“Hắn ta cứ thế mà đi thôi sao?”
Decker gật đầu.
“Mac sẽ rất cáu về điều đó. Và tôi đã kì vọng ở Sheila Lynch hơn thế. Có vẻ như cô ấy đã bị luật sư công che mắt.
“Anh ta chỉ đang làm nhiệm vụ của mình thôi. Sự thật và công lý không nhất thiết lúc nào cũng phải ngang bằng. Thực tế là, Abernathy có lẽ đã đưa ra quyết định đúng. Khi lời thú tội bị rút lại rồi thì chẳng có bằng chứng nào để giữ hắn ta lại cả. Và Abernathy cũng đã kiểm lại vụ khởi tố rồi. Có lẽ ông ta đang tìm cách để được gõ búa thẩm phán. Và ông ta từng làm vậy rồi. Cả hai chúng ta trước đây đều từng được chứng kiến ông ấy làm vậy rồi mà.”
Decker từng tham gia nhiều phiên tòa trong nhiều năm đến nỗi anh cảm thấy mình đã trở thành một luật sư xét trên mọi phương tiện chỉ thiếu mỗi tấm văn bằng chính thức và một tấm thẻ luật sư.
“Tôi mừng là anh có thể nhìn nhận sự việc theo một cách hiệu quả đến lạnh lùng như vậy đó, Amos,” chị nói, sự lãnh đạm thể hiện rõ ra từ giọng điệu của chị.
“Vậy thì cô còn muốn tôi nhìn nhận theo cách nào nữa?” anh nói thẳng thừng không kém. “Nếu không thì tôi chỉ bơ chuyện này thôi, và như vậy thì sẽ đưa chúng ta đến đâu chứ?”
Chị nhìn sang hướng khác và nhai kẹo cao su. “Thôi quên nó đi,” chị nói. “Chỉ là tôi đang có một ngày tệ hại thôi.”
Decker không nói với chị về việc anh đã bám theo và rồi để vuột mất Leopold ở quán rượu. Anh không nghĩ là nó sẽ giúp ích được gì cho tình cảnh này cả, và anh cảm thấy mình thật giống một tên ngốc vì đã để điều đó xảy ra. Và ngay cả với một bộ não mới, ai mà muốn mình trông giống một kẻ ngốc chứ?
“Bên FBI có vẻ lăng xăng thế,” anh quan sát. Những bộ vest đang chạy quanh với một mức năng lượng thậm chí còn lớn hơn cả mức thường thấy.
“Kẻ giết người hàng loạt, những vụ án có liên quan đến nhau, những thứ anh tìm ra từ Debbie Watson. Chắc chắn là vụ này ngày càng lớn hơn rồi.” Chị dừng lại và mân mê mấy tờ giấy trước mặt. “Và họ muốn nói chuyện với anh đó, Amos. Ý tôi là bên FBI ấy.”
Anh trông có chút ngạc nhiên. “Sao lại thế?”
“Trước hết, bởi vì anh chính là người phát hiện ra tất cả những manh mối mới. Nhưng rõ ràng là kẻ sát nhân có vấn đề cá nhân với anh. Thông điệp ở nhà cũ anh nhắm đến anh. Đoạn ghi chú được mã hóa ở nhà Debbie cũng là về anh. Vậy nên về cơ bản là FBI muốn thẩm vấn anh để xem liệu họ có thể tìm được chút manh mối nào từ bất cứ ai có khả năng chống lại anh không?”
“Và khi nào thì họ muốn làm vậy?”
“Thực ra thì bây giờ chính là thời điểm tốt.”
Decker nhìn lên và thấy ngay một người đàn ông cao khoảng một mét tám ba, vai rộng khoảng hơn một trăm centimet đang đứng cạnh mình. Bộ vest của anh ta trông hoàn hảo cùng với một chiếc túi vàng hình vuông khá hợp với cà vạt. Anh ta có bộ râu nhẵn nhụi và một thân hình cân đối. Có vẻ như anh ta là đội trưởng, dựa vào dấu hiệu đó là cách mà các đặc vụ khác nhìn chằm chằm vào anh ta một cách đầy e sợ.
Decker chưa từng gặp người này bao giờ. Hẳn là anh ta vừa mới đến hiện trường, có lẽ là từ Washington. Anh ta là “thứ dữ” được cắt cử cho một vụ án lớn đang nhận được sự chú ý rộng rãi trên toàn quốc. Đúng kiểu làm việc của cảnh sát liên bang. Để lại những vụ án nhảm nhí cho những kẻ gà mờ cấp địa phương còn họ thì nắm lấy vinh quang từ những vụ án được định sẵn là sẽ lên kênh tin tức quốc gia.
Người đàn ông ấy chìa tay ra và mỉm cười, để lộ ra một khe hở nhỏ giữa hai chiếc răng cửa trắng sáng. “Đặc vụ chuyên môn Ross Bogart. Tôi xuất hiện có chút muộn. Tôi đang hoàn tất một số thứ ở D.C. Anh Decker, hãy cùng tìm một nơi yên tĩnh để giải quyết một vài việc, nếu anh khôn ngại.”
“Nếu tôi ngại thì có vấn đề gì không?”
“Chúng ta đều có chung mục đích mà. Tôi biết trước đó anh là một cảnh sát và sau này là thám tử. Anh cũng biết rồi đấy, không có gì là vụn vặt cả. Không có gì là mờ mịt đến mức không thể lần theo. Chúng ta sẽ làm chứ?” Anh ta chỉ vào một cánh cửa ở phía sau thư viện mà Decker trước đó đã khám phá ra là được dùng như một phòng đọc cho học sinh ESL[1].
Anh đứng dậy và đi theo sau người đàn ông đó. Một đặc vụ khác cũng đi cùng họ, một người phụ nữ mà Decker từng thấy qua trước đây. Cô có mái tóc vàng, ngoài ba mươi tuổi, bắp chân săn chắc và phần xương hàm nhô ra như một phiến đá. Một tay cô cầm máy ghi âm và tay còn lại cầm sổ, bút. Một huy hiệu hình tấm khiên liên bang được gắn trên hông cô.
“Đặc vụ chuyên môn Lafferty sẽ tham gia cùng chúng ta,” Bogart nói.
“Vậy Thanh tra Lancaster tham gia cùng nữa thì sao? Cô ấy cũng đang theo vụ án này.” Decker đề xuất.
“Có lẽ để khi khác,” Bogart nói cùng với một nụ cười khi anh ta mở cửa và bật đèn lên.
Tất cả mọi người ngồi quanh một chiếc bàn nhỏ, Decker ngồi một phía, hai đặc vụ ngồi ở phía còn lại. Lafferty bật máy ghi âm lên và mở sẵn cuốn sổ, trông có vẻ như đã sẵn sàng để ghi lại mọi thứ được nói ra trong căn phòng.
“Đến byg giờ mà họ vẫn dạy tốc kí trong khi đã có mọi thiết bị kĩ thuật số ư?” Decker hỏi, nhìn sang cô. “Dường như một bản thu âm sẽ có độ chính xác một trăm phần trăm, trong khi bản tốc kí có thể chứa các diễn giải và những cảm xúc cá biệt của bản thân, thậm chí cô còn không thể nhận thức một cách có chủ ý về chúng, thay vì ghi lại những gì thực sự đã được nói ra. Chỉ là suy nghĩ của tôi thôi.”
Cô có vẻ như không biết phải đáp lại điều này thế nào, vì vậy cô nhìn sang sếp của mình.
Bogart nói, “Xin anh vui lòng kể lại mọi chuyện từ đầu, cốt để tôi hiểu rõ đầu đuôi mọi sự.”
“Tại sao anh không để tôi tóm tắt lại thì sẽ đỡ tốn thời gian hơn?” Decker nói. Anh không đợi sự đồng tình từ phía Bogart mà cứ thế tiếp tục. “Gia đình tôi đã bị sát hại mười sáu tháng về trước. Vụ án đó vẫn chưa được giải quyết.” Sau đó anh nói với các đặc vụ FBI về lời thú tội của Sebastian Leopold, bị bỏ tù, rút lại lời thú tội, và sau đó được thả vì không có bằng chứng nào để bắt giữ hắn ta. “Như anh biết đấy, đạn đã gắn kết vụ án đó và vụ án này lại với nhau.”
“Và anh chắc là hắn ta không thể là kẻ xả súng trong trường học chứ?” Bogart hỏi.
“Không thể nào. Vào thời điểm đó hắn ta đang trong trại giam. Vài giờ trước khi kẻ xả súng bắt đầu cuộc tàn sát.”
“Anh đã phát hiện ra nơi mà hắn có khả năng ẩn náu. Tủ đồ ăn trong căn tin.” Bogart nói.
“Tôi đã gán một vài lời khai của nhân chứng lại với nhau và đưa ra một phỏng đoán có căn cứ.”
“Sau đó anh tìm thấy cuốn sổ trong tủ đồ của Debbie Watson cùng với bức hình có mặt kẻ xả súng.”
“Một phỏng đoán có căn cứ khác.”
Bogart tiếp tục, có vẻ như không nghe thấy lời anh. “Sau đó anh đến nhà gia đình Watson và phát hiện ra lời nhắn được mã hóa dưới hình thức phổ nhạc. Và rồi có một lời nhắn trước đó, hay nói đúng ra là lời thách thức, mà có ai đó để lại trên tường nhà cũ anh, nơi mà gia đình anh bị sát hại. Anh cũng phát hiện ra điều đó.” Bogart dừng lại một lúc rồi nói, “Không phải anh định nói ‘Một phỏng đoán có căn cứ khác’ đấy chứ?”
“Tôi đoán là giờ mình không phải nói thế nữa, khi anh đã giúp tôi nói ra rồi.”
“Anh có vẻ xem nhẹ tất cả những chuyện này. Tôi có thể hỏi tại sao không?”
“Tôi không xem nhẹ bất cứ chuyện nào trong những chuyện này. Đó chính là lý do tại sao tôi đang xử lý vụ án ngay cả khi tôi không thuộc lực lượng cảnh sát.”
Bogart liếc nhìn tập tài liệu trước mặt. “Phải là xử lý các vụ án mới đúng chứ? Những hai vụ, cách nhau mười sáu tháng.”
“Thực ra là mười sáu tháng, hai ngày, mười hai tiếng và sáu phút.”
“Và làm thế nào mà anh biết điều đó một cách chính xác đến vậy? Anh thậm chí còn không nhìn vào đồng hồ.”
“Có một cái đồng hồ ở trên tường phía sau anh.”
Bogart không quay lại nhìn nhưng Laferty đã làm vậy và cô ghi chép xuống điều gì đó.
Decker không cần nhìn vào đồng hồ treo tường. Anh có một cỗ máy đếm giờ trong tâm trí mình để giữ cho con số đó được chính xác. Tốt hơn cả một chiếc Rolex và còn rẻ hơn nhiều.”
Nhưng,” Bogart nói. “Đến cả phút?”
“Đến cả giây, nếu anh muốn biết,” Decker trả lời bằng giọng đều đều. “Và nếu anh thắc mắc xem tôi đang ở đâu vào thời điểm vụ xả súng xảy ra ở trường học thì tôi đang ở Khu nhiệm sở số 2.”
Chân mày Bogart nhíu lại và anh nhìn Decker một cách đầy kinh ngạc. “Tại sao anh lại đưa ra chứng cứ ngoại phạm? Bằng cách nào đó anh nghĩ mình đang bị đưa vào diện tình nghi ư?”
“Nếu anh thực sự suy xét thì ai cũng thuộc diện tình nghi theo cách nào đó thôi.”
Decker nhìn thấy Lafferty viết câu đó xuống từng từ một. “Anh đang cố tình chống đối phải không, anh Decker?” Bogart hỏi một cách lịch sự.
“Không, tính tôi là vậy đó. Hãy hỏi bất cứ ai quen biết tôi. Tôi không còn khả năng giữ gìn ý tứ trong lời nói nữa. Tôi đã đánh mất chúng nhiều năm về trước và không bao giờ có thể tìm lại được nữa.”
“Anh có một thành tích xuất sắc trong lực lượng cảnh sát. Anh và cộng sự của anh.”
“Cựu cộng sự,” Decker chữa lại, vì anh có nhu cầu cần mọi thứ phải chính xác, đặc biệt là vào thời điểm này.
“Cựu cộng sự,” Bogart thừa nhận. “Nhưng khi trò chuyện với mọi người, có vẻ rõ ràng trong hai người anh là người dẫn dắt. Tôi sẽ không nói là toàn bộ là công của anh, bởi vì tôi không muốn hạ thấp những đóng góp của Thám tử Lancaster trong những lần phá án của hai người.”
“Thật mừng khi nghe điều đó,” Decker nói. “Bởi vì Mary là một thám tử giỏi và làm việc chăm chỉ.” Anh nhìn sang Lafferty. “Và nếu cô cũng làm việc chăm chỉ, cô sẽ còn hơn là một người ghi chép cho sếp của mình. Tôi chắc chắn cô có khả năng nếu cô từng được trao cho cơ hội sử dụng nó.”
Lafferty đỏ bừng mặt và đặt bút xuống. Bogart ngả người về phía trước. “Người này có vẻ có mối thù hận từ lâu với anh. Anh có thể nghĩ đến ai không?”
“Nếu tôi biết thì tôi đã cung cấp thông tin cho Phòng Cảnh sát Burlington rồi.”
“Chúng ta đều tham gia vụ này cùng nhau,” Bogart nói, anh không còn nở nụ cười lịch thiệp nữa.
“Tôi mừng là anh nghĩ vậy.”
“Vậy là không có ai mà anh nghĩ đến cả?”
“Khi tôi nói chuyện với Leopold, hắn nói tôi đã phỉ báng hắn ở cửa hàng 7-Eleven. Đó là khoảng một tháng trước khi gia đình tôi bị sát hại. Tôi chưa từng phỉ báng ai ở đó cả. Và nếu ai đó có vấn đề với tôi, tôi hẳn đã nhớ rồi.”
“Anh đang muốn nói là trí nhớ của anh không thể sai lệch được?”
“Tôi đang nói là tôi hẳn sẽ nhớ nếu có ai đó có vấn đề với tôi.”
“Nhưng chuyện đã qua từng ấy thời gian, có thể anh đã quên rồi. Và có thể là chuyện không quá lớn, hoặc có vẻ như vô hại. Có thể anh không để ý đến nó. Chúng ta ai cũng có quên chuyện này chuyện kia. Và kí ức vốn dĩ đã có thể sai lệch rồi.”
“Anh sinh ra khi nào?”
“Gì cơ?” Bogart gắt hỏi.
“Hãy nói cho tôi anh sinh khi nào, ngày, tháng, năm.”
Bogart liếc nhìn Lafferty rồi nói, “Ngày 2 tháng 6, 1968.”
Decker chớp mắt năm lần và nói, “Vậy thì anh sinh vào Chủ nhật.”
Bogart ngồi ngả lưng lại. “Đúng vậy. Tất nhiên là tôi không biết vào thời điểm đó. Làm thế nào mà anh biết được vậy? Anh tra cứu hồ sơ nhân sự của tôi à?”
“Tôi không có quyền truy cập. Và cho đến năm phút trước, tôi thậm chí còn không biết đến sự tồn tại của anh. Nếu anh muốn có thêm bằng chứng, tôi có thể làm điều tương tự với đồng nghiệp của anh.”
“Ý anh muốn nói là gì?”
“Tôi hẳn là sẽ nhớ mình đã phỉ báng ai đó ở cửa hàng 7-Eleven cho dù đó là mười bảy tháng hay mười bảy năm.”
“Vậy thì anh nghĩ là Leopold đang nói dối ư?”
“Tôi nghĩ là Sebastian Leopold không giống như vẻ ngoài hắn đang ngụy tạo.”
“Vậy thì chính xác hắn đang ngụy tạo vẻ gì?”
“Một kẻ vô gia cư và hơi mất trí.”
“Vậy anh đang muốn nói là hắn không phải vô gia cư và cũng không hề mất trí?”
“Tôi đang nói là tôi nghĩ hắn ta nguy hiểm.”
“Nhưng anh đã nói là hắn không thể nào là kẻ xả súng ở trường. Anh có nghĩ là hắn đã sát hại gia đình anh không?”
“Cá nhân hắn không thể nào thực hiện được nó. Hắn còn có chứng cứ ngoại phạm cho điều đó nữa. Nhưng tôi đang suy nghĩ lại về việc hắn có còn nhúng tay vào bằng cách nào đó hay không?”
“Tại sao?”
“Bởi vì hắn đã thoát khỏi tội danh giết người mà hắn đã thừa nhận. Và giờ thì hắn lại biến mất. Cả hai việc đó không thể chỉ nhờ vào may mắn mà thực hiện được.”
“Vậy là anh có nghĩ là hắn có liên quan bằng cách nào đó. Và giờ thì hắn biến mất?”
“Tôi không có bằng chứng nào cả. Và ngay cả khi chúng ta tìm thấy hắn, chúng ta cũng không thể buộc tội hắn với những gì chúng ta đang có, vì sự thật là chúng ta đang chẳng có gì cả.”
“Vậy thì tại sao anh lại nghĩ là hắn có liên quan?”
Câu hỏi này đến từ Đặc vụ Lafferty.
Bogart quay sang cô, có vẻ ngạc nhiên vì cô đã thực sự thốt ra lời.
Decker chết trân nhìn cô. “Bởi vì không thể nào lý giải được hắn ta. Và tôi thì không thích những người không thể lý giải được.”
Chú thích:
[1] English as a Second Lauguage - những người học ngôn ngữ thứ hai là tiếng Anh.
CHƯƠNG 26
Decker để Bogart và Lafferty ở lại trong phòng đọc nhỏ và đi sang căn tin ở phía bên kia hành lang. Đây là nơi mọi thứ bắt đầu, và dường như căn phòng với cái sàn cũ phủ vải sơn họa tiết caro đó cứ mời gọi anh ghé sang.
Có lẽ giống như tiếng hát của mỹ nhân ngư mê hoặc một người phụ nữ vậy.
Anh đi xung quanh phía bên ngoài của khu vực căn tin, nhìn vào cái kho lạnh, rẽ vào góc phòng, và kiểm tra khu vực bếp, rồi sau đó đến khu vực nhập hàng phía bên ngoài, từ đó dẫn vào trong rừng. Ban đầu mọi người nghĩ kẻ nổ súng đã bỏ trốn theo hướng đó. Ừm, thật ra thì nhiều người vẫn đang nghĩ như thế, đó là lý do vì sao một đội pháp chứng vẫn đang sục sạo toàn bộ con đường và không gian xung quanh nó kể từ lúc Decker phát hiện ra những gì anh tìm được trong căn tin.
Nhưng giờ Decker không còn tin vào nó nữa.
Anh quay vào trong và ngồi xuống một trong số những chiếc ghế mà lũ trẻ dùng. Bờ mông bự của anh tràn ra cả hai bên cạnh ghế, và anh thoáng nghe thấy tiếng kêu ca từ những cái chân ghế khẳng khiu khi chúng phải đỡ một tải trọng quá khổ mà thông thường ít gặp ở một ngôi trường cấp ba.
Vậy là lý do thực sự mà tay súng có mặt trong căn tin là gì? Căn tin cách rất xa vị trí mà vụ xả súng bắt đầu. Đây là vị trí xa vụ xả súng nhất, ngoại trừ văn phòng và thư viện, những nơi đáng lẽ sẽ có người vào thời điểm đó của buổi sáng.
7:28 - Melissa Dalton nghe thấy tiếng “phụp” như tiếng cửa kho lạnh mở ra.
8:42 - Hình ảnh gã mặc đồ rằn ri được ghi lại trên video.
8:42 - Debbie Watson bị bắn nát mặt và thiệt mạng.
Về cơ bản, một giờ mười ba phút không được giải thích rõ ràng.
Đã có chuyện gì trong toàn bộ quãng thời gian đó? Liệu hắn đã mặc đồ và chuẩn bị súng ống sẵn sàng? Tại sao hắn lại phải đợi? Hoặc có thật là hắn đã đợi không? Có khi hắn đang làm việc gì đó. Có khi hắn đang làm một việc rất quan trọng trong kế hoạch của mình mà cần phải có thời gian.
Decker ngồi đó thêm một vầi phút trong lúc tâm trí của anh nghiền ngẫm những câu hỏi này.
Không có một người nào được nhìn thấy đi bộ từ căn tin tới cái hành lang ở góc xa nơi Debbie Watson thiệt mạng. Họ đã xác định và lấy lời khi của hai người - đều là giáo viên - hai người nhiều khả năng nhất có thể nhìn thấy ai đó đi tuyến đường này vào thời điểm ấy. Nhưng lời khai của họ cũng không mang tính đảm bảo, bởi vì chỉ một phút lơ đễnh hoặc một cái ngoái đầu sang trái thay vì sang phải, và thế là đã xuất hiện một điểm mù.
Nhưng nếu tên sát nhân bắt đầu từ trong căn tin, hắn phải đi được đến đầu kia của trường mà không bị ai nhìn thấy. Đó là điểm A.
Hắn đã làm được như thế. Đó là điểm B.
Điểm C là phương thức thực hiện của hắn. Điểm C là điểm mà Decker thực sự cần phải biết được.
Rời một thứ gì đó chợt tràn vào trong đầu anh, một thứ đã phải trải qua cái bộ lọc siêu tỉ mỉ vốn là bộ não của anh, sau cú đánh kinh hoàng mà đôi bốt Bayou boys gây nên đã mang tính chất như thế. Và dòng suy nghĩ từ đâu rỉ vào đã biến đổi thành một thứ gì đó.
Decker đứng dậy và vội vã chạy ra ngoài. Anh vội vã chạy đến chỗ viên đá đánh dấu nền móng của ngôi trường và đọc ngày tháng trên đó.
1946.
Anh đã biết điều này, nhưng nhìn vào những con số dường như củng cố thêm sự tự tin vào giả thiết vừa mới hình thanhg trong đầu anh. Màu sắc đã lập lòe trong tâm trí khi ánh mắt của anh hướng đến một vài con số trong dãy số, nhưng ngay lúc này màu sắc không phải là thứ khiến anh quan tâm.
1946.
Một năm sau khi đại chiến kết thúc.
Và một cuộc chiến mới gần như bắt đầu ngay sau đó.
Chiến tranh lạnh.
Đe dọa chiến tranh hạt nhân. Cuộc chiến dẫn đến ngày tận thế. Trẻ con ôm nhau dưới những cái bàn học mỏng manh, một trong những bài diễn tập khẩn cấp phòng trường hợp có bom hydro sắp sửa trút xuống. Như thể cái lớp chắn bằng gỗ ép dày có ba phân có thể bảo vệ chúng khỏi một thứ có sức tàn phá tương đương một triệu tấn thuốc nổ TNT.
Decker vội vã quay trở lại căn tin, băng qua một vài cái nhìn nghi ngại của các đặc vụ của Cục trong hành lang trong lúc họ nhìn theo anh. Anh không chào hỏi gì họ. Anh gần như không hề chú ý đến họ. Anh đang bận đuổi theo manh mối. Anh đã dựng nên những bức tường trong đầu, những bức tường đã ngăn cách tất cả chỉ chừa mỗi một dòng câu hỏi duy nhất có thể trả lời cho một câu hỏi có vẻ như không có đáp án.
Anh đứng ở chính giữa căn phòng và nhìn cả bốn góc nhà, rồi thu tầm mắt lại, anh đi vào trong bếp và làm điều tương tự. Khi đến khu bốc dỡ hàng anh cũng lặp lại hành động này.
Anh không nhìn thấy bất cứ một thứ gì dù chỉ hơi giống một chút với thứ mà anh đang tìm kiếm. Vấn đề là anh vẫn chưa biết được cái cần biết. Bao giờ làm công việc cảnh sát cũng gặp phải cái vấn đề khó đỡ này.
Mình chưa biết được cái cần biết. Một người không thể quên bất cứ thứ gì lại không biết được cái cần biết. Thật châm biếm làm sao.
Nhưng nếu Decker không biết cái cần biết, vậy thì có khi kẻ nổ súng cũng thế. Có khi kẻ nổ súng đó đã tìm đến một ai đó biết cái cần biết.
Hoặc một ai đó có người quen biết cái cần biết.
Giờ đây giả thiết đó, nếu đúng, có thể trả lời một vài câu hỏi.
Ngôi trường là một cơ sở hạ tầng, một tòa nhà. Có thể đã bị sửa đổi ít nhiều. Suốt ngần ấy thập kỉ, chắc chắn là nó đã được tu sửa. Cái trần treo trên đầu anh chắc chắn không có mặt ở đây từ những năm 1946. Còn thứ gì khác đã được thêm vào hoặc bớt đi nhỉ?.
Hoặc được che khuất? Bởi vì không còn cần dùng đến nữa? Rồi sau đó bị lãng quên.
Decker lẻn vào thư viện và ra dấu cho Lancaster ra chỗ anh. Chị dừng cuộc gọi và vội vã đi tới chỗ cửa dẫn vào thư viện mà Decker đang đứng chờ. Decker hoàn toàn nhận ra được cả đặc vụ Bogart và đặc vụ ghi chép Lafferty đang nhìn anh từ góc xa của căn phòng.
Anh nói với Lancaster bằng một giọng nhỏ, dáng vẻ thả lỏng. Trông như anh đang chém vài chuyện phiếm với chị. Họ quay người và cùng rời đi.
Khi họ đã ra đến ngoài hành lang, Lancaster nói, “Anh có thực sự nghĩ có khả năng đó không? Ý tôi là, tôi chưa từng nghe đến một thứ như thế.”
“Đâu phải cô chưa từng nghe đến thì có nghĩa là nó không tồn tại.”
“Anh đã học ở trường này. Đã bao giờ anh nghe nói đến thứ gì như thế chưa?”
“Chưa? Nhưng nói đi thì phải nói lại tôi cũng chưa bao giờ nghĩ sẽ hỏi thử. Và có thể nó đã từ xa xưa lắm rồi. Thật sự thì, có thể nó cũng cổ lắm rồi.”
“Nhưng ai sẽ biết chắc chắn đây? Từ những gì anh nói, có thể nó đã từng được xây dựng từ hơn sáu mươi năm trước. Và có thể chưa bao giờ được dùng tới. Bất cứ người nào có thể biết về nó có lẽ đều đã qua đời hoặc cũng sắp.”
“Các học sinh hồi đó thì sao?”
“Ừm, cả họ cũng khá là nhiều tuổi rồi. Và các giáo viên thì gần như chắc chắn đều đã đi cả rồi.”
“Phải có cách nào đó, Mary ạ. Chắc chắn phải có hồ sơ.”
Họ đã đi ra ngoài, và Decker chưa nói hết câu khi anh nhìn sang bên tay trái, và nhìn thấy cái căn cứ quân sự cũ.
“Có thể Quân đội có ghi chép về nó,” anh nói.
“Quân đội á? Sao phải thế?”
“Cái căn cứ kia đã ở đó từ lúc nào nhỉ, những năm ba mươi à?”
“Đúng thế. Ông của tôi làm việc ở đó cùng với nửa số cư dân ở Burlington. Họ đã tích trữ rất nhiều để chuẩn bị cho chiến tranh trong suốt Thế chiến thứ hai, giống như tất cả các căn cứ quân sự khác trên cả nước.”
“Vậy rõ ràng là nó đã ở đó trước khi trường học được xây dựng. Và rất nhiều cha mẹ làm việc ở căn cứ gửi con tới học ở trường Mansfield.”
Lancaster có vẻ hiểu anh đang định nói gì. “Vậy là anh nghĩ có thể là họ là những người xây dựng nó đầu tiên.”
“Và sẽ thế nào nếu cụ của Debbie Watson, làm việc ở căn cứ này từ cuối những năm sáu mươi, biết mọi điều về nó, và kể cho Debbie bé nhỏ khi cụ chuyển tới sống cùng gia đình.?”
“Và anh nghĩ có thể cô bé đã kể cho kẻ nổ súng?”
“Tôi không thể nghĩ ra được lí do nào khác để giải thích tại sao hắn lại cần đến cô bé.”
“Nhưng làm thế nào hắn phát hiện ra Debbie có thể biết một chuyện như thế?”
“Có thể có nhiều cách. Việc đó không quan trọng. Nhưng nếu tôi đúng, chúng ta sẽ biết kẻ nổ súng đi từ căn tin ra hành lang phía sau mà không bị ai nhìn thấy bằng cách nào. Và nếu chúng ta có thể xác minh chắc chắn, có thể chúng ta sẽ truy ngược ra được thằng chó chết đó từ đâu đến.”
Họ vội vã chạy tới xe ô tô của Lancaster.
Đứng ở cửa sổ, nhìn theo họ là đặc vụ Bogart. Và người đàn ông đến từ Washington trông có vẻ không lấy gì làm hài lòng.
Bên cạnh anh ta, đặc vụ Lafferty đang bận rộn ghi chép.
CHƯƠNG 27
George Watson ra mở cửa cho họ. Anh ta trông bù xù và có một vết tím thâm, ửng vàng trên má phải.
“Anh ổn chứ?” Lancaster hỏi.
Watson dựa vào khung cửa, có vẻ như là cần tìm một điểm tựa chứ không phải vì lí do gì khác. “Tôi ô-ổn. Vợ... v-vợ tôi đ-đang định bỏ tôi, nhưng tôi ô-ổn. Chết tiệt, c- cớ gì mà tôi lại k-không ổn chứ?”
Decker tiến lại gần hơn một bước và khịt mũi, còn Lancaster đang nhìn theo ánh mắt của Watson.
Decker nhìn chị và gật nhẹ đầu. Họ đã có thói quen như thế kể từ khi còn là cộng sự. Gật đầu là say, lắc đầu là tỉnh hoặc khá tỉnh, còn nhận thức được. Thực ra, anh chẳng cần phải ngửi thử làm gì. Miệng nói líu nha líu nhíu, không thể đứng thẳng nếu không có bức tường trợ giúp, và đôi mắt đục ngầu đã là những dấu hiệu quá đủ để nhận thấy rồi.
“Vợ của anh có đây không?” Decker hỏi.
George chỉ tay vào trong nhà. “Đ-đang d-dọn đồ. C-con kh-khốn đó!”
“Đây là khoảng thời gian khó khăn với cả hai anh chị,” Decker nhận xét.
“M-mất con gái và... và g-giờ đ-đến vợ. Nhưng anh b-biết gì kh-không?”
“Không, gì thế anh?” Decker hỏi.
“Biến m-mẹ đi” Anh ta vung vẩy cánh tay đã biến dạng. “B-biến mẹ đi.”
“Có khi anh muốn nằm xuống một chút, anh à,” Lancaster. “Và dừng uống rượu đi.”
George trông bực như bị sỉ nhục. “Tôi... tôi kh-không có uống r-rượu.” Anh ta ợ một tiếng rất to và trông như chuẩn bị nôn.
“Thế mừng quá. Nhưng dù sao vẫn cần ngủ một chút.”
Decker đỡ lấy cánh tay còn lành của người đàn ông và đưa anh ta đi vào căn phòng phía trước và nằm lên ghế sofa. “Hãy nằm đây nghỉ một lát chờ chúng tôi nói vài lời với vợ anh.”
Khi George nằm xuống ghế, anh ta nói, “Cô ta kh-không ph-phải vợ tôi. Không c-còn nữa. C-con kh-khốn!”
Anh ta nhắm mắt và im lặng, chỉ còn tiếng thở.
Decker dẫn Lancaster đi dọc hành lang và tới chỗ cánh cửa phía sau mà họ nghe thấy tiếng động bên trong.
Decker gõ lên cánh cửa gỗ. “Bà Watson?”
Họ nghe thấy tiếng thứ gì đó rơi và va xuống sàn nhà. “Ai đó?” Beth Watson hét lớn.
“Cảnh sát,” Lancaster nói.
Beth Watson gào lên, “Thằng chó đẻ đó gọi cảnh sát đến sao? Chỉ vì tôi đánh nó sao? Ồ, là nó đánh tôi trước nhé, cái thằng chó chết què quặt đó.”
“Không phải là như thế. Là về chuyện của con gái bà.”
Cánh cửa bị giật mở tung và Beth Watson đứng trước cửa, chỉ đi một đôi giày cao gót cùng chiếc váy ngủ màu trắng, không còn gì khác nữa. Làn da nhợt nhạt của chị ta trông thậm chí càng nhợt nhạt hơn trong khung cảnh đó. Da xung quanh hai cánh tay của chị ta bị lõm xuống. Một bên má của chị ta đỏ và sưng tấy. Decker không cần phải tiến lại gần để ngửi thử xem chị ta còn tỉnh táo hay không. Nhưng dường như dù chị ta có uống rượu, song vẫn có thể đứng thẳng và nói chuyện có đầu có cuối được. Chí ít là chị ta hi vọng mình đang nói chuyện mạch lạc.
“Có chuyện gì về con bé vậy?” Beth hỏi.
“Lần trước khi chúng tôi đến, chúng tôi có hỏi chồng chị về ông của anh ấy.”
Hai hàng lông mày chị ta nhíu lại với vẻ khó hiểu. “Simon á? Sao nào?”
“Ông ấy làm việc ở căn cứ quân sự McDonald trước khi nghỉ hưu phải không?”
“Đúng thế. Rồi sao? Ông ấy qua đời nhiều năm rồi.”
“Nhưng ông đã sống ở đây với chị và chồng chị. Và Debbie nữa.”
“Phải, đúng rồi, thế rồi sao?” Khác với chồng mình, Beth không cảm thấy cần phải dựa vào khung cửa để có thể đứng ngay ngắn. Rõ ràng tửu lượng của chị ta tốt hơn chồng. Có thể là vì chị ta được rèn giũa nhiều hơn, Decker nghĩ.
“Đã bao giờ ông kể cho chị nghe về công việc của ông ở đó chưa?” anh hỏi.
“Ông ấy đến cái tuổi mà chỉ còn kể về quá khứ. Thế chiến thứ hai. Chiến tranh Triều Tiên. Làm việc cho chính phủ. Luyên thuyên đủ thứ. Cả ngày cả đêm. Sau ít lâu bọn tôi phát ngán cả lên. Có người quái nào muốn sống trong quá khứ đâu chứ?”
Chị ta đi ngang qua mặt Decker và hét lên vào trong hành lang. “Có người quái nào muốn sống trong quá khứ đâu hả George? Tôi không hề muốn! Tôi đã hoàn toàn sẵn sàng cho tương lai! Tương lai của tôi! Quá khứ biến mẹ đi được rồi. Anh biến mẹ khỏi đời tôi đi, thằng què đéo phải đàn ông ạ!”
Decker dùng cánh tay to lớn của mình nhẹ nhàng đưa chị ta quay trở vào trong phòng.
“Ông có bao giờ nhắc đến với chị về bất kì một công trình nào được xây ở trường Mansfield không?” anh hỏi.
Hai con ngươi của người phụ nữ trông như đang lảo đảo trong hốc mắt. “Ở trường Mansfield á? Ông ấy có làm việc ở trường Mansfield đâu. Ông ấy làm ở căn cứ quân sự cơ mà.”
“Đúng là thế. Nhưng căn cứ và ngôi trường ở ngay sát nhau.”
Chị ta móc lấy một bao thuốc lá từ trên cái kệ tủ đầu giường và châm lửa. Chị ta thở ra khói và nhìn Decker. “Tôi chả thấy hai chuyện đó liên quan quái gì đến nhau.”
“Ngôi trường được xây dựng ngay khi bắt đầu Chiến tranh lạnh, ít lâu sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc. Người dân trên khắp cả nước đều xây dựng hầm trú bom ở sân sau nhà mình. Thật ra, người ta xây những nơi như vậy cho cả các tòa nhà nữa, bao gồm trường học. Những chỗ trú ẩn tránh được bom ở bên dưới các tòa nhà.”
Ánh mắt người phụ nữ thoáng như nhớ ra điều gì.
“Chờ chút. Rất lâu về trước đúng là Simon có từng nói gì đó về một... về một thứ gì gì đó ở trường Mansfield. Không phải ông ấy xây nó từ đầu. Ông ấy chỉ xây thêm thôi. Nhưng mà tôi quên sạch, chẳng nhớ gì nữa rồi.”
“Chính xác thì cái gì gì đó mà chúng ta đang nói đến là cái gì thế?” Lancaster hỏi, nhấn mạnh.
Beth chỉ tay vào Decker. “Giống như anh ta nói đấy. Một nơi an toàn để trốn bên dưới ngôi trường phòng khi người Nga tấn công chúng ta.”
“Người Xô Viết,” Decker chỉnh lại. “Nhưng cũng gần như thế. Ông ấy có kể cho chị nghe chuyện gì về nó không? Kiểu như nó nằm ở đâu chẳng hạn?”
“Không, không kể gì chuyện đó cả. Có vẻ như nó chưa bao giờ cần dùng tới. Và rồi sau đó tôi đoán nó được lấp đi hay gì đó bởi vì quân đội đâu có muốn có ai trốn xuống dưới đó. Anh biết mà, bọn học sinh cấp ba đang tuổi sinh lý trỗi dậy mà. Anh có thể tưởng tượng được tụi nó chui xuống dưới đó để làm gì.” Chị ta dừng lại và nói nhỏ, “Thác loạn.” Rồi chị ta cười khúc khích và nấc. “Nếu ngày còn đi học ở đấy mà biết có nó, tôi sẽ là đứa đầu tiên dùng nó.”
Rồi chị gào lên với người ở phía kia hành lang, “Thác loạn, thằng chó chết ạ. Tao sẽ lamg như thế vào ngày mai! Thác loạn với những thằng khác! Rất nhiều thằng khác!”
Decker một lần nữa dẫn chị ta trở vào trong phòng ngủ.
“Vậy là ở dưới đó có một chỗ trú ẩn. May mắn cho chúng tôi là chị có nhớ về việc này,” Lancaster nói và liếc mắt nhìn Decker.
Beth nở một nụ cười méo mó. “Thật ra, trí nhớ của tôi tệ lắm. Nhưng tôi nhớ Simon kể cho tôi nghe về nó vào một tối nọ khi tôi đang nấu bữa tối. Buồn cười thật, tôi chưa bao giờ nghe ông lão đó nói chuyện, và như tôi đã nói đấy, trí nhớ của tôi rất tệ. Tôi chưa bao giờ nhớ được ngày sinh nhật của mọi người, kiểu thế. Nhưng hôm đó tôi đang làm bánh chocolate kiểu Đức khi ông ấy kể cho tôi nghe về nó. Lần duy nhất tôi từng thử làm món đó. Và tôi đoán đó là thứ khơi mào.”
“Cái gì khơi mào cái gì cơ?” Lancaster bối rối hỏi lại.
“Cái bánh chocolate kiểu Đức ấy. Nó khơi mào câu chuyện kể ấy. Giữa Đức và Nga có sự liên hệ. Họ ở Đức mà, phải không? Ý tôi là người Nga ấy.”
“Đúng thế,” Decker nói. “Đúng là họ đã từng hành quân lên đó. Ít nhất là một nửa nước Đức.”
Chị ta mỉm cười. “Bộ não hoạt động mới kì quặc làm sao.”
“Khỏi phải nói,” Decker nói. “Simon có bạn bè nào trong thị trấn có thể vẫn còn sống và có thể biết về cái nơi trú ẩn dưới lòng đất đó không?”
“Ông ấy chưa từng nhắc đến chuyện đó. Ý tôi là, khi mất ông ấy đã hơn chín mươi rồi. Tính đến giờ ông ấy cũng phải gần một trăm. Họ chết cả rồi, chẳng phải sao?” Chị ta nhỏ nhẹ nói thêm, “Giống như Debbie của tôi.”
Tất cả chìm trong im lặng một cách khó xử, cho đến khi Decker nói, “Nếu chị còn nhớ ra được chuyện gì nữa, làm ơn hãy gọi cho Thanh tra Lancaster đây. Chuyện này rất quan trọng. Chúng tôi muốn tìm ra là kẻ nào đã làm việc này. Kẻ nào đã gây ra việc này với... Debbie.”
“Anh vẫn nghĩ con bé... con bé móc ngoặc với kẻ gây nên chuyện này sao?”
“Không, thực sự tôi không có ý nghĩ đó.”
Đôi môi của người phụ nữ run rẩy. “Debbie là một đứa bé ngoan.”
“Tôi dám chắc đúng là như thế, điều đó khiến việc tìm ra kẻ nào đã gây ra chuyện này càng thêm quan trọng.”
Lancaster liếc nhìn cái vali đã chất một phần đồ đạc. “Nghe này, đây không phải là việc của tôi, nhưng chị có nghĩ chị nhất định phải thay đổi quyết liệt đến mức này khi vừa mới mất con không? Có lẽ sẽ tốt hơn cho chị và chồng của chị nếu hai người cùng nhau vượt qua chuyện này đã, rồi quyết định tiếp thế nào chờ sau này mới tính. Quyết định bộp chộp nhiều khi sẽ khiến chị hối hận về sau.”
Hai mắt Beth lác đi, nhìn Lancaster. “Tôi đã muốn bỏ đi từ hai năm trước, nhưng tôi ở lại là vì Debbie. Giờ Debbie có còn ở đây nữa đâu. Thế nên tôi sẽ không lãng phí thêm một giây nào của cuộc đời mình ở cái nơi khốn nạn này. Giờ thì, xin phép hai người, tôi cần sắp xếp cho xong để có thể đi khỏi cái chỗ quỷ quái này.”
Chị ta đóng rầm cánh cửa phòng ngủ ngay trước mặt họ.
“Không còn đủ tỉnh táo để nghĩ đến điều tốt xấu nữa rồi,” Lancaster nói.
“Đối với một số người, hôn nhân càng kéo dài thì nó càng trở nên tệ hơn,” Decker nói. “Nhưng chí ít chúng ta biết có thể giả thiết của tôi có khả năng là đúng. Simon có biết về một thứ ở trường học. Một nơi trú ẩn ngầm dưới lòng đất.”
“Giờ chúng ta làm gì?” Lancaster hỏi.
“Ra ngoài thôi. Cô có thể hút một điếu thuốc còn tôi có thể gọi vài cuộc điện thoại.”
“Anh biết tôi có thể cai bất cứ khi nào tôi muốn mà.”
Anh nhìn chị chằm chằm. “Không, cô không cai được đâu, Mary ạ. Cô là con nghiện nicotine rồi.”
“Tôi đang đùa thôi mà. Bố khỉ, anh nhất định phải hiểu mọi thứ theo nghĩa đen thế à?”
Nhưng Decker đã đang nghe điện thoại rồi.
Cần ba cuộc gọi và được giới thiệu từ người này sang người khác thì Decker mới tìm được một ai đó biết sơ sơ về thứ mà anh đang nói đến. Anh kiên nhẫn giải thích anh là ai và anh muốn gì.
“Trường Mansfield,” người phụ nữ ở đầu dây bên kia nói. “Nơi xảy ra vụ xả súng á?”
“Đúng thế,” Decker nói. “Chúng tôi đang cố tìm ra tên sát nhân vào và ra khỏi trường bằng cách nào. Do ngôi trường ở rất gần với căn cứ quân sự McDonald, chúng tôi nghĩ có thể có gì đó ở đây. Chúng tôi tìm hiểu được hóa ra có một lối đi ngầm dưới lòng đất hoặc một cơ sở hạ tầng có chức năng tương tự như thế. Chúng tôi muốn có thông tin xác nhận việc này và cũng muốn có thêm một số chỉ dẫn cụ thể về việc làm thế nào để vào được chỗ đó, như thế chúng tôi không cần lục tung cả ngôi trường chỉ để tìm được nó.”
“Tôi sẽ cần anh phải gửi yêu cầu dưới dạng văn bản với tiêu đề chính thức, như thế yêu cầu của anh mới được xác minh và thực hiện.”
“Được rồi, nhưng khi đã được xác minh và thực hiện, sẽ mất bao lâu? Chúng tôi đang truy tìm một tên sát nhân. Một kẻ đã giết hại nhiều đứa trẻ. Càng để lâu hắn sẽ trốn càng xa.”
“Tôi ước có thể nói với anh là nhanh thôi. Nhưng đây là Quân đội Hoa Kỳ. Nơi duy nhất mà chúng tôi hành động nhanh đó là trên chiến trường. Những thứ còn lại đằng sau chiến tuyến thì không nhanh cho lắm.”
Decker lấy thông tin về địa chỉ gửi yêu cầu rồi tắt máy.
Anh nhìn sang Lancaster, đang dựa người trước mui xe trong suốt khoảng thời gian anh gọi điện lẫn chơi trò Đập chuột chũi với Quân đội và rít hết không chỉ một mà ba điếu thuốc.
