Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Mật Mã Champa - Giản Tư Hải

3 trả lời, 10 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 01.04.2023 23:27:34 bởi Thanh Vân>
Mật Mã Champa
Tiểu thuyết trinh thám.
Tác giả: Giản Tư Hải.
NXB HNV 2016
*
 
Giới thiệu Giản Tư Hải sinh năm 1977 tại Thanh Chương, Nghệ An. Là một nhà văn tay ngang, nghề chính là kiến trúc sư, nhưng Giản Tư Hải có số lượng sách được xuất bản đáng nể. Giản Tư Hải có nhiều trải nghiệm và vốn hiểu biết rộng, anh thường đưa vào tác phẩm những kiến thức rất đa dạng, phong phú, thú vị.
***
Mật mã Champa là một cuốn tiểu thuyết trinh thám đầu tiên viết về mật mã, lịch sử và tôn giáo của nền văn minh Champa cổ xưa đầy huyền bí trên dải đất miền trung Việt Nam. Những đền tháp uy nghi có từ hàng thế kỷ trước, những pho tượng Bà-la-môn giáo nhuốm màu thời gian cùng hàng trăm tấm bia kí phai mờ đang ẩn chứa vô số bí ẩn mà hậu thế chưa thể giải mã. Sau nhiều năm trùng tu thánh địa Mỹ Sơn, một kiến trúc sư đã phát hiện ra nhiều mật mã bằng Phạn ngữ khắc trên bia đá tiết lộ các lễ hiến tế thần bí.

Điều làm ông bất ngờ và sợ hãi là những bí ẩn kho báu Champa và lễ hiến tế người gắn liền với một hội kín tà giáo có từ thời trung cổ. Lúc ông quyết định thám hiểm vào sào huyệt của hội kín thì bị sát hại đúng theo cách mà ông từng biết qua bia kí.

Rất may, trước khi chết ông đã kịp để lại một mật mã.

Ngay lập tức, một kiến trúc sư trẻ đã vào cuộc. Anh bắt đầu giải chuỗi mật mã mà nhà khảo cổ kì cựu này để lại rồi rơi vào một cuộc rượt đuổi kinh hoàng. Cuối cùng, anh đã sập bẫy rồi bị đưa lên đài cúng tế đúng như nghi thức man rợ cổ xưa.

Sau nhiều diễn biến kịch tính tại hang ổ của hội kín, bí ẩn về hội tà giáo Naga và kho báu của vương triều Champa lần lượt được đưa ra ánh sáng sau hàng thế kỉ chìm trong bí ẩn.

Tác giả

Giản Tư Hải sinh năm 1977 tại Thanh Chương, Nghệ An. Tốt nghiệp Đại học Kiến trúc Hà Nội. Hiện làm việc tại Phúc Kiến, Trung Quốc. Tiểu thuyết “Ổ buôn người” của anh đoạt giải C cuộc thi truyện ngắn, ký và tiểu thuyết về đề tài “Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống” 2007 - 2010 do Hội Nhà văn và Bộ Công an phối hợp tổ chức. Những sáng tác của Giản Tư Hải đều theo thể trinh thám và chủ yếu lưu hành trên Internet.

Các tác Phẩm đã in.

1, Ổ buôn người. Tiểu thuyết trinh thám.
2, Âm mưu thay não. Tiểu thuyết trinh thám.
 
Chương 1  
Dưới độ sâu 35 mét, người đàn ông cao lớn và một phụ nữ dắt theo một con dê trắng thắt nơ đỏ đang dò dẫm dọc một đường hầm lát đá để tìm một cánh cửa. Ông ta cầm đèn pin chiếu lên tường hầm rồi dừng lại trước một mảng tường khả nghi quan sát hồi lâu.
- Phòng 178. Chính căn phòng này.

Người phụ nữ trẻ mệt mỏi đến mức không buồn nói câu nào, cô chỉ mong chồng đứng lại để tranh thủ ngồi phệt xuống. Cô không ngờ thánh địa lại xa xôi hiểm trở đến mức đi ba ngày trời mới tới. Ngay cả con dê đực quen nhảy nhót trên núi cũng run chân và thè lưỡi ra để thở.
- Rốt cuộc cũng tới đích. – Người đàn ông Pháp nói - Chúng ta cứ trải chiếu nằm ở đây chờ cửa mở.

Ông ta xem đồng hồ rồi lấy thuốc ra vừa hút vừa đi đi lại lại nhưng mắt không rời cánh cửa đá mang số 178 đang đóng im lìm. Bỗng đất đá xung quanh rung lên báo hiệu một cơn địa chấn dữ dội bất ngờ ập đến. Cánh cửa đá bật mở rồi rút lên cao theo chiều thẳng đứng, ông ta thét vợ ngồi dậy rồi cúi xuống nhìn cái hố vuông sâu nơi cánh cửa đá vừa rút lên trần.
- Dê trắng đâu lại đây! – Ông thét to lên.

Ông quay lại nhặt sợi dây nhấc bổng con vật đáng thương lên cao rồi thả xuống cái hố đen ngòm đang ngoác to. Tiếng thét thê thảm của con dê trắng câm bặt trong tiếng đá nghiến. Viên Kiến trúc sư người Pháp cùng với phu nhân mau lẹ vọt qua miệng hố trước mặt để vào bên trong. Hành trình gian nan đi tìm kho báu Champa cổ xưa mà họ theo đuổi bấy lâu nay rốt cuộc đã tới đích. Trong hang đá tối đen như mực, người phụ nữ trẻ tỏ ra sợ sệt khi nhìn lại cánh cửa đã sập xuống sau lưng. Một dải sáng lân tinh bò ngoằn ngoèo trên vách đá nổi lên một dòng chữ Phạn cổ đập thẳng vào mắt cô:
“ Dâng máu cho Ngài! kẻ nào xúc phạm đến thần linh sẽ bị rút sạch máu ba đời dâng lên Ngài’’.
- Anh nhìn kìa... - Cô gái chỉ tay nói.
Viên kiến trúc sư đến từ EFEO (1) rùng mình hoảng sợ khi đọc kĩ dòng chữ khắc sâu trên mặt đá. Từng bỏ ra hàng chục năm để nghiên cứu bia mộ cổ, ông liên tưởng đến một lời nguyền được cho là thần bí nhất lịch sử, đó là câu khắc trên bia mộ các hoàng đế Ai Cập “ Bất cứ người nào đến quấy nhiễu sự yên ổn của Pharaông, thì cánh cửa tử thần sẽ giáng xuống đầu người đó. ’’
Đó không phải là lời dọa suông. Hàng ngàn năm nay, lời nguyền bí ẩn kia vẫn là bản án tử hình siêu linh đã giáng phạt bao nỗi chết chóc kinh hoàng cho giới khảo cổ và cả những tên săn trộm dám phớt lờ nó.
Viên kiến trúc sư chiếu đèn pin rồi xích lại gần, ông nhìn thấy những vẩy máu khô loang lổ trên vách cửa đúng vị trí mà ông và vợ vừa nhảy qua. Ông biết rằng mình không phải là người đầu tiên bước qua đây và số phận những kẻ đi trước ra sao thì đã rõ. Ông trấn an người vợ đang run rẩy trong làn hơi ẩm lành lạnh trong lòng núi.
- Đừng để tâm, anh đã có cách khắc chế cánh cửa đó.
Người đàn bà đầu tiên đặt chân nơi cung cấm này vẫn chưa hết sợ hãi.
- Em tưởng cả vách núi đã sập xuống rồi chứ. Làm sao mà nâng lên được?
- Anh đã nghiên cứu tấm bản đồ cổ rất kĩ rồi. Trong này có cỗ máy bằng đá dùng sức nước để điều khiển cánh cửa đó.
- Nhưng trong lòng núi này làm sao có nước được?
- Em đừng quên đây là thánh địa Naga nhé. Đã có thánh địa thì bắt buộc phải có nguồn nước thiêng. Ở đây không chỉ có nước mà có cả một dòng suối ngầm. Khi băng rừng đến đây, em có nhớ chúng ta đã vượt qua mấy con sông và dòng suối không? Một nhánh trong những dòng nước đó chảy qua lòng núi này đấy.
Cô gái vội liên tưởng đến Mỹ Sơn, Cát Tiên, Ăngkor Wat và nhiều thánh địa Balamon khác mà cô từng đến đều có cả những dòng sông và suối thiêng bao quanh ngàn năm không ngừng chảy.
Mặc dù chiếc đèn pin công suất sao, chùm sáng vẫn mờ lụi trong khoảng không mịt mù. Họ mò mẫm theo hướng nam như trong trí nhớ, đi qua một khoang rộng không rõ hình thù, cuối cùng một bức tường đá xám xịt đã hiện ngay trước mắt họ. Men theo bức tường cho tới khi nhận ra một cánh cửa vòm, ông liền đẩy mạnh. Tiếng nước rào rào bất ngờ phả ra từ một đoạn suối ngầm chảy qua lòng núi. Trước mắt ông là một guồng nước khổng lồ đang chuyển động để đưa dòng chảy lên một hệ thống phức tạp nằm trên cao mà ông không thể nào nhìn rõ. Trục quay bánh guồng được gá trên hai trụ đá lớn song song mọc lên từ lòng suối giúp cho chiếc bánh xe nặng hàng chục tấn vận hành trơn tru suốt mấy trăm năm nay chưa từng ngưng nghỉ. Thấy một chiếc thang đá dựng đứng, ông lội xuống bám tay vào những thanh giằng để tìm cách trèo lên. Thận trọng leo đến bậc cuối cùng, từ độ cao của một ngôi nhà ba tầng nhìn xuống, những lá guồng gạt nước trắng xóa dưới ánh đèn bàng bạc làm ông cảm tưởng như đang lạc vào gầm máy của một chiến hạm khổng lồ thời Trung cổ đang nhởn nhơ vô định giữa đêm đen trên đại dương. Nước từ hệ thống ống máng chằng chịt trên cao dội xuống ào ào xen lẫn với dòng suối réo von tạo thành một bản hòa tấu hoang sơ đến kì dị.
Nhìn quanh, viên Kiến trúc sư ngạc nhiên khi phát hiện trước mặt là một bể đá rất lớn ngỡ là một tầng lầu. Tuy nhiên bể nước này đã cạn khô và chỉ có một dòng nước đang nhỏ giọt vào bể. Chỉ mất vài phút, ông đã phát hiện ra quy luật vận hành của chiếc đồng hồ nước cổ đã được phác họa chi tiết trong tấm di chỉ quý báu. Nắm được cấu tạo và nguyên lí hoạt động khắc sẽ điều khiển được nó. Trên chiếc bàn điều khiển, ông tìm cách cài chế độ mở cửa đá. Tháo chiếc ống nhỏ đang rỉ nước đặt sang bên cạnh rồi ông dùng hết sức xoay một ống đồng có đường kính bằng miệng bát thay thế. Ống đồng lập tức truyền nước ào ào vào bể chứa. Toàn bộ lan can và hành lang đá dưới chân ông bắt đầu rung lên nhè nhẹ. Chỉ vài chục phút nữa thôi, mực nước sẽ đạt ngưỡng cực điểm để đẩy bật một chiếc lẫy. Mấy trăm khối nước cùng hàng chục tấn đá sẽ trút xuống để khởi động một chiếc đòn bẩy có khả năng ném bay một tòa nhà với một sức mạnh khủng khiếp. Năng lượng đang tích tụ với một tốc độ rất nhanh tỉ lệ thuận với mực nước dâng trong bể. Mặc dù muốn nán thêm vài phút để đo lại thể tích và vận tốc nước nhưng một giọng rất thanh át tiếng thác vọng lên.
- Xuống ngay, nó sẽ sập xuống mất!
Nhìn qua luồng sáng yếu ớt chiếu qua đám bụi nước bạc, ông phát hiện một máng đá dốc chéo xuống dưới. Không chần chừ, ông bò qua một dầm đá trơn nhẫy để nhảy vào lòng máng. Trong tích tắc, ông gần như trượt ùm xuống lòng suối làm nước bắn tung tóe lên mặt vợ.
- Xin lỗi!... - Ông vùng đứng lên đưa tay vuốt mặt. – Tốt rồi, cách cửa lát nữa sẽ tự mở ra.
- Cửa tự động ư? Hệ thống gì mà lạ vậy?
- Một cỗ máy bằng đá chạy bằng sức nước. Tổ tiên người Chăm của em đã chế tác ra nó đấy!
- Nó đủ sức nhấc cánh cửa mấy trăm tấn kia không? Anh cam đoan là chúng ta không bị kẹt lại đây chứ?
- Yên tâm, nếu cỗ máy kia chạy đúng, khoảng nửa tiếng nữa cửa sẽ mở ra.
- Sao nhanh vậy? liệu chúng ta còn thời gian đi khắp cung điện này không?
- Chỉ có hai ống đồng. Anh đã cài chế độ mở nhanh nhất. Thôi đừng hỏi nữa, nhanh chân lên!
Họ chui trở lại tiền sảnh, do thiếu ô-xy và vận động mạnh nên ông đã có dấu hiệu rối loạn phương hướng. Tránh mất thời gian, trong khi cúi mặt xuống ông tranh thủ mở tấm bản đồ cổ ra định vị lại lần nữa.
- Đằng kia kìa! – Người vợ trẻ chỉ tay phía sau lưng ông.
Ông quay lại bắt gặp một khoảng tối đen đặc đang phả hơi lạnh vào mặt mình, ông xoay đèn về hướng đó và lờ mờ nhận ra một miệng giếng. Ông nắm tay vợ đi nhanh về phía đó và thấy một cầu thang xoắn ốc dẫn xuống dưới. Không rời một bước theo chồng, mắt cô sợ sệt nhìn theo ánh đèn nhấp nhoáng trên các phiến đá ẩm ướt và cố không để trượt chân rơi xuống cái hố mà cô chưa nhìn thấy đáy. Để thêm an toàn, cô bám tay kia lên lan can có tay vịn bằng rắn đá ưa thích của người Khmer. Con rắn bảy đầu bằng đá hoa cương xoáy lượn hình trôn ốc xuống sâu hun hút nhìn như thể nó đang cố ngoi lên từ địa ngục. Bất chấp lối đi hiểm trở, cô nhắm mắt đi theo chồng cho đến khi ông ghìm tay cô lại.
- Kia mới là kẻ giữ đền đích thực, rắn thần Naga! – ông nói.
Người phụ nữ ngước lên, dưới ánh đèn yếu ớt xuyên qua không khí đặc quánh hiện lên một cuộn trắng căng tròn bềnh bệch.
- Trong truyền thuyết Khmer rắn giữ đền Naga có tới bảy đầu cơ mà? - Người phụ nữ hỏi. - Con này lớn nhưng chỉ một đầu.
- Đúng thế, nhưng đây là con rắn thật đang sống!
Cô gái thất kinh ôm chặt hông chồng mình. Người đàn ông từ tốn gỡ nhẹ tay cô:
- Đừng sợ, đây chính là rắn khổng lồ sống trong rừng nhiệt đới hạ lưu sông Mê Kông. Trước đây xuất hiện thường xuyên tại rừng U minh Thượng nhưng nay gần như tuyệt chủng. Truyền thuyết rắn thần Naga lấy cảm hứng từ loài bò sát khổng lồ có thật này. Sách cổ của người Khmer còn mô tả những con long xà to như cây Thốt nốt.
Vẫn nhìn con vật qua vai chồng mình, giọng cô chưa hết run:
- Nó đang ăn?
- Chính con dê trắng mà ta vừa thả xuống khi qua cửa đấy thôi, đây là bữa điểm tâm đầu tiên của nó sau 12 năm đấy.
Cô gái mắt mở to nhìn con rắn bất động, chỉ có mang tai đang phập phồng đẩy con vật bé bỏng khuất dần trong khoang miệng đang ngoác to.
- Đây là giống rắn sống nơi không ánh sáng nhưng mắt nó có thể nhìn xa hàng cây số trong bóng đêm.
Cô gái nhè nhẹ lùi xa hơn, mắt vẫn không rời con vật, cô hỏi.
- Nó nhịn đói tới 12 năm sao?
- Giữa chu kì mở cửa tháp dài tới một giáp, làm gì có ai vào được để cho nó ăn, nó rất đói. Nếu hôm nay chúng ta quên mang con dê cho nó, em có biết thức ăn của nó sẽ là gì không?
Cô kéo chồng quay lại nhưng người đàn ông to cao không hề nhúc nhích. Viên kiến trúc sư biết rằng họ đã rơi vào phạm vi tấn công của con vật từ lâu, nhưng hôm nay con dê đã thế mạng cho họ. Ông chỉ khe hở đủ một người đi phía sau con rắn và nói.
- Muốn vào thánh địa phải đi qua mặt con rắn này.
Người vợ định bỏ chạy, nhưng cô vội nhận ra phía ngoài là cánh cửa đá đã đóng chặt. Đã vào đến đây dù chết cũng phải đi đến tận cùng. Chẳng phải mười mấy năm nay cô chỉ mong ngày này đấy thôi.
- Đi tiếp! – Cô hạ quyết tâm.
Tuy lấy hết can đảm, không chỉ cô mà người đàn ông đầy chất thép kia cũng phải co mình nín thở để lách qua lưng con rắn đang phả hơi tanh nồng nặc. Ngay vừa đặt chân vào khu tiền điện, viên kiến trúc sư đã ngỡ ngàng sửng sốt với vô số pho tượng các vị thần Balamon giáo đặt trang trọng trong các khám thờ ăn sâu trong đá. Tượng Siva, Vishnu, Bharma, bò Nadin, dấu triện cổ và các thanh kiếm ánh lên màu sắc của vàng thật.
Do thời gian có hạn nên không thể xem kĩ từng chi tiết, ông muốn đi thật nhanh để bao quát quy mô thánh địa nhưng một pho tượng nữ thần vàng óng làm ông sững người lại. Đúng là pho tượng này được đúc bằng vàng khối, với kích cỡ lớn bằng người thật như vậy làm ông nghĩ đến tượng nữ thần Bhagavati bằng vàng tại Po Nagar đã bị quân Khmer băng qua cao nguyên Langbian đến tấn công Nam Champa năm 945. Sự tập trung của ông bị cắt ngang khi có tiếng động vang lên từ xa. Lúc này ông mới giật mình nhớ lại người vợ đã biến đi đâu mất. May thay, nỗi sợ của ông tan biến khi thấy nàng từ xa chạy lại với một thứ gì đó nặng trĩu trước ngực. Ông lia đèn sang nhìn thứ trên tay vợ và không thể tin nổi vào mắt mình nữa.
- Lạy chúa! Em bê cái này từ đâu ra?
- Trên đài thờ.
Người đàn ông nhìn theo chỉ tay của vợ về cuối đường hầm hun hút và nhận ra rằng mình đang ở đoạn đầu của một cung điện. Còn vô số điều hấp dẫn và lạ mắt vẫn đang chờ ông ở phía trước. Định đi tiếp nhưng môt sức mạnh vô hình đã ghìm chặt ông lại. Kinh ngạc và giận dữ, ông chỉ tay lên linh vật.
- Em... em định mang nó đi đâu?
- Mang về Mỹ Sơn.
Ông chết lặng đi sau câu nói thản nhiên như không.
- Về Mỹ Sơn?
Mặc dù hiểu được nỗi lòng khao khát đến cháy bỏng trong trái tim vợ mình bấy lâu nay, nhưng ông không ngờ cô ta lại xốc nổi như vậy. Chỉ mấy phút trước đây, nàng còn là phụ nữ non gan e thẹn, vậy mà chỉ trong phút chốc, chả hiểu phép thuật nào đã biến cô trở nên ngang nhiên đến ngỗ ngược như thế.
- Không được! - Ông dứt khoát xua tay. - Những thứ nằm trên đài thờ là bất khả xâm phạm!
- Đây là báu vật của người Chăm. - Cô nói đầy thách thức. - Nó phải trở về với người Chăm.
- Nhưng không phải lúc này, hãy trả lại đài thờ ngay!
- Không được! - Cô bướng bỉnh đáp. – Chính anh thường nói cái gì của Cesar thì trả cho Cesar đó sao. Đây là Quốc bảo của Champa, là linh hồn của người Chăm, chúng ta phải có trách nhiệm trả về đúng chủ của nó.
- Hãy nghe anh nói đã. - Ông xòe hai tay phân bua. - Chúng ta sẽ hồi hương những gì đã bị lấy cắp nhưng chưa phải lúc này. Chúng ta chưa hiểu gì về thánh địa này và sẽ phải trả giá đắt cho sự xốc nổi và ngu dốt.
- Không bây giờ thì bao giờ? Ngoài tôi và anh ra còn ai nữa? – Cô lại lùi xa tầm tay của người chồng như tránh một kẻ phản trắc. - Tổ tiên tôi đã mất bao nhiêu công sức và xương máu để đi tìm linh vật này nhưng đều thất bại. Đây là cơ hội duy nhất và tôi không thể chờ thêm được nữa. Anh không thuyết phục nổi tôi đâu!
Không chần chừ, người vợ ôm chặt báu vật nặng hàng chục cân lao ra cửa với một sức mạnh kinh ngạc. Nàng bất chấp bóng đêm và sợ hãi khi băng ngang trước mũi thần rắn. Người đàn ông Pháp chỉ biết chạy theo soi đèn cho cô khỏi ngã mà không dám chạm vào người vợ đang nổi cơn tam bành.
Khi chạm cửa đá, người phụ nữ quay phắt lại nhìn ông thế thủ. Nhìn cặp mắt hoang dại mà ông chưa bao giờ nhìn thấy ở người phụ nữ đầu gối tay ấp mấy năm nay, bản năng sinh tồn mách ông không nên dồn ai đó vào đường cùng. Ông lùi lại và tỏ ra lịch lãm như một đàn ông Paris thứ thiệt.
- Anh hiểu và trân trọng suy nghĩ của em. Nhưng chúng ta không thể đón rước thần linh một cách thô bạo như vậy. Đây là di sản của Champa nhưng đã nằm trong lãnh thổ Camboge(2) mấy trăm năm nay. Để mang được nó về chúng ta phải giải quyết nhiều vấn đề lịch sử để lại. Dù sao chúng ta cũng sẽ hành xử đàng hoàng trong luật pháp chứ quốc tế không phải hành động như những tên mộ tặc.
- Không, sẽ không còn ngày nào nữa, em linh cảm rằng chúng ta không thể quay trở lại đây được nữa. Chúng ta sẽ vĩnh viễn mất linh vật này!
Quý ông Paris len lén nhích tới, chỉ đợi một cái chớp mắt của nàng, ông sẽ vồ cướp.
- Đừng động vào tôi. - Cô dơ cao pho tượng. - Nếu ông cướp, tôi sẽ đập đầu chết ngay trước mặt ông!
Lời nói này đã đánh gục ý chí của ông. Đứng chết lặng giữa phòng, mắt ông trân trối nhìn người phụ nữ xinh đẹp và tự hỏi rằng nàng có còn là vợ mình nữa hay không. Sai lầm! Không phải sai lầm khi cưới nàng mà sai lầm khi đưa nàng vào đây. Ngàn lần sai lầm.
- Cô có biết là cô đang xúc phạm thần linh không hả? – ông than lên.
Ông chỉ còn biết trút hết tức giận vào lời nói nhưng tiếng gào của ông dội vào vách đá rồi hắt thẳng vào chính mặt ông. Nàng vẫn im lìm dựa lưng vào cánh cửa và không thể nào nhìn thấy dòng chữ đang tỏa ám khí ngay trên đầu. Ông rùng mình nhận ra dòng chữ Phạn kia là dành cho ông, nó đang chiếu thẳng vào số mệnh ông. Họ nhìn thẳng mặt nhau trong bóng tối, câm lặng đến rợn người. Tiếng tích tích trên chiếc đồng hồ đeo tay đang nhắc nhở ông thời khắc sắp đến. Cửa sẽ mở.
Ông đưa tay nhìn đồng hồ và hốt hoảng khi nhận ra thời khắc đó chỉ tính bằng giây và cô ta sẽ dễ dàng thoát ra ngoài. Thời gian cứu vãn thần linh của ông sắp hết. Người phụ nữ vẫn nén lặng chờ đợi vì cô biết thời gian đang ủng hộ mình. Trong tích tắc ông biết mình vẫn hoàn toàn làm chủ tình huống. Cánh cửa sẽ không khởi động nếu ông kịp ngắt ống đồng. Nhanh như cắt, ông quay đầu lao vụt vào bóng tối, chưa đầy mười giây sau ông đã đứng trước thác nước.
- Khoan, anh làm gì thế?
Giờ là lúc ông trả đũa cô. Bất cần như chả nghe thấy gì, người Pháp phăm phăm lao ra suối.
- Dừng lại! - Tiếng vợ ông thảm thiết. – Chết đấy... !
Ông lội ùng ục đến giữa dòng rồi bất thình lình khự lại không phải vì tiếng thét sau lưng mà là âm thanh trên trời. Ông chiếu đèn lên và kinh hãi khi thấy trần nhà như đang hạ xuống. Tiếng rít của những phiến đá xanh miết vào nhau nghe lộng óc. Ông biết đã quá muộn, lúc này không có sức mạnh nào có thể ngăn cản cỗ máy khủng khiếp kia khi nó đã khởi động.
- Chạy đi! – Ông thét to về phía vợ rồi lao vọt lên bờ trước khi trần nhà sập xuống. Mặc dù bóng tối bao trùm, ông vẫn lao đúng hướng cánh cửa đá đang rung chuyển. Trước ông là tiếng bước chân dồn dập của người vợ.
- Dừng lại. Không kịp đâu! - Ông hét lên.
Người đàn ông ngũ tuần rướn hết sức lao theo, bốn bề rung chuyển tưởng như một cơn địa chấn đang ập đến. Một tiếng rít ghê tai vang lên cùng với luồng ánh sáng tràn vào. Hình ảnh mong manh bé nhỏ của vợ ông như đang bay khỏi mặt đất hướng về ánh sáng. Và đó cũng là hình ảnh nguyên vẹn cuối cùng mà ông còn thấy về người vợ đáng thương của mình. Tiếng động kinh hoàng vang lên. Tất cả lại chìm vào bóng tối.
Ông tin rằng vợ mình đã may mắn thoát qua cánh cửa. Định quay lại con suối thì tiếng động lạ trước mặt làm ông chú ý. Nhẹ nhàng ngồi xuống trong bóng đêm, ông linh cảm một sự thật kinh người đã bày ra trước mắt. Ông nhặt vội cây đèn trên sàn rồi chiếu vào nơi phát ra tiếng động. Lạy chúa tôi!
Thân thể nàng bị đứt lìa. Ông khụy xuống để hai cặp mắt kinh hồn của họ gặp nhau lần cuối. Một làn hơi thều thào hướng về phía ông.
- Hãy... mang nó về... Mỹ Sơn...
Làn hơi yết ớt tan biến vào hư vô. Người đàn ông Pháp mắt nhòa đi và không còn dám nhìn máu của nàng đang trào ra trước ngực và tưới đẫm lên cả linh vật đang nằm trên tay nàng. Phần thân còn lại của nàng đang ở ngoài hay rơi xuống hầm tối? Rõ ràng ông đã thấy nàng băng qua cửa nhưng không hiểu sao lại bị bật ngược vào trong.
Ông soi đèn lên vết cắt ngang người của nàng và rùng mình kinh hãi khi thấy một bàn tay gân gốc bị chặt ngang cổ tay đang bấu lấy ngực áo vợ mình. Một câu hỏi xoẹt ngang óc ông. Ngoài cửa đá là ai? Là người hay quỷ dữ. Hay chúng là người của hội kín Naga? Không lẽ lời cảnh báo của cha ông từ nửa thế kỉ trước rằng hội này còn sống vẫn đúng đến hôm nay? Ông lạnh gáy khi nghĩ rằng, mình cũng không thể toàn mạng khi ra khỏi đây. Làn máu nóng hổi đã tràn ướt dưới chân ông. Đứng chết lặng trên sàn, ông hãi hùng nhìn cách cửa táp đầy máu đang rỏ ròng ròng xuống đất như một máy chém vừa xong ca hành quyết để bảo vệ một chân lí hùng hồn khắc sâu trên đá.
“ Dâng máu cho Ngài! kẻ nào xúc phạm đến thần linh sẽ bị rút sạch máu ba đời dâng lên Ngài’’
 
 
Chương 2  
Mười hai năm sau. Đà Nẵng, 22 giờ 17 phút ngày 30 tháng 11.
Người đàn ông Pháp gầy gò đang sửa soạn đống tài liệu trong căn phòng của một khách sạn bên bờ biển Đà Nẵng. Suốt mười hai năm lánh nạn sau biến cố kinh hoàng, nỗi ân hận và sợ hãi đã vắt kiệt một kiến trúc sư kiêm nhà khảo cổ tài ba đang đà sung mãn trở thành một ông lão tiều tụy hơn so với cái tổi 67 của mình. Mỗi khi chợp mắt, hình ảnh người vợ không toàn thây và bàn tay cụt lại hiện lên như đang réo đòi thảm thiết. Niềm an ủi lớn nhất giữ ông lại trên cõi trần là đứa con gái hết mực yêu thương– một kỉ niệm duy nhất với người vợ xấu số. Đến nay, ông còn nợ nàng một nửa lời thề lúc lâm chung. Ông phải sống. Món nợ lớn nhất mà ông phải sống để trả lại cho người Chăm là một kho báu đang bị lịch sử chôn vùi trong quên lãng. Mối thù lớn nhất của ông cần phải thanh toán là một hội kín tà giáo khủng khiếp nhất lịch sử mà ông là nạn nhân số một. Ngày đó đã đến, ngày ông rửa hận và hoàn tất chuỗi sứ mệnh lớn lao trên đã đến.
Mọi khâu chuẩn bị cho ngày trọng đại sẽ diễn ra vào hôm sau đã hoàn tất, ông lôi cuốn nhật kí đặt lên bàn định chép nốt vài dòng. Dở cuốn sổ dày cộp luôn cạnh ông suốt mấy mươi năm nay, trên khuôn mặt phong sương hốc hác của nhà khảo cổ Viện Viễn Đông Bác Cổ lừng danh thoáng hiện một nỗi buồn. Cuốn sổ chỉ còn đúng một trang.
Bất giác, ông linh cảm có chuyện khác lạ, những trang giấy nâu chi chít những phát hiện, những sự kiện đáng nhớ và cả những ngày đau đớn cùng cực trong đời. Nó là người bạn duy nhất luôn ở bên ông. Càng nghĩ ông lại thấy nó giống mình đến lạ. Cũng thô mộc, nhàu nhĩ và cô độc nhưng đầy ắp tri thức và dấu ấn khủng hoảng còn nóng rực đến tận hôm nay. Nó chính là bản sao y chang đời ông nhưng ông không mong giống nó như lúc này. Bởi, nó chỉ còn đúng một trang. Một nỗi ám ảnh chết chóc bỗng dưng sống lại. Lời nguyền độc địa đã cướp đi người vợ hết lòng yêu thương. Hôm nay nó như đang hiện về để mang đi nốt bố con ông.
Cố xua đuổi cảm giác bất an của một kẻ có tuổi độc thân, Paul Morierre cầm bút định viết vài dòng nhưng nghĩ sao lại thôi. Theo lịch đã sắp xếp, đúng 7 giờ sáng mai ông sẽ đẫn đầu phái đoàn khảo cổ vào thánh địa Mỹ Sơn để khai quật một thần bảo hộ của Vương quốc Champa cổ xưa. Trừ ông ra, không một ai biết báu vật này là gì và chôn vị trí nào cho đến phút chót.
Bất chấp sự háo hức và nôn nóng dâng cao trong giới khảo cổ như một nồi súpde đang sôi, ông vẫn giữ phong thái lãnh đạm và dửng dưng của một người Pháp. Chỉ vài giờ nữa thôi thiên hạ sẽ vỡ òa vì ông. Giây phút lịch sử của ngành khảo cổ Việt Nam nói chung và Chămpa học nói riêng sẽ bước qua một trang mới.
Paul đứng dậy mở toang cửa sổ, một làn gió biển Đông mát rượi lùa vào căn phòng nhỏ. Hít một hơi tràn đầy lồng ngực, ông đứng lặng mình hồi lâu. Hướng đông, theo quan niệm của người Chăm là hướng của thần linh và cội nguồn của sự sống. Là một kẻ đã dành hết tâm lực cho đất thánh Mỹ Sơn, cùng với lòng thành kính của mình, ông có quyền tin rằng ở chốn linh thiêng các Đấng đang nhìn thấu và sẽ phù hộ cho ông trong sứ mệnh cuối đời này. Ta chỉ cần sống thêm hai ngày nữa. Đúng vậy, chỉ cần 48 tiếng nữa, món nợ lịch sử dài đằng đẵng hơn một ngàn năm mà nhân loại đang vay của người Chăm sẽ được ông thanh toán rốt ráo. Sòng phẳng trước khi chết.
Tiếng chuông điện thoại bàn reo vang, Paul nhấc máy, giọng nói quen thuộc ập đến vào cái giờ cấm làm ông kinh ngạc.
- Anh nói gì? ... Sao hả? – Paul thốt lên lạc cả giọng. - Chắc chắn không?... Được rồi, tôi sẽ mở máy ra ngay bây giờ.
Đặt tai nghe xuống rồi khởi động nhanh chiếc laptop, Paul mở hộp thư điện tử của mình. Tấm ảnh trong email đẩy sự kinh sợ của ông lên đến đỉnh điểm. Chính nó đây rồi. Không thể nhầm lẫn được. Chúa ơi! Sự bí mật tuyệt đối mà ông đã giữ kín mười hai năm nay đã bung bét. Linh vật vừa bị ai đó đào lên. Ai đã cướp của ông? Trời đất bỗng quay cuồng chao đảo. Nhưng mất linh vật chưa phải là tất cả, vấn đề là nó giống như cái chốt an toàn của một trái phá đã bị rút. Paul rùng mình nghĩ đến một đại họa khủng khiếp sẽ nổ tung trong nay mai.
Mồ hôi lạnh túa ra đầy trán, trong giây phút hoang mang tột độ, ông không còn nhiều sự lựa chọn. Ông cảm thấy mình phải làm một việc gì đó ngay tức thì, phải gọi ngay cho ai đó trợ giúp. Điện báo cho ban di tích Mỹ Sơn hay cho cảnh sát? Báo cho đồng nghiệp trước hay tự mình đến đó trước?
Paul cuống cuồng lục tìm các số điện thoại nhưng tai quái là ông không có di động còn cuốn danh bạ thì đã quên ở nhà. Mà dù có gọi cho ai thì ông cũng không thể không đến đó. Trong lúc cuốn loạn, những linh cảm quái gở cũng thi nhau ập về xâu xé ông. Phải trao bí mật cho ai đó phòng khi một đi không trở lại. Trao kho báu cho ai mới là vấn đề. Paul bỗng nhiên nhớ tới một người Pháp rất nổi tiếng thế kỉ 18 – tên hải tặc khét tiếng Labis. Khi đứng trước giá treo cổ y đã ném tấm da dê vẽ đầy hình thù kì dị xuống pháp trường và nói lớn “ Kho báu của ta sẽ thuộc về ai có thể hiểu được nó’’. Khi nghĩ đến kẻ đồng hương huyền thoại này, Paul bỗng thấy mình tự tin khác lạ. Ông mỉm cười. Cho dù linh vật bị mất thật đi chăng nữa nhưng kho báu Champa khổng lồ vẫn đang trong tay ông. Thế nhưng nếu đêm nay ông bị giết? Làm sao để nó không bị thất truyền đây? Phải rồi. Mã hóa nó!
Xé trang giấy cuối cùng và chấm bút, ông bóp trán viết ra một dãy kí tự rồi lập tức bỏ đi.
Chương 3  
Chiếc Ford Rangercũ kĩ phanh két ngoài gara thưa thớt của sân bay, một người trung niên vội vã bước ra rồi rảo nhanh lên đón khách. Kì Phương có mặt tại sân bay Đà Nẵng trong một tâm trạng bồi hồi hiếm có ở một kiến trúc sư quen sống trầm lặng. Với anh, chưa bao giờ thời gian lại truy đuổi dồn dập như hôm nay. Anh đã lái xe xuyên rừng trong đêm để đi đón một nhân vật mà hơn chục năm nay chưa gặp lại, đó là Thi Nga. Nàng là tiểu thư danh giá của Paul Morierre - người thầy cũ của anh. Ấn tượng về cô bé lai Tây này trong anh không nhiều ngoài thân hình nhẳng nhiu với sở thích bơi lội trên con suối quanh co chảy qua vùng đất thánh.
Một tháng thực tập nhoáng trôi đi, Kì Phương trở về đất bắc và sau đó không lâu anh biết tin cả gia đình ông không còn ở Mỹ Sơn nữa. Hơn mười năm trôi qua không một tin tức gì về họ cho đến hôm qua, ông bất ngờ xuất hiện trở lại trong một cuộc khảo cổ sẽ diễn ra ngày mai.
Quá xúc động vì ông còn nhớ cậu học trò cũ năm xưa, Kì Phương không biết nói gì hơn. Ông còn ngỏ ý nhờ anh qua sân bay đón con gái cũng bay từ Paris trở lại. Thật không có gì vui hơn được gặp lại những người đã từng coi anh như thành viên trong gia đình.
Bảng điện tử thông báo chuyến bay đã hạ cánh xuống Đà Nẵng an toàn. Kì Phương đưa tay nhìn đồng hồ. 23 giờ 25 phút.
Anh lách qua đám đông ngoi lên, mắt nhìn dòng người đang ùn ùn đổ ra với tâm trạng không thể hồi hộp hơn. Ánh mắt anh không sót một ai, những cô trẻ đẹp phải nhìn kĩ hơn bởi anh tin chắc chắn rằng nàng phải thế. Một thiếu nữ đôi mươi mang hai dòng máu Pháp - Chăm chắc phải có cái gì đó rất lạ. Nàng sẽ diện váy ngắn hay là khép mình trong bộ áo dài thổ cẩm truyền thống đây? Dòng khách nhanh chóng trôi qua nhưng không ai khớp với trí tưởng tượng của anh. Cũng chẳng một ai gọi tên anh nốt. Đúng khi đó, có bàn tay vỗ nhẹ lên vai.
- Anh là Kì Phương? - Anh quay giật lại, sát sau là một cô gái rất trẻ vận váy đen, đi giày cao gót.
- Vâng, cô đây là... ?
- Tôi là Thi Nga.
- Còn tôi là Kì Phương. Tôi lên để đón cô đây.
Kì Phương gần như không thể rời ánh mắt khỏi cô ta được nữa, những nét thân thuộc ẩn sâu trong kí ức vùng xé thời gian ùa về.
- Anh đúng là kiến trúc sư Kì Phương không? - Khác hẳn anh, đôi mắt đen dửng dưng của cô đã nói lên một sự thật rằng, cô đã quên tất cả.
- Đúng rồi, nếu cần cô có thể xem chứng minh thư trước khi ra xe cùng tôi.
Cô gái nhìn ảnh mỉm cười.
- Hình như cô đã quên tôi? – Anh hỏi và hồi hộp đợi câu trả lời.
Vẫn nở nụ cười xã giao, cô đáp:
- Thực ra hồi ấy tôi còn nhỏ quá.
- Chả ai trách trẻ con hay quên. – Anh nhìn ngang vào má cô và cố gắng đưa ra một nhận xét tinh tế. – Còn cô, trông khuôn mặt cô... – Anh định nói là béo hơn xưa nhưng kịp chữa lại. - Không khác trước là mấy đâu.
- Vậy mà lúc nãy anh không nhận ra tôi? – cô nói vẻ hờn dỗi.
Kì Phương gật đầu mỉm cười. Hai người không nói gì cho đến khi chiếc xe ford của anh nặng nhọc lăn bánh hướng về thành phố.
- Bây giờ chúng ta về khách sạn chứ? – Cô gái đột nhiên hỏi từ hàng ghế sau.
- Sao cô biết?
- Thì ba tôi đang ở đó mà, đúng không?
- Ừ, hôm nay ông ấy nhắc cô suốt ngày. Đã khuya nhưng có lẽ ông ấy đang chờ cô về ăn tối đấy.
Kì Phương bịa như thế chứ thực ra anh thừa hiểu tính lãng trí của Paul chẳng ai bì nổi. Cuôc đời nhà khảo cổ này gắn liền với sách vở và gạch đá. Ông có thể đọc vanh vách từng niên đại của tất cả hiện vật trong bảo tàng Chăm nhưng lại quên tịt ngày sinh nhật của vợ con.
Sáng nay ông ta bận đánh vật với khối bia kí tại bảo tàng Chăm. Thú thực, người chờ đợi cô nhất chính là anh. Chiều nay, từ khi biết tin cô về, anh luôn nghĩ về cô với bảo kỉ niệm ngọt ngào xa xưa, nhưng cái anh tò mò nhất là giờ đây cô xinh đến mức nào. Anh đã quên ăn và bất chấp mớ công việc bù đầu để đi đón cô.
- Ba em ở một mình tại khách sạn hả anh? – cô hỏi vẻ lo lắng.
- Ừ, ba cô bảo thế. Mà tôi không hiểu vì sao hai người không chờ nhau để đi cùng chuyến bay?
- Vâng, lẽ ra tôi đã bay cùng chuyến ba tôi hôm kia, nhưng do phải thi nốt một môn quan trọng nên phải đi sau một ngày mặc dù biết rằng để ba đi một mình là không nên.
- Trông ba cô quắc thước lắm, tôi nghĩ không có vấn đề gì về sức khỏe đâu.
- Anh chưa hiểu hết đâu, đêm nay rất quan trọng với ông ấy, tôi rất lo vì các rủi ro khác.
Đúng là Kì Phương không hiểu nhiều về Paul ngoài những giai thoại chứng tỏ đây là một người Pháp có nhiều duyên nợ nhất với xứ sở này. Nhưng điều mà bất cứ ai cũng biết là ngày mai đích thân Paul sẽ khai quật một báu vật của vương triều Champa. Tin này lập tức thu hút các nhà khảo cổ khắp thế giới. Đối với các nhà nghiên cứu văn hóa Chăm thì đây là một tiếng sét vang dội báo hiệu cơn dông hiếm hoi sau nhiều năm khô cằn hạn hán.
Không giống như các cuộc khai quật thông thường vẫn thầm lặng diễn ra ở đâu đó hàng ngày, điều bất thường là Paul dường như biết trước cổ vật là cái gì và đang nằm ở đâu dưới lòng đất hệt như hàng ngàn năm trước tổ tiên của ông ta chôn xuống và truyền lại bản đồ cho chính ông ta vậy. Sự kì bí của báu vật và thói úp mở của người khởi xướng vừa gây thêm tò mò vừa sinh lắm kẻ hiềm ghét. Ông độc quyền báu vật lẫn thông tin. Nói dại, ngộ nhỡ đêm nay ông có mệnh hệ gì thì tất cả cũng đi theo ông nốt.
- Cô yên tâm. - Anh trấn an. - Không đầy năm phút nữa tôi sẽ bàn giao cô cho ông ta, hai cha con tha hồ mà hàn huyên!
Rex Hotel tráng lệ tọa lạc trên bãi biển lộ dần trước ánh đèn pha. Kì Phương cua xe vào trong sân rồi bước xuống dẫn cô vào trong sảnh. Gã nhân viên có chiếc nơ trên cổ áo mau miệng chào anh nhưng cặp mắt của hắn ta lại hướng về cô gái phía sau.
- Anh chị cần thuê phòng?
- Phiền anh gọi lên phòng 307, báo cho ông Paul Morierre có người đến gặp. – Kì Phương nói.
Gã nhướng mày ra chiều suy nghĩ.
- Vâng, anh chờ lát. – Anh ta cầm máy ấn số rồi áp lên tai khá lâu, mắt liếc thêm cô gái mấy chập mà hắn cho là ăn đứt mấy ả người mẫu quen mặt thường lui tới đây cùng các đại gia.
- Chẳng ai nghe máy cả. – Anh ta lắc lắc cái đầu húi cua rồi nói. - Có lẽ ông ta đang bận?
- Ông ta có ra ngoài không? – Kì Phương hỏi.
- Cũng có thể. - Gã đảo ánh mắt lơ đãng một cung tròn rồi nhìn Thi Nga gợi ý. - Cô là người nhà của ông Paul à? Khách khứa ra vào quá đông, tôi không để ý lắm. Nếu cần nghỉ ngơi, anh chị cứ đặt thêm phòng?
- Chúng tôi không có nhu cầu thuê phòng. – Thi Nga cắt ngang lời anh ta.
- Không thuê phòng? - Anh chàng lễ tân chỉ tay về phía ghế sôfa. - Vậy thì xin mời anh chị!
- Vâng, chúng tôi sẽ đợi. – Cô đáp.
Thi Nga biết nhược điểm của ba cô là hay quên. Nếu ông ta ra ngoài đi dạo một mình, cô chỉ hi vọng rằng đêm nay ông nhớ đường về. Cô không thể liên lạc cho ông vì ông không dùng điện thoại di động nhưng cô cho rằng như vậy tốt hơn, bởi hễ cứ mua tặng ông hôm nay thì lại mất vào hôm sau.
Ngồi trong sảnh có tường kính nhìn ra bãi biển, Thi Nga xua tan sự lo âu của mình bằng cách thả hồn theo những đám mây lởn vởn ngoài biển xa.
Trong khi cô ngắm biển thì Kì Phương ngắm cô. Da trắng, tóc dài, mũi thanh, môi hồng... không trang điểm. Không giống đồng tử xanh leo lẻo của cha, cô giữ sắc tố đen thăm thẳm của mẹ trong đôi mắt to tròn đầy vẻ ngây thơ. Tạo hóa đã mang cho cô sự hợp bích giữa nét thanh nhã của người phương tây và sắc màu đằm thắm dung dị của phụ nữ An nam. Nàng như một công chúa Chămpa kiều diễm vừa bước ra từ truyện cổ tích. Ánh trăng vàng lả lướt bên khung cửa làm cho khuôn mặt đầy mộng mơ của cô càng sáng lên đầy huyền ảo. Nàng ngồi đó, chỉ cách một tầm tay mà anh ngỡ như một thiên thần đang bay xa vạn dặm. Máu nghệ sĩ bất chợt nổi lên, anh khẽ nói:
- Tuyệt quá! Thi Nga cói thể cho tôi kí họa được không?
Cô gái quay lại với nụ cười hiếm hoi. Tuy nhiên dù cô có đồng ý hay không thì cuốn sổ và chiếc bút đã nằm gọn trên tay anh. Từng vẽ hàng trăm khuôn mặt danh tiếng và nhiều người mẫu khoả thân nhưng chưa bao giờ anh lại run tay như vậy. Vẽ kí họa chỉ cần chộp lấy thần sắc của nhân vật và ghi lại bằng vài nét chấm phá. Tuy sơ lược nhưng người họa sĩ phải tài hoa mới mong thổi được vào bức tranh cả tâm hồn lẫn tính cách. Vừa được vài nét thì giọng the thé của gã nhân viên làm anh cụt hứng.
- Cô Thi Nga có đây không?
- Tôi đây - Thi Nga quên mất đang làm mẫu đứng vụt lên. - Gì vậy anh?
Chàng lễ tân sẵn nụ cười duyên từ xa kèm với một lá thư trên tay. Điệu bộ hệt như sắp ban cho cô một niềm vui lớn.
- Có một lá thư của ông Paul gửi lại đây đấy.
- Thư ba tôi? sao lúc nãy anh không nói ngay.
- Xin lỗi, tôi... quên.
Thi Nga tin rằng gã này có vấn đề. Không đợi anh ta nói hết câu, cô đưa tay đón lấy nhưng bị anh chàng “ có vấn đề’’ này vội rụt tay lại. Lần này gã mạnh dạn nhìn thẳng.
- Khoan đã, lấy gì chứng minh cô là người nhà của Paul?
Thi Nga đành rút cuốn hộ chiếu màu hạt dẻ đưa cho anh ta. Chàng nhân viên nhìn xuống rồi lại nhìn lên mặt cô đối chiếu. Không thể tìm ra lí do níu cô lâu hơn, anh ta trao trả toàn bộ giấy tờ.
Nói là bức thư chứ thực ra là tờ giấy nâu kẻ ô li gấp làm tư. Hi vọng ba cô nhắn lại điều gì trước khi đi đâu đó, cô vội mở ra. Khi trang giấy dang rộng trước mắt, cô không thể ngạc nhiên hơn khi thấy mấy kí tự lạ hoắc:

Cô quay lại hỏi ngay người thanh niên.
- Liệu anh có đùa tôi không? Đúng là ông Paul Morierrre ở phòng 307 viết bức thư này?
- Ơ hay, cô nghĩ tôi vẽ ra để trêu cô chắc.
- Xin lỗi, đúng là ông tây cao cao gầy gầy, râu tóc bạc phơ biết tiếng Việt đúng không?
- Sống mũi dọc dừa và đôi môi màu dưa hấu như cô nữa đấy! – Anh ta bổ sung.
- Phiền anh cho tôi hỏi thêm, ông đưa cho anh lúc nào, ông ấy đi cùng ai, và có dặn gì thêm nữa không?
Chàng lễ tân cảm thấy vinh hạnh ngần nào khi đôi mắt đẹp như mộng kia đang nhìn xoắn lấy mình, cho dù đó là cái nhìn riết ráo đến điên dại. Gã ước gì được chia ra năm câu hỏi và mỗi câu trả lời tương ứng gã sẽ thêm thắt cho thêm phần lì kì hồi hộp để đứng ngắm người đẹp đến hết cái buổi trực đêm buồn tẻ này. Nhưng nhìn khuôn mặt có phần tím tái và một anh chàng hầm hầm đeo bám phía sau buộc gã phải hủy sự bông đùa của mình.
- Ông ta viết lúc rời khách sạn cách đây chừng hai tiếng. Viết xong ông đưa cho tôi và bỏ đi, hình như đi một mình...
- Anh có nhớ ông đi đường nào không?
Anh chàng lại tỏ ra động não nhưng Kì Phương kéo nhẹ tay cô. Mắt anh nãy giờ không rời tờ giấy rồi nói:
- Tôi biết đây là đâu. Ta đi thôi.
Thoáng chút ngạc nhiên nhưng không hỏi thêm, cô bước theo anh. Chiếc Ford Ranger như một mũi tên vùn vụt trực chỉ Mỹ Sơn.
 
