Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Chú Bé - Jules Vallès

4 trả lời, 9 lượt xem — Trang 1 / 1
Chú Bé - Jules Vallès  
 
XIX. LUIDÉT
 
Ông Bécgunha vốn là bạn học cũ của thầy tôi.
Ông ta người xương xương, nước da tái, ăn vận khắc khổ.
Ông nhất về môn luận, thầy tôi thứ nhì, nhưng thầy tôi lại đứng đầu về môn thơ La-tinh. Hai người đối với nhau vẫn giữ một niềm kính phục sâu sắc, như hai nhà chính trị đã đấu tranh với nhau, nhưng đã biết được tài nhau.
Cả hai đều vững tin là mình sinh ra để làm những việc đại sự, nhưng chỉ vì những nhu cầu của cuộc sống mà họ phải xa trường đấu.
Họ đã chia lĩnh vực với nhau.
“Cậu, cậu là Óc tưởng tượng, ông Bécgunha nói, - một óc tưởng tượng nóng bỏng…”
Thầy tôi ưỡn ngực, và khổ công làm cho mắt ánh lên, thầy tôi phóng một cái nhìn đùng đục vào không trung - và lén đưa tay làm cho đầu óc rối bù.
“Cậu là Óc tưởng tượng ngông cuồng…”
Thầy tôi làm ra vẻ bơ phờ thác loạn và nhăn mặt một cách kinh khủng.
“Tớ, - ông Bécgunha nói tiếp, - tớ là Lý trí lạnh lùng, lạnh như băng, không gì lay chuyển nổi”. Và ông kẹp chiếc can thẳng tắp vào giữa đùi.
Đồng thời ông sửa lại, trên cái mũi vàng khè lấm chấm đen như cái bao ngón tay, ông sửa lại cặp kính trắng trông như hai thấu kính tụ ánh nắng, nó làm tôi kinh hãi vì quần áo tôi hơi nhỏ.
Tưởng chừng hai mắt kính sắp gây ra những lỗ thủng. Đôi khi tôi còn tự hỏi không biết có phải cặp kính đã thui cháy mắt ông không, vì nom qua kính, mắt ông tựa như một vết nhọ đen to tướng.
“Tớ là Lý trí lạnh lùng, lạnh như băng, không gì lay chuyển nổi…”
Ông khăng khăng giữ ý đó. Ông hầu như nghiến răng lại mà nói vậy, tưởng chừng ông đang nghiền nát một song đề luận và nhai những góc cạnh của nó. Ông cũng đã học Đại học, điều đó thấy rất rõ; nhưng ông tốt nghiệp ra để lại một bà góa, - bà này ngỡ mình kết hôn với một vĩ nhân và đem lại cho ông vô số thựclợi nhỏ, nhờ đó ông có thể ngồi soạn quyển sách vĩ đại của ông Bàn về Lý trí ở người Hy Lạp.
Ông làm quyển sách đó đã ba năm nay, lúc nào cũng có vẻ như nghiến răng; ông vặn vẹo các luận cứ như vắt quần áo, ông thì ông muốn lập luận thật chặt chẽ, chứ không muốn lôgic lỏng lẻo, - do đó ông mắc bệnh táo bón, hình như thế, và ông bị những cơn nhức đầu nặng.
“Bộ óc, cậu thấy không, ông vừa nói với thầy tôi, vừa lấy ngón tay trỏ gõ vào trán…
- Không phải óc “, thầy thuốc nói, ông này cho là bị đau ruột già; đến nỗi ông ta không còn biết rõ có phải ông Bécgunha là triết gia vì bị bệnh táo bón, hay bị bệnh táo bón vì là triết gia.
Người ta xì xào về chuyện đó; vài cuộc tranh cãi nho nhỏ rất cay cú về vấn đề này xảy ra trong các tiệm cà-phê. Khối óc có những người đứng về phía nó. Mẹ tôi lúc dầu đã tỏ thái độ một cách dữ dội.
Thầy tôi, một hôm, chợt nảy ra ý là nhờ ông Bécgunha làm nhà hùng biện và phái ông đến gặp mẹ tôi với một vẻ trịnh trọng, răng nhe ra như dọa nạt, với võ khí lý trí, để tìm cách thuyết phục mẹ tôi rằng, đối với chồng, mẹ tôi một đôi khi đã đi trệch khỏi các quy tắc về sự tôn kính mà người đời xưa và người đời nay đã quan niệm, vì mẹ tôi đã gây cho thầy tôi những cảnh tai tiếng mà người ta không thấy có gì tương đương trong những tác phẩm cổ điển lớn.
