn của mình sang bên và lật đật tìm cách đứng dậy. Đầu gối và lưng của anh đau quá, và anh cần phải đi tiểu tiện.
Anh đi ra ngoài và tìm đến góc khuất, kéo khóa quần và xả nỗi buồn.
Anh ngạc nhiên khi Jamison cất tiếng. Dường như cô đã bám theo anh.
“Anh không cần phải tự cảm thấy mình có tội đâu. Đó là điều mà hắn muốn. Anh biết điều đó. Toàn bộ mục đích là để như thế. Hắn gieo rắc được vào đầu anh, hắn thắng, một mũi tên trúng hai đích. Thứ nhất, hắn đấu trí thắng anh, thế là hắn có được sự thỏa mãn cho bản thân. Và nếu anh suy nghĩ không thông suốt, anh sẽ không còn cố truy đuổi theo hắn. Hắn thắng cả đôi. Hắn đang mong chờ như thế.”
Decker kéo khóa quần lên và quay lại với cô. “Tôi biết điều đó.”
“Vậy nên đừng để hắn đắc ý.”
“Nói dễ hơn làm.”
“Có lẽ với một người có trí óc thông thường thì đúng. Anh thì không phải người như thế.”
Anh tiến lên trước mặt cô, dồn cô áp lưng vào bức tường của kho chứa. “Cô nghĩ rằng có một bộ óc kì quái nghĩa là tôi không có cảm xúc sao? Nghĩa là tôi không có bất cứ cảm nhận gì sao? Đó có phải là điều cô nghĩ? Bởi vì cô đã nghĩ sai rồi.”
“Đó không phải những gì tôi nghĩ. Tôi nghĩ rằng cái kẻ kia, hắn không cảm nhận thấy bất cứ điều gì. Hắn bất bình thường theo cách đó. Anh thì không.”
“Thế thì cô đang định nói cái quái gì đây?”
“Anh có thể cảm nhận bất cứ điều gì anh muốn, Decker ạ. Ngay lúc này đây, anh đang giận dữ đến không thể tả nổi. Tôi hiểu điều đó. Anh nghĩ rằng cuộc tàn sát bắt đầu và kết thúc ngay trước thềm cửa nhà anh. Có lẽ anh muốn đấm ai đó hoặc thứ gì đó. Vung cú đấm xuyên qua bức tường đó. Được thôi, nhưng đừng để hắn quấy nhiễu phần tâm trí mà anh sẽ cần để một ngày nào đó tra tay thằng chó chết này vào còng và rồi sau đó, dõi theo hắn đón nhận hơi thở cuối cùng của cuộc đời hắn trong phòng xử án. Anh có muốn ghi điểm trong trận đấu này không? Đó chính là cách mà anh giành chiến thắng. Kẻ thắng được sống, kẻ thua phải nhận mũi tiêm.”
Decker lùi lại một bước. Cô vẫn không nhúc nhích.
Anh đưa mắt nhìn sang hướng khác, rồi cúi nhìn mặt đường. Rồi anh bước trở lại vào trong kho chứa và tiếp tục lục tìm.
 
☆☆☆
Hai giờ sau, họ đã tìm kiếm trong từng thùng đồ một và hầu như chẳng thấy được gì.
Decker ngả lưng, dựa vào một chiếc giá để đồ. “Tôi đã quay lại từ ngày đầu tiên khoác bộ cảnh phục lên người để nhớ xem minh có khả năng đã gây bất mãn cho kẻ nào để dẫn đến sự việc như thế này. Không có ai hết. Tôi không hề khiến bất kì ai bực bội ở cửa hàng 7-Eleven đó cả. Tôi tóm cổ những kẻ xấu, chắc chắn rồi, nhưng tôi không làm gì để gây cho bất kì ai một mối hận thù cá nhân kiểu như thết này hết.”
Anh xoa mặt và nhắm chặt hai mắt.
Jamison xoa cổ một cái cho bớt mỏi rồi nhìn sang anh, đột nhiên trong vẻ mặt tỏ ra khó hiểu.
“Tại sao anh chỉ xét lại từ lúc anh khoác lên bộ cảnh phục nhỉ?”
Anh mở mắt. “Tôi cũng đã xét qua một lượt bất kì ai ở trường Mansfield có thể có cái việc gì đó bất mãn với tôi. Nhưng không có gì ở đó cả, Jamison, không có gì.”
“Vậy là anh đã nhớ hết khoảng thời gian lớn lên ở Burlington. Và nhớ lại khoảng thời gian sau khi quay trở về Burlington. Thế còn giữa khoảng đó thì sao?”
“Sao cơ, cô nghĩ kẻ đã hạ gục tôi trong cú va chạm đó đứng đằng sau chuyện này sao? Sau khi đầu gối và chân của cậu ta không còn dùng được nữa, cậu ta bị loại khỏi đội, lâm cảnh túng quẫn, chuyển sang buôn thuốc phiện, và hiện tại đang chịu sự quản thúc trong hệ thống nhà tù bang Louisiana rồi. Và tôi chưa bao giờ là một cầu thủ giỏi đến mức khiến cho ai đó đố kị với mình cả ở hồi học đại học lẫn khi chơi bóng chuyên nghiệp.”
Jamison ngáp ngủ. “Vậy nếu Sebastian Leopold có liên quan, tại sao hắn lại nói với cảnh sát là anh đã khiến hắn bất mãn ở cửa hàng 7-Eleven, trong khi anh không hề làm vậy?”
“Ý cô là tại sao một kẻ giết người lại nói dối á?”
“Ý tôi là, tại sao anh lại không biết hắn nếu như anh làm một việc gì đó rất tệ đến mức hắn gây ra tất cà những chuyện này để trả thù? Và cái hành động điên rồ của hắn có thể chỉ là như thế thôi, một hành động. Nhưng ấn tượng của tôi về gã này là hắn rất thật thà. Gia đình của anh, trường cấp ba Mansfield. Những lời nhắn trao đổi với anh, anh có thể nói tôi nghe là về chuyện gì không?”
“Một trong số đó được viết lên bức tường căn nhà cũ của tôi.”
“Nó viết gì?”
Anh lặp lại lời nhắn đó cho cô nghe.
“Những lời nhắn còn lại thì sao?”
Anh kể cho cô nghe về mật mã ẩn trong bản phổ nhạc trên bức tường nhà Debbie Watson. Và rồi sau đó là những dòng chữ được khắc lên người Lafferty.
“Chúa ơi,” cô thốt lên. “Vậy là hắn gọi anh là ‘người anh em’ trong mỗi lời nhắn sao?”
Decker gật đầu.
“Và hắn cũng nói hai người rất giống nhau. Là hai người là tất cả những gì mà người kia còn lại.”
“Phải.”
“Và với lời nhắn gần nhất hắn quả quyết rằng thực ra anh có thể kiểm soát được những thứ này. Rằng anh có thể quyết định khi nào thì chấm dứt nó.”
Decker nhìn cô. “Có nghĩa là một mất một còn.”
“Và hiển nhiên hắn muốn mình là người cuối cùng còn trụ lại.”
“Tôi cũng mong như thế.”
“Được rồi. Nhưng tôi có cảm giác hắn thấy mình giống như đang trong một cuộc thi đấu với anh. Hai người anh em. Một phần của cái gì đó mà chúng ta chưa nhìn thấy.”
Decker mở mắt. “Kiểu như một đội sao?”
“Chưa bao giờ nhập ngũ nhỉ?”
Anh lắc đầu.
“Vậy có lẽ là như một đội.”
“Tôi đã nói rồi đấy, tôi chưa bao giờ giỏi đến mức có thể khiến ai đố kị trong môn bóng bầu dục. Tôi chưa từng giành mất vị trí của ai và tiền lương đi cùng với đó. Ngoài ra, tôi không nghĩ ra được ai sẽ sát hại ngần ấy người chỉ bởi vì hắn ở đội hình ba chờ thay thế cho tôi ở đội hình hai của đội bóng ở trường đại học. Và khi thi đấu chuyên nghiệp, tôi chỉ là một chân dự bị. Không ai nhớ mặt nhớ tên.”
“Nhưng anh tin là Leopold có liên quan đến việc này à?”
“Phải.”
“Dựa trên linh cảm sao?”
“Dựa trên sự thật là hắn đã biến mất. Tôi đã kiểm tra từng nơi trú chân cho người vô gia cư trong cả thành phố này. Hắn chưa từng ghé qua bất kì một nơi nào. Hắn đã chơi tôi. Hắn bước ra khỏi quán bar, biết rằng hắn chuẩn bị biến mất. Và ả phục vụ bàn bắt tay với hắn. Ả phục vụ đó là kẻ còn lại. Kẻ bất mãn với tôi. Ả mới là người tôi thực sự muốn bắt.”
“Nhưng anh có nhắc tới ả phục vụ này có lẽ là một nam giới.”
“Phải. Chính xác mà nói là kẻ nổ súng. Cả hai lần Leopold đều đang bị tạm giam. Chắc chắn người ra tay là kẻ kia.”
“Và hắn dùng những đồ mà anh tìm được ở trường để ngoại hình trông có vẻ to lớn hơn.”
“Khá là thông minh do cảnh sát bám sống bám chết vào những miêu tả về thể chất. Một khi đã ước tính được chiều cao và kích thước trong đầu, họ sẽ không bao giờ để ý đến bất kì ai khác nằm ngoài số đó. Điều này đã ăn sâu vào chúng tôi.”
“Tức là Leopold và/hoặc kẻ nổ súng có thể biết cách suy nghĩ của cảnh sát?”
“Phải.”
Jamison ngẫm nghĩ về chi tiết này. “Vậy sự thật rõ ràng duy nhất mà hắn thực sự đã kể với mọi người là anh làm hắn bất mãn ở cửa hàng 7-Eleven gần nhà của anh. Nhưng anh dám chắc là hắn đang bịa đặt chi tiết đó. Thế nên chúng ta cần quay trở lại dấu mốc này và bắt đầu từ đó - phải không Decker?”
Decker đã đứng dậy và đang cúi đầu nhìn cô.
“Gì vậy?” cô hỏi.
“Cô nói đó là sự thật rõ ràng duy nhất của chúng ta.”
“Phải, tôi biết. Nhưng-”
“Nhưng nó không phải.”
“Không phải gì?”
“Một sự thật.”
Anh vội vã chạy ra khỏi khu vực nhà kho mà không nói thêm một lời nào nữa. Cô đứng bật dậy, chộp lấy túi xách và chạy theo.
 
CHƯƠNG 39
 
Decker và Jamison ngồi đối diện với Lancaster trong trụ sở phòng cảnh sát. Decker đã giải thích ngắn gọn vì sao anh bắt đầu hợp tác với Jamison và cũng giải thích vì sao anh lại ở đây.
“Chúng tôi đã xới tung cái kho chứa nhưng chẳng tìm được gì trong đó cả,” anh nói thêm. “Và rồi đột nhiên tôi chợt nảy ra trong đầu là tôi đã đưa ra một giả thiết dựa trên một thứ gì đó chưa hề được xác minh. Tôi đã chấp nhận nó như một sự thật trong khi nó chưa hề được chứng minh là thật. Đó là lí do mà chúng tôi đến đây.”
“Và đó là lí do anh muốn nghe ghi chép thẩm vấn của tôi với Leopold sau khi hắn bị tạm giam sao?” Lancaster hỏi.
“Phải. Chi tiết nhất có thể, Mary ạ. Từng chữ đều có giá trị. Thật vậy đấy.”
Lancaster trông hơi e dè nhưng rồi sau đó vẫn thu thập hết các trang viết và đặt chúng trước mặt. “Được rồi, để bắt đầu, phải nói là hắn không khai gì nhiều. Thực ra mà nói, những lời hắn nói không thực sự có nghĩa gì lắm. Ngay khi hắn khai xong tôi đã nghĩ có lẽ tốt hơn hết hắn nên xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do tâm thần bất ổn thì hơn.”
“Tôi không nghĩ tâm thần hắn có bất cứ vấn đề gì. Ngược lại thì đúng hơn,” Decker đáp. “Hãy đọc cho tôi nghe những gì hắn khai. Và nếu cô còn có thể nhớ được thêm gì khác, cũng sẽ rất hữu ích cho tôi.”
“Ừm, tôi đoán chúng ta chẳng có gì để mất cả.” Chị nhìn Jamison với vẻ nghiêm nghị. “Nhưng tôi xũng nói thế này cho rõ ràng, chỉ cần một từ trong này xuất hiện trên báo hay bất cứ phương tiện truyền thông nào khác, chính tay tôi sẽ tống cổ cô vào nhà giam và mặc xác cho cô ở luôn trong đó. Cô đã nằm trong danh sách những kẻ rác rưởi của tôi vì những thứ bố láo mà cô viết về Amos.”
Jamison giơ hai tay tỏ ý đầu hàng, nhưng giọng của cô thì vô cùng nghiêm túc. “Sẽ không bao giờ có chuyện đó đâu, thanh tra Lancaster ạ. Tôi không viết những chuyện này. Và tôi chính là rác rưởi với những gì mà tôi đã viết. Đáng lẽ ra tôi không nên làm như thế, nhưng tôi đã làm rồi. Và giờ đây tôi đang cố gắng để sửa sai. Đó là tất cả những gì mà tôi có thể làm.”
Lancaster đánh ánh mắt tỏ ý chê trách nhìn khắp người Jamison. “Và Jackson thật là giáo sư ở trường đại học của cô?”
“Còn hơn thế rất nhiều. Thầy ấy là thầy hướng dẫn của tôi. Hoàn toàn có thể dễ dàng xác minh nếu chị không tin tôi.”
“Tôi tin cô,” Lancaster nói một câu cụt lủn. “Vậy là tôi đoán chúng ta ngồi chung một thuyền và là cùng một đội.” Chị cúi xuống nhìn các trang ghi chú và bắt đầu đọc. Khi chi đọc đến phần viết về việc Decker làm Leopold bất mãn ở cửa hàng 7-Eleven, Decker bảo chị dừng lại.
“Đây chính xác là những câu từ mà hắn dùng sao? Tôi làm hắn bất mãn ở cửa hàng 7-Eleven.”
“Phải. Trước đây tôi từng nói với anh rồi.”
“Câu tiếp theo mà cô hỏi hắn là gì?”
“Ừm, tôi hỏi hắn là cửa hàng 7-Eleven nào. Tôi đã cố thử xem liệu câu chuyện của hắn có hợp lí hay không. Một năm rưỡi sau sự việc đó chúng ta đâu có nhiều kẻ tự tìm đến nhiệm sở và thú nhận đã giết ba người.”
“Và hắn nói là cửa hàng 7-Eleven trong khu gần chỗ tôi ở sao?”
Lancaster cúi đầu nhìn lại các ghi chú một lần nữa và cau mày, “Không, thật ra hắn nói là anh sẽ biết là cửa hàng nào.” Chị ngẩng đầu lên. “Tôi đoán tôi đã mặc định rằng anh biết anh gây bất mãn cho gã này ở cửa hàng 7-Eleven nào. Chí ít là gây bất mãn theo góc nhìn của hắn.”
“Vậy là hắn chưa bao giờ nói là cửa hàng 7-Eleven trong khu nhà tôi ở phải không? Cái cửa hàng ở gần nhà tôi, trên số 14 đường DeSalle?”
Mặt Lancaster tái mét. Và khi chị cất tiếng, giọng của chị căng như dây đàn. “Không, Amos ạ. Hắn không nói thế. Tôi đoán đó là điểm đánh trệch suy nghĩ logic của cả hai chúng ta. Đáng lẽ ra tôi không nên đưa ra giả thiết đó. Đó là một sai lầm sơ đẳng.”
“Tôi phạm cùng sai lầm, Mary ạ.”
Lancaster trông vẫn tiu nghỉu.
“Tôi xem ghi chép được không?” anh đề nghị.
Chị đưa chúng cho anh và anh bắt đầu đọc hết một lượt.
Lancaster liếc nhìn sang Jamison, chị rướn người lên trước, và nói bằng một giọng rất nhỏ, “Thế nào, làm việc với Decker thú vị chứ? Tôi đã làm cùng anh ấy khoảng mười năm. Không một ngày nào giống ngày nào.”
Jamison cũng thì thầm y như thế. “Rất, ừm… khác thường. Anh ấy nhảy bật dậy và lao ra khỏi kho chứa. Tôi phải đuổi theo anh ấy.”
Lancaster nở một nụ cười hiếm hoi. “Chuyện thường ngày ở huyện.”
Hai người phụ nữ tách nhau ra khi Decker thả tập ghi chú xuống bàn.
Anh nhìn Jamison với vẻ mặt sắc sảo. “Địa chỉ email gửi cho cô các chi tiết câu chuyện và hình ảnh: Mallard2000 là tên miền phải không?”
“Anh biết mà. Tôi đã chuyển tiếp thư sang cho anh.”
Lancaster nói, “FBI không truy ngược được dấu vết của nó, thế nên tôi không thấy nó có gì hữu ích.”
“Thật ra nó rất hữu ích là đằng khác. Và đáng lí tôi nên nhận ra từ trước.”
“Nhận ra cái gì từ trước cơ?” Jamison hỏi.
“Rằng đáp án mà tôi đang tìm kiếm không nằm ở việc truy ngược để tìm người gửi. Nó vẫn luôn nằm ở đó, trong cái tên ấy.”
“Trong cái tên sao?” Lancaster nói. “Tên nào cơ?”
Decker đứng dậy và nhìn Jamison. “Cô có xe không?”
Cô gật đầu và cũng đứng dậy. “Một chiếc xe mini đã chạy được trên trăm nghìn cây số và đang phải dùng băng dính vải để định hình. Nhưng đặc biệt tiết kiệm nhiên liệu.” Cô nhìn anh từ trên xuống dưới. “Có khi với anh thì nó hơi chật. Chúng ta sẽ đi đâu?”
“Chicago.”
“Chicago sao,” Lancaster cảm thán. “Có cái quỷ gì ở Chicago vậy?”
“Thật ra, đó là một vùng ngoại ô của Chicago. Và ở đó có câu trả lời cho tất cả, Mary ạ.”
“Nhưng làm sao anh biết phải tìm đến đâu ở Chicago chứ?”
Decker sốt ruột đáp, “Hắn cho tôi địa chỉ rồi, seven-eleven đấy.”
Lancaster lắc đầu và nói với giọng hoài nghi, “Được rồi, nhưng Amos này, anh có biết ở vùng đô thị Chicago có bao nhiêu cái cửa hàng 7-Eleven không?”
“Tôi sẽ không tìm đến một cửa hàng tiện lợi, Mary ạ. Tôi sẽ tìm một con phố có số seven-eleven, bảy-mười một.”
Lancaster đưa mắt liếc nhìn anh với vẻ thất thần. Mẹ kiếp, anh đang nói với tôi là đó không phải là cửa hàng 7-Eleven sao? Đó là số nhà! Nhưng hắn nói-”
“Hắn nói con số bảy và mười một. Và nó rất có thể bị nhầm là bảy-một-một. Cô đã ghi lại nó theo cái cách mà bất kì người nào sống trên đất nước này đều ghi. Cô đã nghĩ là ý hắn nhắc tới chuỗi cửa hàng đó, trong khi thật ra hắn không hề.”
“Nhưng hắn chưa bao giờ nhắc là tôi đã sai.”
“Cô mong hắn sẽ vẽ đường cho mình sao? Đối với chúng đây là một trò chơi. Chơi theo luật của chúng.”
“Được rồi, anh đã có con số, nhưng sẽ khá là vô dụng trừ phi anh có một con phố để áp con số lên.”
“Tôi có con phố mà. Nó nằm trong địa chỉ email.”
“Mallard hai nghìn sao? Nhưng làm sao anh biết được nó nằm ở Chicago? Thành phố đó có liên hệ gì tới những việc đã xảy ra ở Burlington.?”
“Nó không hề. Nó liên hệ với tôi.”
“Nhưng Amos, đã có -”
Lancaster dừng lại khi chưa nói hết câu, bởi vì Decker đã vội vã lao ra khỏi phòng.
“Thằng khốn kia!” Lancaster hét theo.
Jamison nhìn chị bằng ánh mắt tỏ ý xin lỗi. “Chuyện thường ngày ở huyện à?”
“Nhớ báo tin cho tôi nhé Jamison. Và coi chừng anh ta. Anh ta tài giỏi hơn người, nhưng kể cả những người tài giỏi vẫn làm những điều ngu ngốc.”
“Tôi sẽ làm thế.”
Và sau đó Jamison vội đuổi theo Decker.
Lancaster ngồi thụp xuống ghế và cúi đầu nhìn đống ghi chú. Rồi chị vo tròn chúng lại và ném chúng sang phía bên kia phòng.
“7-Eleven chết tiệt!”
 
CHƯƠNG 40
 
Nếu theo thiết kế ban đầu, chiếc xe mini không thể vừa chỗ cho Decker, bởi vì người và xe kích cỡ gần bằng nhau. Cuối cùng họ đã phải tháo ghế trước và anh phải co ro nép mình vào chỗ ngồi nhỏ xíu ở phía sau, đôi chân dài thò lên phía trước, gác qua cái bệ nhô lên mà vốn lúc trước để đặt cái ghế ngồi.
Anh ngồi đó, hai mắt nhắm nghiền, và hai tay gác lên cái bụng chắc nịch của mình. Họ đã ghé qua phòng trọ để anh sắp xếp một ít quần áo sạch vào cái túi canvas. Anh mới biết được rằng Jamison luôn sắp sẵn một vali đồ và cất trong cái cốp nhỏ xíu của chiếc xe.
“Quy tắc hành nghề tiêu chuẩn của một phóng viên,” cô nói với anh.
Jamison nhìn anh qua gương chiếu hậu với vẻ đầy lo lắng trên đường họ lái xe đi. “Ước gì anh kéo được cái dây an toàn ở phía sau kia vòng qua người.”
“Đừng để xảy ra va chạm là được,” Decker nói, hai mắt vẫn nhắm nghiền. “Tôi sẽ là một viên đạn rất lớn, lớn hơn cả chiếc xe của cô. Thực lòng cô không muốn biết cái mông bự của tôi mà bay thì sẽ tạo ra động lượng bao nhiêu đâu.”
Cô đưa mắt tiếp tục quan sát đường. Họ đã lái xe trên con đường liên bang được hơn ba giờ đồng hồ. Hiện tại họ đang ở bang Indiana. Họ sẽ còn phải đi thêm khoảng bốn giờ đồng hồ nữa.
“Tôi đặt phòng cho chúng ta qua trang Expedia rồi,” cô nói, “Ở nhà trọ Comfort Inn ở ngoại ô Chicago. Sẽ không tốn kém quá.” Cô quay người nhìn anh. “Anh vẫn chưa nói cho tôi biết chúng ta đang đi đâu.”
“Tôi đã nói rồi. Brockton, Illinois. Nó nằm ở vùng ngoại ô cách Chicago khoảng hơn ba mươi cây số về phía nam. Đừng có lẫn với Brocton, Illinois, một ngôi lànb ở thị trấn Embarrass, ngoại ô Champaign, với dân số khoảng ba trăm người.”
“Thị trấn Embarrass, nghĩa là thị trấn Xấu hổ1 á? Thiệt đó hả?”
 
1 Embarrass có nghĩa là xấu hổ trong tiếng Anh.
“Tôi có đặt tên cho nó đâu?”
“Được rồi, nhưng anh vẫn chưa nói cho tôi biết chúng ta sẽ đi tới đâu ở Brockton.”
“Tới địa chỉ con phố mà Leopold đã để lại cho tôi đi tìm.”
“Bảy một một phố gì?”
“Mallard hai nghìn là tên con phố.”
“Illinois không có phố nào tên đó cả. Tôi đã kiểm tra rồi.”
“Có một con phố tên như thế, nhưng được gọi bằng một cách khác.”
“Tôi không hiểu.”
“Đó là một mật mã đã được ẩn giấu đơn giản. Hãy thử đoán xem đó là gì?”
Mười phút trôi qua. “Thôi, tôi bỏ cuộc. Tôi đâu có giỏi giải ô chữ.”
“Con phố đó là đại lộ Duckton.”
“Duckton sao?”
“Giờ hãy thử suy nghĩ ngược ra đi. Cô sẽ không mất nhiều thời gian đâu. Tôi tin ở cô mà.”
Cô hướng sự tập trung trở lại vào đường đi. “Chết tiệt,” một lúc sau cô thốt lên. “Mallard nghĩa là con vịt trời, tiếng Anh con vịt nói chung nghĩa là duck, và hai nghìn pound thì tương đương 1 tấn, tiếng Anh một tấn là ton, ghép lại ta có Duckton.”
“Chúc mừng, cô đã vượt qua lớp thám tử sơ cấp.”
“Nhưng có gì ở số bảy một một đại lộ Duckton?”
“Đó là một nơi tôi từng gọi là nhà.”
Cô quay ngoắc đầu lại nhìn anh, nhưng lúc này anh đang nhìn ra ngoài cửa sổ xe.
“Nhà của anh á?”
“Để sau đi, Jamison. Còn bây giờ, tập trung lái xe đi. Tôi không có dây bảo hiểm đâu, nhớ chứ?”
Cô bực bội quay đầu lại, đạp ga, và mỉm cười thích thú khi nghe thấy tiếng đầu anh đập vào đằng sau ghế xe do tăng tốc đột ngột.
Họ dừng lại ở một quán ăn bán trên xe tải khi ra khỏi đường cao tốc liên bang để đi vệ sinh, đổ thêm xăng và tìm đồ lót dạ.
Jamison gọi một chiếc burger thêm phô mai, khoai tây chiên và một chai bia Corona. Decker gọi một chiếc pizza cỡ lớn và một lon Coca.
Anh nhìn đồ ăn của cô. “Mặc dù bữa tối qua ăn đồ Trung Quốc, nhưng tôi đã nghĩ cô là một kẻ thích ăn uống lành mạnh cơ đấy.”
Cô gặm chiếc bánh burger và để nước thịt óng mỡ chảy xuống cằm trước khi lau khô nó. “Tôi có thể ăn cả anh đấy.”
“Để kiếp sau đi.”
“Anh kì vọng sẽ tìm được gì từ cái chỗ ở Duckton đó?”
“Nếu nó vẫn còn ở đó. Tôi sẽ thử gọi cái số ngày xưa tôi dùng, nhưng nó bị đổi rồi. Và số điện thoại của nơi đó không còn nằm trong danh bạ.”
“Nhưng nói đó là nơi gì hả Decker? Anh gọi nơi đó là nhà.”
“Đó là nơi mà những người như tôi bị chọc ngoáy, bị khiêu khích, bị thử nghiệm.”
Jamison bỏ chiếc bánh burger xuống. “Cùng tất cả các thiên tài ghi nhớ á? Cái… cái viện nghiên cứu á?”
“Những nhà bác học, tự kỉ, mắc chứng Asperger, có cảm giác kèm và trí nhớ siêu phàm - hyperthymesia.”
“Hyper gì cơ?”
“Thymesia. Trong tiếng Hy Lạp, hyper có nghĩa là ‘quá mức’ và thymesia được dịch là ‘trí nhớ’. Ghép chúng lại với nhau và cô sẽ có được tôi. Một người mắc chứng Hyperthymesia đúng nghĩa sẽ có khả năng nhớ lại gần như hoàn hảo sự việc quá khứ có liên quan đến cá nhân mình hay những chi tiết tự truyện. Tôi nhớ những thứ đó, nhưng tôi cũng không thể quên bất cứ thứ gì mà tôi từng nhìn thấy, đọc được hoặc nghe được. Một khả năng ghi nhớ hoàn hảo tất cả mọi thứ. Tôi không biết bộ não của tôi lại lớn đến vậy. Nhưng có vẻ như tôi sử dụng nó nhiều hơn phần lớn những người khác, nhưng chỉ bởi vì tôi phải chịu cú hút bay người trên sân bóng bầu dục.”
“Còn cảm giác kèm thì sao?”
“Tôi nhìn thấy những màu sắc mà người khác thì không thấy. Trong các con số, ở những địa điểm và vật thể. Đường dẫn truyền nhận thức cảm giác thần kinh của tôi có vẻ như cũng bị chắp nối lại với nhau khi tôi ăn phải cú húc đó.”
“Tôi rất vui vì anh kể cho tôi nghe tất cả những điều này. Nhưng tôi cũng rất bất ngờ. Ấn tượng của tôi về anh là một người không thích chia sẻ về bản thân.”
“Tôi đúng là người như vậy. Tôi chưa từng kể cho bất kì ai nghe về chuyện này, ngoại trừ vợ tôi.”
“Vậy tại sao anh lại kể cho tôi? Chúng ta đâu có quen thân đến thế.”
Trước khi trả lời, Decker ăn một miếng bánh pizza pepperoni, tiếp theo là uống một hơi Coca dài. “Chúng ta đang cùng nhau truy tìm những kẻ sát nhân, Jamison ạ. Chúng đã giết hại rất nhiều người, bao gồm cả một đặc vụ FBI. Tôi cho rằng tôi nợ cô toàn bộ câu chuyện bởi vì cô đã đặt cược cả tính mạng của mình vào chuyện này.”
Cô bỏ chiếc bánh burger xuống và uống một ngụm bia nhỏ. “Anh nói như thể tôi là một người dũng cảm lắm.” cô nói nhỏ.
Anh ăn thêm một vài miếng pizza nữa và uống lon Coca của mình. “Hãy cùng hi vọng là cô đã nhầm.”
 
CHƯƠNG 41
 
Họ đã nhận xong phòng nhà nghỉ, ngủ đôi chút, tắm rửa và thay quần áo. Lúc này họ đang đứng trước tòa nhà tám tầng xây bằng gạch với những ô cửa sổ nhỏ, ước chừng đã sáu mươi năm tuổi.
Jamison liếc nhìn Decker, sau đó liếc nhìn địa chỉ của tòa nhà dưới dạng những con số bằng kim loại được gắn ở mặt tiền. “Bảy một một Duckton. Vậy đây chính là ngôi nhà đó sao?”
Decker gật đầu, mắt vẫn nhìn chăm chăm vào tòa nhà. “Nó đã thay đổi đôi chút. Đã hai thập kỉ rồi.”
“Đây có phải là một cơ sở nghiên cứu thật không?”
“Hầu như là đúng. Cơ bản họ cố gắng tìm hiểu bộ não hoạt động như thế nào. Họ là một trong những nơi đầu tiên tiếp nhận lĩnh vực này theo phương pháp luận, đa ngành, đa hướng.”
“Thế nghĩa là sao?”
“Nghĩa là họ không chỉ cắm các điện cực lên đầu cô và ghi số đó hoạt động của não bộ lúc đó. Họ thực hiện tất cả các thí nghiệm sinh lí mà cô có thể nghĩ tới - nói cho cùng, bộ não là một cơ quan trong sinh vật, và về cơ bản nó hoạt độn dựa trên các xung điện. Nhưng ngoài ra họ cũng thực hiện các buổi tư vấn theo nhóm và một - một. Họ đào sâu về cuộc sống của chúng tôi. Họ muốn nghiên cứu về những người như chúng tôi, và họ cũng muốn biết, ừm, về con người chúng tôi. Có một bộ não khác thường thì như thế nào, nó ảnh hưởng và thay đổi cuộc đời của chúng tôi ra sao.”
“Nghe khá là sâu sát nhỉ.”
“Đúng thế.”
“Nhưng tất cả những việc đó đem lại được kết quả gì?”
Decker nhúng vai. “Tôi chưa bao giờ được biết. Tôi ở đây hàng tháng trời và sau đó người ta nói rằng tôi có thể rời đi. Không có ai liên hệ hỏi han gì thêm. Chí ít với tôi là như thế.”
“Chờ một chút, người ta bảo anh có thể rời đi sao? Anh ở đây do bị bắt ép sao?”
“Không, là tôi tự nguyện.”
“Tại sao?”
Anh quay người nhìn cô. “Bởi vì tôi sợ, Jamison ạ. Bộ não của tôi đã thay đổi, điều đó có nghĩa là gần như tất cả mọi thứ về tôi cũng đều thay đổi. Cảm xúc của tôi, tính cách của tôi, kĩ năng xã hội của tôi. Tôi muốn tìm hiểu là vì sao. Tôi muốn tìm hiểu… tương lai tới đây của mình sẽ như thế nào. Tôi đoán tôi muốn tìm hiểu tôi sẽ trở thành cái gì, về lâu dài.”
“Nhưng tôi đoán có rất nhiều điểm tích cực. Ý của tôi là, một trí nhớ hoàn hảo sẽ giúp cho việc học hành và làm việc trở nên khá là dễ dàng.”
Anh hướng ánh nhìn trở lại về phía tòa nhà. “Cô có thích bản thân mình không?”
“Sao cơ?”
“Cô có thích con người của cô hiện tại không?”
“Ừm, có. Ý tôi là, tôi cần phải tập thể dục thể thao nhiều hơn nữa, và tôi sẽ còn phải tìm cho mình một người phù hợp, nhưng nói chung là có, tôi thích tôi của hiện tại.”
“Ừ, tôi cũng thích con người của tôi ngày ấy. Và giờ con người đó đã không còn nữa rồi. Chỉ có điều tôi không được quyền lựa chọn trong việc đó.”
“Và sẽ rất tốt nếu có thể quên đi một số thứ. Con người đều muốn như thế, cô biết đấy. Muốn quên bớt đi một số thứ.”
“Decker này, kể cả với một người có bộ não bình thường cũng sẽ không bao giờ có thể quên được một điều tương tự như những gì đã xảy đến với gia đình của anh.”
“Nhưng tôi ghi nhớ từng chi tiết về nó, trong sắc xanh lam. Tôi sẽ không bao giờ quên được dù chỉ một chi tiết, thậm chí cả cảm xúc chính xác mà tôi đã cảm thấy khi tôi tìm được các thi thể. Không thể quên cho đến ngày tôi chết. Đối với tôi, thời gian không có giá trị chữa lành, bởi vì trí óc của tôi không còn cho phép thời gian trôi đi xóa nhòa bớt các kí ức. Ngay hôm nay, chúng vẫn rõ mồn một như vào cái ngày sự việc xảy ra. Nó giống như một bức ảnh mãi mãi không bao giờ phai màu. Người ta nói rằng không thể sống trong quá khứ ư? Còn tôi, tôi thực lòng không thể bước ra khỏi quá khứ.”
“Tôi rất lấy làm tiếc.”
Anh quay lại và cúi đầu nhìn cô. “Tôi không còn đón nhận và hiểu được sự cảm thông nữa đâu,” anh nói. “Ngày trước thì có, nhưng giờ thì không được nữa rồi.” Anh tiến vào trong tòa nhà và Jamison vội vã đuổi theo anh.
Chỉ dẫn tòa nhà không có tên của cơ sở nghiên cứu. Decker đi tới bàn lễ tân đặt ở trong góc sảnh và giơ nhanh giấy tờ cảnh sát tạm thời của mình. Nhưng người phụ nữ ngồi tại đó chẳng giúp được gì cho anh. Chị ta chưa bao giờ nghe đến tên nơi mà Decker nhắc tới.
Decker và Jamison đi vòng quanh khu sảnh rộng lớn. Decker đang nhìn ngó khắp mọi nơi, quan sát kĩ từng nơi một.
“Đang dạo lại kỉ niệm xưa đấy à?” Jamison ranh mãnh hỏi.
Anh cúi đầu nhìn cô với đôi lông mày đang nhướn lên.
Mặt cô ửng đỏ. “Xin lỗi, tôi chỉ đang muốn làm nhẹ bớt tâm trạng cho anh thôi. Tôi đoán sự hài hước cũng không có tác dụng với anh.”
Nhưng Decker đã vội chạy sang phía bên kia sảnh để tới một cửa hàng hoa nhỏ ở trong góc của tầng đó. Jamison đuổi theo kịp khi anh đã tiến gần tới quầy thu ngân ở bên trong cửa hàng.
Một người phụ nữ gần năm mươi tuổi ngồi phía sau quầy. Chị ta có mái tóc cắt ngắn màu nâu nhạt và cơ thể khá săn chắc. Quần vải màu đen cùng một chiếc cáo sơ mi dài tay màu trắng là bộ đồ làm việc mà chị ta mặc trê người.
“Tôi giúp được gì cho anh ạ?” chị ta hỏi Decker.
“Cửa hàng này đã ở đây lâu lắm rồi,” Decker mở lời. “Tôi vẫn nhớ nó.”
Chị ta mỉm cười. “Cửa hàng hoa Dora. Nó đã có mặt ở đây kể từ khi tòa nhà mở cửa vào năm 1955. Mẹ của tôi là Dora. Bà là người dựng nên cửa hàng.”
“Tôi nhớ cả bà ấy nữa. Chị trông rất giống bà.”
Nụ cười của người phụ nữ càng thêm rạng rỡ. “Tôi tiếp quản cửa hàng này từ mười năm trước. Mẹ và ba của tôi đã gây dựng nó thành một cửa hàng rất phát đạt. Hồi còn học đại học tôi đã tới đây và giúp họ. Công việc duy nhất của tôi bây giờ là không phá hoại nơi mà cha mẹ đã gầy công dựng nên. Và nhân tiện giới thiệu, tôi là Daisy1. Còn tên nào khác hợp hơn, phải không nào? Tôi là con út trong số bốn chị em và tất cả chúng tôi đều được đặt tên theo các loài hoa.”
 
1 Tên một loài hoa. Daisy: hoa cúc.
Vậy là chị đã ở đây mười năm rồi sao, chị Daisy?”
“Vâng.” Người phụ nữ hơi cau mày. “Tôi đang nghĩ anh không có ý đặt mua hoa đâu, phải thế không?”
“Tôi không,” Decker nói cụt lủn. Anh giơ cho chị ta xem giấy tờ.
“Từ bang khác tới cơ à,” chị ta nói. “Chắc hẳn là việc quan trọng lắm.”
“Thực sự là thế. Có một cơ sở nghiên cứu ở trong tòa nhà này. Ừ thì, nó đã từng ở đây hai mươi năm trước. Viện nghiên cứu Nhận thức thì phải?”
Daish mỉm cười. “Ồ, có, tôi có nhớ họ. Họ từng là khách hàng thường xuyên của chúng tôi.”
“Từng sao? Họ không còn ở đây nữa à?”
“Không, họ đã chuyển đi rồi. Vào lúc, để tôi nhớ lại xem - ồ, có lẽ là khoảng bảy, tám nắm trước. Tôi còn nhớ mấy cái xe tải to lắm đậu ngoài kia. Nói chung là hầu hết các cửa hàng cửa hiệu kinh doanh ở đây thì vẫn ở nguyên đây. Chỗ này có vị trí tốt, một tòa nhà cổ xinh đẹp, được bảo trì đàng hoàng, thực sự là vị trí đắc địa. Và chỉ tốn dăm ba bước là tới Chicago.”
“Tôi cho là chị không biết họ chuyển đi đâu?”
“Vâng, tôi không biết. Anh đã thử tìm số điện thoại của họ trên danh bạ chưa? Hừm, thời buổi này thì chắc phải tra cứu online rồi.”
“Tôi thử rồi. Không có trong danh sách.”
“Ồ, vậy à, thế thì tôi rất tiếc.”
Decker nói, “Dù sao cũng cám ơn chị.” Anh đã chuẩn bị quay người rời đi.
Chị nói, “Nhưng còn cái ông bác sĩ già Rabinowitz.”
Decker quay người lại. “Harold Rabinowitz sao?”
“Phải, sao anh biết tên của ôn ấy vậy?”
“Tôi đã tìm hiểu một chút trước khi tới,” anh vội nói.
“À, ừ, phải rồi. Ông ấy vẫn ở gần đây, và anh tin được không, ông ấy vẫn đặt hoa của chúng tôi đấy. Anh biết đó, mấy người Nhận thức - chúng tôi từng gọi họ như vậy - từng là một trong số những khách quen nhất của chúng tôi. Mẹ tôi từng kể với tôi là họ đặt hoa tươi mỗi tuần. Và họ cũng tặng rất nhiều hoa cho mọi người nữa. Thật sự rất tuyệt. Tuyệt cho họ, tuyệt cho doanh thu của chúng tôi.”
“Vậy là chị có địa chỉ của ông ấy?”
Biểu cảm của chị ta thay đổi. “Thực sự thì tôi không nên cung cấp thông tin như thế ra ngoài,” chị nói với giọng ngần ngại.
“Chị cho tôi xin số điện thoại của ông ấy được chứ?”
“Thật lòng là làm thế tôi thấy vẫn không thoải mái. Anh trông có vẻ là người đàng hoàng, nhưng như thế là làm trái với quy định của chúng tôi.”
Decker nói, “Hay là chị gọi cho bác sĩ Rabinowitz và nói với ông ấy là Amos Decker muốn gặp ông ấy. Nếu ông ấy nói được, chị có thể cho tôi địa chỉ của ông ấy. Nếu không, chẳng có ai bị tổn hại gì.”
“Ừm, tôi nghĩ thế cũng được. Vậy là anh quen ông ấy à? Tôi thấy trên danh thiếp anh tên là Amos Decker.”
“Vâng, tôi quen ông ấy.”
“Ồ, sao anh không nói sớm. Chờ chút nhé.”
Chị ta đi tới chỗ điện thoại, tìm số điện thoại trong máy tính và quag số. Chị ta quay lưng lại với họ trong lúc nói chuyện. Một phút sau, chị ta cúp máy và quay lại chỗ họ. Chị ta ghi gì đó lên một mẫu giấy và đưa nó cho Decker.
“Tốt rồi. Ông ấy nói rất vui mừng được gặp anh.”
Decker cúi đầu nhìn mẫu giấy và rồi lại ngước lên nhìn chị ta. “Ba mẹ chị vẫn còn chứ?”
Daisy trông hơi có chút ngạc nhiên trước câu hỏi. “Mẹ tôi đang sống ở một trung tâm chăm sóc người già và rất thích cuộc sống ở đó. Và cũng không lạ gì, bà chăm lo tất cả công việc cắm hoa ở đó.”
“Ồ, hãy nói với bà là Amos Decker vẫn còn nhớ hoa của bà. Và nói là… chúng có ích rất nhiều.”
“Chắc chắn tôi sẽ gửi lời. Bà sẽ vui lắm khi nghe được điều đó. Mẹ nhìn nhận công việc này như thế mà, càng có nhiều hoa, thế giới mà chúng ta sống càng tươi đẹp.”
Ra đến ngoài, Jamison nhìn Decker. “Làm giỏi ghê.”
Anh không đáp lời.
“Vậy là hoa có ích lắm hả?”
Anh lườm cô. “Phải, thực sự là có ích. Sao?”
“Thì có khi anh không thay đổi nhiều như anh nghĩ.”
 
CHƯƠNG 42
 
Trên đường lái xe tới nhà Rabinowitz, Jamison liếc nhìn Decker ở phía sau xe. “Hỏi anh một câu,” cô nói.
“Chỉ một thôi à?”
“Có lẽ là không. Để nói thẳng vào việc nhé, người mà anh gây bất mãn không phải là Leopold. Đó là cộng sự của hắn. Ả bồi bàn. Leopold chỉ đơn giản là người đưa tin.”
“Đúng thế.”
“Vậy đoán chừng là anh có biết đến người này?”
“Chắc chắn đúng là như thế.”
“Và người đó từng ở cùng anh tại chỗ nghiên cứu đó.?”
“Đó là lí do duy nhất mà Mallard2000 được nhắc tới. Tôi không tin vào sự trùng hợp, đặc biệt với một sự việc lớn như thế này.”
“Được rồi. Vậy là kẻ nổ súng là nam giới. Ừm, chí ít thì khả năng cao là như thế. Mặc dù người phục vụ ở quán rượu đã rất thô lỗ gọi người đó là ‘nó’. Anh ta có vẻ nghĩ rằng cô ta là nam giới đóng giả phụ nữ. Hoặc có thể là người chuyển giới. Do có sự thay đổi quá lớn đến vậy, nên có khi anh sẽ không thể nhận ra người đó.”
“Có thể không.”
“Và cô ta có thể từng là đàn ông khi còn ở viện và giờ đã thành phụ nữ. Hoặc ngược lại.”
“Có thể.”
“Vậy là anh có gây bất mãn cho cái người đó hồi còn ở viện không?”
Điện thoại của Decker rung. Là Lancaster.
Chị nói, “Chúng tôi tìm được rất nhiều dấu vân tay và mẫu AND khả dụng trong nhà vệ sinh của quán bar. Chúng tôi đã loại trừ sơ lược và sau đó cho chạy các mẫu trong cơ sở dữ liệu tội phạm. FBI cũng làm việc tương tự.”
“Và không nhận diện được ai sao?”
“Một vài con nghiện và một kẻ hiếp dâm từng bị kết án. Tất cả những kẻ này hiện đang ngồi tù, nhưng chúng đã từng sử dụng cái nhà vệ sinh này ở một thời điểm nào đó.”
“Vậy là ả bồi bàn của chúng ta thì không à?”
“Không. Bên anh tình hình thế nào rồi?”
“Tôi sẽ báo cô biết sao vài tiếng nữa. Đang theo một manh mối đây.”
Anh tắt máy và ngồi im trở lại ở phía sau chiếc xe Suzuki.
Jamison liếc nhìn anh với vẻ thăm dò. “Không tìm ra được gì à?”
“Không tìm được gì. Hãy hi vọng ông Rabinowitz này sẽ có ích hơn.”
 