Lancaster thả đầu mẩu điếu thuốc cuối cùng và dùng gót giày nghiền nát nó vào với mặt đường. “Sao rồi?”
“Có khi tất cả chúng ta sẽ chết vì tuổi già trước khi họ phúc đáp yêu cầu.”
“Vậy giờ sao?”
“Thì có vẻ như chúng ta sẽ phải tự mình tìm nó thôi.”
CHƯƠNG 28
Decker và Lancaster đi dọc theo căn tin, mỗi người đi từ một đầu khác nhau.
“Vậy là có thể hiểu sẽ có một lối vào ở trong này,” Lancaster nói. “Phòng lớn, có thể tập trung nhiều học sinh ở đây và sau đó là dẫn các em xuống nơi trú ẩn trong trường hợp có sự cố khẩn cấp.”
Decker gật đầu mà không nói gì.
Chị tiếp tục, “Nếu nó ở trong này, chắc hẳn nó phải được giấu sau một cái gì đó. Có thể là các thiết bị chăng?”
Decker lắc đầu. “Không thể là thứ gì đó kiên cố thế được. Trong trường hợp khẩn cấp, cần phải có thể di tản sao cho nhanh chứ.”
“Nhưng có thể nó đã được che phủ một lớp gì đó lên,” Lancaster nêu ý kiến. “Xây đè chẳng hạn.”
“Nhưng kẻ nổ súng vẫn không thể đục tường, sàn nhà hoặc trần, bởi làm như thế sẽ tạo ra tiếng động và để lại bằng chứng về việc hắn đi từ đây ra hành lang phía sau như thế nào.”
“Ồ, hắn có để lại bằng chứng là hắn ở trong này đấy thôi. Đồ ăn ôi thiu, nhớ không?”
“Hắn cố tình để lại bằng chứng đó. Hắn hoàn toàn có thể dễ dàng hạ nhiệt độ trở lại sau khi đã ra khỏi đó. Chết tiệt, dù sao hắn cũng đâu cần phải ở lại trong kho lạnh suốt cả đêm. Hắn muốn chúng ta biết là hắn đã ở trong đó. Nhưng hắn không muốn chúng ta tìm ra được hắn đi từ trước ra sau như thế nào. Chí ít là không muốn bị lộ ngay tức thì. Đó là lý do hắn để lại dấu vết trên trần và vụn gạch trên sàn. Một biện pháp đánh lạc hướng kinh điển. Hắn đang chơi chúng ta. Và hắn khiến chúng ta mất thời gian. Tất cả có lợi cho hắn và bất lợi cho chúng ta.”
Lancaster tiếp tục liếc nhìn xung quanh. “Vậy là chúng ta đang tìm kiếm một lối dẫn vào trong này đã được che kín. Chỉ có điều chúng ta không biết nó ở đâu và được che thế nào.”
“Từ ‘che’ có thể chỉ rất nhiều thứ khác nhau. Nhưng điểm mấu chốt là, gã này kết bạn với Debbie vì một lí do và một lí do duy nhất - tìm hiểu về lối đi này.”
“Thôi nào, Decker. Làm thế nào hắn biết là cô bé biết mà hỏi chứ?”
“Tôi phát hiện ra điều đó dựa trên quan sát, linh cảm và một chút tìm hiểu. Hắn có thể làm điều tương tự. Đây là một thị trấn tương đối nhỏ. Có vô số cách để hắn phát hiện ra Simon Watson đã từng làm việc ở căn cứ. Hắn cũng có thể biết được ông ấy từng sống với gia đình Watson. Hắn có thể đã tiếp cận Debbie để dò hỏi xem cô bé liệu có biết gì về nó hay không. Và tất nhiên là cô bé có biết.”
“Như thế sẽ cần lên kế hoạch và tính toán trước rất lâu.”
“Và đó có vẻ như là một thế mạnh của gã này.”
Decker đi qua đi lại trước một phần của bức tường.
Lancaster nhìn thấy và nói, “Tôi cá là những quy định đó sáu mươi năm nay không hề thay đổi. Tôi đoán anh ngoan ngoãn tuân thủ tất cả những cái đó hồi còn học ở đây chứ hả?”, chị nở một nụ cười theo cùng.
Những “quy định” mà chị đang nhắc tới được dán trên một khoảng rộng của bức tường mà Decker đang chăm chú quan sát. Các quy định bao gồm: không nói to, không ném đồ ăn, không ăn đồ ăn trên dĩa của người khác, không được bỏ lại vỏ hộp sữa trên bàn, bỏ rác vào thùng, không chạy, vân vân và vân vân.
“Amos, tôi nói -”
Anh giơ một tay lên ra hiệu cho chị im lặng, trong lúc đó anh bước đi bước lại dọc theo bức tường và rồi sau đó nhìn xuống sàn nhà.
“Cô nhìn dưới này có thấy gì không Mary?”
Chị cúi xuống thấp và nhìn vào vị trí mà anh đang chỉ.
“Một vài vết hằn. Có lẽ là dấu giày của tụi học sinh.”
“Tôi không nghĩ vậy. Trường Mansfield không yêu cầu mặc đồng phục. Hầu hết nam sinh đều đi giày thể thao. Và từ những gì tôi nhìn thấy, phần lớn nữ sinh đi giày thể thao, giày bệt hoặc cao gót đế vuông. Các loại giày dép đó không thể để lại những vết hằn kiểu như vậy được. Thật ra dấu này giống như cào rách cả lớp vải sơn lót sàn vậy. Và những vết đó không hề ngắn, không giống vết mà gót giày có thể tạo ra. Chúng khá dài. Và chúng hơi uốn sóng nhẹ. Trông như có tận vài vết cả thảy.”
“Hừm, thế anh nghĩ chúng là gì?”
Anh đứng gần hơn vào cái phần của bức tường mà tại đó các quy định được in vào một tấm gỗ lớn có màu sơn tương đồng với màu của bức tường. Tấm gỗ bám sát với sàn nhà và chạm gần tới trần.
“Không có dấu vết của bản lề,” anh nói. “Nhưng -”
Anh dí các ngón tay vào dưới khu vực bên phải của bức tường và chọc vào nhiều vị trí khác nhau. Anh làm tương tự với phía bên trái của bức tường. Cuối cùng, sau mười phút thăm dò, chọc và đẩy, một tiếng tách nhẹ vang lên và toàn bộ khu vực phía sau tấm biển bật mở, hướng ra ngoài. Anh kéo tiếp nó, để mở rộng hơn. Để lộ ra phía sau đó là hai cánh cửa bằng gỗ cũ được sơn màu trùng với màu của bức tường.
“Nhìn sàn nhà kìa,” Decker nói.
Lancaster để ý thấy có một vài những vết kéo xước mới xuất hiện tại vị trí mà tấm gỗ bắt đầu di chuyển từ đó dọc theo sàn nhà khi anh đẩy mở nó.
“Chết tiệt, Amos ạ. Dấu vết trên sàn nhà là từ cánh cửa, khi nó được kéo mở.”
“Bản lề được đặt ở bên trong, cách khoảng ba mươi phân và được đặt trên một cấu trúc đỡ để không ai nhìn thấy được. Nhưng bản lề đã bị cong đi đôi chút theo thời gian, do đó mới kéo xước sàn nhà.” Anh vuốt những ngón tay dọc theo một bộ bản lề, và khi bỏ tay ra, đầu ngón tay của anh bị đen đi.
“Mới được tra dầu gần đây,” anh nói.
Có một cái tay nắm cửa nhỏ ở chính giữa mặt phía sau của bức tường.
“Anh nghĩ cái đó để làm gì?”
Decker suy nghĩ một lúc. “Khi đã sang được phía bên kia, nó được dùng để kéo kín bức tường lại.”
“Phải rồi. Nhưng tại sao lại phải có cửa nhỉ? Nếu họ muốn che kín nó, tại sao không che luôn đi?”
“Tôi không biết, Mary ạ. Chắc hẳn xây được nó tốn kém nhiều tiền của lắm. Có thể họ muốn có một lối vào tương đối dễ dàng trong trường hợp có thể phải sử dụng đến nó lần nữa.”
“Có lẽ vậy.”
“Tôi không thấy có dấu vân tay nào, nhưng chúng ta không nên bỏ qua. Vẫn có những dấu vân tay ẩn, và chúng được gọi với cái tên đó là có lí do.”
Anh cầm lấy một con dao từ trong cái hộp trên một kệ bếp để cạy mở cánh cửa bằng ấn cái khóa loại thường dùng đang giữ hai cánh cửa với nhau ra sau. Cánh cửa được đẩy mở nhẹ nhàng, cho thấy bản lề của nó cũng mới được tra dầu gần đây.
Có một hàng các bậc cầu thang dẫn xuống một nơi tối đen như mực.
Decker chộp lấy chiếc đèn pin khẩn cấp cắm trên cái giá treo gắn vào tường bên cạnh quầy phục vụ và quay trở lại, đứng trước bậc cửa. “Sẵn sàng không?”
“Chẳng phải chúng ta nên báo cho những người khác nữa sao?” Lancaster lo lắng nói.
“Sẽ báo, sau khi chúng ta xem thử nó dẫn tới đâu.”
“Nhưng FBI thì sao?”
“Kệ mẹ tụi FBI đi, Mary. Vụ này là của chúng ta, không phải của họ.” Anh nhìn chị chằm chằm. “Cô đi với tôi chứ?”
Cuối cùng chị gật đầu và theo anh bước xuống cầu thang.
Họ đi tới bậc thang cuối cùng, và tại đây Decker dừng lại và rọi đèn xung quanh.
“Nhìn ở kia kìa.”
Họ nhìn thấy treo ở một mặt tường là hai miếng gỗ ép lớn được sơn màu. Những cái đinh bị đập cong nhô ra trên những miếng gỗ.
Decker nói, “Đó mới thật là cách họ che giấu lối đi này. Tôi nhìn thấy các lỗ đóng đinh ở xung quanh cánh cửa đôi. Tấm gỗ ép đó được đóng phía trước hai cánh cửa, tất cả những gì mà họ nhìn thấy là một bức tường kiên cố.”
“Anh nghĩ là kẻ nổ súng đã làm việc đó sao?”
Decker rọi đèn xuống sàn nhà. “Chắc chắn là thế. Mùn cưa trên sàn trông khá là mới. Nếu hắn nạy đinh, bụi mùn cưa chắc chắn sẽ rơi ra và rớt xuống sàn. Tương tự khi hắn kéo tấm biển gỗ để ra được cầu thang. Và có thể hắn đã dùng cưa để cắt lớp ván gỗ nữa.”
“Nghĩa là hắn đã phải làm việc này từ trước đó. Chẳng lí gì hắn có thể cắt được lớp tường gỗ trong giờ học. Sẽ tạo ra rất nhiều tiếng động.”
“Có thể hắn đã làm việc này từ đêm hôm trước. Hắn từ trong kho lạnh đi ra và bắt tay vào làm việc. Ở đây không có ai nên chẳng ai nghe thấy gì. Hắn mở bức tường có tấm biển ra, cắt lớp tường gỗ, mở hai cánh cửa, và dồn tất cả mọi thứ xuống đường hầm.”
“Nếu là hắn làm tất cả những việc đó, thì Amos ạ, có thể đó là lí do vì sao hắn trốn trong kho lạnh.”
“Có thể là thế,” Decker nói.
Decker chỉ tay xuống sàn nhà thêm một lần nữa. Dưới lớp bụi là những dấu giày rất rõ ràng dẫn theo hướng mà họ đang đi.
Hai nhóm dấu giày rõ ràng dẫn đi dọc theo đường hầm.
“Đi sang bên phải đi, Mary, để bảo toàn chúng. Và dùng điện thoại chụp ảnh lại trong lúc chúng ta đi.”
“Được thôi, nhưng tại sao lại có những hai dấu chân nhỉ? Liệu có phải là của hai người khác nhau không?”
Decker ngồi xuống và rọi đèn vào chúng. “Không. Các dấu chân trông có vẻ là giống hệt nhau. Và không phải là của hai người đi bên cạnh nhau. Khoảng cách giữa các dấu chân quá gần nhau. Nhưng có hai nhóm dấu chân thì có thể hiểu được.”
“Tại sao?”
“Đi nào.”
Họ tiếp tục, vừa đi chị vừa chụp ảnh lại. Họ đi qua một cánh cửa lớn, bằng kim loại dày cả chục phân, nó được mở dễ dàng là bởi vì nó được gắn với bản lề thủy lực.
“Một dạng cửa chịu được sức nổ,” Decker nói.
Giờ, không gian mở rộng thành một căn phòn lớn rộng khoảng hơn ba mét rưỡi và sâu gấp đôi quãng đó. Sàn nhà bằng bê tông, các bức tường và trần nhà cũng vậy. Trên các bức tường gắn các tấm biển, chỉ dẫn những việc phải làm trong trường hợp xảy ra sự cố khẩn cấp. Một số được in thêm biểu tượng đầu lâu xương chéo, dấu hiệu quốc tế thể hiện có nguy hiểm. Dọc theo các bức tường là các tủ đựng đồ bằng kim loại đã cũ, trên đó cũng được gắn biển tên. Một trong số đó ghi MẶT NẠ PHÒNG ĐỘC. Một biển khác ghi, ĐỒ SƠ CỨU. Biển thứ ba ghi, NƯỚC VÀ THỰC PHẨM. Bụi và mạng nhệ giăng kín, và không khí có mùi cũ kỹ và ẩm mốc.
“Chắc hẳn họ phải có một nguồn cung cấp không khí độc lập,” Decker nói. “Nếu bị tấn công hạt nhân, không thể lấy được không khí từ bên ngoài.”
“Nhưng dưới này cũng không thể kín khí được. Tôi vẫn thở bình thường.”
“Điều đó có nghĩa là dưới này có chỗ nào đó thông khí, như thế các công nhân mới có thể đưa nhu yếu phẩm chất đầy trong này, và những người xuống đây có thể thở được, nhưng họ sẽ đóng lỗ thông đó khi có chuông báo động.”
Đi theo dấu giày, họ vượt qua không gian của hầm trú bom và đi qua một cánh cửa chịu sức nổ khác, bên kia cánh cửa có thêm một đường hầm khác y hệt như đường hầm vừa rồi. Bóng tối được xua đi sau mỗi giây nhờ ánh đèn flash từ điện thoại của Lancaster khi chị chụp ảnh những dấu giày tiếp tục đi theo đường hầm này.
Decker đang nhẩm đếm số bước chân trong đầu. Tiếp đó họ bắt gặp một dãy cầu thang nữa. Những bậc thang này hướng lên trên. Cứ qua một lúc, Decker lại soi đèn xuống sàn nhà một lần. Các dấu giày mà họ nhìn thấy lúa trước song song với họ suốt cả chặng đường. Chúng hướng lên trên. Ở phía cuối của cầu thang là một bức tường trắng trơn.
“Đường cụt sao?” Lancaster khác.
“Không thể nào.” Decker ấn đầu ngón tay quanh gờ của bức tường, sờ lên rồi xuống ở cả hai cạnh mép. Rồi anh sờ thấy một cái tay cầm, kéo nó. Bức tường bắt đầu tách ra, và rồi sau đó nó mở ra.
“Là gỗ bấc,”anh nói, dễ dàng nhấc nó ra và đặt sang bên. Ở phía bên kia của bức tường đã mở là một không gian mở nhỏ chất đầy rác rưởi. Phía bên kia của đống rác là một cánh cửa.
“Chính quyền không thể che chỗ này bằng gỗ bấc được,” Lancaster nhận xét.
“Tôi dám chắc là không. Nhưng khác với trong căn tin, bức tường không thấy được bằng mắt thường, bức tường có lẽ được đặt ở đây phòng trường hợp có người mở cánh cửa đó. Kẻ nổ súng chắc hẳn đã thay thế bức tường từng ở đây bằng gỗ bấc. Trông có vẻ chắc chắn nhưng lại có thể dễ dàng di chuyển được.”
“Những việc anh nói nãy giờ là rất nhiều, Amos ạ. Hắn không thể nào làm tất cả chỉ trong một đêm.”
“Nhưng nếu hắn có thể thâm nhập vào trường mỗi tối, có thể hắn đã ở đây nhiều lần, làm tất cả những gì hắn cần.”
“Nhưng làm thế nào hắn làm được việc đó? Hắn không thể chỉ trông chờ vào các buổi kịch ở trường mỗi tối, đúng không? Và còn mang theo cả cưa và những dụng cụ khác nữa?”
“Tôi không biết chắc hắn làm được việc đó bằng cách nào.” Decker rọi đèn xuống sàn nhà. “Kiểm tra mảng gỗ ngay phía trước bức tường đi. Không có nhiều bụi lắm. Đống rác kia đã từng ở ngay phía trước bức tường, nhưng đã được di chuyển để không ngáng đường.”
Decker kiểm tra tay nắm cửa để tìm dấu vân tay, và sau đó dùng con dao mà anh đã mang theo để cố nạy mở chốt cửa.
“Nó bị khóa rồi. Hộ tôi một giây.” Anh đưa cái đèn pin sang cho chị và lấy dụng cụ phá khóa từ trong túi ra.
“Dụng cụ tiêu chuẩn của thám tử tư à?” chị nói với vẻ chế giễu.
“Hồi làm cảnh sát cô chưa phá khóa bao giờ à?”
Một phút sau cánh cửa bung mở ra sau chừng vài chục phân và va vào cái gì đó.
“Cái gì thế?” Lancaster thì thầm.
Decker để ý thấy chị đã rút súng ra. Và rằng tay trái của chị vẫn đang run rẩy.
“Có cái gì đó chặn ở cửa.” Anh thò đầu qua phần cửa đã mở và nhận ra họ đang ở đâu.
“Đây là kho chứa của lớp học nghề. Tôi đã từng xem qua chỗ này. Cánh cửa va phải một chồng các cụm máy điều hòa gắn cửa sổ đã cũ. Đó là lí do vì sao lúc trước tôi không nhìn thấy cánh cửa. Mấy cụm máy đó đã che kín nó từ vị trí mà tôi đứng ở phía bên kia.”
“Và tôi dám cá khi chúng ta lục soát khu vực này, không ai để ý thấy cánh cửa ở phía bên kia cũng vì lí do này.”
“Nghe có vẻ hợp lý.”
Lancaster nhìn khoảng trống. “Tôi có thể đi qua đó được.”
Chị xoay ngang người và dễ dàng đi qua khoảng hẹp.
Chị nhìn xung quanh. “Nếu anh có thể tiếp tục đẩy cánh cửa từ bên anh, tôi sẽ chỉnh mấy cụm máy điều hòa đi theo cho cân, để chúng khỏi đổ xuống.”
Anh dùng sức nặng của mình tiếp tục đẩy cảnh cửa, và cánh cửa mở rộng thêm nữa, cùng với mấy cụm máy điều hòa di chuyển theo, trong khi Lancaster bám chắc người theo chúng, giữ cho chúng đứng thẳng.
“Được rồi, Amos, thế là thừa chỗ cho anh đi qua rồi.”
Decker đi qua khoảng trống đã được mở rộng, nhìn cánh cửa đã được mở một phần và rồi sau đó nhìn mấy cụm máy điều hòa chồng lên nhau, và sau đó nhìn chằm chằm xuống sàn nhà.
Và rồi anh cau mày.
“Giờ sao?” Lancaster hỏi.
“Ở trong này không có nhiều bụi lắm, thế nên tôi không nhìn thấy dấu giày nào nữa.”
“Nhưng chúng ta đã nhìn thấy dấu giày đi lên cầu thang. Chắc hẳn hắn cũng đã phải đi vào đây.”
“Đồng ý. Vậy là cứ giả sử hắn đã đi vào đây và đi vào lớp học nghề.”
Họ rời kho chứa đồ và đi vào trong căn phòng rộng với đầy đủ dụng cụ và bàn thực hành.
“Nhưng làm thế nào để gã đó biết sẽ không có ai trong phòng học nghề?” Decker nói.
“Ồ, vậy là anh không biết à?” Lancaster nói, giọng có vẻ hài lòng khi có điều chị biết mà Decker không biết.
“Biết gì?”
“Giáo viên dạy nghề thôi việc hồi cuối năm ngoái. Họ không tìm được người thay, thế nên cả năm nay đâu có lớp dạy nghề.”
“Đó là lý do mà cửa phòng học bị khóa. Và cũng là lý do mà kẻ nổ súng biết phòng học không có người. Chắc chắn Debbie đã kể cho hắn rằng lớp học nghề không mở.”
“Nhưng anh đã đúng, Amos ạ. Đây là cách để hắn đi từ căn tin tới đầu kia của trường mà không để bị nhìn thấy.”
Anh gật đầu. “Thật ra ngày hôm đó hắn đã làm việc này hai lần. Hắn đi ra khỏi kho lạnh, đi xuống tầng hầm, đi ra và xuất hiện trong hành lang, bắn những người trên đường hắn đi tới khu vực phía trước. Sau đó hắn lại đi vào đường hầm trong căn tin, đóng bức tường lại, vav đi ngược trở xuống đường hầm.”
“Đó là lí do vì sao lại có hai nhóm dấu chân giống hệt nhau.” Lancaster nói thêm.
“Phải. Rồi, vì lớp học nghề cũng có không gian rộng, thế nên có thể họ đã tính toán sẽ tập tring bọn trẻ ở cả hai đầu của ngôi trường và dẫn xuống nơi trú ẩn trong trường hợp xảy ra tình huống khẩn cấp.”
“Anh tính toán thì đường hầm sâu bao nhiêu?” chị hỏi.
“Dựa theo số bậc, khoảng ba mét rưỡi.”
“Không chắc đủ để bảo vệ khỏi vụ nổ hạt nhân. Kể cả nếu được xây bằng bê tông và có cửa gia cố.”
Anh nhìn chị chằm chằm. “Ồ, thế chính xác thì cái gì có thể bảo vệ cô khỏi bom hạt nhân?”
“Rồi rồi.”
“Tôi đã đi vào đây đêm đầu tiên mà tôi tới xem xét xung quanh. Những dấu giày đằng kia là của tôi.” Anh chỉ tay vào bức tường ở góc xa. “Tôi đi xung quanh, và rồi sau đó, như tôi đã nói, tôi kiểm tra qua phòng kho ở phía sau.”
Decker hạ gối quỳ xuống và quan sát sàn nhà. “Mary, rọi đèn vào chỗ này đi. Chắc hẳn lúc trước tôi đã bỏ qua nó.”
Lancaster làm theo, để lộ ra một dấu dài cắt ngang qua lớp bụi đang lấp lánh dưói ánh đèn, cùng với dấu in giày.
“Anh nghĩ đó là cái gì?”
“Rọi đèn nhích sang trái khoảng mười lăm phân đi.”
Chị làm theo. Không có gì cả.
“Thử nhích sang phải mười lăm phân xem nào.”
Chị làm theo và họ nhìn thấy một dấu vết tương tự.
“Đó là cái gì?” Lancaster hỏi.
“Dấu vết từ chân của Debbie Watson.”
“Chân của cô bé sao?”
“Hoặc nói đúng hơn là dấu giày cao gót, khi cô bé bị kéo ra khỏi đây. Dấu giày là của kẻ nổ súng.”
“Ra khỏi đây á? Cô bé đang làm gì ở trong này chứ?”
“Gặp mặt thằng bạn trai Jesus của cô bé.”
“Không phải là thật đâu, đúng không?”
“Debbie là bệnh nhân đầu tiên được giải phẫu tử thi. Cô có đọc báo cáo pháp y không?”
“Tất nhiên là có.”
“Nguyên nhân tử vong là gì?”
“Tại sao phải lãng phí thời gian thế hả Amos? Nguyên nhân tử vong của cô bé là một phát đạn bằng súng hoa cải vào mặt, như anh đã biết rất rõ.”
“Cái đó thì rõ ràng rồi. Nhưng cô có để ý nhân viên điều tra tìm được gì trong miệng cô bé không?”
“Ý anh là còn gì nữa ngoài mấy viên đạn ấy hả?” Lancaster nói bằng giọng mỉa mai.
“Anh ấy tìm được một ít còn sót lại của kẹo ngậm bạc hà.”
“Kẹo ngậm bạc hà sao? Tôi không nhớ từng đọc qua đoạn đó.”
“Nó nằm ở gần cuối của báo cáo. Tôi luôn luôn đọc đến hết.”
“Nhưng kẹo ngậm bạc hà sao?”
“Một ít còn sót lại của kẹo ngậm bạc hà. Một gói kẹo như thế được tìm thấy trong tủ đựng đồ của cô bé. Hai gói khác đã bị lấy mất. Đó là lí do vì sao mà cô bé đi tới tủ khóa của mình. Để lấy kẹo bạc hà. Để hơi thở thơm tho hơn trước khi đi gặp bạn trai. Và cũng là kẻ sát hại cô bé. Và việc này giải thích được vì sao lại có khoảng trống thời gian. Hắn từ trong kho lạnh đi ra vào lúc bảy giờ hai mươi tám phút. Hắn đi xuống đường hầm. Nhưng hắn phải đợi Debbie ra khỏi lớp. Có thể bọn họ đã có thời gian chuẩn bị trước. Cô bé giả vờ không khỏe, xin giấy nghỉ, đi tới chỗ tủ khóa, lấy kẹo bạc hà, và rồi đi vào phòng học nghề.”
“Nhưng anh nói cửa bị khóa cơ mà?”
“Jesus có thể đã mở khóa cho cô bé từ bên trong.”
“Phải rồi.” Chị nhìn anh với vẻ hoài nghi. “Chính xác thì anh đã suy ngẫm đến những điều này trong bao lâu rồi?”
“Không lâu lắm.” Decker nhắm mắt và đưa tay ra sau đầu, chạm vào khoảng giữa đầu từ trên xuống. “Và kết quả giải phẫu cho thấy có một vùng tụ máu bán cấp dưới màng cứng ở phía sau đầu, ngay vị trí này. Bên trái của xương chẩm bị rạn, đó là một loại xương rất cứng và rất khó có thể bị tổn thương đến mức đó. Vết thương đó đủ để giết chết cô bé kể cả nếu khẩu súng không làm được việc đó, nó sẽ gây chảy máu trong và dẫn tới làm tăng áp lực lên não. Bác sĩ pháp y suy đoán vết thương xuất hiện khi cô bé ngã ngửa ra sau, đập đầu xuống sàn sau khi bị bẵn.” Anh mở mắt ra và nhìn người cộng sự của mình. “Bên trái.”
“Nghĩa là cú đánh sẽ xuất phát từ bên trái và từ đằng sau? Đó là một kẻ thuận tay trái? Như anh đã nói kẻ viết bản nhạc, chính là thuận tay trái.”
“Phải, nhiều khả năng là như thế.”
“Vậy là hắn gặp cô bé trong này và hạ gục cô bé, nhưng tại sao chứ?”
“Hắn cần loại bỏ cô bé. Và hắn cần phải giết chết cô bé đầu tiên, trước bất kì ai khác. Hắn không thể mạo hiểm để cô bé có khả năng sống sót. Cô bé có thể chỉ mặt điểm tên hắn. Thế nên hắn sắp xếp để gặp cô bé, dùng đường hầm để đi dọc trường mà không bị ai nhìn thấy. Tôi có thể hình dung đây không phải là lần đầu tiên mà cả hai làm việc này. Có thể hai đứa nó đã từng quan hệ tình dục trong lớp học nghề trong hoặc sau giờ học trong một vài dịp khác. Tôi tự hỏi Debbie có thường xuyên xin phép lên phòng y tế không?”
“Quan hệ tình dục sao? Anh nói nhiêm túc đấy à?”
“Một nơi riêng tư của riêng hai đứa ngay giữa trường học kia mà. Còn gì có thể tuyệt hơn thế trong mắt một đứa trẻ vị thành niên say đắm men tình với người đàn ông trưởng thành của nó, một kẻ thậm chí không hề học tại đây? Và kẻ sát nhân chắc hẳn cũng muốn nhân dịp ghi nhớ mọi lối đi trong đường hầm khi hắn lên kế hoạch toàn bộ chuyện này. Hắn còn có thể mang đồ và cất giữ ở trong đây. Quá hoàn hảo.”
“Vậy anh đoán mọi việc đã diễn ra như thế nào?”
“Hắn gặp cô bé trong phòng học nghề, cô bé nghĩ hai đứa sẽ thân mật với nhau, thế nên dùng đến kẹo bạc hà. Hắn đánh ngất cô bé, lấy dụng cụ, lẻn ra khỏi phòng, đi vòng qua góc khuất tới trước camera và để hình ảnh của mình được ghi lại.” Anh liếc nhìn Lancaster. “Cô nhìn thấy dấu giày trong đường hầm rồi chứ?”
“Anh biết là tôi thấy mà.”
“Tôi ước tính giày sẽ có cỡ khoảng 39 hoặc có thể là 40, nhưng không to hơn thế.”
Lancaster trông có vẻ bối rối. “Vậy là cỡ chân không hề lớn đối với một kẻ to cao,” chị chậm rãi nói. “Earl cao một mét tám mà đã đi giày cỡ 44 rồi.”
“Tôi cao một mét chín lăm và đi giày cỡ 47, với người kích cỡ như tôi thì như thế chẳng có gì là bất thường. Một gã cao gần một mét chín và nặng khoảng trên 90 cân mà lại đi giày cỡ 39 ư?” Không đúng lắm. Và tôi không thể lách qua cái khe cửa nếu có mấy dàn máy điều hòa chắn đường. Tôi phải đẩy chúng ra xa hơn mới đủ chỗ. Và do không có dấu vết nào trên sàn nhà, chứng tỏ tôi là người duy nhất từng đẩy dàn máy điều hòa ra. Cô thì có thể đi qua quá dễ rồi, nhưng cô thấp và gầy gò. Gã trong đoạn băng ghi hình có phần eo nhỏ hơn tôi rất nhiều, nhưng vai và ngực của hắn thì rộng không kém gì tôi. Như vậy làm thế nào để hắn đi qua được khe cửa mà không cần dịch chuyển mấy cái máy nhỉ?”
“Tôi không biết. Anh có biết không?”
“Tôi có vài ý này.”
Lancaster bồn chồn nhìn xung quanh và miệng nhai kẹo điên cuồng, đến nỗi răng của chị va vào nhau. “Chúng ta cần điều một đội pháp chứng vào đây. Tôi cầu Chúa là chúng ta chưa làm nhiễu bằng chứng. Cục sẽ xé chúng ta tan tành, sau khi Mac sạc cho chúng ta một trận.” Chị nhìn xung quanh và rồi dường như chị chợt nhận ra điều gì đó.
“Chờ chút đã. Nếu gã đó đánh ngất Debbie và kéo cô bé ra khỏi đây, làm thế nàk để hắn bắn cô bé ở tư thế đứng thẳng bên ngoài hành lang? Phân tích đường đạn đạo đã xác nhận rất rõ ràng. Cô bé đứng thẳng. Các vết máu bắn ra không thể làm giả được. Và giữa thời điểm hình ảnh của hắn bị ghi lại trên video và thời điểm giết Debbie cũng chỉ có khoảng cách là một phút thôi.”
“Có một cái lỗ ở sau lưng áo khoác của cô bé, ngay vị trí đằng sau cổ,” Decker nói. “Có thể hắn đã móc cái áo khoác lên tủ khóa của cô bé. Nó có thể giữ cô bé đứng thẳng trong một thời gian ngắn. Hắn lách người, đi vòng qua góc khuất, để hình ảnh của mình được thu lại, vòng trở về và bắn cô bé. Phát súng đã đốn ngã cô bé. Đó là khi mà chiếc áo khoác bị xé rách, nó bị giật bung ra khỏi tủ khi cô bé ngã xuống.”
Decker rọi đèn xung quanh căn phòng và phát hiện ra thêm nhiều dấu giày khác, bao gồm một nhóm dấu giày dẫn vào trong kho và sau đó là quay ngược xuống đường hầm. Trong lớp học nghề cũng có những dấu chân, thuộc về Debbie Watson. Cô bé đi loại bốt hầm hố. Đôi bốt đó vẫn ở nguyên trên thi thể cô. Nhìn theo dấu vết dưới sàn, Decker có thể dần hình dung được cảnh tượng đã diễn ra. Hai nhóm dấu chân tiến lại rất sát với nhau. Có thể là khi hai người đó hôn nhau. Cô bé đã mong chờ được quan hệ thể xác với người đàn ông mà cô gọi là Jesus, ấy thế nhưng mà thay vào đó cô bé lại bị vứt thẳng xuống mồ ở tuổi đời quá trẻ.
Decker dựa vào tường và tua lại cái đầu máy ghi hình của mình cho tới khi anh dừng lại tại điểm mà anh muốn. “Cô có để ý thấy thứ gì khác dưới đường hầm không hả Mary?”
“Cái gì khác? Chẳng hạn là cái gì?”
Anh mở mắt ra. “Có hai nhóm dấu chân đi lên cầu thang dẫn vào phòng kho của lớp học nghề.”
“Đúng thế.”
“Và có một nhóm là đi ngược cầu thang để xuống.”
“Cũng đúng. Rồi sao?”
“Và mặc dù có những vết xước ở khắp cái khu vực đó cho thấy hắn đã từng sử dụng đường hầm này, thế nhưng lại chẳng có một nhóm dấu chân rõ ràng nào đi ngược xuống đường hầm quay về căn tin để khớp với hai nhóm dấu chân đi từ trước ra sau ngôi trường.”
Hai mắt Lancaster mở to. “Chết tiệt, đúng là như thế. Vậy thì gã này đã trốn thoát khỏi trường bằng cách nào.”
“Giờ thì, đó là một câu hỏi rất hay.”
CHƯƠNG 29
Trong lúc Lancaster vội vã chạy đi báo cho các đồng nghiệp của mình về tiến triển mới này, Decker lại lẻn quay ngược trở vào đường hầm và đi xuống cuối cầu thang.
Vậy là nếu kẻ nổ súng không quay trở lại đường hầm này và trốn thoát qua căn tin hoặc đi ra bằng cửa trước hoặc cửa sau, những nơi mà chắc chắn đã có ai đó phải nhìn thấy hắn, vậy thì hắn đã đi đâu? Cả ngôi trường đã được lục soát, bao gồm cả các tầng ở trên không được dùng tới, không hề phát hiện được một thứ gì cả. Cảnh sát không hề biết về đường hầm này, tất nhiên rồi, và do đó chưa từng ai lùng sục dưới này cả. Nhưng giờ thì gã đó đã không còn ở dưới này nữa rồi. Hắn đã đi theo cầu thang từ nhà kho của lớp học nghề xuống đây và rồi đi... đâu?
Decker dùng đèn pin rọi quanh toàn bộ khu vực ở cuối cầu thang.
Có hai bức tường trống ở hai bên cầu thang. Tại đó không có bụi và do đó dấu giày cũng chỉ dừng lại ở cuối cầu thang.
Anh nhìn lại vào vị trí đó thêm một lần nữa. Nhưng tại sao ở đây lại không có bụi trong khi tất cả những nơi khác đều có? Đã có ai dọn sạch bụi đi hay sao? Nếu đúng là vậy, thì lí do là gì? Anh có thể nghĩ ra ít nhất là một lí do.
Đó là một thứ mà ai đó đã nói với anh.
Một điều mới được nói ra rất gần đây thôi.
Beth Watson.
Chị ta đang thu dọn đồ đạc để bỏ chồng. Ôg nội chồng đã kể cho chị ta nghe về đường hầm. Nhưng chị ta cũng nói điều gì đó mà Simon đã kể cho chị ta.
Ông ấy không xây nó từ đầu. Ông ấy chỉ xây thêm thôi.
Decker tiến lại gần hơn với bức tường ở bên tay phải và dùng ngọn đèn chiếu lên bề mặt của bức tường từ mọi góc độ.
Chẳng có gì hết.
Anh làm tương tự với bức tường bên trái.
Có gì đó.
Có một đường nối mờ ở chỗ bức tường nối với cầu thang. Anh nhét ngón tay vào khe hở và kéo. Và bức tường mở ra nhờ bản lề, trơn tru và không một tiếng động, y hệt như bức tường giả ở trong căn tin. Nó mới được dùng gần đây.
Decker đang nhìn xuống một hành lang dài và tối.
Không khí trong này cũng có mùi cũ kĩ và ẩm mốc. Nhưng không quá đậm mùi, điều đó có nghĩa là bằng một cách nào đó không khí trong lành đang được đưa vào đây, từ một chỗ nào đó. Anh di chuyển xuống hành lang này, ngọn đèn của anh rọi xuống sàn nhà bằng bê tông bẩn thỉu. Có dấu giày ở đó, lại là cỡ chừng 39. Anh chụp lại chúng bằng điện thoại của mình.
Anh dừng lại khi anh nhìn thấy cánh cửa. Dựa vào bên cạnh cánh cửa này và sát lên tường là những tấm gỗ ép với đinh bị uốn cong nhô ra từ trên mặt gỗ. Giống như ở trong căn tin. Chúng đã từng được dùng để che đậy thứ ở cuối con đường này, nhưng đã có kẻ nào đó tháo mở chúng.
Kẻ nổ súng.
Anh rút súng của mình ra, chạm tay lên cánh cửa gỗ, và đẩy mở nó. Anh chiếu đèn về phía trước. Anh có thể nghe thấy tiếng nước nhỏ tí tách, tiếng lạo xạo mà anh đoán là của lũ chuột và tiếng tim anh đang đập.
Decker là một người can đảm, bởi vì chẳng có ai theo nghề của anh mà lại không can đảm hơn người bình thường. Nhưng anh cũng sợ, bởi vì không ai có thể theo nghề, hoặc chí ít là tồn tại được trong nghề rất lâu, nếu không có một hiểu biết rất sơ đẳng về rủi ro tính mạng có thể bị lấy mất.
Anh tiến lên phía trước. Sau chừng ba mươi mét, sàn nhà dốc lên trên. Sau đó anh lại đi tới một dãy cầu thang, cố gắng đi nhẹ nhàng nhất có thể để không gây ra tiếng động. Lại có thêm một cánh cửa nữa ở phía trên cùng của dãy cầu thang. Cửa khóa. Anh thử dùng đồ phá khóa. Nhưng không mở được.
Anh cố gắng dùng bờ vai cùng sức nặng gần một trăm sáu mươi cân phía sau bờ vai ấy.
Thế lại mở được thật.
Anh bước qua, đi vào một khu vực tối mờ mờ và nhìn xung quanh. Căn phòng nơi anh đang đứng rộng, có cửa sổ ở tít trên cao. Có mùi của dầu mỡ bôi trơn, và khi anh nhìn xung quanh, anh nhìn thấy các bộ khung xe rải rác đây đó.
Chúng là các phương tiện cũ dùng trong Quân đội bị bỏ đi. Bởi vì bây giờ anh đang đứng trong một tòa nhà thuộc căn cứ quân sự McDonald đã đóng cửa từ lâu.
Một đường hầm nối một ngôi trường với căn cứ quân sự ư?
Nhưng càng nghĩ anh càng thấy hợp lí. Bố mẹ của nhiều đứa trẻ học ở trường Mansfield hồi đó làm việc trong căn cứ. Khi có tình huống khẩn cấp, còn nơi nào an toàn cho lũ trẻ hơn là trong căn hầm trú ẩn “chống bom” bên dưới ngôi trường hoặc ở trong căn cứ cùng với cha mẹ chúng? Hoặc có thể chỗ trú ẩn dưới lòng đất được thiết kế để bảo vệ cho cả nhân viên căn cứ lẫn các em học sinh. Bất luận sự thật là gì, có một thực tế là nó đã bị lãng quên từ lâu. Và có thể nó chưa bao giờ được dùng đến.
Nhưng anh đã chỉnh lại suy nghĩ của mình. Nó mới được dùng tới gần đây, thế nên nó không hề bị lãng quên.
Kẻ nổ súng đã đi ra bằng đường này; về điểm này thì anh dám chắc chắn. Căn cứ là một nơi rất rộng lớn để có thể lục soát hết, và nó đã bị bỏ hoang từ nhiều năm nay. Sẽ không có nhân chứng nào nhìn thấy được điều gì. Tất cả mọi thứ đều trong tình trạng đổ nát, và xung quanh căn cứ chỉ có một hàng rào mắt cáo với đủ loại dây leo, cây bụi và cây cao mọc um tùm. Rất dễ để một người có thể trốn thoát mà hoàn toàn không bị ai nhìn thấy.
Khi Decker rọi đèn xung quanh, anh nhìn thấy các vỏ lon bia và vỏ chai rượu bỏ đi, vỏ bao cao su, và đầu mẩu thuốc lá vứt bừa bãi trên sàn. Nơi này là một cơn ác mộng cho đội pháp chứng. Có lẽ có cả trăm mẩu ADN ở đây, phần lớn thuộc về đám trẻ vị thành niên buồn chán với đời tìm đến đây để trai gái, rượu chè và hút sách - ngọn đèn của anh rọi vào một cái bơm tiêm cùng với một đoạn ống cao su để chích vào mạch máu - hoặc một cái gì đó mạnh hơn.
Nhưng anh cho là chẳng có đứa nào biết về đường hầm nối khu căn cứ với ngôi trường. Kể cả nếu chúng có đi khám phá chỗ này, chúng sẽ vẫn gặp phải cánh cửa bị khóa đó. Nếu chúng đã phá khóa được, chúng sẽ gặp phải bức tường trống. Kết thúc màn thám hiểm. Và đây là nơi để tụ tập vào mùa hè. Giờ đã gần tới mùa đông, cái chỗ không có lò sưởi này đang lạnh giá. Kẻ nổ súng không cần phải lo lắng sẽ chạm mặt với lũ thiếu niên tìm tới đây để chim chuột, để rượu chè khi hắn lên kế hoạch thực hiện vụ thảm sát.
Anh đi vòng quanh và không tìm được gì, cũng chẳng gặp ai.
Anh rút điện thoại ra và gọi đến nhà Watson. George mắt máy. Decker tự hỏi không biết Beth đã bỏ đi mãi mãi hay chưa.
“Alo, ai đấy?” Giọng Watson không còn lè nhè nữa. Có lẽ ngủ xong anh ta đã tỉnh.
“Anh Watson, lại là thám tử Decker đây.”
“Anh muốn gì?” anh ta hỏi, rõ ràng là cảm thấy bực bội.
“Chỉ hỏi nhanh một câu thôi. Sau giờ học Debbie ở trường nhiều lắm phải không, hoặc cũng có thể là vào buổi sáng, trước khi giờ học bắt đầu?”
“Thế quái nào mà anh biết chuyện đó? Thế quái nào mà anh lại biết quá nhiều về gia đình tôi thế hả?”
“Chỉ là phỏng đoán thôi. Nhưng tôi là một thám tử. Đó là công việc mà tôi làm. Và vợ của anh có nhắc tới chị ấy ở nhà nhiều hơn Debbie rất nhiều. Thế nên tôi đoán là cô bé đang làm gì đó sau giờ học. Vậy chính xác là cô bé đang làm gì thế?”
“Nó tham gia vài câu lạc bộ. Bọn nó vẫn tụ tập gặp gỡ nhau. Đôi khi kéo dài đến tối muộn. Con bé sẽ không về nhà cho tới khi trời đã tối hẳn. Mà sao, chuyện này quan trọng lắm à?”
“Có thể là thế. Cám ơn anh.”
Decker tắt máy. Anh biết Debbie Watson sẽ không tham gia các buổi gặp ở câu lạc bộ đâu. Cô bé hẹn hò với “Jesus” của mình ở cái chốn riêng tư của hai đứa.
Tiếp đến anh gọi cho Lancaster và kể cho chị nghe những gì anh tìm được.
Anh bỏ điện thoại xuống, và ngồi xuống một cái thùng phi chứa dầu, và chờ đợi, hai mắt nhắm nghiền. Anh ước đoán sẽ không phải chờ lâu. Anh đã mở sẵn cánh cửa trên bức tường.
Anh nghe thấy tiếng bước chân đang chạy tới. Nếu chỉ là một, có thể anh sẽ mở mắt. Nhưng lần này là cả chục. Thế nên mắt anh vẫn nhắm nghiền. Một kẻ sát nhân sẽ chỉ đến một mình, chứ không phải với cả một đội quân.
Anh mở mắt ra và nhìn thấy đặc vụ Bogart đang đứng ở đó.
“Lại thêm một phỏng đoán có căn cứ nữa sao?” người đàn ông hỏi.
“Lại là một phỏng đoán có căn cứ khác,” Decker đáp.
Phía sau Bogart là một nhóm các đặc vụ FBI và thành viên Phòng cảnh sát Burlington. Lancaster bước lên phía trước.
“Tôi đã gọi cho Mac, anh ấy đang trên đường tới,” chị thông báo, và Decker chậm rãi gật đầu.
