Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Người chồng muôn thuở

19 trả lời, 155 lượt xem — Trang 1 / 1
Bản Việt ngữ này được dịch ra từ bản
Pháp ngữ của Boris de Schloezer do nhà xuất bản Gallimard ấn hành năm 1936.
 
 
DOSTOÏEVSKI
Người Chồng Muôn Thuở
( L’Éternel Mari )
Dịch giả: ĐỖ KIM BÀNG
Bạt của TÔ THÙY- YÊN
 
 
 
 
TIỂU SỬ SƠ LƯỢC
của ĐẠI VĂN HÀO DOSTOÏEVSKI
(căn cứ theo tài liệu của Pierre Pascal, giáo sư văn chương Nga tại Đại Học đường Sorbonne.)

1821—30 Tháng Mười: Théodore Dostoïevski chào đời tại Moscou. Cha ông là y sĩ phục vụ tại Bệnh Viện Marie ở Moscou và mẹ ông xuất thân từ một gia đình tiểu thương. Dostoïevski là con thứ hai. Ông có một người anh (Michel) và năm người em.
1832—Tháng Tư: Mẹ ông đem các con về ở tỉnh Toula, nơi đây gia đình ông đã mua được hai làng.
1833   —1837: Dostoïevski và người anh trọ học tại Moscou.
1837 —29 Tháng Giêng: Văn hào Pouchkine chết trong một cuộc đấu kiếm. Dostoïevski vốn là độc giả trung kiên của Pouchkine đã bị xúc động mãnh liệt.
27 Tháng Ba: Mẹ Dostoïevski từ trần.
Tháng Năm: Dostoïevski và người anh trọ học tại kinh đô Saint Pétersbourg để chuẩn bị thi vào Trường Công Binh.
1 Tháng Bảy: Cha Dostoïevski hưu trí về ngụ tại tỉnh Toula.
1838— 1840: Dostoïevski theo học tại Trường Công Binh. Trong thời gian này, ông say sưa đọc Hoffmann, Balzac, Shakespeare, Goethe, Hugo, Schiller, Homère và các kịch tác gia cổ điển Pháp...
1839   — 3 Tháng Sáu: Cha Dostoïevski bị các nông nô của ông ám sát.
1840   —29 Tháng Mười Một: Dostoïevski tốt nghiệp hạ sĩ quan.
1842   —11 Tháng Tám: Dostoïevski được vinh thăng Thiếu Úy.
1843   — Dostoïevski làm việc ở sở họa hình của Bộ Chỉ Huy Công Binh. Đời sống vật chất túng hụt. Ông phiên dịch Eugénie Grandet của Balzac.
1844   — Ông phiên dịch La Dernière Aldini của George Sand.
19 Tháng Mười: Giải ngũ với cẩp bực Trung Úy. Bắt đầu viết Les Pauvres Gens.
1845   — Tháng Ba : Viết lạl lần thứ hai Les Pauvres Gens.
Tháng Tư : Viết lại lần thứ ba.
Tháng Năm: Dostoïevski đọc bản thảo cho văn hữu Grigorovitch nghe. Thi sĩ Nékrassov chuyển bản thảo đến cho phê bình gia Biélinski. Ngay ngày hôm sau, Biélinski tiếp Dostoïevski một cách nồng hậu.
Mùa Thu: Dostoïevski viết Le Double. Ông gặp văn hào Tourguenev tại nhà Biélinski. Hoàn thành Le Roman en neuf lettres, Si tinh bà Panaev.
1846   —15 Tháng giêng: Les Pauvres Gens được đăng tải trên tạp chí Le Recueil de Pétersbourg.
 1 Tháng Hai: Le Double xuất hiện trên tạp chí Les Annales de la Patrie.
Tháng Mười : Tạp chí Les Annales đăng tác phẩm Monsieur Prokhartchine.
1847   —Tháng Giêng: Le Roman en neuf lettres đăng trên tạp chí Le Contemporain.
Ông tiếp tục viết truyện và giữ những mục thường xuyên cho vài tạp chí văn học.
1848   — Tháng Hai: Xuất bản Un coeur faible và Polzounkov.
Tháng Tư : Xuất bản Récits d'un homme averti.
 28 Tháng Năm: Biélinski qua đời.
Tháng Mười: Dostoïevski tham gia những tổ chức cách mạng có khuynh hướng xã hội kiểu Fourier.
Tháng Mười Một, Mười Hai: Xuất bản Les Nuits Blanches và Le Mari Jaloux.
1849   —Tháng Tư : Ông diễn thuyết yêu cầu Nga Hoàng bãi bỏ kiểm duyệt báo chí, bãi bỏ chế độ nông nô và cải tổ tư pháp.
23 Tháng Tư : Dostoïevski bị bắt.
16 Tháng Mười Một : Dostoïevski bị kêu án tử hình. Nhưng ba ngày sau, bản án được giảm xuống còn bốn năm tù khổ sai và phải sung làm lính trơn trong một cơ ngũ.
24 Tháng Chạp: Dostoïevski bị đày về trại giam ở Tobolsk thuộc Tây Bá Lợi Á.
1850   — 1854: Dostoïevski sung vào một đội lao công đặt thuộc quyền xử dụng của Công Binh. Năm 1850, ông bị động kinh lần thứ nhất. Nằm bệnh viện một thời gian.
1854— 22 Tháng Hai: Dostoïevski mãn hạn tù và thuyên chuyển về một Tiểu Đoàn biên trấn ở Semipalatinsk.
1 Tháng Năm : Ông sáng tác và gởi theo hệ thống quân giai một thi phẩm ái quốc.
1855 — Dostoïevski si tình một người đàn bà có chồng, nàng Marie Dmitrievna.
18 Tháng Hai: Hoàng Đế Nicolas Đệ Nhất băng hà. Alexandre Đệ Nhị kế vị.
Tháng Năm: Gia đình nàng Marie Dmitrievna di chuyển về Kouznetsk.
4 Tháng Chín : Chồng nàng Marie chết.
20 Tháng Mười Một : Nhờ một thi phẩm thứ hai, Dostoïevski được vinh thăng hạ sĩ quan.
1856— Tháng Hai: Dostoïevski được một vài người quen biết quyền thế vận động xin phóng thích.
 19 Tháng Năm: Dostoïevski lại sáng tác một thi phẩm ái quốc nữa và chuyển theo hệ thống quân giai. Kết quả, ông được vinh thăng Thượng Sĩ.
24 Tháng Mười Một: Góa phụ Marie Dmitrievna ưng thuận lấy Dostoïevski.
1857   —6 Tháng Hai: Dostoïevski thành hôn cùng Marie Dmitrievna.
1858   — Dostoïevski xin giải ngũ vì lý do sức khỏe.
1859   — Tháng Tư: Dostoïevski xuất ngũ với cấp bực Thiếu Úy. Ông không được phép cư ngụ tại các kinh đô. Ông chọn tỉnh Tver.
2 Tháng Bảy: Ông rời bỏ Semipalatinsk để đi Tver.
Cuối Tháng Chạp: Ông về ngụ tại Saint Pétersbourg.
1860   — Xuất bản tuyển tập thứ nhất những Tác Phẩ của Dostoïevski.
14 Tháng Tư: Dostoïevski thủ một vai kịch trong đêm kịch do Hội Nhà Văn tổ chức.
Tháng Chín : Dostoïevski cùng người anh Michel sửa soạn xuất bản tạp chí Le Temps.
1 Tháng Chín: Récits de la Maison des Morts được đăng tải trên một tuần san.
1861   — Tháng Giêng : Đăng Humiliés et Offensés (hoàn tất vào tháng Bảy) trên tạp chí Le Temps.
19 Tháng Hai : Ký tên vào bản Tuyên Ngôn đòi bải bỏ chế độ nông nô.
Suốt năm, Dostoïevski viết phần lớn những bài đăng trong tạp chí Le Temps và giữ chức vụ Thư ký Tòa soạn. Ông giao du với văn giới.
1862   — Tháng Giêng : Đăng phần thứ hai của La Maison des Morts trong Le Temps.
 16 Tháng Năm: Rối loạn chính trị tại Saint Pétersbourg.
7 Tháng Sáu: Dostoïevski xuất ngoại: Paris, Londres, Cologne, Thụy Sĩ và Ý.
1863   — 24 Tháng Năm: Le Temps bị đình bản vì một bài báo về vấn đề Ba Lan.
11 Tháng Tám: Dostoïevski đến Paris, nơi đây ông gặp nàng Souslova (đã quen nhau từ 1861) Hai người cùng du lịch với nhau.
Tháng Tám — Tháng Chín : Tại Baden-Baden (Đức), Dostoïevski đánh bạc thua liên miên. Đến thăm Tourguenev.
Tháng Mười: Sang Ý. Túng tiền. Souslova trở lại Paris.
Cuối Tháng Mười : Dostoïevski trở về Nga.
1864   — Tháng Ba: Người anh xuất bản nguyệt san L'Époque. Dostoïevski cho đăng phần đầu của Sous-sol.
15 Tháng Tư: Nàng Marie Dmitrievna chết vì bệnh suyển tại Moscou.
10 Tháng Bảy : Michel chết. Dostoïevski lãnh trả nợ cho anh và cưu mang gia đình anh.
1865   — Tháng Tư : Dostoïevski cầu hôn nàng Anne Korvin-Kroukovski nhưng bị từ chối.
Tháng Sáu : Tờ L'Époque đình bản vì hết vốn. Dostoïevski sắp bị sai áp. Ông bán bản quyền toàn thể tác phẩm cho nhà xuất bản với giá 3000 đồng rouble. Ông xuất ngoại.
 Tháng Bảy : Ông thua bạc ở Wiesbaden, phải đến xin tiền Tourgucnev và Souslova.
Cuối Tháng Chín: Dostoïevski đề nghị với ông chủ nhiệm báo Le Messager Russe, tác phẩm Crime et Châtiment, để nhận trước một món tiền.
 15 Tháng Mười: ông trở về Pétersbourg. Những cơn động kinh liên tiếp.
 Tháng Mười Một: Gặp lại nàng Souslova.
1886 — Tháng Giêng: Tờ Le Messager Russe khởi đăng Crime et Châtiment (kết thúc vào Tháng Chạp).
4 Tháng Tư: Karakozov mưu sát Nga Hoàng.
 4 Tháng Mười : Dostoïevski đọc cho nữ tốc ký viên Anne Grigorievna Snitkine chép quyển Le Joueur mà theo hợp đồng, ông phải giao cho nhà xuất bản ngày 30 Tháng Mười.
1867   — Dostoïevski thành hôn cùng Anne Snitkine.
14 Tháng Tư : Hai vợ chồng xuất ngoại: Dresde, Hambourg, Bade, Bâle, Genève. Tại Bade, Dostoïevski lại thua bạc và cãi cọ với Tourguenev.
 Tháng Chín : Khởi công L’Idiot.
1868   — Tháng Giêng : L’Idiot xuất hiện trên tờ Le Messager Russe (Kết thúc vào Tháng Chạp).
22 Tháng Hai: Hạ sanh một đứa con gái, Sophie (chết ngày 12 Tháng Năm).
Tháng Mười Một đến Tháng Bảy 1869: Cư ngụ tại Florence.(Ý)
Tháng Chạp : Dostoïevski suy nghĩ về một cuốn tiểu thuyết lớn tựa đề L’ Athéisme.
1869— Tháng Bảy đến Tháng Bảy 1871: Cư ngụ tại Dresde.
 14 Tháng Chín : Hạ sanh đứa con gái thứ hai, Lioubov
1870   — Tháng Giêng : Tạp chí L’Aurore khởi đăng L’Éternel Mari.
1871   — Tháng Giêng : Tờ Le Messager Russe khởi đăng Les Démons.
Tháng Tư : Dostoïevski lại thua tài xỉu ở Wiesbaden. Ông không còn đánh bạc nữa.
8 Tháng Bảy: Trở về Saint Pétersbourg sau bốn năm vắng mặt.
16 Tháng Bảy : Hạ sanh đứa con trai, Théodore.
1872   — 20 Tháng Chạp: Dostoïevski giữ chức vụ Chủ bút cho tờ Le Citoyen.
1873   —Tháng Hai: Xuất bản Les Démons.
1874   — Tháng Tư : Ông rời bỏ tờ Le Citoyen sau khi bị phạt giam vì một bài báo, Ông lại xuất ngoại : Ems, Genève.
Mùa Đông : Khởi viết L'Adolescent và cho đăng trong tạp chí Les Annale; de la Patrie của thi sĩ Nékrassov.
1875   — 10 Tháng Tám. Hạ sanh đứa con thứ tư, Alexis.
Giữa Tháng Tám : Trở về Pétersbourg. Hoạt động báo chí.
1876   — Tháng Bảy — Tháng Tám: Sang Ems.
1877   — Mùa Xuân: Dostoïevski mua một biệt thự tại Staraia Roussa.
2 Tháng Chạp: Được bầu làm hội viên liên lạc của Hàn Lâm Viện.
27 Tháng Chạp: Nékrassov chết. Dostoïevski đọc điếu văn nơi mộ phần của Nékrassov, ca ngợi Nékrassov là thi sĩ của nỗi khổ đau của đám đông.
1878   — Đứa con thứ tư, Alexis, chết vì chứng động kinh
1879   — Tháng Giêng đến Tháng Chạp : Tờ Le Messager Russe đăng Les Frères Karamazov.
1880   — Tháng Năm : Đến Moscou. Tại đây, ông đọc một bài diễn văn quan trọng về văn hào Pouchkine.
1881   — 25 Tháng Giêng : Ông giao cho nhà in bản thảo Journal d'un Écrivain.
28 Tháng Giêng : Dostoïevski mửa máu và tạ thế hồi 8 giờ rưỡi tại Saint Pétersbourg. Thi hài ông được chuyển về Laure de Saint Alexandre Nevski, và mai táng bên cạnh thi sĩ Joukovski. Một đám đông vĩ đại với những đoàn hợp ca thanh niên đã đưa tiễn Dostoïevski đến nơi an nghỉ đời đời.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 23.06.2023 18:48:06 bởi Thanh Vân>
Chương I
VELTCHANINOV
 
 
MÙA hè đến, và trái với mọi sự chờ đợi, Veltchaninov vẫn ở lại Pétersbonrg. Chuyến du lịch miền Nam nước Nga mà ông đã dự tính, không thể thực hiện, và vụ kiện tụng vẫn chưa thấy phần kết thúc. Vụ kiện tụng đó, liên quan đến một miếng đất, đã trở nên rắc rối. Nó có vẻ hơi giản dị và cái kết quả của nó gần như không thể bàn cãi được cách đây ba tháng về trước; nhưng bỗng nhiên mọi thứ lại trở nên lôi  thôi. (Và theo thói
thường, mọi thứ càng lúc càng tệ thêm). Bây giờ Veltchauninov thường hay lập lại câu nói đó. Ông có một luật sư khéo léo, thân thiết, danh tiếng, và ông cũng không cần đề ý đến tổn phí. Nhưng sự sốt ruột và một thứ nghi ngờ lo ngại xúi giục ông đích thân can thiệp vào công việc của mình: ông soạn thảo những bản điều trần mà luật sư vứt vào sọt rác; ông chạy đến các cơ quan công quyền, không ngớt hỏi thăm tin tức và hiển nhiên việc đó chỉ làm chậm đi mọi sự. Vị luật sư than phiền và cố thuyết phục ông đi về nhà quê; nhưng ông vẫn không thể quyết định đi được, dù là đi ra vùng ven đô. Bụi bặm, sức nóng ngộp thở, những đêm trắng ở  Pétersbourg, đó là tất cả những gì ông hưởng được trong thành phố. Ông cũng chẳng được may mắn với cả căn phòng trọ của ông, ở một nơi nào đó gần Nhà Hát Lớn, mà ông đã mướn cách đây ít lâu: “Chẳng có gì thành công hết” Nỗi ưu uất càng ngày càng trầm trọng, hơn nữa, từ lâu nay, ông cũng đã có khuynh hướng như thế …
Đó là môt người đàn ông đã sống nhiều và từng trải. Ông không còn trẻ nữa—ba mươi tám hay ba mươi chin rồi cũng nên— và “cái tuổi già” đó, như ông thường nói, đã xuất hiện “gần như bất thần”. Nhưng chính ông cũng hiểu rằng không phải số lượng niên kỷ nhưng phẩm chất của chúng đã làm ông già đi và nguyên nhân những nỗi đau đớn của ông có tính cách nội tâm nhiều hơn. Ông vẫn còn có vẻ là một gã trai trẻ khỏe mạnh. Đó là một người đàn ông to lớn và lực lưỡng. Chẳng có một sợi bạc nào trong mái tóc dầy vàng sáng hay trong bộ râu dài chấm xuống đến nửa ngực. Thoạt trông, ông có vẻ vụng và hơi nặng ne-2, nhưng nếu nhìn kỹ, ta sẽ nhận thấy ngay ở ông ta một người biết cách xử thế và hấp thụ một nền giáo dục thời lưu. Cử chỉ của Veltchaninov vẫn còn có vẻ thư thái, chửng chạc và duyên dáng nữa dù cho thái độ càu nhàu, và tính bười xười mà gần đây ông đã nhiễm phảo. Và cho đến ngay cả bây giờ, ông ta vẫn còn có một thái độ quả quyết khó lay chuyển, một niềm tự tin quan cách đến độ trịch thượng mà ngay chính ông, ông cũng không thể ngờ đến ; dù rằng ông không những là một người thông minh mà đôi khi còn là người tế nhị, học hành khá và hiển nhiên là người có tài nữa. Gương mặt trung thực và hồng hào, mà cách đây không lâu, với nét mặt và làn da thanh tú ấy, ông đã lôi cuốn sự chú ý của phái yếu. Và cho đến bây giờ, mỗi khi thấy ông, người ta vẫn còn phải tấm tắc khen ngợi : “Người bảnh trai làm sao ! Da trông cứ như là trứng gà bóc ấy!” Thế mà, “con người bảnh trai” đó đã mắc phải bệnh ưu uất hiểm nghèo. Cách đây chừng mươi năm, đôi mắt xanh biếc ấy vẫn có một cái gì chinh phục. Đó là đôi mắt khá trong sáng, vui tươi, vô tư đến độ lôi cuốn ánh nhìn của mọi người mà chính chủ nhân không hay. Bây giờ, ông ta đã gần tứ tuần rồi, sự trong sáng, sự nhân từ đã hầu như tắt hẳn trong ánh mắt, trong đôi mắt thâm quầng đó. Trái lại, đôi mắt đó phản chiếu tính cách “ xi-ních” của một con người mỏi mệt với cuộc sống và không mấy đạo đức ; sự lừa lọc, nhất là sự châm biếm chua cay và một “nét” mới mà trước kia không hề có : sự buồn bã và sự thống khổ, một cái buồn ơ hờ, vô cớ nhưng rất sâu đậm. Nhất là khi ông ta một mình, cái buồn đó mới càng biểu lộ. Và, điều lạ lùng là con người đó, cách đây mới có hai năm hãy còn huênh hoang, vui vẻ, phóng túng và hãy còn kể rất duyên dáng những câu chuyện dí dỏm, “tiếu lâm”, bây giờ đây không thích gì hơn là được hoàn toàn một mình. Ông ta tự ý cắt đứt mọi liên lạc với nhiều người mà đáng lý ông ta không nên làm như thế dù giờ đây gia sản của không còn bao lăm. Sự tự kiêu, phải, sự tự kiêu đã trợ lực thêm: Tánh đa nghi và sự tự kiêu đã khiến ông không thể nào tiếp tục giao thiệp với những người quen biết cũ. Nhưng tánh tự kiêu đó cũng biến dạng dần trong cô đơn…Đáng lý tánh đó giảm dần thì nó lại mang một hình thái khác, một hình thái rất đặc biệt: những lý do mà trước kia chưa từng đụng chạm đến lòng tự kiêu của ông thì bây giờ lại khiến ông ta giận dỗi; những lý do bất ngờ, “thượng đẳng” hơn những lý do mà xưa nay đã từng chi phối ông; “nếu ta có thể diễn tả như thế, nếu quả thật là có những lý do thượng đẳng và những lý do hạ đẳng”. Câu này, chính ông thêm vào.
Phải, ông ta đã đến trình độ đó: hiện giờ ông đang chống chỏi với những lý do “thượng đẳng” nào đó mà từ trước ông chưa hề bị ám ảnh. Trong lương tâm, trong lương tri của ông; “những lý do thượng đẳng” được ông hiểu là những gì (đối với ông, ông không thể nào xem là  chuyện «tếu» được, Ồ! Khi đông đủ bạn bè lại là một chuyện khác. Ông ta biết một cách chắc chắn là nếu gặp cơ hội thuận tiện, ông ta sẽ từ chối ngay tức thì “những lý do thượng đẳng” đó mặc dù đã có những quyết định thầm kín và thành tín của lương tri mình. Và chính ông là kẻ đầu tiên sẽ cười nhạo về chuyện đó, dĩ nhiên là ông cố tránh tự thú nhận với mình điều này. Thực thế, việc đó như vậy, mặc cho tính cách độc lập khá quan trọng của tư tưởng mà mới đây ông đã thành công trong việc chế ngự những lý do “hạ đẳng”; những lý do trước đây từng chi phối ông ta. Và đã biết bao nhiêu lần, mỗi sáng khi thức dậy, ông đã tự hổ thẹn về những ý kiến, về những cảm tình đã đến với mình trong những giờ khuya thao thức (mấy lúc sau này, ông thường bị mất ngủ). Đã từ lâu, ông nhận thấy mình càng ngày càng trở nên ngờ vực và mất tin tưởng, hoài nghi trong những việc quan trọng và cả trong những việc vụn vặt, tủn mủn nữa và ông đã quyết định là chỉ nên tin ở mình càng ít càng hay. Nhưng lại có những sự kiện xảy ra mà không thể nào ông không thừa nhận. Trong những ngày gần đây, đôi khi cả ban đêm nữa ; những suy tư, những cảm xúc thông thường của ông hầu như đã biến đổi hoàn toàn và những suy tư, những cảm xúc ấy không còn giống chút nào với những gì ông đã nghĩ, ông đã cảm lúc ban sáng. Việc đó làm cho ông lo lắng và ông đã phải đến hỏi ý kiến một vị danh y thân thiết.
Với một giọng tự nhiên pha chút bỡn cợt, ông kể cho bác sĩ nghe bệnh trạng mình. Ông được bác sĩ cho hay là sự thay đổi và ngay cả sự nhị-hóa tư tưởng và cảm xúc trong những đêm mất ngủ là một hiện tượng rất thông thường của những người nào ‘‘suy tư và cảm xúc mãnh liệt’’. Bác sĩ cũng cho biết thêm là ảnh hưởng khốc hại của đêm khuya và sự mất ngủ đã đột ngột thay đổi cả những điều mà suốt cả một đời ta đã tin theo và có khi ‘‘không đầu, không đuôi’’ đột nhiên, ta có những quyết định tai hại nhất. Nhưng dĩ nhiên việc gì cũng phải một vừa, hai phải, nếu con bệnh cảm thấy sự nhị-hóa đó mãnh liệt đến độ như Veltchaninov mắc phải thì đó là triệu chứng không thể chối cãi được của bệnh hoạn và trong trường hợp này, cần phải đưa trị ngay. Cách hay nhất là thay đổi tận gốc cách sống, cách ăn uống hay làm một chuyến đi xa. Cũng chắc chắn có hiệu quả nữa là hãy dùng thuốc xổ.
Veltchaninov không muốn nghe thêm ; chứng bệnh của ông như thế là đã rõ ràng quá rồi.
‘‘Thì ra là vậy, tất cả việc ấy, tất cả những lý do  ‘‘Thượng đẳng’’ ấy chỉ là do bệnh họan mà ra chứ không có gì lạ cả, ông ta mỉa mai kêu lên. Những ông ta thức tỉnh không chịu nhìn nhận như thế.
Rồi thì, những gì ông ta chỉ đặc biệt cảm thấy khi đêm về, giờ đây lại xảy ra cả về ban sáng, nhưng với nhiều nhức nhối và cay đắng hơn, sự hối hận nhường chỗ cho sự tức giận, sự châm chích thay thế cho lòng ái ngại. Và càng lúc, càng thường xuyên, nhiều việc đã qua, đôi khi đã qua rất lâu rồi trong đời, bỗng khơi dậy trong ký ức ông một cách rất đặc biệt,  ‘‘đột ngột và có Trời biết tại sao’’ . Từ lâu, Veltchaninov vẫn tự than thầm là mình mất trí nhớ ; thí dụ như ông quên hẳn khuôn mặt nhiều người quen biết khiến họ rất bất bình khi gặp lại ông ta ; thí dụ như đôi khi ông không còn nhớ gì đến cốt chuyện một cuốn sách vừa đọc cách đây sáu tháng. Vậy mà, dù cho ký ức thường xuyên kém cỏi như thế (sự suy giảm trí nhớ này đã làm ông bận tâm không ít) ; tất cả những gì dính dáng đến quá vãng xa xăm, những biến cố đã hoàn toàn bị quên lãng từ mươi, mười lăm năm nay đôi khi bỗng xuất hiện đột ngột, xuất hiện với đầy đủ chi tiết, với những ấn tượng nóng hổi khiến ông ta có cảm tưởng là mình đang sống thực vậy. Một số trong những biến cố trên đã hoàn toàn đi vào lãng quên mà việc có thể nhớ lại không thôi, đối với ông, cũng là cả một phép lạ rồi. Nhưng không phải chỉ có thế thôi đâu ! Trong số những người sống nhiều, đã từng trải việc đời, ai lại không có một số kỷ niệm thuộc về một lãnh vực nào đó ? Nhưng điều quan trọng là quá khứ kia khi sống dậy đã hiện ra dưới một khía cạnh hoàn toàn mới, bất ngờ mà trước kia, Veltchaninov chưa hề nghĩ đến. Tai sao, giờ đây dưới mắt ông, có một số kỷ niệm nào đó đã mang bộ mặt của tội ác ? Và việc đó không phải chỉ độc có liên quan đến sự phán doán của lý trí ông ta : ông ta không mấy tin tưởng ở tâm hồn mình, một tâm hồn u uất, cô đơn và bệnh hoạn, ông ta có thể đi đến chỗ tự nguyền rủa, gần như là khóc lóc, và nếu không phải là tiếng khóc nức nở, thì đó cũng là tiếng khóc nghẹn ngào. Hai năm trước, có ai bảo rằng một ngày kia ông sẽ khóc lóc, chắc chắn là ông ta không tài nào tin nổi. Lúc đầu, những kỷ niệm có đượm màu cay đắng hơn là cảm động, ông ta nhớ lại những cuộc giao tế thất bại, những nhục nhã phải gánh chịu ; ông ta hồi tưởng, thí dụ như những lời vu khống của một tên quỉ quyệt đã đưa đến việc thiên hạ thôi tiếp ông ; hay hơn nữa, mới đây không lâu, vì một lẽ gì đó, người ta đã chú ý và công khai xúc phạm đến ông mà không cho ông thách đấu để rửa nhục ; vì lẽ gì, một ngày nào đó, trước mặt những người đẹp, ông đã phải nghẹn lời vì những lời châm độc, ông cũng nhớ lại vài ba món nợ chưa thanh toán, dù rằng nhỏ nhặt, ít ỏi, vô nghĩa thật, nhưng là những món nợ danh dự mà ông đã thiếu chịu của những người ông thôi giao thiệp, và hiện giờ đang bị ông nói hành, nói tỏi. Ông cũng khổ sở (nhưng chỉ cảm thấy trong những lúc khốn đốn nhất), khi nhớ lại hai tài sản, hai tài sản đồ sộ của mình, mà ông đã dại dột phung phí hết. Nhưng rồi chẳng bao lâu, những kỷ niệm đó nhường chỗ cho những việc có ‘‘trình độ cao hơn’’.
Thí dụ như, không vì một lý do nào cả, sau một thời gian dài quên hẳn, đột nhiên ông ta nhớ lại một ông công chức già gương mẫu với mái tóc lốm đốm hoa râm, với tính tình ươn gàn mà một ngày nào đã lâu lắm rồi, đã bị ông công khai hạ nhục một cách vô tội vạ chỉ vì để thỏa mãn tính khoác lác của mình, chỉ vì muốn có dịp thi thố tài nói xỏ, tài chơi chữ mà về sau thiên hạ sẽ còn nhắc nhở đến. Câu chuyện ấy vùi sâu vào ký ức đến nỗi ông ta khó mà có thể nhớ lại tên viên công chức già kia dù rằng tình tiết câu chuyện trên đã hiện ra trong trí ông ta khúc chiết đến độ khó ngờ. Ông ta nhớ lại rõ ràng là ông lão đã tự ý xen vào câu chuyện để bênh vực cho cô con gái luống tuổi mà vẫn chưa chồng và còn ở chung với cha : thiên hạ đã bàn tán nhiều về việc này và nhiều tiếng đồn đãi đầy ác ý đã được truyền đi khắp tỉnh. Ông già đáng thương đã cố gắng biện hộ và sắp sửa nổi giận, thì bỗng nhiên ông òa lên khóc trước mặt mọi người, làm cho tất cả trở nên sượng sùng. Cuối cùng, giả vờ xem như là câu chuyện đùa, mọi người đã phục rượu ông già kia và rồi  ‘‘vui vẻ cả làng’’. Và bây giờ, ‘‘không kèn, không trống’’, Veltchaninov thấy lại ông già nhỏ nhoi ấy đang nức nở khóc trong lòng bàn tay như một đứa trẻ và hình như chưa bao giờ ông ngớt nhớ đến hình ảnh ấy. Điều kỳ lạ là ngay lúc câu chuyện mới xảy ra, ông xem là khôi hài thì giờ đây lại trái lại ; nhất là một vài chi tiết, đặc biệt là hình ảnh ông già khóc vùi, mặt úp vào đôi tay.
Ông ta cũng nhớ lại vì muốn đùa cợt, mình đã vu khống cô vợ khả ái của một thầy giáo trưởng tỉnh, và những lời xuyên tạc đó đã đến tai người chồng như thế nào. Ít lâu sau, ông rời tỉnh và Veltchaninov không biết hậu quả của hành động mình ra sao ; nhưng giờ đây bỗng nhiên ông hình dung ra cái kết quả của việc kia và chỉ có Trời mới biết được trí tưởng tượng sẽ dẫn dắt ông đến đâu, nếu đột nhiên không có một kỷ niệm khác gần hơn vụt hiện ra trong trí óc. Đó là kỷ niệm về một cô gái, một cô gái trung lưu ở tỉnh mà thành thật nói thì ông không thích, lấy làm xấu hổ nữa là khác, nhưng đã mang thai với ông mà ông không ngờ đến. Ông đã bỏ rơi hai mẹ con không một lời giã biệt (thật ra thì ông không có đủ thì giờ) khi ông rời Pétersbourg. Về sau, suốt một năm trời, ông đã cố sức tìm lại người con gái kia, nhưng không gặp. Ông có gần cả trăm kỷ niệm thuộc loại đó, và hình như mỗi kỷ niệm lại kéo theo hàng chục kỷ niệm khác. Dần dần, tình tự kiêu của ồng cũng bắt đầu sứt mẻ.
Như chúng ta đã nỏi ở trên, tính tự kiêu của ông đã mang một sắc thái rất đặc biệt. Thật thế, có những lúc (mặc dù rất hiếm hoi) ông dửng dưng với thế sự đến độ không thấy gì là nhục nhã, xấu hổ khi không có xe riêng, ông phải lết bộ từ cơ quan này đến cơ sở nọ; đến độ mặc cho quần áo xốc xếch ; và nếu có người quen biết cũ nào khinh khỉnh nhìn ông hay giả vờ như không biết ông khi gặp nhau ngoài đường, ông cũng đủ kiêu hãnh để mà không hờn giận, không phải chỉ với bộ mặt làm màu, nhưng chính trong thâm tâm ông như thế. Dĩ nhiên, trường hợp này rất hiếm, chỉ có trong những giây phút ngắn ngủi, ông tự quên mình và tức giận mà thôi. Dầu vậy, dần dần, lòng tự kiêu của ông không còn quan tâm gì đến những việc mà xưa kia đã từng xúc phạm đến mình và giờ đây ông chỉ chú ý đến một đối tượng độc nhất, một đối tượng luôn luôn ám ảnh tâm trí ông.
 ‘‘Hừ, ông ta tự nhủ với giọng mỉa mai (mỗi khi nghĩ về mình, hầu như thường thường, ông bắt đầu bằng giọng điệu mỉa mai), thì ra ở dưới trần này mà cũng có người lo lắng đến đời sống đạo đức của mình và ném trả lại mình tất cả những kỷ niệm  ‘‘chó đẻ’’, và  những giọt lệ thống hối’’ kia ! Được đi, nhưng việc đó có ích gì nhỉ ? Chỉ là nước đổ lá môn! Dầu cho sự hối hận có dày vò và mình đã nghiêm khắc tự lên án, nhưng thật ra mình có chút tự chủ nào đâu dẫu rằng mình mang cả đống tuổi trên đầu, những tứ tuần chứ ít sao?
Ví như mai đây cũng có cùng sự cám dỗ như trước đây, cũng ở cùng trường hợp như trước đây mình đã vì lợi riêng mà tung tin vợ ông giáo trường tỉnh nọ đã nhận quà của mình thì mình cũng không chút ngần ngại mà vu khống nữa. Và câu chuyện lần này sẽ tồi tệ hơn lần đầu nhiều lắm, vì đây là lần thứ hai. Ví như vị hoàng con kia, người con độc nhất của mẹ gã ta mà cách đây khoảng muời một năm đã bì mình bắn què giò : giờ đây nếu hắn lăng nhục mình, mình sẽ thách đấu tức khắc và mình sẽ lại tặng cho gã ta cái chân gỗ thứ hai... Phải chăng là nước đổ lá môn ? Vậy sự việc đó có công dụng gì? Và ngay cả mình, mình cũng đã không tự giải thoát nổi lấy một chút nào thì những kỷ niệm kia có ích gì nhỉ?
Dầu câu chuyện về cô-vợ-ông-giáo-trường- tỉnh kia không có lại lần thứ hai, dù ông không tăng thêm chân gỗ cho ai, nhưng chỉ nghĩ rằng những chuyện ấy sẽ xảy lại không sai chệch nếu lại có hoàn cảnh thuận tiện; thì ý nghĩ đó cũng đã đôi khi... gần như khiến cho ông tưởng chết được. Thật thế, không thể nào chịu đựng nổi sự dày vò thường trực của những kỷ niệm đau buồn kia ; tốt hơn hết là cần phải tỉnh dưỡng và du ngoạn trong những lúc nhàn rỗi.
Veltchaninov sẽ làm như vậy : ông ta đã sẵn sàng để đi du ngọan trong những lúc rỗi rãnh, nhưng cuộc sống của ông ở Pétersbourg ngày càng trở nên vất vả. Tháng bảy sắp đến. Đôi khi, ông có quyết định đột ngột là bỏ tất cả, ngay cả vụ kiện tụng của ông để đi ngay tức khắc, đâu cũng được, như đến Crimée chẳng hạn, và không nghĩ đến việc gì nữa cả. Nhưng thường thường là khoảng một giờ sau, ông xem thường ngay dự định đó và chế nhạo nó: ‘‘Không có cuộc du lịch nào có thể làm cho ta quên được những tư tưởng hắc ám kia, một khi chúng đã sống dậy trong lòng ta, và nếu ta còn đôi chút lương thiện ; vậy thì trốn tránh chúng làm gì ? Và tại sao mình lại phải trốn tránh chúng?’’
‘‘Ừ !  Tại sao phải trốn tránh kỷ niệm ? Ông ta tiếp tục triết lý một cách chua chát. Ở đây bụi bặm thật, ngột ngạt thật, chỗ ăn chỗ ngủ dơ dáy ; trong các cơ sở mà mình đã phí thì giờ giữa một lũ người  áp-phe , đã có biết bao nhiêu là vụ chạy chọt vô ích, bao nhiêu là nỗi lo lắng ti tiện; những người sống ở đây, những khuôn mặt mà ta gặp hằng ngày đã phản ảnh một lòng vị kỷ quá ngây ngô, quá lộ liễu, một sự trở tráo đến lợm giọng, đã phản ảnh tất cả cái nhát nhúa của những tâm hồn thấp kém, tất cả cái hèn của những con tim nhỏ nhen ; ở đây thật là nơi lý tưởng cho những người mắc phải bệnh ưu uất. Tất cả đều bộc trực, tất cả đều minh bạch, không ai nghĩ đến việc giấu diếm dù là việc gì, chuyện mà những mệnh phụ của chúng ta đã làm như thế ở đồng quê, ở nơi dưỡng bệnh, ở nước ngoài. Như vậy, chỉ với sự chân thực và sự giản dị đó, ở đây xứng đáng hơn ở đâu hết. Ta sẽ không đi! Ta sẽ ngủm ở đây, nhưng ta sẽ không đi đâu cả.’’
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 26.06.2023 18:31:50 bởi Thanh Vân>
CHƯƠNG II
 
NGUỜI ĐỘI NÓN CÓ BĂNG TANG

 
HÔM ấy là ngày ba tháng bảy. Sức nóng oi bức thật là chịu hết nổi. Ngày hôm đó là ngày đầy bực bội cho Veltchaninov. Ông phải chạy đôn, chạy đáo suốt buổi sáng, khi thì đi bộ, khi thì ngồi xe, và chiều hôm ấy, dù với bất cứ giá nào, ông phải gặp cho được một nhân vật có thể giúp ít nhiều cho ông. Đó là một nhà doanh nghiệp và là Ủy Viên trong Tham Chính Viện mà ông muốn bất ngờ gặp ở nhà riêng của ông này, nằm không xa Hắc Giang là bao. Đến sáu giờ, Veltchaninov vào một tiệm ăn (có một bộ mặt đáng ngờ dù là do người Pháp làm chủ) ở Đại Lộ Nevski, gần cầu Cảnh Sát. Ông ngồi vào chỗ của ông nơi chiếc bàn quen thuộc, và gọi bữa cơm chiều đáng giá một rouble ; rượu uống phải trả thêm, chỉ thỉnh thoảng ông mới gọi và xem đó là sự tính toán khôn ngoan, đối với tình trạng làm ăn khó khăn của ông. Tự lấy làm lạ vì sao có thể nuốt trôi những thức ăn tồi tệ như thế, ông vẫn ngấu nghiến cho đến miếng cuối cùng, và mỗi lần với một sự khoái khẩu như là đã nhịn đói đã ba bốn ngày rồi vậy. ‘‘Thật là bệnh hoạn , ông tự nhủ thầm như thế khi nhận ra sự ngon miệng của mình. Nhưng lần này, ngồi ở bàn ăn với nét mặt bực dọc, ông cáu kỉnh ném nón vào một góc, tựa cùi tay vào bàn và nghĩ vơ vẩn. Chỉ cần người khách ngồi bàn bên cạnh gây vài tiếng động, hay anh bồi bàn chưa kịp nghe ông ta sai bảo thì ông ta, người được tiếng là tử tế và nếu cần là người điềm nhiên và cao ngạo, chắc chắn sẽ gây sự như một chú hạ sĩ quèn và có thể làm om sòm là khác nữa.
Nhà hàng dọn lên món ‘‘xúp’’ ; ông cầm muỗng định múc, nhưng bỗng nhiên ông ném muỗng xuống bàn và thiếu chút nữa là nhào ra khỏi ghế. Một ý kiến bất ngờ loé sáng trong đầu ông: ngay từ phút ấy, ông chợt nhận ra, có Trời mới biết vì sao ! Cái nguyên nhân của nỗi phiền muộn của mình, của cái nỗi phiền muộn lạ lùng, đặc biệt, đã dày vò, làm khổ làm sở ông trong nhiều ngày gần đây; cái nỗi phiền muộn, có Trời mới biết từ đâu đến ! Và không ngừng vây hãm ông ta, cũng có Trời mới biết tại sao! Bỗng chốc tất cả trở nên rõ ràng và giản dị như là năm đầu ngón tay vậy.
‘‘Cái nón, ông lẩm bẩm như được mặc khải.  Chính cái nón tròn khốn nạn với chiếc băng tang xấu xí kia là nguyên nhân độc nhất của tất cả!
Ông ta bắt đầu suy nghĩ, và càng suy nghĩ, ông càng trở nên trầm mặc và  ‘‘biến cố’’ đó, đối với ông càng lúc càng kỳ lạ.
‘‘Nhưng... đó có thật là một biến cố không? Ông tìm đủ cách để bác bỏ, không còn tin tưởng gì ở mình nữa. Có điều gì giống với một biến cố không nào?
Đây là những gì đã xảy ra : gần hai tuần trước đây (ông ta nhớ không đúng cho lắm, nhưng ông tin chắc là hai tuần), ông đã gặp lần đầu tiên ở gần góc đường Podiatcheskaia và Méstchannskaia một người đàn ông có mang băng tang trên chiếc nón. Người đó không khác gì những người khách qua đường khác, nghĩa là không có gì đặc biệt; ông ta vượt qua rất nhanh, nhưng lại ngoái nhìn Veltchaninov hơi kỹ khiến ông này phải chú ý ngay. Dù sao khuôn mặt người khách qua đường kia hình như quá quen thuộc với Veltchaninov; chắc chắn là trước kia, Veltchaninov đã gặp ông ta ở đâu đây. Vả lại, suốt cuộc đời, không phải là mình đã gặp cả hàng nghìn người sao! Không ai có thể nhớ nổi hàng nghìn khuôn mặt ấy! Đi quá một quãng xa, hình như ông đã quên cuộc gặp gỡ kia, dầu rằng cái ấn tượng đầu tiên còn nóng sốt. Suốt cả ngày, ấn tượng này còn mãi, dưới hình thức một sự bực dọc vô cớ, một nỗi bực bội rất đặc biệt. Bây giờ, hai tuần lễ sau, ông ta nhớ lại rất rõ ràng tất cả sự việc đó; ông ta cũng nhớ lại là lúc bấy giờ không hiểu vì đâu mình phát cáu, đến nỗi ông không làm sao tìm ra được mối liên hệ giữa sự cáu kỉnh của mình tối hôm đó với cuộc gặp gỡ lúc ban sáng. Nhưng rồi chính người khách qua đường kia đã tự mình vội vã giúp ông nhớ lại kỷ niệm : ngày hôm sau, ông ta lại gặp Veltchaninov ở Đại Lộ Nevski và một lần nữa, nhìn ông một cách kỳ lạ. Veltchaninov giận tràn hông, ông nhổ nước bọt nhưng lập tức lấy làm lạ về cử chỉ mới gặp lần đầu đã gây cho ta một nhờm chán khó lý luận, một ngấy chán không đối tượng. Nửa tiếng sau cuộc gặp gỡ đó, với dáng điệu trầm ngâm, ông ta lẩm bẩm :  ‘‘Ừ ! Mình đã gặp lại hắn ta ở đâu đây rồi’’. Và tối ấy, một lần nữa, ông tỏ ra cáu kỉnh đến đáng ghét; ông còn nằm mơ thấy cả một cơn ác mộng nữa, nhưng ông không hề nghĩ là sự dao động tâm hồn một cách mới lạ và đặc thù đó là do cái ông đội- nón- tang gây nên, dù suốt cả buổi tối hôm ấy, Veltchaninov thường nghĩ đến ông kia luôn. Ông cũng cảm thấy bực dọc khi những ‘‘thứ cà chớn như thế’’ lại có thể ám lâu trong trí não mình. Còn việc quy cho ‘‘cái ông đó’’  trách nhiệm gây nên sự bực dọc thì chỉ mới nghĩ đến thôi, ông cũng đã cảm thấy khá nhục rồi. Hai ngày sau, họ lại gặp nhau một lần nữa trong một đám đông khi rời con tàu xuôi ngược trên dòng Néva. Trong lần thứ ba này,  Veltchaninov thề có Trời đất là ‘‘ông để tang’’  kia nhận ra mình và cô gắng rẽ đám đông  cuồn cuộn để sấn về phía mình. Và hình như, lão ta lại ‘‘còn dám’’ quơ tay ra dấu và có lẽ lão ta còn gọi ầm lên và réo cả tên mình nữa. Việc này thì Veltchaninov nhận định chưa rõ lắm, nhưng... ‘‘Thằng khốn nạn ấy là ai và tại sao nó không đến gặp thẳng mình, nếu quả thật là nó qnen mình và nó hết sức muốn đến gần mình?’’, ông đã giận dữ tự bảo như thế khi đã yên vị trong chiếc xe thổ mộ đi đến tu viện Smolny. Nửa tiếng sau, ông bàn cãi sôi nổi với vị luật sư riêng ; nhưng, chiều và tối ấy, một nỗi lo âu khắc khoải, quái dị, một lần nữa, dày vò tâm hồn ông. ‘‘Có phải bị bệnh xuất mật không nhỉ?’’, ông lo lắng tự nhủ khi nhìn vào gương bóng mình.
Đó là cuộc gặp gỡ lần thứ ba. Suốt năm ngày sau, ông không gặp ‘‘một ai’’ , và ‘‘tên khốn nạn’’ cũng biệt vô âm tín. Tuy nhiên, thỉnh thoảng, cái kỷ niệm về cái ông mang nón tang lại trở về trong trí, và không phải là không gây cho ông một sự ngạc nhiên.  ‘‘Mình nôn nóng muốn gặp lại hắn ta đến thế ư? Hừ, hắn ta có lẽ cũng nôn nóng như mình. Hắn ta có lẽ có nhiều việc phải làm ở Pétersbourg. Và hắn ta để tang cho ai vậy nhỉ? Việc này không hợp với hắn chút nào cả... Hình như nếu mình nhìn gần và kỹ hắn ta, mình sẽ biết hắn là ai...’’
Có đôi điều như sắp thành hình trong kỷ ức ông, như là khi ta muốn nhớ một danh từ quen thuộc mà bỗng nhiên ta quên khuấy: mình biết rõ danh từ đó và mình biết là mình thông hiểu ‘‘nó’’ , mình biết  nó  nghĩa là gì, mình dò dẫm xung quanh ‘‘nó’’; nhưng, dù cố gắng đến mấy, mình vẫn không thể nào nhớ ra nổi danh từ ấy.
‘‘Đó là...đã lâu lắm rồi... Và ở tại đấy... Ở tại đấy có... Hừ! Cầu cho ma quỷ bắt tất cả đi ! Ông ta bỗng nhiên la lớn. Đáng gì phải mệt óc để tự bôi nhọ và tự lăng nhục vì tên khốn nạn đó nhỉ !’’
Ông ta lâm vào cơn giận dữ kinh khủng; nhưng đến tối, khi sực nhớ lại cơn giận dữ ‘‘quá kinh khủng’’ đó, ông lấy làm khó chịu: như là ông bị bắt quả tang việc gì; ông cảm thấy bối rối và ngạc nhiên.
‘‘Phải có một lý do nào khiến mình giận dữ như thế… mình đột nhiên giận dữ… khi nghĩ đến kỷ niệm kia…’’ Ông tiếp tục nghĩ ngợi nữa… Và ngày hôm sau, ông lại lâm vào một cơn giận còn dữ dội hơn nữa ; nhưng lần này, đối với ông, hình như sự giận dữ kia có lý do và ông giận, hoàn toàn là phải. ‘‘Thật là một sự trơ trẻn vô tiền khoáng hậu !’’.
Rồi thì lần gặp gỡ thứ tư lại xảy ra ;  Ông-mang-nón-tang, một lần nữa, lại xuất hiện như dưới đất chui lên. Veltchaninov, sau nhiều ngày tìm cách diện kiến và có khi theo đến tận nhà riêng, cuối cùng đã gặp được ở ngoài đường ông ỦY Viên trong Tham Chính Viện mà ông cần nhờ vả. Viên công chức cao cấp này, người sơ giao với Veltchaninov, đã tìm đủ mọi cách để tránh ông, không để bị ông bắt gặp bất chợt và lẩn mặt Veltchaninov một cách không giấu diếm. Rất sung sướng vì cuối cùng gặp được người mình nhờ cậy, Veltchaninov sóng bước bên cạnh ông ta.
Nhìn thẳng vào mặt người bạn đồng hành, Veltchaninov gắng sức hết lái câu chuyện về một vấn đề định trước với mong muốn ông kia sẽ để lộ tâm can và nói hớ một vài câu quan trọng mà ông chờ nghe đã từ lâu; nhưng tên già tinh ma kia cũng có phương pháp riêng: ông ta chỉ cười nụ và im lặng. Và đúng trong lúc gay cấn đó, Veltchaninov bỗng nhiên nhận rõ ở lề đường bên kia cái ông đội nón có đính băng tang. Hắn ta dừng lại và nhìn chằm chặp hai người. Và rõ ràng là hắn ta theo dõi hai người và hình như hắn cũng đếch cần hai người có biết hay không.
 ‘‘Đồ dịch vật!’’, Veltchaninov giận dữ la lên: ông ta vừa chia tay viên công chức, và ông cho rằng mình thất bại là vì sự xuất hiện đột ngột của ‘‘tên hỗn xược’’ kia. ‘‘Đồ dịch vật! Phải chăng nó dò la mình. Rõ ràng là nó theo dõi mình ! Ai đã trả tiền cho nó làm việc này? Và... và... thề có Trời! Ông ta cười ngạo ! Thề có Trời, ta sẽ đánh nó mềm xương ! Đáng tiếc là mình không sẵn trong tay một chiếc ‘‘can’’! Mình sẽ mua một chiếc mới được ! Không thể bỏ qua như thế nầy! Hắn ta là ai nhỉ? Ta cần phải biết hắn là ai?’’
Cuối cùng, đúng ba ngày sau cuộc gặp gỡ nói trên (cuộc gặp gỡ lần thứ tư), chúng ta gặp lại Veltchaninov trong quán ăn quen của ông ta, với sự lo lắng ra mặt và cả đôi chút bối rối nữa như chúng ta đã nói ở những trang trên. Sau khi xem xét mọi trường hợp, mọi tình tiết, cuối cùng ông ta bắt buộc phải công nhận là nguyên nhân độc nhất của sự cáu kỉnh, của mọi phiền muộn rất ưđặc biệt và của tất cả những xúc động từ hai tuần nay của ông, nguyên nhân đó, không có gì khác hơn là chính cái ông để tang kia, ‘‘mặc dù sự không -ra-gì-tột-độ của hắn ta’’.
 ‘‘ Công nhận mình là một người mắc bịnh ưu uất đi, Veltchaninov nghĩ như thế, và do đó mình sẵn sàng xem con chuột là quả núi, nhưng đỡ khổ cho mình biết bao, nếu mình biết rằng tất cả những chuyện đó lẽ thuần do óc tưởng tượng mà ra? Nếu lại cho phép một thằng ba que vớ vẩn nào đó làm điên đảo cả nếp sống của một người thì …thì…’’
Thật thế, hôm nay (đó là lần gặp gỡ thứ năm) quả núi đã có tất cả hình dáng của một con chuột : cũng như những lần trước, ‘‘cái ông đó’’ thoáng nhanh qua, nhưng lần này hắn ta lại không nhìn Veltchaninov, lại giả vờ không biết Veltchaninov là ai, trái lại cúi gằm đầu xuống và hình như cố tránh để khỏi bị nhận diện. Veltchaninov quay lại và lớn tiếng gọi :
‘‘Ê ! Ông kia ! Ông có tang kia ! Bây giờ ông lại cố tránh hả ! Dừng lại, ông là ai vậy?’’
Câu hỏi cũng là những lời réo gọi thật là ngu xuẫn. Nhưng Veltchaninov chỉ nhận thức được sau khi đã lên tiếng. Cái ông bị gọi như thế đó ngoảnh lại, dừng bước trong giây lát, hơi bối rối, mỉm cười, định nói một vài câu, định phác một vài cử chỉ: chắc chắn là có một phút giây nào đó, đã vô cùng do dự, rồi thì, bỗng nhiên, ông ta quay trở lại và bỏ chạy không ngoái đầu nhìn lại. Rất ngạc nhiên, Veltchaninov nhìn vói theo.
 ‘‘Rất có thể là, ông ta thầm nghĩ, không phải hắn ta theo dõi mình mà chính mình theo dõi hắn ta, và tất cả sự việc chỉ có thế...’’
Sau khi ăn xong, ông thuê xe đến biệt thự của viên công chức cao cấp kia. Nhưng ông không gặp : người nhà ông kia đã trả lời là  ‘‘từ sáng đến giờ, ông chủ vẫn chưa về và có lẽ ông ta sẽ về vào khoảng trước ba hay bốn giờ khuya vì ổng còn ở lại dưới phố để ăn mừng sinh nhật một người bạn’’. Veltchaninov cảm thấy chuyện này là một chuyện sỉ nhục nên, trong lúc đầu giận dữ, ông quyết định đi tìm vị khách quý của buổi sinh nhật kia ; ông ta lên đường tức thì, nhưng nhận thấy mình đã đi hơi quá lố, nên nửa đường, ông xuống xe và kéo bộ về tận nhà trọ ở gần Nhà Hát Lớn. Ông thấy cần tản bộ. Để làm dịu dây thần kinh đang căng thẳng, bằng đủ mọi cách, đêm nay ông phải ngủ yên, và để trị bệnh mất ngủ, ít ra ông phải tự làm cho mình mỏi mệt. Vì đường khá xa nên ông về nhà vào lúc mười giờ rưỡi và quả nhiên là ông mệt nhoài.
Căn nhà ông thuê từ hồi tháng ba, căn nhà mà ông đã từng chê bai và nguyền rủa chí ư là chua cay, mà ông đã từng biện hộ với chính mình rằng ‘‘đó chỉ là nơi ăn nhờ ở đậu’’ và đó là vì ‘‘ cái vụ kiện tụng khỉ mốc kia’’ đã ‘‘tạm thời’’ giữ mình ở lại Pétersbourg, cái căn nhà đó không đến nỗi thiếu tiện nghi và tồi tệ như ông đã từng đoan chắc. Lối vào cổng chính, hơi âm u ở lầu hai, gồm hai gian phòng lớn, quang đãng và cao ráo, cách nhau bởi một gian phòng xép có phần nào tối tăm. Hai gian phòng đó, một nhìn ra đường và một trông ra sân; cái sân này lại nằm kế một căn phòng dùng làm phòng ngủ nhưng Veltchaninov lại dùng làm nơi chứa bừa bãi sách vỡ và giấy tờ ; ông ta ngủ trong gian phòng quay ra mặt đường và giường của ông là chiếc đi-văng. Bàn ghế tuy hơi cũ kỹ nhưng đúng kiểu và ông còn có những đồ vật đáng giá nữa ; những bảo vật còn sót lại của một quá khứ huy hoàng, những đồ xứ và đồ đồng, những tấm thảm chính hiệu của Boukhara và hai họa phẩm khá đáng giá. Nhưng tất cả đều bụi bặm, nằm vô trật tự và người ta khó mà tìm đúng chỗ của chúng từ khi cô Pélagie tươi trẻ, người giúp việc của ông, về thăm song thân ở Novgorod và để ông ở lại một mình. Sự kiện một người con gái đang xuân ở chung với một người đàn ông độc thân, một người lịch thiệp và còn muốn đòi chút lễ nghi, sự kiện đó thật là đáng lạ lùng và việc này đã làm Veltchaninov thẹn thùng, mặc dù ông rất vừa ý về công việc làm của Pélagie. Cô ta về ở với ông vào mùa xuân khi ông mới thuê căn nhà này; gia đình mà trước kia cô ta giúp việc đã đi ngoại quốc. Sự ngăn nắp đã đến cùng với cô ngay khi cô mới đến ở ; nhưng khi cô đi, Veltchaninov không còn muốn mướn một cô hay một bà nào khác nữa cả. Còn về phần người giúp việc đàn ông thì ông ta không mấy thích họ, và cũng không cần thiết mướn họ cho lắm trong một thời kỳ ngắn ngủi. Giờ đây, việc dọn dẹp nhà cửa, mỗi sáng ông giao cho Mavra, cô em của bà gác cổng, khi ông rời nhà và trao hẳn chìa khóa cho cô ta. Nhưng ông cũng biết cô nàng chẳng làm gì hết dù lãnh lương rất đều và còn có thể cầm nhầm tiền bạc nữa là khác. Nhưng, ông la vốn hững hờ với mọi sự, vả lại, ông cảm thấy sung sướng khi được hoàn toàn một mình. Tuy nhiên, việc gì cũng có giới hạn và thần kinh của ông, khi mật tiết ra nhiều, không chịu đựng nổi sự  dơ dáy  kia, và hình như ông luôn luôn cảm thấy một sự nhờm tởm sâu đậm khi trở về nhà.
 