☆☆☆
Bác sĩ Harold Rabinowitz sống trong một căn hộ tại một tòa nhà cũ ở phía bên kia thành phố. Khi Decker gõ cửa, anh nghe thấy tiếng bước chân thình thịch đang hướng về phía mình.
Một giọng nói vang lên, “Ai đó?”
“Amos Decker.”
Cánh cửa mở ra, và Decker đang cúi nhìn một người đàn ông nhỏ con, đầu hói, với bộ râu ngả bạc và đeo một cặp kính đen. Ông ta trông đã ngoài bảy mươi. Ông mặc một chiếc áo khoác len mỏng đã sờn, quần âu và một chiếc áo sơ mi trắng có cổ.
“Xinh chào Amos.” Người đàn ông nhìn chăm chú vào cái bụng của Decker.
Mất một lúc Decker mới nhận ra.
“Ông bị mất thị lực từ khi nào vậy, bác sĩ Rabinowittz?”
“Mất hẳn ấy hả? Từ bảy năm trước. Thoái hóa điểm vàng. Một căn bệnh gớm lắm đấy. Cậu không đến một mình. Ta nghe có tiếng người nữa.”
“Bạn của tôi, Alex Jamison.”
“Chào bác sĩ Rabinowitz. Làm ơn hãy gọi cháu là Alex.”
“Ta thích mùi nước hoa. Vani và dừa, rất thơm. Ta nói đúng chứ?”
“Đúng ạ. Bác giỏi thật đấy.”
Ông mỉm cười, vẻ mặt hài lòng. “Các giác quan khác sẽ nhạy hơn để bù lại, cô biết mà. Vào nhà đi.”
Họ ngồi xuống ghế trong căn phòng khách nhỏ. Decker nhìn xung quanh và nhận thấy không gian được sắp đặt gọn ghẽ, đường đi được xây dựng kĩ lưỡng. Anh nhìn thấy một cây gậy dò đường cho người khiếm thị treo trên móc cạnh cửa vào.
“Ta bất ngờ khi nghe bảo cậu muốn gặp ta,” Rabinowitz cất tiếng.
“Sẽ không mất nhiều thời gian của ông đâu.”
“Ta đã tới thời điểm đó của cuộc đời rồi mà, Amos, thời điểm mà tất cả những gì ta có là thời gian. Ta không còn đi làm nữa. Vợ của ta đã mất. Sức khỏe của ta giảm sút. Bạn bè cũ của ta đã chết cả. Con cái ta cũng có bệnh tật riêng của chúng. Các cháu thì đã tốt nghiệp đại học và đang bắt đầu sự nghiệp của riêng mình. Thế nên việc cậu tới thăm, ta rất lấy làm hoan nghênh.”
Decker ngả người ra sau và nhìn chăm chăm vào ông, còn Jamison đánh mắt nhìn qua nhìn lại giữa hai người họ.
Decker nói, “Ông thôi làm việc ở Viện Nhận thức đã bao lâu rồi?”
“Họ cho ta về vườn từ mười năm trước. Đáng lí ra ta sẽ ở lại lâu hơn, nhưng hồi đó mắt của ta bắt đầu kém dần.”
“Họ đã chuyển đi rồi.”
“Ta biết. Ta vẫn giữ liên lạc. Viện đã phát triển hơn, cậu biết đấy.”
“Không, tôi không biết.”
“Thế nên mới phải chuyển đi. Họ cần nhiều không gian hơn. Chúng ta đã tiến rất xa kể từ hồi cậu còn ở đó với bọn ta. Chúng ta biết thêm được rất rất nhiều.”
“Và rõ ràng là ông còn nhớ tôi.”
“Rất khó để quên được cậu. Cầu thủ bóng bầu dục chuyên nghiệp duy nhất ở chỗ bọn ta. Đó là một trường hợp khá khác thường.”
“Tôi đã gia nhập lực lượng thi hành pháp luật sau khi rời khỏi đây. Đầu tiên là làm cảnh sát. Sau đó là làm thanh tra.”
“Cậu có nhắc đó là tham vọng của cậu khi còn ở đây.”
“Phải, đúng là như thế.”
“Thật mừng cho cậu. Và sự nghiệp của cậu đạt được nhiều thành tựu chứ?”
“Thì cũng ba chìm bảy nổi, như hầu hết các nghề nghiệp khác.”
“Hi vọng là nổi nhiều hơn chìm.”
“Có khi ông có thể giúp tôi vụ chìm nổi này được đó.”
Rabinowitz cau mày. “Ta không hiểu.”
Decker nhắc lại vụ ở trường Mansfield.
Rabinowitz nói, “Ta có nghe nói tới, giống như mọi người trên khắp đất nước. Thật là bi thảm. Quá khủng khiếp. Quá nhiều mạng sống cứ thế… phải chấm dứt. Chẳng vì lí do gì.”
“Tôi đang điều tra vụ án đó. Và có một lí do đấy. Thật ra, nó có thể có mối liên hệ cá nhân tới tôi.”
“Sao lại thế?” Rabinowitz nói bằng giọng căng thẳng.
“Tôi nghĩ một ai đó ở viện cùng hồi tôi ở đó có liên quan tới vụ thảm sát tại ngôi trường cấp ba.”
Rabinowitz nắm chặt mép chiếc ghế bành. “Sao cơ?”
“Không thể nói ông nghe chi tiết cụ thể, nhưng kẻ sát nhân đã để lại địa chỉ cũ của viện cho tôi. Hắn nói rằng tôi đã gây bất mãn cho hắn. Hắn ám chỉ đó là lí do mà hắn sát hại những người này.”
“Ôi Chúa ơi!” Rabinowitz suýt chút nữa thì ngã nhào khỏi ghế, tuy to lớn, nhưng Decker khá nhanh nhẹn, nên đã kịp đỡ tay và giữ ông ngồi yên trên ghế.
Decker nhìn sang Jamison. “Lấy nước nhé?”
Cô nhảy bật dậy và vội vã đi sang phòng bên cạnh. Chưa đầy một phút sau, cô quay trở lại cùng một li nước. Decker đưa nó cho Rabinowitz, và ông uống một chút trước rồi cẩn thận đặt nó lên cái bàn ở bên cạnh.
“Tôi rất xin lỗi,” Decker nói. “Đáng lẽ tôi không nên báo tin cho ông một cách quá đột ngột như thế. Đôi khi… đôi khi chỉ là tôi không nhận ra….”
Rabinowitz dùng bàn tay đang run rẩy chùi mép rồi đặt tay trở lại trên ghế. “Các công tắc thần kinh của cậu bị đặt ở chế độ không như mong muốn mà Amos, nói đơn giản là thế. Ta biết cậu gặp khó khăn đối với một số quy tắc giao tiếp và chuẩn mực xã hội nhất định, giống như rất nhiều những người khác từng bước chân qua cánh cửa của bọn ta. Ai bị như cậu cũng đều gặp phải vấn đề này hết. Một số phần trong não bộ trở nên phi thường trong việc thực hiện chức năng của chúng, trong khi những phần khác, ừm, những phần khác lại bị thoái hóa đi đôi chút, chí ít là xét về phương diện kĩ năng xã hội. Tất cả chỉ xoay quanh vấn đề não bộ ưu tiên cái nào mà thôi.”
“Đó là lí do mà tôi có mặt ở đây. Những người từng bước chân qua cánh cửa của các ông. Một trong số họ có thể là kẻ sát nhân mà chúng tôi cần tìm.”
Rabinowitz lắc đầu, lông mày của ông nhướn lên trong đau đớn. “Ta cảm thấy điều đó thật vô cùng… tồi tệ. Và khó có thể xảy ra.”
“Đó là những người với trí óc bị tổn thương mà, bác sĩ Rabinowitz.”
“Ta nghĩ bây giờ cậu có thể gọi tôi là Harold được rồi, Amos à. Chúng ta không còn phải là quan hệ bác sĩ - bệnh nhân nữa rồi.”
“Được rồi, Harold. Những người với trí óc bị tổn thương, thậm chí trở nên khác thường theo cách nào đó, có thể làm được rất nhiều thứ. Cả điều tốt lẫn điều xấu.”
“Nhưng chắc chắn cậu sẽ ghi nhớ tương đối rõ ràng những người mà cậu từng gặp ở viện. Cậu có thấy ai trong số đó có thể là một kẻ sát nhân nhẫn tâm không?”
“Thành thực mà nói thì không. Và tôi không thể nhớ được đã từng ‘gây bất mãn’ cho bất kì ai trong số họ. Tôi không thể nhớ đã từng xúc phạm bất kì ai khi tôi còn ở đó.”
“Nhưng cậu nói là kẻ… kẻ chịu trách nhiệm cho những hành động khủng khiếp này cho cậu địa chỉ của viện à?”
“Địa chỉ cũ, trên đại lộ Duckton. Hắn dùng mật mã, nhưng ý của hắn thì chắc chắn là thế.”
Rabinowitz xoa miệng. “Ta không biết có thể cho cậu biết thêm gì nữa.”
Jamison lên tiếng. “Anh đã tập trung vào các bệnh nhận đã từng ở đó với anh. Nhưng còn các bác sĩ, chuyên gia tâm lí hoặc nhân viên y tế khác mà anh từng gặp hồi còn ở đó thì sao?”
Decker chầm chậm gật đầu. “Tôi chưa nghĩ tới việc đó.”
Rabinowitz nói bằng giọng khẳng định. “Ta không thể tin bất kì ai từng làm việc ở viện có thể gây ra những hành động ghê tởm đến thế.”
“Cháu cũng không muốn nghĩ như thế đâu ạ,” Jamison vội vàng nói. “Nhưng trong một cuộc điều tra như thế này, thực sự không thể bỏ qua bất kì một khả năng nào. Như thế sẽ là thiếu trách nhiệm ạ”
Decker nói, “Chris Sizemore.”
Jamison nói, “Ai cơ?”
Rabinowitz nói, “Đó là một chuyên gia tâm lý làm việc ở viện. Ta nghe nói cậu ta rời khỏi viện cách đây vài năm.”
“Sao anh lại nhắc tới anh ta hả Decker?” Jamison hỏi.
“Bởi vì anh ta và tôi không hòa thuận cho lắm. Chúng tôi có lời qua tiếng lại vài lần. Nhưng chẳng có điều gì đến mức khiến tôi tin rằng anh ta là kẻ chúng ta đang tìm. Nhưng đúng là chúng tôi không hòa thuận.”
“Có thể nào hai mươi năm sau anh ta đã trở thành Leopold không?” cô hỏi.
Decker nhắm mắt lại và tua về những khung hình phù hợp trong đầu. “Chiều cao và hình dáng tầm đó. Các nét trên gương mặt tương đồng. Nhưng rất khó để xác định tuổi của Leopold. Sizemore bây giờ sẽ vào khoảng ngoài năm mươi. Tóm lại, dù nghi ngờ, tôi không thể khẳng định Sizemore và Leopold không phải là cùng một người. Hình xăm trên tay của hắn ta có thể sau này mới có. Có thể hắn đã nói dối về việc từng ở Hải quân. Giọng của hắn có thể đã thay đổi theo năm tháng. Rất nhiều điều ở hắn có thể đã thay đổi sau hai thập kỉ. Nhưng cảnh sát đã lấy dấu vân tah và mẫu DNA của hắn khi hắn bị bắt. Khả năng là dấu vân tay của Sizemore có lưu sẵn trong cơ sở dữ liệu nghề nghiệp nào đó. Nếu hai dấu vân tay đó là một và giống nhau, nó sẽ cho ta kết quả khá là nhanh.”
Anh có lưu ảnh của Leopold trong điện thoại, nhưng tất nhiên anh không thể cho Rabinowitz xem để biết liệu đó có thể là Sizemore hay không.
Anh nhìn Rabinowitz. “Ông có biết đã có chuyện gì với Sizemore không? Tại sao anh ta lại rời viện?”
Ông già đang bồn chồn gõ gõ ngón tay lên đùi. “Như ta đã nói, ta đã nghỉ rất lâu trước khi cậu ta rời đi.”
“Nhưng ông cũng nói là có giữ liên lạc với các đồng nghiệp cũ mà.”
“Phải, ừm, cậu ta có một số vấn đề về chuyên môn.”
“Như thế nào cơ?”
“Thực tình là ta không thể kể lại toàn bộ mọi sự. Nhưng ta có thể cho cậu biết là vấn đề nghiêm trọng đến mức cậu ta bị yêu cầu thôi việc.”
Jamison nói, “Anh có vấn đề gì với anh ta thế, Decker?”
“Anh ta có bệnh nhân mà anh ta ưu ái, và tôi không nằm trong số đó.”
Rabinowitz nói, “Đúng là Chris có bệnh nhân mà cậu ta yêu thích. Ta muốn nghĩ là ta đối xử với tất cả các bệnh nhân của bọn ta với thái độ lịch thiệp, tôn trọng và chăm sóc kĩ càng như nhau. Nhưng ta cũng là con người, và tất nhiên có một số ca bệnh khiến ta cảm thấy hứng thú hơn so với những ca khác. Chẳng có nhiều ca chịu chấn thương vật lí não mà bệnh nhân đã thực sự chết đi sống lại rồi sau đó cho ra kiểu định hình nhận thức giống như cậu đâu, Amos ạ.” Rabinowitz dừng lại để mỉm cười. “Và ta đã là người hâm mộ của đội Bears hơn sáu mươi năm rồi, và mặc dù cậu chơi cho Cleverland, cậu là cầu thủ NFL duy nhất từng bước qua cửa của bọn ta. Giờ khi cậu nhắc lại, đúng, ta nhớ Chris có vấn đề với cậu. Nhưng ta không rõ là nó xuất phát từ việc cậu ta thực tình không ưa cậu hay là do tác động của các vấn đề cá nhân mà sau này dẫn đến chuyện cậu ta phải rời viện nữa. Nhưng có vẻ cậu ta nghĩ rằng có cậu thì bọn ta quên mất những ưu tiên khác.”
“Tôi không hiểu,” Jamison nói. “Anh ta căn cứ vào đâu mà nghĩ thế?”
Decker trả lời, “Sizemore nghĩ rằng là một cầu thủ bóng bầu dục, tôi đã chấp nhận rủi ro là não của mình bị tổn thương. Tôi đoán anh ta nghĩ rằng tôi đang chiếm dụng chỗ của một ai đó xứng đáng hơn.”
Rabinowitz nói, “Ồ, chuyện đó ta không hay biết đấy.”
“Đó là bởi vì tôi chưa từng kể cho ai nghe cả. Anh ta đã tiết lộ điều này trong một 'cuộc tâm sự’ giữa chúng tôi một ngày nọ ở hành lang.”
“Làm thế là anh ta rất thiếu chuyên nghiệp,” Rabinowitz nói bằng giọng nghiêm khắc.
“Có lẽ thế. Nhưng tôi cũng chưa bao giờ nghĩ đó có thể là động cơ thực hiện những gì đã xảy ra ở trường Mansfield.”
Jamison nói, “Và câu hỏi lớn nhất là: bác sĩ Sizemore hiện giờ đang ở đâu?”
Rabinowitz nói, “Ta không biết. Ta không nghe tin tức gì về anh ta từ lúc ta rời viện.”
“Có thể anh ta đã chuyển sang khu vực Burlington chăng?” Jamison nêu ý kiến.
Decker nói, “Nếu anh ta vẫn theo nghề, chắc chắn anh ta phải nằm trong một cơ sở dữ liệu nào đó để được cấp phép. Chúng ta nên bắt đầu từ đó.”
“Ta có thể gọi cho viện và lấy bất cứ thông tin nào có thể,” Rabinowitz đề nghị. “Do việc này không liên quan đến bệnh nhân, ta nghĩ họ sẽ sẵn lòng thôi. Một số người có thể biết hiện tại Chris đang ở đậ.”
Decker cho ông bác sĩ địa chỉ liên hệ của họ.
“Chúng tôi sẽ ở lại trong thành phố vài ngày,” Decker đứng dậy và nói, “Cảm ơn ông, Harold, ông đã giúp cho chúng tôi rất nhiều.”
Rabinowitz cũng đứng dậy. “Ta cầu Chúa rằng Chris không phải là người các anh tìm, nhưng nếu đúng là cậu ta, ta càng cầu mong các cậu có thể bắt được cậu ta và ngăn chặn cậu ta gây hại thêm cho bất cứ ai khác nữa.”
“Vậy thì hãy cùng hi vọng Chúa đang lắng nghe,” Decker nói.
“Vậy là cậu nghĩ rằng thủ phạm có thể sẽ tiếp tục giết người sao?” Rabinowitz nói.
“Tôi biết hắn sẽ cố.”
 
CHƯƠNG 43
 
Sau khi rời khỏi nhà Rabinowitz, Jamison và Decker đậu xe lại để kiếm đồ ăn trưa. Trong lúc ngồi tại quán cà phê, Decker gọi cho Lancaster và thông báo tình hình cho chị.
Chị nói, “Được rồi, chúng tôi sẽ truy tìm dấu vết của gã Sizemore này nếu có thể. Và nếu dấu vân tay của hắn được lưu trực tuyến ở đâu đó, chúng tôi sẽ xin trát để lấy và đối chiếu với mẫu của Leopold. Ngay khi tìm được gì, tôi sẽ gọi cho anh.” Chị dừng lại. “Vậy là, quay lại nơi xưa chốn cũ nhỉ. Tôi không hề biết anh từng ở lại cái viện nghiên cứu đó đấy.”
“Không một ai biết, ngoại trừ Cassie.”
“Chúng ta là cộng sự suốt một thời gian dài, Amos ạ.”
“Tôi chưa từng nghĩ cô sẽ quan tâm đến quá khứ của tôi, Mary ạ.”
“Ồ, vậy thì việc này cho thấy kể cả những người có bộ óc vĩ đại vẫn mắc sai lầm,” chị nói cộc lốc, rõ ràng là cảm thấy khó chịu và thất vọng.
Chị ngắt máy và Decker đặt điện thoại xuống bên cạnh dĩa thức ăn bao gồm một chiếc bánh burger phô mai đã ăn hết một nửa và một ụ nhỏ khoai tây chiên.
“Mọi chuyện ổn chứ?” Jamison hỏi.
“Ổn,” Decker nói trong lúc cầm một miếng khoai lên.
Jamison nói, “Nếu Sizemore đúng là Leopold, hắn chắc hẳn phải là một thằng bệnh hoạn.”
“Nếu hắn sát hại mười ba người thì hắn đúng là một thằng bệnh hoạn.”
“Ý tôi không phải như thế.”
“Vậy giải thích đi.”
Cô gạt dĩa đồ ăn sang bên và ngả nười ra trước. “Điều khiến hắn ‘bất mãn’ là anh nhận được nhiều sự chú ý hơn một số bệnh nhân hắn ưu ái à? Giống như kiểu đó là một cuộc thi sắc đẹp của những bộ não sao? Thật à? Vậy là để trả đũa hắn sát hại tất cả những người đó sao?”
“Nói lại cho đúng này, nếu hắn thực sự là Leopold, hắn không giết ai cả. Ừm, chúng ta chưa biết là kẻ nào sát hại đặc vụ Lafferty. Nhưng Leopold đang ngồi trong trại giam khi gia đình tôi bị sát hại và cả vào lúc vụ nổ súng ở trường Mansfield xảy ra. Hắn có bằng chứng ngoại phạm rất chắc chắn. Và dường như cả hai lần bị tống giam đó đều là có tính toán.”
“Nghĩa là hắn biết trước gia đình của anh sẽ bị sát hại và kẻ nổ súng sẽ tấn công trường Mansfield?”
“Thời điểm hắn đến tự thú với cảnh sát Burlington hơi quá trùng hợp 1 chút. Và tôi đã kiểm tra hồ sơ bắt giữ ở Cranston. Gây rối trật tự. Hắn chỉ ở lại trong trại giam có một đêm và chỉ có thế. Họ thậm chí còn không buồn truy tố hắn. Họ cứ thế mà thả hắn đi vào sáng hôm sau. Nhưng chỉ thế là đủ chứng minh quá rõ ràng hắn không thể gây ra vụ sát hại những người trong gia đình tôi.”
“Phải rồi, vậy là hắn hợp tác với một ai đó, gã gầy gò cao một mét tám ngụy trang thành thằng điên vai rộng, để thực hiện vụ thảm sát thật sư.”
“Vậy kẻ đó không thể nào là Sizemore.”
“Vậy là nếu Sizemore là kẻ mà anh gây bất mãn, hắn đã hợp tác với kẻ đóng giả làm ả bồi bàn ở quán bar. Tôi tự hỏi kẻ đó là ai mà có thể xuống tay không chút khó khăn như thế?”
“Tôi cũng rất muốn biết.”
“Thế nhưng, nếu Sizemore đứng sau chuyện này, làm thế nào để một thằng điên rồ như thế có thể trở thành một chuyên gia tâm lí nhỉ?”
“Ắt hẳn đầu óc hắn đột ngột trở nên bất thường. Có thể hắn là một kẻ rối loạn lưỡng cực và thuốc không còn tác dụng nữa. Leopold rõ ràng đã nói với luật sư hắn là một kẻ lưỡng cực và không dùng thuốc nữa, chí ít theo lời những gì mà luật sư chỉ định của hắn nói với tòa. Hoặc có thể là hắn đã gặp phải một loại chấn thương nào đó, hoặc là về thể chất hoặc về tinh thần, mà làm thay đổi hắn. Hắn có một cục bướu ở cổ và vết tiêm thuộc trên cánh tay. Có thể đã có rất nhiều thứ được bơm vào người hắn. Có thể có rất nhiều chuyện xảy đến với một người trong suốt hai mươi năm. Nếu đó là Sizemore, hắn quá mạo hiểm khi để tôi giáp mặt với hắn. Hắn biết bộ não của tôi như thế nào. Tôi không quên bất kì thứ gì. Nếu đó là hắn, đáng lí tôi đã nhận ra hắn.”
“Nhưng anh không nhận ra. Thế nên có thể đó không phải là hắn.”
“Có thể.”
“Dù sao mọi chuyện vẫn thật đáng sợ.”
“Tất nhiên là đáng sợ rồi. Bởi vì bất kì ai trong chúng ta cũng có thể bị trở nên như thế.”
“Hoặc có thể hắn chỉ đơn thuần là một kẻ vốn tàn bạo như thế.”
“Có thể lắm,” Decker đồng tình. “Vậy đã làm cô thấy đỡ sợ hơn chưa?”
Cô rùng mình. “Tôi không nghĩ có chi tiết nào trong vụ án có thể khiến tôi đỡ hơn.”
Điện thoại của Decker rung. Anh bắt máy.
Rabinowitz nói, “Amos, ta không biết đây là tin tốt hay tin xấu nữa, nhưng viện đã chuyển tiếp các thư công việc tới Chris từ lúc cậu ta chuyển đi. Thời gian cũng đã lâu rồi nên việc chuyển thư cũng không còn nhiều, nhưng họ có địa chỉ.”
Decker ghi lại địa chỉ, cảm ơn Rabinowitz, và sau đó ngước nhìn địa chỉ trên điện thoại của mình.
Anh nói, “Nó nằm giữa Chicago và Burlington. Chúng ta đã đi qua nó trên đường tới đây.”
“Nghĩa là nếu hắn sống ở đó, hắn có thể tới Burlington và quay về tương đối dễ dàng.”
“Đi thôi.”
“Decker, chẳng phải chúng ta nên báo cảnh sát việc này sao?”
“Việc gì? Chúng ta đâu có bằng chứng hắn đã làm gì sai trái. Không có một chút tí ti nào. Chúng ta sẽ tìm hiểu xem sao. Nếu chúng ta đúng, sẽ gọi cảnh sát tham gia.”
Anh nhanh nhẹn bước ra cửa quán cà phê, và cô chạy theo, chậm rãi hơn.
Bốn giờ sau, họ dừng xe trên con đường cao tốc và dành thêm hai mươi phút nữa trên các con phố trước khi Decker, bằng GPS trên điện thoại, chỉ đường cho Jamison đi tới một khu dân cư xập xệ đã có từ vài chục năm trước.
“Cuộc sống của gã này có vẻ đang gặp khó khắn,” Jamison nhận xét.
Decker không nói gì, nhưng ánh mắt của anh thì đang đảo đều đều nhìn xung quanh, quan sát tất cả mọi thứ.
“Kia rồi, căn thứ ba bên trái có cửa chớp màu đen ấy. Cho xe đi qua đó đi.
Jamison đánh xe đi tiếp, và sau đó Decker bảo cô đậu xe ở vỉa hè bên phía đường đối diện, cách căn nhà của Sizemore khoảng sáu bảy căn nhà.
“Decker, Rabinowitz đã nói rằng Sizemore đã rời viện vài năm.”
“Đúng thế.”
“Tôi vừa mới nghĩ ra điều này. Hắn thực sự có thể nào là Leopold không? Ý tôi là, tên Leopold thực sự trông quá là vô gia cư và mất trí. Có thể nào Sizemore suy sụp nhanh tới mức đó không?”
“Có,” Decker nói. “Có tôi đây. Và chẳng hề cần đến vài năm.”
Cô há hốc miệng nhìn anh vài giây rồi chầm chậm quay đi trước khi nói, “À, được rồi.”
Decker nhích người ra khỏi phía sau chiếc xe và bước ra ngoài. Khi Jamison chuẩn bị làm giống thế, anh thò đầu trở vào tronv và nói, “Cô ở nguyên trong xe đi.”
“Gì chứ!”
“Nếu có gì bất trắc, đánh xe đi và báo cảnh sát.”
“Decker, tôi sẽ không để anh - ”
“Có, cô sẽ làm thế.” Anh đóng cửa xe và bước về phía căn nhà.
Anh đi dọc theo vỉa hè, hai tay đút trong túi quần, đầu cúi xuống, coa vẻ như đang cố tránh cơn gió buốt đang thổi mạnh.
Nhưng anh vẫn hướng ánh mắt sang bên phải, quan sát căn nhà theo bước đi. Trời đã tối dần, nhưng trong nhà không thấy có ánh đèn. Không thấy ô tô đậu trên đường dẫn vào nhà Sizemore, nếu hắn vẫn còn sống ở đó, thì có thể lúc này không có ở nhà. Có thể hắn đang ở Burlington, lên kế hoạch cho vụ giết người tiếp theo.
Anh thực sự đã nghĩ không lí nào Sizsmore và Leopold lại là cùng một người. Mặc dù đã hai mươi năm, và con người có thể thay đổi, Decker cảm thấy đáng lẽ anh sẽ nhận ra người đó, mặc dù ở viện anh không tiếp xúc nhiều với Sizemore đến thế. Nhưng nói chung, sẽ không thể chắc chắn nếu không tìm hiểu sâu hơn. Và ngay lúc này, đây là manh mối khả dĩ duy nhất mà anh có.
Anh đi sang đường, bước qua giữa hai chiếc e ô tô đang đậu, một trong số đó đậu chờm lên lề lát gạch xi măng, rồi đi dọc trên cái vỉa hè đã bong tróc đó. Anh đi vượt qua ngôi nhà, đi vòng quanh cả khu, rẽ vào một con ngõ, và cuối cùng đến được bên ngoài sân sau của căn nhà. Anh trèo qua cái hàng rào mắt cáo đã võng xuống và áp sát căn nhà từ phía sau. Từ phía này cũng không nhìn thấy ánh điện.
Anh khép nép lén áp sát cửa hậu của ngôi nhà, một tay đã thò vào trong người, đặt lên báng của khẩu súng, và chờ đợi, chăm chú lắng nghe. Không thấy có tiếng bước chân. Không có bất cứ một âm thanh nào cả.
Anh nhìn sang trái và sang phải. Anh không nhìn thấy ai ở sân sau của các căn nhà ở cả hai phía. Buổi tối hôm nay quá lạnh nên không ai ngồi lại bên ngoài.
Anh húc khuỷu tay vào cửa kính, thò tay vào trong, mở khóa cửa và đi vào nhà.
Lúc này anh đang ở trong một cái sảnh nhỏ. Bên tay trái của anh là một cái máy giặt cùng máy sấy. Đi lên vài bậc cầu thang ngắn là bếp. Mùi của đồ chiên vẫn đang ngập trong bầu không khí, cùng với mùi hôi rình, cũ mốc của khói thuốc lá. Anh còn nhớ Sizemore lầ một kẻ nghiện thuốc. Anh đã từng nhìn thấy y nghỉ tay hút thuốc, cầm cả một bao nguyên trong tay, và có vẻ như y chưa từng bỏ được thói quen đó. Nhưng Decker đã ngồi trong quán bar cùng với Leopold, và hắn không hề đốt thuốc. Nếu là một kẻ nghiện thuốc, ai cũng sẽ đốt thuốc trong quán bar nếu có thể, và ở Burlington, việc làm đó là hợp pháp1. Và Decker không hề ngửi thấy mùi khói thuốc trên quần áo của Leopold. Có mùi là anh sẽ ngửi thấy ngay. Manh mối này đang dần bắt đầu đi chệch hướng, nhưng dù thế anh vẫn phải theo đuổi đến cùng.
 
1.Một số bang ở Mỹ cấm hút thuốc trong các quán bar, nhà hàng, nơi công cộng… các không gian khép kín nói chung.
Anh bước lên cầu thang và nhìn xung quanh căn bếp nhỏ. Có một số chén dĩa trong bồn rửa. Một tờ báo trong sọt rác. Anh kiểm tra ngày phát hành. Từ hai tuần trước. Mọi thứ trông ngày một khó hiểu.
Anh rời khỏi căn bếp và đi kiểm tra từng phòng ở tầng chính. Không một dấu hiệu nào cho thấy nơi này gần đây từng có nười ghé qua. Anh bước lên một hàng cầu thang ngắn để lên tầng trên.
Rồi sau đó, khi đã dần mất bình tĩnh, anh phóng nhanh về trước, đá mở các cánh cửa trên đường đi. Anh kiểm tra hết căn phòng thứ nhất, căn phòng thứ hai, và sau đó đi tới căn phòng thứ ba và căn phòng cuối cùng.
Anh đẩy mở cửa, và bắt đầu hít những hơi thật sâu, không phải vì anh muốn thế, mà bởi vì đó là cách duy nhất để làm cho khứu giác của anh mất đi cảm giác.
Anh tiến tới chỗ cái giường và cúi đầu nhìn xuống.
Anh không dám chắc thi thể đang nằm trên giường là ai, bởi vì nó đã bị phân hủy quá nghiêm trọng. Chiều cao thì có vẻ tương ứng. Nhưng gương mặt đã bị rã nát quá mức. Xét mức độ phân hủy, trông có vẻ như thi thể này đã ở đây được một thi gian tương đối lâu.
Thi thể đã chiếm trọn sự chú ý của anh. Anh đã không đưa mắt nhìn thêm bất kì một chỗ nào khác.
Giờ thì anh mới bắt đầu nhìn. Ánh mắt của anh quét quanh căn phòng và sau đó bị giữ lại ở một chỗ.
Anh bước tới bức tường đó và câm lặng nhìn chằm chằm vào dòng chữ viết trên đó.
Lại sai lầm nữa rồi. Nếu giờ này hắn đã rửa nát, anh đã mất quá nhiều thời gian. Cố gắng lên đi. Có lẽ anh sẽ tới được đó. Hoặc cũng có thể là không. Yêu anh nhiều, người anh em.
 
CHƯƠNG 44
 
Đặc vụ Bogart nói, “Đó là Chris Sizemore. Họ vừa mới xác nhận từ mẫu vân tay và dấu răng.”
Decker đã gọi điện cho cảnh sát và sau đó là vị đặc vụ FBI. Những người chấp pháp đã ào đến căn nhà nhỏ đổ nát như một cơn dông đá.
Họ đang ở trong căn nhà của Sizemore. Mừng thay, di cốt của người đàn ông đã được chuyển đi từ lâu.
Alexandra Jamison đang ngồi trong xe cùng vỡi yêu cầu nghiêm khắc là không được phép viết, dù chỉ một từ về chuyện này.
Decker gật đầu. “Tất nhiên người đó là Chris rồi.”
“Tại sao?”
Decker chỉ tay lên dòng chữ trên bức tường. “Vì cái đó.”
Bogart đứng bên cạnh anh. “Giải thích dùm cho.”
“Chúng nói tôi lại sai lầm nữa rồi. Đây là nhà của Sizemore. Tôi chỉ đến đây bởi vì tôi nghĩ anh ta có liên quan. Nhưng anh ta không hề. Anh ta chỉ là một nạn nhân nữa mà thôi.”
“Vậy là chúng đang chơi anh. Từng bước đều dắt mũi anh.”
Decker gật đầu? “Làm như chúng thông minh hơn tôi, và có khi đúng là như thế thật.”
“Ừm, vậy thì hãy cùng cầu trời khấn phật là chúng đã lầm.”
“Chúng vẫn luôn đi trước một bước suốt từ đó đến nay. ‘Nếu giờ này hắn đã rửa nát’? Anh ta đã phân hủy tương đối nhiều khi tôi phát hiện ra.”
“Ừm, chúng đã có một khoảng thời gian dài để lên kế hoạch cho việc này. Có thề anh sẽ đuổi kịp chúng. Rùa và thỏ. Và anh còn có FBI sau lưng nữa. Anh không cần phải giải quyết mọi việc một mình.”
Họ đi ra ngoài; lúc này đã là đầu buổi sáng.
“Số 711 Duckton,” Bogart nói. “Nơi xưa chốn cũ, theo lời anh nói.”
“Phải.”
“Vậy nếu không phải Sizemore là người có thù hằn với anh tại đó, thế có thể là ai?”
“Các bác sĩ khác và những người làm việc ở viện không có vấn đề gì với tôi mà tôi có thể nhớ được.”
Bogart ngồi xuống bậc cửa bằng bê tông và thở dài. “Được rồi. Còn ai khác nữa không? Bởi vì chắc chắn phải có gì đó chứ. Nếu không, tại sao lại dẫn anh tới nơi này? Còn cách nào khác để hắn biết chuyện này nếu hắn không phải là một bệnh nhân hoặc nhân viên ở đó?”
Decker ngồi xuống bên cạnh anh ta. “Không chỉ đơn thuần là hắn có mặt ở đó. Phải có một điều gì đó mà tôi đã làm, hoặc hắn cho rằng là tôi đã làm, khiến hắn thực hiện những việc như thế này.”
“Đối với một tâm trí không bình thường, gần như bất kì thứ gì cũng có thể bị hiểu là một sự khinh thường. Decker ạ. Anh bước qua cửa trước hắn. Anh hắt hơi vào mặt hắn. Anh trả lời một câu hỏi mà hắn muốn trả lời. Làm quái có ai biết được cơ chứ?”
“Tôi phải biết. Tôi là người duy nhất có thể biết.”
“Ừm, anh không bao giờ quên điều gì cả, thế nên tôi đành phải tin cậy là rồi anh sẽ nhớ ra thôi.”
“Vấn đề là ở đó. Nếu tôi nhớ không ra, thế tức là không có gì để nhớ cả.” Decker gõ gõ tay vào bên cạnh đầu. “Tôi không có chợt nhớ ra gì cả, tôi phải lục lọi trong tâm trí mình và tự nhớ ra chúng. Khác biệt là chỗ ấy.”
Bogart đứng dậy và cúi đầu nhìn anh. “Có lẽ đúng là có sự khác biệt thật, sau khi đã nghe anh giải thích.” Anh ta đút hai tay vào túi quần. “Ừm, bác sĩ pháp y ước lượng Sizemore đã thiệt mạng được khoảng hai tuần. Vậy là không xác định được vị trí của Leopold và ‘người bạn’ của hắn rồi. Chúng tôi sẽ đi hỏi thăm trong khu dân cư, để xem có phát hiện được gì không.”
“Tôi ngờ là sẽ không phát hiện ra gì đâu. Tôi lẻn vào sân sau khi mà trời vẫn còn nhập nhoạng và đột nhập vào trong. Tôi to con như vậy, thế mà dường như không ai thấy tôi cả.”
“Ừ, nhưng chúng tôi vẫn sẽ tiến hành thôi.”
“Sizemore có đi làm không?”
“Chúng tôi đang tìm hiểu đây. Nếu có, đáng lẽ phải có ai đó thông báo anh ta mất tích khi không thấy mặt mũi đâu chứ?”
“Có một số công việc không yêu cầu anh phải có mặt ở chỗ làm mà.”
“Chúng tôi sẽ báo cho anh biết chúng tôi tìm hiểu được gì.”
Bogart để anh ở lại và Decker đứng dậy rồi đi về phía xe của Jamison và bước vào trong.
Cô nhìn anh với anh mắt buồn ngủ từ ghế lái ở phía trước.
“Đáng lẽ cô nên lái xe về nhà nghỉ đi,” anh nói. “Tôi có thể đi nhờ một trong số mấy người của Bogart được mà.”
Cô lắc đầu và nói, “Không, dù sao thì tôi cũng chẳng thể ngủ nổi. Vậy đó là Sizemore sao?”
“Phải. Chết từ khoảng hai tuần trước.”
“Lúc nãy từ trong nhà đi ra, anh nói lời nhắn trên tường lại là một lời khiêu khích nữa à?”
“Rằng tôi đã sai lầm nhưng hãy tiếp tục cố gắng đi. Hắn cũng ám chỉ rằng có thể tôi không thông minh như mình tưởng. Và hắn lại gọi tôi là ‘người anh em’ lần nữa.”
“Hắn thực sự đang chơi trò đấu trí với anh.”
“Có vẻ là thế.”
Cô vươn vai và ngáp. “Rồi giờ sao?”
“Chúng ta về ngủ một chút. Cả hai chúng ta cùng suy nghĩ. Biết đâu lại nảy ra vài ý tưởng gì đó.”
“Anh thực sự nghĩ chuyện đó sẽ xảy ra à?”
“Không.”
Anh nghĩ, Bởi vì mọi chuyện không nảy đến với mình. Mọi thứ luôn ở sẵn trong đầu mình rồi. Nếu không nảy ra được gì cả thì do chúng không có ở trong đó.
 
CHƯƠNG 45
 
Họ rời đi vào ngày hôm sau và bắt đầu chuyến lái xe đường dài quay trở về Burlington. Decker gần như không nói gì, và mọi câu hỏi mà Jamison dành cho anh phần lớn đều bị ngó lơ. Cuối cùng cô từ bỏ và mở đài phát thanh. Họ dừng lại dùng bữa ở một quán ăn cho dân lái xe tải khi xuống khỏi đường cao tốc. Giữa một biển xe khổng lồ, Jamison đậu chiếc xe cỏn con của mình vào một chỗ còn trống và họ xuống xe.
Decker đang di chuyển trong tư thế người cứng đờ. Cô để ý thấy.
“Xin lỗi, ghế chật quá,” cô nói.
Anh day cổ, vươn thẳng lưng cho tới khi nghe thấy một tiếng rắc nhỏ, và nói, “Tôi đói rồi.”
Quán ăn này đông nghịt khách, và họ được dẫn tới chỗ một cái bàn ở phía sau góc, bên cạnh khu đặt bàn bida. Tại đây các tài xế xe tải đánh bi và đặt cược kết quả. Bên cạnh đó là một cửa hàng quà tặng, tại đây các món đồ phổ biến nhất dường như là đồ lót và đồ chơi người lớn dành tặng cho các phu nhân hoặc bạn gái ở nhà.
Họ gọi món, và Decker xúc đường bỏ vào tách cà phê của mình trong khi mắt nhìn chằm chằm vào mặt bàn đá.
Một bài hát của Bonnie Raitt vang nhè nhẹ khắp phòng từ một cái hộp chơi nhạc.
Jamison nhìn các hoạt động diễn ra ở xung quanh, bao gồm một người đàn ông đội nón kiểu cao bồi đương cưỡi trên lưng con ngựa điện, và ở yên trên đó được vài giây trước khi bị hất xuống, tạo trò vui cho bạn bè của mình.
Decker gãi gãi vàl bộ rậ rồi đưa mắt nhìn cô.
“Cô cần bắt máy bay và đi xa khỏi tôi nhất có thể. Cô hiểu điều đó chứ?”
“Tôi tưởng chúng ta đã từng thảo luận chuyện này và thống nhất rồi. Andy Jackson là - ”
“Anh ấy là bạn và là thầy hướng dẫn của cô. Và vì là bạn và là thầy của cô, anh ấy sẽ không muốn cô bị sát hại.”
“Tôi mang bình sịt hơi cay và - ”
“Có thể ngay lúc này chúng đang ở đây, cô biết chứ. Quan sát chúng ta. Quan sát cô.”
“Anh chỉ đang cố dọa cho tôi sợ.”
“Tôi không cần phải dọa cô, Jamison ạ. Cô là một người thông minh, nghĩa là cô đã đang biết sợ rồi.”
Đồ ăn tới, và họ dùng bữa trong im lặn, cả hai dường như đều đang cố tránh ánh mắt của người còn lại. Khi hóa được được mang tới, Decker trả tiền.
“Anh không nợ tôi gì cả,” cô nói.
“Tôi ăn nhiều hơn cô rất nhiều. Chia tiền là không công bằng.”
Họ cùng trở ra xe. Decker thận trọng quan sát xung quanh, dù vờ như đang không làm vậy.
 
☆☆☆
“Anh muốn tôi thả anh ở đâu?” Jamison hỏi khi họ lái xe đi dọc các con phố sau khi đã về tới Burlington. “Nhà trọ của anh, trường học, hay sở cảnh sát? Kiếp sau?”
“Cô sẽ lên máy bay chứ?”
Cô quay đầu lại nhìn anh. “Tôi không biết nữa,” cô nói nhỏ.
“Tôi nghe nói Florida thời điểm này ổn lắm. Hoặc có thề là Miami?”
“Tôi không thích trốn tránh khỏi rắc rối.”
“Đây không phải là rắc rối. Chuyện còn hơn cả vậy. Là về chuyện bảo toàn tính mạng.”
“Thế còn anh thì sao? Anh sẽ ở lại, đúng không? Anh sẽ không nhảy lên máy bay và đào tẩu đâu nhỉ?”
“Tôi sẽ ở lại. Và cô có thể thả tôi ở nhà trọ.” Là tất cả những gì Decker nói.
Cô làm theo. Khi bước xuống khỏi xe, Decker nói. “Đi hoặc ở. Dù thế nào, hãy báo cho tôi biết, được chứ?”
Cô gật đầu và sau đó lái xe rời đi.
Decker đi vào phòng, tắm rửa, ngủ một chút, rồi sau đó đi trở ra, bắt chuyến xe bus tới trường Mansfield ở đầu kia thành phố.
Anh xuống xe ở một góc phố, ngước mắt nhìn mặt tiền đã phai màu của ngôi trường cấp ba, rồi bước vào trong.
Lancaster gặp anh trong thư viện. Trông chị gầy gò và xanh xao hơn, và tay trái của chị run lên bần bật, khiến chị phải đút nó vào trong túi quần. Họ ngồi phía cuối thư viện và anh kể cho chị nghe các sự kiện đã diễn ra trong hai ngày qua.
“Vậy anh có nghĩ Jamison sẽ nghe theo lời khuyên của anh không?” chị hỏi.
Anh nhún vai. “Tôi hi vọng là có. Tôi không ép cô ấy rời đi được.”
“Ừm, Chris Sizemore cũng không ở trong thành phố, và trông kết cục của anh ta kìa.”
“Chúng không thể truy sát tất cả mọi người đâu, Mary ạ. Đây không phải là một tổ chức bí mật với nguồn lực vô hạn. Chỉ có hai người thôi. Tài giỏi và có phương pháp, nhưng chỉ có hai người.”
“Đây không phải là một thông tin chính xác. Đó là suy đoán từ phía anh. Giống như suy đoán của tôi về 7-Eleven ấy.”
Anh ngẫm nghĩ một lát rồi gật đầu. “Thực sự ra, cô nói đúng. Ở đây có tìm ra được gì không?”
Chị lắc đầu. “Quân đội đãi bôi được năm câu là sẽ ủng hộ. Khả năng là cũng chả cung cấp thêm được gì nhiều đâu. Pháp chứng cũng đang đi vào ngõ cụt. Chúng ta biết kẻ nổ súng đi vào, di chuyển xung quanh và rời đi như thế nào, nhưng phát hiện đó cũng không giúp chúng ta đính hướng nên làm gì tiếp theo, Amos ạ.”
“Điểm duy nhất chứng minh được là mối liên hệ đối với tôi. Nó đã dẫn tôi đến Chicago và tìm đến viện nghiên cứu. Manh mối đó được xác nhận bằng việc Chris Sizemore bị sát hại. Cách duy nhất chúng có thể biết được về anh ta, và về nỗi bất bình mà anh ta dành cho tôi, đó là hoặc chúng từng ở đó, hoặc biết về những gì diễn ra ở đó hai mươi năm trước.”
“Và anh không nhớ lại được gì có thể giúp ích cho chúng ta à? Trong số tất cả những người đến và đi ở nơi đó hồi anh vẫn còn ở đấy?”
Decker ngả người ra sau ghế, và nhìn xung quanh vào các điều tra viên ngồi ở các vị trí khác nhau miệt mài nghiên cứu các chi tiết vụ án. Nhưng anh có thể nhìn thấy trong ánh mắt và cử chỉ của họ nguồn năng lượng đã sắp cạn kiệt, một nỗi phiền muộn bao trùm họ. Anh đã từng chứng kiến các vụ án đi vào bế tắt như thế này. Dần dà họ tin rằng họ sẽ không tìm được lời giải cho vụ án. Rằng họ sẽ không thể tóm được kẻ đã gây ra việc này. Nó đang hút kiệt sinh lực của tất cả mọi người.
Anh lại đưa mắt nhìn về phía Lancaster. “Mối liên hệ duy nhất ngay lúc này là Leopold, nhưng tôi biết chắc chắn là hắn chưa từng ở viện. Khả năng khả thi duy nhất là hắn và Sizemore là cùng một người. Nhưng cho dù đó là giả định rất rất mong manh, thì giờ giả định đó cũng đã bị phản bác.”
“Ừm, chúng ta đã thấy rằng những kẻ này có thể đánh lạc hướng nhận định về vẻ ngoài. Chúng biến một con người bé nhỏ trở nên to lớn. Và chúng ta đã phát đi thông báo truy tìm Leopold khá lâu rồi, nhưng chẳng thu được gì. Gã này cứ như là đã tan biến.”
“Và cũng không có dấu vết gì của ả phục vụ ở quán bar à?”
“Không có gì. Có thể là nam hoặc nữ, theo lời người phục vụ quầy bar.”
“Lại là nhận định dựa trên vẻ ngoài. Một gã đàn ông đóng giả làm phụ nữ. Và hắn đã làm rất tốt. Tôi đã tin thật. Và hắn còn phục vụ bia cho tôi. Cách tôi vài phân mà tôi không hề nghi ngờ gì.”
“Anh có tin là ả phục vụ đó tham gia vào việc này không?”
“Người phục vụ quầy bar khai với FBI là ả biến mất khoảng năm phút trước khj Leopold rời đi, và chưa từng quay lại. Có thể là trùng hợp, nhưng tôi không nghĩ thế.”
“Được rồi, nhưng như thế thì nó vẫn không phải là thông tin chính xác. Hiện giờ thì chưa.” Chị lật tìm một ít giấy tờ. “Nhưng tôi có cái thông tin này đúng chính xác đây.”
Anh ngồi thẳng dây. “Cái gì?”
“Sáu học sinh và ba người lớn bị sát hại tại ngôi trường này. Năm trong số học sinh là nam.”
“Và Debbie Watson là nữ sinh duy nhất.”
“Nhưng cả năm nam sinh đều trong đội bóng bầu dục. Nói cho đúng thì chỉ có ba người là cầu thủ. Một người là quản lí của đội, và người còn lại mới bị đuổi khỏi đội gần đây do vi phạm gì đó.”
Decker ngồi thẳng người hơn nữa. “Beth Watson có nói rằng Jimmy Schikel chơi trong đội. Nhưng tôi không liên hệ những người khác cũng có mặt trong đội. Bởi vì danh sách nạn nhân còn có Debbie và những người lớn khác.”
“Và Joe Krammer, mặc dù là giáo viên thể dục, song cũng là huấn luyện viên của đội bóng bầu dục.”
“Còn trợ lí hiệu trưởng thì sao?”
“Tôi không tìm được liên hệ gì giữa Barry Dresden với đội bóng. Anh ta không có con cái học ở trường, nghĩa là gia đình họ không thể có người trong đội bóng. Và rồi, còn Andy Jackson.”
“Nhưng anh ta bị sát hại do chạm mặt với kẻ nổ súng. Có thể là những người khác bị nhắm sẵn do có mối liên hệ với đội bóng bầu dục.”
“Nhưng Dresden không có mối liên hệ như thêz.”
“Nhưng còn tất cả các nạn nhân là nam sinh cộng thêm huấn luyện viên thì lại liên quan đến đội bóng? Không thể nào là trùng hợp đâu, Mary ạ. Không thể có chuyện đó được đâu. Có rất nhiều mục tiêu trong mỗi phòng học. Hắn phải biết hắn chuẩn bị nhắm bắn ai. Chờ chút, tất cả các nạn nhân đều cao lớn đúng không? Ngoại hình của họ trông giống vận động viên bóng bầu dục không?”
“Có hai người, những người khác thì kích thước trung bình. Thế nên tôi khá nghi ngờ việc hắn chọn họ chỉ vì ngoại hình của họ. Vào các ngày hứ Sáu họ sẽ mặc quần áo đấu trước trận bóng, nhưng vụ nổ súng không diễn ra vào ngày thứ sáu. Nhưng hắn có thể dễ dàng tìm ra ai nằm trong đội bóng. Và hắn có thể tìm được cả thời khóa biểu của họ nữa. Hoặc có thể là Debbie đã kể với hắn. Và nếu như vậy, có lẽ cô bé biết hắn đang lên kế hoạch làm gì.” Chị dừng lại. “Nhưng dù thế nào, tôi muốn anh biết tôi đã phát hiện được những gì.”
Anh nhìn chị với vẻ tán dương. “Làm tốt lắm, Mary ạ. Không ai nhận ra điều này, bao gồm cả tôi.”
Chị mỉm cười, vẻ mệt mỏi. “Ừm, tôi không quen với việc phát hiện được cái gì đó trước anh, thế nên cảm giác đúng là rất sướng. Nhưng, thế nghĩa là sao, Amos nhỉ?”
“Tôi từng chơi cho đội bóng bầu dục ở đây. Chúng lấy đi tất cả cúp của tôi. Một phần trong cuộc báo thù của chúng.” Anh lặng đi.
“Gì cơ?”
“Dresden, trợ lí hiệu trưởng, là bị chúng nhắm sẵn. Kẻ nổ súng đi vào văn phòng để sát hại anh ấy. Debbie và Jackson thì có thể giải thích như vậy được. Nhưng Dresden thì không. Nếu không có liên hệ nào với đội bóng, thì tại sao anh ấy lại bị sát hại?”
“Ý anh là lí do có thể không phải là vì anh chơi bóng ở đây? Mặc dù chúng đã lấy đi cúp sao?”
“Phải. Nhưng nếu không phải là thế thì là gì?”
“Tôi không nghĩ ra,” Lancaster thừa nhận.
“Ừm, cứ dằn vặt trong vô vọng cũng chẳng có lợi gì chừng nào chưa tìm ra được gì thêm. Nhưng có một nơi nầy chúng ta phải đến cái đã.”
“Đến? Đến đâu?”
“Quán bar.”
“Anh khát à?”
“Ừ, nhưng không phải khát bia.”
 