“Làm sao anh phát hiện ra những thứ này?” Bogart hỏi Decker.
Decker dành hai phút thuật lại cho anh ta về những suy luận của mình.
“Nếu anh cung cấp vắn tắt cho chúng tôi về cuộc gặp gỡ với Beth Watson, có lẽ chúng tôi đã giúp được anh trong việc này,” Bogart nhận xét. “Có thể chúng ta đã tìm được đến đây nhanh hơn.”
“Cũng có thể,” Decker đồng tình.
Bogart hạ lệnh lục soát toàn bộ địa điểm và khu vực xung quanh, sau đó kéo một chiếc ghế băng bằng gỗ đã cũ và ngồi xuống bên cạnh Decker, còn Lancaster thì đi qua đi lại gần đó.
“Vậy là kẻ nổ súng đã làm thân với Debbie Watson, biết được về đường hầm nối với trường học và dùng nó để bỏ trốn sao?” Bogart nói.
“Hắn dùng nó cả để đi vào và để bỏ trốn. Bằng đường hầm đó, hắn có thể đến và đi lúc nào hắn muốn. Hắn đã quyến rũ cô bé. Hắn là một kẻ trưởng thành. Cô bé là một đứa trẻ vị thành niên đang tuổi nhạy cảm, có cuộc sống ở gia đình không mấy hoàn hảo. Chắc chắn hai người họ đã có nhiều cuộc hẹn hò ở đây mà không ai hay biết. Mãi cho đến khi hắn xả khẩu súng hoa cải đó vào mặt cô bé.”
“Chúng tôi sẽ liên hệ với Quân đội và lấy tất cả những thông tin có thể liên quan đến cái căn cứ này.”
“Được thôi. Cứ cố thử đi nhé, có mà chờ đến Tết Công Gô.”
“Tôi thấy bất ngờ khi không ai biết về đường hầm,” Bogart nói. “Ngoại trừ gia đình Watson.”
“Ồ, nếu nó bắt đầu được xây dựng vào năm 1946 hoặc gần gần quãng đó, hầu hết những người xây nó đều đã không còn nữa. Tôi đoán ít có khả năng họ sẽ kể lại cho con cái mình về nó, thế nên chỉ có lãnh đạo nhà trường có lẽ có biết đến nó. Có thể người ta chưa bao giờ sử dụng đến nó. Có thể nhà trường thậm chí còn chưa từng dùng nó để diễn tập. Tôi không biết nữa. Mà kể cả nếu có dùng qua, thì những học sinh thời đó đến thời điểm này cũng đã tương đối nhiều tuổi rồi. Có thể họ đã quên, không còn nhớ đến nó nữa.”
“Nhưng anh nói Simon Watson đã xây thêm vào đường hầm à?”
“Ông ấy tới làm ở căn cứ McDonald vào cuối những năm 60, và một thời gian sau đó đoạn đường hầm nối từ căn cứ mới được bổ sung thêm. Nhưng khi căn cứ đóng cửa, tất cả mọi người đều rời đi. Rất nhiều người từng là quân nhân ở đây có thể đã được thuyên chuyển đi các nơi khác.”
Lancaster cắt ngang, “Và kể cả có người đã chuyển khỏi đây nhưng biết về đường hầm, tôi nghĩ họ cũng chẳng ngờ đến việc có một kẻ sát nhân sử dụng nó để di chuyển quanh ngôi trường. Họ sẽ cho rằng nó đã được bịt kín sau ngần ấy thời gian. Công chúng có lẽ tin rằng hắn xả súng, rồi bỏ chạy và trốn thoát.”
Bogart gật đầu. “Nhưng hắn có thể tiến vào trường dễ dàng hơn theo hướng này, ý là xuất phát từ phía căn cứ quân sự. Nhưng có vẻ như hắn đã ở trong căn tin và từ đó đi một vòng quanh trường. Tại sao?”
“Tôi không biết,” Decker nói. “Chúng ta đã nghĩ có thể làm thế cho hắn có thời gian để phá bức tường che cánh cửa đằng sau tấm biển trong căn tin. Nhưng giờ do tôi đang tin là hắn có thể ra và vào đây rất nhiều lần, hắn có thể đã làm việc đó vào bất cứ lúc nào. Và có thể hắn sẽ không đợi cho tới tận đêm trước thời điểm tấn công theo kế hoạch, phòng trường hợp có gì đó không như tính toán.” Anh ngừng lại. “Vậy nên, tóm lại, tôi không biết nữa.”
“Tôi cứ nghĩ anh đã có tất cả các câu trả lời.”
“Thế thì anh nghĩ sai rồi,”
Bogart trầm ngâm quan sát anh. “Thực sự là anh không quên bất kì điều gì, phải vậy không?” Decker không nhìn anh ta. Bogart tiến lại gần hơn và nói rất nhỏ, chỉ đủ để mình Decker nghe thấy, “Điều gì khiến anh như thế vậy hả Decker? Trong đầu anh có những gì mà lại cho phép anh làm được những điều này?”
Decker vờ như không nghe thấy lời nhận xét đó.
“Anh luôn luôn tỏ ra như thế khi có ai đó cố gắng bắt chuyện sao?” Bogart nói.
“Kĩ năng xã hội của tôi không có giỏi,” Decker nói. “Tôi đã nói trước với anh rồi.”
“Nhưng anh có thể vừa đi bộ vừa nhai kẹo cao su[1]kia mà. Thế nghĩa là nếu anh có một khả năng đặc biệt nào đó với trí óc, nó không hề ảnh hưởng đến khả năng sinh hoạt trong đời sống của anh.”
Giờ đến lượt Decker nhìn anh ta. “Tại sao anh lại nói như thế?”
Bogart nói, “Anh trai của tôi mắc một chứng bệnh tự kỉ. Xuất sắc trong lĩnh vực của anh ấy. Nhưng hoàn toàn không có khả năng tương tác với những đồng loại khác. Anh ấy không thể duy trì một cuộc giao tiếp nào dài hơn là lẩm bẩm vài ba từ. Vầ thực sự anh ấy được đánh giá là có chức năng cao [2] vì anh ấy có thể đi làm được.”
“Lĩnh vực của anh ấy là gì?”
“Vật lý. Cụ thể là nghiên cứu về các hạt hạ nguyên tử. Anh ấy có thể trình bày cả ngày về các hạt cơ bản như quark, lepton và gauge boson. Nhưng anh ấy quên ăn và hoàn toàn không biết phải làm thế nào để đặt vé máy bay hoặc thanh toán hóa đơn tiền điện.”
Decker gật đầu. “Tôi hiểu.”
“Nhưng anh thì có vẻ làm được mấy việc đó.”
“Tùy theo mức độ cả thôi, đặc vụ Bogart ạ.”
“Anh như thế này từ khi sinh ra sao?”
“Sau này mới bị,” Decker trả lời cụt lủn. “Có thể đó là lí do tôi có thể vừa đi vừa nhai kẹo cao su,” anh nói thêm bằng một giọng cáu kỉnh trước khi quag mặt đi.
Bogart gật đầu. “Anh không muốn nói về chuyện này, phải không?”
“Anh thôi được chưa?”
Bogart xoa hai tay lên đùi. “Chúng ta cần phải tóm được tên này. Và còn một điều mà thực tình chúng ta chưa đề cập đến.”
Decker nhìn anh ta. “Việc của hắn với tôi.”
Bogart gật đầu. “Hắn đã gửi cho anh hai lời nhắn. Một được mã hóa, một thì không. Đó là một hành động liều lĩnh đối với hắn. Hắn phải quay lại căn nhà nơi hắn gây ra vụ thảm sát đối với gia đình anh để viết một trong hai lời nhắn. Có thể có người nào đó nhìn thấy hắn. Và hắn đã đến nhà Debbie. Một lần nữa, lại có rủi ro bị người khác trông thấy. Và giờ, theo đúng định nghĩa, kẻ nào dám giết người là một kẻ dám mạo hiểm. Nhưng giống như anh đã nói, vấn đề là mức độ tới đâu. Một kẻ sát nhân kiểu thế này có lẽ không muốn bị bắt. Thế nên hắn sẽ giảm thiểu tối đa rủi ro. Nhưng điều đó không thể lấn át nổi khát khao được trò chuyện với anh của hắn. Điều này rất quan trọng. Bởi nó khiến tôi tin rằng hắn cảm thấy, bằng một cách nào đó, hắn có một mối liên kết với anh, rất mạnh, rất sâu sắc.”
Decker nhìn chăm chăm vào người đàn ông kia. “Anh từng theo học tại học viện FBI ở Quantico à? BAU à?”
“Đơn vị phân tích hành vi (Behavioral Analysis Unit), đúng thế. Tôi là người lập hồ sơ theo cách gọi trên phim và các chương trình tivi. Và tôi khá giỏi trong việc đó.”
“Trong đội ngũ FBI làm gì có người lập hồ sơ?”
“Anh nói đúng. Về cơ bản, chúng tôi được nhắc đến là các chuyên gia phân tích. Và đôi khi chúng tôi đúng, và cũng có lúc chúng tôi sai. Một số người nói rằng việc lập hồ sơ tâm lí thiếu tính xác thực về mặt kiểm chứng thực tế, và có thể họ nói đúng. Nhưng tôi thực sự không quan tâm cho lắm. Tất cả những gì tôi quan tâm là bắt được kẻ xấu trước khi chúng kịp làm hại thêm một ai khác, và tôi sẽ sử dụng bất cứ công cụ nào mà tôi có thể sử dụng để làm việc đó.” Anh ta nhìn Decker sát hơn, chăm chú hơn. “Và tôi đang coi anh là một trong số những công cụ đó.”
“Thế chính xác nghĩa là sao?”
“Nghĩa là tôi muốn anh làm việc chặt chẽ hơn với chúng tôi. Cùng làm với nhau, có thể chúng ta sẽ tiến triển được nhanh hơn.”
Decker liếc nhìn ra phía Lancaster, rõ ràng chị đã nghe thấy câu trao đổi cuối cùng này.
Decker đứng dậy. “Tôi đã có một cộng sự rồi. Nhưng khám phá được gì, chúng tôi sẽ báo cho anh biết.”
Anh bước đi. Lancaster chờ một lát, thoáng nở một nụ cười gượng gạo với Bogart, và vội vã chạy theo Decker. Đặc vụ Bogart vẫn ngồi nguyên, chăm chăm nhìn theo cả hai người họ.
Chú thích:
1 Ám chỉ đến khả năng làm việc đa nhiệm. Thường những người có vấn đề với chức năng não sẽ gặp khó khăn trong việc làm hai hành động đơn giản cùng một lúc.
[2] Thuật ngữ được sử dụng trong trường hợp rối loạn tâm thần. Người có rối loạn có thể che giấu các triệu chứng của mình hoặc tham gia vào xã hội được coi là có chức năng cao.
CHƯƠNG 30
Decker mở mắt. Anh đang nằm trên giường, nhưng không ngủ nổi. Bên ngoài căn phòng của anh ở Residence Inn, trời đang mưa. Thời điểm này trong năm - khi thu đã gần qua đi, chuẩn bị nhường chỗ hẳn cho mùa đông - trời lúc nào cũng mưa tầm tã, thông thường sẽ có thêm cả gió lớn, tạt nước mưa buốt vào đến tận xương tủy.
Giày cỡ 39. Họ đã xác nhận kích cỡ chính xác. Trên người một gã cao gần một mét chín và nặng chín mươi cân, vai rộng tương đương với anh. Anh nhắm mắt lại và tâm trí anh quay về với hình ảnh trên máy quay. Nhưng hình ảnh chỉ cho thấy từ phần eo đổ lên. Giờ thì Decker có thể dám chắc đó là cố tình. Từ eo đổ lên. Hắn cũng bước ra trước máy quay theo một cách có chủ đích để che giấu cách mà hắn thực sự thâm nhập vào trong ngôi trường. Không phải từ cửa sau, mà là từ căn tin, thông qua một đường ngầm dưới lòng đất.
Ấy thế nhưng Decker đã nhìn thấy có một thứ gì đó thiếu hợp lí; chỉ là anh chưa thể dám chắc đó là gì hay nằm ở đâu. Anh chưa bao giờ quên bất cứ một thứ gì, nhưng điều đó không có nghĩa là mọi thứ luôn luôn được đặt trong ngữ cảnh thích hợp, được tự động đối chiếu với những dữ kiện sẵn có mang tính bổ sung hoặc mâu thuẫn với bản thân nó.
Anh vừa mới định bắt đầu điều nói trên đó thì nghe thấy tiếng động bên ngoài cửa.
Các phòng ở Residence Inn được thiết kế để mỗi phòng mở ra là sẽ đi thẳng ra bên ngoài. Decker đang ở trên tầng hai. Bên ngoài của tầng này có một hành lang cùng với lan can bằng song sắt, cùng cầu thang ở hai đầu dẫn xuống bãi đậu xe.
Tiếng động lại vang lên. Có vẻ như tiếng cào lên tường bên ngoài cửa phòng của anh. Hai phòng liền kề của anh không có người ở. Tầng một của nhà trọ thì gần như kín khách. Anh ngồi dậy trên giường và nhìn vào cánh cửa. Anh với tay và nắm lấy khẩu súng mà anh để trên kệ đầu giường.
Anh lên đạn, kéo bệ trượt thật chậm rãi để tiếng kéo xuống rồi đẩy lên mà nó tạo ra là nhỏ nhất. Anh tung chăn, mặc quần, nhét điện thoại vào trong túi và nhón chân trần áp sát cửa.
Anh đứng phía bên phải cửa, cả hai tay ôm chặt lấy khẩu súng được hướng xuống dưới. Anh lắng nghe. Lại vang lên. Tiếng cào cửa.
Có cái gì đó ở ngoài kia. Cũng có thể là ai đó đang ở ngoài kia.
Anh biết mình nên làm gì bởi vì hồi còn làm cảnh sát, anh đã từng nhiều lần tham gia các cuộc bắt giữ và khám xét. Chỉ khác là bây giờ anh đang làm theo hướng ngược lại. Đi ra chứ không phải đi vào. Anh kéo mở dây xích chốt an toàn trên cửa, đứng sang bên, siết chặt tay nắm cửa, nhẩm đếm đến ba trong đầu, rồi kéo tung cửa. Anh phóng ra khỏi ô cửa đã mở, vung khẩu súng sang trái trước rồi sang phải.
Anh khựng lại và ngước mắt, nhìn chằm chằm vào cô. Cô bị treo lên cái giá đỡ bóng đèn ở bên ngoài. Chân của cô va vào cạnh tường, tạo ra tiếng cào cửa mà anh nghe thấy.
Anh kiểm tra mạch đập trên cổ của cô, nhưng chỉ làm cho đúng quy trình. Cô đã chết, hai mắt mở to, tròng mắt đục ngầu và bất động theo cái cách mà một sinh vật còn sống không bao giờ có được.
Đặc vụ FBI Lafferty đã không còn có thể ghi thêm một dòng bút kí nào nữa rồi.
Anh nhìn toàn thân của cô nhưng không nhận ra dấu hiệu rõ ràng nào cho thấy nguyên nhân tử vong.
Sau đó anh quay người và chạy dọc hành lang, chạy tới chỗ cầu thang, và vội vã lao xuống. Chắc chắn cô ấy chưa ở đó lâu. Bất luận là hung thủ là ai, có khả năng hắn vẫn còn ở quanh đây. Anh rút điện thoại ra và gọi 911. Anh nói với nhân viên trực tổng đài tất cả những gì cô ta cần biết bằng ba câu súc tích. Sau đó anh gọi cho Lancaster. Chị bắt máy sau bốn hồi chuông. Lúc đó là ba giờ sáng. Chắc chắn là chị đang ngủ. Sau câu đầu tiên mà anh nói, chị tỉnh hẳn. Sau câh thứ hai, anh nghe được tiếng chị đang vội vã mặc quần áo. Anh tắt máy và vội chạy quanh bãi đậu xe phía trước Residence Inn. Anh đang nhìn và lắng nghe. Nghe tiếng bất kì phương tiện nào nổ máy. Bất kì bước chân nào định bỏ chạy.
Anh không nghe thấy gì hết, chỉ nghe thấy tiếng hơi thở hổn hển của mình. Anh dừng lại và cúi gập người, cố gắng để lắp đầy không khí vào hai lá phổi. Anh cảm nhận được người mình đang run, bụng anh đang quặn lại. Khi anh ngẩng đầu lên, anh nhìn thấy chúng. Một đội quân những con số ba đông đúc đang lao vào anh, dao vung lên cao, sẵn sàng hạ sát. Anh biết chúng không phải là thật, nhưng đêm nay nỗi khiếp sợ đã thắng được anh, như lần đầu tiên anh nhìn thấy chúng.
Anh cúi gập người sâu hơn và nôn lên mặt đường, bắn lên đôi chân trần giờ đã tê cóng của mình.
Khi đứng thẳng trở lại, anh nghe thấy tiếng còi tầm từ chiếc xe đầu tiên, và cái đội quân những con số ba dường như tan biến đi theo âm thanh của tiếng còi. Một phút sau, có thêm một tiếng còi khác cùng hòa vang với những tiếng thứ nhất. Anh đi những bước chân không vững quay trở lại cầu thang và đi lên phòng. Anh tựa vào lan can, mặt đối mặt với thi thể của Lafferty. Anh muốn vuốt mắt cho cô, nhấc cô ra khỏi cái giá treo và nhẹ nhàng đặt cô xuống sàn bê tông, gập hai tay ngay ngắn để trên bụng. Bình yên. Như thể anh có thể khiến những cái chết tàn khốc trở nên bình yên hơn. Nhưng chắc chắn anh đã chẳng thể làm điều đó cho những người thân của mình.
Thế nhưng anh không thể làm bất kì một việc nào trong số những điều kể trên mà lại không gây rối hiện trường vụ án. Thế nên anh chỉ đứng đó. Khi những chiếc xe tuần tra đậu khựng lại trong bãi đậu, anh lẻn vào trong phòng và đặt khẩu súng trở lại vào kệ đầu giường. Khi anh quay trở ra, các cảnh sát đã ào lên cầu thang và dừng lại đó cách vài mét.
Decker giơ thẻ đeo cổ của mình. Cả hai cảnh sát tuần tra này anh đều không quen, và anh không muốn họ hiểu sai sự tình.
“Amos Decker. Tôi là người báo tin. Thanh tra Lancaster đang trên đường tới.”
Hai cảnh sát đã rút súng và đang quan sát anh chăm chăm. Một người tiến lại gần anh và kiểm tra tấm thẻ.
Anh ta nói với đồng đội, “Tôi đã nhìn thấy anh ấy ở trường học cùng các thanh tra khác ngày hôm qua. Không vấn đề gì đâu.”
Các cảnh sát cất súng vào bao và chăm chú ngước nhìn Lafferty đã chết.
“Cô ấy là đặc vụ FBI Lafferty,” Decker nói. “Có lẽ các anh cũng đã nhìn thấy cô ấy ở trường học.”
Cả hai cảnh sát lắc đầu, nhưng người đầu tiên nói, “Chết tiệt, người của Cục sao? Cô ấy chết thế nào vậy?”
“Tôi không biết. Không nhận ra được dấu hiệu nào rõ ràng bằng mắt thường.”
“Ừ.”
Decker lùi xa khỏi thi thể. “Không phải chỉ trỏ gì đâu, nhưng tôi đã làm cảnh sát suốt hai mươi năm. Các anh nên tiếp tục công việc, bảo vệ hiện trường và thông báo cho đội pháp chứng và gọi bác sĩ pháp y tới đi. Tôi dám chắc Thanh tra Lancaster sẽ thông báo cho những người cần thiết, nhưng vì đó là người của Cục như anh nói, các anh cần tuân thủ quy trình thật nghiêm ngặt đối với vụ này.”
Người cảnh sát đầu tiên nói, “Anh khuyên rất phải, tôi sẽ gọi báo ngay đây.”
Người còn lại nói, “Tôi sẽ căng băng dính khoanh vùng ngay.”
Decker chỉ tay vào cánh cửa phòng đang mở. “Đây là phòng của tôi. Tôi nghe thấy có tiếng động và đi ra để kiểm tra. Khi đó, tôi nhìn thấy cô ấy. Tôi chạy xuống bãi đậu xe. Nhưng tôi không thấy ai cả. Cũng không nghe thấy có tiếng xe cộ. Hoặc có ai đó bỏ chạy. Và bãi nôn dưới bãi đậu xe là của tôi. Tôi không còn quen với việc phải chạy nhanh và xa như thế nữa.”
“Được rồi, anh Decker. Tôi muốn anh hãy đi vào trong phòng. Tôi dám chắc Thanh tra Lancaster sẽ đến gặp anh khi chị ấy đến nơi.” Anh ta ngước nhìn thi thể và đột nhiên trông vẻ mặt có gì đó không chắc chắn. “Chắc chắn là chị ấy đã tử vong rồi à?”
“Không còn mạch đập nữa. Tôi đã kiểm tra. Và người cô ấy đã lạnh rồi. Đã qua đời được một thời gian.”
Decker đi vào phòng, đóng cửa lại, đi vào phòng tắm, rửa mặt và chân, đi giày, ngồi trên giường và chờ đợi.
Anh biết Lancaster sống ở đâu. Anh tính toán sẽ mất tối đa là ba mươi phút. Mười phút sau anh nghe thấy tiếng các hoạt động bắt đầu diễn ra bên ngoài cánh cửa.
Mười tám phút sau đó, có tiếng gõ cửa. Anh mở cửa, và chị ấy đã đến.
Anh nhìn ngang qua chị. Thi thể đã được hạ xuống sàn, nằm trên một tấm vải, mục đích là để thu thập tất cả dấu vết bằng chứng bất kì. Một đội kĩ thuật đang tỏa đi toàn bộ khu vực nhỏ bé đó, chụp ảnh, đo đạc và tìm kiếm bằng chứng ở tất cả những nơi dễ có liên quan.
Bác sĩ pháp y, một người đàn ông nhỏ bé, có râu, chừng sáu mươi, đang quỳ gối bên cạnh Lafferty. Sau khi làm xong bài đánh giá thời gian tử vong, ông ngẩng đầu nhìn Lancaster.
“Cô ấy đã tử vong trong khoảng ba giờ đồng hồ.”
Decker nói, “Nghĩa là cô ấy mất mạng vào khoảng quá mười hai rưỡi.”
“Nguyên nhân tử vong là gì?” Lancaster hỏi.
Bac sĩ pháp y nhấc áo sơmi của thi thể lên. Bên dưới là một vết thương duy nhất do dao đâm.
“Cao và sâu,” ông nói. “Thẳng vào tim. Gần như thiệt mạng ngay tức thì. Rõ ràng là cô ấy đã bị chảy máu ở một nơi nào đó khác. Nhưng không chảy máu ngoài nhiều đâu. Con dao đâm thủng tim. Tim sẽ dừng bơm máu ngay.”
Có điều gì đó chợt lóe lên trong đầu Decker. Anh nói, “Anh kiểm tra cơ quan sinh dục của cô ấy chưa? Có gì không?” Lancaster trợn mắt liếc nhìn anh, rồi nhìn sang bác sĩ pháp y.
Vẻ mặt của bác sĩ pháp y đã cho Decker câu trả lời. Ông cho họ xem vị trí đó. “Kẻ giết người đã sử dụng một con dao rất nham nhở để cắt xẻo.”
Lancaster nhìn Decker. “Giống như lúc trước. Với...”
Decker nói, “Giống như lúc trước.”
Ba chiếc SUV màu đen đi vào bãi đậu.
“Người của Cục đến rồi,” Lancaster nói với giọng lo lắng. “Tôi đã gọi cho họ trên đường đến đây.”
Bogart dẫn đầu, hai bước một mà chạy lên. Tóc anh ta rối bời, và anh ta đàn mặc quần jean cùng một cái áo thun và đi một đôi giày không đi tất. Những người theo sau cũng ăn mặc theo cách tương tự, nhưng mặc thêm áo khoác FBI màu xanh nước biển.
Bogart đi thẳng tới chỗ thi thể và cúi xuống nhìn. Rồi anh ta dụi mặt, rồi đến cằm, và quay mặt đi, nhìn qua lan can, hướng vào bóng tối ở đằng xa.
Decker nghe thấy tiếng anh ta lẩm nhẩm, “Chết tiệt.”
Rồi vị đặc vụ FBI quay sang phía họ. “Chúng ta đã biết những gì rồi.”
Lancaster thuật lại cho anh ta thời gian và nguyên nhân tử vong. Và kể cả về vết cắt xẻo mà bác sĩ pháp y đã tìm thấy.
“Anh có nhìn hoặc nghe thấy gì không?” Bogart hỏi, mặt tái mét lúc nhìn sang Decker.
Decker kể cho anh ta nghe những gì mà anh biết. Anh nói thêm, “Tôi đang nửa tỉnh nửa mê. Tiếng cào đó có lẽ đã có trước đó một lúc rồi tôi mới nghe thấy.”
Lancaster nói, “Anh có biết lịch trình di chuyển của cô ấy tối nay không?”
Bogart có vẻ như không nghe chị nói.
Decker nói thêm, “Nếu xác định được lịch trình di chuyển, có lẽ chúng ta sẽ có manh mối là kẻ nào đã gây ra việc này.”
“Tôi biết mà!” Bogart gắt.
Lancaster nói, “Chúng tôi biết việc này là vô cùng khó khăn, đặc vụ Bogart.”
Decker cắt ngang lời chị. “Nhưng anh hiểu hơn ai hết, càng sớm có manh mối thì cơ hội của chúng ta càng nhiều. Và ngược lại.”
Bogart liếc nhìn Lafferty một lần nữa và ra dấu cho họ đi xuống cầu thang.
Họ bước vào một trong số những chiếc SUV màu đen, Bogart ngồi ghế trước, Lancaster và Decker ngồi phía sạ. Bogart uống hết một chai nước nhỏ đặt ở hộc đồ phía trước, dùng tay chùi miệng và quay người lại nhìn họ.
“Lafferty là một đặc vụ giỏi. Thực ra đó là một người mà tôi dẫn dắt. Không phải chỉ có ghi chép thôi đâu,” anh ta nói thêm, cùng một cái liếc nhìn gay gắt dành cho Decker. Decker không đáp lại câu gì.
Bogart ngả ra sau, thở ra một hơi dài, và nói, “Tôi chưa từng mất đi một đặc vụ nào. Thật khó để chấp nhận.”
“Chắc chắn là thế rồi,” Lancaster nói.
“Nhưng cô ấy ở đâu?” Decker nói. “Tất cả các anh đều ở cùng một chỗ à?”
“Phải. Khách sạn Century.”
“Tất cả ở cùng một tầng chứ?”
“Không, chúng tôi ở rải rác ba tầng khác nhau. Nhưng Lafferty ở cạnh phòng một đặc vụ khác.”
“Lần cuối cùng có ai đó nhìn thấy cô ấy là khi nào?” Lancaster hỏi.
“Tôi đã hỏi tất cả mọi người khi trên đường tới đây. Có vẻ như là vào chín giờ ba mươi. Cô ấy đang làm việc trong phòng của đặc vụ Darrow, xem xét lại một số hồ sơ. Cô ấy chào tạm biệt và quay trở về phòng của mình.”
“Nhưng chúng ta có biết thực sự cô ấy có về phòng hay không?” Decker hỏi.
“Thực ra cô ấy có nói với Darrow là cô ấy đi ra ngoài mua một vài thứ cần thiết.”
“Cô ấy có nói là mua gì và đi đâu không?”
“Từ những gì cô ấy nói, Darrow nghĩ đó có thể là vài thứ mua được ở hiệu thuốc. Tôi không nghĩ đây là lần đầu tiên cô ấy phải đi mua như thế. Chúng tôi bị triệu tập tương đối nhanh. Các đặc vụ không có nhiều thời gian để chuẩn bị.”
“Vậy là cô ấy đã từng đi mua thêm đồ à?” Lancaster nói. “Có thể là mua ở cùng một chỗ chăng?”
“Đúng thế. Có thể chỉ là mấy đồ nhu yếu phẩm khi đi công tác thôi,” Bogart nói, mắt nhìn ra ngoài cửa sổ, tâm trí của anh ta rõ rang là đang nghĩ sang chỗ khác.
Decker ngả người ra sau, nhắm mắt và suy nghĩ trong giây lát. “Có một hiệu thuốc mở xuyên đêm cách khách sạn Century hay khu nhà. Nếu tôi là người cần mua đồ dùng cần thiết khi đi công tác hì tôi sẽ đến đó. Và ở đó có camera ghi hình ở bãi đậu xe.”
“Ồ, vậy hãy tới đó xem nó có gì không?” Bogart nói.
Chuyến đi chỉ mất khoảng hai mươi phút vào thời điểm đó vào buổi sáng và Bogart đã phóng vượt tất cả các loại biển giới hạn tốc độ. Lúc đó chưa đến bốn giờ sáng và do đó cà thị trấn Burlington vẫn còn rất ngái ngủ. Xe cộ thưa thớt, nười đi bộ thì hoàn toàn không có.
Có hai người trong tiệm thuốc mở xuyên đêm đó. Một người ngồi phía sau tấm kính chống đạn cùng máy tính tiền, người còn lại đang xếp lăn khử mùi lên giá. Cả hai người đang trong ca làm việc bắt đầu từ lúc tám giờ tối. Bogart cho họ xem ảnh chụp của Lafferty và hỏi liệu có ai trong hai người họ từng gặp cô ấy.
“Tối nay thì tôi không có gặp. Nhưng tối hôm trước thì cô ấy có tới mua hàng.”
Decker nói, “Như vậy có nghĩa là có thể cô ấy đã không tới đây.”
Họ yêu cầu và được cung cấp dĩa ghi hình từ các máy quay giám sát ở bãi đậu xe.”
Có lẽ cô ấy đã đi bộ tới đây,” Decker nói. “Quá gần để phải lái xe.”
“Và số phương tiện của chúng tôi không thiếu chiếc nào,” Bogart nói.
Họ cho dĩa DVD vào máy tính xách tay mà Bogart có sẵn trên chiếc SUV. Dĩa phim có đánh dấu mốc thời gian, thế nên Bogart tua đến đoạn trươc 9:30. Các khung hình cứ chạy khi cả ba người họ túm tụm với nhau quanh màn hình, chăm chú xem. Khi đến 9:58, Decker đã nhìn thấy.
“Cô ấy kìa.”
Lafferty từ trong một con gõ bên cạnh tiệm thuốc đi ra. Cô ấy đã đi được hai bước trước khi đột ngột bị kéo ngược trở vào trong con ngõ.
“Tua lại đi, và cho nó chạy chậm lại,” Decker nói.
Bogart làm theo, cho cảnh phim chạy đi chạy lại gấp năm lần và phóng to khung hình nhiều nhất có thể trên cái màn hình nhỏ xíu.
Decker chăm chú quan sát màn hình, anh ghi nhớ và lưu trữ vào đầu từng điểm ảnh. “Không thể nhìn ra là ai.”
“Chúng ta có thể thử phóng to khung hình,” Bogart nói. “Người của tôi giỏi mấy khoản này lắm.”
“Hắn biết ở đó có camera,” Decker nói. “Giống như ở trường học ấy. Hắn không muốn bị nhìn thấy. Chí ít là không muốn một số bộ phận nhất định bị nhìn thấy.”
“Làm sao hắn có thể chế ngự cô ấy nhanh thế nhỉ?” Bogart nói. “Lafferty không phải người yếu đuối.”
Decker nói, “Có một bàn tay đeo găng quanh cổ cô ấy. Có thể trong găng tay có thứ gì đó. Người cô ấy có vẻ bị cứng đi khá nhanh. Tôi nghĩ hắn đã tiêm thuốc để cô ấy bị tê liệt.”
“Xét nghiệm máu trên thi thể cô ấy sẽ xác minh được điều này,” Lancaster nói.
“Vậy là cô ấy được ghi hình vào lúc chín giờ năm mươi tám phút.” Decker nói.
“Nhưng thời gian tử vong của cô ấy là vào khoảng nửa đêm,” Lancaster nhắc.
“Nghĩa là chúng đã giữ cô ấy hai tiếng trước khi sát hại cô ấy,” Decker nói nốt.
Bogart trông căng thẳng. “Anh nói cô ấy bị cắt xẻo. Anh có nghĩ chúng đã làm gì khác với cô ấy không?”
Decker lắc đầu. “Vợ tôi không bị hãm hiếp. Nhưng cô ấy cũng bị cắt xẻo. Ở cùng... chỗ đó,” anh nói thêm.
“Vậy thế là sao?” Bogart hỏi. “Tại sao lại làm vậy? Thật vô lý.”
“Khi tôi hỏi Leopold hắn có làm gì khác với vợ tôi không, hắn không trả lời. Việc cắt xẻo này chưa từng được công bố. Hắn chỉ có thể biết về việc này nếu hắn có mặt ở đó, mà chúng ta đều biết là hắn không hề có mặt ở đó. Nhưng có thể có ai đó từng có mặt ở đó đã kể cho hắn nghe về chuyện này. Nhưng vì hắn không trả lời, tôi không biết là liệu hắn không biết thật hay chỉ là không muốn kể với tôi. Dù là thế nào, hắn vẫn là một kẻ tình nghi.”
Bogart xoa mặt. “Còn gì nữa không?”
“Chúng đã bắt giữ cô ấy hai giờ đồng hồ. Có thể có lúc nào trong khoảng thời gian đó cô ấy tỉnh lại trước khi chúng sát hại cô ấy.”
“Chúng có thể làm gì với cô ấy?” Lancaster hỏi.
“Cố tìm hiểu việc điều tra đang diễn ra theo hướng nào chẳng hạn,” Bogart nói.
Decker gật đầu với ý kiến này. “Chúng sẽ muốn biết chúng ta biết những gì. Liệu chúng ta đã tìm hiểu được những điểm nào đó hay chưa.”
“Ồ, Lafferty sẽ không kể gì cho chúng biết đâu,” Bogart nói rành mạch.
“Khi bị tra hỏi, chẳng ai có thể cam đoan không bị cạy miệng hết, tất cả phụ thuộc vào thủ đoạn mà chúng sử dụng,” Decker nói. “Có thể cô ấy đã nói ra, cho dù không hề muốn. Dù thế nào, để an toàn, chúng ta nên coi như lúc này chúng đã biết những gì chúng ta biết. Chủ yếu nhất là việc chúng ta đã tìm ra về đường hầm dưới lòng đất.”
Bogart nhìn vào màn hình đứng im, vào đôi tay quanh cổ người đồng nghiệp của mình. “Nhưng làm sao cô ấy lại không biết có kẻ đang bám theo cô ấy nhỉ?” anh ta nói. “Chắc hẳn hắn đã phải ở ngay phía sau cô ấy.”
Lancaster nói, “Có thể hắn đã trốn trong con ngõ.”
Bogart lắc đầu. “Sao nào, chờ cô ấy đi ngang sao? Mà làm sao hắn biết cô ấy sẽ đi tới hiệu thuốc chứ?”
“Có thể hắn đã chờ và theo dõi, rồi bám theo cô ấy khi cô ấy bước ra. Trước đó cô ấy đã từng tới hiệu thuốc ít nhất một lần. Có thể bằng cách nào đó bọn chúng biết điều này, và thấy có cơ hội nếu cô ấy lại tới đó lần nữa. Và có thể cô ấy biết hắn đang ở đó, nhưng vì lí do nào đó lại không cảm nhận được mối đe dọa,” Decker nói thêm.
“Không cảm nhận được mối đe dọa sao?” Bogart cảm thán. “Trong một con ngõ tối ư? Khi mà có một tên sát nhân vẫn đang nhởn nhơ sao? Làm sao mà cô ấy lại không đề phòng đến như thế được chứ?”
“Có thể cô ấy không cảm thấy bị đe dọa nếu đó là một kẻ mà cô ấy không cảm thấy có lí do để nghi ngại,” Decker diễn giải thật chi tiết.
Mặt Bogart đỏ gay gắt và anh ta trông như đang xù lông nhím. “Anh đang buộc tội tôi hoặc một trong số những người của tôi là thủ phạm sát hại cô ấy đấy ư?” anh ta cáu giận nói. “Bởi vì cô ấy đâu có quen ai khác ở cái hố phân chết tiệt này!”
“Thật ra ý tôi không phải như thế,” Decker bình tĩnh đáp.
Bogart chỉ tay vào mặt Decker. “Cô ấy bị bỏ lại ngay trước bậc cửa nhà anh. Có thể là anh đã giết cô ấy, thằng chó chết ạ!”
Gương mặt Decker vẫn bình thản và từng lời anh nói ra thong thả, chậm rãi. “Và bỏ cô ấy lại trước cửa để tự đổ tội cho mình hay sao? Và rồi gọi điện báo cảnh sát trong khi vẫn ngồi nguyên tại đó sao? Nếu tôi thực sự đã làm việc ngu xuẩn đến mức đó, có khi tôi cứ nhận bị điên cho được thoát tội.”
Bogart trông như muốn đấm Decker, nhưng rồi anh ta kiềm chế được cảm xúc của mình và quay đi.
Lancaster nói, “Amos, có phải ý của anh là một kẻ nào đó mặc cảnh phục? Một cảnh sát tuần tra chẳng hạn? Cô ấy sẽ không nghi ngờ một kẻ như thế?”
“Phải,” Decker nói. “Đó chính xác là ý của tôi.”
Bogart liếc nhìn anh với vẻ nghiêm khắc và gật đầu. “Phải rồi. Xin lỗi vì đã phản ứng mạnh như thế.” Anh ta dừng lại và rồi tuyên bố, “Được rồi, chúng ta sẽ xới tung cái con ngõ chết tiệt đó.” Anh ta cầm điện thoại và huy động đội của mình. Rồi anh ta quay sang Decker. “Chúng ta cần làm việc này cùng nhau. Chúng ta cần ngăn chặn gã này lại.”
Decker lắc đầu. “Không phải một gã. Mà là nhiều gã.”
“Điều gì khiến anh nói vậy?” Lancaster sửng sốt hỏi, còn Bogart thì nhìn anh chằm chằm. “Có vẻ như kẻ nổ súng chỉ có một. Anh đã nói như thế.”
“Và tôi đã nhầm,” Decker kiên định nói.
“Nhưng cụ thể điều gì đã khiến anh nghĩ rằng có hơn một kẻ có liên quan?” Bogart hỏi.
“Bởi vì không ai có thể ở hai nơi trong cùng một thời điểm.”
CHƯƠNG 31
Bình minh tới.
Mây đã tan biến cùng với cơn mưa. Bình minh tới thật rồi, những vết màu trên trời thoạt đầu biến đổi một cách huyền ảo, sau đó mang lại cho trời cao một diện mạo mới, một vẻ đẹp ngỡ ngàng mà không một hiện tượng nào có thể tạo nên được. Duy chỉ có một quả bom hạt nhân và đám mây hình đầu nấm cao vời vợi có khả năng tương ứng.
Tuy nhiên cả hai thứ đó vẫn có khả năng biến đổi vạn vật theo cách riêng của mình. Một thứ chiếu sáng thế giới, còn thứ kia bao trùm thế giới trong bóng tối. Một cú nổ của quả bom cũng ra trò lắm chứ. Sự dịch chuyển của mặt trời hóa ra cũng chỉ là một phép ẩn dụ để nói bóng tối đang chìm xuống hoặc ánh sáng đang lên.
Decker đứng bần thần bên lề đường, ngắm nhìn toàn bộ khung cảnh này diễn ra. Mặc dù ánh sáng đang dần lấp ló nhưng sao tâm trạng của anh vẫn còn kẹt trong bóng tối sâu thẳm. Anh vẫn chưa chợp mắt được giây nào sau khi bỏ lại Bogart và Lancaster. Ngủ để làm gì chứ.
Cửa hàng tiện ích 7-Eleven nằm chềnh ềnh gần với mặt đường nhựa từ phía anh nhìn sang. Nó đang mở cửa. Lúc nào nó chẳng mở cửa. Qua lớp cửa kính, anh có thể nhìn thấy vẫn là nười phụ nữ ấy đang đếm từng bao thuốc lá. Chỉ có người lau sàn nhà là khác với mọi khi. Chắc là “Billy” đã chuyển cái xô hành nghề sang một thành phố khác. Hoặc có thể anh ta đang dưỡng sức sau một đêm tưng bừng với các cô gái.
Anh không biết sao mình lại đến đây sau khi bỏ lại Lancaster và Bogart. Nơi này cứ thu hút anh quay lại như miếng kim loại bị hút về phía nam châm.
Anh bước qua cánh cửa, tiếng chuông nhỏ kêu lên leng keng nhưng nghe như tiếng mũi khoan đang xoắn ầm ầm qua hộp sọ của anh.
“Anh ổn chứ?”
Decker định thần và trông thấy người phụ nữ đang nhìn anh chăm chú. Nét mặt cô ta thoáng chút hoảng sợ, khi anh nhìn hình ảnh phản chiếu của mình trên cánh cửa gương của tủ làm mát soda, anh hiểu ngay lí do. Khuôn mặt man rợ và loạn trí, quần áo thì bẩn thỉu, còn đầu tóc thì nhếch nhác.
“Anh... anh hôm trước cũng đến,” cô ta nói. “Vẫn đang tìm người sao?”
Decker gật đầu và ngó ngàng xung quanh. “Billy đâu? Cái người lau sàn ấy?”
“Hôm nay anh ta làm ca chiều. Anh đã tìm thấy người anh đang tìm chưa?”
Decker lắc đầu. “Nhưng tôi sẽ tiếp tục tìm.”
“Nhìn bộ dạng anh lúc này có vẻ nên uống chút cà phê. Cà phê mới. Tôi vừa pha xong. Ở ngay sau thôi. Chỉ một đô một ly to. Hời lắm đấy. Có thể thêm chút đồ ăn nữa?”
Tiếng chuông cửa lại kêu leng keng, hai người đàn ông xỏ quần yếm, chân đi ủng, người mặc áo sơ mi nỉ mỏng, nặng nề bước vào. Một người bước về quầy thu ngân để mua thuốc lá. Người còn lại đi về phía vòi bơm soda và trút đầy một ly Coca lớn.
Trong khi người phụ nữ tiếp đón khách hàng mới, Decker luồn mình về phía sau cửa hàng, lấy một ly cà phê, chộp lấy một gói bánh ở trên kệ, và quay về quầy thu ngân. Anh đứng đợi phía sau người đàn ông đang hỏi mua thuốc lá, cũng đang muốn mua thêm vài tấm vé số có một dãy số nhất định. Decker đang chờ thì hai mắt bỗng chốc nhìn sạp báo bên cạnh quầy thu ngân. Tờ báo nằm phẳng phiu trên đó, nửa mặt trang đầu nằm lộ ra đầy đủ. Anh suýt nữa làm rơi ly cà phê và gói bánh. Anh đặt chúng xuống, giật lấy tờ báo và bắt đầu đọc.
Anh bắt đầu vô thức bước ra ngoài cửa hàng khi đọc tờ báo.
Người phụ nữ gọi với theo anh, “Này, anh phải trả tiền chỗ này chứ.” Cô ta chỉ vào ly cà phê và gói bánh. “Và tờ báo nữa.”
Decker thọc tay vào trong túi áo, lôi ra một tờ năm đô và đặt lên quầy thu ngân, rồi bước vội ra ngoài, để lại ly cà phê và gói bánh. Người phụ nữ và hai người đàn ông nhìn chằm chằm theo bóng dáng anh.
Anh loạng choạng bước qua đường rồi sẩy chân ngã ngồi xuống làm méo thùng rác nằm dưới cột đèn giao thông đang nhấp nháy.
Đó là câu chuyện dài, chi tiết, có kèm theo hình ảnh.
Hình của mình. Câu chuyện của mình. Không, không phải câu chuyện của mình. Phiên bản về chuyện của mình do một người khác kể lại, viết thiếu sự thật hơn cả lời đồn đại. Và toàn điều dối trá.
Anh liếc nhìn dòng chữ ghi tên tác giả mặc dù việc này không thực sự cần thiết. Anh vốn đã biết chủ nhân của bài báo này là ai.
Alexandra Jamison.
Anh bắt một chiếc xe bus quay về Residence Inn, xồng xộc lao về phòng, ngồi lên giường và đọc lại bài báo tới ba lần. Tất nhiên, câu chuyện vẫn không thay đổi. Thế nhưng cứ mỗi lần đọc lại, các chi tiết trong bài báo lại tác động mạnh hơn một chút vào đầu anh, như một con dao cứ đâm đi đâm lại vào da thịt.
Anh ngả vật người lên giường, cuối cùng cũng chợp mắt được một lúc. Khi anh tỉnh dậy, đồng hồ đã điểm gần chín giờ sáng.