“Tôi đến để đặt ra với bà một song đề luận.
- Ông nên chườm hạt cải vào chỗ nào đấy cho ông thì hơn .”
Ông ta bỏ đi và sẽ không bao giờ quay lại nữa, nếu như mẹ tôi đã không vì tôi mà khắc phục lòng căm ghét của mình.
Mẹ tôi nói sở dĩ đã trả lời hơi sống sượng là do cái vui tính của người đàn bà thôn quê thích đùa cợt một tẹo, và xưa nay chưa xin lỗi ai bao giờ, mẹ tôi đã đến xin lỗi ông Bécgunha để ông trở lại nhà tôi - vì lợi ích của tôi - vì thương con trai mình.
Chính vì thằng Jắc của mẹ, mà mẹ đã phải hạ mình xin lỗi, và lại còn để cho pho tượng sống của bệnh táo bón đó ngồi cạnh mình, - trong chừng mực có thể ngồi được.
Vì tôi, đúng thế! - bởi lẽ ông Bécgunha đã dậy tôi, đã chỉ cho tôi qua văn bản, đã chứng minh bằng cách cho tôi thấy rằng các triết gia cổ Hy-lạp và La-mã thường luôn tay đánh con họ; ông nhân danh Xpáctơ[59] và Lã-mã mà nện con ông, - nhân danh Xpáctơ hôm nào ông tát, và nhân danh La-mã hôm nào ông đét đít. Mẹ tôi, dù ác cảm với ông ta, nhưng vì thương yêu Jắc của mẹ, đã lại lao vào cảnh tay khô khẳng kinh khủng của ông Bécgunha; ông ta, với tư cách là con người, thì bị tắc ruột, nhưng với tư cách là triết gia, thì không, và ông đã toát mồ hôi đẫm áo để ghi khắc các nguyên lý triết học lên cái ấy của các con ông, - như kiểu người ta đóng đinh treo lên biển hàng, như kiểu người ta cắm một lá cờ.
Mẹ tôi đoán biết là tôi không có cái đức tin ngoài da.
“Mày hỏi ông Bécgunha xem! mà hãy nhìn ông Bécgunha, hãy nhìn xương sườn thằng bé Bécgunha xem!”
Quả vậy, sau khi đã thô mặt bốn năm lần vào nhà ông Bécgunha, tôi thấy tình cảnh của tôi thật là tuyệt so với tình cảnh mà hàng ngày các con ông Bécgunha bị đặt vào: khi thì chúng bị kẹp đầu vào đùi bố, ông ta vừa phần nào chẹt cổ con vừa quất roi một cách thuận tiện; khi thì chúng đối mặt, chúng bị túm tóc nhấc bổng lên và bị gậy đập cho sạch bụi, nhưng thấu đáo, - kỳ tới lúc không còn tóc hay bụi nữa.
Đôi khi người ta nghe thấy những tiếng thét khủng khiếp từ trong nhà ông ta vọng ra.
Người địa phương chỉ biệt thự Bécgunha cho các danh nhân:
“Đấy là nơi ở của nhà triết học, họ vừa nói vừa chỉ tay về phía biệt thự, - chính đấy là nơi ông Bécgunha viết cuốn Bàn về Lý trí ở người Hy Lạp… Đấy là nơi ở của nhà hiền triết.”
Bỗng nhiên các con trai ông ta hiện ra ở cửa sổ, vừa quằn quại như những con khỉ, vừa gào lên như những con chó rừng.
Phải, những trận đòn của tôi chỉ là những vuốt ve, so với những trận đòn mà Bécgunha phân phát cho gia đình ông.
Ông Bécgunha không phải đánh con chỉ vì lợi ích của nó - lợi ích của thằng Bônavăngtuya hoặc thằng Bácnabê, - mà vì thú riêng của bản thân ông Bécgunha. Ông không ích kỷ và cá nhân - ông tận tụy vì một lý tưởng, đó là nhằm cả nhân loại, khi một tay ông vén sơ-mi thằng Bônavăngtuya lên, một tay làm hiệu cho cá nhà bác học biết là ông sắp thực hành phương pháp của ông.
Ông đét đít thằng con ông như bắn súng đại bác, và ông lấy làm hài lòng khi thằng Bônavăngtuya thét lên những tiếng làm một chiếc đầu máy xe lửa cũng phải sợ.