CHƯƠNG 46
 
Một bông tuyết bay xuống khi Decker đứng bên kia đường đối diện với quán bar, Lancaster đứng bên cạnh anh. Bông tuyết rơi xuống vìa hè và sau đó tan chảy gần như ngay lập tức.
Lancaster rút ra một chiếc khắn tay và hắt hơi.
“Nếu anh không muốn vào trong quán, chí ít chúng ta ngồi đợi trong xe được không?” chị đề nghị. “Trời lạnh cóng và tôi cảm giác sắp cúm đến nơi rồi.”
Decker đã quan sát từng phần từng phần của cả khu phố rồi, rồi sau đó, anh mắt của anh quay lại điểm xuất phát và quan sát lại thêm một lần nữa. Anh bắt đầu bước đi và Lancaster vội vã đuổi theo anh. Họ đi hết cả hai bên của con phố theo suốt chiều dài của khu nhà với cả hai hướng trái phải.
“Không có camera,” anh hỏi.
“Burlington có lắp camera giám sát, có điều không phải ở tất cả mọi nơi. Tôi nghe nói ở London và New York, họ lắp trên mọi con phố. Nhưng chúng ta đâu có nhiều tiền thuế như họ, phải không?”
“Có cả camera giám sát của tư nhân,” Decker nói. “Ngân hàng, cửa hàng cầm đồ, cửa hàng rượu. Nhưng ở đây tôi không thấy có cái nào. Cô kiểm tra được không? Thử xem cả khu phố này có cái nào hay không?”
“Tôi sẽ gọi điện.” Chị làm thế trong lúc Decker tiếp tục nhìn ngó xung quanh. Thêm một vài bông tuyết đang rơi xuông, và những đám mây trên đầu họ đã kéo lại dày đậc. Nếu nhiệt độ tiếp tục giảm, có thể lớp tuyết dày sẽ được tạo thành.
Lancaster bỏ điện thoại xuống. “Họ sẽ báo lại cho tôi. Giờ thì sao?”
Decker đi sang đường, hướng vè quán bar, và chị đi theo.
Quán bar kín khách, hầu hết các bàn là các cặp đôi đang ngồi, mặc dù ở phía cuối gian phòng trông như đang có một bữa tiệc độc thân của anh chàng nào đó đang diễn ra. Lancaster nhìn với ánh mắt khinh miệt dành cho cô nàng vũ nữ thoát y, đang trong quá trình lột bộ quần áo Miêu nữ ôm sát thân.
“Thật lạ sao đám thanh niên lại phấn khích với cái trò đó đến thế.”
“Do nó cùng là thứ bình thường vẫn làm họ phấn khích đấy thôi,” Decker lơ đễnh đáp. “Phụ nữ đẹp trong quá trình cởi từng món đồ trên người.” Anh lách người đi thẳng tới quầy bar và nhìn người phục vụ, vẫn là người mà lần trước anh từng nói chuyện. Người đàn ông đó tiến lại.
“Uống gì nào?” anh ta hỏi.
“Tôi sẽ gọi một vại Miller tươi.” Decker nhìn Lancaster.
“Tôi vẫn đang chính thức trong giờ làm,” chị thì thầm.
“Và một li cocktail Virgin Mary cho bạn tôi,” Decker nói.
Khi người đàn ông rời đi để làm đồ uống cho họ, Decker xoay ghế lại, dựa lưng vào quầy bar, và quan sát căn phòng. Lancaster cũng làm theo.
“Vậy là Leopold dẫn anh vào quán bar này, nơi mà cộng sự của hắn được cho là đang hóa trang thành 1 nữ phục vụ. Hai người nói chuyện, và sau đó, được cho là với sự trợ giúp của kẻ được cho là cộng sự, hắn biến mất.”
“Được cho là vậy, đúng thế,” Decker bực bội nói.
“Làm sao hắn biết anh sẽ theo hắn đến đây?”
“Sao có thể không? Bãi bỏ mọi cáo buộc sao? Hắn biết là tôi biết các quy trình của cảnh sát. Làm thủ tục rời nhà tạm giam và được thả ngay tại đó. Hắn biết là tôi sẽ đợi ở bên ngoài. Và nếu vì lí do nào đó tôi không đợi, vậy thì sao? Chả vấn đề gì. Chúng sẽ tìm cách để dụ tôi vào bẫy.”
“Vậy là anh theo hắn đến đây. Màn chốt mà hắn muốn là gì?”
“Có thể hắn chỉ muốn gặp lại tôi, kĩ hơn, gần hơn. Đánh giá tôi.”
“Nhưng nếu chúng ta đang phán đoán đúng, kẻ thực sự muốn gặp anh là ả phục vụ. Có thể đó là kẻ từng ở viện với anh. Kẻ mà bằng cách nào đó anh đã xúc phạm hắn.”
“Tôi dám chắc đó cũng là một phần mục đích của chúng.”
“Thật là là hắn không sát hại anh ngay lúc đó. Hoặc chí ít là thử ra tay.”
“Tôi chịu dằn vặt thế là chưa đủ, Mary ạ”
“Chịu dằn vặt thế mà chưa đủ! Tất cả những người đã mất mạng, bao gồm những người thân của anh thì sao? Câu chuyện mà Jamison viết chẳng phải đã bêu rếu anh đó sao? Chẳng phải hắn đã không dừng khiêu khích anh đó sao?”
“Vẫn chưa đủ, Mary ạ. Với chúng là vậy.”
“Chúng muốn gì hả Amos? Ý tôi là, còn gì nữa mà chúng có thể muốn từ anh?”
“Nhiều hơn nữa, Mary ạ. Chỉ là tôi vẫn chưa biết đó là gì.”
Nhưng Decker biết thừa màn chốt cuối cùng mà chúng muốn là gì.
Chúng muốn cái mạng mình.
Người phục vụ quầy bar mang đồ uống ra cho họ và nói, “Này anh, hôm nọ anh làm tôi không làm ăn được gì đâu đấy nhé. Cảnh sát đến đầy quán. Dọa quá nửa khách sợ phải bỏ về.”
“Có ai trừ mất lương của anh đâu, đúng không?” Lancastre nói cộc lốc.
“Tiền boa, cô nương ạ,” người phục vụ quầy bar nói. “Tôi sống bằng tiền boa.” Anh ta để điếu thuốc lá điện từ lên miệng và hít một hơi. “Cô nghĩ chủ quán này trả lương dêd đủ sống á? Nếu nghĩ thế thật, về nhà đi khám lại đầu óc đi.”
Decker nói, “Tôi dám chắc phục vụ bàn của các anh cũng sống bằng tiền boa chứ hả.”
“Đúng thế.”
“Nhưng cái cô ả nhảy việc đó thì chắc không nhỉ. Có thể cô ta có nguồn thu nhập khác.”
“Có lẽ nó thế thật đấy.”
“Anh dám chắc đó là nam giới à?” Lancaster hỏi và quan sát anh ta chăm chăm.
Người phục vụ quầy bar nhìn chị. “Sao quan tâm thế?”
Chị nhoáng cho anh ta xem thấy phù hiệu. Anh ta hít một hơi thuốc nữa và nói, “Tôi từng làm chân kĩ thuật ở một nhà hát nọ. Trong giới ấy tụi nó nhiều lắm. Tôi có thể phân biệt được đâu là đàn ông đâu là đàn bà hẳn hoi, mặc dù tôi phải thừa nhận là gã này hóa trang rất là giỏi.”
“Vậy nếu đó là một gã đàn ông, sao anh lại cho gã làm việc?” Lancaster hỏi.
“Tôi cóc quan tâm nếu một thằng thích ăn mặc như gái, miễn sao nó phục vụ tốt, không làm đổ đồ uống của khách. Tôi cần có người thôi. Người có chim hay không quan tâm làm cái đếch gì.”
Decker nói, “Theo lời anh, cô phục vụ này đã rời đi trước gã mà tôi nói chuyện cùng bước ra ngoài.”
“Ờ, tôi không tìm được cô ta sau khi anh ra khỏi quán. Phải tự phục vụ khách ngồi bàn cho tới khi tìm được người thay thế. Vậy nên, có vẻ như là nó đã nhảy việc.”
“Và anh đã gọi cho trung tâm giới thiệu việc làm?” Decker hỏi.
“Có gọi. Và anh đã nói đúng. Không có hồ sơ của cô ta. Một điểm cho anh.”
Ánh mắt của Decker liếc xuống vùng eo của người đàn ông. Một cái khóa điều khiển nhô ra từ miệng túi quần của anh ta.
“Anh đi xe loại gì vậy?”
Nười phục vụ quầy bar đưa mắt nhìn xuống với vẻ ngạc nhiên và rồi ngẩng lên nhìn Decker. “Sao? Anh cần đi nhờ đâu đó à?”
“Không. Chỉ tò mò thôi.”
“Nissan Leaf.”
“Chạy điện hoàn toàn.”
“Tôi biết mà. Cực kì tiết kiệm xăng bởi vì nó không chạy xăng. Chỉ cần cắm điện là xong.”
“Chạy yên tĩnh lắm phải không, tôi đoán vậy.” Decker nói.
“Đôi khi lại yên quá. Tôi quên tắt máy nhiều lần không đếm xuể. Cứ thế bước ra khỏi xe, chìa khóa đút trong túi và vẫn để máy nổ.”
“Thế cũng được à? Anh đậu xe ở đâu vậy”
“Con ngõ bên ngoài.”
“Cái hôm tôi ở đây, khi ra xe anh có để ý liệu chiếc xe bị đậu ở một vị trí hơi khác bình thường không?”
Người đàn ông suy nghĩ một lát rồi nói, “Không, tôi nhớ là không. Sao?”
“Bởi vì tôi đã kiểm tra con ngõ đó khi tôi ở đây ngày hôm đó, và không có cái xe nào ở đó cả.”
“Không thể nào,” người phục vụ quầy bar gắt lên, hai mắt anh ta trợn tròn ngạc nhiên. “Nhưng lúc hết ca nó vẫn ở đấy mà.”
“Lúc nào anh cũng mang khóa xe theo người à?”
“Không phải mọi lúc. Đôi lúc tôi sẽ treo lên móc đằng kia.” Anh ta chỉ tay vào bức tường phía sau quầy bar. “Đôi lúc phải đánh xe đi chỗ khác nếu có hàng nhập chuyển tới. Xe chở bia vào sát khít cái không gian đó. Và đó là ngõ cụt nên họ phải lùi xe ra. Đôi lúc tôi sẽ để phục vụ bàn đánh xe đi chỗ khác nếu tôi đang lỡ tay.”
“Ồ, vậy tôi nghĩ cô phục vụ bàn chúng ta đang bàn đến đã lái nó đi mà không được anh cho phép.”
Decker thả vài tờ tiền lên mặt quầy bar. “Gồm tiền boa rồi nhé.” Anh và Lancaster bước ra ngoài.
 
CHƯƠNG 47
 
Tuyết đã bắt đầu rơi dày hơn khi Decker nhìn chăm chăm vào chiếc Nissan Leaf màu xám.
“Có vẻ như anh ta đang sạc xe,” Lancaster nói. Chị đàn nhìn chăm chú vào sợi dây cáp điện từ cái cổng sạc của chiếc xe với một cái hộp điện bên cạnh cửa ngách của quán bar.
Decker không nhìn sợi dây điện; anh đang nhìn chăm chú vào các bức tường của con ngõ.
“Ở đằng kia,” anh nói.
Nằm ở tít trên cao và được điều chỉnh để có thể thu được hình ảnh của phần lớn con ngõ là một chiếc máy quay an ninh. Decker tiến lại chỗ đặt chiếc máy quay và rồi sau đó tiến tới cánh cửa của một cửa tiệm.
”Camera của một hiệu thuốc,” anh nói. “Còn đây chắc là cổng nhập hàng của họ.”
“Quanh đây có rất nhiều kẻ trộm cắp tại nhà thuốc,” Lancaster nói, lúc này đã đi tới đứng cạnh anh. “Chẳng trách họ lại lắp camera. Một chỗ hợp lí để tấn công từ phía sau. Đó là lí do cánh cửa được rào kín và khóa.”
“Chúng ta cần lấy đoạn ghi hình thu được từ cái camera này, và chúng ta cần nó ngay bây giờ.”
Họ vội vã vòng ra phía trước. Có một lễ tân ở sau máy tính tiền và một cảnh sát đã tan ca làm ở gần đó.
Lancaster giơ phù hiệu cho anh ta xem. “Tôi biết anh,” chị nói. “Donovan, Nhiệm sở Bốn? Đúng chứ?”
“Vâng thưa sếp. Chị cần gì, thưa thanh tra Lancaster?”
Chị giải thích và họ đi cùng nhau tới chỗ máy thu tiền, tại đây Donovan truyền đạt lại nội dung cho người thu ngân. Anh ta nói, “Tôi có thể lấy được đoạn ghi hình.”
Một vài phút sau, Lancaster và Decker đang bước ra khỏi hiệu thuốc cùng với chiếc đĩa DVD. Họ lái xe quay thẳng về trường Mansfield, tại đây Lancaster bỏ chiếc đĩa vào máy tính và cho chạy phim.
Đoạn phim có đánh dấu mốc thời gian, do đls Decker hỏi ngày để chị cho phim chạy tới . Chị điều chỉnh máy tính cho đến khi Decker nói, “Dừng lại ngay đó.”
Chị làm theo, và khung hình đứng im bặt.
Anh nói, “Giờ cho chạy đoạn băng bằng chế độ tua chậm.”
Lancaster điều chỉnh các nút bấm theo yêu cầu, và họ nhìn theo ả phục vụ bàn đi ra khỏi quán bar, mở cửa chiếc xe Leaf và trèo vào trong sau khi tháo dây sạc. Một lát sau, ả ta lái xe rời đi.
Mười phút sạu, ả ta lái xe quay lại, đi ra khỏi xe, cắm lạo sạc, và quay vào trong quán bar.
“Nhưng ông phục vụ quầy bar nói ả ta không quay lại quán,” Lancaster nói.
“Cứ chờ một chút,” Decker nói.
Người phụ nữ trở ra sau đó vài giây, quay người và đi ra khỏi con ngõ.
Decker nhìn Lancaster. “Ả ta quay lại để treo chìa khóa lên móc. Người phục vụ quầy bar có lẽ không nhìn thấy ả.”
“Phải rồi.”
“Vậy là ả đón Leopold và sau đó thả hắn ở đâu đó. Làm thế bằng xe của người khác là khá thông minh đấy. Chúng ta không thể kiểm tra được biển số.”
“Nhưng chúng ta có thể kiểm tra xe để lấy dấu vân tay. Ả ta không đeo găng tay.”
Trong lúc Lancaster gọi điện, Decker nhìn chăm chăm vào màn hình.
Khi chị ngắt máy, anh nói, “Được rồi, tua lại lần nữa, nhưng lần này hãy phóng to hình ảnh nhất có thể.”
Lancaster làm theo, vài lần, như yêu cầu của Decker. Từ góc của chiếc máy quay, họ đang nhìn theo phần sau của chiếc xe. Họ nhìn thấy ả trượt mình vào ghế lái, và sau đó là đưa đôi chân dài ra trước để xuống xe. Chiếc váy ngắn bị kéo cao quá đùi khi ả làm thế. Nhưng không ghi được hình ảnh trực diện nào của ả.
“Đôi chân của ả phê đấy,” Lancaster nói. “Phải công nhận.”
“Của hắn,” Decker chỉnh lời. Chí ít mình nghĩ đó là đàn ông.
“Nhưng dù sao gã phục vụ quầy bar đã đúng.”
“Đúng cái gì?”
Lancaster nói, “Anh ta nói với chúng ta là đã nhìn thấy nhiều gã đóng giả nữ khi làm ở nhà hát. Nhưng nhận xét kẻ này hóa trang thực sự giỏi. Và thật là như thế. Ý tôi là, đôi chân kia trông thực sự giống chân phụ nữ.”
Decker chầm chậm gật đầu và rồi sau đó nhìn lại vào khung hình. Anh cho nó chạy thêm hai lần nữa trước khi tắt máy. Nhưng vẫn không hề thấy dù chỉ một hình ảnh rõ ràng gương mặt của kẻ đó.
“Rồi sao?” Lancaster nói. “Có đột phá gì trong đầu không?”
Decker lắc đầu. Có điều thực sự là có gì đó. Dường như có một cái gì đó đang được trưng ra trước mặt anh, ngặt nỗi anh không thể nhìn ra nó là thứ gì.
Lancaster ngáp ngủ, vươn vai và rồi nhìn ngó xung quanh các hoạt động đang diễn ra trong thư viện. “Tôi tự hỏi không biết lúc nào Bogart mới xuất hiện trở lại?”
“Anh ta không báo cho tôi biết kế hoạch di chuyển của mình,” Decker nói. “Anh ta đến nơi Sizemore sống bằng máy bay. Tôi dự đoán ann ta sẽ quay lại cũng bằng cách đó. Cỡ nào đi nữa anh ta cũng sẽ đi nhanh hơn tôi.”
“Ồ, chưa thấy anh ta đăng kí ra vào đây.”
“Có lẽ đây không phải vụ duy nhất anh ta phải giải quyết.”
“Có thể là không, nhưng tôi hi vọng vụ Mansfield được ưu tiên, kể cà đối với FBI.”
“Tôi không biết nữa,” Decker lơ đễnh nói.
Lancaster xem đồng hồ. “Đã gần mười một giờ rồi và tôi đã ở đây từ năm giờ sáng. Tôi phải về nhà thôi. Cần đi nhờ không? Tôi nghĩ không nên đi bộ đâu. Ngoài kia tuyết bắt đầu rơi dày lắm rồi.”
Chị nhìn ra ngoài cửa sổ thư viện, tại đó, dưới ánh đèn, tuyết đang rơi nặng hạt.
“Được thôi. Tôi đoán tạm thời đã xong việc ở đây.”
Họ đi ra cửa.
Chị nói với giọng khích lệ, “Chúng ta cũng có kha khá manh mối, Amos ạ, chỉ cần tiếp tục tìm theo đó là được.”
“Chúng không phải là manh mối đâu, Mary. Phần lớn toàn mấy thứ mơ hồ chẳng đi đến đâu. Chúng đã lên kế hoạch rất kĩ lưỡng.”
“Ừm, anh biết người ta nói gì về những kế hoạch hoàn hảo mà. Bày sẵn cũng xơi chẳng xong.”
“Tôi biết câu tục ngữ đó. Thật không may, nhiều khi nó lại không đúng lắm.”
Họ bước và xe của chị rồi rời đi.
Chị liếc nhìn sang anh. “Trông anh có vẻ như đã nhận ra điều gì đó trong đoạn video an ninh.”
“Đúng. Chỉ là tôi không biết mình đã nhận ra cái gì.”
“Cảm giác quay trở lại nơi đó thế nào? Viện nghiên cứu ấy?”
“Tôi không quay lại. Nó đã chuyển chỗ rồi. Tôi chỉ nói chuyện với một người từng làm việc ở đó.”
“Vẫn là một chuyến về đường xưa chốn cũ mà.”
“Cả cuộc đời tôi là một con đường xưa dài đằng đẵng.”
“Tệ đến thế sao?”
“Có bao giờ cô muốn dừng một bộ phim đang xem dở không?”
“Tất nhiên rồi, rất nhiều lần.”
“Sẽ như thế nào nếu cô không thể tắt nó đi? Sẽ ra sao nếu cô không thể cứ thế mà nghỉ coi giữa chừng bởi vì các thước phim cứ phát mãi trong đầu cô thì sao?”
Chị nắm chặt tay lái và nhìn chăm chăm về phía trước. “Tôi đoán tôi hiểu được ý anh.”
Radio cảnh sát gắn trên bảng đồng hồ phát ra tiếng lạo xạo. Địa chỉ của một vụ án được nhân viên điều phối đọc to.
Lancaster suýt chút nữa thì lao xe ra khỏi đường trước khi đánh thẳng lái trở lại.
Chị nhìn chăm chăm vào Decker với vẻ kinh hãi.
“Đó là địa chỉ nhà tôi,” chị gào lên.
 
CHƯƠNG 48
 
Nhà của Mary Lancaster là một ngôi nhà lệch tầng khiêm nhường khoảng ba mươi năm tuổi. Mặc dù Earl Lancaster làm trong nghề xây dựng, song ngôi nhà cần phải được sơn lại, mái nhà cần lợp mới và phần gỗ của căn nhà đã bị mối mọt vài chỗ. Lối lái xe vào nhà trải nhựa đường đã nứt vỡ vài chỗ. Bên trong căn nhà tình trạng đỡ hơn một chút, nhưng các gian phòng đều nhỏ và tối, và không khí có mùi ẩm mốc.
Bầu trời tối đen xung quanh ngôi nhà được thắp sáng bởi những bóng đèn hiệu trên xe cảnh sát.
Lancaster thắng gấp chiếc xe sát vỉa hè, phi ra ngoài, giơ phù hiệu với hai cảnh sát đang từ cửa trước đi ra, và có lẽ chị đã phóng xuyên qua họ nếu họ không kịp ngăn chị.
Một trong hai người đó biết chị.
“Thanh tra Lancaster -”
Chị đã cố đẩy người để vượt qua anh ta. Anh ta tóm chặt lấy chị.
“Chờ đã!” Anh ta hét lớn. “Tôi đang muốn nói với chị là -”
Cậu cảnh sát phải vất vả vật lộn với chị, bởi vì mặc dù không cao lớn, người phụ nữ này đang hoàn toàn mất kiểm soát, cuồng nộ, gào thét, phì nước bọt, và cào cấu. Chị phải vào trong đó cho bằng được.
Rồi sau đó chị bị kéo khỏi tay họ và nhấc bổng lên khỏi mặt đất.
Hai người cảnh sát ngước mắt nhìn Decker, lúc này đang ôm khư khư lấy chị, hai cánh tay của chị bị ép sát vào hai bên cạnh sườn.
Chị rít lên, “Thả cho tôi đi Amos! Tôi sẽ giết anh! Thề với Chúa tôi sẽ giết anh, thằng khốn nạn này. Tôi.. sẽ… giết…”
Chị tiếp tục chửi rủa và tìm cách thoát ra, nhưng anh giữ chị thật chặt cho đến lúc sau cùng, chị mệt rũ trong vòng tay của anh, đầu chị gục xuống, hai chân thả lủng lẳng. Chị đã kiệt sức. Hơi thở của chị hổn hển, ngắt quãng.
Người cảnh sát ngước mắt nhìn chị. “Tôi muốn nói với chị là người nhà của chị vẫn ổn.”
“Sao!” Chị gào lên. “Vậy lí do quái gì tất cả những người này lại ở đây.”
Decker chầm chậm thả chị xuống đất.
Cậu cảnh sát nói, “Bởi vì có một sự cố.”
“Tôi đã thử gọi đến tổng đài điều phối, nhưng không gọi được,” Lancaster nói. “Người nhà tôi ở đâu rồi?”
“Họ đã được đưa đi giám hộ rồi.”
“Sao cơ? Lí do?”
“Lệnh của đội trưởng Miller.”
Lúc này Miller từ trong nhà bước ra.
“Đội trưởng, chuyện quái gì đang diễn ra vậy?” Lancaster hỏi.
“Earl và Sandy không sao.”
“Sự cố gì thế?” Decker hỏi.
“Có một số thứ bị bỏ lại trong nhà.”
“Thứ gì vậy?” Decker hỏi, ánh mắt anh chết trân, nhìn Miller.
“Amos, tôi nghĩ cậu nên đứng ngoài việc này.”
“Ông không cản tôi được đâu, trừ phi ông gọi thêm người tới đây.” Decker liếc nhìn hằm hằm vào hai cảnh sát mặc cảnh phục vừa cố tìm cách ngăn cản Lancaster.
“Thôi được rồi,” Miller nói, rồi dẫn đường vào trong.
Họ đi vào trong bếp. Decker nhìn các vỏ chai bia trên bàn và chiếc ghế đã nằm lật ngửa.
“Sao anh nói không có việc gì đâu cơ mà!” Lancaster hét lên.
“Trông vậy nhưng không phải vậy.” Miller nói. “Là… ấy là…” Ông không thể nói hết câu.
Ruột gan Decker quặn lên khi thấy người kia đang vật lộn tìm lời.
Miller dẫn họ vào căn phòng liền kề.
Trên sàn nhà là một cái xác. Ừm, đó không phải là một cái xác thật. Đó là một con manocanh nam kích thước giống người thật có thể bơm phồng. Có ai đó đã bôi màu xám nâh lên đầu con manocanh. Nhưng sự chú ý của Decker bị hút vào vệt màu đỏ vẽ dọc trên cổ.
“Đó… đó là tượng trưng cho Earl à?” Lancaster nói.
“Tôi nghĩ vậy,” Miller lưỡng lự nói, với một cái đánh mắt nhanh liếc nhìn Decker. “Thằng khốn này thật bệnh hoạn.”
Decker cũng chú ý thấy mỗi con mắt của con manocanh đều được vẽ một chữ X phủ lên.
Tất cả mọi người đều từng nhìn thấy những con manocanh. Chúng nhan nhản ở khắp nơi, thế nên chỉ là thứ vô thưởng vô phạt. Nhưng con manocanh này - nó là thứ mang nhiều sát khí nhất mà Decker từng thấy. Nó giống như một đám những con số ba từ trong bóng đêm lao ra nhằm vào anh. Nhợt nhạt, máu me, mắt trân trân, lặng thinh, vô hồn; một thứ tượng trưng thẫm mùi xấu xa.
Decker nhìn sang hướng cầu thang. Và rồi sau đó anh nhìn xung quanh tất cả các phía. Trước đây anh đã từng đến nơi này vài lần. Trong đầu anh, khi đang nhận ra điều hiển nhiên này, lại nhận ra một mối liên hệ khác nữa.
Căn nhà này gần như là bản sao chính xác căn nhà của Decker. Không có gì là bất thường đối với cộng đồng nhà liền kề của nhwunxg người thuộc tầng lớp lao động, ở những nơi này, một chủ thầu sẽ sử dụng cùng một dạng thiết kế để xây dựng hàng trăm căn nhà có kết cấu giống nhau, rồi sơn màu khác nhau hoặc thay đổi một vài chi tiết kiến trúc nhỏ.
“Vậy là để tượng trưng cho Sandy sẽ còn một con… con này nữa à?” Lancaster nói. Chị đưa một tay ra và nắm chặt vào phía sau ghế để đứng cho thăng bằng.
“Còn một con manocanh nữa ở trên kia, đúng vậy,” Millef nói, một lần nữa nhìn Decker đầy lo lắng.
Trong đầu Decker, anh nhớ lại cái lúc anh phóng như bay lên cầu thang rất giống với cầu thang ở ngôi nhà này vào cái đêm mà anh đánh mất mọi thứ.
“Vậy là chỉ còn một cái… một thứ như này trong nhà tôi thôi à,” Lancaster quát lên.
Decker quay lại nhìn con manocanh với vết “cắt” cổ và rồi ánh mắt của anh hướng nhìn Miller. Và có điều gì đó trong đôi mắt này, cùng với những gì mà anh vừa mới suy luận, khiến Decker nói, “Không, còn hai con nữa trên đó.”
“Đúng,” Miller rầu rĩ nói. “Còn hai con nữa.”
“Anh đang nói cái quái quỷ gì thế hả?” Lancaster nói. “Chỉ có Earl và Sandy thôi mà. Chờ chút, có phải một trong số đó chỉ tôi không?”
Decker đã hướng ra chỗ cầu thang.
Cánh cửa đầu tiên mà họ tới đã hé mở. Decker đẩy cho nó mở hẳn và họ bước vào trong.
Một chiếc chân giơ lên ở mép bên kia của cái giường, giống như anh biết sẽ là như thế. Anh bước sang phía bên đó và cúi đầu nhìn xuống. Như anh đã biết trước, con manocanh là nữ giới, mặc một chiếc váy ngủ xuyên thấu. Có một dấu chấm đen được vẽ ở chính giữa trán của nó để đại diện cho viên đạn được bắn xuyên qua đầu nó. Cả đôi mắt của con manocanh cũng thế, được đánh dấu bằng hai chữ X.
Miller nói với Decker, “Tôi đoán cậu biết nạn nhân thứ ba ở đâu?”
Lancaster thở dốc khi cô nhận ra sự thật. “Ôi Chúa ơi, đó là chỉ…”
“Cassie,” Decker nói hết câu thay chị.
Miller vòng một cánh tay lên vai Decker. “Amos này, sao cậu không xuống tàng dưới đi nhỉ?”
Decker lắc đầu. “Không.”
“Amos, làm ơn đi mà.”
“Không!”
Anh chạỵ như bay dọc xuống hành lang và mở cánh cửa dẫn vào nhà tắm. Những người khác vội vã đuổi theo anh.
Trên bồn cầu là con manocanh thứ ba, nhỏ hơn, chỉ một đứa trẻ. Chúng thậm chí còn vẽ tóc xoăn lên đầu nó, giống tóc của Molly. Dải dây buộc áo choàng giữ con manocanh ngồi thẳng. Dấu siết cổ được vẽ quanh cổ nó; những dấu X cũng được vẽ đè lên hai con mắt.
Những kẻ sát nhân thực sự đã tái dựng lại chính xác những gì đã xảy ra tại nhà của Decker, nhưng may mắn thay, chúng thay thế người thật bằng những con manocanh.
Nhưng có một điểm khác biệt, một điểm khác biệt rất lớn.
Phía trên bồn cầu là những dòng chữ được viết bằng mực lên tường.
Muốn làm thật quá dễ dàng. Nhưng hãy tự hỏi bản thân mình điều này. Anh sẽ còn gây ra bao nhiêu khổ đau nữa hả người anh em? Hãy chấm dứt ngay đi. Hãy làm điều đúng đắn. Giống như đáng lẽ anh nên làm ngày ấy. Can đảm lên đi nào. Đừng làm một thằng hèn nữa, người anh em ạ. Không phải lúc này. Nếu không lần tới sẽ có đổ máu thật đấy. Co hội cuối cùng.
Decker nhìn chằm chằm vào dòng chữ thật lâu.
Rồi anh quay người và rời khỏi căn phòng, bước hai bậc một và đi ra ngoài. Lancaster và Miller đi theo anh. Chị bắt kịp anh ở cuối đường dẫn vào nhà.
“Anh định đi đâu?” chị hỏi.
“Tôi xin lỗi vì tất cả những thứ này, Mary ạ.”
“Anh chẳng có gì phải xin lỗi cả. Gia đình tôi vẫn ổn mà.”
“Lần tới sẽ không đâu. Họ sẽ mất mạng đấy.”
“Không, không đâu. Nghe này, chuyện này không do anh. Là do bọn chúng.”
“Không, là giữa tôi và chúng.”
Anh bước xuống phố và rời đi khi những bông tuyết bay vần vũ quanh anh.
 
 
CHƯƠNG 49
 
Decker đang ngồi trên giường trong phòng trọ ở Residence Inn. Ngoài trời tuyết vẫn đang tiếp tục rơi, nhưng mặt đất đã đủ ấm để tuyết không còn bám nữa. Nó cứ thế ướt nhão cuộn cùng đất. Giống như đầu óc của anh lúc này
Bộ óc hoàn hảo đến tuyệt diệu của mình, bộ óc có thể ghi nhớ tất cả.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.01.2023 22:05:06 bởi Thanh Vân>
Nhưng một phần những suy nghĩ trong đầu anh thì cực kì rõ ràng và thông suốt.
Trong tay mình, Decker đang cầm khẩu súng. Một món vũ khí tốt, phù hợp cho mục đích. Anh đã mang nó theo trong mình từ hồi còn làm thanh tra. Và mang nó theo khi bước vào cuộc sống của một công dân bình thường.
Đây cũng chính là khẩu súng mà anh từng trước hết đút vào miệng và rồi sau đó ghì lên đầu khi anh ngồi trên sàn, mắt nhìn chăm chăm vào cô con gái đã chết của mình.
Đêm hôm đó anh đã không bóp cò và đến giờ vẫn không thể hiểu chính xác lí do là vì sao. Một trí nhớ hoàn hảo không đi cùng một trí tuệ hoàn hảo hoặc những quyết định quyết đoán. Đôi lúc người ta hoàn hảo về mặt này, thì sẽ lại bị khiếm khuyết ở mặt khác. Có lẽ đó là cách mà tự nhiên cân bằng mọi thứ.
Dù vậy, đêm hôm đó anh đã không tự sát.
Nhưng đêm nay là một đêm khác mà, chẳng phải sao?
Anh kéo máng trượt và nghe thấy tiếng một viên đạn rơi ngay ngắn vào ổ. Anh gạt chốt an toàn và nâng khẩu súng lên đầu, đặt nó vào thái dương phải.
Can đảm lên đi nào. Đừng làm một thằng hèn nữa, người anh em ạ. Hãy chấm dứt ngay đi.
Decker nghĩ rằng để tự sát, một người chắc hẳn phải có sự can đảm lẫn hèn nhát. Cả hai điều đó, anh đã có chưa? Hay là anh đang thiếu hoàn toàn?
Nhưng anh nghĩ là anh đã có đủ. Ngay lúc này, dù sao đi nữa.
Anh nhắm mắt lại và để ngón tay trượt tới vòng bảo vệ cò súng và rồi sau đó đến cò súng. Chỉ ấn nhẹ một cái, và thế là kết thúc. Đó là khoảng cách hẹp nhất trên thế gian này, giữa ngón tay và cò súng. Chỉ một cử động đơn giản, ngoắc ngón tay và kéo ra sau. Mọi người vẫn làm động tác này mỗi ngày, chỉ là không phải trên một khẩu súng.
Anh cố gắng để đầu óc trống rỗng, để thả lỏng và bỏ qua bất cứ thứ gì níu anh lại với thế giới này. Chẳng thể có gì nhiều. Chính xác thì anh còn lại những gì đây?
Hình ảnh trước tiên là của Molly và tiếp đến là Cassie chầm chậm hiện lên trong đầu anh. Hai khung hình kí ức mà anh không thể nào quên đi được, cho dù với tất cả những kí ức khác bằng cách nào đó anh vẫn có thể xua đi được.
Anh níu lại bên chúng. Trong giây lát, chiếc máy ghi hình của anh đứng im.
Tiếng gõ trén cánh cửa khiến anh mở mắt. Anh không cử động.
Tiếng gõ cửa lại vang lên.
“Amos? Amos, tôi biết cậu đang ở trong đó. Làm ơn hãy mở cửa.”
Hình ảnh của Cassie và Molly ở lại thêm một tích tắc nữa thôi và rồi những khung hình vụt đi, và những hình ảnh khác thế chỗ khung hình của họ.
Decker đứng dậy và ra mở cửa.
Đội trưởng Miller đang chăm chăm nhìn đáp lại anh, cổ áo khoác của ông dựng đứng để chống lại cái rét, đôi ủng đi mưa cũ mèm dưới chân.
“Tôi muốn nói chuyện với cậu,” Miller nói. “Ngay bây giờ.”
Ông không chờ được mời vào trong. Ông bước vượt qua Decker đi vào trong căn phòng nhỏ. Ánh mắt của ông dừng lại tại khẩu súng nằm trên giường, vị trí mà Decker đã thả nó xuống. Miller liếc ánh mắt gay gắt nhìn sang anh.
“Cậu mà làm thế là chúng thắng, cậu biết chứ.”
“Thế sao?” Decker nói.
Miller cầm khẩu súng lên, gạt lại chốt an toàn, và đặt nó lên mặt cái tủ kê sát tường trước khi ngồi xuống mép giường.
Decker đóng cửa lại và ngồi xuống chiếc ghế đối diện ông.
“Tất nhiên là chúng sẽ thắng,” Miller nói. “Bởi vì cậu là người duy nhất có khả năng ngăn cản chúng. Chúng khiến cậu tự loại bỏ mình, rồi chúng có thể tha hồ tiếp tục những gì mà chúng đang làm.”
“Nếu mục tiêu của chúng là dày vò tôi, tiêu diệt tôi, thì một khi làm được, chẳng còn gì để chúng làm thêm nữa.”
“Cho đến khi chúng cho rằng lại có một người nào khác khinh miệt chúng. Và còn một vấn đề nhỏ nữa đó là lũ cặn bã này sẽ thoát dù đã sát hại ngần đó người. Tôi không có ý định để mọi việc xảy ra như vậy đâu. Và tôi nghĩ cậu cũng sẽ như vậy.”
Decker liếc nhìn xuống khẩu súng và rồi lại ngước lên nhìn Miller.
Miller nói, “Chúng ta không thể đưa bất cứ ai trong số người đã nằm xuống về bên mình. Việc duy nhất chúng ta có thể làm để bù đắp lại đó là tóm được những kẻ đã sát hại họ và đảm bảo rằng chúng sẽ không bao giờ, không bao giờ có thể làm tổn thương thêm một ai khác. Thế thôi. Nghe thì có vẻ chẳng lớn lao gì, nhưng trong một thế giới văn minh, chúng ta chỉ có vậy thôi.
“Thế giới văn minh ư?”
“Một thế giới luôn luôn có những thành phần chưa tiến hóa hết.”
Decker nhẹ nhích người trên chiếc ghế, và dao động hơn rất nhiều trong những suy nghĩ của mình. “Là ai báo tin? Sự cố tại nhà Lancaster ấy?”
“Là Earl Lancaster. Cậu ta ra khỏi nhà cùng Sandy tham gia một hoạt động ngoại khóa ở trường. Họ không về nhà cho tới mãi gần mười một giờ. Đó là khi họ phát hiện ra những gì họ thấy và gọi 911.”
“Có ai khác nghe hoặc nhìn thấy gì không?”
“Vẫn đang dò hỏi. Chưa có gì. Trời tối và mù. Quá dễ để lẻn vào. Chúng có thể đã mang manocanh chưa bơm hơi và sau đó nhanh chóng bơm phồng chúng.” Ông day day trán. “Tạ ơn Chúa là chúng không lựa chọn dùng người thật.”
“Đó là điều khó hiểu, bởi vì chúng dám ra tay hạ sát người khác mà.”
Miller cân nhắc kĩ lưỡng trước khi gật đầu. “Cậu biết đấy, cứ như những kẻ này có thể hóa thành vô hình.”
“Không phải vô hình. Vô hại.”
“Ý cậu là sao?” Miller nói.
“Không có tính đe dọa ấy. Trà trộn. Một kẻ rất bình thường đến mức không ai chú ý đến chúng mặc dù chúng đã ở đó. Điều này khiến chúng trở nên vô hình bởi vì mọi người không nhớ đến chúng.”
“Ừm, một trong số chúng ăn mặc như cảnh sát để lừa Lafferty mắc bẫy.”
“Không phải cảnh sát đâu. Cảnh sát sẽ thu hút sự chú ý. Chúng đã dùng cách ngụy trang đó để đánh lừa riêng Lafferty thôi. Không phải đâu, ý tôi là chúng chỉ trà trộn như một người dân trong khu dân cư thôi.”
“Ừm, chúng tôi sẽ hoàn thành báo cáo thu thập thông tin ở cả hai địa điểm trong khoảng một giờ nữa. Sao cậu không tới nhiệm sở và xem những báo cáo này nhỉ?”
Decker nhìn người cựu chỉ huy của mình. “Cho có việc để làm à?”
Miller đứng dậy. “Amos này, cậu là một người trưởng thành. Nếu cậu muốn tự sát, cậu cứ làm. Tôi chẳng thể làm gì để ngăn cản cậu. Nhưng trong khi cậu còn sống nhăn răng, tôi cần đến sự hỗ trợ của cậu. Thế nên hãy cùng tới nhiệm sở và xem có gì không nào.”
Ông quay người và bước ra khỏi cửa.
Decker ngồi đó thêm vài giây, rồi sau đó đứng dậy, chộp lấy khẩu súng, nhét nó vào trong túi áo khoác, và đi theo.
 
 
 
CHƯƠNG 50
 
Sau khi đã xử lí xong bốn li cà phê rồi đến một cái bánh burrito nhạt toẹt cho bữa sáng, Decker đẩy ghế rời khỏi chiếc bàn mà tại đó anh đã xem di xem lại tất cả những thứ liên quan tới vụ án để đi “xả nước cứu thân”. Khi anh trở ra, Alex Jamison đang tựa lưng vào tường, dường như là đang đợi anh.
Cô ngước mắt lên nhìn anh, hai cánh tay khoanh trước ngực, gót chân gõ lạch cạch lên sàn nhà phủ vài lót sơn đã ngả màu.
“Coi bộ tôi bị lỡ chuyến bay đi khỏi đây rồi,” cô nói.
“Chắc chắn có chuyến khác.”
“Có thể. Có thể tôi sẽ tới một nơi nào đó ấm áp. Sau khi chúng ta xong hết việc ở đây.”
“Đây không phải là trận chiến của cô. Cũng không phải mối bận tâm của cô.”
“Đừng nhắc tới chuyện đó đi mà, Decker.”
“Cô đang làm gì ở đây?”
“Tôi muốn gặp anh. Báo cho anh biết là tôi vẫn đang tiếp tục theo vụ án. Và Miller đã gọi cho tôi. Ông ấy biết là tôi đã đi cùng anh tới viện nghiên cứu và tôi đang ở cùng anh lúc phát hiện ra Sizemore.”
“Rồi sao?”
Miller từ trong góc ngoặt đi ra. “Tôi nghĩ là thêm một cặp mắt mới đeo bám tên khốn này thì cũng chẳng thiệt hại gì. Tôi không có tự cao đến mức từ chối sự giúp đỡ của người khác đâu.” Ông chỉ tay vào cả hai người họ. “Thế nên tại sao hai người không bắt tay vào làm việc đi?”
“Cô ấy có phải người trong lực lượng đâu.”
“Anh cũng thế còn gì,” Jamison vặn lại.
“Lancaster đâu rồi?” Decker hỏi.
“Ở nơi mà cô ấy cần ở, với gia đình của mình. Giờ thì làm thôi!”
Decker miễn cưỡng dẫn Jamison quay vào trong phòng và bắt đầu xem lại các lời khai được cung cấp cho cảnh sát. Cả hai lời khai đều là từ những hàng xóm của gia đình Lancaster.
Một bà lão và một con chó.
Và một con chó. Vô hại. Một thứ mà mọi người sẽ không mấy khi để ý tới, không nhớ trừ phi được hỏi cụ thể.
Anh tua lại cái máy ghi hình trong đầu và quay về với những báo cáo thu thập thông tin từ khu dân cư của mình mà cảnh sát thu thập được sau vụ sát hại những người thân trong gia đình anh.
Không có bà lão với con chó nào cả. Nhưng đã có một ông lão được nhìn thấy ra ngoài đi bộ. Ông ta được miêu tả là hơi khòm, yếu ớt, phải chống gậy, một hình ảnh hoàn toàn trái ngược với vụ thảm sát kinh hoàng xảy ra đêm hôm đó, vụ án rõ ràng do một kẻ giết người khỏe mạnh, trong độ tuổi tràn đầy sinh lực nhất gây ra.
Hoàn toàn vô hại. Không ai nghi ngờ gì ông ta. Không ai đặt ra nghi vấn ông ta là ai. Hoặc tại sao ông ta lại có mặt ở đó vào đêm hôm ấy.
Trong đó có mình.
Không có dấu hiệu đập phá để vào được nhà Lancaster. Có vẻ như chúng đã đi thẳng vào trong.
Ngụy trang thành một bà lão. Ngụy trang thành một ông già. Kẻ sát nhân mà anh tìm dường như thật sự có khả năng ẩn hình như một con tắc kè hoa.
Anh liếc nhìn sang tập hồ sơ về vụ ở nhà Lancaster.
Đi thẳng vào trong.
Anh nhớ lại về đêm hôm qua. Căn nhà ngăn nắp và gọn gàng. Mary làm việc giờ giấc thất thường. Earl, anh biết, mặc dù là một nhà thầu giỏi, song luôn bận rộn với cô con gái Sandy của họ. Anh không nghĩ người đàn ông này có thể hút bụi, quét tước và rửa sạch chén dĩa năm phút một lần.
Anh đứng dậy và đi ra ngoài. Anh có những câu hỏi cần tìm lời giải. Rõ ràng là anh đã quên mất Jamison đang ngồi đó cho tới khi cô nói, “Chúng ta sẽ đi đâu thế?”
“Tôi sẽ đi chỗ này. Cô đi đâu thì tôi không biết.”
“Nhưng tôi sẽ an toàn hơn nếu đi cùng anh, phải không?”
Decker cố tìm một lời đáp trước câu hỏi này, nhưng cuối cùng đành bỏ cuộc.
Jamison giơ chùm chìa khóa của mình lên. “Và không giống anh, tôi có một chiếc ô tô.”
“Không, cô có nửa chiếc xe thôi.”
Decker đi ra ngoài, cùng với Jamison gấp gáp đuổi theo.
☆☆☆
Trái với mong muốn, Lancaster cũng phải chịu sự giám hộ và đang ở lại trong một căn nhà do FBI thuê và được cả cảnh sát Burligton lẫn đặc vụ của Cục canh giữ.
Decker đi qua kiểm soát an ninh rồi vào trong nhà cùng với Jamison. Cô bé Sandy đã phi ra trước và vòng tay ôm lấy chân Decker. Không biết phải làm gì nữa, anh xoa đầu cô bé cho tới khi cô bé buông tay, mắt ngước lên nhìn anh chăm chú và nói, “Chú là Amos Decker!”
“Cháu nói trúng phóc. Còn cháu là Sandra Elizabeth Lancaster.”
Cô bé xua xua ngón tay với anh. “Chú nói trúng phóc.” Rồi cô bé chạy đi, với ông bố áo quần xộc xệch cố đuổi theo sau.
Decker và Jamison đã ngồi xuống đối diện với Lancaster, chị nhìn cô với ánh mắt nghi ngại. “Tại sao cô lại có mặt ở đây?”
“Giống anh Decker đây, tôi là cố vấn của vụ án.”
“Tôi chưa từng gặp vụ nào mà có nhiều cố vấn thế,” Lancaster nói. Rồi chị hướng ánh mắt sang Decker. “Anh làm đến đâu rồi?”
“Tôi đang làm đây,” Decker nói.
“Mấy thằng chó chết vô lương tâm đó. Xem những gì chúng dám làm ở nhà của tôi. Tái dựng lại hiện trường vụ án ở nhà anh.”
Jamison quay sang nhìn Decker với vẻ mặt sửng sốt.
“Cô không biết sao?” Lancaster hỏi.
“Tôi không,” Jamison thì thào.
“May mắn cho chúng tôi, chúng dùng manocanh thay vì người thật,” Lancaster nói. Chị rùng mình, rút ra một bao thuốc lá rồi lại đặt nó sang một bên. Decker nhìn chị. Chị nói, “Tôi đang cố cai. Vì Sandy.”
“Không muốn con bé hút thuốc thụ động [1] à?” Jamison nói.
“Không, tôi không bao giờ hút thuốc trong nhà hoặc trên xe. Tôi có ý muốn sống lâu để nhìn thấy con bé trưởng thành. Đặc biệt là sau…”
Chị thò tay vào trong túi áo, rút ra một tờ khăn giấy và chấm mắt khi chị quay đi, vẻ xấu hổ.
Chị nhét tờ khăn giấy trở lại trong túi và nói. “Tôi không muốn ở đây. Tôi muốn tham gia vụ án. Những thằng khốn nạn đó đã đi vào nhà của tôi và làm việc đó. Tôi muốn tóm chúng hơn bất kì kẻ nào tôi từng gặp trong suốt sự nghiệp của mình.”
“Cô hoặc Earl có thuê dịch vụ dọn nhà không?” Decker hỏi.
Chị trông bối rối. “Thuê dịch vụ dọn nhà á?”
“Tôi biết cô để ý đến an ninh ra sao mà, nhất là với Sandy. Có lần con bé từng đi khỏi nhà và suốt nhiều giờ liền cô không tìm được nó.”
“Anh muốn nói gì hả Decker?” chị gắt.
“Không có dấu hiệu phá cửa để vào nhà. Chúng cứ thế mà đi thẳng vào trong, Mary ạ. Tôi tự hỏi làm sao có thể làm vậy được, trừ phi có chìa khóa. Earl và Sandy không có nhà. Anh ấy phải khóa cửa chứ, đúng không?”
“Đúng, anh ấy luôn luôn khóa cửa. Và anh nói đúng, Earl đúng là có thuê dịch vụ giúp việc, nhưng họ không có chìa khóa mở cửa nhà chúng tôi. Chúng tôi chưa bao giờ cho phép điều đó. Earl biết khi nào họ tới và anh ấy mở cửa cho họ vào.”
“Nhưng một khi đã vào trong nhà, liệu có thể nào cái người đóng giả giúp việc đó tiếp cận được với chìa khóa, sao chép lại nó và dùng nó để sau này vào nhà?”
“Nhưng làm sao chúng biết liệu anh ấy có thuê người giúp việc hay không chưz?”
“Nếu chúng theo dõi căn nhà, chúng có thể nhìn thấy xe con hoặc xe van đậu trước nhà. Thông thường bên dịch vụ giúp việc đều gắn biển hiệu trên xe.”
“Nhưng làm sao chúng có thể cải trang thành người giúp việc chứ?”
“Gọi lại cho công ty cung cấp dịch vụ và hỏi họ xem có ai đó mạo danh cô hoặc Earl gọi điện và hủy lịch làm việc vào một ngày nào đó không?”
“Decker, thực sự là anh -”
“Gọi một cuộc điện thoại thôi mà Mary. Và đó có thể là một cơ hội cho chúng ta. Cô nói rằng cô muốn tham gia vụ án. Vậy thì tham gia đi.”
Chị rút điện thoại ra và gọi cho dịch vụ giúp việc. Từ những gì mà chị nói. Decker đã biết câu trả lời trước khi chị dập máy.
“Anh đã đúng, Amos ạ. Họ có nhận được một cuộc gọi nói đừng đến.
“Vậy đó là lúc mà kẻ giúp việc giả dạng tới và sao y mẫu chìa khóa. Cô cất chìa khóa ở đâu?” Decker nói.
“Trên móc cạnh cửa bên hông nhà.”
“Tôi nhìn thấy có lịch đính trên tủ lạnh. Trên đó ghi lại lịch của tất cả mọi người à?”
“Đúng.”
“Vậy là nhờ thế chúng biết Earl và Sandy sẽ ra ngoài vào đêm đó.”
“Tôi không thể tin được kẻ gây ra tất cả những việc này từng ở trong nhà của tôi,” Lancaster nói và nhìn chằm chằm vào đôi tay của mình. “Tôi thật không thể tin nổi.” Chị ngước mắt nhìn lên. “Điều đó nghĩa là Earl đã nhìn thấy kẻ sát nhân. Có thể - ”
Decker lắc đầu. “Giờ đây kẻ đó sẽ không giống một tí nào những gì mà Earl miêu tả đâu. Chúng biết tính đến vụ đó rồi, Mary ạ.”
Decker đứng dậy và cúi nhìn chị. Jamison làm theo y hệt. “Cô ở đây ổn chứ?” anh hỏi.
“Chúng tôi sẽ an toàn, nếu đó là ý của anh.”
“Ngay lúc này, đó chính là ý của tôi.”
“Tôi may mắn, Amos ạ. Gia đình của tôi vẫn còn sống.”
“Đây là một lời cảnh báo, Mary ạ. Một lời cảnh báo dành cho tôi. Tôi không làm theo ý chúng. Sẽ không còn lời cảnh báo nào nữa. Nghĩa là tôi phải tìm được chúng, trước khi chúng tìm đến bất kì ai khác.”
Anh quay người rời đi cùng với Jamison.
“Anh định đi đâu bây giờ?” Lancaster nhìn anh chăm chăm như thể anh là người cuối cùng còn lại trên Trái đất ngoại trừ chị. Nếu Decker có thể cảm nhận được sự cảm thông, chắc chắn anh sẽ cảm động sâu sắc.
“Xem lại đoạn video thêm một lần nữa.”
“Đoạn video nào?”
“Của một người bước ra khỏi xe.”
Chú thích:
[1].Hút thuốc thụ động là hít phải khói thuốc do ngườ khác hút chứ bản thân người hút thuốc thụ động không trực tiếp sử dụng thuốc lá.
 