Anh bước vào nhà tắm, vẩy nước lên mặt rồi đi xuống phòng ăn, chất đầy thức ăn lên dĩa, đổ liền ba ly cà phê đen, bưng hết ra bàn rồi ngồi xuống nhìn chằm chằm tất cả.
Mặt trời đã lên hẳn, ánh sáng tràn qua từng ô cửa sổ kính. Nguồn sáng ấy dường như chiếu đến anh rất gay gắt, cứ như anh là một diễn viên đang biểu diễn trên sân khấu, đang đứng dưới cái sức nóng đến héo hon của ánh đèn rọi.
Anh chờ đợi, nhìn chằm chằm vào dĩa thức ăn. Sau đó ánh mắt anh liếc qua tờ báo đã được đặt cạnh chiếc dĩa.
Chiếc điện thoại bỗng rung bần bật. Anh nhìn nó, bấm nút trả lời.
Lancaster lên tiếng, “Chết tiệt, Amos, anh đã làm cái quái gì vậy?”
“Chẳng làm gì hết. Vấn đề là chỗ ấy.”
“Bất cứ ai đọc bài báo này đều có suy nghĩ rằng anh đã thuê Sebastian Leopold giết gia đình mình.”
“Tôi cũng có cùng cảm nhận, dù tôi là người hiểu rõ sự tình.”
“Tại sao cô ta lại bám theo anh vậy?”
“Bởi vì tôi không tiếp chuyện cô ta.”
“Thế là anh không cho cô ta lựa chọn nào khác ngoài bịa cái chuyện chết tiệt kia sao?”
“Tôi có gặp Leopold.”
“Ý anh là ở trong tù.”
“Sau khi hắn ra tù.”
“Cái gì?”
“Tôi đi theo hắn sau khi hắn được thả. Chính là bức hình trên bài báo đó. Chúng tôi ở trong quán rượu.”
“Anh đi theo hắn làm cái quái gì?”
“Bởi tôi muốn nói chuyện với hắn. Tôi muốn hiểu tại sao hắn lại nói với cảnh sát và với tôi rằng hắn đã giết cả gia đình tôi khi mà chắc chắn hắn không có khả năng đó.”
“Và hắn có nói với anh không?”
“Không. Hắn biến mất luôn.”
“Ý anh là anh mất dấu hắn?”
“Ý tôi là hắn đi vào trong xe và biến mất.”
“Anh tận mắt thấy?”
“Không, nhưng đó là khả năng duy nhất.”
Anh nghe thấy tiếng chị thở dài não nề. Anh đã từng nghe thấy Lancaster thở dài nhiều lần, thường là sau mỗi lần Decker làm chuyện gì đó hoàn toàn quái gở, dù cho sau rốt hành động đó cũng giúp lột trần sự thật trong vụ án mà họ đang điều tra.
“Amos, lắm lúc tôi thực sự không hiểu anh muốn gì.”
Anh cũng đã nghe câu này rất nhiều lần, anh biết chị không mong có câu trả lời và sự thật là anh cũng chẳng muốn đáp lại.
“Vậy là Leopold biến mất?”
“Hiện giờ là vậy,” anh nói.
“Người ta sẽ ăn tươi nuốt sống anh sau khi đọc bài báo kia mất thôi. Thậm chí con phù thủy kia còn kèm thông tin nơi anh đang sống nữa chứ.”
“Tôi còn có một chiêu đối phó cơ mà.”
“Chiêu gì?” chị tò mò hỏi.
“Chiêu kệ-mẹ-đời.”
“Amos, tôi không nghĩ anh hiểu--”
“Tôi phải đi đây.” Anh cúp máy và đặt điện thoại lên trên mặt bàn, cạnh một chồng đồ ăn vẫn chưa được đụng tới. Anh cứ đắm đuối nhìn đống trứng, xúc xích, thịt xông khói và khoai tây nướng lò, anh không nhìn thấy đồ ăn mà chỉ nhìn thấy bức hình chụp anh và Leopold đang ngồi trong quán rượu. Anh biết trong mắt người đời, bức hình đó quá lạ kì ki anh ngồi đó và uống bia với một kẻ đã thú nhận rồi sau đó rút lại lời khai đã giết chết gia đình anh. Nhưng nếu anh giải quyết hết những vụ giết người này, anh sẽ phải dấn thân vào bất cứ con đường nào hiện ra trước mắt. Và Leopold là một con đường như vậy.
Anh thở dài, đẩy dĩa thức ăn đi và ngước mặt lên. June đang đứng một bên, tay cầm một khay bánh muffin. Bà không nhìn Decker. Bà đang nhìn về phía cửa ra vào.
Decker nhìn theo hướng ấy. Và trông thấy cô ta.
Alex Jamison đang đứng ở cửa khu vực phục vụ bữa sáng. Cô ta mặc một chiếc quần âu đen, một chiếc áo khoác rộng đã sờn cũng màu đen, lấp ló bên trong là chiếc áo cổ lọ màu xanh ngọc lam. Mái tóc buộc túm đuôi ngựa, đôi giày cao gót khiến cô cao thêm được vài phân.
Cô bước tới bàn của anh rồi nhìn xuống tờ báo đang đặt bên cạnh dĩa ăn sáng.
“Tôi đoán là anh đã đọc rồi,” cô khẽ nói.
Decker không đáp lại. Anh cầm nĩa lên, kéo cái dĩa về phía mình và bắt đầu ăn.
Cô vẫn đứng bên cạnh bàn anh, trông rất kì quặc. Không thấy anh nói gì, cô lên tiếng, “Tôi cho anh một cơ hội nữa để nói chuyện với tôi.”
Decker vẫn tiếp tục nhai.
Cô ngồi xuống đối diện anh. “Không phải tôi muốn viết câu chuyện ra như vậy đâu.”
Anh đặt cái dĩa xuống, lấy khăn giấy lau miệng, và nhìn cô, “Tôi thì lại thấy rằng người ta thường làm chính xác điều mà người ta muốn.”
Cô đập ngón tay bộp bộp lên tờ báo. “Anh vẫn có cơ hội để biến nó thành câu chuyện đúng.”
“Người khác muốn sửa mọi chuyện lại cho đúng là bởi họ làm sai. Còn tôi chẳng làm gì sai trái cả.”
“Anh đã gặp gỡ người đàn ông được cho là đã sát hại toàn bộ gia đình anh.”
“Được cho là ư. Thế là hiện tại mọi cáo buộc đã bị hủy bỏ rồi nhỉ, và cô cũng biết trước khi viết ra câu chuyện kia. Và cũng là điều tôi đã biết trước khi tôi gặp hắn ở trong quán rượu đó.”
“Tại sao anh lại gặp hắn?”
“Tôi có nhiều câu hỏi dành cho hắn.”
“Câu hỏi gì?” Cô lôi ra một chiếc máy ghi âm, một quyển sổ viết và bút, nhưng Decker giơ một tay lên chặn trước.
“Khỏi bận tâm.”
Cô ngồi dựa ra sau. “Anh không muốn chuyện của mình được biết đến sao?”
Decker gạt đĩa thức ăn sang bên, vừa tì vừa rướn người lên bàn và nói, “Tôi không có chuyện nào để kể lại hết.” Anh lại ngồi xuống, kéo chiếc dĩa về phía mình và tiếp tục ăn.
“Được rồi, tốt thôi. Nhưng anh có nghĩ Leopold có đồng phạm trong những vụ giết người không? Kể cả nếu cá nhân hắn ta không ra tay? Còn một sự thật nữa là cũng khẩu súng ấy được dùng trong vụ thảm sát ở trường trung học.”
Decker hằm hằm sát khí nhìn cô. “Brimmer có thể bị đuổi việc vì cung cấp thông tin này. Nó không được phép thông cáo báo chí. Cô cũng biết là không được phép, nếu không thì cô đã viết về chi tiết đó luôn rồi. Tôi có thể bắt cô ta chịu trách nhiệm giải trình việc này. Cô muốn nhìn thấy “nguồn thông tin” của mình mất sạch sự nghiệp chứ? Hay cô ấy chỉ được coi là một vật hi sinh để có được câu chuyện này?”
“Anh đúng là người cực kì khác thường.”
“Tôi chẳng có ngữ cảnh nào để đáp lại nhận định này của cô cả.”
“Cách nói năng như thế này càng chứng minh là tôi đưa ra nhận xét đúng, có phải không?”
Decker ngồi dựa lưng ra sau và nhìn cô. “Kể về bản thân cô cho tôi nghe,” anh bỗng nói.
“Gì cơ, tại sao?” cô đề phòng.
“Tôi có thể tự tìm ra, cũng dễ thôi. Mọi thứ về cuộc sống của mọi người đều có trên mạng. Nên là xin phép mượn lời cô, tôi đang cho cô một cơ hội để kể câu chuyện của cô đó.”
“Đây là lúc tôi phải thốt lên ‘anh bắt thóp được tôi rồi à’?”
“Cô có chuyện cần giấu sao?”
“Anh có không?”
“Không. Nhưng cô biết hết về tôi rồi.” Anh vỗ ngón tay lên tờ báo nằm cạnh dĩa đồ ăn sáng. “Bằng chứng là ngay ở đây. Thế nên kể cho tôi nghe về bản thân cô.”
“Anh muốn biết điều gì?”
“Quê quán, gia đình, giáo dục, sự nghiệp, các mục tiêu cuộc sống.”
“Chao ôi, anh hỏi ít quá,”
Decker chờ đợi. Anh không có vấn đề gì với sự im lặng và với việc chờ đợi. Tính kiên nhẫn, cũng giống như tâm trí anh, đều không có giới hạn.
Cô khoanh tròn hai tay lại trước ngực và nói, “Tôi đến từ Indiana, Bloomington. Tôi học ở Purdue, tốt nghiệp ngành Truyền thông đại chúng. Bắt đầu làm việc ở những tòa soạn báo nhỏ ở miền Trung Tây, nhiệm vụ cơ bản là mua cà phê, viết những chuyện vớ vẩn mà không ai khác muốn viết, và nhận những ca mà không ai muốn làm. Tôi đã thử làm báo trực tuyến và viết blog nhưng thấy ghét chúng.”
“Tại sao?”
“Tôi thích nói chuyện với mọi gnười, một cách trực tiếp, chứ không thông qua máy móc. Như thế không phải là báo chí thực thụ. Chúng chỉ là công việc quản lý dữ liệu được giao bởi những kẻ đáng khinh mà mình thậm chí còn không biết là ai. Đó là công việc báo cáo cho những kẻ lười biếng chỉ sống trong bộ quần áo ngủ. Không phải điều tôi muốn. Tôi muốn giải báo chí và văn học Pulitzer cơ. Nói thật là tôi muốn một rổ giải thưởng như thế.”
“Nên cô đến đây. Tại sao? Burlington có phải thủ phủ náo nhiệt đâu?”
“Nó lớn hơn bất cứ thị trấn nào tôi đã từng ở trước đó. Nó có tội phạm và nền chính trị thú vị. Chi phí sinh hoạt cũng thấp nữa, việc này rất quan trọng, bởi vì khi anh tăng giờ làm việc lên, tôi còn chẳng kiếm nổi mức lương tối thiểu. Thế là họ mặc tôi muốn làm gì thì làm và theo đuổi những câu chuyện của riêng tôi.”
“”Gia đình thì sao?”
“Một đại gia đình. Tất cả đều sống ở Bloomington.”
“Còn lí do nào khác lôi kéo cô đến đây không?”
“Không có lí do khác.”
Anh chỉ vào ngón tay bên bàn tay trái. “Ở đó có hai chiếc nhẫn. Vết hằn đã mờ bớt nhưng trông vẫn rõ. Nhẫn đính hôn và nhẫn cưới. Không còn đeo nữa.”
“Tôi đã li hôn rồi. Hoan hô chưa. Giống như một nửa dân số của đất nước này.”
“Bắt đầu lại từ đầu để quên đi người cũ ư?”
Cô xoa xoa vết hằn trên bàn tay. “Đại loại vậy. Được rồi, chúng ta chia sẻ xong chưa?”
“Cô có muốn tôi nghe xong không?”
“Anh thừa biết anh thực sự không đang chơi đùa tôi, phải không? Tôi đang rộng lượng thôi, kiểu như cứ xuôi theo mạch câu chuyện, để xem chúng ta sẽ bàn đến đâu.”
“Cô theo đuổi những câu chuyện của riêng mình, cô nói vậy nhỉ?”
“Đúng vậy.”
“Thế cô có ý định thử lần theo mối liên hệ giữa vụ sát hại gia đình tôi và vụ xả súng ở trường Mansfield không?”
“Tất nhiên.”
“Bạn bè hay gọi cô là gì nhỉ?”
“Anh nghĩ tôi có bạn bè sao?”
“Thế Brimmer gọi cô là gì nhỉ?”
“Alex.”
“Được rồi, Alexandra, để tôi nói rõ về vấn đề này hết sức có thể nhé.”
Cô đảo mắt một vòng và nhìn anh với thái độ khinh khỉnh. “Sao tôi ngửi thấy có mùi mặt dạy đời thế nhỉ?”
“Thế cô có muốn nghe tin sốt dẻo không?”
Biểu cảm trên khuôn mặt cô thay đổi. Cô cầm chiếc máy ghi âm lên. “Thông tin này thu vào máy được không?”
“Nếu cô để nguồn tin của mình ẩn danh.”
“Tôi xin hứa.”
“Cô có thường thề thốt nhanh lẹ như thế không?”
“Tôi xin thề,” cô chắc nịch nói.
“Một đặc vụ FBI đã bị giết tối qua, thi thể của cô bị treo ngang tầm phía trên đầu, ngay lối đi vào. Cô ấy là một đặc vụ liên bang có dày dạn kĩ năng và có vũ khí, một người thực sự có thể tự lo liệu cho mình. Hiện giờ cô ấy lại là nạn nhân bị sát hại, bị trừ khử nhanh gọn lẹ một cách dễ dàng như người ta giẫm nghiến một con bọ dưới chân.” Anh lại kéo chiếc dĩa sang một bên, với tay lên phía trước và bấm nút tắt chiếc máy ghi âm.
Cô không dịch chuyển người để ngăn anh lại.
“Tôi đã chứng kiến rất nhiều vụ trong suốt hai mươi năm hành nghề trong lực lượng, nhưng tôi chưa bao giờ từng thấy--” Anh dừng lại, chọn từ ngữ một cách khó khăn. “Tôi chưa bao giờ từng thấy mối đe dọa nào như vậy. Mà không chỉ có thể. Còn...” Anh lại dừng lại, đập các ngón tay lên mặt bàn và nhắm mắt lại. Khi mở mắt ra, anh lại nói tiếp, “Mối đe dọa kết hợp với đầu óc và sự xảo quyệt. Một sự kết hợp vô cùng nguy hiểm, Alexandra. Tôi muốn hỏi về gia đình cô là do tôi muốn biết cô sẽ còn có người thân thích nào để khóc tang thương xót cô khi cô bị ám hại hay không thôi. Bởi vì xin hãy thận trọng, hắn sẽ giết cô dễ như thổi tắt làn khói một điếu thuốc.”
“Nghe này, nếu anh đang cố--”
Decker không để cô nói hết câu. “Với những gì tôi biết, hắn ta có thể đang theo dõi chúng ta ngay lúc này, rồi đánh giá định lượng nơi nào và làm thế nào để hắn ta lên lên hoạch tước đoạt mạng sống của cô. Có vẻ như cũng là cách hắn muốn để hủy hoại tôi. Giết những người thân thiết với tôi hoặc hay giao tiếp với tôi. Cô đã viết một bài báo rất hay về tôi. Việc đó đã khiến tôi và cô lại có mối liên hệ với nhau theo cách mà gã kia yêu thích vô cùng. Tôi chắc chắn hắn sẽ lên kế hoạch để tiếp tục giết người cho đến khi hắn hạ được nạn nhân cuối cùng.”
Jamison không còn vẻ khinh khỉnh trên mặt nữa. Nét mặt cô trông kinh hãi dù đã cố không để lộ ra.
“Và người cuối cùng đó là ai?” Cô cố nói ra vẻ xấc xược nhưng giọng nói lại đứt quãng.
“Đó sẽ là tôi.”
CHƯƠNG 32
Alexandra chộp lấy máy ghi âm, cuốn sổ và bút, nhét tất cả vào trong túi xách rồi đứng dậy. Cô còn không buồn nhìn Decker.
“Được lắm, nếu nói năng kiểu đó khiến tâm trạng anh cảm thấy khá hơn thì anh chính thức đã dọa tôi sợ mất hồn mất vía rồi,” cô nói.
“Cô có nhìn thấy Leopold rời khỏi quán rượu đó không?”
“Gì cơ?”
Anh gõ nhẹ ngón tay lên tờ báo. “Quán rượu ấy, chỗ mà bức ảnh được chụp?”
Giờ cô nhìn anh, nét mặt thận trọng. “Tôi sẽ không trả lời câu hỏi đó.”
“Cô vừa cho tôi câu trả lời rồi đấy thôi. Được rồi, tôi có một câu hỏi khác dành cho cô.”
“Câu gì?”
Anh giơ tờ báo lên. “Cô đứng ở chỗ nào trong quán rượu để chụp được tôi và Leopold vậy? Không thấy có chữ kí bản quyền của người chụp ảnh. Tôi biết công việc này sẽ rất khắt khe về vấn đề đó, nên tôi vẫn đang băn khoăn sao lại không có tên trên bức hình đó.”
“Tôi đã chụp nó.”
“Cô không chụp.”
“Làm sao mà anh biết được?”
“Tôi là người rất hay quan sát. Và tôi biết cô không có mặt trong quán rượu đó. Bất kể người chụp bức hình này là ai thì kẻ đó mới là người theo dõi Leopold và tôi. Tức là kẻ đó đã theo dõi cả hai chúng tôi ở đó, mặc dù tôi cũng là người đang theo dõi Leopold.” Anh dừng nói một lúc. “Tôi sẽ không hỏi vấn đề này nếu nó không quan trọng. Làm thế nào cô có được bức hình này?”
“Tôi nhận nó từ một nguồn tin ẩn danh,” cuối cùng cô thừa nhận.
“Và nguồn ẩn danh đó cũng cung cấp các chi tiết trong câu chuyện mà cô đã viết ư?”
“Tôi thực sự không thể nói thêm.”
“Nếu cô thực sự không biết tên người cung cấp thông tin, cô không phải lo lắng bảo vệ danh tính của kẻ đó.” Decker thả tờ báo rơi lên trên bàn. “Thông tin đến từ thư điện tử hay tin nhắn? Chắc chắn không bằng thư từ truyền thống. Cô sẽ không có đủ thời gian để viết câu chuyện đó.”
“Qua thư điện tử.”
“Cô có thể gửi cho tôi đường dẫn của bức thư điện tử đó không?”
“Sao bức thư đó lại quan trọng đối với đến vậy?”
“Bởi kẻ gửi bức thư đó cho cô cũng là người đã giết tất cả những người này.”
“Anh không thể chắc chắn biết được.”
“Tôi biết chắc chắn. Và tôi cũng nghĩ, nội dung bức thư bảo cô nên viết câu chuyện này bởi chi tiết nào trong đó cũng ‘bốc mùi’ kinh hãi. Rằng ở đó tôi đang hẹn gặp gã đàn ông bị buộc tội hạ sát gia đình tôi. Còn nhiều điều hơn thế, phải không?”
Càng nghe anh nói, hai mắt Jamison lại càng mở to hơn. “Anh có phải là người gửi bức thư đó đến cho tôi không vậy?” giọng cô rít lên giận dữ.
“Ý cô là tôi có thể đọc một câu chuyện được in đầy trên báo, buộc tội tôi đã thông đồng ám hại chính gia đình mình sao?”
Cô cắn chặt môi. “Tôi xin lỗi, thật ngu xuẩn.” Cô nuốt nước bọt xuống đầy khó khăn. “Anh thực sự nghĩ là hắn ta sao?”
“Hắn đã ở đó. Trong vòng ba mét cách tôi, nhưng tôi lại chưa bao giờ nhìn thấy hắn. Tôi chỉ đang không chắc chắn sao có thể như thế được.”
“Anh đã nói là hắn là kẻ gian xảo.”
Decker gật đầu. “Đúng thế. Rõ ràng hắn muốn phá hủy sự nghiệp của tôi trước khi giết tôi.”
“Tôi có thể hỏi anh một câu không?”
Decker ngước lên nhìn cô. “Mời cô.”
“Anh đã chọc tức ai đến nỗi hắn ta làm tất cả đều này với anh?”
Decker không trả lời, bởi vì anh không có đáp án. Anh viết địa chỉ thư điện tử lên mặt khăn giấy và đẩy nó sang phía bên cô.
Jamison nhét nó vào túi, quay người bỏ đi.
Decker vẫn ngồi đó.
Một lúc sau, chiếc điện thoại của anh bỗng rung lên. Anh liếc nhìn màn hình rồi cho phép mình khẽ cong môi cười.
Jamison vừa mới chuyển tiếp bức thư điện tử ấy được gửi từ nguồn ẩn danh đến cho anh. Decker hiểu rằng địa chỉ hòm thư kia sẽ không dẫn họ ngược đế người gửi. Quá rõ ràng. Nhưng anh muốn tìm hiểu xem gã đàn ông kia đã viết những gì.
Anh đẩy dĩa thức ăn sang một bên và chăm chú đọc tin nhắn. Tên của người gửi là Mallard2000. Chẳng có ý nghĩa gì với anh. Anh đọc tin nhắn. Căn bản chỉ phản chiếu lại những gì mà Decker đã suy luận. Người gửi muốn Jamison viết nên một câu chuyện dấy lên nghi ngờ giữa Decker và kẻ sát hại gia đình của anh. Lựa chọn ngôn từ đơn giản và ngay thẳng. Trong tâm trí của mình, Decker hình dung Sebastian Leopold đang thốt ra từng tiếng, cố gắng đồng nhịp điệu nội dung trog bức thư ấy nhưng thật cứng nhắc. Sao lại lạc điệu đến vậy, ít nhất trong tâm trí anh. Khôg có vẻ gì là xuất phát từ một người cả.
Có hai người. Cùng bày mưu tính kế. Một người không thể xuất hiện ở hai nơi tronb cùng một thời điểm. Leopold đang ở tù trong suốt thời gian xảy ra sát hại. Thế nên, nếu hắn ta có liên quan, và mình tin là vậy, thì còn có một người khác nữa. Thế nhưng vẫn có điểm khó hiểu trong giả thiết này.
Một người có mối thù sâu nặng với anh như thế thì còn có thể hiểu được. Nhưng có đến hẳn hai người như vậy?
Anh chuyển tiếp bức thư đến Lancaster và nhờ chị cố gắng truy lùng nguồn gốc. Anh chẳng nghĩ rằng chị hay đội FBI có thể tìm ra nhưng họ vẫn phải thử. Anh không có máy tính, vì thế anh đến thư viện công cộng và sử dụng máy tính ở đó.
Anh không phải là một người thành thạo công nghệ, khả năng có thể theo dấu một người từ một địa chỉ hòm thư điện tử của anh rất hạn chế. Anh nhanh chóng cảm thấy hết khả năng truy vết và đứng dậy khỏi máy tính. Anh đi lang thang khắp các giá sách, đến khu vực dành cho sách thể loại phi hư cấu.
Bỗng có một suy nghĩ lướt qua trong đầu anh, thư viện là nơi hoàn hảo để kiểm tra giả thiết đang thành hình trong tâm trí anh.
Vụ án gia đình Clutter.
Anh rà hét toàn bộ tên tác giả có họ bắt đầu bằng chữ C. Không phải trong từ Clutter, mà tên tác giả của câu chuyện bi thảm đó.
Anh tìm thấy cuốn sách và rút nó ra khỏi kệ.
Máu lạnh, tác giả Truman Capote.
Câu chuyện này cũng vừa đơn giản mà cũng vừa phức tạp. Decker đã đọc cuốn sách này nhiều năm trước, cũng như với nhiều cuốn khác, mỗi trang truyện đều được lưu trữ trong đầu anh một cách ngăn nắp.
Một gã ngồi tù đã được một gã bạn tù khác tuồn cho một tin, rằng một người nông dân tên là Clutter ở vùng quê Kansas giữ rất nhiều tiền ở trong két. Gã đó sau khi ra tù đã câu kết với tên bạn tù cũ, sau đó chúng đến nhà của người nông dân kia. Chúng đột nhập vào trong nhà, chỉ thấy trong đó không có két sắt và cũng không có tiền; tin đồn nhảm nhí. Câu chuyện đáng lẽ đã kết thúc tại đây nhưng thật kông may cho gia đình Clutter. Tên nhút nhát hơn nhưng tinh thần bất ổn hơn đã quyết định rằng chúng phải giết hết gia đình này. Bạn đồng phạm của hắn, người dẫn đầu của nhóm và là người nghe được tin đồn, bất đắc dĩ làm theo. Từng người trong gia đình bị giết. Những kẻ sát nhân không hề thông minh. Cuối cùng chúng bị truy đuổi và bắt lại. Sau vài phiên tòa theo đúng trình tự và các lần kháng cáo dài đằng đẳng, cả hai tên đều bị treo cổ tại phòng thi hành án ở Kansas.
Câu chuyện tràn đầy bi kịch. Cả hai tên sát nhân đều có những vấn đề trong lí lịch, các rắc rối, các tệ nạn. Chẳn có gì có thể biện hộ được cho những gì mà chúng đã làm, không có gì có thể.
Phần nội dung đó của câu chuyện không gợi lên nhiều hứng thú với Decker vào lúc đó. Điểm thực sự thu hút anh chính là khả năng khiến hai gã có gia cảnh cực kì khác nhau lại tìm đến với nhau vào đúng thời điểm, hình thành mối quan hệ hợp tác mà sau này dẫn đến vụ tàn sát rất nhiều người. Anh không biết Leopold. Anh chưa từng gặp hắn cho đến khi hắn ngồi trong nhà tù đó. Thế nên Leopold không phải là nhân vật có mối thù sâu đậm với anh. Mà phải là người mà Leopold đã câu kết. Nhưng hắn là ai?
Anh đặt cuốn sách về chỗ cũ rồi rời khỏi thư viện.
Khi anh đang bước đi, chiếc điện thoại lại rung lên lần nữa. Đó là Lancaster.
“Vẫn chưa có đầu mối gì từ bức thư điện tử đó,” chị nói. “Anh thực sự nghĩ gã gửi thư là thủ phạm sao?”
“Đúng vậy.”
“Đội FBI cũng đang kiểm tra nó.”
“Có tin gì mới về Lafferty chưa?”
“Đó là lí do tại sao tôi gọi điện đó. Anh có thể gặp tôi ở nhà xác không?”
“Được. Sao thế?”
“Cứ gặp tôi ở đó. Anh phải đích thân thấy mới được.”
☆☆☆
Decker nhảy lên một chiếc xe bus để đến nhà xác nằm ngoài ngoại ô của thành phố Burlington, ở một khu vực, cũng giống như đa số khu vực khác trong thành phố, đã qua rồi cái thời huy hoàng. Anh cứ suy nghĩ mãi về lời của Lancaster đã nói trong suốt chuyến xe nhưng không thể suy đoán được nhiều. Chị ấy muốn anh đích thân thấy cái gì?
Khi anh vừa đến cổng trước của nhà xác, chị đang đứng đợi anh. Nét mặt căng thẳng, cáu kỉnh, bàn tay run lên còn tệ hại hơn.
“Chuyện gì thế?” anh hỏi.
“Vào đi, Bogart đã vào bên trong rồi.”
Hai người cùng đi trên hành lang bốc mùi thuốc khử trùng nồng nặc. Và mùi của cái chết. Tử hi tỏa ra mùi cái mùi rất riêng, chúng xộc vào trong hai hốc mắt, mũi và cổ họng. Nhà xác không phải là nơi sạch sẽ. Thực tế, chúng vô cùng bẩn thỉu. Không ai phải lo lắng về chuyện những người “khách” ra vào nơi này sẽ chết vì bị nhiễm trùng cả.
Lancaster dẫn đường, cuối cùng cũng đến đẩy hai cánh cửa xoay. Decker theo chị bước vào. Không gian bên trong rộng rãi, chất đầy các loại giá kệ và bàn khám nghiệm tử thi bằng thép không gỉ, nằm trên ba chiếc bàn là những thi thể được phủ một tấm khăn lớn lên. Những vòi nước áp lực được treo trên trần rủ xuống, các tủ đựng đủ thứ chai dung dịch và các dụng cụ cần thiết để cắt xẻ thi thể. Tiếng vo vo của lưỡi cưa cầm tay phát ra từ một căn phòng khác. Decker đã nghe thấy âm thanh đó trước đây. Sọ của một người nào đó đang bị mở ra. Anh tự hỏi liệu đó có phải là một nạn nhân từ trường trung học Mansfield sắp sửa bị lôi não ra khỏi sọ để đo đạc, cân đong và làm thí nghiệm hay không.
Một nhóm người đứng túm tụm xung quanh chiếc bàn nằm tít phía trong, Bogart đang đứng cùng họ. Đã có lần anh thấy anh ta mặc âu phục, đeo cà vạt có ghim cài, cổ áo dựng phẳng, hoàn hảo, không có một sợi tóc chỉa ra, một bức tranh tổng thể về đặc vụ chuyên nghiệp. Nhưng trên khuôn mặt béo phị, đôi mắt đỏ lòm, dáng người khòm xuống, lúc này Decker chỉ thấy một người đàn ông rất khác. Còn hai đặc vụ khác đứng cạnh anh ta và một người đàn ông mà Decker đã biết là trưởng đội pháp y. Họ sẽ không để một người có tay nghề non nớt cắt xẻ thi thể của đặc vụ FBI. Thú thật, Decker thấy khá ngạc nhiên khi Cục không điều động cho nhân viên pháp y của mình bay đến tận nơi này.
Bogart ngước lên nhìn khi anh ta nghe thấy tiếng chân họ bước tới. Anh gật đầu nhanh lẹ, chào hỏi gắng gượng với Decker bằng ánh mắt, sau đó quay lại nhìn thi thể dưới tấm vải.
Lancaster nói với trưởng đội pháp y, “Chúng ta đã biết được gì cho đến bây giờ?”
“Như đã được ghi nhận sơ bộ tại hiện trường, nguyên nhân tử vong là một nhát dao đâm thẳng tim. Thi thể được di chuyển sau khi đã chết. Hồ máu tử thi đã cho thấy điều đó. Máu tụ lại ở các mô kẻ phổi ở phía sau lưng, nhưng cô ấy lại được tìm thấy trong tình trạng bị treo dưới đèn ốp trần.” Anh ta để lộ ra một cánh tay của Lafferty, nhấc nó lên một cách nhọc nhằn bởi vì thi thể vẫn còn bị co cứng. “Thi thể cô ấy bắt đầu sắp hết giai đoạn co cứng, từ tứ chi trước rồi đến hàm và cổ, hiện tượng này phần nào xác nhận thời gian tử vong sơ bộ là vào lúc nửa đêm.”
“Thế còn nhiệt độ xung quanh thì sao?” Decker hỏi. “Trời lạnh mà.”
“Đồng nghiệp ở hiện trường đã xem xét điểm đó. Còn người chết đã bị tiêm thuốc an thần liều nặng. Chúng tôi đã tìm thấy các vết tiêm. Loại thuốc này sẽ khiến cho cô ấy bị mất nhận thức và không có khả năng tự vệ.”
“Còn có cả tổn thương ở bộ phận sinh dục nữa,” Decker nói.
Nhân viên khám nghiệm gật đầu. Nhưng khi anh ta bắt đầu kéo tấm vải thấp xuống để lộ ra khu vực nhạy cảm, Decker ngăn anh ta lại. “Chúng tôi đã thấy phần này rồi.”
Anh quay ra nhìn Lancaster vẻ khẩn khoản. Đổi lại, cô liếc sang nhìn Bogart và nói, “Tôi vẫn chưa nói với anh ấy. Nghĩ anh ấy nên tự mình nhìn thấy.”
Bogart gật đầu rồi đưa mắt nhìn sang hai đặc vụ khác, hai người đàn ông vạm vỡ trông như muốn giết người, giết bất cứ ai. “Lật người cô ấy lại.”
Nhân viên khám nghiệm kéo hết tấm vải ra, để lộ toàn bộ cơ thể của Đặc vụ đặc biệt Laffferty. Ở mặt trước, làn da của cô tái nhợt cực kì. Tất nhiên nhân viên khám nghiệm đã mổ phanh cô ra; những vết khâu theo hình chữ Y phía trên bụng trông tàn bạo, kinh hoàng, giống như hình hai chiếc khóa kéo song sinh rạch lên thịt người. Da mặt cô hơi chảy xuống do đã bị cắt một miếng lớn rồi sau đó úp ngược vào. Sọ đã bị cưa rồi mở ra, não đã được đưa ra ngoài trước khi quy trình được đảo ngược, mọi thứ được đặt vào chỗ cũ.
Khi họ lật ngược cơ thể cô lại, sự nhợt nhạt đã biến mất. Màu da phía sau đỏ rực, trông như vết bỏng rát từ những chỗ máu tụ vào.
Decker không tập trung nhìn vào chỗ đó.
Anh đang nhìn vào thứ đang hiện lên trên lưng cô.
Anh kéo người tới gần hơn bởi sự biến đổi màu da khiến khu vực đó rất khó nhìn rõ ràng.
Thế nhưng anh cũng nhìn ra nó.
Có người đã rạch gì đó lên lưng của Lafferty.
Có người đã dùng lưỡi dao khắc chữ, lấy người cô làm giấy viết. Hai dòng chữ, dòng này nằm ngay dưới dòng kia.
Bao giờ sẽ kết thúc, người anh em.
Anh nói tôi nghe.
CHƯƠNG 33
Tất cả đều đi ra ngoài. Bogart nhìn hai đặc vụ của mình rồi nói, “Chờ chúng tôi ít phút. Tôi sẽ gặp các cậu trên xe.” Họ rời đi. Bogart quau ra phía Lancaster. “Tôi có vài lời muốn nói riêng với cộng sự của cô.”
Lancaster liếc nhìn Decker, anh nói, “Tôi sẽ gặp chị sau, Mary.”
“Anh chắc chứ?”
“Anh ta chắc chắn,” giọng Bogart gay gắt.
Lancaster nhìn Bogart chằm chằm. “Tôi rất lấy làm tiếc cho Đặc vụ Lafferty.”
“Đặc vụ đặc biệt Lafferty. Cảm ơn.”
Chị quay người bước đi, ngoái lại nhìn một lần nữa trước khi chị vòng vào góc và biến mất khỏi tầm mắt.
Giây tiếp theo, Bogart đã đẩy Decker dính vào bức tường gạch của nhà xác. Ông ta chèn cả cẳng tay lên họng anh.
“Nghe đây thằng khốn nạn béo phệ, chúng ta phải nói cho rõ ràng tại đây, ngay lúc này.”
Bogart là người cao lớn, khỏe mạnh, hình thể tốt hơn Decker nhiều phần. Hơn nữa, anh ta còn đang dồn nén cảm xúc căm hận và thất vọng ngút ngàn, chính chúng đang tiếp thêm sức mạnh cho cơ thể ấy. Thế nhưng Decker cũng có thân thể nặng cả trăm cân, và đã từng là một cầu thủ bóng bầu dục chuyên nghiệp. Sau khoảng một phút vật lộn với nhau, người nào cũng muốn chiếm thễ thượng phong, Decker cong đầu gối và đạp tường bật ra, sức đẩy đó kết hợp với thân thể to lớn của anh xô mạnh cả hai người lên phía trước, mặc dù thật ra là đẩy lùi đối với Bogart. Cùng lúc đó, Decker ngoắc cổ chân trái phía sau bàn chân phải của đặc vụ FBI, anh ta ngã sầm xuống đất. Decker hạ cả thân hình mình lên người ông ta như bức tường đổ sập xuống.
Dù ngã sấp lưng, thêm thân hình nặng hơn một trăm năm mươi cân chèn lên người, Bogart vẫn có thể vung tay tung một nắm đấm lên hàm của Decker. Decker nếm thấy máu trong miệng và cảm nhận một chiếc răng bị lung lay. Anh giã thẳng khuỷu tay mình thẳng vào bên đầu Bogart, lập tức nghe thấy người đàn ông kêu rên rỉ vì chấn động khi đầu ông ta đập nẩy xuống nền đất.
“Tao sẽ giết mày!” Bogart gào toáng lên khi ông tiếp tục vung tay đá chân trong khi Decker gắng kìm kẹp đôi tay đôi chân quờ quạng.
Decker đứng dậy lên cao một vài phân so với Bogart rồi bỗng thả phịch người xuống, nã thẳng vai phải ụ thịt chính giữa cơ hoành của người đàn ông kia. Sau đó anh làm lại lần nữa. Bogart gằn tiếng, thở hổn hển, kêu rên đau đớn, sau đó không vùng vẫy nữa.
Decker đứng dậy, loạng choạng vài bước, cong lưng lại, cố hít lấy không khí, hai bàn tay chống lên hai bên đầu gối đang run bần bật, bụng phập phồng, hai lá phổi cũng vậy.
Khi anh nhìn qua bên kia, Bogart đã ngồi dậy, súng của anh ta đang chĩa thẳng lên đầu Decker. Rõ ràng trông rất đau đớn, người đàn ông từ từ đứng dậy, họng súng vẫn chĩa thẳng vào Decker.
“Anh vừa hành hung một đặc vụ liên bang đó,” Bogart vừa hổn hển vừa bịt cái đầu bị thương đang chảy máu bằng bàn tay còn lại.
Decker nhìn khẩu súng rồi sau đó nhìn Bogart.
“Tôi có thể bắt giữ anh,” vị đặc vụ liên bang nói thêm.
Decker đứng thẳng người rồi lại khuỵu chân xuống, dựa vào bức tường gạch để chống đỡ. Cuối cùng, anh cũng điều hòa được nhịp thở, anh nói, “Không phải anh có điều muốn nói với tôi sao?”
Vẫn chĩa thẳng súng về phía Decker, Bogart quệt tóc ra khỏi mặt và vuốt phẳng chiếc cà vạt. Anh ta tiến lại gần hơn. “Điều gì?”
“Anh nói anh muốn nói chuyện rõ ràng còn gì. Tôi không nghĩ anh có ý muốn tẩn tôi. Tôi nghĩ câu đó có nghĩa là có chuyện muốn nói.”
Bogart chỉ vào cánh cửa nhà xác. “Hắn để lại lời nhắn trên… trên người đặc vụ của tôi nhắm thẳng đến anh.”
“Tôi biết hắn đã làm vậy.”
“Tức là anh phải biết hắn chứ. Chắc chắn anh đã gây thù hằn với gã này. Hắn gọi anh là anh em cơ mà.” Bogart quát lên ở câu cuối.
Decker buông tiếng hở phào cuối cùng và đạp tường đứng thẳng dậy. “Tôi không biết gã này. Tôi cũng không phải anh em gì của hắn.”
“Anh nói anh không bao giờ quên. Đấy, gã này cũng thế. Anh đã làm gì. Có thể anh không nhận ra mình đã làm gì, nhưng hắn đã giết… hắn đã giết…” Giọng Bogart bỗng lạc đi, anh hạ khẩu súng xuống, sau đó cứ nhìn mãi xuống nền nhà và lắc đầu, nét mặt chỉ toàn tuyệt vọng.
Decker sờ lên vết rách và tím trên bên trên má mà Bogart đã đấm anh. Đầu lưỡi đẩy vào chiếc răng lung lay.
“Hắn đã giết cả tá người, bao gồm gia đình tôi và Đặc vụ đặc biệt Lafferty,” Decker nói.
Bogart liếc nhìn anh và gật gù. “Gồm cả Nora.” Bogart cất vũ khí đi. “Nghe này, tôi xin lỗi tôi… nếu anh muốn tố cáo thì cứ làm đi. Hành động đó không thể bào chữa được.”
Decker nói, “Tôi không chắc chuyện gì đã xảy ra, ngoài việc tôi đã vấp chân và ngã xuống, lôi cả anh theo. Vụng về đến cạn lời. Nhưng dù sao tôi cũng to con, béo ị và không cân đối. Tôi nghĩ anh sẽ cần phủi sạch bộ âu phục và kiểm tra vết rách trên đầu đi.”
Bogart chà mấy vết bẩn trên ống tay áo và liếc nhìn Decker. “Chúng ta nên làm gì tiếp đây?”
“Những việc chúng ta đã làm cho đến giờ chưa thực sự thu được kết quả gì cả. Anh có tìm thấy thứ gì có ích ở căn cứ quân sự không?”
“Không có gì cả. Chỉ toàn ba cái thứ tạp nham. Tất cả đều biến thành bùn nhão. Lầu Năm Góc vẫn chưa hồi âm lại với ta. Chưa chắc họ còn có thể bổ sung thêm thông tin gì không. Thế còn bài báo thì sao?”
“Tôi đã nói chuyện với phóng viên rồi.”
“Lancaster đã kể chúng tôi nghe. Cho chúng tôi địa chỉ IP. Đội đặc vụ vẫn đang lùng theo nó, đến giờ vẫn chưa truy ra được gì.”
“Tôi không nghĩ nó sẽ dẫn đến địa chỉ nào cụ thể. Thế thì quá dễ dàng.”
“Thế là chúng ta vẫn không có gì trong tay sao?” Bogart nẫu ruột nói.
“Chúng ta sẽ có rất nhiều thứ, chỉ cần chúng ta xâu chuỗi chúng lại một cách hợp lí. Chúng ta có Sebastian Leopold.”
“Nhưng hắn ta có người làm chứng trong cả hai vụ giết người.”
“Nhưng không có trong vụ giết Lafferty.”
“Ý anh là hắn bắt tay với người khác nữa? Đó là ý anh khi anh nói không ai có thể có mặt ở hai địa điểm cùng một lúc cả?”
Decker gật đầu.
“Nhưng làm thế nào anh có thể chắc chắn chính hắn đã giết Nora?”
“Tôi không thể. Nhưng tôi không nghĩ chính Leopold đã khắc những từ đó lên người cô ấy.”
“Tại sao?”
“Tôi đã gặp Leopold. Nếu tôi đã gặp gã kia, tôi sẽ nhớ hắn. Nhưng tôi lại không nhớ, chứng tỏ tôi chưa từng gặp hắn. Chỉ có thể là cộng sự của hắn. Gã này sẽ không cho phép Leopold làm thế. Đó là chuyện cá nhân. Tôi là anh em của hắn. Không phải ai khác. Hắn là người có thù với tôi.”
“Nhưng Decker, làm sao anh có thể bắt gặp gã kia mà không nhớ ra hắn chứ? Trong khi hắn căm ghét anh đến mức dám giết người?”
“Tôi không thể trả lời câu hỏi mà tôi không có đáp án,” Decker thừa nhận. “Nhưng tôi hứa với anh, tôi sẽ tìm ra.”
CHƯƠNG 34
Decker chăm chú nhìn mặt tiền quán rượu. Sau đó anh nhìn sang phía bên phải rồi ngó sang trái. Những tòa nhà ở đây đều được xây bằng gạch và cũ nát.
Anh đi bộ xuống cầu thang, chìm dần vào trong không gian tối tăm ngập ngụa khói thuốc.
Anh nhìn ngó xung quanh, thấy hai nười công nhân đang ngồi ở một bàn ở phía trong, tay đều đang nâng cốc vại uống bia. Một phụ nữ ngồi một mình ở bàn tròn cao bằng quầy rượu, một tay cầm li rượu vang trắng, tay còn lại cầm điếu thuốc hút dở. Anh quan sát cô ta để điếu thuốc lá xuống gạt tàn nhựa màu đen, tiếp đến là đặt li rượu xuống bàn, lôi chiếc hộp phấn sáp và thỏi son ra khỏi ví, dặm lại sắc môi.
Decker đi ngang qua bọn họ, tiến thẳng đến quầy rượu. Vẫn là người phục vụ ấy. Decker ngồi xuống và gọi một li bia Coors. Người phục vụ rót bia ra li, gạt sạch bọt bia trên miệng li bằng con dao phết bơ, rồi đẩy nó qua, để đổi lại, Decker đưa cho anh ta một đồng năm đô và bảo anh ta cầm lấy tiền thừa. Hành động đó thu hút sự chú ý của người đàn ông.
“Anh đã từng đến đây rồi,” người phục vụ nói.
Decker gật đầu và nhấp một ngụm bia. “Từng đến. Cùng với một người khác.”
“Ừ, cái người đó. Gã kì quặc.”
“Anh ta đã quay lại đây chưa?”