Có lẽ ông sẽ đem cái đít đẫm máu của con trai ông lên diễn đàn La-mã, ví thử ở Thổ-nhĩ- kỳ, ông sẽ cắm nó lên cọc như cắm đầu lâu người trên ngọn giáo, và dựng nó ở hàng rào sắt trước lâu đài.
Tôi chỉ là một kẻ đơn độc, một thằng không xếp hạng, một đứa vô dụng, - tôi chẳng dùng được việc gì cả, - người ta đánh tôi, tôi không hiểu vì sao, chớ như thằng Bônavăngtuya thì là một tấm gương, và nó bước vào giật lùi nhưng thật sâu trong triết học.
Tôi không thương hại thằng Bônavăngtuya.
Bônavăngtuya rất xấu xí, rất ngu xuẩn, rất độc ác. Nó đánh những em bé như bố nó đánh nó, nó làm chúng khóc và nó cười. Một lần nó đã lấy dao cạo cắt đuôi con mèo, và người ta thấy đuôi con mèo nhỏ máu như một thỏi xi hơ nến, nó giả bộ gắn xi phong bì như bằng những giọt máu ấy. Một lần khác, nó vặt lông một con chim còn sống.
Bố nó rất lấy làm vừa ý.
“Bônavăngtuya thích tìm hiểu sự vật, Bônavăngtuya yêu khoa học…”
Từ khi nó cắt đuôi con mèo, từ khi nó vặt lông con chim, tôi ghét nó. Tôi sẽ mặc cho người ta lấy đá đập nó, như đập con cóc. Có phải chính tôi cũng ác không? Hôm nọ nó vặn tay một thằng bé; tôi đã đá nó túi bụi và đập mũi nó vào tường.
Nhưng em gái nó! - hỡi Chúa tôi!
Con bé vốn ở với một người dì ở nhà quê. Người dì chết đi, người ta gửi trả lại con bé. Con bé ngây thơ tội nghiệp, con bé khốn khổ yêu quý!
Trái tim tôi đã từng bị nhiều vết thương, tôi đã từng đổ nhiều nước mắt; nhiều lần tôi đã tưởng chết vì buồn, nhưng chưa bao giờ trước tình yêu, trước thất bại, trước cái chết, tôi đã đau đớn ghê gớm như cái hồi người ta giết con bé Luidét trước mắt tôi.
Vậy con bé ấy, nó đã làm gì? Tôi thì người ta đánh tôi là có lý, vì khi tôi bị đánh, tôi không khóc, - đôi khi tôi còn cười nữavì tôi thấy mẹ tôi rất ngộ khi mẹ tôi thật là cáu, - tôi có bộ xương rắn, có bắp thịt, tôi là đàn ông.
Tôi không kêu, miễn sao người ta đừng đánh gẫy chân gẫy tay tôi, - bởi lẽ sau này tôi còn phải kiếm sống.
“Thầy ơi, con là con nhà nghèo, thầy đừng làm con què quặt!”
Nhưng con bé kháu khỉnh mà người ta đánh, và nó xin tha, đôi bàn tay xinh xinh chắp lại, đầu gối khuỵu xuống, mình lăn lộn kinh hãi trước mặt bố, lão vẫn đánh nó… đánh mãi!...
“ Đau quá, đau quá! Thầy ơi, thầy!”
Con bé thét lên như tôi đã nghe thấy một người điên tám mươi tuổi vừa thét lên vừa rứt tóc, một hôm bà cụ ngỡ trông thấy có ai ở trên trời định giết bà!
Tiếng thét của bà cụ điên đó vẫn còn vang trong tai tôi, tiếng thét của Luidét, cũng điên lên vì sợ, giống như thế đó!
“Con van thầy, con van!”
Tôi còn nghe thấy một tiếng vụt; cuối cùng tôi không còn nghe thấy gì hết, ngoài một tiếng tắc nghẹt, một tiếng rên rỉ.
Một lần, tôi ngỡ con bé bị vỡ họng, lồng ngực bé nhỏ tội nghiệp của nó bị vỡ, và tôi vào nhà.
Con bé nằm lên trên mặt đất, mặt trắng bệch, tiếng nấc không thành tiếng, người co quắp vì kinh hoảng, trước mặt bố nó lạnh lùng, tái mặt, lão ngừng tay chỉ vì sợ lần này làm chết con.
Tuy vậy, người ta cũng giết chết con bé. Nó chết vì đau đớn, lúc mười tuổi…
Vì đau đớn!... như một người, vì phiền muộn quá chết.
Và cũng vì đòn làm hại!
Người ta đánh nó đau đến thế! và nó xin tha mà chẳng được.