Nhưng lần này, vội vã thay quần áo, ném mình xuống giường, và, bực dọc, ông cố gắng không nghĩ ngợi đến điều gì cả và cố gắng ngủ  ‘‘tức khắc’’ . Việc đáng lạ là khi vừa đặt đầu xuống gối, ông ngủ liền. Việc đó chưa từng xảy ra từ một tháng nay.
Ông ngủ gần ba tiếng nhưng không thẳng giấc. Ông thấy những giấc mộng kỳ lạ như khi bị lên cơn sốt vậy. Ông thấy mình liên quan đến một vụ án mạng mà mình đã nhúng tay vào và cố giấu đi, nhưng đã bị rất nhiều người không biết từ đâu đến, không ngớt vào nhà ông và đồng thanh tố cáo ông. Đã có rất đông người trong nhà, nhưng họ vẫn tiếp tục đến, và cửa lại mở toang. Nhưng rồi tất cả đều chú mục vào một nhân vật kỳ lạ mà ông đã từng quen thân; nhân vật này đã chết và giờ đây vừa đột ngột bước vào. Điều khổ tâm là Veltchaninov không biết ông đó là ai: ông đã quên hẳn tên người đó và không thể nào nhớ lại nổi; ông chỉ biết là xưa kia ông đã từng thương mến người đó! Hình như người đó chính là nhân vật mà toàn thể đám đông đang chờ đợi để nghe một lời tuyên bố dứt khoát là kết tội hay tha bổng Veltchaninov, và tất cả đều có vẻ sốt ruột. Nhưng người đó ngồi bất động và không chịu nói gì cả. Sự ồn ào vẫn không giảm bớt, sự khích nộ lớn dần; và bị cơn giận lôi kéo, đột nhiên Veltchaninov đánh người đó vì ông ta đã im lặng một cách ngoan cố, và trong khi đánh đập, ông cảm thấy một niềm khoái lạc kỳ thú. Sự ghê tởm về hành động của mình cùng với sự đau khổ đã bóp nát con tim ông, nhưng chính việc đó đã tạo cho ông niềm khoái lạc kỳ thú nói trên. Hoàn toàn bị cơn giận chi phối, ông đập thêm lần thứ hai, rồi lần thứ ba, và say máu như bị một cơn điên thôi thúc, một cơn điên tràn đầy khoái lạc, ông ngừng đếm những cú đấm và đánh đập ông kia liên hồi. Ông ta muốn phá hủy, muốn thủ tiêu ‘‘cái đó’’, tất cả cái đó. Nhưng bỗng nhiên có vài việc mới lạ xảy ra: tất cả mọi người đều la lên, rồi họ hướng về phía cửa chính như chờ đợi một ai. Ngay lúc đó, vang lên ba tiếng chuông, ba tiếng chuông náo động như là người gọi cửa muốn giựt đứt luôn dây kéo chuông. Veltchaninov vùng thức dậy, sực tỉnh, nhảy ra khỏi giường và vội vã chạy ra cửa. Ông hoàn toàn tin chắc tiếng chuông kia không phải là một ảo giác và đích thực có một ai đấy gọi cửa. Khó mà tin rằng ảo giác lại có thể là một tiếng chuông rõ ràng cụ thể như thế được.
Nhưng kinh ngạc biết bao! Ông nhận thấy tiếng chuông réo gọi kia chỉ là sự tiếp nối của giấc mộng. Ông mở cửa, bước đến đầu cầu thang và còn chịu khó nhìn cả xuống thang gác nữa, nhưng không có ai cả. Quả chuông vẫn treo lủng lẳng, bất động. Kinh ngạc nhưng mãn nguyện, ông quay về buồng ngủ. Khi đốt nến lên, ông sực nhớ là cửa chính chỉ khép hờ chứ chưa khóa mà cũng chả cài then. Thường thường, khi về nhà rồi, ông quên khóa cửa ban đêm, và ông cũng chẳng để ý đến chuyện này cho lắm. Pélagie đã nhiều phen phàn nàn với ông về vụ này. Ông quay ra căn phòng xép để đóng cửa, nhưng trước khi đóng, ông còn hé nhìn ra ngoài một lần nữa, rồi mới cài then, nhưng lại quên khóa. Đồng hồ treo trên tường gióng chuông báo hai giờ rưỡi đêm; ông đã ngủ được ba tiếng.
Giấc mộng vừa rồi còn xúc động mạnh đến độ ông không thể nào ngủ lại ngay được ; ông quyết định bách bộ khoảng nửa tiếng quanh phòng, ‘‘thời gian để hút một điếu xì-gà’’. Ăn bận sơ sài, ông đến gần cửa sổ, giở tấm màn che dày ra, rồi vén đến bức mành mành. Trời đã bắt đầu hửng sáng.
Những đêm hè quang đãng ở Pétersbourg luôn luôn khích động đến thần kinh hệ của ông và mấy lúc sau này còn làm cho bệnh mất ngủ của ông tăng thêm ; do đó, ông đã cho treo ở mấy cánh cửa sổ những bức màn dày để ngăn không cho ánh sáng lọt vào khi ông khép cửa. Khi tấm màn được vén lên, và quên là ngọn nến đang cháy sáng trên bàn, ông bắt đầu thả bước quanh phòng, tâm trí bị ám ảnh bởi một cảm giác nặng nề và khó chịu. Ấn tượng do giấc mộng vừa rồi gây nên vẫn chưa phai. Nghĩ đến việc mình có thể vung tay và đánh đập người đó, việc này làm cho ông thực tình khó chịu.
‘‘Nhưng ông đó không có và không bao giờ có trên cõi đời này kia mà ! Đó chỉ là một giấc mộng. Việc gì mà mình phải than van?’’
Và tất cả những nỗi lo âu, những nỗi ưu tư của ông như đều quy về điểm đó, ông nôn nóng nghĩ rằng quả nhiên là mình lâm bệnh: ‘‘Một bệnh nhân !’’
Ông luôn luôn lấy làm khó chịu. Khi phải thú nhận là mình trở nên già yếu và trong những lúc khổ sở, vì ác ý, ông thổi phòng lên những bệnh trạng của mình, để tự hành hạ mình.
 ‘‘Đó là tuổi già ! Mình đã già quá rồi, ông vừa dạo bước vừa lẩm bẩm ; mình mất trí nhớ, mình thấy ma, mình gặp những cơn ác mộng, mình nghe vọng những tiếng chuông. Trời đất quỷ thần ơi ! Theo kinh nghiệm, cứ mỗi lần mình thấy những cơn ác mộng dữ như thế thì thường thường đó là triệu chứng của cơn sốt... Chắc chắn là câu chuyện ‘‘ông để tang’’ cũng chỉ là một giấc mộng mà thôi. Hôm qua quả nhiên là mình nhận xét rất đúng : chính mình là người bám riết lão ta chứ đâu phải lão ta theo dõi mình. Mình đã tưởng tượng ra cả một câu chuyện hoang đường về lão ta rồi thì đâm ra sợ hãi, mình đã chui xuống gầm bàn ! Và tại sao mình lại xem ông ta là một thứ lưu manh, khốn nạn? Có thể ông ta là một người đàng hoàng. Bộ mặt của ông ấy khó coi thật, nhưng không có gì đáng gọi là xấu xí; ngoài ra ông cũng ăn mặc như tất cả mọi người. Nhưng có một cái gì khang khác ở trong tia mắt của ông ta... Đó! Mình lại bắt đầu ! Mình lại nghĩ đến lão ta nữa! Mà tia mắt của lão thì quan hệ  ‘‘đếch’’  gì đến mình ! Mình không thể sông mà không nghĩ đến tên vô lại đó à !’’
Giữa mớ ý tưởng hỗn độn trong đầu óc, có có một ý tưởng đã làm tổn thương ông nặng nề : ông tin chắc là ông để tang đó, xưa kia đã biết rõ về ông, và giờ đây lại xem thường ông khi gặp nhau, cái ông đó lại cũng biết rõ một trong những sự bí ẩn quan trọng của quá khứ ông, và giờ đây lại trông thấy ông sa sút đến như thế. Ông đến gần cửa sổ mà không hay ; định mở cửa và hít vào phổi làn không khí ban đêm, và... và bỗng nhiên ông rùng mình… hình như có một vài sự gì kỳ quái và phi phàm đã xảy ra.
Ông chưa kịp mở cánh cửa sổ, đã vội lẩn nhanh vào góc cửa và ẩn mình ở đó : ở phía bên kia lề đường vắng người, ngay trước mặt nhà, đột nhiên ông thấy cái ông đội nón có mang băng tang. Cái ông đó đứng trên lề, mặt hướng về phía cửa sổ ; chắc chắn là ông ấy không thấy ông và hình như ông ta vừa kỹ lưỡng quan sát ngôi nhà, vừa ra chiều suy nghĩ. Hình như ông ta hơi do dự và toan tính chuyện gì: ông ta giơ ngón tay lên, và lấy ngón tay gõ gõ vào trán. Cuối cùng ông tỏ vẻ dứt khoát, lén lút nhìn quanh mình, rồi thì nhón gót, thu mình lại, ông băng nhanh qua đường... Thì ra vậy : ông vào lối cổng chánh bằng chiếc cửa nhỏ bên hông (thường thường về mùa hè, cửa nầy được bỏ ngỏ cho đến ba giờ sáng). ‘‘Hắn ta đến nhà mình’’, Veltchaninov tự nhủ thầm như thế, và rón rén trên đầu ngón chân, ông chạy vội ra phòng xép và nép mình trước cửa chính ; tinh thần hoàn toàn căng thẳng trong sự chờ đợi, bàn tay run rẫy đặt trên cái then vừa được cài lại hồi nãy, ông lắng tai nghe tiếng chân chạm nhẹ trên thang gác.
Tim đập mạnh đến độ sợ không thể nào nghe được người khách lạ đang nhón gót bước lên cầu thang. Ông ta không biết chuyện gì đã xảy ra, nhưng ông cảm thấy tất cả những gì đang xảy ra với một độ bén nhậy được tăng lên gấp bội. Như là mộng lẫn lộn với thực. Veltchaninov vốn can đảm, ngay cả khi không có ai chứng kiến, đôi khi ông cũng xem thường hiểm nguy đến độ liều lĩnh chỉ để thỏa mản độc nhất ý thích riêng tư mà thôi. Nhưng giờ đây lại khác; là người mang bệnh ưu uất, lối rày lại hay lo lắng và mau nước mắt nên ông hoàn toàn thay đổi : ông không còn là ông trước kia nữa. Một chuỗi cười nôn nóng và im lặng lay chuyển lồng ngực ông. Xuyên qua cánh cửa đóng kín, ông đoán ra từng cử động của người khách lạ.
‘‘ À ! Nó đang đi lên đó! Nó đã đến rồi đây, nó cúi mình xuống nghe ngóng trong cầu thang, nó vừa thở vừa lén lút bước tới... À! Nó đã nắm nắm cửa, nó kéo, nó thử ! Nó hy vọng là cửa không đóng ! Nó biết là đôi khi mình quên khóa cửa mà ! Nó lại kéo cửa lần nữa ! Nó nghĩ là then cài sẽ gãy? Thật là đáng tiếc nếu bỏ về tay không?
Thật ra, mọi việc đều đã xảy ra như ông miêu tả : có một người nào đó đứng sau cánh cửa, nhẹ nhàng thử ổ khóa, không một tiếng động, và kéo cánh cửa. ‘‘Hiển nhiên là hắn ta có một mục đích nào đây’’. Nhưng Veltchaninov đã có sẵn giải pháp? ông phấn khởi chờ đợi cơ hội thuận tiện, ông chuẩn bị chu đáo, ông thu người đợi chờ : một ước muốn khó lay chuyển là đột nhiên mình tháo cái then cài, mở toang tức thì cánh cửa và chạm mặt ‘‘ông kẹ’’ kia với câu hỏi : ‘‘Làm gì ở đây vậy, kính thưa Ngài?’’
Đó là những gì sẽ xảy ra: chọn đúng lúc, ông mở then cài, tông cửa ra và thiếu chút nữa là đụng nhằm cái ông đội nón quấn băng tang.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 27.06.2023 18:14:29 bởi Thanh Vân>
CHƯƠNG III
 
PAVEL PAVLOVITCH TROUSSOTZKY

 
 
ÔNG kia có vẻ sửng sờ. Hai người đối diện nhau và cùng nhìn vào mắt nhau. Như thế trong chốc lát, rồi bỗng nhiên, Veltchaninov nhận ra người khách.
Và, cũng ngay lúc ấy, người khách quyết đoán là Veltchaninov biết mình: điều đó hiện ra trong đôi mắt. Chỉ trong chốc lát, nét mặt của ông kia như dãn ra trong một nụ cười khả ái.
— Chắc chắn là tôi đang được cái hân hạnh tiếp chuyện với ông Aléxéi Ivanovitch? Ông ta thốt ra với một giọng ngọt ngào và thanh tao, tạo thành
một sự mâu thuẫn rất ư là khôi hài với cảnh ngộ lúc bấy giờ.
— Ông đúng là Pavel Pavlovitch Trossotzky chứ ? Veltchaninov hỏi lại, giọng kinh ngạc.
— Cách đây chín năm, ở tỉnh T..., chúng ta đã từng quen biết nhau, và, nếu anh cho phép tôi nhắc lại, sự giao thiệp của chúng ta rất là thân thiết.
— Vâng... có thể là thân thiết... nhưng… bây giờ đã ba giờ khuya rồi, và anh đã thử trong mười phút để mở cửa nhà tôi...
— Ba giờ rồi ! Ông vừa la lớn vừa rút đồng hồ trong túi ra xem và ngạc nhiên lắm. Ba giờ thật rồi nhỉ ! Thứ lỗi cho tôi, Aléxéi Ivanovitch, đáng lý tôi phải nghĩ đến điều này khi bước vào đây, tôi lấy làm áy náy lắm. Lần khác, tôi xin trở lại và giải thích anh rõ, và bây giờ...
— À không! Nếu muốn giải thích, xin anh giải thích ngay bây giờ, Veltchaninov đáp lại. Xin mời anh vào, phòng ở bên cạnh đấy thôi. Chắc chắn là anh muốn vào nhà tôi chứ đâu phải đến đây trong đêm hôm khuya khoắt chỉ để thử ổ khóa...
Ông ta xúc động và đồng thời hơi bối rối, và ông cảm thấy mình không thể nào tập trung nổi tư tưởng. Ông cũng cảm thấy hổ thẹn nữa : chả có gì là bí mật, là nguy hiểm cả; tất cả ảo giác đó chỉ còn sót lại có khuôn mặt đần độn của một tên Pavel Pavlovitch nào đó. Tuy nhiên, ông cũng không tin chắc là tất cả chỉ giản dị có thế: ông tiên đoán một cách mơ hồ và lo ngại là có điều gì kỳ lạ đây.
Sau khi mời khách ngồi vào cái ghế bành, ông ngồi trên giường, cách cái ghế độ một bước, mình hơi cúi về phía trước, lòng bàn tay đặt trên đầu gối, ông sốt ruột chờ ông kia nói trước. Ông quan sát kỹ lưỡng ông kia và tập trung kỷ niệm. Nhưng điều kỳ lạ, ông khách vẫn im lặng và hình như không có gì chứng tỏ là ông ta sắp nói ‘‘ngay tức thì’’. Trái lại, ông nhìn chủ nhà với một vẻ dò hỏi như là đang chờ đợi một điều gì. có thể chỉ vì ông ta sợ, còn cảm thấy lúng túng như một chú chuột vừa sập bẫy. Nhưng rồi Veltchaninov phát cáu hét:
— Thế nào, tôi nghĩ rằng anh không phải là một giấc mơ, cũng chẳng phải là một con ma kia mà! Phải chăng anh đến đây để chơi trò ma ? Hãy giải thích dùm đi, cha nội!
Người khách cựa mình, mỉm cười và bắt đầu nói một cách dè dặt:
— Điều làm anh kinh ngạc nhất là tôi đến vào giờ này và... trong một hoàn cảnh quá đỗi đặc biệt... Nhớ lại những gì đã xảy ra giữa hai chúng ta và vì lẽ gì chúng ta xa nhau, theo ý tôi thật lạ lùng... Vả lại, tôi không nghĩ đến chuyện vào nhà anh, và nếu việc này có xảy ra thì cũng chỉ là một sự tình cờ...
— Sao, tình cờ à? Nhưng từ cửa sổ, chính tôi thấy anh đang rón rén băng qua đường kia mà !
— À ! Anh đã thấy tôi! Như thế hẳn anh biết rõ hơn tôi về tất cả những việc đó! Nhưng tôi chỉ làm cho anh bực mình... Đây chuyện như thế này : Từ ba tuần nay tôi đã ở đây để lo một công việc riêng... Tôi là Pavel Pavlovitch Troussotzky như anh đã nhận biết. Tôi đang vận động để thay đổi chỗ làm và được bổ dụng vào một nhiệm sở khác, giữ một chức vụ quan trong hơn... Tuy nhiên, đó chẳng phải là việc đáng nói... Việc chính, nếu anh muốn biết, là tôi đã mất ba tuần lễ ở đây và ngay chính tôi, hình như thế, đã kéo dài công việc, công việc bổ nhiệm của tôi; và thật ra, nếu công việc có xong xuôi chăng nữa, tôi tin là tôi cũng sẽ quên rằng công việc đã có kết quả mỹ mãn vì tôi sẽ không thể nào rời Pétersbourg với tâm trạng như hiện nay. Tôi lang thang đây đó như là mất hẳn mục tiêu và hầu như sung sướng vì sự mất mát đó; trong tâm trạng hiện nay của tôi...
— Trong tâm trạng nào, Veltchaninov nôn nóng ngắt lời...
Ông khách ngước mắt nhìn ông ta, tay cầm chiếc mũ và với một cử chỉ trang trọng, ông chỉ vào cái băng tang :
— Vâng, đây là tâm trạng của tôi.
Veltchaninov thẩn thờ hết nhìn mầu vải tang rồi lại nhìn người khách. Đột nhiên, mặt ửng hồng, ông hỏi:
— Sao? Natalia Vassilievna ?
— Vâng, Natalia Vassilievna, tháng ba vừa qua... Bệnh lao, và rất chóng, trong khoảng hai, ba tháng thôi... và như anh đã thấy, tôi như thế này đây.
Thốt ra những câu ấy, người khách rất xúc động, ông dang rộng vòng tay, bàn tay trái cầm chiếc mũ tang, và cúi rất thấp chiếc đầu sói xuống như thế ít ra là cả chục giây.
Cảnh đó và dáng điệu đó như đột nhiên thức tỉnh Veltchaninov: một nụ cười nửa châm biếm, nửa khiêu khích thoáng hiện trên làn môi, nhưng chỉ trong chốc lát thôi: cái tin người đàn bà kia chết (người đàn bà mà ông quen đã lâu rồi và ông đã hoàn toàn quên) hiện giờ gây nên trong tâm hồn ông một sự dao động bất thần.
— Có thể như thế sao ! Ông khẽ nói, nói những câu vừa đến trong trí. Nhưng tại sao anh không tìm gặp tôi ngay và kể tôi nghe chuyện ấy?
— Tôi xin cảm ơn tấm thịnh tình của anh; tôi cảm thấy là anh có cảm tình đối với tôi mặc dù...
— Mặc dù... ?
— Mặc dù đã nhiều năm nay, chúng ta không gặp nhau mà anh vẫn còn để ý đến nỗi đau đớn của tôi, mà anh đã tỏ lòng ưu ái đối với tôi như thế thì thật tôi không biết nói gì hơn, làm gì khác hơn là hoàn toàn biết ơn anh. Đó là tất cả hhững gì tôi muốn nói với anh. Và không phải là tôi nghi ngờ gì những người bạn khác, vì tôi có thể tìm được ngay tức thì ở thành phố này những người bạn rất ư chân thành (như Stépane Mikhailovitch Bagaoutov chẳng hạn) nhưng sự giao thiệp giữa chúng ta, anh Aléxéi Ivanovitch ạ (tôi muốn nói là tình bạn của chúng ta, thứ tình bạn mà tôi nhớ đến với tất cả lòng cảm bội) đã mất liên lạc cả chín năm nay rồi ; anh không đến nhà tôi và chúng ta cũng chẳng thư từ thăm viếng gì nhau...
Người khách nói như đọc bài học, nhưng trong khi ông thao thao thì mắt lại nhìn chết xuống đất, dù chắc chắn là ông thấy tất cả những gì đang xảy ra chung quanh ông. Trong lúc ấy, Veltchaninov đã dần dần trấn tỉnh.
Ông nghe và quan sát Pavel Pavlovitch với một cảm giác kỳ lạ, và cảm giác này càng lúc càng trở nên mãnh liệt và khi người khách ngừng tiếng thì những tư tưởng vô cùng hỗn tạp, vô cùng bất ngờ bỗng dưng xâm chiếm trí não ông.
— Nhưng tại sao mãi đến bây giờ tôi mới nhận ra anh ? Ông la lớn với phần nào giận dữ ; chúng ta chạm trán đến những năm lần kia mà!
— Phải, tôi cũng nhớ thế; anh có mặt thường xuyên trên đường tôi đi, hai lần, ba lần, có thể là...
— Không, trái lại thế, chính anh đã thường xuyên có mặt trên đường tôi đi!
Veltchaninov đứng dậy, và đột nhiên cười rộ. Pavel Pavlovitch sửng sờ trong giây lát, nhin chăm chú ông ta, nhưng rồi tiếp lời tức thì :
— Anh không nhận ra tôi là chuyện dĩ nhiên: anh có thể quên tôi và hơn nữa, từ hồi đó, bệnh đậu mùa đã để lại ít nhiều chấm rỗ trên mặt tôi.
— Bệnh đậu mùa ? Đúng thế, anh lên đậu! Nhưng vì sao, trời đất quỷ thần... ?
— Vì sao bệnh nó lại vớ phải tôi chứ gì? Rồi chuyện đó đến, Aléxéi Ivanovitch ạ! Ngoài ý muốn, tự dưng người ta bị bệnh vớ phải!
— Tuy nhiên, cũng kỳ cục thật ! À ! Mà này ông bạn, cứ tiếp tục đi, anh hãy kể tiếp đi !
— Mặc dù tôi đã gặp anh...
— Khoan ! Tại sao lúc nãy anh nói :  ‘‘Bệnh nó vớ phải anh ?’’ Tôi muốn diễn tả lịch sự hơn kia. À thôi, anh hãy kể tiếp đi, kể tiếp đi.
Có Trời biết tại sao, ông ta càng lúc càng trở nên vui vẻ; sự xúc cảm lay chuyển tâm trí ông lúc này đã nhường chỗ cho một tình tự hoàn toàn khác biệt.
Ông đi qua, đi lại với nhịp bước vội vàng.
— Vậy thì, mặc dù tôi đã gặp anh và mặc dù khi đến đây, ở tỉnh Pétersbourg này, tôi đã có ý đến tìm anh nhưng, tôi xin lập lại một lần nữa, tôi ở trong một trạng thái tinh thần... từ tháng ba đến bây giờ, tôi bị khủng hoảng tinh thần đến nỗi...
— À phải! Anh bị khủng hoảng tinh thần từ tháng ba. Chờ chút, anh không hút thuốc à!
— Anh biết đó, từ ngày còn Natalia Vassilievna..
— Phải phải, tôi biết, nhưng từ tháng ba đến bây giờ...
— Cho tôi xin một điếu thuốc, có lẽ hay đấy.
— Thuốc đây; anh hút đi và kể tiếp tôi nghe ! Anh kể tiếp đi, anh làm cho tôi hết sức...
Và sau khi đốt một điếu xì gà, Veltchaninov đột nhiên ngồi xuống giường. Pavel Pavlovitch dừng bước:
 — Nhưng chính anh, sao anh có vẻ bồn chồn thế? Anh có khỏe không?
— À ! Thây kệ sức khỏe của tôi ! Veltchaninov la lớn, anh kể tiếp đi!
Về phía ông khách, dù chủ nhà có vẻ dao động ông vẫn càng lúc càng trở nên tự chủ và tự tin.
— Nói thế nào nhỉ? Anh Aléxéi Ivanovitch, trước hết anh hãy hình dung một người đã chết, chết hẳn đi, có thể cho là như thế. Một người mà sau hai chục năm hôn phối, đã thay đổi tận gốc rễ cuộc sống và giờ đây lang thang gần như là vô ý thức trên những con đường bụi bặm như là đi giữa cánh đồng hoang, không có chủ đích rõ rệt, và người đó đã tìm thấy trong chính sự vô ý thức kia một lạc thú nào đó. Lẽ tự nhiên là nếu trong những giây phút đó, tình cờ tôi thấy một người bạn quen hay một người bạn thân, tôi sẽ tránh ngay để khỏi phải gặp họ. Nhưng trong những khi khác, những kỷ niệm lại thôi thúc đến độ mình khao khát được gặp lại một nhân chứng nào đó, một trong những người đã tham dự vào cái quá khứ gần đây nhưng đã mất hẳn, và con tim khi nhớ lại những kỷ niệm ấy thúc giục mình đến đỗi phải chạy tìm ngay nhân chứng kia, người bạn kia, dù là ngày hay đêm, dù cho phải liều đánh thức ông ta lúc ba giờ sáng. Tôi chỉ lầm về ngày giờ, nhưng không lầm về cách đối xử của bạn, vì hiện giờ tôi đang được tưởng thưởng xứng đáng đây. Về giờ giấc thì thật ra tôi tưởng mới nửa đêm vì tôi không quen ngủ sớm. Người ta uống chính nỗi phiền muộn của mình và rồi người ta vì nó mà say túy lúy. Và thật ra cũng không phải là nỗi phiền muộn mà là cái gì mới lạ đang dày vò tôi.
— Anh diễn tả hơi cao kỳ đấy! Veltchaninov nhận xét với vẻ ủ ê và đột nhiên ông trở nên nghiêm trọng.
— Phải, tôi diễn tả hơi khúc mắc...
— Và ... anh không đùa đấy chứ?
— Đùa à ? Pavel Pavlovitch ngạc nhiên một cách đau đớn, la lên, đùa đúng lúc tôi muốn báo cho anh biết...
— À ! Xin anh khoan nói đã...
Veltchaninov đứng dậy và lại bước dọc khắp phòng. Năm phút trôi qua như thế. Người khách nhớm người định đứng dậy theo, nhưng Veltchaninov kêu lên: ‘‘Cứ ngồi yên! Cứ ngồi yên !  và ông kia ngồi lại ngay trong chiếc ghế bành.
— Anh thay đổi nhiều ! Veltchaninov tiếp tục nói và đột nhiên ngừng lại trước mặt người khách như là bị ý nghĩ kia bất thần đánh xuống. Thay đổi kinh khủng! Thay đổi tột độ! Có thể nói anh hoàn toàn là một con người khác!
— Điều đó không lạ ! Chín năm qua rồi còn gì !
— Không, không, không ! Tuổi tác không thành vấn đề! Cũng không phải vóc dáng của anh thay đổi đến như thế; cái khác kia.
— Phải, chuyện đó cũng có thể; chín năm rồi!
— Chứ không phải là mới bắt đầu từ tháng ba sao?
— Hì hì ! Pavel Pavlovitch cười một cách tinh quái! Anh có ý nghĩ khôi hài đó. Nhưng, nếu tôi có thể mạn phép... Cái gì cho thấy sự thay đổi đó ?
— Ờ, ờ! Thành thật mà nói... thì... trước kia anh là một Pavel Pavlovitch đáng kính, đàng hoàng, một Pavel Pavlovitch biết điều và giờ đây là một Pavlovitch không ra gì cả.
Sự bực tức của ông đã lên đến độ mà người dè dặt nhất cũng phải thốt ra những lời không nên.
— Không ra gì? Anh nhận thấy như thế à? Và lại không biết điều nữa? Chẳng biết điều chút nào cả? Pavel Pavlovitch vừa nói vừa cười ra chiều thỏa thích.
— Chẳng biết điều chút nào cả? Bây giờ có lẽ anh quá thông minh là đằng khác.
 ‘‘Mình mất dạy thật. Veltchaninov thầm nghĩ và tên khốn kiếp này lại còn xấc xược hơn cả mình nữa... Nhưng... hắn ta nhằm mục đích gì đây?
— Ồ ! Ông bạn thân của tôi ơi! Anh Aléxéi Ivanovitch quý mến ! Người khách, như bất ngờ xúc động, kêu lên và trăn trở trên ghế. Đối với chúng ta, việc đó ăn thua gì? Hiện giờ chúng ta không còn ở trong giới thượng lưu, trong xã hội thượng lưu hào hoa phong nhã nữa I Chúng ta là hai người bạn thân, rất thành thật và giờ đây cùng nhau họp mặt với tất cả tấm lòng chân thành, có thể nói như thế, để cùng nhau gợi lại mối liên lạc bền chặc mà người vợ quá vãng của tôi đã là một vòng xích đẹp nhất.
Và xem đó như là một lời tán dương, ông lại cúi đầu như lúc nãy và giấu mặt sau nón. Veltchaninov nhìn ông ta với sự chán ngấy và e ngại.
 ‘‘Biết đâu được ! Hắn ta có lẽ chỉ là một thằng hề, ông tự nhủ thầm. Nhưng mà không, không phải thế! Mình tin là hắn ta không say. Có thể là hắn say ở chỗ khác : mặt hắn ta đỏ hồng. Và cho dù hắn ta say đi chăng nữa thì chuyện đó cũng thế thôi. Hắn mưu tính chuyện gì đây ? Tên khốn kiếp này muốn cái gì đây?
— Anh nhớ không ? Anh có nhớ không ? Pavel Pavlovitch vừa kêu lên vừa xê dần dần chiếc nón ra và như bị những kỷ niệm lôi cuốn,— anh có còn nhớ đến những chuyến du ngoạn ở đồng quê, những dạ hội, những dạ vũ và những buổi chơi bài ở nhà Đức Ông rất mực hiếu khách là Ngài Sémione Sémionovitch ? Và những tối họp mặt tay ba, và lần đầu chúng ta gặp nhau, vào một buổi sáng, khi anh đến nhà tôi để hỏi thăm về một công chuyện làm ăn ; và anh đã bắt đầu nổi giận nữa chứ. Nhưng Natalia Vassilivena đã xuất hiện đúng lúc, và mười phút, sau anh đã làm người bạn thân của gia đình tôi; và sự thân thiết đó đã kéo dài cả năm trời, giống đúc như tình tiết trong với kịch ‘‘Nàng thôn nữ’’ của Tourguénev.
 Veltchaninov thong thả bước, mắt nhìn xuống đất; ông lắng nghe với một sự nôn nóng, với một sự ngấy chán nhưng ông vẫn chú ý lắng tai nghe.
— Tôi chưa hề nghĩ đến với ‘‘Nàng thôn nữ’’, ông cắt ngang với đôi chút bối rối, và trước kia, tiếng anh nói cũng chưa hề gay gắt đến thế và anh cũng chưa hề nói với một giọng điệu... không phải là của anh. Tại sao vậy?
— Đúng thế, Pavel Pavlovitch nhanh nhẩu tiếp lời, trước kia thường thường là tôi ngậm miệng; tôi muốn nói tôi là người ít lời. Anh biết đó chứ, trước kia khi vợ tôi nói thì tôi thích nghe hơn là đối đáp. Anh cũng nhớ là tài nói chuyện của nàng như thế nào chứ? Còn về chuyện vở ‘‘Nàng thôn nữ’’ và đặc biệt là Stoupéndiev ; anh có lý đấy : chỉ về sau này, sau khi anh đã rời tỉnh khá lâu, khi nghĩ về anh, trong sự bình tĩnh, chúng tôi, nhà tôi và tôi, mới so sánh cái buổi gặp gỡ đầu tiên của chúng mình với với kịch của Tourguénev... Vả lại, về vấn đề Stoupéndiev...
Stoupéndiev nào? Trời đất quỉ thần! Veltchaninov la lớn và ông dậm cả chân nữa kia, lòng bối rối vì cái chữ Stoupéndiev kia gọi cho ông một kỷ niệm nào đó đã xa rồi.
Stoupéndiev? À, đó là một nhân vật của vở hài kịch, là  ‘‘người chồng’’ trong vở  ‘‘Nàng thôn nữ’’, Pavel Pavlovitch nói với giọng ngọt ngào và dịu dàng nhất. Nhưng việc này lại liên quan đến một chuỗi kỷ niệm đẹp đẽ và thân thiết khác; những kỷ niệm đã có sau ngày anh rời tỉnh, khi Stépane Mikhailovitch Bagaoutov, giống hệt như anh, đã cho chúng tôi cái vinh hạnh được làm bạn nhưng lại trong những năm năm dài...
— Bagaoutov? Sao? Bagaoutov nào? Veltchaninov ngừng ngang chết trân tại chỗ.
— Bagaoutov, Stépane Mikhailovitch, người đã cho chúng tôi cái vinh hạnh được làm bạn, sau anh đúng một năm... và cũng giống hệt như anh...
— À ! Chúa tôi ! Tôi biết chuyện đó, Veltchaninov la lên sau khi đã hiểu: Bagaoutov ! Anh ta là một công chức trong tỉnh...
— Phải, phải ! Anh ta là tùy viên của Ngài Thống Đốc. Đó là một người có tất cả những gì là lịch sự nhất của giới thượng lưu Pétersbourg, Pavel Pavlovitch nói tiếp với giọng đầy hứng khởi.
— Vâng, vâng! Tôi chỉ nghĩ ở đâu đâu ! Anh ta cũng đã...
— Anh ta cũng đã như vậy, anh ta cũng đã như vậy, Pavel Pavlovitch lập lại với giọng đầy hứng khởi như lúc nãy sau khi bắt chợt câu nói hớ hênh của kẻ đối thoại. Anh ta cũng vậy ! Và đó là lúc mà chúng tôi đang diễn vở ‘‘Nàng thôn nữ’’ trên một sân khấu tài tử ngay tại nhà Đức Ông rất mực hiếu khách là Ngài Sémione Sémionovitch; Stépane Mikhailovitch thủ vai bá tước, tôi vai ‘‘người chồng’’, và vợ tôi, vai ‘‘nàng thôn nữ’’; nhưng rồi theo lời yêu cầu của nàng, người ta không cho tôi đóng vai  ‘‘người chồng’’  nữa ; họ bảo là tôi không đủ khả năng diễn xuất...
— Nhưng tên quái quỷ nào gán cho anh vai Stoupéndiev ? Trước hết anh là Pavel Pavlovitch Troussotzky và tuyệt nhiên không phải là Stoupéndiev; Veltchaninov cộc cằn la lớn không chút ngượng ngùng và gần muốn run lên vì bực tức. Ngoài ra, anh cho phép tôi nói: Anh Bagaoutov hiện có mặt ở đây, ở Pétersbourg này; hồi mùa xuân này, chính tôi đã thấy anh ta. Vậy, tại sao anh không đến gặp nốt anh ấy?
— Suốt trong ba tuần lễ, tôi đã đến nhà anh ta từng ngày một đó chứ, nhưng người ta không tiếp tôi. Anh ta đau nên không thể tiếp tôi được. Và, anh thử tưởng tượng xem, theo nguồn tin chắc chắn, anh ta đau nặng thật. Một người bạn thân thiết đến như thế! À ! Anh Aléxéi Ivanovitch này, tôi đã nói và tôi xin lập lại một lần nữa với anh rằng: với tính khí hiện nay của tôi, đôi khi tôi muốn chui xuống tận đất đen cho mất tích hẳn. Nhưng có những khi khác, mình lại sẵn sàng tay bắt mặt mừng những nhân chứng cũ, nếu có thể nói như vậy, một trong những người đã dự phần vào cuộc sống không còn của mình nữa, và độc nhất là để cùng khóc với nhau, tôi nói thật đấy anh ạ, chỉ để cùng khóc với nhau mà thôi!
— Thôi được rồi, hôm nay thế là tạm đủ rồi chứ? Veltchaninov hỏi một cách phũ phàng.
— Vâng quả đủ rồi, quá đủ rồi ! Và Pavlovitch đứng dậy tức thì. Đã bốn giờ rồi và nhất là tôi đã làm phiền anh một cách quá đáng.
— Này: chắc chắn tôi sẽ đến thăm anh; và lúc đó, tôi mong rằng... Anh hãy nói thật, trả lời không úp mở đi: có phải hôm nay anh say không?
— Say? Không hề bao giờ có !
— Trước khi đến đây hay trước hơn nữa, anh không uống rượu sao ?
— Aléxéi Ivanovitch, anh biết đó chứ, đúng là anh lên cơn sốt rồi đấy.
— Ngay ngày mai, trước một giờ trưa, tôi sẽ đến anh.
— Nãy giờ tôi nhận thấy hình như anh gần nói sảng đó, Pavel Pavlovitch cắt ngang lời Veltchaninov với một niềm thích thú và cố ý nói riết về vấn đề này. Tôi thật lấy làm bối rối về sự vụng về của tôi. Tôi đi đây, tôi đi đây. Và anh, hãy đi nằm đi và ráng mà dỗ giấc ngủ.
Nhưng, Veltchaninov sực nhớ, vội kêu vói, anh chưa nói cho tôi biết anh ở đâu?
— Tôi chưa nói cho anh biết à ? ở khách sạn Pokrovsky.
— Khách sạn đó là khách sạn nào vậy?
 — Nó nằm gần nhà thờ Pokrov, trong một ngõ hẻm, tôi quên mất tên đường cũng như số nhà, nhưng mà nó ở bên cạnh nhà thờ…
— Tôi sẽ tìm ra !
— Xin nghênh tiếp người khách quý!
Ông ta đã bước xuống cầu thang.
— Này anh ! Veltchaninov lại hét. Anh không ‘‘chuồn’’đó chứ ?  
— Sao gọi là ‘‘chuồn’’? Pavel Pavlovitch đã xuống được ba bực thang, quay lại với cặp mắt ngạc nhiên nhưng với nụ cười trên môi.
Để trả lời, Veltchaninov đóng mạnh cửa, rồi cẩn thận khóa lại và cài then. Khi quay lại phòng, ông khạc xuống đất với vẻ nhờm tởm như chính ông bị ô uế vậy.
Ông đứng im ngay giữa phòng khoảng năm phút, rồi thì không thèm thay cả áo quần, ông vật mình xuống giường và ngủ ngay tức thì. Trên bàn, ngọn nến ông quên tắt, cháy dần cho đến hết.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 03.07.2023 22:32:16 bởi Thanh Vân>
CHƯƠNG IV
 
NGƯỜI VỢ, NGƯỜI CHỒNG VÀ NGƯỜI TÌNH

 
 
ÔNG ta ngủ một giấc dài và thức giấc đúng vào lúc chín giờ rưỡi ; ông choàng dậy, ngồi trên giường và bắt đầu nghĩ về cái chết của  người đàn bà đó . Sự  ‘‘sửng sốt’’ mà hôm qua ông cảm thấy khi’nghe tin nàng ta chết, đã khiến tâm hồn ông dao động và gieo trong lòng ông cả một nỗi đau khổ nữa ; sự  ‘‘sửng sốt’’ đó chỉ bị một ý nghĩ đặc biệt bắt nguồn từ sự có mặt của Pavel Pavlovitch, lấn át trong chốc lát mà thôi. Nhưng sáng nay, khi thức  dậy, tất cả những gì đã xảy ra cách đây chín năm lại lần lượt diễn ra với đầy đủ chi tiết trong trí ông.
Người đàn bà đó, nàng Natalia Vassilievna quá vãng, người vợ của ‘‘cái anh Trossotzky đó’’, đã được ông yêu và là người yêu của ông trong suốt một năm trời ông ở lại tỉnh T... vì công việc (cũng lại là một vụ kiện tụng về vấn đề thừa kế). Thật ra, vụ kiện tụng này không đòi hỏi một khoảng thời gian lâu đến thế; nguyên do chính là sự giao du kia.
Sự đi lại và mối tình của ông đối với Natalia Vassilievna đã ám ảnh tâm trí ông đến độ có thể nói là ông trở thành tên nô lệ của nàng ta ; ông sẽ làm không một chút do dự những điều gì quái gỡ nhất, điên cuồng nhất nếu đó là ý thích của người đàn bà kia. Cả về trước lẫn về sau này, chưa bao giờ có chuyện tương tự xảy đến cho ông như thế.
Vào khoảng cuối năm, biết chắc là không thể nào tránh được sự chia tay, Veltchaninov đã ở trong một tình trạng tuyệt vọng cực độ khi ngày ly biệt gần kề, dù ông biết rằng sự xa cách nầy tất nhiên là ngắn ngủi, dù ông đề nghị với  Natalia Vassilievna ãy bỏ chồng, bỏ tất cả để cùng với ông trốn hẳn ra nước ngoài. Chỉ vì những lời diễu cợt và sự cương quyết của người đàn bà đó (thoạt tiên, nàng ta hoàn toàn chấp thuận đề nghị của ông, những có lẽ là chỉ để đùa chơi hay để tiêu khiển thôi) mà ông đành phải gạt bỏ kế hoạch kia và đành phải ra đi một mình. Và rồi thì, gần hai tháng sau ngày xa nhau, khi đã ở  Pétersbourg, ông đã phải đặt một câu hỏi mà ông không bao giờ trả lời nổi : Có thật là ông yêu người đàn bà đó không hay đó chỉ là một thứ ‘‘say mê’’ nhất thời ? Và ông tự hỏi như thế, tuyệt nhiên không phải là vì nông nổi hay vì ông có một đam mê mới : trong hai tháng ở Pétersbourg, ông gần như phát điên và chắc chắn là ông không hề để ý đến một cô gái nào, mặc dù ông đã nối lại ngay những dây liên lạc cũ và ông cũng đã có rất nhiều dịp quen biết hằng trăm người đàn bà đẹp. Vả lại, dù cho những nghi ngờ đã dấy động trong lòng, ông vẫn thừa biết rằng nếu vừa trở lại T..., ông sẽ lại rơi ngay vòng khống chế duyên dáng của người đàn bà kia. Năm năm nữa về sau, ông vẫn còn tiếp tục tin tưởng như thế. Nhưng bây giờ, ông tự thú nhận điều trên với sự giận dữ và ông không thể nào không căm phẫn khi nghĩ đến người đàn bà đó. Ông rất hổ thẹn về thời gian mình sống ở T... Ông không thể nào hiểu nổi vì sao mình, Veltchaninov, lại có một sự đam mê ngu ngốc đến thế. Những kỷ niệm nào có liên quan đến sự đam mê này, đối với ông, đều có tính cách nhơ nhuốc; ông xấu hổ đến ê mặt và mang nặng những lời thầm trách nhức nhối mỗi khi nghĩ đến những kỷ niệm kia. Thật ra vài năm sau, ông đã cảm thấy bình tĩnh trở lại; ông đã cố quên tất cả và gần thành công. Nhưng rồi đó, chín năm sau, bỗng nhiên tất cả những chuyện kia đột ngột sống lại một cách kỳ lạ trong tâm hồn ông khi nghe tin Natalia Vassilievna đã qua đời.
Ngồi trên giường, bị những ý tưởng mơ hồ và hỗn độn bủa vây tâm trí, ông chỉ cảm thấy và hiểu rõ ràng có một điều: dù cho tin buồn kia khiến ông ‘‘sửng sốt’’, nhưng sự kiện nàng ta đã chết lại không mảy may xáo động tâm hồn ông. ‘‘Mình không còn tiếc thương gì nàng ta nữa sao?, ông tự hỏi. Thật thế, giờ đây không còn oán giận nữa, ông mới có thể xét đoán nàng môt cách công bằng hơn. Đã từ lâu, suốt trong chín năm trời xa cách, ông vẫn cho là Natalia Vassilevna thuộc vào số những bà rất tầm thường ở tỉnh lẻ, những ‘‘mệnh phụ’’ của giới ‘‘thượng lựu’’ tỉnh lỵ  ‘‘Biết đâu, có lẽ đúng như thế thật đấy, và chỉ có một mình, mình là thêu dệt nên những huyền thoại về nàng ta mà thôi’’.
Tuy nhiên, ông luôn luôn nghi ngờ là ý kiến của mình có thể sai phần nào ; và giờ đây ông vẫn còn cảm thấy như thế. Vả lại, nàng ta đã minh chứng bằng những sự kiện : Anh chàng Bagaoutov kia cũng đã giao du thân mật với cô nàng suốt mấy năm trời ; anh ta cũng đã bị nàng ta ‘‘mê hoặc’’. Thật thế, Bagaoutov là một phần tử của xã hội thượng lưu Péterbourg và vì là ‘‘một người vô tài bất tướng’’ (như lời Veltchaninov đã nói về gã) nên gã chỉ có thể làm nên sự nghiệp ở Pe1tersbourg mà thôi. Vậy mà, gã đã khinh miệt, đã từ bỏ cái thành phố Pe1tersbourg nhiều hứa hẹn cho tương lai đó để mất trọn năm năm ở T…, chỉ vì người đàn bà kia Hơn nữa, gã cũng chỉ trở về Pétersbourg sau khi đã bị hất hủi, bị phế thải như một ‘‘chiếc giấy cũ hết dùng’’. Vậy thì, người đàn bà đó quả thật đã được trời ban cho những năng khiếu lạ lùng : Hấp dẫn, chinh phục, ngự trị !
Tuy nhiên, hình như cô nàng lại không có vẻ gì là hấp dẫn và chinh phục cả: cô ta không đẹp đến độ làm được như thế; có thể là cô ta không đẹp một chút nào nữa là khác. Khi Veltchaninov làm quen, cô đã hai mươi tám tuổi rồi. Khuôn mặt, không đẹp lắm, có đôi chút duyên dáng khi cười nói. Nhưng cặp mắt thì thật là khó chịu: trong ánh mắt của nàng có một cái gì lạnh lùng quá đáng. Cô ta rất gầy. Trình độ trí thức thấp kém; nhưng óc suy xét lại sắc bén và đôi khi gần như cố chấp. Nàng cư xử theo cách một phụ nữ thời lưu tỉnh lẻ nhưng, quả thật là như thế, lịch thiệp và tế nhị hơn nhiều; nàng cũng có khiếu thẩm mỹ nữa, nhưng lại chỉ biểu hiện trong việc trưng diện mà thôi. Tính tình dứt khoát và độc đoán; với cô, không bao giờ có giải pháp lưng chừng, hoặc có tất cả, hoặc không có gì hết. Sự cương quyết và lòng kiên nhẫn của nàng đã giải quyết nhiều trường hợp khó khăn đáng làm cho chúng ta kinh ngạc. Một lòng khoan dung bao la với bên cạnh là một sự thiên vị quá đáng. Khó mà bàn cãi với cô nàng vì hai lần hai đối với nàng không có nghĩa gì cả. Không bao giờ nàng tự cho là mình làm một việc — dù là việc gì — có thể gọi là bất công hay quấy. Những cuộc ngoại tình liên tục và không kể xiết của cô không mảy may đè nặng trên lương tâm. Chính Veltchaninov đã so sánh cô ta với những ‘‘ Đức Mẹ Đồng Trinh’’ của một vài giáo phái ly khai đã chân thành tự xem là  ‘‘Mẹ Đức Chúa Trời’’. Cô ta rất trung thành với các ông nhân tình, nhưng chỉ khi nào còn chưa ngấy chán mà thôi. Cô ta rất thích làm khổ làm sở họ, nhưng lại đền bù ngay tức thì. Bản tính của nàng là đam mê, tàn nhẫn, đa tình. Cô ta ghét sự truy lạc, bài xích tận tình, nhưng chính cô lại là người hư đốn. Và không có gì có thể khiến nàng chấp nhận chính sự hư đốn của mình cả. Chắc có lẽ cô ta rất thành thực không biết đến sự hư hỏng của mình, Veltchaninov thường tự nhủ thầm như thế khi còn ở T... (và, tiện thể nói luôn, lúc đó ông đang dự phần vào những sự hư hỏng kia).  Đó là một trong số những người đàn bà, ông ta nghĩ mông lung, sinh ra để mà lừa dối chồng. Khi còn con gái, không bao giờ họ sa ngã. Theo luật tự nhiên, sự sa ngã chỉ xảy ra khi họ có chồng. Chồng họ là người tình đầu tiên, nhưng chỉ là người tình đầu sau khi cưới chứ không bao giờ trước khi cưới. Không có ai lấy chồng khéo léo và dễ dàng như họ. Luôn luôn người chồng chịu trách nhiệm về người tình đầu tiên. Và mọi sự xảy ra một cách rất thành thật; luôn luôn những cô vợ đó tự cho là mình nắm phần phải về mình và, lẽ dĩ nhiên, là hoàn toàn vô tội.
Veltchaninov nhất quyết là có loại đàn bà đó, nhưng ông cũng đoán chắc là trên cõi đời này lại còn có một loại đàn ông tương ứng với loại đàn bà nói trên, loại chồng mà lý do tồn tại độc nhất là để thích ứng với loại vợ kia. Theo ý ông, cốt tính của loại đàn ông đó là làm những ‘‘người chồng muôn thuở’’, nếu có thể nói như thế, hay để diễn tả cho rõ ràng hơn, họ sống ở đời chỉ để làm chồng mà thôi. ‘‘Loại người như thế, ra đời, trưởng thành chỉ để mà lấy vợ và để trở thành ngay tức thì ‘‘cái bóng mờ’’ của người vợ, dù cho y có cá tính chăng nữa. Loại chồng như vậy, nếu có điểm gì đặc biệt thì đó cũng chỉ là một sự trang sức xa xỉ mà thôi. Với họ, không thể nào không bị cắm sừng cũng như mặt trời không thể nào không chiếu sáng; và không những họ không biết mình bị cắm sừng mà theo lẽ tự nhiên, họ còn phải được biết như thế nữa kia.’’ Veltchaninov quả quyết tin là có hai loại người vừa nói như trên và Pavel Pavlovitch Troussotzky khi còn ở T... là đại diện cho một trong hai loại đó. Nhưng Pavel Pavlovitch của tối hôm qua thật quả không giống một chút nào với Pavel Pavlovitch mà ông đã từng quen biết ở T... Veltchaninov nhận thấy ông ấy đã hoàn toàn lột xác, và điều này không có gì đáng lấy làm lạ vì ông biết Pavel Pavlovitch không thể làm khác hơn: Troussotzky ngày nay không thể nào còn giống Troussotzky thuở sinh thời vợ ông ta và bây giờ ông chỉ có thể hiện một phần của cái toàn thể trước kia của ông, cái phần đã được buông thả trong đời sống như một sự vật kỳ lạ không hề giống bất cứ phần nào khác.
 Còn về Pavel Pavlovitch lúc còn ở T... thì sau đây là hình ảnh mà Veltchaninov đã ghi khắc trong tâm khảm và bây giờ ông nhớ lại.
Ở T..., Pavel Pavlovitch chỉ làm tròn nhiệm vụ một ông chồng mà thôi. Nếu như ông ta là một công chức, thí dụ như thế, thì cũng chỉ vì công việc đó nằm trong bổn phận của người làm chồng. Ông làm việc tại Bộ cũng chỉ cổt để cho bà vợ có một địa vị trong xã hội ở T... Tuy nhiên, ông cũng là một công chức gương mẫu và nhiệt thành. Lúc đó, ông vào khoảng ba mươi lăm tuổi và có một tài sản khá gọi là đồ sộ. Không có gì chứng tỏ ông là người có tài năng, nhưng ông cũng không cho người ta nhận thấy một cách rõ rệt ông là một người không có khả năng, ông giao thiệp rộng trong giới thượng lưu và sống một cách phong lưu và đế vương. Ở T..., thiên hạ rất quý trọng Natalia Vassilievna, nhưng nàng không quan tâm, xem đó như là bổn phận của mọi người đối với nàng; nàng tiếp đãi tân bằng quan khách rất ân cần, nồng hậu và huấn luyện PavelPavlovich khéo đến độ, nếu gặp dịp, ông cũng biết cách nghênh tiếp những ‘‘tai to mặt lớn’’  trong tỉnh. Có thể ông ta thông minh nữa (hình như thế, đối với Veltchaninov), nhưng Natalia Vassilievna không thích chồng mình nói nhiều, và do đó thiên hạ không tài nào biết đến trí thông minh của ông ta. Có thể ông có một số tính tốt cũng như là một số tính xấu, nhưng tính tốt thì bị khuất lấp, còn những bản năng xấu xa thì lại bị bóp chết. Veltchaninov hồi tưởng là có đôi khi, Troussotzky đã định mở miệng nói xiêng nói xỏ thiên hạ chơi nhưng lại thôi vì việc nầy đối với ông là một điều đại cấm kỵ. Thỉnh thoảng, ông cũng thích kể đôi câu chuyện khôi hài, tiếu lâm nhưng việc nầy cũng bị kiểm soát nốt: ‘‘người ta’’ chỉ cho phép ông kể những câu chuyện tầm thường, vô nghĩa mà thôi, ông thích góp mặt với anh em cùng sở, ngoài vòng gia đình, để cùng nhau chén chú chén bác, nhưng những toan tính đó đã bị bóp chết ngay trong trứng nước. Tuy nhiên, nếu chỉ xét đoán bề ngoài, không ai có thể ngờ ông thuộc loại ‘‘râu quặp’’ đặt dưới quyền xài xể của vợ. Natalia Vassilievna có vẻ là một người vợ nhu mì và có lẽ bà ta cũng thành thật tin như thế. Pavel Pavlovitch có lẽ yêu Natalia Vassilievna say đắm, nhưng không ai có thể nhận thấy điều nầy, khó mà nhận thấy điều nầy vì Natalia Vassilievna đã trù liệu bưng bít tất cả những gì liên quan đến chuyện đó. Lúc còn ở T..., đã nhiều lần, Veltchaninov tự hỏi là người chồng đó có nghi ngờ gì về sự gian díu giữa ông với cô vợ hay không. Rất nhiều lần, ông đã nghiêm trang hỏi Natalia Vassplievna về vấn đề này, và luôn luôn được cô ta vội vàng trả lời là chồng nàng không hay biết gì cả và không bao giờ biết được gì hết, vả lại ‘‘việc đó tuyệt nhiên không dính dấp gì đến anh ấy cả’’. Điểm kỳ lạ khác nữa : không bao giờ nàng chế nhạo Pavel Pavlovitch và cũng không bao giờ nhận thấy chồng mình, dù thế nào đi nữa, là một người lố lăng hay khó chịu. Và nàng sẽ chống đối đến kỳ cùng, nhiệt thành chống đối những ai có thái độ vô lễ với chồng nàng. Không con cái, đương nhiên nàng trở thành người đàn bà quảng giao độc nhất của xã hội tỉnh T...; nhưng nàng cũng vẫn chăm nom chu đáo việc nhà. Những thú vui ngoài đời không hoàn toàn thu hút nàng ta, và nàng rất thích săn sóc đến việc tề gia, nội trợ, việc kim chỉ, vá may. Ông nhớ lại những buổi tối đọc sách trong vòng gia đình của Pavel Pavlovitch ở T... vào thời đó. Đôi khi chính Veltchaninov cao giọng đọc, khi khác lại là Pavel Pavlovitch; và ông này, — ngạc nhiên cho Veltchaninov biết bao ! — đọc rất hay và lớn tiếng. Về phần Natalia Vassilievna thì thường thường nàng vừa thêu thùa, vừa yên lặng và chăm chú theo dõi câu chuyện. Chuyện được đọc là những tiểu thuyết của Dickens, các tạp chí Nga và đôi khi cả những chuyện trang nghiêm nữa. Natalia Vassilievna rất mến mộ kiến thức văn hóa của Veltchanivov, nhưng cô ta không nói ra ; xem đó là một việc đương nhiên, đã được xác nhận rồi và không bao giờ được nhắc trở lại nữa. Tổng quát, cô ta dửng dưng với tất cả những gì là khoa học và thư tịch, xem như là những sự gì tuyệt nhiên không dính dáng đến mình, nhưng có thể những sự việc đó có ích dụng riêng của chúng. Về phần Pavel Pavlovitch thì ông lại rất ham mê những thứ đó.
Sự giao thiệp đột nhiên đứt đoạn đúng ngay lúc tình yêu của Veltchaninov đạt đến cao độ và gần như cuồng loạn. Người ta đã thẳng thắn và đột ngột xua đuổi ông, mặc dù mọi việc đã được sắp đặt làm sao cho khi ra đi, ông không thể nào biết được là mình đã bị vứt bỏ ‘‘như một chiếc giày cũ phế thải’’. Một tháng rưỡi trước ngày ông lên đường, có một viên sĩ quan Pháo binh trẻ tuổi vừa tốt nhiệp trường Võ Bị đổi đến T..., gã ta bắt đầu lui tới gia đình Troussotzky; và giờ đây thay vì bộ ba thì lại là bộ tứ. Natalia Vassilievna tiếp đón rất nồng hậu chàng trai trẻ này, nhưng lại coi như trẻ nít; Veltchaninov không nghi ngờ gì cả; còn nhiều chuyện khác hơn làm bận tâm ông vì ông đã được Natalia Vassilievna nhắn khéo là nên xa nhau. Trong số hơn trăm lý do mà nàng đưa ra để buộc Veltchaninov nên rời T... tức thì, nàng viện dẫn đến lý do mình mang thai: nàng tin là mình đã có mang; vậy thì ông ta phải bỏ đi lập tức ít ra là ba hay, bốn tháng, để trong thời gian chín tháng, người chồng không thể nào nghi ngờ được gì nếu thiên hạ có xầm xì chăng nữa. Lý lẽ đưa ra thật là yếu. Trong cơn say mê, Veltchaninov đề nghị với Natalia Vassilievna cùng trốn sang Paris hay Mỹ chăng, nhưng ông sẽ một mình đi Pétersbourg trước trong một ‘‘thời gian ngắn’’ nghĩa là vào khoảng trên ba hay bốn tháng. Nếu không thế, ông sẽ không bao giờ rời T... mặc cho bao nhiêu lý lẽ, bao nhiêu giải thích mà người ta có thể đưa ra. Đúng hai tháng sau, ở Pétersbourg, ông nhận được một lá thư của Natalia Vassilievna gởi đến yêu cầu ông đừng bao giờ trở lại T... nữa vì nàng đã yêu một người khác rồi ; còn về chuyện thai nghén thì, theo lời nàng, nàng đã lầm. Sự giải thích đó quả là vô ích ; bây giờ mọi chuyện đối với ông đã rõ trắng đen: ông nhớ lại viên sĩ quan trẻ tuổi. Từ đây, thế là chấm dứt. Về sau, những mấy năm sau, ông mới được biết thêm là Bagaoutov đã cư ngụ ở T... trong năm năm. Ông cho rằng sự gian díu đó sở dĩ kéo dài một cách bất thường như thế là vì Natalia Vassilievna đã khá lớn tuổi rồi nên dĩ nhiên phải cố bám lấy gã kia lâu hơn.
Veltchaninov ngồi yên trên giường gần một giờ; cuối cùng sực tỉnh, ông gọi Mavra đem cà phê lên. Ông uống nhanh cà phê, thay áo quần và đúng mười một giờ, ông rời nhà để đi tìm khách sạn Pokrovsky. Sáng nay, ông bỗng có một ý nghĩ mới lạ về vấn đề này. Hơn nữa, ông hơi thẹn về cách mình đối xử với Pavel Pavlovitch đêm qua; ông phải làm cho ra trắng đen chuyện này mới được.
Giờ đây, ông tự nhủ rằng tất cả câu chuyện huyền hoặc về cái ổ khóa chỉ là kết quả của sự tình cờ, của cơn say của Pavel Pavlovitch, và có thể của cả những sự việc khác nữa; nhưng ông không thể nào hiểu nỗi cái mục đích mà mình đang theo đuổi khi nối lại mối giao hảo với người chồng của người tình cũ trong khi mọi liên lạc giữa hai người đã đương nhiên chấm dứt. Có một cái gì đã dẫn dắt ông; có một ấn tượng gì rất đặc biệt đã ảnh hưởng đến ông, và chính ấn tượng đó là lý do của sự lôi cuốn kia.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 03.07.2023 22:31:48 bởi Thanh Vân>
V
LISA