“Chưa.” Người đàn ông bắt đầu lau chùi quầy rượu được đóng bằng gỗ dái ngựa bằng miếng giẻ lau, từng vòng tay chuyển động mạnh mẽ.
“Anh ta đến đây lần nào chưa?”
“Vài lần.”
“Anh đã nói chuyện với anh ta lần nào chưa?”
“Anh ta chẳng nói chuyện với ai cả. Trừ anh ra.”
“Anh ta sống gần đây sao?”
“Không biết nữa. Chỉ nhìn thấy anh ta quay lưng rời đi. Chỉ thấy nhiêu đó hôi.”
“Tôi không thấy cô phục vụ ở đây.”
Người phục vụ bật cười khoái trá. “Phải rồi.”
“Có chuyện gì với cô ấy sao?”
“Cô ấy?” Anh ta bật cười khoái trá còn hơn lúc nãy rồi dừng động tác lau chùi, đặt hai khuỷu tay lên trên mặt quầy, rướn người lên phía trước và nói, “Anh hãy gọi nó là cô ấy. Còn tôi thì không.”
“Thế anh gọi nó là gì?”
Người phục vụ chỉ ngón tay vào người Decker. “Hỏi câu hay đấy. Tôi không làm nhiệm vụ thuê mướn ở đây. Tôi chỉ rót rượu, lau chùi đồ dùng và tống mấy thằng khốn say khướt ra khỏi cửa thôi.”
“Thế ai thuê cô ta?”
“Ban quản lí, chẳng biết là ao. Quán này đã bị bán bốn lần trong vòng có ba năm. Chỉ có tôi đây là còn trụ lại, tôi cũng chẳng muốn làm ở đây chỉ là tôi không thể tìm được chỗ nào trả công cao hơn.”
“Anh nói cô phục vụ bàn là đàn ông mặc đồ giả gái à?”
“Ừm, hoặc đại loại thế. Không biết chắc nữa. Mà tôi cũng chẳng buồn kiểm chứng. Tôi không có thói quen tọc mạch quá sâu.”
Decker nhắm mắt lại, những khung hình kí ức lật qua lật lại trong đầu anh.
Cao, gầy, tóc xoăn vàng.
Như thế giấu giếm gần hết toàn bộ khuôn mặt của cô ta.
Hoặc khuôn mặt của hắn ta.
Hoặc có thể là che yết hầu, một đặc điểm làm lộ giới tính thật. Chỉ có đi phẫu thuật mới xử lí được cái này.
“Anh có thông tin gì về người đó không? Phải có tên, địa chỉ. Mấy cái thông tin cần thiết để được nhận lương?”
“Ban quản lí có tất cả các thứ đó. Thậm chí họ không phải là người ở đây. Có thể là người ở bang khác. Tôi cho là họ xoay vòng kinh doanh và két hợp chúng lại thành một hợp thể. Kinh tế quy mô hay cái bố khỉ gì đấy. Tôi cá là họ kiếm được cả đống tiền, còn tôi thì chẳng kiếm được bao nhiêu.”
“Không có bản lưu trữ nào được để lại đây à?”
“Không.”
“Ai phỏng vấn người kia làm vị trí này?”
“Đến từ văn phòng tuyển dụng.”
“Anh có biết văn phòng nào không?”
Người phục vụ nhìn Decker. “Tại sao anh tọc mạch nhiều thế?”
Decker lôi tờ giấy ủy quyền cảnh sát của mình. “Đang điều tra một vụ án. Người này có thể là người mà tôi cần nói chuyện.”
Người đàn ông đọc kĩ tờ giấy ủy quyền rồi nói, “Được rồi. Sự thật là tôi không biết là văn phòng nào. Một ngày nọ, nó bỗng xuất hiện và bắt đầu làm việc.”
“Thế mà anh không thắc mắc gì sao?”
“Ơ kìa, chúng tôi cần có phục vụ nữ. Một cô khác không thèm đi làm. Bảo rằng cô ta đã bị văn phòng thời vụ mà ban quản lí thuê bố trí làm việc khác. Thế là tôi cho nó làm việc.”
“Lúc bắt đầu làm là khi nào nhỉ?”
“Một ngày trước khi anh đến đây với cái người kia.”
“Nếu cô ta không phải do văn phòng tạm thời gửi đến thì sao?”
“Chậc, thế nó nói dối làm cái quái gì?”
“Chỗ anh có nhà vệ sinh dành cho nhân viên không?”
“Có chứ, ở phía sau.”
“Người đó có khi nào sử dụng không?”
“Tôi chắc chắn là có rồi. Ai mà chẳng phải đi tiểu tiện với các việc tế nhị, phải không? Đi đứng hay đi ngồi cũng cần phải đi chứ.”
“Chỉ cho tôi xem.”
Người phục vụ quầy dẫn anh xuống hành lang phía sau, đến một cánh cửa xiêu vẹo méo mó có ghi chữ “Phòng vệ sinh.”
“Anh có băng dính to không?” Decker hỏi.
“Ở phía sau.”
“Lấy nó giúp tôi.”
Người phục vụ rời đi với vẻ bối rối, một phút sau quay lại với cuộn băng dính trong tay.
Decker kéo băng dính dán chồng chéo lên cửa ra vào.
“Anh làm cái quái gì vậy?” Người phục vụ quầy rượu hỏi.
“Tôi sẽ gọi đội khám nghiệm hiện trường đến trong vòng năm phút nữa. Không ai được vào trong nữa.”
“Nhưng nếu tôi phải sử dụng thì sao?”
“Dùng cái dành cho khách hàng ấy. Anh sẽ được hỏi một vài câu để mô tả vè nó, thế nên cố nhớ kĩ lại mọi chi tiết dù là nhỏ nhất.”
Decker gọi điện cho Lancaster.
Chị nói, “Tôi điều đội tới ngay. Cuộc nói chuyện của anh với Bogart thế nào?”
“Không ngoài dự đoán.”
Anh tắt máy và bước ra ngoài.
Nhờ đến chỗ này anh đã giải quyết được hai khúc mắc.
Đầu tiên, nữ phục vụ đã chụp ảnh anh và Leopold ở quán rượu, sau đó gửi tấm hình kèm với các chi tiết chính trong câu chuyện đời anh đến Alexandra Jamison. Cô ta là người duy nhất có thể làm thế. Mục đích là để hủy hoại tiếng tăm của Decker, đến mức nhiều người biết đến anh hơn trước. Nhưng quan trọng hơn, chúng muốn anh bắt đầu chất vấn sự thật.
Điều thứ hai, cô ta đã rời khỏi quán rượu, đi lấy xe, sau đó đón Leopold khi hắn ta rời khỏi quán rượu. Chắc chắn đó phải là một chiếc xe lai hoặc là xe điện, bởi Decker không nghe thấy tiếng động cơ mà đáng lẽ ra anh sẽ nghe thấy.
Trong khung hình đang chạy trong đầu anh, chỉ có người đàn ông phục vụ quầy rượu rời đi ngày hôm đó trong khi Leopold ra khỏi quán. Nữ phục vụ không có mặt ở đó. Bởi vì cô ta đã chạy đi lấy xe ô tô.
☆☆☆
Một người đàn ông mặc đồ phụ nữ.
Hoặc có thể là một người phụ nữ đã từng là đàn ông mặc quần áo phụ nữ. Tình huống này giống trong bộ phim mà anh đã xem nhiều năm trước có James Garner và Julie Andrews đóng, Victor Victoria.
Và có thể nữ phục vụ bàn đó là đồng phạm của Sebastian Leopold.
Decker đã không nhìn xuống chân của người đó, để giờ đây anh ước mong tha thiết rằng mình đã làm thế. Nhưng nếu anh phải đoán thì cô ta chắc sẽ đi giày cỡ chín. Anh cố ước chừng chiều cao của cô ta trong trí nhớ của mình. Lúc đó anh đang ngồi. Có thể cô ta đã đi giày cao gót. Anh kéo từng khung hình kí ức.
Cao khoảng một mét bảy bảy đến một mét tám. Vóc người mảnh mai, vai xuôi, hông hẹp.
Kém xa với một người cao một mét tám bảy, nặng hơn chín mươi cân, bờ vai rộng rãi như Decker.
Thế nhưng không gì là không thể. Còn nước là còn tát. Bất cứ điều gì đều có khả năng xảy ra.
Anh đứng chờ đội khám nghiệm hiện trường đến. Họ vừa xuất hiện, anh đã chỉ cho họ ngay những chỗ anh muốn được khám xét kĩ. Lancaster ra lệnh họ phải làm theo đúng đến từng chữ trong lời yêu cầu cùa Decker. Một họa sĩ vẽ phác thảo ngồi xuống với ngườ phục vụ quầy rượu.
Sau đó Decker khởi hành đến nơi tiếp theo.
Bởi vì có một thứ vừa mới lướt qua đầu anh.
CHƯƠNG 35
LỚP HỌC NGHỀ.
Năm nay lớp học nghề chưa bao giờ được mở bởi giáo viên phụ trách đã bỏ việc trước khi năm học bắt đầu.
Decker tự hỏi liệu còn có lí do nào khác không - ngoài việc lối hành lang dẫn thẳng đến phòng kho chứ không phải lớp học - một lí do khiến kẻ xả súng muốn được ra vào chính nơi chốn này.
Anh bước qua lớp học nghề, tiến vào trong kho ở phía sau. Anh nhìn chồng rác rưởi của các dự án cũ bị bỏ lại, như là xương khủng long đang chờ được đào lên vì mục đích khảo cổ.
Chậc, Decker thật có ý định muốn đào.
Anh bắt đầu đào từ đỉnh, đào từng chồng một, đào tuần tự cho đến cái cuối cùng.
Anh không tìm thấy gì hữu ích. Thế là anh ngồi bệch xuống nền nhà và suy ngẫm. Chỗ này, anh kết luận, không phải là nơi lí tưởng. Kẻ xả súng sẽ cần nơi riêng tư hơn, giống vùng đệm chuyển tiếp giữa hai nơi.
Anh đi khỏi phòng lưu trữ và bước đến một căn phòng khác có bức tường giả làm bằng gỗ xốp nhẹ. Một chồng gỗ sắt phế thải ở đây đã được dịch chuyển sang một bên bởi kẻ xả súng.
Decker không phải đào bới quã kĩ đống rác.
Anh lôi một vật ra rồi giơ nó lên.
Một loại dụng cụ bằng da và dây thép, tích hợp thêm đệm mút. Hình dáng ấy ngay lập tức hiện ra quen thuộc với con mắt của một cầu thủ bóng bầu dục như Decker.
Đệm độn vai chơi bóng bầu dục.
Nhưng không chỉ là miếng đệm thông thường. Cấu trúc của miếng đệm này là kéo dài xuống tận thắt lưng, bao gồm cả phần lót hỗ trợ cho cánh tay, rộng hơn và dày hơn ở mọi điểm. Nó được may thành các khớp nối có thể bật mở ra khi anh cởi chốt áo, giống như một phiên bản ngắn hơn của dụng cụ tra tấn “Trinh Nữ Sắt” thời Trung cổ. Nó giống như một phần thân giả có thể đeo lên người, làm kích thước cơ thể lớn gấp đôi vậy.
Anh mở toàn bộ bộ đệm vai ra và thử mặc nó lên người. Vấn đề là, người anh đã to gần bằng kích thước vật này, nên nó không vừa vặn ngườ anh được. Nhưng nó sẽ vừa với người nào nhỏ bé bằng nửa người anh. Họ sẽ hóa khổng lồ trong chớp mắt. Anh thấy kinh ngạc trước độ linh hoạt và dễ uốn của dây thép, lớp da và lớp dây nối chúng lại với nhau. Nó phải linh hoạt đến mức này thì người mặc nó mới có thể vừa di chuyển vừa cầm súng bắn.
Từ một người nặng sáu mươi ba cân đã trở thành chín mươi cân có thừa. Từ gầy biến thành cơ thể phốt pháp của một cầu thủ phòng ngự.
Ngay bên cạnh đống phế thải, anh tìm thêm được hai miếng đệm lót cẳng chân, vừa tăng thêm cân nặng và chiều sâu cho dáng nười thấp bé hơn, hoàn toàn ăn nhập với phần đệm người thân trên.
Được rồi, thế là giải quyết được nút thắt về tầm vóc
Tiếp theo là đến câu hỏi về chiều cao.
Anh tiếp tục đào bới.
Và phát hiện ra một vật bị nhét chặt giữa hai cây đèn bàn cũ và một cái bàn được làm từ một phần gốc cây.
Anh giơ vật này lên, đo đạc bằng mắt thường. Đó là một chiếc giày ống cao cổ không có gót, mà chỉ là một lớp đế dày cộp dài bằng độ dài của bàn chân. Đi nó vào chân có thể tăng chiều cao của một người lên khoảng bảy tám phân. Anh kết luận rằng chiếc giày này hữu dụng hơn mọt đôi giày cao gót. Một đôi giày cao gót bảy phân hạn chế khả năng vận động nhanh nhẹn của một người đi rất nhiều. Còn kiểu giày này thì giống đi trên một cái bục cao mà thôi. Anh đặt chiếc giày ống đó bên cạnh giày mình. Nhỏ hơn rất nhiều. Khoảng cỡ giày 39-40.
Anh tìm thấy chiếc còn lại chỉ vài giây sau đó.
Anh đặt đôi giày lên trên sàn. Mặc dù anh không thể lèn bàn chân khổng lồ vào bên trong giày nhưng anh vẫn có thể giẫm đè lên chúng.
Từ một mét chín lăm cao lên ngay hai mét.
Tương tự chiều cao từ một mét bảy bảy hoặc mét tám lên thành một mét tám bảy.
Anh rất nghi ngờ việc gã xả súng có thể mang ngần này thiết bị cùng với mình vào đêm diễn ra vở kịch của trường, giấu chúng vào trong căn tin, sau đó lại mang nó trên hành lang. Thế nhưng hắn không cần phải làm vậy. Hắn có thể lén lút mang tất cả đống này vào trường lúc nào chẳng được và cứ để đấy thôi.
Anh tìm một túi đựng rác và chất tất cả đệm mút và giày vào trong.
Ổn rồi, đã xử lí được vấn đề kích thước và cách gã đó bước qua cánh cửa từ lối đi ngầm mà không cần dời dàn máy điều hòa. Vậy thì hắn ta phải là một nười cực kì gầy, có lẽ là người khẳng khiu như Lancaster, cô ấy đã không gặp trở ngại gì khi luồn qua cái lối nhỏ hẹp. Mảnh dẻ như nữ phục vụ; cô ta có thể làm thế.
Trí não Decker bỗng vọt ra hình ảnh chiếc máy quay nằm phía cửa sau của ngôi trường. Chỉ ghi hình lại từ thắt lưng lên. Kẻ xả súng không muốn có bất cứ khả năng nào đôi giày ống cao cổ đế bằng sẽ lọt vào ống kính.
Kẻ bắn súng sẽ không phải lo lắng về những nhân chứng nhìn xuống bàn chân hắn. Những người còn sống chắc chắn cũng sẽ không buồn để tâm đến đôi giày, nhất là khi có người đang nã súng vào họ.
Anh gọi cho Lancaster và tường thuật lại những gì anh phát hiện.
Sau vài câu chửi thề “chết tiệt”, chị nói sẽ có mặt ở đó trong mười phút nữa để thu thập bằng chứng trong túi rác.
Decker ngồi lên một chiếc bàn nằm giữa lớp học nghề và nhìn một lượt. Anh muốn sắp xếp tất cả những thứ này trong đầu mình, đặt những mảnh ghép lại với nhau, để xem còn bao nhiêu lỗ hổng nữa cần xử lí.
Tên xả súng thâm nhập vào trường học vào đêm diễn kịch, chui lủi vào kho lạnh trong căn tin. Hắn xuất hiện vào buổi sáng hôm sau, dùng lối đi ngầm trong căn tin để đi ra phía sau của trường học để không bị bắt gặp. Hắn sắp xếp hẹn gặp Debbie Watson trong lớp học nghề. Sau đó hắn đánh ngất cô bé, thay quần áo, mặc đồ ngụy trang, lên đạn, bước ra phía trước máy quay sau khi kéo lê Debbie ra khỏi lớp học nghề và đặt cô bé cạnh tủ đựng đồ của mình, tiếp đó rẽ vào góc và bắn chết cô bé. Sau đó hắn tiếp tục cuộc bắn giết. Nã súng từ sau trường ra trước trường. Sau đó hắn cao chạy xa bay bằng lối đi trong căn tin có thông với căn cứ quân sự McDonald, nơi anh đã phát hiện qua lời kể của Debbie Watson. Hắn giấu toàn bộ đống đồ cải trang vào trong đống rác phế thải, việc đó giải thích dấu giày thứ hai bước lên cầu thang. Sau đó, hắn tìm đường thoát bằng căn cứ quân sự sau khi đi vào hành lang ở đằng sau bức tường trong có vẻ chắc chắn mà Decker đã phát hiện.
Được rồi, nếu như đó là trình tự mọi sự kiện diễn ra thì Decker có một câu hỏi vô cùng quan trọng.
Tại sao lại chọn Mansfield? Tại sao lại xả súng ở ngôi trường này?
Anh có một giả thuyết.
Anh đã từng học ở ngôi trường này. Nhưng nếu việc này thực sự là thù hằn cá nhân đối với gã, thì ở đây cũng có những điều thực sự rất cá nhân với Amos Decker. Chúng thực sự có liên quan đến tên anh.
Anh trườn người xuống khỏi bàn và sải chân bước lên sảnh.
Trường học vẫn chưa được hoạt động trở lại, còn có tin nói rằng học sinh sẽ phải chuyển sang trường trung học khác trong vùng để học nốt ít nhất là học kì một còn lại. Sau đó, sau ki mùa nghỉ lễ qua đi, thành phố sẽ tìm phương án giải quyết những tháng học còn lại.
Anh cảm thấy giằng xé về việc học sinh vẫn còn quay trở lại đây.
Một phần trong anh muốn người ta phá hủy nơi này và biến nó thành một khu tưởng niệm những người đã khuất.
Một phần khác trong anh không muốn cho lũ khốn nạn đó cảm thấy thõa mãn khi đã ép chính quyền thành phố phải đưa ra một phương án quyết liệt thế. Như thế chẳng khác nào là đầu hàng lũ khủng bố.
Anh tiến vào phòng tập thể chất và rảo chân đến dãy tủ trưng bày lớn được gắn chặt vào tường. Ở đó có bày tất cả các loại cúp và các giải thưởng khác của trường trung học Mansfield trong nhiều năm qua. Chúng được sắp xếp theo trình tự thời gian, vậy nên thật dễ dàng để Decker tìm thứ anh đang tìm kiếm.
Chỉ có điều là thứ anh tìm không còn ở đó.
Mọi giải thưởng mà anh đã thắng được, mọi chiếc cúp có ghi tên anh - có khoảng chục cái như thế - đã biến mất. Anh kiểm tra đi kiểm tra lại. Chúng đều không có ở đó.
Anh dựa người vào tủ, một tay đặt lên che miệng.
Có người đã đến đây và xả súng cả trường Mansfield. Một tên giết người hàng loạt đã ra tay một cách tàn bạo bởi vì anh. Amos Decker.
Giống với động cơ giết gia đình anh.
Là vì mình. Amos Decker.
Đột nhiên anh cảm thấy hình như bị Dwayne LeCroix hạ gục lần nữa.
Chiếc điện thoại của anh rung lên. Anh cứ nghĩ là từ Lancaster.
Nhưng không. Là Bogart gọi.
“Decker, chúng tôi tìm thấy một thứ ở khu đỏ rác trong ngõ mà Nora Lafferty bị bắt. Anh nói đúng. Đó là một bộ cảnh phục.”
Decker cảm thấy còn một tin khác nữa sắp đến qua giọng nói mất bình tĩnh của người đàn ông kia.
“Còn gì nữa?”
“Bộ cảnh phục đó là hàng thật. Quần áo tiêu chuẩn cùa Phòng cảnh sát Burlington.”
“Và?”
“Và bộ đồng phục này có khâu tên trên đó.”
“Bộ nào cũng có. Tên của ai?”
Bằng một thứ linh cảm nào đó, Decker đã biết câu trả lời.
“Là tên của cậu,” Bogart đáp lại.
CHƯƠNG 36
Decker thở không ra hơi khi chạy đến bên ngoài tòa nhà. Anh vội vã lao qua cửa và nhập mật khẩu vào hộp khóa. Đó không phải là mật khẩu bảo mật tốt. Nó là ngày sinh của Molly.
Cánh cửa bật mở và anh bước qua. Tất cả các kho chứa đều có cửa riêng ở bên ngoài. Anh vội vã lao tới cánh cửa cuối cùng của dãy. Anh móc chìa khóa từ trong túi, nhưng rồi nhìn thấy khóa ở kho chứa của mình đã bị tháo đi.
Chúng đã cố tình làm như thế. Chúng muốn anh biết.
Anh nâng cánh cửa cuốn lên, súng đã cầm sẵn trong tay để đề phòng. Nhưng ở nơi đó trống không. Không có một sinh vật sống nào ở đó cả.
Trong này là những tài sản mà anh đã mang đi từ căn nhà cũ, bởi vì nơi mà anh chuyển đến sau đó không có chỗ để cất. Nhưng anh không thể vứt bỏ chúng. Vả lại ở trong đây cũng là những kí ức hữu hình của một phần đời mà anh từng được ở bên hai người thân thiết nhất trên đời: Cassie và Molly.
Tất cả chúng được đóng thùng gọn gàng, dán nhãn riêng và đặt trên những cái giá kim loại chắc chắn. Chi phí duy trì nơi này không hẳn nằm trong khả năng của anh, nhưng anh chưa từng bỏ lỡ một kì thanh toán nào. Dù phải chịu đói chịu rét, anh vẫn trả đủ để giữ cho nơi này, những kí ức này, được nguyên vẹn. Nơi này là hình ảnh phản chiếu bộ não của anh - chậc kín đồ đạc, nhưng được sắp xếp ngăn nắp, tất cả từng thứ đều có thể tìm lại được mà chỉ phải tốn rất ít sức lực.
Anh cần kiểm tra một thùng trong số này. Chỉ duy nhất một thùng.
Nó nằm ở phía sau, bên trái, giá thứ hai, thùng thứ tư bên tay phải.
Anh đi tới chỗ đó và dừng lại. Cái thùng vẫn ở đó nhưng nắp đã được mở. Anh nhấc nó ra khỏi giá và đặt nó xuống sàn nhà bê tông. Trong thùng là những vật dụng còn lại từ hồi còm làm việc trong lực lượng thực thi pháp luật. Và một phần trong đó là bộ cảnh phục cũ mà anh đã giữ lại từ hồi chuyển sang làm thanh tra. Anh giữ lại bởi vì có nhiều lúc khi đến trụ sở phòng, hội thanh tra mặc dân sự vẫn phải khoác cảnh phục lên người. Khi anh rời ngành, đúng ra anh phải nộp lại cảnh phục, nhưng nhiều khả năng là sẽ chẳng có ai dùng lại đến nó cả. Ở Phòng cảnh sát Burligton, chẳng có ai có cỡ người to gần bằng anh hết.
Bộ cảnh phục không còn nằm trong thùng đồ. Có kẻ nào đó đã dùng nó để đánh lừa Nora Lafferty, để cô ấy mất cảnh giác trong một vài giây quý giá, vài giây cuối cùng chết người, trong cái con ngõ đó.
Chúng biết mình sống ở đâu. Chúng biết mình sở hữu cái kho chứa này.
Chúng đã dùng nó cho những điều tội lỗi.
Trong đầu, anh nhớ lại lần cuối cùng từng tới đây.
Hai mươi bảy ngày trước, 1:35 chiều. Là chúng đã theo dõi anh vào lúc đó chăng? Hay là từ trước cả lần đó.
Rồi anh vội vã chạy tới cửa, ở đó có camera an ninh.
Anh không nghĩ có khả năng có manh mối ở đó, và hóa ra anh đã nghĩ đúng.
Ống kính máy quay đã bị phun sơn đen. Dễ thấy là camera này không có người giám sát, bởi vì họ không hề phát hiện ra nó không còn ghi lại được gì trong ít nhất là gần một tháng.
Anh gọi cho Bogart.
Mười lăm phút sau, một vài chiếc SUV đậu lại trước cổng chính. Decker mở cổng cho họ và dẫn cả đội về chỗ kho chứa của mình.
Vừa đi anh vừa giải thích cho họ. Khi tới kho chứa, đội của Bogart bắt tay vào làm việc, tìm kiếm dấu vân tay hoặc các dấu vết khác hoặc bất cứ thứ gì bị bỏ lại.
Bogart và Decker đứng bên cạnh nhau và quan sát.
“Tại sao anh không nộp lại cảnh phục khi rời lực lượng?” người đặc vụ FBI hỏi.
Decker biết rõ cuộc trò chuyện này sẽ diễn ra như thế nào, nhưng anh không thể làm gì khác được. Và ở một mức độ nào đó, Bogart là người đúng.
”Đáng ra tôi nên làm thế,” Decker thừa nhận. “Nhưng tôi đã không làm.”
Bogart từ tốn gật đầu.
Decker không dám chắc liệu người này có nổi giận mất kiểm soát lần nữa hay không, nhưng anh đoán có lẽ là không, khi mà có những người khác trong đội của anh ta ở đây.
“Ừm,” Bogart nói, “Dù sao chúng cũng phải lấy được cảnh phục thật thì mới đánh lừa được Lafferty. Những kẻ này có lẽ hiểu điều đó.”
Lời nói này càng làm Decker cảm thấy có lỗi hơn, và đây rõ ràng là mục đích của người nói. Một đòn choáng váng mà không cần vung ra một nắm tay bằng xương bằng thịt.
“Các anh thu được bộ cảnh phục chưa?” Decker hỏi.
“Trong túi đựng bằng chứng trên xe.”
“Tôi xem được không?”
Họ lấy túi đựng bằng chứng ra.
Bogart nói, “Bộ cảnh phục và nón đã được kiểm tra vết tích. Khô g thu được kết quả gì hữu ích.”
Nhưng Decker không kiểm tra cái đó. Anh đang tìm kiếm ở gần lai quần. Cách phía dưới cùng của ống quần khoảng mười lăm phân, anh tìm được thứ đang cần tìm.
Anh đưa nó cho Bogart.
“Lỗ sao?” vị đặc vụ FBI nói.
“Từ kim. Kim cố định vải.”
“Kim cố định vải sao?”
“Tôi cao một mét chín lăm và chân đặc biệt dài,” Decker giải thích. “Kẻ mặc chiếc quần này đã phải xắn ống quần lên chừng mười lăm phân. Nếu không Lafferty sẽ nhận ra bộ cảnh phục này không phải của hắn. Hồi đó tôi gầy hơn bây giờ, nhưng tôi dám chắc gã này đã phải nịt eo rất chặt và có thể phải ghim lại ở phía sau. Áo cũng vậy.”
Anh kiểm tra chiếc áo và cũng tìm thấy hai lỗ kim trên vải ở gần lưng áo phía sạ. “Ở đây và ở đây. Và gã này có lẽ đã cuộn cổ tay áo lên rồi đóng khuy lại để giấu bớt độ dài. Và dải đệm trên chiếc nón giúp chiếc nón rộng vừa hơn với cái đầu có kích thước tầm trung.”
“Là một gã nhỏ con hơn nhiều sao?”
“Khoảng một mét tám. Và gầy.”
“Lancaster kể với tôi về những thứ anh tìm được ở trường học. Bốt tăng chiều cao và một số đồ độn để phần thân trên của kẻ nổ súng có vẻ to lớn hơn.”
“Giống đệm vai và đệm bắp đùi cho vận động viên bóng bầu dục. Giúp một gã cao một mét tám và gày gò trông to lớn hơn rất nhiều.”
“Chúng tôi khôg tìm được dấu vết gì từ cái email cả. Địa chỉ IP không tồn tại,” Bogart nói.
“Không có gì bất ngờ.”
Decker cúi nhìn cái tên trước ngực bộ cảnh phục.
Decker.
Một người đàn ông trong bộ đồ màu xanh. Con người anh của trước đây.
Rồi anh nhìn thấy thêm một thứ gì đó. Nó rất mờ, nhưng anh biết nó còn mới.
“Nhìn phù hiệu kìa,” anh nói.
Bogart làm theo. “Đó có phải là một…?”
“Đó là một chữ X. Có kẻ nào đó đã đánh chữ X lên tấm phù hiệu.”
“Nó có thể đại diện cho điều gì nhỉ? Để báo hiệu đó là kẻ sát hại Lafferty sao?”
“Tôi không biết.”
Anh chuyển bộ cảnh phục trả cho Bogart. Người đặc vụ FBI nhận lấy nó và rồi sau đó hướng ánh mắt vào các hoạt động đang diễn ra bên trong kho chứa.
“Tại sao anh giữ lại tất cả những thứ này?”
Decker ngước mắt lên và nói chậm rãi, chủ yếu là tự nói với mình chứ không hẳn là nói với Bogart, “Đó là tất cả những gì mà tôi còn lại.”
Bogart liếc nhìn anh, nét mặt anh ta hiện lên sự đồng cảm.
Chắc hẳn Decker đã nhận ra điều này, bởi vì anh nói, “Không việc gì phải thế đâu. Lựa chọn là do mình. Và mình phải sống cùng những lựa chọn đó.”
“Anh đâu có lựa chọn để gia đình mình bị sát hại đâu Decker?”
“Tôi nghĩ kẻ làm việc đó tin rằng lựa chọn đó hoàn toàn là do tôi.”
“Như thế thì thực sự quá bệnh hoạn.”
“Phải, hắn chính là như thế.”
CHƯƠNG37
Khi Decker quay trở về đến Residence Inn sau khi việc lục soát ở kho chứa không cho kết quả gì, anh phát hiện ra đã có người ghé thăm anh và để lại những biểu tượng với ngụ ý rõ ràng.
Một chiếc rìu nhỏ găm vào cánh cửa gỗ. Những lời đay nghiến được viết bằng sơn phun lên cửa sổ và tường gạch phái trước. Những búp bê em bé mất đầu vứt trên sàn bê tông. Các bản sao bài viết của Alex Jamison bị rải dọc hành lang hoặc không cũng được dán lên tường, với những lời lẽ độc địa viết loằng ngoằn trên đó. Bức ảnh chụp của Decker bị tô vẽ thêm để trông anh giống như một kẻ xấu xa.
Bên dưới bức ảnh đó có viết “Quân giết trẻ con.”
Decker rút chiếc rìu ra, đá những đồ khác sang bên, mở cửa và đi vào, khóa chặt cửa lại.
Anh thả chiếc rìu lên cái tủ có ngăn rồi đi tới giường và nằm xuống. Anh nhắm mắt lại và cố gắng nghĩ xem anh đã bỏ sót cái gì. Bởi vì mọi thứ đều ở trước mắt. Anh biết chắc chắn là vậy. Lần thứ một trăm anh bắt đầu dò lại tất cả những chi tiết đã biết của vụ án theo trình tự thời gian.
Tiếng gõ của cắt đứt mạch suy nghĩ của anh. Anh đứng dậy một cách khó khăn, đi sang phía bên kia căn phòng, và nói, “Ai đấy?”
“Một người nợ anh lời xin lỗi.”
Anh nhận ra giọng nói và mở cửa.
Alex Jamison đang đứng ở đó, trong tay cầm một trong số những con búp bê mất đầu.
“Tôi thực lòng xin lỗi,” cô ta nói, và vẻ mặt của cô ta có vẻ chân thành.
“Cô phải xin lỗi về chuyện gì?”
“Chết tiệt, Decker, anh đang làm tôi càng cảm thấy có lỗi nhiều hơn đấy.”
Cô ta mặc bộ đồ đen từ đầu đến chân, quần tất, áo len dài che qua mông, bốt cổ thấp với đế gót vuông và một chiếc áo khoác vải jean dáng ngắn. Một chiếc túi to đeo lủng lẳng một bên vai.
“Anh có thời gian uống một tách cà phê chứ?” cô ta hỏi.
“Tại sao?”
“Tôi không tới đây để phỏng vấn anh.”
“Rồi sao?”
“Brimmer kể cho tôi những phần việc quan trọng trong vụ này là do anh làm cả. Tìm ra tất cả các manh mối, mặc dù cô ấy không kể cho tôi nghe những manh mối đó là gì.”
“Vậy là cô biết sửa đổi đấy.”
“Uống chút cà phê nhé? Có mấy chuyện này tôi muốn nói với anh. Tôi sẽ mời. Làm ơn đi, quan trọng lắm.”
Anh đóng cánh cửa lại phía sau và họ cùng đi xuống cầu thang, qua vài khu nhà, tới một quán cà phê nằm kẹp trong một góc nhỏ giữa hai cửa hàng lớn, một trong số đó đã đóng cửa, được niêm phong kĩ cành, cửa hàng còn lại thì cũng sắp đến ngày giống thế.
“Cả thành phố này sắp đến ngày tàn rồi,” Jamison nhận xét khi họ đi qua cái cửa hàng đã đóng cứa. “Chẳng mấy chốc tôi sẽ chẳng còn gì để viết ngoài các vụ phá sản và tịch thu tài sản thế chấp.”
Họ nhận lấy cà phê và ngồi xuống một cái bàn nhỏ ở gần phía sau. Decker nhìn theo khi cô ta xúc đường bỏ vào tách của mình.
“Cô muốn nói chuyện gì?” anh hỏi cộc lốc.
“Tôi rất xin lỗi về bài viết, anh Decker ạ. Nhìn lại mà nói, anh không đáng phải chịu việc này. Tôi không nghĩ anh có liên quan một tí gì đến những việc đã xảy ra với gia đình anh. Như anh đã nói, tôi nghĩ có một thằng thần kinh nào đó đang tìm cách trước tiên là quấy rối anh và sau đó là triệt hạ anh. Và hắn đã sử dụng tôi để làm việc đó, và tôi đã sa chân vào bẫy chỉ bởi vì làm như thế tôi sẽ có chuyện để viết bài. Nhưng việc đó khiến tôi cứ tự hỏi vì sao. Ý tôi là, kẻ nào lại hận thù anh đến như thế mà anh thì không hay biết gì về chuyện đó nhỉ?”
Decker nhấm cà phê, mắt nhìn thẳng vào cô ta nhưng không nói gì.
Cô ta nói tiếp, “Và tôi dám chắc anh cũng đang vắt óc cố suy nghĩ chuyện tương tự.”
“Đúng là thế.”
“Đó chắc hẳn phải là một chuyện liên quan tới cá nhân,” cô ta nói.
“Các vụ giết người gần như luôn luôn là như thế.”
“Không, ý tôi là còn hơn thế. Brimmer kể với tôi kẻ sát nhân có để lại một vài lời trao đổi. Nhắc lại, cô ấy không kể cho tôi đó là gì, nhưng có vẻ như những lời nhắn đó nhằm thẳng vào anh.”
Decker không nói gì, nhưng vẻ mặt của anh rõ ràng đang nói với cô ta là anh cảm thaays hứng thú.
“Thế nên tôi đã tìm hiểu một chút.”
“Tìm gì?”
“Tìm về anh.”
“Như thế nào?”
“Tôi là một nhà báo. Chúng tôi có cách riêng của mình.”
“Và cô đã tìm được gì?”
“Anh là dân Burlington. Ngôi sao thể thao sáng giá nhất mà thành phố từng có. Một người trẻ rất thành đạt.”
Lời nhận xét này khiến Decker nghĩ tới cái giá để cúp ở trường học. “Kẻ xả súng đã lấy đi tất cả những chiếc cúp có tên của tôi từ trên giá lưu niệm ở trường Mansfield.”
Cô ta ngả người ra sau, nhìn có vẻ hài lòng, nhưng cũng khó hiểu trước điều này. “Tôi tự hỏi hắn đã làm việc đó từ khi nào. Rõ ràng không phải là vào ngày nổ ra vụ nổ súng. Hắn sẽ không lôi mấy thứ đồ nặng nề đó đi loanh quanh đâu.”
“Sẽ có cách,” Decker nói. “Nhưng hiện tại tôi chưa hiểu được là bằng cách nào. Có thể một ngày nào đó cô có thể viết lên thành cả một câu chuyện trọn vẹn.”
Cô ta nói, “Vậy là xuất hiện một câu hỏi, liệu đó có phải là một người từ Burlington vẫn luôn thù ghét anh suốt những năm qua không? Một ngôi sao bóng đá bầu dục đối nghịch nới một kẻ nào đó bị làm nền phía sau, một kẻ ganh tị với thành công của anh? Chi tiết hắn lấy hết những chiếc cúp có thể chỉ ra rằng đó là một người bản địa. Một kẻ từng học cùng trường Mansfield với anh chẳng hạn? Có thể hắn đã nghĩ anh đã rời đi mãi mãi khi anh học đại học, và rồi sau đó anh quay trở về đây và trở thành cảnh sát rồi làm được tất cả những điều vĩ đại. Và suốt những năm qua mối căm ghét cứ tích tụ dần, bưng mủ dần cho đến khi gã ta bùng nổ.”
“Nhiều gã,” Decker nói.
“Nhiều gã sao? Ý anh là thủ phạm không phải chỉ có một?”
“Cô không được viết chi tiết này lên báo.” Anh rướn người về phía trước. “Thực sự đấy, cô không thể viết chuyện này, Alexandra ạ. Nếu hắn đọc được, hắn sẽ cho rằng cô biết không chỉ tới đó mà còn biết nhiều hơn thế. Nhiều đến mức có thể gây nguy hiểm cho hắn. Và như thế sẽ nguy hiểm cho cô.”
“Tôi hiểu chuyện đó, anh Decker ạ. Anh đã từng dọa tôi đến nơi đến chốn. Tôi chẳng đi đâu mà không mang theo bình xịt hơi cay và điện thoại luôn luôn đặt quay số nhanh tới 911.”
“Nhưng cô đã quay trở lại. Cô đang có mặt ở đây, cố gắng giúp tôi tìm hiểu chuyện này. Có thể chúng đang theo dõi chúng ta. Tại sao phải mạo hiểm như thế chứ?”
“Tôi không bước chân vào nghề báo vì mong muốn được an toàn. Tôi làm nghề này bởi vì tôi muốn được mạo hiểm. Anh và tôi rất giống nhau ở điểm này.”
“Giống hế nào?”
“Tôi nghĩ rằng công việc duy nhất mạo hiểm hơn chơi bóng bầu dục chuyên nghiệp và cảnh sát là ra chiến trường. Thế nên anh là một người chấp nhận mạo hiểm. Và tôi cũng thế. Trươc khi rủi ro xảy ra, nếu chúng ta có thể làm được một vài điều tốt lành thì tại sao lại không làm? Được rồi, có bất cứ một kẻ nào là người ở đây mà anh nhớ từng ghét anh không?”
“Ngày ấy tôi giỏi thể thao, nhưng tôi không còn giỏi thêm gì khác nữa. Và tôi không phải kẻ đáng ghét. Tôi rất vui vẻ. Tôi là một kẻ ngố. Tôi chọc cười mọi người. Tôi cũng mắc sai sót. Nhìn chung tôi không phải là một Quý ngài hoàn hảo. Ngoài những gì tôi làm được ngoài sân thi đấu, tôi không có gì đặc biệt đến thế.”
“Thật khó để tưởng tượng ra anh là một kẻ ngốc như thế nào.”
“Con người ai rồi cũng thay đổi mà.”
“Anh thực sự đã thay đổi, phải thế không?”
Decker nhấp thêm một ngụm cà phê nữa. “Con người ai cũng phải thay đổi. Tôi không phải là ngoại lệ.”
“Con người ai cũng cũng sẽ đổi khác. Nhưng tôi nghĩ anh thay đổi nhiều hơn phần đông mọi người.”
“Chính xác thì ý cô là sao?”
“Cú va chạm ấy. Tôi đã xem trên Youtube.”
“Hay lắm.”
“Xem nó thấy thật khủng khiếp. Tôi không hình dung ra nổi sẽ như thế nào khi là người thực sự tiếp nhận nó.”
“Tôi không còn nhớ quá rõ về nó nữa. Sau này họ kể là tôi hoảng đến độ đùn ra quần. Va chạm mạnh cỡ đó làm áp đảo hệ thần kinh trung ương. Trước mùa giải, sau trận đấu, người phụ trách trang phục thi đấu sẽ vào thu dọn hết đống quần đệm dính phân ở trong để đảm bảo không ai trông thấy, và fan hâm mộ không bao giờ được biết. Cùng với đó là lau sạch máu me trong nón bảo hộ và đồng phục thi đấu. Và họ không cho phóng viên vào phòng huấn luyện sau giờ đấu để họ không nghe thấy những tiếng gào thét. Và vận động viên được cho hít amoniac hoặc uống thuốc giảm đau để họ có thể nói chuyện trước truyền thông và giấu đi sự thật là một nửa bộ não của họ đã bị rơi mất.”
“Tôi không khoái bóng bầu dục cho lắm. Cứ như những võ sĩ giác đấu của thế kỉ hai mươi mốt, vật lộ nhau để mua vui trong lúc chúng ta uống bia, ăn hotdog và reo hò khi có người bị đánh gục. Ta cứ ngỡ loài người đã qua cái thời đó lâu rồi chứ. Xem chừng tiền bạc kiếm ra từ trò đó là quá nhiều đi.”
“Thấy chưa, thật sự thì con người đâu có thay đổi nhiều tới vậy.”
“Sau cú va chạm, anh đã mất tích suốt một thời gian dài. Bị loại khỏi đội, rơi vào quên lãng. Tôi không tìm được thông tin gì nữa về anh. Và rồi sau đó anh xuất hiện trở lại ở đây và gia nhập học viện cảnh sát. Một người quen của tôi đã lấy điểm thi của anh cho tôi.”
“Cô có nhiều người quen quá nhỉ?”
“Một phóng viên giỏi cần có nhiều nguồn trợ giúp nhất có thể. Còn chuyện đạt điểm tối đa tất cả các môn.”
“Một chi tiết mà đội trưởng cũ của tôi cũng đã nói với tôi.”
“Vậy là đội trưởng Miller cũng đã điều tra chuyện này à?”
“Tại sao mọi sự lại tập trung vào tôi nhỉ?”
“Bởi vì tôi cho rằng để tìm được gã, hoặc những gã này, chúng ta cần đào ngược trở lại, từ động cơ tới nguồn gốc. Anh là động cơ. Thế nên tôi cần phải hiểu anh mới tìm được chúng.” Cô ta dừng lại và gõ cái thìa lên tách cà phê. “Vậy là anh đã ở đâu trong khoảng thờ gian đó?”
“Đó là việc riêng của tôi.”
“Anh không muốn tóm những tên sát nhân này sao?”
“Tôi không có ý đó.”
“Nhưng anh biết là tôi đúng. Anh là chìa khóa cho những gì đang diễn ra.” Cô ta rướn người ra trước và chạm lên bàn tay to chắc của anh. “Tôi muốn giúp sức, anh Decker ạ.”
“Thứ cô muốn là một giải Putlizer.”
“Tôi nói anh nghe. Anh để tôi giúp sức và tôi sẽ không viết bất cứ một câu chuyện nào nếu không được anh cho phép. Anh sẽ là người hiệu đính và chấp thuận thông qua toàn bộ câu chuyện. Hoặc nếu anh nói không, thì câu chuyện sẽ không bao giờ được công bố.”
“Cô bằng lòng với điều đó?”
“Vâng.”
“Tại sao?”
“Andy Jackson. Anh biết thầy ấy chứ?”
“Thầy giáo Anh văn ở trường Mansfield. Nạn nhân cuối cùng còn sống sót từ tay kẻ nổ súng. Anh ấy đã cố ngăn cản hắn.”
“Thầy ấy vừa qua đời một giờ trước. Thầy Andy không phải chỉ dạy ở trường Mansfield. Thầy ấy từng là giáo sư ở trường Purdue, là trường mà tôi từng học. Thầy là lí do mà tôi trở thành phóng viên. Thầy quay về đây để chăm sóc cho mẹ già đang ốm. Thầy ấy là người như thế.”
“Trước đây cô chưa từng kể chuyện này.”
“Bởi vì đó là việc riêng của tôi. Nhưng giờ tôi đang kể đây.” Cô ta đưa một tay ra. “Và đó là thỏa thuận của tôi. Sẽ không có một bài viết nào nếu anh nói không. Nhưng đổi lại, tôi sẽ giúp anh lần ra dấu vết của những thằng khốn kiếp này. Anh thấy sao?”
Decker chầm chậm đưa tay ra và họ bắt tay nhau.
Anh đứng dậy. “Từ một kho chứa.”