 
Chương 4  
Sau cú điện báo kèm theo những tấm ảnh hiện vật vừa bị đào trộm gửi đến, Paul rất kinh ngạc và hoảng hốt bởi đúng nó là báu vật mà ông đã mang về từ kho báu Naga mười hai năm trước. Thật khó tin là có kẻ đã biết vị trí bí mật đó.
Trên đường đến Mỹ Sơn, ruột gan ông như lửa đốt và chỉ mong tang vật vẫn nguyên vẹn tại hiện trường. Chỉ có ông mới biết được rằng cổ vật này là chiếc chìa khóa để ông tìm lại kho báu Naga đang thất lạc trong rừng sâu. Nếu cổ vật này bị mất thì con đường đến Naga sẽ vĩnh viễn khép lại hoặc mất hẳn vào tay thế lực xấu. Mười hai năm trước, sau hơn một tháng ẩn mình trong thánh địa Naga, ông tin những kẻ phục kích bên ngoài tưởng ông đã chết nên chúng cũng bỏ đi. Quyết định rời Naga, Paul đứng trước sự lựa chọn nghiệt ngã: Nếu mang cổ vật này về quê như đã hứa với vợ, ông sẽ vi phạm tày đình lời nguyền của hội kín, ngược lại, đến chết ông cũng không được thanh thản. Sau những đêm trăn trở suy tính, ông chấp nhận sự trừng phạt của hội kín để cho người xưa được mỉm cười nơi chín suối.
Sau khi thoát ra ngoài hang núi, ông đã mang cổ vật trở về sau nhiều đêm đói khát vượt núi băng rừng như một tên tù vượt ngục. Đến Mỹ Sơn, biết mình khó thoát khỏi sự trừng phạt tàn khốc, ông tính cách đào tẩu. Ông sẽ trốn về Pháp một thời gian chờ tình hình lắng xuống rồi sẽ trở lại trình báo báu vật cho nhà chức trách. Trong tay ông lúc này gồm báu vật, một tập tư liệu về Naga và tấm bản đồ. Báu vật sẽ ở lại Mỹ Sơn đúng như ước nguyện của vợ ông. Còn bản đồ và tư liệu thì ông biết không nên mang theo người. Bởi nếu hai thứ này cùng lúc rơi vào tay kẻ xấu thì lập tức Naga sẽ bị bại lộ. Sau khi cân nhắc, ông quyết định chỉ mang theo tập tài liệu.
Sáng nay, ông đã dạo vòng quanh thung lũng sau nhiều năm vắng bóng. Điều ông mừng là công tác trùng tu đã được nhà nước quan tâm hơn trước. Nhiều hạng mục di tích đã được được công nhận và có kế hoạch trùng tu phục chế bài bản. Đây không còn là sân riêng của người Pháp mà còn rất nhiều chuyên gia Ý, Anh và Nhật đã nhập cuộc. Sáng nay ông cũng không quên dò lại vị trí mà ông đã lén lút chôn báu vật và thấy nó vẫn nguyên xi. Ông đã lặng lẽ đứng đó hồi tưởng rất lâu. Thôi chết rồi, cái giây phút thả lòng kia đã bị ai đó theo dõi. Chúng sẽ đoán ông đang tìm gì ở đó.
Chiếc taxi đã tiến sát bìa rừng, ông tìm lối tắt đi thẳng tới thánh địa. Không một bóng người, ánh trăng vằng vặc phủ tràn thung lũng trong veo đến diệu kì. Họ đi đâu cả rồi? Hay có kẻ bày chuyện đùa ông? Ông tìm đến vị trí đó rồi gạt đám lá mục phủ đầy mặt đất và nhìn xuống thảm cỏ dại vẫn y nguyên như sáng nay, không có vết đào bới. Té ra mấy bức ảnh kia là đồ giả mạo mà kẻ đó đã bày mưu để lừa ông. Định cất bước trở về thì có tiếng loạt soạt sau lưng ông rồi một bóng đen đi tới.
- Đứng im tại chỗ!
Paul giật nảy người định bỏ chạy nhưng trước sau đều bị chặn. Biết đã trúng kế, ông chỉ biết đứng chôn chân mà nhìn. Một người đàn ông lực lưỡng lao tới bẻ quặt tay ông về phía sau để cho người khác trói lại.
- Có đúng chỗ này không? - Một người chỉ tay xuống đất hỏi.
- Mày nói gì? – Paul hỏi lại.
- Đừng giả vờ nữa. - Người to con dằn giọng. - Đào nó lên cho lão trắng mắt ra!
Một người thấp đậm dáng rất thạo việc vẽ một vòng tròn quanh vạt cỏ nơi ông vừa gạt đám lá khô. Tiếng cuốc xẻng chan chát thi nhau bập xuống xới tung cả khoanh đất rộng. Khi hố đã sâu ngang thắt lưng, một người dùng xẻng nhảy xuống cẩn thận xén sâu thêm từng lát đất nhỏ.
- Nhẹ tay thôi, kẻo làm hỏng việc. – Người đứng trên nhắc nhở.
Khi mũi xẻng chạm nhẹ vào một vật cứng vang lên một tiếng “ coong’’ trong ngần, y reo lên.
- Đây rồi! chính nó đây.
Đầu óc Paul chao đảo, ông sụm xuống bất lực nhìn hai kẻ lạ mặt nẫng báu vật mà ông phải đánh đổi cả máu và nước mắt mới có được. Vậy là sau bao năm ấm ủ những sứ mệnh thiêng liêng cao cả nay đã tan theo sương khói.
Hai tên trộm cho linh vật vào bao rồi đẩy ông đi về phía bờ suối rậm rạp cánh đó mấy chục bước chân.
- Cả sư! – Một kẻ cất tiếng. – Phần việc chúng tôi đã xong!
Paul ngỡ ngàng khi nghe danh xưng này, ông liền nhìn quanh xem còn ai nữa không. Dưới tán cây tối om lờ mờ hiện ra một người khoác áo choàng trắng đang tọa thiền trên một tảng đá lớn bên bờ suối. Paul căng hết thị lực nhìn người đó có đúng là kẻ mà ông suýt giáp mặt ở kho báu Naga năm xưa hay không. Nhưng nhận diện sao nổi khi ông chưa thấy mặt kẻ nằm bên ngoài vách đá và chỉ để một bàn tay bị cắt cụt trên ngực áo vợ ông. Một bàn tay cụt. Đó là tất cả những gì thuộc về xác thịt mà ông tận mắt chứng kiến về một hội kín khét tiếng trong lịch sử bán đảo Đông Dương cổ đại. Không lẽ hắn sống dai đến thế và còn đeo bám ông đến tận nơi đây hay sao.
Nếu đúng là hắn, thì nhận định bao nhiêu năm nay của ông về kẻ tà giáo cuối cùng đã chết hoàn toàn sai lầm. Đôi mắt ông đã quá mờ để nhìn kẻ đang ngồi trước mặt. Nếu không phải hắn thì là đồng bọn của hắn. Chúng chưa chết. Chúng đã trở lại đây để đòi lại linh vật và trừng phạt hai cha con ông cho trọn một lời nguyền độc ác đã tồn tại từ ngàn đời nay.
Hóa ra bao nhiêu năm nay ông vẫn chưa thoát được sự bủa vây của hội kín này. Chúng không lụi tàn, ngược lại, chúng đã cài người trong giới khoa bảng để leo cao rồi luồn sâu khắp hang cùng ngõ ngách nhằm bóp nghẹt những phát hiện và manh mối kho báu từ trong trứng nước. Chúng khoác lên vai những chiếc áo tu sĩ và trà trộn trong giới chức sắc Bàlamon. Chúng có mặt khắp nơi, từ đời thực cho đến cả trong ác mộng. Hắn là Cả sư ư? Paul nhìn kẻ đang tọa thiền trước mặt mà cười thầm một cách chua chát rồi bất chợt chỉ tay hắn rít lên.
- Chính mày? Mày đã theo tao từ Naga? mày là con rắn độc, rắn độc Naga!...
Tiếng gào vang lên một góc rừng rồi tắt nghẹt khi một tấm khăn đen chụp kín mặt. Trời đất tối sầm khi ông bị nhấn chìm xuống suối. Bộ quần áo giản dị trên người lần lượt rơi xuống. Toàn thân lạnh toát rồi từng mảng da bợt bạt co dúm trong làn nước lạnh. Con suối thiêng. Nếu được chết trong làn nước trong vắt này vẫn là diễm phúc nhưng Paul biết đây chỉ là khúc dạo đầu trong một nghi lễ tế thần rùng rợn mà ông đã từng nhìn thấy tranh khắc trên vách đá ở thánh địa Naga. Nghĩ đến đây ông rùng mình rồi ngất lịm.
Chương 5 Thực ra, chỉ liếc dòng kí tự trên Kì Phương đã biết ngay Paul muốn nói gì, và nó cũng chẳng có gì là bí mật cả. Các nhóm kí hiệu A1, A2,... B1, B2... do nhà khảo cổ kiêm kiến trúc sư người Pháp Henri Parmentier phân loại và đặt tên cho các di tích đền tháp khi ông nghiên cứu thánh địa Mỹ Sơn từ những năm đầu thế kỉ XX. Vì tính khoa học và đảm bảo sự nhất quán trong nghiên cứu nên các kí hiệu đó vẫn được tiếp tục sử dụng đến nay. Nó cũng phổ biến trong các bản đồ và tập san du lịch đến nỗi nhiều du khách cũng thuộc nó vanh vách. Kì Phương đoán Paul đang có mặt tại một trong bốn ngôi tháp đó. Paul là người rất kiệm lời, ưa chơi chữ, mê thơ ca và đặc biệt là hay dùng các kí hiệu khoa học vào đời thường. Có giai thoại kể rằng, khi công tác ở Mỹ sơn, sống kiếp vô gia cư, không phương tiện đi lại nên Paul đã căng lều ngay bên cạnh tháp cho tiện làm việc. Lúc in danh thiếp để liên lạc, trên phần “ địa chỉ văn phòng’’ ông chỉ ghi độc một chữ “ B1’’
Đường sá về khuya vắng tanh vắng ngắt, sau hơn một tiếng lao nhanh trên những con đường rừng quanh co họ đã đến gần khu di tích. Chiếc Ford tiếp tục phá tan giấc ngủ của rừng núi để tiến về thung lũng thiêng.
- Tôi thật lấy làm lạ. - Kì Phương cất giọng trách móc. – Đêm hôm thế này cha cô đến Mỹ Sơn mà không nói cho tôi một câu, dù sao đây cũng là thổ địa của tôi.
Thi Nga nãy giờ nín thinh suy nghĩ miên man và sợ làm anh phân tán nên không dám hé môi. Khi anh nói, cô mới chịu lên tiếng.
- Hay là ba tôi bị ai bắt cóc vào đây?
Hôm nay Kì Phương đã chứng kiến tận mắt Paul được nhiều người săn đón không khác gì minh tinh màn bạc. Nhưng kẻ hâm mộ ông đến mức bắt cóc thần tượng lôi vào rừng khuya thế này thì anh không tin.
- Chắc không ai bắt cóc ông cả. Ba cô còn viết thư, mà gã đeo nơ nói ông đi một mình mà. – Kì Phương trấn an. - Mà biết đâu ông vào đây thăm lại nhà cũ thì sao.
Tuy lí do này không thực tế nhưng Thi Nga vin vào đây để tự trấn an mình. Từ thủa tấm bé, cô biết ba mình đã coi Mỹ Sơn là nhà. Nơi đây là cảm hứng vô tận của đời ông và còn là nơi bắt nguồn tình yêu giữa ba và mẹ cô. Nhưng đời cho ông cái gì thì cũng lấy đi cái đó, Mỹ Sơn lại là nơi chứng kiến cuộc chia lìa đầy tang thương của gia đình họ.
- Hình như ba tôi sáng nay đã thăm Mỹ Sơn rồi cơ mà? - Thi Nga hỏi.
- Đúng, nhưng chắc là ba cô bỏ quên cái gì đó nên quay lại, chẳng phải tính ba cô dạo này lãng trí mà.
Chiếc xe giảm tốc khi đường hẹp lại. Khi không thể chạy tiếp qua con dốc cao, Kì Phương bảo cô xuống.
- Cô leo núi được chứ? – Anh chỉ đôi giày cao gót.
- Được, anh đi trước đi!
Đáp xong, cô chợt rùng mình khi nghĩ phải đi vào rừng vắng với một người đàn ông mà cô chưa hiểu biết. Cô đã quên mất rằng thủa tấm bé trên chính con đường mòn này anh đã dẫn cô đi hái trái me dại mỗi khi chiều về. Cô dũng cảm tiến bước với ý nghĩ rằng cha cô đã chọn mặt gửi vàng, nên chắc anh ta không dám đi quá giới hạn tại một nơi linh thiêng như thế này.
- Tuy khó đi nhưng đường rất ngắn. - Anh nói. - Qua con dốc nhỏ này nữa là tới.
Sau một hồi luồn lách trong rặng cây tối om, một quang cảnh thần tiên lấp lánh dưới ánh trăng rằm hiện ra.
- Nhìn kìa! – Kì Phương thốt lên.
Hằng hà sa số những giọt sương li ti đang phủ trắng trên những ngọn tháp nâu mờ ảo. Khu đền run rẩy hiện lên đầy huyền diệu. Mặc dù đã ngắm khu tháp tới ngàn lần nhưng Kì Phương không khỏi thẫn thờ trước cảnh trăng đêm nay.
- Tuyệt quá! - Thi Nga cũng thốt lên. - Không lẽ ba tôi một mình đến đây ngắm tháp sao?
Kì Phương tỏ ra am hiểu Paul như hiểu về ba ruột của mình:
- Ba cô vẫn lãng mạn như hồi nào, dân kiến trúc mà. Sống lâu năm ở đây, ông ấy biết lúc nào là đẹp nhất. Có điều là cảnh đẹp thế này mà cha cô đi một mình thì hơi phí.
Kì Phương cầm nhẹ tay cô rồi bước lên những bậc thềm rêu phong tiến về chân tháp gần nhất nhưng cô không sao nhấc chân nổi. Cô nao lòng ngước nhìn những ngọn tháp tuyệt mỹ của tổ tiên để lại nay chỉ còn là những hình hài cụt đầu đổ nát nằm giữa rừng hoang rồi một cảm giác nhói lên trong tim làm cô muốn khụy xuống. Những thây ma tróc lở.
Cô xót xa nhìn những thứ không hề giống như người ta bấy lâu nay ca tụng mà thay vào đó là quang cảnh quạnh hiu điêu tàn. Đúng như một nhà thơ Chăm đã viết mà ba cô thường ngâm nga mỗi khi chiều về:
“ ... Tháp hoang, như thình lình mọc lên từ đất...
Lông lá... âm u... dọa nạt... tháp hoang.
Nổi cộm giữa chiều trời ma quái.
Ung nhọt trên làn da mềm mại.
Thảm rừng già xanh... ’’.
Cô gắng kìm khỏi òa khóc. Mỹ Sơn đây ư? Ai đã tàn phá thánh địa linh thiêng? Ai đã đánh cắp linh hồn của tôi? Vậy là sau hơn mười năm dài đằng đẵng, cuối cùng cô đã được đặt chân trở lại chốn xưa, nơi cốt nhục ngàn đời không thể nào quên. Mẹ ơi! Trong thoáng chốc, một linh cảm lạ lùng làm cô sực tỉnh.
- Hãy tìm ba ngay!
Kì Phương lấy tờ giấy xem lần nữa rồi soi đèn lên bảng sơ đồ bằng bảng gỗ mặc dù anh đã thuộc như lòng bàn tay.
- Cô thấy các khu A, C, D, E chưa? - Anh lại chỉ về phía ngọn tháp gần nhất bên phải. - Trước mặt ta là khu B và C, nếu không tìm thấy ta qua suối để đến khu E và A. Ba cô chắc đang ở một trong bốn khu tháp kia.
- Vâng! – Thi Nga chỉ lên tờ giấy. - Thế còn cái dấu móc { úp trên đầu là gì?
- À, kí hiệu chóp nhọn, ý nói rằng bốn chữ cái đó chỉ bốn nóc tháp.
Thực ra, chỉ vài tháp thuộc nhóm B và C là còn có nóc nên bên trong rất kín và còn có những bệ thờ hoặc hiện vật, còn lại làm gì còn nóc. Nhưng để không bỏ sót, Kì Phương quyết định vào tất cả các tháp kín khu B, C tìm kiếm. Sau một hồi lùng sục cả trong lẫn ngoài tháp, Kì Phương lắc đầu nói.
- Không có, ra khu D ngay.
Khu D trải rộng phía sau khu B và C. Kì Phương cầm đèn chạy ngay ra phía ngôi tháp D6. Tuy nhiên tháp này hiện đã sụp đổ và chỉ còn vài bức tường vụn nát nằm trong cỏ dại. Kì Phương định đi về phía hai ngôi tháp dài khá nguyên vẹn tuy đã sụp mái là D1 và D2 im lìm trong đêm nhưng hai gã khổng lồ cụt đầu đang đứng gác. Khi soi đèn xuống đất, anh nhận ra những dấu chân nhàu nát trên cỏ.
- Xem này. - Anh khẽ gọi.
Hai người hồi hộp soi đèn lần theo và nhận thấy những dấu chân này đi ngược ra cổng rồi mất hút trong ngôi tháp B3. Kì Phương lấy làm lạ vì tháp này không được Paul ghi trong tờ giấy. Ngôi tháp này vuông vắn, khá cao còn tương đối nguyên vẹn ngoại trừ đang bị nghiêng và có nguy cơ sụp đổ bất cứ lúc nào. Anh ghìm tay Thi Nga ra dấu im lặng rồi soi đèn nhìn vào khe cửa như miệng một con quái thú khổng lồ đang há chờ mồi trong bóng tối. Không thấy gì, anh vỗ nhẹ vai Thi Nga nói khẽ:
- Cô đứng đây, một mình tôi vào là đủ. – Nói xong anh bước qua khe cửa hẹp sâu hun hút, mùi ẩm mốc trộn lẫn mùi tanh lợm xộc vào mũi. Trong lòng tháp lạnh đến rợn người, choán gần hết không gian chật hẹp là một bệ thờ chỉ còn mỗi yoni cao ngang thắt lưng nhưng cái thứ đang nằm trên đó mới làm anh giật mình lùi lại. Tay run run soi đèn lên yoni và anh không tin nổi thứ chất lỏng đang đọng lại trên đó. Máu? Kì Phương lạnh buốt xương sống khi nghĩ một chuyện khủng khiếp vừa diễn ra nơi đây. Tiếng giày lộc cộc ập đến phía sau.
- Gì thế anh?
- Có lẽ do... nước mưa! – Anh lúng túng đáp.
- Tháp này có nóc mà! – Cô sấn sát bệ đá rồi thốt lên. - Không lẽ đây là máu?
Thi Nga rút trong túi ra một mẩu giấy rồi chấm vào thứ chất lỏng. Nó có màu đỏ tươi.
- Máu thật sao? – Cô uôm người về phía trước và chỉ cách bệ đá vài phân.
- Máu thật, không lẽ... ? – Giọng cô òa lên đầy sợ hãi.
- Đứng lùi ra. – Kì Phương chộp lấy vai cô ghìm lại, tưởng chừng như nếu nắm hụt, cô nàng sẽ đổ nhào lên bệ thờ.
- Máu? ba tôi bị làm sao rồi... ba ơi, ba ở đâu? – Cô òa lên.
Kì Phương biết không sớm thì muộn cô cũng thốt ra điều hãi hùng đó. Điều mà anh đã nghĩ tới nhưng không dám nói trước. Có một mạng sống tươi rói nào đó vừa được hiến dâng cho thần linh. Một bữa tiệc sặc mùi tà giáo ghê tởm nào đó vừa diễn ra ngay trước mắt và ngay trên chiếc mâm đá có tên yoni kia. Mùi tanh nồng đang xông tỏa ngập ngụa gan ruột làm cô chạy vội ra ngoài tránh nôn tháo ra một cách bất nhã không thể tha thứ chốn linh nghiêm. Lau miệng xong, cô lấm lét bước vào. Không xông xáo như lúc nãy, trông mặt cô tái mét và bơ phờ như vừa trút hết sinh lực ra khỏi cơ thể. Kì Phương biết mọi thứ vẫn chưa bắt đầu. Điều khủng khiếp nhất vẫn đang chờ cô phía trước.
Kì Phương tuy bình tĩnh hơn nhưng cũng không thể giấu sự nao núng. Anh không muốn tin đó là máu, nhưng mùi tanh, và màu đỏ tươi đã là câu trả lời. Vết máu trên các dụng cụ thờ cúng không phải là hiếm. Từ thời cổ đại, máu đã chảy thành suối trên các đài thờ Thần Mặt trời của người Maya, người Da đỏ và nhiều bộ tộc Châu phi gần đây vẫn còn giết gái trinh và trẻ em để lấy máu tưới lên các biểu tượng tôn giáo. Mà chẳng cần viện dẫn đâu xa, ngay trên thánh địa Mỹ Sơn này có nhiều tài liệu chép lại những nghi lễ hiến sinh cho thần Siva. Trên các bia kí có nói đến lễ hiến tế bằng máu ngựa trắng, dê trắng, trâu trắng bị cắt cổ để cúng thần trên các chùa tháp. Nay một người đàn ông da trắng có lẽ là một món tế không tồi. Trên nhiều tấm bia kí còn kể triều đình đã hiến đàn ông, đàn bà và cả tù binh và cho các vị thần. Kì Phương cố xua đuổi những ý nghĩ rợn người vừa ùa đến, và vẫn để trấn an Thi Nga là chính, anh nói:
- Chắc không phải máu, mà nếu máu thì chưa hẳn là máu người.
Kì Phương đứng lên và thấy nhột lạnh ngón chân, anh nhìn xuống mũi giày vải và nhận ra vài giọt máu rỉ từ phễu yoni đã thấm đẫm một vệt lớn. Rút bàn chân lại, máu đã đọng thành vũng dưới nền gạch cũ. Kì Phương thầm nghĩ, một người già yếu như Paul có sống nổi sau khi mất nhiều máu thế này không. Bỗng nhiên Thi Nga loạng choạng đổ sụp xuống trước bệ đá như thể đó chính là ba cô đang trong cơn hấp hối.
- Ba ơi!
Khoa học chưa thể chứng minh được hiện tượng thần giao cách cảm, nhưng họ không thể phủ nhận có một sợi dây thông tin sinh học kì diệu giữa con người cùng huyết thống. Kì Phương loay hoay cố gắng tìm mọi cách để Thi Nga không suy sụp lúc này nhưng vô ích. Anh dìu cô ra ngoài rồi nói.
- Cô đừng hoảng, chưa có cơ sở nào chỉ ra ba cô đã chết đâu.
Kì Phương lại rút bút tích của Paul ra như một bảo bối, mặc dù anh biết nó đã hết thiêng.
- Chúng ta phải sang bên khu A, biết đâu ông đang ở bên đó thì sao? – Kì Phương không tin lắm điều mình vừa nói, vấn đề là anh muốn kéo Thi Nga ra khỏi đây và nuôi dưỡng thêm niềm hi vọng đang thoi thóp của cô. Sự gợi mở làm cô gái kịp trấn tĩnh giây lát, niềm lạc quan như được đánh thức. Cô giằng lấy đèn pin trong tay Kì Phương và gạt nước mắt.
- Cha tôi bỏ khách sạn rất đột ngột, nhất định ông không thể một mình đến đây.
- Cứ bình tĩnh! Mọi việc sẽ tốt đẹp thôi.
Kì Phương không nghĩ là cô ta đã thay đổi suy nghĩ nhanh như vậy. Trong vài giây từ chỗ tin cha mình đã chết bỗng quay ngoắt tin cha cô đang sống. Bây giờ anh mới nhận ra niềm tin tích cực có sức mạnh như thế nào. Kì Phương thở phào vì đã thắp lên chút niềm tin nhỏ nhoi trong cô tuy anh biết rằng nó có thể vụt tắt bất cứ lúc nào. Kì Phương biết đang có nguy hiểm rình rập họ nhưng anh không muốn chạy khỏi sự thật là một ai đó có thể đang hấp hối đang cần cứu quanh đây. Anh chỉ tay về phía bên kia con suối nói:
- Chạy nhanh xem.
Lần này không để anh dẫn lối, cô băng qua cây cầu nhỏ bắc qua con suối đang chảy ào ào. Mặt đất trơn và đôi giày cao gót đã buộc cô đôi ba lần phải vồ ếch. Qua suối có một ngã ba nhỏ trên triền dốc, cô dừng lại chờ anh. Kì Phương nói:
- Bây giờ chia ra để tìm cho nhanh, cô đi về bên phải bên có khu F đang bảo tồn. - Anh quay đầu chỉ ngược lại. - Còn tôi sẽ chạy sang nhóm A xem sao. Cô dám đi một mình không?
- Tôi dám!
Kì Phương đi được chục mét thì thấy sờ sợ bèn đứng lại nghe ngóng. Phía trước mặt anh lồ lộ dưới ánh trăng những hố đào và những đống gạch đá lởm chởm mà các chuyên gia Ý vừa quy tập chiều nay. Mặc dầu tối trời nhưng do quen thuộc địa hình nên anh đã chạy một quãng khá xa. Đất dưới bàn chân trơn nhẫy như được dội mỡ. Kì Phương chỉ kịp kêu “ ối’’ lên một tiếng rồi té nhào xuống một hố sâu. Chưa kịp định thần thì anh đã sởn gai ốc khi sờ trúng một dị vật cộm lên dưới mặt. Anh trương mắt ra nhìn. Dưới ánh trăng yếu ớt chiếu qua vòm lá, anh nhận ra dưới mặt mình là tột đỉnh của một bi kịch. Điều kiêng kị nhất cuối cùng vẫn đến. Khuôn mặt trắng bệch của Paul lộ ra dưới lớp đất tươi.
Chương 6  
Trên quốc lộ 1A, chiếc Audi A6 màu đen lao với tốc độ chóng mặt tiến vào thành phố Đà Nẵng từ cửa ngõ phía nam. Trời đã mờ sáng nhưng các con phố và giao lộ hầu như vắng ngắt trong ánh đèn đường vàng vọt. Đến một ngã ba, chiếc xe rẽ vào phố Lê Đại Hành rồi lại tăng tốc nhằm hướng sân bay. Trên hàng ghế sau có hai người đàn ông, một to cao, một gầy nhỏ. Mặc dầu không nói gì suốt quãng đường dài nhưng có vẻ họ khá lưu luyến trước khi chia tay. Ngồi cạnh nhau, người thấp bé chốc chốc ngước lên nhìn trộm người kia đang ngả mình lim dim trên nệm ghế.
Dung mạo người to cao mới trông đã biết ngay là ngoại quốc: lông lá, mùi hăng, mũi cao, mắt sâu, nước da đen sạm chắc bền như được xông khói từ suốt mấy kiếp trước. Chỉ vài phút nữa là tiễn khách, không để không khí tẻ nhạt kéo dài mãi, người thấp bé với tư cách là chủ nhà bèn lên tiếng trước.
- Tôi hỏi khí không phải, ông anh là người... Ấn Độ?
Người to cao cựa mình cười mỉm, mắt phóng về phía trước rồi đáp lại bằng một thứ tiếng Việt lơ lớ.
- Ông nói chỉ đúng một nửa.
- Sao cơ? - Người nhỏ bé giương to mắt. - Đúng là đúng mà sai là sai chứ?
- Xác mọc đất Miên, hồn ngự Mêru(3). – Anh ta đáp.
Người thấp bé vẫn láng máng cho đến khi nhìn thấy hình ảnh Siva bằng kim cương lủng lẳng trên sợi dây chuyền trước ngực. Người Miên theo theo đạo Bàlamôn. Thú vị với phát hiện của mình, người nhỏ thó càng tò mò. Mới chỉ vài phút quen nhau nhưng đã để cho anh ta không ít ấn tượng về thanh niên ngoại quốc này. Người to cao vẫn nhìn phía trước, chỉ có đôi tròng mắt như hai hòn bi đang động đậy. Ánh đèn pha của những ô tô ngược chiều phả những luồng sáng thoắt đỏ thoắt vàng trên nước da đen cháy tựa như thân xác y được đúc tạc bằng đồng thau vậy.
- Tiếng Việt của anh không tồi, chắc anh thường sang Việt Nam làm ăn?
- Tôi vẫn thường đón bình minh trên các resort bãi biển Sơn Trà, tiếc rằng lần này về cứ như chạy trốn.
- Vâng... - Người thấp bé cúi xuống tỏ chút ngượng ngập. – Chúng ta đều thừa lệnh Cả sư thôi mà.
Nghe đến “ Cả sư’’ người to cao ngoái lại nhìn chiếc vali đang an toàn trong cốp sắt mới an tâm quay lên nhưng không giấu nổi nét căng thẳng bất chợt. Xe lao nhanh hơn. Anh ta ngước cặp mắt đầy chất latin đượm buồn ngoái ra ngoài cửa sổ nhìn xa xa về phía đằng đông đầy vẻ tiếc nuối. Thấy vẻ mặt đầy tâm trạng của một kẻ sắp rời xa chốn mình yêu thích, người nhỏ bé chẳng nỡ gây xáo trộn khoảng khắc yên lặng ngắn ngủi này của y. Hai người im lặng cho đến khi chiếc Audi dừng hẳn. Người nhỏ bé xuống chạy vòng ra sau mở cốp xách vali cho y vào sâu trong sảnh đón rồi chủ động đưa tay ra bắt.
- Chúc đạo sĩ thượng lộ bình an!
Gã to cao suýt bật cười khi lần đầu tiên có người gọi mình là “ đạo sĩ’’. Thấy người bỏ bé lưỡng cưỡng chưa muốn dứt ra, y hỏi.
- Hình như ông có điều gì muốn dạy tôi?
- Ấy, không dám... tôi thấy đạo sĩ có nét gì đó hơi... quen quen, có phải tên ngài là... Shi...
- Xuỵt! - Người cao lớn trỏ vội ngón tay lên môi. - Thốt tên người khác nơi công cộng là không nên.
Y lần tay sau quần móc một tấm card rồi đưa cho người nhỏ bé. Người này đón lấy đọc ngấu nghiến, một thoáng sau ngửng lên vẻ mặt muôn phần kinh ngạc. Vua đồ cổ. Lúc này anh ta mới nhận ra trước mặt là một con người mà không phải ai cũng có cơ may được gặp một lần trong đời. Thảo nào từ đầu đã toát lên vẻ uy nghiêm khó gần, một chút lịch lãm và thừa ngạo mạn. Miệng lưỡi người nhỏ bé vốn đã sống sượng nay lại càng xơ cứng không thốt nên lời. Người to cao vỗ nhẹ vai anh ta.
- Nếu có cơ hội, đừng ngại gọi cho tôi. Nhiều người đã đổi đời sau khi họ gọi cú đầu tiên cho tôi đấy!
Người nhỏ thó xúc động đến nỗi mặt co lại, từng nhúm da bên khóe mắt giật lên từng hồi. Với công việc và chức năng của mình, anh ta hiểu từ “ cơ hội’’ ở đây là gì. Đó là đồ cổ.
- Đứng lâu nơi công cộng cũng không tốt đâu. Tạm biệt! - Người cao lớn vỗ vai cho anh ta tỉnh lại rồi ném một nụ cười bí hiểm trước khi bỏ đi.
Luôn luôn “ gieo hạt’’ là phương châm làm việc của y. Một thói quen tốt và rất đơn giản, với xấp card dày cộp đầy hai túi sau chiếc quần bò Levi’s, y không ngừng gieo xuống các mảnh đất tiềm năng. Với con mắt nhà nghề, y biết đâu là những đối tượng cần thiết lập quan hệ, đâu là đối tượng không nên la cà. Không hề vung vãi danh hão như một số doanh nhân học đòi, những tấm danh thiếp của y luôn đặt đúng nơi đúng chỗ. Đó là những nhà khảo cổ có tâm địa, những tên bảo vệ bảo tàng tham lam, và tất nhiên không thể thiếu những tên trộm đồ cổ người bản địa-kẻ mà hắn cho rằng sẽ mang niềm vui bất ngờ nhất.
Trong quá khứ đã có không ít những nhà sư biến chất trước khi từ giã cõi tu hành đã không quên ẵm về cho y bức tượng Phật vô giá. Bây giờ điểm lại, tài sản nhiều trăm triệu đô la của y đang ngày một phình to mà một phần không nhỏ đã đến từ những tấm card nhỏ xíu đó. Thật khó tin.
Sân bay quốc tế hiện đại này đã mở chuyến bay thẳng Đà Nẵng – Pnompenh càng làm cho “ con đường đồ cổ’’ của y ngày một hanh thông nhưng hôm nay còn sớm nên chỉ lác đác vài người. Bước về phía quầy check in, y cúi gầm mặt nhìn những áng đèn phản chiếu rực rỡ trước mỗi bước chân.
Mọi giấy tờ được y chuẩn bị kĩ lưỡng đã lọt qua khe thủ tục sân bay suôn sẻ như bao phi vụ trước đây. Ngồi khép lặng một góc trong phòng chờ, y mở lại chiếc vali ngó vào lần nữa. Một nỗi nghi hoặc bắt đầu nảy sinh từ khi y nhìn thấy báu vật thiêng này, nhưng giờ đây nó dâng cao và đẩy y đến suy nghĩ phải hành động gì đó ngay lập tức.
Chiếc Boing737 cất cánh khỏi đường băng rồi vếch chiếc đầu da cam như một mãnh thú hướng về phía tây nam. Trót lọt. Y ngả người trên hàng ghế VIP tận hưởng cảm giác khó tả đang dâng trào. Nhưng một sự thật phũ phàng mà y không thể ngờ tới đó là: cổ vật trong chiếc vali này là một trái bom nổ chậm sắp giáng xuống dấu chấm hết cuộc đời đầy dông bão của một vua đồ cổ tầm cỡ thế giới.
*
Mặc dù Kì Phương đã lường trước một kết cục tồi tệ từ khi nhìn thấy máu, nhưng anh không ngờ cái chết của Paul lại thê thảm đến như vậy. Anh vội vã lay gọi rồi ghé nghe nhịp tim. Thấy ông ta đã chết anh bèn lấy máy gọi ngay cho giáo sư Huỳnh Lẫm. Phía đằng xa, Thi Nga có anh bên cạnh, sự can đảm của cô đã rơi mất nửa. Sự sợ hãi bất giác lan tỏa trên những bước chân run rẩy của cô. Ánh đèn trong tay cô chiếu loang loáng tứ phía và tim cô giật thót mỗi khi thấy những pho tượng không đầu của thần Siva và những đứa con mình người đầu voi của Ngài ẩn hiện trong bóng tối.
- Kì Phương, anh ở đâu? - Cô khẽ gọi.
Phủi mặt mũi rồi ngồi dậy, Kì Phương định leo lên miệng hố thì bỗng nghe thấy tiếng cô văng vẳng phía xa. Anh hét với lên.
- Cẩn thận kẻo ngã đấy.
Nhận ra giọng anh, cô gào to.
- Đừng đùa tôi nữa, anh trốn ở đâu?
- Đừng chạy, đứng tại chỗ, tôi sẽ đến.
- Anh làm sao thế? - Nhận ra âm thanh khản đặc của anh thoát lên từ lòng đất, cô ta cuống cuồng chạy về phía anh.
Trong lòng hố sâu, Kì Phương nghe rõ tiếng bước chân rung chuyển mặt đất. Ánh đèn loang loáng ngày một sáng hơn. Cô ta sẽ nhìn thấy tất cả. Kì Phương bỗng dưng thấy hoang mang như chính mình vừa gây một tội ác ghê gớm, và không hiểu sao anh thấy sợ hãi, không phải sợ xác chết sau lưng mà sợ con người sống trước mặt. Anh ước cô ta biến mất khỏi đây. Cô ấy không đủ can đảm để nhìn cha mình lúc này. Kì Phương sợ sẽ phải chứng kiến trái tim non nớt kia tan nát. Cô đang chạy thình thịch trước khi quỵ ngã. Mỗi bước chân cô là một nắm đấm dội thẳng vào lồng ngực anh. Rồi bằng một động tác bản năng, anh ngã ngửa như một khúc cây bị đốn.
- Dừng lại ngay! – Kì Phương hét lên khi nhìn thấy một mũi giày thòi trên mép hố, một tràng đất đá dội xuống mù mịt kèm một chùm sáng chiếu vào mắt.
- Trời ơi! – Cô thét lên. - Anh có làm sao không?
Rõ ràng là cô chưa thấy cái mà anh đang cố che lấp. Vừa nói, cô vừa khom người túm chặt lấy miệng váy rồi duỗi chân nằm dọc theo mép hố. Bàn tay còn lại thõng sâu xuống nhưng vẫn thiếu vài tấc nữa để chạm vào điểm cao nhất của người anh. Kì Phương co rúm người lại một cách vụng về vô tình để cái xác to tướng dưới vai anh lộ ra.
- Đưa tay đây tôi kéo lên!
- Tôi bị chuột rút rồi. - Kì Phương luống cuống chỉnh lại thế nằm. - Hãy để tôi nằm đây chốc lát.
Thấy anh lúng ta lúng túng và có ý không muốn lên, cô giục.
- Nào, đưa tay đây tôi kéo lên!
- Không! Cô ra khỏi đây ngay đi.
Kì Phương cự nự như một đứa trẻ ăn vạ làm cô nổi cáu. Rồi như chợt nhớ ra điều gì, cô kiểm tra lại tư thế của mình rồi ngượng ngịu thu hai vế đùi lên trước khi chuyển sang thế khác mà cô cho là kín đáo hơn. Đặt chiếc đèn bên mép hố, cô nằm sấp trên mặt đất rồi thõng toàn bộ thân trên xuống hố nhưng càng không ổn. Với chiếc áo cổ rộng trễ xuống này, Kì Phương chỉ còn nước nhắp tịt mắt. Đôi bàn tay cô vớt liên hồi trong không khí và cô suýt nữa tóm trúng cái thắt lưng đang phập phồng của anh.
- Đồ hâm, chìa cái tay ra đây!
Bất chấp vòng tay nhiệt huyết đang dang ra, Kì Phương vẫn cự tuyệt. Anh biết rằng chỉ cần cựa quậy, cái vật dưới lưng sẽ làm cô ta ngã lộn cổ xuống đây. Anh không thể tàn nhẫn như vậy được. Cách hành xử kì quặc của Kì Phương lại càng làm cô ta sinh nghi. Cô không vồ vập như trước mà tập trung soi đèn từ mặt đến bàn chân anh hòng tìm ra lí do. Thấy tình hình đã đến lúc nguy ngập, Kì Phương buộc phải tìm cách tống cổ cô ta.
- Tắt đèn đi. – Anh quát.
Ánh đèn vụt tắt nhưng khối thịt vẫn y nguyên và có thể đổ úp lên người anh bất cứ lúc nào.
- Để tôi nằm một lát. - Anh dằn từng chữ. - Cô hãy ra khỏi đây ngay.
- Không được, đưa tay đây! – Cô ta bất thần phóng tay xuống cố vồ một cú quyết định để kết thúc cái trò đùa quái gở này. Đất đá được dịp tuôn xuống lấp đầy mặt nhưng anh vẫn lấy làm mừng vì nó lấp luôn cái xác dưới lưng.
- Cô hãy quay lại khách sạn đi. - Anh gào lên. - Biết đâu ba cô đã quay lại tìm cô.
Kì Phương không hiểu sao lại vuột một câu như vậy, nhưng câu này liền tỏ ra hiệu quả tức thì. Thi Nga thu bàn tay chưng hửng trở về rồi ngồi thượt trên mép hố, nhưng vẫn bướng bỉnh không chịu bỏ đi.
- Cô lái được xe chứ?
- Để làm gì?
- Cô hãy nhanh nhanh quay lại khách sạn ngay, nếu không tìm thấy cô, ba cô sẽ lên sân bay tìm cô đấy.
- Nếu ông ấy đã rời khỏi đây, tôi nghĩ sẽ phải sang Camboge tìm ba tôi mất? Anh đi với tôi chứ?
- Campuchia à? – Kì Phương tưởng cô nói nhầm. - Cô nói nghiêm túc đấy chứ?
- Tôi không đùa vào lúc này!
Kì Phương cho rằng cô nàng láu lỉnh đang bịa chuyện để dụ anh đứng lên nhưng anh không dễ dãi mắc mưu đến vậy.
- Vậy ông hẹn cô sang Campuchia để làm gì nào?
- Thám hiểm một di tích gì đó chưa ai biết tới. Anh chưa nghe ba tôi nói về một thánh địa hay kho báu Naga nào đó sao?
Nghe đến đây Kì Phương chỉ muốn ngồi bật dậy để hỏi cho ra nhẽ, nhưng vừa dựng gáy lên anh đã phải giả vờ mệt mỏi hạ xuống. Không biết từ phía sau Paul có xác nhận điều con mình vừa nói hay không nhưng quả thật mấy hôm nay anh đã nghe phong phanh về chuyện đó. Kì Phương đã định hỏi trực tiếp Paul nhưng ông vẫn chưa dành cho anh một chút thời gian nhưng dù bất luận đúng hay sai thì đây là cơ hội để đẩy cô ra khỏi đây.
- Vậy cô nên nhanh nhanh quay về Rex đi, nếu không ba cô sẽ đi thánh địa Naga mất.
- Nhưng anh đang nằm đây thì tôi không nỡ bỏ đi được.
- Khổ quá, đừng lo. Tôi chỉ bị chuột rút thôi mà, vả lại đồng nghiệp tôi và cảnh sát cũng sẽ có mặt ở đây ngay bây giờ.
Kì Phương rút chùm chìa khóa rồi ném lên miệng hố. Thi Nga đang tần ngần thì có tiếng ô tô vang lên từ xa.
- Họ đến rồi đấy. Cô đi ngay đi!
Chỉ trong vài giây, tiếng sột soạt của đôi giày 9 li đã mất hút. Áp lực tưởng như đã vơi đi nhưng một nỗi ân hận lập tức ập đến giày xéo lấy anh. Mình quá ác với cô ta. Nhưng để cô chứng kiến cảnh này còn tàn nhẫn hơn nhiều. Anh thầm nghĩ sẽ gặp lại cô tại Rex rồi nói hết sự thật này, lúc đó dù có ngất xỉu cũng đã có giường ấm nệm êm. Anh cũng có thể ở đó an ủi vỗ về hàng giờ dù sao cũng dễ chịu hơn là để cô chuầy chòa nơi bùn lầy nhớp nhúa này. Kì Phương nặng nề ngồi dậy dũ bớt bùn đất rồi tìm cách leo lên miệng hố. Xung quanh chìm đắm vào bóng đêm mịt mùng.
Anh nhận ra các kí hiệu mà Paul để lại chẳng liên quan gì đến cái hố mới đào này cả. Còn chỗ tháp có yoni đầy máu cũng chẳng có trong bảng kí hiệu. Paul có một ý nguyện duy nhất là khi chết, tro cốt của mình được rắc xuống Mỹ Sơn. Kì Phương trộm nghĩ hay tờ giấy này là di chúc yêu cầu vị trí rắc tro sau khi chết? Tuy nhiên nhận định của anh có thể làm linh hồn ông nổi giận. Có nhiều học giả nói các đền tháp là nơi mai táng của vua chúa và các tu sĩ nhưng đến nay chưa có bằng chứng khoa học nào khẳng định điều đó. Paul là người phản bác giả thiết này nên càng không thể có ý nghĩ mạo phạm như vậy. Vậy thì bảng kí hiệu kia nói gì? Anh nhìn lại và tiếp tục vắt óc suy nghĩ.

Bây giờ anh mới nhìn kĩ và phát hiện sự hời hợt của mình. Trong danh mục của H. Parmentier không hề có kí hiệu C8. Chỉ có từ C1 đến C7 mà thôi. Nếu C8 không phải là tháp thì là cái gì? Mà ngẫm lại, cả ba ngôi tháp còn lại đều thành phế tích, thậm chí tháp A5 hay D6 đã bị xóa sổ gần như hoàn toàn. Kì Phương băn khăn không biết Paul muốn gửi gắm điều gì trong tờ giấy kia. Việc của ông ta là khai quật báu vật như đã hứa. Nếu biết không sống nổi thì lẽ ra ông ta phải chỉ ra vị trí cho người khác đào. Nhưng thay vì ghi rõ địa điểm thì ông ta lại chơi một mớ chữ hỗn độn thế kia. Hay là ông ta sợ kẻ xấu đọc được nên viết theo dạng mật thư?
Kì Phương nhìn lại mẩu giấy và anh nhận ra rằng đây có dáng dấp của một mật mã cổ điển. Thế nhưng mật mã thế này thì quá ư đơn giản. Cách mã hóa này có từ thời La Mã cổ đại và được sử dụng trong nhiều thế kỉ, nay đã lạc hậu và có thể bị hóa giải bởi bất cứ ai trong vòng vài phút.
Kì Phương không biết Paul đã bí mật trao mã khóa cho ai chưa nhưng anh tin loại mật mã “ vỡ lòng’’ này anh chỉ bẻ gọn mà không cần đến mã khóa. Thực ra bản khóa loại này cũng quanh đi quẩn lại mấy phương pháp cũ mèm như “ thay thế’’, “ đọc ngược’’, “ mưa rơi’’ hay “ chuồng bò’’ gì gì đó... Nghĩa là, khi không có mã khóa thì bất cứ ai bắt gặp mật thư này cũng sẽ thử mò mấy phương pháp kia và rồi cũng ra cả. Rất may là chỉ có 8 kí tự. Bản mã vừa có chữ cái La tinh vừa có chữ số nên ý nghĩ đầu tiên của anh là “ thay thế’’.
A5D6
E3C8
Thay các số thứ tự 1,2, 3... tương ứng với bảng chữ cái A, B, C, đoạn kí tự trở thành: AEDF
ECCH
Nhìn mãi Kì Phương vẫn không thấy có nghĩa gì cả. Nếu đảo lộn bốn chữ AEDF rồi sắp xếp lại theo một trật tự khác thì tạo ra một từ đáng chú ý là “ DEAF “ Từ này trong tiếng Anh có nghĩa là “ điếc’’.
Phương pháp này trong thuật mật mã gọi là “ phép thế Caesar’’ do vị Hoàng đế Lã Mã Julius Caesar sử dụng khi gửi các bức thư mật ra chiến trường bằng cách thay các chữ cái trong thư bằng các chữ khác cách đó 3 chữ trong bảng chữ cái. Trong trường hợp này, Kì Phương biết có thể phải tịnh tiến thêm hai hoặc vài chữ cái nữa nhưng phương pháp thủ công này sẽ ngốn nhiều thời gian và tạo ra vô số nghiệm. Anh tạm gác cách này để chuyển sang cách ngược lại. Đó là biến chữ thành số. Thử thay A, B, C thành 1,2, 3. Dòng kí tự “ A5D6’’ lập tức trở thành: “ 1546’’ Chữ số này trùng với vĩ độ đi qua di tích Mỹ Sơn. Kì Phương nhanh chóng giải dòng tiếp theo trong tâm trạng hồi hộp nhưng số kinh độ đầu tiên đã làm anh thất vọng. E3C8 chuyển thành “ 5338’’ trong khi kinh độ của Mỹ Sơn du di quanh số 108’50’’. Vậy đây không thể là tọa độ chôn báu vât rồi.
Kì Phương dừng tay nhìn lại tổng thể mật thư lần nữa và anh càng chú ý đến cái dấu móc úp trên đầu. Lúc đầu anh cứ tưởng đó là biểu tượng cho cái tháp nhọn, nhưng bản thân các chữ cái kia đã chỉ đích danh tháp rồi thì cần quái gì thêm chóp nữa. Hay nó là cái gì khác đây? Anh chưa biết làm gì tiếp theo thì nghe thấy tiếng động cơ gầm rú, tiếng còi rít kèm ánh đèn sáng chói xé tan cánh rừng. Kì Phương đút tờ giấy vào túi, xốc lại quần áo và phủi qua đầu tóc trước khi nhìn thấy một tốp cảnh sát xuất hiện.
 
 
Chương 7  
Không hiểu vô tình hay hữu ý mà cổ nhân Champa một thời đã đặt ba trung tâm Tôn giáo - Chính trị - Kinh tế của mình nằm trên một đường kẻ thẳng tắp có tâm điểm là kinh đô Sư Tử (Simhapura). Hơn một thiên niên kỉ trải qua bao biến động phải di dời kinh đô và thánh địa, ngoại trừ biểu tượng chính trị đã lụi tàn nhưng trái tim Tôn giáo Mỹ Sơn và trung tâm kinh tế Hội An vẫn trường tồn đầy sức sống mãnh liệt như thủa xưa.
Lúc này, đón những tia nắng đầu tiên là một nhóm người trong căn nhà cổ kính ven sông Thu Bồn. Đó là ba người đàn ông lớn tuổi và một nữ phóng viên trẻ Mộc Trân. Trước mặt cô là chiếc máy ghi âm đang ở chế độ tắt, một cây viết và một quyển sổ đang mở rộng chưa có dòng chữ nào. Nét mặt của họ đăm chiêu ngó ra mặt sông phẳng phiu như lụa trải ngoài khung cửa.
Người lớn tuổi nhất là giáo sư Huỳnh Lẫm - một nhà khảo cổ và nghiên cứu văn hóa Chăm có tên tuổi nhất nước hiện nay. Ông bấm máy di động rồi áp lên tai lần này là lần thứ năm. Rồi cũng như mấy lần trước, ông thả xuống bàn với cái lắc đầu nặng trĩu:
- Đến giờ này vẫn chưa liên lạc được, tôi e rằng lão đã xảy ra trục trặc gì đó.
- Xin thầy đừng sốt ruột ạ. - Một người tóc xoăn lên tiếng. - Người Pháp có thói quen dậy muộn, ta đợi lát nữa xem.
Người đàn ông khác đeo cravat đỏ có phần sốt sắng hơn:
- Có lẽ chúng ta nên bắt taxi lên khách sạn xem sao, ông ta phải biết rằng khán giả cả nước và nhất là người Chăm trên toàn thế giới đang nằm phục bên tivi từ đêm qua.
Mộc Trân với đôi mắt thâm quầng do mất ngủ bỗng ánh lên, cô đặt li cà phê xuống bàn rồi phụ họa theo:
- Cánh phóng viên chúng em có người cả tuần nay ăn chực nằm chờ ở Mỹ Sơn, lề mề nhất như em thì tối qua cũng đã hạ trại rồi.
Người đeo cravat đỏ lộ dần là một quan chức nặng kí, ông vung tay:
- Không gì tệ bằng để mất lòng tin trong nhân dân, ông ta mà bỏ trốn như hồi trước, tôi sẽ lôi cổ ông ta ra tòa.
Nghe đến từ “ bỏ trốn’’, người tóc xoăn không thể không xen vào:
- Anh Trọng cứ bình tĩnh, dù bê tha đến mấy thì người Pháp cũng không thất hứa đâu.
Giáo sư Huỳnh lẫm không hé môi, ông đưa cặp mắt sâu hoắm nhìn ra mặt sông như tìm kiếm một câu trả lời về buổi lỡ hẹn không đáng có này. Tuy không bổ nhát cuốc lịch sử xuống Mỹ Sơn sáng nay, nhưng ông vẫn là thành viên cốt cán của đoàn khảo cổ. Ông tin tưởng vào vị đồng nghiệp đến từ EFEO như tin chính bản thân mình, nhưng để xảy ra sự cố ngay từ phút đầu trong sự kiện trọng đại này lại là một điềm không lành. Dù gì đi chăng nữa, Paul vẫn được nhìn nhận như một người đầu tiên hồi sinh cho Mỹ Sơn sau hai cuộc chiến tranh tàn phá.
Hơn một thế kỉ nay các nhà khảo cổ Pháp luôn phô cái bóng to kềnh của họ che lấp những nhà khoa học da vàng mũi tẹt như ông. Từ khi nhà thám hiểm Camille Paris tìm ra Mỹ Sơn đến nay đã có không ít nhà khoa học Tây phương để lại dấu ấn trong lịch sử hàn lâm khoa học Việt Nam hiện đại. Và ngày mai, lại một người Pháp nữa. Cô phóng viên ngước nhìn lần lượt ba tinh hoa nước nhà như như thể đang khiêu khích.
- Không biết linh vật Champa là thứ gì mà ông Paul kín như bưng vậy, chẳng lẽ các bác không ai biết gì hay sao?
Người tóc xoăn lập tức quay sang trừng mắt nhìn cô ta qua cặp kính dày cộp, giọng đục ngầu.
- Cô muốn chúng tôi ngồi tù chắc? Đã nói là bí mật quốc gia, cô nên tìm Paul mà hỏi.
Giáo sư Huỳnh lẫm nhấp một li cà phê cố che một cái nhếch mép. Bởi, ông biết rằng sau cái cặp kính trí thức kia cũng chả biết gì. Ngay cả ông đây, từng là viện trưởng Viện khảo cổ, nhà nghiên cứu Chămpa có số có hạng mà cũng chẳng rõ Paul sẽ diễn trò gì trên khoảnh đất đã nén chặt dấu chân ông. Nhìn những khuôn mặt khó đăm đăm, cô phóng viên biết mình đã hỏi không đúng lúc, không đúng người và không đúng chỗ. Gấp cuốn sổ trống trơn trên bàn, cô đưa ánh đầy cam chịu nhìn chan chứa ra mặt sông lờ đờ. Ngay lúc đó, chất giọng trầm trầm u ất hơn lên tiếng.
- Chị Mộc Trân cứ bình tĩnh. - Giáo sư Huỳnh Lẫm nói. - Cô mới đợi có một đêm, còn tôi, nói cô đừng cười, tôi đợi ngót một đời người rồi.
Người đeo kính cười khổ rồi phụ hoa theo.
- Cô Trân chắc không lạ gì với thầy Lẫm đây, nếu nói về thâm niên nghề nghiệp còn hơn cả tuổi đời của tôi, vậy mà tôi năm nay đã ngót năm mươi. Cái tuổi sắp đuổi gà nhưng nhìn lại mình vẫn chưa làm nên trò trống gì so với ông Paul. Thực lòng mà nói, chúng tôi rất ghen tị với ông ta - Người đeo kính lén nhìn thầy của mình rồi lại tiếp. – Nhưng nghĩ đi thì phải nghĩ lại, ở cái xứ này có ai dám xả thân bầu bạn với rắn rết trong rừng hoang để làm khoa học như ông ta đâu.
Giáo sư Huỳnh Lẫm đồng tình, ông nói thêm.
- Đợt này ông ta thề sẽ mang cho chúng ta một báu vật quý báu hơn tất cả các báu vật trong viện bảo tàng Chăm cộng lại.
- Ông ta điên chắc! - Người thắt cravat vốn kiệm lời nhất, nhưng lần này ông cũng không kìm nổi. - Có cái gì đó rất kì quặc, tôi cảm thấy chúng ta hình như đang bị lừa.
Giáo sư Huỳnh Lẫm vung tay như chặn chiếc lưỡi quá khích đang nhằm vào người bạn của mình.
- Nói bậy, anh suy xét cho thật kĩ, trước khi sang đây ông ta lập hồ sơ chứng cứ rất cặn kẽ cho cơ quan chủ thể của mình. Với uy tín của cá nhân và cả EFEO, mọi khâu thủ tục đã khơi thông với tốc độ ngoài mong đợi. Đây là sự kiện lớn do một nhân vật uy tín khởi xướng.
Cả nhóm không nói thêm, lúc đó chiếc di động lại reo vang. Không phải là Paul gọi đến xin lỗi như ông tưởng, đó là một học trò của ông.
- Ai đấy?... Paul bị giết sao?... Nói to lên... Trời, không thể!
Chiếc điện thoại nhỏ bé ruốt cuộc đã đánh khụy vị giáo sư. Sau tiếng gào khô khốc, ông lẩy bẩy ôm lấy đầu. Mộc Trân nhổm người dậy, mắt dáo lên hỏi dồn:
- Có giết người hả bác, ở đâu?
Sau cơn choáng nhẹ, vị giáo sư thở sâu rồi ngả lên thành nghế, mắt mở to lơ lác nhìn lên trần nhà.
- Thầy! thầy có làm sao không thầy? - Ba người đồng thanh hỏi.
- Paul... đã bị giết rồi! - Vị giáo sư già nói hắt ra đầy khó nhọc.
- Ở đâu bác? chúng ta sẽ đến đó ngay bây giờ. – Mộc Trân nhanh tay lùa mớ đồ nghề vào bao.
- Thánh địa Mỹ Sơn. Nhanh lên!
Một phút sau, chiếc xe con nhằm hướng tây lao đi.




Đăng nhập để trả lời
0
Chương 8  
Người cảnh sát đi đầu vóc dáng đậm, đeo kính đen, đầu trần để lộ mái tóc hoa râm chải vội nhìn mặt Kì Phương hỏi:
- Anh là ai?
- Tôi tên Kì Phương, thi công tại đây, đêm qua...
Chưa nghe hết, ông ta đi tiếp đến miệng hố rồi rút cặp kính râm nhìn xuống. Hàng rào người mặc cảnh phục mau chóng vây quanh, vài tiếng xì xào vang lên. Sau đó có hai người tụt xuống hố với túi dụng cụ nghiệp vụ. Chừng dăm phút sau họ nhấc nạn nhân lên mặt đất. Qua kẽ hở của hàng người, Kì Phương liếc mắt tranh thủ nhìn ông lần nữa và anh sửng sốt khi nhìn thấy thân hình Paul trần trụi chỉ độc một mảnh quần lót trên người. Họ đặt ông lên một tấm dù màu đen tương phản với nước da trắng bệch nên thi thể trông càng thảm hại. Kì Phương định dấn lên một bước để xem cho rõ thì một bàn tay túm gáy anh lôi nhẹ ra. Một cặp kính đen áp vào mặt anh.
- Anh đã làm gì ở đây?
- Tôi đi tìm ông ta và thấy ông ta nằm dưới hố.
- Vậy anh đã thấy những gì?
- Tôi chỉ mới đến đây trước các ông vài chục phút thôi, khi đó ông ta đã tắt thở, xác bị vùi dưới hố như các anh đã thấy.
Viên cảnh sát bấm đèn pin rê từ đầu xuống chân anh như thể kiểm chứng lời khai vừa rồi có đáng tin hay không rồi đột nhiên ông ta dừng lại ở mũi giày.
- Tại sao lại có máu?
Kì Phương cảm thấy nhớp nháp toàn thân. Không riêng gì mũi giày mà trên người anh chỗ nào cũng lấm láp hệt vừa trải qua một cuộc ẩu đả.
- Tại sao lại có máu ở chân? - ông ta nhắc lại.
- Trước khi tôi ngã xuống đây, tôi đã lại gần yoni đằng kia, máu ở đó đã...
- Yoni? Yoni là cái quái gì? – ông ta ngắt lời, tai vênh lên.
Kì Phương thoáng ngạc nhiên, anh nhìn xuyên mặt kính đen nhưng không thể biết ông ta có đùa hay không. Qua chất giọng bắc bộ anh đoán viên cảnh sát này vừa chuyển công tác đến đây chưa lâu. Cũng không lấy gì làm lạ, hai phần ba du khách lần đầu đến đây đều có chung câu hỏi na ná như vậy.
Kì Phương cố nhìn kĩ hình thù như một con gấu lừng lững đang ngự trước mặt nhưng chẳng thấy gì ngoài tấm biển hiệu ánh bạc “ Thiếu tá: Lê Đại Hắc’’ treo trước ngực. Tuy trời tối mịt nhưng ông ta vẫn đeo cặp kính râm che gần nửa khuôn mặt và đang chăm chú chờ câu trả lời.
- Yoni là vật thờ cúng mô phỏng cơ quan sinh dục nữ. - Kì Phương nói: - Theo quan niệm của Bàlamôn giáo, yoni là biểu tượng cho âm tính trong vũ trụ.
- Chẳng lẽ trong vũ trụ này chỉ mỗi âm tính? - Viên cảnh sát tỏ vẻ không hài lòng. - Dương tính ở đâu?
- À không, vũ trụ này được cấu thành bởi hai lực lượng âm và dương trái ngược nhau nhưng cân bằng và luôn song hành với nhau. Lúc nãy tôi nói chưa hết, bên trên mỗi yoni luôn có một linga. Nói đến đây chắc ông biết linga là gì rồi chứ.
Một sĩ quan bước tới làm ông ta phải miễn cưỡng quay sang.
- Gì thế?
- Báo cáo sếp! đã xác định được danh tính nạn nhân. Qua khám nghiệm sơ bộ thì ông ta chết khoảng 1 đến 3 giờ sáng bởi một vết thương trên cổ gây mất máu. Không thấy máu trên hiện trường vì vậy đây có thể là hiện trường giả. Ngoài ra có rất nhiều dấu chân cày nát xung quanh và dưới đáy hố.
Nghe đến từ “ cày nát’’ Kì Phương lại chột dạ. Anh định nói lên rằng có rất nhiều máu đã đổ phía ngoài kia nhưng đã thấy rất nhiều lính tráng đã vây quanh đó tự khi nào.
- Đưa nạn nhân về trung tâm pháp y tỉnh. – Ông ta xua tay như muốn đuổi đám cấp dưới cùng cái xác to kềnh thiếu thẩm mỹ ra khỏi mắt kính thời trang của mình. Xem ra phạm trù âm dương đối với ông ta thú vị hơn nhiều. Ông ta ẩy nhẹ cặp kính rồi nói tiếp:
- Yoni? tiếp đi!
- Vâng, bộ ngẫu tượng linga-yoni thể hiện một triết lí về vũ trụ và tâm linh. Nếu ông muốn tìm hiểu về nó tôi rất sẵn lòng.
- Được, ta ra ngoài kia!
Họ ra khỏi lùm cây, bầu trời màu xám tro le lói vài tia nắng nhạt xuyên qua đám mây mù. Những ngọn tháp Chàm nhấp nhô như đang vươn mình khỏi khóm cây để tận hưởng nguồn sinh khí ban mai tinh khiết nhất. Xa xa là dãy núi trùng điệp bao quanh như những bức tường thành thiên nhiên được thượng đế dựng lên hàng triệu năm trước để che chở cho thung lũng thiêng.
Không giống như các đền đài lăng tẩm nổi tiếng trên thế giới luôn ngự trị trên quảng trường rộng lớn hay sa mạc bao la để tăng tính uy nghi đầy chế áp thì tháp Chàm lại duyên dáng e ấp trong những đồi cây khóm lá. Nếu bức màn thiên nhiên xung quanh hạ xuống, tháp Chàm sẽ trở nên trần trụi và cô độc. Kazik - người kiến trúc sư tài ba nhiều năm gắn bó với Mỹ Sơn đã thốt lên rằng “người Chămpa cổ đã gửi tâm linh vào đất đá; và đã biết dựa vào thiên nhiên để làm nên một Mỹ Sơn tráng lệ - thâm nghiêm - hùng vĩ. Đây là một bảo tàng kiến trúc điêu khắc nghệ thuật vô giá của nhân loại mà sẽ còn lâu chúng ta mới hiểu hết”
Trong khi anh đang day dứt với vô vàn di tích và thiên nhiên ở đây đang bị tàn phá và dần bị mất thiêng thì đi trước anh là hiện thân của chủ nghĩa vô thần. Viên cảnh sát như một con bò mộng lùi lũi dẫm đạp lên những chùm hoa dại khoe sắc để tiến về nơi có máu đổ.
- Tu bổ mà sao không ủi sạch cỏ cây ở đây đi? - ông ta cất giọng ồm ồm.
Kì Phương không biết nói gì. Ông ta nói đúng một nửa. Tuy cây rừng là lớp áo choàng xinh xắn nhưng vẫn có nhiều loại cây luôn ăn bám như tầm gửi. Những chùm rễ Đa rừng vươn dài như những xúc tu bạch tuộc đang ngày đêm gặm nhấm, sờ soạng và rỉa rói vào từng thớ thịt khúc xương để hút cạn sinh lực của những thân hình già cỗi xiêu vẹo và đổ nát. Sự xấm lấn bền bỉ thầm lặng này đang từng ngày từng giờ xóa sổ những dấu tích ít ỏi cuối cùng của một nền văn minh tột bậc Đông nam Á một thời mà một người làm nghệ thuật như anh không khỏi xót xa.
- Thưa ông, lối này! – Kì Phương gọi như thét khi thấy viên cảnh sát đặt gầm dày lên lên một tấm bia để đi tắt. Quá muộn, trang sách bằng đá lật nghiêng rơi xuống vỡ làm đôi. Ông ta quay lại chép miệng vẻ tiếc nuối rồi lách qua khe cửa để vào ngôi tháp. Hai viên sĩ quan bên trong vội vã trồi trở ra nhường chỗ cho vị sếp to lớn của mình. Rất sợ đổ vỡ, Kì Phương nhoài người lao theo nhưng chiếc máy ủi kia đã bị chặn lại bởi chiếc bệ thờ. Ông ta khự lại chiếu đèn lên xem rồi chết lặng đi vài giây. Lùi lại một bước, ông đưa tay gẩy kính khỏi mắt rồi trân trân nhìn hiện vật trước mắt như nhìn một quái vật chưa thấy lần nào trong đời.
- Đây là... yoni?
- Vâng thưa ông, linh thực khí nữ. Trong thần thoại Balamon giáo, Yoni còn là hình tượng của nữ thần Uma. Còn linga là biểu tượng của thần Siva, chồng của Uma.
- Thế chồng cô ta đâu?
- Đền này không còn linga, nó đã mất.
- Mất từ bao giờ?
Kì Phương không biết ông ta đã nhìn thấy cái gì trên yoni hay chưa. Việc yoni mất một linga từ đời tám hoánh không đáng quan tâm bằng một yoni đầy máu. Tuy nhiên anh vẫn đáp cặn kẽ.
- Bộ linh vật đầu tiên của này được chế tác bằng đá quý từ thế kỉ thứ chín, cũng như vô vàn linga xưa kia luôn được làm bằng vàng, bạc, đá quý nên nó là mục tiêu của bọn trộm cướp mọi thời đại. Sau mỗi lần bị mất, triều đình Champa lại phục dựng cái mới nhưng không dám dùng vật liệu đắt tiền nữa. Cái yoni mà ông đang thấy đây là cái phục chế lần gần đây nhất thôi.
- Nghe nói trong các nghi lễ cúng tế ở đền tháp xưa kia, họ giết súc vật để tế thần đúng không?
Giờ thì Kì Phương dám chắc ông ta đã nhìn thấy máu. Anh đáp:
- Đúng, ngựa trắng, dê trắng hoặc là voi trắng là vật tế được ưa thích trong các nghi lễ. Tục lệ này có từ xa xưa nhưng bây giờ đã biến hóa nên không còn nữa.
- Vậy người trắng thì sao? Đã có bao giờ con người bị mang ra tế chưa?
Câu hỏi trực diện và bất ngờ đã làm Kì Phương lúng túng. Từ lúc thấy máu trên yoni đến nay, tuy đầu óc anh rối bời nhưng không sao át được ám ảnh về một nghi lễ mơ hồ cổ xưa. Anh đã tự đặt ra bao câu hỏi rồi lại để nó tuột đi không lời giải đáp. Không lan man, vẫn âm giọng thâm trầm, Lê Đại Hắc đi thẳng vấn đề.
- Balamon giáo có tục giết người tế lễ, đúng không?
Kì Phương biết trả lời có hoặc không mà không đi kèm một bài giảng đầy đủ sẽ làm ông ta hiểu sai về một tôn giáo lớn. Thực ra câu trả lời là “ có’’ nhưng luôn có điều kiện và hoàn cảnh đặc biệt nhưng đây đâu phải lúc dông dài.
- Tôi cho rằng đây không phải là một lễ tế! – Kì Phương đáp. - Thứ nhất đây không có linga, trong Balamon giáo tượng thờ không đầy đủ âm dương thì không thể hành lễ. Thứ nữa như tôi đã nói, vật tế là những con vật có màu trắng biểu tượng cho sự tinh khôi trong sáng. Một số lễ tế ở các bộ tộc khác còn dâng hiến các thiếu nữ đồng trinh và nhất là trẻ em bởi người ta quan niệm đó mới là sự tinh khiết. Còn một ông lão già nua hai đời vợ như Paul tôi e rằng...
- Anh nói không đúng! – Ông ta cắt ngang. – Tôi được biết người Maya còn tế cả nô lệ, tù binh và thậm chí cả tù nhân nữa, họ đâu có tinh khiết?
Ái chà. Kì Phương phải thừa nhận ông ta biết nhiều hơn cái vỏ giả ngây khi hỏi về linh thực khí. Anh nói:
- Việc chọn vật tế thần tùy theo phong tục, nhu cầu tâm linh hay mục đích cụ thể nào đó, có khi người ta mang kẻ thù hay tử tội ra để tế thần nhưng ta lấy họ ra để so sánh với Paul thì khác gì đang xúc phạm ông ta. Dù sao đi chăng nữa, tục tế người từng bị lên án quyết liệt và đã lùi xa cùng với những thời kì đen tối của lịch sử. Thậm chí ngày nay, giết súc vật cúng tế cũng bị coi là dã man. Nghi thức này chỉ còn duy trì bằng cách thay thế máu bằng rượu hoặc sữa mà thôi.
- Thế bọn tà giáo hoặc cuồng tín thì sao?
- Giả thiết này thì được. – Kì Phương gật đầu. - Việc hắn chọn một bộ ngẫu tượng khuyết linga đã nói lên đây là kẻ đầu óc không bình thường.
Trong không gian tù túng, nguồn dưỡng khí ít ỏi dường như bị cả hai hút sạch. Mùi xú uế bốc lên làm Kì Phương chực lao ra ngoài.
- Khoan đã. – ông ta chỉ vào yoni hỏi. – Nếu không có linga mà lại tưới máu lên yoni, hay kẻ điên này định mô phỏng cái gì đó chắc?
Kì Phương biết ông ta còn lâu mới bỏ qua vụ máu me này, ông ta cho rằng lí giải được hành vi này sẽ làm rõ hơn động cơ của hung thủ. Viên thiếu vỗ trán ra vẻ suy nghĩ ghê lắm, ông đi quanh bệ thờ một vòng rồi đứng lại thì thào.
- Tại sao người ta lại dùng máu để hiến tế mà không phải là thân xác? Theo tôi đọc sách thì người Maya và Inca còn moi tim gan người để đặt lên đĩa rồi mới dâng lên thần Mặt Trời... Còn đây chỉ thấy máu là máu...
Kì Phương định mặc kệ ông ta lảm nhảm một mình nhưng nghĩ lại đây là cơ hội hiếm hoi để anh truyền bá một ít phong tục Chăm. Anh nói.
- Lễ cúng tế của người Chăm theo đạo Bàlamon chính là lễ tắm linga-yoni bằng một chất lỏng đặc biệt được gọi là nước thiêng. Nếu kẻ này coi nước và sữa không đủ lay động thần linh nên phải nhờ đến thứ cao cấp hơn, tột cùng thang nấc đó là máu. Mang máu hiến lễ thể hiện sự hi sinh và dâng hiến cao nhất.
Kì Phương vẫn thao thao bất tuyệt và chưa có ý dừng lại. Như một tu sĩ Balamon đã lâu chưa có thêm con chiên, anh hào hứng nói cho đến khi cánh tay bắp cày kia khoát xuống.
- Hôm nay là ngày đặc biệt phải không?
- Vâng, hôm nay là ngày… khai quật báu vật Chăm. – anh đáp.
- Ý tôi muốn hỏi về tâm linh cơ.
- Đây cũng là một ngày đặc biệt. - Anh chỉ lên mặt trăng đang nhạt bóng giữa nền trời xanh. – Ông nhìn thấy trăng tròn chưa? nó chỉ tròn nhất vào ngày rằm. Đây là một ngày đặc biệt trong chu kì của vũ trụ.
Lê Đại Hắc chỉ phắt lên bệ thờ.
- Vậy chẳng lẽ cái cối đá này hôm nay cũng đến... chu kì?
- …
Dường như biết mình lạc lời, ông lẩm bẩm:
- Yony là linh thực khí phụ nữ. - ông rụt tay rồi nhè răng ra vẻ kinh tởm. - Mà máu chảy ra từ linh thực khí phụ nữ là máu gì?
- Kinh nguyệt. – Kì Phương đáp.
Viên cảnh sát ngượng nghịu nhìn xuống góc tường. Nhìn thái độ đó anh suýt bật cười và nói.
- Ông không phải thẹn! Kinh nguyệt có trong truyền thuyết Balamon giáo đấy.
- Tầm bậy, tôi chỉ nghe nói nếu phụ nữ đang kì kinh nguyệt đụng vào người tu sĩ Balamon, ông ta lập tức tắm rửa và thay ngay quần áo.
- Đó là cách nói cường điệu thái quá. Những gì chảy ra từ biểu tượng linh thực khí đều được tôn sùng như một thứ nước thiêng. Trong truyền thuyết Balamon giáo, thần đầu voi Ganesa sinh ra từ kinh nguyệt của nữ thần đấy.
- Thật à?
- Truyền thuyết này nói rằng nữ thần Parvati, vợ bé của thần Siva đã đánh rơi một giọt kinh nguyệt xuống sông Hằng. Một con quỷ ăn phải và sinh ra một vị thần năm đầu voi. Sau khi bị chặt đi 4 đầu nó còn lại một đầu đó chính là thần Ganesa. Kì Phương chỉ tay bức tượng cụt đầu bên ngoài xót xa nói.
- Kia, còn mỗi cái đầu duy nhất cũng bị chặt rồi. Có gần một chục truyền thuyết nói về gốc gác của vị thần này nhưng truyền thuyết sinh ra từ kinh nguyệt đối với tôi là dễ nhớ nhất.
- Hàng vạn giọt máu đã chảy ra từ yoni. - Viên thiếu tá chỉ vũng máu phẫn nộ. - Không lẽ hắn đổi một mạng người để sinh ra hàng vạn vị thần sao?
- Một mạng đâu có nhiều. – Kì Phương đáp. - Ông biết thời trung cổ người Maya đã giết hàng chục ngàn nô lệ chỉ để hiến cho một vị thần đó sao?
Lê Đại Hắc lập tức chộp lấy.
- Đấy nhé! vậy là anh cũng gián tiếp công nhận đây là một nghi lễ. Liệu anh có cho đây là kẻ tâm thần khi hắn còn đủ tỉnh táo để chọn ngày chu kì của mặt trăng?
- Paul chọn đấy chứ? Chính ông ta tự vào đây.
Kì Phương vừa thốt ra đã biết mình bị hớ, Paul không điên rồ mà tự vào đây lúc đêm khuya. Rất có thể ông bị ai đó bắt cóc hoặc dụ dỗ nhưng một điều không thể chối cãi là chính Paul chọn ngày hôm nay để khai quật. Anh cũng chưa bao giờ đặt câu hỏi tại sao phải là ngày này. Trăng tròn. Rạng sáng. Nghĩ đến đây Kì Phương thoáng rùng mình bởi các trình tự y như có ai sắp đặt trước. Các lễ tế của người Chăm cổ thường được cử hành vào ngày trăng tròn lúc rạng sáng. Đó là giờ của thần linh, là khởi nguồn của sự sống. Một bài ca trong kinh Vệ Đà nói rằng hiến tế vào lúc giao thời giữa ngày và đêm giúp cho thời gian được diễn tiếp liên tục và bảo vệ sự trật tự của vũ trụ. Đã có dấu hiệu của một lễ tế. Kì Phương thầm nghĩ viên cảnh sát đã đúng.
Ngay lúc đó, một viên cảnh sát vội vã đi tới.
- Báo cáo sếp, có phát hiện mới.
- Gì thế?
Kì Phương hiểu ý bèn lảng đi chỗ khác. Tuy nhiên giọng viên sĩ quan oang oang làm đôi tai anh không thể cúp xuống.
- Chúng tôi chứng minh được ngay sáng nay có một phụ nữ lạ đã xuất hiện tại đây.
Kì Phương chột dạ, anh tự nhận thấy mình có gì đó sơ suất, mà trong tình huống nhạy cảm như thế này, sự chậm trễ và thiếu thành khẩn có thể mang lại cho anh nhiều bất lợi. Lê Đại Hắc hỏi dồn cấp dưới.
- Cô ta làm gì ở đây?
- Chúng tôi mới chỉ thu được vết giày cao gót dẫm loạn xạ quanh xác chết và tại hai vị trí được coi là hiện trường thật và giả. - Anh ta chỉ mấy vết giày ngay dưới đất rồi tiếp. - Căn cứ cỡ giày, bước chân và độ lún đất, đối tượng này khá cao lớn, rất linh hoạt và có thể là rất trẻ.
Viên sĩ quan này nhấn mạnh từ “ rất trẻ’’ cuối câu như muốn gợi trí tò mò cho sếp mình.
- Có thu được gì không?
- Chưa, chúng tôi đang tìm dấu vân tay.
Hắc biết chẳng phải tìm đâu xa, nó đứng lù lù ngay trước mắt ông.
- Anh kia! - ông ta lập tức đổi giọng. - Anh đang giấu tôi đều gì?
Mấy phút gắn ngủi đóng vai một giáo sĩ Bàlamon thuyết pháp đã vụt biết, anh hiện nguyên hình trở lại một tên nghi phạm nhem nhuốc.
- Thưa ông, tôi không hề giấu ông điều gì.
- Chắc hẳn anh vừa nghe gì rồi chứ?
- Vâng... có một phụ nữ trẻ... - Kì Phương ngậm ngùi khi nhắc đến cô gái tội nghiệp vừa bị anh trục xuất khỏi đất thánh sáng nay.
- Tôi chưa kịp nói với ông. Sáng nay tôi đã đến đây với một cô gái, nhưng cô ta đã bỏ đi.
- Cô ta là ai?
- Đó là con gái Paul.
- Vậy khi chúng tôi đến đây sao chỉ có mình anh?
- Cô ta đến tìm ba mình nhưng không thấy nên đã bỏ đi.
Lê Đại Hắc ưỡn ngực như thể suýt ngã ngửa rồi chỉ phắt tay về phía chiếc cáng đang đi qua trước mặt.
- Không thấy? cái xác to đùng thế kia mà cô ấy cũng không thấy?
- Tôi thề là chưa.
- Chưa biết? – Lê Đại Hắc giật phắt cặp kính nhìn xoáy vào mặt anh như nhìn sinh vật lạ.
Kì Phương để ý thấy rằng mỗi khi nghi ngờ hay tức tối điều gì ông thường để cho đối phương nhìn thấy cặp mắt một mí sắc lẹm của mình.
- Đúng thế. - Kì Phương vẫn dứt khoát. - Cô ta chưa biết cha mình chết.
Hắc xích lại gần anh, giọng du dương lạnh người.
- Anh định bịp tôi? Anh xem tôi là một thằng ngốc? - ông ta hậc lên một tiếng. – Quanh hố đầy dấu chân cô ta. Cô ta đứng cạnh xác cha mình mà không biết. Anh đã giấu tôi sự xuất hiện của cô ta và tiếp tục dối tôi sao? – càng nói ông càng gay gắt. - Chưa hết, anh còn cố tình xóa nát hiện trường nhằm tẩy nốt dấu vết của cô ta. Nói thật đi! cô ta là ai và đã làm gì với Paul?
Kì Phương cảm thấy mắt cay xè, anh lùi lại tránh những lời truy vấn văng tới tấp hệt như bị bắt quả tang anh và Thi Nga đang thông đồng lén lút gì đó.
- Tôi và cô ta đến đây trong tâm trạng rất hoang mang. Trong lúc bối rối tôi đã sảy chân xuống hố. Tôi không muốn để cô ta thấy cảnh tượng đó nên nằm che lên xác chết. Sau đó một lúc cô ta liền bỏ đi.
Càng bào chữa cho Thi Nga bao nhiêu anh thấy mình vô lí bấy nhiêu. Nhìn khuôn mặt ông ta giận dữ lẫn sự thất vọng, anh biết mình nói không có sức thuyết phục. Càng bao biện anh càng bị nghi ngờ, mà trong ý nghĩ của cảnh sát thì bất cứ ai cũng có thể là thủ phạm, kể cả con gái đẻ ông ta.
- Vậy cô ta đi đâu? có thể liên lạc được với cô ta ngay bây giờ không?
- Cô ta vừa về nước nên không có số điện thoại. Cô ta tin là cha mình chưa chết và có thể sẽ tiếp tục đi tìm tiếp.
- Đi đâu?
- Theo như cô ta nói là sẽ tìm bên... Campuchia.
Kì Phương thậm chí còn thấy không thể chấp nhận nổi với chính câu trả lời nực cười của mình. Còn Lê Đại Hắc chán ngán đến mức không muốn rút cọng kính ra để nhìn cái bộ mặt nửa hâm nửa dại đang chường ra trước mặt ông.
- Tôi hỏi anh câu cuối cùng. Vì sao anh và cô ta biết Paul đến đây trong đêm khuya?
Kì Phương chợt nhớ đến tờ giấy trong bao, tuy chưa hiểu nghĩa nhưng dù sao nó cũng đã đưa anh đến đúng chỗ. Anh phân vân có nên lấy lá thư của người khác gửi riêng cho người khác đưa cho viên cảnh sát hay không. Cuối cùng anh quyết định không.
- Đêm qua chúng tôi không liên lạc được với Paul. – Anh đáp. – Mỹ Sơn là nơi mà tôi nghĩ đến đầu tiên.
- À, xem ra anh rất hiểu về nạn nhân đấy. Rồi sao?
Qua lá kính râm, Kì Phương nhận ra ông ta đang “ cười đểu’’.
- Anh thấy đấy, tôi đã có rất nhiều lí do để tạm giữ anh trong đó tội nhỏ nhất là đã phá hoại hiện trường. Nhưng thôi, tôi vẫn coi anh là nhân chứng đặc biệt vậy.
Tiếng chuông bộ đàm bỗng cắt ngang, Hắc lùi ra để nghe máy nhưng vẫn để anh trong tầm mắt. Không hiểu ông đã có thêm tin gì mới, nhưng cú điện ngắn đã hướng tâm trí ông sang mục tiêu khác. Ông ta tiến sát anh nói nhỏ nhưng rất rành rẽ:
- Nghề tôi không được phép quá tin một ai, nhưng với anh tôi thử phá lệ một lần. Chúc mừng anh. Ưu tiên số một của chúng tôi là tóm ngay hung thủ nên tôi cần đi gấp nhưng nhân viên của tôi vẫn có mặt quanh anh. - Ông ta vỗ vai anh. - Hãy ở lại và nghĩ tiếp về hiến tế đi, tôi sẽ trở lại. - Nói xong, ông ta kéo đội quân biến mất.
Khu thánh địa lại vắng lặng như chưa hề có gì xảy ra. Ánh nắng trong trẻo rắc đều lên thung lũng xanh nhưng không thể xua đuổi hình ảnh cái chết thê thảm của Paul trong đầu anh. Dòng kí hiệu bí ẩn để lại, máu chảy trên yoni và cái chết đau đớn của Paul như một bóng ma ám riết trong trí não anh.
Kì Phương tiến vào tháp để quan sát một lần nữa với hi vọng tìm thấy cái gì đó mặc dù toán cảnh sát không trừ cho anh cơ hội nào sau khi xới nát từng gọng cỏ đến hạt cát dưới chân. Nắng đã lên cao, ánh sáng tán xạ trên mặt tường đã làm cho lòng tháp sáng màu hơn. Kì Phương chạm mắt lên lên bệ thờ giật mình kinh hãi!
Lớp máu đen trên mặt yoni hiện lên một dòng chữ rợn người.
Kì Phương choáng váng đứng chết lặng giữa phòng.
 