 
 
PAVEL Pavlovitch không nghĩ đến chuyện ‘‘chuồn’’, vả lại, có Trời mới biết tại sao tối qua, Veltchaninov lại hỏi ông ấy như thế; quả thật tâm trí Veltchaninov không yên ổn. Trong một cửa hàng gần công trường Pokrov, người ta chỉ cho ông khách sạn Pokrovsky, cách đó không xa, trong một con đường hẻm. Tại khách sạn, người ta nói cho ông rõ là ông Troussotzky hiện ở trọ tại nhà cô Maria Syssoievna nào đó trong một căn phòng có đầy đủ đồ đạc ở cuối sân, thuộc dãy nhà ngang. Trong khi ông đang lần bước theo những bực thang hẹp bằng đá, bẩn thỉu và rác rến để lên tầng lầu hai, nơi có dãy phòng có đầy đủ đồ đạc, bỗng nhiên ông nghe có tiếng ai khóc. Tiếng khóc đó hình như là tiếng khóc của một con bé khoảng bảy, tám tuổi; giọng khóc rất thống thiết; người ta nghe tiếng khóc đang nghẹn ngào bỗng nhiên òa lớn lên xen lẫn với tiếng la giận dữ, ầm ỉ và the thé, sau là tiếng chân dậm xuống sàn của một người đàn ông. Hình như ông ta đang cố gắng dỗ đứa bé nín và ông không muốn cho người ngoài nghe tiếng khóc, nhưng ông ta, dù cố dằn lòng, lại làm ồn hơn con bé. Tiếng la có vẻ tàn nhẫn và đứa bé hình như đang van xin thứ lỗi. Đi trong hành lang chật hẹp với hai cánh cửa mở rộng hai bên tường, Veltchaninov gặp một bà cao lớn, khỏe mạnh, áo quần lôi thôi; ông hỏi thăm bà này phòng của Pavel Pavlovitch. Bà ta chỉ căn phòng có tiếng khóc. Khuôn mặt dày dặn và hồng hào của bà ta, một người đàn bà trạc tứ tuần, biểu lộ một sự tức giận:
— Ông xem đấy, lão ta đùa vui đấy chứ! Bà vừa lầm bầm vừa bước xuống lầu.
Veltchaninov định gõ cửa nhưng lại thôi và ông đột ngột mở cửa ra. Đứng giữa căn phòng nhỏ bề bộn đồ đạc và sơn phết một cách thô kệch, Pavel Pavlovitch ăn mặc sơ sài — không áo ngoài và cũng không áo gi-lê-mặt đỏ gay và giận dữ; đang la hét, đang giơ tay múa ngón,và có lẽ đã dùng cả quả đấm nữa (Veltchaninov đoán thế) để cố làm câm miệng một đứa bé gái khoảng tám tuổi, ăn mặc tồi tệ, nó chỉ mặc có một cái áo nỉ đen ngắn mà thôi, nhưng cô bé có vẻ là một tiểu thư đài các. Hình như đứa bé đang ‘‘lên cơn’’; nó vừa giơ tay về hướng Pavel Pavlovitch, vừa khóc lóc như muốn ôm choàng, muốn hôn, muốn cầu khẩn ông này. Thoáng chốc, tất cả chuyện đó đều thay đổi: thấy người lạ, đứa bé vội la lên và phóng nhanh như bắn vào căn buồng nhỏ bên cạnh, còn Pavel Pavlovitch thì, sau giây phút ngỡ ngàng, ông ta tươi nét mặt lại bằng một nụ cười dịu dàng, đúng như nét mặt tối hôm qua, khi Veltchaninov đột ngột mở cửa và bắt chợt ông ta trước thang gác.
— Aléxéi Ivanovitch! Ông ta la lớn với vẻ kinh ngạc. Thật tình tôi không ngờ anh đến... Nhưng, mời anh ngồi đã... Đây nè, trên đi-văng hay trong ghế bành này nè, còn tôi...— Và ông ta vội vã mặc vét-tông vào nhưng lại quên áo gi-lê.
— Đừng khách sáo! Xin anh cứ tự nhiên! Veltchaninov ngồi vào ghế.
— Anh để tôi ! Anh cho phép tôi tiếp rước đàng hoàng một chút chứ! À ! bây giờ tôi chững chạc hơn lúc nãy rồi đây. Nhưng tại sao anh lại ngồi trong góc thế? Mời anh ngồi vào chiếc ghế bành gần bàn đi... Thú thật, tôi không ngờ anh đến...!
Ông ta ngồi ở góc một chiếc ghế bện bằng rơm; ông xoay ghế thế nào để cho gần như đối diện với Veltchaninov chứ, không phải ngồi cùng phía với người khách ‘‘bất ngờ’’  này.
— Tại sao anh không ngờ tôi đến? Hôm qua tôi đã nói là hôm nay, đúng giờ này, tôi sẽ đến kia mà.
— Tôi nghĩ rằng anh sẽ không đến, và sáng nay, khi thức dậy, lược lại những gì xảy ra qua, tôi chẳng hy vọng gì được gặp anh nữa cả.
Trong khi Pavel Pavlovitch nói, Veltchaninov quan sát căn phòng. Căn phòng thật là vô trật tự, giường chiếu lôi thôi, áo quần bừa bãi; trên bàn, người ta thấy ly tách còn cặn cà phê, một cái ly bên cạnh. Ông nhìn thoáng về phía căn phòng nhỏ bên cạnh, nhưng tất cả đều yên lặng, đứa bé nín thinh.
— Sao? Anh lại mời uống rượu nữa à? Vehchaninov vừa chỉ chai sâm-banh vừa hỏi.
—       Đó là rượu thừa... Pavel Pavlovitch trả lời, hơi lúng túng.
— Anh thay đổi thật !
— Đó là những thói quen xấu : việc nầy bất ngờ đến với tôi. Tôi không nói dối anh đâu ; nó bắt đầu từ khi nhà tôi... Tôi không thể nào tự kềm chế nổi! Nhưng không có gì đáng ngại đâu, anh Aléxéi Ivanovitch ạ, không, hiện giờ tôi không say và tôi sẽ không nói điều gì bậy bạ như hôm qua ở đằng anh đâu. Song tôi cho anh rõ sự thật: tôi bắt đầu say sưa từ lúc đó. Và nếu cách đây khoảng sáu tháng, có ai nói với tôi là tôi sẽ cảm thấy suy nhược đến như thế nầy, có ai chỉ cho tôi xem trong gương bộ mặt của tôi hiện nay, tôi không tài nào tin được!
— Vậy thì, hôm qua anh say?
— Vâng, Pavel Pavlovitch khẽ thú nhận với giọng ngượng ngùng và mắt nhìn xuống đất. Anh thấy đó chứ, hôm qua tôi đâu có hoàn toàn say, nhưng trước đó vài giờ, quả thật tôi có nhậu lai rai. Tôi giải thích cho anh biết việc đó là vì ở nhà sau khi say xong, tôi còn tệ hơn nữa kia: sau khi hả rượu, tôi trở nên hung dữ, tàn nhẫn, gần như là điên vì lúc đó nỗi sầu của tôi trở nên mãnh liệt; có lẽ chính nỗi sầu muộn đó đã khiến tôi vùi đầu vào rượu. Lúc đó, tôi có thể làm điều gì bậy bạ nhất, và tôi tìm chuyện gây gỗ. Tối qua, đối với anh, tôi có vẻ quái gở lắm phải không?
— Anh không còn nhớ gì nữa à?
— Sao không ! Tôi nhớ lại tất cả mà...
— Anh thấy không, Pavel Pavlovitch, tôi đã suy nghĩ kỹ và đã giải thích mọi việc như thế rồi, Veltchaninov nói với một giọng đấu dịu. Hơn nữa, tối qua, chính tôi đối với anh cũng có phần nào phát cáu, và... mất bình tĩnh; tôi xin thú nhận điều đó. Thỉnh thoảng, tôi cảm thấy không được khỏe, và cuộc viếng thăm nửa khuya, bất ngờ của anh...
— Vâng, nửa khuya ! Pavel Pavlovitch gục gặc đầu như lấy làm lạ và như tự trách mình. — Và cái gì đã xui khiến tôi như thế nhỉ ? Không đời nào tôi vào phòng anh, nếu như không phải chính anh đã mở cửa... nếu không thể, tôi sẽ bỏ đi ngay. Cách đây trên dưới một tuần, tôi đã có đến nhà anh, anh Aléxéi Ivanovitch ạ, nhưng lại không gặp anh; và có thể là không bao giờ tôi trở lại nữa. Aléxéi Ivanovitch, tôi cũng có niềm kiêu hãnh riêng, dù rằng tôi ý thức được... tình trạng của tôi bây giờ. Chúng ta đã gặp nhau ngoài phố nhưng tôi tự bảo: ‘‘Nếu anh ta không nhận ra mình, nếu anh ta làm lơ: chín năm rồi, một khoảng thời gian đáng kể đấy chứ !’’ Và tôi không nhất quyết đến gặp anh. Hôm qua, tôi từ Xóm Cũ về và hoàn toàn quên mất giờ giấc. Lỗi tại cái này (Ông ta chỉ vào chai sâm-banh) và tại những tình cảm của tôi. Thật là bậy, quá bậy ! Và nếu việc này liên quan đến người khác, có lẽ tôi không còn chút hy vọng nào kết thân trở lại cả; nhưng anh, anh lại nhớ lại ngày qua, anh lại đến tìm tôi, dù hôm qua đã có chuyện xảy ra.
Veltchaninov chăm chú nghe. Pavel Pavlovitch có vẻ thành thật và trang nghiêm khi giải bày; nhưng Vetchaninov lại không tin lấy nửa lời, không tin ngay khi ông vừa bước chân vào phòng.
— Anh Pavel Pavlovitch nè, hình như không phải anh ở đây một mình? Đứa bé gái mà tôi thấy khi mới vào là con cái nhà ai đó?
Rất ngạc nhiên, Pavel Pavlovitch nhướng mày và nhìn Veltchaninov với một cái nhìn trong sáng và hòa nhã.
— Con ai à ? Nhưng Lisa đó mà, ông đáp với một nụ cười dễ thương.
 — Lisa nào nhỉ ? Veltchaninov lẩm bẩm, và có một sự gì dao động trong lòng ông. Cảm tưởng nầy thật quá đột ngột. Lúc nãy, khi mới thấy Lisa, ông đã kinh ngạc, nhưng ông chưa tiên cảm điều gì và cũng chẳng có ý kiến nào đặc biệt.
— Cháu Lisa, con gái của chúng tôi đấy! Pavel Pavlovitch vẫn luôn luôn tươi cười đáp lại.
 — Con gái anh ! Nhưng có phải là Natalia.. Natalia Vassilievna lại có con à? Veltchaninov ngập ngừng và rụt rè hỏi lại với một giọng hơi trầm trầm.
— Nhưng chết nỗi ! Trời đất! Làm sao anh biết được đã chứ? Tôi chỉ nghĩ cái gì đâu ấy ! Sau khi anh đi, Thượng Đế đã đoái thương đến chúng tôi.
Pavel Pavlovitch loay hoay trên ghế như bị xúc động, nhưng là một sự xúc động dễ chịu.
— Tôi có biết gì đâu, Veltchaninov trả lời, mặt tái đi.
— Vâng, đúng thế, đúng thế ! Người nào lại có thể cho anh hay tin đó được! Pavel Pavlovitch lập lại với một giọng cảm động và dịu dàng. Anh nhớ là chúng tôi, vợ tôi và tôi, đã tuyệt vọng và đó, Thượng Đế đã ban phúc cho chúng tôi. À ! Lúc đó, tôi cảm thấy sung sướng biết bao ! Chỉ có Trời mới biết giùm tôi nỗi hân hoan đó ! Đúng một năm sau, khi anh đi. À không, dưới một năm hay ít hơn nữa kia; nếu tôi nhớ không lầm thì anh rời chúng tôi vào khoảng tháng mười hay tháng mười một phải không?
— Tôi xa T... vào đầu tháng chín, ngày mười hai, tôi nhớ kỹ lắm...
— Vào tháng chín? Thật thế sao ? Vậy mà tôi lại tưởng... Pavel Pavlovitch đáp lại, giọng ngạc nhiên. Nếu thế thì, ta thử tính xem nào: anh lên đường ngày mười hai tháng chín và Lisa ra đời ngày tám tháng năm; vậy là: tháng chín, tháng mười, tháng mười một, tháng chạp, tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng tư... tám tháng và thêm ít hôm nữa. Và nếu anh biết là nhà tôi...
— Hãy đem cháu ra đây... Hãy cho tôi gặp cháu! Veltchaninov khẽ nói, giọng đứt quãng.
— Vâng, hẳn là thế ! Pavel Pavlovitch la lên, bỏ lửng câu nói xem như không quan trọng gì. Vâng, liền bây giờ đây, tôi sẽ giới thiệu anh với cháu liền bây giờ!
Và ông vội vã bước sang phòng của Lisa.
Ba hay bốn phút trôi qua; người ta nghe vọng ra từ căn phòng nhỏ tiếng thì thầm vội vàng và trầm giọng; giọng của Lisa chỉ nghe thoáng qua thôi. ‘‘Nó đang van xin cha nó đừng bắt nó ra’’, Veltchaninov nghĩ thế. Cuối cùng hai cha con cùng bước ra.
— Cháu đây, Pavel Pavlovitch nói, dáng điệu nó có vẻ ngượng ngùng. Cháu nó mắc cở, nó có niềm tự hào riêng của nó... Đúng là hình ảnh của nhà tôi!
 Lisa không còn khóc nữa ; mắt nhìn xuống đất, tay nắm lấy bàn tay của cha. Đó là một cô bé người cao dong dỏng, mảnh mai, rất xinh xắn. Lisa ngước đôi mắt xanh biếc nhìn thoáng Veltchaninov, cái nhìn với vẻ tò mò và ủ rũ, xong nó cụp mắt xuống ngay. Trong ánh nhìn của con bé có một sự trang trọng, cái trang trọng của những đứa bé ngồi một mình với người lạ, thu mình vào một góc và, ở đó, dáng quan trọng và nghi ngờ, chúng dò xét người khách mà chúng chưa hề gặp. Nhưng trong ánh nhìn của con bé còn có cái gì khác lạ hơn nữa, một ý tưởng không còn trẻ thơ; hình như thế đối với ông, khi cha nó dẫn nó đến gần ông.
— Đó ! Bác này xưa kia đã từng quen với mẹ con ; bác là bạn của chúng ta. Đừng sợ con ! Hãy chào bác đi.
Cô bé khẽ nghiêng mình và rụt rè đưa tay ra bắt.
— Natalia Vassilievna không muốn dạy cháu kiểu cách; theo mẹ cháu, cháu nó chỉ cần chào theo lối Anh nghĩa là khẽ nghiêng mình và đưa tay ra mà thôi, Pavel Pavlovitch vừa giải thích cho Veltchaninov, vừa chăm chú quan sát ông này.
Veltchaninov biết là mình bị dò xét nhưng ông không nghĩ đến chuyện giấu diếm sự xúc động. Ngồi im trên ghế, ông ta nắm bàn tay của Lisa và chăm chú nhìn nó. Nhưng Lisa hình như còn đang chú ý ở đâu đâu: để mặc bàn tay mình trong bàn tay người khách lạ, nó không rời mắt nhìn cha và sợ sệt nghe tất cả những gì cha nói. Veltchaninov nhận ra ngay đôi mắt xanh biếc đó ; nhưng điều làm cho ông để ý đến hơn cả là màu trắng kỳ lạ và sự thanh tú của làn da và màu của tóc; những đặc tính đó đã đủ nói lên rất nhiều. Trái lại, khuôn mặt trái soan và đường cong của đôi môi khiến người ta nhớ ngay đến Natalia Vassilievna. Trong khi đó, Pavel Pavlovich đã kể cả buổi một chuyện gì đó với tất cả nhiệt tâm; nhưng Veltchaninov không nghe gì hết, ông ta chỉ bắt chợt được câu chót :
— ...Anh không tài nào tưởng tượng được nổi, Aléxéi Ivanovitch ạ, sự vui mừng của chúng tôi khi khi được Thượng Đế ban cho ân sủng đó; từ khi đứa bé ra đời, đối với tôi, nó là tất cả. Tôi thường nhủ thầm nếu, do ý muốn của ơn trên mà hạnh phúc của tôi phải tiêu tan, thì tôi cũng vẫn còn có Lisa. Ít ra, tôi chắc được việc này.
— Và Natalia Vassilievna ? Veltchaninov hỏi lại.
— Natalia Vassilievna ? Mặt Pavel Pavlovitch hơi cau lại. Anh biết rõ tánh nàng đó chứ? Anh cũng nhớ là nàng không thích biểu lộ tình cảm; nhưng trên giường bệnh, lời giã biệt con bé mới não nùng làm sao !... Nàng bầy tỏ tất cả, rồi thì... tôi vừa mới nói với anh:  ‘‘Trên giường bệnh của nàng’’. Nhưng một ngày trước khi từ trần, bỗng nhiên nàng trở nên lộn xộn, trở nên dễ giận; nàng buộc tội mọi người muốn giết nàng với tất cả các thứ thuốc đó, nàng cho rằng nàng chỉ cảm hàng mà thôi và hai vị y sĩ săn sóc nàng không hiểu gì về bệnh trạng cả; nàng nói rằng khi nào ông Koch trở về (Anh nhớ ông này chứ? Vị quân y sĩ của chúng ta, cái ông già nhỏ thó đó !) Có khoảng nửa tháng thôi, nàng lành bệnh ngay. Và chẳng nhiều chuyện nữa kia. Năm tiếng đồng hồ trước khi hấp hối, nàng còn nhớ là ba tuần nữa, nàng phải đến thăm bà dì, mẹ đỡ đầu của Lisa, để mừng sinh nhật...
Veltchaninov đột nhiên đứng dậy, tay vẫn không rời bàn tay Lisa. Hình như ông thoáng nhận thấy một sự trách móc trong ánh nhìn bồn chồn mà cô bé chăm chú hướng về phía cha.
— Cháu không ốm đấy chứ? Ông ta hỏi với một giọng sắc gọn và khác thường.
— Tôi không tin như thế... Nhưng rồi thì, công việc của tôi có vẻ như là..., Pavel Pavlovitch nói với vẻ sầu muộn và bận tâm. Cháu là một đứa bé kỳ cục và có phần nào bẵn gắt; sau cái chết của mẹ, cháu lâm bệnh suốt hai tuần... Bản tính của cháu là bản tính ưu uất. Lúc nãy, khi anh mới vào, anh có nghe giọng khóc đó chứ ? Con nghe không Lisa, con có nghe không ? Và vì cớ gì nó khóc. Vì tôi đã bỏ nó ở nhà một mình, như thế, theo nó có nghĩa là tôi đã bớt thương nó, đã không còn thương nó nhiều như lúc mẹ nó còn sống. Nó buộc tội tôi như thế đó. Nó nghĩ như thế với những ý nghĩ ngông cuồng trong đầu óc một con bé mà đáng lý chỉ nên nghĩ những con búp bê. Nhưng ở đây cháu chả có ai để mà chơi cả.   
  — Nhưng anh làm như thế nào?... Chỉ có hai cha con ở đây thôi chứ?
— Vâng, đúng thế... Mỗi ngày, chị giúp việc chỉ đến một lần để lo việc bếp núc, dọn dẹp mà thôi.
— Thế thì mỗi khi anh đi đâu, anh bỏ cháu một mình a ?
 — Làm cách nào hơn? Hôm qua khi tôi đi, tôi đã nhốt nó vào căn buồng nhỏ nầy ; chính vì việc đó mà hôm nay chúng tôi đã cùng khóc với nhau.Nhưng làm sao hơn ? Anh thử nghĩ xem. Cách đây ba ngày, cháu nó xuống dưới sân một mình, và một thằng ranh con đã ném đá vào đầu. Một lần khác, cháu nó khóc lóc và năn nỉ mọi người chỉ cho nó biết tôi đi đâu. Anh thấy chứ, việc đó không ổn chút nào cả. Nhưng mà tôi, cũng quá thật ! Tôi nói đi độ một tiếng và chỉ đến sáng hôm sau mới trở về như tối qua, tôi đã làm. Cũng may là chủ nhà đã kêu thợ ống khóa đem cháu ra khi tôi đi vắng mặt. Thật là nhục nhã ! Tôi đã tự biến mình thành một con quái vật. Và như thế là vì trí óc tôi bấn loạn…
 — Ba ! Con bé sợ sệt và lo lắng kêu lên.
— Đó, lại lộn xộn nữa ! Lúc nãy ba dặn sao?
— Con không làm như thế nữa đâu, con không làm như thế nữa đâu ! Lisa sợ sệt lập lại, đồng thời vội vàng với đôi tay về phía cha.
  — Không thể tiếp tục như thế này mãi được, Veltchaninov nóng nảy xen vào với giọng kẻ cả.
-      Anh có của cải; tại sao anh lại có thể sống như vậy, trong căn phòng này, trong những điều kiện này?
— Trong căn phòng nầy? Nhưng có lẽ trong một tuần nữa, chúng tôi sẽ rời khỏi nơi đây, và chúng tôi đã tiêu khá nhiều tiền, và dù cho mình có của chăng nữa thì...
— Thôi, thôi! Veltchaninov cắt ngang lời và càng lúc càng bồn chồn như là ông đã để cho người đối thoại hiểu rõ ràng rằng : ‘‘Đừng nói nữa, vô ích, tôi biết tất cả những gì anh sắp nói và nói với mục đích gì rồi’’. Anh nghe đây, tôi đề nghị với anh một việc: anh vừa nói là còn ở lại đây khoảng một tuần, có thể là hai. Đã hai mươi năm rồi, ở đây, tôi có quen một gia đình mà họ xem tôi như người trong nhà vậy. Đó là gia đình ông Cố Vấn Pogoréltzev. Có thể ông ta giúp anh trong công việc bổ báo. Hiện giờ, ông ta và gia quyến đang ở nhà quê: ông ta có một biệt thự lộng lẫy ở đó. Với tôi, Clavdia Pétrovna Pogoréltzev là một bà mẹ, là một người chị. Họ có cả thảy tám người con. Hãy để tôi dẫn Lisa đến nhà họ. Để cho không mất thì giờ. Họ sẽ vui vẻ tiếp cháu và xem cháu như chính con họ, vâng, như con gái họ vậy.
Ông ta nôn nóng ra mặt, một sự nôn nóng tột độ.
— Không thể như thế được, Pavel Pavlovitch màu mè đáp lại và nhìn thẳng vào mắt ông ta với vẻ láu lĩnh, Veltchaninov nghĩ thế
— Tại sao? Tại sao lại không thể được?
— Còn tại sao nữa? Để cho cháu đi đột ngột như thế với một người bạn như anh thì dù sao, tôi cũng còn chấp nhận được, nhưng lại gởi nó vào một gia đình không quen biết, thuộc về giới thượng lưu thì tôi tự hỏi làm sao người ta lại có thể khứng chịu việc đó được.
 — Những như tôi đã nói với anh là đối với tôi, nhà đó như chính gia đình tôi kia mà ! Veltchaninov hầu như giận dữ la lên. Đó là một sự sung sướng cho Clavdia Pétrovna được tiếp cháu, qua lời gửi gấm của tôi, như tiếp chính con gái tôi vậy… Quỷ bất anh đi ! Anh chỉ bày vẽ ! Anh cũng biết là anh nói thế chỉ để là nói cho vui mà thôi …Rõ ràng như thế !
Ông ta dậm cả chân xuống đất nữa.
— Tôi nói như thế là vì tôi sợ rằng việc này có  vẻ kỳ lạ. Dù sao tôi cũng phải đến thăm cháu một hai lần; và người ta sẽ nghĩ sao khi không thấy cha nó đến …Hi…Hi…Nhất là đối với một gia đình quý phái ‘‘rỡm’’.
  — Nhưng đó là một gia đình bình dị, chẳng ‘‘rỡm’’ chút nào cả ! Veltchninov la lên. Tôi sẽ nói với anh là họ nhiều con. Cháu sẽ được bình phục, đó là việc chính…Ngay ngày mai, tôi sẽ giới thiệu ơn với họ. Anh cũng nên đến thăm họ để cám ơn. Nếu anh muốn, chúng ta sẽ đến thăm họ hằng ngày...
— Nhưng...
— Vô lý I Vả lại, chính anh, anh cũng thừa biết. Nghe đây, tối nay, anh hãy đến ở lại đằng tôi, và ngày mai chúng ta sẽ xuất hành sớm để đến đó vào khoảng giữa trưa.
— Quý hóa thay ông ân nhân ! Ở lại đêm
đàng anh... Thật là một ân sủng... Ngôi biệt
thự đó ở đâu vậy? Pavel Pavlovitch hỏi với
một vẻ sầu muộn.
— Ở Lièssnoi.
— Và áo quần của cháu? Một gia đình quyền quý như thế... hơn nữa, lại ở thôn quê... Chính anh biết đó chứ... tấm lòng của kẻ làm cha.
— Cháu nó cần áo quần gì nữa? Nó đang chịu tang. Nó có thể ăn mặc áo quần nào khác không ? Nó ăn mặc như vậy là thích hợp lắm rồi! Chỉ cần áo quần tươm tất hơn, thêm một cái khăn choàng, thế là chu rồi (khăn choàng và quần áo cháu hiện mặc quả là quá thời và dơ bẩn).
— Ngay tức thì! Cháu nó sẽ thay ngay, Pavel Pavlovitch vội vã đáp. Rồi tôi sẽ sửa soạn liền áo quần cho cháu. Hiện giờ quần áo đó đang là giặt ở đằng nhà Maria Syssoievna.
— Vậy cần phải cho người gọi xe đến, Veltchaninov cắt ngang. Và gọi gấp mới được.
Nhưng lại có một trở ngại khác. Lisa không chịu; cô bé đã theo dõi cuộc đối thoại với sự sợ hãi, và nếu Veltchaninov chịu khó nhìn kỹ nó trong khi thuyết phục Pavlovitch, ông sẽ thấy tất cả sự tuyệt vọng trên khuôn mặt bé nhỏ kia.
— Con không đi đâu, cô bé nói với một giọng yếu ớt nhưng cương quyết.
— Anh xem đó ! Cháu giống đúc mẹ cháu !
— Không, con không có giống má, con không có giống má! Tuyệt vọng quá độ, Lisa đã vừa la lên vừa xoắn đôi bàn tay nhỏ như muốn phản đối cha đã gán cho mình một cái tội tầy đình là giống mẹ.— Ba, ba, nếu ba bỏ con...
Đột nhiên, con bé nhào về phía Veltchaninov đang kinh ngạc.
— Nếu ông dẫn tôi đi, tôi sẽ...
Nhưng chưa kịp nói hết câu, nó đã bị Pavel Pavlovitch, không dấu được sự tức giận, nắm tay và kéo phía căn buồng xép. Lại những lời thì thầm, những tiếng khóc nghẹn ngào. Veltchaninov định bước vào thì Pavel Pavlovitch từ buồng bước ra, và bảo cho ông ta biết, với một nụ cười gượng gạo, - con bé sẽ ra ngay bây giờ. Veltchaninov cố không nhìn Pavel Pavlovitch, ông nhìn đi chỗ khác.
 Vừa lúc đó, Maria Syssoievna, người đàn bà mà ông đã gặp lúc nẩy ngoài hành lang, bước vào ; Bà ta sắp áo quần của Lisa vừa giặt xong về vào một chiếc va-ly nho nhỏ, xinh xinh.
—       Này ông ! Ông mang con bé đi đó à? Bà ta hỏi Veltchaninov. Ông có gia đình chứ? Ông làm như thế là phải đấy. Cháu nó là một đứa bé hiền lành, ông đã cứu vớt nó ra khỏi địa ngục.
— Bà nói gì đó, Maria Syssoievna ? Pavel Pavlovitch ấp úng hỏi.
— Sao? Maria Syssoievna ! Tất cả mọi người đều biết tôi tên như thế kia mà ! Nhà ông không phải là địa ngục à? Có hợp cho một đứa bé đã đến tuổi hiểu biết chứng kiến tất cả những cảnh nhơ nhuốc như thế không? Họ đem xe đến rồi đó, thưa ông; đi đến Lièssnoi chứ?
— Vâng, vâng.
— Thượng lộ bình an nhé !
Lisa bước ra, mặt nhợt nhạt, đầu cúi gầm; nó xách chiếc va-ly nhỏ và không nhìn gì đến Veltchaninov cả. Nó dằn lòng và không vội vả chạy đến hôn cha như lúc nãy, cũng không cả một lời giã biệt; nó không muốn nhìn cha. Rất đúng mực, Pavel Pavlovitch hôn trán và khẽ vuốt tóc con; đôi môi con bé trể xuống và cằm nó khẽ run run vì cử chỉ trìu mến kia nhưng nó vẫn không chịu ngước mắt lên. Mặt Pavel Pavlovitch hơi nhíu và đôi tay run rẩy; Veltchaninov quan sát ông dù rằng đã cố gắng đừng nhìn, ông chỉ muốn có mỗi điều: rời khỏi nơi nầy gấp. ‘‘Mình không nói ra chuyện này, ông ta nghĩ thể. Chuyện gì phải đến, đã đến.’’
Mọi người xuống lầu; Maria Syssoievna và Lisa hôn từ biệt. Và chỉ lúc đã lên xe rồi, Lisa mới ngước mắt nhìn cha, đột nhiên, xoắn hai tay lại, nó thét lên; chậm một chút là nó đã nhào ra khỏi xe để chạy tới cha, nhưng ngựa đã cất vó.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.07.2023 19:57:50 bởi Thanh Vân>
VI
 
CƠN BẤT THƯỜNG MỚI
CỦA MỘT NGƯỜI NHÀN CƯ

 
 
 
— CHÁU cảm thấy mệt à? Veltchaninov hoảng sợ hỏi. Bác cho ngừng xe nhé, bác sẽ cho mang nước đến cho cháu...
Con bé ngước đôi mắt rực lửa đày trách móc nhìn Veltchaninov.
— Ông dẫn tôi đi đâu? Nó gằn giọng hỏi với ít nhiều chua chát.
— Đó là một gia đình dễ mến, Lisa ạ. Họ ở trong một ngôi biệt thự lộng lẫy; họ đông con cái; bọn chúng sẽ yêu thương cháu, bọn chúng tốt lắm... Lisa, đừng giận bác; bác chỉ muốn điều lành cho cháu...
Ngay trong lúc đó, ông bỗng trở thành kỳ lạ đối với những ai đã từng quen biết ông, nếu nhìn thấy ông !
— Ông... Ông... Ồ ! Ông ác độc lắm, Lisa vừa nói, vừa cố nén tiếng khóc và chầm chập nhìn ông ta với đôi mắt xinh xinh rực lửa giận hờn.
— Lisa, bác...    
— Ông là một người ác độc, một người ác độc ! Và nó xoắn chặc lấy đôi tay.
Veltchaninov không biết đâu mà tính.
— Lisa cưng, cháu làm bác buồn lòng lắm!
— Có thật ngày mai ba tôi sẽ đến không? Có thật không ? Nó hỏi với một giọng trịch
— Thật, thật thế! Chính bác sẽ dẫn ba cháu đến. Bác sẽ tìm ba cháu và dẫn ông ta đến.
— Ông sẽ lừa chúng ta, Lisa thì thâm, mắt sụp xuống.
— Lisa, bộ ba cháu không thương cháu sao?
— Phải, ông không thương tôi.
— Ông có đối xử tệ với cháu không ? Có chứ ? Đối xử tệ chứ ?
Lisa nhìn ông với một vẻ ủ ê và im lặng. Nó lại nhìn đi chỗ khác và vẫn bình tĩnh nhìn xuống. Ông ta cố gắng thuyết phục; ông ta say sưa nói như bị nhiệt tình lôi cuốn. Lisa ngồi nghe với vẻ nghi ngờ, thù nghịch; những nó vẫn ngồi nghe. Sự chú ý đó đã làm cho ông vui thích, ông cũng giảng giải cho nó nghe cả việc người nghiện rượu như thế nào. Ông nói cho nó biết là ông thương nó và ông sẽ săn sóc đến cha nó. Cuối cùng, Lisa ngước mắt lên và chăm chú nhìn ông. Ông kể cho nó nghe vì đâu ông quen mẹ nó và ông nhận thấy những lời tâm sự này được nó để ý đến.  đến. Dần dần, nó bắt đầu trả lời những câu hỏi, nhưng trả lời nhát gừng với một sự e dè và bướng bĩnh. Đối với những cacu6 hỏi quan trọng, nó không nói lấy nửa câu : nó ngoan cố giữ im langf85 về tất cả những gì liên quan đến sự đối xử giữa cha nó với nó! Trong khi nói chuyện, như lúc nãy, Veltchaninov nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn và không buông ra nữa ; nó cũng không rút tay về. Tuy nhiên, không phải con bé im tiếng suốt trong thời gian đó; cuối cùng, bằng những lời không mấy minh bạch, nó cũng cho biết là trước kia nó yêu cha hơn mẹ vì ba nó đã yêu nó nhiều hơn má nó; nhưng mẹ nó, trong giờ hấp hối, khi tất cả mọi người đều ra khỏi phòng để hai mẹ con ở lại, đã vừa khóc, vừa nồng nàn hôn nó... và giờ đây, nó thương mẹ nó hơn tất cả những gì trên cõi đời này, và mỗi ngày, nó mỗi yêu mẹ hơn nữa. Nhưng quả thật nó rất kiêu hãnh: chợt nhận thấy mình nói quá nhiều, nó lại câm như hến. Nó còn oán hờn nhìn Veltchaninov, người đã gợi chuyện. Cuối cuộc hành trình, sự nóng nảy hầu như lắng dịu, nhưng nó trở nên trầm tư, ánh mắt man dại, nét mặt ủ rũ và bướng bĩnh. Ý nghĩ người ta dẫn mình đến một nhà lạ, một nhà mình chưa bao giờ quen hình như lúc này không làm nó bận tâm. Chuyện khác đã làm nó đau đớn. Veltchaninov biết điều này ; ông đoán nó hổ thẹn vì cha nó, nó cảm thấy nhục nhã vì cha nó đã để cho nó bị dẫn đi một cách dễ dàng như là ông ta muốn tống khứ nó đi vậy.
‘‘Nó bệnh, có thể là bệnh nặng, ông ta thầm nghĩ. Người ta hành hạ nó… Ồ ! Tên say rượu khốn kiếp, thằng hèn ! Bây giờ, mình mới hiểu !’’. Ông giục người đánh xe. ông hy vọng khí trời thôn dã, vườn tược, trẻ nít, cuộc sống mới sẽ ảnh hưởng đến con bé… và rồi thì …. Còn những gì sẽ xảy đến sau đó, ông không nghi ngờ chút nào cả ; một tương lai xán lạn, đầy hy vọng mở ra trước mặt ông. Dù thế nào đi nữa, ông chắc chắn được một điều: đó là không bao giờ ông còn cảm thấy sung sướng như ông đang cảm thấy hiện nay, và sự sung sướng này còn mãi suốt đời!  ‘‘Đó là mục đích! Đó là cuộc sống!’’  Ông thầm nghĩ với niềm phấn khởi.
 Ý tưởng ào ạt đến trong trí, nhưng ông không chú ý đến một ý tưởng nào cả và nhất quyết tránh đi sâu vào chi tiết ; không có những chi tiết đó, sự suy luận trở nên rõ ràng và vững chắc. Ông trù tính một kế hoạch sơ lược như sau: ‘‘Mình phải hết sức đối phó với tên đê tiện đó; lúc đầu ông để cho Lisa ở lại nhà ông bà Pogoréltzev trong một thời gian hạn định rồi nó sẽ chuồn êm : Lisa ở lại với mình, vậy đó. Còn gì hơn nữa ? Và … vả lại, chính nó, nó cũng muốn thế kia mà, thế thì nó còn hành hạ con bé làm gì ?’’
Cuối cùng, mọi người đến nơi. Ngôi biệ thự của nhà Pogoréltzev ở một chỗ rất tốt. Đám trẻ nít ồn ào đã túa ra trước thềm và vội vã chạy đến đón Veltchaninov. Đã lâu lắm rồi ; ông không đến đây, và sự vui mừng của lũ nhỏ thật là tột độ. Ông được mọi người ở đây yên mến. Ông chưa kịp bước xuống xe, mấy đứa lớn đã vội hét lớn :
— Còn vụ kiện? Vụ kiện đi đến đâu rồi?
Những đứa nhỏ chộp lấy câu hỏi ấy và lập lại với tiếng cười, tiếng hét. Ở đây, người ta hay lấy chuyện này ra ghẹo ông. Nhưng khi nhận thấy có Lisa, bọn chúng vây quanh lấy và quan sát con bé với một sự tò mò yên lặng và chăm chú, một đặc tính của trẻ nít. Rồi tiếp đến là Clavdia với chồng theo sau; cả họ nữa, ngay trong phút đầu cũng vừa cười vừa hỏi về cái vụ kiện cáo đất đai của ông.
Clavdia Pétrovna là một thiếu phụ khoảng ba mươi bảy tuổi, tóc nâu, khá khỏe mạnh và còn xuân sắc, mặt tươi tắn và hồng hào. Ông chồng khoảng năm mươi lăm tuổi; đó là một người thông minh, mưu lược, nhưng lại là một người tốt. Ở nhà họ, Veltchaninov cảm thấy như quay về ‘‘tổ ấm’’, chữ của chính ông. Sở dĩ có chuyện này là vì một lý do đặc biệt: Hai mươi năm về trước, Clavdia Pétrovna suýt chút nữa đã kết hôn với Veltchaninov, lúc đó còn là một thằng nhóc? một sinh viên. Đó là mối tình đầu của cả hai người, một mối tình nồng nhiệt, lẩm cẩm nhưng đẹp đẽ. Tuy nhiên, cuối cùng, nàng lại lấy Pogoréltzev. Năm năm sau, họ gặp lại nhau, và tình yêu đã trở thành tình bạn, một thứ tình bạn thuần khiết và êm ả. Tình yêu của họ còn sót lại một sự trìu mến nào đó, một thứ ánh sáng đặc biệt soi chiếu vào những bang giao bằng hữu của họ. Tất cả những kỷ niệm có liên quan đến cái quá khứ đó đều thanh khiết và không thể chê trách vào đâu được cả, ông càng cho rằng đó có lẽ là một trường hợp ngoại lệ trong đời ông. Ở đây, trong gia đình này, ông là một người bình dị, chơn chất và tốt; ông săn sóc bọn nhỏ và thái độ của ông luôn luôn thành thật và ngay thẳng. Đã hơn một lần, ông hứa với gia đình Pogoréltzev là chẳng chóng thì chầy, ông sẽ đến ở luôn với họ, và ông đã nghĩ đúng đắn về dự tính này.
Với những chi tiết vừa đủ, ông kể lại cho họ nghe những gì họ muốn biết về Lisa; vả lại, ông cũng tạm nói lên ý muốn của mình mà khỏi phải giải thích dài dòng. Clavdia Pétrovna hôn  con bé mồ côi  và hứa sẽ làm cho nó tất cả những gì bà có thể làm được. Lũ nhỏ ôm lấy Lisa và dẫn nó ra chơi đùa ngoài vườn, sau khoảng nửa tiếng hàn huyên náo nhiệt, Veltcbaninov đứng dậy xin phép ra về. Ông ta bồn chồn đến độ mọi người đều nhận thấy. Cả nhà kinh ngạc: ông vắng tới đến khoảng ba tuần và rồi thì ông từ giã ngay sau nửa giờ viếng thăm! Ông cười và hứa là hôm sau sẽ trở lại. Người ta nhận thấy hình như ông xúc động lắm. Thình lình, ông nắm đôi tay của Clavdia Pétrovna và, viện cớ có một việc hệ trọng ông quên nói với bà ta, ông kéo bà sang phòng bên cạnh.
— Chị có còn nhớ những gì tôi đã kể cho chị nghe, chỉ cho một mình chị mà thôi, ngay cả anh nhà cũng không hay biết, về thời gian một năm tôi sống ở T... ?
— Tôi nhớ lắm chứ ; anh thường nhắc nhở đến hoài mà.
— Tôi không nhắc nhở; tôi thú tội với chị và chỉ với mình chị thôi. Tôi chưa bao giờ nói đến tên người đàn bà kia; đó là vợ của Troussotzky. Nàng đã chết, và Lisa là con gái của nàng, nó cũng là con của tôi!
— Anh có chắc không ? Anh không lầm đó chứ ? Clavdia Pétrovna hỏi lại, giọng khá xúc động.
— Không, không ! Tôi không lầm đâu, Veltchaninov trả lời, đầy nhiệt thành.
Và ông ta kể lại tất cả, cố gắng càng gọn càng hay, với một sự hấp tấp nóng nảy. Clavdia Pétrovna đã biết rõ chuyện này, nhưng bà chị biết tên người đàn bà kia. Chỉ nghĩ có một người quen nào đó gặp bà Troussotzky và họ tự bảo ông, Veltchaninov, lại có thể yêu một người đàn bà như thế cũng đủ làm cho ông cảm thấy kinh hoảng ; do đó, ông không đám nêu danh  người đàn bà  ấy cho ai hay, ngay cả với Clavdia Pétrovna, người bạn gái thân thiết độc nhất của ông.
 —Và người chồng không biết gì cả sao ? bà ta hỏi thêm khi ông dứt lời.
— Ông ta biết chứ... Có điều làm cho tôi khó chịu là tôi hãy còn chưa biết hết sự việc, Veltchaninov hăng hái trả lời ; Hắn ta biết, tối qua và sáng hôm nay, tôi nhận thấy là hắn ta biết. Nhưng tôi cần phải biết rõ là hắn ta biết được những gì. Vì chuyện đó mà bây giờ tôi vội vàng đi đây. Chiều nay hắn ta sẽ đến nhà tôi. Vả lại, tôi không hiểu nhờ đâu mà hắn ta lại có thể biết được, mà lại biết tất cả. Hắn biết rõ tất cả những chuyện gì liên quan đến Bagaoutov; điều này không con nghi ngờ gì nữa; nhưng còn về phần tôi ? Chị cũng biết trong những trường hợp tương tự, các bà đã làm thế nào để thành công việc thuyết phục chồng. Nếu có một vị thiên thần từ trời cao xuống thì không phải là ông chồng tin mà chính là bà vợ tin vị ấy. Chị đừng lắc đầu và đừng kết tội tôi. Đã từ lâu, lâu lắm rồi, tôi đã tự xử và tự kết với tôi. Chị xem, mới đây tôi đã gần tin chắc là hắn biết tất cả, tôi đã tỏ ra bối rối ngay trước mặt hắn. Chị biết không, tôi cảm thấy hổ thẹn, tôi cảm thấy áy náy vì tối qua đã tiếp hắn ta một cách thô thiện (có dịp, tôi sẽ kể chị nghe chi tiết câu chuyện này !) Đêm qua, bị một sự thôi thúc hung dữ, vô tình, hắn đã đến nhà tôi trong ý định cho tôi hiểu là hắn biết cái nhục mà hắn phải mang và kẻ lăng nhục là ai vậy. Đó là lý do độc nhất, khiến hắn đến tôi lúc nửa khuya và ngà ngà say. Nhưng đối với hắn đó là chuyện tự nhiên ! Hắn đến với ý định rõ rệt là làm cho tôi bẽ mặt. Thế mà hôm qua và cả hôm nay nữa, tôi đã quá nhiệt thành xen vào công chuyện đó. Tôi đã khinh suất, đã ngu dại ! Tôi đã tự tố cáo. Tại sao hắn lại đến lúc tôi đang nổi nóng? Tôi nói chị nghe: hắn hành hạ cả Lisa, dù sao cũng chỉ là một đứa bé; hắn vừa lăng nhục lại cũng vừa để trút lên đầu con nhỏ mối giận dữ điên cuồng của hắn. Phải, bây giờ hắn ta trở thành gay gắt; hắn là một tên vô tài bất tướng nhưng lại đầy sự độc ác, hiển nhiên hắn chỉ là một thằng hề, dù rằng xưa kia, tôi xin thề với chị, hắn có vẻ là một người lương thiện, lương thiện được chừng nào hay chừng đó; nhưng cũng không có gì lạ lùng khi hắn lăn mình vào vùng trụy lạc! Chị ạ, mình phải nhìn những chuyện đó bằng cặp mắt khoan dung của một tín đồ Thiên Chúa giáo mới được. Và chị cũng biết đó, chứ, tôi muốn thay đổi hoàn toàn thái độ đối với hắn: tôi muốn dịu dàng với hắn, và theo tôi, đó là một ‘‘việc thiện’’ . Vì dù sao chăng nữa, đối với hắn, tôi cũng là kẻ tội phạm. Chị nghe đây, tôi còn một chuyện muốn thú thật cùng chị. Có lần, ở T..., tôi cần gấp bốn ngàn đồng rouble : rồi thì hắn ta trao ngay cho tôi số tiền đó mà không một mảnh giấy nợ, lại còn có vẻ sung sướng vì được cho tôi mượn tiền. Tôi đã nhận số tiền đó, nhận từ chính tay hắn, chị nghe rõ chứ ? Tôi đã nhân danh tình bạn để vay hắn món tiền đó.
— Những anh hãy cẩn thận, Clavdia Pétrovna nhận xét với đôi chút lo ngại. Anh sao có vẻ xốc nổi quá thế ? Tôi thật là lo cho anh đó. Bây giờ, lẽ dĩ nhiên, Lisa là con gái tôi, nhưng vẫn còn nhiều điều cần làm sáng tỏ ! Và cần nhất, anh hãy cẩn thận hơn nữa; khi nào anh cảm thấy sung sướng hay phấn khởi như lúc này, đó là lúc anh phải hành động thận trọng ; bà ta vừa cười vừa nói thêm: anh quá đại lượng.
 Tất cả mọi người đều ra tiễn đưa Veltchaninov; lũ nhỏ dẫn Lisa đang chơi đùa ngoài vườn đến. Mọi người hình như còn bối rối hơn lúc nãy nữa khi nhìn con bé. Lisa tỏ vẻ hoảng hốt khi Veltchaninov hôn tử giã nó trước mặt mọi người và hứa chắc với nó là ngày mai sẽ đến với cha nó. Đến phút cuối cùng, nó như kẻ bàng quan, vẫn không nói một lời nào ; nhưng, bỗng nhiên, nó nắm tay áo Veltchaninov và kéo riêng ông ta ra, mắt đầy vẻ cầu khẩn : nó muốn nói với ông điều gì. Ông dẫn nó sang phòng bên cạnh.
— Chuyện gì thế, Lisa ? Ông hỏi với một giọng dịu dàng và dỗ dành. Nhưng, nhìn quanh với vẻ lo ngại, con bé kéo ông vào trong một góc thật xa ; hình như nó muốn tránh tất cả mọi người.
— Chuyện gì thế, Lisa, chuyện gì thế?
 Nó im tiếng và không có vẻ gì là muốn nói cả: nó nhìn chằm chặp ông ta với đôi mắt xanh biếc, và nét mặt thơ dại của nó chỉ biểu lộ một sự sợ hãi đến điên cuồng.
— Ổng... sẽ treo cổ..., nó thì thầm như nói sảng.
— Người nào treo cổ? Veltchaninov hỏi lại, giọng kinh sợ.
— Ông ta ! Ông ta ! Đêm vừa rồi, ổng định chui đầu vào thòng lọng ! Con nhỏ nói với một giọng vội vàng, hổn hển. Chính mắt tôi thấy ! Mới đây, ổng đã nói với tôi ổng muốn tự tử, chính ổng đã nói với tôi như thế ! Đã từ lâu, ổng muốn làm thế, mãi mãi ông ta muốn làm thế !... Tôi đã thấy ban đêm, ông ta...
— Chuyện đó không thể có được, Veltchaninov thì thầm, hơi xao động.
Bỗng nhiên, con bé cầm lấy tay ông mà hôn; nó khóc, tiếng khóc làm nó nghẹn ngào; nó kêu van, nó nài xin ông ta, nhưng ông không làm sao hiểu được những lời nói đứt khoảng của nó.
Sau này, ông vẫn còn nhớ mãi đôi mắt kinh hoàng của con bé bị đày đọa đó; đôi mắt hoảng hốt vì khiếp sợ đã nhìn ông chăm chú trong một niềm hy vọng tột độ; đôi mắt đó theo dõi ông suốt đời.
 ‘‘Có lẽ nào nó thương cha nó đến thế? Ông thầm nghĩ với đôi chút ganh ghét khi tâm trí tỉnh táo lại. Đôi lúc nó lại bảo là nó yêu mẹ nó nhiều hơn !... Có thể đó là nỗi oán hận, chứ không phải là tình thương .
      ‘‘Còn cái câu chuyện ‘‘tự treo cổ’’ mà nó kể là chuyện gì nữa đây? Hắn ta, cái thằng ngốc đó lại tự tử à? Minh phải làm rõ trắng đen vụ này mới được. Mình phải tìm gấp một giải pháp, một giải pháp dứt khoát.’’
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.07.2023 13:51:59 bởi Thanh Vân>
VII
 
NGƯỜI CHỒNG VÀ NGƯỜI TÌNH
ÔM HÔN NHAU

 
 