 
 
CHƯƠNG 51
 
Decker đã xem đoạn ghi hình trên máy tinh xách tay đến cả tá lần, cả tốc độ thường lẫn tốc độ chậm. Sau đó anh ngồi tựa lưng lên ghê, nhắm nghiền mắt lại.
Cô ta đã bước tới chỗ anh.
Anh đã gọi món.
Bia được mang ra.
Cô ta đã đi mất hút.
Anh trông thấy cô ta một lần, đang thơ thẩn đi quanh quầy rượu, bờ hông mảnh mai lắc qua lắc lại đầy quyến rũ trước khi mất dạng ở phía sau quán rượu.
Sau đó, anh nhìn thấy cô ta một lần nữa. Ở đây. Trên màn hình này.
Bước ra khỏi xe. Hình ảnh đó cứ lặp đi lặp lại rồi lại lặp lại nữa.
Một sự kiện mà anh tận mắt nhìn thấy cứ tái hiện liên hồi trong đầu. Anh săm soi cơ thể cô ta, từ đầu xuống chân không biết bao nhiêu lần. Tâm trí anh tập trung vào một phần nhỏ khuôn mặt đã lọt vào mắt anh.
Bỗng nhiên anh chợt hiểu ra. Cuối cùng tâm trí anh đã thông suốt.
Anh mở mắt ra đã thấy Đặc vụ Bogart đang đứng đó.
Anh ta và Jamison đang ở trong thư viện của Mansfield.
“Anh gặp Lancaster rồi sao?” Bogart hỏi.
Decker gật đáp lời nhưng các suy nghĩ vẫn còn vương lại ở các hình ảnh trong đầu.
“Cô ấy thế nào rồi?”
“Máy bay chuyên cơ của anh còn dùng được chứ?”
Nghe thấy câu hỏi đó, Bogart tỏ vẻ ngạc nhiên. Anh bèn ngồi ngay xuống mép bàn.
“Có chứ, làm sao?”
“Tôi có thể đi nhờ một chuyến được không?”
“Nếu tôi nói có thì anh có thể đi. Thế có chuyện gì?”
Decker đứng dậy. “Chúng ta cần tới Chicago.”
“Anh vừa mới ở đó về mà.”
“Tôi cần đến đó lần nữa.”
“Anh có đầu mối ư?” Bogart liếc nhìn màn hình máy tính. Sự hăm hở hiện rõ trên dáng vẻ.
“Tôi có đầu mối.”
“Tôi có thể đi cùng được không?” Jamison nhanh nhảu hỏi.
Bogart nhìn cô rồi nhìn Decker. Anh nhún vai tỏ vẻ không phiền hà gì.
Bogart nói tiếp, “Được, nhưng nhớ dùm cho FBI không phải là dịch vụ hàng không cho mọi nhà đâu. Và không được phép có một từ nào về vụ này được lên mặt giấy.”
“Tôi bỏ việc ở bên tòa soạn rồi.”
“Cái gì?” Decker hỏi. “Tại sao thế?”
“Tôi sẽ dành hết thời gian để điều tra vụ này từ đầu chí cuối. Nên tôi không thể làm tròn nhiệm vụ đưa tin các vụ khác nữa. Vả lại, thẳng thắn mà nói, cũng đến lúc phải bước tiếp rồi.”
Cô đứng dậy, vác túi xách lên người. “Nào đi thôi. Nhanh nhanh.”
Cô bước ra khỏi phòng.
Bogart nhìn Decker. “Quả là có cá tính mạnh. Anh làm sao mà kiếm được cô nàng đặc biệt này thế.”
“Bây giờ tôi không thể bàn thêm gì về chuyện đó,” Decker đáp.
☆☆☆
Chiếc máy bay chuyên cơ đưa bọn họ đến một sân bay tư nhân nằm ở phía nam thành phố Windy, họ lên một chiếc xe SUV để di chuyển về khu trụ sở mới của Viện nghiên cứu Nhận thức. Đó là một tòa nhà ba tầng nằm trong khu văn phòng xây dựng theo kiểu trường học, cách Chicago khoảng một tiếng đi xe.
Bogart giơ nhanh chiếc phù hiệu FBI ở bàn tiếp tân, tạo nên một phản ứng dây chuyền với kết quả là được hộ tống đến một phòng hội nghị nằm ở phía sau tòa nhà được sơn màu đất nhẹ nhàng.
Một người đàn ông mặc bộ áo comple ba mảnh, bên trong mặc áo somi hồng, đeo nơ màu vàng chấm bi xanh lá bước vào.
Ông ta nhìn Bogart - người vừa mới giơ nhanh chiếc phù hiệu và tự giới thiệu bản thân. Sau đó Darren Marshall nhìn thấy Decker.
“Amos Decker?”
Decker đứng dậy và bắt tay với ông ta. “Chào Tiến sĩ Marshall.”
“Đã hai mươi năm rồi phải không?”
“Thêm hai tháng, chín ngày và mười bốn giờ,” Decker tự động nói. Con số cứ tự nhiên nhảy lên trong đầu anh nhanh đến nỗi chính anh còn không nhận ra mình đang làm phép tính. Chuyện đó không còn lạ lùng với anh nữa. Con người anh của hiện tại là… như thế.”
“Tất nhiên rồi, tôi tin lời cậu chứ,” Marshall nói. Ông liếc nhìn Bogart. “Amos là trường hợp khá hiếm thấy.”
“Tôi tin chắc thế. Nhưng tôi lại mù mờ về sự “hiếm thấy” này lắm.”
Marshall nhìn sang Jamison. “Cô cũng là người của FBI à?”
“Không. Tôi chỉ là một công dân hay quan tâm đang cố gắng giúp đỡ thôi.”
Ông Marrshall trông có vẻ hơi giật mình trước lời nói đó của cô.
“Trường hợp hiếm thấy?” Bogart nhắc lại.
Decker nói ngắn gọn, “Tôi đã từng bị chấn thương vùng đầu. Cú va chạm đã thay dổi cách hoạt động của não bộ. Khiến nó hiệu quả hơn trong một số khía cạnh.” Anh dừng lại. “Bị măc chứng Savant không do bẩm sinh, có thể nói như vậy, không giống trường hợp bẩm sinh của anh trai anh.”
Bogart gật đầu, theo dõi anh sát sao. “Ừ. Phải rồi, tôi hiểu.”
“Cậu có thể nói cho tôi biết mọi người đến đây vì chuyện gì?” Marshall hỏi.
Decker giải thích hoàn cảnh hiện tại cho Marshall, ông chậm rãi gật gù trước khi nghe xong toàn bộ sự tình.
“Tôi đã nghe chuyện của Sizemore đáng thương, nhưng tôi lại không biết lại có liên quan phần nào đến… thảm họa ở Burlington.”
“Chúng tôi đã đề cập chuyện này với Tiến sĩ Rabinowitz,” Decker nói tiếp.
“Ôi đó là lí do ông ấy cứ gọi cho chúng tôi,” Marshall nói. “Dạo này tôi bận quá nên vẫn chưa gọi lại cho Harold.”
“Nó còn liên hệ với sự kiện còn kinh khủng hơn nữa,” Bogart tiếp lời. “Nhưng chúng tôi sẽ không cần đào sâu vào bất cứ cái nào ngay lúc này cả.” Ánh mắt mong đợi của anh liếc sang bên Decker.
Decker nói tiếp, “Kẻ sát nhân gần như chắc chắn là đàn ông, người này đã bắt tay với một người khác tên là Sebastian Leopold.”
“Chưa bao giờ nghe thấy cái tên này. Nhưng cậu nghĩ có sự liên quan đến Viện này sao?”
“Nếu mà xét về các manh mối được sắp xếp cẩn thận đã dẫn tôi đến đây thì câu trả lời là có liên quan. Tính thêm một điều nữa là Tiến sĩ Sizemore đã bị giết hại.”
“Cậu biết chắc chắn các vụ án này có liên quan với nhau sao? Ý tôi là cái chết của Sizemore và những người khác?”
“Còn có một tin nhắn khác được để lại nhà của ông ấy. Một lần nữa, là gửi cho tôi.”
Marshall ngồi sụp xuống ghế, nét mặt thất thần. “Ôi Chúa ơi, tôi không thể nào tin nổi.”
Decker nói tiếp, “Có một phụ nữ trong nhóm của tôi hồi ở Viện nghiên cứu, Belinda Wyatt.”
“Có, tôi có nhớ cô ấy.”
“Cô ấy nằm trong nhóm người được ưu ái của Tiến sĩ Sizemore.”
“Chúng tôi không khuyến khích những mối quan hệ như thế ở đây.”
Nhưng không có nghĩa là chúng không xảy ra. Trên thực tế, cũng không sai khi nói rằng Tiến sĩ Sizemore đã được yêu cầu rời khỏi đây bởi vì ông ấy đã có mối quan hệ mật thiết với các bệnh nhân trong hời gian gần đây? Có lẽ là các bệnh nhân nữ chăng?”
“Tôi thực sự không thể tiết lộ gì thêm về chuyện đó.”
Bogart rướn người qua chiều rộng của chiếc bàn. “Tiến sĩ Marshall, chúng tôi đang săn lùng một kẻ sát nhân, hắn đã giết nhiều người không đếm xuể, bao gồm một nhóm các học sinh trung học và một đặc vụ của tôi. Phải ngăn kẻ này lại trước khi hắn ra tay thêm lần nữa. Thế nên, trong lúc tôi vẫn đang vô cùng tôn trọng việc ông cần giữ các thông tin tuyệt mật thì bất cứ sự hỗ trợ nào của ông cũng khiến tôi cảm kích vô cùng.”
Marshall buông một tiếng thở dài ngắt quãng. “Vâng, tôi có thể nói với các anh rằng trong vào thời điểm được yêu cầu rời đi, Sizemore đã vượt qua ranh giới trong công việc với một phụ nữ trong viên nghiên cứu. Tôi thực sự không thể chia sẻ nhiều hơn thế.”
“Đừng lo, ông ta sẽ không kiện ông đâu,” Bogart nói tiếp. “Ông ta đang nằm trong nhà xác rồi.” Anh liếc nhìn Decker. “Ông có nghĩ liệu rằng Sizemore có thể đã làm chuyện tương tự với người phụ nữ họ Wyatt kia không?”
Decker không đoái hoài gì đễn câu hỏi này và nói với Marshall, “Chuyện gì đã xảy ra với cô ấy?”
“Tôi sẽ phải rà soát lại các bản ghi chép.”
“Ông sẽ làm như vậy thật chứ?”
“Đây là hành động bội tín nếu xét về mặt chuyên môn.”
“Xin ông, Tiến sĩ Marshall, chỉ cần kiểm tra các bản ghi chép thôi.”
Marshall đứng dậy vầ cầm chiếc điện thoại nằm trên chiếc tủ rồi nói chuyện. Năm phút sau, một người phụ nữ bước vào, tay cầm một túi hồ sơ dày cộp. Cô ta đưa nó cho Tiến sĩ Marshall, sau đó quay người bỏ đi.
Marshall đeo kính lên rồi nói, “Tôi cần xem qua tập hồ sơ.”
Bogart nói, “Cứ tự nhiên. Thong thả nhé.”
Hai mươi phút trôi qua, Marshall ngước mắt nhìn lên. “Được rồi, các cậu muốn biết điều gì?”
“Lúc đó cô ấy bao nhiêu tuổi?” Decker hỏi.
“Mười sáu tuổi.”
“Cô ấy thuộc nhóm Siêu trí tuệ?”
“Ừ, có năng lực đặc biệt. Thực tế là gần giống với của cậu. Thế nhưng không giống với cậu, cô ấy không biểu lộ bất cứ dấu hiệu giác quan thứ phát nào.”
“Điều đó khiến trường hợp của tôi được một số người ở đây quan tâm hơn,” Decker tiếp lời. “Là do có cùng một lúc cả hai khả năng ấy.”
“Và cũng do cách cậu có được khả năng nữa. Chấn hương do va đập vùng đầu xảy ra trên sân bóng. Chưa từng có tiền lệ nào. Tôi cực kì nghi ngờ việc có thể thấy thêm một trường hợp khác tương tự.”
Bogart quay sang nhìn Decker. “Mọi chuyện là thế hả?”
Jamison gật đầu với anh. “Vâng.”
“Cô ấy còn biết chuyện này còn tôi thì không à?” Bogart nói, giọng khó chịu.
Jamison giải thích, “Chúng tôi đã cùng đi vài chuyến xe dài với nhau.”
Decker nói tiếp với Marshall. “Belinda đã có được năng lực của mình thế nào? Chúng tôi cùng tham gia nhiều buổi trị liệu nhóm, nhưng thông tin đó chẳng bao giờ được tiết lộ. Mặc dù một vài người khác ở đây đã biết rõ về hoàn cảnh của tôi qua mấy tin vịt, nhưng tôi không nhớ trường hợp Belinda từng được nhắc tới.”
“Chậc, hồ sơ của cậu đáng nhẽ không nên bị khép lại. Trường hợp của Belinda thậm chí còn… phức tạp hơn.”
“Phức tạp đến mức nào?” Bogart hỏi. Marshall không nói gì, Bogart lại tiếp tục, “Tôi không muốn cho ông uống rượu phạt thay vì uống rượu mời, nhưng tôi có thể triệu trát tòa án đến đây trong vòng một tiếng. Nhưng trong thời gian chờ đợi đó, có thể có người lại bị ám hại.”
Marshall ngoái đầu nhìn sang Decker. “Anh có thực sự nghĩ việc này có thể có liên quan đến tất cả các vụ giết người kia không?”
“Tôi biết chắc là có.”
Marshall bỏ kính xuống và đẩy túo hồ sơ sang bên. “Hồi ấy Belinda Wyatt vẫn còn là một thiếu niên sống ở vùng quê Utah. Khi cô ấy mười sáu tuổi, thì cô ấy bị, nói huỵch tẹt ra, bị hiếp dâm tập thể, bị ép quan hệ bằng hậu môn, bị đánh nhừ tử, và bỏ mặc suýt chết.”
Ánh mắt sắc lẹm của Bogart liếc về phía Decker, nhưng anh vẫn chăm chú nhìn Marshall.
“Vậy là do có quá nhiều thương tổn trên người nên cô ấy đã bị chấn động não, rồi sau chuyện đó cô ấy mắc hội chứng trí nhớ siêu phàm,” Decker nói.
“Phải. Bên cạnh đó, cô đã trải qua rất nhiều thương tổn về mặt cảm xúc, như cậu có thể hình dung ra,” Marshall bổ sung thêm. “Thực tế mà nói, thương tổn lớn đến mức cô ấy sẽ không bao giờ hoàn toàn bình phục lại được. Cô ấy đã bị tổn thương vĩnh viễn, cả về mặt cảm xúc và thể xác. Ví dụ như sau sự cố thảm khốc đó, cô ấy sẽ không bao giờ có khả năng sinh con nữa.”
“Ôi Chúa ơi,” Jamison thảng thốt.
Bogart nói, “Nhưng Decker, tôi đang không hiểu nổi điểm này. Wyatt là nữ. Cô ta không thể là kẻ bắn súng được. Hung thủ là đàn ông cơ mà.”
“Cô ta có thể là kẻ bắn súng. Cô ta chính là kẻ bắn súng mà chúng ta đang tìm.”
Ánh mắt Bogart liếc nhìn anh sắc như dao. “Chính xác thì anh dựa vào đâu mà phán đoán như vậy?”
Decker nhìn Marshall. “Belinda có nhiều vấn đề, không phải sao? Ngoài việc cô ta bị đánh đập và hiếp dâm? Có lẽ còn là do có liên quan đến xu hướng tình dục nữa phải không?”
Marshall kinh ngạc nói, “Tôi thực sự không biết làm thế nào mà cậu có thể biết cả chuyện đó. Theo những gì tôi nhớ thì vấn đề này còn chưa bao giờ được đề cập đến trong bất cứ buổi trị liệu nào.”
“Tôi không có lời giải thích cụ thể nào hơn ngoài việc đầu tôi cứ thế mà sắp xếp mọi thứ lại với nhau để đưa ra kết luận. Qua đường quai hàm, đường cong của bắp đùi, bàn tay. Qua kiểu cách và chuyển động của cơ thể nữa. Tất cả được chấp nối lại với nhau. Như các mảnh ghép trong một bức tranh xếp hình.”
“Trí não của cậu quả thật diệu kì quá, Amos.”
“Hóa ra đó mới là lí do cô ta bị cưỡng bức và hành hung sao? Tôi cho rằng hai mươi năm trước, ở một vùng quê Utah, những người như vậy sẽ bị kì thị lắm.”
“Tôi không có ý định tiết lộ các chi tiết cụ thể của vụ án này, nhưng cũng có thể là lí do đó, vâng. Tôi khôg chắc xã hội ngày nay đã cởi mở đến mức nào. Mà tôi vẫn hình dung ra, tình trạng thể chất như vậy sẽ khiến cho người khác có phản ứng thái quá nếu không muốn nói là lầm lạc.”
“Thế tình trạng thể chất cụ thể của cô ta là gì?” Decker hỏi.
Marshall có vẻ định phản kháng lại nhưng sự cam chịu lại lướt qua nét mặt của ông. “Hai mươi năm trước, Belinda Wyatt được phân loại là có tình trạng thể chất bán nam bán nữ.”
Jamison nói, “Ông muốn nói là giống người lưỡng tính?”
“Đúng vậy,” Marshall đáp. “Hiện tại, thuật ngữ đó hiếm gặp, không còn được sử dụng nhiều bởi nó có chút thiếu tế nhị. Giờ chúng tôi gọi các tình trạng đó là liên giới tính hoặc DSD, viết tắt của từ Disorders of Sexual development (Chứng rối loạn phát triển giới tính). Nghĩa là có một phần không nhất quán giữa bộ phận sinh dục bên trong và bên ngoài, giải thích cụ thể hơn là vừa có tinh hoàn vừa có buồng trứng, một người có thể vừa có nhiễm sắc thể nữ nhưng lại có bộ phận sinh dục nam, đại loại thế. Có khoảng bốn phân loại về Liên giới tính. Xét về mặt sinh học, Belinda thuộc một loại tình trạng được gọi là Liên giới tính tuyến sinh dục.”
“Cụ thể là gì?” Decker hỏi.
“Nghĩa là người đó vừa có một phần buồng trứng vừa có một bên tinh hoàn. Belinda vừa có nhiễm sắc thể XX và XY. Cô ấy có một buồng trứng và một tinh hoàn. Các cậu có thể mường tượng bất cứ ai có tình trạng như thế sẽ gặp nhiều khó khăn đến nhường nào. Cộng đồng y học đã phải trải qua một chặng đường dài đằng đẵng cho đến tận bây giờ để giúp đỡ những người đó giải quyết tình trạng của mình, để đưa ra lựa chọn về giới tính, bằng cách phẫu thuật hoặc các cách khác. Hai mươi năm trước, người ta thường ra quyết định đi phẫu thuật ngay lập tức, và thường chuyển giới bệnh nhân thành nữ thay vì nam bởi vì quá trình phẫu thuật có xu hướng dễ thực hiện hơn. Hiện tại giới y học chúng tôi biết có nhiều yếu tố liên quan khác nữa. Tốt nhất là cứ chờ đợi và dần dần hiểu được từng trường hợp của mỗi người, và cho phép bệnh nhân có thêm nhiều ý kiến hơn trong việc ra quyết định lựa chọn giới tính. Suy cho cùng, đó cũng là cơ thể và cuộc sống của họ.”
“Thế còn hai mươi năm trước thì sao?” Decker tiếp lời.
“Mọi chuyện rất khác bây giờ,” Marshall nói. “Mọi người có thể rất u muội. Và cực kì độc ác. Wyatt khi ấy mới mười sáu tuổi và đang học trung học. Cả những thanh thiếu niên không phải đối mặt với việc… việc có những khác biệt về mặt sinh học cơ thể với những bạn bè đồng trang lứa khác cũng đã gặp lắm khó khăn vào cái thời đó rồi.”
Jamison buồn rầu nói, “Vậy là bất cứ người nào đã cưỡng bức tập thể và đánh đập cô ấy đều biết tình trạng cơ thể của cô. Và bọn họ là một nhóm người u muội sao? Và họ quyết định dạy cho cô gái đó một bài học sao?”
“Có lẽ là đúng như thế.”
“Thế còn ba mẹ của cô ta?” Decker hỏi.
“Bởi lúc ấy cô ta chưa đủ tuổi trưởng thành nên họ đã tnay mặt con gái kí giấy tờ cho con bé đến viện nghiên cứu này.”
“Họ có đến thăm cô ta không?”
“Không.”
“Sao lại không?”
“Nói giảm nói tránh đi, thì tôi xếp thứ cha mẹ đó cùng vào hạng người u muội.”
“Chúa ơi, bị cha mẹ bỏ rơi hoàn toàn khi cần họ bên cạnh nhất!” Jamison nhấn mạnh.
“Vậy họ xem con gái mình là gì, là một đứa quái dị à?” Decker hỏi.
“Tôi đã từng nói chuyện với họ qua điện thoại vài lần. Tôi không nghĩ họ quan tâm đến chuyện xảy ra với con gái mình. Họ không đáng mến chút nào.”
Bogart hỏi tiếp, “Tại sao ông lại chia sẻ toàn bộ thông tin sức khỏe tuyệt mật của bệnh nhân trong viện nghiên cứu này? Tôi nghĩ ông chỉ nghiên cứu về các vấn đề nhận thức thôi chứ.”
“Chúng tôi tiếp cận nhiều thứ từ góc nhìn rộng lớn hơn. Đúng là tập trung trước tiên về việc nghiên cứu những tâm trí đã hoặc đang trở nên phi thường thông qua nhiều nhân tố. Tuy nhiên chúng tôi cũng là bác sĩ. Những bệnh nhân mà chúng tôi đã gặp phải, như Belinda và cũng như Amos, đã phải chịu đựng những chấn thương nghiêm trọng mà đổi lại là sự biến đổi vĩ đại trong não bộ của họ. Chúng tôi cần biết tiền sử bệnh tật của họ để chúng tôi có thể hiểu rõ điều gì đã gây ra chấn động lớn như thế, và quan trọng là cũng hi vọng giúp bọn họ đối mặt với cuộc sống mới.” Ông quay đầu nhìn Decker. “Tôi biết chúng tôi chưa bao giờ có bất cứ buổi khám thêm nào với cậu, Amos. Đó chính là lỗ hổng trong quy trình của chúng tôi mà hiện nay đã được điều chỉnh lại. Chỉ vì cậu không còn ở bên chúng tôi nữa không có nghĩa chúng tôi không thể tiếp tục hỗ trợ cậu.”
“Vô cùng cảm kích lòng giúp đỡ của ông,” Decker nói. “Nhờ đó mà tôi có khả năng tự lo liệu được cho mình.”
“Tôi rất vui khi nghe thấy cậu nói vậy. Giờ trong trường hợp của Belinda, rõ ràng cô ấy là một trường hợp đặc biệt ngay cả khi cô ấy không phải trải qua sự việc đó. Tôi đã có buổi thảo luận thẳng thắn với bác sĩ ở Utah, ông ấy đã khám và đưa ra chẩn đoán sơ bộ về tình trạng của cô ấy. Cần phải nghiên cứu cả về tình trạng thể chất lẫn tinh thần, đặc biệt là khi ta đang phải nghiên cứu với tâm trí con người, thế nên chúng tôi cần hiểu hết mọi thứ. Còn cha mẹ cô ấy không phản đối gì. Tôi nghĩ họ muốn ‘tay mình sạch đất’,” ông nói thêm kèm cái nhăn mặt.
“Belinda đã từng phẫu thuật chuyển thành nam giới chưa?” Decker hỏi.
“Tôi không biết. Chắc chắn một điều là cô ấy không có phẫu thuật chuyển giới trước hay trong khi ở đây cả.”
“Ông có nghe thấy tin tức gì về cô ấy kể từ lúc cô ấy rời khỏi đây không?”
“Không một tin gì?”
“Ông có địa chỉ của Belinda không?” Decker hỏi.
“Không.”
“Còn của cha mẹ?”
“Có có, trong hồ sơ, nhưng của mười lăm năm trước rồi.”
Decker nói. “Chúng tôi xin địa chỉ đó cũng được.”
 
 
 
 
CHƯƠNG 52
 
Decker ngồi sát bàn, mặt hướng ra ngoài cửa sổ. Jamison ngồi đối diện, nhìn anh lo lắng.
Muốn cố xoa dịu tâm trạng hiện tại, cô nói, “Được, tôi phải thừa nhận, đi bằng cái này ngon hơn đi bằng con xe Suzuki của tôi.”
“Ý cô là cái xe hơi đồ chơi của cô hả,” Decker nhận xét, đôi mắt vẫn chăm chú nhìn qua cửa sổ.
Họ đang bay ở độ cao hơn mười hai nghìn mét, vận tốc bay hơn tám trăm cây số trên giờ, trên một chiếc máy bay Falcon ba động cơ sáng bóng của Cục.
Anh ngước nhìn lên khi thấy Bogart đặt mấy li cà phê xuống trước mặt anh và Jamison, rồi sau cùng ngồi xuống đối diện anh. Đặc vụ FBI tháo nút áo khoác và nhấp một ngụm cà phê trong li mình.
Jamison ngó nghiêng đồ nội thất xa hoa bên trong, “Xịn ghê.”
Bogart gật gù, “Trong những vụ án như thế này thì FBI thường huy động hết mọi nguồn lực lẫn nhân lực có thể.” Anh quan sát Decker, người vẫn đang nhìn chăm chú qua cửa sổ.
“Vậy là cậu lãnh một cú va chạm mạnh trên sân bóng, sau đls nó thay đổi cuộc sống của cậu mãi mãi ư?”
“Nó thay đổi não bộ của tôi, kèm theo đó là cuộc sống của tôi.”
“Lại thế rồi, cậu không muốn chia sẻ về nó sao?”
Decker không nói gì.
“Anh nghĩ chúng ta sẽ tìm thấy gì ở nhà gia đình Wyatt ở Colorado?” Jamison hỏi, lo lắng nhìn láo liên giữa hai người đàn ông.
Decker trả lời, “Bất cứ thứ gì mà chúng ta tìm ra sẽ nói cho chúng ta biết điều chúng ta trước đây không biết. Và nó sẽ đưa chúng ta bước gần đến Belinda Wyatt thêm một bước.”
Bogart nhấp thêm một ngụm cà phê nữa, “Điều gì khiến cậu quyết định truy dấu theo Wyatt vậy? Chúng ta đang truy lùng một người đàn ông, còn cô ta là phụ nữ, hoặc đã từng là phụ nữ khi cậu còn quen biết cô ta.”
Thay cho câu trả lời, Decker mở chiếc máy tính xách tay trước mặt anh và xoay nó một vòng để Bogart có thể nhìn thấy màn hình. Sau đó anh bấm nút chạy đoạn ghi hình.
Bogart xem toàn bộ khung hình đang chạy rồi quay sang nhìn Decker.
“Ừ, là một phụ nữ bước ra khỏi xe. Là nữ phục vụ quán rượu. Là đồng lõa cùa Leopold. Có thể là người tên Belinda Wyatt đó. Đối với tôi, chắc chắn giống một phụ nữ.”
“Anh có để ý cách người này bước ra khỏi xe không?”
Bogart liếc lại màn hình. “Anh nói đây là nam giới cải trang thành phụ nữ mà. Còn hiện tại chúng ta đều biết Wyatt thuộc tình trạng liên giới tính, chúng ta thực sự không biết cô ta là đàn ông hay phụ nữ. Thế nên có thể chỉ cô ta trông giống phụ nữ là bởi vì cô ta là phụ nữ. Có thể cô ta chưa bao giờ làm phẫu thuật.”
“Đúng vậy. Cô ta có thể vẫn chính là cô ta của hai mươi năm trước. Chúng ta đều biết Leopold không thực hiện vụ giết người này. Nếu Wyatt có liên quan đến hắn ta thì khả năng chỉ còn cô ta thôi. Cô ta chính là kẻ bắn súng.”
“Được rồi, nhưng tôi vẫn đang không hiểu ý của anh về chuyện bước ra khỏi xe. Cô ta xoay chân ra ngoài và đứng dậy. Giống kiểu gái hay trai vẫn làm.”
“Không, không giống động tác của đàn ông. Không giống một chút nào.”
“Tôi không hiểu.”
“Quay sang bên và đứng lên, như anh đang bước ra khỏi xe ấy.”
“Gì cơ, ngay bây giờ á?”
“Ừ, ngay và luôn.”
“Decker!”
“Cứ làm đi.”
Bogart trông cáu kỉnh nhưng rồi cũng quay sang bên, đặt chân lên lối đi. Anh đang định đứng lên thì Decker bỗng ngăn anh lại.
“Nhìn chân của anh xem.”
Bogart nhìn xuống hai cẳng chân đang dạng ra. “Chúng làm sao? Tôi xoay chân đặt lên lối đi rồi còn gì, một việc phải làm để đứng dậy. Người trên màn hình cũng làm hành động tương tự.”
“Nhìn khoảng cách giữa hai bên đùi xe.”
Bogart liếc xuống nhìn khoảng trống rộng hoác giữa hai chân anh. “Thế thì sao?”
“Nhìn lại màn hình.”
Bogart liếc nhìn màn hình. Hai đùi của người kia gần như chạm vào nhau.
“Nhìn vào bàn tay,” Decker nói thêm.
Bogart nhìn vào bàn tay người kia. Nó được đặt chèn giữa khe hở nhỏ giữa hai đùi, giữ cho mép váy chùng xuống.
“Hai chân anh đang bạnh sang hai bên, còn tay anh có ở chỗ nào gần chân đâu.”
“Ừ thì cô ta đang mặc váy, còn tôi thì không.”
“Không quan trọng. Anh là đàn ông, có mặc váy hay không, anh cũng sẽ khôg làm động tác như thế. Anh sẽ dạng chân ra và đứng lên. Còn người kia lại đang ở trong ngõ. Không có ai ở đó để thoáng nhìn vào chiếc váy hớ hênh cả. Thế tại sao phải để hai chân sát vào nhau thế? Tại sao lại để tay ở đó để tăng thêm an toàn, để ngán lại những con mắt tọc mạch?”
“Tôi chịu thôi. Tại sao?”
“Đó là sự khác biệt giữa việc được dạy từ nhỏ giữa phụ nữ và đàn ông. Phụ nữ thường làm chuyển động đó một cách tự động. Nó được thấm nhuần trong tâm trí họ từ lúc còn rất bé, ngay từ khi họ bắt đầu mặc váy hai dây ngắn và quần tất da chân, rồi sau đó là váy liền thân hoặc chân váy. Vợ tôi đã từng dạy con gái làm động tác giữ váy đó từ khi con bé còn nhỏ xíu. Mẹ nào cũng dạy con gái như thế. Tuy nhiên một gã trai sẽ không bao giờ nghĩ đến chuyện đó. Không bao giờ. Dù có mặc váy hay không. Đàn ông không phải lo lắng về chuyện mọi người sẽ ngó nghiêng thế nào, bởi vì họ chính là người chuyên đi ngó nghiêng.”
Bogart nhìn xuống cẳng chân mình, sau đó nhìn sang tay, cuối cùng nhìn vào màn hình, nơi hình ảnh bất động thể hiện rõ ràng mọi điều mà Decker vừa mới giải thích. Anh quay sang nhìn Jamison cũng vừa làm theo mọi thứ trong cuộc trò chuyện. Trước khi anh có thể lên tiếng, cô xoay chân đặt lên lối đi. Cô ấy đang mặc váy. Hai đầu gối khum lại với nhau, tay cô đang đặt lên đúng vị trí so với người trong đoạn băng kia.
“Chuyện đó bị đóng trong đầu nữ giới chúng tôi rồi, Đặc vụ Bogart” cô nói, “Giống như Decker vừa nói. Diễn ra hoàn toàn tự nhiên, nhất là khi đang mặc váy.”
Bogart lớn tiếng, “Để tôi nói chuyện này cho rõ quan điểm nhé. Anh đang nói rằng kẻ bắn súng của chúng ta là một phụ nữ sao Decker?”
“Tôi đang nói rằng nếu kẻ bắn súng là Belinda Wyatt - và tôi tin đúng là như thế - thì cô ta đã vẫn còn giữ “kí ức cơ bắp” từ nhỏ lúc được nuôi dạy là một bé gái. Cho dù cô ta hiện tại có là đàn ông sau khi phẫu thuật hay không, thì tôi không biết. Trớ trêu ở chỗ, cô ta có thể thích như thế, sau khi được coi là một đứa dị hợm có cả hai giới tính, bởi vì hiện tại cô ta có thể tận dụng nó làm lợi thế. Cô ta cứ như con tắc kè hoa, thay vì thay đổi màu da thì có thể chuyển giới một cách linh hoạt vậy. Cô ta có thể vừa giả nam hoặc giả nữ. Quả là một vỏ bọc cực kì hiệu quả.”
Bogart xoay hai chân vào trong và đặt khuỷu tay lên bàn. Jamison cũng làm tương tự.
“Tại sao anh nghĩ cô ta đã giết hại Sizemore?” Bogart nói.
“Đó là lí do khác đã khiến tôi bắt đầu để tâm tới Wyatt. Cô ta là bệnh nhân yêu thích của ông ta. Ông ta thể hiện điều đó rất rõ. Ông ta chưa bao giờ kể cho tôi nghe về tiểu sử của cô ta, nhưng lại dành kha khá thời gian bên cạnh cô ta.”
“Đúng thế, nhưng tại sao cô ta lại giết ông ta chứ?”
Decker nhìn Bogart chằm chằm, mặt toát ra sự thất vọng. “Chuyện rõ ràng thế còn gì? Ông ta quyến rũ cô ta và làm tình với cô ta trong khi cô ta còn ở trong Viên nghiên cứu.”
Jamison và Bogart trợn tròn mắt nhìn anh.
“Chết tiệt,” Jamison thốt lên. “Hợp lí quá ấy chứ. Sizemore là một kẻ ghê tởm. Ông ta bị đá ra khỏi Viện vì đã có tác phong thiếu đứng đắn tương tự với một bệnh nhân nữ khác, không phải sao.”
Bogart nói tiếp, “Vậy là ông ta đã quyến rũ cô thiếu niên bị ngược đãi về cảm xúc lẫn thể chất này, trong lúc cô bé đang trong lúc vụn vỡ yếu ớt nhất, để có thể được sung sướng cái ấy sao? Ra cái kiểu “ưu ái” bệnh nhân của hắn là thế à!”
Decker không nói lời nào. Anh đã lại quay đầu nhìn ra ngoài cửa sổ máy bay.
“Không có gì là anh quên được nhỉ?” Bogart nói.
“Một khi tôi đã nhìn hoặc nghe đến, thì tôi sẽ luôn nhớ đến nó.”
Jamison nói, “Nhưng nếu có người nói dối anh thì sao? Anh sẽ nhớ lời người đó, nhưng không nhất thiết nhớ đó là lời nói dối, phải không?”
“Chỉ khi tôi được nghe một điều mâu thuẫn với lời người ấy nói trước đó thì tôi mới không tin. Khi đó tôi cũng có thể bắt đầu tìm ra đâu là sự thật, đâu là dối trá. Những chi tiết nhỏ có xu hướng giúp ta thu được kết quả to lớn. Mọi người thường không phạm lỗi với các chi tiết chung chung. Họ thường mắc sai lầm ở những chi tiết nhỏ.”
“Thế thì Leopold thì sao? Làm sao hai kẻ đó bắt tay với nhau được?”
Decker lại quay ra phía cửa sổ, ngắm nhìn những đám mây trôi qua.
Anh không có câu trả lời cho câu hỏi đó.
Có thể anh sẽ không bao giờ tìm được câu trả lời.
Belinda Wyatt và Sebastian Leopold. Hai kẻ ít có khả năng trở thành đồng phạm của nhau nhất. Thế nhưng lại giống như hai gã sát nhân trong cuốn Máu lạnh của Truman Capote, con người bắt tay với nhau có thể làm những thứ không thể tưởng tượng nổi so với khi chỉ hành động một mình.
Và anh tự hỏi hiện tại bọn chúng đang âm mưu điều gì nữa đây.
 
 
 
CHƯƠNG 53
 
Ngôi nhà có địa chỉ ở Colorado nằm ở dưới chân của dãy núi Rocky Mountains, trên con đường dài lát đá chỉ có một ngôi nhà duy nhất nằm ở phía cuối đường, để tiếp cận được nó phải đi qua một cánh cửa tự động. Thế nhưng đây quả là một ngôi nhà đồ sộ, một cơ ngơi thực sự.
Những chiếc SUV chầm chậm lăn bánh vào trong. Một nhóm đặc vụ FBI từ Denver đã gặp bọn họ tại sân bay tư nhân mà chiếc chuyên cơ đáp. Có tổng cộng tám đặc vụ, thêm Bogart, Jamison và Decker. Toàn bộ lực lượng hành pháp địa phương đã cố thủ ở dưới để trông chừng lối đi này.
“Đúng là nơi dị thường,” Bogart nhận xét khi căn nhà hai tầng rộng lớn hiện dần ra trước mặt.
“Thế anh nghĩ nó sẽ bình thường à?” Decker hỏi lại.
Khi tất cả đội dừng lại, Bogart quay sang nhìn Jamison. “Cô ở yên đây.”
“Thôi nào. Decker cũng không cho phép tôi vào nơi ở của Sizemore.”
“Chà, tôi rất sẵn lòng được xếp vào chung một hội với Ngài Decker đây,” Bogart vặn vẹo. “Cho đến khi chúng tôi đã rà soát xong cả căn nhà, cô ở nguyên chỗ này.”
Họ leo ra khỏi chiếc xe thể thao chuyên dụng, cả đội nhanh chóng vây quanh căn nhà. Một tòa nhà to lớn trông có vẻ để vừa được bốn chiếc xe hơi nằm dạt sang một bên. Một chiếc bể bơi nằm ở phía đằng sau, hiện tại đã được che phủ lại vì mùa đông. Không còn khu nhà nào khác nữa. Và cũng không trông thấy chiếc xe nào cả.”
“Nơi này trông giống bị bỏ hoang,” Bogart nói. “Khu nhà xinh đẹp như thế này, nhưng cảnh vật sao trông tiêu điều quá.”
“Cứ để xem đã,” Decker trả lời.
Nhiệt độ ngoài trời lạnh cóng, hơi thở của mọi người cũng hóa khói trâng trước mặt.
Hai đặc vụ tiến gần đến nhà để xe trong khi những nười khác tiến thẳng đến ngôi nhà. Ba người đi vòng ra phía sau, nhóm còn lại bao vây phía trước ngôi nhà. Với Decker đứng bên cạnh mình, Bogart gõ cửa phía trước, tự giới thiệu mình, nói rằng anh có lệnh lục xét nhà và yêu cầu được vào bên trong. Tất cả những gì anh nhận lại được là sự im lặng.
Anh bắt đầu đếm ngược qua chiếc điện thoại với đội đặc vụ ở phía sau.
Hai cánh cửa bị bật tung ra bởi một trục tròn to thủy lực chuyên để phá cửa.
Cá đặc vụ tràn vào bên trong, càn quét từng phòng cho đến khi tất cả gặp lại nhau ở hướng cầu thang. Họ xông lên lầu trên, quét sạch thêm sáu phòng ngủ nữa, sau đó cùng dừng lại ở căn phòng cuối cùng.
“Ôi quỷ thần ơi,” một đặc vụ thảng thốt, hạ thấp vũ khí xuống.
Bogart và Decker bước vào phòng và chăm chú nhìn xuống hai chiếc ghế được đặt ở phòng khách nhỏ nằm trong khu vực phòng ngủ chính.
Mỗi thi thể ngồi lên một ghế, bị bọc kín trong một chiếc túi nhựa khổng lồ đã bị hút chân không đang bám chặt lấy từng bộ phận trên cơ thể. Những gương mặt hiện ra qua lớp nhựa là của một người đàn ông và của một người phụ nữ.
“Ông bà Wyatt, anh có nghĩ thế không?” Bogart hỏi.
“Mọi khả năng nào cũng đều có thể xảy ra,” Decker đáp lại.
☆☆☆
Tám tiếng sau, đội khám nghiệm hiện trường và khám nghiệm tử thi đã hoàn tất nhiệm vụ của mình. Hai thi thể đã được xác định danh tính lần lượt là Lane Wyatt và vợ của ông, bà Ashby. Thời gian tử vong vẫn còn rất khó để xác định được bởi vì họ đã bị ướp xác.
“Thật là ngoài sức tưởng tượng,” nhân viên khám nghiệm tử thi nói. “Nhưng việc ướp xác được thực hiện rất tốt. Bất cứ ai làm việc này đều là người rất có kinh nghiệm.”
“Toàn bộ máu bị rút ra và dung dịch được bơm vào nười bọn họ sao?” Bogart nói.
Người đàn ông kia gật đầu. “Sau đó họ được bọc trong túi nhựa lớn, trông có vẻ đã có người sử dụng nguồn nhiệt để ép sau đó hàn chặt lớp nhựa lại. Có thể là đã sử dụng máy sấy tóc. Chuyện đó cộng thêm việc ướp xác thực sự đã bảo quản thi thể rất tốt. Không có chút không khí nào lọt vào. Các thi thể ở trong tình trạng như mới nguyên.”
“Thế bọn họ đã ở trong tình trạng này trong thời gian dài hay ngắn?”
“Tôi sẽ cố gắng lập ra bảng thời gian tử vong cho anh, nhưng sẽ không dễ đâu.”
Bogart nói, “Những chiếc xe trong gara được đăng kí biển số trong khoảng từ hai đến bốn năm trở lại đây, giấy phép đăng kí vẫn còn hạn sử dụng. Đồ ăn trong tủ lạnh tuy đã hết hạn nhưng cũng không phải quá cũ. Ngôi nhà cũng trong điều kiện khá tốt. Tôi không nghĩ họ đã chết nhiều năm, trừ phi có người đã sống ở đây trong khi bọn họ nằm trong lớp bao bì nhựa” này.”
Anh ta nhìn nhân viên khám nghiệm tử thi. “Nguyên nhân tử vong là gì?”
“Không có dấu hiệu rõ ràng. Không có vết thương nào trên cơ thể. Có thể đã bị đầu độc, nhưng những dấu hiệu có thể đã biến mất lâu rồi. Có khả năng vẫn sẽ để lại ít dấu vết trong mô cơ thể. Và tôi cũng có thể lấy được ít máu trên cơ thể họ. Thường sẽ vẫn còn sót lại chút máu cho dù cơ thể đã bị ướp.”
“Cứ tìm bất cứ gì có thể,” Bogart thúc giục.
Nhân viên khám nghiệm gật đầu rồi rời đi.
Bogart hướng sự chú ý sang Decker và Jamison. Hai người đang ngồi ở bàn bếp, lật qua lật lại vài tờ giấy mà họ vừa mới lôi ra khỏi chiếc hộp đựng giày. Bogart ngồi xuống phía đối diện so với Decker.
“Chậc, ít nhất không có bất cứ lời nhắn bí ẩn nào được sơn ở trên tường để gửi đến anh cả…”
Decker lơ đãng gật đầu rồi nói, “Tôi không nghĩ bọn chúng mong gặp ta ở đây đâu. Hóa ra thế lại hay.”
“Tại sao?”
“Tức là chúng đã mắc sai lầm. Cũng có nghĩa là chúng ta đang rút ngắn khoảng cách. Như chuyện rùa và thỏ ấy? Nhớ không?”
“Nhưng sao lại để các thi thể như thế? Chắc chắn chúng phải nghĩ có người sẽ tìm thấy thi thể chứ.”
Decker ngước lên nhìn anh. “Theo thông tin mà người của anh tìm được, gia đình Wyatt đã nghỉ hưu. Họ không có gia đình nào khác ngoài con gái, lại không có bạn bè. Họ sống rất lặng lẽ.”
“Thế nên các đồng nghiệp có thể không nhớ đến họ,” Bogart nói tiếp. “Ít nhất là trong một thời gian.”
“Chúng ta sẽ kiểm tra xem liệu có sử dụng dịch vụ lắp đặt và thi công bể bơi không. Cái bể kia chắc chắn chỉ được chuẩn bị cho mùa đông vài tháng trước thôi. Nếu công ty ấy có mặt ở đây để làm việc che phủ bể bơi thì chắc họ đã gặp ông bà Wyatt rồi.”
“Ý hay.”
Decker nói tiếp, “Gia đình Wyatt là người có tiền. Nơi này rộng cũng phải hơn chín trăm hai mươi mét vuông. Ngoài ra còn có xe Range Rover, Audi A8 và Mercedes S500 nằm trong gara.”
“Tiền không mua được hạnh phúc à,” Jamison bình luận.
Bogart cúi xuống nhìn mấy tờ giấy. “Hai người có gì ở đây nào?”
Jamison trả lời, “Các bức thư cùa Belinda gửi cho ba mẹ khi cô ta vẫn còn ở Viện. Đội của anh đã tìm thấy chúng trong hộp đựng giày bị nhét dưới chồng đồ linh tinh ở trong tủ trên tầng.”
“Trong thư viết gì?”
Decker tiếp lời, “Nói tóm gọn, chúng là các bức thư của một phụ nữ trẻ hoảng sợ đang van nài cha mẹ đến gặp cô đi. Đến đưa cô về nhà.”
“Marshall nói họ chưa bao giờ đến thăm cô ta.”
“Thế nên các bức thư này cũng chưa bao giờ được hồi đáp.”
“Marshall nói họ cũng thuộc vào nhóm người u muội đó và thực sự chẳng quan tâm gì đến con mình. Tôi không hiểu sao họ vẫn giữ những bức thư này?”
“Bởi vì cái này,” Decker nói.
Anh và Jamison lật mặt còn lại của tất cả thư lên trên bàn, đặt cạnh nhau. Đằng sau từng trang đều có một chữ cái được viết hoa. Khi đọc lại cùng nhau và kết hợp các từ lại, chúng tạo thành một câu.
“CON SẼ GIẾT HẾT CHÚNG NÓ,” Bogart đọc to. “Nghĩa là cô ta sẽ giết hết bọn chúng. Ý là những kẻ tấn công cô ta chăng?”
“Hoặc những những người đã khiến cô ta bất mãn,” Decker nói, liếc lên nhìn Jamison. “Hoặc những người có giao thiệp với những người khiến cô ta bất mãn.”
“Thế nhưng anh vẫn không biết tại sao cô Wyatt này nghĩ anh đã khiến cô ta bất mãn?”
“Không. Nhưng vợ tôi và Đặc vụ đặc biệt Lafferty đều bị xâm phạm. Không bị hãm hiếp, mà bị cắt xẻo bộ phận sinh dục.”
“Nhưng Belinda đã bị hiếp. Còn bà Wyatt thì không bị cắt xẻo.”
“Hiển nhiên là bà ấy không bị thế. Việc này không bắt nguồn từ bà ấy. Bà ấy không có liên hệ với tôi.”
“Lại quay về chủ đề “là anh”. Lúc nào cũng là anh.”
Jamison nhìn Bogart. “Decker nói anh từng là nhà phân tích ở căn cứ Quantico nhỉ?”
“Đúng vậy.”
“Tôi có bạn bên ViCAP.”
“Cô này đi đâu cũng thấy bạn,” Decker cộc lốc nói.
Bogart nói, “ViCAP là tên gọi tắt của Chương trình Truy bắt Tội phạm nguy hiểm (Violent Criminal Apprehension Program). Tôi đã được phân công làm việc ở đó trong hai năm.”
Jamison nói tiếp, “Thế thì anh hẳn đã chứng kiến nhiều chuyện như thế này rồi.”
Bogart gật đầu. “Tôi cũng đã chứng kiến đủ thứ chuyện trên đời rồi.”
“Được, vậy anh giải thích cặn kẽ cho chúng tôi. Hành động cắt xẻo tượng trưng cho cái gì?”
Bogart nắm chặt hai tay đặt trước mặt. “Thực chất, việc cắt xẻo bộ phận sinh dục nữ giới có vô vàn lí do phía sau. Đằng sau hành động này là biết bao nhiêu dạng thức của chứng tâm thần. Freud có cả một lí thuyết phân tâm học về vấn đề này. Tôi đã thấy qua rất nhiều vụ án, tất cả đều là các vụ sát nhân hàng loạt, có dùng việc cắt xẻo này.”
“Cho chúng tộ một vài lí do làm ví dụ đi,” Decker nói.
Bogart tì người lên bàn, giọng nói của anh càng nhẹ nhàng bao nhiêu, nó lại càng chắc nịch bấy nhiêu. “Nó có thể là sự tượng trưng cho lòng căm ghét phụ nữ và điều mà nữ giới đại diện - như là việc làm mẹ, việc sinh nở. Bộ phận sinh dục nữ là cánh cổng dẫn chuyện duy trì nòi giống, nói thô ra là vậy. Tôi đã nhìn thấy nhiều kẻ sát nhân làm như vậy với phụ nữ bởi vì mẹ của họ đã bỏ rơi họ. Hoặc bỏ mặc họ cho kẻ khác lạm dụng. Người mẹ sẽ luôn luôn bảo vệ con mình, luôn vì con vì cái. Khi một người mẹ không làm đúng bổn phận, việc đó sẽ dẫn đến những trí óc bị rối loạn. Việc cắt xẻo là một cách để đóng những cánh cửa đó, chặt đứt con đường sinh nở mãi mãi - dẫu rằng việc giết người phụ nữ đã đảm bảo chuyện đó rồi. Nhưng trong tâm trí họ , họ làm thế là hành động tích cực.”
Decker nói, “Nghĩa là chúng cho rằng người phụ nữ ấy sẽ không thể sinh thêm con được nữa? Và sẽ không có đứa trẻ bị bỏ rơi hoặc bị lạm dụng nào thêm nữa?”
“Chính xác.”
Jamison nói xen vào, "Hừm, bố mẹ của Belinda đã bỏ rơi cô ta ở Viện nghiên cứu. Họ chưa bao giờ tới thăm cô ta ở đó. Họ lờ đi lời yêu cầu khẩn thiết đến đón cô ta. Thế liệu rằng cô ta có xem việc cưỡng bức và đánh đập mà cô ta phải trải qua là do mẹ cô ta không chịu bảo vệ cô ta không?”
“Có khả năng,” Bogart đáp. “Thực ra là chắc chắn là vậy. Nhâtz là nếu như sau chuyện đó mà bà mẹ không an ủi hỗ trợ cô ta nữa.”
Decker tiếp lời, “Thế nhưng sao lời nhắn lại chĩa thẳng vào tôi? Sao lại nhắm đến gia đình và những người tôi biết? Trương hợp của tôi thì hợp lí ở điểm nào trong toàn bộ vụ này chứ? Tôi còn không nhớ đã từng nói chuyện với cô ta.”
“Chúng ta đang nói về một người có tâm trí bệnh hoạn, Decker. Không có cách nào hiểu nổi hoặc lí giải nổi chuyện gì đang diễn ra trong đầu cô ta. Việc này thực tế không xuất phát từ anh. Nó bắt đầu từ việc cô ta bị cưỡng bức và gần bị giết chết. Sau đó lại bị cha mẹ mình bỏ rơi. Nó thậm chí còn bắt đầu từ trước đó, với tình trạng thể chất của cô ta, và phản ứng của mọi người với nó. Cuộc sống của cô ta sẽ không bao giờ bình thường.”
“Nhưng còn Leopold, chúng ta còn phải tính đến hắn ta nữa chứ!” Jamison nói.
“Nhưng còn Leopold,” Bogart nhắc lại. “Decker, anh vẫn tin rằng hắn là đồng bọn của Belinda trong tất cả chuyện này sao? Ý tôi là, anh vẫn chưa gặp hắn từ lúc hắn rời quán rượu. Tôi biết anh đã nói cho tôi nghe về nữ phục vụ - người chúng ta đang nghĩ là Belinda - và chuyện cô ta mượn xe của người phục vụ quầy rượu, nhưng anh không có bằng chứng thuyết phục nào nói rằng cô ta đã thực sự đón Leopold lên xe. Cô ta có thể chỉ dùng nó để làm việc vặt chứ.”
Decker lắc đầu phản đối. “Cô ta chủ ý rời khỏi quán rượu sau khi trả lại chiếc xe. Bên tuyển dụng không hề điều cô ta tới đây. Cô ta xuất hiện ở đây là để đưa Leopold đi. Hắn ta là người chọn quán rượu này. Thế nên tôi chắc chắn hắn có liên quan. Hắn đã nhận tội mà hắn không thể làm. Và hắn biết rằng hắn không thể nào làm được. Hắn diễn vai người mất cân bằng thần kinh vô cùng đạt, nhưng ngồi trong quán rượu đó, lại có những giờ khắc tỉnh táo, không hề ngẫu nhiên, mà có chủ ý. Hắn quá liều lĩnh. Hắn biét chính xác hắn đang làm gì.”
“Thế nhưng tại sao ban đầu hắn lại thú tội?”
“Đó chính là màn khơi mào. Sau khi giết gia đình tôi. Thú tội để thu hút sự chú ý của tôi. Chúng biết tôi sẽ phát hiện ra và điều tra lời thú tội đó. Chúng lừa tôi vào tròng. Chúng muốn tôi tham gia vào trò chơi của chúng.”
“Một trò đâu ra đấy,” Bogart kinh tởm nói. “Nhưng chúng đã đợi một thời gian rất lâu từ lúc giết gia đình anh cho đến lúc tấn công trường học.”
“Tất cả đều mất thời gian để lên kế hoạch. Chúng phải tìm mọi chi tiết của đường đi ngầm và nhiều thứ khác nữa.”
Jamison nói, “Nhưng ai là kẻ cầm đầu? Wyatt hay Leopold? Hơn nữa, chúng gặp nhau thế nào? Hắn ta đến từ đâu? Bọn chúng đã ấp ủ cả vụ này ra sao?”
“Hỏi rất hay,” Decker nói. “Nhưng thật không may là không có câu trả lời.”
Bogart nói, “Chúng tôi không tìm thấy kết quả nào trong dữ liệu tội phạm cả. Gã này không có bất cứ hồ sơ nào mà chúng tôi có thể tìm ra.”
Decker bất ngờ giật mạnh đầu. “Dữ liệu tội phạm?”
“Ừ, chúng tôi thường hay tìm tội phạm ở đó. Chúng ta đã quét vân tay của Leopold trong IAFIS (Hệ thống nhận dạng dấu vân tay tự động tích hợp), máy chủ dữ liệu tội phạm lớn nhất trên thế giới. Tôi biết bởi FBI vận hành cái này.”
“Nhưng Belinda Wyatt không phải là tội phạm. Cô ta là nạn nhân. Có thể Sebastian Leopold cũng thế. Có thể đó là cách mà bọn chúng cấu kết với nhau.”
Jamison nhìn chằm chằm Bogart. “Thế thì có thể anh đã tìm kiếm sai tập dữ liệu rồi.”
 