Hễ thấy bố nó tới gần, chút lý trí của nó run lên trong cái đầu thiên thần của nó…
Ấy thế mà người ta không cho cái thằng bố ấy lên máy chém! Người ta đã không áp dụng luật Taliông[60] với tên giết con ấy, người ta đã không bắt tên hèn nhát ấy chịu cực hình, người ta đã không đem chôn sống hắn bên cạnh con bé!
“Mày có nín khóc không?”, hắn hỏi, vì sợ hàng xóm nghe thấy, và hắn nện thêm để đứa bé phải im; đứa bé càng sợ và càng khóc già.
Hồi mới đến, con bé trông rất dễ thương, hết sức vui, hết sức hể hả, hồng hào đến thế.
Ít lâu sau, con bé đã không còn sắc mặt, và người nó run lên như con chó bị đòn, mỗi khi nghe thấy tiếng bố nó về.
Tôi đã ôm hôn nó, vừa vuốt ve cặp má bầu bĩnh và ấm áp của nó ở Sở vận tải, nơi chúng tôi cùng với bà lão Bécgunha đến đón nó như một bó hoa.
Thời gian cuối. (Chà không lâu! may cho con bé! người nó trắng bệch ra như sáp, tôi thấy rõ là tuy bé bỏng đến thế, nó cũng đã biết là nó sắp chết, -nó mỉm cười trông như mếu.- Trông nó mới già làm sao, Luidét, khi nó chết mới mười tuổi, - chết vì đau đớn, thật vậy!
Hôm đưa đám con bé, mẹ tôi thấy tôi rầu rĩ.
“ Giá tao có chết, mày cũng chẳng khóc nhiều đến thế hả?. “
Hồi con chó chết, thầy mẹ tôi cũng đã nói với tôi như vậy.
“Mày cũng chẳng khóc nhiều đến thế.”
Tôi nín lặng.
“Jắc! khi mẹ mày nói với mày, mẹ mày muốn là mày phải trả lời… - Mày có trả lời không?”
Tôi không những không nghe họ nói gì, mà tôi nghĩ đến đứa bé chết, họ đã nhìn thấy nó bị hành hạ như tôi và đã cứ để cho nó bị đánh, chứ không can lão Bécgunha đừng làm khổ nó; họ lại còn bảo con bé là không được hỗn láo, làm phiền lòng thầy nó!
Luidét mà hỗn láo! Con nhỏ tí xíu đó, với giọng nói dịu dàng và ánh mắt ướt! Thế là nước mắt tôi trào ra, và tôi hôn cái gì không biết, một mẩu khăn quàng, có lẽ, mà tôi đã lấy ở cổ con bé tội nghiệp bị giết chết.
“Mày có vứt cái của bẩn thỉu ấy đi không?”
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Mẹ tôi nhảy xổ vào tôi. Tôi giữ chịt mảnh khăn vào ngực; mẹ tôi lồng lộn lên, bấu chặt lấy cổ tay tôi.
“Mày có đưa đây ko!
- Của Luidét chứ…
- Mày không đưa hả? - Ăngtoan, ông cứ để con ông đối xử với tôi như thế à?”
Thầy tôi hạ lệnh cho tôi buông mảnh khăn ra.
“Không, con không đưa đâu.
- Jắc!”, thầy tôi, cáu tiết, quát.
Tôi không nhúc nhích.
“Jắc!” Và thầy tôi vặn tay tôi.
Thầy mẹ tôi cướp lấy mảnh lụa mà tôi giữ được của Luidét.
“Còn một thứ bẩn thỉu nữa để ở xó xỉnh rồi tao cũng sẽ quẳng đi”, mẹ tôi nói. Đấy là bó hoa của cô em họ đã tặng tôi.
Một hôm lục lại, mẹ tôi đã thấy bó hoa ở đáy một ngăn kéo.
Mẹ tôi ra tìm bó hoa, giựt nó và giết nó. Phải, tôi thấy như người ta đã giết chết một cái gì, khi giựt nát bó hoa héo ấy…
Tôi vào một căn buồng nhỏ tối om, đóng kín cửa lại để rủa thầm thầy mẹ tôi; tôi nghĩ đến Bécgunha và mẹ tôi, đến Luidét và cô em họ…
Quân giết người! quân giết người!
Tiếng đó từ ngực tôi bật ra như một tiếng nấc, và tôi cứ nhắc đi nhắc lại nó rất lâu, người run lên vì xúc động…
Ban đêm, tôi choàng tỉnh dậy, ngỡ như thấy Luidét ngồi kia, trên giường tôi, với tấm vải liệm. Cánh tay mảnh khảnh của con bé thò ra, với những vết đòn!...
 

Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0

 
 
XX. TÔI THEO NHỮNG LỚP CỔ ĐIỂN HỌC
 
 
Giáo sư năm nay của tôi mới quỷnh làm sao!
Ông tốt nghiệp Trường sư phạm ra, ông còn trẻ, đầu hơi hói, vận quần áo có lót chân, và ông dịch Panh-đa-rơ[61] . Ông gọi con nhện là araknê[62], và tôi khi cúi xuống để nhét dây giầy thì ông kêu lên:“Đừng điểm chỉ vào hài“. Đôi hài mới đẹp làm sao, bám đầy những cục bùn khô và những vệt phân vàng.
Trước khi đến trường bao giờ tôi cũng tới tha thẩn trong một chuồng ngựa ở gần nhà tôi, nơi tôi đã làm quen với các bác giữ ngựa, và không những chân tôi dính phân, mà chắc còn dây cả vào sách vở nữa.
Ông ta nói hài và araknê, với chút cười ruồi để người ta khỏi chế nhạo ông nhiều quá, nhưng trong thâm tâm, ông tin vào những cái đó, điều đó rất rõ, ông thích dùng những điển tích cổ ấy, tôi biết (bắt chước Bốtxuyê).
Ông yêu tôi, vì tôi làm thơ La-tinh giỏi.
“Óc tưởng tượng phong phú làm sao, và ngòi bút nó lưu loát làm sao! Minécvơ[63]là mẹ đỡ đầu của nó đấy!
- Di Anhét chứ, mẹ tôi nói.
- DiAnhét, DiAnhêtốt, Dianhetêtông[64].
- Ông nói sao, bà Vanhtrax hỏi, có vẻ hoảng sợ vì những hiệp âm đó và bà đỏ mặt vì biến thể của từ ở số nhiều!
- Óc tưởng tượng phong phú làm sao!“ giáo sư nhắc lại để chuồn.
Tôi mặc cho người ta bảo tôi thông minh, tôi có khả năng.
 