 
 
Chương 9  
Giống như một số vương quốc cổ khác ở Đông Nam Á, người Champa không có truyền thống chép sử. Để nghiên cứu Champa cổ, các nhà khoa học rất vất vả và phụ thuộc rất nhiều vào những văn bản được viết trên những chất liệu vô cơ bền như gạch đá, đất nung, đồng và các vật dụng kim loại khác còn sót lại của nền văn minh này. Trong nguồn dữ liệu khá hiếm hoi đó, những tấm bia kí được coi như những cuốn sách sử vô giá.
Đã hơn một thế kỉ kể từ khi Camille Paris tìm ra Mỹ Sơn, chỉ riêng mảng văn bia đã có hàng chục chuyên gia tiếng Phạn và tiếng Chăm cổ lao vào nghiên cứu nhưng những gì họ làm được chỉ là một phần rất nhỏ và những bí ẩn trên đó vẫn đang chờ các nhà khoa học trong tương lai giải mã. Trên những cuốn “ bách khoa toàn thư’’ đó người ta có thể tìm thấy bất cứ lĩnh vực nào mà mình yêu thích: từ lịch sử, tôn giáo, văn học, kiến trúc, điêu khắc và nhiều lĩnh vực khác. Đây là một tài sản vô giá của dân tộc Chăm nói riêng cũng như của đại gia đình các dân tộc Việt Nam và là nguồn cảm hứng vô cùng tận cho bao thế hệ văn nghệ sĩ muôn đời sau.
Có một điều nên nhớ: cổ nhân Champa kiến tạo ra những kiệt tác nghệ thuật đó không phải để cho lớp con cháu sau này ca tụng mộng mơ mà là để phục vụ cho mục đích thờ cúng của tầng lớp tu sĩ và quý tộc đương thời. Vô số của cải được dâng cúng cho các vị thần Balamon được nghi lại rõ ràng cụ thể trên bia kí từ chủng loại và khối lượng như vàng bạc, đá quý, hầm mỏ, đất đai và lãnh địa và điều này dẫn đến sự xuýt xoa nhòm ngó của những cái đầu đen tối. Vì vậy, trong những nơi cất giấu của cải này luôn kèm theo bùa yểm và lời nguyền trừng phạt kẻ xấu. Bia kí Champa cũng vậy, chúng ta không khó để nhận ra các thông điệp lạnh lùng đó.
Đơn cử: một tấm bia đặt trước tháp A1, đây là ngôi tháp đẹp nhất Mỹ Sơn và được xếp vào hàng kiệt tác của kiến trúc Champa cổ. Tiếc thay, công trình này đã bị phá hủy bởi bom đạn nhưng di chỉ khắc trên tấm bia này vẫn là những lời nguyền bất hủ vang vọng ngàn đời không thôi. Dòng thứ 9 và 10 của mặt (B) trên tấm bia chữ Phạn này viết: “ ... Ai giữ gìn các đồ cúng thần này thì công đức thuộc về người đó. Ai không gìn giữ mà phá hoại thì người đó sẽ tự bị thiêu hủy... Bhadresvarasvami thấu hiểu’’
Cũng ngay bên cạnh tháp A3, bài minh khắc năm 657 của vua Prakasadharma có 55 dòng tiếng Phạn được tìm thấy, mặt (B) câu thứ 30 viết “ kẻ nào phá hoại (đền tháp và đồ thờ cúng) , kẻ đó sẽ ngã gục, không hề được tha thứ, hệt như chịu hậu quả muôn đời về tội giết người balamon... ’’
Một bia kí tìm thấy ở An Vỹ, Quảng Nam có niên đại thế kỉ thứ chín dường như chỉ có một chức năng duy nhất là khuyên cáo và đe dọa. Bất kì mảnh vỡ nào của tấm bia này cũng thấy những dòng chữ nói về những con sói trắng và đen sẽ xé xác bất cứ kẻ bất lương nào đụng đến những gì thuộc về thần linh.
Thực tế đã chứng minh, những lời nguyền bí ẩn trên không phải là những lời dọa suông.
*
Mắt Kì Phương hoa lên khi dòng chữ kì lạ đang nhảy múa trước mặt. Anh cúi người xuống cho máu thông suốt lên não rồi thở sâu cho dưỡng khí tràn ngập buồng phổi. Khi đã đạt độ tỉnh táo cao nhất, anh lại tập trung vào yoni với hi vọng điều mình vừa thấy chỉ là ảo giác. Nhưng không, dòng chữ nổi rõ trên lớp máu đen sánh hiện rõ hơn bao giờ hết. Điều kì lạ là trước đó anh và viên cảnh sát đã nhìn hàng chục lần mà không ai phát hiện ra điều này.
Ai đã viết ra nó? Khi anh và Lê Đại Hắc đàm đạo bên ngoài không hề có ai bước vào. Mấy viên giám định thì không thể viết mà viết được thì có cho vàng họ cũng không dám. Một kẻ lạ thừa cơ lẻn vào đây là lại càng không thể. Kì Phương cố giải thích rằng quá trình ngưng kết của máu diễn ra rất chậm và tĩnh. Vả lại máu đen trên mặt đá sần sùi nằm trong màn đêm rất khó thấy. Mặt chất lỏng lại có tính phản xạ cao nên khi anh chiếu đèn lên thì hình ảnh nhìn thấy là của bức tường gồ ghề xung quanh. Giờ đây, dưới ánh sáng tự nhiên, nó hiện rõ chân thực hơn bao giờ hết.
Mới nhìn, Kì Phương tưởng là chữ Chăm hoặc chữ Malay cổ, nhưng nhìn kĩ thì hoàn toàn không phải. Nó có vẻ cũng có nguyên âm, phụ âm, dấu âm trên, dấu âm dưới và cả móc câu y như chữ Chăm cổ thường thấy.
Mà nếu không phải chữ Chăm truyền thống thì có thể là Chăm cổ hoặc một ngôn ngữ nào đó trong số hơn 150 ngôn ngữ thuộc hệ Mãlai - Đa Đảo chăng? Người viết chữ lên đây với kẻ giết Paul có phải là một? Như sợ dòng chữ lại biến mất đột ngột như lúc xuất hiện, anh lấy giấy bút nắn nót sao chép y nguyên rồi cất kĩ vào ba lô như sưu tầm được một ngôn ngữ lạ.
Kì Phương khóa chặt balo rồi lại ngắm nghía. Mỗi loại chữ cổ có một quy luật viết khác nhau, khi đọc không đúng chiều hoặc ngược hướng sẽ không nhận ra mặt chữ. Đã đi ba vòng và thử các góc độ nhưng các kí tự đó vẫn là một câu đố hiểm hóc. Mà có thể đây không phải là chữ mà là bút tích có ý đồ của hung thủ. Trong thế giới của những hội kín, sau vụ án thủ phạm thường để lại thông điệp nào đó trên hiện trường. Đó là một thông tin, sự thách thức, hoặc một đe dọa hay nhắn nhủ của hung thủ. Ngay lúc anh định bỏ đi thì có tiếng xe đỗ nhẹ ngoài bờ suối cùng lúc có bốn người đang đi rất nhanh về phía anh. Kì Phương mừng rỡ khi nhìn thấy tốp sư phụ của mình và một cô phóng viên quen mặt. Anh vẫy tay kêu to.
- Mời mọi người vào đây!
Giáo sư Huỳnh Lẫm đáp lại từ xa với khuôn mặt nghiêm trọng, ông dẫn đầu đoàn tiến thẳng vào tháp như chính ông mới là chủ nhân đích thực ở đây. Kì Phương và Mộc Trân đứng ngoài để dành không gian cho ba người đàn ông đi vào. Tiến sát đài thờ, giáo sư Huỳnh Lẫm nghiêng mình đứng lại, hai người khác dàn ra hai bên và cúi xuống như đang làm một nghi thức nào đó. Thấy khuôn mặt giáo sư Huỳnh Lẫm đột nhiên căng thẳng và giữ nguyên tư thế cúi đọc rất lâu mà không ngửng lên.
- Thưa các thầy, em đã cố tìm hiểu, nhưng chịu. – kì phương nói vọng vào.
Giáo sư Huỳnh Lẫm vẫn giữ nét mặt kính cẩn lẫn kinh ngạc, có lẽ trong cuộc đời khảo cổ và dịch cổ ngữ của mình chưa bao giờ ông nhìn thấy một chữ viết quái lạ đến thế. Hơn nữa nó lại viết bằng máu tại trên một biểu tượng tôn giáo thiêng liêng. Tiến sĩ Phú Thành Tài lùi lại một bước lấy tay che miệng nói khẽ.
- Chữ của quỷ dữ!
Tiếng thì thào của ông ta như làn gió buốt len vào tai mọi người. Giáo sư Huỳnh Lẫm quay mặt lại nhìn xiết vào mắt ông ta áp chế. Kì Phương liền hỏi.
- Thưa thầy, có phải đây là hệ chữ Phạn hay Chăm cổ?
- Hỏi thế sai bét! - Giáo sư Huỳnh Lẫm đáp khô khốc.
- Vậy thì theo thầy là hệ chữ gì ạ?
- Tôi đã nhắc anh bao nhiêu lần rồi, trên các bia kí của Champa chỉ dùng một hệ thống chữ viết duy nhất để biểu đạt, đó là hệ thống chữ Bhahmi vay mượn từ Ấn Độ. Mà có tới hàng trăm hàng ngàn ngôn ngữ sử dụng hệ thống chữ viết Bhahmi tôi làm sao biết hết. Giống như tiếng Anh, tiếng Pháp, Ý và cả tiếng Việt... mượn hệ thống chữ Latin để viết và phiên âm cho ngôn ngữ của mình!
Kì Phương hỏi: - Nếu đây không phải chữ Phạn hay chữ Chăm cổ, vậy có hay không một chữ viết khác mà chúng ta chưa từng biết?
Giáo sư Huỳnh Lẫm chau mày lại:
- Người Malay cổ, Khmer cổ, cư dân đảo Sumatra và nhiều dân tộc Nam Á trước đây cũng viết khá giống với người Chăm cổ. Sau bao thế kỉ họ đã biến đổi và rẽ nhánh khác xa nhau. Tôi đã thuộc làu nhiều bộ sưu tầm ngôn ngữ kim cổ kể cả của Aymonier, Cabaton và Moussay, nhưng thú thật dòng chữ này là lần đầu tiên tôi nhìn thấy.
- Hay đây là chữ của... thánh thần? – Mộc Trân buột miệng.
Cô muốn rút lại câu hỏi của mình khi nhận ra vị giáo sư già rất đang rất nghiêm túc khi đối diện với trường hợp hóc búa nhất trong suốt cuộc đời đánh vật với chữ nghĩa của mình.
- Hết quỷ dữ rồi lại thánh thần. Các người khéo nghĩ những thứ đâu đâu nhưng một điều gần gũi và khoa học hơn thì lại không ai nghĩ ra.
- Đó là gì ạ? – Tất cả cùng hỏi.
- Đây đích xác là chữ của tiền nhân!
Cả đoàn nghe xong đều vô cùng ngạc nhiên. Vốn rất ưa những gì gây sốc và li kì, cô phóng viên vội vã chộp lấy hỏi dồn.
- Chữ tiền nhân? Chẳng lẽ tiền nhân vừa hiện về để viết lên đây sao?
- Cô nói đúng! Người vừa viết chữ này sống cách đây hơn một ngàn năm!
Tất cả vô cùng bối rối khi câu nói hoang đường đó lại thốt ra từ miệng ông. Nếu là tiến sĩ Tài nói câu đó Kì Phương đã bác bỏ thẳng thừng, nhưng đây lại là vị giáo sư cổ ngữ giỏi nhất mà anh từng biết. Sau khi Paul mất, chắc chắn ông là chuyên gia số một về Phạn ngữ trên dải đất chữ S này.
Kì Phương nhoài tới bệ thờ quỳ hai chân xuống để nhìn lại dòng chữ mà “ tiền nhân’’ vừa viết. Tuy không phải chữ Phạn hay Chăm nhưng nét viết y hệt như trên các bia đá Champa hơn ngàn năm tuổi. Những bia kí mà người ta tìm thấy ở Miền trung trước thế kỉ IV có nét chữ dạng cong của vùng Nam Ấn. Từ thế kỉ IV trở đi chữ Phạn ở Champa có dạng vuông của Bắc Ấn. Rồi khoảng từ thế kỉ VII trở đi lại quay trở lại dạng tròn ban đầu.
Nét chữ bằng máu trên Yoni này là loại cong tròn kiểu Nam Ấn mà Kì Phương dám cá rằng giáo sư Huỳnh Lẫm cũng không thể viết nổi chữ này cho dù dành cả ngày để nắn nót. Không nghi ngờ gì nữa, kẻ vừa viết lên đây có bàn tay và khối óc của... người cổ đại. Giáo sư Huỳnh Lẫm có thể đã cường điệu nhưng xét về cổ tự học, ông ấy chưa bao giờ sai.
Khổ nỗi, nếu đúng lời ông nói, thì tiền nhân vừa hiện về thật sao? Tiền nhân nào? Ai? Không lẽ vua Chăm tái thế trần gian để trừng phạt kẻ thù rồi kí tên mình bằng máu nạn nhân? Hoang đường! Nếu Paul bị người xưa trừng phạt thì phải xem lại việc làm của ông ta thực chất là gì? Những lời nguyền trên bia kí răn đe kẻ mạo phạm thần linh vẫn còn trơ trơ ra đó. Kì Phương biết mình đang đối mặt với hiện tượng dị thường nhất trong đời và thấy e ngại cho viên cảnh sát đang cố công đuổi theo một bóng ma.
Giọng giáo sư Huỳnh Lẫm vang lên:
- Các người hãy nghe cho rõ và đừng bao giờ quên! – Mấy người vẫn im re dỏng tai đón lấy từng chữ sắp tuôn ra khỏi miệng ông. Có lẽ hàng chục năm đứng trên bục giảng, chưa có lớp học nào tập trung cao độ như lúc này. Tiếng ông long trọng gióng lên như đang sắp đọc lời phán xét.
- Theo sử Trung Hoa, năm 445, vua Tống sai thứ sử Giao Châu là Đàn Hòa Chi đánh chiếm Champa cướp được vô số đồ cúng bằng vàng bạc, riêng tượng vàng lên tới vài chục vạn cân. Khi về nước Đàn Hòa Chi đêm đêm bị ma hiện lên đòi lại đồ cúng, y sợ hãi và suy sụp, không lâu sau thì lìa trần. Năm 605 tên tướng Lưu Phương của nhà Tùy đến Mỹ Sơn xâm lược và cướp lấy 18 bộ thần chủ bằng vàng trong đền tháp rồi mắc bệnh lạ lăn ra chết trên đường về. Vua khmer “ bách chiến bách thắng’’ Suryavarman II sau khi đưa quân càn quét và dọn sạch của cải ở Mỹ Sơn đã chết mất xác trước khi trở về. Trong cuốn Lịch sử Đông Nam Á của giáo sư Hall còn ghi chép sự kiện thủy quân Java tấn công Champa và cướp đi một pho tượng Siva bằng vàng có kích thước lớn hơn người thật trong một ngôi đền ở Panduranga. Tuy nhiên chuyến thuyền tội lỗi này đã không bao giờ cập bến nữa.
Ông chùng giọng rồi tiếp:
- Chưa có thống kê đầy đủ nhưng ta tin rằng không ai đụng đến thần hộ mệnh của người Chăm mà toàn mạng trở về. Nay Paul chết, chết bất đắc kì tử tại đây là chuyện vô cùng cấm kị. Thần linh nổi giận thật rồi!
Giọng ông run lên, ông định nói gì thêm nhưng rồi lại thôi. Nhưng chỉ ngần ấy đã đủ làm cả bọn hoang mang. Kì Phương biết ông vẫn còn tỉnh táo bởi những điều vừa nói là trích chính sử. Giáo sư Huỳnh Lẫm vốn xem tôn giáo là một thứ xa xỉ và càng không bao giở tỏ ra mê tín. Ông say mê nghiên cứu tâm linh nhưng luôn khẳng định mình là một nhà duy lí. Kì Phương bấy lâu nay xem ý kiến của ông là trí tuệ, đáng tin, nhưng sau những gì vừa nói lại chứng tỏ ông đang tin vào thần thánh. Ông đã thay đổi, và đây cũng là lần đầu tiên ông cởi tung chiếc áo vô thần ngay trước mặt mọi người.
Mà thật ra không riêng gì ông, những gì diễn ra tại thánh địa sáng nay đủ làm những bộ óc sáng nhất cũng phải đặt dấu hỏi về tính năng của lời nguyền.
- Thưa thầy! – Kì Phương nói. – Trong lịch sử Champa, người ta xử tội nhũng kẻ xúc phạm thần linh như thế nào, có phải là tế máu?
- Trên các bia kí và trong các nghiên cứu của tây lẫn ta như Bergaigne, Boisselier, Finot, Ngô Văn Doanh, Trần Kì Phương... cũng có viết về lễ tế tù binh và tội phạm tại đền tháp nhưng không ai nói rõ cách thức hiến tế ra sao. Đó là chỉ nghi lễ tượng trưng hay là màn giết chóc đẫm máu thì không ai biết. Nhìn sang các nền văn minh cổ khác, đến nay sử sách họ vẫn lưu truyền rõ ràng rằng người Maya hiến tế thần Mặt trời bằng cách mổ bụng nô lệ moi tim và lấy máu tưới lên các tượng thần hay ném các cô gái đồng trinh xuống giếng thánh. Người Mêhicô và Peru cổ chỉ lột da người để phục vụ cho nghi lễ. Người chăm không chép sử, họ không có sử gia. Mặc dù chúng ta đã dịch gần hết 200 văn khắc và hàng ngàn thư tịch cổ chép tay cổ nhưng hiếm khi nói đến tế người. Có giả thuyết rằng cổ nhân đã hủy hết tài liệu loại đó. Đây là lỗ hổng tư liệu trầm trọng và bằng chứng đã tan vụn theo hàng trăm tấm bia. Dù sao...
Ông lặng đi nhìn lên bệ thờ với ánh mắt đầy xúc động nói tiếp:
- Tuy hành vi giết người tế lễ này là tội ác, nhưng nghi thức hiến tế này hắn học ở đâu hay tài liệu nào thì không thể xem thường được. Chúng ta phải mổ xẻ dưới góc độ khoa học lịch sử. Có thể một tu sỹ đắc đạo đội mồ chui lên để giáng thế một nghi lễ nguyên thủy xa xưa.
Đúng là ông già không còn tỉnh táo. Tiến sĩ Phú thành Tài nhúc nhắc định chui ra, nhưng ông nghĩ bỏ đi lúc này cũng không đặng bèn xen vào một câu.
- Nếu là cúng tế, vậy sao lại không có linga? đạo Bàlamon cúng thần mà không có linga khác gì tượng Phật không đầu. Huỳnh Lẫm quay phắt sang, đỉnh mũi ông ta chỉ cách vành tai Phú Thành Tài nửa gang tay.
- Không có linga không có nghĩa là thiếu biểu tượng dương khí!
- Dương khí? – Phú Thành Tài vặc lại. - Vậy dương khí ở đâu hả thầy?
- Kẻ hành lễ đã làm một phép thế!
- Thay thế? Hắn dùng cái gì thay thế linga?
Giáo sư Huỳnh Lẫm trỏ tay vào lòng yoni.
- Chính dòng chữ kia là biểu tượng dương khí.
Phú Thành Tài há hốc mồm, quả là thầy mình có cái nhìn rất sáng tạo và thú vị. Các nghi lễ tôn giáo hiện đại đã giản lược hủ tục và thay thế những vật tế rờm rà bằng các hình vẽ hoặc chữ viết đơn giản hơn nhưng không mất ý nghĩa.
- Đây là một chữ cổ chưa rõ nghĩa. – Giáo sư Huỳnh Lẫm tiếp. - Nhưng tôi dám chắc nó là biểu tượng thay cho một linga. Mà linga là biểu hiện của thần Siva, vì vậy dòng chữ này là tên của thần Siva hoặc một vua Chăm được phong thần.
- Vua nào nhỉ? - Tiến sĩ Tài lẩm nhẩm trong họng. Em sợ đó là tên của một thằng điên. Cảm thấy tai mình đã ù ù, nhưng ông ta vẫn chưa thôi tranh cãi. - Trong mấy trăm đời vua Chăm, tôi không thấy vua nào có cái tên không thể đọc được như vậy. Theo tôi, đây là bí danh của kẻ khát máu, một kẻ u mê giữa tín ngưỡng và tội ác. Hắn ngông nghênh ngạo mạn tự coi mình là vua thì có.
- Một tên ngạo mạn nhưng uyên bác. – Giáo sư Huỳnh Lẫm gắt lên. - Đầu óc một thằng điên không thể làm phép ẩn dụ tinh thông và bàn tay thư pháp như thế.
- Thưa thầy, nhưng lấy gì để chứng minh đây là “ chữ’’. Nhìn qua hao hao chữ Lào... nhưng rốt cuộc chả là gì hết. Một vài nét múa may học đòi, hắn thậm chí không hiểu tiếng Chăm.
- Anh đừng coi thường. Khi người Babilon đặt chân đến vùng đất Lưỡng Hà họ đã phát hiện loại chữ hình nêm vẽ nguệch ngoạc trên các tấm đất sét đã cho rằng đó là trò nghịch ngợm trẻ con cho đến khi nhận ra đó là chữ viết của người Sume. Sau này chính người Babilon cũng học theo nó và phát triển lên tầm cao hơn. – ông chỉ lên dòng chữ. - Hãy tìm cách đọc nó đi!
Tiến sĩ Tài vuốt mũi mà không phản bác gì nữa. Ông ta chăm chú nhìn kĩ rồi lại thốt lên:
- Ppadop akhar...
Từ này tiếng Chăm cổ có nghĩa là “ chữ quái dị’’. Đó không phải là sản phẩm trí tuệ chân chính mà là cách viết mã hóa của một từ ngữ. Trong kho tàng văn bản viết tay của người Chăm rất nhiều tài liệu quý hiếm từng nằm trong tay một số cá nhân hẹp hòi. Do muốn hưởng riêng hoặc lo thất lạc nên người sở hữu đã cố tình cất giấu bản chính và tạo ra nhiều bản sao với ngôn ngữ quái dị chỉ có họ mới hiểu, với mục đích là nếu bị mất thì không ai dùng được. Suy cho cùng, họ cũng đang thực hành một dạng nghệ thuật mật mã.
- Có lẽ tên sát nhân muốn chơi khó cảnh sát và giới ngôn ngữ chúng ta. – Tài thốt lên.
- Thôi, bàn chuyện chữ nghĩa sau! - Người cán bộ tên Trọng nói lớn. - Việc bây giờ là tìm kiếm báu vật nó ở đâu.
Giáo sư Huỳnh Lẫm khó khăn lắm mới dứt mắt ra khỏi dòng chữ để quay sang hỏi Kì Phương.
- Trước khi mất, không biết Paul có dặn điều gì không?
Kì Phương sực nhớ tờ giấy, theo quán tính anh lôi tuột ra.
- Đây, tất cả những gì Paul để lại cho chúng ta đây.
Giáo sư Huỳnh Lẫm vội cầm lấy rồi thốt lên.
- Trời! Sao anh không nói sớm?
Chương 10 Thi Nga đánh vật với chiếc Ford cà tàng dễ đến mười năm chưa bảo dưỡng trên con đường mấp mô đầy ổ trâu bò. Rốt cuộc cô cũng đến được khách sạn Rex. Đón chào cô vẫn là gã đeo nơ.
- Chìa khóa đây, tôi chờ mãi nhưng chưa thấy ba em đâu cả. - y còn tỏ ra lo lắng cho cô hơn mức cần thiết. - Ủa, mà đêm qua em ở đâu mà trông phờ phạc thế kia?
- Anh cho tôi hỏi, từ lúc tôi ra khỏi đây có ai đến tìm ba tôi hay không?
- Không, có mấy cú điện gọi tới hỏi ông ta nhưng không xưng danh là ai.
- Cảm ơn anh, tôi lên phòng và nếu có ai gọi điện hay muốn gặp tôi thì phiền anh báo cho tôi trước.
- Ok, à mà nếu cái anh kia muốn lên phòng gặp cô thì sao?
Thi Nga nghĩ ngợi giây lát rồi đáp.
- Thì để anh ta lên, không cần báo cho tôi đâu.
Biết ba mình chưa hề quay lại, cô càng thêm lo. Nếu không có ở Mỹ Sơn và khách sạn thì ba cô đã đi sang Camboge như lời ông căn dặn trước khi sang đây. Sáng hôm đó, tuy vội đến trường nhưng cô vẫn nán lại với ba mình rất lâu. Đã lâu hai ba con mới nói chuyện nhiều đến như vậy, đúng hơn là chưa bao giờ ba cô lại trải lòng cho đứa con gái những điều cơ mật của quá khứ. Sau sự tiết lộ tày đình đó, cô ngỡ ngàng hiểu ra hơn mười năm nay ba cô giấu tất cả để cho cô được hồn nhiên vui vẻ như bao đứa trẻ khác. Sự thật là từng phút từng giây gia đình cô đang đối mặt với sự trừng phạt man rợ như một lưỡi hái đang kè kè sau cổ.
“Ba đã đợi nó mười hai năm nay’’. – ông nói. – “ Đây là chuyến đi thay đổi số phận của ba con ta! Nếu thuận buồm xuôi gió, cái án mạng của ba con mình sẽ vĩnh viễn xóa bỏ, ngược lại ba sẽ một mình chịu đựng và con phải làm một cuộc lột xác lần nữa’’
“ Ba nói thế nghĩa là sao? ’’
“ Nghĩa là nếu ba bị hội Naga giết hại, điều đó cũng sẽ đến với con. Cho nên, nếu có tin xấu về ba, con hãy lập tức trốn khỏi đây và thay đổi tên họ một lần nữa. ’’
Thi Nga ngồi như kẻ mất hồn, cô thấy mình không có thật hoặc chưa thực sự sống thật trên cõi đời này. Tại sao lại phải chạy trốn một kẻ thù mà cô chưa bao giờ thấy mặt. Tại sao phải lẩn trốn như tử tù khắp thế gian trong khi cô không làm gì nên tội.
“ Hội Naga là ai mà tàn tệ đến vậy ba? ’’
“ Còn tệ hơn những gì ba đã nói, nhưng thôi, dần già ba sẽ nói thêm. Bấy lâu nay ba con ta sống yên bình là bởi chúng tin ba đã quy phục và cam phận nên chưa ra tay đó thôi nhưng một khi ba đụng đến sào huyệt của chúng thì tất cả sẽ xảy ra. Dù sao, ba cũng phải báo thù cho mẹ, và nếu có chết thì ba sẽ chết ở Naga, ngay nơi mẹ con đã nằm lại đó cho trọn đạo vợ chồng. ’’
Giờ đây, những gì đã xảy ra ở Mỹ Sơn và sự biến mất của ba cô dường như đang báo hiệu theo chiều hướng xấu đó. Mải lo nghĩ mà cô đã quên phắt nguy hiểm đang rình rập. Thay vì trốn đi và thay tên đổi họ thì cô lại làm ngược lại. Lúc này cô chỉ muốn biết Naga ở đâu để cô tức khắc bay thẳng đến đó may còn kịp thấy ba cô.
Thi Nga chạy ào lên phòng rồi đóng sầm cửa lại, căn phòng vẫn thoảng hơi ấm thân thương quen thuộc. Chiếc laptop trên bàn đang chạy ro ro trong chế độ bảo vệ màn hình. Cô lại gần rồi lay nhẹ, một hình ảnh bật sáng đập thẳng vào mắt cô.
Gì thế này? Một vị thần bị chôn lấp? Thoáng giật thót khi vừa nhìn vào, và rồi cô không rời mắt ra được nữa.
*
Giáo sư Huỳnh Lẫm nheo mắt nhìn tờ giấy rồi gật đầu tỏ vẻ tâm đắc:
- Hay lắm, nhưng hơi đơn giản. Nếu mật mã này lọt vào tay kẻ trộm chắc bị chúng đào lên rồi.
Kì Phương hơi bị chạm lòng nhưng anh không tin ông sẽ hiểu đúng. Mọi người xúm quanh ông nhưng chỉ có Phú Thành Tài cất tiếng:
- Theo tôi chúng ta phải đào dưới các chân tháp này lên xem thật kĩ, dưới đó có thể chôn cất vàng bạc.
Thực ra ý này không mới, Những kho báu Chămpa được được người Pháp tìm thấy dưới chân tháp khi trùng tu rất nhiều. Tháng 2-1906, khi tổ chức khai quật khu tháp Pô Nagar, Parmentier đã tìm thấy một căn hầm bí mật chứa đồ thánh, nhiều hiện vật bằng vàng như nhẫn, vòng, độc bình. Đầu thế kỉ XX khi trùng tu Tháp Po klong Garai các nhà khảo cổ Pháp cũng tìm thấy bát vàng, bạc và đồ trang sức. Có lẽ khám xét lòng tháp là công việc trước tiên của những tên trộm và nhà khảo cổ khi đặt chân đến. Ngay ở Mỹ Sơn, người ta cũng đã tìm thấy dưới lòng tháp C7 một bộ trang phục bao gồm vương miện bằng vàng, dây chuyền ngọc bích, thắt lưng nạm kim cương và vô số đồ trang sức quý đi kèm khác.
- Những tháp này đã bị đào bới từ lâu nhưng không có báu vật nào sất. – Giáo sư Huỳnh Lẫm lắc đầu.
- Có lẽ chúng ta cần khai quật lại. - Phú Thành tài nói. - Báu vật mà Paul ám chỉ không hẳn là vàng bạc mà có thể là một văn bia hoặc kho văn bia. Bia kí và sử liệu về Champa nửa cuối thế kỉ thứ IX vẫn là một khoảng trống. Nếu khai quật được vài minh văn nói về thời này chả phải là quý hơn vàng đó sao?
Quả thật, đầu thế kỉ XX các nhà khảo cổ Pháp đã phát hiện được một kho văn bia có tới 700 mảnh vỡ của hơn chục tấm bia do ai đó cố tình đập phá và chôn giấu một cách bí ẩn. Kho này chỉ là một trong số nhiều kho khác được các học giả khẳng định đang nằm đâu đó trong lòng đất Mỹ Sơn. Chính vì bị hụt một lượng sử sách đồ sộ nên chúng ta hiện nay không hề biết điều gì khủng khiếp đã xảy ra ở Champa đầu thế kỉ X. Những gì chúng ta biết về họ trong thời đại này đều dựa trên nguồn sử liệu ít ỏi của người Hán và Đại Việt.
- Tôi đồng ý với anh. – Giáo sư Huỳnh Lẫm nói. – Nhưng anh chưa nắm được ý Paul. Ông ta không tiết lộ cụ thể đó là gì nhưng đã khẳng định đây là báu vật theo nghĩa đen của nó. Giả sử như chúng ta tìm thấy một minh văn chôn trong những tháp này thì nó phải chỉ ra một kho báu theo nghĩa chân phương nhất.
Kì Phương đồng tình với giáo sư Huỳnh Lẫm, giả thiết này vừa li kì vừa thực tế. “ Hòn đá đỉnh vòm’’ của tu viện Sion – một hội kín của Châu Âu thời trung cổ theo truyền thuyết là một tấm bản đồ bằng đá chỉ nơi cất giấu Chén thánh. Giả thuyết trên đã kéo theo nhiều cuộc tìm kiếm của các nhà khoa học nhằm vào các viên đá khóa đỉnh trên nóc vòm các tu viện tại Pháp.
Là những nhà khảo cổ uyên bác, chắc Paul và đồng nghiệp biết các bí mật nằm ở đâu trong các công trình cổ. Cái tháp cũng như cái người. Có chỗ phình to chỗ tóp vào, chỗ linh thiêng chỗ trần tục, có chỗ chỉ cần đẹp mắt nhưng có chỗ lại đặt ưu tiên lưu trữ thật nhiều tri thức. Đó là lí thuyết nhưng đôi khi cái trang trí lại hàm chứa mật ngữ hay chỗ làm đẹp lại cất giữ của cải. Cuối năm 1906, khi phục chế một tháp phía nam khu đền Pô Nagar, cũng chính Parmentier đã tìm thấy một kho đồ thánh rất lớn giấu trên đỉnh tháp, một vị trí mà không ai ngờ tới.
Kì Phương bắt đầu tưởng tượng đến một tấm bản đồ cổ bằng đá nằm đâu đó dưới nền những ngôi tháp này. Anh góp ý.
- Để biết ý Paul muốn gì, trước tiên cần khảo sát lại những ngôi tháp này lần nữa. Chúng ta đừng quên cách đây mười hai năm ông ta đang khai quật dang dở những ngôi tháp này.
Giáo sư Huỳnh Lẫm lại xua tay. Có lẽ do thói quen lên lớp đã ngấm vào máu, ông không nói đáp án luôn mà khơi gợi cho học trò tranh cãi.
- Chúng ta không cần phải đào nữa. – ông nói. – Paul đã đào hết nền móng các tháp này từ lâu rồi, những gì quan trọng ông ta đã mang vào Bảo tàng. Nếu cho rằng cả bốn nền tháp này đang có cổ vật là quá ngây thơ. – ông lại giở tờ giấy ra rao giảng. – Xem này, ngay cách trình bày cũng rất lạ. Mỗi bốn cái tháp tại sao không viết thành một dòng mà lại viết thành hai dòng?
- Đây là hai câu thơ! – Kì Phương buột miệng.
Chỉ khi giáo sư Huỳnh Lẫm gợi ý hai dòng thì Kì Phương mới nghĩ đến thơ. Sinh thời, Paul yêu thơ và thích đọc Chế Lan Viên hoặc Inrasara nhưng dùng thơ của họ để mã hóa kho báu thì có lẽ không phải mà Kì Phương đang hướng đến một dòng thơ bác học hơn. Thơ Ấn Độ!
Thực ra, một điều khó tin là ở thung lũng Mỹ Sơn không chỉ có những vị thần Ấn Độ giáo mà còn tràn ngập văn Chương và thi ca Ấn Độ cổ đại. Trên các tấm bia kí là cả một kho tàng văn học đậm chất sử thi được viết chủ yếu theo những thể thơ phổ biến của Ấn độ như Arya, Sloca, Upajati, malini, Sikharini... Những áng thơ này chứa nhiều điển tích và tính ẩn dụ của văn học Ấn độ nên mau chóng lan truyền và thẩm thấu sâu đến nhiều nền văn hóa phương đông theo chân balamon giáo trong đó có Champa. Đã sống ở đây lâu năm, trong những đêm khuya thanh vắng Kì Phương còn nhìn thấy cả những hồn ma thi sĩ Ấn Độ cổ xưa hiện về lang thang quanh các bờ cây góc tháp như thể đang xót xa tìm lại những trang bản thảo tả tơi mục nát của mình.
Giữa một cái nôi tràn trề chữ nghĩa như vậy, một người tinh thông như Paul nếu muốn nhắn gửi cho ai điều gì ông ta chỉ cần chọn lựa hai câu thơ đặc biệt nào đó rồi mã hóa nó bằng con số hay các kí tự latin là xong.
- Vậy anh có biết đó là hai câu nào không?
Kì Phương chưa thể luận ra thể thơ nào thì giáo sư Huỳnh Lẫm đã nói tiếp.
- Đừng nghĩ đến văn thơ rờm ra, đây chỉ là một bài toán hình học lớp hai mà thôi! Bất kì một hình tứ giác nào cũng có một giao điểm của hai đường chéo.
- Ý thầy đó là vị trí kho báu? - Kì Phương nói. - Nhưng kí hiệu C8 không hề tồn tại.
Giáo sư Huỳnh Lẫm nhìn anh mỉm cười.
- Hồi anh còn là đứa trẻ, Paul đã đào được một móng tháp sát tường của tháp C7. Đây là phế tích chưa có trong bảng của Parmentier nên Paul đã bổ sung tháp C8 nhưng còn thiếu thuyết phục nên chưa công bố rộng rãi. – Ông chỉ tay về phía sau. - Lại đằng kia thầy chỉ cho.
Giáo sư Huỳnh Lẫm chỉ rõ một móng gạch phủ đầy cỏ dại rồi nói.
- Cách đây hơn mười năm, mọi việc còn dang dở nhưng Paul đã phải về nước mà chưa kịp báo cho ai biết. Mà thôi, chúng ta tiếp đi. Tìm xem giao điểm của hai đường chéo này có gì.
Giáo sư Huỳnh Lẫm cùng Kì Phương loay hoay tìm tâm của tháp C8. Cảm thấy có gì đó không ổn, Kì Phương nói:
- Nếu chính Paul trước đây chôn giấu báu vật đó, ông ta chỉ cần chôn cạnh ngôi tháp nào đó là đủ.
Giáo sư Huỳnh Lẫm nói:
- Có thể cổ vật này được chôn mấy trăm năm trước và Paul đã phát hiện ra nhưng vì lí do nào đó chưa thể đào lên lúc đó nên tạm đánh dấu chờ dịp khác. Có thể ông ta đã đo đạc rồi phát hiện vị trí đó nằm trên hai dường chéo này.
Có tiếng sột soạt bên tai, Kì Phương quay sang đã thấy người cán bộ tên Trọng xuất hiện, mồ hôi đầm đìa.
- Thưa giáo sư, Bộ trưởng Vinh muốn hỏi ý kiến giáo sư.
Giáo sư Huỳnh Lẫm thoáng ngạc nhiên rồi nhanh chóng hiểu ra. Mặt trời đã lên cao trong khi hàng vạn người đang theo dõi tin tức về đội khảo cổ của ông từ sáng đến nay.
- Bộ trưởng hỏi gì?
- Bộ không muốn việc cá nhân của Paul mà ảnh hưởng đến kế hoạch lớn, Bộ trưởng muốn hỏi ý kiến giáo sư có khả năng tiếp tục công việc không?
Giáo sư Huỳnh Lẫm buông một câu vẻ tự ái.
- Hãy nói với ông ta chúng tôi có thừa khả năng.
Anh ta bỏ đi với chiếc điện thoại kè kè bên tai. Giáo sư Huỳnh Lẫm quay lại nói với Kì Phương.
- Thực ra công việc này chỉ cần đến cậu là quá đủ.
- Thưa thầy, em sẽ xong sau ít phút nữa.
Giáo sư Huỳnh Lẫm kéo mấy người đi tiếp về phía bên kia con suối rồi dừng lại nơi người đồng nghiệp đã ngã xuống. Đã 8 giờ 23 phút, nếu theo lịch trình lẽ ra giờ này Paul và nhóm của ông đã đưa báu vật lên khỏi lòng đất. Sẽ không thiếu cờ hoa và những vòng tay chào đón một biểu tượng lịch sử đã trở về đất mẹ. Sinh nghề tử nghiệp. Vị giáo sư chạnh lòng nhìn vu vơ giữa vòm trời ngả nghiêng để ngăn những giọt nước mắt lại chực trào ra. Rồi không ai bảo ai, họ đi vòng quanh hố đào như muốn tiễn đưa một linh hồn lưu lạc về chốn linh thiêng.
*
Kì Phương lấy tấm bản đồ khu di tích rồi dùng bút chì tìm giao điểm hai đường chéo. Kết quả thật bất ngờ, điểm này nằm giữa lòng suối. Kì Phương thoáng chút thất vọng và chạy ra nhìn thực địa. Khúc suối này rất rộng, nước sâu và rất trong, hai bên đầy đá cuội từng là thiên đường bơi lội của cô bé Thi Nga mười năm trước. Vị trí lòng suối ở Mỹ Sơn này trước đây nằm trên cạn cho đến khi các kĩ sư EFEO thực hiện dự án táo bạo nhưng thất bại là đục xuyên núi để lái dòng chảy nhằm bảo vệ di tích. Kì Phương chạy đi báo cho giáo sư Huỳnh Lẫm thì đúng lúc họ đang tụm lại bàn tán gì đó. Lại gần, anh nhận ra thứ trên tay tiến sĩ Tài đã làm cho hi vọng của anh vụt tắt. Cổ vật đã bị khai quật!
Không để ý đến Kì Phương, giáo sư Huỳnh Lẫm giành lấy mẩu đất sét lóc ra từ một vật lạ rồi chăm chú soi xét, mặt đầy vẻ phẫn khích.
- Chính đây là báu vật!
- Báu vật gì vậy thầy? – Kì Phương sấn đến hỏi.
Tiến sĩ Tài nhìn Kì Phương với ánh mắt bề trên. Trao đổi với người ít kinh nghiệm không phải là đối tượng giao lưu của anh ta. Ở đây, ngoại trừ giáo sư Huỳnh Lẫm và người quan chức mà anh ta thỉnh thoảng nhờ cậy thì không ai đáng để anh ta chia sẻ. Tiến sĩ Tài chìa hai mẩu đất thay cho câu trả lời. Kì Phương đón lấy và nhận ra đây là mẩu sét bong ra từ một bề mặt nhẵn bóng in hình một con mắt ô van cân xứng vuốt dài. Một ý nghĩ lóe lên. Chỉ có Siva mới có con mắt thứ ba.
- Kì Phương gói lại cất vào túi cho tôi, nhẹ tay đừng làm vỡ! - Giáo sư Huỳnh Lẫm nói. – Có lẽ đây là thứ Paul định khai quật.
- Chúng ta cần tìm nốt các mẩu đất khác. – Tiến sĩ tài sốt sắng.
- Tôi sẽ tìm đội điều tra mượn lại các mẩu đất để ráp lại xem. – Giáo sư Huỳnh Lẫm nói. – Nó đã bị đánh cắp, chúng ta chẳng có gì để làm nữa cả. Các vị cứ tạm ra về, riêng Kì Phương ở lại.
Mọi người giải tán sau một buổi sáng tồi tệ. Đây là một thất bại của ngành khảo cổ, nhưng đối với riêng tiến sĩ Tài thì có nhiều thứ phải cảm ơn cái chết của Paul. Cái chết xảy ra đúng hôm nay không những loại cho ông một đối thủ mà còn thầm mách cho ông một hàm số cốt tử trong hành trình săn tìm kho báu suốt ba mươi năm dài lê thê của mình. Một ý tưởng mới đã ngoi từ huyệt mộ của nhà khảo cổ Pháp.
Khi mọi người đã khuất bóng, giáo sư Huỳnh Lẫm hỏi Kì Phương.
- Đêm qua, Paul có liên lạc với anh không?
- Có ạ, em đang ở công trường thì nhận được điện của ông ấy gọi ra Đà Nẵng.
- Để làm gì?
- Lên sân bay đón con gái ông ta.
- Chạy bảy mươi cây số để làm một việc mà bất cứ chiếc taxi nào cũng có thể làm?
- Ông ta không biết em ở xa vậy, khi em nói đang ở Mỹ Sơn ông ấy vội thoái lui nhưng em nói cũng đang định về Đà Nẵng nên tiện thể đón luôn.
- Nếu ông ta nhờ anh đi đón một mẹ xề nào đó, chắc anh đã không có ý định “ tiện thể’’ đúng không?
Kì Phương cười gượng, mà đúng thế thật.
- Thế rồi sau đó thì sao?
- Sau đó em đưa cô ta về khách sạn chỗ cha cô ta, chờ mãi không thấy nên đoán ông ta đi Mỹ Sơn, vậy là chúng em vào đây luôn.
Vị giáo sư thở dài, không giấu vẻ buồn bã.
- Còn bây giờ, chắc cô ta đã khóc hết nước mắt rồi chứ?
Kì Phương biết mình sắp phải giải thích một việc khó tin hệt như sáng nay với viên cảnh sát.
- Em nhìn thấy xác Paul trước và không muốn cái chết thảm thương đó đập vào mắt cô ta, vì lí do ấy mà em đã che thi thể lại. Cho đến giây phút này, cô ta cũng chưa biết ba mình đã chết.
- Chưa biết? – ông ngạc nhiên. - Nhưng thầy thấy có dấu chân giày nữ bên xác chết!
Kì Phương không ngờ thầy mình có năng khiếu làm thám tử đến vậy nhưng anh vội nhớ ra các nhà khảo cổ luôn có thói quen luôn nhìn xuống đất. Dân trong nghề đồn rằng họ còn có biệt tài nhìn các nếp nhăn trên cơ thể phụ nữ mà đoán trúng phóc “ niên đại’’ của họ nữa.
- Vâng, đúng là cô ta đứng bên xác chết mà không thấy.
- Anh đè lên xác chết hả?
- ... Vâng.
Giáo sư Huỳnh Lẫm nhìn anh như một sinh vật mọi rợ.
- Bây giờ thì cô ta đi đâu rồi?
- Bởi chưa biết cha mình chết, nên cô ta đã đi tìm.
- Nếu cô ta không thấy xác, thì máu lênh láng kia không làm cô ta thắc mắc hay sao?
- Vâng. - Kì Phương thở dài. - Đàn bà con gái hay tin một cách ẫu trí mà, thầy còn lạ gì.
Giáo sư Huỳnh Lẫm biết kẻ ấu trí ở đây là ai, còn cô gái quái đản kia đi đâu và làm gì sau khi bỏ chạy khỏi hiện trường bắt đầu làm ông chú ý.
- Sao không ngăn cô ta lại? anh thật tàn nhẫn! nếu anh không dám nói thì tôi sẽ nói. Số máy cô ta bao nhiêu?
Kì Phương không ngờ ông lại phản ứng gay gắt đến vậy.
- Thưa thầy, cô ta từ nước ngoài về nên chưa có số. Em sẽ đi tìm cô ấy ngay bây giờ!
- Anh biết gì về cô ta? Hai người thân nhau đến mức nào?
Kì Phương nhận ra sự quan tâm của ông đã đi hơi xa, nhưng trước một người thầy luôn tận tụy với học trò, anh coi đây là điều đáng trân trọng.
- Thưa thầy, em biết cô ta hồi bé, hơn chục năm nay chưa hề gặp lại...
- Một con người mà đứng bên xác cha mình mà không biết chỉ có mất hết giác quan hoặc là giả vờ. Anh tin cô ta là người tốt sao?
Lúc nằm trên xác chết và dưới cái nhìn da diết đến tội nghiệp của cô ta, anh không thể nghĩ gì khác. Sau lời nói khó nghe của thầy anh bắt đầu hoài nghi về cô. Dù sao, trước cái nhìn đầy soi mói của thầy, anh bắt đầu tự ái.
- Vâng, em tin cô ấy, cha cô ấy là người tốt.
- À, cha tốt thì con tốt!
Kì Phương định đáp lại nhưng nhận ra ông ta đã tự trả lời, một sự khẳng định đầy mỉa mai. Năm ngoái đứa con trai độc nhất của ông đã vĩnh biệt cõi đời vào cái tuổi chớm ba mươi. Trong khi ông dành hết đời cho mình khoa học thì chốn hậu phương, người vợ đã đẩy niềm hạnh phúc bé mọn của ông xuống vực thẳm. Có chồng mà cũng như không, người vợ đáng thương đã tìm nguồn an ủi nơi người khác và phó mặc cho đứa con “ nối dõi tông đường “ của ông sa vào tệ nạn. Chỉ vài năm sau, cậu quý tử mà ông hết lòng yêu thương đã qua đời trong cái đêm mà ông đã phải đáp xe đò hơn ngàn cây số từ Tây nguyên về để nhìn mặt con lần cuối. Người cha già tiễn đứa con chết trẻ mà nước mắt chảy vào trong. Trong thoáng chốc, Kì Phương bỗng thấy lòng mình se sắt như có luồng gió lạnh thấm qua.
- Thưa thầy, em xin lỗi.
Ông ta quay sang với sự khổ hạnh đã giấu kín.
- Ta hiểu con, bây giờ anh mau mau đi tìm cô ta đi, tìm thấy hãy gọi ngay cho tôi.
Kì Phương định quay mặt đi thì ông bất ngờ kéo tay lại hỏi.
- Anh có biết vì sao Paul chết không?
Kì Phương sầm mặt, giờ là lúc còn quá sớm và quá khó để nói về nguyên nhân hay hung thủ.
- Anh có thấy điều gì đó bất ổn ở cô gái vừa bỏ trốn kia không?
- Thầy nói sao? Cô ta không thể liên quan đến cái chết của ba mình.
- Tôi không biết cô ta là loại người gì, nhưng chưa chắc Paul là người duy nhất sẽ phải chết.
- Thầy nói gì? - Kì Phương giật mình.
- Hãy nói cho cô ta biết sự thật và điều quan trọng nhất là đưa cô ta trốn đi đâu đó thật nhanh.
Kì Phương chột dạ, giáo sư Huỳnh Lẫm đã cảnh báo một điều mà lẽ ra anh phải biết trước. Trong khi nguyên nhân cái chết của Paul đang trong bí ẩn thì giáo sư Huỳnh Lẫm có lí do để lo lắng cho đứa con nạn nhân. Thi Nga là người ruột thịt duy nhất nên ba cô chắc chắn đã chia sẻ nhiều thông tin bí mật. Nếu chúng giết Paul vì những bí mật đó thì không lí do gì chúng không làm điều tương tự với con gái ông ta. Kì Phương vội vã đi nhanh ra xe. Hình như vừa sực nghĩ ra điều gì, giáo sư Huỳnh Lẫm đuổi theo rồi chặn ngang trước mặt anh:
- Tôi sẽ đi cùng anh!
- Việc này một mình em là đủ. - Nhìn khuôn mặt khốn khổ của thầy, Kì Phương không nghĩ ông lại đánh giá sự việc trầm trọng đến vậy. Anh nói vội. – Thầy cứ yên tâm, cảnh sát đang giăng lưới khắp nơi, nếu có kẻ nào đó muốn hại cô ta cũng không dại gì manh động lúc này. - Kì Phương né sang đi tiếp nhưng giáo sư Huỳnh Lẫm không để anh vượt lên.
- Anh định tìm cô ta ở đâu?
Kì Phương biết rằng ông muốn đích thân đi tìm Thi Nga, nghĩ đến viễn cảnh ông ta gặp Thi Nga để sổ toẹt cái điều anh đang bưng bít sẽ ê mặt. Việc này để anh chủ động nói lại với cô thì hơn. Hơn nữa, có thêm một ông lão già nua bên cạnh cũng không làm cô an toàn hơn. Anh đành nói qua quýt.
- Em cũng không dám chắc cô ta ở đâu, có lẽ ở chỗ người quen thôi.
- Nghe tôi nói đây. - ông đẩy anh lùi nửa bước rồi nói. - Nếu tìm thấy cô ta, hai người nên tạm náu mình đâu đó một hai hôm cho tình hình lắng xuống cái đã.
- Thầy nghĩ có kẻ sẽ giết cô ta sao? – Kì Phương phát hoảng.
- Qua những gì ta đã chứng kiến sáng nay, chúng ta chưa rõ kẻ giết Paul vì động cơ gì, hung thủ là ai và có bao nhiêu tên nhưng chắc chắn đây không phải là hành vi đơn lẻ bột phát. Từ sáng qua tới nay anh với Paul như hình với bóng. Sự gần gũi và ân cần thái quá của anh với cha con họ đang vô tình phát một thông điệp cho kẻ xấu rằng: anh với họ cùng bè cùng đảng. Họ phải chết thì anh cũng khó sống sót.
Kì Phương nghe xong suýt bật cười, anh cho rằng tên sát thủ đã cao chạy xa bay cùng với cổ vật. Khả năng chúng sẽ hãm hại nốt Thi Nga và anh gần như không có. Tuy nhiên chuyến thám hiểm thánh địa Naga nào đó có khi lại là căn nguyên chúng săn lùng cha con cô. “ Cẩn tắc bất áy náy’’ rõ ràng giáo sư Huỳnh Lẫm tĩnh tâm và có cái nhìn thấu đáo hơn anh tưởng.
- Nếu trốn đi lúc này. – Anh đắn đo. - Có làm cho cảnh sát nghĩ sai về mình không?
- Nếu anh và cô ta không phạm pháp thì không ai bắt được tội được cả.
- Thầy nói đúng, em sẽ đưa cô ta vào náu ngay tại đồn cảnh sát luôn.
Giáo sư Huỳnh Lẫm vội vã xua tay.
- Tìm đến họ lúc này không phải là cách làm thông minh nhất.
- Tại sao thưa thầy?
- Đương nhiên hai người không có tội, nhưng những gì anh và cô ta làm ở hiện trường đã lọt vào tầm ngắm của cảnh sát rồi. Lẽ ra cô ta nên ở lại trình báo và hợp tác với cảnh sát để tìm kẻ giết cha mình thì lại trốn biệt tích. Ai dám chắc cô ta không móc nối với với hung thủ hay đang tẩu tán cổ vật thì sao? Họ thừa lí do để tạm giam hai người để điều tra, anh hiểu chứ?
Kì Phương nhìn rõ một nỗi ác cảm về Thi Nga đang gợn lên trong đôi mắt sõi đời của ông.
- Vậy theo ý thầy, ta vẫn phải tìm một nơi nào đó để tránh nạn?
- Tôi nghĩ ra rồi, anh hãy đưa cô ta về Hội An ở tạm ngôi nhà bỏ không của nhóm chuyên gia khảo cổ Nhật. Chìa khóa tôi đang giữ đây. Dù sao thì bảo vệ và chăm sóc con gái Paul là trách nhiệm của tôi và anh lúc này. Ai dám chắc kẻ giết Paul sẽ không thanh toán nốt cô ta. Không được rời cô ta nửa bước. Phải bí mật và tạm thời cắt hết mọi liên lạc với bên ngoài. Tôi sẽ nhờ bạn đến bảo vệ hai người.
Kì Phương biết ngôi biệt thự hai tầng đầy đủ tiện nghi trong một con hẻm vắng bên sông Thu Bồn đó, đúng là một nơi lãng mạn và kín đáo.
Anh mỉm cười nhận chùm chìa khóa rồi lên xe lao đi.
 
 
Chương 11  
Champa là một vương quốc nhỏ bé nhưng lấp lánh trên bản đồ thế giới cổ đại bởi những ngọn tháp Chàm đỏ thẫm và huyền thoại về những pho tượng thần balamon đúc bằng vàng khối dựng khắp các thánh địa. Họ sở hữu một kĩ nghệ độc đáo về chế tác kim hoàn và đá quý dùng làm đồ trang sức. Các linga, kosa, các loại tượng thần và nhiều đồ thờ cúng tinh xảo được đúc bằng kim loại qúy hiếm đều là những tác phẩm nghệ thuật đắt giá nên được ngoại bang săn lùng ráo riết. Non trẻ, giàu có, xinh đẹp, lại nằm chênh hênh bên đường huyết mạch hàng hải nên quanh năm đối mặt với bao thèm thuồng nhòm ngó của cướp biển và các loại giặc dã. Để tồn tại, họ rất tinh thông, thiện chiến, giỏi đi rừng lẫn đi biển, giàu kinh nghiệm phòng thủ và dĩ nhiên là cả đào tẩu khi cần.
Tháng 6 năm 1902, trời Miền trung nóng như trút lửa, trên một công trường lọt sâu giữa cánh rừng vàng sém đang tấp nập từng đoàn người đào bới, khuân bê dưới sự giám sát tỉ mỉ đến khắt khe của những đốc công đặc biệt. Dưới một lều cây dựng tạm có hai người đàn ông cao lớn mặc quần short trắng, mũ vải cao, râu ria xồm xoàm đang chụm đầu trước các trang giấy trải rộng. Tuy gầy gò khắc khổ nhưng không làm mất niềm đam mê cháy bỏng hiện rõ trên khuôn mặt thanh nhã tuấn kiệt của mình. Đó là hai “ tên thực dân’’ Henrry Parmentier và Luis Finot. Hôm nay công việc của họ có thay đổi, thay vì khai quật và ghi chép như lệ thường, họ vừa nhận được một tấm bản đồ từ các cộng sự của EFEO gửi về.
Trước bản vẽ còn sơ sài và do dự, Luis Finot cho rằng dưới lòng đất xung quanh kinh đô Simhapura phải có một hệ thống hầm ngầm bí mật nối liền với Thánh địa Mỹ Sơn và cửa biển Hội An. Hệ thống hầm ngầm này phải là nơi thỏa mãn được một loạt yếu tố cốt tử như giúp vua chúa chạy giặc, cất giấu của cải, nơi trú ẩn và luyện pháp hoặc tẩu thoát nhanh ra Biển đông khi cần.
Tính riêng trung tâm tôn giáo Mỹ Sơn vào lúc hưng thịnh nhất là thế kỉ VI - VII, đã có hàng chục ngọn tháp với vô số tượng vàng bạc và đá quý ùn ùn dâng cúng trong các ngày đại lễ linh thiêng. Sử Hán còn khoe rằng quân của họ cướp được vô số vàng đến hàng trăm cân phải nấu chảy rồi đúc thỏi để tiện mang về. Các vương triều cổ đại luôn có một lượng ngân khố dự trữ và họ biết cách cất giấu chúng khi loạn lạc. Những kho báu này cho dù được cất dẫu kĩ càng đến bao nhiêu thì theo thời gian và binh biến cũng làm cho nó thất lạc và trở nên vô chủ.
Một thực tế là hầu hết các kho của này không bao giờ đến tay hậu duệ của họ, còn các nhà thám hiểm phương tây luôn luôn là người tìm ra chúng. Khắp địa cầu từ Châu á đến Châu phi rồi vòng qua Châu đại dương, không kho báu nào là thiếu dấu chân của người Pháp, Anh. Trước tấm bản đồ Champa, câu hỏi dầu tiên của Parmentier và cộng sự là: Il est ou le trésor? - Kho báu ở đâu?
Đã hơn một thế kỉ trôi qua, không biết các chuyên gia EFEO có lần ra manh mối kho báu nào ở Champa hay không thì câu trả lời cũng đã theo họ về với Chúa. Trăm năm qua không một nhà khoa học chân chính nào khơi gợi vấn đề tìm kho báu Champa thì đùng một cái, hôm nay và cũng là lần đầu tiên trong lịch sử EFEO, Paul Morierre đã dõng dạc tuyên bố sẽ khai quật kho báu Chămpa. Nhưng... hỡi ôi, ông thề thốt ầm ĩ xong chưa kịp chứng tỏ cho nhân loại thấy thì cũng vội vã về trời. Vậy thực chất kho báu này là gì và đang ở đâu?
*
Trên đường quay lại Đà Nẵng, Kì Phương băn khoăn không biết Thi Nga đang ở Rex chờ anh hay đã lên đường đi tìm kho báu Naga. Anh lo đêm hôm lạ nước lạ cái không biết cô có về đến Đà Nẵng an toàn hay không. Nếu không bị sát hại dọc đường thì giờ này cô nàng đang thu xếp hành lí để rời Việt Nam theo dấu chân mịt mù vô vọng của cha cô sang Campuchia. Thật điên rồ. Đúng như anh hi vọng, chiếc Ford sét rỉ đang đỗ xệch xẹo ngoài cổng khách sạn. Chàng nhân viên đeo nơ thấy khách quen đi vào nên tỏ ra là người tinh tế.
- Cô ta đang chờ anh ở trên phòng 307 đấy!
- Vâng, cảm ơn anh!
Đến trước cửa phòng 307 anh lặng mình một lúc rồi ấn chuông. Cánh cửa vội mở ra.
- Anh vào đi!
Cô nhìn anh với ánh mắt mừng rỡ rồi ngồi vội xuống sàn trước chiếc vali lớn đầy sách đã mở tung. Cô đang lục lọi tất cả hành lí của ba mình để tìm manh mối về Naga. Kì Phương đảo mắt, khắp nơi bừa bộn sách báo bày từ trên bàn đến sô pha. Anh lặng lẽ ngồi xuống chiếc ghế trống dựng góc phòng và không biết mình nên bắt đầu từ đâu. Dù muốn hay không anh cần phải nói ra sự thật. Dường như không hề để ý đến vẻ mặt căng thẳng của anh, Thi Nga rút một cuốn sách rồi xoay bìa về anh.
- Anh hãy lật chồng sách đầu giường xem có cuốn nào có từ “ thánh địa’’ như cuốn này không?
Kì Phương liếc qua cuốn “ Thánh địa Mỹ Sơn’’ của Ngô Văn Doanh liền hiểu ngay cô đang tìm gì nhưng anh biết điều đó không cần thiết nữa. Thi Nga đặt cuốn sách xuống rồi lại nói tiếp.
- Có hai thứ quan trọng nhất mà tôi muốn có ngay trước khi đi Camboge, đó là tấm bản đồ hay cuốn sách nào đó dẫn đến thánh địa Naga, thứ hai là cuốn nhật kí của ba tôi. Anh giúp tôi đi.
Cũng không cần nốt, anh nói thầm trong cổ. Nhưng không hiểu sao trước lời yêu cầu tha thiết kia, anh lại buột ra một câu khác hẳn:
- Mấy thứ đó chắc ba cô đã... mang đi rồi!
- Dạo này ba tôi hay quên, lúc đi lại rất vội vã. Nhật kí là vật bất li thân của ba rồi, mong sao tấm bản đồ ba tôi bỏ quên đâu đây.
Kì Phương dường như không nghe thấy gì, mấy lần suýt vọt miệng rằng ba cô chết rồi không cần đi đâu nữa nhưng anh đã kìm lại. Nhìn Thi Nga hừng hực ý chí mà anh không nỡ làm cô cụt hứng. Cô ngồi gần như xếp bằng trên sàn nhà trước ngổn ngang biển trời tri thức. Tấm lưng ong thon thả đang căng lên dưới mái tóc đen như lụa của cô gái mới đôi mươi. Khuôn mặt ửng hồng, đôi mắt đen không chớp lướt nhanh trên những trang sách như sợ các dòng chữ sẽ vụt biến mất.
Một vẻ đẹp thánh thiện, một cô gái thơ ngây đáng thương thế này mà không hiểu sao viên thiếu tá và ngay cả thầy anh lại dồn bao ghi hoặc lên tâm hồn trong trắng như vậy? Không! Cô là một thiên thần. Anh không thể tiếp tục trù trừ và lừa dối cô được nữa. Phải nói. Lấy hết sự bình sinh anh cất giọng.
- Thi Nga! em hãy nghe... tôi nói đây!
Cô gái từ từ ngước lên, đôi môi mọng đầy hé mở thoáng chút ngạc nhiên. Nàng lúng liếng cặp mắt nhìn anh như chuẩn bị đón nhận một lời nguyện ước thiêng liêng. Nhưng rốt cuộc chẳng có gì cả. Kì Phương thấy trong đôi mắt kia là cả một bầu trời hi vọng đang bừng cháy. Ôi, đôi mắt! Có lẽ nào anh lại phũ phàng dập tắt nó. Lẽ nào đôi môi của anh lại phóng ra một lưỡi dao làm trái tim kia phải bật máu. Không! Lại một lần nữa, cổ họng anh như bị thít chặt.
Về phần Thi Nga, cô sớm nhận ra bên cạnh mình cũng chỉ là một kẻ si tình, một biểu hiện y hệt những anh chàng kém tự tin đang đeo đuổi cô bên Paris. Cô vội dụi mắt xuống đống sách, giọng chán ngán:
- Anh hết mệt chưa? có thể giúp tôi một tay được không? Trong chiếc túi vải trên giường kia của ba tôi cũng là sách, anh tìm nốt đi, chú ý các từ “ thánh địa’’ hoặc “ Naga’’.
- Nhưng... ba cô... ba cô đã... - Kì Phương cố gắng như một nỗ lực cuối cùng, nhưng chưa kịp nói tròn câu thì bị chặn lại bởi một câu ráo hoảnh.
- Ba tôi đã nói với tôi rằng, ông ấy sẽ có mặt ở thánh địa Naga trong chiều mai. Nào, hãy giúp tôi mở cái túi kia nhanh lên đi chứ.
Ở đời có một việc hiếm gặp mà ai cũng sợ phải làm, đó là đi báo tin người chết cho người thân của họ. Bởi đơn giản là không ai muốn làm đồng loại lên cơn đau đớn tột cùng. Vậy mà hôm nay, cái chân “ sứ giả thần chết’’ mà anh kiêng kị nhất trong đời đã gọi đúng tên anh. Trong tích tắc nữa, cơ thể tràn trề sức sống kia sẽ đổ ngã và giãy dụa trước một sự thật đang chực sẵn trên môi anh.
Giờ đây anh lại phân vân không biết nên kiên quyết chứng minh cha cô ta đã chết hay là cứ để cho cô ta tin cha mình đang sống thêm... một thời gian nữa? Mà một khi tin ba mình còn sống tức là anh cũng chuẩn bị khăn gói mà tháp tùng cô đi tìm ba mình tại cái thánh địa quái quỷ nào đó bên Campuchia.
- Cô tin mọi việc đang diễn ra đúng như cha cô đã nói? – Anh hỏi xong thì vội nhận ra câu hỏi quá thừa.
- Ơ kìa anh này! - Cô ngửng phắt nhìn anh như một thằng ngốc. – Nói thêm để anh biết, kế hoạch khám phá thánh địa của ba tôi đã chuẩn bị từ cách đây mấy năm chứ không phải bột phát đêm nay.
- Sao? kế hoạch khám phá thánh địa của ba cô đã chuẩn bị từ cách đây mấy năm? – Kì Phương kinh ngạc đến mức lắp bắp.
- Đúng vậy. Ba tôi nhất định đến đó.
- Thôi được. - Kì Phương lắc đầu chịu thua. - Chúng ta tìm bản đồ rồi đi Naga tìm ba cô.
- Anh đừng quên chúng ta đã thỏa thuận với nhau lúc ở dưới hố rồi nhé.
Lúc đó túng quá mà Kì Phương hứa bừa là sẽ cùng cô đi Pnompenh, rồi sau đó anh lại hứa đại với giáo sư Huỳnh Lẫm là đưa cô đi trốn. Giờ đây, theo đà này thì cô ta sẽ lôi anh trốn ra nước ngoài mất. Thế mà hóa hay. Làm thế thì được lòng cả hai và điều quan trọng nhất là cô ta sẽ thoát khỏi nơi nguy hiểm này?
- Tấm bản đồ và cuốn nhật kí. – Anh nói. - Trước đây cô đã nhìn thấy chúng bao giờ chưa?
Thi Nga định không đáp, nhưng không phải câu hỏi nào cũng vô vị.
- Bản đồ thì tôi chưa thấy bao giờ, còn cuốn sổ tay thì rất dày, bìa da màu đen. Cũng như một cuốn nhật kí riêng tư của bất cứ ai, ông không muốn ai xem nó cả.
- Chưa thấy bản đồ bao giờ, sao cố lại biết là có?
- Có lần ba tôi vui miệng hé lộ rằng khi tôi tốt nghiệp đại học ông sẽ tặng tôi một bản đồ kho báu.
- Và cô đã lục lọi tấm bản đồ đó?
- Anh hiểu tâm lí trẻ con đấy. Thú thực hồi đó tôi cũng tò mò, lúc ba vắng nhà tôi lục tung giá sách của ông mà không thấy. Ba tôi bắt quả tang nhưng ông không mắng mà cười nói, nó không ở trong ngôi nhà này đâu. Tôi hỏi ba để đâu thì ông nói lớn lên khắc biết.
Kì Phương đột nhiên nghĩ tới bản kí tự, liệu đây có phải là tấm bản đồ kho báu Naga nào đó đã mã hóa. Anh nói.
- Nếu tồn tại kho báu Naga, ắt ta sẽ tìm được. – Kì Phương an ủi, mặc dù anh cũng chưa có cách gì.
Ngay lập tức Thi Nga hất mái tóc và quay mặt sang.
- Anh đừng nghĩ đơn giản, đây là bí mật lớn nhất của lịch sử Khmer và Champa, nếu dễ người ta đã tìm ra từ lâu rồi.
- Chính ba cô đã biết đấy thôi?
- Ba tôi là người duy nhất làm được điều đó nhưng cái giá quá đắt. Mẹ tôi phải bỏ mạng ngay tại đó. Sự trả thù vẫn còn đeo đẳng ba con tôi đến tận bây giờ. Chính vì thế nên bằng mọi giá tôi sẽ không để ba đến đó một mình.
Lúc này thì Kì Phương mới thấm câu nói của giáo sư Huỳnh Lẫm, quả thật, ba con cô ta đang bị ai đó truy sát.
- Vậy ba cô đã nói kế hoạch gì với cô trước khi ông ấy sang đây?
- Ba tôi cho tôi biết sáng nay khai quật một linh vật ở Mỹ Sơn, chiều nay sẽ đáp máy bay qua Pnompenh để chuẩn bị cho khai quật thánh địa Naga vào chiều mai. Có lẽ sự cố ở Mỹ Sơn sáng nay đã buộc ba tiến hành khai quật Naga sớm hơn dự định. Ba tôi nói khai quật Naga là sứ mệnh lớn nhất của ông trước khi chết.
Nghe đến đây, Kì Phương nhận ra rằng đây là lí do cô chưa “ cho phép’’ ba mình được chết. Sau nghĩa vụ ở Mỹ Sơn sẽ là Naga. Ý nghĩa khám phá thánh địa Naga bí ẩn bắt đầu cuốn hút Kì Phương, và không biết tự khi nào anh đã bỏ hẳn ý định nói thật với Thi Nga. Tận dụng nguồn thời gian, Kì Phương định bảo Thi Nga mang vài cuốn vào ba lô vừa đi vừa tìm thì cô đã reo lên.
- Đây rồi, thánh địa Naga!
Kì Phương trờ tới nhìn lên cuốn sách được đóng thủ công đã thâm ố trên tay cô. “ Thánh địa Naga’’. Không kìm được tò mò, Kì Phương nhìn qua vai cô khi cô giở nhanh từng trang. Anh nhìn thấy có rất nhiều ảnh chụp và tranh vẽ tay khá công phu cố diễn tả từng phần một công trình bằng đá đồ sộ rất lạ mắt. Sức hút của những công trình kiến trúc cổ đối với Kì Phương là rất mãnh liệt. Đáng chú ý, trong công trình này hiện diện nhiều mảng phù điêu bằng gạch rất đặc trưng của người Chăm đan xen những bức phù điêu khổng lồ bằng đá khắc những điển tích thần thoại đậm chất Khmer. Thi Nga giở nhanh thoăn thoắt để tìm bản đồ. Cũng như khi soát xong đống sách trong va li, một lần nữa cô lại thất vọng.
- Anh tìm lại đi, để tôi tìm cuốn nhật kí.
Kì Phương vội cầm lấy xem ngấu nghiến. Mấy bức ảnh chụp đầu tiên là các lối đi lắt léo nhỏ hẹp rất tối tăm giống như một mê lộ dưới lòng đất. Những vách đá dựng đứng được khắc tạc các vị thần Ấn Độ giáo uy nghĩ lững lững và cả những hình vẽ lễ hội và dâng tế lạ mắt mà nhất thời anh không hiểu nổi. Tiếp đến là những không gian đóng mở, lồi lõm xen kẽ chứa đựng những pho tượng và kinh sách rất bề thế. Kì Phương đồ rằng nếu đây không phải là những tác phẩm do Paul tưởng tượng ra thì bấy lâu nay nhân loại đang bỏ quên một kho báu khổng lồ theo tất cả các ngữ nghĩa của nó.
- Đây là một kho báu trong lòng đất! – Kì Phương thốt lên.
Quả nhiên là trăm nghe không bằng một thấy, cho dù là thấy trong tranh ảnh. Kho báu Chămpa là có thật và được nhắc đến từ khá lâu bởi các nhà khoa học Pháp-những người không màng mê tín hay huyền thoại mà chỉ tin vào thực chứng. Kho báu cuối cùng, nơi lưu giữ những gì còn lại của vương triều Chămpa đã được khẳng định bởi Jeanne Leuba trong tác phẩm “ Unroyaume disparu-Les Chams et leur art - 1923.”
Cầm trên tay cuốn sách lạ này Kì Phương không khỏi hoài nghi đây liệu có phải là kho báu Champa mà sử sách tốn bao công bàn luận hay không. Kì Phương lật nhanh để xem nó lớn đến mức nào nhưng anh bỗng dừng tay khi thấy một bức ảnh tối màu nhưng nổi lên một vệt sáng ngoằn nghèo như dải khói trắng. Nhìn kĩ anh nhận ra đây là một con rắn rất lớn đang ôm một cây cột.
- Xem này! – Kì Phương hướng ảnh về phía Thi Nga.
Thi Nga thấy rắn liền giật thót mình suýt chút nữa ngã nhào lên đống sách. Kì Phương bấm bụng cười rằng mới chỉ là bức ảnh mà đã thế, không biết khi gặp rắn thật cô sẽ ra sao.
- Nếu nó canh giữ thánh địa này cô có dám vào không? – anh hỏi.
- Nó nằm trong Naga ư?
- Đúng. Thánh địa này có tên là Naga, theo thần thoại Ấn Độ thì đây là tên một loại “ rắn thần’’rất hung ác và là đối thủ không đội trời chung của chim thần Garuda. Loài vật thiêng này cũng được xem là thần giữ của trong các đền tháp. Cha cô còn tiết lộ điều gì về Naga nữa không?
- Mặc dù là một người kín tiếng nhưng trước khi đi ba tôi nói rằng thám hiểm thánh địa Naga có thể mất nhiều ngày và vô cùng nguy hiểm. Ba khuyên tôi ở nhà đừng lo lắng gì, ba sẽ liên lạc với tôi khi có thể.
- Vậy lí do gì mà cô phải cấp tốc đi tìm ông?
- Tôi biết đây là công việc liên quan đến cái chết mười hai năm trước của mẹ tôi, và lần này cũng rất nguy hiểm với ba tôi nên không nỡ để ông ra đi một mình.
- Mẹ cô cũng từng vào thánh địa Naga sao? - Kì Phương rất ngạc nhiên.
- Vâng, đó là câu chuyện dài. Dường như ba rất ân hận về việc mình đã làm với mẹ. Nhìn ông u uất nên tôi chạnh lòng và không nỡ hỏi thêm.
- Vậy tại sao ông không trở lại Naga sớm hơn, ví như năm ngoái, năm trước chẳng hạn?
- Không được. Ba nói rằng không phải cứ thích đi là đi, vấn đề là cánh cửa đá bí mật trong hang núi này không ai mở được!
Kì Phương đã từng nghe rất nhiều truyền thuyết kể rằng người Chăm cất giấu kho sách lớn dưới hang núi vùng Cà Ná từ mấy thế kỷ nay. Nền hang được phủ dày bằng lớp cát phát sáng, cửa đóng kín mít bởi một tảng đá to mà chỉ có người Raglai - một dòng họ gia nhân của hoàng tộc Champa mới mở được bằng bài phù chú bí hiểm với lễ vật. Câu chuyện này hấp dẫn các nhà sử học và hàng lớp người đã lên đường tìm kiếm. Không lẽ Thi Nga đang nói về nó chăng.
- Nếu không ai mở được sao ba cô trước đây lại vào được?
- Nó tự mở theo chu kì, và chu kì này sẽ đến vào ngày mai.
- Chu kì?
- Đúng vậy, ngày cửa mở chính là ngày diễn ra nghi lễ theo chu kì 12 năm một lần.
Kì Phương thấy bắt đầu thú vị. Sáng nay đã có một người buột miệng ra từ “ Chu kì’’. Thật ngốc nghếch nếu coi hiện tượng trên yoni sáng nay là tín hiệu của một chu kì cánh cửa xa lắc nào đó nhưng cũng không được bỏ qua bất cứ điều lạ thường nào.
Kì Phương lật từng trang một cách vô thức và mắt anh nhanh chóng lạc vào thế giới âm u thần bí. Khi nhìn xuống, anh bỗng rùng mình đánh rơi cuốn sách. Bàng hoàng mất vài giây anh mới dám nhìn xuống một bức ảnh văng ra nằm trên sàn. Không thể tin nổi. Chính giữa yoni là một dòng chữ kì quái đập vào mắt