ÔNG ta háo hức muốn ‘‘biết’’ . ‘‘Có lúc mình trở nên lúng túng, có lúc mình lại không đủ thì giờ để tự mình tìm hiểu, ông thầm nghĩ thế khi nhớ lại lần đầu tiên gặp gỡ Lisa, nhưng bây giờ thì mình phải biết tất cả . Muốn hiểu gấp mọi sự, ông quyết định một cách nóng nảy là đến ngay nhà Troussotzky liền bây giờ; nhưng ông lại đổi ý:  Không, tốt hơn là để hắn đến mình, và, trong khi chờ đợi, mình sẽ thanh toán càng nhanh càng hay những công việc ‘‘khốn nạn’’ này đã.
Ông bắt đầu hăng hái làm việc, nhưng ông phải nhận là lần này ông quá lơ đãng và không thể nào làm được việc gì trong ngày đó. Đến năm giờ, khi sửa soạn đi ăn, lần đầu tiên, một ý nghĩ có vẻ khôi hài đột nhiên nảy ra trong trí ông: có lẽ chính mình nên nhúng tay vào vụ kiện bằng cách chạy chọt ở Pháp đình, bằng cách tìm cho ra ông luật sư của mình mà rõ ràng là lão ta cố ý lẩn tránh để cho vụ kiện này kéo dài thêm ra. Ý nghĩ đó làm ông bật cười. ‘‘Nếu hôm qua mình có ý nghĩ đó thì chắc là phiền lắm’’. Ông ta tự nhủ với vẻ bằng lòng. Tuy nhiên, dù cho vui vẻ đến mấy, ông cũng càng lúc càng trở nên lơ đãng và nóng nảy, và cuối cùng ông rơi vào một trạng thái vẩn vơ; với mớ tư tưởng bất định, ông chỉ có thể bám víu đến những chuyện vặt vảnh mà không tài nào nghĩ đến chuyện gì gọi là quan trọng, đối với ông.
 ‘‘Mình cần đến chính hắn ta, đến cái tên đó! Ông tự bảo. Mình phải tìm hiểu hắn ta, rồi sẽ tính sau. Đúng là một cuộc thử sức.’’
Khi trở về nhà vào lúc bảy giờ, không thấy Pavel Pavlovitch đâu cả, đầu tiên ông ngạc nhiên rồi thì ông trở nên tức giận và cuối cùng, việc đó làm ông xúc động một cách khó chịu : ông sợ... ‘‘Chỉ có Trời, chỉ có Trời mới biết nổi việc này kết thúc ra làm sao’’, ông ta lẩm bẩm thế và dù đi ngang đi dọc trong phòng hay nằm dài trên đi-văng, ông vẫn không rời mắt khỏi chiếc đồng hồ treo. Gần chín giờ, Pavel Pavlovitch mới đến. ‘‘Nếu tên này mưu toan đều gì quái quỉ thì chẳng bao giờ hắn còn thể tìm thấy phương cách nào tốt hơn nữa để làm cho mình nổi tam bành; bây giờ mình đang hoang mang cực độ đây’’. Nhưng trong khi nghĩ đến những điều đó, ông bỗng cảm thấy hoàn toàn thoải mái vui vẻ.
Trả lời cho câu hỏi đầy vẻ thơ thới của ông:  ‘‘Tại sao anh đến chậm thế?’’, Pavel Pavlovitch gượng cười, rồi khác hẳn hôm qua, lão ta ngồi xuống với tư thái ít nhiều thung dung, và với một cử chỉ lơ là, lão ném xuống ghế chiếc nón có băng tang. Vetchaninov nhận thấy ngay thái độ đó và tự nhủ sẽ giữ thế.
Bình tĩnh, không một lời thừa thải, sự xúc động lúc nẩy đã tan biến, ông thuật lại cho Pavel Pavlovitch nghe cuộc hành trình với Lisa và người ta đã đón tiếp nó như thế nào; ông giải thích tiếp sự ích lợi cho sức khỏe con bé khi ở đó; và dần dần, như quên hẳn Lisa, ông chỉ nói về gia đình Pogoréltzev. Ông nói về lòng tốt của họ, về mối thâm tình giữa ông với họ, về địa vị quan trọng của Pogoréltzev hiện nay, về ảnh hưởng, về tánh tình nhã nhặn của ông này, và về rất nhiều chuyện tương tự. Pavel Palovitch nghe một cách lơ đãng, đôi khi điểm một nụ cười tinh quái và khinh miệt, và thỉnh thoảng lại ném về phía Veltchaninov những cái nhìn nham hiểm.
—- Anh là một người đầy nhiệt tình, ông nói với một nụ cười đểu cáng.
— Còn anh hôm nay, anh thật khó tính, Veltchaninov nhận xét với vẻ hơi cáu kỉnh.
— Và tại sao tôi lại không có quyền ác độc theo mọi người? Pavel Pavlovitch la um lên như một chiếc lò xò bị nén lâu ngày chỉ chờ dịp là bung ra.
— Tùy anh, Veltchaninov đáp lại với một nụ cười diễu cợt. Tôi tưởng là có lẽ có chuyện gì xảy đến cho anh.
— Phải, đã có chuyện xảy đến cho tôi, Pavel Pavlovitch hét lên như là muốn khoe điều đó.
— Chuyện gì thế ?
Pavel Pavlovitch chưa vội trả lời ngay.
— Lại cái anh chàng Stépane Mikhailovitch... Bagaoutov ngông nghênh của chúng ta, cái con người trẻ tuổi hào hoa ở Pétersbourg, cái con người lịch sự của xã hội thượng lưu ấy mà!
— Anh ta lại không tiếp anh nữa hay sao?
— Có chứ... lần này, họ đón tiếp đàng hoàng. Lần đầu tiên, họ mời tôi vào nhà, và tôi đã diện kiến anh ta... Nhưng là để chiêm ngưỡng một cái xác chết!
— Sao ! Bagaoutov chết rồi à? Veltchaninov tỏ vẻ ngạc nhiên dù rằng trong thâm tâm việc đó không làm ông ngạc nhiên chút nào cả.
— Phải, ông bạn cố tri và chung thủy của chúng ta đã bỏ chúng ta! Anh ta chết vào khoảng trưa qua và tôi chẳng biết gì cả! Và có thể ngay trong giờ phút đó, tôi lại đến hỏi thăm tin tức anh ta! Ngày mai sẽ làm lễ an táng; và ảnh đã được liệm trong một chiếc quan tài lót nhung đỏ có nẹp vàng... Ảnh chết vì bị sốt nặng. Vâng, họ đã để cho tôi vào nhìn anh ấy lần cuối. Tôi đã nói với người nhà rằng tôi là bạn thân của anh ta và họ đã để cho tôi vào. Nhưng xin anh cũng hiểu cho!
Cái vụ anh ta, người bạn chí thiết và cố cựu của chúng ta đã chơi xỏ tôi! Có lẽ vì chỉ muốn gặp ảnh mà tôi đã đến Pétersbourgl
— Nhưng anh giận chuyện gì? Veltchaninov nói, ảnh có làm điều gì quá đáng đâu?
— Tôi nói thế là vì tôi thương tiếc anh ta, người bạn quý hóa đó... Anh có biết, ảnh đã như thế nào đối với tôi không?
Và thình lình, với một cử chỉ bất ngờ, Pavel Pavlovitch dựng hai ngón tay trên cái đầu sói như cặp sừng, và lặng lẽ cười. Với cặp sừng trên đầu, ông ngồi cười như thế khoảng nửa phút, mắt nhìn thẳng vào mắt Veltchaninov với một vẻ trâng tráo đắc thắng. Veltchaninov sửng sốt như nhìn thấy bóng ma; nhưng sự kinh ngạc chỉ kéo dài trong chốc lát rồi thì một nụ cười nhạo báng và trầm lặng, gần như là xấc xược, dần dần hiện lên trên môi.
— Như thế có nghĩa gì? Ông chậm rãi nói với một giọng thờ ơ.
— Đó là một cặp sừng, Pavel Pavlovitch trả lời cộc lốc và bỏ tay xuống.
— Cặp sừng của anh?
— Phải, cặp sừng của tôi và do tôi đã thu nhận được ! Và Pavel Pavlovitch lại cười nham nhở.
Cả hai cùng im lặng.
— Anh thật là can đảm, Veltchaninov thốt lên.
— Tại sao? Vì tôi đã cho anh thấy cặp sừng đó ? Aléxéi Ivanovitch này, tốt hơn là anh mời tôi món gì đi. Suốt một năm trời ở T..., tôi đã khoản đãi anh rồi... Hãy cho mang một chai rượu, cổ tôi khô ráo rồi này.
— Rất hân hạnh. Đáng lý anh nên nói từ hồi nãy kia. Anh dùng gì nào?
— Tại sao lại nói anh? Nói chúng ta chứ? Chúng ta sẽ cùng nhậu, phải không anh? Pavel Pavlovitch nhìn chòng chọc vào mặt Veltchaninov với một vẻ thách thức nhưng cũng pha lẫn đôi chút lo sợ kỳ lạ.
— Sâm-banh nhé?
— Còn thứ gì khác hơn bây giờ? Chúng ta chưa đến nỗi phải uống Vodka mà!
Veltchaninov thong thả đứng dậy, gọi Mavra và bảo bà ta đem rượu lên.
— Để đánh dấu cuộc tương phùng vui vẻ của chúng ta sau chín năm xa cách ! Pavel Pavlovitch cố gắng nói bông lông nhưng không kết quả. Anh, chỉ mình anh thôi, là người bạn chân thành của tôi. Stépane Mikhailovitch Bagaoutov không còn nữa. Và như một thi sĩ đã viết :
Vĩ nhân Patrocle không còn nữa,
Còn lại tên hèn Thersite thôi !
Và đọc đến chữ  ‘‘Thersite’’ , ông trỏ vào mình.
‘‘Nào, đồ súc vật, hãy giải thích ngay đi ! Tao không ưa những lời bóng gió,’’ Veltchaninov nhủ thầm. Cơn giận dữ ngầm sôi trong huyết quản, nhưng nãy giờ ông đã cố hết sức nhịn nhục.
— Nhưng này anh, ông bắt đầu với ít nhiều bực dọc, nếu anh buộc tội Stépane Mikhailovitch như thế, (bây giờ ông không còn gọi thân mật là Bagaoutov nữa) thì đó là một điều hạnh phúc cho anh vì kẻ xúc phạm anh đã chết rồi; vậy thì ai làm phiền anh đây?
— Tại sao đó là một điều hạnh phúc? Hạnh phúc nào?
— Tôi căn cứ trên tâm tình của anh mà xét đoán.
— Hi... Hi... trong trường hợp này, anh lầm rồi; một nhà hiền triết đã nói: ‘‘Một kẻ thù còn sống lại là một chuyện hay hơn nữa. Hi... hi...
— Nhưng anh đã thấy anh ấy sống trong suốt năm năm trời, anh đã thấy hằng ngày, tôi nghĩ thế; anh đã có đủ thì giờ để nhìn ngắm hắn ta kia mà, Veltchaninov nhận xét một cách cay độc và xấc xược.   
— Nhưng... tôi đã biết được gì về anh ấy? đột nhiên Pavel Pavlovitch lại la um lên như chiếc lò xo bung ra, xen lẫn một niềm vui nào đó vì ông được hỏi một câu mà ông đã chờ đợi từ lâu. Trong trường hợp này, anh cho tôi là thứ người nào, hở Aléxéi Ivanovitch ?
Một vẻ gì mới lạ, bất ngờ rực sáng trong tia nhìn của ông và thay đổi hoàn toàn khuôn mặt cho đến lúc đó hãy còn méo mó vì những nét nhăn bần tiện và hung dữ.
— Sao? Có lẽ nào anh không biết gì cả sao? Veltchaninov thốt lên, giọng kinh ngạc cực độ.
— Tôi biết gì về ảnh? Tôi biết gì về chuyện đó ? Ồ ! các anh, giòng giống của Thiên Đế ! Đối với anh, con người bất quá chỉ là một con chó và xét đoán mọi người theo cái bản tánh ti tiện đó. Của anh đấy! Anh hãy ‘‘dộng’’ đi ! — Và ông ta giận dữ đấm mạnh nắm tay xuống bàn; nhưng cử chỉ này bỗng làm ông ta hoảng sợ, và ông ném cái nhìn lo ngại về phía Veltchaninov.
Ông này chồm đậy.
— Nghe đây, Pavel Pavlovitch, anh hãy biết cho điều này là tôi hoàn toàn dửng dưng đối với chuyện anh biết hay không. Nếu anh không biết rõ anh ấy, việc đó là một vinh hạnh cho anh, dù rằng... Vả lại, tôi không hiểu nỗi vì sao anh lại chọn tôi mà giải bày tâm sự...
— Anh không phải là người tôi nhắm đến...
Anh đừng giận, không phải anh đâu, Pavel Pavlovitch thì thầm, mắt nhìn xuống đất.
Mavra bước vào với chai sâm banh.
— Đây rồi ! Pavel Pavlovitch la lên, sung sướng ra mặt vì có dịp khuây khỏa. — Cho mấy cái ly đi, má nhỏ ! Tốt ! Chúng tôi không cần thêm gì nữa đâu ! Rượu đã khui rồi à ! Danh giá và vinh quang thay cho bà, hỡi con người khả ái kia ! Và bây giờ hãy cút đi.
Rồi trở lại đàng hoàng, ông lại nhìn Veltchaninov với vẻ xấc xược.
— Anh hãy công nhận đi, ông ta mia mai, anh thích thú câu chuyện đó chứ không phải ‘‘dửng dưng’’ như anh đã nói; anh thích thú đến cái độ anh ân hận nếu giờ đây tôi đứng dậy ra về mà không giải thích gì cho anh biết.
— Thú thật với anh là tôi chẳng có gì phải ân hận cả.
‘‘Đò nói dối!’’ Nụ cười của Pavel Pavlovitch đã nói lên ý nghĩ đó.
— Vậy thì, bắt đầu nào !—Ông rót rượu ra ly— Mời anh ! Ông vừa nói vừa nâng ly lên. Hãy uống mừng cho vong linh của người bạn Stépane Mikhailovitch khốn khổ của chúng ta đã trở về với Chúa.
Ông nâng ly lên và uống.
— Tôi không chấp nhận loại rượu mừng kiểu này và tôi không uống, Veltchaninov đặt ly xuống
— Sao vậy? Đây là một ly rượu mừng thú vị mà.
— Anh nghe đây ! Khi vào đây, anh đã ngà ngà rồi chứ?
— Dĩ nhiên, tôi có nhậu lai rai. Tại sao anh hỏi tôi chuyện đó?
— Không có gì; nhưng hình như hôm qua và nhất là sáng nay anh thành thật thương tiếc Natalia Vassilievna.
— Và ai dám bảo với anh là giờ phút này, tôi hết tiếc thương nàng? Pavel Pavlovitch, chợt nhổm dậy như lúc nãy.
— Không phải vì việc gì đó, nhưng anh nên công nhận là anh có thể lầm về những gì có liên quan đến Stépane Mikhailovitch, và như thế là nguy hiểm lắm đấy.
Pavel Pavlovitch cười quỷ quyệt và nháy mắt ra dấu.
— À ! Anh muốn biết vì sao tôi biết được sự thật về Stépane Mikhailovitch hả!
Veltchaninov đỏ mặt.
— Tôi xin nhắc lại anh hay là chuyện đó không ‘‘ ăn nhằm’’  gì đến tôi cả. ‘‘ Nếu mình tống cổ nó ra khỏi nhà với chai rượu?’’  Ông tự hỏi với sự giận dữ trong lòng, và ông càng cảm thấy thẹn thùng hơn nữa.
— Không có gì đáng kể ! Pavel Pavlovitch nói như là muốn khích lệ Veltchaninov. Và ông lại rót thêm rượu vào ly... Tôi sẽ giải thích anh rõ vì sao tôi biết tất cả, và tôi sẽ thỏa mãn cả những ước muốn sôi nổi nhất của anh... Vì anh là một người nhiệt tình, anh Aléxéi Ivanovitch ạ, một người vô cùng nhiệt tình kia mà ! Hi... hi... Nhưng hãy cho tôi một điếu thuốc đã, vì từ tháng ba đến giờ...
— Thuốc đây.
— Tôi đã trở nên hư hỏng từ tháng ba, Aléxéi Ivanovitch ạ, và đầu đuôi câu chuyện như thế này. Anh hãy nghe đây. Như anh biết—giọng ông càng lúc càng trở nên thân mật — bệnh lao phổi là một chứng bệnh kỳ quặc: người mắc bệnh không bao giờ ngờ rằng ngày mai mình không còn ở trên cõi đời này nữa. Tôi nói anh nghe: năm tiếng đồng hồ trước khi từ giã trần gian, Natalia Vassilievna hãy còn lo sửa soạn để hai tuần sau đến thăm bà cô ở cách chúng tôi khoảng bốn mươi dặm. Phần khác, chắc anh cũng rõ về thói quen, hay đúng hơn là cái tật của nhiều bà, nhiều ông muốn lưu lại tất cả những thư từ giấy má dù cổ lỗ sĩ đến đâu, có liên hệ đến mối tình của họ. Cách chắc chắn nhất là ném cả vào lửa, có phải vậy không anh? Nhưng mà không, họ giữ gìn cẩn thận từng mảnh giấy nhàu nát đó trong hộp, họ lại còn đánh số theo năm, theo ngày và sắp xếp thứ tự. Làm như thế, có lẽ họ được an ủi phần nào, tôi không biết có phải như vậy không; nhưng chắc là để nhắc nhở cho họ những kỷ niệm êm đềm. Vậy thì, năm giờ trước khi từ trần, Natalia Vassilievna vẫn còn chuẩn bị việc đi thăm bà cô và dĩ nhiên là không nghĩ gì đến cái chết dù cho giờ cuối cùng sắp đến, và nàng vẫn còn mãi chờ Bác sĩ Koch. Cuối cùng, Natalia Vassilievna đã qua đời và cái hộp con con bằng gỗ mun có cẩn bạc và xa cừ còn lại trên bàn giấy. Đó là một cái hộp nho nhỏ, xinh xinh, có khóa, đã có từ lâu trong gia đình và của bà nàng để lại. Và nhờ cái hộp nhỏ đó mà tôi biết hết mọi sự, không sót một việc gì trong suốt hai mươi năm nay kể từng ngày, từng năm. Và vì Stépane Mikhailovitch là một người say mê văn chương và anh ta có gởi cho tòa soạn một tạp chí nọ một truyện ngắn cảm động; do đó, trong chiếc hộp kia có đựng ngót trăm tác phẩm của ảnh. Chuyện này kéo dài cả năm năm trời. Một vài bài văn lại được chính tay Natalia Vassilievna ghi chú. Anh nghĩ sao? Thú vị cho ông chồng đấy chứ?
Veltchaninov vội vàng kiểm soát lại ký ức và nhớ lại là mình chưa hề viết cho Natalia một lá thư hay một mảnh giấy nhỏ nào. Thật ra, ông có gởi từ Pétersbourg đến hai lá thư nhưng lại gởi cho cả hai vợ chồng như Natalia Vassilievna và ông đã giao ước từ trườc. Lá thư cuối cùng của Natalia Vassilievna báo cho ông biết sự kết thúc dứt khoát mối liên lạc giữa hai người, đã không được ông trả lời.
Sau khi kể xong, Pavel Pavlovitch im lặng đúng một phút, cười nụ và hình như ông mong chờ một câu trả lời.
— Tại sao anh không trả lời câu tôi hỏi? Cuối cùng ông hỏi với một sự phiền muộn ra mặt.
— Câu hỏi nào ?
— Câu hỏi về chuyện tình cảm của người chồng khi tìm ra được cái loại hộp mà tôi nói đó.
— À ! Can cớ gì đến tôi ! —Veltchaninov phác một cử chỉ bực tức, đứng dậy và bước ngang, bước dọc.
— Tôi cá là anh đang nghĩ thầm:  ‘‘Mầy đúng là một thằng vô luân khi chính mầy kể lại câu chuyện nhục nhã đó của mầy !’’  — Hì...hì...hì... Anh thật khó tính!
— Tôi không nghĩ điều gì giống như anh nói cả. Trái lại, chính anh quá tức giận vì cái chết của kẻ gieo nhục cho anh, và, hơn nữa, anh quá chén rồi đấy. Tôi không thấy có gì là đáng kỳ lạ cả; tôi không hiểu rõ vì sao anh muốn, anh cần Bagaoutov còn sống; tôi kính trọng sự tức giận của anh, nhưng...
— Nhưng theo anh, vì sao tôi lại cần đến Bagaoutov?
— Đó là chuyện của anh.
— Tôi cá là anh muốn thấy một cuộc thách đấu?
— Dẹp anh đi ! Veltchaninov mỗi lúc mỗi khó dằn lòng, la lên. Theo tôi, thiết tưởng trong những trường hợp tương tự... người có đôi chút phẩm giá không thể nào cho phép mình có những lời nhảm nhí, những bộ tịch lố lăng, những câu bóng gió đê tiện, chỉ hạ tư cách mình xuống mà thôi. Trái lại, họ phải hành động cởi mở, bộc trực như là một người có danh giá.
 — Hi.., hi... hi... Và có lẽ tôi không phải là một người danh giá?
— Một lần nữa nhắc anh hay, đó là việc của anh... Nhưng cái quái quỷ gì xui khiến anh cần đến Bagaoutov như thế?
— Nhưng, chỉ để chiêm ngưỡng dung nhan anh bạn thân đó thôi. Và nếu có thể chúng tôi sẽ khui một chai rượu và vui vẻ nhậu chung với nhau.
— Anh ta sẽ không nâng ly với anh đâu.
— Vì sao ? Noblesse oblige (Quý tộc bắt buộc) mà lại ! Anh không uống chung với tôi đó sao? Và anh ấy nào có cao quí gì hơn anh đâu?
— Tôi đâu có uống.
— Lòng kiêu hãnh bất thần đó xuất phát từ đâu vậy?
Veltchanov bỗng cười rộ lên.
— Xéo đi ! Anh đúng là một  kẻ hung tợn. Tôi tưởng anh chỉ là một  người chồng muôn thuở  và không là gì nữa cả.
—  ‘‘Người chồng muôn thuở’’  là cái gì vậy?. Cái đó nghĩa ra làm sao? Pavel Pavlovitch hỏi lại liền và vểnh tai nghe.
— Đó là một loại chồng. Nói ra thì dài dòng lắm. Thôi, tốt hơn anh nên về đi ! Vả lại đã đến giờ rồi, và anh làm phiền tôi nhiều lắm.
— Và ‘‘hung tợn’’ nữa chứ? Anh đã nói  ‘‘hung tợn’’ kia mà.
— Tôi nói anh là một ‘‘kẻ hung tợn’’ . Đó chỉ là một cách nói đùa.
—  ‘‘Kẻ hung tợn’’ là như thế nào? Aléxéi Ivanovitch, nhờ ơn Thượng Đế, tôi van anh, anh hãy giải thích cho tôi rõ
— Thôi đủ rồi ! Veltchaninov cắt ngang với một vẻ giận dữ. Đã đến giờ anh về rồi. Anh về đi!
— Không, chưa đủ đâu ! Pavel Pavlovitch la lớn và nhổm dậy. Nếu tôi có quấy rầy anh chăng nữa, tôi thấy cũng chưa đi đến đâu, vì trước hết chúng ta phải cụng ly và uống chung với uhau đã chứ. Anh hãy uống đã và rồi tôi sẽ đi, còn bây giờ thì chưa có gì gọi là đủ cả, đối với tôi.
— Pavel Pavlovitch, anh có cút đi không, có hay là không?
— Tôi sẽ xéo tức thì, nhưng trước hết, hãy uống đã. Anh vừa nói rõ ràng là anh không muốn uống với tôi, nhưng tôi, tôi lại muốn anh uống chung với tôi.
Ông ta không làm bộ mà cũng không nói đùa. Có cái gì biến cải trong ông, và sắc mặt, và giọng điệu của ông đều thay đổi đến độ làm cho Veltchaninov phải sửng sốt.
— Ê ! Aléxéi Ivanovitch, uống đi chứ ! Đừng từ chối đấy nhé! Pavel Pavlovitch vừa nói tiếp, vừa nắm chặc tay Veltchaninov và nhìn chòng chọc vào mặt ông này. Đối với ông ta, sự quan trọng, hiển nhiên không phải nơi ly rượu.
— Cũng được... vâng, tôi sẽ uống... Veltchaninov ấp úng. Nhưng... đây chỉ là dấm...
 — Còn đúng hai ly... Tồi thật đấy, nhưng chúng ta sẽ cụng và sẽ uống hết. Đây, ly rượu của anh đây.
Họ cụng ly và uống cạn.
— À ! Nếu được như vậy, nếu được như vậy ! ... Chà!
Pavel Pavlovitch bưng lấy trán và ngồi như thế trong giây lát. Veltchaninov tưởng rằng ông ta sắp nói một lời dứt khoát. Nhưng Pavel Pavlovitch không nói gì cả; ông chỉ nhìn Veltchaninov và lặng lẽ cười, nụ cười lúc nãy, nụ cười tinh quái và đầy ẩn ý.
— Muốn gì, tên say rượu khốn kiếp? Anh coi thường tôi quá!
Veltchaninov vừa dậm chân vừa la lớn, giọng tức giận.
— Đừng la, đừng la! Tại sao lại phải hét lớn? Ông kia vội vã nói và ra dấu can gián. Tôi không có ý khinh thường, nhạo báng anh. Không ! Anh có biết hiện giờ anh là thế nào của tôi không?
Và đột nhiên, ông nắm bàn tay Veltchaninov và hôn. Ông này sửng sốt.
— Đó, đối với tôi hiện giờ, anh là thế đó! Và bây giờ, tôi  ‘‘dông’’  nghe.
— Khoan ! Khoan đã! Veltchaninov kêu lên sau khi đã lấy lại bình tĩnh. Tôi quên nói với anh là...
Đã ra gần đến cửa, Pavel Pavlovitch quay lại.
— Anh... anh, Veltchaninov lẩm bẩm một cách vội vàng và thẹn thùng, ông không dám nhìn thẳng người khác, ngày mai thế nào anh cũng phải đến cho biết nhà ông bà Pogoréltzev và đề cám ơn họ... Thế nào anh cũng phải đến...
— Vâng, thế nào cũng phải đến? Tôi hiểu rõ mà, Pavel Pavlovitch đáp lại với một sự vội vã quá đáng và phác một cử chỉ gẫy gọn như muốn nói là không cần phải nhắc lại ông điều đó nữa.
— Và, hơn nữa, Lisa đang sốt ruột chờ anh. Tôi đã hứa...
— Lisa !— Pavel Pavlovitch lộn lại. Anh có biết trước kia và bây giờ, đối với tôi, Lisa là gì không? Phải, nó là gì trước kia và bây giờ không? ông chợt la lên như không thể dằn lòng nổi... Nhưng để sau đã, tất cả chuyện đó để sau hẵn hay... Còn bây giờ, anh biết không, anh Aléxéi Ivanovitch, uống rượu không thôi chưa đủ đâu, tôi còn muốn một chuyện khác nữa kia...
Ông đặt nón xuống bàn và nhìn Veltchaninov như lúc nãy, hơi thở hổn hển.
— Hôn tôi đi, Aléxéi Ivanovitch! Ông đột nhiên đề nghị.
— Anh say rồi ! Veltchaninov giật mình la lên.
— Phải, tôi say nhưng anh hãy hôn tôi cái đã. Aléxéi Ivanovitch, hôn tôi đi ! Hồi nãy tôi đã chẳng hôn tay anh đó sao?
Aléxéi Ivanovitch im lặng trong giây lát như là vừa lãnh một gậy trên đầu. Rồi bỗng nhiên, ông cúi xuống hôn môi Pavel Pavlovitch. Ông này chỉ cao ngang vai ông và miệng nồng nặc mùi rượu. Và ông cũng không hoàn toàn biết chắc là mình có hôn ông ấy hay không.
— Vậy thì, bây giờ... bây giờ..., Pavel Pavlovitch lại la lên, như bị cơn say lôi cuốn và mắt rực sáng. Đây là những gì tôi muốn nói với anh : Lúc nãy tôi đã nghĩ: ‘‘Sao ! cả tên này nữa à ! Nếu có cả nó nữa thì biết tin ai bây giờ?’’
Đột nhiên, Pavel Pavlovitch khóc ròng.
— Bây giờ anh đã biết anh là người bạn như thế nào đối với tôi rồi chứ?
Và ông ta lủi nhanh, tay cầm nón. Veltchaninov đứng im giữa phòng trong mấy phút như kỳ Pavel Pavlovitch đến đầu tiên.
— ‘‘À ! Nó chỉ là một thằng hề say sưa, không hơn không kém’’, và ông phác một cử chỉ khinh miệt.
‘‘Phải, không hơn không kém’’, ông lập lại một cách quả quyết như ông đã thay áo quần và đi nằm.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.07.2023 13:55:05 bởi Thanh Vân>
VIII
LISA LÂM BỆNH
 
 
SÁNG hôm sau, trong khi chờ đợi Pavel Pavlovitch đã hứa sẽ đến đúng giờ, để cùng đi đến nhà gia đình Pogoréltzev, Veltchaninov đã rão bước quanh phòng, uống cà phê từng ngụm và hút thuốc. Ông có cảm giác rất rõ rệt giống như một người sáng hôm sau thức giấc, không ngớt nhớ lại hôm qua mình đã bị hạ nhục.
 ‘‘Hừ !... nó biết quá rõ tình thế và nó sẽ dùng Lisa để trả thù mình!’’ , ông nghĩ đến với sự kinh hãi.
Hình dáng dịu hiền và sầu thảm của con bé chợt hiện ra trước mắt. Tim ông đập mạnh hơn khi ông nghĩ đến trong hai giờ nữa, ông sẽ gặp Lisa, Lisa thân mến của ông. ‘‘ Không có gì đáng bàn cãi nữa cả! ông hăm hở kết luận, đó là lẽ sống và đích sống của mình. Có nghĩa lý gì những nhục nhã, những kỷ niệm kia ? Cho đến bây giờ, mình đã làm gì cho cuộc đời mình? Chỉ có sự hổn độn và sự buồn thảm... Nhưng bây giờ, mọi sự sẽ khác, mọi sự sẽ khác hẳn !’’
Nhưng, dù trong lòng hân hoan, ông vẫn cảm thấy càng lúc càng lo ngại.
 ‘‘Hiển nhiên là nó sẽ dùng Lisa để làm cho mình đau khổ. Nó cũng sẽ đầy đọa Lisa nữa. Nó sẽ làm như thế để trả thù tất cả. Hừ! Nhất định mình không thể nào để cho nó diễn lại cái trò điên khùng hôm qua!’’ Và ông ta đỏ mặt.
‘‘Nhưng... nó vẫn chưa đến và đã gần trưa rồi’’.
Ông chờ rất lâu, cho mãi đến mười hai giờ rưỡi trưa và sự lo âu của ông tăng dần. Cuối cùng, cái ý nghĩ mới đây đã đến trong trí, cái ý nghĩ là lão ta sẽ không đến, cố ý không đến chỉ để áp dụng lại chiến thuật hôm qua, cái ý nghĩ đó làm ông phát cáu: ‘‘Nó biết là mình cần nó. Chuyện gì sẽ xảy đến cho Lisa bây giờ đây? Và làm sao mình đến thăm Lisa đây, khi không có thằng chả?’’
Cuối cùng, ông không thể chờ đợi hơn nữa, và đúng một giờ trưa, ông chạy đến Pokrov. Ở khách sạn, họ cho biết là hôm qua Pavel Pavlovitch không ngủ nhà. Đến chín giờ sáng, ông ấy mới về và mười lăm phút sau lại ra đi ngay. Đứng gần cửa phòng Pavel Pavlovitch, nghe bà giúp việc giải thích sự việc, Veltchaninov xoay tay nắm để thử mở cánh cửa một cách vô ý thức. Sực nhớ, ông tránh xa cánh cửa và nhờ người dẫn đến gặp Maria Syssoievna. Nhưng bà này, hay tin có ông ở đó, đã thân hành đến.
Đó là một người đàn bà phúc hậu, một người đàn bà ‘‘có những cảm tính cao thượng’’, như lời ông kể lại sau này với Clavdia Pétrovna. Ông vắn tắt hỏi bà ta về chuyện ăn ở của  con bé, và Maria Syssoievna bắt đầu kể cho ông nghe những điều bà biết được về Pavel Pavlovitch.
Bà kể rằng : ‘‘Nếu không vì đứa bé thì tôi đã tống cổ lão ta đi từ lâu rồi. Người ta cũng đã mời lão ra khỏi khách sạn vì những trò bậy bạ. Đang đêm dẫn gái về nhà, mà nhà lại có đứa bé đã đến tuổi hiểu biết, ông xem có phải là tội lỗi không? Đã thế lão ta còn hét:  ‘‘Nếu tao muốn, cô này sẽ là mẹ mày!’’  Rồi thì, tùy ông muốn tin hay không, dù chỉ là một đứa bé nhưng nó đã tỏ vẻ khinh bỉ. Lão ta lại hét lớn : ‘‘Mầy không phải là con tao ! Mầy là đứa con hoang !’’
— Bà nói sao ! Veltchaninov sửng sốt la lên.
— Chính tôi nghe nói như thế. Lão ta say, lão ta không kềm chế nổi; điều đó có thật, nhưng người ta không thể nào nói những điều như thế trước mặt một đứa bé; nó hãy còn nhỏ nhưng nó đã có trí khôn, và nó hiểu. Cách đây vài hôm, đã có chuyện không may xảy đến: một ông cò, người ta bảo thế, tối hôm trước thuê một căn buồng, và rồi sáng hôm sau, ông ta treo cổ ngoài sân. Nghe đâu ông ta thụt két. Mọi người đều chạy đến xem và không ai giữ đứa nhỏ cả. Và tôi đã thấy gì? Nó đang chen giữa đám đông và nhìn người tự tử với một vẻ lạ lùng. Tôi kéo nó đi ngay. Và ông biết sao không? Nó run, nó trở nên rũ rượi : và khi vừa dẫn nó về đến phòng, nó nhào xuống và làm kinh. Tôi phải vất vã lắm mới cứu nó tỉnh lại. Và từ đó nó lâm bệnh cho đến bây giờ. Còn cha nó, khi về đến nơi, hay tin lão ta véo, ngắt cùng người nó, vì thường thường lão không đánh mà chỉ véo thôi. Rồi thì lão lại nhậu say và bắt đầu làm cho con bé hoảng sợ. Lão nói : ‘‘Vì mày, tao cũng sẽ treo cổ với sợi dây đằng kia kìa, sợi dây treo màn đó.’’ và lão làm một cái nút thòng lọng trước mắt con bé. Như một con điên, nó ôm lấy cha với đôi cánh tay bé nhỏ, nó la : ‘‘Con sẽ không làm thế nữa, không bao giờ nữa, con sẽ không làm như thế nữa đâu !’’ Thấy nó thật là tội nghiệp!
Mặc dù Veltchaninov sẵn sàng nghe những chuyện ngoài ý muốn nhưng những chuyện bà ta kể lại đã khiến ông sửng sốt đến độ không dám tin là có thật. Maria Syssoievna còn kể thêm : Có lần, nếu không có bà ở đó thì con bé đã nhảy qua cửa sổ rồi!
Veltchaninov rời khỏi khách sạn, thất thểu như một thằng say. Ông lập đi lập lại : ‘‘Mình sẽ đập chết nó như đập chết một con chó.’’
Ông lên một chiếc xe ngựa và bảo chạy đến nhà gia đình Pogoréltzev. Vẫn còn chưa ra khỏi thành phố thì xe phải ngừng lại ở một ngã tư ven sông, gần cầu để cho một đám tang đi qua; xe cộ và khách bộ hành đều ngừng cả ở hai bên đầu cầu. Đó là một đám ma sang trọng và các xe đi đưa làm thành một hàng dài. Bỗng nhiên Veltchaninov thấy nhô ra nơi khung cửa một chiếc xe trong đám, bộ mặt Pavel Pavlovitch. Ông sẽ tưởng mình lầm, nếu Pavel Pavlovitch không thò đầu ra cửa xe và chào ông với nét mặt tươi cười. Pavel Pavlovitch có vẻ sung sướng khi nhận ra Veltchaninov và phác một cử chỉ thân hữu. Veltchaninov nhảy ra khỏi xe, và dù đường đông người và nhiều cảnh sát, dù xe của Pavel Pavolvitch đã lên cầu rồi, ông vẫn len lỏi đến tận cửa xe. Trong xe chỉ có một mình Pavel Pavlovitch.
— Chuyện gì xảy đến cho anh thế ? Veltchaninov la lớn. Tại sao anh không đến? Tại sao anh lại ở đây?
— Tôi đang làm bổn phận cuối cùng! Đừng la lớn ! Đừng la lớn ! Tôi đang làm bổn phận cuối cùng, Pavel Pavlovitch trả lời, vừa cười một cách tinh quái và nheo mắt. Tôi tiễn đưa linh cửu của Stépane Mikhailovitch, người bạn quý của tôi đến nơi an nghỉ cuối cùng.
— Phi lý ! Đồ say ! Đồ điên! Veltchaninov la lớn hơn nữa sau phút giây bối rối. Anh xuống ngay, và đến đây với tôi ! Tức thì!
— Tôi không muốn thế. Bổn phận...
— Tôi sẽ dùng sức kéo anh xuống! Veltchaninov hét lên.
— Còn tôi, tôi sẽ kêu cứu ! Tôi sẽ kêu cứu ! — Pavel Pavlovitch tiếp tục cười một cách vui vẻ, coi đó như là một chuyện đùa, nhưng ông lại ngồi thụt vào trong xe.
— Coi chừng! Xe cán ông bây giờ! Viên cảnh sát báo động.
Thật thế, một chiếc xe không thuộc đám táng, vượt khỏi hàng và gây náo loạn trong đám đông Veltchaninov bắt buộc phải tránh sang một bên; vài chiếc xe khác đẩy ông ra xa hơn nữa. Ông giận tràn hông và quay về xe mình.
 ‘‘Dầu sao đi nữa, trong tình trạng hiện tại, mình không thể nào dẫn hắn đi được’’, ông nghĩ thầm với lo âu và kinh ngạc.
Khi ông kể cho Clavdia Pétrovna nghe những gì Maria Syssoievna đã thuật lại cũng như kể cho bà ta nghe cuộc gặp gỡ với Pavel Pavolvitch vừa rồi, bà trở nên tư lự:  ‘‘Tôi lo cho anh, bà nói, anh phải ngưng ngay mọi liên lạc với ông ấy càng sớm càng hay.’’
— Nhưng mà nó chỉ là một thằng hề say sưa, không hơn không kém! Veltchaninov giận dữ la lớn. Tôi, tôi mà phải sợ nó à! Và làm sao tôi có thể không liên lạc với nó khi còn có Lisa đó! Hãy nghĩ đến Lisa chứ! Và Lisa lúc đó đang nằm trên giường bệnh. Chiều hôm qua, nó lên cơn sốt và cả nhà đang chờ một y sĩ danh tiếng mà sáng nay họ đã cho người đến tận tỉnh mời ông ta. Việc này khiến cho Veltchaninov hoàn toàn thảng thốt. Clavdia Pétrovna dẫn ông đến gặp con bệnh.
— Chiều qua tôi đã quan sát cháu nó kỹ lưỡng, bà ta nói khi ngừng trước cửa phòng Lisa. Đó là một đứa bé tự hào, và kín đáo. Theo ý tôi, nó hổ thẹn vì ở nhà chúng tôi và nó cảm thấy bị cha bỏ rồi; đó là căn bệnh của nó.
— Tại sao ‘‘bỏ rơi’’? Tại sao chị lại nghĩ là cha nó bỏ rơi nó?
— Chỉ cái việc để cho nó đến nhà những người xa lạ và đi cùng một người cũng hầu như... xa lạ nốt, hay với một người mà sự giao thiệp...
— Nhưng tôi đã ép buộc nó đi kia mà... Tôi không nhận thấy có gì là...
— Trời! Thế mà Lisa, một đứa bé, lại nhận thấy điều đó. Theo ý tôi, chuyện giản dị nhất là cha nó không bao giờ đến đây nữa đâu.
Khi thấy Veltchaninov có một mình, Lisa không tỏ vẻ gì là ngạc nhiên cả; nó cười buồn và quay mặt vào tường, một khuôn mặt nóng bừng vì cơn sốt. Nó lặng im trước những lời an ủi dè dặt và những lời hứa nồng nhiệt của ông là ngày mai sẽ dẫn cha nó đến. Khi bước ra khỏi phòng, ông khóc òa.
Đến chiều, viên y sĩ mới đến. Sau khi khám xong con bé, ông đã làm mọi người hoảng sợ với nhận xét của ông: ông bảo là mọi người đã lầm khi không gọi ông đến sớm hơn. Khi được mọi người cho biết là bệnh chỉ mới phát tối qua, lúc đầu ông chưa chịu tin. Cuối cùng, ông nói: ‘‘Tất cả đều tùy thuộc vào tình trạng đêm nay của con bé’’. Sau khi đã dặn dò những lời cần thiết, ông ra về và hứa ngày mai sẽ cố trở lại sớm, Veltchaninov rất muốn ở lại gia đình Pogoréltzev tối đó, nhưng chính Clavdia Pétrovna lại khuyên ông ta nên một lần nữa thử ‘‘xeo tên ác ôn đó lại’’.
 ‘‘Thêm một lần nữa à? Veltchaninov giận dữ nói; nhưng mà chính tay tôi sẽ trói cổ nó lại và xách cổ nó đến đây’’!
Cái ý nghĩ trói cổ tên Pavel Pavlovitch lại và dùng sức đem gã đến đã ám ảnh ông đến độ khiến ông trở nên nôn nóng. Khi từ giã Clavdia Pétrovna, ông nói: ‘‘Tôi không hề cảm thấy có một chút lỗi nào đối với hắn ta cả.’’ Rồi ông tiếp với giọng giận dữ:  ‘‘Tôi phủ nhận tất cả những lời đầy thương cảm và hèn nhát mà tôi đã từng thốt ra ngay tại đây.’’
Lisa đã nằm nghỉ, mắt nhắm nghiền và hình như đang ngủ; coi mòi nó khá hơn trước. Khi Veltchaninov cúi xuống một cách e dè để hôn phớt lên viền áo, nó chợt mở mắt như là đang chờ đợi ông, và nó thì thầm : ‘‘Hãy đem cháu đi!’’
Đó là lời cầu khẩn dịu dàng và buôn bã, không đượm một chút nào bực tức như tối qua; nhưng người ta hiểu rõ là chính nó, nó cũng biết rằng lời cầu xin đó sẽ không được chấp nhận. Khi nghe Veltchaninov, với sự tuyệt vọng cùng độ, cố thuyết phục là chuyện đó không thể nào thực hiện được, nó im lặng nhắm nghiền mắt lại và không nói thêm lời nào; như là nó không nghe và không thấy ông ta.
Về đến tỉnh, ông tới thẳng khách sạn Pokrovsky. Đã chín giờ rồi. Pavel Pavlovitch không có ở nhà. Veltchaninov đợi ông ấy trọn nửa tiếng, đi đi lại lại dọc hành lang với vẻ nóng nảy một cách khố sở. Cuối cùng, Maria Syssoievna nói cho ông hay là chắc chắn đến sớm mai, Pavel Pavlovitch mới về.  ‘‘Được ! Veltchaninov trả lời dứt khoát, sáng mai tôi sẽ đến sớm’’. Rồi ông quay về nhà, lòng đầy bực bội.
Nhưng ngạc nhiên làm sao, khi bước lên lầu ông được Mavra cho biết là ông khách tối qua đã đến chờ ông từ hồi mười giờ rồi.
— Ông ấy đã dùng trà và lại sai tôi đi mua thêm rượu, thứ rượu tối hôm qua đó: ông ấy cho tôi tấm giấy năm đồng rouble.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.07.2023 20:50:20 bởi Thanh Vân>
IX
BÓNG MA
 
PAVEL Pavlovitch đang ngồi chững chạc trên ghế, chiếc ghế ông đã ngồi tối qua. ông đang hút thuốc và vừa rót đến ly thứ tư và cũng là ly chót của chai sâm-banh. Một bình trà và một cốc trà đã cạn hết nửa đặt trên bàn, cạnh ông ta. Bộ mặt đỏ nhừ của ông rạng rỡ niềm mãn nguyện.
Ông cũng bỏ cả áo ngoài và chỉ mặc có gi-lê.
— Xin anh thứ lỗi cho! Ông la lên khi vừa
thấy Veltchaninov và vội vã khoác áo vào. Tôi vừa cởi áo ra cho thoải mải trong chốc lát.
Veltchaninov bước lại gần với một vẻ dữ dằn:
— Anh không say túy lúy đó chứ? Có thể nói chuyện với anh được không?
Pavel Pavlovitch hơi bối rối.
— Vâng, có say nhưng mà không túy lúy đâu... Tôi uống để nhớ lại người quá cố, nhưng mà... không túy lúy đâu.
— Anh hiểu tôi muốn nói gì chứ?
— Vì lẽ đó mà tôi đến đây, đến để hiểu rõ anh.
— Vậy thì trước hết, tôi nói cho anh hiểu anh là một người đáng khinh! Veltchaninov la lớn với một giọng nghẹn tắt.
— Nếu anh bắt đầu như thế, anh sẽ kết thúc bằng lời gì? Pavel Pavlovitch phản đối yếu ớt và có vẻ kinh hãi lắm; nhưng Veltchaninov vẫn tiếp tục hét như không nghe thấy:
— Con gái anh sắp chết; nó ốm. Anh đã bỏ rơi nó? Có hay không?
— Có lẽ nào nó sắp chết?
— Nó ốm, ốm nặng, ốm thập tử nhất sinh!
— Có lẽ chỉ là vài cơn động kinh xoàng xỉnh...
— Anh đừng có nói nhảm. Nó đang lâm nguy. Anh phải đến đó, dù là chỉ để...
— Để cảm ơn họ đã tiếp rước cháu ! Tôi hiểu rõ lắm, anh Aléxéi Ivanovitch, ông bạn thân, ông bạn hoàn hảo của tôi! Đột nhiên, ông nắm lấy bàn tay của Veltchaninov trong đôi tay mình và nói với một giọng đầy thương cảm, nghẹn ngào như là ông cầu xin một sự tha thứ:  ‘‘Anh đừng la lớn nữa, Aléxéi Ivanovitch, anh đừng la lớn nữa! Nếu tôi chết, nếu tôi chìm lỉm tức thì, say quắc, trong giòng Néva thì việc đó có gì là quan trọng đối với tình trạng hiện giờ đâu? Và về phần ông Pégoréltzev, chúng ta hãy còn dư dã thời giờ để thăm viếng kia mà...’’
Veltchaninov lấy lại bình tĩnh và tự kềm chế đôi chút.
— Anh say rồi, và tôi không hiểu anh muốn nói gì, ông xẵng giọng trả lời. Tôi luôn luôn sẵn sàng giải thích anh rõ; hơn nữa, tôi cũng lấy làm sung sướng kết thúc việc đó... Tôi lại còn... Nhưng trước hết, anh nên nhớ là tôi có biện pháp của riêng tôi: đêm nay, anh ngủ lại đây. Sáng mai, tôi sẽ dẫn anh đi. Tôi sẽ không rời anh nửa bước! Ông ta lại thét lớn, tôi sẽ trói cổ anh lại và mang anh đi !... Anh sẽ ngủ ngon trên chiếc đi-văng này chứ?— Và, vừa thở, ông chỉ cho ông kia chiếc đi - văng rộng rãi và chắc chắn, đối diện với chiếc đi-văng của ông, gần bức tường trước mặt.
— Nhưng sao vậy ! Tôi nằm đâu cũng được chứ...
— Không nằm đâu cả, trên chiếc đi-văng này nè. ‘‘Ra’’ (Drap= vải trải giường) , mền và gối đây. (Veltchaninov lấy từ trong tủ ra những thứ đó và ném vội cho Pavel Pavlovitch; ông này dang tay đón bắt với vẻ phục tùng). Trải giường chiếu ngay tức thì đi; làm liền đi !
Pavel Pavlovitch đứng sững giữa phòng trong giây lát, tay nặng chĩu mền gối; ông ta có vẻ ngần ngừ, nụ cười của kẻ say kéo dài trên môi, nhưng khi Veltchaninov nhắc lại lệnh trên với một giọng giận dữ, ông ‘‘ba chân bốn cẳng’’ thi hành ngay; ông đẩy chiếc bàn, và, thở hổn hên, trải và vuốt cho phẳng tấm ‘‘ra’’. Veltchaninov đến gần để đỡ tay ; sự phục tùng và sự sợ hãi của người bạn làm ông bằng lòng phần nào.
— Anh cạn cốc rồi đi ngủ đi, ông lại nói với giọng chỉ huy ; ông cảm thấy không thể nào nói khác hơn được. Chính anh sai người đi mua rượu đó hả?
— Phải, chính tôi... rượu... Aléxéi Ivanovitch ạ, tôi biết rõ là anh sẽ không bao giờ mua cả.
— Anh biết được vậy là tốt đấy. Nhưng anh còn cần phải biết thêm những điều khác nữa. Tôi báo cho anh rõ thêm một lần nữa là tôi đã lo tính xong mọi việc. Tôi sẽ không chấp nhận những trò hề của anh nữa đâu ! Tôi sẽ không khứng chịu những cái hôn nồng nặc của anh nữa đâu !
— Aléxéi Ivanovitch à, chính tôi, tôi tự biết là chuyện đó chỉ có thể xảy ra một lần, và chỉ một lần mà thôi. Pavel Pavlovitch cười một cách ranh mãnh.
Khi nghe xong câu trả lời, đang dạo quanh, Veltchaninov dừng phắc lại trước mặt Pavel Pavlovitch và nói với một giọng gần như trịnh trọng :
— Pavel Pavlovitch, anh hãy nói thật đi! Tôi xin xác nhận một lần nữa anh là một người thông minh, nhưng tôi cũng đóan chắc với anh là anh đã lầm rồi đó ! Anh hãy nói thật đi, hãy hành động thẳng thắn đi, và tôi xin hứa danh dự với anh là tôi sẽ trả lời tất cả những câu nào anh thắc mắc.
Pavel Pavlovitch lại cười, cái nụ cười tinh quái khiến Veltcbaninov nổi sùng.
— Khoan đã, lại một lần nữa ông nầy la lớn, anh đừng có đóng kịch nữa; tôi biết anh rõ quá mà. Tôi nhắc lại: tôi sẵn sàng trả lời tất cả những câu hỏi của anh, tôi hứa chắc với anh như thế và tôi cũng sẵn sàng làm anh toại ý, ngay cả trong những câu khó mà toại ý nổi. Tôi mong muốn, hừ! mong biết mấy là làm sao cho anh hiểu được tôi.
— Vì anh tốt đến thế, Pavel Palovitch vừa nói vừa e dè xích lại gần, nên tôi xin thưa với anh là tôi rất chú ý những gì liên quan đến cái  kẻ hung tợn  mà anh kể trong câu chuyện hôm qua.
Veltchaninov phác một cử chỉ cáu kỉnh và lại bước nhanh hơn lúc nãy.
— Đừng, anh Aléxéi Ivanovitch, anh đừng có nóng, tôi rất quan tâm đến vấn đề đó và chủ-ý tôi đến đây cũng chỉ để kiểm chứng. Giọng tôi hơi lè nhè, mong anh thứ lỗi cho... Chính tôi, tôi có đọc một cái gì đó trên một tạp chí, một bài bình luận về ‘‘kẻ hung tợn’’ và về ‘‘người hiền’’ , sáng nay tôi mới nhớ lại... nhưng tôi lại quên mất bài đó nói chuyện gì, và thật ra ngay lúc đọc, tôi cũng không hiểu bài đó viết gì nữa. Và bây giờ tôi muốn biết rõ một chuyện: theo anh, anh bạn quá cố Stépane Mikhailovitch Bagaoutov thuộc về thứ nào : ‘‘dữ’’  hay  ‘‘hiền’’?
Veltchaninov vẫn im lặng và tiếp tục bước.
— Kẻ hung tợn, ông la lớn trong một cơn giận khó nén và chợt ngừng lại, là cái người có lẽ vừa bỏ thuốc độc vào cốc sâm-banh của Bagaoutov vừa uống cùng hắn ta một ly để ‘‘mừng buổi trùng phùng vui vẻ’’ như hôm qua anh đã uống với tôi vậy, nhưng cái người đó sẽ không đi đưa đám bạn như anh đã làm, anh, người mà tôi không biết lý do bí mật và hèn hạ nào thúc đẩy, đã trở thành một thằng hề để chỉ thỏa ý thích của mình mà thôi.
— Đúng, cái người đó sẽ không đưa đám bạn đến nghĩa trang, Pavel Pavlovitch công nhận, nhưng anh đã đối xử với tôi một cách...
Nhưng Veltchaninov, không nén nổi giận nữa, tiếp tục hét lớn và không nghe hẳn ta.
— Kẻ hung tợn cũng không phải là người bịa đặt ra những chuyện bố láo, những chuyện có Trời mới biết nổi; cũng không phải là người ghim trong lòng chuyện ân oán, gặm nhấm nỗi nhục nhã, nhỏ những giọt nước mắt cá sấu, làm trò khỉ, làm trò hề, ôm đại mọi người, và, cuối cùng nhận thấy mình đã mất quá nhiều thời giờ để làm những chuyện dại dột... Có thật là anh đã định tự treo cổ? Có thật thế không?
— Khi tôi say, có thể như thế lắm; một ý nghĩ đã chợt đến với tôi... Tôi không còn nhớ nữa. Nhưng mà pha thuốc độc, Aléxéi Ivanovitch ạ, chuyện đó không hợp với chúng tôi, cho riêng phần chúng tôi, tôi là một công chức rất gương mẫu và hơn nữa, tôi có một gia sản đáng kể; ngoài ra có thể tôi còn muốn tục huyền nữa kia mà.
— Vả lại còn những năm khổ sai nữa chứ.
— Vâng, đúng thế, cái điều khó chịu đó. cũng có thể xảy đến dù rằng bây giờ các ông tòa thường nhận thấy có những trường hợp giảm khinh. Vả lại, Aléxéi Ivanovitch ạ, tôi muốn kể anh nghe một câu chuyện khá thú vị; tôi vừa nhớ lại lúc nãy khi còn ở trên xe. Anh vừa mới nói: ‘‘ôm đại mọi người...’’ ; có lẽ anh còn nhớ Sémione Pétrovitch Livtzov? Ông ta đến ở T... lúc anh còn ở đó. Em của ông ta được xem như là một thanh niên hào hoa của giới thượng lưu Pétersbourg, lúc đó là tùy viên của Vị Thống Đốc ở V..., và có những đức tính rất ư ưu tú. Một tối kia, trước mặt các bà mà trong số đó có người ông yêu, một cuộc cãi vã đã xảy ra giữa ông ta với Đại Tá Goloubenko; ông xem đó là một chuyện nhục nhã, nhưng ông nuốt hận và làm thinh. Sau đó ít lâu, Goloubenko lại phổng mất người đẹp của ông và hỏi cưới cô nàng. Vậy mà, anh thử tưởng tượng xem, cái anh chàng Livtzov đó lại trở nên bạn thân của Goloubenko; không những anh ta làm lành với ông Đại Tá nọ mà còn nài nỉ để được làm phù rễ và nâng vòng cua – ron (couronne) trên đầu ông ấy trong suốt buổi lễ. Khi lễ xong, ông phù rễ này đến gần Goloubenko để chúc và hôn mừng; và rồi thì, lễ phục thẳng nếp, tóc tai mượt mà, trước mặt Ngài Thống Đốc và cả giới thượng lưu tại tỉnh, Livtzov giáng một dao sấm sét vào ngay bụng Goloubenko, và ông này ngã gục! Bị chính người phù rễ ! Thật là nhục nhã ! Nhưng không phải chỉ có thế thôi! Cái điều tệ hại hơn là vừa khi đâm xong nhát dao đó, Livtzov nhào tới mọi người đang vây quanh và la: ‘‘Tôi đã làm gì vậy! Tôi đã làm gì vậy!  Hắn ta khóc lóc, run rẩy và ôm đại mọi người, cả những bà nữa... ‘‘Tôi đã làm gì vậy! Tôi đã vừa làm gì vậy!’’ Hi hi... Thật là buồn cười đến chết được. Chỉ có Goloubenko là đáng thương mà thôi; tuy rằng sau đó ông ta cũng được bình phục.
— Tôi không hiểu vì sao anh lại kể cho tôi nghe câu chuyện đó, Veltchaninov xẵng giọng, mày cau lại.
— Nhưng mà chính vi nhát dao đó, Pavel Pavlovitch vừa trả lời vừa cười lặng lẽ. Rõ ràng đó không phải là một kẻ hung tợn mà chỉ là một tên hèn hạ, khốn kiếp, vì sự sợ hãi đã làm cho gã ta quên mất cả phẩm cách, và gã đã ôm đại các bà trước mặt Ngài Thống Đốc; dù rằng gã đã đạt mục đích, đã cắm sâu mũi dao vào bụng tình địch! Độc nhất vì chuyện đó mà tôi để ý đến...
— Thôi, anh cút đi! đột nhiên Veltchaninov hét lên, giọng đổi khác như có chuyện gì tan nát trong lòng ông. Anh hãy xéo đi, xéo đi với tâm lý rẻ tiền, nhơ nhuốc, với mớ ý tưởng hiểm độc của anh ! Anh tưởng là anh làm cho tôi sợ à !... anh chỉ đủ sức hành hạ một đứa con nít mà thôi !... Hèn, đồ hèn, đồ hèn, ông vừa hổn hển, vừa hét tướng lên, hoàn toàn không kềm chế nổi mình.
Pavel Pavlovitch giật thót người; cơn say vụt biến, đôi môi ông run run...
— Aléxéi Ivanovitch, chính anh vừa gọi tôi là ‘‘đồ hèn’’! Anh, anh gọi tôi là ‘‘đồ hèn’’, tôi?
Nhưng Veltchaninov đã trấn tỉnh :
— Tôi sẵn sàng xin lỗi anh, ông ta trả lời sau giây lát im lặng, vẻ buồn rầu và ủ ê, nhưng với điều kiện là chính anh, anh phải cư xử một cách thẳng thắng hơn.
— Còn tôi, Aléxéi Ivanovitch ạ, ở địa vị anh, tôi sẽ xin lỗi ngay mà không đòi hỏi một điều kiện nào cả.
— Thôi, được rồi! Veltchaninov đáp lại sau một giây im lặng khác. Tôi xin anh thứ lỗi: nhưng anh, Pavel Pavlovitch, anh nên nhận điều này: sau những sự việc đã xảy ra, tôi không còn là kẻ mang nợ anh nữa, không phải chỉ đối với những điều tôi vừa nói mà là đối với tất cả.
— Không có chi, ăn thua gì cái thứ nợ nần đó ?... Pavel Pavlovitch mỉm cười, mắt nhìn xuống đất.
— Nếu được như thế thì càng hay, càng hay chứ sao ! Anh cạn ly đi rồi đi ngủ, vì tôi sẽ không mời anh nữa đâu...
— Vâng, rượu... Pavel Pavlovitch hơi bối rối, tuy nhiên ông vẫn đến sát bàn và nốc cạn ly rượu đã đầy sẵn. Có lẽ ông đã uống nhiều rồi vì tay ông run và ông làm rượu đỗ dơ cả sàn, cả áo sơ-mi và áo gi-lê. Song ông vẫn uống đến giọt rượu cuối cùng như là ông không thể nào để sót cặn, rồi trịnh trọng đặt ly xuống bàn, ông đến gần giường để thay áo quần với một vẻ phục tùng.
— Đừng ngủ lại nhà anh có phải tốt hơn không? Bỗng nhiên ông hỏi, không biết vì sao lại hỏi thế, tay đang cầm một chiếc giày vừa mới cởi.
— Không, chuyện đó không hay chút nào cả, Veltchaninov trả lời với vẻ bực tức và không nhìn gì đến ông kia, đồng thời lại dạo quanh.
Pavel Pavlovitch thay áo quần xong và đi nằm. Mười lăm phút sau, đến phiên Veltchaninov, và ông thổi tắt ngọn nến.
Ông trằn trọc mãi mà vẫn chưa ngủ. Có điều gì mới lạ vừa ló ra làm cho ‘‘cái chuyện’’ của ông càng thêm rối nùi; ông lo lắng và cảm thấy hổ thẹn, ông bắt đầu mơ mơ màng màng thì một tiếng động nhẹ chợt đánh thức ông dậy. Ông nhìn nhanh về phía giường Pavel Pavlovitch; phòng tối hẳn (các bức màn đều hoàn toàn buông xuống), nhưng theo ông thì hình như Pavel Pavlovitch chưa nằm và đang ngồi trên giường.
 — Chuyện gì thế? Veltcbaninov hỏi.
— Một cái bóng, Pavel Pavlovitch trả lời sau một phút chờ đợi với một giọng vừa đủ nghe.
— Bóng gì?
— Ở đằng kia kìa, trong phòng này; tôi thấy hình như có một bóng người thoáng qua trước cửa.
— Bóng người nào? Veltchaninov hỏi tiếp sau vài giây im lặng.
— Bóng của Natalia Vassilievna.
Veltchaninov đặt chân xuống thảm và nhìn về phía cửa phòng bên cạnh đang mở rộng. Căn phòng đó không có màn mà chỉ có những bức mành mành trắng mà thôi; do đó ít tối hơn.
— Ở đàng kia chẳng có gì cả và anh say rồi đó. Đi ngủ đi! Veltchaninov nói.— Ông ta lại nằm xuống và quynh người trong mền. Pavel Pavlovitch không nói gì nữa và cũng nằm xuống theo.
— Anh đã thấy cái bóng đó lần nào chưa?
Veltchanũiov chợt hỏi vào khoảng mười phút sau.
— Rồi, hình như tôi có thấy nó một lần, vài giây sau, Pavel Pavlovitch trả lời với giọng yếu ớt. Rồi thì, lại một lần nữa, sự im lặng bao trùm căn phòng.
Veltchaninov không thể nói một cách chắc chắn là mình đã ngủ hay chưa nhưng một giờ vừa trôi qua, bỗng nhiên ông lại trở mình. Một tiếng động đã đánh thức ông? Ông không biết được nhưng hình như có cái gì đang đứng gần ông, một cái gì trăng trắng, một màu trắng nhờ nhờ nổi trong bóng đêm, và ‘‘nó’’ đã đến giữa phòng. Ông ngồi nhổm dậy, chú mục mong nhìn xuyên màn đêm đang vây quanh.
— Anh đó hả, anh Pavel Pavlovitch? Ông hỏi với một giọng yếu ớt; và giọng ông vang lên giữa bầu không khí im lặng với bóng đêm dày đặc, khiến chính ông cũng cảm thấy lạ lùng.
Không một lời nào đáp lại, nhưng ông không thể nào lầm được; có ai đó dang đứng giữa phòng.
— Anh đó hả... anh Pavel Pavlovitch? Ông cao tiếng lập lại, giọng lớn đến độ nếu như Pavel Pavlovitch đã ngủ rồi, chắc chắn cùng phải thức dậy mà trả lời.
Không ai trả lời cả, nhưng hình như cái bóng trắng đó, bây giờ trông đã rõ hơn, đang xáp lại gần. Chợt có cái gì thay đổi, cái gì rạn nứt trong ông như lúc nãy, và ông la hết sức mình với một giọng đứt quãng vì tức giận:
— Đồ say ! Đồ hề ! Nếu anh tưởng anh có thể làm cho tôi sợ, tôi sẽ quay mặt vào tường, trùm kín đầu lại và nằm yên như thế suốt đêm để cho anh biết là tôi khinh anh đến mức nào... cho dẫu anh đứng như thế cho đến sáng mai... như một thằng hề... Tôi phi nhổ vào anh!
Và, thật thế, ông nhổ một cách giận dữ về phía cái bóng trắng mà ông cho là Pavel Pavovitch, rồi ông quay mặt vào tường, kéo mền lên trùm đầu và nằm yên hoàn toàn trong tư thế đó. Một sự yên lặng đè chĩu nặng nề. Cái bóng ma đang đến gần ông hay là vẫn đứng nguyên chỗ cũ? Veltchaninov không thể nào biết được, nhưng tim ông thì đập loạn xạ... Gần năm phút trôi qua như thế, và bỗng nhiên; cách ông vài bước, vang lên giọng nói yếu ớt và rên rĩ của Pavel Pavlovitch.
— Aléxéi Ivanovitch ạ, tôi vừa mới dậy để đi tìm.., (và ông ta nói tên cái thứ đồ dùng cần thiết đó). Tôi không tìm thấy ở gần gường tôi và tôi định xem thử có ở phía anh không, mà không muốn gây tiếng động...
— Vậy tại sao anh không trả lời... khi tôi hỏi? Veltchaninov hỏi lại bằng một giọng nhát gừng, sau nửa phút im lặng.
— Tôi sợ... anh la lớn quá! Anh làm tôi hoảng...
— Đằng kia kia, ở bên trái, trong góc ấy, gần cánh cửa, trong tủ nhỏ đó. Anh thắp nến lên đi.
— Thôi, khỏi cần đèn, Pavel Pavlovitch trả lời với một giọng nhỏ nhẹ. Aléxéi Ivanovitch, anh thứ lỗi cho nhé, tôi làm phiền anh quá... Bỗng nhiên, tôi cảm thấy say nhừ...
Nhưng Veltchaninov không trả lời nữa. Ông đã nằm dài, mặt nhìn vào tường và ông nằm như thế suốt đêm không trở mình một lần nào cả. Phải chăng ông muốn giữ lời và biểu lộ sự khinh bỉ? Chính ông, ông cũng không biết nổi; thần kinh ông căng thẳng đến độ ông gần phát khùng và không thể nào ngủ ngay đựợc. Sáng hôm sau, ông thức giấc vào lúc mười giờ; ông choàng dậy như bị ai đánh thức. Pavel Pavlovitch không còn ở trong phòng nữa ; mền gối bừa bãi trên chiếc giường trống; ông ấy đã chuồn từ lúc sáng sớm.
‘‘Mình biết trước mà’’, Veltchaninov tự nhủ, tay vỗ vào trán.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 07.07.2023 22:50:52 bởi Thanh Vân>
X
NGHĨA TRANG

 
 