CHƯƠNG 54
 
Tất cả cùng bay trở lại Burlington, Decker được đưa quay về khu Residence Inn. Decker quay sang nhìn Bogart, đánh mắt ra hiệu về phía Jamison.
Đặc vụ FBI hiểu ý ngay. Anh nói, “Cô Jamison, chúng tôi hân hạnh yêu cầu cô về nơi an toàn của chúng tôi.”
Cô giãy nãy lên, “Cái gì? Không, tôi sẽ --”
“Vui lần chấp nhận lời yêu cầu này hoặc tôi sẽ tống cô vào tù nếu bắt buộc,” Bogart ngắt lời.
“Vì tội gì?” cô ấy bắt bẻ.
“Đưa thông tin sai lệch sự thật lên báo và xúi giục biểu tình chống đối Amos Decker.”
Jamison định nói gì đó nhưng lại ngồi phụng phịu xuống ghế và giọng cất lên cau có, “Tốt thôi, cứ làm theo ý anh đi.”
Khi Decker đang trèo ra khỏi chiếc xe SUV, Bogart đã tóm lấy cánh tay anh.
“Chúng tôi mà tìm thấy hồ sơ vân tay và DNA của Leopold trong tập dữ liệu những người không phải tội phạm, tôi sẽ liên lạc với anh ngay lập tức.”
“Tôi cũng muốn anh gửi ngay cho tôi bất cứ thông tin gì anh có thể tìm được vè quá khứ của Belinda Wyatt.”
Bogart gật đầu sau đó lái xe đi mất.
Decker lên thẳng trên phòng và ngồi lên giường. Anh nhìn khẩu súng gài ở thắt lưng và nghĩ lại lúc Đội trưởng Miller đến gõ cửa phòng anh. Nếu như ông ấy không xuất hiện, liệu anh có tự bắn chết mình không?
Với đầu óc sáng suốt trở lại sau khi lùi bước thoát khỏi tình cảnh căng thẳng, Decker biết Miller nói đúng. Nếu anh tự xóa sổ mình, cặp đôi kia sẽ tiếp tục giết người. Nếu Decker vô tình hay hữu ý khiến Belinda Wyatt phật lòng thì những người khác cũng có thể. Hay là bọn chúng có thể bắt đầu tiếp từ danh sách “những kẻ làm bất mãn” Leopold.
Anh nhắm chặt mắt lại và nghĩ lại hai khoảng thời gian, một lần gần đây, một lần từ xửa từ xưa. Anh nghĩ về chuyện ở quá khứ trước, dừng lại ở những khung hình kí ức ấy trong tâm trí.
Belinda Wyatt. Người cao, tóc vàng hoe, dánh mảnh khảnh, mang vẻ ngoài lưỡng tính, lúc nào cũng sợ hãi. Tính cách của cô ta mờ nhạt đến nỗi cảm giác như không tồn tại. Mặc dù trí óc của cô ta có thể cũng làm những điều diệu kì sau những chuyện đã xảy ra nhưng Decker nhớ rằng cô ta thiếu tự tin, một chút tự tôn cũng không có. Cô ta hiếm khi mở lời để chia sẻtrong những buổi trị liệu nhóm. Decker đã từng thông cảm cho cô ta, thông cảm đến mức với bộ não mới của mình anh cảm nhận được cảm giác này.
Chuyện xảy ra với anh thật khốc liệt. Thế nhưng anh đã bước lên sân bóng đó một cách hoàn toàn tự nguyện, biết rằng bóng bầu dục chuyên nghiệp là một môn thể thao cực kì bạo liệt, khắc nghiệt gấp vạn lần so với tưởng tượng của bất cứ người hâm mộ cuồng nhiệt nào.
Belinda Wyatt bị hiếp dâm tập thể, bị ép quan hệ bằng hậu môn, bị đánh đập và bỏ mặc đến suýt chết. Cô ta đã bị bạo hành khủng khiếp. Không có gì được gọi là tình nguyện trong trường hợp này. Cô ta không được lên tiếng. Cô ta đã phải đối phó với hoàn cảnh cuộc sống vốn đã khó khăn. Khi phát hiện ra thi thể cha mẹ của cô ta, càng thấy rõ ràng cô ta có liên quan đến toàn bộ các vụ giết người khác. Không có điều gì trong quá khứ, không cần biết kinh khủng đến mức nào, có thể biện hộ được cho hành động của cô. Thế nhưng cô ta đâu phải là người duy nhất có tội trong toàn bộ chuyện này.
Sau đó, tâm trí Decker dịch chuyển lại gần thời điểm gần đây.
Anh đang ngồi đối diện với Sebastian Leopold trong nhà tù. Anh nhớ rõ từng chi tiết, từ nét mặt dáng người cho đến cách hành xử của người đàn ông đó. Đôi mắt trống rỗng, vẻ bình tâm tuyệt đối, thái độ bất chấp sự an toàn của bản thân kể từ khi hắn ta thú nhận đã sát hại ba người. Tất nhiên, lúc này Decker biết Leopold nhận thức rõ ràng rằng mình sẽ không bao giờ bị buộc tội bởi vì hắn có người làm chứng vô cùng thuyết phục chính là cảnh sát, trong bao nhiêu người.
Thế đồng nghĩa với việc Belinda Wyatt đã sát hại gia đình anh. Và cô ta chính là kẻ xả súng ở trường trung học Mansfield. Lần này, Leopold cũng có người làm chứng. Lại là cảnh sát.
Tâm trí của Decker bỗng dừng lại ở điểm đó. Cảnh sát? Điều đó quan trọng thế sao? Có ý nghĩa gì chăng? Có bắt buộc để hiểu không? Anh không biết nữa, bởi vì anh không có đủ thông tin.
 
☆☆☆
Những khung hình kí ức tua đi tua lại trong đầu anh, lặp lại từng từ từng chữ trong cuộc nói chuyện giữa anh và Leopold. Sau đó những khung hình bỗng nhiên dừng chuyển động, hai mắt Decker mở to.
Mà ngon.
Mặc dù anh đã nhớ rõ hoàn hảo, đôi khi trong đầu anh, lại giống như trong đầu của người khác, biến các từ ngữ thành cái mà bộ não nghĩ rằng chúng nên thế, thay vì bản chất chúng là thế. Anh đã làm việc đó, chỉnh sửa câu từ của Leopold trong đầu khi không cần thiết. Decker đã cứ nghĩ đó chỉ là thói quen nói. Món này ngon thay vì Mà ngon. Anh đã điều chỉnh từ ngữ theo cách mà anh nghĩ rằng anh đã nghe nhầm. Nhưng không phải. Anh không thể nghe nhầm. Khi đó anh đang ngồi ngay sát hắn ta.
Anh nhấc điện thoại lên và gọi Bogart.
“Anh cần mở rộng cuộc tìm kiếm sang máy chủ dữ liệu quốc tế, tập trung ở Châu Âu. Cảnh sát quốc tế Interpol chắc có thể giúp được đó. Nước Đức nên là quốc gia đầu tiên trong danh sách tìm kiếm.”
“Tại sao?” Bogart hỏi. “Sao đã xoay sang quốc tế rồi?”
“Bởi vì tôi đã nhớ sai một thứ. Và giờ tôi vừa mới nhớ đúng rồi.”
Decker dập máy luôn. “Tôi thực ra không hay uống. Nhưng món này ngon thật đấy.” Một người Mỹ sẽ luôn nói như thế. Nhưng một người không phải người Mỹ sẽ nói, “Tôi thực ra không hay uống. Nhưng món này mà ngon.” Trên thực tế, Leopold có thể nói là, “Mà ngon.”
Giọng thấp hơi dùng yết hầu trong lời nói kết hợp với cấu trúc xương góc cạnh và sắc nét trên gương mặt Leopold khiến Decker tin rằng hắn ta là người châu Âu, có lẽ là người Đức hoặc nười Áo. Có đủ tính thuần nhất trong chủng người đó khiến cho mọi đường nét trên khuôn mặt đều mang một nét đặc trưng qua nhiều thế hệ, không bị biến đổi quá nhiều do lai tạp giống như người ở một nơi hỗn cư như nước Mỹ.
Vậy cũng có thể là Belinda Wyatt, chắc chắn là một thiếu nữ Mỹ sinh ra và lớn lên ở quê nhà, có lẽ đã chuyển giới thành nam, đã hợp lực với một nam giới người châu Âu. Làm sao hai kẻ khác nhau vô cùng lại gặp được nhau? Làm sao hai người đó đến được với nhau để lên kế hoạch như thế? Decker cảm thấy chắc chắn rằng nếu họ xác nhận được danh tính thực sự của Leopold, rất nhiều câu hỏi sẽ bắt đầu được giải đáp.
Khi anh suy nghĩ về một khả năng khác vừa xuất hiện trong đầu.
Anh bỗng cất tiếng nói, “7-Eleven.”
Đó chắc chắn là một manh mối. Trong bản ghi chép thẩm vấn, Lancaster theo bản năng đã tự diễn giải là nó đề cập đến một chuỗi cửa hàng tiện lợi mọc lên ở khắp nơi. Nhưng nếu như còn có ý nghĩa hơn thế thì sao? Leopold không muốn nói huỵch toẹt ra và bảo rằng thật ra hắn ta đang nhắc tới đường 711 Đại lộ Duckton. Tuy nhiên hắn phải biết Lancaster đã chuyển ý sai lời nói của hắn chứ. Thực tế chị ấy đã hỏi hắn cửa hàng 7-Eleven nào, khi Leopold đáp lại cái vẻ vô thưởng vô phạt, chị đã tự cho rằng là cửa hàng gần nhất với nhà của Decker. Nhưng Leopold lại cứ để mặc nó. Hắn ta sẽ biết rằng cảnh sát, quan trọng hơn là Decker, sẽ kiểm tra lại. Rằng anh sẽ đến cửa hàng đó ở DeSalle và kiểm tra có gì đáng xem. Và thế nghĩa là—
Anh có thể đã sai. Nhưng anh không nghĩ vậy. Thực tế, Decker nghĩ rằng mình đã đúng hoàn toàn.
Anh rời khỏi căn phòng và quay đầu đi ngay trong đêm tối.
 
CHƯƠNG 55
 
Anh dành mười phút để quan sát cửa hàng từ phía bên kia đường. Anh nhìn người đi vào và người đi ra. Hết xe này rồi đến xe khác lăn bánh tới rồi lại lăn bánh đi. Thế nhưng anh vẫn tiếp tục nhìn. Anh đang nhìn xem liệu có ai đang theo dõi mình không. Khi Decker đã thỏa mãn rằng chẳng có ai làm vậy đâu, anh vội vã băng qua đường và tiến đến gần cửa. Anh liếc mắt nhìn qua cửa kính và thấy vẫn người phụ nữ ấy đang đứng quầy, lại đang đếm số lượng từng bao thuốc lá và đánh dấu lên tờ giấy kiểm kê. Anh không nhìn thấy khách hàng nào khác nữa trong cửa hàng.
Anh mở cửa ra, tiếng chuông vang lên leng keng. Người phụ nữ ngẩn lên. Mất một lúc cô mới nhận ra Decker.
Bởi vì vẻ ngoài và thân hình to lớn, khó để mà quên và nhầm anh với ai.
“Anh lại đến à?” Cô ta nói.
“Tôi lại đến,” Decker đáp lời, ánh mắt phóng xung quanh các góc trong cửa hàng. Bàn tay anh trượt nhanh vào trong túi, nơi khẩu súng đang yên vị.
Cô nói tiếp, “Tôi còn nợ anh tiền thừa từ lần mua trước đó. Một ly cà phê, một gói bánh và một tờ báo không đắt đến 5 USD đâu.”
“Cứ giữ lấy tiền thừa đi. Cô làm nhiều giờ mà. Ca sáng, ca tối.”
“Đúng là tôi làm việc nhiều giờ, nhưng tôi cũng làm việc ca khác mà. Hôm nay tôi làm ca đêm.”
“Tình hình làm ăn thế nào?”
“Hiện tại thì chậm. Cửa hàng chúng tôi bán nhiều đồ vào buổi sáng hơn, khi mọi người bắt đầu đi làm. Cà phê, thuốc lá và bánh kẹp xúc xích này. Cả nước tăng lực Red Bull mua theo can nữa.”
“Thế còn cái người kia đâu, lúc tôi đến đây lần đầu ấy. Billy ấy nhỉ? Anh ta có đây không?”
Cô ta lắc đầu. “Không, anh ta không ở đây.”
“Anh ta không làm việc ở đây nữa phải không?” Decker hỏi.
Cô giật mình. “Làm sao mà anh biết được?”
“Lần cuối cùng anh ta ở đây là khi nào?”
“Là ngày đầu tiên anh đến đây. Tôi rất bực mình khi không thấy anh ta xuất hiện để làm việc sau đó. Tôi phải làm luôn cả việc của anh ta.”
“Cô có hồ sơ tuyển dụng của anh ta ở đây không?”
“Có. Ở đằng sau.”
“Tôi xem nó được không?”
“Không. Chính sách của công ty.”
“Cô có thể nói họ của anh ta là gì không?”
“Tại sao?”
“Bởi anh ta có thể là người tôi đang tìm.”
“Tôi đang không thấy có liên quan.”
Decker giơ điện thoại lên. “Tôi có thể điều FBI đến đây trong vòng năm phút. Và họ sẽ lấy toàn bộ hồ sơ ở nơi này.” Anh nhìn người phụ nữ đầy quả quyết. “Cô có phải công dân Mỹ không nhỉ?”
Mặt cô tái nhợt đi. “Không. Nhưng tôi có đủ giấy tờ.”
“Giấy tờ đều hợp pháp chứ nhỉ. Ít nhất tôi hi vọng chúng nên thế. Tất nhiên FBI sẽ kiểm tra. Họ kiểm tra mọi thứ. Kiểm đến hai lần.”
Người phụ nữ chậm rãi đặt một hộp thuốc lá vào vị trí phù hợp rồi sau đó đánh dấu tích lên bảng kiểm kê hàng hóa. Anh có thể dám chắc cô ta đang cố trì hoãn để nghĩ xem sẽ phải trả lời câu hỏi đó như thế nào.
“Tôi có thể… ý tôi là, thị thực nhập cảnh để làm việc của tôi có thể hơi bị quá hạn một chút.”
“Ôi thế thì không may rồi. Chính phủ đang gặp bế tắc trong việc thông qua chính sách cải cách nhập cư, nên vấn đề này hơi nhạy cảm. Tôi chắc cô có thể hiểu cho.”
“Thế nếu tôi để anh xem hồ sơ của Billy thì sao?”
Decker buông điện thoại xuống. “Thì chắc có thể thay đổi tình hình.”
Người phụ nữ quay người đi vào phía văn phòng phía sau, một phút sau đi ra với tập hồ sơ. “Anh có thể cầm cái này. Tôi đã sao chép một bản.”
Decker bước ra phía cửa, khóa nó lại, lật mặt tấm biển MỞ CỬA thành ĐÓNG CỬA.
“Anh đang làm gì thế?” người phụ nữ gào lên.
Decker lại rút điện thoại ra. “FBI sẽ có mặt ở đây trong vài phút nữa. Tôi e rằng cửa hàng này sẽ phải đóng lại khoảng một thời gian kha khá đó.”
“Nhưng tôi đã đưa cho anh hồ sơ rồi mà.”
“Cảm ơn cô vì điều đó. Nhưng chuyện này không liên quan gì đến chuyện kia.”
“Thế thì FBI sẽ làm gì ở đây?”
“Họ sẽ truy tìm dấu vết của Billy. Và đừng lo. Họ sẽ khôg quan tâm đến tình trạng nhập cư của cô đâu.”
“Tại sao Billy lại quan trọng thế? Anh ta chỉ lau quét sàn thôi mà.”
“Anh ta quan trọng hàng đầu bởi anh ta không phải là Billy. Tên của anh ta là Belinda.”
 
☆☆☆
Và tiếng sau, Bogart bước ra ngoài cửa hàng tiện lợi 7-Eleven và gọi Decker, người đang đứng trong bãi đậu xe, nhấp từng ngụm cà phê 7-Eleven trong khi tuyết đang chầm chậm vần vũ xung quanh anh.
Bogart nói, “Chúng tôi thu được một dấu vân tay sử dụng được, bảy vết trên bộ xô chậu trong nhà kho. Chúng tôi đã cho quét thử nhưng vẫn chưa có kết quả. Có thể là Wyatt hoặc của bất cứ ai đã xách cái xô đó. Có thể cô ta không còn nằm trong tập dữ liệu nữa. Hay tôi nghĩ cô ta giờ thành anh ta rồi. Thành gã Billy ấy.”
“Nhưng cô ta bị hiếp dâm tập thể ở Utah, theo lời Tiến sĩ Marshall. Chắc hẳn họ phải có hồ sơ cảnh sát về cô ta chứ.”
“Đấy là anh sẽ nghĩ thế. Nhưng chúng tôi đã kiểm tra cùng với phòng cảnh sát ở nơi cô ta lớn lên. Họ không có bất cứ hồ sơ nào lưu lại việc hiếp dâm Belinda Wyatt cả.”
Decker trông sửng sốt. “Nhưng không thể nào. Cô ta bị hiếp dâm, bị đánh đập và bỏ mặt đến chết. Nó thay đổi não bộ của cô ta. Đó là lí do tại sao cô ta bị gửi đến Viện nghiên cứu. Anh nghe Tiến sĩ Marshall nói rồi đấy. Ông ấy còn cho biết là ông ta đã nói chuyện với bác sĩ ở Utah. Cô ta đã từng bị cưỡng bức, đánh đập vầ bỏ mặc suýt chết.”
“Chậc, có thể thế thật. Nhưng cũng có thể cô ta không trình báo cho cảnh sát, Decker. Có khả năng lắm chứ.”
“Tại sao lại không trình báo?”
“Nghĩ đến tình hình của cô ta xe. Ở một thị trấn nhỏ, người này đều biết hết chuyện của người kia? Chắc có thể cô ta đã quyết định không khai báo.”
“Hoặc cha mẹ cô ta đã quyết định hộ cô ta,” Decker vặn vẹo lại.
“Nghe thế thực sự có lý hơn đấy,” đặc vụ FBI thừa nhận.
Decker uống nốt ly cà phê và ném chiếc ly giấy vào trong thùng rác. “So với nữ giới, Belinda thuộc diện cao, khoảng một mét tám, người gầy gò. Billy cũng tầm chiều cao đó, cũng gầy gò, nhưng anh ta rắn chắc. Có thể nặng sáu tám cân.”
“Và chắc chắn là đàn ông?”
“Tôi nghĩ vậy, nhưng trông anh ta cũng có vẻ ngoài lưỡng tính. Belinda trông cũng giống như vậy hồi còn ở Viện. Tôi đã mô tả lại cho nhân viên vẽ phát họa rồi đó. Bọn họ đang hoàn thiện nốt bức tranh.”
“Chúng tôi có thể công bố rộng rãi hình ảnh đó khi hoàn thành.”
“Tôi sẽ chỉ công bố cho lực lượng cảnh sát thôi. Đừng công bố với công chúng. Bọn chúng có thể lẩn trốn nếu chúng phát hiện ra chúng ta đã điều tra được nhiều thứ đến vậy.”
Bogart trông không thuyết phục lắm nhưng vẫn nói, “Được, chúng ta sẽ chơi theo cách đó. Hiện thời là vậy.” Anh nhét hai tay vào trong túi áo rồi chăm chú nhìn đường. “Chúng tôi đã có nghe thông tin từ phía công ty cung cấp dịch vụ bể bơi mà gia đình Wyatt đã sử dụng ở Colorado. Họ đến nhà và chuẩn bị bể bơi cho mùa đông vào khoảng hai tháng trước, nhưng không trông thấy ai cả. Toàn bộ chi phí đều được tự động trả trên hệ thống. Thực tế, toàn bộ hóa đơn của gia đình này đều được trả tự động. Họ không phải tương tác với ai. Ngõ cụt. Hết.”
“Thế còn Leopold?”
Bogart buông thêm tiếng thở dài thượt, “Phải rồi, Leopold. Tôi đang sắp tóm được hắn rồi. Chúng ta cuối cùng cũng tìm ra một thứ.”
“Tên thật của hắn?”
“Bất ngờ thay, Sebastian Leopold. Anh nói đúng. Hắn là người Áo.”
“Tiểu sử thế nào?”
“Vẫn đang tra tiếp. Nhưng tập trung lại là vợ và con gái hắn bị giết, còn kẻ sát nhân vẫn chưa bao giờ được đem ra xét xử.”
“Hắn ta đến đây khi nào?”
“Khó xác định được lắm. Vụ giết người xảy ra tám năm trước. Nên tôi đoán chắc là sau khoảng thời gian đó. Tôi không nghĩ hắn ta sinh sống hợp pháp ở đất nước này. Nhưng mà tôi không nghĩ nước ta khó tính với người châu Âu như với những người dân nước khác đâu.”
“Nếu hắn ta chỉ mới đến đây vài năm thì hắn ta đã xóa hết giọng Áo cũng tương đối nhanh đó. Hắn ta chỉ để lộ đúng một lần khi tôi đang nói chuyện với hắn. Tôi có thể xem bất cứ thứ gì anh tìm thấy về hắn không?”
“Tôi sẽ sắp xếp. Anh sẽ ở đâu?”
“Trong thư viện của Mansfield nhé.”
“Anh muốn đi nhờ xe ra đó không?”
“Tôi cần xuống một chỗ trước đã.”
“Chỗ nào?”
“Để đón cộng sự của tôi.”
“Cộng sự? Không phải anh đang nói đến Lancaster chứ? Sau những gì gần như xảy ra với gia đình cô ấy, tôi không nghĩ cô ấy theo vụ này đâu.”
“Mary sẽ theo vụ này.”
“Làm sao anh biết được?”
“Bởi vì tôi hiểu Lancaster. Chị ấy can trường hơn cả tôi và anh cộng lại.”
 
CHƯƠNG 56
 
Lancaster và Jamison đang ngồi đối diện với Decker trong thư viện. Họ đang đợi hồ sơ của Leopold. Decker đã kể cho Lancaster nghe tất cả những gì mà họ biết cho đến lúc này.
Anh nói, “Bogart nghĩ rằng có thể Belinda đã không trình báo cảnh sát. Anh ấy tin là cha mẹ cô gái này có lẽ đã ngăn trở cô ta làm việc đó.”
“Thật kinh tởm,” Lancaster đáp với giọng gay gắt.
“Vấn đề là, hậu chấn thương để lại cho cô ta một trí nhớ hoàn hảo. Cô ta chắc hẳn đã ghi nhớ những kẻ đã tấn công mình.”
“Ấy là nếu như cô ta biết bọn chúng,” Jamison nói.
Decker đáp, “Một thị trấn nhỏ ở Utah. Tất cả mọi người có lẽ đều quen biết nhau.”
“Hồi còn ở Viện có bao giờ cô ta trò chuyện không?” Lancaster hỏi.
“Gần như là không bao giờ. Trong các buổi điều trị theo nhóm, cô ta không bao giờ kể về những gì từng xảy ra với mình. Tôi không biết gì cho tới khi bác sĩ Marshall kể cho tôi. Và có thể cô ta bị tấn công bởi những kẻ biết cô ta là người liên giới tính.”
Lancastre lắc đầu. “Tôi chưa từng nghe thấy khái niệm đó cho tới khi anh nói với tôi. Không thể hình dung thế là như thế nào. Anh nói là Marshall kể với anh cô ta có một tinh hoàn và một buồng trứng à?”
“Đúng.”
“Chắc hẳn cô ta đã từng phải chịu đựng những điều kinh khủng ở trường học. Trong lớp học thể dục, có lẽ một cô gái khác nhìn thấy các bộ phận nhạy cảm của cô ta chăng? Rồi đồn đại ra ngoài. Chắc hẳn là khủng khiếp lắm.”
Decker đang cúi nhìn chăm chăm vào đống tài liệu trước mặt. Anh vừa mới nhìn thấy một chi tiết không tương thích với những chi tiết khác.
Lancaster đã quá quen với vẻ mặt này. “Sao?”
Anh liếc nhìn sang chị. “Bác sĩ Marshall nói địa chỉ của cha mẹ Belinda mà anh ấy lưu trong hồ sơ là từ mười lăm năm trước. Nhưng cô ta ở Viện là hai mươi năm trước.”
“Ừm có lẽ họ giữ liên lạc vì lí do nào đó. Tôi không ghĩ Belinda đã ở đó trong năm năm kia. Đó hẳn phải là một địa chỉ mới đây hơn.”
“Nhưng Marshall cũng nói là vợ chồng Wyatt chưa từng tới thăm cô ta ở Viện. Thế thì tại sao ngay từ đầu anh ta lại có địa chỉ về sau này? Như thế có hợp lý không?”
Anh rút điện thoại và bấm số. Bác sĩ Marshall đang bận họp nhưng gọi lại sau đó năm phút.
“Đúng, Amos, cậu nói đúng,” anh nói. “Vợ chồng Wyatt đã chuyển nhà, nhưng chúng tôi giữ liên lạc, trong khoảng bảy năm sau đó. Và họ gửi cho tôi địa chỉ mới để thi thoảng tôi có thể gửi thư cho họ.”
“Anh hông nhắc đến việc này khi chúng tôi hỏi.”
“Tôi biết. Tôi xin lỗi. Nhưng tôi rất coi trọng vấn đề bảo mật của bệnh nhân. Tôi đã cố gắng giúp sức nhiều nhất có thể song song với việc tôn trọng nghĩa vụ nghề nghiệp của mình.”
“Anh nói rằng họ chưa từng ghé thăm cô ta khi ở Viện. Tôi đã nghĩ điều đó nghĩa là họ không hề lo lắng gì cho cô ta. Thực tế, anh đã nói rằng anh tin là họ rất vô tâm với tình trạng của Belinda.”
“Đúng là như thế.”
“Tại sao anh lại đưa ra ý kiến như vậy? Và bằng cách nào cô ta được đưa tới Viện nếu như cha mẹ không quan tâm tới những gì đã xảy ra với cô ta.”
“Tôi không nghĩ là họ chủ động bắt đầu trong chuyện đó.”
“Vậy thì ai?”
“Tôi không chắc nữa. Có thể là một trong số các bác sĩ ở đó đã giới thiệu sau khi họ dần nhận thấy có thể tình trạng nhận thức của cô ta cần được chúng tôi thăm khám sâu hơn tại Viện nghiên cứu. Kể cả là từ hai mươi năm trước, danh tiếng của chúng tôi đã phủ khắp cả nước rồi,” anh ta nói thêm với vẻ tự hào. “Và chúng tôi có đủ ngân sách để chi trả cho mọi chi phí của cô ta.”
“Được rồi, nhưng nếu vợ chồng Wyatt không tham gia vào việc gửi cô ta tới cho anh, thế hì tại sao họ lại trao đổi thư từ với anh?”
Decker nghĩ rằng anh đã biết câu trả lời, nhưng anh muốn nghe trực tiếp từ Marshall.
“Ồ, bởi vì họ sợ, Amos ạ. Họ sợ Belinda. Chí ít thì đó là những gì mà họ nói với tôi. Khi cô ấy quay trở về nhà ở Utah, với họ cô ấy đã trở thành một con người khác. Và tôi không có ý nói rằng thay đổi theo chiều hướng tốt hơn. Việc điều trị của cô ấy ở Viện dường như không giúp được gì cả. Và chẳng bao lâu sao cô ấy bỏ nhà ra đi. Nhưng có vẻ như họ đã nhận được lời nhắn từ cô ấy. Những lời nhắn tương đối đáng sợ. Và vì thế họ sợ hãi.”
“Rằng cô ta, làm sao, sẽ làm hại họ sao?
“Tôi không muốn tự suy diễn chuyện này.”
“Tôi muốn nghe phỏng đoán có căn cứ từ ông.”
Anh nghe thấy tiếng Marshall thở dài. “Được rồi. Tôi nghĩ họ sợ rằng cô ấy sẽ sát hại họ.”
Ồ, họ đã nghĩ đúng rồi đấy, Decker thầm nghĩ trong đầu.
“Cho tôi xin địa chỉ cũ của họ được không? Địa chỉ ở Utah ấy? Anh có chứ?”
Marshall cho anh địa chỉ lưu trong hồ sơ. Decker cảm ơn và ngắt máy.
Anh mở máy tính và tìm kiếm địa chỉ cũ bằng vệ tinh.
Anh xoay chiếc máy tinh xách tay sang để Lancasted và Jamison có thể nhìn thấy.
“Ừm, một căn nhà bình thường trong một khu dân cư bình thường,” Lancaster nói. “Trông giống nhà của tôi.”
“Và giống của tôi nữa,” Decker nói. “Nhưng vấn đề là, nhà mới của vợ chồng Wyatt lớn gấp năm lần thế này, có bể bơi và gara riêng rẽ, đủ sức chứa bốn chiếc xe, cùng xe cô xa hoa.”
Hai mày của Lancaster nhíu lại, “Vợ chồng Wyatt kiếm sống bằng nghề gì vậy?”
“Thông tin mà Bogart lùng được nói rằng ông ta là trợ lý giám đốc ở Sở quản lý cơ giới. Bà Wyatt thì làm phục vụ ở quán ăn.”
Jamison nói, “Chắc chắn họ không kiếm được nhiều tiền. Vậy thì làm sao họ đủ tiền trả cho căn nhà đó?”
“Ừm, truy theo dấu của tiền sẽ trả lời được thắc mắc đó.” Decker lại bấm điện thoại. Anh hỏi Bogart câu hỏi này.
Khi ngắt máy, anh nhìn Lancaster. “Anh ấy sẽ kiểm tra và báo lại cho chúng ta.”
“Anh nghĩ đang có chuyện gì thế hả Amos?” Lancastre hỏi.
“Tôi nghĩ chúng ta đang gần tìm ra được động cơ đằng sau tất cả những chuyện này, Mary ạ. Và một khi tìm ra được, tất cả sẽ bắt đầu hợp lý.”
“Hay lắm. Bởi vì tính đến thời điểm này, chưa có gì gọi là hợp lý cả. Không một thứ gì.”
“Không, với Wyatt và Leopold, mọi chuyện vẫn luôn hợp lý. Chỉ là chúng ta chưa thấy nó hợp lý bởi vì chúng ta chưa biết hết sự tình.”
“Việc sát hại bao mạng người như thế có gì mà hợp lý cơ chứ?” chị kịch liệt phản bác.
“Chúng ta không cần phải thấy hợp lý. Chỉ những kẻ gây ra chuyện này mới cần cảm thấy vậy thôi.”
“Tôi ghét cái trần đời này,” Lancaster trông rầu rĩ nói.
“Tôi thì không ghét bỏ trần đời này,” Decker nói. “Tôi chỉ ghét một số kẻ thật không may là đang sống trên đời này.”
 
CHƯƠNG 57
 
Sau đó họ mua bữa tối từ một cửa hàng đồ ăn nhanh và mang về thư viện. Sau khi ăn xong, Decker bỏ Lancaster và Jamison lại và đi vào căn tin. Từ đó anh đi qua cánh cửa dẫn xuống đường hầm và dùng một cây đèn pin soi sáng đường để đi xuống hành lang.
Họ đã nhiều lần đi qua đi lại đường hầm này và đường hầm liền kề ở căn cứ quân sự nhưng chưa tìm ra được manh mối mới nào. Quân đội đã liên hệ lại với một số thông tin liên quan đến căn cứ và đường hầm nối với trường học, nhưng cũng không gợi mở được thêm gì cho vụ án.
Decker đi ra ở đầu bên kia của đường hầm và bước vào giữa căn cứ của quân đội. Anh ngồi lên một thùng dầu cũ và để tâm trí lan lan suy nghĩ về những sự việc đã qua.
Belinda Wyatt bị cưỡng hiếp tập thể, đánh đập và bỏ mặc suýt chết. Động cơ có thể là những kẻ tấn công phát hiện ra tình trạng liên giới tính của cô ta. Tổn thương đó đã làm thay đổi bộ não của cô ta, biến cô ta trở nên giống như Decker.
Mình tự hỏi liệu cô ta có không quên được quá trình bị hãm hiếp và đánh đạp không? Hoặc nếu cô ta đã quên nó giống như mình quên cú va chạm lên người mình thì sao? Mình tự hỏi liệu có phải cô ta không bao giờ có thể quên được tất cả những gì mà cô ta muốn quên không?
Anh không muốn phải cảm thấy có bất kì một mối liên hệ nào tới một kẻ đã tước đoạt tính mạng của quá nhiều người vô tội, nhưng một phần trong anh không thể ngừng được. Họ gắn kết với nhau bởi tình trạng bệnh của họ. Họ kết nối với nhau bởi quá khứ, bởi con đường mà họ vượt qua một chấn thương trong cuộc đời của họ.
Decker và Belinda đã từng ở trong cùng một Viện nghiên cứu với nhau. Hồi ở đó anh đã từng làm gì đó khiến cho cô ta nhắm vào anh. Vào một thời điểm nào đó Belinda đã trở thành Billy. Billy đã gặp Sebastian Leopold, một gã người Áo có gia đình bị sát hại mà không một kẻ nào bị trừng phạt cho tội ác đó. Con đường của hai kẻ đó đã giao nhau ở đâu? Có rất nhiều việc có thể đã xảy ra trong hai mươi năm. Đó là trước hay sau khi cô ta chuyển giới thành Billy? Việc gặp gỡ của hai kẻ này đã thôi thúc tất cả những sự chết chóc này sao?
Và mình đã làm cái quái gì với Wyatt để phải gánh chịu tất cả những nỗi đau này?
“Tôi đã nghĩ có thể sẽ tìm được anh ở đây.”
Decker ngước mắt lên và nhìn thấy Bogart đang đứng trên bậc cao nhất của dãy cầu thang dẫn từ trong đường hầm ra. Trên tay anh ta đang cầm một tập hồ sơ.
“Thông tin về tình hình tài chính của gia đình Wyatt. Và của gia đình Sebastian Leopold.”
Họ cùng nhau quay trở lại thư viện. Bogart, Decker, Jamison và Lancaster bắt tay xem tập hồ sơ.
Hai mươi phút sau Lancaster giơ lên một tờ giấy. “Vợ chồng Wyatt bán căn nhà ở Utah được bốn mươi ngàn USD vào khoảng mười chín năm trước. Căn nhà họ mới xây, có giá trị gần hai triệu. Và diện tích của nó là hơn tám mươi nghìn mét vuông.”
“Nguồn tiền đó từ đâu ra?” Decker hỏi.
“Chúng tôi không tìm được,” Bogart nói.
“Nếu là tiền bịt miệng thì sao?” Decker nói.
Lancaster trợn mắt nhìn anh. “Tiền bịt miệng? Ý anh là như tiền chuộc trong tống tiền á?”
“Nếu là tiền bịt miệng thì có thể giải thích tại sao lại không có báo cáo của cảnh sát liên quan đến vụ cưỡng hiếp Belinda. Từ đó có thể giải thích tiền mà họ dùng để mua căn nhà từ đâu mà có. Mua cả căn nhà ở xa xôi tít tận Colorado.”
Bogart nói thêm, “Và nó có thể giải thích cho sự oán giận của Belinda. Rằng có thể cha mẹ cô ta đã bị mua chuộc để không khởi kiện.”
“Bị lạm dụng và bị ruồng bỏ?” Decker nói, mắt nhìn anh.
Bogart gật đầu. “Do đó mới có vụ cắt xẻo. Và sát hại cha mẹ cô ta.”
Decker nhìn tập hồ sơ lần nữa. “Khi cha mẹ cô ta chết, tôi tự hỏi tiền trong tài khoản của họ, bất luận có bao nhiêu, sẽ đi về đâu?”
“Nhưng nếu mọi người không biết là họ đã chết thì sao?” Jamison nói.
“Ngày này tiền có thể dễ dàng tiếp cận từ máy tính. Cô chỉ cần có thông tin đăng nhập và mật khẩu,” Decker nói. “Mà những thứ này tôi dám chắc Belinda hoặc Billy, có thể lấy được.”
“Hắn sẽ cần gì đó để sống, và để chi trả cho việc đi lại,” Bogart phát biểu.
“Có thể hắn cần nó để làm gì khác nữa,” Decker nói.
“Sao cơ?” Bogart và Lancaster cùng hỏi.
Decker đứng dậy. “Chúng ta cần đi tới nơi gia đình Wyatt sống khi cô ta bị cưỡng hiếp. Và chúng ta cần tìm ra kẻ nào đã cưỡng hiếp cô ta, và tại sao bọn chúng lại thoát tội. Và chúng ta cần phải xác minh là kẻ nào đã chi trả toàn bộ số tiền đó cho vợ chồng Wyatt.”
“Đó là một vụ án từ hai mươi năm trước, Decker ạ,” Bogart phản đối.
“Còn một lí do khác để đi. Một lí do thậm chí còn quan trọng hơn.”
“Là gì?” Bogart hỏi.
“Xứng đáng một chuyến đi bằng máy bay riêng của anh, đảm bảo.”
 
 
CHƯƠNG 58
 
Họ hạ cánh ở gần một thành phố nhỏ ở phía bắc Utah.
”Mercy, Utah,” Lancaster nói, khi họ rời khỏi máy bay dưới trời tuyết dày và nhìn thấy tín hiệu thông báo trong kho đỗ máy bay.
“Được rồi, châm biếm đấy1,” Jamison nhận xét.
 