 
 
*
 
 
 
 

TÔI KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG!
Hôm nọ người ta ra đầu đề cho chúng tôi, -“ Têmi-xtôclơ[65] hô hào người Hy-lạp“. - Tôi không tìm ra được ý gì cả, tuyệt nhiên không!
“ Tôi mong rằng đây là một đầu đề hay, hề!“ giáo sư vừa nói vừa đưa lưỡi liếm môi, - lưỡi vàng khè, môi bẩn.
Cố nhiên đây là một đầu đề hay, và, dĩ nhiên là ở các trường trung học nhỏ, người ta không ra những đầu đề như thế; chỉ có ở những trường trung học hoàng gia, và khi có những học sinh như tôi.
Vậy thì tôi sẽ nói gì bây giờ đây?
“ Các anh hãy tự đặt mình vào địa vị Temixtôclơ. “
Các giáo sư bao giờ cũng bảo tôi phải đặt mình vào địa vị ông này, ông nọ, - với chiếc mũi bị xẻo như Zôpyrơ[66] ư? với cổ tay bị thui như Xêvôla ư?
Bao giờ cũng là những vị tướng, những ông vua, những bà hoàng!
Nhưng tôi mới mười bốn tuổi, tôi không biết nên để Aniban, Caracala cũng như Tóccatuýt[67] nói gì!
Không, tôi không biết!
Tôi tìm những trạng từ và hình dung từ trong tự vị Građuýt, và tôi chỉ việc chép những cái tôi tìm thấy trong cuốn Alếchdăngđrơ.
Thầy tôi không biết việc đó, mà tôi cũng không dám nói ra.
Nhưng thầy tôi, chính bản thân thầy tôi! (Ôi chao! Đây tôi tiết lộ một bí mật gia đình!) Tôi đã thấy bài tập của thầy tôi làm để thi thạc sĩ cũng là chắp vá bài này sách khác. - Phải chăng chúng tôi là một gia đình những kẻ ngu độn?...
Đôi khi thầy tôi viết một bài điền từ trong đó phải thay lời một người đàn bà. - Những lời than thở của Agripin, Axpadi nói với Xôcrat [68], Juyli với Ovil [69].
Tôi thấy thầy tôi gãi trán, sờ râu, vẻ mặt hãi hùng; - thầy tôi phải là Agripin, Axpadi, nhưng thầy tôi lại không phải là Axpadi, không phải là Agripin, - thầy tôi vặn râu và cắn, thất vọng!
Tôi cảm thấy tất cả sự kém cỏi của con người tôi, và tôi rất khổ tâm!
Tôi khổ tâm về nỗi thấy mình được trầm trồ khen ngợi mà không xứng đáng, người ta cho tôi là giỏi, nhưng tôi chỉ là một thằng ăn cắp. Tôi xoáy dòng, xoáy tày, tôi nhặt nhanh những câu thơ liên cú ở góc sách.
Đôi khi tôi lại xảo trá nữa. Tôi cần một hình dung từ; dù phải hy sinh sự thật tôi cũng cóc cần! Tôi tra tự vị vớ lấy chữ nào được việc, dù nó nói ngược hẳn lại điều tôi định nói. Tôi mất hết ý niệm về cái chính xác! Tôi cần có một vần trắc hoặc một vần bằng, mặc kệ! - chất lượng chẳng là gì, số lượng là tất cả.
Với các giáo sư, phải bám sát lấy đồi Janiquyn[70].
Tuy nhiên tôi vẫn không thể nào hình dung nổi tôi là một người La-tinh.
Không thể hình dung nổi!