 
NHỮNG nỗi lo ngại của bác sĩ đã trở thành sự thực: bỗng dưng Lisa ốm nặng, nặng hơn là Veltchaninov và Clavdia Pétrovna hôm qua đã tưởng. Buổi sáng khi Veltchaninov đến thăm, cơn sốt làm nó tiều tụy, nhưng nó hãy còn tỉnh táo. Về sau, ông quả quyết là lúc đó, nó cười với ông và còn đưa cả bàn tay nhỏ nhắn và nóng bỏng về phía ông nữa. Sự việc đã xảy ra đúng như thế, hay đó chỉ là do trí tưởng tượng của ông cố ý dựng lên để tự an ủi? Dù sao, ông không thể nào kiểm chứng được việc đó: ngay tối đó con bệnh mê man và không tỉnh lại nữa. Mười ngày sau khi đến trú ngụ tại nhà Pogoréltzev, con bé qua đời. Đó là thời kỳ đau buồn nhất của Veltchaninov ; một phần lớn thời giờ trong những ngày buồn rầu đó, ông đã ở lại nhà Pogoreltzev và chính hai ông bà cũng đã lo ngại cho sức khoẻ của ông. Suốt trong những ngày cuối cùng của Lisa, ông đã ngồi hằng giờ trong một góc nào đó, không nghĩ đến một chuyện nào cả. Clavdia Pétrovna cố tìm cách giải khuây cho ông, nhưng vừa mới bắt chuyện thì cuộc đàm thoại đó, đối với ông, đôi khi hình như trở nên khó chịu. Dĩ nhiên, Clavdia Pétrovna không ngờ ‘‘tất cả việc đó lại có thể khiến ông xúc động mãnh liệt đến thế’’. Lũ trẻ dễ làm ông khuây khoả hơn; có đôi lúc ông đã cười cả với chúng nó; nhưng thường thường thì ông rời cái xó ông ngồi và rón rén đến thăm qua con bệnh. Đôi khi hình như con bé nhận ra ông. Cũng như mọi người trong nhà, ông không có một chút hy vọng nào về bệnh tình của con nhỏ, nhưng ông không lìa xa căn phòng bệnh và luôn luôn có mặt ở phòng bên cạnh.
Tuy nhiên, một hai lần gì đó trong khoảng thời gian này, ông ta có những hành động quá sốt sắng; ông vội vã quay về Pétersbourg, chạy tìm những vị bác sĩ tăm tiếng để nhờ họ đến chữa cho con bệnh; lần thăm bệnh cuối cùng là vào đêm trước ngày con bé qua đời. Ba ngày trước, Clavdia Pétrovna đã nài nĩ Veltchahinov đi tìm và dẫn Troussotzky đến: ‘‘Nếu Lisa có mệnh hệ nào mà không có cha nó, chúng ta không thể nào mai táng nó được’’. Với giọng mập mờ và lơ là, Veltchaninov trả lời là ông sẽ viết thư cho ông kia. Pogoréltzev tuyên bố là ông sẽ nhờ cảnh sát tìm hộ. Cuối cùng Veltchaninov quyết định viết dăm chữ và chính ông sẽ mang đến tận khách sạn Pokrovsky cho Pavel Pavlovitch. Ông này, như thường lệ, không có đó và Veltchaninov để bức thư lại cho Maria Syssoievna.
Lisa chết vào một buổi chiều hè đẹp trời, trong khi vừng ô đang lặn; chỉ đến lúc bấy giờ, hình như Véltchaninov mới tỉnh. Khi xác con bé, choàng một chiếc ‘‘robe’’ (áo đầm) trắng của một trong những cô con của Clavdia Pétrovna, được đặt trên bàn trong phòng khách với những cành hoa trong đôi bàn tay nhỏ chắp lại, ông đến gần Clavdia Pétrovna và, đôi mắt rực lửa, ông nói với bà ta là ông sẽ đi liền bây giờ để xách cổ ‘‘tên sát nhân’’ đó lại. Ông đi tức khắc dù cả nhà đã khuyên ông nên dời đến ngày mai rồi hẳn lên đường.
Ông biết chỗ tìm Pavel Pavlovitch; không phải chỉ vì muốn mời các bác sĩ mà mấy ngày sau này, ông mới quay về Pétersbourg: trước kia, ông cũng đã có ý nghĩ là nếu dẫn được Pavel Pavlovitch đến thăm Lisa thì có lẽ nó hồi tỉnh khi nghe giọng cha nó; cho nên lúc đó, ông đã chạy khắp Pétersbourg như một thằng điên để tìm ông kia. Pavel Pavlovitch vẫn ở căn phòng cũ, nhưng không ích gì nếu hỏi thăm ông ta ở khách sạn: ‘‘Ba ngày liền ông ấy không ngủ nhà mà cũng không hề tạt qua một lần nào, Maria Syssoievna thuật lại, và nếu tình cờ ông ấy có ghé về thì cũng đã say nhừ và chỉ ở lại vài ba phút rồi đi liền; ông ấy sa đọa quá rồi’’. Người giúp việc của khách sạn Pékovsky còn cho ông biết thêm là mấy lâu nay Pavel Pavlovitch hay lui tới ‘‘xóm chị em’’ ở khu Voznessenki, Veltchaninov tìm thấy chỗ này không mấy khó khăn. Được hậu đãi và được trả tiền nhiều, mấy cô nhớ ngay đến cái ông khách đó, ông khách mà cái nón có băng tang đã đặc biệt làm họ chú ý đến, và cũng nhân dịp này họ nhiếc mắng Pavel Pavlovitch vì ông ta không đến với họ nữa. Một cô trong bọn tên là Katia nhận đi tìm Pavel Pavlovitch ngay tức khắc, ‘‘vì lão ấy không bao giờ rời Machka Prostakova. Chưa có gì chứng tỏ lão ta cạn tiền. Còn Machka, thì nó không phải là Prostakova mà thật ra là Prokhvostova; nó đã từng nằm trị bệnh ở nhà thương, và nếu muốn, chỉ cần một tiếng, một tiếng thôi là nó bị đưa đi Sibérie ngay.’’
Tuy nhiên, ngày hôm đó, Katia không tìm ra Pavel Pavlovitch, nhưng cô ta hứa chắc là lần sau sẽ tìm thấy ông này. Veltchaninov đặt hết tin tưởng vào cô ta.
Đến tỉnh vào lúc mười giờ, ông cho người gọi Katia đến ngay và sau khi đã chi tiền cho chủ chứa về thời gian vắng mặt của cô này, ông lên đường với cô. Chính ông, ông cũng chưa biết mình sẽ hành động ra sao. Sẽ giết chết Pavel Pavlovitch, hay chỉ báo cho hắn biết là con gái hắn đã chết và giải thích cho hắn rõ là nếu không có sự can thiệp của hắn thì sẽ không mai táng con bé được? Lúc đầu sự tìm kiếm không mấy khả quan; ông và Katia được biết là ba ngày trước, giữa Machka Prokhvostova và Pavel Pavlovitch đã xảy ra một trận đụng độ, và một ông thâu ngân viên nào đó ‘‘đã quất cả một chiếc ghế đẩu vào đầu Pavel Pavlovitch đến gần lũng sọ’’. Việc lùng kiếm rất lâu lắc và cho đến hai giờ sáng, khi Veltchaninov, vừa từ trong một ‘‘động’’ mà người ta đã chỉ cho, bước ra thì liền chạm trán với Pavel Pavlovitch.
Ông này say đứ đừ: hai bà đang dìu ông vào cái ‘‘động’’ nói trên; một người đàn ông khoẻ mạnh, chắc chắn là một tình địch, đuổi theo họ và đang giơ tay hăm he đồng thời hét lớn những lời dọa nạt khả ố nhất về phía Pavel Pavlovitch. Trong những lời đó có câu cho là ‘‘Pavel Pavlovitch đã lợi dụng ông ta và đầu độc cuộc sống của ông’’. Hình như chuyện có dính dáng đến một số tiền nào đó. Mấy bà, rất hoảng hốt, vội rão bước. Khi nhận ra Veltclianinov, Pavel Pavlovitch chạy xô về phía ông này, tay dang rộng, và hét tướng lên như là bị ai cắt cổ...
— Anh ! Cứu tôi với !
Thoáng thấy dáng lực lưỡng của Veltchaninov, tên địch thủ vội lẩn mất. Pavel Pavlovitch, hể hả, quay vung nắm tay và hét lên một tiếng kêu đắc thắng; nhưng Veltchaninov, không hiểu vì sao, nắm lấy vai ông kia và lay mạnh đến độ hai hàm răng của ông đó chạm cồm cộp vào nhau. Pavel Pavlovitch ngừng la tức thì và ném về phía ‘‘kẻ tàn bạo’’ một cái nhìn của người say rượu, sợ sệt và ngây ngô. Còn chưa chắc chắn biết mình sắp làm gì, Veltcbaninov, với một cử chỉ phũ phàng, đẩy ông kia ngồi xuống một cái trụ bên đường.
— Lisa chết rồi ! ông nói.
Pavel Pavlovitch, mắt vẫn không rời Veltchaninov, ngồi yên trên trụ; một trong hai bà đi theo đỡ ông. Cuối cùng, ông hiểu và khuôn mặt ông hình như dãn ra.
— Chết à..., ông lẩm bẩm với một giọng khác lạ. Vẫn còn nụ cười hiểm ác của tên say hay khuôn mặt hắn ta khẽ nhăn lại? Veltchaninov, không thế nào biết rõ; nhưng một lát sau, Pavel Pavlovitch nhấc một cách vất và bàn tay mặt đang run rẩy để làm dấu thập; nhưng cử chỉ nầy không trọn vẹn và bàn tay ông lại buông xuống. Một lát, ông ta chậm chạp đứng dậy, nắm lấy cánh tay người đàn bà đã đỡ mình và, dựa vào bà ta, ông bước đi như một người mất hồn và hình như quên hẳn Veltchaninov. Nhưng ông này lại một lần nữa nắm lấy vai ông.
— Biết không đồ say! đồ quái vật! là không thể nào chôn con bé nếu không có mặt mầy? Veltchaninov la lớn với một giọng hổn hển.
Ông kia quay mặt lại.
— Anh có nhớ đến... ông Trung úy Pháo binh không? Ông lắp bắp với một giọng lè nhè.
— Sao? Veltchaninov vừa hét vừa giật thót người một cách đau đớn.
— Cha nó đó ! .. . Tìm hắn ta cho việc mai táng đi...
— Nói dối! Veltchaninov không nén nổi cơn giận. Mày nói thế là vì ác khẩu... Tao biết rõ là mầy sẽ đem việc đó ra ‘‘chơi’’  tao!
Nổi giận, ông giơ quả đấm dữ tợn trên đầu Pavel Pavlovitch. Thiếu một chút nữa là có lẽ ông đã đấm chết tươi ông kia rồi. Hai người đàn bà vội dang ra và hét lên những tiếng chói tai, nhưng Pavel Pavlovitch không nhúc nhích: một nét căm hờn man dại, một vẻ phẫn nộ hằn lên khuôn mặt.
— Mầy có biết, — và giọng ông ta vang lên một cách quyết liệt như là không còn say nữa — mầy biết một từ ngữ của nước Nga chúng ta chứ? (và ông thốt lên một tiếng chửi thề không thể nào ghi lại). Đó, nuốt nó đi… — Ông ta gạt một cách dữ dằn hai bàn tay của Veltchaninov, đụng phải ông này và suýt ngã. Hai người đàn bà xốc nách Pavel Pavlovitch và, gần như kéo lê ông này, họ chạy trốn với tiếng la inh ỏi. Veltchaninov không đuổi theo họ.
Ngày hôm sau, vào khoảng một giờ trưa, có một ông công chức đúng tuổi, quần áo chỉnh tề, thái độ nghiêm trang, đến tận nhà ông bà Pogoréltzev và trao cho Clavdia Pétrovna một phong thư niêm kín của Pavel Pavlovitch Troussotzky gởi đến. Trong phong bì, ngoài những giấy tờ cần
 thiết cho công việc chôn cất Lisa, còn có một bức thư và ba trăm rouble. Bức thư ngắn ngủi, hoàn toàn nghiêm chỉnh và rất kính cẩn. Trong thư, Pavel Pavlovitch bày tỏ sự biết ơn của ông đối với lòng nhân từ của Đức Bà Clavdia Pétrovna đã ban bố cho đứa bé mồ côi và chỉ có Thượng Đế mới có thể tưởng thưởng xứng đáng công ơn ấy mà thôi, ông giải thích một cách rất mơ hồ, là vì không được khỏe trong người nên ông không thể đến dự đám tang đứa con khốn khổ và thân yêu của ông được, và ông chỉ còn biết nhờ cậy vào lòng thánh thiện của Đức Bà mà thôi. Còn về số tiền ba trăm rouble, ông giải thích thêm, là để lo việc ma chay và những tổn phí do bệnh tình con bé gây nên. Nếu còn dư, ông cung kính nghiêng mình khẩn nài bà tổ chức cho Lisa một lễ cầu hồn. Người đưa thư không cho biết thêm một điều gì khác; tuy nhiên qua lời ông, người ta cũng thoáng hiểu là sở dĩ ông nhận lời mang thư đến cho Đức Bà là vì Pavel Pavlovitch nài nỉ. Pogoréltzev cảm thấy như bị sỉ nhục khi đọc câu : ‘‘những tổn phí do bệnh tình con bé gây nên, và ông tuyên bố là chỉ nên giữ lại năm mươi rouble cho việc tống táng mà thôi (dĩ nhiên là không thể nào cấm một ông cha trả tiền đám ma cho con), và trả lại tức thì số tiền dư, hai trăm rưỡi rouble, cho ông Troussotzky. Nhưng cuối cùng, Clavdia Pétrovna quyết định cúng số tiền đó cho ngôi nhà thờ ở nghĩa địa để cho linh hồn của ‘‘đồng trinh Elizabeth’’ được an nghỉ. Giấy biên lai trao cho Veltchaninov để ông gởi liền bằng đường bưu điện đến cho Pavel Pavlovitch ở khách sạn.
Sau lễ tống táng, Veltchaninov rời biệt thự và biệt tăm. Trong suốt hai tuần, ông lang thang trong thành phố, không mục đích, cô đơn, suy nghĩ những đâu đâu đến độ tông cả vào khách bộ hành. Lại cũng có đôi khi ông ở nhà suốt ngày, nằm dài trên đi - văng và quên cả những điều sơ đẳng nhất, ông bà Pogoréltzev đã nhiều lần cho người đến tìm, ông hứa sẽ đến, nhưng rồi lại quên ngay. Chính Clavdia Pétrovna đã có lần đến thăm, nhưng ông lại vắng nhà. Đó cũng là trường hợp mà luật sư của ông đã gặp phải; ông này có một tin quan trọng cần cho ông biết: ông ta đã khéo léo thu xếp mọi chuyện và đối phương đã sẵn lòng chấp nhận một thoả hiệp mà theo đó, Vetchaninov sẽ có một phần đáng kể trong cái gia sản hiện đang tranh tụng. Chỉ còn thiếu sự chấp thuận của Veltchaninov mà thôi. Đến khi tìm gặp được ông này rồi, viên luật sư vô cùng kinh ngạc trước sự hững hờ và lãnh đạm của thân chủ mình đối với cái tin này, vị thân chủ mà xưa kia đã rất nôn nóng về vụ kiện.
Chúng ta đang ở vào những ngày nóng nhất của tháng bảy, nhưng Veltchaninov thì lại mất hẳn ý niệm về thời gian. Như là một cái nhọt đã đến độ chín muồi, nỗi đau đớn đã đầu độc tâm hồn ông và không ngừng hiện diện, ngự trị cả tư tưởng ông. Ông đau khố nhất khi nghĩ rằng Lisa chưa đủ thời giờ để hiểu ông, và nó đã chết mà không biết được ông đã yêu nó đến mức nào. Cái mục đích mà trước kia, đối với ông, đã thực hiện trong ánh sáng chói lọi, giờ đã vụt tắt và tiêu tan trong đêm vô tận. Giờ đây, ông không ngừng nghĩ tới cái mục đích ấy, cái mục đích cố làm cho Lisa cảm thấy tình thương của ông luôn luôn có mặt trong cuộc sống của nó. ‘‘Không, đôi khi bị khích động, ông đã nghĩ như thế, không ai có và có thể có một mục đích cao cả như của mình. Nếu còn có những mục đich khác, vẫn không có mục đích nào thiêng liêng hơn.’’  ‘‘Tình thương yêu Lisa, ông nghĩ vơ vẫn, lẽ ra đã thanh khiết hóa và giúp mình chuộc lại chuỗi ngày vô dụng và xấu xa đã qua, và mình, một thằng vô tích sự, phóng đãng, chán đời, lẽ ra đã phải nâng niu, nuôi nấng một sinh vật thanh khiết và đẹp đẽ mà nhân danh nó, mình có thể được tha thứ về tất cả mọi sự, mà nhân danh nó, chính mình, mình sẽ tự tha thứ cho mình.’’
Tất cả những ý nghĩ đó, hoàn toàn có ý thức, đã kết chặt một cách mật thiết với những kỷ niệm trong sáng về đứa bé đã chết, những kỷ niệm luôn luôn có mặt, luôn luôn khuấy động sự đau đớn.
 Ông ta thấy lại cái khuôn mặt nhỏ nhắn nhợt nhạt của nó, ông nhớ lại từng nét mặt; ông thấy lại nó đúng như lúc nó đã nằm trong áo quan, được hoa bao phủ, hay lúc nó đang bị cơn sốt dằn vặt, bất tỉnh, mắt mở rộng và bất động. Ông bỗng nhớ lại khi nó đã chết rồi, ông có nhận thấy một trong những ngón tay xinh xinh của nó, có Trời mới biết tại sao, đen bầm; việc đó làm ông xúc động đến độ thương hại cho ngón tay nhỏ nhoi đó, lần đầu tiên ông bỗng có quyết định sẽ tìm ngay Pavel Pavlovitch và giết chết hắn ta tại chỗ; ông bỗng nhớ lại cho mãi đến lúc ấy  hình như ông vẫn hoàn toàn vô tình’’ .
Phải chăng sự nhục nhã mà tính tự kiêu của đứa bé đã phải chịu đựng, đã bóp nát con tim thơ dại ấy? Hay là những nỗi thống khổ mà cha nó đã bắt nó hứng chịu suốt ba tháng nay, người cha đã bỗng nhiên đem hận thù thay thế tình thương, đã mắng nhiếc nó, đã chế nhạo sự sợ hãi của nó và cuối cùng đã bỏ rơi nó cho những người xa lạ? Ông không ngừng suy nghĩ về tất cả những chuyện đó, và còn suy đi nghĩ lại những ý tưởng ấy cho đến vô cùng tận. Bỗng nhiên, ông chợt nhớ lại lời tán thán của Troussotzky : ‘‘Anh có biết trước kia Lisa như thế nào đối với tôi không?’’ và ông hiểu đó không phải là lời nói của một kẻ say mà là tiếng nói chân thành, tiếng nói của tình thương. Tại sao tên đó lại có thể tàn nhẫn đến như thế đối với một đứa bé mà nó rất thương yêu, Có lẽ nào ?... Nhưng mỗi lần nghĩ đến, ông lại bỏ tức khắc câu hỏi đó và xua đuổi nó đi liền. Trong câu hỏi đó, có cái gì khủng khiếp, quá đỗi đau đớn và bất định.
Một ngày nọ, gần như vô ý thức, ông đến nghĩa trang, nơi mai táng Lisa và đến thẳng mộ nó. Từ khi chôn nó đến giờ, ông chưa đến đây lần nào. Hình như sự đau đớn sẽ mãnh liệt hơn nên ông không dám đến. Nhưng, chuyện lạ lùng ! khi ông cúi xuống mộ và đặt một chiếc hôn dài trên nấm mồ, bỗng nhiên ông cảm thấy lòng thơ thới. Buổi chiều, khí trời thanh khiết, mặt trời đã lặn ; một thảm cỏ rậm rạp và tươi mát vây quanh những nấm mồ, một con ong vo ve bên bụi sơn- trà ; những cánh hoa, những vòng hoa mà con của Clavdia Pétrovna đã đặt trên mộ vẫn còn đó nhưng đã tàn héo dần. Và đã lâu lắm rồi, đây là lần thứ nhất, một niềm hy vọng nào đó tưới mát tâm can ông. ‘‘Êm ả làm sao !’’, ông nghĩ thế khi trước sự yên tỉnh của nghĩa trang, đôi mắt ông lạc hẳn trong bầu trời êm đềm và trong suốt. Một niềm tin tưởng kỳ lạ, an lạc và thuần khiết dâng lên và tràn ngập tâm hồn. ‘‘Đúng là Lisa gởi tặng mình, chính nó nói với mình’’, ông tự nhủ.
Khi ông quay về, trời đã xẫm tối. Không xa nghĩa trang bao lăm, dọc theođường cái, ông đi ngang một căn nhà nhỏ bằng gỗ. Đó là một lữ quán và qua những cánh cửa sổ mở rộng, ông thấy nhiều khách hàng đang ngồi ăn uống. Bỗng nhiên, hình như một trong những thực khách đó, cái ông ngồi gần cửa sổ, cũng thấy ông và hình như nhìn ông với một sự hiếu kỳ nào đó: đó là Pavel Pavlovitch. Ông tiếp tục đi và nghe có tiếng chân người đuổi theo; thật thế, Pavel Pavlovitch đang chạy theo ông. có lẽ nét mặt thanh thản của ông đã giúp ông ấy bạo dạn và đã lôi cuốn ông ta. Khi đến gần Veltchaninov, ông ta cười một cách e dè, nhưng không còn là nụ cười của một kẻ say. Ông ta không say một chút nào cả.
— Chào anh, Pavel Pavlovitch hỏi.
— Chào anh, Veltchaninov trả lời.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 10.07.2023 11:55:46 bởi Ct.Ly>
XI
PAVEL PAVLOVITCH TỤC HUYỀN
 

  VỪA thốt xong lời trên, Veitchaninov ngạc nhiên về chính mình. Đối với ông thật là lạ lùng. Gặp lại tên ấy, ông không còn thấy giận dữ một chút nào, mà trong lòng lại dấy lên những cảm tình khác hẳn, hay đúng hơn là sự ao ước, sự manh nha của những cảm tình mới mẽ.
— Tối nay trời đẹp đấy chứ! Pavel Pavlovitch nói với một giọng ân cần.
— Anh vẫn chưa đi à? Veltchaninov vẫn tiếp tục bước và có vẻ như là suy nghĩ thành lời, chứ không phải đặt câu hỏi.
— Vâng, có chậm trễ đôi chút, nhưng tôi
đã được bổ dụng và được giữ một chức vụ cao hơn. Chắc chắn là ngày mốt tôi sẽ đi.
— Anh đã được bổ dụng rồi à? Lần này
Veltchaninov hỏi thực sự.
— Tại sao lại không ? Pavel Pavlovitch bĩu
môi trả lời.
— Ồ ! Tôi nói thế mà... Veltchaninov đáp.
 Và nhíu mắt, ông ta nhìn trộm Pavel Pavlovitch. Ngạc nhiên biết bao: áo quần, mũ nón và cả hình dáng lão Troussotzky xem có vẻ đàng hoàng hơn hai tuần trước nhiều. ‘‘Hắn ta làm gì trong quán này nhỉ?’’  Ông tự hỏi thế.
— Này Aléxéi Ivanovitch, tôi xin báo anh biết một tin vui.
— Một tin vui ?
— Tôi tục huyền.
— Sao ?
— Sau cơn bi cực đến hồi thái lai, thường thường cuộc đời là như thế chứ anh. Aléxéi Ivanovitch, tôi rất mong muốn ... nhưng tôi không biết có nên... có lẽ anh đang gấp...; dáng điệu của anh...
— Vâng, vâng, tôi có chuyện gấp... và... tôi cảm thấy không được khoẻ lắm.
Bỗng nhiên ông có ý muốn tống khứ tên bạn đồng hành này đi cho rồi. Những cảm tình tốt đẹp vừa chớm nở trong lòng ông đã vội tàn tạ ngay.
— Và tôi, tôi lại ước ao là sẽ...
Pavel Pavlovitch không nói ông ước ao điều gì và Veltchaninov cũng không đỡ lời ông ta.
— Thôi hẳn để chuyện đó lại sau nếu chúng ta còn gặp nhau.
— Vâng, vâng, sau này sẽ hay; Veltchaninov vội đáp, không nhìn ông kia và tiếp tục bước.
Một phút im lặng trôi qua. Pavel Pavlovitch vẫn đi bên cạnh.
— Thôi, chào anh ; cuối cùng Pavel Pavlovitch lên tiếng
— Chào anh, chúc anh...
Veltchaninov quay về nhà, lòng lại một lần nữa dao động. Gặp lại ‘‘tên đó’’ quả thật là ngoài sức tưởng tượng. Khi đi nằm, ông còn tự hỏi thêm một lần nữa: ‘‘Hắn làm gì gần nghĩa trang vậy nhỉ ’’?
Sáng hôm sau, ông quyết định trở lại thăm gia đình Pogoréltzev, một quyết định mà ông chẳng thích chút nào. Được người khác lo lắng, dù người khác đó là ông bà Pogoréltzev chăng nữa, đối với ông là một cực hình; nhưng họ đang quá lo ngại về tâm trạng của ông nên dù muốn, dù không, ông nhất định phải đến thăm họ. Ông bỗng tưởng tượng là chắc mình sẽ ngượng ngùng lắm nếu gặp lại họ. ‘‘Đi hay không?’’  ông tự hỏi thế trong khi đang ăn vội, ăn vàng bữa ăn sáng, thì ngạc nhiên làm sao, ông thấy Pavel Pavlovitch bước vào nhà.
Mặc dù hôm qua đã gặp nhau, Veltchaninov vẫn không thể nào ngờ là tên đó lại dám bước qua ngưỡng cửa nhà ông; ông kinh ngạc đến độ nhìn sửng ông kia mà không hỏi một lời nào. Nhưng Pavel Pavlovitch, trái lại, không chút bối rối. Ông ta chào hỏi chủ nhà rồi ngồi vào chính cái ghế mà ba tuần trước ông đã ngồi, khi ông đến thăm Veltchaninov lần chót, cái lần mà giờ đây, Veitchaninov bỗng nhiên nhớ lại với đầy đủ chi tiết.
Ông nhìn người khách với một nỗi lo âu xen lẫn nhờm tởm.
— Anh ngạc nhiên à? Pavel Pavlovitch hỏi thế khi đã đoán ra được ý nghĩa của cái nhìn.
Nhìn chung, thái độ của ông ta có vẻ ung dung hơn tối qua, nhưng đồng thời người ta cảm thấy ông ta ngại ngùng hơn. Bộ dạng của ông thật là kỳ lạ. Hôm nay, ông Troussotzky không những ăn mặc đàng hoàng mà còn đúng điệu nữa: áo vét mỏng mùa hè, quần màu nhạt may bó, gi-lê cũng màu nhạt; bao tay, áo sơ - mi mới giặt và, có Trời mới hiểu nỗi! thêm cái kính độc nhản bịt vàng; tất cả đều không thể chê vào đâu được. Ông lại còn xức cả nước hoa nữa. Trong nét mặt và dáng điệu của lão có cái gì khôi hài nhưng đồng thời khơi cho ta một ý nghĩ kỳ lạ, khó chịu.
— Anh Aléxéi Ivanovitch, ông ta nói tiếp với một sự cố gắng trông thấy, rõ ràng là cuộc viếng thăm của tôi làm anh ngạc nhiên; tôi cảm thấy thế, nhưng tôi cho là luôn luôn có, luôn luôn phải có giữa người với người một cái gì cao cả hơn, phải thế không anh? Một cái gì vượt qua tất cả mọi sự ngẫu nhiên, kể cả những đều khó chịu nữa có thể xảy ra... có phải như thế không?
— Nè Pavel Pavlovitch, anh muốn nói gì thì nói phứt ra đi, đừng có loanh quanh kiểu đó nữa.
Veltchaninov nhíu đôi lông mày lại.
— Sự việc tóm tắt như sau, Pavlovitch vội vàng nói. Tôi sắp tục huyền và tôi sẽ thăm vị hôn thê của tôi bây giờ đây. Cô ta cũng ở miền quê. Và tôi mong có được cái hân hạnh lớn lao là giới thiệu anh với gia đình đó, và tôi mạo muội thỉnh cầu anh, kính cẩn mong anh đi với tôi. (Pavel Pavlovitch cúi thấp đầu xuống).
Veltchaninov trợn tròn đôi mắt.
— Đi đâu với anh?
— Đi đến biệt thự của họ. Ồ! Anh tha lỗi cho, tôi hơi sốt ruột nên có thể tôi trở nên lúng túng, nhưng vì tôi quá sợ anh từ chối.
Ông nhìn Vetlchaninov với một vẻ khẩn cầu.
— Anh muốn tôi đi với anh đến nhà vợ chưa cưới của anh ngay bây giờ? Veltchaninov vừa nói, vừa nhìn nhanh ông kia và không tin những gì mắt thấy tai nghe.
— Vâng, Pavel Pavlovitch trả lời với một sự sợ hãi quá đáng. Anh Aléxéi Ivanovitch, anh không giận đó chứ? Về phần tôi, đây không phải là một lời xấc láo mà là một lời thỉnh nguyện, một lời khẩn cầu vô cùng thiết tha. Tôi mong anh không từ chối tôi việc đó...
— Trước hết là chuyện này không thể được. Veltchaninov bắt đàu loay hoay trên ghế.
— Đây chỉ là một ước muốn quá đáng của tôi chứ không có gì khác đâu, Pavel Pavlovitch tiếp tục. Tôi cũng không giấu anh là tôi cũng có lý do, nhưng về sau tôi sẽ nói anh rõ, còn bây giờ thi tôi khẩn cầu anh...
Ông ta đứng dậy, dáng điệu đầy vẻ trịnh trọng.
— Nhưng mà không thể được ; dầu gì đi nữa, anh phải công nhận điều đó... Veltchaninov cũng đứng đậy theo.
— Không, việc này có thế làm được, anh Alẻ- xéi Ivanovitch ạ. Tôi xin đề nghị là tôi sẽ giới thiệu anh như là người bạn thân. Vả lại, ở đó người ta đã biết anh kia mà. Đó là gia đình ông Zakhlebi- nine đó.
— Anh nói sao ? Veltchaninov la lớn.
Thì ra chính là cái ông ủy Viên trong Tham Chính viện mà ông đã cố tìm đến nhà và là người, theo ông, đã ủng hộ đối phương trong vụ kiện về vấn đề kế thừa gia sản.
— Vâng, đúng thế, Pavel Pavlovitch vừa cười vừa nói, như là ông được sự ngạc nhiên vượt mức của Veltchaninov khuyến khích. Đúng ông đó ; anh còn nhớ chứ ? Anh với ông ta đi cạnh nhau, và tôi, ở bên này lề đường, tôi nhìn anh và tôi chờ anh từ giầ đế đến gần ông ta. Cách đây vài chục năm, tôi với ông cùng làm chung một sở, nhưng khi tôi định đến gặp ông ta thi tôi lại chưa có một dự định nào cả. Ý nghĩ này mới chợt đến với tôi khoảng một tuần lễ nay.
— Nhưng, nè anh, hinh như đó là một gia đình đàng hoàng lắm cơ mà ? Veltchaninov hỏi với một sự ngạc nhiên ngây ngô.
— Đàng hoàng lắm. Và rồi thì sao?...
Khuôn mặt Pavel Pavlovitch khẽ cau lại.
— Ồ! Không có gì. Không phải tôi muốn nói thế... nhưng mà, theo chỗ tôi có thể nhận xét gì được...
— Họ còn nhớ, họ còn nhớ rõ lắm buổi viếng thăm của anh, Pavel Pavlovitch cắt lời với lên một sự sốt sắng tươi vui. Nhưng, hôm đó, anh không thể gặp gia đình họ được. Về phần người cha, ông ta còn nhớ anh và quý mến anh lắm. Tôi rất tán tụng anh với ổng.
— Nhưng chị mất mới có ba tháng !
— Ồ ! Việc cưới xin chưa có liền đâu; phải trong vòng chín hay mười tháng nữa kia, và lúc đó, tôi để tang cho nhà tôi đã được năm rồi. Anh tin tôi đi, mọi việc đều êm đẹp. Trước hết, Fédosséi Pétrovitch biết tôi lúc còn bé; ông ta cũng biết nhà tôi; ông biết tôi sống như thế nào; ông lại biết rõ về sự nghiệp tôi. Hơn nữa, tôi cũng có một gia sản đáng kể và tôi vừa được cất nhắc lên một chức vụ quan trọng hơn. Tất cả những sự việc đó có một tầm quan trọng đó chứ.
— Vậy thì ra con gái của ông ta?
— Tôi sẽ kể anh nghe rõ chi tiết hơn.
Pavel Pavlovitch xoa hai bàn tay vào nhau với vẻ thích thú.
— Nhưng anh cho phép tôi châm một điếu thuốc đã. Vả lại, hôm nay, chính anh, anh gặp ông đó. Ở Pétersbourg, người ta rất quý trọng những nhà doanh nghiệp như Fédosséi Pétrovitch, nhất là khi họ lại nổi bật trong địa hạt của họ. Nhưng, ngoài số tiền lương và bổng lộc linh tinh, tiền phụ cấp, tiền thưởng, tiền trợ cấp về nhà cửa, về phần thực phẩm thì ông ta không còn có gì nữa hết ; ông không có căn : ông không có vốn liếng. Với một gia đình như thế, người ta sống đầy đủ nhu6ng không để dành được gì ráo. Anh tưởng tượng xem ; Fédosséi Bétrovitch cá tám gái và một trai còn nhỏ. Nếu ông ta chết, lũ con sẽ chỉ được một số tiền cấp dưỡng ít oi. Tám đứa con gái! Anh nghĩ xem! Chỉ mỗi đứa một đôi giày thôi cũng đã là một số tiền quan trọng rồi. Năm cô đã đến tuổi lập gia đình. Cô cả đã hai mươi bốn tuổi (một thiếu nữ dễ thương, rồi anh sẽ gặp) : cô thứ sáu, mười lăm tuổi, hãy còn đi học. Phải tìm chồng cho năm cô chị và tính trước được cô nào hay cô đó, do đó, ông cha phải dẫn dắt họ làm quen với giới thượng lưu. Anh tưởng tượng thử việc đó tốn kém đến mức nào? Và đúng lúc đó tôi có mặt, tôi, người cầu hôn đầu tiên đến với gia đình đó, và họ, họ biết rõ tôi ; họ biết tôi có của. Đó chỉ có thế thôi.
Pavel Pavlovitch thuật lại với niềm hứng khởi.
— Anh xin cưới cô cả?
— Không... tôi... không phải cô cả. Tôi đính hôn với cô thứ sáu, cái cô còn đi học đó.
— Anh nói sao ! Veltchaninov thốt lên với một nụ cười ngoài ý muốn. Nhưng anh nói cô ta chỉ mới có mười lăm tuổi mà.
— Bây giờ thì nàng mới có mười lăm tuổi,  nhưng trong chín tháng nữa, nàng sẽ đến tuổi đôi tám; mười sáu tuổi và ba tháng. Vả lại, tại sao không được?... Và vì hiện giờ chưa thuận tiện nên họ chưa cho ai hay tin; tôi đã giao ước với song thân nàng như thế... Anh tin tôi đi, mọi sự đều êm đẹp !
— Như vậy nghĩa là chưa có gì dứt khoát cả?
— Dứt khoát chứ. Mọi việc đều đã định đoạt xong. Mọi sự đều êm đẹp, anh tin tôi đi.
— Và cô ta, cô ta có biết không?
— Người ta chưa nói để giữ lễ nghi; nhưng, mà làm sao nàng lại không biết được? — Pavel Pavlovitch nheo mắt. — Vậy anh Aléxéi Ivanovitch nè, anh mừng dùm tôi chứ? Ông rụt rè hỏi như là một lời kết luận.
— Nhưng mà tôi, tôi sẽ làm gì ở đằng nhà ấy? Vả lại, ông vội vàng nói thêm, tôi sẽ chẳng đi trong bất cứ trường hợp nào, anh đừng nên viện thêm lý do.
— Aléxéi Ivanovitch...
— Nhưng mà làm sao tôi có thể ngồi cạnh anh trong xe được? Anh nghĩ lại xem !
Sự mất cảm tình, sự nhờm chán đã tan đi trong chốc lát, bây giờ với cuộc đối thoại trên, lại sống dậy mãnh liệt hơn. Nán thêm một khoảnh khắc nào nữa, có lẽ, hình như thế, ông sẽ tống cổ Pavel Pavlovitch ra khỏi cửa ngay; ông giận cả mình mà không hiểu tại sao.
— Anh sẽ ngồi cạnh tôi, Aléxéi Ivanovitch ạ, anh sẽ ngồi và anh không hối tiếc đâu, Pavel Pavlovitch nói với một giọng cam động. — Đừng, đừng, ông ta vội đưa bàn tay ra dấu như để ngăn chặn một cử chỉ  ‘‘sốt ruột’’ của Veltchaninov. Aléxéi Ivanovitch, anh Aléxér Ivanovitch này ! Hãy chờ thêm một chút nữa đã trước khi chọn một thái độ dứt khoát ! Tôi thấy có lẽ anh hiểu lầm tôi. Tôi biết là chúng ta khó có thể là bạn tri kỷ; tôi không đến nỗi quá ngu đần để không biết điều đó, nhưng việc tôi nhờ anh bây giờ đây không có gì trói buộc anh về sau cả. Vả lại, ngày mốt tôi sẽ rời hẳn nơi đây. Chúng ta có thể xem như không có chuyện gì xảy ra cả. Đây là một ngày duy nhất. Khi đi đến nhà anh, tôi đã đặt tất cả hy vọng nơi sự cao quý của những tình cảm của anh, anh Aléxéi Ivanovitch ạ, đặt nơi những tình cảm đã có thể, trong mấy lúc gần đây, thúc đẩy trong tâm hồn anh... Tôi mong là tôi đã trình bày khá rõ ràng; hay là như thế vẫn còn chưa đủ?
Sự giao động của Pavel Pavlovitch trở nên tột độ. Veltchaninov ngạc nhiên nhìn lão ta.
— Anh nhờ tôi giúp anh một việc, ông nói, dáng trầm ngâm, và anh đã nài nỉ đến độ tôi đâm ra nghi ngại; tôi muốn biết rõ hơn nữa kia.
— Việc tôi nhờ là anh đi cùng với tôi. Chỉ có thế thôi. Sau này, khi trở về, tôi sẽ kể hết anh nghe, như một con chiên thú tội với cha sở vậy. Aléxéi Ivanovitch, anh hãy tin tôi đi.
Nhưng Veltchaninov vẫn khư khư chối từ, và càng lúc ông càng cảm thấy một ý nghĩ đen tối, bất chính ló dạng. Cái ý nghĩ đó đã mơ hồ có từ lúc Pavel Pavlovitch nói về vị hôn thê của hắn ta; phải chăng đó chỉ là một sự tò mò hay một sự ham muốn nào khác chưa thành hình? Có một cái gì thúc đẩy ông hãy nhận lời đi, nhưng sự cám dỗ mạnh chừng nào thì sự đối kháng cũng mãnh liệt chừng đó. Ông ngồi yên, chống cùi tay và nghĩ ngợi. Pavel Pavlovitch đi quanh và kèo nài ông.
— Thôi được, tôi sẽ đi, ông đột ngột chấp thuận nhưng hơi dao động và gần như là lo lắng. Pavel Pavlovitch thì tỏ ra rất vui sướng.
— Aléxéi Ivanovitch nè! Ông vừa nói vừa xun xoe quanh Veltchaninov đang mặc áo quần, anh đã từng sành sỏi về vấn đề ăn diện, vậy anh hãy ăn mặc cho thật bảnh bao đi.
‘‘Thằng dị hợm, Veltchaninov nghĩ thầm, tại sao nó lại dính vào chuyện này nhỉ?’’
— Tôi lại còn nhờ thêm anh một việc nữa, Aléxéi Ivanovitch ạ. Anh đã thương mà nhận lời rồi thì bây giờ phiền anh làm cố vấn hộ tôi.
—       Cố vấn chuyện gì thế?
— Một chuyện rất quan trọng: cái băng tang. Bây giờ nên giữ lại hay nên vất đi? Cách nào thích hợp hơn?
— Tùy anh.
— Không, tôi chờ một quyết định của anh; Nếu anh có băng tang trên nón thì anh sẽ làm gì? Theo tôi thì nên giữ nó lại vì như thế chứng tỏ sự thủy chung của mình và dễ gây cảm tình cho mình hơn.
— Đành phải vất đi vậy.
— Có cần thiết đến như thế không? Pavel Pavlovitch trầm ngâm trong giây lát-
—Không, tôi thích giữ nó lại.
— Tùy anh.
 ‘‘Nó có tin tưởng gì mình đâu, Veltchaninov tự nhủ, càng tốt’’.
Họ cùng bước ra. Pavel Pavlovitch chăm chú nhìn Veltchaninov một cách sửng sốt, ông này ăn mặc rất bảnh bao và khuôn mặt ông ta dường như biểu lộ một cái gì rất là kính cẩn và nghiêm trọng. Thái độ của Pavel Pavlovitch làm Veltchaninov ngạc nhiên trong khi chính thái độ của mình lại càng làm cho ông ta ngạc nhiên hơn nữa. Một xe tứ mã mui trần sang trọng đang chờ họ trước cửa.
— Anh đã thuê xe rồi à? Vậy là anh tin chắc tôi bằng lòng đi cùng anh?
— Không, tôi thuê xe cho tôi; nhưng tôi hầu như tin là thế nào anh cũng đến đó, Pavel Pavlovitch trả lời, vẻ sung sướng hoàn toàn.
— Anh Pavel Pavlovitch này, Veltchaninov nói với một giọng cười có phần nào bực tức, khi họ đã an tọa và xe bắt đầu chạy,... anh không tin chắc vào tôi lắm đãy chứ ?
— Nhưng mà không phải là bổn phận của anh, Aléxéi Ivanovitch ạ, không phải là bổn phận của anh nói với tôi rằng đó là một điều ngu dại của tôi, Pavel Pavlovitch trả lời rất nghiêm trang và lớn tiếng.
‘‘Và Lisa’’ Veltchaninov thầm nghĩ; nhưng ông bác bỏ tức khắc ý nghĩ đó như là sợ phạm phải một điều cấm kỵ. Và bổng nhiên, ông cảm thấy mình trở nên ti tiện, nhỏ nhen, và cái ý nghĩ đã cám dỗ ông, cái ý nghĩ đó đổi với ông có vẻ quá hèn hạ, quá xấu xa đến độ thêm một lần nữa ông có một ý muốn mãnh liệt là bỏ tất cả và thoát ra khỏi xe dù phải dùng vũ lực để đối phó với Pavel Pavlovitch. Nhưng ông này lại bắt đầu nói và sự cám dỗ lại một lần nữa xâm chiếm tâm hồn Veltchaninov.
— Này Aléxéi Ivanovitch, anh có rành về đá quý không?
— Loại nào?
— Kim cương.
— Có, tôi có biết.
— Tôi muốn mang đến một món quà nhỏ. Theo ý anh có nên làm như thế không?
— Theo tôi thì không, không nên như thế.
— Còn tôi thì tôi lại muốn làm chuyện đó, Pavel Pavlovitch nài nỉ. Nhưng mà mua thứ gì đây? Mua đủ cả một bộ với trâm cài, hoa tai và vòng tay hay là chỉ mua một món thôi?
— Anh định mua vào khoảng bao nhiêu?
.— Vào khoảng bốn hay năm trăm rouble gì đó.
— Ồ!
— Quá nhiều ? Pavel Pavlovítch hỏi với vẻ lo lắng.
— Mua một chiếc vòng độ một trăm rouble là được rồi.
Pavel Pavlovitch có vẻ phiền muộn. Ông ta muốn chi tiền nhiều hơn và mua cho đủ bộ trang sức kia. Ông cố gắng thuyết phục. Họ cùng dừng lại trước một cửa hàng. Cuối cùng rồi họ cũng mua một chiếc vòng, nhưng không phải chiếc Pavel Pavlovitch thích mà là chiếc Veltchaninov chỉ định, Pavel Pavlovitch thì lại muốn lấy cả hai chiếc, và khi người chủ hiệu kim hoàn chịu để chiếc vòng với giá một trăm năm mươi rouble sau khi đã đòi đến một trăm bảy mươi lăm rouble, ông lại cảm thấy có phần nào không bằng lòng; ông có thể vui vẻ trả hai trăm nếu người ta cứ nói thách, dường như ông muốn vung tiền.
— Ngay giờ đây tôi có biếu xén chăng nữa cũng chẳng có gì bậy cả, ông giải thích với sự phấn khởi khi họ tiếp tục lên đường. Đằng đó không kiểu cách đâu, họ rất bình dị. Cô ả ngây thơ thích những món quà nhỏ, ông nói với một nụ cười vui tươi và láu lĩnh. Chốc nữa, cái tuổi trăng tròn đó sẽ làm anh mỉm cười, Aléxéi Iva-novitch ạ; nhưng chính chuyện này đã đập mạnh vào trí tưởng tượng của tôi; cái sự kiện cô ả còn đi đến trường với một cái cặp sách trên tay... Hì, hì ! Chính cái cặp sách đó đã quyến rủ tôi. Tôi thích cái tính ngây thơ, Aléxéi Ivanovitch ạ. Theo nhãn quan của tôi thì chuyện quan hệ không phải là sắc đẹp mà chính là sự ngây thơ. Trời, những tiếng cười của cô ta với một cô bạn trong góc nhà ! Tiếng cười ngây thơ làm sao ! Họ cười chuyện gì? Về chuyện một con mèo nhảy từ tủ xuống và cuộn tròn trên giường. Chuyện đó thoang thoảng mùi lê chín !... Tốt hơn, có lẽ tôi vất cái băng tang này đi.
— Tùy anh.
— Tôi vất ! Ông giở nón, giựt cái băng tang ra và vất xuống đường. Veltchaninov thấy mặt của ông ta rạng rỡ hy vọng khi ông đội lại chiếc mũ trên cái đầu sói.
 ‘‘Nhưng mà, ông ta suy nghĩ với sự giận dữ, có thật là như thế không? Sự nài nỉ của hắn không che giấu một cạm bẫy nào chứ ? Có thật nó tin cậy vào lòng độ lượng của mình không?  Cái giả thiết cuối cùng này chừng như xúc phạm đến ông. Vậy thì nó là thứ gì? Một thằng hề, một thằng ngu, một người chồng muôn thuở? Nhưng cuối cùng rồi thì đó lại là chuyện bất khả !...’’
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 10.07.2023 21:51:56 bởi Ct.Ly>
XII
ĐẰNG NHÀ ZAKHLÉBININE
 