Chương 12 Sau khi xảy ra án mạng, Lê Đại Hắc nhận được chỉ thị tìm một bộ tài liệu mật liên quan đến Hoàng gia Campuchia đang trong tay Paul. Do quá tập trung chỉ đạo truy tìm hung thủ nên ông đã coi nhẹ căn phòng của nạn nhân ở Rex. Tuy đã báo cho cảnh sát khu vực đến niêm phong nhưng ông không mấy tin vào sự khẩn trương của họ. Hắc bỗng dưng thấy nôn nóng khác lạ, nếu Paul có một tài liệu tuyệt mật tầm cỡ về kho báu như bên Đại Sứ quán Campuchia khẩn báo như sáng nay thì chắc chắn đang nằm trong két sắt ở khách sạn. Ông lao ra ngoài gara, một phút sau chiếc Land Cruiser chở nhóm cảnh sát lao hết tốc lực về phía Đà Nẵng.
Kì Phương mở ba-lô lấy tờ giấy anh chép dòng chữ sáng nay ra so với dòng chữ trong bức ảnh. Thật kinh ngạc. Hai chữ này là một. Vậy là chữ đó đã từng xuất hiện tại một thánh địa khác ở một thời điểm khác. Kì Phương gợn lên một nỗi hoang mang rằng liệu những gì xảy ra với Paul sáng nay có giống như vợ ông ta ở Naga 12 năm về trước không? Nếu đúng thì cái chết của Paul đã được lập trình từ trước và hôm nay, tên sát thủ đã trở lại.
- Ai giết mẹ cô? – Kì Phương đột nhiên hỏi.
- Tôi không biết.
- Nhưng ba cô phải biết chứ?
- Tiếc rằng ba tôi cũng không nhìn thấy kẻ giết người. Đó là cái chết khủng khiếp đã ám ảnh ba suốt bao năm nay. Đã có lần trên giường bệnh ba tôi đã mê sảng và hét lên rằng “ Đừng giết ta, đừng giết con ta’’. Rõ ràng có ai đó muốn giết ba con tôi.
Kì Phương suy ra một điều rằng Paul đã bị một lực lượng nào đó đeo bám để trả thù từ khi rời kho báu Naga. Sáng nay giáo sư Huỳnh Lẫm đã vô tình gieo một câu mà anh cứ nhớ mãi “ chưa có kẻ nào đụng vào thần hộ mệnh Chăm mà toàn mạng trở về’’. Kì Phương cố gạt nỗi ám ảnh trong đầu rồi lật các trang sách hòng tìm chứng tích nào đó về hung thủ nhưng các bức ảnh còn lại chỉ là hang động âm u không có sự sống.
- Ba cô có bao giờ tiết lộ thánh địa này ở nơi nào không?
- Không, không bao giờ. - Thi Nga lắc đầu dứt khoát. – Ba nói vị trí này phải được giữ tuyệt mật vì tính mạng của tôi. Ba sợ tôi sẽ tìm cách vào đó và sẽ lại mất mạng... Ba nói nó là thánh địa có chủ hàng mấy thế kỉ nay. Những chủ nhân bí ẩn này sẵn sàng có mặt bất cứ đâu để ban cái chết cho bất cứ ai nhăm nhe xâm phạm nó. Ba mẹ tôi may mắn đã đặt chân đến đó nhưng mẹ tôi đã không thể trở về. Ba tôi căm thù chúng đến tận xương tủy và thề rằng ngày lôi chúng ra ánh sáng không còn lâu nữa!
- Nhưng ba cô đã... - Kì Phương định nói chết rồi nhưng may kìm được.
Nhìn Kì Phương đứng ngây người, Thi Nga giằng lấy cuốn sách trong tay anh rồi nói:
- Nếu anh sợ, tôi sẽ đi tìm Naga một mình.
- Ơ kìa. - Kì Phương giằng lại cuốn sách. – Ai bảo tôi sợ? mà cô biết Naga đâu mà đi một mình?
- Tôi sẽ tự đi tìm.
Kì Phương không hiểu cô gái này sẽ tìm cách nào giữa núi rừng bao la xứ người. Mà tình cảnh cô lúc này cũng rất éo le, ở lại cũng không ổn, đi cũng không xong và anh không nỡ bỏ cô lúc này.
- Tôi sẽ đi cùng cô. Chúng ta sẽ cùng đi Naga.
- Anh không sợ tai vạ à? Nếu có mệnh hệ gì thì sao?
- Tôi chỉ lo cho thân gái của cô thôi.
Nhìn thấy sự quyết tâm của Kì Phương, mặt cô rạng rỡ trở lại.
- Chúng ta phải tìm ra Naga trước chiều mai. - Cô nói. – Nếu muộn hơn e phải đợi thêm... mười hai năm nữa đấy.
Kì Phương gật đầu rồi nói nửa thật nửa đùa.
- Không bản đồ, không manh mối, không người dẫn đường, hi vọng mười hai năm sau tìm thấy là vừa.
- Tại sao lại không có manh mối chứ?
Kì Phương chợt nhớ ra mẩu giấy của Paul và cả dòng chữ trên yoni. Rất có thể con đường đến Naga đang ẩn trong đó.
- Chắc cô biết tiếng Chăm chứ?
- Tôi chỉ học một ít qua ba thôi. – Cô đáp thoáng chút ngượng ngùng.
- Thế là tốt, hơn một trăm ba mươi ngàn người Chăm trong nước cũng chỉ vài chục người đọc thông viết thạo tiếng mẹ đẻ là cùng. Còn để đọc được tiếng Chăm cổ thì chỉ đếm đầu ngón tay.
- Mà anh hỏi để làm gì?
Kì Phương đưa cho cô tờ giấy có dòng chữ Chăm lạ.
- Đây đâu phải tiếng Chăm?
- Đây không phải là chữ thảo Akhar Thrah, nhưng có thể là một chữ Chăm cổ. Cô nên nhớ là từ thời lập Quốc đã có đến hàng trăm phiên bản đấy.
Thú thực Kì Phương cũng không thể biết hết người Chăm đã sáng tạo ra bao nhiêu và khai tử bao nhiêu loại chữ. Ngoài chữ thảo Akhar Thrah có từ thời vua Pô Rôme đã tròm trèm năm thế kỉ thì còn vô số phiên bản cổ xưa hơn nhiều. Chữ Chăm cổ đó lại được phân ra nhiều loại khác nhau như chữ thánh Akhar Rik, chữ con nhện Garlimang, chữ bí ẩn Akhar Yok, chữ Hayep viết trên bia kí, kim loại, chữ Agal viết trên lá buông... Chính vì quá nhiều và phức tạp nên hầu như không ai có thể liệt kê hết bao nhiêu chữ Chăm cổ. Nhìn tờ giấy xong Thi Nga lắc đầu.
- Tôi chịu, có vẻ như là chữ trên bùa chú?
- Không phải, chữ trên bùa chú của người Chăm thường là hình vẽ hoặc viết phăng trên nền chữ Akhar Thrah nên xem qua là dễ đoán được ngay.
- Vậy theo anh?
- Tôi cũng chịu, có lẽ nó đã chết. – Anh buồn bã đáp.
Kì Phương lôi cả bảng kí tự latin lẫn chữ Chăm cổ đặt lên bàn nghiền ngẫm mong sao tìm ra lời giải.
Dòng kí tự đầu tiên A5D6. Ở đây D6 chưa hẳn là tháp D6 mà là chữ Door – 6 viết tắt. Paul xuất thân từ kiến trúc sư, quy tắc quốc tế đánh kí hiệu cửa đi trong các bản vẽ kiến trúc là D1, D2... Vậy là ý đồ của Paul có thể là:
A5D6 có thể là cửa đi thứ 6 của tháp A5.
Và E3C8 có thể là cột (column) thứ 8 của tháp E3 .
Một niềm hi vọng mãnh liệt lóe lên trong óc Kì Phương. Cửa đá và cột đá của tháp Chăm luôn khắc đầy minh văn và ẩn chứa vô số điều bí ẩn. Nếu nói đó những trang sách cổ bằng đá cũng không ngoa. Theo các truyền thuyết, vua chúa Champa sau khi chôn giấu kho báu rồi để lại di chỉ bằng các bài thơ thể loại Arya hoặc Malini trên các phiến đá. Đầu óc Kì Phương mau lẹ kết nối các kinh nghiệm trong quá khứ rồi quyết định phải tìm ngay cánh cửa đá D6 và cột C8.
- Tôi nghĩ ra rồi? – Kì Phương vui sướng thốt lên.
Thi Nga vội vàng ập đến.
- Anh đã tìm thấy bản đồ rồi sao?
Kì Phương bỗng dưng im lặng, anh đã quá bộp chộp khi làm Thi Nga cụt hứng. Các tháp này đã... không còn nữa. Hai tháp A5 và E3 đã bị phá hủy hoàn toàn. Trước đây các nhà khảo cổ đã bới trong đống tàn tích kia vài cấu kiện nhưng không còn đầy đủ và nguyên vẹn nữa.
- Nói đi. – Thi Nga giục.
- Di chỉ ngay trên tháp, nhưng các tháp này đổ nát hết rồi.
Thi Nga không ngạc nhiên, đêm qua cô đã phát khóc vì quang cảnh tiêu điều ở đây. Cô nói:
- Nhưng các mặt chữ trên đá chưa vụn ra là được.
Kì Phương cũng tin như vậy, đống hoang tàn khu B do bị bom đánh sập nhưng các mặt chữ trên đá còn nguyên. Nhưng anh lại phát hiện ra mình nhầm chỗ khác. Các tháp chỉ có một và tối đa là hai cửa nên D6 cũng không thể là cửa thứ 6 được. Anh nói.
- Cái ta cần là cửa thứ sáu, nhưng tháp này chỉ có đúng một cửa thật. Có lẽ tôi đã nhầm.
- Sáng nay tôi có thấy cánh cửa đá nào đâu, chỉ trơ mỗi khung mà thôi.
- Khung cửa? Đúng đấy. Mỗi bộ khung có hai đà dọc và một đà ngang, mỗi đà có ba mặt nên tổng cộng có tới chín mặt khắc chữ. D6 là mặt thứ 6 của khung đó.
Một chiếc cột ở Mỹ Sơn của vị tân vương Paramabodhisatva khắc năm 1081 cho biết ông ta lên ngôi năm nào và dâng cúng cho thần bao nhiêu vàng bạc, ngọc ngà châu báu. Để biết thêm số của cải khổng lồ này cất đặt ở đâu sau khi cúng tế, các nhà khoa học đã truy tìm tất thảy những gì có chữ ghi trong tháp. Tương truyền, tất cả những bài thơ tả cảnh sông núi hữu tình khắc trên đá là ám hiệu những vị trí chôn giấu của cải đã nói trong ngôi tháp đó.
Một khung cửa và một cột đá là cái Paul phím cho anh thật sao? Kì Phương phấn khích như cậu học trò vừa giải xong bài toán khó, anh nói chắc nịch.
- Đúng là ba cô treo kho báu trên khung cửa, chúng ta phải tìm cách hái xuống.
- Lại quay lại Mỹ Sơn à? – Cô lo lắng hỏi.
- Không, mấy cái cột đá này đã mang vào trong bảo tàng Chăm từ lâu. Chúng ta đến đó để xem các trang sách này viết gì, mà biết đâu chính hôm qua ba cô đã dùng phấn viết đè lên đó.
Cả hai háo hức xách túi định đi ra thì điện thoại Kì Phương reo vang, anh lập cập khi nhận ra giọng giáo sư Huỳnh Lẫm.
- Này, tìm được cô ta chưa? – Ông ta gào lên.
Bây giờ anh mới sực nhớ lời ông dặn.
- Em cũng vừa tìm được cô ta nên...
- Hiện anh chị đang ở đâu?
- Dạ, bọn em đang trong... khách sạn.
- Trời ạ! Các người làm quái gì ở đó mà lâu thế?
Kì Phương tiến về cửa sổ tránh xa Thi Nga nhưng hình như ông cố tình gào lên để cô nghe thấy.
- Nguy hiểm! Hãy kéo cô ta trốn đi ngay lập tức!
Giọng nói khô khốc lẫn tiếng huyên náo trong máy vụt tắt. Kì Phương thò đầu qua cửa sổ ngó xuống sân lạo nhạo người ra vào mà mường tượng đến tên sát thủ cải trang đang lẻn vào khách sạn tìm Thi Nga. Không chỉ thế, nhìn đống hành lí ngổn ngang giữa nhà anh chợt thấy mình đang vi phạm nghiêm trọng đến tài sản của nạn nhân. Sau vụ phá nát hiện trường, anh đang tạo thêm dấu vết dễ ngộ nhận liên can đến vụ án mạng và đây là cái cớ để cảnh sát đưa anh vào buồng giam.
“ Nguy hiểm! Hãy kéo cô trốn đi ngay lập tức’’. Giáo sư Huỳnh Lẫm thật đúng lúc.
- Thi Nga, chúng ta cần ra khỏi đây ngay!
Thi Nga thoáng ngỡ người nhưng cô vội hiểu rằng nếu nán thêm một phút nữa, cô sẽ không thể ra khỏi phòng chứ đừng nói là ra khỏi Việt Nam. Cô tùa mấy cuốn sách xem dở vào ba lô rồi lao ra khỏi phòng.
 
 
Chương 13  
Chiếc Land Cruiser bật hết chế độ xin đường để băng qua thành phố với thời gian ngắn nhất có thể.
Chiếc xe phanh két ngay cổng ngoài khách sạn, trước khi bước ra, viên chỉ huy phóng mắt ra ngoài chạm đúng chiếc Ford màu đen cũ rích đậu bên hè. Với con mắt nhà nghề, sáng nay ở Mỹ Sơn ông cũng đã thấy nó đậu cẩu thả như vậy bên mép đường. Viên chỉ huy nói nhỏ với một nhân viên:
- Cậu đứng xa nhưng đừng rời mắt khỏi chiếc xe này, nếu thấy kẻ nào lấy xe báo ngay cho tôi.
Nhóm cảnh sát mặc sắc phục nhảy ra khỏi xe rồi tiến vào bên trong.
*
Trong chiếc taxi băng băng trên phố hướng về nhà Bảo tàng, Thi Nga lo lắng nói.
- Họ sẽ phát điên vì chúng ta mất.
Kì Phương ngoái nhìn phía sau, nửa muốn quay lại gặp Lê Đại Hắc nửa muốn giục lái xe tăng tốc nhanh hơn nữa. Anh ái ngại nói:
- Nếu cánh cửa kho báu không mở vội như thế, ta chẳng cần chạy trốn như thế này đâu.
Kì Phương nói như để thanh minh cho một hành vi mà dù chính cô đang ủng hộ nhưng biết đâu trong bụng lại nghĩ anh hành động như một tên du đãng.
- Đúng vậy. – Thi Nga đáp - chỉ cần bị ai đó chặn trên đường, chúng ta sẽ lỡ chuyến bay và cả kho báu nữa.
- Nhưng nếu chúng ta tìm ra Naga thật, mọi hiểu nhầm sẽ được thanh minh ngay tức khắc.
- Có vẻ anh rất lạc quan, anh tin manh mối được ba tôi chỉ ra trên khung cửa kia sao?
- Tin chứ, trước đây có một người Hoa đọc được bài thơ khắc trên bậc cửa chùa và họ đã lần theo rồi tìm được một tảng đá khác. Trên tảng đá có câu văn chỉ họ đến một ngôi đền.
- Sau đó thì sao?
- Dưới nền ngồi đền này có một cái hầm rất sâu và họ quyết định đào xuống.
- Chắc là có vàng dưới đó? – Thi Nga hồi hộp.
- Không, dưới đó có một tảng đá khắc chữ nói rằng...
Thi Nga cười chua xót.
- Nói rằng các vị là những thằng ngốc chứ gì?
Kì Phương nhìn cô nghiêm mặt nói:
- Cái gì càng giấu nhiều lớp càng kín đáo và an toàn. Một trong những tố chất cần có của một người tìm kho báu là kiên trì. Có khi mất nhiều năm cho đến hết đời người mới tìm ra, thậm chí cha truyền con nối, cháu noi theo...
- Thôi, tôi xin, tôi chỉ có chưa đầy hai mươi bốn tiếng nữa thôi đấy. Mà anh chắc là mấy chiếc khung đá này đang ở bảo tàng Chăm chứ?
Kì Phương cố giấu một nỗi lo ập đến. Phải thừa nhận Bảo tàng Chăm là kho tư liệu về văn khắc Champa lớn nhất nước nhưng con số này chỉ nhỉnh hơn 206 bia kí đang lưu trữ ở Pháp. Ngoài ra số lượng đang rải rác khắp miền trung và các bảo tàng địa phương cũng không ít.
- Tôi chỉ dám nói là hi vọng thôi, bởi nếu ba cô chọn cô là người mở kho báu thì ông không muốn giấu chìa khóa một nơi quá xa được. Tôi nhớ cách đây vài tháng rất nhiều mảnh cột vỡ mới được nhập kho chờ phục chế. Mong rằng khung cửa mà ta cần nằm trong số đó.
- Có đúng là sáng qua ba tôi đã đến đó để giúp Bảo tàng dịch tiếng Phạn không?
- Cô nói đúng lắm. Sáng qua ông có nhờ tôi chở vào Bảo tàng rồi ở đấy cả buổi sáng. Ba cô nói rằng đang còn 87 văn khắc bằng tiếng Chăm và 15 bằng tiếng Phạn đang chờ ông.
- Vậy có lẽ chúng ta đã tìm đúng chỗ.
Bảo tàng Chăm luôn tấp nập khách tham quan ngoại quốc nhưng hôm nay khá vắng ngoại trừ một đôi trai gái và một nhóm học sinh đang thích thú tạo dáng chụp ảnh bên 32 bầu vú bằng đá bên phải gian ngoài. Kì Phương kéo Thi Nga đi một mạch ra khu nhà ngang phía sau cùng, nơi vừa là kho vừa là khu trưng bày tạm thời. Thấy cửa kho mở, họ đi vào một xưởng phục chế khá rộng. Nhiều mảng bia vỡ chất đống bám đầy bụi mấy chục năm nay chưa có người dịch, chỉ rất ít được làm sạch để sao chép và nghiên cứu.
Kì Phương đi tiếp về cuối phòng, không mất thời gian như anh tưởng, dưới sàn có vài mảnh sa thạch vỡ, dăm ba mảng phù điêu, vài trán bia sứt mẻ và nhiều cột đá. Tất cả đang được phân loại và đánh số rất rõ ràng do đó Kì Phương đã mau chóng tìm ra những thứ mình cần. Sự suôn sẻ ngoài mong đợi này càng làm anh nghi ngờ Paul đã “ dọn cỗ’’ cho họ từ hôm qua. Anh chỉ một dãy cột đá xếp ngăn nắp nằm sát tường rồi nói:
- Nó đây rồi.
Kì Phương tìm thấy một nhóm gồm ba dầm đá nhỏ xếp gọn và ghi rõ “ Dầm cửa A5’’. Đúng như anh nhận định, mỗi dầm chỉ có ba mặt khắc chữ, còn một mặt gắn vào tường nên để trơn. Tổng cộng có chín mặt chữ và được đánh chữ cái từ A cho đến I. Kì Phương chợt lúng túng khi thấy cách đánh kí hiệu bằng chữ cái latin chứ không phải bằng số. Vì vậy 6 tương ứng với F và tim anh bỗng đập rộn lên khi nhìn vào mặt đá lỗ chỗ này.
- Có thấy gì không? – Thi Nga sốt ruột hỏi.
- Phải tìm nốt cột C8 ở đâu đã. – Anh nói.
Kì Phương sục sạo trong đống phế tích nhưng không cần tìm lâu, dường như Paul đã cố tình xếp hai món ăn này cạnh nhau cho thực khách tiện dùng. Thông thường tháp chỉ có 4 cột góc, nhưng tháp E3 thực ra là nhà dài đón khách hành lễ đặt trước các tháp thờ chính nên có nhiều cột đá. Nhanh chóng thấy cột ghi chữ C8 này nằm cách đó không xa, anh vội vã nằm cùng chiều để đọc nhưng khi nhìn vào anh đã nhận ra đây là những khúc xương khó gặm. Oái oăm thay, bài minh đậm chất Hayep sắc nét tuyệt đẹp kia là tiếng Phạn - ngôn ngữ mà một chữ bẻ đôi anh cũng không biết.
- Anh không hiểu đúng không?
Kì Phương giật mình quay lại và thấy Thi Nga đang nằm sát sau lưng và cũng hướng về cột đá. Anh quên phắt dòng chữ và kịp đọc một nỗi thất vọng tràn trề hắt ra từ ánh mắt đen thẳm kia. Thi Nga ngồi dậy rồi dựa lưng vào một tảng bia đá khổng lồ trong khi Kì Phương vẫn nằm dài không buồn cử động. Mệt mỏi và hụt hẫng, từ hôm qua đến nay tuy không nói ra nhưng Kì Phương biết cô vẫn hi vọng ở anh. Vậy mà anh chưa làm được gì giúp cô ngoài sự lừa dối và đưa cô đi hết thất vọng này đến thất vọng khác.
- Mật mã chắc chắn chỉ ra cột đá này. - Kì Phương thanh minh. – Nhưng phần tiếng Chăm quá ít và tiếng Phạn quá nhiều.
- Theo tôi biết các văn khắc ở Mỹ Sơn chủ yếu là tiếng Chăm cổ. Ba tôi dùng tiếng Phạn chắc có ẩn ý nào đó chứ?
- Các bia kí và đền tháp còn tồn tại ở Mỹ Sơn hầu như xây dựng từ sau thế kỉ thứ 8 trích dẫn điển tích Ấn giáo và thi ca Ấn Độ.
- Xem chừng chúng ta đang đối mặt với ngôn ngữ thuộc loại khó nhất hành tinh. – Thi Nga nói. - Vậy nếu anh không biết tiếng Phạn, chúng ta hãy tìm xem bản dịch đang ở đâu?
- Mấy tấm văn khắc mới khai quật này chưa có ai dịch đâu. Thậm chí trước khi người Pháp bỏ về năm 1945 cũng chỉ một nửa trong số hai trăm bia kí mới được dịch một cách sơ sài. Nếu hôm qua ba cô dành cả ngày để dịch thì cũng không thể xong nổi, vì sao lâu thế tôi sẽ nói sau.
- Nhưng dù sao thì cũng được vài dòng chứ? - Cô thắc mắc.
Kì Phương nhìn lên bản minh văn dài dằng dặc và biết rằng dù một bậc thầy Phạn ngữ như Finot hay Codès thì cũng phải mất vài tháng để dịch. Khả năng Paul chỉ dịch trong buổi sáng là không thể. Kì Phương đưa bàn tay miết lên bài minh bí ẩn mà tự trách mình đã không chịu khó học tiếng Phạn từ người thầy vĩ đại này. Bỗng dưng một cảm giác gai nhột rợn lên gan bàn tay, Kì Phương nhìn vào lòng bàn tay và kinh ngạc khi thấy trắng hếu như tẩm bột. Anh quan sát kĩ mặt đá rồi nhanh chóng nhận ra đây là bột phấn. Giờ thì anh hiểu vì sao mặt đá kia đã bị ai đó xóa sạch.
- Có thể ba cô đã dịch nhưng đã bị ai đó xóa mất.
Thi Nga đứng dậy kiểm chứng rồi nói đầy vẻ hoang mang.
- Có lẽ đã có kẻ nào đó nhìn thấy bản kí hiệu của ba tôi và nhanh trí giải mã trước chúng ta hay sao? Nếu đúng thì hắn sẽ đến Naga trước chúng ta rồi.
Kì Phương cay cú như bị thua cuộc, không chỉ là kho báu mà là niềm tin của Thi Nga trao cho anh. Anh đã quá chậm. Mà kẻ chết tiệt nào mà nhanh thế cơ chứ? Không lẽ giáo sư Huỳnh Lẫm hay Phú Thành Tài? Cách gì thì cách, thánh địa này đang ở đất Campuchia nên muốn tìm phải đến đó. Dân bản xứ có thể đã biết. Phải tìm một người bản địa để hợp tác. Trước hết đó là một người thông thạo đia hình như một nhà thám hiểm kinh nghiệm. Chưa đủ, kiến thức anh ta phải ngang một sử gia và nhà khảo cổ cộng lại. Một người uyên bác như vậy đào đâu ra bây giờ, mà giá như tìm được thì liệu họ có sẵn lòng giúp hay không. Lục trí nhớ hồi lâu, anh bật dậy rồi reo lên.
- Tìm ra rồi!
Thi Nga vẫn im như thóc, cô biết sự xốc nổi của anh cũng chả đi đến đâu.
- Lần này sẽ có người giúp chúng ta. - Anh nói to.
- Ai đấy?
- Vua đồ cổ.
- Vua đồ cổ nào?
- Không những vua đồ cổ mà còn là nhà sưu tầm sách cổ người Khmer. - Kì Phương nói chắc nịch. - Không một đền đài nào trên thế giới thiếu dấu chân anh ta. Nếu tồn tại Naga trên đất Campuchia, anh ta ắt đã biết. Nếu anh ta không biết, thì kho sách của anh ta sẽ cho chúng ta biết.
- Hình như ba tôi có biết anh này. – Mắt Thi Nga hấp háy.
Kì Phương không ngạc nhiên điều đó bởi y quá nổi tiếng. Vốn con trai của một vị hoàng thân Khmer đầy quyền thế, mấy năm trước chính y đã bỏ ra một triệu đôla để mua một kosa vàng trong một phiên đấu giá Sping. Mặc dù y mang về làm của riêng, nhưng giới khảo cổ vẫn lấy đó làm vui bởi cổ vật đã quay lại Đông phương sau bao nhiều năm lưu lạc trời Âu. Đó là phần hoạt động mang tính quảng bá, nghề chính của y là buôn lậu và sưu tầm cổ vật. Có nhiều người đồn rằng số sách quý y thuổng của người Chăm cũng không ít. Người hiểu biết hơn thì nói rằng mục đích chính của y là lật tung kho thư tịch cổ Chăm để tìm một tấm bản đồ da dê về kho báu Chămpa thất lạc từ thế kỉ 12. Để làm ăn suôn sẻ, y quen khá nhiều quan chức và những nhà Champa học uy tín.
Chẳng biết có nên cơm cháo gì không nhưng một lần nữa Thi Nga lại đặt niềm tin ở anh. Mà thực ra không tin anh cô cũng chả còn ai khác. Cô hỏi.
- Thế anh với vua đồ cổ là bạn à?
- Không! – Kì Phương cười cười nói. - Anh ta thuộc đẳng cấp Brahman, còn tôi chỉ là hạng Soudra làm sao dám kết thân. Giáo sư Huỳnh Lẫm và mấy thầy tôi quen anh ta. Có lẽ Campuchia quá nhỏ nên vị vua này rất hay vãng lai Miền trung tìm hàng và quen rất nhiều người trong các Bảo tàng. Các phiên đấu giá lớn cổ vật ở Paris, London không bao giờ vắng bóng y.
- Đúng đây là người chúng ta cần. – Thi Nga chép miệng. - Anh thử móc nối với y xem sao?
Kì Phương không nỡ hâm nóng cô lên rồi lại dìm xuống nước lạnh, anh rào trước:
- Khó lắm, tay này rất bận và kiêu ngạo. Giờ này chắc gì có mặt ở Campuchia nhưng tôi sẽ thử xem.
Sực nhớ trong túi vẫn con cuốn danh thiếp, Kì Phương vội mở balô ra tìm và điều thần kì chẳng ở đâu xa. Anh không ngờ trong đám kĩ sư khắc khổ lại lạc lõng một tấm danh thiếp dát vàng của một doanh nhân.
Hóa ra cách đây vài năm trong bảo tàng Chăm, Kì Phương đã có mấy phút chạm trán với y. Điều đáng nói là vua đồ cổ lại chủ động làm quen với một sinh viên mới ra trường như anh. Lúc đó Kì Phương không hề biết y là ai và cũng chẳng bận tâm đến du khách sang trọng này. Hắn có đưa card và theo phép lịch sự anh cất vào ví. Sau này khi biết hắn là ai, Kì Phương mới nghĩ ra xưa kia hắn muốn móc nối với anh là có chủ ý. Giờ đây khi hắn trở nên giàu có và nổi tiếng thì cơ hội để kết thân với y đã xa vời vợi. Đã chín năm, giờ là lúc anh cần đến hắn. Mặc dù chưa biết khơi lại trí nhớ của y bằng cách nào nhưng tay anh vẫn bấm số di động ghi trên card.
“ Số máy này tạm thời không liên lạc được... ’’
- Biết đâu anh ta tắt, nhắn tin xem sao. – Thi Nga gợi ý.
- Nhắn gì bây giờ đây?
Kì Phương vắt óc suy nghĩ. Đường đột nhờ vả một người chưa quen là rất khó. Có câu răn dạy đại ý rằng “ phải làm cho người ta cần mình trước khi mình cần người ta’’. Phải có gì đó thật ấn tượng mang ra chào hắn trước. Muốn nhử mèo phải dùng cá rán, nhưng cá rán của y là gì đây. Kì Phương đưa mắt dọc ngang rồi nhìn thẳng khuôn mặt xinh đẹp của Thi Nga .
- Đã có cách!
Anh mỉm cười soạn một mẩu tin nhắn rồi nói như đinh đóng cột.
- Nhận được tin này, anh ta sẽ đến tận chân cầu thang máy bay đón chúng ta!
Thi Nga rướn lên nhìn màn hình xem anh vừa làm trò gì nhưng anh đã kịp xóa. Hồi năm thứ nhất đại học, đám con trai trong lớp luôn dùng điện thoại chụp trộm khuôn mặt đẹp như ngọc của cô. Điều này cô không bận tâm nhưng sự việc không dừng lại ở đó. Trong đám nghịch ngợm này có kẻ mang về nhà dùng Protoshop cắt đầu cô ghép lên một loạt bức ảnh khỏa thân nào đó rồi tung lên mạng. Cô vẫn không hề hay biết gì cho đến khi mấy tay đại gia trẻ và cả một đạo diễn phim cấp 3 từ Mỹ bay qua để đặt vấn đề thì cô mới vỡ lẽ. Thi Nga không buồn nhớ lại chuyện đau lòng này nhưng cô rất sợ trò đùa man rợ này lặp lại lần nữa.
- Ta đi ngay thôi. – Kì Phương kéo tay cô đứng dậy.
- Lúc nãy anh chụp ảnh tôi phải không? – Cô vừa đi vừa gặng hỏi nhưng Kì Phương luôn miệng phủ nhận.
Hai người bước ra cửa ngách rồi bắt xe lên sân bay mua vội hai chiếc vé đi Pnompenh chuyến bay gần nhất. Sau cái chết của Paul, cơ quan điều tra và giáo sư Huỳnh Lẫm cũng không muốn anh bỏ đi lúc này nhưng kho báu Naga ngàn năm bí ẩn đang thôi thúc réo gọi và anh không muốn bỏ lỡ.
Xong thủ tục check-in và qua khâu kiểm tra an ninh, họ lặng lẽ tìm một góc yên tĩnh trong khu cách li chờ lên máy bay. Dãy kí tự và dòng chữ cổ ngoằn ngèo trong túi vẫn không một phút để anh nghỉ ngơi.
- Anh đưa chữ Chăm cổ kia tôi xem lại! – Thi Nga đột nhiên yêu cầu.
Kì Phương đưa cho cô rồi gợi chuyện.
- Liệu cô có cho rằng đây là tên một người nào đó?
- Tôi cũng nghĩ vậy. Nó giống một chữ kí được luyện rất công phu rất khó luận tên người. Nhìn qua rất giống chữ kí của các tu sĩ hoặc vua chúa thời xưa.
Kì Phương vui vì cô bắt đầu suy diễn lí thú mặc dù anh không đồng ý như vậy.
- Tôi chả thấy giống vua chúa nào cả. - Kì Phương nói. - Tôi nghĩ đây là một tên sát thủ.
- Tại sao phải là sát thủ? Hắn có giết ai đâu?
Kì Phương nghĩ lại không nên để cô loạn nghĩ. Anh nói.
- Tôi cũng cho rằng nó giống chữ kí, trong bức ảnh yoni ba cô chụp ở Naga có chữ này, và ở Mỹ Sơn đêm qua cũng xuất hiện chữ này nên tôi nghĩ rằng kẻ này thường hay đi cùng ba cô thì phải. Nếu cô biết chữ kí này là của ai thì rất có ích để tìm ra hắn ta lẫn Naga.
- Có lí! Để tôi nghĩ xem đã nhé, ba tôi dạy cho tôi rất nhiều tên riêng của các nhân vật lịch sử Chămpa và bạn bè ông ta nữa. Đây có thể là tên thánh của người Chăm nào đó.
Kì Phương bồi thêm:
- Không loại trừ đó là đồng nghiệp của ba cô. – Kì Phương đặt nhẹ tờ giấy vào tay cô và dằn giọng. – Tôi tin chữ này còn xuất hiện rất nhiều nơi khác nữa, hãy nhớ là tính mạng cô đang nằm trong tay hắn đấy.
Thi Nga định phản bác nhưng rồi cô lại im lặng nhìn lên dòng chữ. Giờ là lúc nên tập trung. - cô tự nhủ. Kì Phương bước đi một đoạn khá xa cốt dành cho cô một không gian tĩnh lặng để ôn lại kí ức.
Anh đồ rằng trong sổ tay hay giấy tờ của ba cô có chữ đó, thậm chí trên các bức tranh, các cuốn sách hoặc trên một kỉ vật nào đó. Một khi không hiểu nghĩa thì cũng phải tìm cho ra ai là tác giả chữ đó. Thi Nga là người duy nhất có khả năng nhận dạng bởi không ai có thể tiếp cận góc khuất của Paul trừ cô.
Thời gian lại trôi đi, chẳng có tiếng reo nào vang lên từ Thi Nga. Cô vẫn cầm tờ giấy ngồi yên như hóa đá. Tên kẻ thủ ác đã hại chết ba mẹ và sẽ giết cả cô nữa vẫn bí ẩn đầy thách đố như chính dòng chữ lờ nhờ ma quái trên tay cô.
Kì Phương nhìn trộm cô, một nỗi thương hại trào lên xé nát những ước ao cháy bỏng không nói thành lời từ trái tim anh. Không biết Thi Nga đang nghĩ gì nhưng cô vẫn dán mắt vào tờ giấy như bị thôi miên. Ánh nắng chiều từ vách kính hắt qua khung cửa làm cho tờ giấy gần như trong suốt. Đang nhìn cô bỗng Kì Phương chợt rùng mình. Mắt anh quắc lên nhìn xuyên tờ giấy. Một dòng chữ sắc nét hiện lên trên mặt sau và anh không thể tin nổi vào mắt mình nữa.
Cái gì thế này! Anh lao bổ về phía cô.
 
 
Chương 14  
Phi cảng quốc tế Pochentong - Pnompenh tại thời điểm đó, trong dòng người hối hả ùa ra từ máy bay đột ngột xuất hiện một gã thanh niên cao lớn khác thường. Khuôn mặt và sải chân của y phóng đãng bay lượn như dải khói từ chiếc tẩu chênh chếch trên khóe miệng vươn đến mang tai. Chiếc áo da phanh rộng lộ ra hai thứ mà hắn tin thiên hạ nhìn vào mà ngưỡng mộ. Thứ nhất là vị thần bằng kim cương sáng lóe trên cổ. Thứ hai là bộ ngực như hai chiếc vung úp căng phồng đầy sung mãn.
Không thèm bước vào căn phòng có tên “ nộp thuế là vinh quang’’, y triệu tập vị sếp bộ phận này đến làm việc. Biết hắn là một người quyền thế và là chỗ làm ăn lâu năm của sếp mình, một nhân viên biết ý vội dẫn anh ta đi thẳng vào gặp trưởng phòng. Cung cách làm việc ngược đời này làm cho tốp hành khách đang xếp hàng kê khai hải quan vừa ghen tị vừa tức tối.
Y thuộc dòng họ vua Monivong, Simha theo tiếng Phạn có nghĩa là “ sư tử’’. Lại nói về cái tên, khi đạo Bàlamon xâm nhập các quốc gia Đông Nam Á, những cái tên tiếng Phạn như Simha (sư tử) , Jaya (thắng lợi) , Sri (sáng ngời) , Maha (vĩ đại)... được dùng làm tên thánh đặt cho các tu sĩ và vua chúa. Tu sĩ và vua thuộc hai đẳng cấp cao nhất trong năm phân cấp của Bàlamon giáo. Các đẳng cấp thấp chiếm đông đảo khi nghe đến những tên kia là đã quỳ sụp van lạy như chính thánh nhân vừa xuất hiện trước mặt.
Ngày nay, đạo Bàlamon gốc đã nhạt bóng, truyền thống người Khmer tuy vẫn coi trọng thần quyền nhưng các biệt hiệu trên đã lùi xa vào lịch sử. Không ai dám dùng nó để tránh mạo phạm và tỏ lòng tôn kính những bậc đế vương và tu sĩ đắc đạo. Họa hoằn lắm mới có vài vị hoàng thân có công lớn được dân gian phong thánh còn gan mấy họ cũng không dám tự đặt cho mình. Ấy nhưng, người đàn ông to như loài hổ báo kia thấy mình hoàn toàn đầy đủ tư cách để khoác cái tên siêu phàm đó. Hắn là Monivong de Simha. Và tự nhận mình là “ Vua Sư tử’’
Phòng làm việc trưởng phòng hải quan trống không nhưng “ Vua Sư tử’’ vẫn khệnh khạng đi vào ngồi lên chiếc ghế da to tướng rồi vắt chéo chân ve vẩy đôi giày khủng bố hiệu Solomon. Simha chờ sếp hải quan đến với một tâm trạng bực bội như một lãnh đạo chờ nhân viên đến muộn. Phải đến điếu xì gà thứ hai thì từ hành lang mới có người bệ vệ đi vào. Cái dáng đi khệnh khạng lập tức biến mất khi ông ta nhìn thấy một gã to con đang ngồi ngậm tẩu ngay trên chiếc ghế trưởng phòng của mình. Ông ta vội vã chắp hai tay ngang cằm:
- Chào ngài Monivong! Mong ngài thứ lỗi khi đợi quá lâu.
Y vẫn lặng im, chỉnh lại thế ngồi rồi nói.
- Bây giờ anh thích loại giấy gì? Hóa đơn mua bán, giấy tạm xuất nhập khẩu hay giấy đặc cách của Bộ ngoại giao?
- Dạ, thưa anh. - Viên hải quan cất giọng dãi bày. – Để gọi là khỏi quan liêu, anh cứ kí khống vào tờ khai này để em khai hộ là đủ.
Y kí roẹt rồi đặt bút lên bàn, nói:
- Cần gì nữa không?
- Dạ, nếu được. - Viên hải quan chỉ chiếc vali kéo. - Cho em ngó qua chút.
Vẫn ngồi chễm chệ trên ghế, y ra hiệu viên hải quan bê vali lên bàn. Kẹp tẩu trên môi, y đưa hai tay mở khóa rồi hé ra một khe nhỏ đủ cho ánh mắt lươn kia nhìn lọt vào trong. Viên trưởng phòng vừa thò mặt vào bỗng rụt người lại, miệng run rẩy:
- Thần... Siva?
Biết anh ta chỉ nói đúng một nửa, chẳng buồn giải thích thêm, y tặc lưỡi:
- Cũng như lần trước thôi.
- Vẫn là... cối chày?
Y nhếch mép cười và thầm khen gã hải quan có trí nhớ tốt. Chính tên lóng này do y dạy cho gã từ mấy năm trước. Nhờ có tay trong cỡ bự nên y từng đưa trót lọt hàng chục “ cối chày’’ qua cửa khẩu này. Thế nhưng hôm nay từ ấy như một mũi kim chích vào lòng tự ái của y. Sau khi nhận chiếc “ chày’’ này, y cũng từng hỏi Cả sư chiếc “ cối’’ ở đâu nhưng câu trả lời là “ đã có người khác lo’’. Theo quán tính y hỏi tiếp “ đó là ai? ’’ nhưng ông ta đã cắt máy. Y hiểu ra Cả sư muốn đe y rằng “ không phải việc của ngươi’’
Y đóng tách vali rồi kéo người hải quan lại gần thì thầm.
- Mấy lần trước tôi vội. – y lôi từ túi quần ra một tập tiền. - Lần này tôi bồi dưỡng cho các chú!
Không đợi viên hải quan chối một câu lấy lệ, y nhét cọc tiền vào túi làm anh ta giãy nảy.
- Ấy, anh đừng làm thế... chúng tôi có camera.
- Mấy camera đểu không kia dọa được tôi đâu.
Vốn là hung thần của đám con buôn thuốc lá ngoại và rượu lậu, viên hải quan không hiểu sao lúc này người ngợm trở nên mềm nhũn. Một cảm giác bị động đầy thích thú chạy rần rật khắp cơ thể lan đến đến tận các tế bào làm anh ta cứng đờ. Hắn còn điều khiển được thần Siva, huống chi là ta. Viên hải quan rút ra đếm lại tiền rồi ngả người lên ghế tận hưởng nốt làn khói thơm đang bảng lảng quanh ngế ngồi.
Vua đồ cổ sải bước ra ngoài rồi bật máy lên sau chuyến bay dài, y nhận được một mớ tin nhắn từ tổng đài, năm từ khách hàng, hai từ bạn nhậu, vài ba tin quảng cáo. Không đáng để tâm, y xóa tất cả và dừng lại trước tin từ một số thuê bao lạ. Trong những năm gần đây, không riêng gì y mà các tỉ phú kếch sù luôn nhận được vô số thư điện tử và các tin nhắn mời tham gia đầu tư. Đa phần là những dự án ma núp dưới những chiêu mời chào khôn khéo hay hứa hẹn những cổ phần béo bở trong các công ty cỡ bự. Họa hoằn lắm mới nhận được vài tin nhắn hay cuộc gọi tham gia đấu giá và rao bán vài thứ cổ vật lặt vặt từ một nơi xa lắc nào đó. Y đã thẳng tay xóa bỏ những thư rác này một cách không thương tiếc. Thế nhưng đứng trước ba dòng ngắn ngủi này, hệ thần kinh của y bỗng dưng căng vút.
 
 
Chương 15  
Kì Phương lao tới tuốt tờ giấy trong tay Thi Nga rồi hướng về phía mặt trời. Dòng chữ hiện lên làm anh choáng váng.
Mặt sau là:  Chính là: 
 
Nghĩa chữ này là BHADRESVARA. Đây là vương hiệu của vua Champa BHADRAVARMAN. Hay nói theo tên Hán Việt là vua Phạm Hồ Đạt. Ông là người sáng lập ra trung tâm tôn giáo Mỹ Sơn từ cuối thế kỉ thứ IV - một vị vua Champa quyền lực vang danh khắp Á Châu cổ đại. Ông có công mở mang bờ cõi, thống nhất hai miền bắc nam Champa và quyền lực xuyên suốt. Về văn hóa, các nhà nghiên cứu đánh giá ông là một nhà khai sáng, ông cổ võ cho một nền văn hóa mang bản sắc Chăm. Dưới sự trị vì của ông tiếng Chăm cổ được phát minh rồi dần dần lấn át và thay thế tiếng Phạn. Tiếng Chăm cổ được xem là chữ viết bản địa đầu tiên của Đông Nam Á thoát ra sự thống trị của Phạn ngữ. Hầu hết các bia kí ở bắc và một phần nam Champa đều ca tụng đức vua này với một niềm kiêu hãnh sâu sắc.
Kì Phương đứng trơ lặng giữa nhà, đầu óc hoa lên như lạc về thời tiền sử với trùng trùng chữ nghĩa mông lung. Bỗng Thi Nga sấn tới giật lại tờ giấy trên tay anh rồi hỏi dồn.
- Tên sát thủ là ai?
Câu hỏi của cô làm Kì Phương bừng tỉnh. Giáo sư Huỳnh Lẫm đã tiên định đúng: dòng chữ có tính dương, nó đã thay thế linga và là tên của một vua Chăm được phong thần. Và đúng như vậy. Ông là Bhadravarman - Phạm Hồ Đạt. Câu hỏi mới nảy sinh là tại sao kẻ đó lại viết tên ông lên yoni để cúng tế? Và tại sao một nơi xa xôi như Naga cũng có dấu ấn của vị vua Champa này cơ chứ? Không lẽ ông ta đã xác lập chủ quyền tận đất Angkor? Hay là kho báu này được vua Phạm Hồ Đạt mang gửi cho các tu sĩ cũng là đạo hữu Bàlamon ở đó cất giữ khi binh biến loạn lạc rồi “ bỏ quên’’ ở đó đến nay?
- Đây không phải là tên hung thủ, tôi xin lỗi. – Kì Phương lắp bắp. – Đây là tên vua Bhadravarman.
- Vậy tại sao ông ta lại “ nằm’’ lên… yoni?
- Có ai đó đã viết tên ông ta để hiến tế.
- Hiến tế người? – Thi Nga trố mắt hỏi.
- Đúng thế, có nghi lễ hiến tế người ở Mỹ Sơn lẫn Naga.
Thi Nga rủn người sau tuyên bố lạnh tanh của anh, cô không thể tin nổi những nghĩ lễ man rợ từ thủa hồng hoang xa lắc nào đó cũng hiện ngay trên cái nôi sinh ra cô.
- Anh nói có cơ sở gì không?
Có lẽ đã đến lúc Kì Phương phải kể cho cô biết rằng các vương triều Champa đều có nghi lễ tế người trên đền tháp. Đó là một sinh hoạt tôn giáo mà tầng lớp tăng lữ rất hân hoan chào đón như một nghi lễ thiêng liêng nhất. Họ dâng lễ vật từ vàng bạc châu báu cho đến cả... người sống. Đây là sự thực với vô số bằng chứng thuyết phục.
Bài minh khắc trên bia kí năm 1081 ở tháp D3 nói về vua Harivarma dâng tặng thần linh có đoạn viết: “ Ngài đến cúng thần với lòng ngoan đạo và dâng cho thần. Ngài dâng cúng những người thuộc các loại khác nhau như khoảng một trăm tôi tớ đàn bà, đàn ông, bò trâu voi và các loại đồ vật khác nhau cho thần Srisanabhadresvara vào năm saka 1002’’
Kì Phương băn khoăn không biết thần linh sẽ sử dụng “ một trăm tôi tớ đàn bà và đàn ông’’ như thế nào.
Có nhiều bằng chứng nói vua Phạm Hồ Đạt cũng là người từng tổ chức hiến tế người lên đền tháp.
Nhà nghiên cứu Champa kì cựu Ngô Văn Doanh trong cuốn “ Thánh địa Mỹ Sơn’’ viết rằng: “ ... Bia Chợ Dinh cho biết, vua Bhadresvara làm lễ hiến tế và có thể có cả người cho thần Siva để mong thần phù trợ cho các con, các cháu của vua’’.
Nói gì thì nói, hiến tế người làm chúng ta liên tưởng đến máu me và chết chóc. Theo triết lí người xưa, đó là sự hi sinh sự sống để dâng hiến cho đấng tối cao mà nhiều tôn giáo cổ trên trái đất đều quan niệm và thực hành như vậy hết. Vậy, các minh văn kia nói tế thần “ hàng trăm đàn ông và đàn bà’’ để làm gì nếu không phải là lấy máu? Người Chăm cổ chém súc vật lấy máu tế thần thì ai cũng biết. Lễ cắt cổ trâu bằng thanh kiếm dài hướng về phía mặt trời mọc để lấy máu tế thần trên núi Đá trắng vẫn còn đó di tích lẫn thần chú. Tế thần Siva trên đền tháp chính là nghi thức tắm linga bằng chất lỏng. Xưa, chất lỏng đó là nước thiêng được chế từ nước suối và hương liệu, sang hơn thì sữa hoặc rượu, sang nữa thì có máu dê, ngựa. Và tột đỉnh của sang trọng là máu người.
Phải chăng tế máu người là có thật? Nghi lễ cổ xưa rùng rợn này dường như bắt đầu sống lại ở Mỹ Sơn sáng nay sao?
- Anh nghĩ gì mà thần người ra thế? – Thi Nga giật mạnh tay anh. – Nếu có lễ hiến tế thì có liên quan gì đến kho báu hay không?
- Hãy tạm gác chuyện hiến tế người lại đã. – Kì Phương nói. - Chúng ta phải tập trung tìm ra Naga trước.
- Vua Phạm Hồ Đạt có liên quan đến một trong mấy ngôi tháp này không? – Cô hỏi.
- Không, vua Bhadravarman chỉ dựng một ngôi đền bằng gỗ đầu thế kỉ thứ IV nhưng sau đó đã bị cháy, còn các tháp này đều từ thế kỉ thứ VIII trở đi.
- Lúc anh giải mã bảng kí tự tôi thấy có gì đó chưa ổn, cái khung cửa và chiếc cột đá trong bảo tàng không phải là ý đồ của ba tôi.
- Tại sao? Không ổn chỗ nào?
- Đó là anh chỉ căn cứ vào tiếng anh Door và Column, nhưng theo tôi biết ba tôi rất kiêng dùng tiếng anh trừ khi bất khả kháng.
- Vậy thì D phải dùng tiếng Pháp để suy luận? – Anh hỏi.
- Cũng không.
- Vậy thì dùng tiếng Chăm của cô chắc?
- Tiếng Việt! Ông coi Việt Nam là quê hương thì cũng coi tiếng Việt như tiếng mẹ đẻ của mình.
- Vậy cô giải mã xem nào.
- Em hỏi anh trong đền tháp, đâu mới là nơi chính thức để lưu các văn bản cổ?
- Bia kí. – Kì Phương nói. - Đó là nơi chứa dung lượng lớn nhất. Mỗi tháp luôn có một tấm bia ghi lai lịch của tháp.
- Vậy kí tự “ { “ là hàm ý gì? – cô hỏi.
- Có lẽ là kí hiệu nóc tháp. – anh đáp.
Kì Phương ngắm lại hình hài bản mã, sao giờ đây nó giống đúc một tấm bia kí đến thế không biết.

- Tôi nghĩ ra rồi! - Kì Phương nói. - Đây chính là bốn tấm bia kí!
- Nếu đúng thì phải tìm đi chứ? Vấn đề bây giờ quá đơn giản, chỉ cần tìm ra bốn bia này ắt sẽ hiểu ba tôi muốn nói gì. Tìm bia đi thôi!
Kì Phương bỗng nhận ra lời giải mật mã quá đơn giản. Kho báu nằm trên bia kí. Anh nhớ lại một loạt tấm bia kê khai của cải. Bài minh trên bia D3 mặt B nghi chi tiết hơn: “ Ngài dâng mũ miện có trang trí những viên ngọc, hai vòng đeo cổ, 4 kami, 2 kalasa bằng vàng, 8 kalasa bạc,... chim công bằng vàng, 1 havvai vàng... ’’.
Một minh văn tiếng Phạn trên cột tháp B1 nói rõ vua Sri Jaya Indravarman hào phóng với thần linh đến nhường nào. “ ... Mahesa đã mang năm mặt cùng năm chiếc Kosa vàng. 232 panas bạc đã được dâng... ’’
Khủng khiếp hơn, trên bia A1, toàn bộ 21 dòng mặt chính bằng tiếng Chăm cổ này toàn nói về vàng là vàng: Kosa vàng nặng 137 thil và 200 thil bạc nạm ngọc bích. Đồ cúng khác có 1096 thil vàng và bạc phủ lên một con antargrha 26 thei. Bốn con rắn naga 30 thei vàng. Srumvil nặng 45 thei vàng, bình vàng nặng 24 thei... Minh văn này còn nói “ Nếu gom số vàng này lại đủ để phủ lên tất cả các đền tháp’’
Người Chăm sau bao thế hệ hì hục đục đẽo và dựng văn bia khắp đất nước thì họ mới giật mình cho sự hớ hênh này bởi bia nào cũng khoe khoang dâng tế đầy ắp vàng bạc. Điều này không khác thống kê của cải và chi tiêu trong nhà rồi dán ra ngoài cổng cho thiên hạ thấy. Họ bỗng lo sợ hậu thế sẽ lật tung thánh địa và đào bới các vùng đất thiêng nên vội vã răn đe khi dựng tháp A1. Câu thứ 11 mặt A văn bia tiếng Phạn này viết: “ trước đức vua người thấu hiểu bốn bộ veda, trước các triều thần của Ngài, và trước mọi người, tôi tuyên bố: vì lòng trắc ẩn đối với tôi xin đừng phá những đồ cúng của tôi’’
Chắc lại không yên tâm vào “ lòng trắc ẩn’’ của đám hậu thế tham lam nên đến câu thứ 9, họ đã thòng thêm một câu mà bất cứ ai đọc xong cũng thấy lạnh người: “ ai giữ gìn các đồ cúng thần này thì công đức sẽ thuộc về người đó. Ai không gìn giữ mà phá hoại thì người đó sẽ bị tiêu hủy. Bhadresvarasvami thấu hiểu’’.
Số đồ cúng này sau khi làm lễ không để lại trên tháp mà được mang về cung đình hoặc được các tu sĩ cất giùm thần linh rồi ghi lại nơi cất dấu trên đá.
Nhiều nhà khoa học đã âm thầm nghiên cứu mối liên hệ giữa kho báu đã tìm thấy và những di chỉ trên bia kí mong tìm ra một quy luật để tìm thấy kho báu khác. Paul là một trong số đó nhưng chưa bao giờ ông hé lộ điều gì. Biết đâu trước khi chết ông ta mới chịu khai? Nhìn lại kí hiệu 4 tấm bia này, Kì Phương bắt đầu kì vọng.
- Có thể đây là bí ẩn lớn nhất của ba cô. – Kì Phương nói thận trọng. - Phải tìm bốn tấm bia này để xem sao đã.
- Chắc hẳn là thế, vấn đề bây giờ quá đơn giản.
- Không như cô nghĩ đâu. Lượng chữ trên bốn tấm bia này ngang với bốn cuốn sách và đáng tiếc là bia không còn nguyên vẹn nữa.
- Hay là bị ai đó đập vỡ?
- Tôi đã bỏ ra ba năm khảo sát và nhận ra một quy luật: bia càng “ chứa’’ nhiều vàng càng hay bị vỡ.
- Rất chí lí. – cô nói. - kẻ trộm khi đọc xong bèn phi tang sợ kẻ sau tranh cướp.
- Chưa hẳn, tôi cho kẻ phá bia kí chính là các... đạo sĩ Champa!
Thi Nga giật phắt người:
- Tầm bậy, anh ăn nói cẩn thận đấy.
- Hầu như hàng trăm văn bia đều nói về hiến tế vàng bạc, đá quý. Nhưng tấm bia đó đã vô tình chỉ điểm và gây hiểm họa. Khi ngoại xâm tràn vào, không những tượng thờ trên tháp bị dọn sạch mà chúng còn lần theo các văn bia để tìm kiếm của cải. Mỗi khi có giặc hoặc di dời kinh đô các tu sĩ phải làm nhiệm vụ hủy manh mối. Chính các đạo sĩ Champa đã đập vỡ các tấm bia hoặc cưa ra nhiều mảnh và chôn bí mật xuống những nơi khác nhau để đến lúc nào đó họ sẽ ghép lại để tìm lại kho báu.
Thi Nga nói. – Hi vọng 4 tấm bia này chưa bị cưa. Tìm bia đâu bây giờ?
Là người gần như có mặt hằng ngày ở thánh địa nhưng chính anh cũng không biết rõ các văn bia này đang ở đâu. Chắc chắn nó không còn ở cạnh tháp, có thể nó gãy vỡ trong lòng đất, nếu may mắn hơn thì được mang vào các bảo tàng.
- Quý khách đáp chuyến bay VN1307 chú ý...
Tiếng loa vang lên đầy thôi thúc, Kì Phương như đang đứng ở ngã ba đường. Đi tiếp hoặc quay lại tìm văn bia. Nếu ở lại thì anh cũng nhờ phải người tìm giúp trong khi một cuộc hẹn với vua đồ cổ đã lên lịch.
- Đi thôi! – Anh nói. - Tôi đã có cách.




Đăng nhập để trả lời
0
Chương 16  
 
Lê Đại Hắc cùng nhóm điều tra nhanh chóng có mặt tại căn phòng 307 và đập vào mắt họ là cảnh bừa bộn hệt như có vụ ẩu đả vừa mới xảy ra. Các chuyên gia khoa học hình sự và tổ giám định nhanh chóng bắt tay vào việc. Camera hành lang được quản lí khách sạn cung cấp nhanh chóng. Tất cả tập trung theo dõi cho đến khi một cảnh đáng chú ý hiện lên.
- Khoan, cho quay chậm đoạn này. - Lê Đại Hắc nói.
Sau vài giây tua lùi, đoạn phim diễn cảnh một đôi trai gái đi từ trong phòng ra ngoài. Chiếc ba lô mà cô gái mặc váy nặng đến mức đôi vai tròn trễ xuống. Còn cái gã thanh niên thì cố giằng lại balô rồi kéo nhau cùng bỏ chạy. Thấy cảnh này, mắt Lê Đại Hắc long lên còn hàm răng thì nghiến chặt. Đồng hồ trên màn hình hiển thị con số cách đây chưa lâu, ông đứng phắt dậy dằn giọng.
- Đuổi theo chúng ngay lập tức.
Thượng úy Trung rút phắt máy bộ đàm thông báo cho các chốt rồi cũng biến nhanh khỏi phòng. Lê Đại Hắc định bỏ đi, nhưng một viên cảnh sát kéo tay ông lại.
- Thưa sếp, băng còn dài, cái này mới đáng xem.
- Đoạn này xảy ra nửa đêm hôm qua, ngay sau khi Paul ra khỏi phòng có xuất hiện một kẻ lạ đi vào. Lê Đại Hắc cúi sát khi thấy một người đội mũ rộng vành. Do vị trí camera ở cao nên ông chỉ thấy nửa mặt dưới. Sau vài thao tác mở khóa, ông ta biến vào phòng. Tất cả hồi hộp và tưởng tượng hắn làm gì bên trong. Lê Đại Hắc biết tài liệu này có thể chỉ là tấm bản đồ mỏng hoặc cũng có thể một chiếc thẻ nhớ nằm gọn trong úi áo.
- In mấy bức ảnh này cho tôi! – ông chỉ lên màn hình. - À mà máy tính ông ta thì sao?
- Vâng, đây là thứ mà chúng tôi đang xem xét. Chuyên gia vi tính sẽ trả lời chúng ta các thông tin như email và các file trong máy có bị đụng chạm hay không.
- Niêm phong tất cả đồ đạc và mang về trụ sở càng nhanh càng tốt.
- Thưa sếp, có người muốn lên đây gặp ông.
- Ai vậy?
- Giáo sư Huỳnh Lẫm và mấy người bên Sở văn hóa.
- Được, nhưng chỉ cho vị giáo sư lên thôi đấy.
Không đầy một phút, giáo sư Huỳnh Lẫm đã bước vào phòng, ông nhìn chiếc vali bọc kín giữa nhà rồi hỏi.
- Thế nào ông cảnh sát, đã thu được tài liệu phải không?
- Không có gì đặc biệt ngoài các cuốn sách nghiên cứu, tôi tin Paul sang đây không chỉ mang ngần đó.
- Vậy là có kẻ nào đó đã lấy đi?
- Đúng vậy, rất có thể hắn là người quen của Paul. Giáo sư sẽ giúp tôi tìm ra hắn chứ?
- Làm sao mà tôi biết được ai cơ chứ. – Giáo sư Huỳnh Lẫm xua tay.
- Tôi nghĩ đối tượng này rất gần gũi và am hiểu về nghề nghiệp của các ông.
- Vậy ông cho rằng nghi phạm đang nằm trong nhóm khảo cổ của chúng tôi?
Lê Đại Hắc không đáp, ông tiến lại chiếc máy tính rồi rê chuột. Một hình ảnh hiện trên màn hình.
- Một người nhận là kiến trúc sư trùng tu, chắc ông biết hắn ta?
- Anh ta là Kì Phương! - Giáo sư Huỳnh Lẫm thốt lên. - Hắn là học trò cũ của tôi, còn cô kia thì không. Họ mang một ba lô sách to thế sao?
- Tại sao ông lại cho rằng đó là sách?
- Tôi thấy ba lô hình khối, vả lại Kì Phương có khoe với tôi rằng lần này Paul sang sẽ mang tặng anh ta rất nhiều sách kiến trúc Pháp.
- Thưa giáo sư, chính các ông đang nhờ tôi tìm giúp tài liệu. Lúc này mà ông vẫn cho rằng đó là sách kiến trúc trong khi ông không thấy bên trong là gì. Thứ hai, chúng tôi đã có bằng chứng cổ vật ở Mỹ Sơn đã được khai quật trước khi Paul bị giết. Đôi trai gái này có mặt rất sớm ở hiện trường và có nhiều hành vi rất đáng ngờ. Ông có nghĩ trong chiếc ba lô kia là tài liệu hay cổ vật vừa đào lên không?
Giáo sư Huỳnh Lẫm nóng mặt nhưng không có ý định thanh minh hộ Kì Phương nữa. Kể ra đây là lập luận rất logic cũng như hành vi của Kì Phương vốn đang làm ông đau đầu. Cổ vật và tài liệu đã rơi vào tay ai ông không dám nói nhưng ông tin chắc chắn đó không phải là Kì Phương. Biết ông đang khó xử, Lê Đại Hắc lại gần nhỏ nhẹ nhưng kiên quyết.
- Tôi biết giáo sư là chỗ thân tình với anh ta. Ông nên khuyên nhủ anh ta nếu có liên quan thì hãy khai báo trước khi phải đối mặt với sự trừng phạt của pháp luật.
- Không! anh đã nhận định sai. – Giáo sư Huỳnh Lẫm thẳng thắn. – Nếu lấy, anh ta không dám lấy những gì ngoài những cuốn sách được tặng.
- Giáo sư vẫn tin anh ta vô tội đến mức không đụng đến các thứ khác của Paul chứ? – Lê Đại Hắc không giấu nổi sự mỉa mai.
- Đúng thế. - Giáo sư Huỳnh Lẫm nở một nụ cười. - Anh ta là học trò tử tế nhất mà tôi biết, anh ta không dám đụng vào cái gì của Paul đâu, tất nhiên trừ... con gái ông ta.
Lê Đại Hắc mặt vẫn lạnh băng. Ông vặn lại:
- Thưa giáo sư, ông giúp tôi gọi cả bọn quay lại cùng mọi tang vật, nếu không ông không có thời gian ca tụng học trò nữa đâu.
- Các anh định truy nã anh ta? - Giáo sư Huỳnh Lẫm tỏ ra hoảng hốt.
- Giáo sư vẫn còn thời gian giúp họ trước khi quá muộn.
- Tôi không có quyền ngăn cản học trò. Anh ta biết đúng sai và tự chịu trách nhiệm.
- Giáo sư quá tin vào con người đấy.
- Tôi có cả ngàn học sinh, với ai tôi không rõ nhưng anh ta thì tôi tin.
Hắc lại gần vị giáo sư già và nói:
- Tôi không tranh luận với ông ở đây. Ông chỉ có thể chọn một trong hai, hợp tác hay không hợp tác mà thôi.
Một không khí căng thẳng bao trùm. Lúc đó từ dưới cầu thang một sĩ quan hớt ha hớt hải chạy lên.
- Báo cáo sếp, có tin khẩn.
Anh ta chìa bản fax cho Lê Đại Hắc rồi mau lẹ trình bày.
- Đây là toàn bộ nội dung tin nhắn của nghi phạm mà tổng đài cung cấp.
Lê Đại Hắc nắm chặt tờ giấy và lướt qua ba dòng chữ chưa ráo mực. Khuôn mặt viên cảnh sát dần dần đổi sắc. Mọi người lùi ra theo dõi đôi xương hàm đang bạnh ra trên khuôn mặt tím bầm của ông để chờ một lệnh mới sắp giáng xuống. Nhưng không, Lê Đại Hắc từ từ xích lại vị giáo sư già:
- Thưa giáo sư! – ông dằn mạnh từng tiếng. - Tôi nghĩ ông nên xem cái này!
Giáo sư Huỳnh Lẫm không có thời gian cân nhắc khi tờ giấy được ấn vào tay.
“ Tôi có một cổ vật Champa vừa khai quật rất đắt giá kèm theo nhiều thông tin hé lộ về một kho báu Naga. Tôi đề nghị được gặp anh ngay đêm nay tại một địa điểm ở Pnompenh. Cơ hội chỉ có một, mong anh cân nhắc kĩ rồi liên hệ ngay với tôi’’ Kts Kì Phương/Mỹ Sơn’’.
Đất dưới chân vị giáo sư già như sụp xuống. Căn phòng lặng ngắt mà tai ông bỗng ù lạc đi, toàn thân nhẹ bẫng chao đảo như bị ném vào không trung. Bỗng một tiếng thét vang lên làm ông sụp xuống.
- Nối máy với interpol ngay lập tức!
Giáo sư Huỳnh Lẫm bám tay lên thành nghế rồi ngồi phịch xuống trân trối nhìn toán cảnh sát sắp xung trận. Trước khi bỏ đi, Lê Đại Hắc ghé sát tai ông nhẹ nhàng nhưng đầy cay nghiệt.
- Giáo sư có bao nhiêu học trò cưng như thế này?
 