1 Mery, Utah là địa danh, song có thể hiểu là Cảm ơn, Utah. Mercy đồng âm với Merci (Cảm ơn) trong tiếng Pháp.
Bogart rùng mình và kéo sát chiếc áo parka quấn quanh người. “Rồi, lí do là gì mà đáng để tiêu tốn tận một bình nhiên liệu máy bay đây?” anh hỏi Decker.
Decker nhìn theo ba chiếc SUV đang đậu trên con đường rải nhựa, chúng đang nổ máy với máy sưởi, anh hi vọng, đã được mở hét cỡ.
“Tôi sẽ cho anh thấy.”
Họ lái xe tới địa chỉ căn nhà cũ của Belinda Wyatt. Nó nằm trong một cộng đồng nhỏ gồm các căn nhà xây từ thời hậu Chiến tranh Thế giới thứ hai, mỗi ngôi nhà lại gần như là một bản sao y của căn nhà hàng xóm. Các con phố ngập tuyết. Căn nhà đó tối đen. Không thấy có ô tô đậu trên đường dẫn.
Decker ngồi ở ghế sau của chiếc SUV thứ hai cùng với Lancaster và Jamison ngồi bên cạnh. Bogart ngồi phía trước.
Decker nhìn ra ngoài cửa sổ và nói, “Vậy là nó mới được bán gần đây à?”
Bogart gật đầu. “Hai mươi tháng trước. Người mua là một công ty.”
“Khoảng bốn tháng trước khi gia đình tôi bị sát hại. Chúng sẽ cần một nơi để ở và lên kế hoạch cho tất cả.”
“Anh thực sự nghĩ Wyatt đã mua lại ngôi nhà cũ của cô ta sao?” Lancaster nói. “Cùng tất cả những kí ức kinh khủng đó?”
“Đây là tổ ấm của cô ta. Không phải căn nhà đồ sộ nơi cô ta sát hại cha mẹ mình và bọc họ trong ni-lông. Dù đã có những chuyện không hay xảy ra, có lẽ cô ta vẫn coi nơi này là một nơi an ủi, một nơi an toàn. Và có thể cô ta đã dùng một ít trong khoản tiền lấp miệng đó để mua nó. Tôi dám chắc cô ta hẳn đã nghĩ dùng những đồng tiền xương máu của họ để mua lại thứ mà họ liều mạng muốn bán đi là rất xứng đáng.”
Jamison nhìn anh. “Và anh nghĩ chúng ta sẽ tìm được gì bên trong?”
“Những câu trả lời,” Decker nói, “Tôi hi vọng vậy.”
Họ đi vào trong từ cửa trước và cửa sau trong lúc các đặc vụ khác canh giữ xung quanh, để đảm bảo không một kẻ nào ở trong có thể trốn thoát. Họ kiểm tra từng căn phòng để đảm bảo không có người bên trong và rồi sau đó tập trung lại ở tầng hầm.
“Chết tiệt!” Bogart cảm thán, mắt liếc xung quanh. “Tôi cứ ngỡ là sẽ trông thấy các bức tường phủ đầy các mẩu giấy ghi thông tin cùng với dây nhợ móc nối với nhau từ mẩu này sang mẩu kia, rối rắm giống như một hệ thống kiểm soát giao thông hàng không phiên bản thủ công vậy.”
Nhưng ở dưới này chẳng có thứ nào giống thế cả. Trên thực tế, chẳng có gì khác ngoài những thứ mà mọi người đều biết sẽ nhìn thấy ở dưới tầng hầm: rác.
“Tôi cũng ngỡ sẽ thấy điều tương tự,” Decker nói. Anh nhìn xung quanh tất cả các phía, quan sát mọi thứ, và bắt đầu gật gù như thể đã có một câu trả lời nảy ra trong đầu anh.
“Thật nực cười, tôi đã bỏ qua một điểm rất rõ ràng nhưng vô cùng quan trọng. Wyatt có trí nhớ siêu phàm. Cô ta đâu có cần những mẩu giấy ghi thông tin đó. Tất cả đều nằm trong đầu cô ta, từng chi tiết. Và chúng ta chưa biết Leopold là kẻ như thế nào, ngoài việc hắn ta kì quặc và là một diễn viên cừ khôi. Hắn đóng vai một thằng ngốc vô tri giỏi hơn bất kì ai mà tôi từng gặp. Nhưng còn một điều gì đó nữa ở hắn mà tôi vẫn chưa xác định được.”
Bogart nói, “Anh nói với chúng tôi hắn là người khôg thể lí giải được.”
“Đúng là hắn rất khó lí giải. Tất cả mọi người đều có một mô tuýp nhất đinh, bất luận là người vị tha hay tư lợi. Thế nên hắn cũng thế. Tôi chỉ chưa biết đó là gì”
Bogart nói, “Chúng ta nên báo cảnh sát địa phương không?”
Decker lắc đầu. “Không.”
“Tại sao không? Họ sẽ không vui đâu khi chúng ta thậm chí còn không thông báo cho họ biết mình đang làm gì.”
“Bởi vì có thể chính những người ‘địa phương’đó là lí do đằng sau cho tất cả những sự việc này. Thế nên chúng ta sẽ xử lý những thứ ít ỏi còn lại ở đây.”
Anh bắt đầu ngó nghiêng quanh cái giá bằng nhựa, phía trên có để một vài thùng chứa đồ bỏ đi. Jamison bắt đầu xem xét các đồ đạc từ một góc khác. Lancaster và Bogart nhìn nhau và rồi cũng làm việc tương tự.
☆☆☆
Hai giờ sau, Bogart nói, “Được rồi, ở đây không có gì cả. Không có gì hết.”
“Không, có đấy,” Jamison nói. Cô giơ lên một tờ báo đã được cắt ra.
“Cô tìm được cái đó ở đâu vậy?” Lancaster hỏi.
“Nó được nhét trong một cái hộp và cất bên dưới cái bàn đó, có phủ vài tấm giẻ bên trên.”
“Rồi sao?” Bogart nói. ”Nó là rác thôi mà, cũng giống như các thứ khác ở đây.”
“Không. Khi người ta lưu giữ báo, người ta luôn luôn xếp chúng thành chồng. Đây là một tờ báo duy nhất trong cả căn phòng này. Với một trí óc như của Wyatt, tôi dám cá nó là một biểu hiện của rối loạn. Điều đó khiến tôi tự hỏi tại sao nó lại ở đây. Chắc hẳn phải có lí do nào đó.”
Decker quan sát cô với vẻ hiếu kì. “Đó là một suy luận rất hay, Jamison ạ.”
“Này, có thể tôi không phải là một người có cái trí nhớ hyper gì gì đó, nhưng tôi cũng có lúc xuất thần. Và tôi ngửi được mùi giấy in báo từ cách xa cả dặm.”
“Tờ báo viết gì vậy?” Lancaster hỏi.
Cô giờ trang đầu tiên của tờ báo và chỉ tay vào dòng tiêu đề in to.
Lancaster đọc, “Giles Evers Mất Tích.”
“Giles Evers là người quái nào vậy?” Bogart nói.
Jamison nói, “Anh ta là một sĩ quan cảnh sát. Bài viết cũng nói rằng anh ta là con trai của Clyde Evers, công dân ưu tú nhất của Mercy. Nguyên thị trưởng, kiếm được rất nhiều tiền từ nghề khai thác mỏ, hiến tặng rất nhiều trong số đó cho quê hương. Một con cá lớn trong cái ao nhỏ.”
“Vì sao Wyatt lại giữ bài báo đó?” Bogart hỏi.
Deckker trả lời. “Bởi vì Giles Evers cưỡng hiếp cô ta. Và cô ta làm cho anh ta mất tích.”
“Ô này, chết tiệt, kết luận vội vàng quá rồi đấy, Amos,” Lancaster nói.
“Không, không hề. Đó sẽ là lí do duy nhất mà bài báo xuất hiện ở đây.”
“Bài viết đó từ đâu ra vậy?” Lancaster hỏi.
Jamison nói, “Mười chín tháng trước. Ngay gần thời điểm căn nhà được bán cho công ty mà chúng ta nghĩ Wyatt là kẻ đứng đằng sau.”
Bogart và Lancaster nhìn chằm chằm vào Decker. “Được rồi, vậy anh đang muốn nói là cô ta bị cảnh sát tấn công sao?” Bogart nói bằng giọng hồ nghi.
“Bị nhiều cảnh sát tấn công,” Decker nói. “Đó là một vụ cưỡng hiếp tập thể. Và bọn chúng làm vậy là do tình trạng liên giới tính của cô ta, và ông già nhà Evers đã mua chuộc gia đình Wyatt để giữ kín chuyện này. Ông ta rũ tội cho con mình và cứu phòng cảnh sát khỏi hàng đống nhục nhã và có những người khỏi phải chịu liên đới. Tôi không nghĩ Phòng Cảnh sát Mercy lại lớn lắm. Như thế có nghĩa là rất có thể tất cả đám cảnh sát tuần tra đều tham gia vào vụ cưỡng hiếp. Bọn họ sẽ bị chửi rủa kinh khủng lắm khi những kẻ mặc cảnh phục lại làm việc đó. Và còn thị trấn này nữa. Một thị trấn có thể sẽ không có sự cảm thông dành cho người như Belinda Wyatt.”
“Nhưng chúng ta không thể dám chắc được,” Lancaster nói. “Anh chỉ đang suy luận thôi.”
“Chúng ta có thể xác minh,” Decker nói. “Đi hỏi thăm một vài người ở quanh đây hồi đó thôi.”
CHƯƠNG 59
 
Vị cảnh sát trưởng từ hai thập kỉ trước đã qua đời sáu năm trước do đột quỵ. Có hai cảnh sát từ thời đó vẫn đang làm việc ở phòng cảnh sát. Không ai trong số họ biết bất cứ điều gì về vụ án của Wyatt, họ đã nói như vậy với Bogart khi anh cùng những người khác có mặt ở đồn cảnh sát duy nhất trong thành phố. Rất nhanh chóng, nhóm người bị mời ra khỏi cửa.
Khi họ lái xe rời đi, Lancaster nói, “Bọn họ đang nói dối. Tôi có thể nhìn thấy từ vẻ mặt của họ.”
“Thị trấn nhỏ, đủ nhỏ để tất cả mọi người biết về chuyện của tất cả những người khác,” Decker nói. “Tôi ghĩ chúng ta nên đi thẳng tới người đứng đầu danh sách thôi.”
“Ý cùa anh là cha của Giles Evers á?” Jamison nói. “Clyde Evers sao?”
“Nếu ông ta còn sống.”
Bogart đang nhìn vào chiếc điện thoại thông minh của mình, từ nãy giờ anh đang tìm kiếm trên đó. “Rõ là còn. Và có vẻ là ông ta vẫn còn sống ở đây.”
 
☆☆☆
Địa chỉ mà họ tới hóa ra là một căn nhà nhỏ ở rìa thành phố. Khi dừng xe, họ nhìn thấy ánh đèn đang mở hắt ra từ cửa sổ phía trước. Mái hiên dài chạy dọc phía trước của căn nhà ốp ván gỗ. Khói cuộn lên từ ống khói. Tuyết đã bắt đầu rơi tiếp.
Căn nhà đã xập xệ. Bãi cỏ mọc lởm chởm, cây cối và những đám cây bụi úa bệnh và xác xơ, và chiếc xe ô tô duy nhất đậu trên đường dẫn vào nhà là một chiếc xe tải Ford từ thưở xa xưa.
Lancaster lẩm bẩm, “Ông lão chuyên làm từ thiện cho thị trấn đó hả? Chắc hẳn đã rơi vào hoàn cảnh khó khăn.”
“Có thể là có lí do cả,” Decker nói.
Đáp lại tiếng gõ cửa của họ, cửa chính mở ra, đứng đó là một ông già, béo phục phịch và lưng còng. Bộ râu bạc của ông ta chạm đến ngực, và trên người mặc chiếc quần đã sờn, được giữ bằng bộ đai treo quần dạng thừng thắt nút.
Bogart giới thiệu bản thân, giơ phù hiệu, và nói rằng họ cần nói chuyện với ông ta về cậu con trai. Evers gật đầu mà không nói gì, và dẫn họ vào trong căn phòng nhỏ có một cái lò sưởi mặt ốp đá cuội đã âm muội đen đang cháy bập bùng.
Bên trong căn nhà tối và có mùi của nấm mốc lẫn băng phiến lẫn mùi của món ăn mà ông già đã quay nóng lại bằng lò vi sóng cho bữa tôiz hôm đó.
Ánh mắt của Decker liếc nhìn khắp nơi trước khi quay lại, chăm chú nhìn ông già, lúc này đã ngả lưng ngồi trở lại trên chiếc ghế bành, đôi chân không mang giày co lên khỏi sàn. Ông ta gãi gãi má và nhìn lần lượt từng người họ trước khi hướng ánh mắt trở lại Decker.
“Trông cậu không giống FBI.”
“Đó là bởi vì tôi không phải.”
“À, thế hả,” Evers nói trong lơ đễnh, khi ánh mắt ông ta hướng sang lò sưởi. “Vậy là các anh ở đây để tìm con trai ta?” Ông ta nói với ngọn lửa. “Không nghĩ họ lại mời đến cả cảnh sát liên bang. Nhưng thế cũng được. Tất cả những gì mà ta còn là thằng con đó. Không nhiều, nhưng chỉ thế thôi.”
“Ông đã hi sinh rất nhiều cho anh ta, phải thế không?” Decker nói. Anh nhìn xung quanh thêm lần nữa. “Gần như tất cả mọi thứ, phải không?”
Evers quay sang nhìn anh trước khi hướng ánh mắt trở lại lò sưởi. “Cậu thì biết cái quái gì?”
“Vậy là anh không biết anh ta đang ở đâu?” Decker nói.
Evers hướng ánh mắt dữ dằn sang anh. “Cậu đang nói gì thế hả? Rằng ta đã tự bắt cóc đứa con trai chết tiệt của ta sao? Cậu ngớ ngẩn hay gì à?”
“Tôi đang nói là Belinda Wyatt đã bắt anh ta. Nhưng ông đã biết điều đó rồi.”
Trong giây lát, Evers trông như sắp ngã nhào xuống sàn nhà. Nhưng rồi ông ta lấy lại được sự điềm tĩnh và thậm chí vung văng bàn tah múp míp của mình. “Belinda Wyatt! Quá khứ là chuyện đã qua rồi. Cô ta thì có liên quan gì?”
Decker nói, “Chắc chắn cô ta có liên quan đến tất cả. Cô ta bắt giữ Giles. Và nếu chúng ta thực sự tìm được anh ta, đó chỉ có thể là thi thể mà thôi, không có gì phải nghi ngờ thêm. Đó là điều mà ông cũng biết, ông Evers ạ. Con trai ông đã chết.”
Bogart, Jamison và Lancaster, cả ba người nhìn Decker chằm chằm tỏ ý nhắc nhở trước phát ngôn mang tính khiêu khích này. Nhưng Decker không hề rời ánh mắt khỏi Evers.
Đôi môi ông già run rẩy và hơi thở ông ta gấp gáp hơn. Ông ta với tay sang cái bàn nhỏ bên cạnh, cầm lên một điếu thuốc và bật lửa, và châm thuốc. Ông ta đặt nó lên miệng và rít. Nicotine có vẻ giúp ông ta bình tĩnh trở lại.
“Các cậu tìm được xác thằng bé rồi à?” ông ta hỏi, thở khói thuốc qua mũi. “Đó có phải là lí do thật sự mà các cậu tìm đến đây?”
“Tôi không nghĩ chúng ta sẽ tìm được. Trừ phi cô ta muốn chúng ta tìm thấy.”
Evers nổi giận, “Vậy thì tại sao các cậu không tóm cổ con khốn dị hợm đó đi.”
Decker nói, “Đó là lí do mà chúng tôi có mặt ở đây. Mong ông giúp đỡ để chúng tôi có thể làm được điều đó.”
Evers ngồi dậy thẳng hơn. “Tại sao cần tôi giúp? Tôi không biết gì cả. Đã hơn hai mươi năm rồi.”
Decker nói tiếp. “Và chúng tôi tìm đến ông bởi vì con trai ông và các cảnh sát khác, những người từng cưỡng bức và suýt chút nữa đánh đập cô ta đến chết, dường như đều không còn sống nữa. Nhưng ông thì còn.”
Evers ngồi thẳng người hơn nữa. “Đã bao giờ chứng minh được gì đâu. Chết tiệt, thậm chưa còn chưa bao giờ bị khởi kiện hay gì. Con trai của tôi, không một dấu án tích nào hết. Thề với Chúa là thật.”
“Đó là bởi vì ông đã mua chuộc để bịt miệng vợ chồng Wyatt và thông đồng với viên cảnh sát trưởng hồi đó để che đậy mọi chuyện, bao gồm cả việc không lập báo cáo cảnh sát. Bọn họ đã bỏ mặc cho cô ta chết. Nhưng cô ta không chết. Cô ta nhận mặt từng người trong số họ. Nơi này thật không xứng với cái tên Mercy1, nhưng đây chỉ là một thị trấn nhỏ. Tất cả mọi người đều quen biết nhau. Cô ta biết những kẻ tấn công mình là ai. Ông là một công dân ưu tú ở đây. Chắc hẳn cô ta biết con trai ông. Chắc hẳn cô ta biết anh ta là cảnh sát. Nhưng cô ta chỉ mới mười sáu tuổi. Chắc hẳn cô ta đã tin rằng cảnh sát sẽ bảo vệ cô ta, kể cả là trước các cảnh sát khác. Cô ta có lẽ vẫn luôn được dạy rằng nếu gặp vấn đề gì hoặc cảm thấy bị đe dọa trong bất kì trường hợp nào, hãy tìm tới cảnh sát.” Anh dừng lại. “Bởi vì họ sẽ giúp cô ta.” Anh dừng lại lần nữa, ánh mắt vẫn nhìn chăm chú vào ông già. “Thế nhưng, bọn họ không giúp cô ta. Bọn họ cưỡng hiếp cô ta, suýt chút nữa lấy mạng cô ta, và rồi sau đó che đậy tất cả.”
 
1 Mercy còn có nghĩa là độ lượng hay nhân từ trong tiếng Anh.
“Không có bằng chứng.”
“Chúng tôi sẽ truy dấu khoản tiền được ông trả cho vợ chồng Wyatts, ông Evers ạ.”
“Và chúng tôi đã nói chuyện với vợ chồng Wyatts,” Decker nói thêm, liếc mắt nhanh sang Bogart và Jamison. “Họ kể với chúng tôi những gì ông đã làm. Thế nên ông hãy thôi phủ nhận đi. Chúng tôi không có nhiều thời gian. Thực sự thì tôi thấy bất ngờ khi anh vẫn còn sống. Tôi đã nghĩ chắc hẳn họ đã bắt ông đi cùng lúc bắt con trai của ông đấy.”
Cái giọng nói không chút cảm xúc của Decker dường như đã đè bẹp mọi ý nghĩ phản kháng còn lại ở ông già. Ông giật người ra trước trên chiếc ghế bành để chân chạm xuống sàn nhà.
Ông ta chỉ ngón tay ngắn tròn, thâm xì vì ám màu thuốc lá vào Decker, “Tất cả những thứ này đều đã quá thời hạn khởi kiện rồi nhé.”
“Có thể là thế,” Decker thừa nhận. “Thế nên ông có thể kể cho chúng tôi nghe mọi chuyện mà không cần sợ rằng ông sẽ phải đi tù vì bất cứ việc nào trong số đó, bất luận ông mới đáng ngồi tù làm sao để đền tội cho những gì ông đã làm. Nhưng tội giết người thì không có thời hạn, thế nên chúng tôi vẫn có thể tìm kiếm và trừng phạt Wyatt. Ông có thể giúp chúng tôi làm việc đó.”
Evers dập tắt điếu thuốc và dường như đang mất một lúc để tập trung suy nghĩ. “Ta nghĩ điều mà cậu cần phải hiểu là đứa con gái đó rất kì cục, rắc rối là do tự nó đòi mà có thôi, đúng thế đấy, thưa quý ngài.”
“Tự đòi mình bị cưỡng hiếp tập thể và suýt chút nữa thì bị đánh đến chết sao?” Jamison nói, miệng cô cong lên tỏ ý kinh tởm. “Làm gì có người phụ nữ nào đòi hỏi điều đó?”
“Ừm, tất nhiên không phải là như thế. Nhưng tất cả bọn con trai đó đều bị cảm xúc chi phối mà. Lũ con trai nào giờ là thế mà. Chết tiệt, các người hiểu mà.”
“Không, thực sự là tôi không hiểu,” Lancaster nói, giọng của chị tỏ ý còn ghê tởm hơn cả giọng Jamison.
“Và ‘bọn con trai’ là bao gồm con của ông?” Bogart xen lời.
Evers gật đầu nhanh gọn. “Lúc nào nó cũng gây rắc rối. Bắt nó phải vào cảnh sát. Cảnh sát trưởng là anh em lâu năm của tôi. Chịu ơn tôi. Chết tiệt, cả thành phố này chịu ơn tôi. Cứ nghĩ thế sẽ giúp nó chín chắn. Thề với Chúa là tôi đã nghĩ thế thật. Thực tế cho thấy tôi mới sai lầm làm sao. Đã trao vào tay nó súng và sao trên vai cùng một suy nghĩ là nó muốn lấy gì thì cứ lấy.”
“Tại sao anh ta lại chú ý tới Wyatt?” Bogart hỏi.
“Ừm, nghe này, có lời đồn đại từ trường học về cô ta. Như tôi đã nói, một đứa kì quặc. Chưa từng cư xử bình thường. Chết tiệt, tôi nói rồi, cô ta dị hợm. Một thứ tởm lợm. Thằng con tôi là một người đàn ông Mỹ tràn trề sinh lực. Nó sẽ không bao giờ chấp nhận một thứ gớm ghiếc như thế. Đó là một tội lỗi.”
“Thực ra mà nói thì không hề,” Lancaster nói. “Nhưng hãy kể tiếp đi.”
Evers châm một điếu thuốc nữa và vừa nói vừa rít. “Ừm, nó và một vài đứa nữa quyết định dạy cho con bé một bài học.”
“Bọn họ định dạy như thế nào?” Decker hỏi.
Evers chỉ một ngón tay vào Decker. “Cậu không nói đúng hoàn toàn đâu. Không phải là một đám cảnh sát. Chỉ có thằng con của tôi thôi. Nó là thằng cảnh sát duy nhất.”
“Tôi không hiểu,” Decker nói, trông có vẻ sửng sốt. “Belinda bị cưỡng hiếp tập thể mà.”
“Đúng thế. Nhưng thằng con tôi là đứa duy nhất trong ngành.”
“Những kẻ khác là ai?” Lancaster hỏi.
“Ồ, chỉ là một vài thằng du côn trong đội bóng bầu dục của trường cấp ba và-”
Decker ngắt lời, “Và huấn luyện viên?”
Lancaster vội vàng nói tiếp, “Và trợ lý hiệu trưởng?”
Evers trông sửng sốt. “Đúng như thế. Làm sao các người biết?”
Lancaster nhìn Decker, “Amos, đó là lí do cô ta chọn mục tiêu của mình ở trường Mansfield. Đó là lí do cô ta chọn địa điểm đó.”
Decker nói, “Có bao nhiêu cầu thủ bóng bầu dục tham gia?”
Evers nhún vai. “Ta không biết. Bốn, hoặc năm.”
“Hay là sáu.”
“Chết tiệt, thôi nào, làm sao cậu biết?” Evers nói. “Thậm chí đến ta còn không nhớ được. Ta là dân ở đây đấy.”
“Belinda Wyatt kể cho chúng tôi.”
“Nhưng cậu nói -”
“Cứ kể tiếp đi. Vụ cưỡng hiếp xảy ra ở đâu?”
“Trong căn tin, thằng bé kể cho ta. Chẳng hiểu sao chúng nó lại chọn chỗ đó nữa. Nhưng đó là nơi sự việc diễn ra theo lời nó kể. Hiếp nó trên bàn, ta tin là như vậy,” ông ta hờ hững nói thêm.
Bogart, Jamison và Lancaster đưa mắt nhìn nhau.
“Làm sao con trai ông lừa bắt chuyện được với Belinda?” Decker hỏi.
“Nó đón cô ta bằng xe tuần tra khi nhìn thấy cô ta đi bộ trên phố một đêm nọ. Có vẻ như con bé thường xuyên đi bộ vào buổi tối. Nó từng gặp con bé trước đó. Nó nói với con bé rằng nó sẽ chăm sóc cho con bé.”
“Anh ta nói thế là có ý gì?” Bogart nghiêm túc hỏi.
“Như ta đã nói, con bé là một đứa kì quặc, và những người ở đây chắc chắn sẽ thể hiện ra mặt cho con bé nhận thức rõ điều đó. Không, mấy người đó chẳng hề tử tế chút nào cả. Cá nhân ta, ta thì nghĩ Chúa trời tạo ra mỗi người mỗi khác nhau. Ai thế nào thì sẽ thế đó. Nhưng một số người khác ở đây thì không nghĩ thế. Cuộc sống của con bé ở Mercy khá tồi tệ. Giles biết điều đó. Thế nên nó dùng cách đó để dẫn dụ con bé.”
“Tại sao anh ta lại quan tâm đến cô bé đó?” Decker hỏi.
“Như này, nó chơi bóng bầu dục ở trường cấp ba. Cùng trường với Howard Clarke, huấn luyện viên và Conner Wise, trợ lí hiệu trưởng, tất nhiên là từ lúc chúng nó còn ít tuổi.” Ông ta nói nhỏ lại, “Và có lời đồn thổi từ trường là Wyatt là một đứa bán nam bán nữ. Bọn con gái học lớp thể dục nói rằng con bé có bi. Chúa tôi, anh tin được không? Tôi dám cá vợ chồng nhà Wyatt hút sách nhiều lắm hoặc dùng cái gì đó tương tự. Có lẽ bọn họ là dân hippies nghiện ngập. Ngấm cái thứ ma túy đó vào người rồi sinh con, thế là đẻ ra thứ quái thai đó. Một đứa con gái có bi.”
“Lí lẽ của ông quá là nực cười,” Bogart thốt lên.
“Tùy anh nghĩ, nhưng đừng làm như có mình mình đúng,” Evers đáp trả. “Nói chung thì, một số đứa trong đội bóng hẹn hò với mấy đứa con gái này. Thế nên chúng nó cũng nghe được phong phanh. Chúng kể cho Howard, con trai ta và Conner. Chúng tụ tập lại với nhau và dự định sẽ dạy cho con bé đó một bài học nhỏ.”
“Dạy bằng cách suýt chút nữa thì đánh chết cô ta sao?” Lancaster gắt.
Mặt Evers tỏ vẻ trầm ngâm. “Cô biết sao không? Tôi nghĩ có lẽ chúng đang cố gắng giúp cô ta. Cô biết đấy, để con bé đó cảm nhận được được đàn ông động vào người thì sẽ thế nào. Đưa nó trở lại bình thường. Giúp nó thấy nó thực sự là một đứa con gái và chỉ là con gái mà thôi. Và ở bên cạnh đàn ông thì tốt ra sao.”
Bogart nói, “Đừng có cố đổi trắng thay đen nữa đi. Ông Evers ạ. Thời hạn khởi tố có thể đã hết đối với tội cưỡng hiếp và tấn công người khác, nhưng nếu ông đang cố tình cản trở tư pháp công chính, tôi sẽ lập tức đá đít ông vào nhà lao, nhanh hơn cả ông kịp rít thêm một hơi thuốc nữa.”
Evers nhìn anh chằm chằm vài giây rồi vội vã kể tiếp câu chuyện. “Ừm, ta nghĩ mọi chuyện sau đó đã vượt qua ngoài tầm kiểm soát. Cô ta chống cự rất quyết liệt. Thế là bọn chúng buộc phải, ừm, đánh nó vài cái. Ta đoán một trong số chúng đã đánh con bé đó quá mạnh tay, đến mức chúng nghĩ chúng đã đánh chết nó. Con bé đó đã bất tỉnh, bị chảy máu rồi nhiều thứ khác nữa. Và Giles kể với ta là nó đã ngừng thở. Thế nên bọn chúng có chút lo lắng và chúng ném con bé đó vào thùng rác ở phía sau trường, rồi tất cả chúng bỏ đi. Nhưng con bé đó tỉnh lại và tự mình trèo ra khỏi đó. Nó tìm đến cảnh sát và báo án. Như ta đã kể, cảnh sát trưởng là anh em cũ của ta, chịu ơn ta vài việc từ ngày xưa. Gọi điện cho ta. Cha mẹ nó biết chuyện, tất nhiên rồi. Nó kể cho bọn họ. Ta vét sạch từng xu mà ta có thể kiếm được để giữ im chuyện này.” Nét mặt của ông ta đã thay đổi, trở nên giận dữ phừng phừng. “Gia đình Wyatt hút kiệt máu của ta. Lũ khốn kiếp.”
“Ông nhìn nhận chuyện này là vậy sao?” Bogart hỏi. “Ông xem nó là một vụ thương thảo à?”
“Đó là cách bọn họ nhìn nhận nó. Nhìn quanh mà xem. Giờ ta đang phải sống giữa cái đống phân này. Vợ ta đã chết từ lâu. Nó lấy mạng bà ấy. Bà ấy biết chuyện. Buồn mà chết. Lấy đi từng đồng xu cắc bạc mà ta có. Bán hết mọi tài sản mà ta sở hữu, tất cả mọi của cải đều đã đội nón ra đi. Gia đình Wyatt chết tiệt đó có thể đã xây dăm tòa lâu đài ở đâu đó, chết tiệt, ta không biết nữa. Và bọn họ là những kẻ đã mang cái đứa quái đản đó tới thế gian này. Và phải sống ở đây sau sáu mươi năm còng lưng cày cuốc. Tất cả thành quả mà ta có là đây.” Ông ta nhìn xung quanh. “Tủ lạnh của ta đã dùng hai mươi năm. Chưa từng được mua một cái xe mới. Chiếc xe đậu ngoài kia thậm chí còn chẳng chạy dược.”
“Ừm, hiển nhiên với ông thế là rất đau đớn,” Bogart lạnh lùng nói.
Decker nói, “Nhưng tại sao phải làm thế? Tại sao phải trả tiền. Đó là lời họ nói, lời cô ta kể. Cả thành phố này chống lại cô ga. Cảnh sát có thể sẽ xóa bỏ bằng chứng để tự bảo vệ chính họ. Và cảnh sát trưởng là anh em của ông. Nhà Wyatt quá non nớt trước ông.”
Evers hít một hơi thuốc và lắc đầu với vẻ nhẫn nhục. “Không đâu anh ạ, họ không có khờ đâu. Họ có bằng chứng.”
“Bằng cách nào?” Bogart hỏi.
“Trước khi Belinda Wyatt về nhà, cô ta đã tự mình đi tới cái bệnh viện chết tiệt đó, và lấy mẫu bằng chứng cưỡng hiếp và giám định thân thể. Chắc chắn là con bé đó đã bị cưỡng hiếp và đánh đập dã man. Có bằng chứng của con trai ta trên người nó. Và của tất cả những đứa khác nữa. DNA, máu và da bên dưới móng tay của nó, tất cả những thứ chết tiệt đó. Bắt tại trận. Rồi, như ta đã kể, Belinda kể cho cha mẹ nó sự tình.”
“Nhưng bọn họ không báo cảnh sát,” Decker nói.
“Không, bọn họ biết phân cấp tầng lớp ở Mercy là như thế nào. Gia đình Evers là những người ở tầng cao nhất. Tất cả những người khác, không là gì cả. Không một ai ở đây dám ho he, nhưng vợ chồng Wyatt rất ranh ma. Phải công nhận là chúng không không vừa đâu. Chúng đe dọa sẽ báo tất cả mọi chuyện lên cảnh sát tiểu bang, thậm chí là FBI. Và thế là ta buộc phải có động thái gì đó chứ.” Ông ta hút nốt điếu thuốc và nhìn chăm chăm vào Decker. “Không thể để đứa con trai duy nhất của ta tàn đời chỉ vì gây rối với một đứa rác rưởi.”
Decker nói, “Tôi tưởng ông là người theo trường phái dĩ hòa vi quý? Chẳng phải ông đã nói Chúa trời tạo ra mỗi người mỗi khác sao? Ai thế nào thì sẽ thế đó?”
Evers nhìn anh với vẻ kém cởi mở, “Phải, nhưng Chúa trời không giúp con ta thoát khỏi tội cưỡng hiếp nếu để mọi chuyện lọt ra khỏi Mercy, phải không?”
“Con trai của ông mất tích trong hoàn cảnh nào?” Decker hỏi.
“Khá là đơn giản. Ra ngoài đi uống rượu một đêm nọ và rồi không quay về nữa.”
“Anh ta kết hôn chưa, có con không?”
“Ly hôn. Vợ bỏ đi và mang theo các con. Bị đuổi khỏi ngành. Nó sống ở đây cùng với ta.”
Ồ, thế là cũng có một chút công đạo đấy, Decker nghĩ trong đầu.
“Tất cả những chuyện này thì có liên quan gì?” Evers muốn biết.
“Ông có nhận được gì có vẻ kì lạ, khó giải thích không?” Decker hỏi, bỏ qua thắc mắc của ông già.
Evers suy nghĩ một lúc. “Ừm, có một thứ đấy.”
“Thứ gì?” Decker nói nhanh.
“Chết tiệt, để ta đi lấy.” Ông lão lập cập đứng dậy và rời đi trong một phút.
Bogart nhìn Decker. “Ừm, vậy là chuyện này lý giải vì sao Wyatt đang làm tất cả những việc này. Để trả thù. Cô ta chọn trường Mansfield bởi những việc đã xảy ra với cô ta ở trường cấp ba tại đây.”
Lancaster nói thêm, “Và cô ta lựa chọn nạn nhân cũng vì cách đó. Hình ảnh phản chiếu của những người suýt chút nữa lấy mạng cô ta. Sáu vận động viên bóng bầu dục, huấn luyện viên và trợ lý hiệu trưởng.”
Jamison nhìn Decker. “Nhưng vẫn không lý giải được lí do cô ta tìm đến anh.”
Decker nhìn cô. “Đúng, chưa lí giải được.”
Evers quay lại với một mảnh giấy. “Có ai đó nhét cái này qua khe cửa nhà ta cách đây vài tháng. Chẳng hiểu đầu đuôi là thế nào.”
Ông ta đưa nó cho Decker. Những người còn lại xúm quanh để xem nó.
Đó là bản in của một trang Web. Tiêu đề của nó là “Công lý Bị Khước Từ.” Bên dưới đó là một danh sách những cái tên, và bên cạnh từng cái tên là một tội ác: giết người, cưỡng bức, tấn công, bắt cóc.
Ở cuối trang giấy là một lời tuyên bố. “Mỗi tội ác ở đây đều do một người mặc cảnh phục gây nên. Và mọi tội ác đều được che đậy. Nhưng chúng ta sẽ khôg quên. Công lý sẽ không bị khước từ.”
Decker đọc lướt nhanh danh sách những cái tên cho tới khi đọc tới một cái tên khiến anh phải dừng lại. “Chúng ta vừa mới biết vì sao Belinda Wyatt và Leopold lại móc nối với nhau.”
Tất cả ba người còn lại nhìn chăm chú vào những cái tên: Caroline và Deidre Leopold. Bên cạnh tên của họ là tội ác mà họ là nạn nhân.
Giết người.
 
CHƯƠNG 60
 
Trong suốt chuyến bay trở về Burligton, họ đọc đi đọc lại ghi chép bản án về vụ sát hại gia đình Leopold ở một ngôi làng cách Vienna hai mươi cây số. Theo yêu cầu FBI, cảnh sát Áo cũng đã gửi thông tin về gia cảnh của Leopold.
“Không có chi tiết nào trong này nói về việc có khả năng các cảnh sát đã sát hại gia đình Leopold,” Lancaster nói.
“Ồ, nếu thật là như thế, tôi đồ rằng sẽ chẳng có ai ghi lại vào hồ sơ,” Bogart nói.
Decker, đang đọc dở báo cáo khám nghiệm tử thi của hai nạn nhân, ngẩng đầu lên nhìn Bogart. “Anh có sợi dây nào trên máy bay không?”
“Dây á?”
“Hoặc thừng cũng được.”
Họ tìm được một đoạn dây thừng trong bộ đồ cấp cứu nhét trong khoang lưu chứa, và Bogart nhìn theo Decker đo dây và bắt đầu tạo thành các nút thắt.
“Cái gì đó?” Bogart hỏi.
“Có thể là một thứ có nghĩa hoặc vô nghĩa,” là tất cả những gì Decker nói.
Sau đó anh đọc cái tờ “Công lý Bị Khước từ” mà ai đó đã bỏ lại trước cửa nhà Clyde Evers. Rồi anh nhìn những nút thắt mà anh mới làm từ dây thừng, rồi lại nhìn vào trang giấy. Anh đọc lại tập hồ sơ vụ sát hại gia đình Leopold, một lần nữa ghi vào trong đầu từng thông tin. Đọc xong, anh nhắm mắt lại và bắt đầu ghép nối các chi tiết với nhau. Hai mắt anh vẫn đang nhắm khi chiếc máy bay đáp đất.
“Amos, phải đi rồi,” Lancaster nói.
Khi họ lái xe đi trên chiếc SUV, Bogart nói, “Người của tôi sẽ truy dấu vết của trang web này và thử xem tìm được gì.”
Lancaster gật đầu và sau đó liếc nhìn sang Decker, lúc này đang nhìn chăm chăm ra ngoài cửa sổ.
“Anh nghĩ sao Amos?”
Anh đang ngồi trên ghế, tay vẫn cầm đoạn dây thừng thắt nút.
“Tôi đang nghĩ là rất nhiều người đã phải chết chỉ vì một đám người u muội.”
“Wyatt và Leopold tự mình đưa ra lựa chọn, lựa chọn tồi,” Bogary nói. “Những lựa chọn thật đáng kinh tởm. Chính chúng phải chịu trách nhiệm cho chuyện này mà không phải ai khác.”
“Và con người ai cũng có giới hạn,” Decker nói. “Và anh cứ mặc sức luyên thuyên về việc trần đời bất công ra sao, hay về việc những người ở trên đời không được để mình bị chịu tác động bởi những điều tàn ác xảy đến với họ, nhưng mỗi người lại một khác. Một số người vững như bàn thạch, nhưng số khác lại mỏng manh, và anh không bao giờ có thể biết anh sẽ thuộc nhóm nào.”
“Chúng đã sát hại gia đình của anh đấy, Decker,” Bogart phản bác.
Lancaster và Jamison nhìn nhau, ánh mắt đầy lo ngại.
Decker không nhìn người đặc vụ FBI. “Đó là lí do mà chúng ta sẽ tóm chúng và mạng sống của chúng sẽ kết thúc hoặc trrong tù hoặc trong phòng xử tử. Nhưng đừng cho rằng tôi sẽ đổ toàn bộ tội lỗi lên đầu Wyatt trong việc này. Bởi vì tôi không thể, và tôi sẽ không làm như thế.”
“Tôi tự hỏi không biết Giles Evers đang ở đâu,” Jamison nói.
“Dưới địa ngục, hi vọng là thế,” Decker đáp.
 
☆☆☆
Decker yêu cầu được thả ở Residence Inn. Anh bước lên cầu thang dẫn lên tầng hai và ngoái đầu nhìn chiếc SUV lăn bánh đi khỏi bãi đỗ. Jamison đang nhìn anh chăm chú từ cửa sổ. Cô vẫy nhẹ tay chào anh.
Anh không đáp trả.
Anh đi thẳng vào phòng và ngồi lên giường, đoạn dây thả xuống ở bên cạnh sườn.
Anh nhắm mắt lại và để tâm trí tua lại về hai hình ảnh của cùng một người nhưng ở hai tình huống và cách ăn mặc khác nhau.
Billy, ả bồi bàn ở quán bar.
Billy, cậu lau sàn ở cửa hàng 7-Eleven.
Anh đã quan sát kĩ gương mặt của Billy - cậu lau nhà, nhưng không quan sát kĩ lắm Billy - ả bồi bàn. Anh nheo mắt chặt hơn như thể đang chỉnh lại lấy nét ở máy quay. Cả hai kẻ đó có cái cằm là tương đồng. Khung xương hàm. Và đôi tay. Mọi người vẫn luôn quên mất đôi tay, nhưng chúng có thể dễ phân biệt y như dấu vân tay nếu bạn biết chú ý đến gì.
Dài, những ngón tay thanh thoát, ngón út bên phải ngắn, móng tay không sơn là của ả bồi bàn, ngón trỏ bên trái có móng tay bị nứt, một cái mụn cóc ở ngón tay cái bên phải. Chắc chắn là cùng một người.
Anh mở to mắt trợn trừng trong nỗi ngạc nhiên.
Anh vừa mới nhìn thấy Billy. Trong một ánh sắc màu. Lần đầu tiên.
Màu xám.
Với anh, cũng như với rất nhiều người khác, nó là một màu sắc rất khó phân định. Nó không gắn với một cách diễn giải cụ thể nào. Đó là một màu sắc có thể giải nghĩa theo cách này hoặc cách khác. Con người ai cũng khát khao thế giới mang tính rạch ròi trong hai màu trắng và đen. Như thể cuộc sống sẽ đơn giản hơn: Những quyết định khó khăn sẽ dần biến mất; tất cả mọi thứ sẽ được sắp đặt và phân loại gọn gàng. Và con người cũng thế. Nhưng cõi đời này lại không như vậy. Và những con người sống trên đời cũng vậy. Chí ít là với những người để tâm khám phá sự phức tạp của nó.
Sắc xám của cuộc đời.
Lúc này, trong bộ óc cùa anh, Leopold có màu vàng. Màu vàng không phải là một màu sắc khó phân định. Màu vàng là màu của thù địch, của xảo trá. Đôi lúc các màu sắc rất sáng rõ. Thực ra là rõ ràng y như các con số vậy.
Các mảnh ghép đang bắt đầu ráp vào đúng chỗ.
Nhưng tại sao lại nhắm vào mình? Tôi đã từng làm cái quái gì ảnh hưởng tới cô vậy hả Belinda/Billy? Là cái gì?
Mối liên hệ duy nhất giữa họ là ở viện nghiên cứu từ hai mươi năm trước. Gia đình của anh bị sát hại hơn mười sáu tháng trước. Đó là một khoảng cách khá xa. Tại sao phải chờ đợi? Bởi vì cô ta đã gặp Sebastian Leopold trong khaong thời gian đó sao? Và hắn đã chỉ cho cô ta cách để trừng phạt Decker chăng? Cách để tự tay cô ta báo thù? Nhưng vì cái gì chứ?
Viện nghiên cứu. Điểm khởi đầu đối với cả hai người họ. Tiếp xúc hạn chế. Nói chuyện trực tiếp với nhau ư? Hoàn toàn không.
Anh nhắm mắt lại một lần nữa. Anh cần phải tìm ra. Anh phải tìm thật kĩ càng. Wyatt phải có một lí do để làm tất cả những chuyện này. Cô ta đã dự tính kĩ càng đến mức kinh ngạc. Tính vẹn toàn trong hành vi tàn ác của cô ta là cực kì xuất thần. Trong mức độ kinh dị của nó nứa. Thế nên chắc chắn cũng sẽ phải có một lí do nào đó cho điều này.
Cái đầu máy ghi hình của anh tua đi và tua lại. Những hình ảnh lướt đi với tốc độ rất nhanh, nhưng anh không bỏ sót gì cả. Anh nhìn thấy từng thứ trong đó như thể nó đang diễn ra trước mặt anh và ở một tốc độ bình thường. Không, ở tốc độ tua chậm. Từng lời nói, từng khoảnh khắc, tất cả mọi thứ đang di chuyển với tốc độ của một con ốc sên.
Trong buổi trị liệu theo nhóm, anh đã nói về tương lai của mình. Hi vọng và ước mơ của anh. Nhưng tất cả những người khác cũng chia sẻ mà. Ừm, là tất cả mọi người trừ Belinda. Cô ta đã được mời nói, nhưng không tự nguyện chia sẻ bất cứ một thông tin gì về những kế hoạch tương lai của mình. Dường như cô ta chẳng có kế hoạch nào cho tương lai, chí ít lúc đó thì không.
Ờ, giờ thì không còn như thế nữa.
Một số người biết vè quá khứ của Decker, về chân thương của anh, việc anh suýt chết trên sân đấu. Anh đã không hay biết gì về tình cảnh khổ sở của Belinda, mặc dù có khi cô ta không biết điều này. Có thể lúc đó cô ta đã nghĩ nếu cô ta biết vè anh, anh cũng biết về cô ta. Nhưng thực sự thì, chuyện đó có quan trọng không?
Anh mở mắt, hai lông mày nhíu lại vì bộ não của anh - một bộ não đã vị sang chấn cực kì khác thường, bị suy yếu đi - một bộ não sinh ra dành riêng cho anh sau khi chết đi sống lại - đã không thể giải được câu đố hóc búa có thể giúp tất cả những mảnh ghép này tìm vào đúng chỗ.
Anh rời đi bởi vì anh không thể ở lại đây.
Ba mươi phút sau, anh đi vào sở cảnh sát Burlington. Đội trưởng Miller đang ở đó, Bogart đã thông tin nhanh cho ông về chuyến đi tới Utah, ông nói với anh.
“Trông cậu không ổn lắm đâu, Amos ạ,” Miller nói.
“Ổn sao được.” Decker cãi lại.
Miller vỗ vỗ đầu. “Không ra à?”
“Nó ở trong đó. Chỉ là tôi không sao bắt nó nói cho tôi biết điều mà tôi cần biết.”
“Cậu có một trí óc khác thường, nhưng vẫn còn phải tìm hiểu nhiều.”
“Ừm, sẽ phải có ai đó tìm ra. Và nếu người đó không phải là tôi, chắc chắn phải có người khác.”
“Cậu nghĩ có thể bọn chúng đã thu dọn và rời đi rồi à?”
“Chưa đâu.”
“Chúng còn đợi gì nữa?” Miller hỏi.
“Tôi.”
Anh đi tới kho lưu trữ bằng chứng, điền các giấy tờ cần thiết theo sự cho phép của Miller để bước vào trong xem xét các bằng chứng thu thập được cho tới lúc này. Do anh không còn là cảnh sát nữa, nên phải có người đi cùng.
Người này là Sally Brimmer, cô ta giải thích, “Tôi cũng không có việc nào hệ trọng hơn vụ án này, anh Decker ạ.”
Họ ngồi ở bàn trong lúc Decker xem xét từng chiếc túi đựng bằng chứng, rất nhiều trong số đó anh xem đi xem lại hai lần. Cuối cùng anh xem tới bộ cảnh phục, lần thứ hai.
“Theo lý thuyết, đáng lý anh cần phải nộp lại phù hiệu,” Brimmer trách móc. “Nhưng mà dù sao thì cũng chẳng quan trọng nữa. Bọn chúng đã cào nát nó rồi.”
Decker nhấc chiếc túi lên, xuyên qua lớp túi ni-lông anh nhìn chiếc phù hiệu với chữ X cắt xéo ngang qua nó.
X-óa sổ tôi, anh nghĩ. Như chúng đã xóa sổ Glies Evers. Anh ta mặc cảnh phục khi anh ta vờ tỏ ý tốt đưa cô đi, Belinda nhỉ. Ở một mặt nào đó, tất cả những người này đều mặc đồng phục. Cảnh sát, cầu thủ bóng bầu dục, huấn luyện viên, thậm chí là trợ lý hiệu trưởng, khoác lên mình quyền uy của nhà trường. Cô bị vây quanh bởi những kẻ đáng lý ra phải bảo vệ cô, nhưng bọn họ đã không làm thế. Thay vào đó, bọn họ hủy hoại cô. Bắt đầu với một tay cảnh sát. Với phù hiệu. Giống y như tôi.
Anh xoa xoa miếng kim loại qua lớp ni lông. Rồi anh dừng lại. Giống như đang xoa cây đèn thần vậy. Anh đã có một lời ước ngốc nghếch, chưa bao giờ nghĩ nó sẽ hóa thật. Nhưng lời ước vừa mới thành sự thật xong.
Miếng ghép cuối cùng vừ mới tìm vầo đúng chỗ.
Và Amos Decker cuối cùng cũng đã hiểu mình đã làm gì để đáng phải gánh chịu tất cả những điều này.
 