  GIA đình Zakhlebinine quả đúng như lời Veltchaninov phát biểu là ‘‘một gia đình rất đàng hoàng’’: ông Zakhlébinine giữ một địa vị then chốt và rất được quý trọng. Những gì mà Pavel Pavlovitch đã nói về nguồn lợi của ông ta cũng đúng nốt. ‘‘Hình như họ đang sống một cuộc sông dư dã, nhưng nếu người cha qua đời thì gia đình này chẳng còn gì nốt.’’
Zakhlébinine tiếp đón Veltchaninov rất niềm nở; địch thủ ngày qua bây giờ đã trở thành một người bạn.
— Như thế này thật là quý hóa, xin có lời ngợi khen, chủ nhà tỏ ngay thái độ trong những lời nói đầu, những lời nói với một giọng nhu hòa nhưng trịnh trọng. Chính tôi đã cố nài nỉ hai bên cùng bải nại và điều đình với nhau, và ông Piotr Karlovitch (luật sư của Veltchaninov) thật là một người hiếm có về mặt này. Ông sẽ lãnh sáu mươi ngàn rouble mà khỏi phải cãi cọ, dây dưa ! Mà vụ kiện này có thể kéo dài đến ba mươi năm đó!
Veltchaninov được giới thiệu ngay với bà Zakhlébinine, một người đàn bà có tuổi, phốp pháp với một khuôn mặt mệt mỏi và tầm thường. Tiếp đến, mấy cô con lần lượt ra mắt. Đông lắm: mười, hay mười hai lận. Veltchaninov không tài nào đếm được, cô này bước vào, cô kia bước ra; nhưng trong số đó cũng có cả mấy cô ở nhà bên cạnh, những cô bạn của gia đình này. Biệt thự của ông bà Zakhlébinine là một ngôi nhà đồ sộ bằng gỗ, kiến trúc theo một kiểu chưa từng có và kỳ quái với rất nhiều dãy nhà ngang được cất trong nhiều thời kỳ khác nhau. Ngôi nhà lại có một khu vườn rộng, rất rộng ăn lan đến những ba hay bốn biệt thự khác nữa, khu vườn này là của chung và việc đó đã tự nhiên giúp cho các cô Zakhlébinine với các cô bạn láng giềng dễ gần gũi nhau hơn nữa.
 Ngay trong những lời nói đầu, Veltchaninov nhận thấy là cả nhà đang chờ đợi mình và cuộc viếng thăm này đã được Pavel Pavlovitch trịnh trọng báo trước như là một buổi ra mắt của một người bạn thân muốn làm quen với gia đình Zakhlébinine. Cái nhìn sắc bén của ông đã khám phá ra ngay cái hậu ý của cuộc tiếp đón này, một cuoc-5 tiếp đón dành riêng cho ông, bằng vào sự tiếp đãi ân cần có phần nào thái quá của ông bà, bằng vào một vài dáng điệu có vẻ sửa soạn, bằng vào những y phục và đồ trang sức chau chuốt của các cô (dĩ nhiên đây là một buổi lễ), ông ngờ là Pavel Pavlovitch đã mưu mô làm nẩy nở một vài một vài hy vọng nào đó trong gia đình này bằng cách nói bóng nói gió về ông, dĩ nhiên là như vậy, như là một người thuộc ‘‘thành phần thượng lưu’’, giàu có, chán cuộc sống độc thân và có thể sẵn sàng ‘‘cắm neo’’ và yên phận, ‘‘nhất là ông lại vừa hưởng gia tài’’. Hình như cô cả, cô Katérina Fédosséivna, người con gái hai mươi bốn tuổi rất dễ thương mà Pavel Pavlovitch đã nói đến, có vẻ hợp với hoàn cảnh. Cô ta nổi bật giữa mấy chị em với trang phục cầu kỳ, với mái tóc chải bới một cách độc đáo. Mấy người em và mấy cô kia có vẻ hoàn toàn tin chắc Veltchaninov đến là ‘‘vì Katia, là để xem mặt cô này’’. Suốt trong ngày hôm đó, những tia nhìn và ngay cả trong những lời nói không kềm giữ nổi của họ, khiến ông tin thêm giả thuyết trên. Katérina Fédosséievna là một cô gái tóc vàng, cao to, gần như là đẩy đà, với một khuôn mặt xinh xinh, với tánh tình rõ ràng là hiền lành, thụ động, có phần nào nhu nhược. ‘‘Cô ta vẫn còn là con gái thì lạ thật, dù không muốn Vechaninov vẫn thầm nghĩ như thế, khi nhìn cô ấy với một niềm vui sướng; cô ta không có của hồi môn, đành thế, và rồi đây cô ta sẽ trở nên phốp pháp một cách thái quá, nhưng hiện giờ thì cũng vẫn có thể có người yêu chuộng...’’  Mấy cô em cũng không đến nỗi tệ lắm, và trong số các cô láng giềng, ông nhận thấy có một vài khuôn mặt dễ thương và đẹp nữa là đằng khác. Chuyện này làm cho ông thích thú; vả lại, ông cũng có ý riêng khi mới bước vào.
Nadièjna Fédosséievna, người thứ sáu, cái cô còn đi học, người con gái đã được Pavel Pavlovitch xem như là vị hôn thê, bắt mọi người chờ đợi. Veltchaninov đợi cô bé với một sự nôn nóng làm cho chính ông cũng phải ngạc nhiên nhưng trong thâm tâm thì ông lại xem thường. Cuối cùng, cô nàng bước vào với một người bạn gái, Maria Nikitichna, một cô gái tóc nâu có khuôn mặt lanh lợi và láu lĩnh; mà về sau chúng ta rõ thêm là Pavel Pavtovitch có vẻ ngán cô ả này lắm. Sự xuất hiện này không phải là không có tác dụng. Cái cô Maria Nikitichna đó, khoảng hai mươi ba tuổi, vui vẻ và thông minh, là cô giáo kiêm quản gia của lũ trẻ nhà quen bên cạnh; xưa nay ông bà Zakhlébinine, vẫn xem cô như người trong gia đình và mấy cô con gái cũng quý mến cô ta lắm. Rõ ràng là giờ đây, nhất là Nadia không thể nào chịu thiếu sự có mặt của cô ta được. Thoáng nhìn, Veltchaninov nhận thấy ngay là các cô ấy, ngay cả những cò bạn láng giềng nữa, đều đồng lòng chống lại Pavel Pavlovitch, và, một phút sau khi Nadia bước vào, ông thấy là cô này cũng ghét ông kia nốt. Ông cũng nhận thấy Pavel Pavlovitch không hay biết gì việc đó hay là lão ta không muốn hay biết. Phải công nhận Nadia đẹp nhất trong đám: đó là một cô bé tóc nâu với vẻ man dại, liều lĩnh như một tên cảm tử, một nữ quái với đôi mắt sáng ngời, với nụ cười dịu dàng, dù rằng đôi khi có vẻ tàn nhẫn, với đôi môi chín mọng, với hàm răng đều đặn, với dáng người mảnh mai, dong dỏng; khuôn mặt tuy còn trẻ thơ nhưng đã ánh lên những ý nghĩ đầy dẫy nhiệt tình. Tuổi trăng tròn của cô ta được nhận thấy trong từng cử chỉ, trong từng lời nói mà thôi. Về sau này, ông thấy quả thật cô bé có mang một cái cặp sách bằng vải dầu như Payel Pavlovitch đã thấy trong lần đầu, nhưng hiện giờ thì cô ta không mang gì cả.
Cái vòng không có tác dụng nào cả mà lại gây một ấn tượng khó chịu. Khi thấy vị hôn thê, Pavel Pavlovitch đến gần với nụ cười, ông trao món quà và viện cớ là ‘‘trong lần trước ông cảm thấy vô cùng vui sướng khi được nghe Nadia Fédosséievna vừa hát vừa đệm dương cầm bản tình ca tuyệt diệu đó...’’ Ông lúng túng, không biết kết luận như thế nào và ngây người ra. Ông cố dúi món quà vào tay Nadia nhưng cô này không muốn nhận và, mặt đỏ bừng vì hổ thẹn và tức giận, cô thu tay ra đằng sau. Cuối cùng, cô ta xoay mình một cách xấc xược về phía mẹ, bà này có vẻ ngượng nghịu, và nói lớn :
— Má, con không nhận đâu.
 — Cầm lấy và cám ơn đi con, ông cha phán với giọng cương quyết và nghiêm khắc; nhưng chính ông, ông cũng không bằng lòng. ‘‘ Vô ích, vô ích’’, ông khẽ nói cho Pavel Pavlovitch nghe với một vẻ đầy ý nghĩa. Không thể làm cách nào hơn, Nadia đành nhận hộp quà và, mặt cúi gầm xuống, cô cúi chào theo kiểu các con bé: cô vội gập người xuống rồi đứng thẳng dậy tức thì như một chiếc lò so bung ra. Một cô chị đến gần để xem chiếc vòng, và Nadia đưa cho cô đó cái hộp còn đậy kín như muốn nói rõ là cô ta không thèm cả đến chuyện nhìn món trang sức đó. Người ta lấy chiếc vòng ra khỏi hộp và chuyền cho nhau xem, nhưng tất cả đều ngắm nghía trong im lặng và một vài cô còn điểm cả một nụ cười mỉa mai nữa. Chỉ một mình bà mẹ, với một giọng uể oải khen chiếc vòng rất đẹp. Pavel Palovitch có lẽ muốn độn thổ.
Veltchaninov vội đỡ lời. Ông bắt đầu nói lớn tiếng và nghĩ gì thì ứng khẩu ngay tức thì; chưa đầy năm phút sau, ông đã làm cho mọi người có mặt phải chú ý đến mình, ông có cả nghệ thuật nói chuyện với giới thượng lưu, nghệ thuật này nằm ở chỗ tỏ ra vẻ giản dị và thành thật, và đồng thời, với sắc mặt, mình cũng tỏ cho kẻ đối thoại biết là mình xem họ là những người hoàn toàn giản dị và thành thật. Khi cần, ông cũng biết cách đóng vai một người vui vẻ và sung sướng. Ông cũng biết cách thốt ra đúng lúc một danh từ tế nhị, một lời nói bóng thú vị, một lộng ngữ thông minh như là do tình cờ mà nói ra và không có vẻ gì là suy nghĩ, tìm tòi cả, dù rằng những chữ đó, những lời bóng gió đó và cả câu chuyện ông nói ra đó đã được sửa soạn từ lâu, đã được thuộc nằm lòng và đã được nhiều lần xử dụng đến. Hôm nay, khí sắc của ông lại trợ lực thêm cho nghệ thuật kia; có cái gì lôi cuốn ông, ông cảm thấy cao hứng; ông quả quyết tin là vào khoảng vài phút, tất cả những cặp mắt kia sẽ hướng về phía mình, tất cả những người đó chỉ nghe một mình ông, sẽ chỉ nói chuyện với ông, sẽ chỉ cười những gì ông thốt ra mà thôi. Mà thật thế, đây đó đã có vài tiếng cười vọng lên; dần dần mọi người đều góp chuyện; tài nói chuyện của ông tinh vi đến độ lái mọi người trong cuộc đàm thoại; người ta đã nghe ba, bốn giọng cùng nói một lúc. Sự hài lòng, gần như là sự vui sướng, rạng rỡ trên khuôn mặt ủ ê và mệt mỏi của bà Zakhlébinine; người ta cũng thấy thế trên nét mặt của Katérina Fédosséievna đang ngồi nghe và nhìn ông với vẻ say mê. Nadia trộm nhìn Veltchaninov và nhìn rất chăm chú; người ta thấy là lúc đầu cô ta có ý đề phòng ông; việc này chỉ làm cho Veltchaninov càng thêm phấn khởi. Tuy nhiên Maria Nikitichna, ‘‘cái ả chanh chua’’, cũng xen được vào câu chuyện một lời cay độc: nàng kể là tối qua Pavel Pavlovitch có cho biết Veltchaninov là một người bạn thủa nhỏ; như thế cô ả thêm cho Veltchaninov đúng bảy tuổi và còn nhấn mạnh vào điểm này nữa. Nhưng rồi, Veltchaninov cũng thành công trong việc làm vừa lòng cái ả Maria Nikitichna chanh chua đó. Pavel Pavlovitch hoàn toàn kinh ngạc. Dĩ nhiên, ông biết tài ăn nói của bạn, và lúc đầu ông rất sung sướng khi thấy bạn thành công, ông đã cười một cách khiêm tốn cùng với những người khác và đã góp nhiều chuyện, nhưng rồi dần dần ông trở nên trầm ngâm, buồn là khác, và nét mặt đăm chiêu đã tố cáo những tình cảm thầm kín đang dày vò ông.
— Tôi thấy ông là một người khách mà người kia khỏi phải mất công toi, ông Zakhlébinine vui vẻ tuyên bố và đứng dậy để về phòng trên lầu hai mà ở đó, dù hôm nay là ngày lễ, ông còn nhiều giấy tờ cần phải ký.
— Ông thử nghĩ xem, tôi đã từng coi ông như là người bẵn gắt nhất của giới trẻ. Thật không có gì lầm lẫn hơn !
Trong phòng khách có một cây dương cầm: Veltchaninov muốn biết người nào chơi nhạc, và ông chợt hỏi Nadia :
— Cô hát được chứ?
— Ai nói với ông thế? Cô ta đáp với giọng lãnh đạm.
— Chính Pavel Pavlovitch đấy.
 — Không đúng đâu. Tôi hát chỉ để mà làm trò cười; tôi không có giọng.
— Tôi cũng thế, tôi không có giọng nhưng mà tôi vẫn hát.
— Ông biết hát kia à? Nếu vậy, tôi sẽ hát, Nadia trả lời, mắt rực sáng; nhưng để thong thả đã, sau cơm chiều hẵn hay, cô ta thêm. Tôi chán ngấy cái đàn này rồi: ở nhà tất cả mọi người đều đàn và hát suốt ngày. Chỉ một mình Katia thôi cũng đã quá đủ rồi.
Veltchaninov bắt ngay lấy lời nói đó; ông nhận thấy Katérina là người độc nhất trong đám chơi được âm nhạc một cách đàng hoàng. Ông vội vã yêu cầu cô ta ngồi vào đàn. Tất cả đều có vẻ bằng lòng khi thấy ông nói chuyện với Katia, và cũng đỏ mặt vì sung sướng, Katérina Fédosséviena tươi cười đứng dậy, và tiến về phía cây đàn; mặt chợt đỏ bừng và nàng cảm thấy vô cùng bối rối như một đứa bé gái nhỏ, nàng, một cô gái đã hai mươi bốn xuân xanh, cao to như thế, mạnh khỏe như thế; và tất cả những cảm tình đó đã hiện trên khuôn mặt nàng khi nàng bắt đầu dạo nhạc. Nàng đàn rất rõ ràng, gẫy gọn một khúc nhạc của Haydn nhưng không có hồn mấy vì nàng bị ép buộc. Khi nàng dứt tiếng đàn, Veltchaninov ngợi khen nồng nhiệt, nhưng không phải khen ngợi ngón đàn mà là khen ngợi Haydn, đặc biệt là bản nhạc mà nàng vừa trình tấu; việc đó làm cho
 nàng vui thích ra mặt và nàng cũng có vẻ biết ơn và sung sướng về những lời khen tặng không phải cho nàng mà là cho Haydn đó đến nổi Veltchaninov, ngoài ý muồn, ném về phía nàng một cái nhìn chăm chú, trìu mến hơn như có ý nói ‘‘Cô quả thật là một cô gái trung hậu’’, và tất cả mọi người hình như hiểu ngay ánh nhìn đó, nhất là chính Katérina Fédosséievna.  
— Khu vườn nhà đẹp làm sao, ông đột ngột lên tiếng, không nói riêng với một ai và vừa quay mình về phía cửa gương lớn ngoài bao lan. Ra vườn đi nào !
— Phải đó, đi nào ! Rồi là những tiếng reo vui như ông đoán trúng được sở thích của tất cả mọi người.
Họ rong chơi trong vườn cho đến bữa cơm. Bà Zakhlébinine, đã muốn đi nghỉ từ lâu cũng không thể không theo mọi người ra vườn, nhưng bà thận trọng ngồi lại, ngoài sân thượng và rồi thiu thỉu ngủ tức thì. Ở ngfoài vườn, Veltchaninov và các cô chóng trở nên thân thiết. Có ba thanh niên từ những biệt thự bên cạnh đến góp mặt: người thứ nhất là một sinh viên, người thứ hai là một học sinh ; hai người này chạy vội đến phía các ‘‘cô bồ’’của họ ; và họ cũng cho thấy là họ qua đây cũng chỉ vì mấy cô đó ; riêng người thứ ba là một gã thanh niên khoảng đôi mươi, mặt mày cú tráu, vẻ bí mật và tráo trở, mang một cặp kính xanh khổng lồ. Hắn ta thấp giọng nói một chuyện gì đó rất ngắn ngủi với Maria Nikitichna và Nadia; lông mày nhíu lại, hắn ném về phía Veltchaninov những cái nhìn nghiêm khắc và hình như có vẻ khinh miệt thậm tệ ông này. Một vài cô đề nghị bày trò chơi tức khắc; và trả lời cho câu Veltchaninov hỏi thường thường các cô chơi trò gì, họ đáp là họ có rất nhiều trò, những buổi chiều thì thường chơi trò đoán các câu tục ngữ: tất cả mọi người đều ngồi lại trong khi người bị đố ra xa trong chốc lát; người ta sẽ chọn câu tục ngữ nào đó, thí dụ như câu: Ai đi chậm sẽ đi xa ; rồi gọi người kia vào và tuần tự mỗi người phải nói cho người đó nghe một câu đã được nghĩ sẵn; người thứ nhất nói một câu có chữ ai; người thứ nhì, một câu có chứa chữ đi, và lần lượt như thế. Người kia phải đoán ra những chữ đó và dựng lại câu tục ngữ kia.
— Như vậy chắc hẳn là vui lắm, Veltchaninov nhận xét.
— Ồ ! Không ! Chán lắm, nhiều giọng cùng cất lên một lượt.
— Chúng tôi cũng chơi diễn kịch nữa, Nadia xen vào. Ông có thấy cái cây cổ thụ có ghế dài bao quanh ở đằng kia không? Đó là hậu trường sân khấu, nơi các diễn viên đứng chờ; vua, hoàng hậu, công chúa, kép chánh; mỗi vai sẽ xuất hiện khi nào họ thích và nói những gì chợt đến trong đầu; đôi khi trò này cũng thành công.
— Thế thì tuyệt đấy chứ? Lại một lần nữa, Veltchaninov tán thành.
— Ồ! Không ! Chán lắm, chán không thể tả. Lúc đầu. trò này không đến nỗi nào, nhưng vào hồi chung cuộc, tất cả đều rối beng vì không ai biết kết luận ra sao cả; Có ông, có lẽ sẽ khá hơn. Vậy mà chúng tôi lại hình dung ông là bạn của Pavel Pavlovitch ! ông ấy đã khoác lác, thế thôi. Tôi rất lấy làm sung sướng được ông đến chơi vì một chuyện nào đó.
Cô ta nhìn Veltchaninov một cách đầy ý vị. rất nghiêm trọng và vội chạy đến nhập bọn cùng Maria Nikitichna.
— Buổi chiều, chúng ta sẽ chơi trò đoán tục ngữ, một cô gái mà Veltchaninov vừa mới diện kiến và chưa nói với ông một lời nào, thì thầm một cách bí mật bên tai ông. — Chiều nay, tất cả chúng tôi sẽ cho lão Pavel Pavlovitch ''leo cây''; và ông, ông sẽ dự phần.
— Ồ! Thật là sung sướng cho chúng tôi được ông đến chơi ! Ở đây, buồn muốn chết được! Một cô gái khác mà ông không hề để ý đến, không biết từ đâu xuất hiện, thân mật bảo ông thế. Cô bé này, tóc hung và mặt đỏ đến độ buồn cười vì chạy mệt và vì hơi nóng.
Pavel Pavlovitch càng lúc càng trở nên nghi ngại. Còn Veltchaninov và Nadia, cuối cùng, trở nên đôi bạn thân; cô ta hết nhìn trộm Veltchaninov và không nghĩ đến chuyện dò xét ông này nữa; cô ta cười, nhảy, hò hét và đã hai lần nắm cả tay ông nữa. Cô ta sung sướng lắm và tiếp tục không để ý gì đến Pavel Pavlovitch, coi như là không có mặt ông ta. Veltchaninov tin chắc là thực có một âm mưu nào đây để phá Pavel Pavlovitch; trong khi Nadia và một nhóm các cô kéo Veltchaninov về phía mình, các cô kia, viện những lý do nào đó, dẫn Pavel Pavlovitch về phía họ ; nhưng ông này thoát khỏi, chạy hốc tốc về phía Veltchaninov và Nadia và đột nhiên thò chiếc đầu sói với vẻ lo ngại giữa hai người để mong nghe lóm được câu nào chăng. Cuối cùng, lão không cần thận trọng nữa: đôi lúc thái độ ngớ ngẩn của lão thật kỳ quái. Veltchaninov không thể không chăm chú quan sát thêm Katérina Fédosséievna: bây giờ cô ta đã hiểu rõ là ông đến không phải vì cô, cô cũng hiểu thêm là ông chú ý nhiều đến Nadia; nhưng gương mặt cô vẫn phản chiếu sự dịu dàng, sự bằng lòng như trước kia. Chỉ được ngồi gần những kẻ khác và được nghe ông khách nói chuyện là hình như cô cảm thấy sung sướng rồi; chính cô, cô gái đáng thương đó, cô không tài nào bắt chuyện một cách khéo léo được.
— Chị Katérina Fédosséievna của cô dễ thương đó chứ ! bỗng nhiên Veltchaninov thì thầm như thế với Nadia.
 — Katia ? Nhưng mà ai có thể tốt hơn chị ấy được ? Chị là vị thiên thần của tất cả chúng tôi, và tôi, tôi rất mến chị ấy, cô ta trả lời, giọng tán tụng.
Đến năm giờ, người ta dọn cơm chiều. Rõ ràng đây không phải là một bữa cơm thường và chủ nhà đã bỏ khá tiền vì người khách mới. Hai hay ba món cầu kỳ được thêm vào thực đơn thường nhật; một trong mấy món đó đặc biệt đến độ không ai có thể nói là món gì. Ngoài những thứ rượu vang thường dùng, còn có thêm một chai tokay —thứ rượu vang ngọt của Hung Gia Lợi,— hiển nhiên là mua cho dịp này, và, về cuối bữa ăn, người ta còn thết cả rượu sâm-banh nữa. Ông Zakhlébinine, có hơi quá chén rồi, sắc mặt vui vẻ và nghe Veltchaninov nói bất cứ điều gì, ông cũng cười được cả. Cuối cùng, Pavel Pavlovitch, không thể nhịn được nữa: bị lòng ganh đua lôi kéo, ông cố gắng xen vào câu chuyện một lời lộng ngữ; ở đầu bàn bên kia, chỗ ông ngồi gần bà Zakhlébinine, bỗng nhiên vang lên tiếng cười ròn rã của các cô.
— Ba ! Ba ! Ông Pavel Pavlovitch cũng biết cách chơi chữ đây nè! Hai cô con Zakhlébinine cùng la lên một lượt.
— À ! Cả ông ta mà cũng chơi chữ nữa à? Ông nói gì vậy? Zakhlébinine hỏi với một giọng trịnh trọng pha đôi chút bao dung và đã cười sẵn cho câu nói mà ông đang chờ nghe.
— Dạ, ông ấy bảo tụi con là ''những cô gái đáng chiêm ngưởng''.
— Ừ, nhưng mà?...— Ông ta vẫn chưa hiểu chơi chữ ở chỗ nào, tuy nhiên nụ cười của ông càng lúc càng khả ái ân cần.
— Nhưng thưa ba, tại sao ba lại chưa hiểu được?
Cuối cùng mấy cô giảng cho cha nghe.
— À, à ! ông hơi ngượng ngùng, Hừm ...! Được rồi... Một lần khác, ông ta sẽ nói khá hơn... Và ông cười rộ.
— Người ta không thể nào có cùng một lúc nhiều tài được, có phải thế không, thưa ông Pavel Pavlovitch? Maria Nikitichna hỏi với giọng diễu cợt. Trời ! Ông ta bị hóc xương cá ! Cô ta la lên và vội vàng đứng dậy.
Mọi người đều xôn xao và đó là điều mà Maria Nikitichna mong muốn, Thật ra Pavel Pavlovitch chỉ bị sặc rượu khi ông cố uống để che giấu sự bối rối mà thôi; nhưng Maria Nikitichna thề có Trời Đất rằng  ‘‘chính mắt cô trông thấy ông ấy nuốt một cái xương cá lớn có thể nguy đến tính mạng’’ .
— Đập vào lưng ông ta đi ! Có người nào đó la lên.
— Đúng đó, cách đó là hay nhất, ông Zakhlébinine lên tiếng.— Có người thực hành ngay. Maria Nikitichna, cô bé tóc hung (cũng được mời dự tiệc), và chính cả bà Zakhlébinine đang lo sợ nữa. Tất cả đều muốn đấm vào lưng Pavel Pavlovitch. Ông này rời bàn ăn và vừa cố tránh tầm tay của mấy người kia vừa giải thích cho mọi người yên lòng là ông chỉ bị sặc và cơn ho sẽ dứt ngay. Lúc đó mọi người mới vỡ lẽ là Maria Nikitichna ‘‘đùa dai’’ .
— Cô nghịch quá mức rồi đấy nhé... Bà Zakhlébinine cố nói với một giọng nghiêm khắc nhưng chính bà, bà lại không thế nào tiếp tục la mà lại cười rủ lên, một tràng cười không hề có lúc bình thường, làm mọi người đều cười theo.
Sau bữa cơm, mọi người dùng cà phê ngoài sân thượng.
— Năm nay, trời tốt thật, Zakhlébinine vừa nghiêm trang nói vừa ngắm khu vườn với vẻ hài lòng.— Tuy nhiên, lối rày cũng cần phải có trận mưa mới được. Thôi; tôi đi nghỉ đây. Hãy vui đùa thỏa thích đi ! Cả anh nữa nhé! Ông vỗ vai Pavel Pavlovitch nói thêm rồi bước đi.
Khi tất cả mọi người đều xuống vườn, Pavel Pavlovitch vội phóng đến phía Veltchaninov và nắm lấy tay áo ông này.
— Xin anh một phút, ông thì thầm, vẻ nóng nảy.
Họ cùng đi vào một con đường nhỏ xa khuất.
— Anh thứ lỗi cho, nhưng mà lần này, tôi không thể nào để cho anh..., ông trầm giọng uất nghẹn vì tức giận, và bóp chặt cánh, tay Veltehaninov.
 — Sao! Có chuyện gì thế? Veltchaninov hỏi, mắt mở tròn.
Pavel Pavlovitch nhìn ông này mà không thể nói được gì; đôi môi máy máy, nụ cười giận dữ.
— Các ông đi đâu vậy ? Các ông ở đâu đó? Tất cả đều sẵn sàng rồi đây ! Các cô gọi với giọng nôn nóng.
Veltchaninov nhún vai và đi tìm họ. Pavel Pavlovitch gấp bước đi theo.
— Tôi cá là ông ta mượn ông một chiếc khăn tay, Maria Nikitichna nói với Veltchaninov; lần trước, ông ta đã một lần quên khăn..
—  Ông ấy thì luôn luôn quên, một cô trong số các chị em nhà Zakalebinine vội vàng nói thêm.
—  Ông ta quên khăntay ! — Ông Pavel Pavlovitch quên mang theo khăn tay ! Má ơi, ông Pavel Pavlovitch quên đem khăn tay !— Má ơi ! ông Pavel Pavlovich lại bị sổ mũi ! Họ la cùng tứ phía.
— Nhưng tại sao ông không bảo ! Ông thì cứ luôn luôn khách sáo, ông Pavel Pavlovitch ạ! Bà Zakhlébinine nói với một giọng nhừa nhựa. Đừng coi thường cảm cúm đấy. Để tôi cho người mang khăn ra cho. Nhưng mà tại sao ông ta lại cứ luôn luôn bị cảm thế nhỉ? bà ta nói thêm khi bước xa họ; bà sung sướng vì có cớ để vào nhà.
— Tôi có hai chiếc đây, Pavel Pavlovitch la
 với theo, và tôi chẳng cảm cúm chút nào cả.— Nhưng có lẽ bà ta vẫn không hiểu; và lát sau, trong khi Pavel Pavlovitch đi theo mọi người và cố gắng theo sát Nadia và Veltchaninov, thi một cô hầu phòng hồng hộc chạy đến đưa cho ông một chiếc khăn tay.
— Nào ! Mình chơi trò đoán tục ngữ đi! Mình chơi trò đoán tục ngữ đi! Tứ phía đều có người la lên như hy vọng trò chơi này chỉ có Trời biết được sẽ thú vị ra sao.
Họ chọn một chỗ và ngồi xuống những chiếc ghế dài. Maria Nikitichna được chọn làm người đoán đầu tiên; họ buộc cô này đi ra xa và không được nghe lóm. Chọn xong câu tục ngữ, họ phân phối các chữ trong câu. Maria Nikitichna trở lại và đoán ra ngay. Câu tục ngữ như sau : Hiểm nguy tuy lớn nhưng Thượng Đế lại khoan dung.
Rồi đến lượt người thanh niên mặt quạu với cặp kính màu xanh. Họ ngăn ngừa anh này còn gắt hơn nữa; họ bắt anh ta đứng gần ngôi nhà hóng mát, mặt quay vào tường. Gã thanh niên có vẻ bí mật và tráo trở thi hành nhiệm vụ với một vẻ cao ngạo và khinh miệt; hình như gã cảm thấy bị lăng nhục. Khi người ta gọi lại, anh ta không tài nào đoản được ; anh ta đi quanh mọi người hai lần, bắt từng người nhắc lại mỗi câu hai lần rồi anh đứng suy nghĩ rất lâu, mặt đăm chiêu, nhưng không kết quả. Họ làm cho gã xấu hổ. Câu tục ngữ được đem đố như sau: Lời cầu nguyện dâng lên Chúa, việc làm hiến cho Vua, không bao giờ uổng phí.
— Câu tục ngữ gì mà ngây ngô thế, gã càu nhàu, vẻ giận dỗi khi ngồi lại xuống ghế.
— Ồ! Chán quá ! Có vài ba giọng phàn nàn nổi lên.
Rồi đến lượt Veltchaninov. Họ bắt ông ta ra xa hơn nữa. Ông cũng không thể nào đoán đúng.
— Chán quá! Chán quá! Giọng phàn nàn nhiều hơn lúc nãy.
— Bây giờ đến phiên tôi, Nadia nói.
— Chưa đâu, chưa đâu, ông Pavel Pavlovitch đoán đã chứ! Phiên của ông Pavel Pavlovitch kia mà ! các cô đồng la lên, vẻ ồn ào.
Họ dẫn Pavel Pavlovitch ra tận vòng tường và bắt ông ta đứng đó, dán mũi vào một góc, dưới sự kiểm soát của cô bé tóc hung. Pavel Pavlovitch đã lấy lại bình tĩnh và vẻ vui tươi nên sẵn sàng thi hành nhiệm vụ một cách chu đáo; bất động như một khúc củi, không dám quay lại, ông ta chăm chú nhìn bức tường. Cô bé tóc hung, dáng điệu bồn chồn, vừa đứng canh chừng ông ta khoảng vài mươi bước vừa ra ám hiệu cho các cô kia; chắc chắn là họ âm mưu gì đấy, họ sửa soạn một chuyện trọng đại mà họ đã nóng nảy chờ đợi nãy giờ. Đột nhiên, cô bé tóc hung quơ tay, và tất cả bọn túa chạy thục mạng.
— Chạy đi! Chạy đi nào, cả chục giọng thì thào và lo lắng thúc giục Veltchaninov, khi thấy ông này vẫn đứng nguyên tại chỗ.
— Có chuyện gì thế? Chuyện gì xảy ra thế? Ông vừa chạy theo vừa hỏi.
— Im nào ! Đừng la nữa ! Lão ta chỉ việc đứng đó, mũi dán vào tường trong khi tụi mình chuồn gấp. Coi kìa, Nadia cũng lủi rồi.
Nastia (cô bé tóc hung) chạy như điên, tay vẫy rối rít; người ta tưởng chừng có chuyện gì chỉ có Trời biết được, đang xảy ra. Cuối cùng mọi người chạy đến cuối vườn, bên kia đằng sau cái ao. Khi Veltchaninov nhập bọn, ông thấy Katerina Fédosséievna đang cãi lẫy sôi nổi với các cô, đặc biệt là với Nadia và Maria Nikitichna.
— Katia, xin chị bớt giận! Nadia vừa nói vừa ôm hôn chị.
— Được rồi, chị sẽ không mách má; nhưng chị, chị không chơi nữa đâu vì mấy em tệ lắm. Đứng bên cạnh tường đằng kia, ông ta sẽ nghĩ sao, cái ông đáng thương đó?
Cô ta bỏ đi, nhưng mấy cô còn lại thì không tỏ vẻ gì trắc ẩn. Họ yêu cầu Veltchaninov đừng để ý đến Payel Pavlovitch và cứ xem như là không có chuyện gì xảy ra cả khi lão tìm đến họ. ‘‘Và bây giờ, mình chơi đuổi bắt đi!’’ cô bé tóc hung la lên, vẻ hớn hở.
Khoảng mười lăm phút sau mà chắc là đã mất hết mươi phút bất động bên cạnh bức tường, Pavel Pavlovitch tìm ra họ. Mọi người đang hăng say chơi đùa; tất cả đều la hét và cười giỡn. Giận điên, Pavel Pavlovitch chạy thẳng đến phía Veltchaninov và một lần nữa, nắm lấy tay áo ông này.
— Ngừng chơi một chốc.
— Trời ! Thật là chán cho những cái ‘‘một chốc’’ của ông ấy.
— Ông ta lại cầm khăn tay ! vài người lên tiếng.
— Lần này thì anh, chính anh và chỉ mình anh là người đã gây ra chuyện này! Pavel Pavlovitch nói với giọng đay nghiến.
Veltchaniuov ngắt lời và ôn tồn khuyên nhủ bạn nên vui vẻ hơn lên: ‘‘Trong lúc mọi người đều vui đùa thì anh lại có vẻ không vui; và chính vì vậy họ chọc anh đó’’. Trước sự ngạc nhiên của ông, những lời nói đó lại ảnh hưởng nhiều đến Pavel Pavlovitclì; ông nầy bỗng nhiên trở nên im lặng, rất từ tốn nữa là khác, trở lại nhập cuộc chơi với dáng điệu mềm mỏng. Họ để ông yên trong một thời gian, họ chơi đùa với ông như với tất cả những người khác, và, trong khoảng hơn kém nửa giờ, ông ta hầu như lấy lại được sự vui vẻ. Khi nào phải chọn cặp thì gần như là luôn luôn ông ta chọn có bé tóc hung, con bé ‘‘phản bội’’, hay là một trong những chị em Zakhlébinine. Và, càng ngạc nhiên hơn nữa, Veltchaninov nhận thấy chưa lần nào Pavel Pavlovitch dám nói chuyện với Nadia, dù ông có mặt thường xuyên cạnh cô này. Dầu sao mặc lòng, hình như ông chấp nhận việc người ta xem thường ông như là một điều đương nhiên. Nhưng, gần cuối cuộc chơi, người ta lại chơi ông thêm một vố khác nữa.
Lúc đó, họ đang chơi trốn bắt và cho phép muốn trốn đâu thi trốn. Pavel Pavlovitch, đang ẩn trong một bụi rậm, bỗng nảy ý vào trốn trong nhà ; người ta thấy ông chạy, nhiều tiếng la hét nổi lên; ông leo nhanh lên cầu thang và phóng nhanh về phía gác lửng; ông biết ở đó có một cái xó nằm phía sau tủ áo, và ông muốn núp ở đó. Nhưng cô bé tóc hung đã đuổi theo; rón rén trên đầu ngón chân, nó chạy đến tận cửa phòng, đóng lại và khóa trái cửa. Rồi như lúc nãy, mọi người ngừng chơi và cùng nhau chạy trốn. Vào khoảng mười phút sau, cảm thấy hình như không ai tìm mình, Pavel Pavlovitch ló đầu ra ngoài cửa sổ. Không có ai cả. Ông ta không dám kêu, sợ đánh thức ông bà Zakhlébinine dậy; còn cô hầu phòng và bà bếp thì đã được lệnh rất nghiêm nhặt là không được ra mặt và cũng không được lên tiếng nếu Pavel Pavlovitch có kêu. Chỉ còn có một mình Katérina Fédosséievna là có thế giải cứu ông; nhưng, từ khi quay về phòng, cô ta nằm thiu thiu và ngủ lúc nào không hay. Ông bị nhốt gần một tiếng. Cuối cùng, mấy cô lần lượt xuất đầu lộ diện.
— Pavel Pavlovitch! Tại sao ông không ra chơi ! Đằng kia vui lắm ! Tụi tôi chơi trò diễn kịch: Aléxéi Ivanovitch thủ vai kép mùi.
— Pavel Pavlovitch ! ông làm gì trên đó? Chúng tôi ngạc nhiên lắm, ngạc nhiên thật đấy !
— Chuyện gì thế? bà Zakhlébinine đột nhiên cất tiếng hỏi; bị đánh thức, bà quyết định xuống vườn và tham dự cuộc chơi của  sắp nhỏ  trong khi chờ trà.
— Má hãy nhìn ông Pavel Pavlovitch một chút đã nào !
Họ chỉ cho bà khuôn mặt tái vì tức giận và nhăn nhó một nụ cười của Pavel Pavlovitch ló ra trong khung cửa sổ.
— Trong khi mọi người đều nô đùa, vui gì mà ông lại đứng một mình ở đó nhỉ? Bà ta vừa lắc đầu vừa nói.
Trước đó, Veltchaninov đã lấy được lòng tin của Nadia, cô nàng giải thích cho ông biết vì sao cô đã ‘‘rất sung sướng về cuộc viếng thăm của ông’’. Sự giải thích này đã được cô thổ lộ trên lối đi nhỏ khuất nẻo. Maria Nikitichna ra hiệu cho Veltchaninov, lúc đó đang tham dự cuộc chơi nhưng đã bắt đầu cảm thấy một nỗi buồn sâu xa; rồi dẫn ông đến gần Nadia và để riêng hai người đứng đó.
— Bây giờ, tôi tin rồi, Nadia mở lời một cách bạo dạn với giọng nhanh, gấp, tôi tin chắc là ông chẳng thân thiết chút nào với Pavel Pavlovitch cả, như lão ta đã khoe. Tôi nghĩ ông là người duy nhất có thể giúp tôi một việc hệ trọng. Đây là chiếc vòng khả ố của lão, — cô ta rút cái hộp trong túi ra.— Van ông, nhờ ông hoàn lại cho lão tức thì, vì tôi, suốt đời tôi sẽ chẳng bao giờ nói với lão một lời nào nữa. Ông có thể nói với lão là tôi nhờ ông trả lại, và nhờ ông thêm là lão ta đừng nên bao giờ dám cả gan mang quà tặng đến nữa. Chuyện còn lại, tôi sẽ nhờ những người khác nói cho lão biết. Ông có thể vui lòng giúp tôi việc đó chăng?
— Trời đất ! Xin cô miễn cho tôi việc này ! Veltchaninov la lên và đẩy lui cái hộp.
— Vì sao ? Tại sao lại miễn cho ông việc đó? Rất ngạc nhiên vì sự khước từ ấy, Nadia trợn tròn đôi mắt. Cô ta đâm ra hốt hoảng và gần khóc. Veltchaninov bật cười.
— Không phải là …tôi rất sung sướng … nhưng mà tôi và ông ấy còn nhiều chuyện cần thanh toán...
— Tôi đã biết chắc ông không phải là bạn của lão ấy và lão đã nói dối, cô ta ngắt lời, giọng liến thoắng. Không khi nào tôi lấy lão ta, lão nên biết thế, không khi nào! Tôi cũng không hiểu nổi tại sao lão lại dám tặng quà !... Nhưng dù sao đi nữa, ông cũng nên phải trả lại lão cái vòng nhơ nhuốc này, vì tôi, tôi có thể làm gì khác hơn? Tôi mong muốn, chiếc vòng được trả lại cho lão ngay trong hôm nay, và lão lãnh nhận điều sĩ nhục này. Nếu lão dám phàn nàn với ba tôi, lão sẽ thấy chuyện gì xảy ra cho lão.
Ngay lúc đó, từ một bụi rậm, gã thanh niên mặt mày cú tráu với cặp kính màu xanh, nhô người ra.
— Ông phải trả cái vòng đó lại, hắn ta cộc cằn nói với Veltchaninov. Đó là nhân danh quyền lợi của phái yếu, nếu như ít nữa, ông đủ trình độ hiểu nổi điều đó...
Nhưng hắn không thể nói trọn câu. Nadia nắm mạnh tay hắn và đẩy ra.
— Trời! Sao anh lỗ mãng thế, Prédpossylov, cô ta hét lên. Đi đi! Anh đi đi ! Và anh không được theo dõi chúng tôi nữa đấy. Tôi đã bảo anh đừng lại gần rồi kia mà!— Cô ta vùng vằng; tên kia vội phóng mình vào bụi rậm nhưng nàng vẫn tiếp tục bước tới bước lui trên lối đi, vẻ tức giận, mắt rực sáng và hai bàn tay chắp lại trên ngực.
— Ông không thể nào tưởng tượng họ lỗ mãng đến bực nào! — Cô ta chợt dừng lại trước mặt Veltchaninov. — Vâng, ông thì ông buồn cười, nhưng hãy nghĩ đến những gì tôi cảm thấy, tôi đây nè!




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 10.07.2023 21:58:00 bởi Ct.Ly>
— Không phải chàng, phải không? Không phải chàng đó chứ? Veltchaninov vừa cười vừa hỏi.
— Dĩ nhiên là không phải, không phải chàng đâu. Tại sao, ngay cả ông mà cũng có thể nghĩ như thế ? — Nadia cười và đỏ mặt. — Đó là bạn của anh ta. Nhưng tại sao ảnh lại chọn loại bạn như thế? Tôi không hiểu nổi; mọi người đều nói hắn là một người có tương lai xán lạn, nhưng mà tôi, tôi không hiểu nỗi hắn... ông Aléxéi Ivanovitch này, tôi không có ai để nhờ cậy nữa cả. Vậy một lời cuối cùng: ông có trả giùm tôi chiếc vòng không?
— Vậy thì vâng, cô hãy đưa cho tôi.
— Ồ! Ông tử tế quá; ông tốt quá ! cô ta nói với vẻ hớn hở khi trao ông chiếc hộp. Để đền đáp công ơn, tối nay, tôi sẽ hát cho riêng ông nghe, vì ông nên biết là tôi hát khá lắm đấy nhé; lúc nãy tôi bảo tôi không thích âm nhạc là tôi nói dối đó. À ! Tôi sẽ sung sướng biết bao nếu ông có thể trở lại đây một lần nữa, một lần ngắn ngủi cũng được. Tôi sẽ kể ông nghe tất cả, tất cả mọi chuyện, và còn nhiều chuyện khác nữa vì ông tốt quá, quá tốt như chị Katia.
Thật thế, khi mọi người trở vào nhà để dùng trà, cô ta hát cho ông nghe hai bản tình ca với một giọng chưa điêu luyện lắm, nhưng khá dễ thương và vững chắc. Họ đã thấy Pavel Pavlovitch ngồi bệ vệ bên cạnh hai ông bà Zakhlébinine quanh chiếc bàn trà, trên bàn ấm nước bằng bạc lớn đang sôi và người ta đã sắp sẵn một bộ ấm tách bằng sứ Sèvres. Pavel Pavlovitch có lẽ đang bàn tính chuyện gì quan trọng lắm với hai ông bà, vì ngày kia ông sẽ đi xa gần chín tháng. Ông làm như không để ý gì đến đám trẻ vừa từ ngoài vườn bước vào, đặc biệt là đối với Veltchaninov; cho đến lúc đó ông vẫn chưa lên tiếng phàn nàn điều gì, và mọi việc đều êm thắm.
Nhưng khi Nadia sắp sửa hát, ông có mặt ngay.
Nadia giã vờ không trả lời một câu ông hỏi thẳng cô ta, nhưng ông vẫn không tỏ vẻ gì bối rối cả. Ông ngồi sau ghế của cô ta và với thái độ đó, ông tỏ cho mọi người biết rằng đó là chỗ của ông và ông không nhường cho một ai.
— Đến lượt Aléxéi Ivanovitch hát. Má, Aléxéi Ivanovitch muốn hát ! Các cô la lên và xúm quanh cây dương cầm, nơi Veltchaninov, rất tự tin, đang ngồi và đang sửa soạn tự đệm đàn.— Hai ông bà cùng với Katérina Fédosséievna vừa pha trà xong từ phòng ăn bước sang phòng khách.
Veltchaninov chọn một bản tình ca của Glinka, một bài hát mà bây giờ hầu như đã chìm vào quên lãng.  
Em hé môi, giờ hân hoan đã đến,
Và dịu dàng em thỏ thẻ bên tôi...
Ông hát những lời đó như riêng gởi cho Nadia, lúc đó đang đứng cạnh ông. Đã lâu lắm rồi, hầu như ông không còn giọng, nhưng người ta cũng đoán được là xưa kia có lẽ giọng ông tốt lắm. Cách đây khoảng hai mươi năm, lúc còn là một sinh viên, lần đầu tiên ông được nghe chính Glinka trình bày tình khúc nói trên trong một đêm văn nghệ được tổ chức tại nhà người bạn của nhạc sĩ. Đang cơn hứng, trong đêm đó, Glinka đàn và hát những sáng tác ông ưa thích và, trong những sáng tác đó của ông, có bản tình ca kia. Chính lúc đó Glinka cũng không có giọng, nhưng Veltchaninov vẫn giữ mãi cái ấn tượng sâu xa mà bản nhạc kia đã lưu lại : chưa có một nghệ sĩ lành nghề hay một ca sĩ thính phòng nào đạt nổi độ diễn tả nồng nhiệt như thế. Sự say mê lớn dần theo từng câu hát, và chính vì trạng thá ngày càng căng thẳng đó mà chỉ cần trình bày lố một chút, diễn tả nhạc thể sai một chút, những điều được mọi người bỏ qua trong một vỡ nhạc kịch, là bản nhạc mất hẳn ý nghĩa và tầm giá trị của nó cũng kém bớt đi, đã đòi hỏi một nguồn cảm hứng chân thành, một sự đam mê sống động, hay ít ra là một sự tái tạo đầy thi vị nếu muốn cho nhạc phẩm được trình bày đứng đắn. Nói một cách khác, bản tình ca đó hình như chỉ là một bài ca tầm thường, khó có thể diễn tả mối đam mê nồng nhiệt này với một cường độ nào đó mà không gây ra sự nhàm chán, nếu không xen vào việc trình bày sự thành thực, sự giản dị và sự chân chất. Veltchaninov nhớ lại xưa kia ông trình bày bản nhạc đó rất thành công.Ông diễn tả gần giống như lối trình diễn của Glinka. Cho nên lần này, ngay trong những âm thanh mở đầu, ngay trong câu thơ đầu tiên, nhạc hứng đã sôi sục trong huyết quản và khiến giọng ca ông rung động. Từ mỗi chữ, những tình cảm được diễn tả với nhiệt tình, được bóc trần một cách táo tợn; những câu thơ cuối vang lên như những tiếng kèn của đam mê, và, khi hát, đôi mắt long lanh của ông đã nhìn đắm đuối Nadia:
Tôi kề môi, tai nào lắng tiếng em,
Không ngại ngùng, nhìn sâu đôi mắt biếc, Tôi muốn hôn, muốn quá nụ hôn mềm...
Nadia rùng mình vì sợ, và cô ta khẽ thụt lùi; máu dồn lên má, và, ngay lúc đó, Veltchaninov thoáng thấy trên khuôn mặt thẹn thùng và lo sự đó một vẻ gì biểu lộ sự tán đồng. Tất cả thính giả đều như bị mê hoặc, nhưng đồng thời có vẻ ngượng ngùng; đối với họ, hình như hát như thế là không nên, là đáng xấu hổ; nhưng dù vậy, những khuôn mặt trẻ đỏ au vì thẹn, những cặp mắt rực sáng đó vẫn như chờ đợi ông tiếp tục hát nữa. Veltchaninov nhận thấy đặc biệt là khuôn mặt của Katérina Fédosséievna hầu như trở nên đẹp đẽ.
— Hì, hì; đó mới thật là một bài ca ái tình!
Ông Zakhlébinine lẩm bẩm, hơi bối rối. Nhưng mà, phải chăng có phần nào táo bạo ? ... Rất hay... nhưng táo bạo...
— Vâng, đúng là táo bạo, bà vợ xen vào.
Nhưng Pavel Pavlovitch không để cho ông hát dứt câu; như một thằng điên, ông nhào đến và quên cả giữ gìn, đến độ gần nắm cả tay Nadia và hung dữ kéo cô này ra xa Veltchaninov; mắt nẩy lửa, môi run run, ông gằn giọng nói:
— Tôi có chuyện muốn nói với anh.
Veltchaninov nhận thấy, với tình trạng của Pavel Pavlovitch lúc đó, ông này có thể làm bất cứ chuyện điên rồ nào; nên ông vội nắm lấy tay và, không để ý đến sự ngạc nhiên của toàn thể mọi người, ông dẫn Pavel Pavlovitch ra hiên và sóng bước với ông ấy ngoài khu vườn đã gần như tối hẳn.
— Anh có biết là ngay bây giờ, anh phải rời ngay nhà này với tôi không? Pavel Pavlovitch nói.
— Không, tôi không biết.
— Anh còn nhớ không, Pavel Pavlovitch tiếp tục với một giọng hăng hái nhưng nghẹn ngào, anh có nhớ là đã có lần anh yêu cầu tôi, một ngày nào đó, nói cho anh nghe tất cả, vâng, tất cả, một cách thành thật, và chắc anh cũng còn nhớ, anh lại yêu cầu tôi nói một ‘‘lời cuối cùng’’... đó chứ? Vậy thì, đây là dịp để nói lên lời đó... Đi nào !
Veltchaninov ngẩm nghĩ, ông nhìn Pavel Pavlovitch một lần nữa rồi bằng lòng ra về.
Việc thông báo đột ngột về sự cáo từ của hai người đã làm cho ông bà ngạc nhiên và mấy cô tức giận.
— Ít nữa cũng dùng thêm một tách trà nữa đã...bà Zakhlébinine cố mời với giọng rầu rĩ.
— Chuyện gì mà anh có vẻ dao động thế? Ông Zakhlébinine hỏi Pavel Pavlovitch với một giọng bất bình và nghiêm nghị, ông này ráng cười và im tiếng.
— Pavel Pavlovitch nè, vậy thì ông dẫn Aléxéi Ivanovitch đến làm gì? Các cô vừa than van vừa thở dài và tất cả nhìn lão ta với đôi mắt giận dữ. Về phần Nadia thì cô ta ném một cái nhìn nẩy lửa đến đỗi khiến lão ngượng nghịu; nhưng lão vẫn không chịu nhượng bộ.
— Pavel Pavlovitch vừa nhắc một chuyện rất quan trọng mà tôi đã quên khuấy, Veltchaninov nói khi siết chặt tay chủ nhà và khi từ giã bà Zakhlébinine và các cô gái; ông đặc biệt nghiêng mình trước Katérina, và hành động này được mọi người để ý.
— Cám ơn ông đã đến viếng thăm, và chúng tôi, tất cả chúng tôi, sẽ rất sung sướng được gặp lại ông, Zakhlebinine kết luận bằng một giọng quả quyết.
— Ồ ! Chúng tôi sẽ sung sướng lắm!... Bà cụ nồng nhiệt nói thêm vào.
— Trở lại nhé, Aléxéi Ivanovitch, trở lại nhé! từ bao lơn, các cô la lớn lên, trong khi ông vừa an tọa trong xe bên cạnh Pavel Pavlovitch. — Ông nghe chừng như có một giọng trầm hơn những giọng khác: ‘‘Trở lại nhé, Aléxéi Ivanovitch thân mến, rất thân mến!
 ‘‘Đó là giọng con bé tóc hung’’, ông nhủ thầm.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 10.07.2023 22:59:15 bởi Ct.Ly>
XIII
CÁN CÂN NGHIÊNG VỀ PHÍA NÀO ?

 
CÓ lẽ ông còn nghĩ đến cô bé tóc hung, nhưng ông, ông bất bình với chính mình, và sự hối hận đã dày vò tâm trí ông. Vả lại, suốt trong ngày hôm đó, một ngày qua rất êm đẹp, vui vẻ, nỗi buồn vẫn không rời ông, và trước khi bắt đầu hát, ông không biết làm thế nào để thoát khỏi. Có lẽ đó là lý do chính khiến ông trình bày bản tình ca kia với tất cả niềm say mê.
‘‘ Vì sao mình lại có thể tự hạ mình đến mức đó... và quên hết mọi chuyện !’’ ông chua chát nghĩ; nhưng ông vội vàng nghĩ sang chuyện khác.
Đối với ông, hình như than van là một chuyện nhục; dễ chịu nhất là trút gấp sự bực tức cho một người nào đó.  
‘‘ Đồ ngu!’’  ông giận dữ sỉ vã, vừa nhìn xéo về phía Pavel Pavlovitch đang im lặng ngồi bên cạnh.
Pavel Pavlovitch vẫn im lặng một cách gan lì; có lẽ ông ta đang sửa soạn và đang kiểm điểm ý tưởng. Với dáng điệu nóng nảy, thỉnh thoảng ông trật mũ ra và dùng khăn tay lau trán.
 ‘‘Nó xuất hạn mồ hôi đây !’’ , Veltchaninov tự nhủ với vẻ tức giận.
Pavel Pavlovitch chỉ mở miệng có một lần mà thôi, nhưng là để hỏi thăm bác xà ích có giông hay không.
—       Hừ ! Sao lại thế được ! Chắc chắn là có chứ. Trời hôm nay nóng nực quá mà ! — Thật thế, trời đã trở nên âm u. Phía chân trời, chớp sáng vằn vèo. Họ đến tỉnh vào lúc mười một giờ.
     — Tôi ghé anh, Pavel Pavolvitch vồn vã nói khi họ đến gần nhà Veltchaninov.
— Tôi biết rồi, nhưng tôi báo trước là tôi cảm thấy trong người không được khỏe lắm đấy nhé.
— Ồ ! Tôi ghé không lâu đâu.
Khi họ bước vào cổng, Pavel Pavlovitch tạt vội vào nhà gác dan, nhà bà Mavra.
     — Anh vào đó làm gì thế? Veltchaninov hỏi với một giọng nghiêm khắc khi ông kia bước ra; và họ cùng vào nhà.
— Không có gì cả... đó là... về chiếc xe thuê đó mà.
— Tôi không để anh nhậu nữa đâu nhé.
Ông không nghe câu trả lời. Veltchaninov thắp nến lên, và Pavel Pavlovitch ngồi ngay vào ghế bành. Veltchaninov đứng sửng trước mặt ông ta, vẻ trầm mặc.
— Riêng tôi, tôi cũng đã có hứa sẽ nói lời ‘‘cuối cùng’’ với anh, ông nhập đề với sự tức giận còn sót lại. Đây nè: tôi thành thật tin là tất cả những thắc mắc đều đã được giải quyết một cách dứt khoát giữa chúng ta và chúng ta chẳng còn gì để nói cho nhau nghe nữa. Anh nghe chứ? Không có gì cả ! Cho nên, chuyện tốt nhứt phải chăng là anh đi ngay bây giờ và tôi, tôi đóng chặt cửa lại?
— Hãy thanh toán những món nợ, anh Aléxéi Ivanovitch ạ; cuối cùng, Pavel Pavlovitch lên tiếng và vừa nhìn thẳng vào mắt với một sự dịu dàng đặc biệt.
— Thanh toán những món nợ? Veltchaninov rất ngạc nhiên. Anh dùng danh từ gì mà lạ thế! Mà những món nợ nào? Phải chăng đó là lời  ‘‘cuối cùng’’ mà lúc nãy anh hứa nói?
— Đúng như vậy.
— Chúng ta không còn món nợ nào để thanh toán cả; chuyện thanh toán này đã xong xuôi từ lâu rồi, Veltchaninov nói với niềm kiêu hãnh.
— Thật sao, anh tin như thế sao? Pavel Pavlovitch hỏi với một giọng đầy tin tưởng và ông chắp tay lại trước ngực trong một dáng điệu kỳ quái.— Vetchaninov không trả lời và bắt đầu dạo loanh quanh. ‘‘Lisa?’’, tim ông đau nhói.  
— Anh muốn tôi trả nợ bằng cách nào khác ? Ông nói sau một khoảng dài im lặng.—Lão kia vẫn không ngừng đưa mắt theo dõi, hai tay vẫn luôn luôn chắp lại.
— Anh đừng tới đằng nhà đó nữa, Pavel Pavlovitch thì thầm, giọng van vỉ, và đột nhiên lão ta đứng đậy.
— Sao ? Chỉ có thế thôi à ? — Veltchaninov cười tàn nhẫn. — Hôm nay, anh làm tôi ngạc nhiên nhiều lắm, ông nói, giọng khinh miệt.— Nhưng bỗng nhiên nét mặt ông thay đổi.— Anh nghe đây, ông buồn bã nói với một tình cảm sâu xa, tôi tin rằng chưa bao giờ, và chưa hề có khi nào mà tôi lại đỗ đốn như hôm nay: trước hết là chịu đi cùng anh, tiếp đến là xử sự như thế... Thật là quá đê tiện, rất đáng khinh. Tôi đã tự bôi nhọ, đã tự hạ mình khi nhận lời..., và tôi đã quên... Nhưng mà, này ! Ông chợt trấn tĩnh. — Nghe đây ! Hôm nay, anh đã bắt chợp được tôi, tôi đã giận dữ, bệnh hoạn... Vả lại, tôi biện bạch làm gì! Tôi sẽ không đến đằng ấy nữa và tôi đoan chắc với anh là không có gì lôi cuốn tôi đến đó nổi, ông quả quyết kết luận.
— Thật chứ? thật chứ? Pavel Pavlovitch, không giấu được nỗi mừng vui, la lên. Veltchaninov ngắm nghía lão ta với vẻ khinh bỉ và lại tiếp tục tản bước,
— Hình như anh nhất quyết muốn được hạnh phúc với bất cứ giá nào ?— Cuối cùng, ông không thế nào không nhận xét như thế.
— Phải, Pavel Pavlovitch xác nhận một cách ngây ngô với một giọng dịu dàng.
‘‘Can hệ gì đến mình khi chung quy nó chỉ là mặt thằng hề và tính hung ác của nó cũng chỉ là việc làm vô ý thức? Veltchaninov ngẩm nghĩ. Mình không thể ngăn cản sự thù ghét dù nó không xứng cho mình oán ghét.’’
— Tôi là một ‘‘người chồng muôn thuở’’, Pavel Pavlovitch nói với nụ cười khiêm nhường và cam chịu. Từ lâu, tôi đã học được của anh thành ngữ đó, Aléxéi Ivanovitch ạ, khi anh còn hay lui tới với chúng tôi. Trong năm đó, tôi đã lãnh hội được rất nhiều những danh từ của anh. Trong lần trước, ngay khi anh bảo tại chỗ này nè, danh từ: ‘‘Người chồng muôn thuở’’, là tôi hiểu ngay.
Mavra bước vào, mang theo một chai sâm- banh và hai cái cốc.
— Anh thứ lỗi cho, Aléxéi Ivanovitch, anh quá biết là tôi không thể nào nhịn nổi rượu. Anh đừng xem đây là một chuyện làm xấc xược của tôi và xin anh cứ xem tôi như là người xa lạ, một người hoàn toàn không xứng đáng với anh.
— Thôi được rồi, Veltchaninov ra lệnh với sự nhờm chán. Nhưng tôi nhắc lại anh, đoan chắc với anh là tôi không được khỏe trong người đó.
— Vâng, ngay bây giờ, ngay bây giờ, Paveh Pavlovitch vội vã nói. Chỉ một ly nhỏ thôi vì cổ họng tôi...
Ông ta nốc một hơi cạn ly, vẻ thèm khát rồi lấy lại bình tĩnh, ông nhìn Veltchaninov một cách trìu mến. Mavra ra khỏi phòng.
— Đê tiện thật ! Veitchaninov lẩm bẩm.
— Đó là lỗi của mấy cô bạn ! Vả lại, nàng còn quá trẻ, còn quá điệu !... Họ vui đùa, nghịch ngợm. Khả ải đó chứ. Và anh hiểu cho, ở đàng ấy, tôi sẽ là tên nô lệ của nàng; nàng sẽ thấy là xã hội thượng lưu săn sóc, nể vì nàng... rồi nàng sẽ thay đổi hoàn toàn.
 ‘‘Mình phải trả chiếc vòng lại cho hắn’’ , Veltchaninov ngẩm nghĩ khi nắm chiếc hộp trong túi.
— Hồi nãy, anh có nói là tôi nhất quyết muốn được hạnh phúc. Tôi phải tục huyền, anh ạ, Pavel Pavlovitch nói tiếp với một giọng tâm sự gần như cảm động. Vì nếu không như thế, chuyện gì sẽ xảy đến cho tôi? Chính anh, anh đã thấy đó! Ông ta chỉ vào chai rượu. — Và đó chỉ là tật xấu nhỏ nhất của tôi mà thôi. Tôi không thế nào sống được nếu tôi không tục huyền, nếu tôi không tìm lại được niềm tin trước kia; nếu tôi có lòng tin, tôi sẽ hồi sinh.
— Nhưng tại sao anh kể nghe tôi những chuyện đó?— Veltchaninov gần bật cười. Đối với ông, tất cả chuyện đó có vẻ hoàn toàn ngớ ngẩn.— Anh hãy giải thich tôi rõ vì sao anh dẫn tôi đến đằng nhà đó? Anh cần tôi chuyện gì?
— Để tôi có dịp hiểu rõ thêm.
Pavel Pavlovitch bỗng nhiên có vẻ ngượng ngùng.
— Hiểu rõ thêm việc gì?
— Về kết quả... Aléxéi Ivanovitch, anh biết đó chứ: một tuần nay, tôi đã thử... ở đằng ấy... (lão ta càng lúc càng trở nên ngượng ngập). Hôm qua tôi gặp anh và tôi tự nhủ: ‘‘Mình chưa bao giờ thấy nàng ta giữa những người xa lạ, với những người khác mình.’’  Bây giờ tôi mới cảm thấy đó là một ý tưởng điên rồ và vô ích. Nhưng sự cám dỗ quá mạnh mẽ. Đó là tánh xấu của tôi.
 Ông ta ngửng đầu lên, thẹn thùng.
 ‘‘Có thật nó nói hết sự thật không ?’’  Veltchaninov tự hỏi, dáng kinh ngạc.
— Rồi thì sao...? ông hỏi.
Pavel Pavlovitch cười với sự hài lòng quỷ quyệt.
— Chỉ là những trò trẻ con đáng mến. Vả lại đó là lỗi của mấy cô bạn, Aléxéi Ivanovitch ạ. Anh thứ lỗi cho cách cư xử không phải của tôi hôm nay. Tôi sẽ không làm như thế nữa đâu. Chuyện đó sẽ không bao giờ xảy ra.
— Nhưng mà tôi, tôi sẽ không đến đó nữa mà, Veltchaninov vừa mỉm cười vừa nói.
— Tôi tin anh.
Veltchaninov cảm thấy bực tức.
— Nhưng mà tôi không phải là con người, độc nhất trên cõi đời này, ông bực bội nhận xét.
Pavel Pavlovitch, lại đỏ mặt.
— Thật là khổ tâm khi nghe anh nói thế, Aléxéi Ivanovitch ạ ; anh tin tôi đi, tôi quá kính mến Nadièjda Fédosséievna.
— Anh thứ lỗi cho, tôi không bao giờ có ý thế, tuy nhiên, trong khi đánh giá quá cao những phương tiện hành động của tôi, anh lại đã...hoàn toàn...tin cậy tôi.
— Chính là chuyện đã qua đã khiến tôi tin cậy anh...sau tất cả những gì đã xảy ra...
— Anh vẫn còn xem tôi là một người hoàn toàn đáng trọng chứ?
Veltchaninov chợt dừng lại. Trong lúc khác, câu hỏi ngây ngô đó có lẽ đã làm cho chính ông kinh ngạc.
— Tôi vẫn luôn luôn xem anh như thế, Pavel Pavlovitch nhìn xuống đất.
— Vâng, vâng, dĩ nhiên là thế rồi... không phải chuyện đó, không phải Iheo nghĩa đó... Tôi nói là, cho đến cả những... thành kiến đã có...
— Vâng, dù cho đến cả những thành kiến đã có...
— Cả khi anh đã đến Pétersbourg? Veltchaninov không ngăn nổi câu hỏi, dù ông nhận thấy sự tò mò thật là quái đản.
— Khi tôi đi Pétersbourg, tôi cũng vẫn còn xem anh như là một người lương thiện. Này Aléxéi Ivanovitch, tôi luôn luôn quý trọng anh.
Pavel Pavlovitch ngước mắt lên nhìn thẳng địch thủ, không một chút bối rối. Đột nhiên, Veltchaninov cũng thấy sợ hãi; ông tuyệt nhiên không muốn gây tai tiếng và cũng không muốn sự việc vượt quá một giới hạn nào đó, nhất là do lỗi của mình.
— Tôi rất mến anh, Aléxéi Inovitch ạ, Pavel Pavlovitch lên tiếng như đột nhiên ông có một quyết định. Suốt một năm trời ở T..., tôi rất có cảm tình với anh. Anh không nhận thấy đó thôi, lão nói với một giọng run run, nói trong sự kinh hãi của Veltchaninov. So với anh, tôi chẳng đáng cho anh phải để ý đến cảm tình đó. Vả lại, như thế có lẽ lại là hay. Và suốt trong chín năm trời dài đằng đẳng, tôi luôn luôn nhớ đến anh bởi vì không có năm nào có thể sánh được với năm đó (đôi mắt của Pavel Pavlovitch sáng lên một cách dị thường). Và tôi đã học được vô số những thành ngữ, những ý tưởng của anh. Tôi luôn luôn nhớ đến anh như nhớ đến một người hăng say và có những tình cảm tốt, học rộng, rất là uyên bác và, có những tư tưởng như: ‘‘Những ý tưởng cao xa là kết quả của một tâm hồn cao thượng hơn là của một trí thông minh siêu việt’’. Chính anh, anh đã nói ra câu đó, nhưng có lẽ anh không còn nhớ đến, trong khi tôi, tôi lại thuộc lòng. Tôi luôn luôn nhận thấy anh là một người cao thượng. Vì vậy tôi trông cậy vào anh và tin tưởng vào anh... dù cho...
Bỗng nhiên cằm lão khẽ rung lên. Veltchaninov kinh hoảng; ông phải cắt đứt ngay giọng điệu bất ngờ này.
— Thôi, tôi xin anh, Pavel Pavlovitch ạ, ông nói lúng búng, mặt ửng hồng, vẻ khó chịu và nôn nóng. Nhưng mà tại sao, đột nhiên ông la lớn, tại sao anh lại đeo đuổi theo một người bệnh hoạn, hay nổi giận, gần như là điên, và tại sao anh lại kéo nó xuống vực thẳm... trong khi... trong khi tất cả những chuyện ấy chỉ là chuyện ‘‘ma’’, là ảo ảnh, là những lời nói dối đáng phi nhổ, và hơn nữa, chuyện đó hoàn toàn không có chừng mực ; vâng, đó là điều chính, đó là điều khó chịu nhất: sự thiếu chừng mực. Tất cả điều đó có vẻ lố bịch; hai đứa chúng ta đều là những người phóng đãng đê tiện, loại người mưu mô xảo quyệt. Và anh có muốn, có muốn tôi dẫn chứng ngay bây giờ là không những anh không mến thương tôi, mà anh còn ghét cay ghét đắng tôi và anh đã nói dối mà không hay? Anh đã lôi kéo tôi, đã dẫn tôi đến đó, chẳng hề phải với mục đích lố lăng là để thử lòng vị hôn thê của anh (ý kiến đần độn) ; nhưng mà hôm qua khi thấy tôi, cơn giận đã lôi cuốn anh, giản dị như thế đó, và anh đã dẫn tôi đến để cho tôi thấy vợ chưa cưới của anh và để có thể nói với tôi : ‘‘Mày có thấy nàng không ! Nàng sẽ là của tao! Đó, thử tán xem nào !’’ Anh đã thách thức tôi. Có lẽ anh không nhận thấy thế, nhưng sự việc nó như thế. Phải thù ghét thì mới thách thức kiểu đó, vậy anh đã thù ghét tôi.
Ông rão bước quanh phòng vừa thốt những lời trên với một giọng hổn hển, ông cảm thấy nhục nhã, bị lương tâm dày vò vì mình đã đốn mạt ngang hàng với Pavel Pavlovitch.
— Anh Aléxéi Ivanovitch này, tôi muốn giảng hòa với anh. Lão chợt nói với một giọng trầm trầm vội vã và cằm lão lại một lần nữa run run.
Một sự tức giận điên cuồng xâm chiến tâm hồn Veltchaninov, hình như và chưa hề bao giờ ông bị ai sỉ nhục đến như thế.
— Tôi nhắc lại anh hay một lần nữa là anh đang theo đuổi một người bệnh hoạn, dễ giận..., ông hét lớn. Anh theo đuổi nó để mong nó nói một lời mà anh đã hoài công trông chờ ! Nhưng mà chúng ta... phải, chúng ta thuộc hai thế giới khác hẳn nhau... anh nên hiểu như thế... Và rồi thì... lại còn có cả một nấm mộ ngăn cách chúng ta..., ông nói với một giọng phẫn uất; và bỗng nhiên ông tỉnh lại.
— Nhưng mà làm sao anh có thể hiểu được... (khuôn mặt của Pavel Pavlovitch chợt tái xanh vì nhăn nhó), làm sao anh có thể hiểu được cái nấm mộ đó như thế nào đối với tôi... ở chỗ này không? Ông hét lên vừa xấn tới phía Veltchaninov; và với một dáng điệu kỳ cục nhưng hung bạo, ông đấm vào ngực mình. Tôi biết nó là gì, cái nấm mộ nhỏ bé đó; nó ở đây nè, giữa hai chúng ta, và anh và tôi, chúng ta đứng mỗi người mỗi bên. Nhưng mà bên phía tôi thì nhiều hơn...nhiều hơn...nhiều hơn..., ông lắp bắp như người nói sảng và vẫn tiếp tục đấm vào ngực,...nhiều hơn... nhiều hơn...
Đột nhiên, một tiếng chuông inh ỏi thức tỉnh họ. Người nào đó kéo chuông như muốn đứt luôn giây.
— Không có ai quen mà lại kéo chuông như thế ở nhà tôi cả, Veltchaninov rất bối rối.
— Đằng tôi cũng không ai làm như thế cả, Pavel Pavlovitch ấp úng một cách rụt rè. Ông tỉnh trí ngay và trở lại là ông Pavel Pavlovìtch lúc nãy. Veltchaninov dáng bất bình, đi ra mở cửa.
— Nếu tôi không lầm thì ông là ông Veltchaninov? một giọng trẻ, khỏe và dạn dĩ cất lên trong căn buồng xép.
—  Ông muốn gì ?
— Tôi biết một cách chắc chắn là cái ông Troussotzky u đó hiện có mặt tại đây, cái giọng quả quyết và vang dội đó tiếp tục. Tôi cần phải gặp cái ông đó.
 Hẳn nhiên Veltchaninov chỉ thích tống cho cái tên đầy tự tin đó một đạp rớt xuống cầu thang, nhưng rồi ông ngẩm nghĩ trong giây lát, tránh sang một bên và nhường chỗ cho ông khách bước vào.
—  Ông Troussotzky có đây, mời vào.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 11.07.2023 11:08:17 bởi Thanh Vân>
XIV
SACHENKA VÀ NADENKA (1)
 