 
Chương 17  
Lúc này, một học trò “ cưng’’ khác của giáo sư Huỳnh Lẫm là Phú Thành Tài cũng vừa đáp xuống sân bay Tân Sơn Nhất. Ngồi trên taxi nhích từng tí trên con phố ùn tắc giờ cao điểm, vị tiến sĩ đang mơ đến những chiếc trực thăng cá nhân mà các tỉ phú hay dùng. Chuyện nhỏ. Chỉ ngày mai thôi, ông biết những thứ vật chất xa xỉ kia chẳng còn là giấc mơ tào lao nữa.
Tiến sĩ Phú Thành Tài có thừa tài liệu khoa học để tin rằng kho báu lớn nhất của Champa vẫn còn trong lòng đất. Đọc nhiều, nghe nhiều, ông cho rằng muốn tìm kho báu của Hoàng gia cần phải tạo mối quan hệ với nhiều hậu duệ vua chúa Champa và các đạo sĩ bởi họ mới có nguồn tư liệu sát thực nhất. Là một trí thức mang hai giòng máu Chăm - Việt, Phú Thành Tài thừa hưởng trọn vẹn hai dòng gien quý. Đó là sự can trường lăn xả của người Chăm cũng như tính thực dụng đầy lọc lõi của người Kinh.
Sau những gì tai nghe mắt thấy tại Mỹ Sơn, tiến sĩ Phú Thành Tài trở về Sài Gòn trong một tâm trạng không biết nên vui hay buồn nhưng chắc chắn ông đang đứng trước một vận hội mới. Ông biết mình đã bỏ lỡ ít nhất ba lần trong quá khứ có khả năng đột nhập kho báu nhưng số phận luôn ngoảnh mặt với ông.
Cách đây 12 năm, tin đồn Paul Morierre đã phát hiện ra kho báu đã làm ông điếng người. Thực hư thế nào chưa ai rõ. Hôm nay nữa, cái chết đột ngột của ông ta càng nhuốm thêm màu ma quái xung quanh kho báu huyền thoại. 12 năm là một con số đặc biệt đã ngầm báo cho ông một thông số bí mật. Chu kì. Quy luật vận động của vũ trụ đã đến tận cùng của sự hủy diệt và bắt đầu vặn mình gầm thét cho một vòng quay mới. Phú Thành Tài đã thấy máu hiến tế sắp chảy thành sông cho một sự tái sinh khủng khiếp. Không phải ngẫu nhiên mà Paul lại toan tính khai quật Naga vào chiều ngày mai. Chu kì. Nó sắp lặp lại. Dịp may đột ngột như trên trời rơi xuống sau ba mươi năm ngủ quên.
Mở chiếc vali bọc kẽm bất li thân trong mấy ngày nay, Phú Thành Tài kiểm tra kĩ lưỡng tài liệu trước một cuộc xuất hành bất trắc nhưng đầy hứa hẹn. Tấm bản đồ đã làm ông thất vọng ba mươi năm nay nhưng giờ đây khi Paul chết cũng là lúc nó hồi sinh và trở thành hàng độc. Để đột nhập vào kho báu huyền thoại nhà thám hiểm bắt buộc phải giải được hệ phương trình có ba ẩn số: vị trí, thời điểm, quy luật. Đáp án “ vị trí’’ chính là tấm bản đồ trong tay. Nếu trong đêm nay ông tìm ra hai nghiệm: “ thời điểm’’ và “ quy luật’’ thì cánh cửa kho báu sẽ bật tung hệt như nhập trúng mật mã.
*
Nếu tin nhắn vu vơ này rơi trúng thời điểm y đang ngồi bên bàn casino hay cạnh chai Chivas thì y đã nhấn nút delled. Nhưng nó lại đến lúc y vừa chân ướt chân ráo mang một pho tượng quý từ Đà Nẵng về là một điều không thể ngẫu nhiên. Suy cho cùng, đôi khi một sự việc tưởng như tình cờ nhưng nếu đặt vào một bối cảnh cụ thể lại là một miếng ghép không thể thiếu. Thông thường, trước, trong và sau khi xảy ra những sự kiện quốc tế lớn như bán đấu giá, cuộc khai quật lớn hay hội chợ triển lãm thì tần suất các loại tin rác gửi đến y tăng lên một cách đột biến. Là người có kĩ năng sàng lọc, Vua đồ cổ biết đây là một thông tin đầy tiềm năng.
Sự kiện khảo cổ hôm nay tại Mỹ Sơn và cuộc đại khai quật thánh đường cổ Naga ngày mai tại Campuchia đã nóng lên từ mấy tháng trước và là thỏi nam châm cực mạnh hút mọi tinh hoa trong giới khoa học, tầng lớp doanh gia chân chính cho đến các thành phần bất hảo đầu trộm đuôi cướp từ khắp nơi trên thế giới tụ về đông như cỏ rác.
Kì Phương là thằng cha nào nhỉ? Y quen cả tá đầu nậu Việt Nam và hàng triệu người biết đến y. Hay là gã lùn vừa được mình tặng card sáng nay? Lí do y có mặt trên cõi đời này không có gì khác ngoài thực thi những sứ mệnh lớn lao mà tiền nhân phó thác. Y biết cha mình không sống được bao lâu nữa và cái ngày y gánh vác giang sơn đã đến. Mặc dù chỉ là đứa con nuôi nhưng ông luôn trao cho y những phi vụ tối ư quan trọng khi tất cả những tên tay sai hèn kém của ông ta đều chùn bước.
Đêm qua, khi biết mình được chọn, y đã đánh hơi thấy sự tầm cỡ của phi vụ này. Y hiểu giá trị của pho tượng trong tay nhưng chỉ là một nửa, còn một nửa nữa được cha lẫn Cả sư tuyệt đối giấu kín. Điều đó nói lên sự thận trọng khác thường cũng như các bậc bề trên chưa thực sự tin tưởng y. Mà cả thế giới này đều không tin tưởng y thì phải.
Tay Kì Phương là ai và đánh tiếng cho y làm gì? Tin nhắn này làm y phải vắt óc suy nghĩ. Nếu tên trộm đồ cổ nào đó từ Việt Nam trộm được cổ vật rồi lén lút bán cho y là một điều may mắn nhưng không bất ngờ. Trong chục năm qua tích cực quảng bá tên tuổi khắp thế giới, y đã tạo được một mạng lưới nhà cung cấp hình chân rết dày đặc trong thế giới ngầm. Y chắc chắn đến nỗi bất cứ nơi đâu có hàng để bán, người đầu tiên được mời chính là y. Suy đi tính lại, y trả lời tin nhắn Kì Phương. “ Hãy gọi cho tôi khi anh đến Pnompenh’’.
Tốt nghiệp xuất sắc trường Đại học Mỏ - Địa chất Bắc Kinh, về nước đúng một năm, chẳng hiểu cơ duyên nào y lại mò sang Hà Nội theo học bằng hai Khoa sử trường Tổng hợp. Học xong không theo một nghề nào, lang thang thiên hạ chán chê y dấn sâu vào nghề buôn lậu đồ cổ lúc nào không hay. Một cái nghề không dành cho những kẻ thiếu máu mặt. Khi các tấm thẻ nhà băng đầy ắp và hàng ngàn cổ vật sắp kín các dinh thự thì y mới ngộ ra một điều “ cái có thì không sang, cái sang thì không có’’
Kéo lê chiếc va li mang “ vị thần Phương đông’’ ra khỏi sân bay, y ngoái mắt nhìn cửa ải cuối cùng đã ở sau lưng rồi dừng lại thở một hơi thật sâu để nạp thêm dưỡng khí vào cơ thể tráng kiện của mình. Chỉ một tiếng nữa thần Siva sẽ về nơi bất khả xâm phạm - một vị trí xứng đáng nhất của Ngài. Ta không thể ở nơi công cộng quá lâu.
Tiến về chiếc Porsche màu đen có người lái đang chờ, y lặng lẽ rời sân bay tìm một quán bar trên phố Sisovath để chuẩn bị cho một cuộc hẹn quan trọng. Chính vì tin nhắn của Kì Phương mà y đã tạm ngưng phi vụ của người cha nuôi giao phó. Đích đến cuối cùng của cổ vật sẽ được định đoạt sau khi gặp gỡ kẻ lạ mặt này. Hình ảnh thần Siva, Cả sư và người khách lạ cứ ẩn hiện chập chờn trên hành trình của hắn.
Khi nhận được linh vật này y vội nghĩ đến ngay “ nửa kia’’ và câu nói lấp lửng “ đã có người khác lo’’ đã đặt một dấu hỏi to tướng trong đầu y. Người đó là ai? Y biết một nguyên tắc đơn giản là không ai để hết trứng vào một rổ cũng như không bao giờ để một người vừa mang linga lẫn yoni. Phải là hai kẻ không biết mặt nhau cùng thực hiện nhưng ông ta quên mất rằng trong thời đại thông tin này, có vô vàn cách gửi phát tín hiệu cho nhau và chẳng ngạc nhiên khi hai kẻ không quen biết lập tức thành đối tác chỉ trong một đêm.
Chọn một góc kín trong nhà hàng kiểu tây mà y cho là tạm an toàn rồi ngả lưng nghĩ ngợi. Rít nhẹ tẩu, đợi cho chất nicotin len lỏi thấm đầy hai lá phổi rồi lên não làm y say sưa mơ tưởng đến bộ linh vật trong điển tích sẽ hợp nhất vào đêm nay. Vừa nhắm mắt, chuông điện thoại lại reo.
- Con đã về đến nơi chưa?
- Thưa cha, con chưa thể về.
- Hình như con đang gặp bất trắc?
Hắn khum tay bưng máy ngăn tiếng nhạc cổ điển du dương.
- Con đang làm thủ tục nhập cảnh, chúng nó quay ghê lắm.
- Xong con nên rời sân bay ngay. Theo nguồn tin của cha, họ đang truy bắt một vụ khác đêm nay.
- Một vụ khác? – Y rùng mình. - Có dính dáng gì đến con không?
- Cẩn thận vẫn hơn, tránh xa mọi người, không liên lạc hay gặp gỡ bất cứ ai trước khi cổ vật nằm trong tay cha.
- Con hiểu mà, cha yên tâm!
- Thôi, ta cũng không thể nói quá lâu. Hãy tắt máy và tiếp tục việc của con.
Sự cẩn thận của người cha có tuổi có thể làm hoang mang kẻ yếu vía, nhưng đối với y lại khiêu khích thêm trí tò mò. Nếu y không nhầm thì “ họ đang bắt một vụ khác’’ là ám chỉ tên Kì Phương? Y nhấp một ngụm Chivas rồi nhìn canh cánh lên chiêc MobiFox J5 chờ chực.
 
 
Chương 18  
Trên chiếc Boing êm ru khi đạt độ cao ổn định, Kì Phương đã chìm vào giấc ngủ nhưng các con số và dòng chữ vẫn không ngừng lờn vờn bủa vây trong giấc mơ của anh. Thi Nga vỗ nhẹ vai anh nói:
- Lúc nãy ở Bảo tàng tôi thấy rất nhiều bia kí, anh đã tìm hết bia trong bảo tàng Chăm chưa?
- Bảo tàng Chăm hiện lưu trữ hơn hai trăm văn khắc, nhưng không riêng của Mỹ Sơn mà còn từ các nơi khác nữa. Trước đây tôi đã tiếp xúc qua nhưng chắc chắn không có bia nào trong danh sách này.
- Đó là trước đây, nhưng biết đâu hôm qua mới bổ sung thì sao nào?
Kì Phương nghĩ ngợi, cũng có thể lắm chứ, chả là hôm qua ba cô ta đến đó để dịch mà. Tiếc rằng lúc ở đó anh chưa nghĩ ra chuyện này, còn giờ thì sắp đến Pnompenh rồi.
- Cũng có thể. Tôi sẽ nhờ người đến đó tìm giúp. Nhưng để vào trong kho tàng đó là không đơn giản. Một số văn khắc thuộc dạng được bảo vệ đặc biệt đấy.
- Ba tôi đã để lại mật mã cho chúng ta có nghĩa là chúng ta sẽ tiếp cận được. Biết đâu nó đang nằm nơi công cộng nào đó thì sao. Thế cái bia cạnh mấy khung cửa kia lúc nãy là bia nào?
Kì Phương sực nhớ Thi Nga có dựa lưng vào một khối bia ở đấy, nhưng lúc đó anh chỉ tập trung vào các khung cửa nên không để ý nó là bia gì.
- Cô có thấy kí hiệu bia đó là gì không?
- Tôi biết bia A5 ở đâu rồi! - Thi Nga bỗng reo lên.
Kì Phương nhìn phắt sang cô không dấu nổi sự kinh ngạc.
- Tại sao cô biết?
Ngay chính cái bia tôi dựa lưng.
- Cô bảo là không để ý mà?
- Đúng vậy, tôi không nhìn phía sau nhưng chính diện trước mắt tôi là các cây cột và mảnh vỡ đều nghi A5. Mà ở đó họ sắp xếp theo ô rất quy củ nên cái bia sau lưng ắt cũng là A5.
- Cô thật nhanh trí, tôi sẽ nhờ người đến đó kiểm tra và chụp ảnh gấp.
Kì Phương bật điện thoại lên soạn một tin nhắn rồi lựa chọn từng người thích hợp để nhờ vả. Quả thật tấm bia này chỉ mới xuất hiện hôm qua để Paul làm việc, chắc các bia còn lại cũng ở quanh đó.
- Còn ba bia nữa anh phải tìm cho ra đấy? - Cô nói.
- Được, tôi đã huy động đồng nghiệp và nhờ các thầy rồi. Xuống sân bay tôi sẽ lên mạng tra cứu thêm xem sao. Nhất định chúng ta sẽ sớm tìm ra chúng.
Chiếc Boing hạ cánh xuống sân bay Pochentong khi trời đã xẩm tối, việc đầu tiên của Kì Phương là bật điện thoại lên kiểm tra đã có hồi âm của Vua đồ cổ hay chưa và anh vui sướng khi nhận ra một tin nhắn: “ hãy gọi ngay cho tôi khi anh đến Pnompenh’’.
Sau những gì gây ra tại Mỹ Sơn, Kì Phương đủ tỉnh táo để nhận ra mình có thể đã bị theo dõi. Trong lúc xếp hàng làm thủ tục nhập cảnh, Kì Phương đã chuẩn bị tinh thần cho một kịch bản xấu nhất sẽ xảy ra. Cấm nhập cảnh. Tuy nhiên, sự việc không xấu như anh nghĩ. Dấu nhập cảnh đóng cộp lên hai tấm hộ chiếu, anh tìm một chiếc máy cố định gần đó để gọi ngay cho Simha. Một chất giọng lơ lớ dè dặt vang lên từ đầu bên kia:
- Xin lỗi... Ai?
- Tôi là Kì Phương, người đã nhắn tin cho anh.
- Tôi biết rồi. – Một âm thanh lạnh lẽo vọng đến.
- Vâng, may quá. - Kì Phương thận trọng. - Vậy là anh đã đọc hết tin nhắn của tôi?
- Đúng, nhưng xin lỗi, lấy gì để tôi tin anh có hàng?
- Tôi đang ở sân bay nên nói qua điện thoại không tiện. Tôi cần gặp anh và đảm bảo không để anh phải thất vọng đâu.
- Tôi cần biết anh có mang cái anh nói trong tin nhắn không?
Kì Phương vỗ mạnh ba lô cốt để hắn nghe thấy.
- Nó đây, tin tôi đi!
- Xin lỗi anh bạn bịp nhầm người rồi, cái đó không dễ mang qua cửa khẩu sân bay như vậy được.
- Bảo tàng chúng tôi đưa sang một lô cổ vật theo diện tạm xuất tham gia triển lãm. Giấy tờ đầy đủ, anh đừng lo.
Mấy giây nặng nề trôi qua, trùm đồ cổ có lẽ đang cân nhắc quyết định có phần mạo hiểm. Kì Phương giục.
- Nếu nó bất tiện cho anh, tôi sẽ liên lạc với... người khác.
Simha cười thầm, y thừa hiểu rằng trên đất Miên này làm quái gì có người khác chịu chơi như y. Nếu có kẻ nào hơn thì đó là cha nuôi y. Trước đây nhiều kẻ gọi cho y mặc cả không xong bèn gọi cho cha nuôi y, nhưng lão lại phái y gặp tận nơi xem hàng rồi ép giá. Quanh đi quẩn lại rồi cũng tới tay y hết. Nhưng hôm nay nếu gã này gọi cho cha y thì hỏng bét. Y bèn hạ giọng:
- Thôi được, anh tìm đúng địa chỉ rồi đấy.
- Vậy ta gặp nhau ở đâu đây? - Kì Phương hồi hộp.
- Anh tự đi taxi đến phía nam cuối phố Sisowath có quán Elly cofee. Tôi chờ anh ở đó.
- Có kín đáo không đấy?
- Yên tâm!
- Ok, hãy chờ tôi ở đó.
Kì Phương treo máy rồi cùng Thi Nga ra ngoài. Sảnh đón tấp nập người với một lô lốc các tài xế taxi, nhân viên du lịch và cò khách sạn đến tiếp thị tận nơi. Kì Phương lấy vài tấm card khách sạn và một hãng cho thuê xe phòng khi cần đến. Ra đến mép đường, anh đưa tay vẫy một chiếc taxi thì một chiếc Mercedes mang biển ngoại giao đỗ két trước mặt. Rất nhanh, một người đàn ông trung niên mặc đồ sang trọng bước tới trước mặt anh. Theo phản xạ, Kì Phương lùi lại đề phòng. Người này nhìn anh từ đầu đến chân rồi lên tiếng:
- Xin lỗi, anh là Kì Phương?
- Ông là ai? - Kì Phương đáp dè chừng. - Sao biết tôi?
- Tôi được phái đến đây đi tìm anh. – ông ta chỉ tay Thi Nga. - Người phụ nữ đang đi cùng anh kia tên là Thi Nga đúng không?
Interpol? Một ý nghĩ ớn lạnh xoẹt ngang óc. Người đàn ông mang ánh mắt sắc lạnh làm anh liên tưởng đến một viên công an chìm đã nhận được lệnh đi bắt anh. Nghĩ về Mỹ Sơn sáng nay và động thái của Lê Đại Hắc, anh biết mình vẫn chưa ra khỏi tấm lưới vô hình của Interpol đã giăng khắp. Kì Phương nhìn sang Thi Nga nhưng cô đã nấp sau lưng anh tự khi nào.
- Đúng, ông là ai? – anh bình tĩnh hỏi. - Cần gì ở chúng tôi?
- Anh chị đừng ngại, tôi xin tự giới thiệu, tên tôi là Võ Thạc Hoan, tham tán văn hóa Đại sứ quán Việt Nam tại Pnompenh. Tôi là học trò cũ của giáo sư Huỳnh Lẫm. - Anh ta định moi một cái gì đó từ trong túi ra để chứng minh điều vừa nói nhưng Kì Phương liền vui vẻ xua tay.
- Ồ, hóa ra là vậy. Tôi đã nghe thầy Lẫm nói về anh mấy lần, mỗi khi thầy qua đây công cán đều tá túc chỗ anh. Chẳng lẽ giáo sư Huỳnh Lẫm nhờ anh đến đón chúng tôi?
- Không hẳn thế, giáo sư Huỳnh Lẫm nhờ tôi đến để khuyên anh hãy rời Pnompenh gấp.
- Sao? - Kì Phương sửng sốt. - Rời Pnompenh gấp?
- Đúng thế!
Thi Nga đang nấp sau lưng anh liền bước ra đối mặt người đàn ông.
- Cảm ơn anh, nhưng rất tiếc chúng tôi không nghe theo các ông được!
Người tên Hoan nhìn lướt cô rồi nói nhỏ vào tai Kì Phương?
- Anh ra đây tôi nói.
Kì Phương rất cảnh giác nhưng vẫn miễn cưỡng đi theo ông ta. Áng chừng không bị Thi Nga nghe trộm, ông ta dừng lại rỉ tai Kì Phương.
- Nói trước là tôi làm việc này với tư cách học trò thầy Lẫm chứ không phải việc của Đại sứ quán. Thầy điện cho tôi khi anh chưa hạ cánh, ông ấy nói rằng tình cảnh của anh chị hiện rất đáng ngại. Bọn săn trộm đồ cổ sẵn sàng loại bỏ bất cứ ai mà chúng thấy cần thiết. Anh không nên nhờ cậy gì giới giang hồ ở đây được đâu mà chỉ có hai lựa chọn, quay lại Việt Nam ngay hoặc là trốn đi một nơi thật xa.
- Sao? Vậy Pnompenh chưa đủ xa hay sao?
- Ý thầy Lẫm là ra khỏi vùng ảnh hưởng của trùm đồ cổ mà Pnompenh là cái nôi của chúng.
Kì Phương cam đoan rằng giáo sư Huỳnh Lẫm và viên tham tán chưa hiểu gì về chuyện này, nếu muốn an toàn thì anh đã ở nhà rồi. Quan trọng nhất là phải tìm ra thánh địa Naga trước chiều mai. Quay lại hay trốn đi coi như mất toi cơ hội. Thấy chưa thuyết phục nổi anh, ông ta nói.
- Giáo sư Lẫm dặn tôi nói thế, nếu anh chưa tin thì điện ngay cho ông ta.
Nhìn vóc dáng đạo mạo của người đàn ông cứ mở miệng ra là “ giáo sư Huỳnh Lẫm nói’’ Kì Phương ái ngại hỏi.
- Tội phạm Pnompenh ghê gớm vậy sao?
- Anh Phương hãy nghe đây. - Người tên Hoan tỏ ra khó chịu. - Tôi không rõ chuyện của thầy và anh thế nào nhưng tôi chỉ làm theo yêu cầu của thầy mà thôi. Có thể ông ấy cường điệu lên, nhưng kinh nghiệm của ông ấy có được đều đổi bằng xương máu cả đấy.
Có lẽ giáo sư Huỳnh Lẫm sẽ nghĩ anh liên lạc với Simha để nhờ cậy. Bất cứ ai biết tin anh đi gặp trùm tội phạm đều không khỏi dị nghị và lo lắng. Kì Phương nghĩ lại những gì mà giáo sư Huỳnh Lẫm nói với anh ở Mỹ Sơn, vấn đề không chỉ an toàn cho anh mà là đứa con gái độc nhất đang nắm nhiều bí mật của Paul. Giáo sư Huỳnh Lẫm đã khuyến cáo anh đưa Thi Nga đi trú ẩn thì anh lại mang cô đi hầu tội phạm - đúng là mang trứng cho ác. Ngộ nhỡ có gì xảy ra với cô ta thì sao đây. Xem ra giáo sư Huỳnh Lẫm đã quyết tâm bảo vệ cô ta bằng mọi giá.
- Vâng, có lẽ tôi nên quay về. - Kì Phương buồn rầu đáp.
Nghe đến từ “ về’’ Thi Nga lao tới tóm áo anh giật mạnh kèm cái nguýt sém mặt về viên thám tán. Kì Phương bị Thi Nga lôi xềnh xệch về chiếc taxi đang chờ. Anh chỉ biết ngoái lại nhìn viên tham tán nửa như kêu cứu nửa như van xin.
- Anh Hoan!... Anh để từ từ em sẽ tính, anh yên tâm là không có gì xảy ra đâu...
Viên tham tán lệt bệt đuổi theo. Ông ta chỉ tay vào trong sân bay, nói:
- Giáo sư Huỳnh Lẫm nói là không nhất thiết phải phải về nước ngay, ở đâu an toàn là được miễn sao không vào Pnompenh đêm nay. Sân bay cũng là một lựa chọn tốt.
Hễ mở miệng là “ giáo sư Huỳnh Lẫm nói’’ Kì Phương không biết ông ta sang đây làm cho Bộ ngoại giao hay là đệ tử nằm vùng của giáo sư Huỳnh Lẫm nữa. Anh nháy mắt với viên thám tán.
- Nhưng qua đêm ở sân bay thì chán lắm.
Viên tham tán liếc qua Thi Nga rồi nháy mắt Kì Phương.
- Ước gì tôi có thể thế chân anh!
- Thôi được, cảm ơn anh. Đêm nay tôi sẽ phải tạm lánh đi đâu đó, Siem Reap chẳng hạn.
Kì Phương đã lấy lại thế chủ động, anh mạnh bạo vòng tay qua eo Thi Nga ngay trước mặt viên tham tán rồi ém cô lên sảnh đón tầng hai. Dù Kì Phương nói rõ là đi Siem Reap và tiến về phía quầy bán vé, nhưng viên tham tán vẫn chưa có cơ sở nào để tin tưởng anh chàng này sẽ rời Pnompenh thật. Ông ta chấp nhận trơ mặt bám theo họ để giám sát quá trình mua vé rồi check in cho đến khi đôi trai gái mất hút sau cổng an ninh thì nhà ngoại giao kì cựu này mới thở phào nhẹ nhõm. Xong nợ.
 


Chương 19

Đại bản doanh cảnh sát Pnompenh thường vắng vẻ sau 7 giờ đêm, tuy nhiên đêm nay văn phòng đại úy Thet Manet vẫn náo nhiệt khác thường. Rất đông sĩ quan và binh lính đã tập hợp ngoài sân bên cạnh dàn xe công vụ hiệu Chevrolet nhập khẩu láng cóng. Mắt họ đăm đăm nhìn về căn phòng chỉ huy đang sáng đèn sẵn sàng nhận lệnh. Là người đứng đầu bộ máy cảnh sát thủ đô và chỉ huy trên hai ngàn hạ sĩ quan nhưng mỗi khi nhận được lệnh cấp trên liên quan đến interpol là Thet Manet đích thân chỉ huy tác nghiệp.
Ít ai hiểu gì về con người lập dị này ngoài tính cách bộc trực và nóng nảy. Với chức vụ và công trạng của mình, ông ta xứng đáng mang quân hàm cao hơn cái lon đại úy hiện nay ít nhất hai cấp nhưng chính anh ta đã khước từ quy luật đó và đây là điều sâu kín nhất trong tâm hồn của viên cảnh sát mới 42 tuổi này. Lấy ngay cha mình làm thần tượng và động lực phấn đấu, Thet Manet xem đó người đàn ông vĩ đại nhất thế gian mà ông từng biết - một đại úy không quân lao thẳng chiếc Mig-17 của mình vào máy bay ném bom quân thù. Cha ông đã đi vào sử sách một cách đột ngột và bi tráng như vậy. Về mặt hình thức, Thet Manet không muốn vượt qua cái hàm đại úy của một con người mà cả dân tộc này đang cúi đầu thành kính.
- Nói to lên nào!... Yên tâm, chúng tôi sẽ bắt gọn khi chúng đáp xuống sân bay!
Thet Manet hét vào điện thoại nhưng âm thanh dội ra cả ngoài sân. Nếu một người thứ ba đang theo dõi các cuộc điện đàm của ông thì người đó không bao giờ có thể biết được ông ta đang nói với loại người nào, đàn ông hay đàn bà, cấp trên hay cấp dưới, người ngay hay kẻ gian. Bởi dù nói với ai, Thet Manet vẫn dùng đúng một âm điệu của chiếc loa sắt vặn to đấm thẳng vào tai đối phương.
- Tại sao?... Hạ cánh rồi là thế nào? - Anh ta tiếp tục hò hét với ai đó trong máy. - Đã hơn 10 phút?... Chết tiệt, thôi được, chuyển đặc điểm nhận dạng cho tôi ngay!
Ném cạch tai nghe vào ổ, ông ta thả phịch tấm thân săn chắc của một đô vật xuống ghế. Mang những vòng hoa sắt đi nghênh đón các quý khách quốc tế đến với mình thật là một quyết định tàn nhẫn. Một sĩ quan đã chờ ông từ lâu bèn nói.
- Thưa chỉ huy, tôi đã nhận được hồ sơ hỏa tốc từ Bộ gửi xuống đây.
- Nhanh thế!
Thet đón tập công văn khẩn trên tay cấp dưới rồi mở ra lướt vội dòng lệnh và con dấu còn chưa ráo mực rồi đứng phắt dậy khoác áo chống đạn, dắt khẩu Glock vào bao rồi đẩy cửa đi ra ngoài. Còn hơn 15 phút để cho đôi nghi phạm này hít thở không khí tự do trước cửa ngõ đất nước xinh đẹp này của ông. Đoàn xe công vụ chuyển động rồi tăng tốc hướng sân bay quốc tế Pochentong.
*
Làm xong thủ tục kiểm tra danh tính rồi đi qua cổng dò kim loại giữa hai hàng rào an ninh sân bay, Kì Phương lưỡng lự tiến về khu cách li trong tâm trạng của một kẻ không biết mình đang đi đâu. Thi Nga kéo tay anh lo lắng hỏi:
- Đêm nay không vào Pnompenh thật à? Anh đã hẹn với Simha rồi cơ mà.
Kì Phương vừa đi vừa thanh minh:
- Đất khách quê người, bao cạm bẫy đang chờ sẵn, giáo sư Huỳnh Lẫm đã cảnh báo cần thận trọng. Ta cứ tạm ở đây là an toàn nhất, không ai có thể vượt qua hàng rào an ninh sân bay dày đặc kia để hại ta. Trong khi chờ tin tức bạn tôi từ Bảo tàng, tôi sẽ vào mạng wifi để tìm và dịch các bia kí kia luôn thể. Nếu giải được ta sẽ không cần gặp Simha nữa, dù sao y cũng là tay trùm xã hội đen. - Anh ngưng lại nhìn cô. - Chắc cô đói lắm rồi, ta ăn cái gì đi đã.
Thi Nga cảm thấy nôn nao và không được thoải mái, cô còn bụng dạ nào nữa để màng đến ăn uống. Thấy Kì Phương nói có lí, cô cũng gật đầu đi theo. Tìm thấy một hàng hủ tiếu bên cạnh các gian hàng miễn thuế xa xỉ Kì Phương quyết định đi vào gọi đồ ăn. Gọi xong hai tô, Kì Phương lôi chiếc máy tính ra xem email nhưng chưa có thư mới. Anh vào google rồi gõ “ Bia kí Mỹ Sơn tháp A5’’. Hơn hai trăm ngàn kết quả xuất hiện, Kì Phương kích vào mấy trang đầu tiên nhưng không có nội dung văn bia. Chuyển sang tháp D6, các kết quả khiêm tốn hơn và không có dòng nào nói về bia kí này. Tạm gác tháp D6, Kì Phương chuyển sang tháp E3, nhưng kết quả ít đi hẳn. Thông thường chỉ có các Kalan mang số “ 1’’ là tháp thờ chính tượng trưng cho đỉnh núi Mêru linh thiêng mới được nghiên cứu nhiều, còn các tháp có kí hiệu “ 2’’ trở lên là tháp phụ nên rất ít bia kí hay tài liệu đề cập đến. Chuyển sang tháp C8-tháp cuối cùng thì kết quả bằng 0. Tuy nhiên sự thất vọng không dừng ở đó, tệ hơn là có thể không tồn tại tháp này như giáo sư Huỳnh Lẫm lầm tưởng.
- Dừng tay đã anh! - Giọng nói trong trẻo cất lên.
Hai tô phở tái bốc khói thơm ngậy đã đặt lên bàn nhưng Kì Phương không buồn động đũa. Mắt anh vẫn không rời máy vi tính.
- Cô ăn đi cho nóng!
Mò mẫm thêm một lúc nữa, Kì Phương quyết định tắt máy rồi húp nhanh vài miếng lót dạ. Ăn quá nửa anh mới ngước lên thấy Thi Nga chưa hề động đũa. Kì Phương biết cô đang rất lo cho ba cô không biết đang ở phương nào trong khi bản thân lại đang bị giam lỏng và mọi phương án tìm Naga vẫn đang dẫm chân tại chỗ. Kì Phương vục xuống ăn tiếp, bỗng anh buông đũa khi nhìn vào tô phở.
- Chủ quán đâu! thế này là sao?
Cậu bồi bàn mau lẹ bước đến xem anh vớt lên một con sâu.
- Ấy chết, cháu xin lỗi. - Cậu bé rối rít. - Để cháu làm bát khác.
- Tao đã nuốt mất hơn nửa.
- Xin chú tha lỗi, để cháu báo cho mẹ cháu biết.
Hắn chạy nhanh vào bếp, không đầy một phút, một phụ nữ đi ra.
- Chị là chủ quán hả?
- Dạ không, tôi là đầu bếp, lỗi này là của tôi, lát nữa ông chủ đến, mong anh đừng nói gì.
- Thôi được, chuyện nhỏ ấy mà, chị đi đi, gọi thằng cu ra đây.
- Vâng ạ, cảm ơn anh.
Thằng bé lo lắng đi ra mà không biết ông khách lạ này sẽ làm gì. Làm gì cũng được miễn chuyện này đừng đến tai ông chủ độc ác.
- Ngồi xuống đây!
Thằng bé thoáng hoảng sợ, nhưng nhìn khuôn mặt vị khách đã bớt giận nên cũng ngồi theo.
- Sợ mất việc hả?
- Vâng, ông ta biết sẽ trừ lương hoặc đuổi việc.
- Tao hiểu. – Anh cất giọng độ lượng. - Lần sau phải cẩn thận.
- Cảm ơn chú đã dạy...
- Sắp nghỉ chưa, đêm nay hai mẹ con ngủ luôn tại quán à?
Cậu tròn mắt nhìn anh. Ba năm có lẻ quần quật hầu hạ hàng ngàn thực khách ăn trắng mặc trơ có ai quan tâm đến thân phận kẻ tôi tớ này đâu.
- Dạ không, nửa đêm, hai mẹ con phải tự về khu ổ chuột trong thành phố.
- Đêm nay hai mẹ con không phải về nữa!
- Ý chú là sao?
Cậu bé lấm lét nhìn vị khách rồi lại nhìn con sâu trên bàn đầy sợ hãi.
Ông ta bỏ tù mình sao. Kì Phương ghé tai hắn nói gì đó mấy câu rồi thằng bé nhảy chân sáo vụt đi. Kì Phương định đi về phía WC thì Thi Nga gọi giật lại.
- Này, anh dụ trẻ con làm bậy gì thế, tôi biết anh có tiền sử xui dại trẻ con.
Kì Phương mỉm cười nhìn cô, anh biết cô đang đòi nợ cái vụ anh xui cô cho chuồn chuồn cắn vào rốn để biết bơi từ thủa nào. Đây có lẽ là ấn tượng đáng nhớ duy nhất của cô về anh.
- Đêm nay tôi sẽ trả nợ cô cả vốn lẫn lãi.
- Anh định làm gì với thằng bé hay... với tôi? - Thi Nga nhìn anh khó hiểu.
- À, tôi thuê nó làm thám tử. Tôi muốn biết kẻ săn lùng chúng ta là ai nên cần người ở đây nghe ngóng tình hình.
- Vậy anh quyết định đi Siem Reap thật sao? - Cô đứng phắt dậy nhìn anh.
- Ừ, dù sao ta không thể ngồi đây mãi. Sân bay sẽ đóng của, mà vào Pnompenh thì không thể được. Đằng nào ta cũng mua vé khứ hồi rồi. Mà phong cảnh Siem Reap đâu có tệ?
Thi Nga biết sân bay quốc tế không đóng cửa về đêm. Nếu đi Siem Reap không biết anh ta sẽ đưa cô đi đâu trong đêm hôm khuya khoắt này. Thấy cô lo lắng, anh vỗ nhẹ vai.
- Mọi việc để tôi lo, cô ăn đi cho có sức, đêm nay sẽ rất mệt đấy.
Thi Nga thoáng nghe đã rợn người nhưng đành phó mặc hết cho anh. Thực tình Kì Phương thấy Võ Thạc Hoan và thầy mình kiên quyết quá nên anh mới mua vé để qua mắt họ mà thôi. Anh định trước giờ cất cánh sẽ trả lại vé rồi âm thầm quay vào Pnompenh nhưng giờ phải cân nhắc lại nước đi này. Lời cảnh báo của thầy anh luôn có cơ sở. Lúc ở Rex ông đã gọi điện giục anh trốn đi và sau đó ba phút, cảnh sát ập đến. Liệu ông biết trước? Giờ đây lời cảnh báo gay gắt hơn và ông ta đã huy động cả học trò bên Đại sứ quán vào cuộc. Lần này cảnh sát sắp bố ráp sân bay? Kì Phương chưa lường trước điều này. Từ một nhân chứng bất đắc dĩ trong vụ án mạng, anh đã trở thành nghi phạm với vô số chứng cứ. Rồi từ nghi phạm, anh đã bỏ chạy ra nước ngoài và cố nhiên Interpol sẽ tiếp đón. Không thể khác. Kì Phương biết trước tình hình sẽ nguy hiểm hơn ở Rex nhiều lần và anh cảm thấy hoang mang khi đang đứng giữa ngã ba đường.
Kì Phương vội vã bỏ đi về phía cuối phòng chờ. Khi không thấy ai nhìn mình, anh rút tấm card một khách sạn 5 sao tại Siem Reap rồi bấm máy.
- Khách sạn Royal Khmer phải không?
- Đúng, chào anh! - Bên kia đáp.
- Đêm nay cho tôi đặt hai phòng đôi hạng nhất, nhớ là hai phòng cạnh nhau hoặc thông nhau thì càng tốt.
- Vâng. Xin cho biết quý danh?
- Tôi sẽ xuất giấy tờ sau.
- Cũng được, vậy anh phải đến trước 23h đấy.
- OK.
Thi Nga vẫn ngồi thờ thẫn mặc cho tiếng loa ra rả gọi khách lên máy bay. Biết chống ý Kì Phương sẽ không có lợi nên cô biết phải làm gì để đạt mục đích. Ba cô từng dạy cô rằng trên trần gian này không có thằng đàn ông nào vô tư tốt bụng để giúp phụ nữ mà không cần điều kiện gì cả. Nhưng ba ơi, trong cuộc đời ô trọc này, nếu hiến tấm thân bọt bèo này mà cứu được ba thì ngàn lần con xin nhận.
Cô gạt hai giọt lệ bên khóe mắt rồi đứng thẳng lên. Cậu bé bồi bàn lon ton chạy ra khoe.
- Ổn cả, mẹ cháu đồng ý giúp cô chú rồi, chúc cô chú một đêm hạnh phúc!
Kì Phương mừng rỡ xoa đầu đứa bé và không quên nhét vào túi cậu một xấp tiền công rồi nói:
- Cứ thế nhé, không có gì phải sợ. Đã đến giờ chúng ta phải chia tay nhau rồi. Hẹn gặp lại!
Thi Nga bỏ đi trước không thèm nhìn anh nên cô không thể thấy một thoáng mưu mô hiếm hoi trên khuôn mặt kẻ đồng hành khác giới.
 
 
Chương 20  
Cửa kính cổng dẫn ra máy bay khép lại khi hành khách cuối cùng vừa bước vào. Máy bay đường ngắn loại nhỏ này sẽ cất cánh sau mười lăm phút nữa nếu không xảy ra điều gì ngoài dự kiến. Ngoài sảnh, một toán lính ăn mặc dữ dằn nhảy xuống từ chiếc cam-nhông rồi mau lẹ chốt khắp các lối ra vào và đầu các cầu thang.
Giám đốc điều hành sân bay Pochentong là một người đàn ông có bề dày kinh nghiệm sau một thời gian dài phục vụ trong binh chủng không quân Hoàng Gia trước khi chuyển qua mảng dân sự. Cách đây chỉ mấy chục phút ông đã nhận được một tin khẩn nên phải bỏ dở bữa tiệc của các nhà thầu sau lễ kí hợp đồng nâng cấp nhiều hạng mục sân bay. Thật chẳng đúng lúc chút nào. Ông bực bội nhìn các vị khách không mời đang xông vào phòng ông như chỗ không người. Viên chỉ huy hùng hổ đi đầu đánh cộp gót rồi vung cánh tay bắp cày lên ngang vành mũ sắt, miệng đanh gọn.
- Cảnh sát Pnompenh đến làm việc!
- Chào các ông, chúng tôi đã sẵn sàng.
Thực ra vị giám đốc đâu có chuẩn bị gì cho tình huống đột xuất này. Ông sững sờ nhìn viên chỉ huy dấn sát trước mặt mình. Toán lính phía sau cũng dồn thêm ngần ấy bước, đứng nghiêm, mặt lạnh như tiền.
- Các người đã để lọt hai kẻ nguy hiểm! - Thet Manet rút phắt hai tấm ảnh trao cho vị giám đốc.
Ông ta nhìn thoáng qua, giọng bối rối:
- Nếu các ông thông báo sớm, chúng tôi đã giữ chân chúng lại đây rồi.
- Bây giờ vẫn chưa muộn. Hãy giúp tôi khẩn trương xử lý hai vấn đề sau. Một: cung cấp giờ phút nhập cảnh của chúng. Hai: chúng tôi cần kiểm tra tất cả các camera có hình chúng.
Giám đốc xoay chiếc máy tính để bàn, là người thành thục vi tính nên không cần đến thư kí, ông khởi động phần mềm quản lí nội bộ rồi gõ các tên cần tìm. Vài giây sau, ông xoay màn hình ra ngoài cho viên chỉ huy và nói.
- Hai vị khách này xuống từ chuyến bay VN1307, và nhập cảnh lúc 19 giờ 47 phút. Thưa ngài cảnh sát, bây giờ tôi sẽ đích thân dẫn ông sang trung tâm an ninh.
Vị giám đốc bệ vệ tiến về cánh cửa kính mở sang một hành lang dài kết nối các phòng trong ban điều hành.
- Mời ông theo lối này, kia là phòng giám sát an ninh trực tuyến!
Bất chấp thân hình quá cỡ, vị giám đốc hoạt bát một cách hiếm thấy. Tác phong nhà binh dường như đang trỗi dậy trong mọi cơ bắp. Ông ta tiến lên mở cửa, một loạt trang thiết bị liên lạc điện tử và màn hình sáng loáng trong căn phòng lớn được thiết kế theo hình vòng cung hệt buồng lái của một chiến hạm. Phía ngoài bức tường kính hữu cơ dày là hoạt cảnh nhộn nhịp của một sân bay quốc tế về đêm. Nhưng đập vào mắt viên chỉ huy cảnh sát là một dãy màn hình khổ lớn đang đồng loạt nhảy múa trên tường.
- Phát lại toàn bộ camera giám sát cổng nhập cảnh quốc tế từ một tiếng về trước. – Vị giám đốc nhằm vào nhân viên mình nói to. - Cổng ra và sảnh đón xe công cộng cũng phải tua lại cho chúng tôi xem.
Thet Manet khá hài lòng với tác phong quân sự này, ông ta chia quân của mình về trước các màn hình đang bắt đầu phát lại. Không khí cực kì khẩn trương.
Chiếc màn hình cổng ra trước mặt Thet Manet bắt đầu quay lùi với tốc độ chóng mặt. Các hình ảnh cuồn cuộn rồi đột ngột hiện lên một đoàn người chen chúc đi ra. Các cảnh sát căng mắt cố nhận ra hai khuôn mặt mà interpol vừa “ đặt hàng’’ đêm nay.
- Thưa chỉ huy! Chúng đây. - Viên cảnh sát cuối phòng gọi giật giọng.
Thet Manet bước vội sang.
- Hắn ra cửa nhưng đã quay lại. - Viên cấp dưới reo lên. - Kìa, hắn đã múa vé đi tiếp?
- Chính nó! - Thet Manet hét lên. - Chúng mua vé đi đâu?
Vị giám đốc luôn bám theo Thet không rời nửa bước. Ông rút phắt bộ đàm nói rành rọt vào máy.
- Phòng vé và bộ phận check in kiểm tra ngay cho tôi.
Nhanh chóng đến đáng nể, chưa đầy một phút, máy điện đàm của vị giám đốc lại reo vang. Ông ta gắt vào máy.
- Giám đốc đây, nói đi!
Giọng nói đầu dây bên kia vang to đến nỗi cách đó mấy bước mà Thet nghe rõ mồn một như rót vào tai.
- Thưa giám đốc. Hai hành khách Cao Ki Phuong và Thi Nga Morierre vừa qua cổng số 7 để lên chuyến bay RK223 đi Siem Reap lúc 23 giờ 15 phút.
- Chết tiệt! – Vị giám đốc rít lên. - Cất cánh chưa?
Thet nhìn đồng hồ đeo tay rồi chồm tới vị giám đốc hét lớn.
- Hủy chuyến bay này ngay lập tức!
- Nhưng... – Vị giám đốc lắp bắp. - Có thể hắn chưa lên máy bay đó.
Thet nói như té tát vào vị giám đốc:
- Tôi biết có thể hắn đang đánh lạc hướng chúng ta. Hãy kiểm tra lại camera xem hắn đi đâu và nhất là kiểm tra hắn đã check in và qua cổng an ninh hay chưa? Nhưng bất luận hắn đang nấp ở đâu tôi cũng yêu cầu chiếc máy bay này không được cất cánh cho đến khi tôi chắc chắn hắn không có mặt trên đó!
- Thưa ông cảnh sát. – Vị giám đốc hạ bộ đàm khỏi tai rồi nói. – Tin nội bộ vừa cho hay, hai hành khách đó đã check in và hoàn tất khâu kiểm tra an ninh. Máy bay không thiếu một ai và đang di chuyển ra đường băng!
- Dừng ngay lại!
Thet Manet rút phắt khẩu Glook lên đạn rồi hét vào bộ đàm.
- Cổng số 7. Bao vây máy bay ngay lập tức!
Toán lính vũ trang rầm rậm lao ra ngoài. Vị giám đốc cuống quýt chạy về phòng mình để liên lạc cho trạm không lưu mặt đất đồng thời cho phát thông báo trấn an hành khách tránh náo loạn cục bộ. Hơn ai hết, vị cựu quân nhân này biết chặn một chiếc máy bay khi nó đang lao trên đường băng là vô cùng nguy hiểm.
Trong mấy năm gần đây luật an toàn hàng không thế giới đã thay đổi mau chóng. Việc kiểm tra hành khách trở nên nghiêm ngặt thái quá đã kéo theo nhiều phiền phức. Chỉ cần một câu đùa lỡ miệng bị phát giác là cả hệ thống khổng lồ phải khự lại để điều tra trên diện rộng hàng giờ đồng hồ. Tuy chỉ là hi hữu nhưng mỗi khi bị hủy chuyến, ban lãnh đạo sân bay sẽ phải đối mặt với vô số chỉ trích và kiện cáo từ các hãng hàng không lẫn hành khách. Là người nằm giữa hai luồng khách hàng này, ông luôn phải chịu thiệt thòi để thỏa hiệp và chính vì thế mà bộ máy của ông luôn căng lên quá sức để cầu toàn.
Đêm nay, vụ việc chả biết đến đâu nhưng chỉ huy cảnh sát đã đích thân yêu cầu thì không phải chuyện vừa. Ai chả muốn viên mãn, nhưng đã đến nước này thì ông đành mặc mẹ chuyện kinh doanh lại. Một mệnh lệnh vô cảm nhất được phát thẳng đến đài không lưu.
- Phát hiện nguy hiểm! Hủy ngay chuyến bay RK223 đi Siem Reap!
Bất chấp cả hệ thống đang tuân lệnh mình răm rắp, Thet Manet vẫn muốn các nghi phạm không có thời gian trở tay. Ông ta la hét inh ỏi vào máy bộ đàm.
- Cầu dẫn số 7! Chặn máy bay này ngay lập tức!
Toán cảnh sát mang đầy súng ống từ mọi ngả nhằm cổng an ninh gần nhất băng qua làm máy dò quét chất nổ và kim loại đồng loạt réo lên lộng óc. Trong nháy mắt, hàng trăm hành khách lẫn nhân viên chạy toán loạn như ong vỡ tổ. Thet Manet chạy sầm sầm đến cuối cầu dẫn rồi đứng khự lại trước vị trí chiếc máy bay đã trống không. Ông phóng thẳng tầm mắt và kịp nhìn thấy mảng trời đen kịt bị xé đôi bởi một vết sáng đang lao xiết lên không trung. Quá muộn. Viên đại úy tru lên một tiếng rồi quay phắt lại. Toán lính phía sau tõe ra nhường đường. Ông vừa dấn bước thì vị giám đốc ập đến, mồ hôi đầm đìa.
- Thưa cảnh sát... tôi sẽ cho máy bay quay lại... ngay bây giờ.
Thet biết rằng khi một chiếc máy bay phản lực đang tăng tốc trên đường băng là một mũi tên đã rời khỏi cung. Buộc nó dừng lại gần như không thể trừ phi phát hiện trục trặc kĩ thuật hoặc xảy ra cháy nổ. Nếu điều kinh khủng đó diễn ra, cơ trưởng sẽ kéo cần phanh rồi phó mặc cho khối sắt hàng chục tấn lao theo quán tính cho đến khi dừng lại hoặc đâm đầu và nổ tung. Trong các trường hợp còn lại máy bay phải thực hiện cú cất cánh rồi mới quay đầu hoặc hạ cánh khẩn cấp tại một sân bay gần nhất.
- Không cần quay lại nữa! - Thet nói.
- Thật sao?... vâng!
- Cứ để nguyên lộ trình của nó.
Máy bộ đàm reo vang, Thet bỏ mặc ông ta để nghe máy.
- Thưa chỉ huy, chúng tôi đã thu được cuộc gọi của người đàn ông đó trước khi lên máy bay.
- Đối tượng gọi cho ai, nói gì?
- Anh ta đặt khách sạn Royal tại Siem Reap, nhưng tôi nghĩ chúng đánh lạc hướng để đến trọ tại một nơi khác... ?
- Quên chuyện khách sạn đi! Báo cho cảnh sát Siem Reap bắt chúng ngay tại sân bay!
Vài phút sau, tốp xe của đại úy Thet Manet rầm rầm tiến vào quốc lộ 6 trực chỉ Sieamriep.
*
Thượng úy Sam đang nằm xem tivi tại nhà riêng trên phố Wat Bo thuộc thành phố Siem Reap thì có lệnh điều động khẩn cấp. Chưa đầy mười phút sau anh đã có mặt tại một nơi chán ngắt mà mình đang đảm chức đồn phó. Chỉnh trang quân khí trong vài phút, với tính cơ động của một đợn vị phản ứng nhanh, chưa đầy bảy phút sau nhóm cảnh sát cơ động đã có mặt trong khu vực sân bay Siem Reap.
Là người có trọng trách bảo vệ an toàn trật tự cho kinh đô du lịch mỗi ngày đón hàng ngàn lượt khách cả đường không lẫn đường bộ nhưng chưa bao giờ Sam lại đối mặt với một hiệu lệnh hỏa tốc như vậy. Không phàn nàn, thậm chí anh còn mong một cơ hội nào đó để nâng cấp chiếc quân hàm vốn èo uột của mình.
Nhiệm vụ không quá khó: “ khống chế nghi phạm ngay trong máy bay’’. Sam không có hồ sơ cũng như bất kì thông tin nào về hai đối tượng đó ngoài hai tấm ảnh. Việc khống chế ngay trong máy bay vô cùng nguy hiểm cho hành khách nếu đối phương chống trả. Lẽ ra để chúng tự ra ngoài một cự li an toàn rồi ra tay sẽ gọn hơn nhiều. Sam được biết là nghi phạm không mang theo chất nổ hay vũ khí nguy hiểm nào nhưng ai mà biết được khâu an ninh sân bay có đáng tin hay không. Tuy nhiên Sam không có lựa chọn, đây là kịch bản đã được duyệt ở cấp cao hơn và người chịu trách nhiệm chính không phải là anh.
Phương án khống chế chiếc máy bay khi nó vừa chạm đường băng được Sam phân công chớp nhoáng. Một dường dây nóng hình tam giác giữa Sam, Thet Manet và tổ bay chiếc Embraer đã được hình thành ngay sau khi nó cất cánh. Cơ trưởng và tổ tiếp viên nhận được lệnh phải điều khiển máy bay về cuối khu hang-ga của hãng ngay sau khi hạ cánh. Ở đó, lực lượng vây bắt đã mai phục sẵn và sẽ đảm trách hết mọi việc.
Mọi công đoạn được thực hiện kín kẽ và chu đáo đến nỗi không ai trong số 50 hành khách đánh hơi được chuyện gì bất thường cho đến khi tiếng loa trong máy bay vang lên: “ hành khách chú ý, chúng tôi thành thực xin lỗi vì xảy ra một trục trặc nhỏ nên quý vị chưa thể xuống ngay được mà hãy bình tĩnh ngồi yên tại chỗ của mình cho đến khi có thông báo mới’’.
Chiếc Embraer nặng hơn ba mươi tấn chạm nhẹ đường băng rồi xé gió lướt vèo vèo một quãng đường xa hơn thường ngày và chỉ dừng hẳn khi đến cuối một sân bê tông trống trải. Hai chiếc cam-nhông không biết từ đâu đã áp sát hai bên hông. Toán đặc nhiệm lăm le súng túa ra vây lấy chiếc máy bay. Đội trưởng Sam sắp phải thực hiện tình huống không hề giống các bài tập trước đó. Một thoáng trắc ẩn chợt thoáng qua đầu viên cảnh sát trẻ. Rút hai tấm ảnh nghi phạm ra xem lại lần nữa. Không giống một góa phụ áo đen, đôi tình nhân trẻ trung thế này không hiểu sao lại khước từ cuộc sống hưởng thụ để đâm đầu vào cảnh lao lí đến vậy. Tiếng loa lặp đi lặp lại chưa dứt thì từ hai đầu khoang xuất hiện hai tốp lính xộc vào. Một tiếng thét đanh gọn.
- Tất cả ngồi im, cảnh sát làm nhiệm vụ!
Thượng úy Sam mau lẹ xuất hiện ngay trước mặt hai nghi can ngồi số nghế 13A và 13B.
- Ngồi im, các vị đã bị bắt!
Bất ngờ, kinh hãi và hốt hoảng đã nhuốm xanh hai khuôn mặt. Họ cho tay vào còng mà miệng cứ há hốc. Tuy nhiên ngay lập tức Sam phát hiện có điều gì đó không ổn. Thậm chí rất tệ. Sau chưa đầy 45 phút trên không, đôi tình nhân trẻ đã biến thành một bà già và một đứa trẻ con.
 