CHƯƠNG 38
Đã tối muộn và họ đang ngồi khoanh chân trên sàn nhà bê tông của kho chứa, lục tìm các thùng chứa đồ. Vài phút trước Jamison mới quay về cùng bữa tối là món Trung Quốc mang đi. Cô đã bày khăn ăn, đĩa giấy, muỗng nhựa và lấy đầy đồ ăn vào dĩa cho Decker trước khi lấy đồ ăn cho mình.
Anh nhìn cô với một chút ngạc nhiên.
Cô giải thích, “Tôi không phải người giỏi chăm lo gia đình, nhưng tôi là chị cả trong gia đình bảy chị em. Và tôi đã quen với việc đóng vai phụ huynh trong mỗi bữa ăn.”
Anh gật đầu và cắn một miếng nem cuộn còn Jamison thì xúc một ít súp trứng đưa vào miệng. Cô còn mua cho mỗi người một chai bia. Decker uống một hơi rồi đặt chai bia của mình xuống.
Jamison nhìn quanh cái kho chứa. “Thực sự là anh lưu giữ tất cả mọi thứ, phải vậy không?”
“Những thứ này rất quan trọng đối với tôi.”
“Tôi không thấy có bất kì thứ gì ở đây là từ những ngày anh chơi bóng.”
Anh nhún vai và cắm cái nĩa vào một con tôm. “Chúng không quan trọng đối với tôi.”
Cô chậm rãi gật đầu. “Nhưng đối với những gì đã xảy ra với gia đình anh, chẳng phải lưu giữ lại những thứ này sẽ đau đớn lắm sao? Quần áo của con gái anh này? Sách dạy nấu ăn của vợ anh này? Các bức thư? Những tấm ảnh?”
“Điều duy nhất đau đớn là không có họ ở đây.” Anh nhìn cô. “Hôn nhân của cô kéo dài bao lâu?”
“Quá lâu.”
Anh nhìn cô vẻ chờ đợi.
“Hai năm và ba tháng,” cuối cùng cô nói. “Thực ra, có lẽ là cũng không đủ để gọi là quá lâu.”
“Đã có chuyện gì?”
“Mọi chuyện không như ý. Anh ta không phải là người như tôi từng hằng tưởng. Và tôi đoán tôi cũng không phải là người phụ nữ giống như anh ta từng hằng tưởng vậy.”
“Có con không?”
“Tạ ơn Chúa là không. Việc đó sẽ khiến chuyện giữa hai người sẽ khó giải quyết hơn.”
“Phải, đúng thế. Con cái khiến mọi thứ tốt hơn. Và cũng khó khăn hơn.”
Cô ngả lưng ra sau, dựa vào một cái thùng carton, co hai đầu gối lên, và nhấm nháp chai bia. Cô gõ gõ tay lên đầu. Vậy là cú va chạm bằng một cách nào đó đã làm thay đổi bộ óc của anh à?”
Decker gật đầu và uống một hớp bia.
“Tôi có nhìn thấy một vài báo cáo từ viện nghiên cứu đó trong cái thùng ở đằng kia. Cảm giác kì lắm nhỉ?”
Anh đặt chai bia xuống và xoa xoa bộ râu. “Ý cô là tôi có cảm thấy mình giống một con chuột bạch không ấy hả? Có đấy.”
“Những người khác đã mắc hội chứng của họ như thế nào?”
“Chính thức mà nói thì không ai kể cho chúng tôi nghe cả. Tôi đoán đó là quyền riêng tư của các bệnh nhân. Nhưng lúc nào chẳng có người này người kia đồn thổi cho nhau. Hầu hết đều là bẩm sinh như thế. Một số ít, giống như tôi, là do tổn thương não. Tôi nghĩ một số người ở viện nghiên cứu biết về tôi bởi vì cú va chạm đó được chiếu trên tivi.”
“Có phải tất cả mọi người đều tương tự, có…?”
“Khả năng như nhau á? Phần cốt lõi thì như nhau. Gần như có thể ghi nhớ toàn bộ một số thứ nhất định. Ngoài phần đó ra, mỗi người lại khác nhạ đôi chút. Một người có thể chơi bất kì nhạc cụ nào mà gần như không cần ai chỉ dẫn. Người khác lại có thể nhẩm chia bất kì một số nguyên tố bất luận số lớn đến đâu. Có một người phụ nữ này được công nhận là cao thủ ghi nhớ khi cô ấy lên bảy.”
“Cao thủ ghi nhớ sao? Cô ấy đã phải làm gì?”
“Ba nhiệm vụ. Nhiệm vụ thứ nhất là ghi nhớ một nghìn con số ngẫu nhiên trong vòng một giờ. Tiếp đó, cô ấy phải ghi nhớ trật tự của mười bộ bài trong một giờ. Và cuối cùng là ghi nhớ trật tự của một bộ bài trong thời gian dưới hai phút.”
“Ồ, nghe là thấy dễ èo rồi,” Jamison nói với giọng châm biếm.
“Có khoảng một trăm năm mươi người trên thế giới có thể thực hiện thành công cả ba nhiệm vụ.”
“Không ngờ lại có nhiều thế cơ đấy”
“Không hề nhiều, trong tổng cộng bảy tỉ người.”
“Anh có làm được không?”
“Tôi chưa từng thử. Chẳng hiểu làm thế có ý nghĩa gì.”
Cả hai cùng chìm vào im lặng.
Jamison nhìn Decker chằm chằm.
“Kể cả động cơ của gã này là anh, vấn đề không phải là do anh, anh nhận ra điều đó chứ?”
“Tính đến giờ mười ba người đã bị sát hại bởi một kẻ nào đó có một vấn đề gì đó với tôi. Chắc chắn chuyện này là do tôi.”
“Anh không phải là người nổ súng. Là một kẻ khác đã làm. Và bất luận hắn có nghĩ là do anh làm đi nữa, điều đó cũng chẳng thể biện minh cho những gì hắn đã gây ra.”
“Hãy nói điều đó với người nhà của các nạn nhân ấy.”
“Anh chính là người nhà của nạn nhân đấy.”
Decker đẩy dĩa thức ăn của mình sang bên và lật đật tìm cách đứng dậy. Đầu gối và lưng của anh đau quá, và anh cần phải đi tiểu tiện.
Anh đi ra ngoài và tìm đến góc khuất, kéo khóa quần và xả nỗi buồn.
Anh ngạc nhiên khi Jamison cất tiếng. Dường như cô đã bám theo anh.
“Anh không cần phải tự cảm thấy mình có tội đâu. Đó là điều mà hắn muốn. Anh biết điều đó. Toàn bộ mục đích là để như thế. Hắn gieo rắc được vào đầu anh, hắn thắng, một mũi tên trúng hai đích. Thứ nhất, hắn đấu trí thắng anh, thế là hắn có được sự thỏa mãn cho bản thân. Và nếu anh suy nghĩ không thông suốt, anh sẽ không còn cố truy đuổi theo hắn. Hắn thắng cả đôi. Hắn đang mong chờ như thế.”
Decker kéo khóa quần lên và quay lại với cô. “Tôi biết điều đó.”
“Vậy nên đừng để hắn đắc ý.”
“Nói dễ hơn làm.”
“Có lẽ với một người có trí óc thông thường thì đúng. Anh thì không phải người như thế.”
Anh tiến lên trước mặt cô, dồn cô áp lưng vào bức tường của kho chứa. “Cô nghĩ rằng có một bộ óc kì quái nghĩa là tôi không có cảm xúc sao? Nghĩa là tôi không có bất cứ cảm nhận gì sao? Đó có phải là điều cô nghĩ? Bởi vì cô đã nghĩ sai rồi.”
“Đó không phải những gì tôi nghĩ. Tôi nghĩ rằng cái kẻ kia, hắn không cảm nhận thấy bất cứ điều gì. Hắn bất bình thường theo cách đó. Anh thì không.”
“Thế thì cô đang định nói cái quái gì đây?”
“Anh có thể cảm nhận bất cứ điều gì anh muốn, Decker ạ. Ngay lúc này đây, anh đang giận dữ đến không thể tả nổi. Tôi hiểu điều đó. Anh nghĩ rằng cuộc tàn sát bắt đầu và kết thúc ngay trước thềm cửa nhà anh. Có lẽ anh muốn đấm ai đó hoặc thứ gì đó. Vung cú đấm xuyên qua bức tường đó. Được thôi, nhưng đừng để hắn quấy nhiễu phần tâm trí mà anh sẽ cần để một ngày nào đó tra tay thằng chó chết này vào còng và rồi sau đó, dõi theo hắn đón nhận hơi thở cuối cùng của cuộc đời hắn trong phòng xử án. Anh có muốn ghi điểm trong trận đấu này không? Đó chính là cách mà anh giành chiến thắng. Kẻ thắng được sống, kẻ thua phải nhận mũi tiêm.”
Decker lùi lại một bước. Cô vẫn không nhúc nhích.
Anh đưa mắt nhìn sang hướng khác, rồi cúi nhìn mặt đường. Rồi anh bước trở lại vào trong kho chứa và tiếp tục lục tìm.
☆☆☆
Hai giờ sau, họ đã tìm kiếm trong từng thùng đồ một và hầu như chẳng thấy được gì.
Decker ngả lưng, dựa vào một chiếc giá để đồ. “Tôi đã quay lại từ ngày đầu tiên khoác bộ cảnh phục lên người để nhớ xem minh có khả năng đã gây bất mãn cho kẻ nào để dẫn đến sự việc như thế này. Không có ai hết. Tôi không hề khiến bất kì ai bực bội ở cửa hàng 7-Eleven đó cả. Tôi tóm cổ những kẻ xấu, chắc chắn rồi, nhưng tôi không làm gì để gây cho bất kì ai một mối hận thù cá nhân kiểu như thết này hết.”
Anh xoa mặt và nhắm chặt hai mắt.
Jamison xoa cổ một cái cho bớt mỏi rồi nhìn sang anh, đột nhiên trong vẻ mặt tỏ ra khó hiểu.
“Tại sao anh chỉ xét lại từ lúc anh khoác lên bộ cảnh phục nhỉ?”
Anh mở mắt. “Tôi cũng đã xét qua một lượt bất kì ai ở trường Mansfield có thể có cái việc gì đó bất mãn với tôi. Nhưng không có gì ở đó cả, Jamison, không có gì.”
“Vậy là anh đã nhớ hết khoảng thời gian lớn lên ở Burlington. Và nhớ lại khoảng thời gian sau khi quay trở về Burlington. Thế còn giữa khoảng đó thì sao?”
“Sao cơ, cô nghĩ kẻ đã hạ gục tôi trong cú va chạm đó đứng đằng sau chuyện này sao? Sau khi đầu gối và chân của cậu ta không còn dùng được nữa, cậu ta bị loại khỏi đội, lâm cảnh túng quẫn, chuyển sang buôn thuốc phiện, và hiện tại đang chịu sự quản thúc trong hệ thống nhà tù bang Louisiana rồi. Và tôi chưa bao giờ là một cầu thủ giỏi đến mức khiến cho ai đó đố kị với mình cả ở hồi học đại học lẫn khi chơi bóng chuyên nghiệp.”
Jamison ngáp ngủ. “Vậy nếu Sebastian Leopold có liên quan, tại sao hắn lại nói với cảnh sát là anh đã khiến hắn bất mãn ở cửa hàng 7-Eleven, trong khi anh không hề làm vậy?”
“Ý cô là tại sao một kẻ giết người lại nói dối á?”
“Ý tôi là, tại sao anh lại không biết hắn nếu như anh làm một việc gì đó rất tệ đến mức hắn gây ra tất cà những chuyện này để trả thù? Và cái hành động điên rồ của hắn có thể chỉ là như thế thôi, một hành động. Nhưng ấn tượng của tôi về gã này là hắn rất thật thà. Gia đình của anh, trường cấp ba Mansfield. Những lời nhắn trao đổi với anh, anh có thể nói tôi nghe là về chuyện gì không?”
“Một trong số đó được viết lên bức tường căn nhà cũ của tôi.”
“Nó viết gì?”
Anh lặp lại lời nhắn đó cho cô nghe.
“Những lời nhắn còn lại thì sao?”
Anh kể cho cô nghe về mật mã ẩn trong bản phổ nhạc trên bức tường nhà Debbie Watson. Và rồi sau đó là những dòng chữ được khắc lên người Lafferty.
“Chúa ơi,” cô thốt lên. “Vậy là hắn gọi anh là ‘người anh em’ trong mỗi lời nhắn sao?”
Decker gật đầu.
“Và hắn cũng nói hai người rất giống nhau. Là hai người là tất cả những gì mà người kia còn lại.”
“Phải.”
“Và với lời nhắn gần nhất hắn quả quyết rằng thực ra anh có thể kiểm soát được những thứ này. Rằng anh có thể quyết định khi nào thì chấm dứt nó.”
Decker nhìn cô. “Có nghĩa là một mất một còn.”
“Và hiển nhiên hắn muốn mình là người cuối cùng còn trụ lại.”
“Tôi cũng mong như thế.”
“Được rồi. Nhưng tôi có cảm giác hắn thấy mình giống như đang trong một cuộc thi đấu với anh. Hai người anh em. Một phần của cái gì đó mà chúng ta chưa nhìn thấy.”
Decker mở mắt. “Kiểu như một đội sao?”
“Chưa bao giờ nhập ngũ nhỉ?”
Anh lắc đầu.
“Vậy có lẽ là như một đội.”
“Tôi đã nói rồi đấy, tôi chưa bao giờ giỏi đến mức có thể khiến ai đố kị trong môn bóng bầu dục. Tôi chưa từng giành mất vị trí của ai và tiền lương đi cùng với đó. Ngoài ra, tôi không nghĩ ra được ai sẽ sát hại ngần ấy người chỉ bởi vì hắn ở đội hình ba chờ thay thế cho tôi ở đội hình hai của đội bóng ở trường đại học. Và khi thi đấu chuyên nghiệp, tôi chỉ là một chân dự bị. Không ai nhớ mặt nhớ tên.”
“Nhưng anh tin là Leopold có liên quan đến việc này à?”
“Phải.”
“Dựa trên linh cảm sao?”
“Dựa trên sự thật là hắn đã biến mất. Tôi đã kiểm tra từng nơi trú chân cho người vô gia cư trong cả thành phố này. Hắn chưa từng ghé qua bất kì một nơi nào. Hắn đã chơi tôi. Hắn bước ra khỏi quán bar, biết rằng hắn chuẩn bị biến mất. Và ả phục vụ bàn bắt tay với hắn. Ả phục vụ đó là kẻ còn lại. Kẻ bất mãn với tôi. Ả mới là người tôi thực sự muốn bắt.”
“Nhưng anh có nhắc tới ả phục vụ này có lẽ là một nam giới.”
“Phải. Chính xác mà nói là kẻ nổ súng. Cả hai lần Leopold đều đang bị tạm giam. Chắc chắn người ra tay là kẻ kia.”
“Và hắn dùng những đồ mà anh tìm được ở trường để ngoại hình trông có vẻ to lớn hơn.”
“Khá là thông minh do cảnh sát bám sống bám chết vào những miêu tả về thể chất. Một khi đã ước tính được chiều cao và kích thước trong đầu, họ sẽ không bao giờ để ý đến bất kì ai khác nằm ngoài số đó. Điều này đã ăn sâu vào chúng tôi.”
“Tức là Leopold và/hoặc kẻ nổ súng có thể biết cách suy nghĩ của cảnh sát?”
“Phải.”
Jamison ngẫm nghĩ về chi tiết này. “Vậy sự thật rõ ràng duy nhất mà hắn thực sự đã kể với mọi người là anh làm hắn bất mãn ở cửa hàng 7-Eleven gần nhà của anh. Nhưng anh dám chắc là hắn đang bịa đặt chi tiết đó. Thế nên chúng ta cần quay trở lại dấu mốc này và bắt đầu từ đó - phải không Decker?”
Decker đã đứng dậy và đang cúi đầu nhìn cô.
“Gì vậy?” cô hỏi.
“Cô nói đó là sự thật rõ ràng duy nhất của chúng ta.”
“Phải, tôi biết. Nhưng-”
“Nhưng nó không phải.”
“Không phải gì?”
“Một sự thật.”
Anh vội vã chạy ra khỏi khu vực nhà kho mà không nói thêm một lời nào nữa. Cô đứng bật dậy, chộp lấy túi xách và chạy theo.
CHƯƠNG 39
Decker và Jamison ngồi đối diện với Lancaster trong trụ sở phòng cảnh sát. Decker đã giải thích ngắn gọn vì sao anh bắt đầu hợp tác với Jamison và cũng giải thích vì sao anh lại ở đây.
“Chúng tôi đã xới tung cái kho chứa nhưng chẳng tìm được gì trong đó cả,” anh nói thêm. “Và rồi đột nhiên tôi chợt nảy ra trong đầu là tôi đã đưa ra một giả thiết dựa trên một thứ gì đó chưa hề được xác minh. Tôi đã chấp nhận nó như một sự thật trong khi nó chưa hề được chứng minh là thật. Đó là lí do mà chúng tôi đến đây.”
“Và đó là lí do anh muốn nghe ghi chép thẩm vấn của tôi với Leopold sau khi hắn bị tạm giam sao?” Lancaster hỏi.
“Phải. Chi tiết nhất có thể, Mary ạ. Từng chữ đều có giá trị. Thật vậy đấy.”
Lancaster trông hơi e dè nhưng rồi sau đó vẫn thu thập hết các trang viết và đặt chúng trước mặt. “Được rồi, để bắt đầu, phải nói là hắn không khai gì nhiều. Thực ra mà nói, những lời hắn nói không thực sự có nghĩa gì lắm. Ngay khi hắn khai xong tôi đã nghĩ có lẽ tốt hơn hết hắn nên xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do tâm thần bất ổn thì hơn.”
“Tôi không nghĩ tâm thần hắn có bất cứ vấn đề gì. Ngược lại thì đúng hơn,” Decker đáp. “Hãy đọc cho tôi nghe những gì hắn khai. Và nếu cô còn có thể nhớ được thêm gì khác, cũng sẽ rất hữu ích cho tôi.”
“Ừm, tôi đoán chúng ta chẳng có gì để mất cả.” Chị nhìn Jamison với vẻ nghiêm nghị. “Nhưng tôi xũng nói thế này cho rõ ràng, chỉ cần một từ trong này xuất hiện trên báo hay bất cứ phương tiện truyền thông nào khác, chính tay tôi sẽ tống cổ cô vào nhà giam và mặc xác cho cô ở luôn trong đó. Cô đã nằm trong danh sách những kẻ rác rưởi của tôi vì những thứ bố láo mà cô viết về Amos.”
Jamison giơ hai tay tỏ ý đầu hàng, nhưng giọng của cô thì vô cùng nghiêm túc. “Sẽ không bao giờ có chuyện đó đâu, thanh tra Lancaster ạ. Tôi không viết những chuyện này. Và tôi chính là rác rưởi với những gì mà tôi đã viết. Đáng lẽ ra tôi không nên làm như thế, nhưng tôi đã làm rồi. Và giờ đây tôi đang cố gắng để sửa sai. Đó là tất cả những gì mà tôi có thể làm.”
Lancaster đánh ánh mắt tỏ ý chê trách nhìn khắp người Jamison. “Và Jackson thật là giáo sư ở trường đại học của cô?”
“Còn hơn thế rất nhiều. Thầy ấy là thầy hướng dẫn của tôi. Hoàn toàn có thể dễ dàng xác minh nếu chị không tin tôi.”
“Tôi tin cô,” Lancaster nói một câu cụt lủn. “Vậy là tôi đoán chúng ta ngồi chung một thuyền và là cùng một đội.” Chị cúi xuống nhìn các trang ghi chú và bắt đầu đọc. Khi chi đọc đến phần viết về việc Decker làm Leopold bất mãn ở cửa hàng 7-Eleven, Decker bảo chị dừng lại.
“Đây chính xác là những câu từ mà hắn dùng sao? Tôi làm hắn bất mãn ở cửa hàng 7-Eleven.”
“Phải. Trước đây tôi từng nói với anh rồi.”
“Câu tiếp theo mà cô hỏi hắn là gì?”
“Ừm, tôi hỏi hắn là cửa hàng 7-Eleven nào. Tôi đã cố thử xem liệu câu chuyện của hắn có hợp lí hay không. Một năm rưỡi sau sự việc đó chúng ta đâu có nhiều kẻ tự tìm đến nhiệm sở và thú nhận đã giết ba người.”
“Và hắn nói là cửa hàng 7-Eleven trong khu gần chỗ tôi ở sao?”
Lancaster cúi đầu nhìn lại các ghi chú một lần nữa và cau mày, “Không, thật ra hắn nói là anh sẽ biết là cửa hàng nào.” Chị ngẩng đầu lên. “Tôi đoán tôi đã mặc định rằng anh biết anh gây bất mãn cho gã này ở cửa hàng 7-Eleven nào. Chí ít là gây bất mãn theo góc nhìn của hắn.”
“Vậy là hắn chưa bao giờ nói là cửa hàng 7-Eleven trong khu nhà tôi ở phải không? Cái cửa hàng ở gần nhà tôi, trên số 14 đường DeSalle?”
Mặt Lancaster tái mét. Và khi chị cất tiếng, giọng của chị căng như dây đàn. “Không, Amos ạ. Hắn không nói thế. Tôi đoán đó là điểm đánh trệch suy nghĩ logic của cả hai chúng ta. Đáng lẽ ra tôi không nên đưa ra giả thiết đó. Đó là một sai lầm sơ đẳng.”
“Tôi phạm cùng sai lầm, Mary ạ.”
Lancaster trông vẫn tiu nghỉu.
“Tôi xem ghi chép được không?” anh đề nghị.
Chị đưa chúng cho anh và anh bắt đầu đọc hết một lượt.
Lancaster liếc nhìn sang Jamison, chị rướn người lên trước, và nói bằng một giọng rất nhỏ, “Thế nào, làm việc với Decker thú vị chứ? Tôi đã làm cùng anh ấy khoảng mười năm. Không một ngày nào giống ngày nào.”
Jamison cũng thì thầm y như thế. “Rất, ừm… khác thường. Anh ấy nhảy bật dậy và lao ra khỏi kho chứa. Tôi phải đuổi theo anh ấy.”
Lancaster nở một nụ cười hiếm hoi. “Chuyện thường ngày ở huyện.”
Hai người phụ nữ tách nhau ra khi Decker thả tập ghi chú xuống bàn.
Anh nhìn Jamison với vẻ mặt sắc sảo. “Địa chỉ email gửi cho cô các chi tiết câu chuyện và hình ảnh: Mallard2000 là tên miền phải không?”
“Anh biết mà. Tôi đã chuyển tiếp thư sang cho anh.”
Lancaster nói, “FBI không truy ngược được dấu vết của nó, thế nên tôi không thấy nó có gì hữu ích.”
“Thật ra nó rất hữu ích là đằng khác. Và đáng lí tôi nên nhận ra từ trước.”
“Nhận ra cái gì từ trước cơ?” Jamison hỏi.
“Rằng đáp án mà tôi đang tìm kiếm không nằm ở việc truy ngược để tìm người gửi. Nó vẫn luôn nằm ở đó, trong cái tên ấy.”
“Trong cái tên sao?” Lancaster nói. “Tên nào cơ?”
Decker đứng dậy và nhìn Jamison. “Cô có xe không?”
Cô gật đầu và cũng đứng dậy. “Một chiếc xe mini đã chạy được trên trăm nghìn cây số và đang phải dùng băng dính vải để định hình. Nhưng đặc biệt tiết kiệm nhiên liệu.” Cô nhìn anh từ trên xuống dưới. “Có khi với anh thì nó hơi chật. Chúng ta sẽ đi đâu?”
“Chicago.”
“Chicago sao,” Lancaster cảm thán. “Có cái quỷ gì ở Chicago vậy?”
“Thật ra, đó là một vùng ngoại ô của Chicago. Và ở đó có câu trả lời cho tất cả, Mary ạ.”
“Nhưng làm sao anh biết phải tìm đến đâu ở Chicago chứ?”
Decker sốt ruột đáp, “Hắn cho tôi địa chỉ rồi, seven-eleven đấy.”
Lancaster lắc đầu và nói với giọng hoài nghi, “Được rồi, nhưng Amos này, anh có biết ở vùng đô thị Chicago có bao nhiêu cái cửa hàng 7-Eleven không?”
“Tôi sẽ không tìm đến một cửa hàng tiện lợi, Mary ạ. Tôi sẽ tìm một con phố có số seven-eleven, bảy-mười một.”
Lancaster đưa mắt liếc nhìn anh với vẻ thất thần. Mẹ kiếp, anh đang nói với tôi là đó không phải là cửa hàng 7-Eleven sao? Đó là số nhà! Nhưng hắn nói-”
“Hắn nói con số bảy và mười một. Và nó rất có thể bị nhầm là bảy-một-một. Cô đã ghi lại nó theo cái cách mà bất kì người nào sống trên đất nước này đều ghi. Cô đã nghĩ là ý hắn nhắc tới chuỗi cửa hàng đó, trong khi thật ra hắn không hề.”
“Nhưng hắn chưa bao giờ nhắc là tôi đã sai.”
“Cô mong hắn sẽ vẽ đường cho mình sao? Đối với chúng đây là một trò chơi. Chơi theo luật của chúng.”
“Được rồi, anh đã có con số, nhưng sẽ khá là vô dụng trừ phi anh có một con phố để áp con số lên.”
“Tôi có con phố mà. Nó nằm trong địa chỉ email.”
“Mallard hai nghìn sao? Nhưng làm sao anh biết được nó nằm ở Chicago? Thành phố đó có liên hệ gì tới những việc đã xảy ra ở Burlington.?”
“Nó không hề. Nó liên hệ với tôi.”
“Nhưng Amos, đã có -”
Lancaster dừng lại khi chưa nói hết câu, bởi vì Decker đã vội vã lao ra khỏi phòng.
“Thằng khốn kia!” Lancaster hét theo.
Jamison nhìn chị bằng ánh mắt tỏ ý xin lỗi. “Chuyện thường ngày ở huyện à?”
“Nhớ báo tin cho tôi nhé Jamison. Và coi chừng anh ta. Anh ta tài giỏi hơn người, nhưng kể cả những người tài giỏi vẫn làm những điều ngu ngốc.”
“Tôi sẽ làm thế.”
Và sau đó Jamison vội đuổi theo Decker.
Lancaster ngồi thụp xuống ghế và cúi đầu nhìn đống ghi chú. Rồi chị vo tròn chúng lại và ném chúng sang phía bên kia phòng.
“7-Eleven chết tiệt!”
CHƯƠNG 40
Nếu theo thiết kế ban đầu, chiếc xe mini không thể vừa chỗ cho Decker, bởi vì người và xe kích cỡ gần bằng nhau. Cuối cùng họ đã phải tháo ghế trước và anh phải co ro nép mình vào chỗ ngồi nhỏ xíu ở phía sau, đôi chân dài thò lên phía trước, gác qua cái bệ nhô lên mà vốn lúc trước để đặt cái ghế ngồi.
Anh ngồi đó, hai mắt nhắm nghiền, và hai tay gác lên cái bụng chắc nịch của mình. Họ đã ghé qua phòng trọ để anh sắp xếp một ít quần áo sạch vào cái túi canvas. Anh mới biết được rằng Jamison luôn sắp sẵn một vali đồ và cất trong cái cốp nhỏ xíu của chiếc xe.
“Quy tắc hành nghề tiêu chuẩn của một phóng viên,” cô nói với anh.
Jamison nhìn anh qua gương chiếu hậu với vẻ đầy lo lắng trên đường họ lái xe đi. “Ước gì anh kéo được cái dây an toàn ở phía sau kia vòng qua người.”
“Đừng để xảy ra va chạm là được,” Decker nói, hai mắt vẫn nhắm nghiền. “Tôi sẽ là một viên đạn rất lớn, lớn hơn cả chiếc xe của cô. Thực lòng cô không muốn biết cái mông bự của tôi mà bay thì sẽ tạo ra động lượng bao nhiêu đâu.”
Cô đưa mắt tiếp tục quan sát đường. Họ đã lái xe trên con đường liên bang được hơn ba giờ đồng hồ. Hiện tại họ đang ở bang Indiana. Họ sẽ còn phải đi thêm khoảng bốn giờ đồng hồ nữa.
“Tôi đặt phòng cho chúng ta qua trang Expedia rồi,” cô nói, “Ở nhà trọ Comfort Inn ở ngoại ô Chicago. Sẽ không tốn kém quá.” Cô quay người nhìn anh. “Anh vẫn chưa nói cho tôi biết chúng ta đang đi đâu.”
“Tôi đã nói rồi. Brockton, Illinois. Nó nằm ở vùng ngoại ô cách Chicago khoảng hơn ba mươi cây số về phía nam. Đừng có lẫn với Brocton, Illinois, một ngôi lànb ở thị trấn Embarrass, ngoại ô Champaign, với dân số khoảng ba trăm người.”
“Thị trấn Embarrass, nghĩa là thị trấn Xấu hổ1 á? Thiệt đó hả?”
1 Embarrass có nghĩa là xấu hổ trong tiếng Anh.
“Tôi có đặt tên cho nó đâu?”
“Được rồi, nhưng anh vẫn chưa nói cho tôi biết chúng ta sẽ đi tới đâu ở Brockton.”
“Tới địa chỉ con phố mà Leopold đã để lại cho tôi đi tìm.”
“Bảy một một phố gì?”
“Mallard hai nghìn là tên con phố.”
“Illinois không có phố nào tên đó cả. Tôi đã kiểm tra rồi.”
“Có một con phố tên như thế, nhưng được gọi bằng một cách khác.”
“Tôi không hiểu.”
“Đó là một mật mã đã được ẩn giấu đơn giản. Hãy thử đoán xem đó là gì?”
Mười phút trôi qua. “Thôi, tôi bỏ cuộc. Tôi đâu có giỏi giải ô chữ.”
“Con phố đó là đại lộ Duckton.”
“Duckton sao?”
“Giờ hãy thử suy nghĩ ngược ra đi. Cô sẽ không mất nhiều thời gian đâu. Tôi tin ở cô mà.”
Cô hướng sự tập trung trở lại vào đường đi. “Chết tiệt,” một lúc sau cô thốt lên. “Mallard nghĩa là con vịt trời, tiếng Anh con vịt nói chung nghĩa là duck, và hai nghìn pound thì tương đương 1 tấn, tiếng Anh một tấn là ton, ghép lại ta có Duckton.”
“Chúc mừng, cô đã vượt qua lớp thám tử sơ cấp.”
“Nhưng có gì ở số bảy một một đại lộ Duckton?”
“Đó là một nơi tôi từng gọi là nhà.”
Cô quay ngoắc đầu lại nhìn anh, nhưng lúc này anh đang nhìn ra ngoài cửa sổ xe.
“Nhà của anh á?”
“Để sau đi, Jamison. Còn bây giờ, tập trung lái xe đi. Tôi không có dây bảo hiểm đâu, nhớ chứ?”
Cô bực bội quay đầu lại, đạp ga, và mỉm cười thích thú khi nghe thấy tiếng đầu anh đập vào đằng sau ghế xe do tăng tốc đột ngột.
Họ dừng lại ở một quán ăn bán trên xe tải khi ra khỏi đường cao tốc liên bang để đi vệ sinh, đổ thêm xăng và tìm đồ lót dạ.
Jamison gọi một chiếc burger thêm phô mai, khoai tây chiên và một chai bia Corona. Decker gọi một chiếc pizza cỡ lớn và một lon Coca.
Anh nhìn đồ ăn của cô. “Mặc dù bữa tối qua ăn đồ Trung Quốc, nhưng tôi đã nghĩ cô là một kẻ thích ăn uống lành mạnh cơ đấy.”
Cô gặm chiếc bánh burger và để nước thịt óng mỡ chảy xuống cằm trước khi lau khô nó. “Tôi có thể ăn cả anh đấy.”
“Để kiếp sau đi.”
“Anh kì vọng sẽ tìm được gì từ cái chỗ ở Duckton đó?”
“Nếu nó vẫn còn ở đó. Tôi sẽ thử gọi cái số ngày xưa tôi dùng, nhưng nó bị đổi rồi. Và số điện thoại của nơi đó không còn nằm trong danh bạ.”
“Nhưng nói đó là nơi gì hả Decker? Anh gọi nơi đó là nhà.”
“Đó là nơi mà những người như tôi bị chọc ngoáy, bị khiêu khích, bị thử nghiệm.”
Jamison bỏ chiếc bánh burger xuống. “Cùng tất cả các thiên tài ghi nhớ á? Cái… cái viện nghiên cứu á?”
“Những nhà bác học, tự kỉ, mắc chứng Asperger, có cảm giác kèm và trí nhớ siêu phàm - hyperthymesia.”
“Hyper gì cơ?”
“Thymesia. Trong tiếng Hy Lạp, hyper có nghĩa là ‘quá mức’ và thymesia được dịch là ‘trí nhớ’. Ghép chúng lại với nhau và cô sẽ có được tôi. Một người mắc chứng Hyperthymesia đúng nghĩa sẽ có khả năng nhớ lại gần như hoàn hảo sự việc quá khứ có liên quan đến cá nhân mình hay những chi tiết tự truyện. Tôi nhớ những thứ đó, nhưng tôi cũng không thể quên bất cứ thứ gì mà tôi từng nhìn thấy, đọc được hoặc nghe được. Một khả năng ghi nhớ hoàn hảo tất cả mọi thứ. Tôi không biết bộ não của tôi lại lớn đến vậy. Nhưng có vẻ như tôi sử dụng nó nhiều hơn phần lớn những người khác, nhưng chỉ bởi vì tôi phải chịu cú hút bay người trên sân bóng bầu dục.”
“Còn cảm giác kèm thì sao?”
“Tôi nhìn thấy những màu sắc mà người khác thì không thấy. Trong các con số, ở những địa điểm và vật thể. Đường dẫn truyền nhận thức cảm giác thần kinh của tôi có vẻ như cũng bị chắp nối lại với nhau khi tôi ăn phải cú húc đó.”
“Tôi rất vui vì anh kể cho tôi nghe tất cả những điều này. Nhưng tôi cũng rất bất ngờ. Ấn tượng của tôi về anh là một người không thích chia sẻ về bản thân.”
“Tôi đúng là người như vậy. Tôi chưa từng kể cho bất kì ai nghe về chuyện này, ngoại trừ vợ tôi.”
“Vậy tại sao anh lại kể cho tôi? Chúng ta đâu có quen thân đến thế.”
Trước khi trả lời, Decker ăn một miếng bánh pizza pepperoni, tiếp theo là uống một hơi Coca dài. “Chúng ta đang cùng nhau truy tìm những kẻ sát nhân, Jamison ạ. Chúng đã giết hại rất nhiều người, bao gồm cả một đặc vụ FBI. Tôi cho rằng tôi nợ cô toàn bộ câu chuyện bởi vì cô đã đặt cược cả tính mạng của mình vào chuyện này.”
Cô bỏ chiếc bánh burger xuống và uống một ngụm bia nhỏ. “Anh nói như thể tôi là một người dũng cảm lắm.” cô nói nhỏ.
Anh ăn thêm một vài miếng pizza nữa và uống lon Coca của mình. “Hãy cùng hi vọng là cô đã nhầm.”
CHƯƠNG 41
Họ đã nhận xong phòng nhà nghỉ, ngủ đôi chút, tắm rửa và thay quần áo. Lúc này họ đang đứng trước tòa nhà tám tầng xây bằng gạch với những ô cửa sổ nhỏ, ước chừng đã sáu mươi năm tuổi.
Jamison liếc nhìn Decker, sau đó liếc nhìn địa chỉ của tòa nhà dưới dạng những con số bằng kim loại được gắn ở mặt tiền. “Bảy một một Duckton. Vậy đây chính là ngôi nhà đó sao?”
Decker gật đầu, mắt vẫn nhìn chăm chăm vào tòa nhà. “Nó đã thay đổi đôi chút. Đã hai thập kỉ rồi.”
“Đây có phải là một cơ sở nghiên cứu thật không?”
“Hầu như là đúng. Cơ bản họ cố gắng tìm hiểu bộ não hoạt động như thế nào. Họ là một trong những nơi đầu tiên tiếp nhận lĩnh vực này theo phương pháp luận, đa ngành, đa hướng.”
“Thế nghĩa là sao?”
“Nghĩa là họ không chỉ cắm các điện cực lên đầu cô và ghi số đó hoạt động của não bộ lúc đó. Họ thực hiện tất cả các thí nghiệm sinh lí mà cô có thể nghĩ tới - nói cho cùng, bộ não là một cơ quan trong sinh vật, và về cơ bản nó hoạt độn dựa trên các xung điện. Nhưng ngoài ra họ cũng thực hiện các buổi tư vấn theo nhóm và một - một. Họ đào sâu về cuộc sống của chúng tôi. Họ muốn nghiên cứu về những người như chúng tôi, và họ cũng muốn biết, ừm, về con người chúng tôi. Có một bộ não khác thường thì như thế nào, nó ảnh hưởng và thay đổi cuộc đời của chúng tôi ra sao.”
“Nghe khá là sâu sát nhỉ.”
“Đúng thế.”
“Nhưng tất cả những việc đó đem lại được kết quả gì?”
Decker nhúng vai. “Tôi chưa bao giờ được biết. Tôi ở đây hàng tháng trời và sau đó người ta nói rằng tôi có thể rời đi. Không có ai liên hệ hỏi han gì thêm. Chí ít với tôi là như thế.”
“Chờ một chút, người ta bảo anh có thể rời đi sao? Anh ở đây do bị bắt ép sao?”
“Không, là tôi tự nguyện.”
“Tại sao?”
Anh quay người nhìn cô. “Bởi vì tôi sợ, Jamison ạ. Bộ não của tôi đã thay đổi, điều đó có nghĩa là gần như tất cả mọi thứ về tôi cũng đều thay đổi. Cảm xúc của tôi, tính cách của tôi, kĩ năng xã hội của tôi. Tôi muốn tìm hiểu là vì sao. Tôi muốn tìm hiểu… tương lai tới đây của mình sẽ như thế nào. Tôi đoán tôi muốn tìm hiểu tôi sẽ trở thành cái gì, về lâu dài.”
“Nhưng tôi đoán có rất nhiều điểm tích cực. Ý của tôi là, một trí nhớ hoàn hảo sẽ giúp cho việc học hành và làm việc trở nên khá là dễ dàng.”
Anh hướng ánh nhìn trở lại về phía tòa nhà. “Cô có thích bản thân mình không?”
“Sao cơ?”
“Cô có thích con người của cô hiện tại không?”
“Ừm, có. Ý tôi là, tôi cần phải tập thể dục thể thao nhiều hơn nữa, và tôi sẽ còn phải tìm cho mình một người phù hợp, nhưng nói chung là có, tôi thích tôi của hiện tại.”
“Ừ, tôi cũng thích con người của tôi ngày ấy. Và giờ con người đó đã không còn nữa rồi. Chỉ có điều tôi không được quyền lựa chọn trong việc đó.”
“Và sẽ rất tốt nếu có thể quên đi một số thứ. Con người đều muốn như thế, cô biết đấy. Muốn quên bớt đi một số thứ.”
“Decker này, kể cả với một người có bộ não bình thường cũng sẽ không bao giờ có thể quên được một điều tương tự như những gì đã xảy đến với gia đình của anh.”
“Nhưng tôi ghi nhớ từng chi tiết về nó, trong sắc xanh lam. Tôi sẽ không bao giờ quên được dù chỉ một chi tiết, thậm chí cả cảm xúc chính xác mà tôi đã cảm thấy khi tôi tìm được các thi thể. Không thể quên cho đến ngày tôi chết. Đối với tôi, thời gian không có giá trị chữa lành, bởi vì trí óc của tôi không còn cho phép thời gian trôi đi xóa nhòa bớt các kí ức. Ngay hôm nay, chúng vẫn rõ mồn một như vào cái ngày sự việc xảy ra. Nó giống như một bức ảnh mãi mãi không bao giờ phai màu. Người ta nói rằng không thể sống trong quá khứ ư? Còn tôi, tôi thực lòng không thể bước ra khỏi quá khứ.”
“Tôi rất lấy làm tiếc.”
Anh quay lại và cúi đầu nhìn cô. “Tôi không còn đón nhận và hiểu được sự cảm thông nữa đâu,” anh nói. “Ngày trước thì có, nhưng giờ thì không được nữa rồi.” Anh tiến vào trong tòa nhà và Jamison vội vã đuổi theo anh.
Chỉ dẫn tòa nhà không có tên của cơ sở nghiên cứu. Decker đi tới bàn lễ tân đặt ở trong góc sảnh và giơ nhanh giấy tờ cảnh sát tạm thời của mình. Nhưng người phụ nữ ngồi tại đó chẳng giúp được gì cho anh. Chị ta chưa bao giờ nghe đến tên nơi mà Decker nhắc tới.
Decker và Jamison đi vòng quanh khu sảnh rộng lớn. Decker đang nhìn ngó khắp mọi nơi, quan sát kĩ từng nơi một.
“Đang dạo lại kỉ niệm xưa đấy à?” Jamison ranh mãnh hỏi.
Anh cúi đầu nhìn cô với đôi lông mày đang nhướn lên.
Mặt cô ửng đỏ. “Xin lỗi, tôi chỉ đang muốn làm nhẹ bớt tâm trạng cho anh thôi. Tôi đoán sự hài hước cũng không có tác dụng với anh.”
Nhưng Decker đã vội chạy sang phía bên kia sảnh để tới một cửa hàng hoa nhỏ ở trong góc của tầng đó. Jamison đuổi theo kịp khi anh đã tiến gần tới quầy thu ngân ở bên trong cửa hàng.
Một người phụ nữ gần năm mươi tuổi ngồi phía sau quầy. Chị ta có mái tóc cắt ngắn màu nâu nhạt và cơ thể khá săn chắc. Quần vải màu đen cùng một chiếc cáo sơ mi dài tay màu trắng là bộ đồ làm việc mà chị ta mặc trê người.
“Tôi giúp được gì cho anh ạ?” chị ta hỏi Decker.
“Cửa hàng này đã ở đây lâu lắm rồi,” Decker mở lời. “Tôi vẫn nhớ nó.”
Chị ta mỉm cười. “Cửa hàng hoa Dora. Nó đã có mặt ở đây kể từ khi tòa nhà mở cửa vào năm 1955. Mẹ của tôi là Dora. Bà là người dựng nên cửa hàng.”
“Tôi nhớ cả bà ấy nữa. Chị trông rất giống bà.”
Nụ cười của người phụ nữ càng thêm rạng rỡ. “Tôi tiếp quản cửa hàng này từ mười năm trước. Mẹ và ba của tôi đã gây dựng nó thành một cửa hàng rất phát đạt. Hồi còn học đại học tôi đã tới đây và giúp họ. Công việc duy nhất của tôi bây giờ là không phá hoại nơi mà cha mẹ đã gầy công dựng nên. Và nhân tiện giới thiệu, tôi là Daisy1. Còn tên nào khác hợp hơn, phải không nào? Tôi là con út trong số bốn chị em và tất cả chúng tôi đều được đặt tên theo các loài hoa.”
1 Tên một loài hoa. Daisy: hoa cúc.
Vậy là chị đã ở đây mười năm rồi sao, chị Daisy?”
“Vâng.” Người phụ nữ hơi cau mày. “Tôi đang nghĩ anh không có ý đặt mua hoa đâu, phải thế không?”
“Tôi không,” Decker nói cụt lủn. Anh giơ cho chị ta xem giấy tờ.
“Từ bang khác tới cơ à,” chị ta nói. “Chắc hẳn là việc quan trọng lắm.”
“Thực sự là thế. Có một cơ sở nghiên cứu ở trong tòa nhà này. Ừ thì, nó đã từng ở đây hai mươi năm trước. Viện nghiên cứu Nhận thức thì phải?”
Daish mỉm cười. “Ồ, có, tôi có nhớ họ. Họ từng là khách hàng thường xuyên của chúng tôi.”
“Từng sao? Họ không còn ở đây nữa à?”
“Không, họ đã chuyển đi rồi. Vào lúc, để tôi nhớ lại xem - ồ, có lẽ là khoảng bảy, tám nắm trước. Tôi còn nhớ mấy cái xe tải to lắm đậu ngoài kia. Nói chung là hầu hết các cửa hàng cửa hiệu kinh doanh ở đây thì vẫn ở nguyên đây. Chỗ này có vị trí tốt, một tòa nhà cổ xinh đẹp, được bảo trì đàng hoàng, thực sự là vị trí đắc địa. Và chỉ tốn dăm ba bước là tới Chicago.”