 
ĐÓ là một gã thanh niên trẻ măng khoảng mười chín tuổi, hay ít hơn là đằng khác, vì khuôn mặt đẹp kiêu hãnh và tự tin của gã có vẻ trẻ con biết chừng nào. Gã biết cách ăn mặc, hay dù sao đi nữa, quần áo của gã cũng rất vừa vặn; tầm vóc trên trung bình chút đỉnh; tóc đen và rậm phủ lòa xòa, mắt u ẩn và gan lì đã tạo cho khuôn mặt đó một vẻ đặc biệt. Mũi gã hơi rộng và hếch ; nếu đừng có cái mũi ấy, rõ ràng gã là một thanh niên đẹp trai. Gã bước vào, vẻ quan trọng.
— Tôi thiển nghĩ đây là một dịp tốt tôi được thưa chuyện với ông Troussotzkv, gã gằn từng chữ và nhấn mạnh chữ  ‘‘dịp’’ với một vẻ thích thú đặc biệt, chứng tỏ rằng chẳng danh dự gì, chẳng thú vị gì cho gã khi phải đối thoại với cái ông Troussotzky đó.
Veltchaninov bắt đầu hiểu. Pavel Pavlovitch  thì hình như cũng linh cảm một điều gì. Một vẻ e ngại phảng phất trên khuôn mặt; nhưng ông vẫn cố gắng kềm giữ.
— Tôi không được hân hạnh, lão trả lời với một dáng điệu đứng đắn. Theo tôi nghĩ thì cậu và tôi không hề có một liên hệ nào cả.
— Hãy nghe tôi nói đã rồi sau ông hẵng cho biết ý kiến, gã nói với một giọng cả quyết và nghiêm trang. — Gã đeo cặp kính gọng đồi mồi, cột bằng một sợi chỉ tơ và chăm chú quan sát chai sâm- banh trên bàn. Cuộc khám nghiệm xong xuôi, gã bình tĩnh gấp kính lại và hướng về Pavel Pavlovitch mà nói:
— Alexandre Lobov.
— Alexandre Lobov là cái gì vậy ?
— Đó là tên tôi. ông không biết tôi sao?
— Không.
— Vả lại làm sao ông biết được tôi đã chứ? Tôi đến đây vì một chuyện quan trọng có liên quan đến ông. Nhưng ông cho phép tôi ngồi đã, tôi mệt nhoài...
— Mời ông ngồi, Veltchaninov nói; nhưng gã trai trẻ đó đã ngồi xuống trước khi có lời mời.
Dù lồng ngực càng lúc càng đau ran, Veltchaninov vẫn cảm thấy bị thu hút khá nhiều bởi chàng trai trẻ khinh mạn kia. Hình như ông nhận ra giữa khuôn mặt hồng hào đẹp đẽ và trẻ thơ đó với khuôn mặt của Nadia có phần phảng phất giống nhau.
 — Mời ông ngồi luôn thể ! Gã nói với Pavel Pavlovitch, vừa hờ hững hất đầu về phía chiếc ghế đối diện.
— Được rồi, tôi đứng.
— Ông sẽ mệt. Còn ông, ông Veltchaninov, theo tôi nghĩ, ông có thể ngồi lại.
— Tôi không có lý do gì để đi ra ngoài cả, đây là nhà tôi.
— Vâng, tùy ông. Thú thật với ông là chính tôi, tôi mong muốn ông dự thính buổi nói chuyện này. Nadia Fédosséievna có nói với tôi về ông với những lời khen ngợi nồng nhiệt nhất.
— Thật vậy sao? Làm sao cô ta có đủ thời giờ?
— Ngay sau khi ông đi. Cả tôi nữa, tôi cũng vừa từ đằng ấy đến đây, sự việc như thế này. Ông Troussotzky,— gã quay về phía Pavel Pavlovitch vẫn đang đứng sửng— Nadia Fédosséievna và tôi đã yêu nhau từ lâu và chúng tôi đã giao ước cùng nhau rồi. Ông đã sẵn sàng nghe theo tôi chứ? Gã thong thả nói, giọng rít lên giữa kẻ răng.
Pavel Pavlovitch gần muốn xỉu; lão tái người, nhưng một nụ cười hiếm ác xuất hiện trên đôi môi.
— Không, tuyệt nhiên là không ! Ông ta trả lời một cách rành rẽ.
— Này ông..., gã trai trẻ vừa nói, vừa chểm chệ trong ghế và tréo chân lại.
— Tôi không biết là tôi đang được tiếp chuyện với ai đây, Pavel Pavlovitch nói thêm, và tôi thiết nghĩ chúng ta chẳng có gì để nói chuyện với nhau hết.
Sau khi nói xong, ông cũng nhận thấy ngồi xuống ghế là tốt nhất.
— Tôi đã báo trước là ông sẽ mệt kia mà, gã trai trẻ nhận xét một cách hững hờ. Tôi đã có dịp thưa với ông tôi tên Lobov, và Nadia Fédosséievna với tôi, chúng tôi đã hứa hôn. Vậy thì, ông cũng không thể nào nghĩ ông như vừa bảo là chúng ta chả có gì để nói với nhau; việc này không chỉ dính dáng đến mình tôi, mà còn liên hệ đến cả Nadia Fédosséievna, người con gái mà ông đã lì lợm theo đuổi. Chỉ chuyện đó không thôi cũng đủ là đề tài cho chúng ta trò chuyện rồi.
Gã nói lua lua, không hở môi, với một giọng xấc xược ; gã lại lấy kính ra và vừa nói vừa ra vẻ quan sát một cái gì.
— Khoan đã, ông bạn trẻ ! Pavel Pavlovitch, vẻ bực tức, thử ngắt lời. Nhưng, ‘‘ông bạn trẻ’’ chận lại ngay.
— Lúc khác, có lẽ tôi đã cấm ông gọi tôi là  ‘‘ông bạn trẻ’’. Nhưng hiện giờ chúng ta có thể thỏa thuận điểm này: chính cái tuổi trẻ đó là điều tôi hơn ông; và thí dụ như ngay cả hôm nay đây khi tặng chiếc vòng có lẽ ông cũng đã muốn được hơn đôi chút.
‘‘Ồ !Ồ ! Thằng ác khẩu !’’, Veltchaninov lẩm bẩm.
— Này cậu, dù sao chăng nữa, Pavel Pavlovitch quật lại với vẻ trang nghiêm, tôi không hề xem những lý do cậu đưa ra, những lý do đáng nghi ngờ và không thích đáng, đủ để cho chúng ta có thể tiếp tục đối thoại. Tôi chỉ thấy tất cả việc đó chỉ là chuyện trẻ con, không có gì quan trọng cả. Ngay ngày mai, tôi sẽ trình việc này lại cho Ngài Fédosséi Simionovitch hay, còn bây giờ, mong cậu để cho tôi yên.
— Ông xem đó! Gã thanh niên, không còn giữ nỗi giọng lơ là nữa, hướng về phía Veltchaninov mà la lớn. Bị đằng ấy tống khứ bằng những lời chế giễu cũng vẫn chưa đủ cho ông ta. Ông ta lại còn muốn mách mọi việc cho người cha biết nữa kia! Phải chăng ông, con người ngoan cố, muốn chứng tỏ là ông dùng quyền lực để cưỡng đoạt cô bé, là đã trao tiền bạc cho cha mẹ cô ta, những người đã trở nên lẩm cẩm mà sự man rợ của xã hội vẫn còn cho nắm giữ quyền binh, để mua đứt cô ấy? Cô ta khinh bỉ ông đến như thế chưa đủ sao? Không phải là cô ta đã trả lại ông cái món quà không thích đáng, cái vòng của ông đó sao ? Còn cần phải thêm cho ông những gì nữa ?
— Không ai hoàn lại tôi chiếc vòng cả, vả lại việc đó cũng không thể nào có được. — Pavel Pavlovitch rùng mình.
— Ông nói là việc đó không thể nào có được à? Ông Veltchaninov há chưa đưa cho ông chiếc vòng đó sao?
‘‘Ma bắt nó đi!’’ Veltchaninov ngẩm nghĩ.
— Đúng thế, ông nói với vẻ bực tức, khi chiều Nadia Fédosséievna có nhờ tôi giao lại cho anh cái hộp, Pavel Pavlovitch ạ, Tôi không muốn nhận nhưng cô ta nài nỉ quá ! Tôi thật thấy lấy làm khó chịu.
Ông rút cái hộp trong túi ra, và, vô cùng bối rối, ông đặt trước mặt Pavel Pavlovitch đang sửng sốt,
— Tại sao ông lại không đưa ngay cho ông ấy? Gã thanh niên hỏi ông Veltchaninov với một giọng nghiêm khắc.
— Tôi không có thì giờ, Veltchaninov trả lời, vẻ bực tức.
— Lạ nhỉ!
— Sao ?
— Ông hãy thú nhận là ít ra cũng lạ đấy chứ. Vả lại, tôi sẵn sàng chấp nhận là có một sự hiểu lầm.
Veltchaninov hầm hầm, chỉ muốn đứng dậy béo tai thằng nhóc, nhưng rồi ông không thể nào giữ được sự nghiêm trọng và ông rộ lên cười nhạo gã ta. Gã cũng cười theo. Còn Pavel Pavlovitch thì ông ta chẳng cười. Nếu lúc đó, Veltchaninov có thể bắt chợt được cái nhìn dễ sợ của Pavel Pavlovitch đang nhìn mình thì có lẽ ông sẽ hiểu ông này đã đạt đến một độ nguy hiểm nào đó... Nhưng dù không để ý đến cái nhìn đó, Veltchaninov vẫn cảm thấy là mình cần phải ủng hộ Pavel Pavlovitch.
— Hãy nghe đây cậu Lobov, ông mở đầu với một giọng thân mật. Không đi sâu vào những lý do khác mà tôi muốn gạt sang một bên, tôi chỉ muốn cậu lưu ý đến một điều là khi đi hỏi Nadia Fédosséievna, trước hết ông Pavel Pdvlovitch có lợi điểm là người rất quen biết của gia đình khả kính đó; tiếp theo phải kể đến địa vị tốt và cuối cùng là gia sản của ông ta. Do đó tự nhiên là ông ta kinh ngạc khi gặp một kẻ tình địch như cậu có những đức tính cao quý nhứt nhưng cậu hãy còn quá trẻ để cho ông ta có thể xem cận là một địch thủ đứng đắn...Như vậy, ông ta rất có lý khi yêu cầu cậu chấm dứt câu chuyện.
— Ông hiểu sao về hai chữ ‘‘quá trẻ’’? Hơn một tháng nay, tôi đã được mười chín tuổi. Theo luật, tôi đã có thể cưới vợ từ lâu. Chỉ có thế!
— Nhưng mà có người cha nào lại chấp thuận giao con gái mình cho cậu bây giờ dù sao này cậu có thể là tỷ phú, hay trở nên một vị ân nhân nào đó của nhân loại? Một thanh niên mười chín tuổi chưa thể nào ý thức được trách nhiệm về chính những hành động của mình. Thế mà cậu lại còn muốn bảo đảm tương lai cho một người khác cũng trẻ như cậu nữa ! Cậu không nhận như thấy như thế là chẳng có chút nào lương thiện cả sao ? Nếu tôi tự cho phép nói thẳng với cậu như thế vì mới đây, chính cậu đã viện dẫn tôi ra để chống lại ông Pavel Pavlovitch.
 
— À ! phải ! Ông ta tên là Pavel Pavlovitch! Lobov nhận xét. Tại sao tôi lại cứ tưởng ông la tên Vassili Pétrovitch nhỉ? Này ông, gã tiếp tục ngỏ lời cùng Veltchaninov, những lời của ông không làm tôi ngạc nhiên chút nào hết, tôi biết là các ông đều như nhau cả! Tuy nhiên, cũng lạ thật! Người ta đã nói cho tôi biết ông là con người khá tân tiến. Vả lại tất cả việc đó cũng chẳng có gì quan trọng. Không những tôi chưa hề phạm phải một việc gì gọi là bất lương, như ông đã tự mình cho phép nói lên, mà tất cả đều trái lại như tôi cố gắng chứng minh ông rõ sau đây. Trước hết, chúng tôi đã giao ước cùng nhau và tiếp đó, trước hai nhân chứng, tôi đã hứa một cách rõ ràng là nếu có bao giờ nàng yêu một ai khác, hay nếu nàng chỉ ân hận là đã lấy tôi và muốn đoạn tuyệt với tôi thì tôi sẽ tự nhận ngay tức thì, bằng giấy tờ, tôi đã phạm tội ngoại tình và sẽ cung cấp cho nàng những lý do cần thiết để được ly dị. Nhưng không phải chỉ thế thôi. Về sau, đề phòng trường họp tôi khất lần và từ chối cấp cho nàng những giấy tờ nói trên, ngay trong ngày cưới, tôi sẽ trao cho nàng một hối phiếu là một trăm ngàn đồng rouble làm bảo đảm. Như vậy, nếu tôi bướng bỉnh và không chịu ly dị, nàng sẽ đem trình hối phiếu đó và tôi sẽ bị bắt giam. Tất cả đều được tiên liệu, vậy thì tôi không làm hỏng tương lai của ai cả ! Đó là điểm thứ nhất.
— Tôi cá là cậu kia... anh ta tên gì nào...à, Predpossylov ! chính cậu ấy đã tưởng tượng ra cái kế hoạch phi thường đó chứ gì?
— Hi... hi... hi ! Pavel Pavlovitch cười ngạo một cách độc ác.
— Cái ông đó cười chế nhạo chuyện gì thế? Ông đã đoán đúng: ý kiến là của Predpossylov; và ông hãy công nhận là khéo đặt đấy chứ. Cái luật pháp ngu đần đã hoàn toàn trở thành vô hiệu. Dĩ nhiên là tôi nhất quyết yêu nàng mãi mãi và tất cả những sự đề phòng đó đã làm cho nàng cười ngất; nhưng dù sao kế hoạch đó cũng thực là vô cùng khéo léo. Phải công nhận là rất cao thượng và không phải tay mơ nào cùng có thể nghĩ ra như thế.
— Theo ý tôi, chuyện đó không cao thượng chút nào mà còn khá hiểm ác nữa là khác.
Gã trai trẻ nhún vai.
— Tôi xin nhắc lại là ông chẳng làm tôi ngạc nhiên chút nào, hắn ta nói sau một giây im lặng ! Đã từ lâu lắm rồi, những việc đó không làm tôi ngạc nhiên nữa. Nếu gặp Predpossylov thì anh ta sẽ nói trắng cho ông rõ là việc ông không hiểu nổi những sự kiện tự nhiên nhất đó là do những tình cảm và những ý tưởng đã bị đọa lạc của ông, bị suy đồi trước hết vì cuộc sống phi lý từ lâu nay, và tiếp đến là sự ăn không ngồi rồi quá kéo dài... Vả lại, có thể là chúng ta chưa hiểu nhau: người ta đã rất tán tụng ông... Ông đã đến năm mươi rồi chứ?
— Xin cậu hãy trở lại câu chuyện.
— Ông thứ lỗi cho những lời thô lỗ của tôi và xin ông chớ giận; tôi nói thể chẳng có ý gì đâu. Tôi xin tiếp tục : Tôi chẳng hề là một triệu phú tương lai như lúc nãy ông đã tưởng tượng (ý kiến khôi hài thật !). Tôi như thế này như ông thấy đây; nhưng tôi hoàn toàn tin chắc vào tương lai tôi. Tôi sẽ không phải là ân nhân của nhân loại, nhưng tôi sẽ bảo đảm được cuộc sống của vợ tôi và của tôi. Hiện giờ, thật ra tôi chẳng có gì cả; tôi lại còn được gia đình nàng nuôi nấng cả từ thuở ấu thơ nữa...
— Sao ?
— Vâng, tôi có họ hàng xa với bà Zakhlébianne. Cha mẹ tôi qua đời khi tôi mới tám tuổi; ông cụ đã đem tôi về nuôi và sau này còn cho tôi đi học nữa. Nếu ông muốn biết rõ ông ta thì đó là một người trung hậu.
— Tôi biết.
— Vâng, nhưng trí óc ông ta thì lại đầy dẫy những ý tưởng cổ hủ. Ngoài ra, ông ta rất tốt. Đã lâu rồi, tôi không còn thuộc quyền giám hộ của ông ta nữa vì tôi muốn tự lập và tôi chỉ trông nhờ vào chính mình.
— Từ bao giờ vậy ? Veltchaninov hỏi với vẻ tọc mạch.
— Đã bốn tháng nay rồi.
— À ! Như vậy là rõ ràng rồi: những người bạn thuở nhỏ! Và hiện giờ cậu có chỗ làm chứ?
— Vâng, tôi giúp việc cho một ông chưỡng khế được hai mươi lăm rouble mỗi tháng. Chỉ là tạm bợ; nhưng khi đính ước với nàng, tôi còn chưa được như thế nữa kia. Lúc đó tôi đang làm trong ngành hành chánh của sở Hỏa Xa được mười ‘’rouble’’. Nhưng tất cả chuyện đó đều chỉ là tạm bợ.
— Cậu đã đến ngỏ lời cùng song thân của nàng?
— Vâng, cách đây đã ba tuần, một lời cầu hôn chính thức.
— Rồi sao ?
— Lúc đầu ông cụ cười ngất, tiếp đến, ông giận dữ kinh khủng và nhốt con gái lại. Nhưng Nadia rất can đảm. Vả lại, nếu tôi không thành công là vì từ lâu ông cụ đã  ‘‘chơi’’ tôi: tôi thôi làm ở sở mà trước đó bốn tháng ông đã đem tôi vào ; chỗ này còn trước chỗ Sở Hỏa Xa nữa kìa. Tôi xin nhắc lại ông ta là một ông già rất tốt, ở nhà, ông rất giản dị và vui vẻ; nhưng nếu ông có thế thấy ông ta ở bàn giấy ! Thật là khác hẳn: đúng là một ông Trời con ! Dĩ nhiên tôi làm cho ông ta hiểu rằng lề lối làm việc của ông không thích hợp với tôi. Nhưng tên chính phạm là viên phụ tá: cái lão này đã tìm được cách thưa tôi về tội  ăn nói thô bỉ; tôi đã ngay thực nói cho lão biết là lão còn rất thiếu giáo dục. Tôi đã đếch cần cả bọn và vì thế, hiện nay tôi làm cho ông chưỡng khế.
— Lúc cậu còn làm sở cũ, lương có khá không?
— Tôi chỉ là nhân viên ngoại ngạch. Ông cụ trả lương cho tôi. Tôi nhắc lại ông hay: ông cụ rất tốt. Nhưng chúng tôi sẽ không nhượng bộ! Hai mươi lăm đồng rouble quả thật là không đủ. Vì thế, tôi mong sớm được dự phần vào việc quản trị tài sản Bá Tước Zaviléisky mà tình thế khá lộn xộn, và lúc đó tôi sẽ bắt đầu với ba ngàn đồng rouble: nếu không, tôi trở thành luật sư. Hiện giờ, người ta đang cần đến những người hoạt động !... Ồ ! Sấm lớn quá nhỉ ! Sắp có cơn giông rồi đây. May cho tôi là đã tới trước. Tôi đi bộ từ đằng ấy lại đây, hầu như là chạy suốt buổi.
— Nhưng xin lỗi cậu, làm sao cậu có đủ thì giờ để trò chuyện với Nadièjda Fédosséievna, nếu đúng như thấ, nhất là khi người ta không tiếp cậu?
— Người ta có thể nói chuyện qua hàng rào chứ. Hồi chiều ông có chú ý đến cô bé tóc hung không? Chàng ta vừa cười vừa hỏi. Vậy thì cô ta cũng như Maria Nikitichna đã tận lực giúp chúng tôi nhưng mà ông làm sao vậy? Ông sợ giông à?
— Không, nhưng tôi cảm thấy mệt, mệt lắm...
 Cơn đau đột nhiên nơi lòng ngực quá thật khiến cho Veltchaninov chịu hết nổi, ông rời khỏi ghế bành và cố gắng dạo quanh phòng.
— Như thế này, tôi làm phiền ông quá... Ông cứ tự nhiên, tôi sẽ đi ngay —Gã trai trẻ đột ngột đứng dậy.
— Không có gì, không có gì phiền cả đâu, Veltchaninov lịch sự đáp lại.
— Sao lại không có gì?... ‘‘ Khi Kobylnikov đau ở bụng...’’  Trong tác phẩm của Chtchédrine, ông nhớ chứ? Ông có thích Chtchédrine không?
— Vâng, có.
— Tôi cũng thế. Này ông Vassili... ấy chết ! Xin lỗi ! Ông Pavel Pavlovitch này ! Chúng ta kết thúc câu chuyện đi chứ, gã tiếp tục nói với Pavel Pavlovitch với vẻ gần như tươi cười. Tôi nói rõ thêm một lần nữa câu hỏi để ông có thể hiếu thấu đáo: Ngày mai, trước mặt tôi, ông có bằng lòng chính thức tuyên bố với song thân nàng là ông từ bỏ mọi toan tính về Nadiejda Fédosséievna không?
— Không, tôi không bằng lòng !— Pavel Pavlovitch đứng dậy, vẻ nóng nảy và tức giận. Và một lần nữa, tôi van cậu hãy để cho tôi yên... vì tất cả chuyện đó chỉ là chuyện trẻ con và ngu đần !
— Ông hãy coi chừng ! Gã trai trẻ nói với một nụ cười và chỉ tay hăm dọa. Ông sắp lầm trong bài toán của ông rồi đó. Ông có biết là một sự sai lầm tính toán như thế sẽ đưa ông đi đến đâu không ? Riêng phần tôi, tôi báo trước là trong mười tháng nữa, sau khi ông đã vung khá nhiều tiền và lãnh lắm phiền lụy, ông sẽ quay trở về, ông sẽ buộc lòng phải từ bỏ Nadièjda Fédosséievna; và nếu ông không từ bỏ, việc đó sẽ không hay cho ông đâu. Đó là chỗ mà ông sẽ đi đến! Tôi phải nói cho ông biết, ông thứ lỗi cho việc so sánh sau đây, là ông giống như một con chó nằm trên đống rơm: nó không thể nào ăn được, nhưng nó không cho ai đến gần cả. Vì lòng nhân ái, tôi xin nhắc lại: ông hãy suy nghĩ đi, ít ra là thử suy nghĩ với tấm lòng nhân ái một lần trong đời.
— Nhờ cậu tí, đừng giảng luân lý với tôi nữa, Pavel Pavlovitch hét lớn một cách giận dữ. Còn về những lời bóng gió hèn hạ của cậu... thì ngay ngày mai tôi sẽ có biện pháp, những biện pháp thích ứng đó, thưa cậ !
— Những lời bóng gió hèn hạ? Ông muốn nói cái gì? Chính ông mới là người hèn hạ nếu ông có những ý nghĩ như thế trong đầu. Vả lại, tôi bằng lòng chờ đến ngày mai, nhưng nếu... Thôi được ! Lại sấm ! Chào ông ! Rất hân hạnh được quen ông, Gã vừa chào vừa nói với Veltchaninov, và gã vội vã chuồn nhanh để về trước cơn giông và tránh gặp mưa.

Chú thích :
[1]SACHENKA và NADENKA là những tiếng gọi giảm thiểu thân mật, theo lối Nga, của những tên Alexandre và Nadièjda. Lối gọi giảm thiểu thường được dùng đối với những người thân hoặc còn nhỏ tuổi.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 11.07.2023 14:01:18 bởi Thanh Vân>
XV
NỢ NẦN TRANG TRẢI
 

  ANH đã thấy đó chứ? Anh đã thấy đó chứ?
Pavel Pavlovitch la lên và xông đến Veltchaninov khi gã trẻ tuổi vừa bước ra khỏi.
— Vâng, anh không gặp may, Veltchaninov nói mà không suy nghĩ.— Nếu không vì sự nhức nhối do cơn đau ngày càng tăng gia gây nên nơi lòng ngực, có lẽ ông không nói những lời trên.
Pavel Pavlovitch giật bắn người như bị phỏng.
— Thế còn phần anh thì sao? Vì thương hại tôi, có lẽ vậy mà anh không giao tôi cái vòng phải không ?
— Tôi chưa có thì giờ...
— Anh ái ngại giùm tôi với tất cả tấm lòng của một người bạn chân thành đó chứ?
— Vâng, tôi ái ngại cho anh.
Veltchaninov nổi giận.
Tuy nhiên, rất vắn tắt, ông kể lại cho ông ta nghe chuyện cô bé đã trao cho ông chiếc vòng như thế nào và Nadièjda Fédosséievna đã gần như cưỡng bách, bắt ông phải lo vụ này ra sao.,.
 — Anh biết cho, tôi không muốn nhận chiếc vòng đó; không có chuyện này tôi cũng bị lắm điều khó chịu rồi.
— Anh đã bị lôi cuốn, và anh đã nhận, Pavel Pavlovitch cười ngạo.
— Những gì anh nói thẫt đáng buồn cười; tuy nhiên tôi cũng phải bỏ lỗi cho anh. Vừa rồi, chính anh đã tự thuyết phục là trong câu chuyện này, tôi không phải là vai chính, còn có những người khác nữa kia mà.
— Tuy nhiên, anh đã để cho bị lôi cuốn.
Pavel Pavlovitch ngồi xuống và rót rượu.
— Anh tuởng tôi sẽ chịu thua thằng nhóc đó sao? Tôi sẽ nghiền nát nó ra, đó tôi sẽ làm như thế ! Ngày mai tôi sẽ đến đằng ấỵ và thu xếp lại cái chuyện trẻ con này....
Ông ta nốc một hơi cạn ly nữa. Ông hành động với một sự trơ trẽn mà trước kia ông không hề có.
— Anh xem đó ! Nadenka và Sachenka! Những đứa trẻ dễ thương nhỉ ! Hi !hi !hi !  
Ông không nén nổi cơn tức giận.
Một lằn chớp lóa mắt lóe lên chiếu sáng họ, tiếp liền theo là một tiếng sấm kinh hồn; mưa bắt đầu trút xuống như thác lũ, Pavel Pavlovitch đứng dậy và đóng cửa sổ lại.
— Dường như anh định ở lại đây... Veltchaninov nhận xét và ông chỉ có thể nói được từng ấy, vì nỗi đau đớn của ông quá ư mãnh liệt. Tôi đi ngủ đây và anh muốn làm gì thì làm.
— Thời tiết như thế này, người ta cũng chẳng để cả chó ra ngoài đường nữa là, Pavel Pavlovitch trả lời với vẻ bị hạ nhục, nhưng lại gần như sung sướng vì được cái quyền giận dỗi.
— Vậy thì, ở lại đi, uống thêm rượu... và nghỉ đêm cả ở đây cũng được, Veltchaninov nói với một giọng mệt mỏi. Ông ta nằm dài trên đi-văng và khẽ rên.
— Ở lại đêm ? Và... anh không sợ sao?
— Sợ cái gì ?— Veltchaninov chợt ngửng đầu lên.
— Ồ ! Không có gì... Tôi nói thế thôi ... Lần trước anh có vẻ sợ một chuyện gì, hay là hình như tôi thấy thế.
— Anh thật là kỳ cục! Không dằn lòng nổi, ông thốt lên, và ông giận dữ quay mặt vào tường.
— Ồ ! Có gì đâu, Pavel Pavlovitch trả lời.
Người bệnh ngủ tức thì. Trạng thái căng thẳng giả tạo đã giúp sức cho ông suốt ngày hôm nay đột ngột hạ xuống, và, với sức khoẻ đã khá suy nhược, ông cảm thấy yếu ớt như một đứa bé.
Nhưng nỗi đau đớn lấn át sự mệt mỏi và giấc ngủ. Khoảng một tiếng sau, ông thức giấc và sự đau đớn khiến ông phải nhổm dậy. Mưa đã tạnh; phòng đầy khói thuốc: chai rưựu đã cạn. Pavel Pavlovitch ngủ trên chiếc đi -văng kia ; người ngã dài, đầu ngửa ra, áo quần giầy vớ còn y nguyên. Cặp mắt kiếng, vuột ra khỏi túi áo, lòng thòng trên đầu sợi chỉ tơ, gần chấm sàn.  Chiếc nón lăn dưới đất. Veltchaninov nhìn ông ta với một vẻ ủ ê, nhưng không đánh thức ông ta dậy. Không có can đảm nằm hoài mà không ngủ được, ông dạo quanh phòng, lưng khòm xuống, vừa rên rỉ vừa lo âu nghĩ về nỗi đau đớnncủa mình.
Ông sợ và không phải là không có lý do. Từ lâu nay, ông đã lên cơn như thế, n hưng lâu lắm ông mới bị lại : một hay hai năm kia. Ông biết việc đó là do gan mà ra; nó bắt đầu đau âm ỉ, dù lâm râm nhưng đã khó chịu, ở bên trong dạ dày hay ở một chỗ nào cao hơn, một điểm nào đó của lồng ngực. Rồi thì, có khi suốt cả mười tiếng đồng hồ, cơn đau kéo dài và đang tăng dần đến độ người bệnh tưởng chết đến nơi. Một năm trước đây, trong lần đau cuối, sau mười giờ vật vã đến khi cơn đau dịu xuống, nằm trên giường, ông cảm thấy rã rời đến độ không giở nổi tay, và bác sĩ chỉ cho phép ông, trong ngày hôm đó, như một đứa trẻ, uống vài ngụm trà thật lạt với ít bánh mì dầm trong nước xúp. Nỗi đau đớn chợt đến một cách vô cớ nhưng hầu như luôn luôn xảy ra sau một sự kích thích thần kinh quá độ, nỗi đau đớn đó cũng tan biến một cách kỳ quặc : đôi khi người ta có thể ngăn chận cơn đau từ lúc mới phát, ngay trong nửa giờ đầu, bằng cách háp nước nóng vào chỗ đau, nhưng khi khác, như trong lần đau trước, không gì chữa được, và sự đau đớn chỉ dịu bớt khi dùng thuốc nôn nhiều lần. Liền sau đó, vị bác sĩ thú nhận ông tưởng đó là một vụ ngộ độc.
Hiện giờ, còn lâu trời mới sáng, và Veltchaninov không muốn gọi bác sĩ trong đêm. Vả lại, ông ta cũng không thích những viên y sĩ. Nhưng cuối cùng chịu hết nổi, ông bắt đầu rên lớn tiếng. Tiếng rên đánh thức Pavel Pavlovitch dậy; ông này ngồi nhổm trên đi-văng như thế trong chốc lát, kinh hoàng lắng nghe tiếng rên rỉ của Veltchaninov. Ông sợ hãi nhìn ông kia chạy băng qua các phòng. Chai rượu ông nốc cạn đã làm ông say hơn thường lệ, và rất lâu ông mới tỉnh; nhưng cuối cùng ông cũng rõ chuyện, và vội vã chạy đến Veltchaninov, lúc đó gần như không còn đủ sức để trả lời nữa.
— Tôi biết bệnh đó là gì rồi, do gan mà ra đấy ! Pavel Pavlovitch la lên, dáng lăng xăng. Piotr Kouzmitch Polossoukhine mà anh có quen đó cũng bị giống hệt như anh vậy, và đó chính là gan. Phải háp bằng khăn nóng vào. Piotr Kouzmitch luôn luôn làm như thế: vì cơn đau có thể làm cho chết đấy! Tôi chạy đi gọi Mavra nhé?
— Không nên, không nên gọi... — Bực tức, Veltchaninov gạt ngang.— Tôi không cần gì cả.
Nhưng có Trời biết tại sao, Pavel Pavlovitch đã phát điên lên như là chính con mình đang hấp hối. Ông ta không muốn nghe gì cả và đã nài ép Veltchaninov chịu để cho háp khăn nóng và chịu uống một hơi hai hay ba tách trà lạt, những tách trà ‘‘không những nóng mà còn sôi nữa kia’’. Không chờ Veltchaninov cho phép, ông chạy đi đánh thức Mavra dậy, giúp bà này nhen lửa trong cái bếp đã thôi nấu nướng từ lâu, và đun sôi nước. Trong khi chờ đợi, ông đặt người bệnh nằm xuống, cởi áo quần ra và trùm mền lại. Hai mươi phút sau, trà cũng như đồ háp đã sẵn sàng.
— Đây là những cái dĩa nóng, nóng bỏng, ông nói với một giọng phấn khởi và vừa háp vào ngực Veltchaninov một cái dĩa nung nóng có khăn bọc ngoài.
— Chúng ta không có thứ gì khác; vả lại, tôi đoan chắc với anh dùng dĩa là cách tốt nhất đấy; chính tôi, tôi đã thử thí nghiệm cho Piotr Kouzmitch. Có thể chết vì cơn đau đấy nhé. Anh hớp trà đi, uống nhanh vào ! Nếu rủi anh có bị phỏng cũng thây kệ. Được cứu sống mà bị vài ba vết phỏng, thì kể ra cũng đáng lắm.
Ông xô hối Mavra, còn ngái ngủ, và cứ khoảng hai hay ba phút, họ lại thay dĩa. Sau dĩa thứ ba và chén trà nóng thứ hai, chén trà được nốc cạn một hơi, Veltchaninov bỗng nhiên cảm thấy dễ chịu.
— Nếu chận đứng và trấn áp được cơn đau là có dấu hiệu tốt rồi đó, nên cám ơn Thượng Để đi! Pavel Pavlovitch la lên; ông vui vẻ chạy đi pha một chén trà khác và nung thêm một cái dĩa nữa.
— Tất cả vấn đề là chận đứng cơn đau; việc chính là ngăn nó lại đừng cho đau thêm, ông luôn miệng nhắc đi nhắc lại.
Khoảng nửa giờ sau, cơn đau hầu như dứt hẳn, nhưng người bệnh đã quá suy yếu đến độ từ chối không cho ‘‘háp thêm lấy một dĩa nho nhỏ nào nữa’’, mặc cho Pavel Pavlovitch nài nỉ. Mắt ông nhắm lại trong mệt nhọc.
— Ngủ, ngủ, ông lập lại với một giọng yếu ớt.
— Đó là việc hay nhất, Payel Pavlovitch đồng ý.
— Anh hãy ngủ lại đây... Mấy giờ rồi nhỉ?
— Hai giờ thiếu mười lăm.
— Anh đi nằm đi.
— Vâng.
Một phút sau, người bệnh lại gọi Pavel Pavlovitch.
— Anh, anh... anh tốt hơn tôi nhiều, ông thì thầm trong khi ông kia cúi mình xuống. Tôi hiểu tất cả, tất cả... Cám ơn anh.
— Thôi, ngủ đi ! Pavel Pavlovitch trầm giọng nói, và ông ta rón rén quay trở về giường ngủ.
Khi gần ngủ say, người bệnh còn nghe ông bạn làm giường rất nhanh, thay áo quần, tắt nến và nhè nhẹ đi nằm để đừng đánh thức ông dậy.
Có lẽ Veltchaninov ngủ ngay khi đèn vừa tắt; về sau, ông nhớ lại rõ ràng như thế. Nhưng trong giấc ngủ và cho đến lúc ông thức dậy, ông thấy trong mộng là mình không ngủ và dù trong người yếu mệt, ông vẫn không thể nào ngủ được, ông mơ thấy mình đã thức giấc và đang nói sảng, và ông không thể xóa tan được những ảo tưởng trùng trùng bủa vây ông, dù rằng ông ý thức rất rõ ràng đó chỉ là những ảo tưởng. Vả lại, ông nhận ra tất cả những ảo tượng đó: phòng ông đầy ứ người; cửa ra vào mở toang, người đi lại nườm nượp và chen chúc nhau trong cầu thang. Một người ngồi trước một cái bàn đặt ở giữa phòng, y hệt như trong giấc mộng tháng trước. Cũng như trong lần trước, người đó chống khuỷu tay trên bàn và nín thinh; nhưng trong lần này, ông ta lại đội một cái nón tròn có băng tang. ‘‘Thì ra là vậy! Trong lần trước cũng là Pavel Pavlovitch hay sao?’’  Veltchaninõv ngẫm nghĩ. Nhưng khi nhìn cái con người đó kỹ càng hơn, ông nhận thấy đó là một người nào khác.  Vậy thì tại sao hắn ta lại để tang? Veltchaninov tự hỏi. Những người vây quanh bàn nói la,- và sự ồn ào thật là quá cỡ. Đám đông có vẻ giận dữ Veltchaninov hơn là trong giấc mộng thứ nhất; họ nắm tay hăm dọa và hét lên điều gì đó nhưng ông không hiểu được là họ trách ông chuyện chi. ‘‘Mình biết là mình mê sảng, ông ngẩm nghĩ, mình biết là mình không thể nào ngủ được, cũng không thế nào nằm được, và mình đã thức dậy, bởi vì mình đau đớn biết chừng nào !’’
Tuy nhiên, những con người đó, những tiếng la hét, những dáng điệu của họ, tất cả những điều đó có vẻ quá rõ ràng, quá chân thực khiến ông đôi lúc phải nghi hoặc: ‘‘Có thật đó là một ảo giác ? Bọn người đó muốn gì mình? Trời ! Nhưng... nếu không phải là một ảo giác thì có lẽ nào những tiếng la hét đó lại không đánh thức Pavel Pavlovitch dậy? Anh ta vẫn nằm ngủ trên đi-văng đó mà!’’ Cuối cùng, có một cái gì xảy đến, y hệt như trong giấc mơ trước kia: tất cả xô nhau chạy về phía cầu thang và họ chen chúc trước cửa vì có một đám đông khác đang leo lên thang gác để vào phòng. Những người này mang một vật gì to lớn vào nặng nề; người ta nghe vang lên trong thang gác những tiếng chân chậm chạp, khó nhọc của những người phu khuân vác và giọng họ gọi nhau hụt hơi. Trong phòng vang dậy những tiếng la:  ‘‘Mang vào đây ! Mang vào đây !’’  — Tất cả những cặp mắt đều rực sáng và đều hướng về Veltchaninov. Với vẻ hăm dọa và đắc ý, tất cả chỉ cho ông chiếc cầu thang. Không thể nghi ngờ gì về sự hư ảo của tất cả chuyện đó, ông kiểng chân nhìn vội qua đầu mọi người xem họ mang cái gì đến. Tim ông đập mạnh, đập mạnh, đập mạnh, và bỗng nhiên, y hệt như trong giấc mộng trứớc, vang lên inh ỏi ba tiếng chuông. Và lần này cũng thế, những tiếng chuông đó quá trong trẻo, quá rõ ràng đến nỗi hiển nhiên không thể nào có được trong một giấc mơ. Ông la lên một tiếng và choàng thức giấc.
Nhưng không như lần trước, ông không phóng mình về phía cửa. Ý tưởng nào đã quyết định hành động đầu tiên của ông, và có chắc là trong lúc đó ông có một ý tưởng nào không? Tuy nhiên, chuyện xảy ra như là có ai nhắc ông ta chuyện phải làm; ông ngồi nhổm dậy, và, tay dang thẳng ra trước như để tự vệ hay ngăn đỡ một sự tấn công, ông phóng mình về phía Pavel Pavlovitch nằm ngủ. Đôi bàn tay ông liền chạm phải ngay đôi bàn tay khác đang ở phía trên ông, và ông nắm chắc lấy: có một ai đó đã đứng sẵn ở đấy rồi, hắn ta đang khom mình xuống. Các bức màn đều bỏ xuống, nhưng phòng không tối hẳn, vì một luồng ánh sáng lờ mờ từ căn phòng không có màn bên cạnh chiếu sang. Bỗng nhiên, ông cảm thấy lòng bàn tay và những ngón tay trái đau kinh khủng, và ông chợt hiểu là mình đã nắm phải và siết chặt lưỡi của một con dao hay của một chiếc dao cạo... Ngay lúc đó, có vật gì rơi xuống đất, tiếng rơi nặng nề và sắc gọn.
Veltchaninov mạnh gấp ba lần Pavel Pavlovitch, nhưng cuộc giao đấu giữa hai người cũng kéo dài khá lâu, ít nhất cũng phải ba phút. Cuối cùng ông cũng vật ngã tên kia xuống đất và bé ngược tay hắn ra sau lưng, nhưng ông còn nhất quyết muốn trói tay hắn ta nữa kia. Nắm chặt tên sát nhân bằng bàn tay trái bị thương, ông dùng tay mặt sờ soạng để kiếm sợi dây kéo màn, việc này hơi lâu, nhưng rồi ông cũng tìm ra sợi dây và giựt đứt. Về sau, chính ông cũng phải ngạc nhiên về sự cố gắng phi thường cần thiết này. Suốt trong ba phút giằng co đó, không ai thốt một lời nào. Người ta chỉ nghe thấy hơi thở dồn nén của họ và tiếng động huỳnh hụych của cuộc giao đấu. Sau khi đã trói quặt tay Pavel Pavlovitch ra sau lưng, Veltchaninov ném hắn ta xuống đất, rồi đứng dậy đến vén màn và kéo bức mành mành lên. Trời đã bắt đầu sáng ngoài con đường vắng vẻ. Ông mở cửa sổ và đứng hít khí trời mát mẻ trong chốc lát. Đã bốn giờ hơn. Đóng cửa sổ lại, ông thong thả bước đến tủ áo, lấy một cái khăn sạch và quấn bàn tay trái lại, ông nắm tay thật chặt cho máu ngưng chảy. Chân ông chạm phải con dao cạo mở sẵn. Ông lượm lên, xếp lại và bỏ vào chiếc bao đã nằm sẵn từ buổi sáng trên chiếc bàn gần đi-văng, chỗ Pavel Pavlovitch ngủ. Ông mang dao bỏ vào hộc bàn giấy và khóa lại. Chỉ đến lúc đó, ông mới trở lại gần Pavel Pavlovitch và ngắm nghía ông này.
Trong khi đó, ông kia đã gắng gượng đứng dậy và ngồi vào chiếc ghế bành. Lão ta chẳng ‘‘thắng bộ’’ mà cũng chẳng mang giày. Chiếc áo sơ-mi đẫm máu ở lưng và hai cánh tay, nhưng đó là máu nơi bàn tay bị thương của Veltchaninov thấm vào. Đúng là Pavel Pavlovitch, nhưng nếu chợt trông thấy ông lúc đó, người sẽ không tài nào nhận ra ngay được bởi vì khuôn mặt ông quá ư thay đổi. Ông ngồi cứng đơ trên ghế với đôi tay bị trói ké ra sau lưng, mặt xanh dờn, nhăn nhó và tiều tụy. Thỉnh thoảng, ông lại rùng mình, ông nhìn sửng Veltchaninov nhưng ánh mắt đã tắt, như là ông không còn phân biệt được gì nữa cả, Bỗng nhiên, ông mỉm cười gượng gạo và hất đầu về phía chai nước ở trên bàn, thều thào :
— Nước...
Veltchaninov rót nước ra ly và cầm cho ông ta uống. Pavel Pavlovitch chìa môi ra với vẻ thèm thuồng. Hớp xong ba ngụm nước, ông ngửng lên nhìn chăm chú vào mặt Veltchaninov lúc ấy đang đứng trước mặt, tay cầm ly nước; nhưng ông không nói gì cả và rồi lại tiếp tục uống, uống xong, ông hít vào một hơi thật dài. Veltchaninov ôm gối, thu thập quần áo và bước sang phòng bên cạnh sau khi đã khóa trái cửa giam Pavel Pavlovitch lại.
Cơn đau lúc nẩy đã hết hẳn, nhưng ông lại cảm thấy mệt mỏi quá độ sau sự gắng sức cấp thời vừa rồi, mà chỉ có Trời mới hiểu được là ông đã làm cách nào để thể hiện nổi ! Ông thử nhớ lại sự việc đã xảy ra, nhưng ông không làm sao sắp đặt nổi ý tưởng; sự kích động đã quá mạnh. Nhắm mắt lại vào khoảng mươi giây, rồi thì bỗng nhiên rùng mình, ông choàng dậy, nhớ lại tất cả, ông giở bàn tay bị đứt bọc trong chiếc khăn đẫm máu và đang làm ông đau nhức, ông bắt đầu suy nghĩ với một sự khát khao nôn nã. Ông nhận ra độc nhất mỗi một điều: Pavel Pavlovitch muốn cắt cổ ông, nhưng có lẽ một khắc trước khi hành động, lão vẫn còn chưa biết mình sắp làm gì. Có thể tối hôm trước, ông ấy đã thấy chiếc dao cạo nhưng chưa có một ý tưởng nào rõ rệt, song hình ảnh con dao đã nằm sâu trong tiềm thức. (Thường ông khóa cất dao trong hộc bàn, và chỉ có tối qua ông mới lấy ra để tỉa gọt lại bộ râu).
— Nếu nó quyết định giết mình từ lâu thì chắc chắn nó đã sắp sẵn trước dao hay súng, chứ không thể nào nó trông nhờ vào mấy con dao cạo của mình mà nó chỉ mới thấy tối qua, ông ngẩm nghĩ như thế, giữa những ý tưởng khác.
Mãi rồi đồng hò mới gõ sáu giờ. Veltchaninov chợt tỉnh, ông mặc áo quần và bước sang phòng Pavel Pavlovitch. Khi mở cửa, ông tự hỏi mà không sao tự giải thích được là tại sao mình lại nhốt Pavel Pavlovitch thay vì tống cổ hắn ra ngoài tức khắc.
Ông rất đỗi ngạc nhiên khi thấy tên tù đã quần áo chỉnh tề và đang ngồi trong ghế; hắn ta đã tự mở được trói. Khi Veltchaninov bước vào, hắn đứng dậy; tay đã cầm sẵn nón. Cái nhìn lo ngại mà hắn ném nhanh về phía Veltchaninov như nói rằng :
 ‘‘Đừng bắt đầu nữa, đừng nên nói gì hết...’’
 — Ra ngay ! Veltchaninov nói. Cầm lấy hộp nữ trang, ông nói thêm.
Pavel Pavlovitch quay gót trở lại, cầm chiếc hộp, bỏ vào túi và bước ra. Veltchaninov đi theo đến ngưỡng cửa để đóng cửa lại. Họ nhìn nhau lần cuối cùng. Pavel Pavlovitch chợt dừng lại; họ nhìn thẳng vào mắt nhau khoảng năm giây, vẻ ngập ngừng. Cuối cùng, Veltchaninov khoát nhẹ tay :
— Thôi, đi đi ! ông khẽ nói và khóa cửa lại.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 12.07.2023 08:59:52 bởi Thanh Vân>
XVI
PHÂN TÍCH TÂM TRẠNG