 
Chương 21  
Trước đó vài chục phút, thay vì lên máy bay đi Siem Reap, Kì Phương bất ngờ dẫn Thi Nga đã đi ngược trở ra. Ra đến sảnh lớn, anh thấy đã có biến nên vội kéo cô chạy thẳng xuống tầng dưới để thoát ra ngoài. Họ rời sân bay khá xa rồi mới vẫy một chiếc taxi để đến gặp vua đồ cổ.
Do đoán trước điện thoại cầm tay bị nghe lén nên anh đã giả vờ đặt khách sạn. Cộng với cặp vé máy bay đã check in đi Siem Reap sẽ là phép “ kim thiền thoát xác’’ giúp anh đánh lạc hướng cảnh sát một cách ngoạn mục. Bây giờ anh mới nhận ra giáo sư Huỳnh Lẫm quá tỉnh đòn để ngầm giúp anh tránh cả trùm tội phạm lẫn cảnh sát. Ông ta thừa biết anh vô tội nên đã bất chấp tất cả để giúp anh tránh mọi phiền phức và nguy hiểm. Còn Thi Nga vẫn chưa hiểu điều gì đã diễn ra sau lưng cũng như cái gì đang chờ cô phía trước. Kì Phương quay sang nói.
- Yên tâm đi... Họ sẽ không rà quét Pnompenh cho đến khi chiếc máy bay kia hạ cánh.
- Nhưng tôi lại ước cho chiếc máy bay kia...
- Ước nó bị làm sao?
- ... Bay lạc sang Mỹ.
Kì Phương phì cười, anh đang lo cho cậu bé con liệu có được một chuyến du lịch trọn vẹn hay không. Dù sao hai cặp vé khứ hồi và một ít tiền anh cho sẽ mang lại cho cậu ta một trải nghiệm thú vị bổ ích ở khách sạn 5 sao hơn là một đêm ở khu ổ chuột rất nhiều.
Thi Nga tỏ ra hài lòng với sự tinh ranh và quyết đoán của anh bởi nó đã đưa cô thoát hiểm trong đường tơ kẽ tóc. Đúng là mình bị lừa. Nhưng cái lừa này dễ chịu hơn cái lừa vào nhà nghỉ hay bán cho động điếm nào đó ở Siem Reap nhiều lần.
Chiếc taxi lướt qua Hoàng cung rồi dừng lại cạnh quán Elly coffe mé bên tay trái của phố Sisowath ven sông. Cả hai mau lẹ tiến vào bên trong tránh những ánh mắt tăm tia của đám tuk-tuk ế khách bên vỉa hè. Vừa bước vào quán, mặc dù không gian mờ ảo nhưng Thi Nga vẫn nhận ra mọi cặp mắt đang dồn về phía mình. Kì Phương bắt đầu thấy sự bất lợi của việc đi cạnh người đẹp, nhất là khi có công cán thầm lặng mà phải hứng chịu soi mói thì chẳng hay ho gì. Đang đưa mắt tìm kiếm thì một người ngồi trong góc phòng vẫy tay.
- Anh là Kì phương? – y hất hàm hỏi.
- Vâng, anh là… Simha?
- Ngồi đi! – Y trịch thượng chỉ tay hàng ghế đối diện.
- Rất may được gặp anh. - Kì Phương lại gần và cất tiếng. - Thú thực tôi cứ nghĩ sẽ không bao giờ có thể gặp lại được anh nữa.
Kì Phương đưa tay ra bắt nhưng y đã nắm lấy bàn tay Thi Nga mà không màng đến lời xã giao mà y nghe nhàm tai từ những kẻ kém phẩm giá hơn. Tuy đã bắt tay Kì Phương nhưng mắt y vẫn để quên đâu đó trên người Thi Nga. Kì Phương cảm tưởng nếu như sểnh tay ra, y sẽ lao vào ăn tươi nuốt sống cô mất. Mắt vẫn không rời người đẹp, y nhếch mép hỏi Kì Phương.
- Anh mang yoni sang cho tôi phải không?
Cả Kì Phương và Thi Nga chết lặng trước câu hỏi lỗ mãng của y. Mặt y vẫn trơ như đá, nhận ra sự lúng túng của họ, y nói:
- Xin lỗi... mong cô đừng cả nghĩ. Ý tôi là... thôi, ta sẽ nói sau. - Y đẩy tờ thực đơn rồi nói. - Cô tự gọi đồ uống nhé.
Thi Nga cụt hứng ngay từ đầu, mặt cô đỏ tía không biết vì giận hay vì ngượng nữa. Giờ thì cô dám khẳng định Kì Phương đã chụp ảnh cô kèm theo lời chào hàng nào đó với y mà cô không biết. Thấy cô mắc cỡ, Simha miễn cưỡng quay sang Kì Phương nói chỉ đủ anh nghe:
- Cái ấy... giá bao nhiêu?
Kì Phương ngẩn tò te rồi sực nhớ ra mẩu tin anh viết vội sẽ mang bán cho y một cổ vật Champa. Chắc y tưởng đó là một yoni cổ. Anh mỉm cười nói:
- Bình tĩnh, ta làm quen nhau đã.
- Nãy giờ tôi ngồi ngắm anh. Xin lỗi, tôi thấy anh hơi quen quen.
- Chứ không phải ngắm cô này chứ? - Kì Phương nheo mắt chỉ sang Thi Nga .
- Bà xã anh? Ôi, xin lỗi, cô ấy đẹp hơn cả vũ nữ Apsara mà tôi biết.
- À không, bạn thôi, tôi chưa có vợ.
- Chưa vợ?
- Đúng vậy mà.
Y không hỏi gì thêm nhưng vẫn nhìn Kì Phương với ánh mắt rất lạ. Ánh mắt của kẻ có vợ nhìn kẻ chưa vợ.
- Anh vẫn chưa trả lời câu hỏi của tôi. - Y tiếp. - Hình như chúng ta đã gặp nhau ở đâu đó. Nếu không nhầm, anh là một... gã bảo vệ?
Kì Phương ngẩn người ra vài giây rồi bật cười.
- Phải rồi. Anh có trí nhớ rất tốt.
Thực ra danh xưng “ bảo vệ’’ là do anh tự nhận. Cách đây độ chín năm, nếu ai đó đến bảo tàng điêu khắc Chăm Đà Nẵng đều thấy một thanh niên ăn mặc nhếch nhác tóc tai bù xù luôn cắm mặt trước cái bản vẽ. Đó chính là Kì Phương. Hồi đó, công việc không nhiều nên Kì Phương dành phần lớn thời gian ngồi vẽ tượng đến nỗi mấy người bảo vệ nhờ anh trông coi hộ. Mỗi khi có du khách táy máy anh lại xông ra nhận mình là “ bảo vệ’’ để can thiệp. Simha gặp Kì Phương đúng dịp đó khi Vua đồ cổ đang định “ nhấc thử’’ một pho tượng.
- Hóa ra anh là gã bảo vệ bảo tàng? - Simha nhớ lại.
Kì Phương đọc được trong mắt Simha một chút cả khinh lẫn thất vọng.
- Vâng, lần đó tôi hiểu nhầm anh là một... - Kì Phương định nói là “ tên ăn cắp’’ nhưng anh kìm lại được. Anh nói tiếp:
- Sau lần gặp anh, tôi cũng muốn chuyển nghề như anh.
Simha nhìn trân trân vào khuôn mặt vẻ trí thức nửa mùa kia, rồi lại nhìn cái balô cộm lên trên đùi anh. Y hỏi:
- Và anh đã chuyển nghề thật?
Hồi đó y biết Kì Phương chỉ là chân lăng quăng nhưng lại khá thân với nhiều nhà khảo cổ nên có điều kiện moi thông tin nên y đã chủ động làm quen. Tình bạn đó không hề tiến triển. Simha liếc nhìn khuôn mặt phờ phạc lẫn bộ đồ nhếch nhác của Kì Phương rồi hỏi:
- Đã lên chức giám đốc chưa? hay vẫn là... bảo vệ?
- Vẫn làm bảo vệ, nhưng bị giáng cấp vào Mỹ Sơn làm chân gác rừng rồi. Chính vì thế mà tôi đã lùng được đặc sản cho anh đây.
Kì Phương trịnh trọng đặt ba lô lên bàn rồi lấy cuốn sách ra. Simha không buồn nhìn và nói.
- Vậy mà tôi cứ tưởng anh mang hiện vật cơ đấy.
- Cứ xem ảnh đã, biết anh thích cái nào đâu mà mang sẵn. Đây là bộ ảnh cổ vật chụp từ một kho báu rất lớn chưa được khai phá.
- Catalog chào hàng chắc? Đưa tôi xem.
Kì Phương tưởng hắn không màng để ý, ai dè vừa cầm lên là y vục mặt vào xem ngấu nghiến. Anh biết mình đã tìm đúng đĩa cá rán để nhử con mèo già. Có hai loại người tâm thái trái ngược nhau nhưng lại mê đồ cổ như nhau, đó là nhà khảo cổ và kẻ săn đồ cổ. Ai đam mê hơn ai thì chỉ có trời biết.
Không như Kì Phương thường ưu tiên xem các bức ảnh có tính thẩm mỹ cao, y chỉ đăm đăm xem các pho tượng quý và những tấm phù điêu dát vàng - loại có thể cạo ra đem bán. Còn tường đá chạm khắc, cánh cổng kì lạ hay các kết cấu kiến trúc hoành tráng với y đều vô nghĩa. May mà tài liệu này có đủ mọi thứ. Mắt không rời cuốn sách.
- Kho đồ cổ này ở đâu?
- Đây là bên trong một thánh địa ngầm có tên là Naga.
Simha dứt mắt khỏi trang giấy nhìn phắt lên Kì Phương.
- Naga? anh không nói nhầm đấy chứ?
- Nhầm thế nào được, anh hãy xem lại trang bìa đi.
Simha úp sập trang bìa, vừa thấy hắn đã thả ngay xuống như một hòn than, mặt biến sắc.
- Sao vậy! - Kì Phương kinh ngạc hỏi. - Anh biết thánh địa này phải không?
- Không! cất nó đi, cất ngay!
Simha xua cuốn sách như xua hủi, mắt lấm lét nhìn quanh như sợ ai thấy. Kì Phương nhất thời không hiểu lí do nhưng cũng cho ngay sách vào túi. Anh mừng thầm trong bụng vì có thể y đã biết thánh địa này ở đâu.
- Anh biết, đúng không? Làm ơn giúp chúng tôi đi. - Thi Nga đột nhiên tha thiết van xin y.
- Không, tôi không biết. - y nhỏ giọng, mắt đảo quanh lần nữa rồi thì thào qua kẽ răng. - Đây là sào huyệt của hội kín Naga!
- Hội kín Naga? - Kì Phương ngơ ngác. - Nó là của ai, sào huyệt ở đâu?
- Đây là một hội tà giáo giàu có và khét tiếng man rợ nhất trong lịch sử Khmer. Mà các người đào đâu ra tập tài liệu chết người này?
- Căn cứ vào đâu mà anh biết đây là sào huyệt của hội Naga? – Anh hỏi. - Tôi chưa bao giờ nghe đến Hội này cả.
Simha nhìn anh cười nhạt:
- Một kẻ suốt ngày cắm mặt vào đá thì làm sao biết được bí ẩn tại một quốc gia khác cơ chứ. Ngay cả người Khmer thông thái nhất vẫn mù mờ và chưa dám hé răng về nó. Nghe đây! - Ythấp giọng nhưng tiếng rít vẫn luồn thẳng vào tai Kì Phương. - Naga là một giáo phái li khai khỏi tôn giáo Bàlamon chính thống vốn chỉ dành cho giới thượng lưu quý tộc Angkor từ cuối thế kỉ 12. Đây là một câu chuyện dài nhuốm máu của bao nhiêu nhà tiên phong muốn tìm hiểu về nó. Các người thật to gan, mang hết tài liệu của chúng trong tay lại còn dám xông vào hang ổ của chúng.
Kì Phương và Thi Nga co rúm người lại. Quả thực Kì Phương không ngờ một thánh địa quy mô đồ sộ với vô số báu vật như vậy lại thuộc về một giáo phái li khai trung cổ. Với một cơ sở vật chất khủng khiếp như vậy, anh đoán rằng hội kín này có sức mạnh và quyền lực vô song. Vậy mà bấy lâu nay anh chưa được biết. Nếu đúng như Simha trù úm thì anh cũng phải tìm hiểu cặn kẽ trước khi dẫn xác vào đó. Cái chết thê thảm của Paul chưa đủ làm anh chùn bước thì những lời đe dọa của Simha đã làm cho anh co vòi thực sự.
- Hội Naga này còn sống hay không? - Kì Phương hỏi.
- Không biết. – Y lắc đầu.
- Thôi được, tôi sẽ tự tìm hiểu lấy.
- Quay về đi! - Simha thì thào. - Đây không phải là chỗ dành cho các người.
Thi Nga gần như dị ứng với từ “ quay về’’. Cô chưa tận mắt thấy cái chết ba mẹ nên chẳng biết sợ là gì. Đúng là “ chưa thấy quan tài chưa đổ lệ’’. Đã thế, cô tin rằng ba cô đang ở Naga chờ cô. Từ khi gặp Simha, cô biết y chỉ quan tâm đến cổ vật và tiền. Cách ăn nói của Kì Phương càng làm y hiểu nhầm anh cũng đang đi săn cổ vật và chính vì thế mà y hù dọa để làm Kì Phương nhụt chí. Dù sao qua thái độ và cách ứng xử của y đã làm cô tin rằng y biết nhiều thứ về Naga. Bằng lợi thế riêng của phái nữ, cô quyết khuất phục y:
- Chúng tôi lặn lội đêm hôm đến đây để hợp tác với anh. Chúng tôi không cần của cải trong đó mà chỉ cần đến đó để tìm ba tôi. Nếu ông biết nó ở đâu thì làm ơn đi.
- Ba cô? – Y tròn vo mắt. – Ba cô là ai? Ông ta đang ở Naga? Hay ba cô là thành viên của hội kín ấy?
Lần đầu tiên từ khi gặp nhau, y nhìn Thi Nga với cặp mắt đầy thảng thốt và sợ sệt. Thấy Thi Nga đi quá xa, Kì Phương đá nhẹ chân cô. Thi Nga vội lắp bắp:
- Tôi không biết nữa... anh hãy giúp tôi tìm Naga...
Y nhìn sang Kì Phương, anh thấy mắt y đang vằn lên ánh đỏ. Trong ánh sáng lờ nhờ, y nhấp nhổm trước mắt họ như một con hổ sắp vồ mồi.
- Thành thực tôi chưa hiểu ý đồ của các người. - Y nghiêm khắc. - Lúc đầu các vị bắn tin mang cổ vật cho tôi. Hóa ra đó chỉ là mớ giấy loại mà chính các người cũng chả biết là gì. Và giờ đây các vị đã lộ mặt là những kẻ moi thông tin. Tóm lại, các người muốn gì?
- Tôi xin lỗi vì làm anh hiểu nhầm. - Kì Phương xuống giọng. – Trong tin nhắn tôi buộc phải viết vậy để gây chú ý với anh, nếu không anh đã xóa mất. Thực tình chúng tôi đang đi tìm Naga và biết rằng trên đất Campuchia này chỉ có anh là có khả năng làm việc đó. Chúng tôi cũng đang nắm nhiều thông tin cốt tử về Naga. Nếu chúng ta cùng bắt tay hợp tác chắc chắn sẽ tìm được kho báu này nhưng tôi nhắc lại: chúng tôi chỉ cần tìm Naga chứ không cần dù một cục đất trong đó.
Simha nghe xong liền thở ra. Y như quả bóng căng phình đã xẹp đi đôi chút. Vốn là một kẻ lọc lõi trên thường trường lẫn giới giang hồ, y ít khi nhìn nhầm người và biết nên tin bao nhiêu phần trăm lời nói của đối tác. Châm tẩu rồi rít nhẹ một hơi, y nói:
- Thôi được. Tôi tạm tin lời các người, nhưng cho tôi được phép nghi ngờ về tập tài liệu đó. Nó là của ai? và tại sao lại nằm trong túi các người?
Kì Phương vội hỏi lại hắn:
- Anh biết chuyến khai quật thánh địa Naga của Chính phủ Campuchia do nhà khảo cổ Paul Morierre chủ trì vào sáng ngày mai hay chưa?
- Biết chứ! - Mặt y dáo dác rồi đột nhiên y thì thào vẻ quan trọng. - Các tấm áp phích quảng bá của họ toàn là gạch đá mà không hề thấy cổ vật nào đáng nhìn nên ta đếch quan tâm. Khi nhìn cuốn sách của anh tôi giật mình bởi chỉ có hội Naga mới sở hữu những bức tượng đắt giá đó. Không lẽ... Chính phủ đã giấu nhẹm hết các ảnh quý đó sao?
- Tôi không biết Chính phủ anh trình áp phích nào. Nhưng theo suy nghĩ của tôi, có lẽ họ cố tình giấu các bức ảnh tượng vàng kia là sợ đánh thức lòng tham vô đáy của bọn săn trộm.
Y gật gù:
- Dân gian đồn đại Naga sở hữu cả một hang núi đầy ắp tượng vàng lan truyền đời này sang đời khác. Không ai thấy được nên chưa ai tin và chỉ nghĩ đó là truyền thuyết. Khi Chính phủ trưng bày tôi không thấy vàng bạc đâu nên bỏ qua. Lúc nãy anh đưa cuốn sách Naga kia tôi đã thực sự giật mình kinh ngạc. Giờ thì tôi tin kho báu đó có thật. – Y lại gằn giọng. - Nhưng tôi tin, không có nghĩa là tôi sẽ liều chết để đến đó.
Kì Phương ngờ ngợ mình đang thuyết phục một hòn đá. Anh nghĩ tay này đã biết tất cả nhưng muốn từ chối hợp tác, hoặc y cũng muốn hợp tác nhưng chưa tin anh nên đang đóng kịch để thăm dò. Ngay cả y sợ những bức ảnh của anh đã biểu lộ một diễn xuất tồi. Kì Phương đang nghĩ nên tiếp tục thuyết phục y hay là bỏ đi cho đỡ mất thời gian thì y bỗng quắc mắt nhìn anh.
- Hóa ra, các người đến để rủ rê ta cướp kho báu Naga và hớt tay trên của Chính phủ ta?
- Không, không phải như vậy. - Kì Phương bối rối thanh minh. - Vì người chủ trì khai quật thánh địa đã vắng mặt nên buổi lễ ngày mai đã bị hủy và Chính phủ không bao giờ thực hiện được nữa.
- Hủy? Anh dám chắc?
- Chắc.
Y dập tẩu rồi rút chiếc MobiFox J5 bỏ đi gọi cho ai đó. Một hồi sau quay lại nhìn Kì Phương với ánh mắt đề phòng:
- Đúng, nhưng đây là tin nội bộ của Chính phủ chúng tôi, sao anh biết?
- Chúng tôi có tin mật báo. - Kì Phương ra vẻ bí mật.
Đôi mắt cú vọ của y nới to thêm nấc nữa. Y chỉ ba lô của Kì Phương dưới gầm bàn rồi cất giọng đầy nghi hoặc.
- Chưa khai quật, mà các người đã có hết ruột gan thế này. Các người vẫn vòng vo không chịu trả lời thẳng cho ta. – Y định gắt lên nhưng đã ghìm lại. - Tập tài liệu kia từ đâu ra?
Kì Phương kéo ghế ngồi sát y rồi cũng đảo mắt nhìn quanh làm ra vẻ quan trọng:
- Đây là công trình thế kỉ của Paul, rất tiếc là Ngài chưa kịp thực thi thì đã xảy ra chuyện không may.
- Tại sao các người lại biết?
- Trước khi mất tích, Paul đã trao lại cho chúng tôi tiếp tục thám hiểm kho báu.
Simha nhìn Kì Phương không thèm giấu sự mỉa mai.
- Sao cơ? Nhà khảo cổ lừng danh Paul giao phó sự mệnh lịch sử này cho một... tên gác rừng sao?
- Đúng thế đấy. - Thi Nga xen vào. - Trong lúc vội vã nên ông ta không tìm được ai giỏi hơn, chính vì lẽ đó nên chúng tôi mới phải cầu viện đến anh. Chúng ta không nên mất thời gian chất vấn nhau. Anh không phải thiệt khi giúp chúng tôi đâu.
- Tôi chưa tin. – Y lắc đầu. - Các người đã cướp tài liệu này của Paul phải không? Các người tưởng rằng lấy được tài liệu của ông ta là thừa sức phỉnh dụ kẻ khác ư?
- Không phải thế. - Kì Phương nói. - Paul đã mất tích, còn tài liệu này là ông ta để lại chứ không phải là chúng tôi cướp.
- Mất tích thật hay mất tích giả? Coi chừng trúng bẫy lão ta.
Nghe y nói “ mất tích giả’’ Thi Nga định phản ứng nhưng Kì Phương đá nhẹ vào chân cô. Nhấp một ngụm sinh tố lạnh ngắt, mắt cô nhìn kĩ khuôn mặt khinh khỉnh với lối ăn nói thô lỗ đã gây cho cô không ít tổn thương.
- Paul bẫy ai? - Kì Phương vặn lại. - Anh không nên xúc xỉa chuyện buồn của ông ấy.
- Bẫy nhà chức trách. Bộ Du lịch chúng tôi bị ông ta cho leo cây đang lồng lộn lên kia kìa. - Y cười hềnh hệch. - Ông ta đang chơi trò “ dương đông kích tây’’ bày trò hội thảo họp báo để hút công chúng rồi âm thầm cùng một vài kẻ thân tín khoắng sạch kho báu.
- Không đúng! – Kì Phương bác bỏ. - Nếu có ý đồ lấy kho báu, Paul không dại gì đánh trống khua chiêng đình đám như vậy cả.
- Anh ngây thơ lắm! đánh trống khua chiêng là một cách phát tín hiệu liên lạc với đồng bọn. Hội Naga trước đây thường tổ chức các nghi lễ thờ cúng công khai để phát thông điệp bí mật đến các thành viên đang ẩn dật khắp nơi trên thế giới về quy tập tại một vị trí nào đó mà chỉ có họ mới biết.
- Vậy ý anh muốn nói Paul là thành viên hay giáo chủ của hội Naga?
- Không có gì là chắc chắn. - Y lạnh lùng đáp. - Các người đừng hi vọng tìm Naga trừ phi phải cùng hội hoặc giải mã được thông điệp của họ, điều mà triều đình hay các nhà thám hiểm trong mấy trăm năm qua chưa bao giờ làm được. Sự bất lực của Chính phủ lúc này tỏ rõ điều đó.
Kì Phương thầm cho rằng óc hắn đặc thuyết âm mưu. Cha này hợp mình đây. Có lí. Cho đến lúc này Kì Phương vẫn băn khăn có phải chữ Chăm cổ hay bảng kí hiệu kia là để dành cho các thành viên của hội kín này hay không. Dù gì thì y quy kết Paul có âm mưu lừa đảo để chiếm kho báu là vừa hồ đồ vừa phi lí.
- Anh quá lắm rồi đấy. - Thi Nga bất ngờ chỉ vào mặt y. - Anh không được nghĩ về một người liêm khiết có công trạng cho đất nước này như vậy. Sau bao nhiêu năm tái tạo cho Angkor Wat, ông ta được gì ngoài hai bàn tay trắng?
Simha giấu nhanh một nụ cười khẩy. Không thèm dây, y xòe ngửa hai bàn tay ra bộ không có gì để nói nữa. Y càng không lường trước là cô gái xinh đẹp này lại chanh chua đến vậy. Kì Phương biết mình cần phải dàn hòa ngay, anh không muốn cuộc gặp quý hóa này sẽ đổ bể trong khi còn nhiều thứ phải nhờ đến y. Nếu y không biết Naga thì kho sách cổ nhà y sẽ giúp anh.
- Anh nói đúng. - Kì Phương nhẹ giọng. - Tuy là chốn thân cận với Paul nhưng chúng tôi bất lực khi gánh vác trách nhiệm của ông ta giao phó. Nhưng anh cho rằng Paul muốn chiếm dụng kho báu là hơi suy diễn.
- Cứ chờ xem, đảm bảo sau khi vét xong của cải, ông ta sẽ thất thểu trở về rồi thêu dệt các câu truyện cổ tích về bắt cóc. Khi thiên hạ lắng quên sẽ là lúc ông ta và gia quyến thỏa thê hưởng thụ.
- Im đi! - Thi Nga vụt đứng lên. - Anh không được xúc phạm ba tôi!
- Ba cô?... - Y giật nảy như bị chích điện. - Nhà khảo cổ Paul là... ba cô?
Hoảng hồn nhận ra xung quanh có nhiều cặp mắt dồn tới nên y vội nén xuống.
- Xin lỗi. - Y lắp bắp. - Thành thực tôi không biết Paul là ba cô.
- Anh hãy nhìn mặt tôi đây này. - Thi Nga nhỏ giọng nhưng đầy thổn thức. - Và đây nữa, ba tôi đã bị bắt cóc đến mức bỏ lại hộ chiếu đây này. - Cô đặt hai cuốn hộ chiếu lên bàn. – Ba con tôi đây, so sánh đi!
Simha trân trối nhìn khuôn mặt đỏ hồng đang lăn xuống hai giọt nước. Không cần xem mấy loại giấy tờ vặt vãnh, y có biệt tài xem tướng. Mà chả cần đến tử vi, sắc đẹp đã nói lên tất cả. Nàng là một tuyệt phẩm. Thần tạo hóa đã tài tình biết bao khi pha ánh mắt đằm thắm đến da diết của mỹ nhân Champa trên phông nền phổng phao đài các của nàng Eva. Lai tây mà. Y chép lưỡi.
- Tại sao các người không nói với tôi ngay từ đầu, Paul cũng là chỗ thân quen của tôi. Tôi thật thất lễ với các bạn...
Simha không ngừng rối rít ăn năn. Nếu không có cái bàn chắn ngang trước mặt chắc y đã quỳ phục dưới chân nàng.
- Bây giờ thì anh tin tập tài liệu kia là của Paul trao cho tôi rồi chứ? - Kì Phương hất hàm.
Ánh mắt ngạo mạn mà hắn dành cho Kì Phương từ đầu nay đã vơi đi phân nửa, tuy vẫn còn, chêm vào đó là cái nhìn nể nang.
- Tôi là một kẻ hồ đồ. Nhưng hai vị yên tâm, rồi các vị sẽ hiểu tôi cũng có một trái tim và lòng nhiệt huyết như bất cứ ai. Tốt lắm, tìm Naga là trách nhiệm chung của chúng ta. Tôi sẽ hết lòng giúp đỡ hai bạn. - Y nhìn chiếc đồng hồ Omega trên tay rồi giục. – Dở hơi thật. Bàn chuyện cơ mật nơi công cộng thật không nên chút nào. Tôi xin mạo muội mời hai người về nhà tôi. Rất nhiều tư liệu khảo cổ về đế chế Angkor và Champa mà tôi cũng chưa xem hết. Hi vọng các bạn không bõ công tìm đến tôi. Nào, xin đứng lên!
Phía bên ngoài, chiếc SUV hiệu Porsche đang chờ sẵn trước cổng. Trước khi lên xe, Kì Phương kín đáo dơ ngón cái khích lệ Thi Nga. Chúng ta đã tròng thòng lọng vào cổ hắn. Một phút sau, chiếc siêu xe đời mới xé tan bóng đêm lao về phía tây thành phố.
 
 
Chương 22  
Cách đó không xa, bất chấp tiết trời Pnompenh oi nồng về đêm, một bầu không khí mát rượi dưới vòm trời xanh ngắt có mây trắng bồng bềnh là một dàn casino dành cho VIP. Sau chuyến công tác hai ngày bên Việt Nam không mang lại kết quả nào, Mou chọn casino làm nơi giải sầu. Mà bất kể vui hay buồn, hễ giờ công sở là anh ta chỉ biết dạt vào đây.
Mou cởi áo veston và tháo cravat treo vào thành ghế, những gì còn lại của một gã công chức đều tạm gác sau lưng. Ngửng lên vòm trời nhân tạo trong veo, anh ta hít một hơi đầy vẻ khoan khoái rồi cúi xuống nhìn đôi bàn tay mượt mà đang làm xiếc của cô em sòng bài. Khi đang tập trung cao độ xem các quân bài sắp lật lên thì một bàn tay vỗ nhẹ sau lưng, anh ta giật mình quay lại. Một khuôn mặt nghiêm trọng dưới mái tóc xoăn hiện ra.
- Ơ kìa sếp! - Mou reo lên. - Sao biết em ở đây?
- Mày... đi ra đây.
Không để Mou chơi nốt ván, ông ta lôi Mou ra cửa. Họ kéo nhau vào một quầy bar trong cùng một tổ hợp giải trí này mà Mou là khách ruột.
- Sếp sang lúc nào mà không báo em trước?
- Ngoài cờ bạc, mày có quan tâm đến gì đâu.
Mou nhìn xuống chiếc vali sắt nặng trĩu của đàn anh họ Phú rồi nói.
- Không ngờ sếp sang viện trợ đúng lúc thằng em đang cần?
Phú Thành Tài gạt nhẹ chiếc vali sang một bên rồi nhìn vào mắt hắn nói:
- Từ từ đâu sẽ có đó. Mày có lịch trình chi tiết và tài liệu của Paul về chuyến du khảo chứ?
Mou tròn xoe mắt không phải ngạc nhiên mà vì lo ngại.
- Tin nội bộ của cơ quan tôi. Sao anh biết?
- Chuyện dài lắm. Tao đêm hôm lặn lội đến đây là vì vụ này.
- Vụ ấy hủy rồi, việc gì mà anh sang vội vã thế?
- Ngạc nhiên à. Tao không ngờ trong lúc nước sôi lửa bỏng này mà mày vẫn vục đầu vào cờ bạc lấy được. Tìm cách kiếm chác vụ này đi.
- Paul chết, còn màu mè gì nữa đâu mà kiếm?
- Lão chết nên ta mới có cái mà kiếm, cơ hội đấy, ngu lắm.
- Sếp có diệu kế gì chắc?
Mou là bạn học của Phú Thành Tài khi còn nghiên cứu sinh tại Kuala Lumper, họ chung phòng, chung lớp và chung cả những chuyến ap-phe xuyên biên giới. Người bạn Việt Nam quả là đàn anh của Mou khi ông giúp hắn không những trang trải học phí mà cả những chi tiêu phè phỡn nơi đất khách. Khi về nước làm phó chánh văn phòng Bộ Du lịch, mối quan hệ của họ tuy có lạnh nhạt hơn nhưng mỗi khi cần đến nhau, họ vẫn là những cặp bài trùng đầy lợi hại.
- Mày đưa hết cho tao, mọi tranh ảnh, giờ giấc lịch trình, danh sách các thành viên, phương tiện và chi tiết chuyến du khảo, quan trọng nhất là các tài liệu mà Paul đã chuyển cho Bộ Du lịch.
- Không có bản đồ, mấy thứ kia là giấy lộn!
- Kệ tao. - Phú Thành Tài gắt.
- Nhưng đây là bí mật của Bộ, em không dám. - Mou ấp úng. - Sau khi Paul chết họ lại càng đề phòng hơn đấy.
Bây giờ Phú Thành Tài mới dùng đến chiếc vali để ngỏ trên bàn. Ông rút ra một cọc tiền xanh rồi đặt trước mặt hắn.
- Đủ chưa?
Mou nhìn đàn anh với con mắt cảm kích nhưng vẫn còn nghi ngại.
- Nếu vụ này bị lộ, em chỉ có nước đi bóc lịch.
Lại một cọc nữa được rút ra. Phú Thành Tài dằn mạnh xuống bàn rồi nói.
- Đây mới chỉ là chi phí bôi trơn. Xong vụ, chú mày sẽ được hưởng số tiền mà trong cuộc đời phóng túng của chú mày cũng chưa bao giờ dám nghĩ tới đâu, hiểu chưa?
- Sếp yên tâm... - Hắn nhét hai cọc tiền vào túi quần rồi đẩy chai chai X. O về trước mặt Phú Thành Tài:
- Sếp cứ làm vài li đợi em ở đây.
Nói xong, hắn mất hút.
 
 
Chương 23  
Phía bên kia hồ Pumpeay, chiếc Porsche giảm tốc rồi lướt nhè nhẹ trên còn đường nhựa mới rải phẳng lì ven theo sân golf Grand Pnompenh hướng xuống phía nam. Trước ánh pha sáng trắng là khu ngoại ô dày đặc ao hồ lấp lánh nằm trải đều bên mạn nam con sông Tonle Sap phù sa màu mỡ. Thi Nga ấn nút cho tấm kính trôi xuống, một làn gió mát rượi ùa vào ngập khoang xe. Chiếc Porsche chạy thêm vài cua nữa rồi đỗ bên ngoài một khu vườn rộng.
- Đã đến nhà, mời hai vị xuống xe. - Simha nói.
Một ngôi biệt thự đồ sộ màu trắng mang dáng dấp tân cổ điển hiện ra dưới ánh trăng. Kì Phương ngỡ như đang đứng trước điện Capiton khi thấy một vòm cầu màu bạc nhô cao trên một khối vuông bề thế. Lại gần, ý đồ mô phỏng đền Taj Mahal Ấn Độ lộ ra trên những mảng hoa văn kỉ hà theo kiểu đạo Hồi lượn quanh các cung vòm đầy tính khởi phá. Gần hơn nữa, nó chẳng giống cái gì hết. Là một trọc phú, vị chủ nhân thừa tiền này có thể sao chép rồi chắp vá các kiệt tác trên thế giới làm con đẻ của mình mà không cần ngượng ngập.
- Anh thấy thế nào? - Y chỉ ngôi nhà đầy vẻ hãnh diện.
- Rất tuyệt! – Thi Nga đáp thay Kì Phương.
- Những ai đến đây lần đầu đều không muốn ra về nữa. – y nói – Hi vọng cô em không phải là ngoại lệ.
- Đến nhà anh giờ này, liệu có làm phiền chị ấy không? – Thi Nga thăm dò.
- Không không. Nhà tôi độc mỗi linga thôi mà.
Thi Nga cụt hứng, cô đi chậm lại chờ Kì Phương đang ngó nghiêng đằng sau. Viên kiến trúc sư này thấy đẹp nhất ở đây có lẽ là chiếc sân rộng lát đá hoa cương màu đỏ sẫm tràn ngập ánh trăng khuya. Nếu các bậc thềm cao quá đầu kia được dùng làm khán đài thì khoảng sân hình cánh cung phía trước này sẽ giống một đấu trường La Mã cổ đại. Simha dẫn họ đi tiếp, không gian trở nên nghiêm cẩn khi nằm dưới sự áp chế của đôi sử tử đá khổng lồ đang nhe hàm răng nhọn hoắt trước cửa. Simha ấn chuông, một ông lão trạc 70 hé cửa. Thi Nga ngỡ như mình sắp bước vào tòa Bạch cung nhưng vừa bước vào cô đã bị đẩy vèo vào một lâu đài cổ tận Nam Âu.
Tuy sùng bái Ấn giáo nhưng y luôn biết làm hài lòng các khách hàng Tây phương bằng các pho tượng thần Olympia bằng đá cẩm thạch dựng khắp lối vào. Trên tường, y khoe mẽ đẳng cấp bằng các bức ảnh chụp chung với vợ chồng Quốc vương, với minh tinh màn ảnh Angelina Jolie khi nàng về đóng bộ phim “ những ngôi mộ cổ’’.
Thi Nga tuy không mặn mà với lối kiến trúc đầu Ngô mình Sở này nhưng lại choáng ngợp với sự xa hoa lộng lẫy mà ngay cả những người bạn giàu có của cô bên Tây cũng không có. Tuy sống vương giả nhưng với sự nhạy cảm của mình cô vẫn nhận ra có gì đó rất thảm. Trong khi Thi Nga tỏ ra thờ ơ thì Kì Phương mải mê ngắm nghía rồi lấy máy ra chụp lia lịa. Vào sâu bên trong Thi Nga nhận ra một người đàn ông nữa đang ngồi bất động trên ghế bố mà suýt nữa cô tưởng nhầm là pho tượng.
- Đây là bố đẻ của tôi. - Y nói khẽ, vẻ mặt không hãnh diện gì cho lắm.
Thi Nga chào nhưng ông ta vẫn bất động.
- Các ông bà dùng chè, cà phê hay là rượu? - Giọng khàn đặc của ông lão giúp việc vang lên.
- Người Pháp và Việt thích cà phê nhất! – Simha trả lời thay cho khách. - Khóa cửa ngoài cẩn thận. Có động tĩnh gì hãy nhấn chuông cho tôi.
- Dạ, thưa cậu chủ.
Phòng khách mở ra, ở đây mới là trung tâm khoe sự sành điệu. Nếu như phòng sảnh là món khai vị thì đây mới là món lẩu thập cẩm chính thức. Thấy cái gì Kì Phương cũng dúi mũi vào đến nỗi y cứ tưởng anh lấy cớ bán đồ cổ để ăn cắp ý tưởng kiến trúc trong khi bản thiết kế lâu đài này vốn là một sản phẩm ăn cắp.
- Anh nên ngó qua dàn xe. - Y chỉ về sân sau.
Vốn là người mê tốc độ, nhìn ra dàn siêu xe mới đập hộp, Kì Phương đi nhanh ra xem và chỉ biết thốt lên một tiếng sững sờ.
- Tuyệt! giá con này là bao nhiêu? - Anh chỉ chiếc Lamborghini Murcielago màu xanh.
- Năm ngoái hơn triệu đô. - Y phả khói cười khổ sở. - Năm nay giá rớt thảm lắm.
- Thế còn con này? – Kì Phương chỉ một chiếc Roll Royce.
- Giá của con này bằng một tượng Vishnu bằng bạc thế kỉ III nếu được bán đúng chỗ.
Kì Phương trố mắt sau câu nói tỉnh bơ. Y cười đầy ẩn ý rồi chỉ tay sang chiếc Bentley mui trần.
- Còn chiếc này tôi vừa đổi ngang một con bò!
- Một con bò? - Kì Phương không tin vào tai mình. Nhưng chỉ sau một giây anh đã hiểu ra đây là tượng bò thần nandin - vật cưỡi của thần Siva. Và như vậy thì con bò này có giá không kém người cưỡi là bao. Khi Kì Phương đưa mắt sang chiếc xe lạ mang hiệu Koenigsegg Agera S chưa kịp gắn biển thì y lại hỏi trước.
- Các đại gia Việt đã ai có con này chưa?
Thấy Kì Phương lắc đầu ngơ ngác, y cười hềnh hệch.
- Biết ngay mà, châu Á này chưa thể có chiếc thứ hai. Con này tôi vừa đổi ngang một nàng Apsara đấy, chưa kịp bóc tem thì lại phải đi Monnaco. - Biết Thi Nga ở Pháp, y nhấn mạnh từ Monnaco rồi liếc xem nàng có phản ứng gì không. Quá sốt ruột vì hai gã đàn ông này, Thi Nga khẽ đánh hắng một tiếng. Kì Phương biết ý liền nói.
- Xong việc ta xuống xem tiếp nhỉ.
- Okey! - Simha thổ tàn thuốc ra vườn rồi dẫn khách quay vào. - Chúng ta lên thư viện trước nhé!
Vừa leo đến tầng hai, Kì Phương bỗng khự lại khi thấy một người đàn ông sần sùi đội vương miện đang đứng múa trên một bục đá. Khi đèn sáng, pho tượng Siva hiện rõ với bảy cặp tay trong điệu múa Tandava thần bí. Quanh người là chiếc xà rông bó lấy thân hình nở nang, người đeo đầy đồ trang sức và các ngón tay luôn chỉ về một thứ gì đó.
- Vào xem được không? – Kì Phương chỉ về cánh cửa sau bức tượng hỏi.
Dĩ nhiên là Simha không khước từ một cơ hội khoe của.
- Cứ tự nhiên nếu anh thích!
Thấy Kì Phương đi vào, Thi Nga lập tức nổi đóa. Cô không tài nào chịu nổi cái tật la cà của anh khi quỹ thời gian gần như cạn kiệt. Thi Nga lao theo toan chộp ót anh lại nhưng cảnh trước mặt đã làm cô đờ đẫn. Đây mới là thứ dành cho cô. Rừng linga.
Các ngọn đèn đồng loạt bừng sáng soi rõ một rừng linga trùng điệp như một loài nấm khổng lồ sau cơn mưa. Độc mỗi linga. Kì Phương sững sờ trước cửa phòng mà không thể thốt nên lời. Simha quả là một tay chơi kì dị nhất trên đời mà anh từng thấy. Điều kì lạ là dưới các linga kia không hề có một yoni nào.
- Hai người cứ ở đây đợi tôi. - Simha cất tiếng. - Lâu ngày không vào thư viện, để tôi thông khí đã.
Y bỏ mặc họ đi nhanh ra ngoài rồi sập cửa, rồi một tiếc tách khóa bập xuống. Thi Nga lạnh người nhìn sang Kì Phương.
- Hắn giam chúng ta? – Cô thì thào.
- Đừng lo, không ai giam tù nhân vào cái kho triệu đô thế này đâu.
Thi Nga ngẩn ngơ trước rừng cổ vật xung quanh, cô bỗng dâng lên một cảm xúc đặc biệt. Về tính thẩm mỹ mà nói, cô chả biết nó đẹp chỗ nào. Của đáng tội, vì giá trị tâm linh và chất liệu quý nên những mô đá thùi lụi này luôn là mục tiêu săn lùng của những tên trộm và kẻ sưu tầm bệnh hoạn.
Nhìn rừng linh thực khí đàn ông muôn hình vạn trạng, cái to như cột đình, cái nhỏ như cán cuốc, cái dài như chiếc chày giã gạo Tây nguyên, cái ngắn củn như chiếc mũ, cái đỏ au, cái đen sì... Tuy không cái nào giống nào nhưng đều có chung vũ điệu hướng lên trời đầy oanh liệt. Đứng lạc lõng nơi này, cô ngỡ mình là công chúa lạc trong “ rừng đàn ông’’
Công tâm mà nói những gì có ở đây là một bộ sưu tập kì công đến nỗi các bảo tàng phải ghen tị. Cô chợt nghĩ mông lung đến những cuộc xâm lược vơ vét của đế quốc Khmer đã cướp đi của Champa từ nam chí bắc ngàn vạn linga nay vẫn còn ghi trên bia đá lẫn Đại Việt sử kí. Cô tự hỏi nếu nguồn dương khí bị rút kiệt đến nhường này liệu quốc gia còn gượng dậy nổi hay không?
Nhìn thấy một linga đang nhe bộ răng đen ra cười cợt mình, cô chỉ tay hỏi Kì Phương.
- Tại sao lại có mặt người trên đó?
- Cô có biết linga là gì không?
- Một trong 12 hóa thân của thần Siva.
- Đúng, vậy thì linga có thể mang khuôn mặt của Siva. Các vua theo đạo Bàlamon luôn tự đồng nhất mình là Siva để tăng quyền năng cai trị, vì vậy hình ảnh Siva trên linga cũng là của vua. Linga có mặt vua - thần gọi là mukha-linga. Mà hình ảnh vua không chỉ hiển hiện trên linga mà ngay bất cứ đâu miễn là phô diễn được quyền uy tối thượng của mình. Cô biết ngôi đền nổi tiếng Bayon không?
- Đó là ngôi đền có hàng trăm khuôn mặt Siva khổng lồ bằng đá đúng không?
- Năm mươi tư tháp đá, mỗi tháp có bốn khuôn mặt nhìn bốn hướng với những nụ cười khác nhau. Có học giả nói đó và mặt Siva, người cho rằng Phật quan âm nhưng theo một số nhà sử học giải mã thì đó chính là những sắc thái khác nhau của vị vua huyền thoại Jayavarman VII – người xây dựng khu đền này.
- Vậy những đặc điểm này. - Thi Nga chỉ linga trước mặt. - Tại sao linga này có những đường cong?
- Buổi sơ khai, linga vốn là một biểu tượng phồn thực thờ thiên nhiên nên hình thù cũng đơn giản. Có lập luận cho rằng linga càng đơn giản tính trìu tượng và tính sáng tạo càng mạnh mẽ.
- Mỗi đời vua Champa lên ngôi là có thêm một linga mới đúng không?
- Đúng, khi đạt được những thành tựu to lớn như thắng ngoại xâm, mùa màng bội thu triều đình cũng cho xây đền và dựng linga.
- Mà thôi. - Thi Nga sốt ruột nói. - Sao Simha lâu thế nhỉ, hay hắn đi tìm Naga rồi?
Kì Phương nhìn ra cánh cửa đóng chặt mà tự hỏi có phải y nhốt họ lại để báo cho nhà chức trách hay không.
Ngay lúc đó, gã chủ nhà bước ra từ thư viện rồi khóa chặt cửa. Thay vì xuống mời khách lên thì y đi thẳng xuống tầng trệt để vào một căn buồng kín mít dành cho đội vệ sĩ làm việc. Nhưng đêm nay, y muốn đích thân làm việc này. Căn phòng này được gã vệ sĩ hãnh diện ví von là trung tâm do thám điện tử bởi trên các bước tường là những màn hình kết nối các camera bố trí khắp nơi trong nhà cho đến không gian bên ngoài. Tuy vậy, giờ y chỉ chăm chú nhìn vào một thứ. Phòng linga. Sự táy máy quá mức của hai vị khách đã bắt đầu làm y khó chịu. Mục đích thực của chúng nó là gì?
Lời cảnh cáo của cha y vẫn chập chờn trong óc. “ không la cà, không giao du hay gặp gỡ bất cứ ai’’. Y đã phá nguyên tắc của cha để đánh cược một cơ hội mới. Khi Kì Phương bắn tin cho y, trong đầu y liên tưởng ngay đến cổ vật đó. Y đã mừng hụt. Y cho rằng tìm thánh địa Naga chỉ là cái cớ che đây cho cuộc điều tra nào đó. Một ý nghĩ rợn người lóe lên. Chúng là cảnh sát. Y đã dễ dãi mắc mưu khi rước mối hiểm họa vào nhà.
Kì Phương và Thi Nga định đi ra thì có tiếng két cửa đằng xa. Y đột ngột xuất hiện.
- Các vị thấy bộ sưu tập này thế nào?
- Độc đáo lắm. - Kì Phương đáp.
- Mất bao nhiêu năm để anh sưu tầm được ngần này? - Thi Nga xen vào.
- Đây là tài sản gia truyền của tôi.
- Không lẽ các cụ nhà anh chỉ sưu tầm độc một thứ này thôi sao? - cô hỏi.
- Thì tôi đã nói nhà tôi toàn linga mà. Các vị không nhận ra ngôi nhà này có đặc điểm gì sao?
Thấy cả Kì Phương và Thi Nga đều ngơ ngác, y tiếp:
- Mặt bằng tầng một hình vuông, tầng hai hình lục giác, tầng ba ...
- Tầng ba và tầng bốn hình tròn đúng không. - Kì Phương chắp thêm.
- Anh tinh mắt đấy. Đó là ý tưởng của tôi khi xây căn biệt thự này.
Lúc ở bên ngoài Kì Phương đã thấy ngôi nhà vừa dị hợm vừa quen mắt mà chưa nhận ra điều gì. Giờ thì anh mới hiểu ý đồ của y. Hình vuông, hình lục giác, hình tròn là biểu tượng của ba vị thần Bhama, Vishnu, Siva. Tuy càng lên cao càng thu nhỏ nhưng vẫn tuân thủ nguyên tắc “ Tam vị nhất thể’’ của một linga nguyên thủy.
- Hóa ra chúng ta đang ở trong một linga khổng lồ? - Thi Nga ngỡ ngàng với phát hiện của mình.
Simha nhìn cô cười tủm tỉm:
- Này cô em, kích thước chưa phải là thứ duy nhất mà tôi muốn khoe với cô em đêm nay đâu nhé. Về tuổi tác, linga cổ nhất thế giới đang nằm sau lưng cô.
Thi Nga ngoảnh lại thấy một khối đá đen không rõ hình thù nằm trên giá. Cô đã nhìn từ nãy mà không thấy gì đặc biệt.
- Hơn hai triệu tuổi rồi đấy. – Y nói. – Thời xưa, linga chỉ là những ngọn núi hay cồn đá hình dương vật nhô cao từ mặt đất. Thế rồi con người ngắm ngía, tưởng tượng, sờ mó và nâng niu rồi quyết định dựng đền thờ cúng. Thật không may, càng tưới nước và mân mê mấy ngàn năm nay cho đến khi mòn vẹt chỉ còn là mẩu đá thừa tội nghiệp. Trong tương lai, ngôi nhà này sẽ đầy ắp linh thực khí, và đây sẽ là bảo tàng lịch sử linga đầu tiên trên thế giới.
Thi Nga càng ngày càng nhận ra gã này không bình thường. Dương thịnh âm suy. Tính nữ duy nhất ở đây có lẽ đó là nàng Angelina Jolie trong bức ảnh.
- Thế bao giờ mới có bảo tàng yoni đây? - Cô đùa.
Một ánh mắt lạnh lùng quay sang nhìn nàng:
- Cô là phụ nữ đầu tiên và duy nhất bước vào đây đấy.
Thi Nga không biết nên hãnh diện hay là nên bỏ ra ngoài. Y tiếp:
- Sẽ không bao giờ có cái gọi là “ bảo tàng yoni’’ ở đây cả bởi một lẽ đơn giản là trong quá trình vận chuyển từ những quốc gia khác về người ta thường bỏ lại yoni vì nó rất nặng và cồng kềnh. Lí nữa là quan niệm trọng nam khinh nữ đã ăn sâu bám rễ vào người Á đông rồi.
- Anh làm như vậy là cổ vũ một quan niệm lỗi thời.
- Trước đây thờ Siva hay tam vị nhất thể chỉ một linga chứ đâu có yoni. Ngay ở Campuchia này cũng có một dòng sông với hàng vạn linga-yoni mà dân gian vẫn gọi là “ sông ngàn linga’’ chứ không ai gọi là “ sông ngàn yoni’’ cả.
- Sự sáng tạo chỉ có khi hài hòa âm dương. – Cô đáp - Vì thế mà sau này họ thờ cả bộ linga-yoni đó thôi.
Simha lắc đầu cự tuyệt, y trích dẫn một câu danh ngôn nào đó.
- Bản chất của sáng tạo chính là... cô đơn.
Thi Nga định nói gì đó nhưng y vội dúi chùm chìa khóa vào tay cô.
- Thư viện tầng ba! hãy tự do tìm kiếm tùy thích. Lát nữa tôi và Kì Phương sẽ giúp cô.
Thi Nga cho rằng mình nên ra ngoài từ lúc nãy thì hơn. Naga mới là cái buộc cô phải hạ mình đến đây. Cô ngúng nguẩy đi ra. Khi cánh cửa khép lại, y vỗ vai Kì Phương nói:
- Lúc nãy trước người đẹp do đuối lí nên tôi đã ngụy biện. Tôi đang thèm yoni đến nhỏ dãi để mang về cho đủ bộ. Lúc anh nhắn tin, tôi cứ nghĩ là anh đang khuân một linga cổ từ Mỹ Sơn chứ ai dè anh tha cái yoni bằng da bằng thịt kia sang đây đâu.
Kì Phương cắt ngang lời y:
- Tại sao anh lại nghĩ tôi mang yoni cho anh mà không phải linga?
- À là tại vì... - Y ngắc ngứ vài giây rồi chống chế. - Những linga thì đã bốc hơi hết từ lâu.
- Tất cả linga trong phòng này đều mất yoni hết sao?
- Đúng vậy, cặp đôi nào quý thường hay tan đàn xẻ nghé. Con người cũng vậy, trai tài gái sắc chỉ là lí thuyết. Thấy vợ mình đẹp thì ối kẻ tòng teng. Thấy chồng người ta giàu thì nhiều ả muốn cướp. Vì vậy càng đẹp đôi càng sớm đường ai nấy đi. Tôi từng cặp bồ với không ít hoa hậu nhưng nay vẫn gối chiếc chăn đơn. - Y ngừng lại thở dài. - Khiếm khuyết lớn nhất của đàn ông như tôi chính là... quá thành đạt.
Đang dãi bày tâm sự bỗng y nghiêm nét mặt:
- Anh Kì Phương, kì thực đêm nay anh gặp tôi để làm gì?
- Lúc nãy anh đã nói đúng. Tôi đến để mang yoni cho anh.
Simha quay phắt sang.
- Yoni? Không phải là bánh vẽ đấy chứ?
- Bình tĩnh đã nào. - Kì Phương gỡ bàn tay hộ pháp của y ra khỏi vai rồi lùi lại. - Chuyện này nếu anh chưa hiểu thì tôi nói ra anh cũng thất vọng mà thôi.
- Thì cứ nói đi xem có đúng ý ta không?
- Tôi cứ tưởng anh chỉ khoái mỗi linga thôi đấy. - Kì Phương rút từ túi áo ra một tấm ảnh đưa cho hắn rồi rào trước. - Có lẽ anh chưa từng thấy yoni này bao giờ.
Simha giật phắt tấm ảnh đưa ra chỗ sáng nhìn. Thấy y đứng như hóa đá, Kì Phương tiến lại nói:
- Nó rất bình thường ngoại trừ vòng chữ, yoni mà có chữ là độc nhất vô nhị đúng không? Nếu nó được đúc từ vàng hoặc thiên thạch từ mấy ngàn năm trước, giá sẽ là bao nhiêu?
- Dòng chữ rất lạ. - Y gật đầu. - Trong lịch sử điêu khắc linh thực khí, đây là thứ đầu tiên có văn khắc vì vậy tôi cho rằng nó thuộc một phong cách hay niên đại rất xa xưa, thậm chí là từ một nền văn minh chưa từng biết tới.
- Vậy anh có hiểu nghĩa dòng chữ này là gì không?
Simha đăm đăm nhìn rồi lắc đầu.
- Tôi chịu, nhưng bức ảnh này anh chụp ở đâu? Nói đi, đừng hành hạ tôi nữa!
- Bức ảnh này chụp ở Naga!
Simha nhìn phắt lên mặt Kì Phương vẻ sợ hãi.
- Anh vừa nói gì? Anh đã vào Naga thật sao?
- Không, tôi lấy tấm ảnh này từ tập “ thánh địa Naga’’ của Paul.
Simha thở ra, nhưng vẫn đứng trơ khốc giữa nhà. Kì Phương thấy hắn thuộc tạng người không thèm giấu giếm cảm xúc của mình ngay cả trước phụ nữ hay người lạ mặt. Mọi hỉ nộ ái ố dường như luôn luôn thường trực trên khuôn mặt ngăm đen đầy chất Nam Ấn của y nhưng ngay lúc này Kì Phương nhận thấy một sắc thái tình cảm mới mà anh cũng không biết gọi đó là gì. Y vừa hoang mang, vừa thèm khát, vừa tinh quái lẫn chút đần dại như thể trong đầu y đang diễn ra một sự đảo lộn giằng xéo nào đó rất khủng khiếp. Mắt y vẫn không rời tấm ảnh, Kì Phương đoán rằng y đang luận dòng chữ trên yoni.
- Anh nhìn thấy dòng chữ đâu rồi phải không? - Kì Phương hỏi.
Y trả ảnh cho Kì Phương mà không nói gì. Mắt y trống hoác như bị chiếc yoni hút hết sinh lực. Khi nhìn thấy tập “ thánh địa naga’’ trong quán cà phê y tỏ ra rất kinh sợ nhưng lại không để lộ ánh mắt chiếm đoạt như lúc này. Kì Phương đưa ra hai khả năng để lí giải thái độ của hắn, một là y đã dịch được dòng chữ và cổ vật thời Phạm Hồ Đạt đang là mục tiêu sưu tầm của y. Hai là y biết chiếc yoni này làm từ thiên thạch nên quyết tâm săn lùng bất chấp đó là của hội Naga.
Simha không trả lời Kì Phương về dòng chữ làm anh càng tin y đang che giấu gì đó. Tra hỏi y lúc này e không tiện, quan trọng nhất là anh đã đánh thức được một sức mạnh tiềm ẩn nào đó ở y.
- Chúng ta nhất quyết phải tìm ra Naga! - Simha dằn giọng.
- Hay quá. - Kì Phương nhìn hắn đầy cảm kích.
- Lên thư viện! - Y phất tay. - Tôi đang nghiên cứu về kho báu của hội Naga và các thánh địa tà giáo cổ xưa. Sách quý thì tôi có hàng đống nhưng tư liệu loại này rất khan hiếm. Đầu thế kỉ trước xuất hiện những kẻ lạ mặt truy mua và tận diệt tài liệu về Naga với giá rất cao rồi mang đi đâu không rõ. May mà anh đã mang cho tôi những bức ảnh vô giá này, hi vọng chúng ta sẽ lần ra manh mối.
Thấy y nói như cởi ruột gan, Kì Phương hân hoan ngỡ như đã mở được cánh cửa đầu tiên trong hành trình tiến về kho báu. Hóa ra y không sợ hội Naga đến rúm ró như y diễn lúc trước. Thực ra y đang âm thầm săn tìm Naga bấy lâu nay.
Vừa bước vào thư viện, Kì Phương đã choáng ngợp với không gian trùng điệp sách báo sặc mùi giấy cũ ở đây. Đúng như bên ngoài, tầng ba là một hình ống khổng lồ dựng ngược tượng trưng cho thần sáng tạo Siva với hàng ngàn cuốn sách chất đầy trên giá. Các giá gỗ được bài bố hình dẻ quạt li tâm tỏa ra ngoài như tia mặt trời. Ngay tâm phòng là một chiếc bàn tròn bằng pha lê bày la liệt sách đang đọc giở.
- Anh có thể tra tên sách trước khi tìm vào giá. - Y nói. - Toàn bộ hơn hai mươi ngàn cuốn đều được liệt kê bằng máy tính. - Cứ tự nhiên như ở nhà. Tôi sẽ mang sách về Naga cho anh xem.
Y đi về một dãy tủ sát tường. Kì Phương tranh thủ tìm những cuốn nói về bia kí mà anh bấy lâu nay không có điều kiện săn tìm. Anh chưa biết bắt đầu từ đâu thì thoáng thấy chiếc máy tính để bàn nhưng trên màn hình hiện lên rất nhiều các từ “ naga’’ và “ thánh địa’’. Thi Nga vừa rời khỏi đây.
- Có thấy gì không? - Anh lại gần cô hỏi.
- Nhiều lắm, tôi mới tìm gian kiến trúc tôn giáo Khmer cổ nhưng có tới hàng ngàn di tích mà chưa thấy Naga đâu cả. Hắn ta đâu?
Kì Phương nhìn về phía tủ và thấy y đang quay trở lại với một cuốn sách trên tay, anh nói với cô.
- Hắn đang gọi tôi kìa. Cô cứ tiếp tục đi, có gì gọi tôi.
Simha đặt cuốn sách lên bàn pha-lê rồi bật một ngọn đèn bàn nhỏ. Kì Phương nhanh chóng nhận ra đây là tập giấy chép tay bằng chữ Khmer cổ hoặc chữa Chăm cổ trên giấy lá buông gần mục nát. Từ trước thế kỉ 15, các kiểu chữ của người Chăm, Khmer và Malay khá giống nhau mà một người chuyên nghiệp đôi khi còn nhẫm lẫn. Một người thông thạo chữ Chăm cổ có thể vừa đọc vừa đoán ít nhiều chữ Khmer hay Malay cổ. Ngược lại, khi dịch các bia kí Champa, các nhà nghiên cứu đôi lần còn cầu viện từ các đồng nghiệp Malay và Khmer nữa. Cuốn sách cổ của Simha viết bằng chữ cổ vốn khó đọc, nay lại sắp mục nát nên muôn phần khó khăn.
- Đây là sách mà bố tôi lấy được trong một bảo tàng từ thời chiến. Ba tôi đã tìm rất nhiều chuyên gia dịch nhưng đa số họ nay đã chết rồi. Lớp học giả còn sống hiện nay cũng bó tay.
- Không lẽ anh nghĩ tôi đọc được sao? - Kì Phương hỏi.
- Không, anh hãy nhìn kĩ đây!
Kì Phương nhìn Simha dùng lưỡi dao khéo léo lách vào những trang giấy loang lổ chỉ chờ đụng tay vào là tan rữa. Y nhớ trang nào, đoạn nào nên chỉ lật hai lần là đúng cái cần gọi. Vừa mở ra Kì Phương đã sững sờ về bức tranh kì lạ. Tranh này mô tả một nghi lễ tế thần hay hành hình một tử tội tại một pháp đường cổ kính nào đó. Một kẻ trần truồng chỉ vấn quanh bộ hạ một tấm xà rông nhỏ đang quỳ trên đất. Hai tay bị trói lật về phía sau. Đầu chúi về phía trước như sắp nhúng vào một cái vại nước to. Ngay phía trên, một chiếc đinh ba trong tay một đao phủ dữ tợn sẵn sàng bổ xuống.
Xung quanh người tù khốn khổ này là một vòng người áo dài trắng đạo mạo đang chắp tay ngửa mặt lên trời. Mắt họ nhắm nghiền có vẻ như đang sợ hãi hơn là tư thế của một người đang tụng kinh khấn vái. Kì Phương nghe trái tim đang mình đang dồn dập trong lồng ngực. Anh hỏi.
- Đây là lễ gì? là đâu?
- Lễ hiến tế của đạo Bàlamon cổ!
Bức tranh và câu nói của Simha như tia chớp xé rách màn đêm phủ kín trong đầu anh. Lễ hiến tế người đạo Bàlamon cổ đây ư? Đây là bức tranh đầu tiên về lễ tế người ở Đông Nam Á mà anh từng thấy. Simha lật sang trang tiếp. Một cảnh rùng rợn hiện ra trên giấy. Người đàn ông cởi trần lúc nãy giờ đã thẳng đơ trên đất. Đầu đã nằm trong chum hoặc bị mang đi đâu không rõ. Bên cạnh là một bệ thờ nhiều tầng nấc cao sừng sững chọc vào khoảng không đen ngòm phía trên. Anh đẩy nhẹ cuốn sách về phía Simha rồi hỏi.
- Cảnh này ở đâu?
- Ngay trong thánh địa Naga đấy!
Sự bình tĩnh mà Kì Phương đang cố kìm giữ bắt đầu vỡ sụp.
- Trong Naga? - Anh lắp bắp. - Hiến tế trong... Naga sao?
- Naga đấy, những gì anh vừa thấy là một cảnh trong Naga.
- Cất ngay, anh cất đi.
Mặt Kì Phương xanh ngắt tựa tàu lá. Anh xua cuốn sách ra xa rồi xô ghế định đứng dậy. Kì Phương đã hiểu vì sao trong quán cà phê khi anh đưa cuốn “ thánh địa Naga’’ y lại rúm ró đến vậy. Giờ thì đến lượt Simha tỏ ra hể hả khi thấy anh toát mồ hôi hột. Y nói.
- Xin lỗi, cái mà tôi muốn khoe anh đâu phải thứ chết chóc này. – Y đùn cuốn sách trở lại Kì Phương. - Hãy nhìn lại các pho tượng kia đi.
Vẫn là bức tranh thứ hai, nhưng Kì Phương bắt đầu để ý xung quanh. Lúc nãy anh chỉ chú ý vào con người, giờ nhìn các hiện vật xung quanh anh lại phát hiện ra vô số thứ lạ nữa. Vây bám xung quanh đài thờ còn một đám sinh vật đông đảo đang đứng nghiêm không rõ là người hay quỷ. Chúng khoác những hình hài giống đúc các vị thần Bàlamon và dương những bộ mặt ngô nghê về những xác chết với những cặp mắt vô hồn.
Đợi cho cơn chóng mặt qua đi, Kì Phương dần dần nhận diện ra một vài khuôn mặt vừa lạ vừa quen. Lạ vì các vị thần này không giống như nghệ thuật Champa hay Khmer. Quen là vì anh đã nhang nhác thấy đâu đó rồi. Và chỉ trong nháy mắt anh nhớ ra, trong cuốn sách ảnh của Paul.
Không nhầm lẫn được, các pho tượng, phù điêu mà Paul chụp lại có cùng phong cách trong bức tranh. Vậy là cả Pual và Simha đều có nguồn thông tin độc lập nhau nhưng khá nhất quán. Tóm lại, thánh địa hay kho báu Naga, Hội kín Naga, lễ hiến tế người ở Naga dường như là có thật. Kì Phương vội vã nghĩ đến mẹ Thi Nga có phải chết theo cách rùng rợn này không?
- Anh dám chắc đây là Naga không?
- Ông tôi nói vậy, ông tôi dịch được một phần chữ trong cuốn sách này.
- Trong cuốn này có bản đồ hay mô tả địa điểm nào hay không?
- Nếu có bản đồ thì tôi đã khỏi mời anh xem. Các con chữ nói gì thì nay không ai dịch được. Sách này đã rách nhiều trang trước khi đến tay ông tôi. Không riêng gì sách này, rất nhiều tài liệu viết về Naga đều bị săn lùng và tiêu hủy. Để giữ cuốn này cha con tôi đã bị mấy lần khám nhà và trộm cắp hỏi thăm nhưng may mắn giữ được. Nếu hôm nay các bạn không mang cuốn Naga kia khoe tôi thì tôi cũng không tiết lộ cuốn này. – Y nhìn anh đắn đo. - Nếu anh cũng không dịch được thì... có lẽ tôi xin lại.
- Vâng, anh cất đi!
Thẳng tưng mà nói, y không tìm được Naga thì mới mời anh về đây, cũng như anh đang cùng đường thì mới mò đến y. Kì Phương cũng chưa có ý định xem hết cuốn hiến tế lúc này, anh đến đây là để tìm nguyên bản hoặc bản dịch của bốn tấm bia kí. Chỉ nhìn qua quy mô thư phòng anh đã tin mình đến đúng chỗ. Đây là môi trường tra cứu tư liệu cổ tốt hơn bất cứ đâu mà anh từng đến.
- Nếu các vị là người nhà của Paul. - Y lại gợi chuyện. - Tôi không tin các vị đi tìm Naga chỉ với một cuốn sách?
Kì Phương vẫn quyết giữ bí mật bảng tám kí tự với y và tự tìm cách giải mặc dù anh biết khó mà thoát khỏi sự giám sát của đôi mắt cú vọ kia. Chỉ cần anh chạm một cuốn sách thuộc thể loại gì thì y đọc vị luôn suy nghĩ của anh. Anh nói:
- Đúng là tài liệu của Paul chỉ để lại ngần đấy. Có lẽ chiến dịch truy lùng tài liệu Naga sang tận Champa nên hiện nay không tồn tại manh mối nào khác. Thực tình đây là lần đầu tiên tôi được nghe nói về nó. Dù sao tôi vẫn tin chúng nó không thể thu vét hết tài liệu đang trôi nổi trong thiên hạ. Vả lại nếu các sách viết về Naga nhưng dưới một cái tên lóng khác thì chúng khó mà biết hết. Với kho sách khổng lồ của anh chắc tôi sẽ tìm ra manh mối.
Simha vừa chăm chú nghe vừa rà đôi mắt sắc lạnh nhìn anh như một máy kiểm tra nói dối. Lát sau y tặc lưỡi.
- Thôi được, tùy các vị cứ tìm kiếm. Cứ tự nhiên, tôi sẵn lòng giúp đỡ miễn anh tìm ra Naga.
Nói xong, y mang cuốn hiến tế đi cất vào tủ rồi khóa lại. Nhân đó anh cũng nhận ra còn vô số cánh tủ sắt đang đóng im ỉm. Kì Phương lại trước máy tính gõ tìm bia kí, các lệnh này dẫn anh về dãy S. Kì Phương đi nhanh về dãy này và ngỡ ngàng trước một điều khá lạ. Không giống như các dãy dài dựng kín sách, dãy này có nhiều khoảng trống, dấu hiệu bị rút sách, thậm chí vừa rút ra bởi khoảng trống này sạch bong không vết bụi.
Thoạt tiên Kì Phương nghĩ là Thi Nga nhưng không phải, anh liếc về dãy tủ sắt khóa kín mà Simha đang trấn giữ ở đó. Nếu đúng là y thì không lẽ kẻ này đã đọc được mật mã của Paul rồi hay đây chỉ là một sự tình cờ. Còn vết phấn bị xóa ở Bảo tàng Chăm nữa. Liệu có phải y? Nếu đúng thì anh có thể yên tâm bởi y cũng đang bế tắc. Không còn cuốn nào về bia kí, anh bèn đến chỗ Thi Nga.
- Cô lấy mấy cuốn đằng kia à?
- Không hề!
- Vậy thì chắc hắn ta. - Kì Phương chỉ tay về phía y.
- Có lẽ cứ hỏi thẳng hắn? - Thi Nga gợi ý.
- Nếu vậy y sẽ theo dõi và bắt chước chúng ta. Khi hiểu y sẽ tự làm và tống cổ chúng ta ra ngoài.
- Cùng lắm cho y biết tên ba bia, giữ kín một bia.
- Tôi sợ y biết hết cả bốn rồi, nhưng tạm thế cũng được.
- Hắn đang ở đâu? – Cô hỏi.
- Hắn đang gọi điện đầu kia. Tôi nhận ra hắn có biểu hiện rất lạ
- Lạ chỗ nào!
- Lúc ở dưới tầng. - Kì Phương lấy chiếc ảnh yoni đặt lên bàn. - Tôi cho hắn xem ảnh này, mặt hắn dại đi cứ như sợ điều gì đó.
- Biết đâu hắn biết chiếc yoni này bằng đá rubi. Một khối rubi lên tới hàng chục cân mà hắn không lác mắt mới lạ.
- Có thể y đã nghe đồn hoặc đọc trong sách và biết đây là yoni đắt giá nhất.
- Loại sành nghề như hắn nhìn ảnh đã biết quý hay không. Nhìn nét chữ trên yoni kia y có thể biết là sắt hay đá rồi.
Kì Phương đồ rằng có thể y đã đạt tới kĩ năng đó. Thấy một cái kính lúp đọc sách đặt trên bàn, anh cầm lấy rồi soi lên tấm ảnh. Chiếc yoni lập tức được phóng đại lên chục lần đến nỗi anh thấy rõ từng hạt bụi cho đến mảng rêu lún phún xanh. Mắt rà từ từ vào lòng yoni, một sự kì lạ bất ngờ đập vào mắt anh.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 21.03.2023 16:29:52 bởi Ct.Ly>
Chương 24
 
Đoàn xe của Thet Manet đang chạy rầm rầm trên quốc lộ 6 bỗng khự lại sau khi biết bị lừa một vố đau.
- Quân to gan! - Thet gầm lên trong bộ đàm. - Vậy thì chúng chạy đường nào?
Tốp lính ngồi trong chiếc xe 12 chỗ im phăng phắc chờ câu trả lời từ chính người hỏi.
- Quay lại ngay! - Thet nổi giận lôi đình xua quân quay lại.
Đoàn xe quay ngược trở lại Pnompenh trong tiếng động cơ gầm réo như một đàn thú dữ đang lên cơn cuồng sát. Với nguồn nhân lực dồi dào và thiết bị tiên tiến, cả Pnompenh như lọt thỏm vào lòng bàn tay của ông ta. Rõ ràng hai nghi phạm này chưa biết ông là ai. Đáng thương thay. Chúng còn chơi trò ú tim trong khu vườn mà ông thuộc làu từng cái hang chuột.
Thông thường trước khi diễn ra các sự kiện quốc tế như Asean, Apec, Sea game... guồng máy cảnh sát được tăng cường hoạt động từ mấy tháng trước. Đây là dịp những tên khủng bố quốc tế và các nhóm tội phạm trong nước cấu kết để phá hoại hoặc gây thanh thế. Nếu các sự kiện có tổng thống Mỹ tham gia thì đó là những ngày cân não đày đọa nhất mà ông không ít lần trải qua.
Thet Manet nhận được công văn về cuộc du khảo và khai quật thánh địa Naga chỉ hơn nửa tháng trước. Thoạt đầu ông không bận tâm lắm bởi đây là sự kiện khoa học đơn thuần nhưng cấp trên yêu cầu ông đặt ngang hàng với một sự kiện chính trị cấp quốc tế. Tuy không có nguyên thủ nhưng lại rất đông nhà khoa học và du khách quốc tế quây tụ. Nhưng đó là lí do trên văn bản. Thet hiểu Naga gắn liền với một tổ chức tà giáo cổ, một khối tài sản khổng lồ cần phải bảo vệ nghiêm ngặt trong và sau khi khai quật đề phòng xảy ra loạn loạc thậm chí là chiến tranh cục bộ.
Chính vì tính đặc thù đó nên Thet đã vắt óc đưa ra nhiều phương án ngăn chặn từ xa như tăng cường theo dõi các trùm tội phạm, mạng internet, giám sát mạng lưới buôn bán cổ vật và các nhóm tội phạm khác. Interpol đã cảnh báo và cung cấp vài tên tuổi đã và sắp di chuyển sang Campuchia.
- Thưa chỉ huy. Chúng ta đi đâu đây ạ? - Lái xe nhìn sang hỏi.
Thet bừng tỉnh khi thấy trước mặt là tượng đài chiến thắng trung tâm thủ đô.
- Quay lại trụ sở. - Ông lại quay sang hỏi trợ lí của mình. - Các camera sân bay có tìm thêm tung tích của hắn không?
- Thưa chỉ huy, từ khi hắn quay trở lại bắt taxi đi vào Pnompenh, đây là taxi dù nên chúng tôi vẫn chưa thể liên lạc được với người lái xe.
- Không để cho chúng thoát!
- Các trạm và camera giao thông đang theo dõi.
- Báo cáo chỉ huy! - Sĩ quan trợ lí báo. - Các trinh sát đã thu lượm được nhiều thông tin khả nghi.
- Lần ra chúng rồi hả?
- Không, các trinh sát chuyên theo dõi các tay trùm đồ cổ đã phát hiện tên Simha đã sang Việt Nam hôm qua và đột ngột quay về trưa nay với một cổ vật lạ.
- Hắn thì ngày nào chả mang cổ vật lạ. Có gì mới không?
- Vấn đề là hắn từ Việt Nam về. Hai kẻ chúng ta đang truy nã cũng từ bên đó sang. Chúng tôi đang khớp nối các dữ liệu xem có liên quan gì nhau không. Cảnh sát Việt Nam cũng vừa tìm ra một dấu hiệu giao dịch cổ vật giữa Cao Ki Phuong và Simha sắp diễn ra nên đã cấp tốc mật báo cho chúng ta.
- Hay lắm, nhưng Simha đang ở đâu?
- Một trinh sát đang bám theo hắn, sẽ cung cấp cho chúng ta ngay.
- Bám chặt lấy hắn. Mà các cậu khá biết việc đấy.
- Dạ đâu có. Chính chỉ huy giao nhiệm vụ tổ hai giám sát Simha và mấy tên trùm bấy lâu nay đấy thôi.
- Đúng, hôm nay sẽ đủ bằng chứng tóm y luôn một mẻ!
Đoàn xe đã về đến trụ sở. Trong khi chờ tin từ trinh sát, Thet đã tập hợp một trung đội cảnh sát đặc nhiệm tinh nhuệ với giả định là tập kích một toán cướp có vũ trang. Đã quá hiểu về Simha, nhưng chắc chắn đây là lần giáp mặt đầu tiên và cuối cùng của ông.
- Báo cáo chỉ huy! Có một chiếc xe porsche được cho là của Simha đang có mặt bên ngoài ngôi biệt thự bên hồ Pumpeay của y. Tin mới nhất cho hay y cùng hai kẻ lạ mặt đang ở trong nhà. Cọp đã chui vào hang. Xin chờ lệnh chỉ huy!
Thet không tin nổi điều vừa nghe. Nếu quả thật có cuộc giao dịch với nghi phạm quốc tế trong lúc này thì chúng đủ khôn để gặp nhau một nơi bí mật nào đó. Tầm của Simha không sơ suất đến thế trừ phi có lí do đặc biệt. Nhìn nhóm đặc nhiệm găm đầy vũ khí trước mặt, Thet hô đanh gọn.
- Xuất kích!
Đoàn xe rồ máy rồi lần lượt chia ra ba nhóm nhỏ lặng lẽ chạy theo đường vành đai. Bí mật và mau lẹ. Đội tác chiến tinh nhuệ nhất của cảnh sát Pnompenh tăng tốc nhằm hướng tây. Liên tiếp có tin từ nhóm trinh sát gửi về, ngày càng nhiều hơn, cụ thể hơn, rõ nét hơn. Cả ba đang có mặt trong ngôi biệt thự. Các phương án tập kích nhanh đang nảy lên trong đầu viên chỉ huy cảnh sát. Khi chỉ cách mục tiêu hơn ba cây số, Thet đã nhìn rõ tòa nhà sáng rực nằm trơ trọi ven hồ. Chạy đâu cho thoát.
 