“Tôi cho là chị không biết họ chuyển đi đâu?”
“Vâng, tôi không biết. Anh đã thử tìm số điện thoại của họ trên danh bạ chưa? Hừm, thời buổi này thì chắc phải tra cứu online rồi.”
“Tôi thử rồi. Không có trong danh sách.”
“Ồ, vậy à, thế thì tôi rất tiếc.”
Decker nói, “Dù sao cũng cám ơn chị.” Anh đã chuẩn bị quay người rời đi.
Chị nói, “Nhưng còn cái ông bác sĩ già Rabinowitz.”
Decker quay người lại. “Harold Rabinowitz sao?”
“Phải, sao anh biết tên của ôn ấy vậy?”
“Tôi đã tìm hiểu một chút trước khi tới,” anh vội nói.
“À, ừ, phải rồi. Ông ấy vẫn ở gần đây, và anh tin được không, ông ấy vẫn đặt hoa của chúng tôi đấy. Anh biết đó, mấy người Nhận thức - chúng tôi từng gọi họ như vậy - từng là một trong số những khách quen nhất của chúng tôi. Mẹ tôi từng kể với tôi là họ đặt hoa tươi mỗi tuần. Và họ cũng tặng rất nhiều hoa cho mọi người nữa. Thật sự rất tuyệt. Tuyệt cho họ, tuyệt cho doanh thu của chúng tôi.”
“Vậy là chị có địa chỉ của ông ấy?”
Biểu cảm của chị ta thay đổi. “Thực sự thì tôi không nên cung cấp thông tin như thế ra ngoài,” chị nói với giọng ngần ngại.
“Chị cho tôi xin số điện thoại của ông ấy được chứ?”
“Thật lòng là làm thế tôi thấy vẫn không thoải mái. Anh trông có vẻ là người đàng hoàng, nhưng như thế là làm trái với quy định của chúng tôi.”
Decker nói, “Hay là chị gọi cho bác sĩ Rabinowitz và nói với ông ấy là Amos Decker muốn gặp ông ấy. Nếu ông ấy nói được, chị có thể cho tôi địa chỉ của ông ấy. Nếu không, chẳng có ai bị tổn hại gì.”
“Ừm, tôi nghĩ thế cũng được. Vậy là anh quen ông ấy à? Tôi thấy trên danh thiếp anh tên là Amos Decker.”
“Vâng, tôi quen ông ấy.”
“Ồ, sao anh không nói sớm. Chờ chút nhé.”
Chị ta đi tới chỗ điện thoại, tìm số điện thoại trong máy tính và quag số. Chị ta quay lưng lại với họ trong lúc nói chuyện. Một phút sau, chị ta cúp máy và quay lại chỗ họ. Chị ta ghi gì đó lên một mẫu giấy và đưa nó cho Decker.
“Tốt rồi. Ông ấy nói rất vui mừng được gặp anh.”
Decker cúi đầu nhìn mẫu giấy và rồi lại ngước lên nhìn chị ta. “Ba mẹ chị vẫn còn chứ?”
Daisy trông hơi có chút ngạc nhiên trước câu hỏi. “Mẹ tôi đang sống ở một trung tâm chăm sóc người già và rất thích cuộc sống ở đó. Và cũng không lạ gì, bà chăm lo tất cả công việc cắm hoa ở đó.”
“Ồ, hãy nói với bà là Amos Decker vẫn còn nhớ hoa của bà. Và nói là… chúng có ích rất nhiều.”
“Chắc chắn tôi sẽ gửi lời. Bà sẽ vui lắm khi nghe được điều đó. Mẹ nhìn nhận công việc này như thế mà, càng có nhiều hoa, thế giới mà chúng ta sống càng tươi đẹp.”
Ra đến ngoài, Jamison nhìn Decker. “Làm giỏi ghê.”
Anh không đáp lời.
“Vậy là hoa có ích lắm hả?”
Anh lườm cô. “Phải, thực sự là có ích. Sao?”
“Thì có khi anh không thay đổi nhiều như anh nghĩ.”
CHƯƠNG 42
Trên đường lái xe tới nhà Rabinowitz, Jamison liếc nhìn Decker ở phía sau xe. “Hỏi anh một câu,” cô nói.
“Chỉ một thôi à?”
“Có lẽ là không. Để nói thẳng vào việc nhé, người mà anh gây bất mãn không phải là Leopold. Đó là cộng sự của hắn. Ả bồi bàn. Leopold chỉ đơn giản là người đưa tin.”
“Đúng thế.”
“Vậy đoán chừng là anh có biết đến người này?”
“Chắc chắn đúng là như thế.”
“Và người đó từng ở cùng anh tại chỗ nghiên cứu đó.?”
“Đó là lí do duy nhất mà Mallard2000 được nhắc tới. Tôi không tin vào sự trùng hợp, đặc biệt với một sự việc lớn như thế này.”
“Được rồi. Vậy là kẻ nổ súng là nam giới. Ừm, chí ít thì khả năng cao là như thế. Mặc dù người phục vụ ở quán rượu đã rất thô lỗ gọi người đó là ‘nó’. Anh ta có vẻ nghĩ rằng cô ta là nam giới đóng giả phụ nữ. Hoặc có thể là người chuyển giới. Do có sự thay đổi quá lớn đến vậy, nên có khi anh sẽ không thể nhận ra người đó.”
“Có thể không.”
“Và cô ta có thể từng là đàn ông khi còn ở viện và giờ đã thành phụ nữ. Hoặc ngược lại.”
“Có thể.”
“Vậy là anh có gây bất mãn cho cái người đó hồi còn ở viện không?”
Điện thoại của Decker rung. Là Lancaster.
Chị nói, “Chúng tôi tìm được rất nhiều dấu vân tay và mẫu AND khả dụng trong nhà vệ sinh của quán bar. Chúng tôi đã loại trừ sơ lược và sau đó cho chạy các mẫu trong cơ sở dữ liệu tội phạm. FBI cũng làm việc tương tự.”
“Và không nhận diện được ai sao?”
“Một vài con nghiện và một kẻ hiếp dâm từng bị kết án. Tất cả những kẻ này hiện đang ngồi tù, nhưng chúng đã từng sử dụng cái nhà vệ sinh này ở một thời điểm nào đó.”
“Vậy là ả bồi bàn của chúng ta thì không à?”
“Không. Bên anh tình hình thế nào rồi?”
“Tôi sẽ báo cô biết sao vài tiếng nữa. Đang theo một manh mối đây.”
Anh tắt máy và ngồi im trở lại ở phía sau chiếc xe Suzuki.
Jamison liếc nhìn anh với vẻ thăm dò. “Không tìm ra được gì à?”
“Không tìm được gì. Hãy hi vọng ông Rabinowitz này sẽ có ích hơn.”
☆☆☆
Bác sĩ Harold Rabinowitz sống trong một căn hộ tại một tòa nhà cũ ở phía bên kia thành phố. Khi Decker gõ cửa, anh nghe thấy tiếng bước chân thình thịch đang hướng về phía mình.
Một giọng nói vang lên, “Ai đó?”
“Amos Decker.”
Cánh cửa mở ra, và Decker đang cúi nhìn một người đàn ông nhỏ con, đầu hói, với bộ râu ngả bạc và đeo một cặp kính đen. Ông ta trông đã ngoài bảy mươi. Ông mặc một chiếc áo khoác len mỏng đã sờn, quần âu và một chiếc áo sơ mi trắng có cổ.
“Xinh chào Amos.” Người đàn ông nhìn chăm chú vào cái bụng của Decker.
Mất một lúc Decker mới nhận ra.
“Ông bị mất thị lực từ khi nào vậy, bác sĩ Rabinowittz?”
“Mất hẳn ấy hả? Từ bảy năm trước. Thoái hóa điểm vàng. Một căn bệnh gớm lắm đấy. Cậu không đến một mình. Ta nghe có tiếng người nữa.”
“Bạn của tôi, Alex Jamison.”
“Chào bác sĩ Rabinowitz. Làm ơn hãy gọi cháu là Alex.”
“Ta thích mùi nước hoa. Vani và dừa, rất thơm. Ta nói đúng chứ?”
“Đúng ạ. Bác giỏi thật đấy.”
Ông mỉm cười, vẻ mặt hài lòng. “Các giác quan khác sẽ nhạy hơn để bù lại, cô biết mà. Vào nhà đi.”
Họ ngồi xuống ghế trong căn phòng khách nhỏ. Decker nhìn xung quanh và nhận thấy không gian được sắp đặt gọn ghẽ, đường đi được xây dựng kĩ lưỡng. Anh nhìn thấy một cây gậy dò đường cho người khiếm thị treo trên móc cạnh cửa vào.
“Ta bất ngờ khi nghe bảo cậu muốn gặp ta,” Rabinowitz cất tiếng.
“Sẽ không mất nhiều thời gian của ông đâu.”
“Ta đã tới thời điểm đó của cuộc đời rồi mà, Amos, thời điểm mà tất cả những gì ta có là thời gian. Ta không còn đi làm nữa. Vợ của ta đã mất. Sức khỏe của ta giảm sút. Bạn bè cũ của ta đã chết cả. Con cái ta cũng có bệnh tật riêng của chúng. Các cháu thì đã tốt nghiệp đại học và đang bắt đầu sự nghiệp của riêng mình. Thế nên việc cậu tới thăm, ta rất lấy làm hoan nghênh.”
Decker ngả người ra sau và nhìn chăm chăm vào ông, còn Jamison đánh mắt nhìn qua nhìn lại giữa hai người họ.
Decker nói, “Ông thôi làm việc ở Viện Nhận thức đã bao lâu rồi?”
“Họ cho ta về vườn từ mười năm trước. Đáng lí ra ta sẽ ở lại lâu hơn, nhưng hồi đó mắt của ta bắt đầu kém dần.”
“Họ đã chuyển đi rồi.”
“Ta biết. Ta vẫn giữ liên lạc. Viện đã phát triển hơn, cậu biết đấy.”
“Không, tôi không biết.”
“Thế nên mới phải chuyển đi. Họ cần nhiều không gian hơn. Chúng ta đã tiến rất xa kể từ hồi cậu còn ở đó với bọn ta. Chúng ta biết thêm được rất rất nhiều.”
“Và rõ ràng là ông còn nhớ tôi.”
“Rất khó để quên được cậu. Cầu thủ bóng bầu dục chuyên nghiệp duy nhất ở chỗ bọn ta. Đó là một trường hợp khá khác thường.”
“Tôi đã gia nhập lực lượng thi hành pháp luật sau khi rời khỏi đây. Đầu tiên là làm cảnh sát. Sau đó là làm thanh tra.”
“Cậu có nhắc đó là tham vọng của cậu khi còn ở đây.”
“Phải, đúng là như thế.”
“Thật mừng cho cậu. Và sự nghiệp của cậu đạt được nhiều thành tựu chứ?”
“Thì cũng ba chìm bảy nổi, như hầu hết các nghề nghiệp khác.”
“Hi vọng là nổi nhiều hơn chìm.”
“Có khi ông có thể giúp tôi vụ chìm nổi này được đó.”
Rabinowitz cau mày. “Ta không hiểu.”
Decker nhắc lại vụ ở trường Mansfield.
Rabinowitz nói, “Ta có nghe nói tới, giống như mọi người trên khắp đất nước. Thật là bi thảm. Quá khủng khiếp. Quá nhiều mạng sống cứ thế… phải chấm dứt. Chẳng vì lí do gì.”
“Tôi đang điều tra vụ án đó. Và có một lí do đấy. Thật ra, nó có thể có mối liên hệ cá nhân tới tôi.”
“Sao lại thế?” Rabinowitz nói bằng giọng căng thẳng.
“Tôi nghĩ một ai đó ở viện cùng hồi tôi ở đó có liên quan tới vụ thảm sát tại ngôi trường cấp ba.”
Rabinowitz nắm chặt mép chiếc ghế bành. “Sao cơ?”
“Không thể nói ông nghe chi tiết cụ thể, nhưng kẻ sát nhân đã để lại địa chỉ cũ của viện cho tôi. Hắn nói rằng tôi đã gây bất mãn cho hắn. Hắn ám chỉ đó là lí do mà hắn sát hại những người này.”
“Ôi Chúa ơi!” Rabinowitz suýt chút nữa thì ngã nhào khỏi ghế, tuy to lớn, nhưng Decker khá nhanh nhẹn, nên đã kịp đỡ tay và giữ ông ngồi yên trên ghế.
Decker nhìn sang Jamison. “Lấy nước nhé?”
Cô nhảy bật dậy và vội vã đi sang phòng bên cạnh. Chưa đầy một phút sau, cô quay trở lại cùng một li nước. Decker đưa nó cho Rabinowitz, và ông uống một chút trước rồi cẩn thận đặt nó lên cái bàn ở bên cạnh.
“Tôi rất xin lỗi,” Decker nói. “Đáng lẽ tôi không nên báo tin cho ông một cách quá đột ngột như thế. Đôi khi… đôi khi chỉ là tôi không nhận ra….”
Rabinowitz dùng bàn tay đang run rẩy chùi mép rồi đặt tay trở lại trên ghế. “Các công tắc thần kinh của cậu bị đặt ở chế độ không như mong muốn mà Amos, nói đơn giản là thế. Ta biết cậu gặp khó khăn đối với một số quy tắc giao tiếp và chuẩn mực xã hội nhất định, giống như rất nhiều những người khác từng bước chân qua cánh cửa của bọn ta. Ai bị như cậu cũng đều gặp phải vấn đề này hết. Một số phần trong não bộ trở nên phi thường trong việc thực hiện chức năng của chúng, trong khi những phần khác, ừm, những phần khác lại bị thoái hóa đi đôi chút, chí ít là xét về phương diện kĩ năng xã hội. Tất cả chỉ xoay quanh vấn đề não bộ ưu tiên cái nào mà thôi.”
“Đó là lí do mà tôi có mặt ở đây. Những người từng bước chân qua cánh cửa của các ông. Một trong số họ có thể là kẻ sát nhân mà chúng tôi cần tìm.”
Rabinowitz lắc đầu, lông mày của ông nhướn lên trong đau đớn. “Ta cảm thấy điều đó thật vô cùng… tồi tệ. Và khó có thể xảy ra.”
“Đó là những người với trí óc bị tổn thương mà, bác sĩ Rabinowitz.”
“Ta nghĩ bây giờ cậu có thể gọi tôi là Harold được rồi, Amos à. Chúng ta không còn phải là quan hệ bác sĩ - bệnh nhân nữa rồi.”
“Được rồi, Harold. Những người với trí óc bị tổn thương, thậm chí trở nên khác thường theo cách nào đó, có thể làm được rất nhiều thứ. Cả điều tốt lẫn điều xấu.”
“Nhưng chắc chắn cậu sẽ ghi nhớ tương đối rõ ràng những người mà cậu từng gặp ở viện. Cậu có thấy ai trong số đó có thể là một kẻ sát nhân nhẫn tâm không?”
“Thành thực mà nói thì không. Và tôi không thể nhớ được đã từng ‘gây bất mãn’ cho bất kì ai trong số họ. Tôi không thể nhớ đã từng xúc phạm bất kì ai khi tôi còn ở đó.”
“Nhưng cậu nói là kẻ… kẻ chịu trách nhiệm cho những hành động khủng khiếp này cho cậu địa chỉ của viện à?”
“Địa chỉ cũ, trên đại lộ Duckton. Hắn dùng mật mã, nhưng ý của hắn thì chắc chắn là thế.”
Rabinowitz xoa miệng. “Ta không biết có thể cho cậu biết thêm gì nữa.”
Jamison lên tiếng. “Anh đã tập trung vào các bệnh nhận đã từng ở đó với anh. Nhưng còn các bác sĩ, chuyên gia tâm lí hoặc nhân viên y tế khác mà anh từng gặp hồi còn ở đó thì sao?”
Decker chầm chậm gật đầu. “Tôi chưa nghĩ tới việc đó.”
Rabinowitz nói bằng giọng khẳng định. “Ta không thể tin bất kì ai từng làm việc ở viện có thể gây ra những hành động ghê tởm đến thế.”
“Cháu cũng không muốn nghĩ như thế đâu ạ,” Jamison vội vàng nói. “Nhưng trong một cuộc điều tra như thế này, thực sự không thể bỏ qua bất kì một khả năng nào. Như thế sẽ là thiếu trách nhiệm ạ”
Decker nói, “Chris Sizemore.”
Jamison nói, “Ai cơ?”
Rabinowitz nói, “Đó là một chuyên gia tâm lý làm việc ở viện. Ta nghe nói cậu ta rời khỏi viện cách đây vài năm.”
“Sao anh lại nhắc tới anh ta hả Decker?” Jamison hỏi.
“Bởi vì anh ta và tôi không hòa thuận cho lắm. Chúng tôi có lời qua tiếng lại vài lần. Nhưng chẳng có điều gì đến mức khiến tôi tin rằng anh ta là kẻ chúng ta đang tìm. Nhưng đúng là chúng tôi không hòa thuận.”
“Có thể nào hai mươi năm sau anh ta đã trở thành Leopold không?” cô hỏi.
Decker nhắm mắt lại và tua về những khung hình phù hợp trong đầu. “Chiều cao và hình dáng tầm đó. Các nét trên gương mặt tương đồng. Nhưng rất khó để xác định tuổi của Leopold. Sizemore bây giờ sẽ vào khoảng ngoài năm mươi. Tóm lại, dù nghi ngờ, tôi không thể khẳng định Sizemore và Leopold không phải là cùng một người. Hình xăm trên tay của hắn ta có thể sau này mới có. Có thể hắn đã nói dối về việc từng ở Hải quân. Giọng của hắn có thể đã thay đổi theo năm tháng. Rất nhiều điều ở hắn có thể đã thay đổi sau hai thập kỉ. Nhưng cảnh sát đã lấy dấu vân tah và mẫu DNA của hắn khi hắn bị bắt. Khả năng là dấu vân tay của Sizemore có lưu sẵn trong cơ sở dữ liệu nghề nghiệp nào đó. Nếu hai dấu vân tay đó là một và giống nhau, nó sẽ cho ta kết quả khá là nhanh.”
Anh có lưu ảnh của Leopold trong điện thoại, nhưng tất nhiên anh không thể cho Rabinowitz xem để biết liệu đó có thể là Sizemore hay không.
Anh nhìn Rabinowitz. “Ông có biết đã có chuyện gì với Sizemore không? Tại sao anh ta lại rời viện?”
Ông già đang bồn chồn gõ gõ ngón tay lên đùi. “Như ta đã nói, ta đã nghỉ rất lâu trước khi cậu ta rời đi.”
“Nhưng ông cũng nói là có giữ liên lạc với các đồng nghiệp cũ mà.”
“Phải, ừm, cậu ta có một số vấn đề về chuyên môn.”
“Như thế nào cơ?”
“Thực tình là ta không thể kể lại toàn bộ mọi sự. Nhưng ta có thể cho cậu biết là vấn đề nghiêm trọng đến mức cậu ta bị yêu cầu thôi việc.”
Jamison nói, “Anh có vấn đề gì với anh ta thế, Decker?”
“Anh ta có bệnh nhân mà anh ta ưu ái, và tôi không nằm trong số đó.”
Rabinowitz nói, “Đúng là Chris có bệnh nhân mà cậu ta yêu thích. Ta muốn nghĩ là ta đối xử với tất cả các bệnh nhân của bọn ta với thái độ lịch thiệp, tôn trọng và chăm sóc kĩ càng như nhau. Nhưng ta cũng là con người, và tất nhiên có một số ca bệnh khiến ta cảm thấy hứng thú hơn so với những ca khác. Chẳng có nhiều ca chịu chấn thương vật lí não mà bệnh nhân đã thực sự chết đi sống lại rồi sau đó cho ra kiểu định hình nhận thức giống như cậu đâu, Amos ạ.” Rabinowitz dừng lại để mỉm cười. “Và ta đã là người hâm mộ của đội Bears hơn sáu mươi năm rồi, và mặc dù cậu chơi cho Cleverland, cậu là cầu thủ NFL duy nhất từng bước qua cửa của bọn ta. Giờ khi cậu nhắc lại, đúng, ta nhớ Chris có vấn đề với cậu. Nhưng ta không rõ là nó xuất phát từ việc cậu ta thực tình không ưa cậu hay là do tác động của các vấn đề cá nhân mà sau này dẫn đến chuyện cậu ta phải rời viện nữa. Nhưng có vẻ cậu ta nghĩ rằng có cậu thì bọn ta quên mất những ưu tiên khác.”
“Tôi không hiểu,” Jamison nói. “Anh ta căn cứ vào đâu mà nghĩ thế?”
Decker trả lời, “Sizemore nghĩ rằng là một cầu thủ bóng bầu dục, tôi đã chấp nhận rủi ro là não của mình bị tổn thương. Tôi đoán anh ta nghĩ rằng tôi đang chiếm dụng chỗ của một ai đó xứng đáng hơn.”
Rabinowitz nói, “Ồ, chuyện đó ta không hay biết đấy.”
“Đó là bởi vì tôi chưa từng kể cho ai nghe cả. Anh ta đã tiết lộ điều này trong một 'cuộc tâm sự’ giữa chúng tôi một ngày nọ ở hành lang.”
“Làm thế là anh ta rất thiếu chuyên nghiệp,” Rabinowitz nói bằng giọng nghiêm khắc.
“Có lẽ thế. Nhưng tôi cũng chưa bao giờ nghĩ đó có thể là động cơ thực hiện những gì đã xảy ra ở trường Mansfield.”
Jamison nói, “Và câu hỏi lớn nhất là: bác sĩ Sizemore hiện giờ đang ở đâu?”
Rabinowitz nói, “Ta không biết. Ta không nghe tin tức gì về anh ta từ lúc ta rời viện.”
“Có thể anh ta đã chuyển sang khu vực Burlington chăng?” Jamison nêu ý kiến.
Decker nói, “Nếu anh ta vẫn theo nghề, chắc chắn anh ta phải nằm trong một cơ sở dữ liệu nào đó để được cấp phép. Chúng ta nên bắt đầu từ đó.”
“Ta có thể gọi cho viện và lấy bất cứ thông tin nào có thể,” Rabinowitz đề nghị. “Do việc này không liên quan đến bệnh nhân, ta nghĩ họ sẽ sẵn lòng thôi. Một số người có thể biết hiện tại Chris đang ở đậ.”
Decker cho ông bác sĩ địa chỉ liên hệ của họ.
“Chúng tôi sẽ ở lại trong thành phố vài ngày,” Decker đứng dậy và nói, “Cảm ơn ông, Harold, ông đã giúp cho chúng tôi rất nhiều.”
Rabinowitz cũng đứng dậy. “Ta cầu Chúa rằng Chris không phải là người các anh tìm, nhưng nếu đúng là cậu ta, ta càng cầu mong các cậu có thể bắt được cậu ta và ngăn chặn cậu ta gây hại thêm cho bất cứ ai khác nữa.”
“Vậy thì hãy cùng hi vọng Chúa đang lắng nghe,” Decker nói.
“Vậy là cậu nghĩ rằng thủ phạm có thể sẽ tiếp tục giết người sao?” Rabinowitz nói.
“Tôi biết hắn sẽ cố.”
CHƯƠNG 43
Sau khi rời khỏi nhà Rabinowitz, Jamison và Decker đậu xe lại để kiếm đồ ăn trưa. Trong lúc ngồi tại quán cà phê, Decker gọi cho Lancaster và thông báo tình hình cho chị.
Chị nói, “Được rồi, chúng tôi sẽ truy tìm dấu vết của gã Sizemore này nếu có thể. Và nếu dấu vân tay của hắn được lưu trực tuyến ở đâu đó, chúng tôi sẽ xin trát để lấy và đối chiếu với mẫu của Leopold. Ngay khi tìm được gì, tôi sẽ gọi cho anh.” Chị dừng lại. “Vậy là, quay lại nơi xưa chốn cũ nhỉ. Tôi không hề biết anh từng ở lại cái viện nghiên cứu đó đấy.”
“Không một ai biết, ngoại trừ Cassie.”
“Chúng ta là cộng sự suốt một thời gian dài, Amos ạ.”
“Tôi chưa từng nghĩ cô sẽ quan tâm đến quá khứ của tôi, Mary ạ.”
“Ồ, vậy thì việc này cho thấy kể cả những người có bộ óc vĩ đại vẫn mắc sai lầm,” chị nói cộc lốc, rõ ràng là cảm thấy khó chịu và thất vọng.
Chị ngắt máy và Decker đặt điện thoại xuống bên cạnh dĩa thức ăn bao gồm một chiếc bánh burger phô mai đã ăn hết một nửa và một ụ nhỏ khoai tây chiên.
“Mọi chuyện ổn chứ?” Jamison hỏi.
“Ổn,” Decker nói trong lúc cầm một miếng khoai lên.
Jamison nói, “Nếu Sizemore đúng là Leopold, hắn chắc hẳn phải là một thằng bệnh hoạn.”
“Nếu hắn sát hại mười ba người thì hắn đúng là một thằng bệnh hoạn.”
“Ý tôi không phải như thế.”
“Vậy giải thích đi.”
Cô gạt dĩa đồ ăn sang bên và ngả nười ra trước. “Điều khiến hắn ‘bất mãn’ là anh nhận được nhiều sự chú ý hơn một số bệnh nhân hắn ưu ái à? Giống như kiểu đó là một cuộc thi sắc đẹp của những bộ não sao? Thật à? Vậy là để trả đũa hắn sát hại tất cả những người đó sao?”
“Nói lại cho đúng này, nếu hắn thực sự là Leopold, hắn không giết ai cả. Ừm, chúng ta chưa biết là kẻ nào sát hại đặc vụ Lafferty. Nhưng Leopold đang ngồi trong trại giam khi gia đình tôi bị sát hại và cả vào lúc vụ nổ súng ở trường Mansfield xảy ra. Hắn có bằng chứng ngoại phạm rất chắc chắn. Và dường như cả hai lần bị tống giam đó đều là có tính toán.”
“Nghĩa là hắn biết trước gia đình của anh sẽ bị sát hại và kẻ nổ súng sẽ tấn công trường Mansfield?”
“Thời điểm hắn đến tự thú với cảnh sát Burlington hơi quá trùng hợp 1 chút. Và tôi đã kiểm tra hồ sơ bắt giữ ở Cranston. Gây rối trật tự. Hắn chỉ ở lại trong trại giam có một đêm và chỉ có thế. Họ thậm chí còn không buồn truy tố hắn. Họ cứ thế mà thả hắn đi vào sáng hôm sau. Nhưng chỉ thế là đủ chứng minh quá rõ ràng hắn không thể gây ra vụ sát hại những người trong gia đình tôi.”
“Phải rồi, vậy là hắn hợp tác với một ai đó, gã gầy gò cao một mét tám ngụy trang thành thằng điên vai rộng, để thực hiện vụ thảm sát thật sư.”
“Vậy kẻ đó không thể nào là Sizemore.”
“Vậy là nếu Sizemore là kẻ mà anh gây bất mãn, hắn đã hợp tác với kẻ đóng giả làm ả bồi bàn ở quán bar. Tôi tự hỏi kẻ đó là ai mà có thể xuống tay không chút khó khăn như thế?”
“Tôi cũng rất muốn biết.”
“Thế nhưng, nếu Sizemore đứng sau chuyện này, làm thế nào để một thằng điên rồ như thế có thể trở thành một chuyên gia tâm lí nhỉ?”
“Ắt hẳn đầu óc hắn đột ngột trở nên bất thường. Có thể hắn là một kẻ rối loạn lưỡng cực và thuốc không còn tác dụng nữa. Leopold rõ ràng đã nói với luật sư hắn là một kẻ lưỡng cực và không dùng thuốc nữa, chí ít theo lời những gì mà luật sư chỉ định của hắn nói với tòa. Hoặc có thể là hắn đã gặp phải một loại chấn thương nào đó, hoặc là về thể chất hoặc về tinh thần, mà làm thay đổi hắn. Hắn có một cục bướu ở cổ và vết tiêm thuộc trên cánh tay. Có thể đã có rất nhiều thứ được bơm vào người hắn. Có thể có rất nhiều chuyện xảy đến với một người trong suốt hai mươi năm. Nếu đó là Sizemore, hắn quá mạo hiểm khi để tôi giáp mặt với hắn. Hắn biết bộ não của tôi như thế nào. Tôi không quên bất kì thứ gì. Nếu đó là hắn, đáng lí tôi đã nhận ra hắn.”
“Nhưng anh không nhận ra. Thế nên có thể đó không phải là hắn.”
“Có thể.”
“Dù sao mọi chuyện vẫn thật đáng sợ.”
“Tất nhiên là đáng sợ rồi. Bởi vì bất kì ai trong chúng ta cũng có thể bị trở nên như thế.”
“Hoặc có thể hắn chỉ đơn thuần là một kẻ vốn tàn bạo như thế.”
“Có thể lắm,” Decker đồng tình. “Vậy đã làm cô thấy đỡ sợ hơn chưa?”
Cô rùng mình. “Tôi không nghĩ có chi tiết nào trong vụ án có thể khiến tôi đỡ hơn.”
Điện thoại của Decker rung. Anh bắt máy.
Rabinowitz nói, “Amos, ta không biết đây là tin tốt hay tin xấu nữa, nhưng viện đã chuyển tiếp các thư công việc tới Chris từ lúc cậu ta chuyển đi. Thời gian cũng đã lâu rồi nên việc chuyển thư cũng không còn nhiều, nhưng họ có địa chỉ.”
Decker ghi lại địa chỉ, cảm ơn Rabinowitz, và sau đó ngước nhìn địa chỉ trên điện thoại của mình.
Anh nói, “Nó nằm giữa Chicago và Burlington. Chúng ta đã đi qua nó trên đường tới đây.”
“Nghĩa là nếu hắn sống ở đó, hắn có thể tới Burlington và quay về tương đối dễ dàng.”
“Đi thôi.”
“Decker, chẳng phải chúng ta nên báo cảnh sát việc này sao?”
“Việc gì? Chúng ta đâu có bằng chứng hắn đã làm gì sai trái. Không có một chút tí ti nào. Chúng ta sẽ tìm hiểu xem sao. Nếu chúng ta đúng, sẽ gọi cảnh sát tham gia.”
Anh nhanh nhẹn bước ra cửa quán cà phê, và cô chạy theo, chậm rãi hơn.
Bốn giờ sau, họ dừng xe trên con đường cao tốc và dành thêm hai mươi phút nữa trên các con phố trước khi Decker, bằng GPS trên điện thoại, chỉ đường cho Jamison đi tới một khu dân cư xập xệ đã có từ vài chục năm trước.
“Cuộc sống của gã này có vẻ đang gặp khó khắn,” Jamison nhận xét.
Decker không nói gì, nhưng ánh mắt của anh thì đang đảo đều đều nhìn xung quanh, quan sát tất cả mọi thứ.
“Kia rồi, căn thứ ba bên trái có cửa chớp màu đen ấy. Cho xe đi qua đó đi.
Jamison đánh xe đi tiếp, và sau đó Decker bảo cô đậu xe ở vỉa hè bên phía đường đối diện, cách căn nhà của Sizemore khoảng sáu bảy căn nhà.
“Decker, Rabinowitz đã nói rằng Sizemore đã rời viện vài năm.”
“Đúng thế.”
“Tôi vừa mới nghĩ ra điều này. Hắn thực sự có thể nào là Leopold không? Ý tôi là, tên Leopold thực sự trông quá là vô gia cư và mất trí. Có thể nào Sizemore suy sụp nhanh tới mức đó không?”
“Có,” Decker nói. “Có tôi đây. Và chẳng hề cần đến vài năm.”
Cô há hốc miệng nhìn anh vài giây rồi chầm chậm quay đi trước khi nói, “À, được rồi.”
Decker nhích người ra khỏi phía sau chiếc xe và bước ra ngoài. Khi Jamison chuẩn bị làm giống thế, anh thò đầu trở vào tronv và nói, “Cô ở nguyên trong xe đi.”
“Gì chứ!”
“Nếu có gì bất trắc, đánh xe đi và báo cảnh sát.”
“Decker, tôi sẽ không để anh - ”
“Có, cô sẽ làm thế.” Anh đóng cửa xe và bước về phía căn nhà.
Anh đi dọc theo vỉa hè, hai tay đút trong túi quần, đầu cúi xuống, coa vẻ như đang cố tránh cơn gió buốt đang thổi mạnh.
Nhưng anh vẫn hướng ánh mắt sang bên phải, quan sát căn nhà theo bước đi. Trời đã tối dần, nhưng trong nhà không thấy có ánh đèn. Không thấy ô tô đậu trên đường dẫn vào nhà Sizemore, nếu hắn vẫn còn sống ở đó, thì có thể lúc này không có ở nhà. Có thể hắn đang ở Burlington, lên kế hoạch cho vụ giết người tiếp theo.
Anh thực sự đã nghĩ không lí nào Sizsmore và Leopold lại là cùng một người. Mặc dù đã hai mươi năm, và con người có thể thay đổi, Decker cảm thấy đáng lẽ anh sẽ nhận ra người đó, mặc dù ở viện anh không tiếp xúc nhiều với Sizemore đến thế. Nhưng nói chung, sẽ không thể chắc chắn nếu không tìm hiểu sâu hơn. Và ngay lúc này, đây là manh mối khả dĩ duy nhất mà anh có.
Anh đi sang đường, bước qua giữa hai chiếc e ô tô đang đậu, một trong số đó đậu chờm lên lề lát gạch xi măng, rồi đi dọc trên cái vỉa hè đã bong tróc đó. Anh đi vượt qua ngôi nhà, đi vòng quanh cả khu, rẽ vào một con ngõ, và cuối cùng đến được bên ngoài sân sau của căn nhà. Anh trèo qua cái hàng rào mắt cáo đã võng xuống và áp sát căn nhà từ phía sau. Từ phía này cũng không nhìn thấy ánh điện.
Anh khép nép lén áp sát cửa hậu của ngôi nhà, một tay đã thò vào trong người, đặt lên báng của khẩu súng, và chờ đợi, chăm chú lắng nghe. Không thấy có tiếng bước chân. Không có bất cứ một âm thanh nào cả.
Anh nhìn sang trái và sang phải. Anh không nhìn thấy ai ở sân sau của các căn nhà ở cả hai phía. Buổi tối hôm nay quá lạnh nên không ai ngồi lại bên ngoài.
Anh húc khuỷu tay vào cửa kính, thò tay vào trong, mở khóa cửa và đi vào nhà.
Lúc này anh đang ở trong một cái sảnh nhỏ. Bên tay trái của anh là một cái máy giặt cùng máy sấy. Đi lên vài bậc cầu thang ngắn là bếp. Mùi của đồ chiên vẫn đang ngập trong bầu không khí, cùng với mùi hôi rình, cũ mốc của khói thuốc lá. Anh còn nhớ Sizemore lầ một kẻ nghiện thuốc. Anh đã từng nhìn thấy y nghỉ tay hút thuốc, cầm cả một bao nguyên trong tay, và có vẻ như y chưa từng bỏ được thói quen đó. Nhưng Decker đã ngồi trong quán bar cùng với Leopold, và hắn không hề đốt thuốc. Nếu là một kẻ nghiện thuốc, ai cũng sẽ đốt thuốc trong quán bar nếu có thể, và ở Burlington, việc làm đó là hợp pháp1. Và Decker không hề ngửi thấy mùi khói thuốc trên quần áo của Leopold. Có mùi là anh sẽ ngửi thấy ngay. Manh mối này đang dần bắt đầu đi chệch hướng, nhưng dù thế anh vẫn phải theo đuổi đến cùng.
1.Một số bang ở Mỹ cấm hút thuốc trong các quán bar, nhà hàng, nơi công cộng… các không gian khép kín nói chung.
Anh bước lên cầu thang và nhìn xung quanh căn bếp nhỏ. Có một số chén dĩa trong bồn rửa. Một tờ báo trong sọt rác. Anh kiểm tra ngày phát hành. Từ hai tuần trước. Mọi thứ trông ngày một khó hiểu.
Anh rời khỏi căn bếp và đi kiểm tra từng phòng ở tầng chính. Không một dấu hiệu nào cho thấy nơi này gần đây từng có nười ghé qua. Anh bước lên một hàng cầu thang ngắn để lên tầng trên.
Rồi sau đó, khi đã dần mất bình tĩnh, anh phóng nhanh về trước, đá mở các cánh cửa trên đường đi. Anh kiểm tra hết căn phòng thứ nhất, căn phòng thứ hai, và sau đó đi tới căn phòng thứ ba và căn phòng cuối cùng.
Anh đẩy mở cửa, và bắt đầu hít những hơi thật sâu, không phải vì anh muốn thế, mà bởi vì đó là cách duy nhất để làm cho khứu giác của anh mất đi cảm giác.
Anh tiến tới chỗ cái giường và cúi đầu nhìn xuống.
Anh không dám chắc thi thể đang nằm trên giường là ai, bởi vì nó đã bị phân hủy quá nghiêm trọng. Chiều cao thì có vẻ tương ứng. Nhưng gương mặt đã bị rã nát quá mức. Xét mức độ phân hủy, trông có vẻ như thi thể này đã ở đây được một thi gian tương đối lâu.
Thi thể đã chiếm trọn sự chú ý của anh. Anh đã không đưa mắt nhìn thêm bất kì một chỗ nào khác.
Giờ thì anh mới bắt đầu nhìn. Ánh mắt của anh quét quanh căn phòng và sau đó bị giữ lại ở một chỗ.
Anh bước tới bức tường đó và câm lặng nhìn chằm chằm vào dòng chữ viết trên đó.
Lại sai lầm nữa rồi. Nếu giờ này hắn đã rửa nát, anh đã mất quá nhiều thời gian. Cố gắng lên đi. Có lẽ anh sẽ tới được đó. Hoặc cũng có thể là không. Yêu anh nhiều, người anh em.
CHƯƠNG 44
Đặc vụ Bogart nói, “Đó là Chris Sizemore. Họ vừa mới xác nhận từ mẫu vân tay và dấu răng.”
Decker đã gọi điện cho cảnh sát và sau đó là vị đặc vụ FBI. Những người chấp pháp đã ào đến căn nhà nhỏ đổ nát như một cơn dông đá.
Họ đang ở trong căn nhà của Sizemore. Mừng thay, di cốt của người đàn ông đã được chuyển đi từ lâu.
Alexandra Jamison đang ngồi trong xe cùng vỡi yêu cầu nghiêm khắc là không được phép viết, dù chỉ một từ về chuyện này.
Decker gật đầu. “Tất nhiên người đó là Chris rồi.”
“Tại sao?”
Decker chỉ tay lên dòng chữ trên bức tường. “Vì cái đó.”
Bogart đứng bên cạnh anh. “Giải thích dùm cho.”
“Chúng nói tôi lại sai lầm nữa rồi. Đây là nhà của Sizemore. Tôi chỉ đến đây bởi vì tôi nghĩ anh ta có liên quan. Nhưng anh ta không hề. Anh ta chỉ là một nạn nhân nữa mà thôi.”
“Vậy là chúng đang chơi anh. Từng bước đều dắt mũi anh.”
Decker gật đầu? “Làm như chúng thông minh hơn tôi, và có khi đúng là như thế thật.”
“Ừm, vậy thì hãy cùng cầu trời khấn phật là chúng đã lầm.”
“Chúng vẫn luôn đi trước một bước suốt từ đó đến nay. ‘Nếu giờ này hắn đã rửa nát’? Anh ta đã phân hủy tương đối nhiều khi tôi phát hiện ra.”
“Ừm, chúng đã có một khoảng thời gian dài để lên kế hoạch cho việc này. Có thề anh sẽ đuổi kịp chúng. Rùa và thỏ. Và anh còn có FBI sau lưng nữa. Anh không cần phải giải quyết mọi việc một mình.”
Họ đi ra ngoài; lúc này đã là đầu buổi sáng.
“Số 711 Duckton,” Bogart nói. “Nơi xưa chốn cũ, theo lời anh nói.”
“Phải.”
“Vậy nếu không phải Sizemore là người có thù hằn với anh tại đó, thế có thể là ai?”
“Các bác sĩ khác và những người làm việc ở viện không có vấn đề gì với tôi mà tôi có thể nhớ được.”
Bogart ngồi xuống bậc cửa bằng bê tông và thở dài. “Được rồi. Còn ai khác nữa không? Bởi vì chắc chắn phải có gì đó chứ. Nếu không, tại sao lại dẫn anh tới nơi này? Còn cách nào khác để hắn biết chuyện này nếu hắn không phải là một bệnh nhân hoặc nhân viên ở đó?”
Decker ngồi xuống bên cạnh anh ta. “Không chỉ đơn thuần là hắn có mặt ở đó. Phải có một điều gì đó mà tôi đã làm, hoặc hắn cho rằng là tôi đã làm, khiến hắn thực hiện những việc như thế này.”
“Đối với một tâm trí không bình thường, gần như bất kì thứ gì cũng có thể bị hiểu là một sự khinh thường. Decker ạ. Anh bước qua cửa trước hắn. Anh hắt hơi vào mặt hắn. Anh trả lời một câu hỏi mà hắn muốn trả lời. Làm quái có ai biết được cơ chứ?”
“Tôi phải biết. Tôi là người duy nhất có thể biết.”
“Ừm, anh không bao giờ quên điều gì cả, thế nên tôi đành phải tin cậy là rồi anh sẽ nhớ ra thôi.”
“Vấn đề là ở đó. Nếu tôi nhớ không ra, thế tức là không có gì để nhớ cả.” Decker gõ gõ tay vào bên cạnh đầu. “Tôi không có chợt nhớ ra gì cả, tôi phải lục lọi trong tâm trí mình và tự nhớ ra chúng. Khác biệt là chỗ ấy.”
Bogart đứng dậy và cúi đầu nhìn anh. “Có lẽ đúng là có sự khác biệt thật, sau khi đã nghe anh giải thích.” Anh ta đút hai tay vào túi quần. “Ừm, bác sĩ pháp y ước lượng Sizemore đã thiệt mạng được khoảng hai tuần. Vậy là không xác định được vị trí của Leopold và ‘người bạn’ của hắn rồi. Chúng tôi sẽ đi hỏi thăm trong khu dân cư, để xem có phát hiện được gì không.”
“Tôi ngờ là sẽ không phát hiện ra gì đâu. Tôi lẻn vào sân sau khi mà trời vẫn còn nhập nhoạng và đột nhập vào trong. Tôi to con như vậy, thế mà dường như không ai thấy tôi cả.”
“Ừ, nhưng chúng tôi vẫn sẽ tiến hành thôi.”
“Sizemore có đi làm không?”
“Chúng tôi đang tìm hiểu đây. Nếu có, đáng lẽ phải có ai đó thông báo anh ta mất tích khi không thấy mặt mũi đâu chứ?”
“Có một số công việc không yêu cầu anh phải có mặt ở chỗ làm mà.”
“Chúng tôi sẽ báo cho anh biết chúng tôi tìm hiểu được gì.”
Bogart để anh ở lại và Decker đứng dậy rồi đi về phía xe của Jamison và bước vào trong.
Cô nhìn anh với anh mắt buồn ngủ từ ghế lái ở phía trước.
“Đáng lẽ cô nên lái xe về nhà nghỉ đi,” anh nói. “Tôi có thể đi nhờ một trong số mấy người của Bogart được mà.”
Cô lắc đầu và nói, “Không, dù sao thì tôi cũng chẳng thể ngủ nổi. Vậy đó là Sizemore sao?”
“Phải. Chết từ khoảng hai tuần trước.”
“Lúc nãy từ trong nhà đi ra, anh nói lời nhắn trên tường lại là một lời khiêu khích nữa à?”
“Rằng tôi đã sai lầm nhưng hãy tiếp tục cố gắng đi. Hắn cũng ám chỉ rằng có thể tôi không thông minh như mình tưởng. Và hắn lại gọi tôi là ‘người anh em’ lần nữa.”
“Hắn thực sự đang chơi trò đấu trí với anh.”
“Có vẻ là thế.”
Cô vươn vai và ngáp. “Rồi giờ sao?”
“Chúng ta về ngủ một chút. Cả hai chúng ta cùng suy nghĩ. Biết đâu lại nảy ra vài ý tưởng gì đó.”
“Anh thực sự nghĩ chuyện đó sẽ xảy ra à?”
“Không.”
Anh nghĩ, Bởi vì mọi chuyện không nảy đến với mình. Mọi thứ luôn ở sẵn trong đầu mình rồi. Nếu không nảy ra được gì cả thì do chúng không có ở trong đó.