 
MỘT niềm vui bao la, kỳ lạ tràn ngập lòng ông: một chuyện gì đó đã kết thúc, một chuyện gì đây đang mở mối; sự khổ não khốc liệt đeo đẳng ông từ bấy lâu nay, giờ đây đã xa dần, đã tiêu tan. Theo ông, hình như thế. Sự buồn rầu đó đã kéo dài năm tuần lễ. Ồng giở tay lên, ngắm nghía chiếc khăn thấm máu và lẩm bẩm:
 '‘Lần này thì mọi việc đều xong hẳn . Và suốt buổi sáng hôm đó, lần đầu tiên trong ba tuần nay, hầu như ông không còn nghĩ gì đến Lisa, làm như giòng máu từ những ngón tay bị cắt chảy ra kia cũng đã có thể trang trải xong món nợ đó.
Ông biết là mình vừa thoát khỏi một nguy cơ tày trời. Ông nghĩ : ‘‘Những người thuộc loại đó, trong phút trước còn chưa biết là mình có giết người hay không, một khi cầm trong đôi bàn tay run rẫy con dao và cảm thấy trên đầu ngón tay giòng máu mới trào nóng hổi, thì không những họ chỉ bằng lòng giết chết người thôi mà họ còn
phải chặt đầu anh thật ‘‘gọn bân’’  như các tù tội thường nói, họ mới chịu cho’’.
Ông không tài nào ở nhà được, và khi ra đi, ông tin chắc là ông phải làm ngay tức thì một việc gì đó, hay là một việc gì đó nhất dịnh phải xảy đến cho ông. Ông hết sức mong muốn được gặp một người nào đó, được hàn huyên với bất cứ ai, ngay cả với một kẻ xxa lạ, và chỉ đến lúc đó, ông mới chợt nghĩ đến chuyện tìm bác sĩ để nhờ băng bó bàn tay một cách đàng hoàng. Sau khi khám vết thương, bác sĩ, một người ông quen đã tứ lâu, tò mò muốn biết ‘‘tại sao có thể bị như thế’’.
Để tránh câu trả lới, Veltchaninov vờ đùa cợt, cười như nắc nẻ và thiếu chút nữa là kể hết cho ông ấy nghe; nhưng ông kịp giữ miệng. Vị bác sĩ bắt mạch và sau khi nghe kể qua cơn đau tối qua, đã bắt ông uống ngay một liều thuốc an thần có sẵn đó. Về hậu quả vết thương, bác sĩ đã nói cho ông vững lòng: ‘‘ Kết quả chuyện này không có gì đáng ngại đâu’’. Veltchaninov cười và cam đoan rằng kết quả chuyện đó, trái lại rất tốt. Suốt trong ngày hôm đó, thêm hai lần nữa, ông lại muốn, một sự ham muốn khó cưỡng, kể lại tất cả, và đã một lần, trong một tiệm bánh, ông đã khơi chuyện với cả một ông khách hoàn toàn xa lạ, dù rằng ông vẫn thường ghét bắt chuyện nơi công cộng với những người không quen.
Ông tạt vào nhiều cửa hàng, tiệm buôn, mua một tờ báo, ghé bác phó may quen đặt một bộ áo quần. Ý nghĩ sẽ đến thăm gia đình Pogoréltzev vẫn tiếp tục làm ông khó chịu, và ông cố sức không nghĩ đến họ nữa ; Vả lại, ông không thể về nhà quê: ông đang chờ một chuyện gì đây phải xảy ra tại đây, trong thành phố này. Ông dùng cơm rất ngon miệng, trò chuyện với anh bồi bàn và người khách bàn bên và uống hết nửa chai rượu vang, ông không nghĩ là cơn đau hôm qua có thế tái phát và ông tin rằng bệnh mình đã hết hẳn từ cái lúc, sau một tiếng rưởi đồng hồ ngủ mê mệt, mình nhảy ra khỏi giường và xô ngã tên sát nhân xuống. Tuy nhiên, buổi chiều ông chóng mặt và đôi lúc cảm thấy bị những tư tưởng giống như trong giấc mộng đêm qua dày vò. Lúc về đến nhà, trời đã sẫm tối, và khi bước vào, quang cảnh căn phòng hầu như làm cho ông e sợ. Đối với ông, căn nhà có vẻ ảm đạm, ghê rợn ; ông đi vòng vòng nhiều lần và ghé cả xuống bếp, nơi ông không hề bao giờ bước chân vào. Ông ngẫm nghĩ: ‘‘Họ nung nóng dĩa ở đây’’. Ông cẩn thận đóng cửa lại và thắp nến sớm hơn thường lệ. Khi kéo cửa, ông chợt nhớ là lúc nẩy khi đi ngang qua nhà người giữ cổng, ông đã hỏi thăm Mavra là lúc ông vắng nhà, Pavel Pavlovitch có đến không, xem như ông ấy đến thăm ông là chuyện tất nhiên vậy.
Khóa chặt cửa xong, ông mở hộc bàn giấy, lấy hộp dao cạo ra và chăm chú ngắm nghía con dao ‘‘hôm qua’’. Trên cán dao bằng ngà trắng, người ta nhận thấy lờ mờ vài vết máu. Ông xếp dao vào bao và khóa hộp dao lại trong hộc bàn. Ông buồn ngủ và cảm thấy cần phải đi ngủ tức thì, vì, nếu không, ‘‘ ngày mai, ông sẽ chẳng làm được gì cả’’. Vậy đối với ông, cái ngày mai đó, không hiểu vì sao, là một ngày không tránh được, một ngày ‘‘quyết định’’. Suốt ngày, ngoài đường, những ý tưởng tương tự đã không ngớt đeo đẳng ông, giờ đây, lại ồ ạt kéo đến bủa vây bộ óc bệnh hoạn của ông, không cho ông một phút nghỉ ngơi nào; ông nghĩ ngợi, nghĩ ngợi, và rất lâu, ông vẫn không thể nào ngủ được.
 ‘‘Nếu xác định rằng hắn ta không định trước việc cắt cổ mình, ông ngẩm nghĩ, thì phải chăng cái ý nghĩ đó cũng đã đến trong đầu hắn, dù chỉ một lần thôi? Ít nữa nó cũng đã một lần mơ đến chuyện đó trong những lúc khốn đốn của cuộc đời?’’
Ông giải quyết vấn đề đó một cách khá kỳ lạ. ‘‘Phải, Pavel Pavlovitch muốn giết mình, nhưng ý nghĩ giết người chưa hề đến trong đầu hắn.’’ Hay nói cách khác:  ‘‘Pavel Pavlovitch muốn giết.’’  Câu nầy không có nghĩa, nhưng mà nó như thế, Veltchaninov ngẩm nghĩ. Hắn ta đến Pétersbourg không phải vì Bagaoutov, cũng chẳng phải vì việc bổ nhiệm, dù rằng nó có ra vô các bộ và có đến thăm Bagaoutov thật đấy; cái chết của anh chàng này làm nó nổi giận. Nhưng nó coi khinh Bagaoutov như rác. Vì mình mà nó đến Pétersbourg và vì mình mà nó dẫn Lisa theo’’.
‘‘Còn mình, mình có chờ nó... tìm cách giết mình không?’’  Ông kết luận là ông có chờ đợi và việc đó bắt đầu đúng ngay từ phút mà ông thấy hắn đi theo đám táng Bagaoutov.  ‘‘Từ đó, mình ngong ngóng một chuyện gì, nhưng chắc chắn là không phải chuyện đó ; dĩ nhiên mình không chờ nó cắt cổ mình !’’
 ‘‘Và có thể nào, ông la lớn vừa nhổm đầu khỏi gối và mở mắt ra, có thể nào... cái thằng điên đó lại thành thật khi tối qua nó đóan chắc vì lòng thương mến của nó đối với mình, khi cằm nó run lên và khi nó tự đấm vào ngực?
‘‘Ừ, nó thành thật, ông tự nhủ và phân tích kỹ càng hơn nữa. Cái thằng gù Quasimodo của tỉnhT... đó vừa đủ bao dung và đần độn để say mê gã tình nhân của vợ mình, người vợ mà suốt hai mươi năm trời dưới mắt nó, tính nết không có điều gì đáng chê trách. Trong chín năm, nó đã kính trọng mình, đã tôn thờ những kỷ niệm về mình và còn nhớ cả những ‘‘lời nói’’ của mình nữa. Trời ! Thế mà mình, mình chẳng nghi ngờ gì cả ! Hôm qua, nó không thể nào nói dối được. Nhưng, hôm qua, khi tỏ lòng cảm mến và nói với mình câu : ‘‘Hãy trang trải nợ nần’’ , có thật nó thương mình không ? Có, nó vừa thương mình lại vừa thù ghét mình, và đó chính là tình thương mãnh liệt nhất.
 ‘‘Có thể là, và chắc chắn như thế, lúc còn ở T...,mình đã tạo cho nó một ấn tượng phi thường và ‘‘tốt lành’’. Đó là chuyện phải xảy đến với nhà thơ Schiller kiêm tên gù Quasimodo đó. Nó đã thổi phồng mình lên cả trăm lần vì mình đã làm cho nó đảo loạn trong cảnh cô đơn suy gẫm của nó... Nó tò mò muốn biết đích xác cái gì đã đảo lộn nó. Có lẽ là đôi bao tay mới mua và cách thức mình mang chăng ? Những tên Quasimodo thường rất ham chuộng thẩm mỹ !Ồ ! Chúng ái mộ cái đẹp biết là chừng nào ! Đối với những tâm hồn quảng đại, nhất là đối với những ‘‘đấng ông chồng muôn thuở’’, nội những cặp bao tay kể ra cũng đã là quá đũ rồi. Ngoài ra, họ phóng đại chuyện đó lên cả trăm lần và nếu cần, họ sẽ đánh nhau vì bạn, nếu như bạn muốn. Và nó đã ngưỡng mộ đến bực nào những phương pháp quyến rủ của mình. Có thể chính ngay những phương pháp đó, hơn tất cả những điểm khác, đã chinh phục họ. Và tiếng hét hôm nọ của nó: ‘‘Nếu cả anh đó nữa thì biết tin ai bây giờ?’’  Sau tiếng hét như vậy, người ta trở thành một loài dã thú’’ .
 ‘‘Hừ...! Nó đến đây  ‘‘để hôn mình và để khóc !...’’  như chính nó đã từng nói một cách quái gỡ như thế, nghĩa là nó đến Pétersbourg để cắt cổ mình, nhưng nó lại tưởng tượng là đến chỉ để hôn mình và để khóc...  Và nó dẫn Lisa theo. Nhưng nếu mình cùng khóc với nó, có lẽ nó sẽ tha thứ cho mình, vì nó đang khao khát muốn tha thứ. Thế mà ngay trong lần gặp đầu tiên, tất cả chuyện đó lại hóa thành những nét mặt nhăn nhó của thằng say, thành những cử chỉ thô bạo, thành những tiếng than van hèn yếu của người đàn bà mang nhục (và cặp sừng, cặp sừng mà nó tự hào !). Chính vì chuyện đó mà nó đã đến nhà mình trong trạng thái say sưa để có thể trút tất cả những ẩn ức trong lòng dù là chỉ bằng cách nhăn nhó. Không say, có lẽ nó không dám thô lỗ... Nó vừa đủ thích những trò khỉ và những trò hề đó ! À ! Nó thích những trò đó biết là chừng nào ! Và nó sung sướng biết bao khi làm đủ mọi cách để cuối cùng được hôn ! Nhưng nó vẫn còn chưa biết chuyện đó sẽ kết thúc ra sao: bằng những nụ hôn hay bằng những nhát dao? Cuối cũng, nó tìm được cách hay nhất, dĩ nhiên là như thế, là vừa hôn và vừa đâm chết. Đó là giải pháp đương nhiên. Phải, cuộc đời không thích những quái nhân và đã tiêu diệt chúng bằng  ‘‘những giải pháp đương nhiên’’. Tên quái nhân quái đản nhất là cái tên có những tình cảm cao thượng. Mình biết được điều này là nhờ chính kinh nghiêm bản thân, tên Pavel Pavloyitch đó ! Đối với lũ quái vật, Tạo hóa đâu phải là một bà mẹ hiền dịu mà chính là một mụ dì ghẻ cay nghiệt. Tạo ra một quái nhân và đáng lý phải thương hại nó thì hóa công lại đày ải nó. Và sự đời nó phải như thế. Ở thời đại chúng ta, những cái ôm choàng và những giòng lệ tha thứ không thích hợp với cả những người lương thiện: vậy thì kể gì đến bọn chúng mình, hở Pavel Pavlovitch?
‘‘Phải, nó vừa đủ ngu đần khi dẫn mình đến nhà vợ chưa cưới của nó. Trời! Một vị hôn thê! Chỉ có cái thứ gù Quasimodo đó mới có ý nghĩ là nhờ sự ngây thơ của cô nàng Zakhlébinine để xây lại cuộc đời mới mà thôi. Nhưng mà Pavel Pavlovitch ạ, mầy không phải là thủ phạm, không hề là thủ phạm! Mầy là một con quái vật thì tất cả những gì thuộc về mầy, những giấc mơ và cả những hy vọng tất nhiên đều phải là quái đản. Nhưng, dù là quái nhân chăng nữa, nó vẫn nghi ngờ giấc mơ của nó, cần có sự thừa nhận của ông Veltchaninov đáng kinh, đáng trọng này. Nó cần phải có sự tán thành của ông Veltchaninov; sự đoan chắc của ông Veltchaninov là giác mơ đó không phải là một giấc mơ mà chính là thực tế. Đúng là vì kính trọng mình mà nó đã dẫn mình đến đó, nó đặt tin tưởng vào nhũng tình cảm cao thượng của mình, và có lẽ nó còn tin là mình với nó sẽ ôm nhau vừa hôn, vừa khóc, sau một bụi rậm, không xa cô bé ngây thơ kia là bao. Phải! cuối cùng rồi một ngày nào đó, tên chồng muôn thuở kia phải dứt khoát tự trừng phạt mình và, để tự trừng phạt, nó đã cầm lấy con dao cạo, hẳn nhiên là không toan tinh trước, nhưng dù sao thì nó cũng đã cầm dao!  ‘‘Tuy nhiên, trước mặt quan Thống Đốc, nó đã tặng cho ông kia một nhát dao’’. Hừ, khi kể mình nghe câu chuyện anh chàng phù rễ đó, nó có nghĩ đến điều, gì giống như thế không nhỉ? Và đêm nọ, khi ra khỏi giường và đứng giữa phòng, nó có một ý nghĩ nào đó trong đầu chăng? Hừ… ! Không, đó chỉ là một trò đùa. Nó dậy là vì một chuyện khác, nhưng thấy mình sợ, nó đã lặng thinh không trả lời trong mươi phút vì nó thích thú khi thấy mình sợ nó... Rồi có lẽ lần đầu tiên, ý nghĩ kia đã nẩy nở trong đầu khi nó đứng im trong bóng tối.
 ‘‘Tuy nhiên, nếu đêm đó mình đừng bỏ quên dao trên bàn, có lẽ sẽ không có chuyện gì xảy ra. Có phải như thế không nhỉ? Có phải thật như thế không? Vả lại, nó đã tránh mình và nó đã chờ đến hai tuần mới đến thăm mình. Nó trốn mình vì nó thương hại mình. Lúc đầu, nó chọn Bagaoutov chứ không phải là mình. Và trong đêm đó khi mang dĩa đi nung, nó hy vọng làm như thế để khuây lãng tâm trí: từ con dao bước qua lòng trắc ẩn!... Nó muốn cứu mình và đồng thời tự cứu bằng cái dĩa nung nóng.’’
Và cứ thế, cái đầu óc bệnh hoạn của con người từng thuộc ‘‘giới thượng lưu’’ đó suy nghĩ mông lung cho đến khi ông lấy lại bình tĩnh. Sáng hôm sau, ông thức dậy, đầu vẫn còn nhức nhối, và ông cảm thấy một sự kinh hãi mới mẽ, hoàn toàn bất ngờ dày vò mình.
Sự kinh hãi mới mẽ đó bắt nguồn từ chỗ ông đột nhiên đinh ninh tin rằng mình, Veltchaninov, con người của giới thượng lưu, lại hoàn toàn tự ý đến thăm Pavel Pavlovitch ngay trong ngày hôm nay. Tại sao? Vì mục đích nào? Ông ta không biết gì và lòng đầy ghê tởm, ông không muốn biết gì cả; ông chỉ biết có một điều là ông sẽ lết đến đó mà không hiểu vì sao.
Tuy nhiên, cái ý nghĩ điên rồ đó — Ông không thể gọi khác được — rõ ràng đến độ trở nên khá hợp lý và có một cái cớ khả dĩ chấp nhận được: hôm qua, ông tưởng tượng là khi về phòng, Pavel Pavlovitch khóa cửa lại tự ải như cái ông thâu ngân viên mà Maria Syssoievna đã nói với ông. Cái ý nghĩ đó dần dần biến thành một niềm tin phi lý nhưng khó lay chuyển. ‘‘Nhưng trời đất quỷ thần ! Tại sao cái thằng đó lại treo cổ?’’ ông tự nhủ như cắt đứt giòng tư tưởng. Ông nhớ lại những lời của Lisa... ‘‘Vả lại, mình mà ở địa vị nó, có lẽ mình cũng tự ải...’’ ông thầm nghĩ thế.
Cuối cùng, đáng lý đi ăn, ông lại rẽ về phía nhà Pavel Pavlovitch. Ông tự bảo: ‘‘Mình đến hỏi thăm Maria Syssoievna thôi.’’  Nhưng vừa bước xuống thang gác, ông dừng lại dưới vòm cổng.
 ‘‘Sao đây ! Ông la lên và đỏ mặt vì xấu hổ có thật là mình sẽ lết đến tận đằng ấy để hôn nó và khóc lóc? Ngoài sự xấu hổ này ra, lại còn phải thêm vào một việc làm đê tiện ngu ngốc này nữa sao?’’
Nhưng, nhờ ơn trên luôn luôn chăm nom những người đàng hoàng đứng đắn, ông đã thoát khỏi ‘‘cái việc làm đê tiện ngu ngốc đó’’. Vừa ra đến đường, ông đụng đầu ngay Alexandre Lobov. Gã trẻ trai này thở hồng hộc và rất bồn chồn.
— Tôi vừa mới đến ông! À này! Ông nghĩ sao về ông bạn Pavel Pavlovitch của chúng ta?
— Anh ta tự ải rồi à? Veltchaninov lẩm bẩm với vẻ thất thần.
— Tự ải? Tại sao? Lobov trợn tròn đôi mắt.
— Không có gì... Cậu tiếp tục đi...
— Trời ! Ông có những ý nghĩ thật lạ lùng! Giả đâu có treo cổ (tại sao lão lại treo cổ đã chứ?). Trái lại, giả đi rồi. Tôi vừa đưa giả đến tận toa xe và tống khứ giả đi rồi. Nhưng giả nhậu quá sá ! Chúng tôi nốc cạn những ba chai. Có cả Predpossylov nữa. Giả nhậu quá sá! Giả nhậu quá cỡ! Giả hát om sòm trong toa xe; Giả có nhớ đến ông giả giơ tay vẫy chúng tôi và nhờ chúng tôi chào ông giùm giả nữa. Nhưng mà giả là một thằng bất lương! Ông nghĩ sao về chuyện này, hở ông?
Giả đã say: khuôn mặt đỏ nhừ, cặp mắt sáng rực và giọng nói lè nhè đã đủ chứng minh chuyện đó. Veltchaninov hả họng cười.
— À! Rốt cục rồi các ông cũng dùng rượu để kết thân ! Ha ha ha ! Họ ôm nhau và cùng khóc với nhau. Ồ ! Thi sĩ nhà các anh! Schiller !
— Xin ông đừng sỉ nhục ! Ông nên biết là ở đằng ấy, giả đã chối từ mọi chuyện. Hôm qua và ngày hôm nay, giả ở lại đẳng. Giả tố cáo chúng tôi và người ta đã nhốt Nadia trong một căn phòng trên gác xép. Có cả tiếng khóc nhưng chúng tôi không nhượng bộ ! Nhưng nếu ông biết được lão đã nốc rượu như thế nào ! Và còn cái thứ ngôn ngữ của lão ! Giả nói liên miên về ông, nhưng làm sao có thể so sánh giả với ông được? Dù sao đi nữa, ông là một người đàng hoàng, và quả thật đã từng thuộc giới thượng lưu; giờ đây, vì thiếu phương tiện nên bắt buộc ông phải tránh xa giới này mà thôi, tôi tin là như vậy... Ồ ! Mặc xác giả ! Tôi chưa hoàn toàn hiểu...
— Vậy thì ra chính ông ta đã nói về tôi như thế?
— Vâng, chính lão, nhưng xin ông chớ giận. Làm một công dân lương thiện tốt hơn là thuộc vào giới thượng lưu. Tôi nói thế là vì trong thời đại này, ở nước Nga chúng ta, người ta không biết nên tôn kính ai. Đó là một điều bất hạnh cho một thời đại mà người ta không còn biết được ai là người đáng tôn kính, ông đồng ý chứ? Đúng thế chứ ?
— Vâng, đúng, đúng ! Nhưng mà ông ấy?
— Ông ấy ? Ồng nào nhỉ? À, vâng, tại sao lão nói luôn miệng câu: ‘‘Cái anh Veltchaninov đã ngũ tuần rồi, nhưng ảnh lại sa sút. Tại sao ‘‘nhưng sa sút’’, mà không là ‘‘và sa sút’’? Lão cười và lập đi lập lại câu đó cả ngàn lần. Khi ở trên toa, lão bắt đầu hát rồi khóc. Thật là phát tởm! Đáng thương cho tên say đó !Ồ ! Tôi không thích mấy đứa ngu. Rồi thì giả phát tiền cho kẻ nghèo để linh hồn Élisabeth được yên nghỉ. Vợ của giả?
— Không, con gái ông ta.
— Tay ông bị gì thế ?
— Bị dao phạm phải. Không hề gì, rồi sẽ lành.
— Ông biết chứ, lão rời khỏi đây là tốt đó. Mặc xác lão ! Nhưng tôi dám cá là vừa mới đến chỗ mới, lão sẽ cưới vợ liền. Ông không tin sao?
— Nhưng, cả anh nữa, anh cũng muốn cưới vợ đó chứ ?
— Tôi ?... À, tôi thì lại là chuyện khác... Ông thật là kỳ cục. Nếu ông đã năm mươi thì lão cũng đến sáu chục. Phải biết lý luận chứ, cụ ạ. Ông biết chứ, trước kia, đã lâu lắm rồi, tôi là một người thuần túy duy Slave, nhưng hiện giờ tôi lại chờ bình minh từ Phương Tây đến... Thôi, xin tạm biệt! Rất sung sướng được gặp ông mà khỏi phải ghé ông; xin ông chớ nài nỉ, tôi không thể nào vào nhà được, tôi không có thì giờ... !
Gã tiếp tục dạo bước, nhưng gần như quay gót tức thì.
— Chết thật, trí ớc tôi ở đâu thế này! Ông ấy có nhờ tôi đưa lại ông một lá thư. Thư đây. Tại sao ông không ra ga tiễn lão?
Veltchaninov trở lên phòng và xé phong thư mang tên ông. Phong thư không có lấy một giòng chữ nào của Pavel Pavlovitch, nhưng lại đựng một lá thư khác. Veltchaninov nhận ra nét chữ. Giấy đã ngã vàng, mực đã nhạt. Bức thư viết cách đây mười năm, hai tháng sau khi ông rời khỏi T... Nhưng người ta đã không gởi nó đến cho ông mà thay thế bằng một lá thư khác; chuyện này thấy rõ trong nội dung lá thư trên. Trong lá thư này, Natalia Vassilievna gởi lời vĩnh biệt, giống như trong lá thư ông đã nhận được, và nàng thủ thật với ông là nàng đã yêu một người khác rồi, nàng cũng không giấu việc mình có thai. Trái lại, để an ủi ông, nàng hứa sẽ tìm dịp trả lại đứa con, đoan chắc với ông là từ nay trở về sau, hai người sẽ có những nghĩa vụ mới và như thế tình bạn sẽ mãi mãi keo sơn gắn bó. Tóm lại, tuy không hợp lý mấy nhưng mục đích vẫn là một; gạt bỏ mối tình của Veltchaninov. Nàng cũng còn cho phép ông, trong vòng một năm nữa, trở lại T …để thăm đứa bé. Có Trời mới hiểu nổi vì sao, sau khi suy nghĩ, nàng lại gởi một lá thư khác thế cho lá này!
 Đọc xong những giòng thư đó, Veltchaninov tái mặt, ông tưởng tượng Pavel Pavlovitch khi tìm được lá thư này và đọc nó lần đầu tiên trước chiếc hộp gỗ mun có cẩn xà cừ của ông bà để lại.
 ‘‘Chắc chắn cả lão ta cũng tái nhợt như một thầy ma, ông thầm nghĩ khi thấy chính bóng mình trong gương. Nó đọc, có lẽ khép kín mắt lại, rồi thì mở ra với hy vọng rằng lá thư sẽ chỉ là một tờ giấy trắng... Nó làm như thế ít ra cũng phải ba lần !...’’
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 12.07.2023 12:48:25 bởi Thanh Vân>
XVII
NGƯỜI CHỒNG MUÔN THUỞ
 
HAI năm trôi qua sau những biến cố mà chúng ta vừa kể trên. Một ngày hè kia, chúng ta gặp lại ông Veltchaninov đang ngồi trong một toa xe trên một đường hỏa xa tân lập. Ông đi thăm một người bạn ở Odessa, nhưhg đồng thời cũng có một mục đích khác không kém phần thích thú là nhờ sự giới thiệu của anh bạn, ông hy vọng sẽ gặp một người đàn bà dễ thương, duyên dáng mà từ lâu, ông vẫn muốn được quen thân. Không đi sâu vào chi tiết, chúng ta chỉ biết là suốt trong hai năm gần đây, Veltchaninov đã thay đổi nhiều lắm,
hay nói đúng hơn là đã sửa tính. Chứng bệnh ưu uất cũ đã biến mất, hầu như không còn để lại một dấu vết nào.
Những ‘‘kỷ niệm’’  và những lo âu (do trạng
thái bệnh hoạn của ông mà ra) hai năm về trước đã từng dày vò ông lúc còn ở Pétersbourg để lo vụ kiện khốn nạn đó, giờ đây chỉ làm cho ông cảm thấy hổ thẹn, một sự hổ thẹn thầm kín về sự bạc nhược cũ của mình. Sự tin chắc là chuyện kia sẽ không lấy ra nữa và không hề một ai hay biết đã an ủi ông phần nào. Quả thật là trong thời kỳ đó, ông đã hoàn toàn hờ hững với mọi sự giao thiệp trong giới thượng lưu; ông ăn mặc xốc xếch, lánh mặt mọi người, và chuyện đó, chắc chắn là tất cả mọi người điều đã để ý đến. Nhưng rồi chẳng bao lâu, ông lại nhập bọn và tỏ ý ăn năn với nhiều tự tin và hoàn toàn thay đổi đến độ ‘‘tất cả’’ đều tha thứ ngay cho sự bỏ cuộc tạm thời đó của ông.
Ngay đến cả những người mà ông đã từng lơ là với họ là những người đầu tiên tay bắt mặt mừng và không hề hỏi ông một câu nào sỗ sàng, coi như suốt thời gian ông vắng mặt là vì chuyện gia đình, không dính dáng gì đến ai cả, và ông vừa mới trở về. Nguyên do của sự thay đổi đầy hạnh phúc này hiển nhiên là từ sự thuận lợi của vụ kiện kia mà ra. Veltchaninov được chia sáu mươi ngàn đồng rouble, số tiền thật ra không nhiều lắm nhưng đối với ông rất quan trọng; trước hết ông có một chỗ đứng vững vàng; như thế ống rất hài lòng về phương diện tinh thần; tiếp đến, ông biết rằng mình sẽ không phung phí đến đồng bạc cuối cùng như một thằng ngu, cũng như trước kia mình đã từng tiêu sạch hai gia sản, và số tiền đó đủ cho ông sống đến xế chiều. ‘‘Cho dù xã hội có sụp đổ, cho dù bọn chúng muốn nói trăng, nói cuội gì với chúng ta, cho dù con người và ý nghĩ có thay đổi tùy ý thích; riêng mình, mình luôn luôn chắc chắn có bữa cơm ngon như mình đang ăn bây giờ và như vậy, mình đã chuẩn bị trước tất cả mọi chuyện’’, ông đã từng suy nghĩ như thế khi quan sát về những sự việc phi thường kỳ diệu đang xảy ra quanh ông, trên nước Nga này.
Cái ý nghĩ đó, dịu dàng đến độ khoái trá, đã dần dần xâm chiếm tâm hồn ông và thay đổi đến cả thể chất ông, đó là không nói đến phương diện tinh thần. So sánh với ‘‘con người càu nhàu, gắt gỏng’’ mà biết bao chuyện không hay đã xảy đến cho y như chúng ta đã mô tả từ đầu, thì giờ đây ông hoàn toàn là một con người khác. Dáng mặt vui vẻ, cởi mở, ung dung. Và ngay cả vết nhăn lo lắng trước kia hiện ra xung quanh viền mắt và trên trán, giờ đây cũng đã biến mất hẳn. Nước da trở nên trắng hơn và hồng hơn.
Ông đang ngồi thong dong trong một toa xe hạng nhất, và một ý nghĩ khá thích thú vừa nẩy ra trong trí. Đến ga sau, có một ngã ba; một con đường vừa làm xong rẽ về hướng tay mặt:  ‘‘Nếu lát nữa, mình bỏ đường chính mà đi theo phía tay mặt thì chỉ đi qua hai ga nữa, mình đã có thể đến thăm một nàng từ ngoại quốc về và hiện đang sống cô đơn ở đồng quê, việc này khá lợi cho mình nhưng lại bực bội cho cô ả; ở đó, mình có thể sẽ hưởng những giây phút thú vị như ở Odessa vậy, vả lại, mình cũng có thể đến Odessa sau’’.
 Nhưng ông vẫn còn ngần ngừ và chưa thể quyết định sự lựa chọn của mình. Khi đến trạm hỏa xa;  biến cố  đó đã không để ông chờ đợi lâu.
Thời gian ngừng lại ở ga đó là bốn mươi phút, hành khách có thể đi dùng bữa. Như thường lệ, thiên hạ nôn nóng và vội vã chen lấn nhau nơi cửa ra vào phòng đợi; và cũng như thường lệ, có thể sẽ có một chuyện không đẹp, một ‘‘xì căng đan’’ xảy ra. Một bà khá đẹp nhưng ăn mặc hơi diêm dúa từ trên toa hạng nhì bước xuống, hai tay gần như kéo lê một viên sĩ quan thương kỵ binh trẻ và đẹp trai, đang tìm cách vùng thoát. Viên sĩ quan trẻ này say mèm, và bà kia, có thể là một người bà con lớn tuổi, không buông tay ra, cố lẽ sợ chàng ta chạy đến quầy rượu. Trong đám đông, viên sĩ quan đụng phải một anh lái buôn trẻ đang rượu chè cờ bạc và đã thua hết vốn: từ hai hôm nay, anh ta ở lại ga này nhậu nhẹt với vô số bè bạn và phung phí tiền của mà vẫn chưa tìm được dịp tiếp tục cuộc hành trình. Một cuộc gây gổ xảy ra: viên sĩ quan la lối, anh lái buôn chửi thề; bà nọ thì quá tuyệt vọng, vừa cố lôi anh chàng quân nhân ra, vừa hét với một giọng cầu khẩn ‘‘Miténka, Miténka’’. Việc này đối với anh lái buôn có tính cách bêu xấu: thật thế tất cả mọi người đều cười nhưng mà có Trời biết vì sao, anh lái buôn lại cảm thấy tình cảm đạo đức của mình bị tổn thương.
— Các ông bà xem đấy ! ‘‘Miténka !’’, anh lái buôn nói với một giọng trách móc và nhái lại cái giọng dịu dàng của bà nọ. Họ chẳng biết xấu hổ là gì, ngay cả giữa bá quan thiên hạ !
Và chệnh choạng tiến đến gần bà kia vừa ngồi phịch xuống ghế, vừa kéo viên sĩ quan thương kỵ binh ngồi xuống bên cạnh bà, anh ta ném một cái nhìn khinh bỉ và lè nhè nói với bà ta:
— Mầy chỉ là một con dâm ô, một con dâm ô!
Bà nọ thét lớn lên và nước mắt lưng tròng, nhìn quanh cầu cứu. Bà ta xấu hổ và sợ hãi. Rủi thêm nữa là viên sĩ quan vừa chửi mắng om sòm, vừa dợm mình khỏi ghế và có vẻ nhào đến anh lái buôn, nhưng anh ta trượt chân và lại lăn đùng ra ghế. Tiếng cười xung quanh càng rộ thêm và không ai nghĩ đến chuyện can gián cả. Veltchaninov nhảy vào cứu giúp; ông đột nhiên nắm lấy cổ anh lái buôn, lắc qua lắc lại và đẩy anh ta ra xa năm bước cách bà kia đang kinh hãi. Việc này làm yên câu chuyện không đẹp kia; sợ hãi trước sức lắc và vóc dáng của Veltchaninov, anh lái buôn trẻ để các bạn dìu đi ngay tức thì. Bộ gió dềnh dàng của một ông ăn mặc sang trọng cũng có một ảnh hưởng lớn đến cả các người đang cười xung quanh; tiếng cười ngừng bặt. Bà nọ, mặt đỏ bừng, mắt đẫm lệ, bày tỏ. lòng chan chứa biết ơn của bà. Viên sĩ quan lẩm bẩm ; ‘‘C’ ơn, C’ ơn…’’, và muốn đưa tay ra bắt tay Veltchaninov; nhưng rồi thay đổi ý kiến, anh ta quay ra nằm dài trên ghế.
— Miténka ! Bà nọ rên rỉ với một giọng phiền trách, vừa xoắn hai tay.
Veltchaninov bằng lòng về việc ngẫu nhiên này và về sự can thiệp đúng lúc của mình. Bà nọ khiến ông chú ý: hiển nhiên đó là một bà giàu có ở tỉnh, ăn mặc đắc tiền nhưng không có vẻ mỹ quan, cử chỉ có phần nào lố bịch; bà ta đã quy tụ được tất cả những điều kiện có thế bảo đảm sự thành công cho một gã hợm hĩnh nào ở thủ đô ngắm nghé một người đàn bà. Họ nói chuyện: bà đó hăng hái nói và phàn nàn về chồng mình ‘‘đã đột nhiên biến đâu mất khỏi toa xe, là nguyên nhân của mọi chuyện... vì anh ta luôn luôn bỏ đi đúng vào lúc người ta cần’’.
— Ông ta có chuyện cần..., viên sĩ quan lắp bắp.
— Ồ ! Miténka !— Và bà ta lại xoắn đôi tay.
 ‘‘Ông chồng tội nghiệp ! Ông ta sắp bị chuyện gì nữa đây !’’  Veltchaninov thầm nghĩ.
— Ông nhà tên gì vậy ? Tôi đi tìm cho, Vetchaninov đề nghị.
— Pa... ! Pa...litch, viên sĩ quan nói.
— Chồng bà tên Pavel Pavlovitch? Veltchaninov hỏi với đôi chút tọc mạch; và bỗng nhiên cái đầu sói mà ông đã từng biết rõ ràng, nhô ra giữa bà nọ và ông. Trong một khoảnh khắc, ông thấy lại khu vườn nhà Zakhlébinine, những trò chơi vô hại và cái đầu sói hay quấy rầy thường xuyên xen vào giữa ông với Nadia Fédosséievna.
— Bây giờ mới thấy ông! bà vợ la lớn với một giọng tức giận.
Đúng là Pavel Pavlovitch. Ngạc nhiên và sợ hãi, ông ta nhìn Veltchaninov đang sửng sốt như thấy ma hiện về... Pavel Pavlovitch sửng sờ đến độ lúc đầu ông không hiểu vợ ông, với một giọng tức giận và liến thoắng, đã kể lại những gì. Cuối cùng, ông khẽ rùng mình và chợt nhận ra tất cả cái gớm ghiếc của sự tình; cái lỗi của ông, Miténka đã làm những gì và cái ông đó (không hiểu vì sao, bà nọ lại gọi Veltchaninov như thế) là vị thần hộ mệnh, là kẻ cứu giúp của chúng ta, trong khi anh, luôn luôn đi khỏi những lúc mà đáng lý anh phải có mặt tại đó !
Veltchaninov phát cười.
— Nhưng mà chúng tôi là bạn cũ, bạn thuở nhỏ kia mà ! Ông nói với bà kia đang quá kinh ngạc và với một dáng điệu che chở, ông thân mật đặt bàn tay mặt lên vai Pavel Pavlovitch đang mỉm cười một cách mơ hồ. Anh không bao giờ nói đến tên Veltchaninov sao?
— Không, chưa bao giờ, bà nọ đáp với vẻ cuống quýt.
— Vậy thì, hãy giới thiệu tôi với chị nhà đi, anh bạn không chung thủy !
 — Đây là anh Veltchaninov, Lipotchka. Hừm... Ông ta bắt đầu, nhưng vô cùng bối rối, ông đâm ra lúng túng. Bà vợ thẹn đỏ mặt và giận dữ nhìn chồng vì ông đã gọi bà là Lipotchka.
— Chị thử nghĩ xem, anh nhà không bảo cho tôi biết là anh cưới vợ và cũng chẳng mời dự lễ cưới; nhưng chị, Olympiada...
— Sémionovna, Pavel Pavlovitch khẽ nhắc.
— Sémionovna ! viên sĩ quan sực thức giấc, chợt chen vào.
— Hãy thứ lỗi cho anh ấy, chị Olympiada Sémionovna ạ, hãy nể tôi và để mừng cuộc trùng phùng của chúng ta... Anh là một người chồng tốt !
Và Veltchaninov thân mật vỗ vai Pavel Pavlovitch.
— Em nè, anh vừa mới đi có một chốc..., Pavel Pavlovitch cố phân bua.
Lipotchka vội cắt lời:
— Và anh để cho người ta nhục mạ một cách hèn nhát vợ anh. Khi cần đến thì không thấy anh đâu, khi không cần thì anh lại có đó.
— Chỗ ông không nên có mặt, ông lại có... chỗ ông không nên có mặt... chỗ ông không nên có mặt... viên sĩ quan nói riết vào.
Lipotchka giận gần uất cả người, chính bà, bà hiểu rằng câu chuyện đó không thích hợp chút nào khi có Veltchaninov ở đây; bà đỏ mặt và không thể nào dằn lòng nổi. Bà thốt:
— Anh quá cẩn thận ở chỗ đáng lý ra không nên... quá cẩn thận.
Miténka cũng nói gắt theo.
— Ở dưới gầm giường... ông ta tìm kiếm những gã nhân tình..., ở dưới giường... cái chỗ mà ông ta không nên... mà ông ta không nên...
Nhưng không thể nào ngăn nổi Miténka. Vả lại, mọi việc đều kết thúc êm đẹp. Người ta quen thân nhau nhiều hơn. Họ phái Pavel Pavlovitch đi mua cà-phê và mì. Olympiada Sémionovna thuật cho Veltchaninov biết rằng họ từ tỉnh 0..., nơi chồng bà làm việc, đến đây và họ ở lại hai tháng trong căn nhà xinh xinh với một khu vườn của họ cách nhà ga khoảng bốn mươi dặm; rằng họ đang chờ rất nhiều bè bạn đến thăm, rằng ngoài ra, họ còn có rất đông bạn láng giềng, và rằng nếu Aléxéi Ivanovitch không quản khó nhọc đến thăm bà ‘‘trong cảnh tịch liêu’’, bà sẽ tiếp đón  ‘‘như là một vị thần hộ mệnh’’, vì bà không thể nào không sợ hãi khi nghĩ lại những gì đã xảy ra nếu... và cứ thế tiếp tục, tóm lại là  ‘‘như một vị thần hộ mệnh’’ .
— Một hiệp sĩ, một hiệp sĩ ! viên sĩ quan nói riết vào với nhiệt tình.
Veltchaninov lịch sự cám ơn và trả lời rằng ông vui mừng vì chuyện đó, rằng ông là một người rỗi rãnh, một người ăn không ngồi rồi, và lời mời của Olympiada Sémionovna làm ông vui thích lắm. Tiếp liền theo, ông mở đầu một câu chuyện vui vẻ và ông đã tìm được dịp xen vào câu chuyện vài ba lời khen tặng. Lipotchka đỏ mặt vì sung sướng. Và khi Pavel Pavlovitch vừa về tới, bà ta đã hân hoan bảo cho chồng biết là Veltchaninov đã nhận lời đến ở cùng họ một tháng ở thôn quê, và ông bạn đã hứa trong một tuần nữa sẽ đến. Pavel Pavlovitch cười gượng gạo và không nói gì cả. Olympiada Sémionovna nhún vai, đôi vai xinh xắn, và ngước mắt nhìn trời. Cuối cùng, họ chia tay; lại những lời bày tỏ sự biết ơn và lại những chữ  ‘‘thần hộ mệnh’’ , ‘‘Miténka’’, vân vân. Pavel Pavlovitch đưa vợ và viên sĩ quan ra toa xe. Veltchaninov châm một điếu thuốc và đi dạo trên sân ga. Ông biết là trước khi xe chuyển bánh, thế nào Pavel Pavlovitch cũng chạy đến ông để phân trần vài ba điều. Chuyện đã xảy ra đúng như thế: Pavel Pavlovitch xuất hiện; khuôn mặt và đôi mắt lão biểu lộ một sự dò hỏi lo lắng, — Veltchaninov bật cười, ông ‘‘thân mật’’  nắm tay ông kia, dìu đến tận một chiếc ghế dài gần đó, ngồi xuống và kéo ông kia ngồi bên. Ông im lặng, muốn để cho Pavel Pavlovitch nói trước.
— Vậy ra anh đến thăm chúng tôi? ông này ấp úng và nói thẳng vào chuyện.
— Tôi biết mà! Anh chẳng thay đổi chút nào cả.— Veltchaninov cười rộ lên.— Nhưng mà anh ?—Ông lại vỗ lên vai bạn.— Anh mà cũng có thể tin thực là tôi sẽ đến nhà anh, và lại ở lại những một tháng nữa kia à ? Ha! ha!
Pavel Pavlovitch đứng dậy, vui vẻ ra mặt.
— Vậy là anh không đến chứ? Ông la lớn, không hề nghĩ đến chuyện giấu diếm sự sung sướng.
— Vâng, tôi sẽ không đến, tôi sẽ không bao giờ đến ! —Veltchaninov cười thoải mái ; Vả lại, không hiểu tại sao tất cả câu chuyện này đối với ông có vẻ rất khôi hài, và càng nghĩ, ông càng thật thấy là tức cười.
— Thật chứ ? Anh không nói đùa đấy chứ?— Thốt xong câu này, Pavel Pavlovitch giật nẩy mình và nôn nóng chờ đợi.
— Tôi nói với anh là tôi sẽ không đến... Anh thật là một người lạ lùng !
— Nhưng nếu như thế, thì... tôi sẽ phải nói với Olympiada Sémionovna như thế nào đây khi trong một tuần nữa chờ anh mà không thấy anh đến?
— Việc hay quá nhỉ? Anh nói với chị là tôi bị gãy cẳng hay là một chuyện gì đại loại như thế.
— Nàng sẽ không tin lời tôi, Pavel Pavlovitch đáp lại với một giọng khe khẽ than van.
— Và anh ‘‘lãnh đủ’’  phải không ?—Veltchaninov cười giòn hơn nữa.— Này anh, tôi nhận thấy là trước mặt chị nhà, bà vợ khả ái của anh đó, anh không được bình tĩnh lắm đó ! Thế nào?
 Pavel Pavlovitch cố cười nhưng không được. Veltchaninov từ chối không đến thì cho được đi; nhưng mà hắn ta lại dám suồng sã nói về bà Troussotzky thì thật !à không đẹp lòng chút nào cả. Pavel Pavlovitch sa sầm mặt xuống. Veltchaninov nhận thấy. Giữa lúc đó, còi tàu huýt lần thứ hai. Từ xa vọng lại một giọng nhỏ và lo ngại gọi Pavel Pavlovitch. Ông này dợm đi nhưng còn chưa chịu tuân theo lời gọi; hiển nhiên là lão chờ Veltchaninov hứa một lời cuối cùng là không đến nhà lão.
— Chị tên gì thế nhỉ? Veltchaninov hỏi, làm như không để ý gì đến sự lo lắng của Pavel Pavlovitch.
— Nhà tôi là con vị mục sư của chúng ta đó, ông kia trả lời, lắng tai nghe và lo âu nhìn về phía toa xe của mình.
— Vâng, tôi hiểu rồi, anh bị sắc đẹp của chị chinh phục chứ gì?
Pavel Pavlovitch lại nhăn nhó.
— Còn Miténka là ai đó ?
— À, không có gì... Hắn ta có họ xa, một người bà con xa với tôi... hắn là con của Goloubtchikov; người chị họ quá cố của tôi; vì một chuyện nào đó, nó đã phải giãi ngũ, nhưng hiện giờ thì nó đã trở về lại quân đội. Chúng tôi đã trang bị hoàn toàn cho nó... thằng nhỏ đáng thương!
 Veltchaninov thầm nghĩ : ‘‘ À thì ra thế! mọi chuyện lại như cũ, đủ bộ rồi đây’’.
— Pavel Pavlovitch ! lại một làn nữa, một giọng kêu có vẻ tức giận hơn từ toa xe vọng đến.
— Pa...l Pal...vitch, một giọng khác lè nhè lập lại.
Pavel Pavlovitch lại dợm bước nhưng Veltchaninov nắm chặt lấy cùi tay và giữ lại.
— Anh có muốn tôi kể cho chị nhà nghe ngay bây giờ anh đã thử cắt cổ tôi như thế nào không? Anh nghĩ sao ?
— Sao ? Anh còn nhớ đến chuyện đó à? Pavel Pavlovitch la lên, kinh hãi. Cầu Trời phù hộ cho anh.
Lại những tiếng gọi vang lên.
— Pavel Pavlovitch ! Pavel Pavlovitch !
— Thôi, anh đi đi I
Veltchaninov buông tay ông kia ra, vừa cười hả hê.
—Vậy là anh sẽ không đến chứ? Pavel Pavlovitch ấp úng hỏi lần chót, vẻ tuyệt vọng; và ông lại chắp hai tay trước ngực như trước kia.
— Tôi thề chắc với anh! Nhưng anh hãy nhanh chân lên, không thôi, lại sẽ có chuyện rầy rà nữa đó !
Với một cử chỉ rộng rãi, ông chìa tay cho ông kia, ông giơ bàn tay ra và rùng mình: Pavel Pavlovitch không bắt tay; ông rút tay về.
 Người ta ra hiệu lần cuối cho tàu chạy.
Thế rồi, thoáng chốc có một sự thay đổi: Cả hai như thay hình đổi dạng. Mới phút trước, Veltchaninov còn cười nói vui vẻ, nhưng bây giờ ông như cảm thấy có cái gì dao động và gãy đổ trong ông. Ông phũ phàng nắm vai Pavel Pavlovitch.
— Nếu tôi, tôi đây nè, tôi đưa bàn tay này cho anh — Ông đưa ông kia xem lòng bàn tay trái có vết sẹo dài—, có lẽ anh sẽ bắt chứ !  ông ta thì thầm, đôi môi tái nhợt và run rẩy.
Pavel Pavlovitch cũng tái mặt và đôi môi run run. Gân mặt ông thoáng giật vài cái.
— Còn Lisa ? Ông ấp úng và bỗng nhiên, môi ông, má ông, cằm ông rung lên và những giòng lệ trào ra khoé mắt.
Veltchaninov đứng trước mặt ông, sững sờ.
— Pavel Pavlovitch ! Pavel Pavlovitch ! Từ toa xe người ta gào tên ông như bị ai thọc tiết.
Một tiếng còi vang lên.
Pavel Pavlovitch sực tỉnh, ông phác một cử chỉ thất vọng và vội vã chạy; tàu đã chuyển bánh ; nhưng ông chụp kịp cánh cửa xe và nhảy thóc vào toa. Veltchaninov ở lại trên sân ga cho đến chiều; ông lên chuyến tàu kế và đi thẳng. Ông không rẽ về hướng tay mặt và không đến thăm người đẹp sống cô đơn ở thôn quê: ông không còn thích chuyện đó nữa. Nhưng về sau, ông sẽ hối tiếc biết là chừng nào.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 12.07.2023 20:52:08 bởi Thanh Vân>
Bạt

NGƯỜI chồng muôn thuở xuất hiện năm 1870.  Lúc đó, Dostoïevski 49 tuổi. Đối với một tác giả sống nhờ ngòi bút, mà văn nghiệp khởi sự từ năm 23 tuổi và gần như không bị gián đoạn cho tới khi chết, cái số tuổi 49 quả là một con số giá trị. Tứ thập nhi bất hoặc ; Ngũ thập nhi tri Thiên mạng. Đó là thời kỳ vững vàng của tài năng, chín chắn của tư tưởng — buổi đứng bóng của mặt trời. Hơn nữa, đến năm 49 tuổi, Dostoïevski đã viếf xong Crime et Châtiment, L'Idiot và chưa viết Les Frères Karamazov. Nói một cách khác, tác phẩm Người chồng muôn thuở đã được Dostoïevski hoàn thành ở giữa những đại danh tác của ông. Và một tác phẩm mang chữ ký của một thiên tài hùng vĩ như Dostoïevski, và lại được sáng tác trong giai đoạn sung mãn của thiên tài này, nếu không phải là một kiệt tác phẩm đi chăng nữa, ít ra cũng không thể nào là một tác phẩm lép. Có lẽ nòi thiên tài không bao giờ hạ sanh những tác phẩm đực và những tác phẩm cái. Đành rằng trong lịch sử văn học thế giới, cũng đã xuất hiện khá nhiều những thiên tài xuất chúng với một tác phẩm duy nhất. (Tôi nghĩ đến những tiểu thuyết gia siêu hạng của Trung Hoa thời xưa : La Quán Trung, Thi Nại Am, Tào Tuyết Cần, Vương Nguyên Mỹ...) Nhưng dường như không hề có thiên tài nào với những tác phẩm bất đồng đều theo một tỷ lệ quá đáng.
Thật ra, tác phẩm Người chồng muôn thuở, mặc dù mang phải cái tội, cái tội duy nhất là ít trang nên bị che khuất oan uổng bởi những tác phẩm đồ sộ khác của Dostoïevski, cũng có thể được kể như là một kiệt tác phẩm trong hạng loại của nó. Trên mọi phương diện, nó hoàn toàn xứng đáng với cái vinh quang chói lọi của Dostoïevski. Nhưng khổ nỗi người đọc vốn thân thuộc với những tác phẩm hàng ngàn trang của Dostoïevski — và của những tác giả Nga cùng thời — nên thường đã tỏ ra hờ hững một cách bất công và phụ bạc đối với những công trình hàng trăm trang khác của ông. Đổi với đại đa số người đọc, hình như số lượng trang giấy của tác phẩm quyết định phần lớn kích thước tinh thần của tác phẩm, và cứ như thế suy diễn, số lượng tác phẩm quyết định phần lớn tầm vóc của nhà văn trong khung cảnh văn học. Nhất là ngày nay. Một tác giả lớn dường như trước tiên phải là tác giả có một mức độ sản xuất hết sức trù phú. Kỷ nguyên của Pavlov và thuyết phản ứng có điều kiện : ai nói nhiều thì dễ được nghe hơn ! Cái thời của Lão Tử, của Socrate có lẽ đã chấm dứt từ lâu rồi. Tôi dám thách ngày nay, tác giả nào chỉ viết ra một cuốn sách mỏng như Đạo Đức Kinh, hay chỉ phát biểu một ít châm ngôn thôi mà thành danh được như hai nhà hiền triết đó. Có lẽ La Rochefoucauld đã kết thúc cho cái giòng giõi ít lời đó của nhân loại. Và nhà đạo đức học này cũng đã là người của thế kỷ XVII xa xôi. Ngày nay, dường như người đọc không còn đọc kỹ nữa và nhất là không còn suy nghĩ thấu đáo về những điều mình đã đọc, và người viết dường như không còn trọng người đọc nữa, người viết dường như ngờ vực khả năng tư tưởng và thâu thập của người đọc, nên nhất nhất điều gì cũng phải dẫn giảng khúc chiết, lê thê. Nói như vậy tức là tôi chẳng hề tin rằng tư tưởng nhân loại có thể gia tăng theo thời gian, nên sách của người thời nay phải dầy hơn sách của cổ nhân.
Trở lại với Người chồng muôn thuở. Nếu tôi được phép ví von những bộ tiểu thuyết tràng giang đại hải khác của Dostoievski như những Đế Thiên Đế Thích, và cuốn tiểu thuyết Người chồng muôn thuở như cái Tháp-Chàm, thì dưới mắt nhà khảo sát chuyện môn, Đế Thiên Đế ThíchTháp Chàm cũng đều là hai công trình đáng kể như nhau. Lẽ dĩ nhiên là hai công trình có thể gợi lên trong trí não người ta một sự liên tưởng, nhưng chẳng phải vì vậy mà người ta có thể đi đến cái kết luận hàm hồ rằng Tháp Chàm chỉ là một mô hình thâu hẹp của Đế Thiên Đế Thích. Tác phẩm Người chồng muôn thuở gọn gàng, vén khéo, với một bố cục cân bằng, chặt chẽ, một diễn tiến bình thản, trơn tru, một lối viết mực thước, đầy đủ. Nó tuyệt nhiên không phải cưu mang những khúc mắc, những xô giạt, những bề bộn thường thấy trong những tác phẩm khổng lồ khác của Dostoïevski. Tất cả sự việc ở đây, đến không thiếu và cũng không thừa. Người chồng muôn thuở là một trong số những tác phẩm hết sức hiếm hoi, nếu không nói là duy nhất, mà khi viết, Dostoïevski đã kềm hãm được mình — tôi muốn hiểu sự kềm hãm này như một điều kiện tối thượng của nghệ thuật : nghệ thuật, sau rốt, lại là kết quả nỗ lực tự chủ, nỗ lực bôi mờ cá tính của người nghệ sĩ. Người chồng muôn thuở là một tác phẩm hoàn hảo, một tác phẩm cổ điên đúng nghĩa.
Cả cái cốt chuyện của Người chồng muôn thuở cũng chẳng có gì là phức tạp, rối rắm: Một anh chồng bị cắm sừng, sau khi người vợ đã chết, tìm gặp lại gã tình địch để trang trải món nợ tinh thần của chín năm về trước... Đối với tiểu thuyết gia và cả người đọc có một trình độ am hiểu tường tận về tiểu thuyết, cốt chuyện không phải là một điều quan trọng; nó chỉ là một cái cớ của tiểu thuyết, cũng y như đề tài đối với họa sĩ vậy. Với một mối tình loạn luân mẹ ghẻ con chồng, Racine tạo thành kiệt tác phẩm Phèdre, trong khi một tác giả nào khác cũng chỉ có thể viết được một cuốn truyện nhảm nhí, hạ đẳng mà thôi. Ta cứ lấy trường hợp của Đoạn Trường Tân Thanh làm thí dụ. Thành thử, vấn đề chính yếu cho tiểu thuyết gia là viết những cái gì, viết như thế nào dọc theo cốt chuyện. Tiểu thuyết gia và nhà kể chuyện hoàn toàn khác biệt nhau, dù rằng hai người này cùng phải xử dụng cốt chuyện để đưa người đọc đi vào một thế giới của tưởng tượng. Sở dĩ, ở đây, tôi phải nêu ra vấn đề cốt chuyện của Người chồng muôn thuở, nhấn mạnh tính cách đơn giản của nó, là cốt để trình bày một hiện tượng hết sức trái ngược và có vẻ nghịch lý trong tiểu thuyết: cốt chuyện của một cuốn tiểu thuyết càng đơn giản bao nhiêu thì nội dung của nó càng phức tạp bấy nhiêu. Và một cuổn tiểu thuyết giá trị không bao giờ để cho người ta tóm lược được nó. Do đó, hoặc người ta phải đọc trọn vẹn Người chồng muôn thuở, hoặc người ta coi như chẳng hề biết gì về nó cả. Sẵn đây nói luôn: xem một cuốn phim thực hiện theo một cuốn tiểu thuyết, cho dầu là thực hiện trung thành một trăm phần trăm đi nữa, vẫn chưa thể nói là đã hiểu cuốn tiểu thuyết đó. Sách viết ra là cốt để đọc, chớ không phải để được nghe kể lại.
Mặt khác, với một cốt chuyện sơ sài như cốt chuyện của Người chồng muôn thuở, mà xây dựng nổi một tác phẩm hấp dẫn dày ngót 300 trang, quả là một công khó phi thường của tác giả. Làm thế nào cuốn hút người đọc băng qua từ trang đầu đến trang cuối một cuốn tiểu thuyết thiếu vắng hoàn toàn những tình tiết éo le, gay cấn? (Dostoïevski để lại một kinh nghiệm: cách sắp xếp tinh vi, khoa học về chi tiết và sự phân lượng chi li, hợp lý về ngôn từ. Mỗi chương phải mở ra một cái nút thắt và đồng thời buộc lại một cái nút thắt khác nữa. Chúng ta không quên là Người chồng muôn thuở, đầu tiên, đã xuất hiện từng phần trên một tờ báo. (Hầu hết những tác phẩm của Dostoïevski đều được viết ra để đăng báo dài hạn. Dostoïevski là một ông tổ của cái nghề viết tiểu thuyết feuilleton.) Trước hết, câu mở đầu của cuốn sách đã khêu gợi ngay nơi người đọc một sự tò mò nào đó. ‘‘Mùa hè đến, và trái với mọi sự chờ đợi, Veltchaninov vẫn ở lại Pétersbourg.’’ Có nhà phê bình văn học đã nhận xét rằng với vế chữ ‘‘trái với mọi sự chờ đợi’’ , Dostoïevski đã đặt ngay nhân vật vào một tình thế khác thường — một tình thế tiểu thuyết. Người đọc đã để mắt đến câu mở đầu rồi, khó lòng mà không theo dõi nữa. Và rồi mỗi chương tạo ra đều đều nơi người đọc ít nhất một thắc mắc nào đó và ở mỗi chương kế tiếp, người đọc sẽ à lên khoái trá. Người đọc, mặc dù sự lười biếng cố hữu đối với việc đọc, lại mất đi lần lần sức đối kháng, để mặc cho câu chuyện dẫn dắt mình đi tới, đi tới mãi. Khi cuốn sách chấm dứt, câu cuối cùng: ‘‘Nhưng về sau này, ông hối tiếc chuyện đó biết chừng nào’’.  Cũng còn khuyến dụ người đọc phải tưởng tượng thêm nữa, người đọc gần như phải tự mình xây dựng lấy một cuốn tiểu thuyết tiếp nối không thành hình. Cho đến câu cuối cùng, người đọc vẫn còn bàng hoàng, chưa tỉnh thức hẳn khỏi cái thế giới của tác phẩm, người đọc vẫn chưa chận đứng được cái đà lao tới của mình trong vùng tưởng tượng. Tôi vẫn quả quyết rằng tác phẩm hay vẫn không phải là một tác phẩm xong xuôi, toàn vẹn, mà phải là một tác phẩm còn có thể tiếp tục được nữa.
Trái với nhân vật Bovary của Flaubert, nhân vật này cũng là một đức ông chồng bị cắm sừng, một con người quê mùa, thô kệch, cù lần hao hao với mọi đức ông chồng bị cắm sừng khác của những với hài kịch bình dân, thì người chồng muôn thuở Pavel Pavlovilch Troussotzky lại thuộc thành phần thượng lưu, có học thức và biết suy nghĩ. Hơn thế nữa, gã còn là con người thủ đoạn. Những cơn say khật khưởng, những lời lẽ lèm bèm của gã dường như cũng được dự liệu trong kế hoạch mờ ám, tinh vi của gã. Nói cách khác, gã là con người có cá tinh. Nhưng khi vợ gã còn sanh tiền, gã lại cam chịu làm cái bóng mờ bên cạnh người đàn bà hư thân trắc nết đã lấn lướt chế ngự gã, làm con ngựa ngoan ngoản chỉ biết chạy đường thẳng với cặp da che mắt. Một cách an nhiên, gã đã xóa bỏ cá tính và giảm thiểu sự có mặt của mình trong một thế giới hạnh phúc lừa dối.
Tại sao không? Nếu ở đời, có hạng người chỉ tìm thấy được hạnh phúc trong sự bành trướng cá tính của họ mà chẳng chút đếm xỉa gì đến việc có thể làm tổn thương cá tính của người khác, thì cũng có một hạng người chỉ tìm thấy được hạnh phúc khi làm một tùy tinh mờ nhạt sau lưng người mà họ say mê sùng thượng và muốn được trùng lẫn. Troussotzky đã đặt trọn niềm tin nơi người vợ mà gã đinh ninh là hiền thục, chung thủy. Đã thế, gã lại còn yêu mến chân thành cả những tên đàn ông vây quanh vợ gã, không chút đắn đo ngờ vực, yêu mến họ xuyên qua cái tình yêu tuyệt vời mà gã dành cho vợ.
Nhưng đến khi vợ gã chết đi, gã mới chợt khám phá ra rằng vợ gã đã bao nhiêu lần lừa dối gã, và cả đứa con gái nhỏ của hai vợ chồng thật ra cũng chẳng phải là hòn máu của gã. Từ đó, bắt đầu cho gã tấn thảm kịch về sự sa sút của tinh thần. Như một cái lò xo bị dồn nén, bây giờ được dịp bung lên, gã thâu hồi cá tính của mình và trở thành một ‘‘con người hung tợn’’. Gã đi tìm trên các ngã đường của kinh đô Saint-Pétersbourg nóng bỏng hai kẻ tình địch của gã. Để làm gì? Giết chết họ ư? Lúc đầu, rõ ràng Troussotzky không dự tính hành động đó. Tâm lý của Troussotzky thật là phức tạp và rất dễ gây ngộ nhận, Dostoïevski để trọn một chương dành cho việc phân tách tâm trạng của Troussotzky, nhưng chung quy, chương này chỉ làm nổi bật thêm tính cách phức tạp của tâm trạng đó, hơn là soi sáng nó. Thật ra, người đọc khó thể thấu hiểu những ngoắt ngoéo trong tâm trạng của Troussotzky, nếu như người đọc chưa có một khái niệm nào về tâm lý thông thường của dân tộc Nga. Troussotzky cũng như phần đông những nhân vật khác của Dostoïevski (Raskolnikov Kirilov...) đều mang một tâm lý đầy Nga tính: tâm lý cực đoan và mâu thuẫn. Troussotzky đã chẳng ngớt đong đưa giữa hai cực đoan là sự thù ghét và tình thương mến. Nhưng sự thù ghét thì gần như vô lý ( câu chuyện ngoại tình đã kết thúc những chín năm về trước, và hơn nữa, ngườì vợ cũng đã quá vãng ), và tình thương mến thì lại bất lực trước thái độ hắt hủi của Veltchaninov, kẻ tình địch của gã. Những thủ đoạn ác hiểm của Troussotzky nhằm mục đích tra tấn kẻ tội phạm, bắt buộc nó phải nhìn nhận, cung khai tội lỗi, phải diễn lại tội lỗi — dù là chỉ diễn lại trong trí não của chính nó. Nhưng những thủ đoạn đó vẫn không gạt bỏ những biểu lộ trái ngược của tình thương mến mà tự bao giờ gã vẫn dành sẵn cho kẻ tội phạm. Troussotzky mong mỏi từ phía Veltchaninov một sự thống hối công khai, một lời van xin tha thứ, và trong trường hợp đó, gã sẽ ôm hôn người tình địch, khóc òa lên và xí xóa hết mọi chuyện. Tâm hồn của Troussotzky, dưới đáy cùng, có thể là một tâm hồn tràn đầy thánh hạnh. Tha thứ cho kẻ khác tức cứu rỗi được chính mình. Tấn thảm kịch của Troussotzky tự ý và có thật — tấn thẳm kịch của một tâm hồn thèm khát nỗi thống khổ, săn đuổi nỗi thống khổ. Đây cũng là một đặc điểm trong tâm tính thông thường của người Nga. Dostoievski viết: ‘‘Tên quái nhân quái đản nhất là một tên có những tình cảm cao thượng. Con người đã 49 tuổi đó có lẽ có thừa điều kiện để thấu hiểu chỗ tồi tệ mà sự sa sút của những tình cảm cao thượng đưa xuống.
Trong khi đó, Veltchaninov cũng tự giằng xé quyết liệt giữa cái tà tâm và lòng thành khẩn. Kỷ niệm câu chuyện ngoại tình chín năm về trước ở tinhT..., đối với Veltchaninov, đã trở thành ‘‘một sự ô nhục, và niềm hối lỗi đã dày vò hắn.’’ Nhưng Veltchaninov đã tránh né niềm hối lỗi, không dám gọi đích danh nó, không dám nhìn thẳng sự thật của chính mình. Hắn chạy tội trước chính mình trong những ngõ ngách quanh co của tâm hồn. Mọi việc tưởng chừng đã được thời gian thanh toán xong, cũng như cái tên của người đàn ông đội nón có băng tang thường gặp trên hè phố đã rơi chìm trong lãng quên mù mịt. Thời gian thường là một yếu tố mà người ta ỷ lại vào đó để tự tha thứ những lầm lỗi của mình. Câu chuyện ngoại tình đã được giấu nhẹm trong một góc tiềm thức khuất lấp nhất, đã được xếp bỏ lại một tỉnh lẻ đã mơ hồ. Nhưng người chồng muôn thuở đột ngột xuất hiện, khơi lại câu chuyện cũ, và Veltchaninov hứng chịu một cuộc tra tấn tinh thần muộn màng những chín năm sau. Veltchaninov, cũng như người đọc, bị cuốn hút trong nỗi thắc mắc là Troussotzky biết được những gì, biết được tới đâu về mối tình vụng trộm giữa Veltchaninov và người đàn bà có chồng kia. Và cũng vì thắc mắc như vậy, Veltchaninov đã kháng cự dằng dai trước những thủ đoạn tra tấn của Troussotzky. Niềm hối lỗi của Veltchaninov, cho đến lúc này, vẫn còn được che đậy, ngụy trang bên dưới sự bực dọc cùng lòng khinh nhờm đối với kẻ khác của Veltchaninov. Hắn không thiếu thành khẩn, nhưng thiếu can đảm. Thường khi, niềm hối lỗi của chúng ta, dường như vẫn cứ vướng mắc một sự gian lận vô ý thức: chúng ta sẵn sàng bẻ quặt niềm hối lỗi chiều theo những lý do thứ yếu. (Và lẽ hẳn nhiên, chúng ta chẳng bao giờ cạn những lý do thứ yếu đó.)
Trong tác phẩm Người chồng muôn thuở, Dostoïevski đã pha trộn lòng thương lâm và nỗi hung ác đối với sự bất hoàn hảo của loài người. Mọi phản tính thành khẩn, lương thiện của chúng ta bao giờ cũng phải là một công trình không toàn vẹn, một công trình bị bỏ dở bởi chính chúng ta. Điều đó, chúng ta không chối, nhưng cũng không nhận. Tác phẩm Người chồng muôn thuở mô tả cái đêm tối của lương tâm. Với họa phẩm La Ronde de Nuit, Rembrandt sáng tạo một thế giới của ánh sáng huyền diệu. Với Người chồng muôn thuở, Dostoïevski cũng soi chiếu vào cái đêm tối của lương tâm, một nguồn ánh sáng siêu phàm khiến cho người đọc bần thần, thao thức. Tôi nghĩ nên xếp loại Người chồng muôn thuở bên cạnh những tác phẩm khó hiểu và ít được biết đến khác của Dostoïevski: Les Nuits Blanches, Sous-Sol... — những tác phẩm của sự tự hỏi và không thể trả lời.
TÔ THÙY YÊN
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0