CHƯƠNG 61
 
Anh bước vào thư viện của trường cấp ba Mansfield, trong đầu biết rất chắc chắn là anh nhất định phải làm việc này.
Có khoảng sáu bảy người đang làm việc ở đây, nhưng không có Lancaster, Jamison và Bogart. Lúc này đã khá muộn. Có lẽ họ đang tranh thủ chợp mắt. Điện thoại của anh rung. Thật bất ngờ, đó là Bogart. Anh ta thu được một vài thông tin về trang web “Công lý Bị Khước từ.” Và anh cũng nói với Decker rằng vợ chồng Wyatt có gần 10 triệu USD tài sản thanh khoản nhưng số tiền đó đã được chuyển ra khỏi tài khoản theo mức 1 triệu USD mỗi tháng trong suốt chín tháng gần đây. Decker lắng nghe tất cả.
Bogart nói, “Anh nghĩ sao về việc này?”
“Tất cả đều rất hợp lý.”
“Thế nghĩa là sao?”
“Chính xác điều tôi nói.”
“Anh đang ở đâu?”
“Trong phòng trọ, chuẩn bị đi ngủ.”
“Tôi sẽ nói chuyện lại với anh vào sáng mai,” Bogart nói.
“Phải đấy,” Decker nói.
Anh ngồi xuống trước một trong số mấy chiếc laptop và đăng nhập bằng tài khoản đã được cho từ trước. Anh truy cập vào trang “Công lý Bị Khước từ.” Trang web được cài đặt một chương trình đăng kí tài khoản nhắn tin cá nhân để mọi người có thể trao đổi riêng với những người duy trì trang web. Anh thiết lập tên người dùng và mật khẩu, điền mẫu đăng kí và yêu cầu.
Bọn chúng hẳn phải giám sát trang web, anh nghĩ. Không lý nào lại không thể. Có thể đó là lí do vì sao bọn chúng để lại thông tin về trang web cho Clyde Evers, trong trường hợp Decker liên hệ và ghé thăm ông già. Tất cả chuyện này là một trò ghép hình, và mỗi mảnh ghép sẽ ăn khớp vào đâu đó.
Ba mươi phút trôi qua. Rồi một tiếng. Rồi hai tiếng. Decker chỉ ngồi im đó, tâm trí bị lấn áp bởi sắc xám. Mặc dù anh đã sống cùng bộ óc này đến giờ là hai mươi năm, cảm giác vẫn cứ như anh đang tồn tại trong cơ thể của một người khác. Và rằng bất kì một phút nào, hoặc sau một cơn chập mạch bất chợt nào đó trong đầu, anh sẽ trở lại là anh của ngày xưa với bộ não tương đối bình thường.
Điện thoại của anh lại rung. Là Jamison. Anh không bắt máy.
Đến đúng giờ thứ ba, một tin nhắn nhấp nháy hiện trong tài khoản anh mới lập.
Cuối cùng anh cũng đã tìm được đến đây, người anh em. Chúc mừng.
Và giờ Decker cũng đã biết “người anh em” là để chỉ cái gì. Thật ra, nó đơn giản thôi. Tất cả họ đều là anh em của nhau, chẳng phải sao? Tất cả họ đều bị Wyatt, bị Leopold gom chung vào một hội mà thôi. Tất nhiên thế là không công bằng. Nhưng cũng chẳng có gì sai, anh có thể hiểu điều đó.
Anh gõ yêu cầu và gửi đi. Và chờ đợi.
Cuối cùng, lời đáp được gửi tới. Sao phải thế?
Anh đã không nghĩ rằng bọn chúng có thể dễ dàng chấp nhận đề nnghị của anh. Anh gõ câu trả lời. Anh hi vọng câu trả lời đủ sức thuyết phục. Anh không nghĩ mình sẽ có thêm một cơ hội giống như thế này.
Một lúc nào đó, việc này phải chấm dứt. Tại sao không phải là bây giờ? Tôi là kẻ duy nhất còn sót lại.
Trừ phi anh đang bỏ lỡ chi tiết tối quan trọng nào đó, thì anh là người cuối cùng còn lại. Và anh không nghĩ anh đang bỏ lỡ chi tiết nào hết. Không còn nữa. Thực tế mà nói, có thể anh đã phát hiện ra chi tiết mà tất cả những người khác đã bỏ lỡ. Và ý của anh thực sự là tất cả mọi người, bao gồm cả hai kẻ ở đầu bên kia của đường dây kĩ thuật số này.
Tất nhiên chúng sẽ nghi ngờ đây là một cái bẫy. Chúng thậm chí còn không thể biết đó có phải là anh không. Anh đang chờ đợi một bài kiểm tra. Và nó đã đến trong cái thư tiếp theo.
Số áo đấu của Dwayne LeCroix.
Chắc chắn chúng đã nghiên cứu trước, hoặc có thể Wyatt đã nghe được gì vè anh khi còn ở viện và đào bới thêm thông tin.
Câu hỏi nói anh có năm giây để trả lời. Không kịp tra cứu bất cứ gì trên mạng. Google hay YouTube không dùng được trong trường hợp này. Nhưng anh đâu cần đến chúng. Kể cả không cần cái tài năng đặc biệt của mình, anh vẫn mãi mãi ghi nhớ hai con số đó, kể cả nếu anh không nhìn thấy chúng trước khi cú va chạm xảy ra.
Ngay lập tức anh gõ câu trả lời và gửi đi: 24.
Hồi đáp được gửi ngay tức thì.
Hướng dẫn sẽ tới trong năm phút. Chờ đó.
Anh chờ, trong đầu anh, cái đồng hồ sinh học đang điểm tích tắc. Khi ba trăm sáu mươi giây đã trơi qua, tin được gửi đến.
Anh đọc kĩ nó.
Rất thông minh, đã được tính toán kĩ. Bọn chúng không cố mạo hiểm. Như thế phải di chuyển bằng xe khách với vô số điểm đỗ dọc theo hành trình, cho phép chúng có thật nhiều cơ hội đánh giá có thật là Decker chỉ đi một mình hay không. Anh sẽ phải đến một điểm đỗ, tại đó sẽ có lời nhắn nói cho anh biết phải đi đâu tiếp.
Rõ ràng chuang đã lên kế hoạch này từ trước, như thể chúng biết chính xác toàn bộ chuyện này sẽ diễn ra như thế nào. Và việc này, Decker phải thừa nhận, khiến anh cảm thấy không chỉ hơi run sợ mà thôi.
Anh đứng dậy và rời đi. Anh quay về phòng trọ trong vòng ba mươi phút. Tổng cộng anh mất ba phút để sắp xếp gần như tất cả đồ đạc anh có.
Tất cad nằm gọn trong cái túi một mét hai và còn dư nhiều chỗ.
 
☆☆☆
Khi bước ra đến cửa, anh ngoái đầu nhìn lại. Căn nhà của anh. Căn nhà duy nhất mà anh có lúc này, nhà thuê, một phòng ngủ. Không thực sự là một tổ ấm. Thế nên anh hoàn toàn chẳng có cảm giác gì khi rời khỏi nó.
Và nếu anh gặp bất trắc trong chuyện này, anh sẽ nhớ Lancaster, Miller và Jamison. Và có thể là cả đặc vụ Bogart. Nhưng chỉ thế thôi.
Anh đóng cửa lại và thả chìa khóa xuống rãnh.
Anh biết anh sẽ không quay trở lại nữa.
Bắt buộc là phải như thế.
Vì rất nhiều lí do.
 
CHƯƠNG 62
 
Chuyến xe bus đưa anh tới Crewe, cách Burlington ba thành phố khác. Tuyết lại bắt đầu rơi, và những bóng điện trên con đường cao tốc liên bang soi rõ những bông nước béo tròn trút xuống, góp dày thêm lượng tuyết cho vùng này, tới chừng nào chúng chịu ngừng rơi. Và sau đó, cơ quan quản lí đường cao tốc sẽ phải mất nhiều ngày dọn dẹp, chỉ để rồi sau đó Mẹ Thiên nhiên lặp lại chu trình của mình.
Anh nhìn ra bên ngoài cửa sổ của chiếc xe, điện thoại cầm trong tay. Chúng chưa nói với anh lần liên hệ tiếp theo sẽ tới bằng cách nào, nhưng anh muốn trong tư thế sẵn sàng.
Anh xuống xe ở Crewe cùng với ba hành khách khác. Hành lí của họ cũng sơ sài gần giống anh, mặc dù có một người phụ nữ xách theo một cái vali đầy ứ đồ cùng một chiếc gối, và địu theo một đứa bé đang say giấc.
Anh nhìn ngang liếc dọc cái mái vòm phủ đầy tuyết chỗ mái chờ lên xe. Chẳng có mấy người qua lại, và tất cả họ rõ ràng chẳng giàu có gì.
Một người đàn ông tiến lại gần anh. Ông ta là người da đen, khoảng sáu mươi tuổi, bụng bự, đôi bốt dính đầy tuyết, và chiếc áo khoác rách toát ở cả hai bên. Chiếc nón che tai đội sùm sụp. Cặp kính của ông ta mờ hơi nước. Ông ta dừng lại trước mặt Decker và nói, “Amos hả?”
Decker nhìn ông ta và gật đầu. “Ông là ai?”
“Tôi chẳng là ai cả. Nhưng có người cho tôi một trăm USD để đưa cái này cho cậu, và tôi làm thôi.” Ông ta đưa cho Decker một mẫu giấy.
“Là ai vậy?”
“Không thấy họ.”
“Làm sao ông biết tôi là người cần tìm?”
“Họ tả là một gã da trắng rất rất cao, béo, gương mặt hung dữ có râu. Anh giống thế.”
Người đàn ông bỏ đi và Decker cúi nhìn hướng dẫn được ghi trong tờ giấy.
Anh đi vào trong và mua một tấm vé xe bus nữa. Anh có hai giờ rảnh rỗi. Anh mua một tách cà phê từ cái máy ở trong bến. Cà phê chỉ âm ấm chứ không nóng, nhưng anh không quan tâm. Anh dành thời gian quan sát tất cả mọi người trong phòng chờ. Nơi này đông đúc hơn anh tưởng. Rồi anh nhận ra một điều.
Lễ Tạ Ơn đang gần kề. Những người này có lẽ đang trên đường đi gặp người thân và cùng nhau chia sẻ mó gà tây nướng.
Anh và Cassie chưa bao giờ cùng nhau tổ chức Lễ Tạ Ơn, chủ yếu là bởi vì hoặc người này hoặc người còn lại luôn luôn có ca trực trong ngày lễ đó. Đã nhiều hơn một lần, thay vì ăn gà tây, Decker dùng bữa ở hàng ăn hoặc một quán đồ ăn nhanh. Về phần Cassie, cô dùng phần ăn của mình tại nhà ăn của bệnh viện. Người nào nhận trông Molly trong dịp này sẽ đưa con bé đi ăn hàng. Họ rất tận hưởng cách ăn mừng ngày lễ này như vậy và chưa từng cảm thấy đã bỏ lỡ điều gì quá nhiều.
Nhưng khi nhìn quanh những người này, Decker kết luận rằng anh đã để lỡ nhiều hơn những gì anh nghĩ.
 
☆☆☆
Chuyến xe tiếp theo thả anh tại ranh giới của bang Indiana.
Có một chiếc xe mini đang chờ ở bãi đỗ, xe đã nổ máy. Tờ giấy nhắn ghi là đi tới nó và gõ cửa sổ chỗ lái xe. Anh biết đây cũng là một bài kiểm tra.
Anh đi tới chỗ chiếc xe và đập tay lên cửa sổ.
Người phụ nữ ngồi trong hạ kính và nói, “Lên ghế sau đi.”
Anh làm theo. Nếu FBI theo đuôi anh bấy lâu, giờ sẽ là thời điểm phải bao vây lấy chiếc xe. Nhưng họ không làm thế. Bởi vì họ không đi theo anh.
Anh ngồi vào sau chiếc xe. Chiếc xe nhỏ nên hai đầu gối của anh phải nép nghiêng phía sau hàng ghế trước.
“Cô quen các bạn của tôi à?” anh hỏi.
“Tôi không có bạn,” cô ta trả lời. Mái tóc cùa cô ta dính bết và xám bạc, mùi cơ thể cô ta nồng nặc và khó chịu, đặc biệt là trong chiếc xe quá nóng này - cô ta dể sưởi ở mức nhiệt cao nhất. Giọng nói gai góc cùng mùi thuốc lá thoảng trong không khí là điềm báo trước cho một cái chết đau đớn vì ung thư phổi.
“Thế thì buồn quá,” anh nói.
“Đây thấy chả sao.”
“Bọn họ trả cho cô bao nhiêu để làm việc này?”
“Vừa đủ.”
“Cô gặp họ chứ?”
“Không.”
“Cô biết chuyện này là sao chứ?”
“Chuyện này là tôi nhận được sáu trăm USD. Đó là tất cả những gì tôi cần biết.”
Cô ta sang số và phóng đi. Họ lái xe đi rất lâu, lâu đến mức Decker nhận ra là anh đã ngủ quên. Anh cảm thấy thất khác thường khi thức giấc và nghĩ về nó, bởi vì anh đang trên đường đi tới cái chết của mình.
Hoặc, nói chính xác hơn, vụ sát hại mình.
Họ băng qua Cao tốc liên bang 74, đi gần tới Seymour, và sau đó rẽ sang Cao tốc liên bamg 65 theo hướng bắc, đi về phía thành phố Indianapolis. Nhưng rồi họ ra khỏi đường cao tốc khi còn cách đó xa. Họ đi sang hướng tây, vượt qua Nashville, Idiana. Decker nhìn thấy biển báo Bloomington ở hướng nam, nhưng họ không đi tới đó. Anh đang nghĩ có lẽ hai người họ sẽ đi mãi để tới Terre Haute ở gần biên giới Illinois thì người phụ nữ dừng xe bên vệ đường cách lối vào đường Cao tốc liên bang 70 chừng vài cây số, chạy từ hướng Đông sang Tây, có lẽ là đề đón thêm người.
Cô ta nói, “Đi bộ ở lối ra này đi. Tại đó có trạm dừng nghỉ. Sẽ có người chờ ở đó.”
Khi bước ra khỏi xe, Decker lại thêm một lần nữa nghĩ rằng tất cả những việc này đã được sắp xếp từ trước khi anh liên hệ với chúng qua trang web. Rõ ràng chúng đã trông đợi anh làm việc này. Hoặc chí ít hi vọng anh sẽ làm.
Và anh đã làm thật. Nghĩa là chúng đã đọc đúng suy nghĩ của anh.
Anh hi vọng mình đã làm được điều tương tự với chúng.
Anh bước đi trên tuyết để tới trạm dừng nghỉ, chiếc túi mang theo khoác trên vai. Tuyết rơi đã ngớt nhưng chân của anh vẫn bị ướt nhèm. Bụng của anh đang sôi sùng sục và nước mũi đang chảy.
Một chiếc xe van màu trắng đang lùi vào ô đỗ đầu tiên. Đèn pha nháy sáng hai lần khi Decker tiến lại gần. Cửa sổ phía ghế lái hạ xuống. Tài xế là một người phụ nữ khác, với hai gò má gầy tóp. Trông cô ta như một con nghiện ra vào trại cai nghiện thường xuyên.
“Cô muốn tôi cầm lái chứ?” Decker nói, mắt liếc nhìn lên nhìn xuống thân hình da bọc xương của cô ta. “Tôi muốn còn nguyên vẹn khi tới đó.”
Cô ta lắc đầu và hất ngón tay cái chỉ về phía sau chiếc xe.
“Cô chắc cô lái được chứ hả?”
Để đáp lời, cô ta đạp ga và nhìn chằm chằm vào kính chắn gió.
Decker trèo vào trong xe và kéo để đóng cánh cửa trượt của chiếc xe.
Người phụ nữ cho xe chạy đi khi Decker đã ngồi yên vị.
Khẩu súng dí vào thái dương bên phải không khiến anh quá đỗi ngạc nhiên. Nói cho đến cùng, để kéo được anh tới đây, bọn chúng có thể móc nối với bao nhiêu người đây cơ chứ? Anh ước đoán giỏi lắm là hai, và anh đã đúng.
Chiếc túi xách bị tước đi khỏi anh và ném qua khỏi cửa sau. Anh bị lục soát và anh dám chắc kẻ lục soát rất ngạc nhiên khi thấy Decker không mang vũ khí. Điện thoại của anh cũng bị lấy đi và cũng bị vứt ra khỏi cửa sau.
Gã đàn ông giật mạnh tay áo anh và ném một chiếc ái nỉ màu cam qua ghế, rơi xuống đùi Decker. Anh cầm nó lên. “Trông hơi nhỏ nhỉ.”
Không ai trong hai người đó nói gì.
“Giờ cô là Billy sao, Belinda?” Decker nói với người lái xe. “Hay đấy chỉ là một màn diễn kịch ở cửa hàng 7-Eleven đó.”
Anh nhìn theo khi bộ tóc giả bị tháo ra. Đôi mắt liếc nhìn anh qua kính chiếu hậu chính là đôi mắt anh đã nhìn vào khi ơe cửa hàng tiện lợi. Nhưng chúng rất khác đôi mắt anh nhớ đã từng nhìn thấy khi còn ở viện, cặp mắt từng là của cô bé thiếu niên đau khổ Belinda Wyatt. Có vẻ như cô gái đó đã vĩnh viễn biến mất trong đời.
Anh nói, “Ngụy trang tốt đấy, nhưng tôi đã ghi nhớ bàn tay của cô. Rất khó để làm chúng đổi khác, trừ phi cô đeo găng.”
Cô ta cứ nhìn anh chằm chằm, và trong đôi mắt đó Decker có thể nhìn thấy sự căm ghét tích tụ suốt hai mươi năm chuẩn bị tuôn trào.
Lên mình.
Decker cầm chiếc áo nỉ lên. “Làm ơn, cho tôi được riêng tư chút.”
Đôi mắt nhìn sang hướng khác.
Anh bắt đầu cởi đồ, việc đó khá khó khăn với một người quá to lớn trong một không gian nhỏ hẹp. Kẻ cầm khẩu súng đó lấy quần áo và giày của anh rồi ném chúng ra ngoài từ băng ghế sau. Decker chật vật chui vào chiếc áo, nhưng không thể kéo khóa ở phía trước lên vì bụng quá to.
Anh ngả phịch ra sau ghế và quay sang người đàn ông đang cầm khẩu súng và ngồi xổm ở băng ghế sau chiếc xe.
“Xin chào, Sebastian.”
Anh nhìn khẩu súng. Đó là một khẩu S&M cỡ nòng 11mm. Khẩu 11mm. Món vũ khí được dùng để sát hại vợ anh và một nửa những người ở trường Mansfield. Khẩu súng này là thứ cuối cùng mà vợ anh nhìn thấy trước khi mạng sống của cô chấm hết. Có lẽ nó đã được dùng để sát hại Giles Evers nữa, anh không dám chắc. Có lẽ một viên đạn nhanh gọn là không đủ cho tên cảnh sát đã hóa thành kẻ hiếp dâm đó. Nhưng rồi, nghĩ lại, anh quan tâm đến Giles Evers làm quái gì.
Leopold ghì họng súng sát hơn vào xương gò má của Decker.
“Tôi đã không biết gì về tình cảnh của cô, Belinda ạ,” Decker nói. “Khi tôi đứng dậy trong buổi trị liệu nhóm và nói là tôi muốn tham gia lực lượng thực thi pháp luật, rằng tôi muốn trở thành một cảnh sát. Tôi đã không biết rằng một tên cảnh sát xấu đã dụ dỗ cô thành nạn nhân của một vụ cưỡng hiếp tập thể và suýt chút nữa giết chết cô.”
Đôi mắt lại một lần nữa hướng vào anh, nhưng kẻ cầm lái không nói gì cả.
Tâm trí của Decker tua trở về cái ngày hôm đó ở viện nghiên cứu. Chính anh, nhưng trẻ hơn hai mươi tuổi, đứng giữa cả nhóm và tuyên bố rằng tham vọng của anh lúc này là gia nhập lực lượng thực thi pháp luật, trở thành một cảnh sát tốt. Rằng anh muốn bảo vệ người khác, bảo vệ họ khỏi bị hãm hại. Anh đã nhìn xung quanh tất cả mọi người, những người giống như anh, những người có bộ óc và tính cách mới, nhưng đôi khi hơi đáng sợ. Những lời anh nói được đáp lại bằng một số nụ cười ngưỡng mộ và một số khác thì hờ hững. Nhưng có một đôi mắt đã nhìn anh chòng chọc với biểu cảm gì đó hơn hẳn tất cả những người khác cộng lại. Giờ thì anh đã có thể hiểu rõ đối mắt ấy. Hiển nhiên, bộ óc hoàn hảo của anh vẫn có những khiếm khuyết, bởi vì kí ức này, mặc dù luôn luôn ở đó, song đã không gây ra được ấn tượng cho anh. Anh đã bỏ qua nó cho đến khi anh không còn bỏ qua nó nữa. Nó đã ào đến với anh khi anh ngồi xoa tấm phù hiệu cũ qua lớp túi ni lông ở đồn cảnh sát Burlington.
Thần đèn của mình. Ước mong của anh đã thành sự thật. Cái chết.
Phù hiệu bằng nhựa, anh đã nghĩ như thế ngay trước khi anh hiểu ra. Một cảnh sát bằng nhựa. Giả tạo. Không phải là một cảnh sát thật. Một tay cảnh sát đã làm cô tổn thương. Giles Evers.
Và từ những lời mà tôi nói, cô gộp tôi vào chung một loại với hắn. Và có lẽ tôi có thể hiểu được, bởi vì ngay vào chính khoảnh khắc đó ắt hẳn là khoảnh khắc cô dễ bị tổn thương nhất.
Anh nhớ lại đôi mắt đó, đó là đôi mắt sâu nhất, sửng sốt nhất mà anh từng nhìn thấy. Nhưng anh đã không nhận ra nó, bởi vì anh đã bận bồn chồn khi đứng trước những người xa lạ, nói về tương lai của mình.
Trí óc anh không tua về quá khứ nữa mà quay trở về với thực tại. Anh nói với Wyatt, “Đó là lí do cô chọn tôi, có phải không? ‘Người anh em’? Tình anh em trong đám cảnh sát. Tình anh em giữa những kẻ chơi bóng bầu dục, bởi vì tôi cũng là một cầu thủ? Tất cả mọi người ở Viện đều biết điều này. Nhưng cô không xem tôi là anh em của cô, mà xem là anh em của chúng. Của Giles Evers và đồng bọn của hắn phải không? Nhưng tôi tới đây để nói với cô là tôi không hề hay biết những gì đã xảy ra với cô. Nếu tôi biết, tôi sẽ không bao giờ nói những lời tôi từng nói. Tôi xin lỗi. Tôi đã muốn trở thành một cảnh sát bởi vì tôi muốn giúp đỡ mọi người. Chứ không phải để làm tổn thương người khác như Evers đã làm với cô.
Họ tiếp tục cho xe chạy. Không ai trong hai kẻ đó cất lời, và Decker bắt đầu tự hỏi là vì sao. Anh nghĩ anh sẽ cứ tiếp tục nói tiếp cho đến khi nhận được lời đáp trả nào đó. Có thể chúng đang lấy tinh thần để làm những gì mà chúng cần phải làm với anh. Nhưng rồi nghĩ lại thì, cặp đôi đó đã sát hại quá nhiều người, đến mức anh nghĩ chúng chẳng cần chuẩn bị gì trước khi găm viên đạn đó vào đầu anh.
“Tôi đã gặp Clyde Evers. Ông ta kể cho tôi ghe tất cả những gì đã xảy ra ở trường cấp ba ở Utah. Thế nên giờ tôi đã biết tại sao cô lại làm những việc đã làm ở trường Mansfield. Nhưng có lẽ cô còn muốn kể thêm gì đó chứ hả?” Anh nhìn cô ta với vẻ mong chờ.
Đôi mắt liếc nhìn thêm lần nữa. Nhưng chúng không nhìn anh. Chúng đang nhìn Leopold
Từ góc mắt, Decker nhìn thấy nòng súng nhấp nhô rất nhẹ. Khi bạn gật đầu, tay đôi lúc sẽ di chuyển theo cùng hướng. Vậy là Leopold là kẻ chỉ đạo ở đây. Có vẻ đúng là như thế. Và có lẽ rất hữu ích cho những gì Decker định làm khi tới đây.
Bởi vì không chỉ có mỗi hai kẻ này đang làm nhiệm vụ. Amos Decker cũng vậy. Anh tới đây không phải chỉ để chết, mặc dù đó là một khả năng rất có thể xảy ra.
Wyatt nói, “Tôi nghĩ bản thân câu chuyện đã giải thích hết tất cả rồi, chẳng phải sao?”
Giọng của cô ta trầm hơn cái hồi còn là nữ giới, và trầm hơn cả cái giọng lúc cô ta nói chuyện với anh dưới vai Billy, người lau sàn. Cách cô ta cố thể điều chỉnh giọng nói thật quá tài ba. Nhưng tông giọng chẳng lấy gì làm quan trọng nếu so sánh với những từ ngữ mà cô ta sử dụng. Cô ta không hề quan tâm. Không một biểu hiện tỏ ra ăn năn. Bên dưới đôi mắt đó chẳng có gì hết. Giờ cô ta đã ba mươi sáu tuổi. Và anh đoán cô ta chẳng có lấy một ngày bình thường dễ chịu nào suốt ba mươi năm sau này của cuộc đời. Không thể làm gì khác, nó chắc chắn sẽ thay đổi con người ta. Làm sao một người có thể tôn trọng hay cảm kích hay quan tâm tới cuộc đời và những con người trên đời này khi họ kinh tởm sự hiện diện của bạn trên cõi đời này chứ?
“Cô đã lấy mạng những người cưỡng hiếp cô rồi à? Ý của tôi là ngoài Giles Evers?”
“Ồ, làm thế thì hơi lộ liễu quá,” Wyatt nói. “Thế nên tôi đã lựa chọn cách làm mang tính hình tượng thay vì như bình thường.”
Decker cảm thấy mặt mình nóng đỏ trước những ngôn từ ác độc này. Vợ và con gái của anh đã bị hạ xuống còn là những tượng trưng trong một bộ óc lệch lạc đang cố tìm cách báo thù.
Decker cảm thấy hơi thở của Leopold trên má anh. Anh ngửi thấy mùi tỏi và mùi mật tiêu hóa, nhưng không thấy có mùi rượu. Vậy là tốt. Anh không muốn một thằng say rượu dí súng vào đầu anh đâu. Nhưng gã này cũng dùng thuốc. Không thể ngửi được mùi thuốc trong hơi thở của một người nào đó.
Anh không nhìn thấy được hình xăm hai con cá heo sinh đôi, bởi vì ống tay áo của Leopold đã che khuất nó. Nhưng hình xăm có ở đó, anh biết điều này. Nó là thật. Tất cả được hi đầy đủ trong hồ sơ của Leopold. Tất cả. Decker đã ghi nhớ từng chữ trong tập hồ sơ. Tội ác gây ra cho gia đình hắn. Từng chi tiết. Và hồ sơ liên quan đến Evers và vợ chồng Wyatt. Và cả khoản tiền mua chuộc từ Evers nữa. Và số tiền giờ đang ở đó. Và trang web “Công lý Bị Khước từ”. Đó là câu chuyện thú vị. Tất cả đều rất thú vị.
“Tôi đoán tôi có thể nhìn thấy cô đặt mình vào vị trí đó. Ý tôi là, những nạn nhân của trường Mansfield vô tội, nhưng với cô, ai mới thật sự là người vô tội đây, phải thế không? Chẳng ai hết.”
“Tôi biết anh không còn cảm thấy thương xót, cảm thông hay thấu cảm nữa,” Wyatt nói. “Bởi vì tôi cũng vậy. Thế nên đừng để ý nữa. Tôi không có ngu. Tôi giống y như anh.”
Giống cái quần què, Decker nghĩ trong đầu.
Anh nói, “Chúng tôi đã tìm được cha mẹ của cô. Giờ thì họ sẽ được chôn cất đàng hoàng. Không biét cô nghĩ sao về việc đó. Nhưng cô đã tỏ rõ quan điểm với họ rồi đấy. Bác sĩ pháp y nói họ đã ở đó rất lâu. Thế nên họ sẽ được chôn cất.”
Họng súng ghì sát hơn vào da thịt của Decker.
Decker nói tiếp, “Con gái của tôi sẽ chẳng bao giờ sống được tới tuổi của cô khi cô bị cưỡng hiếp. Thiếu khoảng chừng hơn sáu năm.”
"Sáu năm, một tháng và mười tám ngày,” Wyatt chỉnh lời anh. “Con bé chết trước sinh nhật mười tuổi. Hay, nói chính xác hơn nữa, tôi đã giết nó ba ngày trước sinh nhật lần thứ mười.”
Decker cảm thấy nỗi giận dữ trỗi dậy, đó là thứ anh không mong muốn nhất ngay lúc này
“Thật ra là ba ngày, bốn tiếng đồng hồ và mười một phút,” anh chỉnh lời cô ta.
Anh dán chặt ánh mắt vào Wyatt ở trong gương. Không rời mắt khỏi cô ta, anh nói, “Anh cũng là một người hyper à, Sebastian?”
“Không, anh ấy không,” Wyatt nói. “Chỉ có anh và tôi là những kẻ dị hợm mà thôi.”
“Cô không phải kẻ dị hợm. Tôi cũng không.”
“Ồ, thứ lỗi cho tôi, tôi không biết là anh có buồng trứng đấy. Tôi xin lỗi.”
“Cô biết ý của tôi là gì mà.”
“Cha và mẹ kính yêu thấy việc tôi bị hiếp là cơ hội để làm giàu. Anh biết ba tôi nói gì với tôi không?”
“Nói gì?” Decker nói. Anh đã không trông mong Wyatt sẽ trải lòng như thế này. Đặc biệt là sau mấy lời cộc lốc đầu tiên của cô ta. Nhưng giờ anh nhận ra là cô ta cần nói chuyện. Cô ta cần kể, cần dốc hết ruột gan. Trước khi cô ta giết anh. Tất cả đều nằm trong quy trình. Quy trình của cô ta.
Và cả của mình nữa.
“Ông ta nói đã tới lúc tôi đem điều gì đó tích cực đến cho cuộc đời của họ. Như thể việc tôi bị cưỡng hiếp là thứ gì đó tích cực trong đời họ. Ý của ông ta chính là thế. Và họ nhận tiền từ Clyde Evers và tự xây cho mình tòa lâu đài trên mây. Và họ chưa bao giờ cho phép tôi đặt chân vào nó. Đó là nhà của tôi, anh biết mà. Là tôi đã mua nó, không phải họ.”
“Tôi hiểu.”
“Hạ thậm chí còn chưa bao giờ nói với tôi là họ đã chuyển nhà. Họ gửi tôi tới một cơ sở phục hồi thần kinh. Một tuần sau khi tôi quay về, họ đã đi mất rồi. Chỉ còn lại một mình tôi tự thân vận động. Họ đã vứt bỏ tôi.”
“Họ rất độc ác, u muội và sai trái, Belinda ạ.”
Cô ta hướng ánh mắt đi chỗ khác khỏi tấm gương. “Ai quan tâm chứ? Giờ họ cũng đã chết rồi.”
“Tôi cũng đã chết. Không những một mà đến hai lần.”
Anh nhìn thấy đôi mắt đó lại lần nữa hướng vào anh trong gương.
“Trên sân bóng. Sau cú va chạm. Họ cứu sống tôi lại hai lần, có thể đáng lí ra họ không cần phải nhọc công như thế. Và rồi tôi sẽ không nói những gì tôi đã nói với cô, và tất cả những người đó sẽ vẫn được sống. Một mạng có thể cứu được tất cả những tính mạng khác. Nghe như sẽ là một thỏa thuận hời cho tôi.”
“Có thể đáng lẽ sẽ là như thế,” Wyatt nói. “Nhưng anh không có chết. Giống như tôi đã không chết. Tôi đã trèo ra khỏi cái xe rác đó. Có thể đáng lẽ ra tôi không nên như thế. Có khi đáng lí tôi cứ chết đi thì hơn.”
Giọng cô ta lạc đi khi nói câu cuối, và Decker không dám chắc, nhưng anh tự hỏi liệu việc đó có phải sẽ tạo thành nỗi ăn năn hay không, vậy chí ít tiệm cận nhất có thể cái cảm xúc đó mà Wyatt giờ đây có khả năng đạt tới.
“Tôi nhìn thấy những người thân của mình bị sát hại trong màu xanh lam,” Decker nói, tiếp tục thu hút được một ánh nhìn chăm chăm từ Wyatt. “Tôi biết cô không có cảm giác kèm. Thật kì cục khi nhìn thấy các thứ có màu sắc trong khi đáng lẽ chúng không hề có màu như thế. Đó là một trong những điều khiến tôi sợ phát khiếp khi tôi tỉnh dậy trong bệnh viện và phát hiện ra mình là một người khác.”
“Ồ, từ đầu tôi đã là hai người rồi,” Wyatt vặn lại. “Và sau khi chúng cưỡng hiếp và đánh đập tôi suýt chết, tôi đã trở thành một con người hoàn toàn khác. Thế nên có đến ba người. Khá chật chội trong một thân hình kích cỡ như tôi.” Không có một dấu hiệu bỡn cợt nào trong giọng nói của cô ta. Cô ta đang vô cùng nghiêm túc. Cô ta đúng là người mà Decker nghĩ.
“Cô chọn nam giới thay vì nữ giới? Tại sao thế?”
“Đàn ông là động vật săn mồi. Phụ nữ là con mồi của chúng. Tôi lựa chọn không bao giờ trở thành con mồi thêm một lần nào nữa. Tôi lựa chọn là kẻ săn mồi. Để làm được điều đó tôi cần có đầy đủ tinh hoàn và thật nhiều thật đầy hóc môn nam giới. Giờ tôi đã có được chúng, rồi trong đời tôi mọi sự đều ổn thòa cả.”
Decker đã ước đoán Leopold là kẻ chỉ huy, nhưng có lẽ là anh đã nhầm. Nếu là như vậy, mọi chuyện sắp diễn ra tiếp theo đây sẽ không quá có lợi cho anh. “Chúng ta đang đi đâu?”
“Đâu đó.”
Là Leopold. Decker đã tự hỏi chừng nào thì gã này sẽ khẳng định vai trò của mình. Có thể hắn muốn Decker biết rằng Wyatt không cầm trịch vụ này.
Tốt thôi, Sebastian. Cứ tiếp tục thế đi. Tôi cần anh giúp sức hỗ trợ cho tôi. Cho tới khi không cần nữa.
“Đâu đó thì được. Được hơn là chẳng đến đâu.”
“Tại sao anh lại ở đây?” Leopold hỏi. “Tại sao lại đến?”
“Nghĩ là tôi sẽ làm vậy thì mọi người đỡ mất công. Tôi biết hai người sẽ nhắm tới bất kì ai có liên quan tới tôi. Tôi không muốn có thêm ai nữa phải chết vì tôi. Tôi đã ngạc nhiên rằng với gia đình Lancaster thì hai người lại đưa ra lời cảnh báo.”
Anh liếc nhìn tấm gương và phát hiện ra Wyatt lại đang tiếp tục quan sát anh.
“Cô có chắc là cô không còn thấu cảm không?” Decker nói. “Đáng lẽ cô có thể giết họ.”
“Bọn họ không đáng để phải nhọc công.”
“Sandy mắc hội chứng Down, thế nhưng cô biết điều đó. Cô có đặt ra giới hại, không sát hại những đứa trẻ giống như thế không?”
Wyatt tập trung trở lại về phía con đường.
Leopold nói, “Vậy là anh tới đây, rất sẵn sàng chờ kết thúc mạng sống của mình sao?”
Quý ngài lúc này không úp mở nữa mà thể hiện là mình rất hay nói. Và cái cách nói chuyện trịnh trọng và có cái gì đó rườm rà là một dấu hiệu nữa cho thấy tiếng Anh không phải là ngôn ngữ mẹ đẻ của hắn.
“Một ngày nào đó, tất cả chúng ta rồi cũng phải chết.”
“Và ngày này năm sau sẽ là ngày giỗ của anh,” Leopold nói.
 