Chương 25
 
Qua kính lúp, Kì Phương nhận ra các mép yoni ánh lên màu vàng sáng. Anh thốt lên:
- Nó không phải là đá.
- Không lẽ là vàng thật? - Thi Nga hỏi.
- Vàng thật? mắt hắn tinh thế sao?
Kì Phương không rời mắt kính, khi soi đến vòng chữ anh càng sửng sốt bởi nó là một gờ nổi chứ không phải được viết bằng máu.
- Xem này, gờ này nổi lên rất cao và sắc.
Thi Nga nhận ra đây là yoni đặc biệt, khác hẳn những cái mà cô từng thấy. Một dòng chữ khắc nổi giữa lòng yoni.
Thi Nga chỉ vào lòng yoni nói:
- Chiếc yoni này sẽ cắm vào linga bằng dòng chữ lồi này sao?
- Có hai khả năng. – Kì Phương đáp. – Một là dòng chữ chính là ngàm liên kết. Hai là vòng chữ lồi cao này chính là một linga.
- Tôi không cho rằng dòng chữ ngoằn ngoèo này là linga… - Cô nheo mắt nói trong nghi ngờ.
Thi Nga không tin dòng chữ nhú khỏi mặt yoni kia là linga, nhưng nếu đó là sự thật thì có lẽ đây là một linga ngắn và dị dạng nhất mà cô từng thấy. Cô nói:
- Vậy khả năng thứ hai?
- Hoặc có một linga rất lớn và mặt dưới của linga này lõm vào vừa khít với gờ chữ này. Ngàm âm dương.
Đầu óc Kì Phương bừng sáng. Rốt cuộc thì anh cũng đã nghĩ ra. Đáy linga này có vòng chữ lõm vào. Dòng chữ BHADRESVARA bằng máu ở Mỹ Sơn chính là do linga này in xuống. Đêm qua kẻ nào đó đã tưới máu lên linga nên nó đã kịp đóng lại một dấu triện lớn trên yoni. Một câu hỏi khác lại nảy sinh trong đầu Kì Phương: linga này đã thất lạc ngàn năm tại sao nay lại xuất hiện ở Mỹ Sơn để rồi lại ra đi lần nữa? Nhưng sự ra đi lần này không im lìm trong hư vô mà nó đã kịp thời lên tiếng. Dòng chữ BHADRESVARA bằng máu của một học giả để lại trên yoni là một tiếng thét thê lương xuyên vọng núi sông.
Linga đã trở lại-một sự trở lại hãi hùng. Kì Phương rùng mình cố gạt bay nỗi ám ảnh về một lễ hiến tế bằng máu đang hiện về.
- Anh nghĩ gì thế? - Thi Nga cấu mạnh vào tay anh, cô rất sốt ruột vì thời gian càng cạn bao nhiêu thì Kì Phương càng trầm uất bấy nhiêu.
- Thi Nga, cô có tin Phạm Hồ Đạt là người in tên mình lên yoni không?
- Không lẽ anh cũng tin người chết đã hơn ngàn năm bỗng hiện về để viết lách?
- Không, ông ta viết tên mình từ lúc còn sống.
Thi Nga dùng kính lúp quan sát bức ảnh rồi gật đầu nói.
- Ông ta chạm trổ tên mình lên yoni thật?
- Thực ra BHADRESVARA là tên ghép BHADR + ESVARA. Trong đó BHADR là tên của vua, còn ESVARA là một phiên hiệu của thần Siva. Tên của Siva cũng là tên của vua. Đây là cách các vua Chăm đồng nhất mình với thần Siva là một. Còn muka-linga cũng là một cách đồng nhất vua-thần nhưng dưới dạng điêu khắc.
- Vậy theo anh, vua BHADRAVARMAN vừa dùng vương hiệu vừa dùng điêu khắc để thần thánh hóa mình?
- Dạng muka-linga chỉ xuất hiện từ sau thế khỉ thứ IX, còn thời Phạm Hồ Đạt là thế kỉ thứ IV nên trường phái mukha-linga chưa ra đời. Có thể khắc vương hiệu lên linga là một sáng tạo lúc đó.
- Phát hiện của anh thú vị đấy! – Thi Nga tán thưởng. - Dòng chữ này quá đẹp, nhưng tại sao không khắc lên vị trí trang trọng trên linga để người đời chiêm ngưỡng, khắc vào chỗ kín như thế này e khiêm tốn quá.
- Khiêm tốn ư! - Kì Phương lắc đầu. - Những người tự phong mình là thần Siva mà khiêm tốn ư.
- Vậy sao lại giấu tên mình vào bên trong? – cô hỏi.
- Bộ linga-yoni vốn là một chỉnh thể cân bằng, nếu cô muốn khắc một cái tên có tính dương thì khắc vào chỗ nào?
- Khắc vào Linga.
- Không được, bản thân linga là dương, cộng thêm dương nữa là hỏng.
- Vậy thì khắc lên yoni!
- Càng hỏng, yoni là âm, cộng thêm dương là cân bằng, vậy thì linga là thừa sao?
- Vậy thì... khắc lên cả hai.
- Chỉ được một chữ thôi, vua hay mặt trời chỉ có một.
- Tôi hiểu rồi, khắc chỗ tiếp giáp chính giữa.
- Đúng thế. Đó là lí do họ khắc vào chính giữa. Dòng chữ này một nửa in vào yoni, nửa kia in vào linga tượng trưng cho gạch nối đó. Nó thể hiện một triết lí âm dương sâu xa.
- Hắn đến kìa! - Thi Nga nhắc khẽ.
Kì Phương nhìn về nơi có tiếng động, một chiếc bóng to kềnh đang ngúc nhắc tiến về phía họ. Anh thì thầm sát tai cô.
- Chính hắn, hắn đã ăn cắp linga!
- Tại sao là hắn? - Cô thảng thốt nhìn anh.
- Khi gặp nhau trong quán cà phê hắn đã buột mồm hỏi yoni. Tôi tưởng hắn xách mé cô nhưng lúc ở tầng dưới hắn lại thốt lên lần nữa. Chỉ thứ lặp đi lặp lại nhiều trong đầu mới dễ sẩy miệng như thế. Và nữa, khi xem bức ảnh yoni hắn say mê lạ thường. Nhất định hắn đã thấy chữ này trên linga từ trước.
- Chưa chắc, hắn có thể thấy chữ này trong sách hoặc ở phòng triển lãm trên Bộ. Hơn nữa, nhìn bức ảnh này bất cứ ai cũng tò mò.
- Không chỉ dòng chữ, hắn đã biết trước đây là yoni quý. Theo tôi hắn đã có linga và muốn chiếm nốt yoni.
Thi Nga biết đây chỉ là một xác suất rất nhỏ nhưng cũng không phủ nhận.
- Có lẽ vậy... – Cô nói, mắt nhìn y đang lại gần.
- Tôi tin đêm qua hắn đã nhìn thấy linga này ở đâu đó. - Kì Phương tiếp. - Trong khi ta cấp tốc đi tìm Naga thì hắn cũng âm thầm ráo riết săn tìm yoni. Khi biết yoni đang ở Naga thì hắn mới chấp nhận đi tìm Naga cùng chúng ta.
- Và giờ thì hắn đã thất vọng?
- Hắn chỉ thất vọng một nửa, để tìm được Naga, hắn vẫn rất cần ta.
- Giả thiết hắn đã có linga trong tay có vẻ viễn vông quá? - Cô lắc đầu. - Nếu đúng hắn đang có linga, hóa ra ta gặp may quá.
- Không có gì may mắn ở đây cả. Cô nên nhớ là linga có thể là cái mà ba cô đã đào lên sáng nay. Kể ra tay săn linga chuyên nghiệp này đoạt được linga đó cũng không có gì là lạ. Khi một món đồ cổ quý ở đâu đó bị mất cắp, điểm đến cuối cùng là những ông trùm.
Thấy Thi Nga lặng thinh, anh tiếp:
- Cô ở Pháp lâu rồi nên không hiểu dân An Nam chúng tôi. Khi anh bị mất cắp vật gì đó đặc biệt, cách lấy lại nhanh nhất là đến tìm đến hiệu cầm đồ chuyên về thứ đó.
Thi Nga nhận ra lập luận này hơi bi hài nhưng không phải là không có lí. Ngay ở Pháp, nhiều bức họa nổi tiếng bị mất cắp không thể nào tìm lại được cho đến khi người ta thấy nó ở chợ trời hoặc trong két sắt các nhà sưu tập tư nhân. Nhưng cô lại càng tỏ ra e ngại hơn:
- Sẽ có bao nhiêu người suy nghĩ như anh?
- Ý cô là sao?
- Tôi nói để anh biết. - Giọng cô nghiêm trọng. - Đêm nay hắn sẽ tiếp bao nhiêu vị khách không mời mà đến như chúng ta?
Kì Phương hiểu ngay, cũng như bất cứ một tay anh chị nào khi trúng quả, bọn xôi thịt và phường lâu la sẽ ngửi thấy và bu đến như ruồi. Đáng sợ nhất là những nhóm giang hồ khác sẽ tìm đến y để đoạt lại báu vật bằng mọi giá. Kì Phương vừa nghĩ đã muốn chuồn lẹ vì anh rất sợ phải tham gia những bữa tiệc sắt máu kiểu này.
- Tôi chỉ mong anh đoán sai. - Thi Nga ghé tai anh. - Nếu không... hắn sẽ thủ tiêu chúng ta mất...
- Không! Hắn cần chúng ta để tìm nốt yoni kia!
- Đúng. - Thi Nga thì thào. – Nhưng hắn cũng sợ ta cướp lại linga, một khi ta không có lợi cho hắn thì hắn sẽ loại bỏ chúng ta!
Trong khi Kì Phương và Thi Nga đang mải mê phân tích tình huống và đoán định về Simha thì y đang chơi một ván bài cao tay hơn. Trong căn phòng đọc nhỏ cuối thư viện, y đã nghe lén cuộc nói chuyện đã kéo dài tới hơn chục phút từ một chiếc máy mini mà y vừa kịp giấu trong một hộc tủ rất gần với chiếc bàn họ ngồi. Nghệ thuật tạo không gian mang cảm giác an toàn, thoải mái và kín đáo giả tạo cho các đối tác tha hồ bàn tán trong tầm nghe lén nhằm mục đích tìm sơ hở hay mánh mung của họ mà y từng thực hiện rất thành công. Xem cách Kì Phương săm soi rồi phân tích chiếc ảnh yoni, cách anh tìm kiếm loại sách và giảng giải với Thi Nga làm cho y ngày càng tin rằng Kì Phương biết rất nhiều về Naga và có phương pháp rõ ràng cụ thể để tìm kho báu chứ không phải chuyện đùa. Giờ thì y dám khẳng định rằng kéo họ về đây quả là lựa chọn táo bạo và đáng giá.
*
Kì Phương rợn buốt sống lưng. Nếu quả đúng y đang nắm linga thì đây là một điều xấu hơn điều tốt. Một con hổ đang tha mồi thì tốt nhất nên tránh xa nó. Kì Phương ngóc đầu lên xem hắn ở đâu thì có tiếng động nhẹ sau lưng. Tiếng gõ lộp cộp trên sàn gỗ to dần cho đến khi một mũi giày đinh thò ra dưới gầm bàn. Trong khi Kì Phương và Thi Nga đang xì xào thì y đã làm một việc quan trọng. Đó là chỉ đạo đám đồ tể của mình cất giữ báu vật cũng như sẵn sàng ra tay khi có lệnh của y.
Kì Phương và Thi Nga giả vờ chăm chú vào đống sách nhưng cố nặn óc làm sao vừa tìm được Naga vừa an toàn ra khỏi đây. Cách duy nhất là làm cho y tin rằng anh sẽ tìm ra Naga và cả yoni vàng cho hắn. Simha bước đến cất giọng tận tình như một gã bồi bàn mến khách.
- Anh chị cần gì cứ nói đừng ngại. Tôi đã gọi bánh ngọt và cà phê. Tiếc là hết Lavazza kiểu Ý, hai vị dùng tạm cà phê chồn Kopi nhé?
Con nghiện nào trước khi trấn lột cũng thường thỏ thẻ phỉnh phờ nạn nhân. Kì Phương chả ham hố gì thứ nước uống nghiền từ phân chồn Indo này bất chấp giá mỗi li lên tới vài triệu đồng. Nhưng tùy gia tập tục, anh nói:
- Vâng, cám ơn. Tôi rất muốn tìm các cuốn sách viết về văn khắc Champa nhưng trong thư viện này hình như không có?
- Anh muốn tìm sách nào hay văn bia nào, tôi sẽ tìm cho.
- Tất cả các sách viết về bia kí ở Mỹ Sơn.
- Cụ thể đi. - Y nghênh đầu cười nhã nhặn. - Anh biết là có hơn hai chục cuốn loại này của các học giả Pháp đấy!
Kì Phương thoáng chút sửng sốt với số lượng lớn như vậy nhưng nhìn điệu bộ của y anh hơi ngán. Với cách này y sẽ giám sát và theo dõi từng mạch nghĩ của anh. Tệ hơn, khi giải mã cho y xong thì đời anh cũng hết. Đáp án nằm trên bốn bia, anh phải giữ bí mật một cái làm phao cứu mạng.
- Hãy mang cho tôi những sách có bia kí A5, D6.
- Được! Hãy chờ nhé.
Nói xong y đi về phía tủ. Không lẽ lúc họ ở tầng dưới y đã bỏ lên đây cất giấu các sách bia kí? Y đã biết mật mã sao? Hay y giấu sách chỉ là một hành động đề phòng bởi y từng kể là mấy lần bị trộm hỏi thăm hay ai đó khám nhà. Trong lúc chờ y, Kì Phương bật điện thoại kiểm tra tin nhắn và anh thấy một tin gửi từ quê nhà “ hãy mở email ngay’’. Tuy đang lạc vào lãnh địa của Simha nhưng anh vẫn từng phút từng giây đợi những bản văn khắc từ người bạn gửi đến. Anh nhắc Thi Nga.
- Cô hãy canh chừng hắn cho tôi.
Kì Phương hồi hộp bật máy tính kết nối wifi rồi mở hòm thư. Chỉ đúng một bức thư của người đồng nghiệp tận tình nhất. Khi thấy 4 file ảnh hiện lên anh vui mừng khôn xiết vì bốn tấm bia đã được chụp. Tuy nhiên niềm vui chỉ diễn ra đúng ba giây, vì có hai tấm khổ rộng và hai tấm khổ hẹp nên anh nhận ra đó là 4 mặt a-b- c-d của một khối bia hình hộp mà thôi. Đó là bia A5.
Thi Nga đoán đúng, bia này đang ở Bảo tàng Chăm. Dù sao cũng nên vui hơn buồn, anh lướt mắt đọc mấy dòng tái bút và điều này làm anh thất vọng thực sự. “ Phương! Tao chỉ thấy mỗi bia A5 thôi, bia D6 tao không thấy. Tao đã gọi điện hỏi tất cả các thầy rồi nhưng họ cũng không rõ. Bia E3 thì hình như đang trong kho nào đó cần có nhiều thời gian để tìm. Còn riêng bia C8 thì có lẽ ở Pháp hoặc tan vụn rồi. Chúc may mắn. ’’
Ngán ngẩm. Cứ coi như sẽ tìm thấy ba bia kia nhưng nếu quá muộn thì cũng vứt. Theo nguồn thống kê của Pháp thì nhóm C chỉ có 7 di tích. Nhiều tài liệu khác lại không thống nhất, có khi đã phát hiện ra C8 nhưng chưa cập nhật hoặc công bố. Vì vậy anh đang chờ sách của Simha.
Kì Phương thầm trách Paul đã phạm sai lầm khi tạo một mật mã tản mát đến thế nhưng cũng nhờ đó mà nhiều kẻ khác phải bỏ cuộc. Thấy anh ngồi thẫn thờ, Thi Nga chạy lại hỏi.
- Lại tiếng Phạn hả?
- Chăm, chỉ có bia đầu A5. Bia cuối C8 không tồn tại.
- Không ai dùng một cái không tồn tại để chỉ một cái đang tồn tại cả.
- Hay là tôi lại hiểu sai các kí tự nhỉ?
- Bình tĩnh lại đi. - Thi Nga an ủi. - Y sẽ bổ sung tư liệu cho ta. Dù sao anh cũng phải dịch tấm bia A5 này đã.
Lúc đó Simha cũng vừa đi tới, y đặt một chồng sách nữa lên bàn rồi nhìn Kì Phương hất hàm.
- Bia kí đấy, dịch đi!
Kì Phương chọn ngay cuốn sách khá dày có tiêu đề tiếng Pháp: “ Kiểm kê văn khắc Champa và Camboge’’ xuất bản năm 1908 của George Coedes. Anh hăm hở lật ra tìm một hồi chỉ thấy văn bia A5. Đúng như anh nghĩ, đây là bản rập hiện trạng chưa dịch nghĩa. Tuy chưa dịch được chữ nào nhưng Simha đã kè kè bên cạnh anh với cây bút trên tay. Kì Phương đã có cớ để đuổi hắn đi.
- Anh hãy tìm cho tôi cuốn từ điển tiếng Phạn – Anh hoặc Phạn – Pháp.
- Cô Thi Nga! – y chỉ tay. – Cách cô hai dãy, đầu cùng tầng ba là khu từ điển.
Thi Nga không muốn mất thời gian nên đi ngay. Sau một lúc cô đặt cuốn từ điển Phạn – Anh trước mặt anh. Kì Phương vẫn quyết đuổi cổ Simha:
- Còn hai bia D6 và E3, anh tìm giúp tôi. Tìm luôn bản dịch thì tốt.
Đợi Simha chạy đi, Kì Phương dừng tay đưa bảng kí hiệu ra xem lần nữa. Một nhoáng sau, Simha lại mang tới một chồng nữa. Quả thực Simha là một tay sưu tầm sách có hạng. Kì Phương đảo mắt qua chồng sách cao hơn người. Nào là “ Văn khắc tiếng Phạn của Champa và Campuchia’’ nhưng của một tác giả khác là Abel Bergaigne, xuất bản năm 1893. “ Nghiên cứu đầu tiên về văn khắc Chăm’’ của Étienne Aymonier, xuất bản năm 1891. “ Những văn khắc phát hiện ở Champa’’ của Camile Paris, năm 1896... Toàn tiếng Pháp nguyên bản.
- Đủ chưa? – Simha nhìn anh hỏi. - Còn chục cuốn nữa đấy, để tôi lấy nốt!
- Thôi thôi, tạm thế đã.
Kì Phương thán phục với những công trình Champa học mà người Pháp để lại, trong đó có nhiều cuốn mà anh tìm đỏ mắt ở trong nước mà không thấy. Chỉ mảng văn khắc mà đã hơn hai chục cuốn, chưa kể sách về kiến trúc, lịch sử, tôn giáo... Quả thật, đêm nay tìm tới Simha là quyết định sáng suốt nhất đời anh.
Kì Phương lần lựa xem các mục lục để chọn cuốn nào đầy đủ nhất và anh lấy cuốn “ Văn bia Mỹ Sơn’’ của Louis Finot xuất bản năm 1904. Louis Finot là học giả dành nhiều tâm huyết cho bia kí nhất và cũng là người Kì Phương hâm mộ nhất sau Paul. Finot từng gắn bó nhiều năm với Champa và Angkor. Ông học tiếng Phạn từ hồi còn là cậu bé chăn cừu cho đến khi thành giám đốc đầu tiên của EFEO vẫn còn học. Ông là một trong những chuyên gia Phạn ngữ uyên bác nhất mà EFEO may mắn có được. Tuy nhiên cuốn này không như anh nghĩ, số văn bia không nhiều, chưa chuyển ngữ mà chỉ thống kê, ghi chú, tóm tắt. Cuối cùng, anh vẫn tìm được một bia mình cần nhưng lại trùng với cái mà anh đã có - bia A5. Không bản dịch.
Trước sau gì cũng phải dịch A5. Kì Phương cho rằng phải dịch dứt điểm từng bia một tránh nản chí. Yếu tố tổ chức rất quan trọng. Vẫn tuân thủ phương pháp giải mã theo nhóm, anh phân công.
- Ba chúng ta hợp lực dịch từng phần bia này trước. Simha và Thi Nga dịch hai mặt phụ ít chữ hơn, còn tôi dịch hai mặt chính. Sau đó khớp từng phần lại.
Kì Phương nói xong đưa sách cho họ còn từ điển dùng chung, anh dùng bản trên máy tính. Anh vừa dịch vừa nghi, xóa, rồi lại cắm cúi sửa. Simha không quen tỉ mẩn, y cúi mặt một lúc thì lim dim gà gật. Một lúc sau, y châm thuốc bồn chồn nhìn hai người rồi lại lật tung đống sách với hi vọng tìm thấy bản dịch. Không thấy gì, y bắt đầu tỏ ra nghi ngờ Kì Phương.
- Chúng ta phải làm thế này với mấy tấm bia?
Kì Phương nghĩ giấu diếm cũng không cần thiết bèn nói thật.
- Tất cả bốn tấm.
- Những tấm nào nữa?
Kì Phương lấy bản mã sang cho y tự đọc, biết đâu y nảy ra ý tưởng gì mới. Anh vẫn cần mẫn từng tí một. Dịch chưa đầy ba dòng anh nhìn đồng hồ và hốt hoảng vì đã nửa tiếng trôi qua. Giả sử như có phép màu tìm thấy bốn tấm bia nhưng với tốc độ này, để dịch xong chắc phải đến sang năm. Paul không “ chơi đểu’’ đến mức đó nếu thực sự ông muốn ai đó giải nhanh trong ngày. Đấy là chưa nói bia C8 không phải bia kí mà là thuộc hệ phân loại khác của Coedes. Kì Phương xem lại bản mã.
A5D6
E3C8
Lười biếng là một lợi thế, chỉ có kẻ lười mới nghĩ ra cách giải quyết thông minh hơn. Anh đọc lướt toàn bộ bốn mặt bia để rà quét những từ khóa đặc biệt-các danh từ khả nghi như: Naga, thánh địa, kho báu, mỏ vàng, cúng tế, hiến dâng, cất giấu... và chỉ ưu tiên dịch các câu xung quanh các từ khóa này. Bởi nếu có kho báu chắc chắn phải nội hàm các từ đó. Đây là cách làm tắt “ đi thẳng vào tim’’ rất tiết kiệm thời gian và hiệu quả, nhất là trong hoàn cảnh này. Thế nhưng điều oái oăm là dòng nào câu nào cũng chứa vàng, không vàng thì bạc, không bạc thì đá quý... Công việc không nhanh đi bao nhiêu. Cả nhóm im phắc, làm việc hăng say. Bỗng dưng Thi Nga phá tan yên lặng khi reo vang:
- Đây rồi!
Kì Phương và Simha nhổm dậy uôm tới ghé sát má cô để nhìn một bản chữ bé xíu. Mùi Chanel và làn da thơm ngát làm hai thằng chả thiết gì đến kho báu nữa.
- Đâu? Đâu? – Simha riết giọng.
Kì Phương nhìn dòng chữ đầu bút chì của cô. Toàn bộ máu trong người anh như dồn hết lên đầu. Thật không thể tin nổi, dòng chữ tiếng Phạn bé xíu đã làm anh tê cứng:

“ ... thánh địa Naga, kho báu cất nơi... ’’
Chính nó! Kì Phương vỡ òa vì đã chạm đích. Bầu trời đen kịt mấy ngàn năm bỗng bừng lên sáng chói. Đọc qua thì ngỡ như một thể thơ tứ tuyệt nhưng đó là bài thơ thuộc thể rucira hoặc upajati nào đó đã đứt đoạn trên bia kí. Simha gầm lên:
- Kho báu cất nơi... Nơi nào ? nơi nào!
Mắt họ cùng nhìn phập xuống dòng tiếp theo. Ác thay, cũng như bao bia kí đang đánh đố và trêu ngươi loài người mấy trăm năm nay. Tệ hơn, tấm bia này bị vỡ một miếng to tướng làm mất sạch mấy dòng sau. Cả ba tiếc đến ngẩn ngơ, giống như đang xem đến đoạn cảnh nóng của một bộ phim hay thì bị mất điện.
- Tại sao lại mất? - Simha sửng cồ gầm thét. - Ai đã phá tấm bia này?
Y vằn mắt lồng lộn như một con sói bị cướp khúc xương nhai dở trong miệng và sẵn sàng xé xác bất cứ kẻ nào xung quanh.
- Ai phá thì phải hỏi ông Finot chứ? - Kì Phương than trời.
- Ai? Finot là thằng quái nào? – Y quắc mắt nhìn Kì Phương như thể anh là thủ phạm vậy. Khi thấy bìa sách, y bỗng tẽn tò đập bàn chửi đổng chữa ngượng.
- Mẹ khỉ, đen thế! – Rồi y lại tru tréo. - Hay là chính ông ta đập vỡ? Rất nhiều kẻ đọc xong đập đi để phi tang rồi một mình đi đào kho báu đấy!
Kì Phương cố nhịn cười, anh không tin các nhà bác học lại xử sự như những tên đạo chích như thế. Y đang suy bụng ta ra bụng người. Theo Kì Phương, khi Camille và Codès đến Mỹ Sơn thì bia này đã bị vỡ rồi nhưng cũng không loại trừ họ vô tình làm vỡ. Ngay trong nội bộ EFEO cũng xuất hiện cáo buộc lẫn nhau về việc cố ý phá hoại các công trình nghệ thuật. Năm 1919 Henri Parmentier đã biên soạn một cuốn danh mục cho bảo tàng Tourane - tiền thân bảo tàng Chăm có ghi khối bia Chiêm Đàn bị xẻ thành ba mảnh, ông cho rằng lỗi cố ý của Camille khi nghi rằng: “ bằng bàn tay của các người phu đá của Camille Paris’’. Về sau người ta đã tìm thấy bản báo cáo của Camille viết rằng khối bia này đã bị xẻ ra nhiều mảnh từ trước khi ông phát hiện ra nó.
Câu hỏi ai đã xẻ bia này và vì mục đích gì có lẽ mãi mãi là một điều bí ẩn.
Nhìn xuống trang sách này, tấm bia A5 này bị cắt đục đúng chỗ “ nhạy cảm’’ làm Kì Phương giật mình nghĩ đến đã có một âm mưu mờ ám. Chắc chắn đã có bàn tay can thiệp có chủ đích. Hơn lúc nào hết, sự ngờ vực của anh về các tu sĩ Champa đập bia để che dấu bí mật là có cơ sở. Kì Phương không hiểu vì sao Paul lại chọn câu thơ cụt này, nhưng chỉ trong tích tắc anh chợt nghĩ ra ý đồ của ông cao siêu hơn nhiều. Cũng giống như sách kinh thánh hay kinh koran vẫn hay được viện dẫn để làm mật mã, Paul chơi hẳn sách đá Champa. Kho báu mà ông muốn chỉ ra không nằm ở dòng tiếp theo mà là nơi 3 tấm bia còn lại. Tuy nhiên Kì Phương không nói ý này cho Simha biết mà cứ để cho y nghĩ như thế càng hay. Thật thú vị nếu đây cũng là mẹo của Paul.
- Chúng ta dịch tiếp đi. - Thi Nga nói. - Biết đâu nó nằm đoạn sau nữa thì sao?
Simha xăng xái hẳn lên, y đã đánh hơi ra kho vàng đang ẩn náu đâu đây. Kì Phương không dịch mà anh đang ào ạt nghĩ. Anh dám cá ba câu thơ còn lại nói về một ngôi đền cổ, một hang đá nào đó chôn giấu kho báu. Vậy làm sao lọc nhanh được ba câu còn lại giữa cả biển chữ? Nếu mỗi tấm có bốn mặt thì tất cả có 16 mặt, tính sơ sơ cũng ngót ngàn chữ trong khi chỉ cần bốn câu thơ ngắn. Nhất định đây là đòn tung hỏa mù của Paul, anh tin rằng nó có quy luật.
Câu thơ Thi Nga vừa đọc nằm mặt thứ tư, mà gọi đúng quy tắc thì nó là mặt D. Đây là quy định của các nhà khoa học Pháp và được dùng phổ biến đến nay. Anh nhìn lại câu thơ và nhận ra nó thuộc hàng thứ 6. Thôi đúng rồi! Té ra A5D6 là mặt D dòng 6 của bia A5. Nghĩ đến đây Kì Phương định đứng vụt lên hét thật to: tìm ra rồi. Rất may, chỉ trong một phần ngàn giây anh đã kìm lại. Quyết không để Simha biết.
Vậy thì E3C8 chỉ là một câu thơ nữa mà thôi. Tất cả chỉ là hai dòng trên hai tấm bia mà thôi. Kì Phương nhìn sang mật thư và thấy mình đã bỏ qua một đầu mối rất quan trọng. Dấu móc kép là hai chữ S. S kép. Nó hàm ý hai Stela chứ không phải bốn. Rõ ràng là Paul đã mã hóa một cách khắt khe đến từng dấu phẩy như biểu thức toán học. Đơn giản quá! anh suýt thét vang thư thể đã xua tan sự bế tắc của mình.
Simha và Thi Nga vẫn đang vật lộn với chồng sách lút đầu. Mặc kệ. Anh âm thầm tìm bia duy nhất còn lại. Ơn trời, chỉ cần một câu nữa! Không gian lại lặng ngắt, chỉ có tiếng giấy bút cọ vào nhau sột soạt lẫn trong hơi thở dồn dập từ ba trái tim đang bừng lửa. Thật lạ lùng, chỉ mấy tiếng trước, ba dòng máu xa lạ, ba chủng người khác nhau, ba phương trời xa tít bỗng tụ lại cùng nhau với một mục tiêu vĩ đại duy nhất. Mật mã Champa.
Đang hăng say vì công việc tiến triển một cách bất ngờ đầy hứa hẹn thì tiếng chuông cửa ré lên làm cả ba giật mình. Simha ngoái đầu ra cửa rồi nói:
- Chắc chồn Kopi đã lên! Các bạn nghỉ tay làm vài li cho tỉnh ngủ đã!
Y cất giọng hóm hỉnh rồi đứng dậy tiến về phía cửa. Trong ngôi biệt thự của y, mọi căn phòng được trang bị hệ thống liên lạc điện tử liên thông với nhau. Một lao công hoặc đầu bếp có thể hỏi ý các thành viên trong nhà có cần thêm ớt vào súp hay có nên cho cún yêu đi tắm nắng hay không. Trao đổi ngắn với ai đó xong, Simha quay trở lại. Da mặt màu cà phê chồn của y giờ đây xanh như đít nhái. Y lắp bắp:
- Cảnh... cảnh... sát đến!
Chương 26 Dưới sắc trời ảm đạm của ánh trăng bị che lấp, một chiếc Jeep tiên phong dẫn theo hai chiếc cam-nhông đầy lính và hai chiếc xe cứu thương đã tiến sát ngôi biệt thự. Một thế bao vây mau chóng được triển khai và chỉ còn chờ lệnh tấn công.
Từ khi nhậm chức, điều mà Thet chưa hiểu nổi là tại sao đến giờ này một kẻ như vầy lại đang nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Tuy đã nằm trong sổ đen bấy lâu nhưng mấy chiếc ô trên Hoàng cung luôn xòe ra đúng lúc làm mấy đời cảnh sát trưởng bất lực. Giá như y không phải là con riêng của một vị hoàn thân đầy công trạng thì Thet đã nhổ nó như một thứ cỏ độc từ khi nhậm chức, nhưng đêm nay, mọi thứ sẽ khác.
Thành trì kiên cố trước mắt Thet đang chứa chấp hàng ngàn cổ vật được liệt vào bảo vật quốc gia, nhưng ông xem nó không đáng một xu. Cú giỡn mặt xấc xược của chúng trên sân bay đã làm ông ê mặt với các đồng nghiệp Siem Reap. Lần này ông thề rằng dù chúng có gian manh đến đâu thì cũng không có sự lựa chọn nào khác ngoài chiếc bịt bùng. Nhìn hai chiếc Ambulance cũng đang im lìm chờ mồi, Thet ngạc nhiên với tính toán có phần bạo liệt của mình. Tất nhiên, ông biết làm gì để hạn chế thương vong.
*
Kì Phương và Thi Nga chết lặng khi nghe Simha báo. Rõ ràng Thi Nga đã cảnh báo anh rất sớm là ‘đêm nay sẽ nhiều khách không mời mà đến’. Lúc đó anh đã định rời ngôi nhà này nhưng rốt cuộc vẫn chưa kịp thực hiện. Kì Phương thấy rõ sự hốt hoảng lẫn căm hận nổi trên khuôn mặt của tên chủ nhà. Mỉa mai thay, sự căm hận đó lại dành cho anh. Y bất ngờ chỉ vào mặt Kì Phương.
- Họ đã bám đuôi các người về đây!
Kì Phương soát lại thật nhanh toàn bộ hành trình của mình. Một sự thật không thể chối cãi là anh đang bị truy nã. Cặp vé đi Siem Reap chỉ mua cho anh ngần đó thời gian và nó đã hết. Cảnh sát quá dễ dàng để lùng ra anh. Nghĩ theo ngả khác, nếu Simha vừa mang linga từ Việt Nam sang thì y bị cảnh sát bám theo cũng dễ hiểu. Mà bám theo ai thì cũng không quan trọng, vấn đề là họ đã đến.
- Có thể họ đã nhầm lẫn. - Kì Phương bình tĩnh nói. - Chúng tôi không hề phạm tội gì cả. Nếu anh cũng vậy thì chẳng có gì phải lo lắng.
- Nhưng giờ không phải là lúc tiếp đãi bọn chúng. Chúng ta cần đi tìm Naga ngay đêm nay.
Cả Kì Phương và Thi Nga tán thưởng. Cô nói:
- Nhưng đi làm sao được bây giờ?
- Trốn! – Y ghiến chặt răng quyết chí.
Kì Phương nhìn chồng sách quý đang xem dở mà tiếc nuối. Việc giải mã sau bao nhiêu trầy trật nay đang chạy nước rút mà dừng lại thì uất điên người. Không thể khác, anh vơ chiếc ba lô rồi lùa toàn bộ sách vào trong.
- Chúng ta vừa chạy vừa tìm. - Kì Phương nói.
- Thi Nga, cô cứ ở đây. - Simha ra hiệu cô đứng tại chỗ. - Tôi và Kì Phương lên tầng trên quan sát xem sao đã.
Hai gã đàn ông đẩy cửa ra ngoài rồi leo lên tầng cao nhất. Simha dành toàn bộ mặt bằng tầng 4 cho việc trau dồi thể lực và giải trí. Nhưng cách giải trí của y cũng chẳng giống ai. Cung nỏ, súng săn, dao rựa thổ dân Châu phi và những chiếc boomerang làm hắn ngỡ là bảo tàng quân sự. Trung tâm thể thao này cũng không thiếu các thiết bị tập tành hiện đại khác. Simha lấy ra một ống nhòm quan sát trước sân và hoảng hồn khi thấy một vòng vây đã dựng lên tự khi nào.
Kì Phương giật lấy ống nhòm xem qua rồi bất giác thụt vào trong. Nhịp tim anh bỗng đập loạn xạ. Bị bắt là chắc chắn, nhưng trong mấy phút tự do hiếm hoi này anh phải làm điều gì đó. Kì Phương liếc sang Simha và thấy y đang run như cầy sấy. Có lẽ y đang nghĩ cách tẩu tán các cổ vật và sang tên hàng trăm triệu đôla trong nhà băng cho bồ bịch nào đó. Chợt nhớ đến chiếc linga bị mất cắp. Phải rồi, đây là lúc tra khảo hắn. Nếu y đang cất giấu linga thì bảo vật này sẽ đi về đâu khi y bị bắt? Bị đồng bọn của y tẩu tán hay tiêu hủy. Nhìn xoáy vào đôi mắt đang thất hồn kia của y, anh đanh giọng:
- Simha, anh nói thật đi, anh giấu linga ở đâu?
Simha giật thót nhìn Kì Phương với ánh mắt rất đỗi kinh ngạc, y ngỡ như anh đã lắc mình để biến thành cảnh sát. Để đánh đòn tù mù này Kì Phương đã đặt cược cả tính mạng vào đó. Hỏi xong, chính người hỏi còn sợ hơn người bị hỏi. Sau câu hỏi phủ đầu, y lấy lại bình tĩnh rất nhanh.
- Linga nào?
- Đừng giả vờ nữa. Để đâu khai ra? – Kì Phương giáp sát hắn, mặc dù biết mình có thể bị ăn một cú đấm tung quai hàm.
- Ở đâu khai ra! – Kì Phương điên cuồng sấn tới hỏi rát mặt.
Simha phút chốc bị rơi vào giữa mấy mũi giáp công cả trong lẫn ngoài. Sau mấy giây bị sốc, y nhanh chóng lấy lại bản lĩnh của một tên trùm. Y đếch quan tâm Kì Phương nói gì. Đúng hơn là y coi như không có anh. Mắt y dáo dác ra cửa sổ bởi toán đặc nhiệm ngoài kia mới làm y đau đầu nhất. Kì Phương biết mình không có một uy gì, đấy là chưa nói y thừa sức ném anh ra cửa sổ. Biết mình đã lỡ chớn và chọn sai đối tượng, Kì Phương chỉ còn cách liều mạng đi tới cùng.
- Nghe đây! – Kì Phương túm lấy cổ áo hắn rít lên. - Anh biết tôi là ai không?
Bắt đầu có hiệu quả. Giờ thì y mới trợn trừng nhìn anh. Kì thực, y cũng chả biết anh là thằng cha nào. Thám tử? Chim mồi của cảnh sát? Người của Cả sư cài vào hay chỉ là một tên bảo vệ tầm thường như thủa trước? Y chỉ ân hận một điều là không sớm tống cổ chúng ra khỏi nhà. Vì chả dám chắc anh là ai nên đối mặt với câu hỏi này y biết nói dối hay nói thật cũng đều mắc bẫy. Thấy y đứng trơ mặt, Kì Phương liền tung đòn tới tấp.
- Anh đã cướp linga từ Mỹ Sơn về đây! Anh đã giết Paul.
- Câm đi, đủ rồi đấy! – y vung tay làm Kì Phương ngã nhào ra sau.
Nếu không có mối bận tâm từ bên ngoài, một cú đấm sẽ trả lời tất cả các câu hỏi đó, nhưng y biết tự kìm chế để không thêm rắc rối. Sau một hồi tấn công không thấy y động thủ, Kì Phương biết vì sao y chưa ra tay với anh. Y sợ cảnh sát bên ngoài và sợ anh cũng là cảnh sát nốt. Tóm lấy cơ hội hiếm hoi này Kì Phương gây tiếp sức ép với hắn.
- Linga đâu? Khai ra!
- Câm đi! – Bị ép hoài, y phản đòn. – Anh đừng vu khống tôi. Tôi không hề biết linga nào hết.
- Linga vàng có dòng chữ dưới đáy! - Kì Phương tiến lên một bước, nói như đinh đóng cột. – Chúng tôi đã ghi âm các cuộc gọi và xem hết các file ảnh từ máy soi sân bay của anh. Lúc nãy tôi cho anh xem bức ảnh yoni là để thử thái độ của anh, nhưng anh đã lờ đi.
Simha chột dạ. Đúng là cảnh sát. Chết tiệt. Chúng đã theo mình từ lâu? Thay vì nhìn ra cửa sổ, y dè chừng kẻ đang đứng trước mắt mình. Y lúng búng nói:
- Tôi... tôi chỉ làm theo lệnh bề trên mà thôi...
Kì Phương biết mình không thể đóng vai cảnh sát quá lâu, nếu không chuồn vội thì cảnh sát sẽ thộp cổ anh trước tiên. Tuy anh cũng có nhu cầu đào tẩu như y nhưng đây là cơ hội có một không hai. Anh cố lấy bình tĩnh đóng vai một trinh sát để lấy cung. Càng đi sâu vào vở kịch, anh thấy mình vụng về và nghiệp dư đến khốn khổ. Cố nói đanh và nén cơn run, anh rít lên:
- Anh đang bị bao vây và không thể trốn thoát được đâu. Tôi muốn biết linga đang ở đâu? Nếu khai ra, tôi hứa sẽ bảo vệ tối đa cho anh.
- Tôi sẽ khai... nhưng anh hãy để tôi ra khỏi đây đã.
Ra khỏi đây? Kì Phương không biết y sẽ ra bằng cách nào. Nếu y ra được tức là anh cũng ra được? Kì Phương biết thỏm y đang dùng linga để đánh đổi tự do. Anh biết cảnh sát có quyền thả cá bé để câu cá to hơn. Anh lưỡng lự rồi đáp.
- Được! Tôi sẽ để anh ra khỏi đây... nhưng tôi cần biết linga ở đâu.
- Tôi sẽ nói sau khi ra khỏi đây.
- Anh ra bằng cách nào? Tôi không thể để anh ra một cách lộ liễu được!
- Yên tâm! – y cười đểu cáng. - Miễn là anh đừng bắn vào lưng tôi.
Thỏa thuận trong tình thế này với một kẻ như y là không có gì chắc chắn, Kì Phương chợt nghĩ không biết nó mắc kế mình hay mình mắc kế nó đây. Chắc gì hắn đã có linga. Thực ra để được đảm bảo trốn thoát, trong bước đường cùng y có thể khai bừa miễn để trốn cái đã. Sau khi ra khỏi đây an toàn y sẽ quay lại tính sổ với anh. Nhưng đó là việc sau này, giờ đây anh cần phải thoát.
- Vậy thì nhanh lên, chúng ta phải ra khỏi đây thật nhanh. - Kì Phương rối rít ra lệnh mà gần như van xin.
Simha nhe hàm răng trắng ởn cười khì khì. Y đọc và học ở anh cũng được một vài điều. Giờ đây y không dám chắc Kì Phương làm việc cho ai, nhưng thân phận và mục đích của anh ra sao thì y đã rõ mười mươi. Không sao. Y cười thương hại. Dù sao y vẫn cần anh và nhiệm vụ sống còn của cả hội là phải trốn cho bằng được. Còn chặt cái đuôi này thì y thiếu gì lúc.
- Đi theo tôi!
Cả hai vội vã chạy về phía cửa đúng lúc cánh của bật tung.
- Các anh làm quái gì đây!
Tim Kì Phương nhảy thót lên đầu nhưng may đó là Thi Nga, cô mang chiếc ba lô to kềnh đứng trước cửa rồi hét lên:
- Nhanh chân lên! Chạy đi chứ?
Simha định chạy xuống cầu thang nhưng nghĩ sao y lại quay lại tìm kiếm gì đó. Thi Nga cuống quýt giục:
- Simha, đây là nhà của anh, anh biết thoát đường nào.
Thấy hai vị khách tỏ ra hốt hoảng thực sự chứ không phải đóng kịch, y càng tin họ không phải là tay trong của cảnh sát. Là chủ nhà, y biết thoát ra khỏi đây vô cùng khó. Tòa biệt thự hơn mười triệu đô như một ốc đảo lẻ loi hoàn toàn cô lập với bên ngoài. Dấn sâu vào cái nghề bạc bẽo này đã ngót chục năm, chưa bao giờ y phải lâm vào đường cùng ngõ cụt như lúc này. Để vun vén và bảo toàn một cơ nghiệp kếch sù, y đã mạnh tay chi hàng trăm ngàn đô-la cho công ty an ninh để có được “ hệ thống phòng thủ’’. Đó là mạng lưới chống đột nhập điện tử bằng camera và đầu cảm ứng rải dày đặc từ tường bao cho đến nóc nhà cùng hàng rào điện trung thế chằng chịt. Cửa bọc titan, tường bê tông và kính silicon chống đạn đã tạo một lô cốt bất khả xâm phạm cho y giữa thời bình. Nhưng đối mặt với toán đặc nhiệm, hệ thống đắt đỏ kia không còn tác dụng gì nữa.
Trong các trang thiết bị tự vệ và phòng thủ của y không thể không nói đến một nhân tố khác: đó là súng. Y có một khẩu Smith & Wesson kèm theo ống giảm thanh mà y trộm được tại Siem Reap trong tư gia của một chỉ huy lực lượng UNTAC mười bảy năm về trước. Y biết loại súng Mỹ này rất tốt, chôn chục năm dưới bùn đào lên vẫn bắn như thường. Mặc dù quăng quật đến chai sờn trong giới giang hồ ngần ấy năm nhưng y chưa hề sờ đến thứ đáng sợ đó. Để giải nguy, y quen dùng một loại vũ khí Mỹ khác huyền diệu hơn nhiều - đôla. Thật kì diệu là thứ giấy mềm mại kia đã đánh ngục không biết bao nhiêu đối thủ cơ bắp lẫn công quyền mà y phải đối mặt trên con đường chinh phục thế giới. Tuy nhiên, đêm nay khẩu Smith & Wesson sẽ phải nhập cuộc.
Simha mở tủ rồi lôi ra một cái hộp gỗ sồi bám đầy bụi. Y cẩn thận mở ra kiểm tra lại các linh phụ kiện và nhét cả băng đạn 6 viên vào bao rồi quay lại nhìn hai vị khách. Một làn gió lạnh len qua cửa làm cả ba rùng mình. Y nói rất khẽ.
- Hãy theo tôi!
Kì Phương đỡ chiếc ba lô nặng trĩu trên vai Thi Nga rồi cả hai bám gót theo y. Đến phòng ăn tầng một, y tiến về chiếc tủ rượu kê sát tường rồi mở một cánh cửa chui vào trong. Kì Phương chưa kịp nhìn vào thì y đã lôi tuột cả hai vào trong rồi đẩy sang một hành lang tối om phía sau bức tường hậu. Cũng chưa kịp thấy gì thì y đã sập cánh cửa sau lưng rồi chạy lên trước.
- Chạy theo tôi. Nhanh!
Lúc này, ánh đèn trần cảm ứng mới bật sáng để lộ một đoạn hành lang hẹp khá dài và dốc xuống, tiện cho một chiếc xe lăn đi lại. Đi xuống một quãng họ lại quay ngược theo hình zic zac cho đến khi xuống sâu một căn phòng khá rộng. Mùi rượu vang thoảng thoảng gợi nhớ một hầm rượu nho. Nhìn quanh nơi ẩn náu khá tinh tươm nhưng Kì Phương vẫn gợn lên nỗi bất an lớn.
Cố thủ ở đây thì rõ là không thọ nhưng dù sao thì vẫn thừa thời gian để giải nốt mật mã dang dở. Kì Phương ngó chiếc bàn định tranh thủ lấy sách ra thì đột ngột nhìn thấy một chiếc xe màu đen to kềnh sau lưng. Hóa ra đây là một gara ôtô ngầm rất lớn nhưng lúc này chỉ có một chiếc Hummer nằm sát vách. Đây là chiếc xe dã chiến nhất chỉ dành cho tình huống khẩn cấp và mặc dù muốn khoe với Kì Phương từ trước nhưng y đã không để lộ.
Simha tìm chìa khóa rồi ấn công tác điện, cánh cửa cuốn kim loại bắt đầu nghiến ren rét trước mũi xe.
- Lên xe! - Y hạ lệnh.
Trong khi chờ cửa mở, y khởi động máy rồi rút tẩu tranh thủ bắn một hơi cuối cùng trước một cuộc chạy trốn không biết đến bao giờ mới kết thúc. Kì Phương ngồi bên cạnh, mắt anh căng lên nhìn khoảng không đen ngòm phía trước mà không biết vận may có mỉm cười với mình nữa hay không. Bỗng “ két’’ một tiếng ghê tai. Cánh cửa kẹt cứng. Bóng đèn vụt tắt.
- Khốn khiếp. – Y rít lên. - Chúng cắt điện rồi!
Y tắt máy rồi nhảy khỏi xe. Không gian tối mịt. Thứ ánh sáng duy nhất lúc này là chấm đỏ đung đưa đầu chiếc tẩu chưa kịp tắt. Y loạng quạng trong bóng tối như muốn tìm thứ gì đó. Kì Phương nghĩ bụng y đang tìm cách kéo chiếc cửa cuốn lên cao bèn xuống xe định giúp nhưng anh chợt nhận ra một điểm sáng bàng bạc trên trần nhà. Là dân xây dựng, anh biết ngay đó là một tấm kính lấy sáng hoặc một cửa thông hơi tầng hầm. Sở dĩ y phải tắt đèn pha ô tô vì bên trên có thể nhìn thấy. Kì Phương hạ balô định tìm tờ giấy che tấm kính thì ngay trên đầu vọng xuống một âm thanh chói óc.
“ Tất cả hãy hạ vũ khí đầu hàng ngay lập tức! Chúng tôi cho phép ba phút để các vị bước ra cửa chính... ’’. Kì Phương không kịp nghe hết câu thì Simha đã nhanh tay nhét bao thuốc lá vào lỗ thủng. Âm thanh câm bặt. Xung quanh tối sầm trở lại. Kì Phương đang loay hoay không biết Thi Nga đang ở đâu thì một tiếng rít vang khẽ bên tai.
- Đưa ba lô đây!
Tiếng y rên lên trong phòng kín nghe rờn rợn. Kì Phương rùng mình lùi lại thì nhận ra đốm lửa đã hiện lên ngay trước mắt cùng mùi nicotin phả ra nồng nặc. Theo phản xạ, anh lùi thêm bước nữa nhưng một bàn tay đã quờ sang giật mạnh làm chiếc balô rơi phịch xuống đất. Nhanh như cướp, y nhặt lên rồi bước đi. Kì Phương ngớ người chưa hiểu chuyện gì xảy ra thì đốm lửa đã lạng ra xa rồi chập chờn như ma trơi trước khi mất hẳn.
Phần vì tối trời, phần vì quá bất ngờ nên Kì Phương chưa kịp phản ứng gì. Anh gọi khẽ Thi Nga và tiếng đáp của cô chỉ cách anh một sải tay. Simha đã không dám mạo hiểm khởi động lại chiếc xe nên đã chuồn một mình. Biết đó là lối thoát duy nhất, Kì Phương kéo cô chạy theo y. Vừa chui qua cửa cuốn thì một vật cứng thúc mạnh vào ngực làm anh bật ngược trở lại. Kinh hãi tột độ. Trong bóng tối, một họng súng đang chĩa thẳng mặt anh.
- Cút đi!
Kì Phương điếng người bởi y đã ném cam kết với anh vào sọt rác. Tuy biết y là đối tượng khó lường nhưng anh vẫn không ngờ hành vi phản trắc đến sớm và phũ phàng đến vậy.
- Simha! – Kì Phương lắp bắp. - Anh đã phản bội tôi?
- Quay lưng lại, không được bám theo tao nữa!
- Anh đã đồng ý chúng ta cùng ra khỏi đây.
Ba đốm lửa trên mặt y đang long sòng sọc nhìn anh.
- Sự xuất hiện của bọn mày tại đây đã đẩy tao vào hiểm họa. Đừng làm lộ đường rút của ta nữa. - Y rít lên. - Đi theo tao sẽ bắn!
- Nếu tôi kẹt lại đây, một mình anh sẽ không bao giờ tìm ra Naga.
- Các vị chỉ giỏi đóng kịch! – Y cười nhạt. – Lúc trước các vị nói sẽ mang cổ vật đến cho tôi, rồi lại bày trò giải mã. Chưa hết, khi cảnh sát đến mày còn to gan hăm dọa tao. Ta đã đọc vị các người từ lâu. Các người chả có mẹ gì hết! Các người chỉ muốn đeo đuổi chiếc linga mà thôi. Lí do tôi chưa bắn bỏ các người là vì không muốn có hai xác chết trong ngôi nhà linga linh thiêng này.
- Tôi đã sắp tìm ra Naga. – Kì Phương xuống giọng khẩn thiết. - Anh đã thấy đấy, tôi thề chỉ cần một lúc nữa tôi sẽ biết Naga ở đâu. Tôi thề đó là sự thật.
Simha cười ruồi trong bóng đêm. Dù bạo mồm mạt sát Kì Phương nhưng trong bụng y đang thầm đội ơn anh đã giúp y xẻ ra một lối đi sáng ngời hướng về kho báu. Cách tổng hợp tư liệu, phương pháp giải mã và quan trọng hơn là y đã biết địa chỉ kho báu đang nằm ở đâu trong hàng ngàn cuốn thư tịch Champa mà y loay hoay bao nhiêu năm nay không lối thoát. Y đã lãi lớn khi biết chiêu mộ và lợi dụng anh đúng cách. Tuy nghĩ vậy nhưng y thốt ra khác hẳn.
- Không quan trọng nữa, các người hãy mang nó ra mà lập công với bọn cớm! Nói thật nhé, chúng nó cũng thèm kho báu lắm đấy. Chúc may mắn!
Y sổ ra một tràng cười rồi mất hút. Kì Phương tá hỏa định đuổi theo giật lại chiếc ba lô mà bao nhiêu bí mật đều nằm trong đó. Giờ đây anh mới nhận ra sai lầm chết người khi để y thấy bảng kí tự và cách giải mã với y. Không quá khó để y lần ra câu thơ cuối. Bỏ mẹ rồi. Kho báu sẽ lọt vào tay y. Kì Phương lao theo nhưng Thi Nga đã nhanh tay kìm giữ anh lại bởi cô biết căn hầm này là nơi lí tưởng nhất để y thủ tiêu đối thủ.
- Bây giờ làm sao đây? – Thi Nga hỏi.
Kì Phương chẳng biết làm sao khi đã bị mắc kẹt lại giữa hai gọng kìm. Và cả cô nữa, khi lâm vào cảnh sống dở chết dở này cô mới thấy hủy một đêm lãng mạn ở Siem Reap đêm nay chưa hẳn đã là giải pháp hay.
- Phải theo hắn tôi. – Kì Phương chỉ tay vào đường hầm cười chua xót. - Còn cách nào khác nữa?
- Hắn sẽ giết. - Thi Nga giằng lại.
- Hắn đã đi khuất, hơn nữa hắn sẽ không dám nổ súng vì sợ bại lộ.
Kì Phương lại lôi cô đi, đường hầm nồng nặc mùi thuốc lá lẫn mùi vôi vữa táp vào mặt. Khi nghe tiếng giày đinh lộp cộp phía trước, họ nép nhanh vào tường nghe ngóng.
Simha tay lăm lăm súng đi đến cửa hầm thì một sự thật hiện ra làm y tê tái người. Một chiếc bán tải chuyên dụng đã lấp kín cửa ra duy nhất. Y không liều đến mức xông vào toán lính vũ trang đang nấp sau chiếc xe kia. Thế là hết. Theo phản xạ, y thụt người lại rồi quay đầu bỏ chạy trước khi đàn cảnh khuyển bên ngoài ngửi thấy. Vừa co giò chạy thì y đâm sầm vào Kì Phương làm cả ba lăn quay trên nền hầm. Y vùng phắt dậy chĩa súng vào hai bóng đen đang lăn lóc trên sàn.
- Đừng! Đừng bắn, tôi đây! – Kì Phương vội vã thốt lên.
Y lập tức nhận ra giọng nói quen thuộc. Tuy tức lộn ruột nhưng vẫn còn may, nếu là đặc nhiệm chắc số y đã an bài.
- Mẹ mày! - Y rít lên giận dữ. - Mày vẫn chưa cút hả!
- Chúng tôi thực tình không biết đi đâu nữa. – Kì Phương vừa nói vừa lồm cồm đỡ Thi Nga ngồi dậy.
Simha cũng không biết xử lí hai cái đuôi này ra sao cho rốt ráo. Để sống thì vướng, mà giết cũng chẳng giải quyết được gì. Y đã hết lối thoát và cũng không còn chỗ nào an toàn hơn trong ngôi nhà này nữa. Y sẽ phải nộp mạng, nhà cửa, tiền tài, linga vàng, kho báu Naga, tất cả đang trong tầm tay bỗng tan tành mây khói. Y đã sai lầm khi rước chúng về đây. Tất cả là vì y muốn tìm nhanh yoni lẫn Naga. Tất cả là tại hai con nợ này.
- Còn lối thoát nào khác không? - Kì Phương nhẹ giọng hỏi.
- Cửa chính, còn hai phút nữa đấy! – y mỉa mai nói. - Tất cả chỉ tại các người. Nếu ta bị bắt, các người phải trả giá!
Tối hậu thư mà cảnh sát đưa ra chỉ còn hai phút, y còn đủ thời gian cân nhắc nên đầu hàng hay chống trả. Hình như y chọn cách hai. Y siết tay súng chạy ngược trở lại gara. Sợ y làm liều, Kì Phương và Thi nga vội vã đuổi theo.
- Simha, anh định làm gì? – Kì Phương gọi giật y lại.
- Phải liều chết thôi!
Biết y không dọa, Kì Phương cố chạy theo ngăn lại.
- Không được liều mạng!
- Tôi thà chết chứ không ngồi tù! Phải mở đường máu!
Vừa nói y vừa lao sầm sầm qua gara để leo lên đường dốc. Nhìn hành động dồn dập và khẩu khí tanh máu kia, Kì Phương biết y sắp lãnh điều tệ nhất, chống lại tá lính tinh nhuệ trang bị tận răng ngoài kia là bất khả thi. Nếu y quyết gây đổ máu, anh và Thi Nga cũng sẽ liên lụy. Tuy bị bao vây, nhưng dù sao chưa phải là hết đường thoát. Ngay trong phòng tập thể thao, các thiết bị hiện đại của y cũng hàm chứa nhiều công năng siêu việt khác mà chủ nhân của nó cũng không ngờ tới. Lúc ở trên đó, Kì Phương đã tranh thủ quan sát xung quanh và dù không muốn nhưng anh vẫn phải dự tính các việc phải làm nếu tình huống xấu nhất xảy ra. Tiếc thay, nó vẫn xảy ra.
Ba người rầm rập đuổi nhau trong tầng hầm. Khi Simha đang bẻ cua cầu thang dẫn lên phòng ăn thì Kì Phương đã nhanh tay tóm trúng vai áo của y.
- Dừng lại, nghe tôi nói đây!
Y quay phắt lại chĩa súng vào ngực anh.
- Nói ngay đi! Tôi không còn thời gian cho anh nữa đâu!
- Tôi, tôi... - Kì Phương vừa nói vừa thở dốc. – tôi... sẽ đưa anh ra khỏi đây!
- Bố láo! Buông ra! – Y giật mạnh rồi vừa chạy vừa gầm gừ. - Lúc ở tầng bốn mày cũng hứa cho tao ra khỏi đây đấy.
- Lần này tôi nói thật, tôi thề... nếu không đưa được anh ra khỏi đây! Hãy bắn tôi cũng chưa muộn!
Simha quay phắt lại nhìn trân trối khuôn mặt nhợt nhạt dưới ánh đèn trần.
- Mày... !
Y chĩa khẩu súng đã lên đạn vào ngực Kì Phương, và lần này anh tin y làm thật. Sau khi bắn anh, y sẽ bắn luôn cảnh sát hoặc bị cảnh sát bắn là chắc chắn. Chả biết có đưa nổi y ra khỏi đây không nhưng Kì Phương quyết ngăn ngừa việc này rồi thuyết phục y đầu hàng sau. Thậm chí cứ để y tìm ra Naga lập công chuộc tội càng hay.
- Thật đấy! – Kì Phương gật đầu quả quyết. – Đừng bắn, tôi thề sẽ đưa anh thoát khỏi đây!
- Bằng cách nào?
- Tôi chưa nói trước... nhưng anh phải tuân thủ lệnh tôi.
- Tuân lệnh của mày?
- Đúng thế.
“ Tuân lệnh’’ với y là một khái niệm không bao giờ tồn tại. Trên thế gian này chưa ai dám lệnh cho y trừ lão cha nuôi, nhưng bắt đầu từ sáng mai, lão già tàn tật kia cũng sẽ quỳ phục dưới chân y. Lần đầu tiên trong đời, y nhún mình.
- Thôi được, lệnh gì nói đi?
Y trương to cặp mắt đỏ ngầu nhìn Kì Phương thống thiết hệt như mắt khỉ van lạy khi bị chọc tiết. Trong lúc bấn loạn anh đã hứa bừa mặc dù biết kịch bản trên sân bay không thể lặp lại lần nữa. Thật lạ lùng, giờ đây anh không sợ bị bắt mà sợ y bị bắt. Anh không sợ bị bắt bởi kho báu khổng lồ thừa sức giúp anh lập công chuộc tội huống hồ anh vô tội.
Y khác, y có quá nhiều thứ để mất. Nhìn một kẻ coi thiên hạ như cỏ rác sắp sạt nghiệp đang run rẩy làm Kì Phương không thể nhịn được cười. Biết lòng trắc ẩn của mình đã đặt nhầm chỗ nhưng anh không thể thất hứa. Thấy anh tự tin bao nhiêu, y càng nghi anh là điệp viên trá hình bấy nhiêu. Y bẽn lẽn cất súng vào túi giục giã:
- Anh kì Phương! Anh không đùa tôi đấy chứ? Hãy đưa tôi ra khỏi đây, tôi sẽ đáp ứng bất cứ điều kiện gì của anh.
- Anh dám thề chứ?
- Tôi thề! anh có thể lấy bất kì thứ gì trong ngôi nhà này nếu anh thích.
Chợt nhớ ra, y gỡ ba lô trên vai rồi kính cẩn trao vào tay anh.
- Xin lỗi, tôi trả lại anh! và đây nữa...
Y tuốt vèo sợi dây chuyền trên cổ rồi dí nốt vào tay Kì Phương.
- Từ nay, bùa hộ mệnh này sẽ vĩnh viễn thuộc về anh.
Trong bóng tối, hột xoàn chín cara sáng lóe hiện rõ thần Siva đang lắc đầu quầy quậy khi biết mình bị mang ra đổi chác. Kì Phương xua tay.
- Tôi không cần đâu. Anh hãy giữ nó mà... hộ mệnh.
- Anh chê nó sao? Vậy anh cần gì?
- Nếu ra khỏi đây trót lọt, tôi chỉ cần được xem cái linga kia.
- Ồ, tưởng gì, tôi hứa.
- Anh đừng quên đã hứa trên tầng 4 rồi đấy.
- Lần này tôi xin thề trước thần Siva!
- Tốt rồi. - Kì Phương chỉ lên tầng thượng. - Bây giờ tất cả thật khẩn trương theo tôi.
Chương 27 Bên ngoài, trung đội cảnh sát đặc nhiệm đã siết chặt chiếc thòng lọng cuối cùng và chỉ còn chờ lệnh của viên đại úy. Ngả mình trên chiếc ghế trong chiếc xe Jeep rè rè máy lạnh, Thet Manet tự thưởng cho mình một lon Heniken sau khi phát hiện và khóa chặt một đường hầm bí mật. Phải rất lâu nhóm trinh sát mới dò ra đường hầm sâu gần ba mét này vì cửa hang được ngụy trang tinh vi trong một cửa hàng cuối khu đất giáp một con phố cách đó tới một trăm mét. Như vậy, mọi lối thoát từ mặt nước, mặt đất, lòng đất từ tòa lâu đài đã hoàn toàn bị khóa. Thet thề rằng trừ khi chúng mọc cánh hoặc được trực thăng giải cứu may ra trót lọt. Nhưng ở đây các giả thiết trên chỉ có trong phim viễn tưởng.
Nhấm nháp men bia, Thet nheo mắt nhìn ngôi nhà có hình thù buồn cười đến phát ngượng. Ông biết trong cái khối dị hợm đó có những cái đầu nóng luôn luôn tính quẩn khi bị dồn ép. Đã hết thời gian tối hậu thư nhưng theo thông lệ, ông gia hạn thêm hai phút nữa bởi ông biết chúng cũng là con người và cần phải có thời gian suy nghĩ, hơn nữa đây là quyết định sống còn của một sinh mạng. Vả lại, có thêm mươi phút nữa chúng cũng không thể mọc thêm cánh. Rút khẩu Glock ra nạp đạn, Thet hồi hộp nhìn chiếc kim giây bé xíu đang nhích thêm hai vòng nữa. Hai vòng cuối của một tối hậu thư năm phút.
*
Simha dẫn họ trở lại phòng khách để leo lên tầng bốn. Vừa đến đầu cầu thang thì y bắt gặp người lao công đang rón rén đi xuống như mèo ăn vụng. Thấy Simha lão ta cúi đầu lắp bắp.
- Xin cậu chủ cho tôi ra ngoài... họ sẽ ập vào ngay bây giờ.
- Chưa phải lúc. - Y gắt. - Hãy bảo vệ bố tôi, các ông không việc gì phải trốn.
Biết không thể trái ý một khi cậu chủ đang hiển hiện trong nhà, lão nhẫn nhục làm theo. Simha đánh mắt ra ngoài cửa sổ rồi đẩy Kì Phương và Thi Nga cuống cuồng leo lên cầu thang. Suốt đêm phải lên lên xuống xuống tới mấy lần theo hai gã đàn ông lực lưỡng, Thi nga đã mệt nhoài. Đã thế đôi giày của cô càng tỏ ra bất hợp tác. Sau cú ngã nhào trong đường hầm, đầu gối của cô đã sưng vù và giờ cô chỉ muốn khụy xuống.
- Nhanh lên! – Kì Phương vừa dắt tay cô vừa giục. - Đưa dép đây cho tôi!
- Cám ơn, tôi chạy được.
Đến sảnh tầng 4, cả hội chạy vào phòng rồi Simha khóa trái của lại. Vẫn chưa yên tâm, y vần hai chiếc bàn bi-a tấn ngay sau cửa. Trong ánh trăng lờ mờ, Kì Phương tìm lại chiếc ống nhòm rồi chạy về cửa sổ để theo dõi diễn biến mới nhất bên ngoài.
- Nào, ra khỏi đây bằng cách nào? – Simha hỏi Kì Phương mà như ra lệnh.
Kì Phương hạ ống nhòm rồi nhìn lướt qua các dụng cụ tiêu khiển đông tây kim cổ bày la liệt khắp nhà: Đại đao Quan Vũ, súng thần công, quả tạ thép, bao cát đấm box, máy chạy, tàu lượn trên không, một khinh khí cầu xẹp lép. Tít góc nhà anh còn thấy la liệt móc sắt và búa đinh nhưng không biết dùng vào trò gì. Bỗng mắt Kì Phương sáng lên khi nhìn thấy đôi cánh lớn.
- Kia là tàu lượn phải không?
Simha nhìn lại chiếc tàu lượn trên sàn, đây là trò chơi mạo hiểm mà y khoái nhất. Có lần y cùng đám bạn liệng từ một mỏm núi xuống một hòn đảo nhỏ ven vịnh Thái Lan. Thực ra dùng tàu lượn để bay từ tầng thượng sang bên kia hồ cũng là giải pháp không tồi. Y đã nghĩ đến cách này từ nãy nhưng khốn nỗi là đêm nay lại có gió nam. Nếu dùng tàu lượn thì bị hất ngược ra đằng trước và rơi đúng chỗ toán cánh sát đang chờ.
- Không được. - Y lắc đầu. - Chỉ có mỗi một cái, mà gió yếu lắm.
- Máy bay! – Kì Phương reo lên khi thấy một chiếc trực thăng nhỏ.
Anh vui sướng chạy đến nhấc nó lên mặt bàn ngắm nghía. Đây là loại trực thăng mô hình điều khiển từ xa công suất lớn được chế tạo bằng hợp kim nhôm và sợi cacbon của hãng Align rất được ưa chuộng bởi lớp trẻ nhà giàu. Những câu lạc bộ chơi xe thể thao siêu sang thường đi kèm vài trò tiêu khiển khác như tàu lượn, lướt ván, đua trực thăng hay ca-nô điều khiển từ xa. Giá mỗi chiếc máy bay loại này không dưới năm ngàn đô la nhưng cái này có thể cao hơn vì kích thước lớn bằng chiều dài bàn bóng bàn.
- Nó bay tốt chứ? – Kì Phương hỏi.
Đúng là đồ gác rừng. Tuy đang cuống nhưng y không nén được một nụ cười đầy thương hại.
- Bay được, nhưng nó là đồ chơi điều khiển từ xa!
Kì Phương liếc qua số liệu đỏ chót in bên sườn là 3500w và 2000 vòng /phút bèn trố mắt hỏi.
- Khỏe thế mà không tải được người à?
Kiến trúc sư gì mà ngu bỏ mẹ. Y suýt văng tục nhưng liếc thấy Thi Nga đang phì cười nên y không dám bất nhã.
- Anh Phương à. - Thi Nga khoét sâu vào nỗi xấu hổ của anh. - Nó mang được người đấy nhưng chỉ là trẻ sơ sinh thôi nhé.
Kì Phương muối mặt nhìn ra ngoài cửa sổ. Chợt nhớ Simha có một dàn xe siêu sang đang ở dưới sân, anh hỏi:
- Chiếc Porsche đang ở đâu?
- Đang ở ngoài phố! – Lần này thì y văng tục. – Nhưng xe lúc này thì giải quyết được cái con mẹ gì?
- Có chứ! – Kì Phương kéo tay y ra cửa sổ phía sau rồi chỉ con phố vắng nằm tít bên kia hồ. – Con phố kia gọi là phố gì?
- Oknha Mong Reththy Boulavard.
- Hãy gọi chiếc Porsche đỗ ngay góc hồ, ngay dưới gốc cây gì đó thấy chưa?
Simha không thể hiểu Kì Phương đang loạn trí hay là có diệu kế gì, nhưng thấy mắt anh vẫn sáng nên y cũng tuân lệnh một cách máy móc. Y rút máy điện cho tài xế:
- Cho xe quay lại đỗ trên phố Oknha Mong reththy, ngay góc hồ.
Kì Phương hoạt bát hẳn lên, anh chạy khắp phòng để tìm thêm vài thứ cấp thiết cho cuộc đào thoát ma thuật nhất chưa từng có trong giáo án hay cuốn tiểu thuyết trinh thám nào. Kì Phương nhặt lên hai đôi găng tay đấm box dày cộm đưa cho Simha va Thi Nga.
- Đi găng vào, chúng ta sẽ phải chiến đấu đấy!
- Đấm nhau với cớm? – Simha nhìn anh bằng ánh mắt của một bác sĩ tâm thần dành cho một con bệnh đã hết thuốc chữa.
- Không nói nhiều, mau lên! – Kì Phương quát.
Thi Nga chẳng buồn cãi, nhớ lại vụ sân bay cô đành chiều theo ý anh. Cô biết đêm nay “ không được ngủ và sẽ rất mệt’’. Simha nhất quyết không, y vo hai bàn tay to như hai quả tạ rôi dứ dứ vào mặt Kì Phương.
- Cớm vào tao đấm vỡ mặt.
Kì Phương cúi xuống nhấc một cuộn dây cước nặng trĩu mà anh vừa lôi từ gầm tủ rồi dí vào tay Simha giục.
- Mang cuộn dây này lên sân thượng cho tôi mau!
Simha đỡ lấy cuộn dây leo núi đã bị tháo bỏ các đai sắt. Y nhớ lại trong một lần leo núi, khi lưỡi dao bị bật khỏi khe đá và y chỉ kịp bíu vào không khí thì sợi dây này đã kịp níu mạng. Y hú vía và không biết nên cảm ơn sợi dây hộ mệnh trên cổ hay là sợi dây cước đang siết chặt eo mình nữa.
Ôm cuộn dây vào lòng, y ngoan ngoãn mang lên sân thượng mà vẫn chưa hiểu gã điên kia sẽ làm gì với cuộn dây trơ trụi này ngoài việc thắt vào cổ tự sát. Y quay lại và kinh ngạc khi thấy gã điên đang vác chiếc trực thăng bước lên đây thật. Thi Nga vẫn theo anh như cái đuôi. Mặc dù đang run rẩy vì hoang mang nhưng cô cũng không thể kìm được một nụ cười ngán ngẩm. Giá như nó là máy bay thật thì đã đành.
Kì Phương vẫn thoăn thoát làm việc, anh gỡ cuộn dây và rất hài lòng về độ dài và kích cỡ. Simha đến đây mới loáng thoáng hiểu ý đồ của Kì Phương. Do kiến trúc ngôi nhà kiểu mới nên hệ thống chống sét và đường ống đều đi ngầm trong tường. Y đoán Kì Phương dùng dây tuột xuống hồ và dùng găng tay làm phao bơi sang con phố bên kia. Chiếc trực thăng kia chỉ đánh lạc hướng mà thôi.
- Simha! – Kì Phương ra lệnh. - Nâng máy bay cho tôi.
Simha nâng lên, Kì Phương buộc chặt một đầu dây vào chiếc càng nhôm bên dưới. Lúc này Simha mới nhận ra sáng kiến của Kì Phương còn tồi hơn cái y vừa đoán. Thấy mình bị liên tục làm con rối cho một trò ngu ngốc, y nổi cáu.
- Bây giờ không phải là lúc đùa! chúng ta cần nhảy xuống hồ!
Kì Phương bật thanh điều khiển, cách quạt hợp kim dài gần hai mét bắt đầu xé gió phành phạch. Anh nâng máy bay lên cao rồi làm động tác chuẩn bị ném thật xa. Simha giật mình vì y biết chỉ cần Kì Phương buông tay, cảnh sát sẽ biết họ đang ở đâu. Ngay lúc đó một tiếng nổ rung chuyển vang lên kèm theo tiếng cổng sắt đổ rầm xuống. Cả ba khiếp vía khi biết toán cảnh sát đã xộc vào cửa trước.
- Xuống đi. Để tôi xuống trước! – Simha thét lên rồi móc đầu dây còn lại vào lan can định tuột xuống hồ.
- Không phải xuống nước! – Kì Phương lao theo tóm lấy vai hắn. - Cả ba chúng ta sẽ bay lên trời!
Mặc cho Kì Phương gào thét, y dẫm lên lan can đu ra ngoài thì bị bàn tay Kì Phương giật té vào trong. Y tức tối vung tay định táng một cú vào mặt anh nhưng chiếc điện thoại trong túi y đột ngột reo vang. Y tức tối móc máy lên nghe nhưng tiếng trực trăng réo vù vù làm y toan ném xuống đất.
- Khoan! – Kì Phương hét lên. – Đưa máy cho tôi!
Mặc dù không nghe gì nhưng Kì Phương biết gã lái xe đang gọi. Anh lao tới Simha nhưng chiếc trực thăng nặng trĩu trên tay anh bất ngờ vùng vật dữ dội như đại bàng mắc bẫy làm anh vật vã mới không bị nó lôi lên trời. Gió cuộn lên như bão táp.
- Xe đến rồi hả? - Simha thét to vào máy át tiếng động cơ. - Không cần xe. Tao cần xuồng!
- Đỗ xe chỗ đấy! – Kì Phương uôm tới nói tạt vào. - Anh hãy đỗ xe ở đó, trực thăng sẽ sang ngay bây giờ!
- Câm mồm! - Simha tức khí gạt mạnh làm Kì Phương chới với vướng cuộn dây sau gót rồi ngã ngồi xuống sàn.
- A a a a... ! - Kì Phương kinh hãi tột cùng khi chiếc trực thăng lật nghiêng hướng đôi cánh sáng loáng như một thanh kiếm đang xé gió phát ngang cổ Simha. Nhanh như cắt, thật không phí bao năm tập luyện, y đổ người xuống tránh và một âm thanh nhói óc khi lá thép quét lên lan can inox tóe lửa.
- Xin hai anh! Xin hai anh đừng đánh nhau nữa!
Kì Phương vặn người đứng dậy và hú hồn khi thấy Thi Nga đang quỳ sau lưng anh. Chẳng biết cô tránh được hay đã quỳ xuống từ trước nhưng hoàn toàn vô sự.
- Nhảy đi! hoặc đầu hàng đi... - Thi Nga gào lên tức tưởi. – Họ đến kìa!
Simha thất kinh khi nghe tiếng chân dồn dập chạy ngược cầu thang. Trong lúc hoảng loạn, y định bay qua lan can bất chấp sống chết. Y đã từng nhảy từ đỉnh cầu treo xuống sông Mê-kông cuộn sóng tìm thú vui nên độ cao này chỉ là muỗi. Nhưng vừa chạm lan can y đã khự lại. Kì Phương dùng hết sức tung chiếc trực thăng lên trời rồi nhìn xuống hồ và anh chợt hiểu vì sao Simha không dám nhảy. Chiếc canô của y neo sát bờ bị ba cảnh sát ngồi lên đang vè vè mặt nước. Đàn chó nghiệp vụ chạy toán loạn dưới bờ tường hướng cặp mắt xanh lè nhìn lên. Trong giây phút hiếm hoi, Kì Phương kịp thấy “ Vua Sư tử’’ đầy kiêu hãnh lảo đảo rồi sụm xuống như một bao tải.
Nhìn Thi Nga và Simha phủ phục dưới đất, Kì Phương tiếc thay cho họ không dám ngửa mặt lên trời để thấy cánh cửa thiên đường đã mở tung.
Thet Manet dẫn tốp đặc nhiệm đạp đổ cửa chính rồi xộc vào phòng khách nhập với hai nhóm khác trước khi dồn ngược lên cầu thang. Họ đi đến đâu ánh đèn sáng lòa đến đó. Thet tắt vụt chiếc bộ đàm bên hông đang ra rả báo cáo không có ai lọt ra bên ngoài. Với thế dồn ngược này chúng chỉ có cách thăng thiên hoặc ngồi im chịu trói. Biết chắc chúng đang cố thủ tầng thượng khi ông nghe tiếng cãi lộn trên cao, Thet lao lên như một mũi tên. Cánh cửa tum bật mở, năm mũi súng lia ra tìm mục tiêu nhưng trước mặt họ là một sân trời trống hoác. Thet há hốc miệng nhìn lên trời.
- Quái quỷ thật! chúng nó bay thật hả?
Chương 28 Mặc dù đã khuya và uống hết nửa chai cognac nhưng vừa trở về khách sạn, Phú Thành Tài liền pha một ấm chè búp thật đặc nhằm khôi phục lại sự tỉnh táo. Hơn bao giờ hết, giờ là lúc ông phải tự đưa ra các quyết định sống còn để xoay chuyển đời mình. Ông tự nhắc mình rằng đêm nay còn quan trọng hơn cả ba mươi năm trời trong quá khứ cộng lại. Vừa từ trong nhà vệ sinh bước ra thì có tiếng gõ cửa, ông ghé mắt qua giọt kính nhìn xuyên cửa rồi mới mở ra. Chốt lại cẩn thận, Phú Thành Tài hỏi ngay người đàn ông vừa bước vào.
- Đủ cả đấy chứ?
- Sếp thưởng đi. Không thiếu một trang.
Phó chánh văn phòng Mou mở chiếc cặp da căng phồng rút ra một chồng giấy đang nóng hổi vì mới photcopy và một xấp ảnh ngả màu. Phú Thành Tài dẹp ấm chè sang bên rồi dàn mỏng chồng giấy ra bàn để tự tay chọn lọc và phân loại. Sau một hồi cặm cụi ông ta dồn trả cho Mou và giữ lại một xấp ảnh. Tiếp tục săm soi các bức ảnh đủ các góc độ của thánh địa một hồi lâu, ông ta dựa lưng lên thành nghế. Vẻ mặt mãn nguyện trông thấy.
- Được lắm, chú em vậy và được việc!
- Sếp tìm thấy gì thế? – Mou tò mò hỏi.
Phú Thành Tài đẩy một chén chè cho Mou rồi nhấp một ngụm.
- Trong cái Bộ của chú thì chỉ có cái cặp này là đáng xem, mà trong cặp cũng chỉ có mỗi xấp ảnh là đáng giá, mà cái xấp ảnh đó cũng chỉ có một tấm tao cần mà thôi. Tóm lại, cái Bộ to ềnh của chú chỉ được mỗi tấm ảnh, còn lại vứt hết!
- Sếp văn vở quá. – Mou cười hè hè. - Tóm lại là sếp cần cái gì?
Phú Thành Tài nắm tập ảnh xốc lại vuông vắn rồi xóc nhanh mấy chập trước khi miết một tiếng “ roạt’’ rất điệu nghệ lên bàn. Hàng chục tấm ảnh rải theo một cung tròn tăm tắp trước ánh mắt tròn xoe của Mou. Đảo mắt nhìn qua, Phú Thành Tài tỉa một lá ra khỏi hàng rồi đặt trước mặt tên cờ bạc. Mou nhặt lên nhìn chăm chú bức ảnh xám xịt, hình như là một hành lang có mấy cánh cửa xù xì mốc thếch.
Mấy tuần nay, hàng tá ảnh kiến trúc nội thất kì vĩ phóng to treo đầy hội trường mà hắn có thèm để mắt đâu, huống hồ là cái mẩu giấy này. Nói dại, nó giống như nhà tù thời trung cổ. Nhìn mãi thì hắn cũng thấy một điều thú vị là con số khắc đá trên cánh cửa lờ mờ.
- Đây là số phát. – Mou lẩm bẩm. - Cái này chỉ hợp đánh đề thôi.
Mou nói ra làm Phú Thành Tài mất cả hứng, mà cũng chả chê hắn được. Phú Thành Tài biết Mou chẳng bao giờ nhận ra một điều mà có lẽ trên thế giới này chỉ ông và Paul biết. Con số đó nói lên điều gì thì hàng triệu người nếu nhìn vào cũng như không. Chỉ có những kẻ nếm mật nằm gai và lăn lóc ở đó hàng tháng trời như ông mới luận nổi bí mật giấu trên tấm ảnh. Paul quả là hóc hiểm hơn người, lão hà tiện này đã cất giấu hai thành tố của mật mã nằm ngay trên một bức ảnh. Thời khắc và vị trí. Hai thứ quý hơn hai con ngươi mà ông đã săn tìm trong vô vọng mấy mươi năm nay. Vậy là đúng giờ chót ông đã có trong tay tất cả. Phú Thành Tài hứng chí thề thốt:
- Tuyệt! Nếu chuyến này thành công, chúng ta sẽ là những ông Hoàng!
Mou vẫn chưa hiểu ngọn ngành đầu đuôi, hắn hỏi.
- Tấm ảnh này thì có nghĩa lí gì chứ?
Phú Thành Tài nhìn tên đàn em bằng ánh mắt bề trên:
- Mày chơi casino, xác suất thắng là bao nhiêu?
Mou thoáng ngơ ngác sau câu hỏi hơi lạc đề rồi đáp.
- Loại tôi hay chơi là baccarat, tùy theo loại ô mình đặt bài, cấp độ thắng bại khác nhau nhưng xác suất cao nhất là năm mươi-năm mươi.
- Cao thế sao đời mày vẫn bết bát mãi vậy?
Mou cười xuề xòa:
- Theo lí thuyết là vậy, nhưng còn tùy vận của mình. Em nghiệm ra trúng mánh lớn chỉ vài phần ngàn là cùng. Mà sếp quan tâm thứ đó làm gì?
Phú Thành Tài cười nửa miệng rồi xòe tấm ảnh trước mặt Mou nói dằn từng tiếng:
- Đây là lá bài độc đắc, xác suất một trăm phần trăm.
Mou thảng thốt không biết vừa rồi mình nghe nhầm hay là cơn ảo giác đen bạc trưa nay vẫn đang ám lấy hắn. Nhìn ảnh chán y lại nhìn Phú Thành Tài, mặt vị tiến sĩ vẫn lạnh tanh vô cảm như một tên nhà cái lão luyện đang thăm dò con mồi.
- Hãy nhìn kĩ đi, mày đang cầm kho báu trong tay mà không biết.
Mou tập trung hết thị giác nhìn tấm ảnh mốc thếch. Ý nghĩ mới đến với hắn là một hành lang trong một mê cung nào đó dưới lòng đất thì phải, hai dãy vách đá chỉ có một khe đang hé mở.
- Ý đại ca muốn nói kho báu ở đây?
- Dĩ nhiên là kho báu nhưng cái đáng nói là cái khác.
Mou vắt óc suy nghĩ nhưng miệng vẫn nhanh hơn đầu.
- Đó là dòng chữ hay cánh cửa?
- Theo mày thì cái gì mà không có thì bức ảnh này vô nghĩa?
Mou lại chau mày chóng mặt rồi gắt gỏng.
- Đại ca nói mẹ nó đi, rốt cuộc đây là cái gì?
Phú Thành Tài vẫn nguyên nụ cười nửa miệng, y thích làm cho người khác tò mò, khi sự hiếu kì của đối phương đạt cực điểm và chuyển sang cáu gắt thì y mới tháo van xả nhiệt. Nhưng đây chưa phải lúc, Phú Thành Tài nhấp một ngụm chè rồi rủng rẳng.
- Mày thấy con số ghi trên cửa rồi chứ?
- Rồi rồi... số đó đánh đề thì phát.
- Còn hơn thế.
- Đại ca! – Gã người Miên đứng vụt lên. – Tôi liều mạng ăn cắp tài liệu mật cơ quan không phải để ông mang ra chọc tôi. Nói mẹ nó ra đi!
Thấy Mou đã hết kên nhẫn vả lại cũng đã hết thời gian bông đùa, ông phải nghiêm túc chia sẻ để Mou hiểu, hiểu để mà hành động.
- Nhìn kĩ tấm ảnh đây, cánh cửa này đánh số 178, điều đó nói lên cái hành lang này rất dài và có ít nhất 178 cánh cửa. Trong số đó toàn cửa giả mà chỉ có một cửa thật nhưng tao chưa tìm ra. Đã thế mười hai năm cửa này chỉ đóng mở đúng một lần trong mấy giây nên chẳng ma nào vào được. - Phú Thành Tài chỉ vào khe hở. - Nhìn thấy vết nhòa trên cánh cửa chưa? Đây là cửa thật!
- Biết số cửa rồi mà không biết lúc nào mở thì phải nằm đó phục mười hai năm sao? hay là dùng máy phá đá? – Mou hỏi.
Phú Thành Tài không muốn nói hết bí quyết cho gã đàn em ngoại tộc này, ông phải giữ ít nhất một thứ. Những điều Mou vừa nói là đúng nhưng chưa ai làm nổi trong mấy trăm năm nay, trong khi chỉ cần nắm thêm một bí quyết nữa thì có thể ra vào dễ dàng. Ông nói thản nhiên:
- Theo lí thuyết là vậy, nhưng khi Paul quết định khai quật vào ngày mai thì ngày cửa mở chính là ngày mai.
- Đúng là người trong nghề nên nắm bắt nhanh, vậy là từ chỗ nằm phục mười hai năm giờ chỉ cần phục một ngày?
Phú Thành Tài cười gượng:
- Mày chỉ được cái tính ăn sẵn là giỏi. Nhưng nói cho mày buồn, nằm sâu đáy hang như cửa 178 không có oxy cho mày thở một giờ đâu.
- Tóm lại vẫn phải biết chính xác đến giây phút?
- Chuẩn! Đến ngày mai tao sẽ báo cho mày giờ khắc đó.
Phú Thành Tài khẽ chột dạ, nếu trả lại tấm ảnh cho y rồi y cũng sẽ nghiền ngẫm ra. Tai hại hơn, nếu Hoàng gia tìm được bản đồ gốc rồi kết hợp tấm ảnh này sẽ toi việc. Ông vội vã lấy bật lửa rồi châm đốt.
- Kìa! Đại ca làm gì vậy!
Mou tá hỏa nhổm dậy nhưng bị Phú Thành Tài ấn xuống trước khi tấm ảnh cháy lèo xèo trong gạt tàn.
- Đại ca giết em rồi, Bộ sẽ treo cổ em lên mất.
- Tao làm thế là đề phòng Chính phủ hớt tay trên chúng ta. Còn mày không lo mất việc, sau khi viếng thăm kho báu mày sẽ sang Las Vegas chơi cả đời.
Mou hiểu ý. Hắn đành lái sang chuyện Paul:
- Tấm ảnh chứa nhiều thông tin chết người như vậy tại sao Paul lại giao cho chúng tôi. Ông ta sơ suất đến vậy sao? may mà không ai nhận ra.
- Paul không hề sợ, bởi bản đồ đang trong tay ông ta. Khi không có bản đồ thì tấm ảnh kia cũng vô dụng.
- Chính vì ông ta quên giao bản đồ nên em đã phải vất vả sang bên đó tìm nhưng cũng vô ích. Ông ta quá sai lầm khi không tính nước mình sẽ bị ám sát. Nếu ông ta kẹp vào tập tài liệu kia thì giờ này Hoàng gia đâu xoắn đít lên thế.
Phú Thành Tài cười nhạt:
- Paul đâu phải thằng ngốc, ông ta không bao giờ giao cho các chú đủ ba thứ đó. Hãy tưởng tượng kho báu đang bị ông ta khóa bởi ba ổ khóa, ông ta chỉ trao cho các chú hai chìa, còn chìa quan trọng nhất ông ta giữ.
- Paul quả là kẻ ích kỉ, trời đã phạt ông ta. - Mou thốt khẽ.
- Đừng quên “ lão hà tiện’’ là tác phẩm kinh điển của người Pháp đấy nhé. - Phú Thành Tài nhếch môi. – Đúng là lão kém trí nhớ nhưng thừa trí khôn. Ta nghe phong phanh tấm bản đồ đó đã được lão ta mã hóa và trao cho kẻ nào đó. Không cẩn thận bị thằng khác hớt tay trên thì bỏ mẹ.
- Lại còn thằng cha nào nữa? Chả phải sếp đã lấy được tấm bản đồ của lão ta rồi sao?
- Xuỵt! khẽ thôi, bản gốc bằng da dê, chính tao đã cầm trên tay nhưng hồi đó tao ngu quá nên không kịp lấy, giờ đây hậu họa khôn chừng.
- Vậy, chả lẽ... sếp không có bản đồ?
- Tao có bản sao. - Phú Thành Tài hất hàm đầy kiêu hãnh về chiếc vali. – Rất may hồi đó tao đã kịp sao lại và cất đến giờ. Bản này thì Paul không hề biết, nhân tính không bằng trời tính. Đây là cái Paul phải ôm hận dưới suối vàng đấy.
- Đại ca. - Mou vồ lấy vai Phú Thành Tài mà lắc. - Em phục đại ca sát đất? Hóa ra đại ca đã mất công nghiên cứu bao lâu nay mà em đâu hay biết.
- Người Việt có câu “ nuôi quân ba năm, dụng quân một giờ’’. Ba mươi năm đèn sách của tao chỉ mong có ngày này thôi đấy.
Nhìn Mou nôn nóng đến phát cuồng, nhưng lần này Phú Thành Tài không có ý định cho hắn xem bản đồ, bởi khi hắn biết, chính ông lại phải ôm hận. Phú Thành Tài đẩy nhẹ hắn ra mà nói:
- Hãy nghe nhiệm vụ đây.
- Anh cứ nói.
Mou ngồi nghiêm xuống nghế như một sĩ quan đợi lệnh. Đã chung vai đấu cật và hiểu bài như đi guốc trong bụng nhau nhưng đôi khi Phú Thành Tài vẫn làm cho Mou phải ngả mũ. Khi đối diện với thời vận trước mắt, con người trở nên phi thường hơn hoặc khốn nạn hơn. Mou hiểu rõ hai mươi ngàn đô đã nhận chưa phải là con số cuối cùng và tập tài liệu từ két sắt cơ quan chưa phải là cái duy nhất Phú Thành Tài đòi ở y. Mou trân trối nhìn đàn anh và linh cảm đây là trận đánh cuối cùng trong sự nghiệp của họ. Không chịu nổi sự căng thẳng, Mou sốt sắng hỏi?
- Đại ca, với tấm ảnh này, ta sẽ làm gì?
Phú Thành Tài suýt bật cười, câu hỏi này không khác gì một cô gái thơ ngây bị lừa vào buồng rồi mới hoảng hốt hỏi gã sở khanh “ anh định làm gì tôi? ’’
- Đột nhập kho báu! – Ông đáp.
- Đại ca, nhưng tôi sẽ phải làm gì?
- Mày hoặc tao, ít nhất một thằng phải vào được bên trong kho báu.
Mou nhột người, y liếc chiếc vali kẽm có khóa số đặt góc phòng mà không thấy Phú Thành Tài đả động gì đến nó.
- Chiếc bản đồ đang trong tay anh?
- Đúng thế, Từ khi Paul mất tao bảo vệ nó còn hơn cả tính mạng của tao.
Mou nhìn chiếc vali đầy thèm thuồng. Hắn nói:
- Nếu anh cầm bản đồ thì chỉ mình anh vào kho báu?
- Đúng, nó trong tay ai người đó sẽ vào kho báu nhưng người đứng ngoài cũng không kém phần quan trọng.
- Tức là anh vào, em đứng canh? – Mou hỏi, giọng không vui.
- Không phải thế. Mấy hôm nay, tao cầm bản đồ không khác gì đang ôm một quả bom nổ chậm. Nó là thỏi nam châm hút cảnh sát và các loại trộm cướp về phía tao như ruồi đuổi mắm tôm nên tao chẳng biết sống chết lúc nào, và chính vì thế nên tao mới... cần đến mày.
- Ấy... ý anh... ? - Mou ríu cả lưỡi... – Vậy anh cứ xách vali đi, còn em....
- Mày không phải xoắn lên thế. - Phú Thành Tài gắt. – Mày không phải cầm gì hết, và tránh xa tao ra. Chỉ khi nào tao gặp nguy, tấm bản đồ sẽ được chuyển ngay tức khắc sang cho mày qua điện thoại cầm tay.
- Bằng cách nào?
- Mày hãy về nhà chuẩn bị xe cộ và điện thoại thật tốt. Khi tao bắn email hoặc tin nhắn kèm file thì mày hãy load bản đồ xuống mà xem. Thời khắc và vị trí thì mày sẽ biết, khi có bản đồ tức là mày có cả chùm ba chìa khóa. Cứ thế tiến thẳng khó báu giùm tao. Hiểu chưa?
- Vậy còn anh?
Mou nhấp thêm ngụm chè rồi chùng giọng xuống:
- Khi mày nhận được bản đồ có nghĩa là tao đã gặp nạn. Nhưng mày yên tâm, không thể có kẻ thứ ba thấy bản đồ này. Vali này đã gắn một loại nhiên liệu và được điều khiển bằng sóng vô tuyến. Tao sẽ hủy toàn bộ tài liệu trong chiếc vali trước khi nó rơi vào tay kẻ khác.
Mạch đập của Mou như được tiêm thêm chất kích thích, mắt hắn hoa lên và đôi tai thì đã ù đặc. Y như đang làm ăn chân chính bỗng dưng bị ném thẳng vào một bộ phim gangster không thể thoát ra được nữa. Mou định hỏi Phú Thành Tài sao không cho y xem qua bản đồ nhưng nhận ra đây là câu hỏi ngu ngốc nhất đời. Bởi y hiểu nếu Phú Thành Tài không gặp nguy hiểm gì thì chính ông ta mới là người duy nhất chiếm kho báu. Hắn chỉ là phương án hai, thế thôi. Mou không lấy đó làm buồn, đã 50 tuổi đầu, Mou thừa hiểu mọi sự ở đời, đó là thuộc tính cạnh tranh sinh tồn của động vật bậc cao. Nếu hắn ở vào tình thế đó cũng làm y như vậy. Thêm nữa Mou chưa hề bị Phú Thành Tài xử tồi bao giờ. Hắn đứng dậy nắm lấy tay người từng cưu mang y trong những năm khốn khó trên đất khách.
- Đại ca cứ bình tâm, Mou này luôn y lệnh đại ca.
Phú Thành Tài tùa đống lộn xộn trên bàn về phía Mou nói:
- Hãy chuẩn bị hành lí cho chuyến đổi đời ngay đi.
- Em hiểu!
Trước khi hắn trở về, Mou vỗ vai y vừa động viên vừa nắn bóp.
- Dù muốn hay không chúng ta đang đi cùng thuyền và mãi mãi là như vậy, đừng quên điều đó.
Chương 29 Chiếc Porsche chạy băng băng trên phố Mong reththy cho đến một ngã tư thì quặt sang con phố nhỏ 355 để hướng về phía sông Tole Sap. Ngoạn mục. Simha vẫn chưa thể tin nổi mình đã tẩu thoát. Nhấn lút chân ga, chốc chốc y mới ngoảnh lại phía sau cảnh giác. Khi đã đi được một đoạn khá xa, biết chắc không bị đuổi theo y mới bắt đầu nghĩ về ngôi nhà của mình với bao tiếc nuối. Y nói với hai người ngồi hàng ghế sau:
- Họ sẽ hốt hết tất cả linh thực khí của tôi mất.
- Anh vẫn còn cái linga chúa. - Kì Phương an ủi hắn. - Và cả một kho báu trước mắt.
- Tắt đèn đi. - y nhắc khẽ. - Họ sẽ đuổi theo ngay đấy!
Trên xe, Kì Phương đã mở ba lô ra tiếp tục công việc đang hồi nước rút. Khi rời thư viện đến nay, anh đã mất trắng gần một tiếng đồng hồ quý báu. Kì Phương tắt chiếc đèn con trên trần xe rồi rút đèn pin từ ba lô ra tiếp tục tìm tấm văn khắc duy nhất còn lại. Anh chia một nửa chồng sách cho Thi Nga rồi tăng cường tốc độ tìm kiếm. Ngồi cạnh anh, Thi Nga vẫn chưa hoàn hồn sau cú trượt dây mạo hiểm đến sởn tóc gáy, nghĩ lại lúc đó mà cô vẫn chưa hết rùng mình. Khi cô vụt bay khỏi nóc nhà cũng là lúc mấy họng súng từ cửa thang lao thốc ra. Nếu họ nhìn thấy, có lẽ cả ba đã rơi lả tả xuống hồ rồi. Hú vía.
Thi Nga từ từ lột đôi găng tay dày cộp đã rách bươm sau khi trượt một quãng đường hơn ba trăm mét. Lúc nãy, khi thấy Kì Phương buộc đầu dây còn lại vào cọc lan can, cô vẫn không tài nào nghĩ ra anh làm trò gì cho đến khi chiếc máy bay mất hút thì cô mới ngớ ra. Dưới gốc cây phía bên kia hồ, gã tài xế chỉ cần thông minh bằng cô là biết cách gỡ đầu dây dưới trực thăng rồi buộc chặt vào gốc cây. Con đường sống đã được gã kiến trúc sư vẽ ra trên nền trời trong nháy mắt. Đường dây cước từ tòa nhà căng đến gốc cây với một độ dốc lí tưởng để họ dùng tay trượt vèo vèo như những chiếc tàu cao tốc trên không. Chỉ có Simha ân hận vì đã không đeo găng. Cô nhìn Simha nói:
- Anh là dân đấm bốc, chắc tay không việc gì?
- Tôi đu bằng hai chân đấy. Nếu không chắc làm mồi cho cá rồi.
Thi Nga trố mắt nhìn y, mặc dù trượt ngay sau y nhưng cô chẳng thấy gì vì cô đã nhắm tịt cả hai mắt cho đến khi đâm sầm vào gốc cây mới thôi. Cô hỏi.
- Môn leo núi bằng dây cũng là sở trường của anh thì phải?
Simha liếc qua gương chiếu hậu và nhận ra đầu một chiếc xe cảnh sát, y quay lại nói:
- Bây giờ sang môn đua xe rồi đấy!
Nói xong y bẻ ngoặt sang phố khác. Chồng sách trên đùi hai người đồng loạt văng xuống sàn xe.
- Bám chắc vào thành xe, sách lát nữa xem cũng chưa muộn.
- Anh còn nhớ lời hứa nữa không?
- Dĩ nhiên. Bây giờ, tôi sẽ đưa các vị đi xem linga.
- Không sợ bọn tôi lấy mất chứ?
Sau vụ thoát nạn đầy ma thuật, y bắt đầu khâm phục Kì Phương nhưng quan trọng hơn là y đã gạt bỏ được nhiều nghi kị không tốt về anh.
- Xin lỗi vì tôi đã không phải với hai người. - Y ra vẻ ăn năn. - Cũng bởi lúc đó tôi cứ đinh ninh anh chị là cảnh sát!
- Anh có biết vì sao linga đầu tiên của Champa lại trở thành tài sản của Naga không? – Kì Phương nói. – Còn bây giờ lại nằm trong tay anh là sao?
Simha liên tục lái xe vòng vo mà không có thời gian để trả lời hay đúng hơn là hai câu hỏi kia nằm ngoài khả năng lí giải của y. Khi nhận được linga này từ một môn đệ của Cả sư, y cũng chẳng biết đó là một linga thần thánh đáng cho cả đời y mơ ước. Đến khi y nhận ra cổ vật hai chục kí đang mang là vàng thì lòng tham của y mới chính thức trỗi dậy và liên tưởng đến khối yoni có thể nặng gấp ba đang chờ y đâu đó. Khi nhìn tấm ảnh yoni trong tay Kì Phương y mới tin rằng hội Naga đang sở hữu trọn bộ linh vật vô giá đó nên đã quyết tâm đột nhập sào huyệt hội kín này. Nhìn trước sau đều có dáng dấp cảnh sát, y lo lắng nói:
- Nếu thoát được vòng vây này nữa, chúng ta sẽ thấy linga.
- Nếu chúng ta không thoát thì sao? – Kì Phương hỏi.
Y thở ra nhọc nhằn:
- Linga sẽ rơi vào tay cha nuôi tôi.
- Ai? Cha nuôi anh là... ?
- Một lão già sắp chết, lão chưa chịu nhắm mắt là còn chờ chiếc linga này!
Kì Phương linh cảm cuộc chạy trốn này không thọ lâu. Anh không ngại bị bắt, chỉ lo rằng nếu bị bắt thì chiếc linga sẽ rơi vào tay ai đó và cơ hội để được chạm vào linga – yoni lịch sử cũng tan biến. Đằng sau Simha còn nhiều kẻ khác và chắc chắn các thành viên Naga sẽ không chịu mất báu vật của mình vào tay kẻ ngoại đạo. Đường đi của báu vật này còn gian nan lắt léo giữa muôn trùng phản trắc nguy hiểm nhưng anh tin rằng khả năng nó sẽ hợp nhất với yoni tại thánh địa Naga vào chiều mai là có thể.
Shimha định nói gì đó thì phát hiện phía trước có một chiếc bán tải quay ngang đường. Nhận ra điềm gở, nhìn quanh toàn ruộng hồ trống trải. Tiến thoái lưỡng nan, y quyết định bỏ xe lại rồi kéo hai người chạy qua đám ruộng lầy lội. Chạy một đoạn dài y mới nhận ra con đê đằng trước có đoàn người như đi tuần. Biết đã bị bao vây, y chạy thục mạng quay trở lại để bơi qua hồ Boeng-Kak may ra còn đường chạy. Thấy chiếc thuyền chài nhỏ đang neo bên hồ. Y nói:
- Lấy trộm thuyền thôi
- Họ sẽ thấy mất. - Kì Phương can ngăn. - Chúng ta không thể đi xa bằng thuyền đâu.
- Đi thuyền cũng được. - Thi Nga hổn hển. - Tôi mệt lắm rồi, sang bờ bên kia tính sau.
Simha băng qua đường ngang nhiên tháo neo rồi quay lại gọi hai người đang dắt díu phía sau. Kì Phương lưỡng lự có nên theo hắn không bởi anh biết tự mình cô lập giữa hồ dễ bị phát hiện và nguy hiểm hơn. Một ánh đèn pha quét tới, Kì Phương vội kéo Thi Nga ngồi thụp xuống sau bụi cây nhưng đã quá muộn. Cô đã trượt chân chuồi ra mặt đường trơn trượt. Tiếng phanh cháy đường rít lên ngay trước mặt anh.
- Trời!... – Kì Phương thét lên đầy kinh hãi.
Ánh đèn chói lòa làm anh không thấy gì nữa. Simha lập tức chạy trở lại, y nhận ra chiếc xe gây tai nạn này chính là một trong hai chiếc xe cứu thương vừa đậu quanh nhà y. Nhìn lại logo y mới vỡ lẽ đây là xe của bệnh viện Calmette cũng ngay trên trục phố này. Có lẽ khi bao vây nhà y, cảnh sát đã điều vội họ từ cơ sở y tế gần nhất.
- Nguy kịch rồi! - Kì Phương cuống quýt. - Cấp cứu ngay!
Hai người trên xe vác cáng nhảy xuống. Thi Nga nằm bất động giữa lòng đường bỗng tỉnh táo khác thường, đây là biểu hiện rất xấu trong các ca chấn thương sọ não. Cô hé mắt ra hiệu cho Kì Phương và Simha lại gần như muốn trao lại một bí mật hoặc cần trăng trối điều gì đó. Hai người bối rối cúi xuống ghé tai sát môi cô.
- Nói đi, tôi nghe đây!
Cô thì thào điều gì đó rất nhanh cho họ trước khi chiếc cáng được y tá mang đến. Hiểu ý cô, họ bế cô lên cáng rồi cùng với hai người kia khiêng ra sau xe. Trong khi ba người đang loay hoay gá một đầu cáng lên thùng xe thì Simha đã vòng ra đằng trước leo lên cabin. Chiếc xe bất thần vọt lên đúng lúc Kì Phương vừa kịp leo vào thùng xe còn hai người kia ở ngoài.
Viên lái xe cố sống cố chết chạy theo, một tay nắm cửa, tay kia đập liên hồi cho đến khi bị hất lên lề đường. Simha bật các thiết bị đèn còi ưu tiên trên xe để đảm bảo không ai dám ách một chiếc xe đang giành giật sự sống cho nạn nhân.
Chạy chưa được bao lâu thì y lại đánh hơi có xe đeo bám. Đường hẹp và xấu, y phải căng mắt căn ke ổ gà và phanh gấp liên tục. Nhìn những chiếc xe sedan vẫn bon bon vượt lên mà y sốt ruột nên nảy ra ý đồ đổi xe khác. Khi một chiếc mazza từ phía sau vượt ẩu cũng là lúc y quyết định động thủ. Đánh nhẹ tay lái sang trái, một cú va chạm như ý đã đến. Simha nhảy xuống sừng sộ.
- Đi đứng kiểu gì vậy hả?
Cửa lái chiếc mazza bật tung, một gã loạng quạng bước ra. Giọng lè nhè:
- Mẹ mày... chính mày đâm vào đít tao đấy nhé!
Simha nhận ra mình chọn hỏng đối tượng. Gã này say.
- Không lôi thôi. - Simha lấn át. - Có biết trên xe đang có người hấp hối không hả? Chả cần biết đúng sai, họ chết thì anh có yên thân không hả?
Người lái xe luống tuổi quả thật hơi quá chén, khi gặp thái độ vừa ăn cắp vừa la làng kia anh ta cáu tiết, nhưng cảnh ngộ của nạn nhân đã thức tỉnh gã.
- Xe tôi lệch vô lăng. - Simha giở bài. - Chúng ta đổi tạm xe có được không?
Anh kia rón rén ngó vào xe cứu thương thì thấy một phụ nữ đang ôm bụng trên cáng, bên cạnh là một người đàn ông khắc khổ đang cúi đầu. Anh ta hỏi Simha:
- Đau đẻ?
- Không, uống thuốc tránh thai quá liều. - Simha chỉ Kì Phương. – Có người yêu cô ta đi cùng rồi, anh đừng lo.
Thấy anh ta vẫn lưỡng lự. Simha bồi thêm:
- Nếu không đổi xe thì cho họ đi nhờ, đến cổng viện Phụ sản phía trước thả họ xuống là được. Mọi thủ tục nhập viện kẹ mẹ chúng.
- Được, vậy thì chuyển sang đi.
Thi Nga thở phào vì tránh được mùi thuốc sát trùng nồng nặc trong xe cứu thương. Tuy trong chiếc mazza thoang thoảng mùi rượu nhưng cô vẫn không quên mình vẫn đang đóng vai bệnh nhân. Cô lại ôm bụng nằm ngửa lên ghế sau, mắt nhắm nghiền suy nghĩ điều gì đang chờ phía trước.
Chiếc mazza vừa lướt đi thì một chiếc môtô-ba trờ tới. Hai cảnh sát tuần tra nhận ra nhóm ’’xe tặc’’ đã vứt chiếc xe cồng kềnh này lại cản đường bèn xuống xe xử lí.
- Cậu lên dẹp chiếc xe vào lề đi. - Một người nói.
- Vâng. Anh đứng gác nhé, chúng chưa đi xa đâu.
Viên cảnh sát thứ nhất leo lên xe bật khóa điện khởi động máy còn người kia gọi bộ đàm báo cáo về chốt gác.
- Báo cáo trung úy! Chúng đã bỏ lại xe cứu thương. Chú ý chiếc mazza màu bạc đang từ trung tâm hướng về cầu...
Chưa nói hết câu anh ta bỗng gục xuống bờ ruộng. Viên cảnh sát điều khiển chiếc cứu thương nép gọn vào lề đường chưa kịp bước xuống thì một cái gì đó lạnh ngắt dí vào gáy.
- Ngồi im!
Trên gương chiếu hậu, một xác chết đen sì ngóc lên từ chiếc cáng. Viên cảnh sát cứng đơ để mặc cho chiếc vòng sắt bập vào tay phải, vòng sắt kia ngoạp vào vô lăng. Bị khoá chặt vào xe, anh ta chỉ còn biết há miệng ú ớ.
- Anh... là ai?
- Chốt trước có bao nhiêu người? – Simha gầm lên.
- Tôi không rõ...
- Khai thật đi... - Y ấn mạnh nòng súng vào gáy.
- Tôi không rõ thật mà...
- Anh liên lạc được với họ chứ?
Chưa kịp nói, một cục sắt đen sì đã dí sát miệng anh ta. Viên cảnh sát rùng mình khi nhận ra bộ đàm lẫn còng sắt của đồng đội đã nằm trong tay y tự bao giờ. Liệu đồng đội mình đã...
- Gọi đi! gọi cả đội kia đến mà cứu chúng mày đi!
Mệnh lệnh vừa nghe như một nhát búa bổ thẳng vào đầu. Vẫn chưa thể tin nổi mình đã bị khóa chặt trên xe. Mùi thuốc tây lẫn mùi xăng rò rỉ sặc cả mắt mũi và chỉ cần hắn thả một mồi lửa vào đây thì... Chúa ơi... anh ta không dám nghĩ tiếp nữa. Mỉa mai thay, mệnh lệnh của y cũng là điều anh ta đang muốn.
- Gọi đi hay là chết? - Simha dí bộ đàm vào môi anh ta.
Anh ta lắp bắp vào bộ đàm.
- Tôi đang bị... đe dọa, hãy... cứu tôi!
Simha tắt bộ đàm rồi cười sằng sặc.
- Tốt lắm, ngồi đây mà chờ nhé.
Y đút khẩu Smith & Wesson vào túi rồi leo lên chiếc môtô-ba phóng đi.
*
Ngồi trong chiếc mazza, Kì Phương không không dám nói chuyện với Thi Nga. Còn gã tài xế thì dám cá cược rằng người đàn ông ngồi cạnh mình không phải là nhân tình đích thực của cô gái xinh đẹp đang đổ bệnh phía sau. Mà đếch cần quan tâm, bệnh viện Phụ sản cũng sắp đến và đó là nơi giải quyết mọi lỡ lầm phiền muộn cho các cô gái ngu dại. Trước kính chắn gió hiện lên chướng ngại vật. Gã giảm tốc, phanh gấp rồi chột dạ khi nhận ra một barie đã chắn ngang mũi xe. Hai cảnh sát giao thông áp sát chào gã nhưng mắt thì đảo tròn phát khiếp. Cuối cùng thì vận xui cũng tha cho gã, họ để gã đi. Còn đôi trai gái khả nghi thì bị bắt xuống.
- Mời hai vị vào trong!
Kì Phương và Thi Nga biết không sớm thì muộn rồi cũng phải gặp cảnh này. Họ cam chịu theo chân viên cảnh sát chui vào chiếc bạt lớn ven đường, bên trong không có gì ngoài bộ bàn ghế gỗ trống trải.
- Xin mời các vị chờ một lát. - Viên cảnh sát nói.
Vừa dứt lời, một cảnh sát cao lớn hơn bước vào nói.
- Xin lỗi, chúng tôi phải di lí các vị gấp.
- Chúng tôi có tội gì? - Kì Phương hỏi. - Lệnh bắt đâu?
- Khoan đã, bình tĩnh nào. - Viên cảnh sát vừa nói vừa ngó ra cửa sổ và tỏ ra nhẹ nhõm khi có một chiếc xe cảnh sát khác tới. – Đây rồi, sếp của tôi có các loại giấy mà anh cần.
Kì Phương nghi sếp anh ta đang ngồi trong chiếc ô tô chạy ngược chiều lúc nãy. Nếu đúng thì vị sếp này đã quay lại để đuổi theo chiếc maza. Tuy nhiên, khi một người đàn ông mặc áo da đội mũ kepi bước vào thì hai viên cảnh sát này lại tỏ ra bất ngờ. Viên đội trưởng nhanh chóng nhận ra Simha gần như cùng một lúc với cú boxing giáng vào mặt làm anh ta gục xuống tức thì.
- Chạy mau. – Simha hét lớn.
Kì Phương luống cuống nhưng đủ nhanh nhạy để kéo Thi Nga lao ra ngoài. Viên cảnh sát còn lại lao tới bổ một nhát dùi cui cực mạnh về phía kẻ giả danh. Nhanh như cắt, Simha tóm lấy cổ tay anh ta giật mạnh làm khối thịt ngót một tạ chuồi về phía trước rồi đổ sầm lên người viên đội trưởng. Chiếc dùi cui văng xuống trúng chân Thi Nga đang chạy ra làm cô té nhào ra ngoài cửa tối om.
- Lên môtô-ba chạy đi! – Simha ném chìa khóa qua cửa sổ thét lớn.
Sau vài giây bị choáng, viên đội trưởng hất cấp dưới xuống đất và trong tư thế bất lợi anh ta vẫn kịp đốn ngã địch thủ. Khi Simha nhảy qua thì anh ta tóm chặt ống quần làm y ngã kềnh xuống đất. Đạp túi bụi, y tưởng bàn tay kia sẽ nát bét dưới gầm giày đinh nhưng một cơn ớn lạnh lan khắp người. Một tiếng “ tách’’ sắc lạnh vang lên, y nhận ra cổ chân bị khóa trong khi hai tên lính đang cố cho nốt chân kia vào còng. Y tá hỏa giãy đạp nhưng không thể hất nổi gần hai tạ thịt đang đè trên người.
Tình thế vô cùng nguy ngập, chỉ chờ tiếng “ tách’’ nữa vang lên thì số y sẽ an bài. Trong giây phút hoảng loạn cực độ, y liếc thấy chiếc dùi cui điện đang lăn lóc bên cạnh. Cơ hội lóe sáng, y vồ lấy rồi bật nhanh công tắc. Hai tên lính đang lên gân thì một luồng điện cực mạnh xoẹt qua hất tung cả ba lên cao. Chỉ chờ có thể, với một thể lực bùng phát đến khó tin, y vùng dậy bỏ chạy.
Chương 30 Kì Phương vặn ga nhằm thẳng cây cầu lớn trước mặt băng qua cho đến khi gặp một ngã ba anh đành dừng lại vì không biết đi ngả nào. Thấy không có ai đuổi theo, anh nán đợi Simha mặc dù anh biết y lần này khó mà thoát. Tuy nhiên cho đến lúc này anh vẫn chưa đánh giá hết bản lĩnh của y. Được dăm chục phút thì có một người chạy bộ đuổi theo. Nhận ra Simha, họ rất vui.
- Vẫn thoát được à?
- Tôi chỉ lo cho hai người thôi. Đưa tay lái đây, sắp đến rồi đấy.
Y cầm lái phóng vèo vèo trên con đường ven sông hoang vắng. Xe rẽ vào con đường hẹp rồi chạy tiếp cho đến lúc bùn ngập nửa bánh xe thì y mới bỏ lại dẫn hai người đi về một con thuyền chài đang lềnh bềnh bên mép nước. Simha đưa tay huýt một tiếng. Nhận ra mật hiệu đáp lại, y dẫn cả bọn vừa đi vừa nói:
- Bây giờ không ai có thể động đến các bạn. Đây là địa điểm mà tôi tạm giấu linga, xung quanh được bao bọc bởi đầm lầy và kênh rạch chằng chịt.
- Liệu có ai nhìn thấy chúng ta không? – Kì Phương hỏi.
- Chỉ có ếch nhái và thần Siva đang chờ chúng ta phía trước.
Trong làn gió mát lạnh lùa dọc triền sông, Thi Nga thu mình nep nép trong nỗi bồi hồi khó tả vì không thể tin nổi sắp chạm mắt báu vật lịch sử. Simha ra hiệu thận trọng, y trỏ xuống dưới chân nơi có nhiều kẻ thù giấu mặt rồi nhắc:
- Nhìn rõ dấu chân tôi mà đi, đừng dẫm vào rắn đấy.
Thi Nga nghe nói đến rắn vội vọt lên lèn vào giữa hai người. Cô sợ nhất là rắn, từ chỗ vừa đi vừa ngắm sông nước cô bỗng cúi gằm để ém mũi giày nhỏ xíu của mình lọt vào giữa dấu chân sâu hoắm của Simha cho đến khi vào lòng thuyền thì cô mới dám thở. Đúng hơn là cô hít vô nhiều hơi thở ra bởi mùi cá nướng thơm ngậy lan tỏa từ một bếp than củi giữa sàn. Kì Phương đã từng nếm qua vài món đặc sản Biển Hồ nên vừa ngửi anh đã biết ngay đây là cá quả nướng.
- Sơn hào hải vị ăn mãi cũng chán. - Simha than thở. - Anh chị làm tạm cây nhà lá vườn nhé?
Gã phu thuyền liền lấy chanh ớt cùng chiếc chai nút lá chuối kèm theo mấy cái chén hạt mít. Đói mềm, cả ba lăn xả vào mâm. Ánh than hồng nhuốn đỏ lên các gương mặt rã rời.
- Nhậu đi, đói lắm rồi! - Y ngoạp một vỉ cá vàng rượm đang nhỏ mỡ xèo xèo rồi nốc cạn một chén. – Có thực mới vực được đạo! linga đang nằm đây không chạy mất đâu mà lo.
Tuy nói vậy nhưng tợp xong hai ngụm, y ngửng lên nói:
- Vừa uống vừa chiêm ngưỡng báu vật nhé. – Y nhìn gã phu thuyền. - Mang ra đây!
Ông ta khom người mở một cái hộc dưới gầm kéo lên một cái thùng kẽm láng nước. Sau khi lau khô lão đặt trước ông chủ của mình. Simha đặt một tay lên nắp hộp tụng niệm vài câu thổ ngữ gì đó với vẻ mặt rất thành kính. Đoạn, y đặt xâu cá xuống mâm rồi chùi mép trước khi chắp hai tay cúi đầu đọc nốt câu kinh cuối cùng trước khi chính thức mở ra. Tim y đập rung lồng ngực, giờ đây y mới cảm nhận được sức nóng khủng khiếp từ bếp lửa và cả hai cặp mắt rực đỏ đang hướng thẳng vào y.
Pho tượng hiện lên, một vầng hào quang bừng tỏa làm Kì Phương tuy đã nghĩ trước nhưng cũng không khỏi ngỡ ngàng. Tuyệt tác! Một vẻ đẹp toàn bích tới mức mọi tưởng tượng tốt nhất mà anh kết tinh bấy lâu nay bỗng trở nên hoàn hoàn toàn lỗ bịch.
Về mặt điêu khắc, các mảng cong và khối tròn tạo ấn tượng mạnh mẽ khác hẳn với bất kì linga nào mà anh từng thấy. Phần giữa hơi thon vào còn phần trên và dưới nở ra rất cân xứng tạo thành một thế đứng uyển chuyển đầy vững chãi. Nếu luận theo bố cục “ tam vị nhất thể’’ truyền thống thì ba phần này không còn là các hình khối khô khan tách bạch nữa mà hòa quyện vào nhau thành một chỉnh thể hoàn mỹ.
Khuôn mặt Siva thể hiện rõ nét: đôi lông mày dài cong vút giao nhau chính giữa nơi đính một viên hồng ngọc đỏ thẫm. Mắt mở to có đồng tử bằng kim cương lấp lánh. Môi cong dài như đang mỉm cười càng làm cho Thần sáng tạo toát lên nét tinh anh sắc sảo. Linga này có bốn khuôn mặt mang thần thái tâm trạng khác nhau nhìn thẳng về bốn cõi của vũ trụ. Mỗi khuôn mặt lại có một con mắt thứ ba hình hạnh nhân nằm dọc giữa trán và khứa sâu gần đến đỉnh đầu. Do đó, khi ngắm tượng từ xung quanh hay từ trên xuống đều thấy ít nhất hai khuôn mặt và sáu con mắt đang bao quát một khoảng không bao la với một thần nhãn siêu linh.
Thấy Kì Phương đang mê mẩn đến ngây người, Simha đưa sang cho anh.
- Trăm thấy không bằng một sờ, cầm lên!
Vừa đưa tay ra đón, mặc dù rất thận trọng nhưng bức tượng gần như rơi thẳng xuống sàn đánh cộp làm lòng thuyền chao đảo.
- Nặng đấy! – Simha thốt lên - Nó là vàng ròng!
Kì Phương ốp nhẹ lòng bàn tay đầy thành kính lên báu vật lịch sử mà cứ như mình đang nằm mơ. Anh lật ngửa xem mặt đáy linga và đúng như nhận định từ trước-một vòng chữ khắc tên vua tạo thành một vòng tròn lõm sâu căng đều hoàn hảo. Một kim bảo vương triều lững lẫy một thời mà chỉ có đức vua mới được cầm lên đóng những con dấu thay đổi lịch sử. Giờ đây, thật tớ trêu, con triện kim tỉ này đã qua tay một tên sát nhân nào đó với một lớp mực đọng đầy máu đỏ. Dòng chữ vẫn thấm đầy máu của Paul.
- Có phải ba tôi đã trao linga cho anh? - Thi Nga đột nhiên hỏi.
Simha trừng mắt nhìn cô, y giằng linga khỏi tay Kì Phương đặt vào thùng kẽm như sợ bị cướp mất.
- Cô nói gì lạ thế? Chẳng phải ông ấy mất tích rồi sao?
- Tôi biết linga này được lấy ở đâu. - Kì Phương nói. - Chúng tôi thắc mắc vì sao lại nằm trong tay anh?
- Tôi không hề gặp Paul. - Simha phân bua. – Tôi lấy linga này từ một kẻ giấu mặt.
- Bất kể anh lấy từ tay ai thì linga này cũng bắt nguồn từ tay ba tôi. Chúng tôi không đòi linga này của anh, nhưng anh phải có trách nhiệm làm rõ vụ cướp của và bắt cóc này.
- Này, các người lại bắt đầu gây sự đấy hả? Tôi thậm chí còn không biết kẻ nào giao cho tôi.
- Vậy anh hẹn với người đó thế nào? – Thi Nga hỏi.
- Có lẽ chúng ta đã lạc đề rồi đấy! – Y lườm mắt. - Nhưng chúng ta cũng nên thành thật với nhau. Kẻ ra lệnh cho tôi là cha tôi và Cả sư.
- Cả sư là một người thế nào? Chắc là không phải ba tôi đấy chứ?
Simha không quen bị chất vấn, vả lại trong chuyện cơ mật này y càng lẩn tránh. Theo phép tắc thì y biết nên và không nên nói gì nhưng trường hợp này y cũng chả biết gì hơn. Cả sư, theo cha y nói thì đó là một người có thế lực rất mạnh trong cõi tu hành lẫn thế giới ngầm mà y chưa được phép gặp mặt. Lần đầu tiên y nghe cha mình nói về người này là đêm qua trong một cuộc gặp gỡ vội vã. Lão nói với y:
- Ngay ngày mai, con sẽ phải đi Mỹ Sơn giúp cha một việc.
- Việc gì cha?
- Một người anh em tặng cha một kỉ vật.
- Cha có thể cho con biết đó là gì được không?
- Linga. - Lão đáp vẻ ngượng ngập. - Ta hiếm muộn, họ tặng thứ này chắc chỉ có ý đó.
- Tốt chứ sao. - Y cười tủm tỉm. - Chắc là một linga rất thiêng đây.
- Cha đã nói với người ta rồi. - Lão ho húng hắng rồi nói. - Cha không sống được bao nhiêu, giờ là lúc phải cho đi chứ không phải nhận về, nhưng người ta khách khí quá nên đành nhận cho họ mừng. Họ nói đây chỉ là kỉ vật tượng trưng mà thôi, không đáng gì.
- Vâng, con sẽ đi và gặp họ.
- Họ sẽ gọi cho con. Ông ta chưa chắc ở Mỹ Sơn đâu.
- Không ở Mỹ Sơn? – y ngạc nhiên.
- Đúng thế, xưa kia cha vẫn ở Nam Vang mà vẫn tặng con một linga từ Lào cơ mà, con nhớ không?
- Con quên sao được cha.
Y nhớ lại thủa cơ hàn, hồi còn là kẻ chỉ đâu đánh đấy. Nói là tặng y nhưng thực ra đó là tiền công của y sau chuyến vượt biên qua xứ Vạn Tượng mua hàng của bọn đầu nậu bản địa mà cha y có móc nối. Y trầy trật mang lô cổ vật về thì lão nhận ra một linga khuyết yoni nên đã tặng lại y. Tuy chẳng ra tấm ra món gì nhưng y vẫn lấy làm vui vì đây là món vật đầu tiên y kiếm được trong đời.
- Vậy lần này. - y nheo mắt hỏi. - Người kia có tặng cha yoni không?
- Không đâu con ạ?
- Cha nói thật hay đùa?
- Con biết rồi đấy, bệ đá đó rất nặng, mà ta cũng như con, không thích... đàn bà.
Y gật đầu mặc dù biết đó là lời ngụy biện.
- Người này phải thế nào mới có thứ đó chứ? chắc ông ta có chức sắc?
- Đúng! Ta tiết lộ tin này cho con vui. Ông ấy là người rất có thế lực ngầm. Vì đang mang ít nhiều trách nhiệm trong chính quyền nên không thể tiết lộ danh tính được. Sẽ có ngày cha giới thiệu cho con. Cứ gọi ông ta là Cả sư.
Được hứa hẹn giới thiệu cho một nhân vật lớn, Simha giấu kín một niềm hãnh diện khó cưỡng. Y biết người cha nuôi tuy không tốt đẹp gì nhưng đã biết bố thí vài thứ mà lão biết không thể mang sang thế giới bên kia được. Trước khi chia tay, y bỗng sực nhớ điều gì đó.
- Thưa cha, nhưng tại sao lại là ngày mai?
- Người ta dặn thế, theo phép lịch sự, người nhận quà không nên yêu cầu thời gian nhận quà.
- Cha biết rằng Paul ngày mai cũng khai quật ở Mỹ Sơn, hay là. - Y gần như reo lên. - Người Cả sư mà cha nói không lẽ là Paul?
Ông lão ngỡ người trong giây lát, càng lấp liếm thì y lại càng tò mò. Cũng chẳng sao, cứ để y nghĩ Cả sư là Paul thì có chết ai. Lão lấp lửng nước đôi.
- Mày lắm lời thế đủ rồi. Có đi không thì bảo.
Dĩ nhiên là y ngoan ngoãn nghe theo. Cũng chẳng yêu quý gì lão nhưng y hiểu rằng lão sắp chọn người thừa kế. Y nhắm mắt nghĩ đến thứ mà y sắp thừa hưởng khi ông về trời, xét về tuổi tác và thể trạng của lão, có lẽ cái ngày đó cũng chẳng còn xa.
- Các bạn hãy nghe đây. - Y nhấp một ngụm rượu rồi hắng giọng. - Tôi đáp ứng điều kiện của các bạn là cho xem linga không có nghĩa là làm theo tất cả ý muốn của các bạn. Vấn đề đâu sẽ có đấy. Tôi mong các vị để tâm trí cho việc tìm ra kho báu Naga.
- Đồng ý. - Kì Phương nói. – Thế anh định đưa linga này về đâu đêm nay?
- Liệu có liên quan gì đến Naga không?
- Nếu Linga nằm trong tay anh thì tôi không nói làm gì, nhưng nếu nó thuộc về người khác thì tôi tin họ sẽ mang về Naga.
- Hóa ra...
- Thật ra cổ vật này là của cha nuôi tôi. – Y nói. - Phi vụ này tôi chỉ là người mang hàng giúp mà thôi.
- Bố anh là thành viên Naga? - Kì Phương hỏi.
- Tôi không biết, danh tính của các thành viên Naga rất bí mật đến nỗi vợ con họ cũng không thể biết, thậm chí giữa các thành viên cũng ít biết về nhau. Đó là một trong những bí quyết bảo mật kho báu.
- Làm sao bố anh có thể nắm giữ báu vật của hội Naga nếu ông ta nằm ngoài tổ chức đó cơ chứ? – Kì Phương thắc mắc.
Simha chỉ linga đang trong tay Kì Phương.
- Nói vậy hóa ra tôi và anh đều là thành viên Naga chắc? Nếu đêm nay anh không xuất hiện, có lẽ sau này tôi cũng không biết mình đã từng nắm linga của hội Naga trong tay cơ đấy.
- Nếu đêm nay tôi không gặp anh thì anh sẽ mang linga này cho cha anh? – Kì Phương hỏi.
Simha gật đầu thừa nhận. Kì Phương hỏi tiếp.
- Vậy bây giờ anh tính sao?
- Vẫn giao cho cha tôi, nhưng phải theo dõi chặt chẽ lão sẽ đi đâu.
- Phải đấy! – Kì Phương rót một chén đưa cho y. - Thần Siva cao cả sẽ dẫn đường chỉ lối cho chúng ta. Nào, cạn li!
Simha cũng tính đến khả năng này nhưng cơ hội thành công không cao bởi cha y là bậc thầy trong các trò cắt đuôi bịt mắt thiên hạ. Tuy linga đang nằm trong tay y nhưng nó không thể thuộc về y ngay cả khi y muốn đoạt nó. Cha y có thể là hội viên Naga hoặc không nhưng chắc chắn ông là một người liên quan đến tổ chức khét tiếng đó. Y nói:
- Anh có tin chắc đêm nay các thành viên Naga sẽ rước linga về thánh địa Naga hay không?
- Tôi không những tin mà phát hiện ra nhiều dấu hiệu chứng tỏ linga này sẽ phải về Naga trước khi lễ tế sẽ diễn ra ở đó đêm mai. Hãy trả linga cho cha anh và đừng rời mắt khỏi ông ấy.
Simha im lặng, mắt ánh lên đầy toan tính. Y biết lão cha nuôi tuy tàn tật nhưng thừa tay chân để loại bỏ bất cứ kẻ nào dám cản bước ông ta. Theo dõi ông ta là không thể. Nhấp gần cạn chai thì y cũng đã nghĩ ra một mẹo gì đó rồi dằn chén tuyên bố:
- Đã có cách.
- Cách gì? - Kì Phương hồi hộp.
Có lẽ chưa tự tin lắm, y không giải thích thêm mà cầm máy sai khiến đồng bọn làm gì đó. Kì Phương không muốn quan tâm, anh biết đã đến lượt y cần trổ tài tìm Naga với Thi Nga.
Kì Phương dịch bếp lửa và rổ xương cá sang bên rồi lại dàn đống sách lên chiếu tiếp tục đánh vật với các pho sách. Câu thơ vẫn văng vẳng bên tai như thách đố lẫn mời gọi anh không sao cưỡng nổi.
“ Thánh địa Naga, kho báu cất nơi... ’’
Chỉ một câu nữa thôi, chỉ một bước chân nữa thôi...
Đã đảo tung gần hết phụ lục lẫn các trang sách khả nghi nhưng vẫn chưa thấy tăm hơi minh văn E3 ở đâu. Biết Kì Phương sắp hết kiên nhẫn, giọng Thi Nga nhẹ nhàng đầy mơn man.
- Nhất định bia này đang ở một nơi nào đó mà ba biết chắc anh sẽ tìm thấy. Anh hãy dừng tay và nhắm mắt nghĩ lại xem.
Anh nhắm mặt lại nghĩ, bia E3 ở đâu nhỉ, Mỹ Sơn ư? nhất định không có, Bảo tàng Chăm ư? Không có, trong sách ư? có thể, nhưng sách nào đây? Trước mắt anh đầy đủ các sách về bia kí sao không có? Đến đây Kì Phương chợt lóe lên. Phải tìm các cuốn sách của chính Paul viết. Kì Phương nhặt lên cuốn sách mới nhất về Champa rồi lật ra xem mục lục.
Một quy luật trong giới khoa học là các nghiên cứu của tác giả đi sau thường thừa kế và trích dẫn tư liệu của người đi trước. Kì Phương rà kĩ trang chú thích cuối sách trong cuốn “ Lịch sử Champa qua bia kí’’ của một tác giả trẻ người Nhật mới ra mắt.
Đúng như anh kì vọng, có một dòng trích ngắn gọn: “ xem trang 75 cuốn “ bia kí Champa toàn tập’’. tác giả Paul Morierre. Xuất bản 1998. nxb ... ’’ . Mắt Kì Phương long lên và cầu trời mình không nhìn nhầm. Điều này mở ra một khoảng trời mới là trong cuốn “ Bia kí Champa toàn tập’’ của chính Paul viết rất có thể có bia E3.
- Đây rồi! – Kì Phương thốt lên.
- Đâu? – Thi Nga vội hỏi.
- Phải tìm ra cuốn này thôi! – Anh chỉ tay vào trang mục lục.
- Nó trong sách này ư?
- Sách này là của ba cô viết, chắc chắn trong này có hết các minh văn Champa.
- Nhưng sách này ở đâu mới là vấn đề? Anh biết nơi nào có bán không?
- Xuất bản lâu rồi nên các nhà sách chắc không có. Ngay bây giờ tôi phải liên hệ nhà xuất bản hoặc các thư viện, hỏi bạn bè. Chờ trời sáng mới hỏi được.
Thi Nga cầm cuốn sách lên và nhìn vào dòng chữ khiêm tốn có kèm tên ba mình. Là người gần gũi nhất nhưng cô chưa bao giờ nhìn thấy chứ đừng nói là đọc các tác phẩm của ba. Những cuốn sách này luôn nằm vào góc khuất trên các giá gỗ bám đầy bụi trong các hiệu sách. Số phận những công trình ông viết ra cũng hẩm hiu cô độc như chính con người của ông vậy. Rồi mai đây, liệu còn ai nhớ đến ông? Dòng chữ nhòa đi trước mắt cô, một nỗi buồn vô cớ làm lòng cô tê tái như thể ba cô không còn trên cõi đời này nữa.
- Cô nghĩ gì thế? – Kì Phương hỏi. - Cô không biết ba cô đã viết cuốn này sao?
Kì Phương không biết là mình hỏi cô ta hay hỏi chính mình nữa. Anh tệ có kém gì cô đâu. Paul là thầy, là đồng nghiệp mà anh còn không biết huống chi ai. Thi Nga ngượng ngùng nói.
- Tôi không biết là ba tôi viết cuốn này, nhưng tôi biết cuốn “ Bia kí Champa toàn tập’’ này đang nằm ở đâu.
Thực ra chỉ thế là đủ. Kì Phương vẫn không tin sẽ tìm thấy nó. Anh nói:
- Cuốn này đang ở Paris chứ?
- Không, ngay trong vali của ba tôi trong khách sạn!
- Trời, thật không?
- Thật mà... – Giọng cô chùng hẳn.
- Trời ơi, vậy mà... - Kì Phương chỉ biết ngửa mặt than trời.
- Lúc đó... tôi chỉ chăm chăm tìm cái gì có “ Naga’’ hay “ thánh địa’’ mà thôi. Giờ nhớ lại đúng là trong vali có cuốn này.
Kì Phương không hề trách cô mà chỉ biết trách mình, rõ ràng Paul đã bày sẵn nguồn tài liệu cho anh: một cái lừng lững ở Bảo tàng, một cái nữa trong cuốn sách ở khách sạn. Thậm chí trong cuốn “ Bia ki Champa toàn tập’’ có tất cả. Đúng là Paul đã dọn sẵn, chỉ cần anh thông minh hơn thì vấn đề chỉ giải quyết trong vài phút, vậy mà trầy trật đến hai đêm một ngày vẫn chưa đi đến đâu.
Giờ đây để quay lại Đà Nẵng là không thể. Phải tìm ngay giáo sư Huỳnh Lẫm. Kì Phương đang đắn đo có nên gọi cho ông ta vào lúc này hay không thì có tiếng động cơ xa xa vọng đến.
Simha bật dậy áp mặt vào khe hở ngó ra ngoài làm con truyền tròng trành như sắp lật. Kì Phương và Thi Nga cũng dáo dác ngó theo hắn ra ngoài với vẻ mặt của một con chim đã ở trong lồng. Anh đã quá mệt và nếu cảnh sát đến lúc này anh cũng không thể chạy nữa. Phía ngoài bãi, một luồng pha sáng chói chiếu thẳng con thuyền trơ trọi giữa dòng sông vắng. Simha rút MobiFox J5 ra kiểm tra màn hình rồi nói giọng tự mãn.
- Xe đến rồi! Các vị ở đây chờ tôi.
Một lúc sau y quay lại với một hộp sắt bằng chiếc ống diêm gắn dây rợ lằng nhằng.
- Đây là thiết bị định vị GPS gắn trên xe Land Rover, nó sẽ giám sát nhất cử nhất động của chiếc linga này.
Simha cạy vỏ hộp rồi gỡ một con chíp bé bằng chiếc thẻ nhớ ra ngoài tìm một kẽ hở để cài lên linga. Sau một lúc so đo y nhét vào rãnh chữ phía dưới rồi cạy bùn trộn tàn thuốc miết lại đến nỗi nhìn mắt thường khó mà phát hiện được. Y đặt linga vào hộp kẽm rồi đóng lại, sau đó bật một phần mềm theo dõi xe hơi cài sẵn trên MobiFox J5. Đây là phần mềm chống mất cắp xe hơi mà hãng xe trang bị cho khách hàng trong đợt y mua dòng SUV này. Hài lòng với phát kiến của mình, y đưa máy cho Kì Phương xem.
- Chấm đỏ số 3 này vốn dành cho chiếc Land Rover, nay đã sang tên cho thần Siva.
Kì Phương ngó lên màn hình và thấy cùng lúc cả 7 chấm đỏ trên tấm bản đồ điện tử, riêng cái số 3 đang nằm sát nơi anh ngồi vài chục mét. Không tồi, nhà giàu thường được việc. Nhưng anh bỗng tự hỏi rằng nếu cha y mang linga lên rừng thì liệu có tín hiệu báo về hay không.
- Nào, đã đến lúc rời khỏi đây! – Y giục.
Cả toán ra khỏi thuyền, Simha giục Thi Nga và Kì Phương lên xe còn y mang thùng kẽm để vào cốp khóa lại rồi tự tay lái đi. Trước khi xe chuyển bánh y không quên dặn gã tài xế đẩy chiếc môtô-ba xuống sông rồi bơi sang bờ bên kia mà về.
Trời đã hửng lên đôi chút, Kì Phương ngoái lại nhìn bãi lầy lùi dần phía sau lưng. Phía xa, ánh bình minh ửng hồng trên dòng Tole Sap lãng đãng hơi sương trông lãng du và thơ mộng đến ngẩn ngơ lòng người. Lại một ngày nữa.
Ra khỏi bãi sông, Simha đánh thẳng xe về phía tây nơi có ngôi nhà cha y ở đó. Y không muốn Thi Nga và Kì Phương đến đó nên khi thấy một tiệm ăn còn sáng đèn ven đường, y nói.
- Hai bạn ngồi đây chờ tôi, xong việc tôi sẽ quay lại đón.
Mới bốn giờ sáng, Kì Phương cũng không có lựa chọn nào khác nên chấp nhận sự bố trí của y. Anh cùng Thi Nga vào một góc khuất gọi tạm hai món để lấy chỗ gà gật chờ trời sáng mới dám gọi giáo sư Huỳnh Lẫm. Anh biết ông không hài lòng khi anh sang Campuchia, ông đã từ chối cho anh số điện thoại của Simha và lần này anh cũng không mong nhiều ở ông. Không thể chờ thêm, Kì Phương quyết định gọi ngay cho ông.




Đăng nhập để trả lời
0