CHƯƠNG 45
Họ rời đi vào ngày hôm sau và bắt đầu chuyến lái xe đường dài quay trở về Burlington. Decker gần như không nói gì, và mọi câu hỏi mà Jamison dành cho anh phần lớn đều bị ngó lơ. Cuối cùng cô từ bỏ và mở đài phát thanh. Họ dừng lại dùng bữa ở một quán ăn cho dân lái xe tải khi xuống khỏi đường cao tốc. Giữa một biển xe khổng lồ, Jamison đậu chiếc xe cỏn con của mình vào một chỗ còn trống và họ xuống xe.
Decker đang di chuyển trong tư thế người cứng đờ. Cô để ý thấy.
“Xin lỗi, ghế chật quá,” cô nói.
Anh day cổ, vươn thẳng lưng cho tới khi nghe thấy một tiếng rắc nhỏ, và nói, “Tôi đói rồi.”
Quán ăn này đông nghịt khách, và họ được dẫn tới chỗ một cái bàn ở phía sau góc, bên cạnh khu đặt bàn bida. Tại đây các tài xế xe tải đánh bi và đặt cược kết quả. Bên cạnh đó là một cửa hàng quà tặng, tại đây các món đồ phổ biến nhất dường như là đồ lót và đồ chơi người lớn dành tặng cho các phu nhân hoặc bạn gái ở nhà.
Họ gọi món, và Decker xúc đường bỏ vào tách cà phê của mình trong khi mắt nhìn chằm chằm vào mặt bàn đá.
Một bài hát của Bonnie Raitt vang nhè nhẹ khắp phòng từ một cái hộp chơi nhạc.
Jamison nhìn các hoạt động diễn ra ở xung quanh, bao gồm một người đàn ông đội nón kiểu cao bồi đương cưỡi trên lưng con ngựa điện, và ở yên trên đó được vài giây trước khi bị hất xuống, tạo trò vui cho bạn bè của mình.
Decker gãi gãi vàl bộ rậ rồi đưa mắt nhìn cô.
“Cô cần bắt máy bay và đi xa khỏi tôi nhất có thể. Cô hiểu điều đó chứ?”
“Tôi tưởng chúng ta đã từng thảo luận chuyện này và thống nhất rồi. Andy Jackson là - ”
“Anh ấy là bạn và là thầy hướng dẫn của cô. Và vì là bạn và là thầy của cô, anh ấy sẽ không muốn cô bị sát hại.”
“Tôi mang bình sịt hơi cay và - ”
“Có thể ngay lúc này chúng đang ở đây, cô biết chứ. Quan sát chúng ta. Quan sát cô.”
“Anh chỉ đang cố dọa cho tôi sợ.”
“Tôi không cần phải dọa cô, Jamison ạ. Cô là một người thông minh, nghĩa là cô đã đang biết sợ rồi.”
Đồ ăn tới, và họ dùng bữa trong im lặn, cả hai dường như đều đang cố tránh ánh mắt của người còn lại. Khi hóa được được mang tới, Decker trả tiền.
“Anh không nợ tôi gì cả,” cô nói.
“Tôi ăn nhiều hơn cô rất nhiều. Chia tiền là không công bằng.”
Họ cùng trở ra xe. Decker thận trọng quan sát xung quanh, dù vờ như đang không làm vậy.
☆☆☆
“Anh muốn tôi thả anh ở đâu?” Jamison hỏi khi họ lái xe đi dọc các con phố sau khi đã về tới Burlington. “Nhà trọ của anh, trường học, hay sở cảnh sát? Kiếp sau?”
“Cô sẽ lên máy bay chứ?”
Cô quay đầu lại nhìn anh. “Tôi không biết nữa,” cô nói nhỏ.
“Tôi nghe nói Florida thời điểm này ổn lắm. Hoặc có thề là Miami?”
“Tôi không thích trốn tránh khỏi rắc rối.”
“Đây không phải là rắc rối. Chuyện còn hơn cả vậy. Là về chuyện bảo toàn tính mạng.”
“Thế còn anh thì sao? Anh sẽ ở lại, đúng không? Anh sẽ không nhảy lên máy bay và đào tẩu đâu nhỉ?”
“Tôi sẽ ở lại. Và cô có thể thả tôi ở nhà trọ.” Là tất cả những gì Decker nói.
Cô làm theo. Khi bước xuống khỏi xe, Decker nói. “Đi hoặc ở. Dù thế nào, hãy báo cho tôi biết, được chứ?”
Cô gật đầu và sau đó lái xe rời đi.
Decker đi vào phòng, tắm rửa, ngủ một chút, rồi sau đó đi trở ra, bắt chuyến xe bus tới trường Mansfield ở đầu kia thành phố.
Anh xuống xe ở một góc phố, ngước mắt nhìn mặt tiền đã phai màu của ngôi trường cấp ba, rồi bước vào trong.
Lancaster gặp anh trong thư viện. Trông chị gầy gò và xanh xao hơn, và tay trái của chị run lên bần bật, khiến chị phải đút nó vào trong túi quần. Họ ngồi phía cuối thư viện và anh kể cho chị nghe các sự kiện đã diễn ra trong hai ngày qua.
“Vậy anh có nghĩ Jamison sẽ nghe theo lời khuyên của anh không?” chị hỏi.
Anh nhún vai. “Tôi hi vọng là có. Tôi không ép cô ấy rời đi được.”
“Ừm, Chris Sizemore cũng không ở trong thành phố, và trông kết cục của anh ta kìa.”
“Chúng không thể truy sát tất cả mọi người đâu, Mary ạ. Đây không phải là một tổ chức bí mật với nguồn lực vô hạn. Chỉ có hai người thôi. Tài giỏi và có phương pháp, nhưng chỉ có hai người.”
“Đây không phải là một thông tin chính xác. Đó là suy đoán từ phía anh. Giống như suy đoán của tôi về 7-Eleven ấy.”
Anh ngẫm nghĩ một lát rồi gật đầu. “Thực sự ra, cô nói đúng. Ở đây có tìm ra được gì không?”
Chị lắc đầu. “Quân đội đãi bôi được năm câu là sẽ ủng hộ. Khả năng là cũng chả cung cấp thêm được gì nhiều đâu. Pháp chứng cũng đang đi vào ngõ cụt. Chúng ta biết kẻ nổ súng đi vào, di chuyển xung quanh và rời đi như thế nào, nhưng phát hiện đó cũng không giúp chúng ta đính hướng nên làm gì tiếp theo, Amos ạ.”
“Điểm duy nhất chứng minh được là mối liên hệ đối với tôi. Nó đã dẫn tôi đến Chicago và tìm đến viện nghiên cứu. Manh mối đó được xác nhận bằng việc Chris Sizemore bị sát hại. Cách duy nhất chúng có thể biết được về anh ta, và về nỗi bất bình mà anh ta dành cho tôi, đó là hoặc chúng từng ở đó, hoặc biết về những gì diễn ra ở đó hai mươi năm trước.”
“Và anh không nhớ lại được gì có thể giúp ích cho chúng ta à? Trong số tất cả những người đến và đi ở nơi đó hồi anh vẫn còn ở đấy?”
Decker ngả người ra sau ghế, và nhìn xung quanh vào các điều tra viên ngồi ở các vị trí khác nhau miệt mài nghiên cứu các chi tiết vụ án. Nhưng anh có thể nhìn thấy trong ánh mắt và cử chỉ của họ nguồn năng lượng đã sắp cạn kiệt, một nỗi phiền muộn bao trùm họ. Anh đã từng chứng kiến các vụ án đi vào bế tắt như thế này. Dần dà họ tin rằng họ sẽ không tìm được lời giải cho vụ án. Rằng họ sẽ không thể tóm được kẻ đã gây ra việc này. Nó đang hút kiệt sinh lực của tất cả mọi người.
Anh lại đưa mắt nhìn về phía Lancaster. “Mối liên hệ duy nhất ngay lúc này là Leopold, nhưng tôi biết chắc chắn là hắn chưa từng ở viện. Khả năng khả thi duy nhất là hắn và Sizemore là cùng một người. Nhưng cho dù đó là giả định rất rất mong manh, thì giờ giả định đó cũng đã bị phản bác.”
“Ừm, chúng ta đã thấy rằng những kẻ này có thể đánh lạc hướng nhận định về vẻ ngoài. Chúng biến một con người bé nhỏ trở nên to lớn. Và chúng ta đã phát đi thông báo truy tìm Leopold khá lâu rồi, nhưng chẳng thu được gì. Gã này cứ như là đã tan biến.”
“Và cũng không có dấu vết gì của ả phục vụ ở quán bar à?”
“Không có gì. Có thể là nam hoặc nữ, theo lời người phục vụ quầy bar.”
“Lại là nhận định dựa trên vẻ ngoài. Một gã đàn ông đóng giả làm phụ nữ. Và hắn đã làm rất tốt. Tôi đã tin thật. Và hắn còn phục vụ bia cho tôi. Cách tôi vài phân mà tôi không hề nghi ngờ gì.”
“Anh có tin là ả phục vụ đó tham gia vào việc này không?”
“Người phục vụ quầy bar khai với FBI là ả biến mất khoảng năm phút trước khj Leopold rời đi, và chưa từng quay lại. Có thể là trùng hợp, nhưng tôi không nghĩ thế.”
“Được rồi, nhưng như thế thì nó vẫn không phải là thông tin chính xác. Hiện giờ thì chưa.” Chị lật tìm một ít giấy tờ. “Nhưng tôi có cái thông tin này đúng chính xác đây.”
Anh ngồi thẳng dây. “Cái gì?”
“Sáu học sinh và ba người lớn bị sát hại tại ngôi trường này. Năm trong số học sinh là nam.”
“Và Debbie Watson là nữ sinh duy nhất.”
“Nhưng cả năm nam sinh đều trong đội bóng bầu dục. Nói cho đúng thì chỉ có ba người là cầu thủ. Một người là quản lí của đội, và người còn lại mới bị đuổi khỏi đội gần đây do vi phạm gì đó.”
Decker ngồi thẳng người hơn nữa. “Beth Watson có nói rằng Jimmy Schikel chơi trong đội. Nhưng tôi không liên hệ những người khác cũng có mặt trong đội. Bởi vì danh sách nạn nhân còn có Debbie và những người lớn khác.”
“Và Joe Krammer, mặc dù là giáo viên thể dục, song cũng là huấn luyện viên của đội bóng bầu dục.”
“Còn trợ lí hiệu trưởng thì sao?”
“Tôi không tìm được liên hệ gì giữa Barry Dresden với đội bóng. Anh ta không có con cái học ở trường, nghĩa là gia đình họ không thể có người trong đội bóng. Và rồi, còn Andy Jackson.”
“Nhưng anh ta bị sát hại do chạm mặt với kẻ nổ súng. Có thể là những người khác bị nhắm sẵn do có mối liên hệ với đội bóng bầu dục.”
“Nhưng Dresden không có mối liên hệ như thêz.”
“Nhưng còn tất cả các nạn nhân là nam sinh cộng thêm huấn luyện viên thì lại liên quan đến đội bóng? Không thể nào là trùng hợp đâu, Mary ạ. Không thể có chuyện đó được đâu. Có rất nhiều mục tiêu trong mỗi phòng học. Hắn phải biết hắn chuẩn bị nhắm bắn ai. Chờ chút, tất cả các nạn nhân đều cao lớn đúng không? Ngoại hình của họ trông giống vận động viên bóng bầu dục không?”
“Có hai người, những người khác thì kích thước trung bình. Thế nên tôi khá nghi ngờ việc hắn chọn họ chỉ vì ngoại hình của họ. Vào các ngày hứ Sáu họ sẽ mặc quần áo đấu trước trận bóng, nhưng vụ nổ súng không diễn ra vào ngày thứ sáu. Nhưng hắn có thể dễ dàng tìm ra ai nằm trong đội bóng. Và hắn có thể tìm được cả thời khóa biểu của họ nữa. Hoặc có thể là Debbie đã kể với hắn. Và nếu như vậy, có lẽ cô bé biết hắn đang lên kế hoạch làm gì.” Chị dừng lại. “Nhưng dù thế nào, tôi muốn anh biết tôi đã phát hiện được những gì.”
Anh nhìn chị với vẻ tán dương. “Làm tốt lắm, Mary ạ. Không ai nhận ra điều này, bao gồm cả tôi.”
Chị mỉm cười, vẻ mệt mỏi. “Ừm, tôi không quen với việc phát hiện được cái gì đó trước anh, thế nên cảm giác đúng là rất sướng. Nhưng, thế nghĩa là sao, Amos nhỉ?”
“Tôi từng chơi cho đội bóng bầu dục ở đây. Chúng lấy đi tất cả cúp của tôi. Một phần trong cuộc báo thù của chúng.” Anh lặng đi.
“Gì cơ?”
“Dresden, trợ lí hiệu trưởng, là bị chúng nhắm sẵn. Kẻ nổ súng đi vào văn phòng để sát hại anh ấy. Debbie và Jackson thì có thể giải thích như vậy được. Nhưng Dresden thì không. Nếu không có liên hệ nào với đội bóng, thì tại sao anh ấy lại bị sát hại?”
“Ý anh là lí do có thể không phải là vì anh chơi bóng ở đây? Mặc dù chúng đã lấy đi cúp sao?”
“Phải. Nhưng nếu không phải là thế thì là gì?”
“Tôi không nghĩ ra,” Lancaster thừa nhận.
“Ừm, cứ dằn vặt trong vô vọng cũng chẳng có lợi gì chừng nào chưa tìm ra được gì thêm. Nhưng có một nơi nầy chúng ta phải đến cái đã.”
“Đến? Đến đâu?”
“Quán bar.”
“Anh khát à?”
“Ừ, nhưng không phải khát bia.”
CHƯƠNG 46
Một bông tuyết bay xuống khi Decker đứng bên kia đường đối diện với quán bar, Lancaster đứng bên cạnh anh. Bông tuyết rơi xuống vìa hè và sau đó tan chảy gần như ngay lập tức.
Lancaster rút ra một chiếc khắn tay và hắt hơi.
“Nếu anh không muốn vào trong quán, chí ít chúng ta ngồi đợi trong xe được không?” chị đề nghị. “Trời lạnh cóng và tôi cảm giác sắp cúm đến nơi rồi.”
Decker đã quan sát từng phần từng phần của cả khu phố rồi, rồi sau đó, anh mắt của anh quay lại điểm xuất phát và quan sát lại thêm một lần nữa. Anh bắt đầu bước đi và Lancaster vội vã đuổi theo anh. Họ đi hết cả hai bên của con phố theo suốt chiều dài của khu nhà với cả hai hướng trái phải.
“Không có camera,” anh hỏi.
“Burlington có lắp camera giám sát, có điều không phải ở tất cả mọi nơi. Tôi nghe nói ở London và New York, họ lắp trên mọi con phố. Nhưng chúng ta đâu có nhiều tiền thuế như họ, phải không?”
“Có cả camera giám sát của tư nhân,” Decker nói. “Ngân hàng, cửa hàng cầm đồ, cửa hàng rượu. Nhưng ở đây tôi không thấy có cái nào. Cô kiểm tra được không? Thử xem cả khu phố này có cái nào hay không?”
“Tôi sẽ gọi điện.” Chị làm thế trong lúc Decker tiếp tục nhìn ngó xung quanh. Thêm một vài bông tuyết đang rơi xuông, và những đám mây trên đầu họ đã kéo lại dày đậc. Nếu nhiệt độ tiếp tục giảm, có thể lớp tuyết dày sẽ được tạo thành.
Lancaster bỏ điện thoại xuống. “Họ sẽ báo lại cho tôi. Giờ thì sao?”
Decker đi sang đường, hướng vè quán bar, và chị đi theo.
Quán bar kín khách, hầu hết các bàn là các cặp đôi đang ngồi, mặc dù ở phía cuối gian phòng trông như đang có một bữa tiệc độc thân của anh chàng nào đó đang diễn ra. Lancaster nhìn với ánh mắt khinh miệt dành cho cô nàng vũ nữ thoát y, đang trong quá trình lột bộ quần áo Miêu nữ ôm sát thân.
“Thật lạ sao đám thanh niên lại phấn khích với cái trò đó đến thế.”
“Do nó cùng là thứ bình thường vẫn làm họ phấn khích đấy thôi,” Decker lơ đễnh đáp. “Phụ nữ đẹp trong quá trình cởi từng món đồ trên người.” Anh lách người đi thẳng tới quầy bar và nhìn người phục vụ, vẫn là người mà lần trước anh từng nói chuyện. Người đàn ông đó tiến lại.
“Uống gì nào?” anh ta hỏi.
“Tôi sẽ gọi một vại Miller tươi.” Decker nhìn Lancaster.
“Tôi vẫn đang chính thức trong giờ làm,” chị thì thầm.
“Và một li cocktail Virgin Mary cho bạn tôi,” Decker nói.
Khi người đàn ông rời đi để làm đồ uống cho họ, Decker xoay ghế lại, dựa lưng vào quầy bar, và quan sát căn phòng. Lancaster cũng làm theo.
“Vậy là Leopold dẫn anh vào quán bar này, nơi mà cộng sự của hắn được cho là đang hóa trang thành 1 nữ phục vụ. Hai người nói chuyện, và sau đó, được cho là với sự trợ giúp của kẻ được cho là cộng sự, hắn biến mất.”
“Được cho là vậy, đúng thế,” Decker bực bội nói.
“Làm sao hắn biết anh sẽ theo hắn đến đây?”
“Sao có thể không? Bãi bỏ mọi cáo buộc sao? Hắn biết là tôi biết các quy trình của cảnh sát. Làm thủ tục rời nhà tạm giam và được thả ngay tại đó. Hắn biết là tôi sẽ đợi ở bên ngoài. Và nếu vì lí do nào đó tôi không đợi, vậy thì sao? Chả vấn đề gì. Chúng sẽ tìm cách để dụ tôi vào bẫy.”
“Vậy là anh theo hắn đến đây. Màn chốt mà hắn muốn là gì?”
“Có thể hắn chỉ muốn gặp lại tôi, kĩ hơn, gần hơn. Đánh giá tôi.”
“Nhưng nếu chúng ta đang phán đoán đúng, kẻ thực sự muốn gặp anh là ả phục vụ. Có thể đó là kẻ từng ở viện với anh. Kẻ mà bằng cách nào đó anh đã xúc phạm hắn.”
“Tôi dám chắc đó cũng là một phần mục đích của chúng.”
“Thật là là hắn không sát hại anh ngay lúc đó. Hoặc chí ít là thử ra tay.”
“Tôi chịu dằn vặt thế là chưa đủ, Mary ạ”
“Chịu dằn vặt thế mà chưa đủ! Tất cả những người đã mất mạng, bao gồm những người thân của anh thì sao? Câu chuyện mà Jamison viết chẳng phải đã bêu rếu anh đó sao? Chẳng phải hắn đã không dừng khiêu khích anh đó sao?”
“Vẫn chưa đủ, Mary ạ. Với chúng là vậy.”
“Chúng muốn gì hả Amos? Ý tôi là, còn gì nữa mà chúng có thể muốn từ anh?”
“Nhiều hơn nữa, Mary ạ. Chỉ là tôi vẫn chưa biết đó là gì.”
Nhưng Decker biết thừa màn chốt cuối cùng mà chúng muốn là gì.
Chúng muốn cái mạng mình.
Người phục vụ quầy bar mang đồ uống ra cho họ và nói, “Này anh, hôm nọ anh làm tôi không làm ăn được gì đâu đấy nhé. Cảnh sát đến đầy quán. Dọa quá nửa khách sợ phải bỏ về.”
“Có ai trừ mất lương của anh đâu, đúng không?” Lancastre nói cộc lốc.
“Tiền boa, cô nương ạ,” người phục vụ quầy bar nói. “Tôi sống bằng tiền boa.” Anh ta để điếu thuốc lá điện từ lên miệng và hít một hơi. “Cô nghĩ chủ quán này trả lương dêd đủ sống á? Nếu nghĩ thế thật, về nhà đi khám lại đầu óc đi.”
Decker nói, “Tôi dám chắc phục vụ bàn của các anh cũng sống bằng tiền boa chứ hả.”
“Đúng thế.”
“Nhưng cái cô ả nhảy việc đó thì chắc không nhỉ. Có thể cô ta có nguồn thu nhập khác.”
“Có lẽ nó thế thật đấy.”
“Anh dám chắc đó là nam giới à?” Lancaster hỏi và quan sát anh ta chăm chăm.
Người phục vụ quầy bar nhìn chị. “Sao quan tâm thế?”
Chị nhoáng cho anh ta xem thấy phù hiệu. Anh ta hít một hơi thuốc nữa và nói, “Tôi từng làm chân kĩ thuật ở một nhà hát nọ. Trong giới ấy tụi nó nhiều lắm. Tôi có thể phân biệt được đâu là đàn ông đâu là đàn bà hẳn hoi, mặc dù tôi phải thừa nhận là gã này hóa trang rất là giỏi.”
“Vậy nếu đó là một gã đàn ông, sao anh lại cho gã làm việc?” Lancaster hỏi.
“Tôi cóc quan tâm nếu một thằng thích ăn mặc như gái, miễn sao nó phục vụ tốt, không làm đổ đồ uống của khách. Tôi cần có người thôi. Người có chim hay không quan tâm làm cái đếch gì.”
Decker nói, “Theo lời anh, cô phục vụ này đã rời đi trước gã mà tôi nói chuyện cùng bước ra ngoài.”
“Ờ, tôi không tìm được cô ta sau khi anh ra khỏi quán. Phải tự phục vụ khách ngồi bàn cho tới khi tìm được người thay thế. Vậy nên, có vẻ như là nó đã nhảy việc.”
“Và anh đã gọi cho trung tâm giới thiệu việc làm?” Decker hỏi.
“Có gọi. Và anh đã nói đúng. Không có hồ sơ của cô ta. Một điểm cho anh.”
Ánh mắt của Decker liếc xuống vùng eo của người đàn ông. Một cái khóa điều khiển nhô ra từ miệng túi quần của anh ta.
“Anh đi xe loại gì vậy?”
Nười phục vụ quầy bar đưa mắt nhìn xuống với vẻ ngạc nhiên và rồi ngẩng lên nhìn Decker. “Sao? Anh cần đi nhờ đâu đó à?”
“Không. Chỉ tò mò thôi.”
“Nissan Leaf.”
“Chạy điện hoàn toàn.”
“Tôi biết mà. Cực kì tiết kiệm xăng bởi vì nó không chạy xăng. Chỉ cần cắm điện là xong.”
“Chạy yên tĩnh lắm phải không, tôi đoán vậy.” Decker nói.
“Đôi khi lại yên quá. Tôi quên tắt máy nhiều lần không đếm xuể. Cứ thế bước ra khỏi xe, chìa khóa đút trong túi và vẫn để máy nổ.”
“Thế cũng được à? Anh đậu xe ở đâu vậy”
“Con ngõ bên ngoài.”
“Cái hôm tôi ở đây, khi ra xe anh có để ý liệu chiếc xe bị đậu ở một vị trí hơi khác bình thường không?”
Người đàn ông suy nghĩ một lát rồi nói, “Không, tôi nhớ là không. Sao?”
“Bởi vì tôi đã kiểm tra con ngõ đó khi tôi ở đây ngày hôm đó, và không có cái xe nào ở đó cả.”
“Không thể nào,” người phục vụ quầy bar gắt lên, hai mắt anh ta trợn tròn ngạc nhiên. “Nhưng lúc hết ca nó vẫn ở đấy mà.”
“Lúc nào anh cũng mang khóa xe theo người à?”
“Không phải mọi lúc. Đôi lúc tôi sẽ treo lên móc đằng kia.” Anh ta chỉ tay vào bức tường phía sau quầy bar. “Đôi lúc phải đánh xe đi chỗ khác nếu có hàng nhập chuyển tới. Xe chở bia vào sát khít cái không gian đó. Và đó là ngõ cụt nên họ phải lùi xe ra. Đôi lúc tôi sẽ để phục vụ bàn đánh xe đi chỗ khác nếu tôi đang lỡ tay.”
“Ồ, vậy tôi nghĩ cô phục vụ bàn chúng ta đang bàn đến đã lái nó đi mà không được anh cho phép.”
Decker thả vài tờ tiền lên mặt quầy bar. “Gồm tiền boa rồi nhé.” Anh và Lancaster bước ra ngoài.
CHƯƠNG 47
Tuyết đã bắt đầu rơi dày hơn khi Decker nhìn chăm chăm vào chiếc Nissan Leaf màu xám.
“Có vẻ như anh ta đang sạc xe,” Lancaster nói. Chị đàn nhìn chăm chú vào sợi dây cáp điện từ cái cổng sạc của chiếc xe với một cái hộp điện bên cạnh cửa ngách của quán bar.
Decker không nhìn sợi dây điện; anh đang nhìn chăm chú vào các bức tường của con ngõ.
“Ở đằng kia,” anh nói.
Nằm ở tít trên cao và được điều chỉnh để có thể thu được hình ảnh của phần lớn con ngõ là một chiếc máy quay an ninh. Decker tiến lại chỗ đặt chiếc máy quay và rồi sau đó tiến tới cánh cửa của một cửa tiệm.
”Camera của một hiệu thuốc,” anh nói. “Còn đây chắc là cổng nhập hàng của họ.”
“Quanh đây có rất nhiều kẻ trộm cắp tại nhà thuốc,” Lancaster nói, lúc này đã đi tới đứng cạnh anh. “Chẳng trách họ lại lắp camera. Một chỗ hợp lí để tấn công từ phía sau. Đó là lí do cánh cửa được rào kín và khóa.”
“Chúng ta cần lấy đoạn ghi hình thu được từ cái camera này, và chúng ta cần nó ngay bây giờ.”
Họ vội vã vòng ra phía trước. Có một lễ tân ở sau máy tính tiền và một cảnh sát đã tan ca làm ở gần đó.
Lancaster giơ phù hiệu cho anh ta xem. “Tôi biết anh,” chị nói. “Donovan, Nhiệm sở Bốn? Đúng chứ?”
“Vâng thưa sếp. Chị cần gì, thưa thanh tra Lancaster?”
Chị giải thích và họ đi cùng nhau tới chỗ máy thu tiền, tại đây Donovan truyền đạt lại nội dung cho người thu ngân. Anh ta nói, “Tôi có thể lấy được đoạn ghi hình.”
Một vài phút sau, Lancaster và Decker đang bước ra khỏi hiệu thuốc cùng với chiếc đĩa DVD. Họ lái xe quay thẳng về trường Mansfield, tại đây Lancaster bỏ chiếc đĩa vào máy tính và cho chạy phim.
Đoạn phim có đánh dấu mốc thời gian, do đls Decker hỏi ngày để chị cho phim chạy tới . Chị điều chỉnh máy tính cho đến khi Decker nói, “Dừng lại ngay đó.”
Chị làm theo, và khung hình đứng im bặt.
Anh nói, “Giờ cho chạy đoạn băng bằng chế độ tua chậm.”
Lancaster điều chỉnh các nút bấm theo yêu cầu, và họ nhìn theo ả phục vụ bàn đi ra khỏi quán bar, mở cửa chiếc xe Leaf và trèo vào trong sau khi tháo dây sạc. Một lát sau, ả ta lái xe rời đi.
Mười phút sạu, ả ta lái xe quay lại, đi ra khỏi xe, cắm lạo sạc, và quay vào trong quán bar.
“Nhưng ông phục vụ quầy bar nói ả ta không quay lại quán,” Lancaster nói.
“Cứ chờ một chút,” Decker nói.
Người phụ nữ trở ra sau đó vài giây, quay người và đi ra khỏi con ngõ.
Decker nhìn Lancaster. “Ả ta quay lại để treo chìa khóa lên móc. Người phục vụ quầy bar có lẽ không nhìn thấy ả.”
“Phải rồi.”
“Vậy là ả đón Leopold và sau đó thả hắn ở đâu đó. Làm thế bằng xe của người khác là khá thông minh đấy. Chúng ta không thể kiểm tra được biển số.”
“Nhưng chúng ta có thể kiểm tra xe để lấy dấu vân tay. Ả ta không đeo găng tay.”
Trong lúc Lancaster gọi điện, Decker nhìn chăm chăm vào màn hình.
Khi chị ngắt máy, anh nói, “Được rồi, tua lại lần nữa, nhưng lần này hãy phóng to hình ảnh nhất có thể.”
Lancaster làm theo, vài lần, như yêu cầu của Decker. Từ góc của chiếc máy quay, họ đang nhìn theo phần sau của chiếc xe. Họ nhìn thấy ả trượt mình vào ghế lái, và sau đó là đưa đôi chân dài ra trước để xuống xe. Chiếc váy ngắn bị kéo cao quá đùi khi ả làm thế. Nhưng không ghi được hình ảnh trực diện nào của ả.
“Đôi chân của ả phê đấy,” Lancaster nói. “Phải công nhận.”
“Của hắn,” Decker chỉnh lời. Chí ít mình nghĩ đó là đàn ông.
“Nhưng dù sao gã phục vụ quầy bar đã đúng.”
“Đúng cái gì?”
Lancaster nói, “Anh ta nói với chúng ta là đã nhìn thấy nhiều gã đóng giả nữ khi làm ở nhà hát. Nhưng nhận xét kẻ này hóa trang thực sự giỏi. Và thật là như thế. Ý tôi là, đôi chân kia trông thực sự giống chân phụ nữ.”
Decker chầm chậm gật đầu và rồi sau đó nhìn lại vào khung hình. Anh cho nó chạy thêm hai lần nữa trước khi tắt máy. Nhưng vẫn không hề thấy dù chỉ một hình ảnh rõ ràng gương mặt của kẻ đó.
“Rồi sao?” Lancaster nói. “Có đột phá gì trong đầu không?”
Decker lắc đầu. Có điều thực sự là có gì đó. Dường như có một cái gì đó đang được trưng ra trước mặt anh, ngặt nỗi anh không thể nhìn ra nó là thứ gì.
Lancaster ngáp ngủ, vươn vai và rồi nhìn ngó xung quanh các hoạt động đang diễn ra trong thư viện. “Tôi tự hỏi không biết lúc nào Bogart mới xuất hiện trở lại?”
“Anh ta không báo cho tôi biết kế hoạch di chuyển của mình,” Decker nói. “Anh ta đến nơi Sizemore sống bằng máy bay. Tôi dự đoán ann ta sẽ quay lại cũng bằng cách đó. Cỡ nào đi nữa anh ta cũng sẽ đi nhanh hơn tôi.”
“Ồ, chưa thấy anh ta đăng kí ra vào đây.”
“Có lẽ đây không phải vụ duy nhất anh ta phải giải quyết.”
“Có thể là không, nhưng tôi hi vọng vụ Mansfield được ưu tiên, kể cà đối với FBI.”
“Tôi không biết nữa,” Decker lơ đễnh nói.
Lancaster xem đồng hồ. “Đã gần mười một giờ rồi và tôi đã ở đây từ năm giờ sáng. Tôi phải về nhà thôi. Cần đi nhờ không? Tôi nghĩ không nên đi bộ đâu. Ngoài kia tuyết bắt đầu rơi dày lắm rồi.”
Chị nhìn ra ngoài cửa sổ thư viện, tại đó, dưới ánh đèn, tuyết đang rơi nặng hạt.
“Được thôi. Tôi đoán tạm thời đã xong việc ở đây.”
Họ đi ra cửa.
Chị nói với giọng khích lệ, “Chúng ta cũng có kha khá manh mối, Amos ạ, chỉ cần tiếp tục tìm theo đó là được.”
“Chúng không phải là manh mối đâu, Mary. Phần lớn toàn mấy thứ mơ hồ chẳng đi đến đâu. Chúng đã lên kế hoạch rất kĩ lưỡng.”
“Ừm, anh biết người ta nói gì về những kế hoạch hoàn hảo mà. Bày sẵn cũng xơi chẳng xong.”
“Tôi biết câu tục ngữ đó. Thật không may, nhiều khi nó lại không đúng lắm.”
Họ bước và xe của chị rồi rời đi.
Chị liếc nhìn sang anh. “Trông anh có vẻ như đã nhận ra điều gì đó trong đoạn video an ninh.”
“Đúng. Chỉ là tôi không biết mình đã nhận ra cái gì.”
“Cảm giác quay trở lại nơi đó thế nào? Viện nghiên cứu ấy?”
“Tôi không quay lại. Nó đã chuyển chỗ rồi. Tôi chỉ nói chuyện với một người từng làm việc ở đó.”
“Vẫn là một chuyến về đường xưa chốn cũ mà.”
“Cả cuộc đời tôi là một con đường xưa dài đằng đẵng.”
“Tệ đến thế sao?”
“Có bao giờ cô muốn dừng một bộ phim đang xem dở không?”
“Tất nhiên rồi, rất nhiều lần.”
“Sẽ như thế nào nếu cô không thể tắt nó đi? Sẽ ra sao nếu cô không thể cứ thế mà nghỉ coi giữa chừng bởi vì các thước phim cứ phát mãi trong đầu cô thì sao?”
Chị nắm chặt tay lái và nhìn chăm chăm về phía trước. “Tôi đoán tôi hiểu được ý anh.”
Radio cảnh sát gắn trên bảng đồng hồ phát ra tiếng lạo xạo. Địa chỉ của một vụ án được nhân viên điều phối đọc to.
Lancaster suýt chút nữa thì lao xe ra khỏi đường trước khi đánh thẳng lái trở lại.
Chị nhìn chăm chăm vào Decker với vẻ kinh hãi.
“Đó là địa chỉ nhà tôi,” chị gào lên.
CHƯƠNG 48
Nhà của Mary Lancaster là một ngôi nhà lệch tầng khiêm nhường khoảng ba mươi năm tuổi. Mặc dù Earl Lancaster làm trong nghề xây dựng, song ngôi nhà cần phải được sơn lại, mái nhà cần lợp mới và phần gỗ của căn nhà đã bị mối mọt vài chỗ. Lối lái xe vào nhà trải nhựa đường đã nứt vỡ vài chỗ. Bên trong căn nhà tình trạng đỡ hơn một chút, nhưng các gian phòng đều nhỏ và tối, và không khí có mùi ẩm mốc.
Bầu trời tối đen xung quanh ngôi nhà được thắp sáng bởi những bóng đèn hiệu trên xe cảnh sát.
Lancaster thắng gấp chiếc xe sát vỉa hè, phi ra ngoài, giơ phù hiệu với hai cảnh sát đang từ cửa trước đi ra, và có lẽ chị đã phóng xuyên qua họ nếu họ không kịp ngăn chị.
Một trong hai người đó biết chị.
“Thanh tra Lancaster -”
Chị đã cố đẩy người để vượt qua anh ta. Anh ta tóm chặt lấy chị.
“Chờ đã!” Anh ta hét lớn. “Tôi đang muốn nói với chị là -”
Cậu cảnh sát phải vất vả vật lộn với chị, bởi vì mặc dù không cao lớn, người phụ nữ này đang hoàn toàn mất kiểm soát, cuồng nộ, gào thét, phì nước bọt, và cào cấu. Chị phải vào trong đó cho bằng được.
Rồi sau đó chị bị kéo khỏi tay họ và nhấc bổng lên khỏi mặt đất.
Hai người cảnh sát ngước mắt nhìn Decker, lúc này đang ôm khư khư lấy chị, hai cánh tay của chị bị ép sát vào hai bên cạnh sườn.
Chị rít lên, “Thả cho tôi đi Amos! Tôi sẽ giết anh! Thề với Chúa tôi sẽ giết anh, thằng khốn nạn này. Tôi.. sẽ… giết…”
Chị tiếp tục chửi rủa và tìm cách thoát ra, nhưng anh giữ chị thật chặt cho đến lúc sau cùng, chị mệt rũ trong vòng tay của anh, đầu chị gục xuống, hai chân thả lủng lẳng. Chị đã kiệt sức. Hơi thở của chị hổn hển, ngắt quãng.
Người cảnh sát ngước mắt nhìn chị. “Tôi muốn nói với chị là người nhà của chị vẫn ổn.”
“Sao!” Chị gào lên. “Vậy lí do quái gì tất cả những người này lại ở đây.”
Decker chầm chậm thả chị xuống đất.
Cậu cảnh sát nói, “Bởi vì có một sự cố.”
“Tôi đã thử gọi đến tổng đài điều phối, nhưng không gọi được,” Lancaster nói. “Người nhà tôi ở đâu rồi?”
“Họ đã được đưa đi giám hộ rồi.”
“Sao cơ? Lí do?”
“Lệnh của đội trưởng Miller.”
Lúc này Miller từ trong nhà bước ra.
“Đội trưởng, chuyện quái gì đang diễn ra vậy?” Lancaster hỏi.
“Earl và Sandy không sao.”
“Sự cố gì thế?” Decker hỏi.
“Có một số thứ bị bỏ lại trong nhà.”
“Thứ gì vậy?” Decker hỏi, ánh mắt anh chết trân, nhìn Miller.
“Amos, tôi nghĩ cậu nên đứng ngoài việc này.”
“Ông không cản tôi được đâu, trừ phi ông gọi thêm người tới đây.” Decker liếc nhìn hằm hằm vào hai cảnh sát mặc cảnh phục vừa cố tìm cách ngăn cản Lancaster.
“Thôi được rồi,” Miller nói, rồi dẫn đường vào trong.
Họ đi vào trong bếp. Decker nhìn các vỏ chai bia trên bàn và chiếc ghế đã nằm lật ngửa.
“Sao anh nói không có việc gì đâu cơ mà!” Lancaster hét lên.
“Trông vậy nhưng không phải vậy.” Miller nói. “Là… ấy là…” Ông không thể nói hết câu.
Ruột gan Decker quặn lên khi thấy người kia đang vật lộn tìm lời.
Miller dẫn họ vào căn phòng liền kề.
Trên sàn nhà là một cái xác. Ừm, đó không phải là một cái xác thật. Đó là một con manocanh nam kích thước giống người thật có thể bơm phồng. Có ai đó đã bôi màu xám nâh lên đầu con manocanh. Nhưng sự chú ý của Decker bị hút vào vệt màu đỏ vẽ dọc trên cổ.
“Đó… đó là tượng trưng cho Earl à?” Lancaster nói.
“Tôi nghĩ vậy,” Miller lưỡng lự nói, với một cái đánh mắt nhanh liếc nhìn Decker. “Thằng khốn này thật bệnh hoạn.”
Decker cũng chú ý thấy mỗi con mắt của con manocanh đều được vẽ một chữ X phủ lên.
Tất cả mọi người đều từng nhìn thấy những con manocanh. Chúng nhan nhản ở khắp nơi, thế nên chỉ là thứ vô thưởng vô phạt. Nhưng con manocanh này - nó là thứ mang nhiều sát khí nhất mà Decker từng thấy. Nó giống như một đám những con số ba từ trong bóng đêm lao ra nhằm vào anh. Nhợt nhạt, máu me, mắt trân trân, lặng thinh, vô hồn; một thứ tượng trưng thẫm mùi xấu xa.
Decker nhìn sang hướng cầu thang. Và rồi sau đó anh nhìn xung quanh tất cả các phía. Trước đây anh đã từng đến nơi này vài lần. Trong đầu anh, khi đang nhận ra điều hiển nhiên này, lại nhận ra một mối liên hệ khác nữa.
Căn nhà này gần như là bản sao chính xác căn nhà của Decker. Không có gì là bất thường đối với cộng đồng nhà liền kề của nhwunxg người thuộc tầng lớp lao động, ở những nơi này, một chủ thầu sẽ sử dụng cùng một dạng thiết kế để xây dựng hàng trăm căn nhà có kết cấu giống nhau, rồi sơn màu khác nhau hoặc thay đổi một vài chi tiết kiến trúc nhỏ.
“Vậy là để tượng trưng cho Sandy sẽ còn một con… con này nữa à?” Lancaster nói. Chị đưa một tay ra và nắm chặt vào phía sau ghế để đứng cho thăng bằng.
“Còn một con manocanh nữa ở trên kia, đúng vậy,” Millef nói, một lần nữa nhìn Decker đầy lo lắng.
Trong đầu Decker, anh nhớ lại cái lúc anh phóng như bay lên cầu thang rất giống với cầu thang ở ngôi nhà này vào cái đêm mà anh đánh mất mọi thứ.
“Vậy là chỉ còn một cái… một thứ như này trong nhà tôi thôi à,” Lancaster quát lên.
Decker quay lại nhìn con manocanh với vết “cắt” cổ và rồi ánh mắt của anh hướng nhìn Miller. Và có điều gì đó trong đôi mắt này, cùng với những gì mà anh vừa mới suy luận, khiến Decker nói, “Không, còn hai con nữa trên đó.”
“Đúng,” Miller rầu rĩ nói. “Còn hai con nữa.”
“Anh đang nói cái quái quỷ gì thế hả?” Lancaster nói. “Chỉ có Earl và Sandy thôi mà. Chờ chút, có phải một trong số đó chỉ tôi không?”
Decker đã hướng ra chỗ cầu thang.
Cánh cửa đầu tiên mà họ tới đã hé mở. Decker đẩy cho nó mở hẳn và họ bước vào trong.
Một chiếc chân giơ lên ở mép bên kia của cái giường, giống như anh biết sẽ là như thế. Anh bước sang phía bên đó và cúi đầu nhìn xuống. Như anh đã biết trước, con manocanh là nữ giới, mặc một chiếc váy ngủ xuyên thấu. Có một dấu chấm đen được vẽ ở chính giữa trán của nó để đại diện cho viên đạn được bắn xuyên qua đầu nó. Cả đôi mắt của con manocanh cũng thế, được đánh dấu bằng hai chữ X.
Miller nói với Decker, “Tôi đoán cậu biết nạn nhân thứ ba ở đâu?”
Lancaster thở dốc khi cô nhận ra sự thật. “Ôi Chúa ơi, đó là chỉ…”
“Cassie,” Decker nói hết câu thay chị.
Miller vòng một cánh tay lên vai Decker. “Amos này, sao cậu không xuống tàng dưới đi nhỉ?”
Decker lắc đầu. “Không.”
“Amos, làm ơn đi mà.”
“Không!”
Anh chạỵ như bay dọc xuống hành lang và mở cánh cửa dẫn vào nhà tắm. Những người khác vội vã đuổi theo anh.
Trên bồn cầu là con manocanh thứ ba, nhỏ hơn, chỉ một đứa trẻ. Chúng thậm chí còn vẽ tóc xoăn lên đầu nó, giống tóc của Molly. Dải dây buộc áo choàng giữ con manocanh ngồi thẳng. Dấu siết cổ được vẽ quanh cổ nó; những dấu X cũng được vẽ đè lên hai con mắt.
Những kẻ sát nhân thực sự đã tái dựng lại chính xác những gì đã xảy ra tại nhà của Decker, nhưng may mắn thay, chúng thay thế người thật bằng những con manocanh.
Nhưng có một điểm khác biệt, một điểm khác biệt rất lớn.
Phía trên bồn cầu là những dòng chữ được viết bằng mực lên tường.
Muốn làm thật quá dễ dàng. Nhưng hãy tự hỏi bản thân mình điều này. Anh sẽ còn gây ra bao nhiêu khổ đau nữa hả người anh em? Hãy chấm dứt ngay đi. Hãy làm điều đúng đắn. Giống như đáng lẽ anh nên làm ngày ấy. Can đảm lên đi nào. Đừng làm một thằng hèn nữa, người anh em ạ. Không phải lúc này. Nếu không lần tới sẽ có đổ máu thật đấy. Co hội cuối cùng.
Decker nhìn chằm chằm vào dòng chữ thật lâu.
Rồi anh quay người và rời khỏi căn phòng, bước hai bậc một và đi ra ngoài. Lancaster và Miller đi theo anh. Chị bắt kịp anh ở cuối đường dẫn vào nhà.
“Anh định đi đâu?” chị hỏi.
“Tôi xin lỗi vì tất cả những thứ này, Mary ạ.”
“Anh chẳng có gì phải xin lỗi cả. Gia đình tôi vẫn ổn mà.”
“Lần tới sẽ không đâu. Họ sẽ mất mạng đấy.”
“Không, không đâu. Nghe này, chuyện này không do anh. Là do bọn chúng.”
“Không, là giữa tôi và chúng.”
Anh bước xuống phố và rời đi khi những bông tuyết bay vần vũ quanh anh.
CHƯƠNG 49
Decker đang ngồi trên giường trong phòng trọ ở Residence Inn. Ngoài trời tuyết vẫn đang tiếp tục rơi, nhưng mặt đất đã đủ ấm để tuyết không còn bám nữa. Nó cứ thế ướt nhão cuộn cùng đất. Giống như đầu óc của anh lúc này
Bộ óc hoàn hảo đến tuyệt diệu của mình, bộ óc có thể ghi nhớ tất cả.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
★
★
★
★
★
0