CHƯƠNG 63
 
Họ lái xe đi thêm hai tiếng nữa. Decker không biết anh đang ở đâu, và thật ra anh cũng chẳng quan tâm lắm. Sẽ chẳng có ai tới chi viện.
Cuối cùng chiếc xe van cũng rời khỏi đường chính, và Decker bị xóc lên xóc xuống khi chiếc xe băng qua một cái khoảnh đất gồ ghề nhưng rồi nó vẫn tiếp tục chạy tiếp.
Chiếc xe rẽ ngoặc sang trái và một lát sau thắng kít và dừng lại. Wyatt xuống xe và Leopold ra hiệu cho Decker làm theo. Đôi chân trần của anh chạm xuống nền đá sỏi lạnh ngắt, và anh nhăn mặt khi đá sắc cứa vào lòng bàn chân phải của anh.
Một bóng đèn ngoài trời đã cũ nằm trong cái lồng bằng kim loại đã hoen gỉ gắn trên cánh cửa mà họ đang đi tới. Decker nhìn ra được những dòng còn lại của một tấm biển hiệu đã phai màu, bong tróc từng được sơn màu đỏ trên bức tường gạch màu trắng.
Sửa ống nước Ace. Thành lập năm 1947.
Nó trông giống như những vảy máu vương trên lớp da tái nhợt của một xác chết.
Anh nhìn trái, nhìn phải và không thấy gì khác ngoài cây xanh. Một hàng rào mắt cáo đã xiêu vẹo rào quanh khu đất bị bỏ hoang.
Leopold thúc vào sau lưng anh khiến anh loạng choạng theo sau Wyatt đi vào trong căn nhà. Leopold đóng và chốt cửa sau khi họ đã vào trong.
Wyatt đang mặc quần jean và áo gió có nón. Bộ tóc giả tháo ra để lại mái tóc ngắn, vàng hoe và đã bị rụng nhiều. Khi giả làm Billy, Wyatt đã đội một bộ tóc giả khác để làm thay đổi đáng kể ngoại hình của y; tương tự khi đóng giả ả phục vụ bàn. Decker ước đoán Wyatt có thể bị hói trong vòng ba năm nữa.
Đấy là nếu y có thể sống thêm được vài năm nữa. Nếu bất kì ai trong ba người họ có thể.
Một bóng đèn lờ mờ chiếu sáng căn phòng. Bốn bề là bê tông, phần lớn là để thô, sàn nhà và tường lấm tấm những mảng bám dầu mỡ và các loại đất bẩn khác. Một cái giá bằng kim loại đã cũ, ọp ẹp đặt ở góc xa và trên đó để một vài cái đầu nối ống nước. Một cái bàn gỗ cùng một chiếc ghế nhét gọn trong gầm bàn được đặt gần cửa của một căn phòng khác. Phía sau cái bàn là một tủ đựng tài liệu. Một vài cái hòm gỗ được chất áp sát vào một bên tường. Các cửa sổ bị chốt chặt và sơn đen.
Wyatt kéo chiếc ghế ra và lôi nó đi ngang sang phía bên kia căn phòng. Nó nảy lên nảy xuống như điên trên sàn nhà bê tông nhấp nhô.
Leopold ra hiệu bằng khẩu súng lệnh cho Decker ngồi xuống.
Anh làm theo. Wyatt lấy băng dính và quấn nó xung quanh Decker lẫn chiếc ghế cho tới khi cả hai dính vào làm một. Rồi sau đó Wyatt lôi một cái thùng lớn ở dưới gầm bàn ra, mang nó lại và úp ngược nó. Rơi từ trong thùng ra và vang lên leng keng khi chạm xuống sàn là tất cả những chiếc cúp bị lấy đi từ trường Mansfield. Tất cả đều có tên Amos Decker ở trên.
Wyatt nhặt một cái lên và nhìn nó. “Cầu thủ bóng bầu dục và cảnh sát, những người tôi ưa thích.” Hắn thả rơi chiếc cúp.
Hai kẻ đó kéo lấy hai trong số những chiếc hòm cũ và ngồi lên đó, rồi nhìn chăm chăm vào Decker.
Decker cũng nhìn lại, quan sát cả hai kẻ đó, từng chi tiết một. Anh dám chắc Wyatt cũng đang làm điều tương tự với mình.
Wyatt nhìn không còn đặc điểm gì giống với cô gái vị thành niên mà Decker từng thấy hồi còn ở viện. Thời gian hai mươi năm trôi đi đã bào mòn đi hết những đường nét của cô ta, để lại cho cô ta dáng vẻ lúc nào cũng đói ăn, hốc hác. Răng của cô ta lởm chởm và độc địa. Quanh bờ môi của cô ta chẳng có những đường nét của nụ cười. Wyatt phải nở nụ cười vì cái gì cơ chứ? Từng có gì khiến cô ta cười đây? Đôi lông mày dài có những đường nét lo lắng mà từ hồi còn ở Viện đã có.
Decker liếc nhìn sang Leopold. Hắn đã sửa soạn một chút kể từ lần cuối họ gặp mặt ở quán bar. Tóc của hắn đã được chải chuốt và quần áo trong có vẻ sạch sẽ.
“Hai người có thể trả lời vài câu hỏi bấy lâu vẫn đang làm tôi không yên được chứ?” Decker hỏi. Khi không ai phản ứng gì, anh nói, “Ông già và bà già mà mọi người trông thấy đi qua đi lại trong khu nhà tôi và sau đó đến khu nhà Lancaster. Đó có phải là hai người không?”
Wyatt đứng đậy, trùm nón lên đầu, cong người, giả vờ như đang cầm một cây gậy chống, và chậm chạp bước đi dọc căn phòng. Bằng một giọng đóng giả người già chuẩn mực, Wyatt nói, “Cậu giúp ta tìm chú chó nhỏ Jasper được không? Nó là tất cả những gì còn lại trong đời ta.”
Cô ta kéo nón xuống và đứng thẳng người lên.
“Tôi có thể đánh lừa bất cứ ai,” Wyatt nói, nhìn chằm chằm vào anh. “Biến thành bất kì người nào mà tôi muốn.”
“Ừ, đúng là có thể,” Decker nói.
Anh tự hỏi có phải Wyatt vẫn luôn luôn có khả năng biến đổi như thế hay không? Bị mắc kẹt giữa hai giới tính, mỗi chân đặt ở mỗi bên mà chẳng xác định được danh tính của mình là ở bên nào, ở trong trạng thái không rõ ràng đó đã từ lâu. Vô tư lự, thiển cận, vô hại. Đúng như cô ta nói, cô ta có thể diễn bất kì vai nào.
Ừm, chỉ trừ một vai. Bản thân cô ta.
Anh tưởng tượng Wyatt bước đi dọc các hành lang của trường Mansfield cùng những đồ độn khiến y trông cao hơn và to lớn hơn nhiều. Gã đàn ông mảnh khảnh - nguyên là một người phụ nữ - biến thành một gã khổng lồ mang theo súng, tàn sát mọi người như thể họ là lũ sâu bọ trong đám cỏ. Gã đàn ông là thú săn mồi. Gã đàn ông không bao giờ có thể bị một gã đàn ông khác làm tổn thương. Như một người phụ nữ có thể bị.
“Tại sao lại ở trong kho lạnh qua đêm? Tại sao không đi vào từ phía căn cứ và gặp Debbie trong lớp học nghề?”
“Bởi vì đêm hôm đó Debbie ở cùng tôi trong kho lạnh,” Wyatt nói. “Con bé lẻn ra khỏi nhà. Bọn tôi làm chuyện ấy ngay lúc đó, ngay tại đó. Lần đầu tiên.” Hắn cười nham nhở, nhưng trong ánh mắt thì không có ánh cười nào. “Con bé cho rằng như thế thật quá tuyệt vời! Quan hệ trong kho lạnh. Trong bóng tối. Nó khiến tôi nhớ lại hồi ức, anh thấy đấy. Tôi bị cưỡng hiếp tập thể trong căn tin trường học. Nhưng giờ tôi là đứa con trai làm việc đó với đứa con gái. Rồi sau đó con bé rời đi. Và tới buổi sáng, tôi dùng đường hầm để tới đầu kia của ngôi trường.”
“Và con bé biết bao nhiêu phần của kế hoạch?” Decker nói. “Chúng tôi tìm được bức tranh vẽ cậu trong bộ quần áo rằn ri.”
“Thi thoảng tôi mặc nó khi chúng tôi ở bên nhau. Tôi nói với nó tôi là cựu binh. Và giờ tôi là tình báo quân đội. Con bé nghĩ thế thật là ngầu. Tôi nói với nó tôi ở đây để điều tra về một tổ chức có thể là khủng bố, và rằng con bé có thể giúp sức. Và tất nhiên tôi dụ dỗ được nó. Chẳng có gì khó. Nó không hề biết gì về kế hoạch thực sự. Nó chỉ nghĩ là chúng tôi sẽ làm việc đó trong lớp học nghề ngay trước mũi tất cả mọi người. Là tôi đề nghị, tất nhiên. Buộc phải làm như thế.”
“Và làm sao cậu phát hiện ra có thể nó biết gì đó về đường hầm?”
“Nhiều năm trước tôi đọc một bài báo về những hầm trú bom được xây bên dưới các trường học. Căn cứ quân sự nằm ngay bên cạnh trường, nên tôi dự đoán ở trường có thể có một nơi như thế, và có lhi còn xây hầm tốt hơn. Thế là tôi thăm dò cái căn cứ cũ đó. Quá dễ để vào trong. Trong ngăn bàn ở một căn phòng nọ, tôi tìm được bảng phân ca có tên các nhân viên trên đó. Tên của Simom Watson ở trên đó. Nó ghi ông ta là kĩ sư. Sebastian và tôi tìm hiểu sâu thêm một chút và phát hiện ra ông già từng sống với vợ chồng Watson và rằng Debbie học ở trường Mansfield. Một ngày nọ, tôi ‘tình cờ gặp gỡ’ Debbie. Mất ít thời gian, và tôi cứ từ từ kể câu chuyện ‘tình báo tay trong của mình’, mãi mới gợi được chuyện về cụ cùa con bé và những điều ông ta từng kể cho nó về căn cứ. Con bé biết về đường hầm và biết chung chung về đường đi của nó. Và nó cũng biết đường hầm nối sang căn cứ, nó chỉ không biết chính xác là ở đâu. Nhưng thế là đã đủ những gì bọn tôi cần. Bọn tôi bắt đầu từ căn cứ và tìm đường đi sang trường. Tất cả đã sáng tỏ. Và vì con bé tin rằng tôi tới đây để làm nhiệm vụ bí mật, thế nên nó hiểu vì sao không ai được biết về ‘chúng tôi’. Nó giữ bí mật. Thực sự thì con bé rất hữu dụng.”
“Cô bé gọi cậu là Jesus, cậu biết đấy. Cậu là điều tích cực duy nhất trong cuộc đời của cô bé. Dường như nó yêu cậu rất nhiều. Mãi cho tới giây phút cậu nổ súng bắn vỡ sọ con bé. Jesus.”
Wyatt không nói gì đáp lại.
Decker liếc nhìn sang Leopold. “Anh làm nên bộ đồ cậu ta mặc ở trường à?”
“Bọn tôi làm cùng nhau. Bọn tôi làm mọi thứ cùng nhau.”
“Và anh tìm ra những cầu thủ trong đội bóng và lớp học của họ?”
“Lại là Debbie. Tôi nói với con bé có thể tôi sẽ thuê một vài trong số đó nếu cần giúp sức tại chỗ. Lí do đó thật ngu xuẩn, nhưng con bé tin bất kì điều gì.”
“Còn ‘Công lí Bị Khước từ’ thì sao? Các người bỏ lại tờ báo trong đống rác ở nhà Evers ở Utah. Thế tôi đoán là các người muốn chúng tôi biết về nó. Đó là cách mà tôi có thể liên hệ với các người.”
“Tôi không đơn độc,” Wyatt nói. Decker liếc nhìn cô ta.
“Không đơn độc sao?”
“Có rất nhiều những người khác giống như tôi. Những người giống như tôi cũng có thể đòi được công lý chứ.”
Decker gật đầu. “Giờ tên của cô là gì? Hay cô muốn tôi chỉ gọi cô là Wyatt thôi?”
“Anh có thể gọi tôi là Belinda. Anh quen tôi từ hồi đó. Không phải là từ bây giờ. Mà dù sao, cũng không còn lâu nữa đâu.”
“Được rồi, Belinda. Và Leopold đã giới thiệu cô tới trang ‘Công lý Bị Khước từ’?”
Wyatt lúc này trông bất ngờ. “Sao anh biết chuyện đó?”
“Ồ, đầu tiên đó là một trang web có địa chỉ ở nước ngoài. Và Leopold là người Áo. Gia đình anh ta bị sát hại. Thật ra anh ta là người khởi xướng trang web. Một vài cách dùng từ trên trang đó cho thấy tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ của người sáng lập ra trang.”
Wyatt và Leopold nhìn nhau.
Decker nhích người một chút trên ghế. “Các người biết đấy, đáng lẽ sẽ dễ dàng hơn nếu hai người chỉ giết mình tôi thôi,” anh nói. “Và để cho gia đình tôi được yên.”
“Không một ai để cho tôi yên hết,” Wyatt nói. “Không một ai.” Hắn rút con dao từ trong túi ra và giơ nó lên. “Tôi đã dùng cái này để giết Giles Evers. Một hôm nào đó cha của hắn sẽ nhận được bưu kiện gửi đến.”
“Hắn ta mất tích đã lâu rồi. Các người đã làm gì với hắn suốt thời gian qua vậy?”
“Các thứ,” Wyatt nói. “Chỉ làm các thứ thôi.” Hắn trông như muốn nở một nụ cười mỉm, nhưng dường như hắn không thể làm được.
“Tôi không nghĩ Clyde ưa thằng con của mình cho lắm. Giles kiểu như đã hủy hoại cuộc đời của ông ta.”
Wyatt đứng dậy, đi sang phía bên kia căn phòng và cắm con dao vào đùi Decker.
Decker hét lên. Khi Wyatt xoay lưỡi dal, anh tiếp tục kêu gào và vặn vẹo người trên ghế, cố để thoát ra. Cuối cùng Wyatt rút nó ra, và Decker đổ nhào ra trước và nôn thốc trước hành động bất thình lình đó.
“Tôi không cắm vào động mạch đùi đâu,” Wyatt bình thản nói, ngồi trở lại xuống cái hòm gỗ. “Tôi biết vị trí của nó. Tin tôi đi. Tôi đọc rất nhiều sách y khoa. Và sách về ướp xác,” Wyatt nói thêm. Hắn gõ gõ tay lên thái dương. “Và như anh biết, chúng ta không bao giờ quên. Bất cứ điều gì.”
Leopold nói, “Và anh không ngất nhanh đến thế đâu.”
Hắn dán băng dính vào vết thương, mặc dù máu vẫn tiếp tục phì bong bóng ra quanh mép miếng băng dính.
Mặt xám ngoét, Decker ngẩng đầu lên.
Wyatt đang nhìn anh chằm chằm. “Vậy là anh nghĩ cái cuộc đời khốn kiếp của lão ta bị hủy hoại sao? Đó thật là điều mà anh nghĩ sao?”
“Không nhiều bằng cô, tất nhiên là không,” Decker thở gấp, nhổ những cặn nôn trong miệng ra. Mọi chuyện lúc này đã leo thang rồi. Anh không thể để phạm thêm sai lầm nào nữa. Anh nhìn Leopold. “Anh đã giúp bao nhiêu người như Belinda tìm được công lý.”
“Quá ít.”
Decker phân chia bộ óc của mình ra làm nhiều phần, để tạm xua đi ảnh hưởng từ cơn đau, chỉ cần vài phút thôi. Anh cần suy nghĩ thật sáng suốt. Anh cần phải nói được những gì anh cần nói. Nếu không, mọi chuyện sẽ chấm dứt.
“Tốt lành biết bao khi anh đang ngồi tù lúc các vụ giết người xảy ra. Vụ thảm sát gia đình tôi và ở trường cấp ba. Thẩm phán phải thả anh bởi vì anh có bằng chứng ngoại phạm chắc hơn bàn thạch.”
Leopold nói, “Bạn của tôi đây muốn có vinh dự ra tay. Còn gì đúng hơn.”
“Thế là, trái với những gì anh đã nói, các người không hề làm mọi thứ cùng nhau. Không cùng nhau thực hiện tội ác tại hiện trường. Bọn tôi có bằng chứng chống lại Belinda, bằng chứng hữu hình, nhưng chẳng có gì buộc tội anh cà.”
“Các người chẳng có gì chống lại tôi hết,” Belinda gay gắt nói.
“Cha mẹ của cô bị sát hại. Bác sĩ chăm sóc cho cô hồi ở Viện bị sát hại. Tôi hiểu vì sao cô lại giết anh ta. Anh ta lợi dụng cô. Một người nữa đáng lẽ phải bảo vệ cô nhưng lại làm tổn thương cô. Và cô để lại chữ viết tay của mình ở nhiều nơi. Và chúng tôi lấy được dấu vân tay của cô trên thùng nước lau nhà ở cửa hàng 7-Eleven. Và một dấu nữa trong nhà vệ sinh ở quán bar nơi cô làm bồi bàn.” Hầu hết những điều này là nói dối, nhưng chẳng quan trọng. Anh nhìn sang Leopold. “Nhưng không có gì của anh này cả. Giống như anh ta nói, cô muốn có vinh dự ra tay còn anh ta thì an toàn nấp ở phía sau.”
Leopold đứng dậy và nhìn Wyatt chằm chằm. “Tôi nghĩ đến lúc kết thúc chuyện này rồi.”
Decker vội nói, “Clyde Evers trả cho cha mẹ cô sáu triệu USD để giữ im lặng về những gì con trai của ông ta đã làm với cô. Căn nhà ở Colorado trị giá 1,8 triệu USD. Họ không sửa sang gì thêm. Chúng tôi đã kiểm tra hồ sơ tài chính của họ. Tốc độ chi tiêu của họ chỉ chiếm khoảng 20% số tiền được tạo ra nhờ đầu tư. Phần còn lại tích lũy theo thời gian. Chứng khoán lên giá. Vào thời điểm cô sát hại họ, họ đã có hơn 10 triệu USD tài sản thanh khoản. Nhưng đã có ai đó sử dụng mã ủy quyền để bắt đầu rút tiền. Khoảng 1 triệu một tháng và tổng cộng đã rút trong suốt chín tháng vừa qua. Tính đến giờ gần như toàn bộ số tiền đã bị rút sạch. Cô đã hiểu ra chưa hả Belinda?”
“Đó là tiền mua chuộc để cha mẹ tôi giữ im lặng. Và họ nói với tôi rằng nếu dám hé răng nữa lời, họ chắc chắn sẽ cho cả thế giới biết tôi là một đứa dị hợm. Họ… họ đã chụp ảnh phần dưới của tôi. Họ nói rằng họ sẽ gửi bức hình cho báo giới. Thế nên không, tôi không lấy số tiền đó. Tôi không muốn thứ… thứ tiền đánh đổi bằng xương máu đó. Xương máu của tôi!”
“Vậy thì tôi tự hỏi số tiền đó đã đi đâu? Có lẽ anh bạn của cô ở đây biết đấy.”
Ánh mắt của Wyatt phóng sang Leopold và rồi sau đó hướng trở lại về phía Decker.
“Tôi không biết anh đang nói về cái gì,” Wyatt nói một cách máy móc.
“Dường như Leopold đã giúp đỡ rất nhiều người qua ‘Công lý Bị Khước từ.’ Và sẽ có hai điều xảy ra với những người được anh ta giúp. Một là bất luận họ có bao nhiêu tiền, tiền sẽ biến mất. Hai là, người bạn mà anh ta giúp kết cục sẽ là mất mạng.”
Decker không biết liệu có đúng là thế không, nhưng anh nghi ngờ là thế. Dòng tiền từ tài khoản của vợ chồng Wyatt chắc chắn phải đổ đi đâu đó. Và anh đồ rằng Leopold sẽ chẳng muốn “người thừa kế” còn sống để rồi phát hiện ra. Khi anh nhìn Leopold, biểu cảm trên gương mặt gã ta nói cho anh biết anh đã đúng.
Decker nói, “Và anh ta có kể cho cô nghe rằng gia đình của anh ta đã bị sát hại không? Vợ và con gái?”
“Họ bị sát hại,” Wyatt nói.
“Đúng thế.”
“Cảnh sát làm.”
“Không, không phải cảnh sát. Là hắn đã giết họ.”
Decker nghe thấy tiếng cò súng kéo ra sau.
“Đồ dối trá. Anh đang nói dối!” Wyatt gào lên.
Giận dữ, mất kiểm soát, thế là tốt đấy. Càng chứng minh điều mình nói.
Decker chậm rãi lắc đầu. “Tôi đã đọc hồ sơ. Tôi đã nhìn ảnh chụp các thi thể. Cả hai người họ bị siết cổ đến chết. Bị treo cổ. Và ở khe gáy nơi dấu hằn của sợi dây lấy đi tính mạng họ người ta phát hiện ra một dấu vết rất bất thường. Dấu vết gần như giống hệt nhau trên cả hai người. Cảnh sát Áo không biết đó là gì. Họ bị đánh lừa bởi hung thủ đã đỡ các nạn nhân xuống và lấy sợi thừng đi. Họ bị đánh lừa bởi vì họ chưa bao giờ nghi ngờ Leopold. Gã may mắn này lại có thêm một bằng chứng ngoại phạm vững chắc nữa nhờ một vài người anh em thề thốt rằng vào thời điểm đó hắn đang ở Đức. Nếu họ nghi ngờ Leopold và tìm hiểu sâu hơn một chút, có lẽ họ đã tìm ra sự thật đằng sau dấu vết đó.”
Decker cảm nhận được họng súng lại ghì sát lên đầu anh.
Leopold nói, “Mày nói mày đã chết hai lần hả? Thế thì, người ta vẫn nói quá tam ba bận.”
Decker tiếp tục nói. “Tôi đã từng nhìn thấy dấu vết đó. Nó nằm trong một cuốn sách mà tôi từng đọc, và tất nhiên, tôi không bao giờ quên nội dung, bởi vì chúng ta không thể quên bất kì điều gì mà, phải không Belinda? Như cô đã nói ấy.” Anh dừng lại và quan sát cô ta. Khi cô ta dường như định nói gì đó, anh nghiêm túc nói tiếp, “Nó được gọi là nút thắt constrictor đôi. Nó giống như một nút thắt thuyền chài nhưng bên dưới hai vòng dây sẽ thắt thêm một nút chịu đơn nữa. Thật ra tôi đã thử tập buộc nút này trên chuyến bay từ Utah về. Tôi phát hiện ra một khi nút đã thắt muốn tháo ra gần như là không thể. Trên thực tế đó là một trong những cách thắt dây hiệu quả nhất trên thế giới. Được phát minh muộn nhất là từ những năm 1860. Nó còn được gọi là nút thắt của pháo thủ.” Anh liếc nhìn sang Leopold. “Mọi thủy thủ giỏi đều biết cách thắt loại nút đó. Và trước khi anh bạn đây của cô làm việc trên tàu ngầm, anh ta lớn lên cùng sóng biển với cha mình, một ngư dân làm việc trên biển Adriatic sáu tháng mỗi năm.” Anh nhìn Wyatt. “Tôi có thể nói tiếp. Cô biết đấy, tất cả đều nằm trong đầu của tôi. Mọi thông tin, mọi chi tiết.”
“Tàu ngầm cơ đấy?” Leopold nói với giọng khinh khỉnh. “Áo làm gì có hải quân”
“Không có, nhưng Nga thì có. Đó là nơi mà anh đã chuyển tới sống khi mười chín tuổi. Anh bị đuổi khỏi hải quân Nga vì ăn trộm đồ của đồng đội. Tôi đã mất rất nhiều thời gian để xác định được giọng nói của anh. Bởi vì đó là một giọng pha tạp của giọng Áo và giọng Nga lẫn bên dưới giọng Anh.” Anh liếc xéo nhìn Leopold. “Mà ngon, phải không quý ngài Leopold? Anh đã nói như thế lúc ở quán bar. Và anh vừa mới lặp lại một phút trước. Có lẽ anh thậm chí còn không nhận ra?”
Leopold dùng khẩu súng đập vào cạnh bên đầu của anh.
Decker gục ra trước.
Giờ thì cả chân và đầu của anh đang đau dữ dội. Khả năng chịu đau của anh tốt hơn hầu hết mọi người. Sẽ không thể chơi bóng bầu dục lâu như anh nếu không có khả năng chịu đau. Nhưng một viên đạn găm vào đầu thì sẽ không đau. Anh sẽ chết ngay.
Anh ngước mắt nhìn Wyatt, lúc này đang nhìn Leopold. Decker không thể nhìn thấy gương mặt của Leopold, nên anh không biết hắn đang nhìn gì. Nhưng giờ khẩu súng đang ghì lên thái dương của anh.
“Cô nhìn thấy cái u trên cổ anh ta chứ, Belinda? Tôi nghĩ gã này đang ở giai đoạn cuối rồi, và chẳng quan tâm chó gì đến những việc hắn làm đâu. Và hắn còn là một con nghiện nữa. Và cần tiền cho việc đó. Và tôi nghĩ hắn là một kẻ lừa đảo thích tìm đến những người đang trong tình cảnh tuyệt vọng và làm cho họ rối trí. Và nếu hắn có thể kiếm được cả triệu đô trong quá trình đó, như hắn đã làm với cô, thế lại càng tuyệt vời hơn nhiều.”
“Sebastian?” Wyatt yếu ớt nói.
Đó không phải là điều Decker muốn nghe. Như thế là chuyện sẽ không thành.
“Nó đang nói những thứ bịa đặt,” Leopold nói.
Và cái này cũng sẽ khiến chuyện không thành.
Decker quát lên, “Là cô đã sát hại tất cả những người đó, Belinda ạ. Nhưng giữa đó có cách quãng. Gần hai mươi năm trôi qua và rồi sau đó cô bắt có Giles Evers. Rồi cô tới và sát hại gia đình tôi. Tiếp đến là ai? Cha mẹ cô à? Hay Chris Sizemore? Rồi lại cách một quãng. Sau đó đến Mansfield. Và sau đó đến Nora Lafferty.”
“Và giờ đến mày,” Leopold gầm gừ.
“Tại sao lại phải cách quãng hả Belinda? Tại sao lại lùng tới tôi sau hai mươi năm? Đó có phải là bởi hắn không? Có phải là bởi gã này không? ‘Công lý Bị Khước từ’ ư? Đó có phải là lí do mà ngần ấy thời gian đã trôi đi trước khi cô bắt đầu giết người? Từ thời điểm tôi nói điều đó hai mươi năm trước, tôi biết cô nhớ là tôi muốn trở thành một cảnh sát. Tôi nhớ lại vẻ bàng hoàng trên gương mặt cô lúc đó, cảm giác đau đớn mà cô cảm nhận được. Nhưng cô đã không làm gì cả. Suốt ngần đó thời gian. Cho tới khi cô gặp phải gã này. Và cô kể cho hắn. Và cô kể cho hắn về khoản tiền chuộc mà cha mẹ cô nhận được. Và hắn nhìn thấy cơ hội. Và hắn bóp méo những gì tôi nói trong tâm trí cô, và biến nó thành nỗi ám ảnh tuyệt đối trong đầu cô, một mối thù truyền kiếp mà cô toàn tâm toàn ý bám theo. Việc duy nhất cô có thể làm là theo đuổi nó đến cùng. Thứ duy nhất trong đời mà cô quan tâm bởi nếu không vì nó cô sống chẳng để làm gì.”
“Tại sao tao phải làm thế?” Leopold nói. “Đây là cuộc trả thù của cô ấy, không phải của tao. Cô ấy phải theo đuổi nó. Là cô ấy tìm đến tao!”
“Vậy ra ý tưởng biến mình trông như một gã to lớn và xả súng, càn quét sạch lũ trẻ con không có khả năng phản kháng đó là của cô ấy sao.” Anh nhìn sang Wyatt. “Nói tôi nghe, có phải đó là điều cô muốn không hả Belinda? Dụ dỗ một cô gái trẻ mỏng manh như Debbie Watson và rồi bắn vỡ sọ cô bé? Là cô nghĩ ra sẽ làm thế à? Cô bé gần bằng tuổi của cô khi cô bị cưỡng hiếp. Cô bé chỉ là một đứa trẻ sợ hãi sống trong một gia đình không bình yên. Giống như cô đã từng! Cô bé ấy muốn có một cuộc sống tốt hơn. Và cô đã dụ dỗ cô bé. Khiến cô bé ấy yêu cô lớn đến mức gọi cô là Jesus, đấng cứu tinh của cô bé. Và rồi sau đó cứ thế là sát hại cô bé sao? Như thể cô bé đó chẳng là gì? Như thể cô bé không có nghĩa lý gì? Chẳng có nghĩa lý gì giống như cô? Như khi những người cô nghĩ sẽ bảo vệ cô nhưng chỉ làm điều trái ngược? Đó có phải là suy nghĩ của cô về báo thù không, Belinda? Bởi vì tôi không tin là phải. Đó không phải là cô. Tôi không quan tâm cô đã thay đổi đến đâu. Nhưng cô không thay đổi nhiều đến như vậy đâu.”
Wyatt không nói gì cả. Nhưng Decker cho đó là một dấu hiệu tích cực khi Wyatt không nhìn anh. Cô ta đang nhìn chằm chằm vào Leopold.
Cô ta đứng dậy từ chỗ cái hòm gỗ. “Là anh đã lấy tiền của bố mẹ tôi sao?”
“Sao tôi lại làm thế? Cô có nhìn thấy tôi có nhiều tiền không?”
Decker sẽ không để mất kiểm soát tình hình. Anh nói to, “Hắn làm thế chỉ để thỏa mãn thôi, Belinda ạ. Hắn thích thao túng người khác. Chắc hẳn hắn yêu thích vô cùng những gì cô đã làm ở trường. Nó đã được biên đạo, như một vở kịch. Và có thể hắn đã gửi hết số tiền ấy vào một ngân hàng ở đâu đó. Nhưng là hắn đã sát hại gia đình mình, vậy hì làm sao hắn đòi được ‘Công lý Bị Khước Từ’ kia chứ? Thứ công lý bị khước từ duy nhất đối với Leopold đó là hắn thoát tội dù đã sát hại gia đình mình.”
Wyatt nói, “Có thật là như thế?”
Decker đã kì vọng hắn sẽ tiếp tục phủ nhận. Nhưng không.
“Đúng,” Leopold nói dứt khoát. “Cô có thấy khá hơn không?”
Hắn xoay khẩu súng ra khỏi đầu của Decker. Vào cùng chính vào khoảnh khắc đó, Decker, bằng hết sức lực có thể của bên chân còn lành, mang theo cả chiếc ghế đi cùng, đổ nghiêng sang bên.
Súng nổ.
 
CHƯƠNG 64
 
Decker phóng thẳng đầu vào Leopold, cuối cùng cũng hoàn thành cú cản phá mà hai thập kỉ trước anh đã không làm được trên sân đấu sau cú giao bóng. Cảm giác thật tuyệt.
Leopold đổ nghiêng người ngã xuống với một cú chạm đất sấm sét. Decker không rõ gã đó, trong đời mình, đã bao giờ bị va đập mạnh đến thế hay chưa. Những người chỉ bình yên ngồi xem thi đấu bóng bầu dục chuyên nghiệp trên những khán đài hoặc trước màn hình TV sẽ không bao giờ có thể hình dung được sức mạnh hủy diệt khi những người đàn ông to lớn va vào những người đàn ông to lớn khác ở một tốc độ cao. Nó giống như gặp phải tai nạn ô tô hết lần này đến lần khác. Không chỉ đơn thuần là bị thương; người ta sẽ bị choáng váng. Nó làm thân thể bị sốc theo rất nhiều cách khiến cho từ đó về sau, người ta không bao giờ có thể là mình của ngày trước được nữa. Nó dồn xương, cơ, dây chằng và bộ não tới những nơi mà chúng không hề định tới. Chẳng lấy gì làm lạ khi rất nhiều người từng chơi môn này giờ đây đang phải chịu đựng những di chứng lâu dài làm sức khỏe yếu đi từ việc tạo ra thú tiêu khiển cho hàng triệu người và kiếm được những khoản tiền lớn từ việc đó.
Decker đáp đè thẳng lên người Leopold, toàn bộ sức nặng của anh đè lên một gã nhỏ con hơn rất nhiều với cân nặng chỉ bằng nửa anh. Một vài giây sau, Decker ngửi thấy mùi thối. Anh đã va vào Leopold quá mạnh khiến cho ruột của gã xả tháo dù không có chủ ý.
Leopold đạp anh. Rồi hắn cố giương khẩu súng lên để bắn anh, nhưng Decker, giống như lúc ghì kẹp Bogart, dùng sức nặng của mình đè chặt lên người gã và cảm nhận thấy gã không còn thở được nữa. Bờ vai rộng và nặng của anh ép chặt cánh tay phải của Leopold, buộc nó phải giữ nguyên tư thế duỗi thẳng.
Leopold đang cố gắng hết mức có thể để xoay khẩu súng hướng trở lại vào Decker để hắn có thể nổ súng, nhưng hắn không thể nào đổi góc bắn. Nòng súng chĩa theo hướng đó, ngón tay của hắn không thể với tới cò. Món vũ khí trở nên vô dụng. Điều đó có nghĩa là chỉ có sức người đấu với sức người. Và với sự chênh lệch về kích thước, sẽ chỉ có thể có duy nhất một kết quả.
Leopold có vẻ hiểu điều này, bởi vì hắn thúc đầu gối vào vết thương của Decker. Decker gào lên vì đau đớn. Nhưng anh nhắm chặt mắt và nghiến chặt răng, từng chút từng chút, cố gắng duỗi thẳng hai chân khỏi cái tư thế ngồi mà anh đang bị băng dính quấn chặt vào ghế. Anh cảm nhận được băng dính nhão ra, mặc dù chưa đứt hẳn. Decker cứ từng phân từng phân một đẩy và kéo và đẩy thêm một chút nữa cho đến lúc sau cùng khi anh vươn được thẳng người và toàn bộ cái sức nặng trên một trăm năm mươi cân của anh đè trực tiếp lên gã đàn ông nhỏ con hơn anh nhiều lần.
Hơi thở của Leopold lúc này bắt đầu hổn hển. Cơ thể cùa hắn lảo đảo nhổng lên, cố gắng đẩy Decker ra. Nhưng cứ như thể có một con voi đang đè lên ngực hắn.
Và rồi sau đó Decker bắt đầu làm một việc mà anh không hề làm với Bogart, bởi vì anh chưa bao giờ có ý định lấy mạng cùa vị đặc vụ FBI đó. Anh cực kì có ý muốn chấm dứt mạng sống của gã đàn ông này. Nếu không có đống băng dính vải giữ lại, có lẽ anh đã giết chết được Leopold. Nhưng anh vẫn sẽ lấy mạng hắn, anh chỉ cần kiên nhẫn chút là được.
Thế là anh bắt đầu nhích vai phải của mình sang một hướng mới, nhích từng chút một, trong khi vai còn lại và cánh tay để phía trên vẫn tiếp tục ghì cánh tay cầm súng, để về cơ bản, khiến đối thủ của mình tay không tấc súng.
Khẩu Smith anh Wesson sẽ không thể giết được người nữa.
Leopold tiếp tục đạp và đẩy và oằn người, nhưng không gian cho hắn cử động giờ đây vô cùng hạn chế và ngày một thu hẹp nhiều hơn. Decker nhắm mắt nhưng nước mắt bắt đầu lăn xuống gương mặt anh vì đau. Mật đã trào lên cổ họng anh và anh nôn vào người Leopold.
Gã nhỏ con nôn khan, nhổ nước miếng và chửi thề và ráng sức thoát ra. Hắn biết hắn sắp hết thời gian rồi, nên hắn sẽ không chịu ra đi mà không chống cự.
Decker đang đau đớn khủng khiếp; vết thương lại đang tuôn máu trở lại. Anh cảm thấy sức lực bắt đầu cạn kiệt vì mất máu. Nhưng thật sự thì anh không cần nhiều sức mạnh cho lắm. Anh chỉ cần toàn bộ sức nặng của mình tập trung vào một điểm cụ thể mà thôi. Thế nên anh vẫn tiếp tục gắng sức và cuối cùng vai của anh cũng tì đến kẽ hở mà anh đang dốc hết sức lực nhắm tới.
Bên dưới cằm cùa Leopold và chính thẳng ngang cổ họng của gã.
Và rồi sau đó Decker để toàn bộ sức nặng của mình dồn hét xuống vị trí này. Đôi chân trần của anh chạm xuống sàn bê tông, lấy sức kéo và lực đòn bẩy, và anh húc khung xương chậu của mình về trước và cùng với đó là một bên bờ vai khổng lồ của mình, ấn chặt đường thở của gã kia và ép sát ngực của Leopold để hai lá phổi của hắn không thể bơm phồng được nữa. Cái bụng bự của anh nhô ra thụt vào qua khe áo theo nhịp anh cố gắng hít thở hết sức có thể. Mồ hôi trên người anh nhỏ xuống mặc dù trong căn phòng khá lạnh. Anh sẽ không dừng lại cho đến khi xong việc. Tim cùa anh đang đập thình thịch vượt ngoài tầm kiểm soát. Anh cảm thấy chóng mặt và buồn nôn. Đầu của anh cảm tưởng như chuẩn bị nổ tung. Nhưng anh không để tâm đến bất cứ điều gì trog số đó. Suy nghĩ duy nhất mà anh đang tập trung đó là giết chết gã này.
Decker để thân thể mình gục xuống, dồn nhiều trọng lượng trên thân xuống nhất có thể. Anh ước gì mình nặng cả tấn. Anh tiếp tục ghì và ghì như thể anh đang đâm đầu vào cái máy tập phòng ngự của cầu thủ bóng chày, lần này rồi thêm lần nữa. Trên sân bóng, anh chưa bao giờ có thể so kè tài năng với những người khác, nhưng anh chưa bao giờ chịu dừng lại. Và không một ai, từ những ngôi sao cho tới những cầu thủ thông thường, từng gắng sức hơn anh.
Thế nên đây là thời khắc cùa anh. Đây là một pha để đời.
Anh nghe thấy tiếng thở gáp, thế là chưa đủ.
Anh tiếp tục đè. Anh chính là nút thắt của pháo thủ. Anh là nút thắt constrictor đôi. Anh sẽ không bao giờ dừng lại cho tới khi mọi chuyện kết thúc. Không bao giờ.
Anh nghe thấy tiếng ồng ộc, thế vẫn là chưa đủ.
Anh đè xuống mạnh hơn nữa. Anh là con cá voi đè lên con cá cơm. Anh chưa bao giờ cảm thấy bị béo phì lại được việc đến thế. Anh muốn nuốt gọn thằng chó chết này cả dalaanx xương. Anh muốn khiến cho hắn biến mất khỏi Trái Đất này.
Anh nghe thấy một tiếng thở nhẹ và dài, như thế chưa bao giờ là đủ.
Anh ghì cả thân hình của mình xuống bằng hết sức lực. Trong đầu anh, cái máy ghi hình đang tua lại. Từng nạn nhân, từng khuôn mặt lướt nhanh trong tâm trí anh khi anh chầm chậm lấy mạng kẻ đa sát hại họ.
Và rồi chiếc máy ghi hình chạy chậm lại và hai gương mặt giữ nguyên tại đó. Cassie và Molly. Đó là tất cả những gì anh nhìn thấy được trong cái bộ óc khổng lồ của anh bây giờ. Nó chứa cả vũ trụ trong đó; nó có thể chứa rất nhiều và không bao giờ ngừng mở rộng. Ấy thế nhưng, ngay lúc này, nó chỉ chứa hai gương mặt đó. Tất cả chỉ có vậy. Thế nhưng như thế lại thích hợp làm sao. Lại cảm thấy đúng đến vậy.
Anh vừa thúc mạnh xuống thêm một lần nữa vừa lẩm bẩm trong miệng, “Anh yêu em Cassie. Ba yêu con, Molly. Ba yêu cả hai rất nhiều.”
Rồi anh không nghe thấy gì nữa. Không gì cả.
Hai lá phổi không phập phồng, bởi chúng đã không còn cò thể làm thế được nữa.
Và cơ thể của Leopold cuối cùng cũng đã lịm đi và khẩu súng đã rơi xuống sàn bê tông.
Thế là đủ rồi.
Anh ngẩng đầu dậy và cúi nhìn gã ta.
Trong cuộc sống có rất ít thứ mang tính bất biến.
Nhưng trong sự chết thì lại có nhiều thứ mang tinh bất biến hơn cả.
Anh đang nhìn chăm chăm vào ba thứ trong số đó.
Hai mắt mở to.
Con ngươi bất động.
Miệng không ai ép mà tự động chùng xuống.
Đã chết rồi.
Trong tâm trí của Decker, hình ảnh của vợ và con gái của anh chầm chậm phai đi, giống như một bộ phim đi vào hồi kết.
Và ba nhớ hai người nhiều lắm. Ba sẽ mãi mãi nhớ hai mẹ con.
Anh lăn người tách ra khỏi Leopold và nằm đó thở gấp trong vòng vài phút. Anh chưa bao giờ cảm thấy mệt mỏi đến thế trong đời. Ruột gan anh đang quặn thắt, hai chân và đầu anh giật đùng đùng. Anh cảm nhận được mặt anh đang sưng vù lên ở chỗ mà Leopold đã đập báng súng vào. Và giờ khi nhịp tim tăng, máu đang bắt đầu tuôn ra nhanh hơn ở chỗ cái chân bị thương.
Nhưng hầu hết toàn thân anh - nói chung là những phần quan trọng nhất trong anh - vẫn đang cảm thấy rất ổn. Thật ra mà nói là thấy tuyệt vời.
Mất gần năm phút, nhưng cuối cùng anh vẫn gắng đứng dậy cùng chiếc ghế và dải băng dính đã bị kéo chùng vẫn đang quấn quanh người anh. Anh lao người vào tường nhiều lần cho tới khi chiếc ghế vỡ tan. Rồi anh kéo và xé cho đến khi thoát ra khỏi đống băng dính, và rồi bước ra khỏi nơi giam lỏng mình.
Anh quay người lại và nhìn vào trog căn phòng.
Trước đó anh không nhìn thấy trong lúc vật lộn với Leopold, thế nhưng anh đã biết rồi.
Từ đầu đến cuối cô ta không tham gia vào cuộc đấu, không về phe anh cũng chẳng về phe Leopold.
Chắc chắn phải có lí do.
Giờ thì anh đang nhìn thấy cái lí do đó.
Anh đã sai. Khẩu súng hiệu Smith and Wesson đó đã tước thêm mạng người nữa. Hoặc đúng hơn là sắp tước xong.
Anh loạng choạng đi tới chỗ Wyatt đang nằm trên sàn, máu vẫn đang trào ra ở ngực cô ta, nơi viên đạn bắn trúng.
Anh quỳ xuống bên cạnh cô ta. Cô ta trông giống đàn ông hơn là phụ nữ. Nhưng với anh cô ta sẽ vẫn luôn luôn là một người phụ nữ. Thật ra là một cô gái mười sáu tuổi đã phải chịu đựng quá nhiều. Quá nhiều. Nhiều hơn bất cứ một người bình thường nào đáng phải chịu.
Bác sĩ Marshall đã nói rằng ngày nay người liên giới tính như Belinda luôn có tiếng nói trong việc quyết định lựa chọ giới tính toàn diện cuối cùng. Nhưng đáng lý họ không bao giờ nên khiếp sợ việc là một người phụ nữ.
Cô ta vẫn chưa chết, nhưng cũng sẽ sớm hôi. Vũng máu quanh cô ta dường như đã vượt quá những gì còn lại bên trong nườ. Anh không thể làm gì để cầm máu.
Và thực lòng mà nói, Decker cũng không có khao khát làm điều đó.
Trước tiên anh nhìn đôi bàn tay của cô ta. Đôi bàn tay đã siết chết con gái anh. Rồi sau đó đến ngón tay đã bóp cò khẩu súng giết chết vợ của anh. Đôi bàn tay đã cắt cổ, nổ súng và quấn xác cha mẹ mình trong ni lông và đâm thẳng tim một đặc vụ FBI.
Rồi anh cúi nhìn gương mặt. Đôi mắt đang bắt đầu dần dần bất động, hơi thở bắt đầu giãn ra. Chuyển biến của cơ thể từ người sống sang người chết đang bắt đầu cụ thể hơn. Bộ não đang nói với phần còn lại của cơ thể là mọi chuyện đã kết thúc, và tất cả sẽ sớm ngừng hoạt động thôi. Nó đang làm tất cả theo một cách tuần tự nhất có thể, với nguyên nhân là cái lỗ trước ngực được tạo ra bởi phương thức tàn bạo.
Decker trước đây cũng đã từng chết. Anh không nhớ từng thấy ánh sáng trắng, hay đường hầm dẫn tới ánh sáng, hoặc các thiên thần hát ca. Với một người không bao giờ có thể quên điều gì, anh lại chẳng thể nhớ gì về lúc sắp chết. Anh không biết như thế là an ủi hay không. Anh chỉ muốn còn được sống.
Anh ngồi xổm bên cạnh cô ta. Một phần trong anh muốn cầm lấy khẩu súng của Leopold và thổi bay não của cô ta. Một phần trong anh muốn dùng đôi bàn tay to lớn của mình bóp nghẹt chút hơi thở còn sót lại của cô ta. Để đẩy cô ta nhanh nhanh tới nơi mà trước sau gì cũng sẽ phải đến.
Nhưng anh không làm vậy. Mắt của cô ta chỉ chớp có một lần và dường như dán chặt vào anh. Cô ta đang nhìn anh, trong một thoáng, cũng có thể là do anh tưởng tượng ra, Decker không biết nữa, anh nghĩ là anh đang nhìn cô gái mười sáu tuổi bị hoảng sợ cái hồi còn ở Viện.
Anh thở dài và nhắm mắt lại một lát, nhưng không buồn suy nghĩ thêm về những gì đã biến thành một tấn thảm kịch chỉ toàn sự đau khổ ngoài sức tưởng tượng.
Thế là anh chỉ ngồi im đó và nhìn cô ta chết. Và rồi khi cô ta đã ra đi, anh vuốt mắt cho cô ta để chúng khép lại. Nhưng anh chẳng thể khép lại những chuyện trước đó. Và Decker biết anh sẽ không bao giờ có thể làm được.
Và bất luận anh có muốn nó hay không, Amos Decker, Sebastian Leopold và Belinda Wyatt, khi còn sống hay là bây giờ, khi đã chết, cả ba luôn gắn kết với nhau.
Vĩnh viễn.
Nhưng anh cảm thấy nhẹ nhõm không gì sánh nổi khi là người cuối cùng còn trụ lại.
 
 
 
 
CHƯƠNG 65
 
Một cái ghế băng.
Đêm giáng sinh.
Một trận tuyết nhỏ đang rơi. Chúng tích tụ lại cùng lớp tuyết đã rơi từ trước đó trong suốt ba ngày qua. Các cửa hàng cửa hiệu đã đóng cửa. Việc sắm sửa đã xong. Và sau những biến cố lớn ở trường Mansfield, tất cả mọi người ở Burlington đã sẵn sàng đi ngủ và rồi thức dậy trong một ngày bình yên và tĩnh lặng bên gia đình.
Ừm, là hầu hết mọi người.
Amos Decker ngồi trên chiếc ghế băng nhìn chằm chằm vào trường cấp ba Mansfield ở bên kia đường. Nhưng thật ra thì anh đang nhìn vào... vô định.
Do thời tiết, anh đang mặc chiếc áo khoác mới cùng một cái nón che tai bằng len. Hai tay anh đi găng và anh đi một đôi bốt chống nước chuyên dụng cỡ 49 mới cóng.
Bắp đùi của anh đã gần lành, mặc dù sẽ có một vết sẹo vĩnh viễn ở vị trí mà lưỡi dao cắm vào, và Belinda Wyatt đã xoáy lưỡi dao vào người anh cả theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
Khi ấy Decker đã trèo lên chiếc xe van và lái nó tới một trung tâm thương mại cách đó khoảng gần năm mươi cây số, dùng GPS trên điện thoại của Leopold để chỉ đường. Anh đã gọi cho Bogart và cung cấp vị trí của mình cho người đặc vụ FBI. Bogart đã ra lệnh cho trực thăng cấp cứu khu vực tới, và họ đến nhanh bất ngờ. Họ đã sơ cứu cho anh và rồi đưa anh tới bệnh viện gần nhất. Trước khi lái chiếc xe van rời đi, anh đã garô để cầm máu vết thương, thế nhưng cho đến lúc cấp cứu tới, anh vẫn đã mất gần một lít máu.
Anh đã cung cấp cho Bogart vị trí nơi ẩn náu của Leopold và Wyatt. Hiện trường vụ án đã được xử lý, nhưng cho tới lúc này hai chứng cứ pháp y quan trọng nhất là hai thi thể nằm cách nhau chưa đầy hai mét.
Một bị bắn bằng khẩu 11mm gắn liền với tiền sử đã giết bao nhiêu mạng người.
Kẻ còn lại nói thẳng ra là bị một gã béo đè cho ngạt thở đến chết.
Cả hai xứng đáng với những gì mà chúng nhận được. Và chỉ một trong số những người mà chúng sát hại thực sự đáng phải chết. Họ không bao giờ tìm thấy thi thể của Giles Evers. Nhưng như Belinda Wyatt đã hứa, một bưu phẩm đã được chuyển tới nhà của bố hắn.
Clyde Evers, theo lời kể, ngã gục mà chết sau khi mở nó ra.
Đến mức ấy là vì nhận được một cái đầu bị cắt rời trong bưu phẩm.
Decker đã tự sửa lại lời mình: Vậy là có lẽ hai kẻ đáng phải chết đã chết.
Và có lẽ là bốn nếu tính cả cha mẹ của Belinda, những kẻ chỉ vì lòng tham trần trụi của mình mà đã quay lưng lại với cô con gái mỏng manh của mình khi mà cô cần tới họ nhất.
Anh không muốn nghĩ về chuyện chết chóc vào đêm Giáng Sinh. Nhưng dường như anh bị nó bủa vây đến mức nó có vẻ lấn át hết tất cả những thứ khác.
Anh đã tới thăm mộ vợ và con gái anh. Lancaster làm anh bất ngờ khi cũng xuất hiện và đăt hoa lên mộ họ. Họ đã nhẹ nhàng nói chuyện với nhau trong vài phút, tranh thủ vài phút bình thường từ một tình huống không thể phủ nhận là rất bất bình thường.
Decker ngồi ở đây bởi vì Residence Inn đang tổ chức một bữa tiệc Giáng Sinh cho các khách ở lại qua mùa lễ. Anh không ham hố gì tham gia ba cái vụ đó. Do đó anh lựa chọn một cái ghế băng dưới trời tuyết thay vì ngồi uống mấy ly sữa trứng không cồn và chờ mọi người tới nói những câu chuyện sôi nổi nhưng tào lao mà anh không thể hiểu, cũng chẳng lấy làm thích thú.
Người ta đã quyết định sẽ mở lại trường Mansfield vào năm học tới. Tất cả những vết máu tới lúc đó có lẽ sẽ được cạo sạch, nhưng tất cả những vết ố thì sẽ vẫn còn nguyên đó, mãi mãi. Ngài thống đốc đang lên kế hoạch sẽ tới và phát biểu vào ngày mở cửa lại trường.
Decker không có ý định tham dự buổi lễ.
Thành phố đã xây bít kín lối vào con đường ngầm dẫn từ căn tin tới lớp học nghề. Và Quân đội cũng chính thức đổ bê tông lấp đường hầm dẫn sang. Xe ủi lên kế hoạch sẽ tới vào ngày hai tháng Một để san phẳng toàn bộ khu căn cứ bị bỏ hoang và kéo dọn hết đồ đạc còn sót lại tới nơi nào đó mà người ta chuyên xử lý tàn tích của những căn cứ quân sự cũ.
Báo chí cả nước ồ ạt kéo đến nơi này khi thông tin về danh tính của những kẻ sát nhân và cái chết của chúng được công khai. Bogart đã cố gắng tránh cho tên của Decker xuất hiện trong tất cả mọi chuyện. Vị đặc vụ FBI hóa ra là một người tốt, thực lòng quan tâm đến những điều đáng phải quan tâm.
Hầu hết mọi người sẽ muốn được công nhận là người đã ngăn chặn hai kẻ sát nhân trên đường làm điều ác, mạo hiểm cả tính mạng của mình để ngăn chúng. Ngày nay tiền sẽ đổ vào ào ào từ chuyện đó: thỏa thuận viết sách và chuyển thể thành phim, đại diện quang cáo, đề nghị tham gia các công ty điều tra cao cấp, cơ hội được những người có tiền có quyền mời ăn mời uống. Decker có thể có cả hàng triệu người theo dõi trên mạng, chăm chăm chờ xem từng dòng tweet hay từng bài đăng trên Instagram.
Nhưng xét ra, có lẽ anh thà ăn một viên đạn vào đầu còn hơn phải hứng lấy tất cả những điều nói trên.
Nhưng anh đồng ý để Bogart mua cho quần áo mới và giày mới để thay thế cho những đồ anh bị Leopold và Wyatt lấy mất. Với một người nghèo, cứ mất đi cái gì thì cũmg đều là tổn thất to lớn cả.
Bogart đã nài nỉ Decker nhận lương từ chính quyền liên bang cho những công lao của anh. Đội trưởng Miller cũng thay mặt cho Phòng Cảnh sát Burlington đưa ra đề nghị tương tự.
“Anh là cố vấn được chúng tôi thuê, Amos ạ,” anh ta đã nói đi nói lại cho đến khi không còn sức để nói nữa.
Decker từ chối tất cả.
Anh làm thế chẳng phải vì lí do gì cao cả. Anh cần tiền để sống. Anh không ngượng ngùng gì khi nhận những gì thuộc về anh.
Anh từ chối là bởi cảm giác tội lỗi.
Tôi đứng trước mặt Belinda Wyatt và nói rằng tôi muốn trở thành một cảnh sát. Tôi nói rằng tôi muốn trở thành cảnh sát bởi vì cảnh sát bảo vệ mọi người. Cô ta không bao giờ quên điều đó và bóp méo một điều vô hại thành thứ gì đó thật độc ác. Và khi Leopold xuất hiện, hắn đã đổ thêm dầu vào đám lửa đang cháy, biến nó thành lửa địa ngục, kết quả là tôi dù không muốn, nhưng đã gây ra cái chết cho quá nhiều người, bao gồm cả hai người mà thật lòng là tôi không thể sống thiếu được.
Anh hông quan tâm đến việc hành động dẫn đến mọi chuyện như bây giờ của mình là đo vô tình. Tất nhiên những người quá cố cũng không quan tâm đến việc anh có cố ý hay không. Nhưng mọi chuyện đều có nguyên nhân và kết quả.
Mình là nguyên nhân của mọi chuyện.
Kết quả từ hành động của anh thật là khủng khiếp đến mức không ai dám nghĩ đến, nhưng dường như anh không thể nghĩ đến gì khác ngoài nó.
Decker sẽ không thể cứ mãi đắm chìm trong việc than thân trách phận, anh suy ngẫm như vậy khi mà nhìn vào cái bụng rỗng. Anh phải kiếm sống, thế nên rất sớm thôi, anh sẽ đứng dậy khỏi cái ghế này và đi tìm một mối làm ăn ra tiền. Nhưng giờ đây, ngay chính lúc này, đêm hôm nay, trước khi Ông già Noèl tới, anh sẽ chỉ ngồi đây và đắm chìm trong việc than thân và chí ít là vờ như đang nhìn xuống cái bụng cỡ đại của mình.
Nhưng rồi một lần nữa, có thể anh không làm được.
Một người đàn ông ngồi xuống bên cạnh anh và bắt chéo chân, hơi run lên một chút vì lạnh.
Decker không nhìn sang anh ta. “Tôi tưởng lúc này anh đã phải về D.C rồi chứ.”
Bogart nhún vai. “Về rồi, nhưng tôi còn vài việc chưa xong ở đây.”
“Hôm nay là đêm Giáng Sinh. Chẳng phải gia đình sẽ nhớ anh sao?”
“Gia đình nào?”
“Tay anh có đeo nhẫn mà.”
“Tôi ly thân rồi, Decker ạ. Mới gần đây.”
“Thật tiếc phải nghe điều này.”
“Cô ấy không tiếc đâu, nói thật đấy, cả tôi cũng thế.”
“Con cái thì sao?”
“Cô ấy là nhân viên Quốc hội, làm việc giờ giấc không đâu vào đâu. Thế nên cả hai chúng tôi cùng đều không tìm ra được lúc nào phù hợp.”
“Wyatt nói với anh cô ta đã quan hệ với Debbie Watson à?”
“Cô ta nói dối chuyện đó,” Decker đáp.
“Sao anh biết? Bởi vì anh đã đúng. Khám nghiệm tử thi cho thấy cô ta chưa chuyển giới hoàn toàn thành đàn ông. Không hề có công cụ ở chỗ đó.”
“Cô ta luôn luôn ngồi khép hai chân với nhau. Rất khó để đàn ông làm được như thế. Nhưng hơn hết, tôi không nghĩ cô ta thực sự muốn thành đàn ông. Những gì Wyatt đã phải trải qua khiến cô ta đưa ra quyết định đó. Nhưng cô ta không thể làm tới cùng.”
Cả hai chìm vào yên lặng.
“Được rồi, để không lãng phí thời gian, tôi muốn anh tới làm việc với tôi.”
Decker quay sang nhìn anh ta. “Thế chính xác nghĩa là sao?”
“Thì chính là thế, làm ở FBI.”
Decker lắc đầu. “Tôi không vượt qua được bài kiểm tra thể lực đâu. Tôi sẽ không vượt qua được bất cứ thứ gì.”
“Tất nhiên, anh sẽ không trở thành một đặc vụ. Nhưng tôi mới được chỉ định tập hợp và chỉ huy một lực lượng đặc biệt bao gồm các chuyên gia từ nhiều ngành nghề khác nhau, và như thế là bao gồm cả lực lượng dân sự. Mục tiêu là để tóm cổ những kẻ vô cùng xấu xa. Và tôi không thể nghĩ được ai phù hợp với việc đó hơn anh.”
“Nhưng tôi chẳng là chuyên gia của một lĩnh vực nào hết.”
“Anh từng là một cảnh sát và sau đó là một thanh tra. Anh có kinh nghiệm và anh thực sự có đầu óc.”
“Anh không phải làm việc này đâu, Bogart ạ. Anh đã mua giày và mua áo cho tôi rồi.”
“Tôi không làm việc này vì anh. Tôi làm việc này là vì tôi. Tôi muốn thăng tiến ở Cục. Sự nghiệp là tất cả những gì mà bây giờ tôi còn. Tôi sắp năm mươi rồi. Tôi phải sớm tăng tốc thôi, nếu không tôi chỉ lãng phí thời gian của mình. Và tôi cho là nếu có anh bên cạnh, khả năng phá được những vụ thật sự khó sẽ tăng lên rất nhiều. Và rồi sau đó sẽ là thăng tiến. Tôi chẳng ngại nếu có một ngày có thể là lãnh đạo Cục.”
“Thế ý anh tức là rời khỏi Burligton à?”
Bogart nhìn thẳng ra phía trước. “Đó là vấn đề với anh sao?”
“Tôi không nói như vậy.”
“Vậy là nó không phải là vấn đề đối với anh?”
“Tôi cũng không nói thế.”
Bogart nhìn anh. “Tôi có thể không vòng vo và nói thẳng vào chuyện chính không?”
Decker không nói gì mà chỉ gật đầu nhẹ.
Bogart giơ điện thoại di động lên và bật đèn flash. Một phút sau, Decker nghe thấy tiếng bước chân đi tới.
Alex Jamison bước vào bóng sáng do ngọn đèn đường rọi xuống. Cô mặc một chiếc áo khoác dài cho mùa đông và đi bốt cao cổ, cùng một chiếc khăn quấn quanh đầu. Cô dừng lại phía trước chiếc ghế và cúi đầu nhìn xuống.
Decker nhìn cô và sau đó nhìn Bogart.
“Tôi bỏ lỡ gì sao?” anh nói.
“Tôi nghĩ quá rõ rồi,” Bogart nói. “Với một người thông minh như anh.”
Decker lại nhìn sang Jamison.
“Anh ấy đề nghị tương tự với tôi, Decker ạ, mặc dù tôi nghĩ chuyện này liên quan đến anh nhiều hơn tôi.”
Bogart nói, “Cô ấy tìm được một số phát hiện rất tốt trong quá trình điều tra. Cho thấy lòng can đảm và trực giác nhạy cảm. Tôi biết cô ấy là phóng viên chuyên nghiệp, nhưng tôi chỉ đang tìm kiếm những người có tài, bất cứ nơi nào có thể tìm thấy.”
“Cô sẽ rời Burlington à?” Decker hỏi cô.
“Thật ra mà nói, tôi dã rời rồi.”
“Thế còn chuyện làm phóng viên thì sao?”
“Thầy Andy Jackson dạy tôi đi tìm sự thật. Tôi đoán công việc của anh cũng giống như thế. Và có lẽ tôi có thể làm được tốt hơn nếu làm việc cùng Bogart thay vì chỉ nhìn thấy tên của mình được đề trên một bài báo.”
Decker liếc nhìn sang Bogart. “Đội trưởng Miller biết anh sẽ đề nghị tôi thế này chứ?”
“Có. Ông ấy không thích thú, nhưng ông ấy hiểu. Và Lancaster sắp được thăng chức trở thành phó đội trưởng của ông ấy. Và nếu như anh chưa biết, cô ấy đang uống thuốc điều trị tay run và nó có hiệu quả. Cô ấy đã tăng cân hơn trước vì hiện giờ đã dừng hút thuốc.”
Decker gật đầu với tất cả nhưng không chịu lên tiếng.
Bogart nói, “Vậy anh sẽ cân nhắc chứ?”
“Không.”
“Decker,” Jamison thốt lên phản đối.
“Tôi sẽ không cân nhắc, bởi vì... bởi vì tôi sẽ làm.”
Bogart và Jamison nhìn nhau với ánh mắt ngạc nhiên.
Decker nhìn cả hai. “Nhưng hôm nay, tôi sẽ muốn... ở đây. Một mình.”
Bogart đứng dậy cùng lúc Jamison nói, “Và ngày mai chúng tôi sẽ quay lại. Và anh sẽ không bao giờ còn phải một mình nữa. Tôi nghĩ anh cô độc đã đủ lâu rồi.”
Họ quay người bước đi, nhưng Jamison ngoái đầu nhìn lại. “Giáng Sinh vui vẻ nhé, Amos.”
Anh đáp bằng một cái nghiêng đầu nhẹ, và rồi họ bước đi, và chẳng mấy chốc đã đi khuất.
Amos Decker nhắm mắt lại.
Và cùng với đó khép tâm trí mình lại.
Giá như được trong một thoáng.
Chỉ trong một thoáng thôi.
 
 
HÊT.
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0