Khi tan học tôi không vào nhà xí của Vitenliuýt[71]. Tôi cũng chưa hề ở Hy-lạp bao giờ! Không phải vòng hoa chiến thắng của Mintiats[72] làm tôi vướng víu mà chính là củ hành làm tôi khó chịu. Trong các bài văn, tôi khoe những vết thương bị kẻ thù đánh phía trước vào ngực; nhưng thật quả tôi đã bị một vài vết ở đằng sau.
“Các anh sẽ mô tả đời sống ở la-mã như thế này, thế này...”
Tôi thì tôi không biết xưa kia người ta đã sống ra sao! Tôi rửa bát đĩa, tôi bị đánh đòn, tôi mang dâu đeo quần, tôi khá là buồn; nhưng tôi không biết một ông chấp-chính-quan nào khác ngoài thầy tôi, thắt chiếc ca-vát to tướng, đi đôi ủng đã thay đế; còn như về bà già, tôi chỉ biết có mụ Grattơlu vẫn làm việc vặt trong nhà cho những người ở gác hai.
Vậy mà người ta vẫn cứ nói là tôi văn chương lưu loát.
Thật là giả dối quá thể. Ôi chao! Tôi ấm ức vì hối hận!...
Có ông Jaluyzô, giáo sư khoa sử, được tất cả mọi người trong trường yêu quý. Người ta bảo là nhà ông giầu, và ông có tính nói thẳng. Ông là một người tốt.
Tôi quỳ xuống dưới chân ông và thú thật hết với ông.
“Thưa ông Jaluyzô!
- Chuyện gì thế, cháu?
- Thưa ông Jaluyzô!”
Nước mắt tôi ướt đẫm tay ông.
“Cháu có, thưa ông, có điều cháu là thằng ăn cắp!”
Ông ngỡ là tôi đã ăn cắp ví tiền, và vội nhét dây đeo ví vào túi.
Cuối cùng tôi thú thực những vụ xoáy trong Alêchdăngđrơ và tất cả chuyện những liên cú mà tôi đã nhai lại, tôi nói rõ là tôi đã lấy những vần thơ La-tinh ở đâu.
“Đứng dậy, cháu! Nhặt nhạnh những thứ rác rưởi ấy để làm bài luôn à? Thì chính cháu đi học chỉ là để làm cái đó, để nhai đi nhai lại những thứ mà người khác đã nhai rồi.
- Cháu chưa bao giờ đặt mình vào địa vị Têmixtôclơ cả!”
Chính lời thú nhận đó làm tôi đau xót nhất.
Ông Jaluyzô phá ra cười để trả lời tôi, tựa hồ ông bất chấp đến Têmixtôclơ. Người ta thấy rõ ông là người có của.
Về món luận Pháp-văn, tôi thành công cũng do lối chắp vá, xào xáo, do lối nói dối và đánh cắp.
Trong các bài luận đó, tôi nói là không có gì nâng cao tâm hồn con người bằng Tổ quốc và tự do.
Tôi thì tôi không biết tự do là gì, Tổ quốc là gì. Xưa nay tôi luôn bị roi, bị tát, - đó là về tự do; - còn về Tổ quốc, tôi chỉ biết mỗi căn nhà tôi ở đó tôi đã mụ cả người, và chỉ có những cánh đồng ở đó tôi thích thú, nhưng lại không được đi đến.
Tôi bất cần những Hy-lạp và Ý-đại-lợi, sông Tibrơ và Ơrôtax. Tôi thích con suối ở Farâyron hơn, thích phân bò, phân ngựa, và nhặt rau bồ-công-anh về để trộn xà-lách.
 
ĐỌC THUỘC LÒNG CỔ ĐIỂN
“Thở mạnh vào con ạ!”
Đấy là mẹ tôi nói, mẹ tôi hôm nay dịu dàng quá! “Thở mạnh vào” nói như kiểu bà phước ở nhà thương nói với một người ốm mà người ta đang đỡ vầng trán nóng hầm hập: “Mạnh vào! Thế! Can đảm lên! Tốt!”
Tôi ngồi phịch xuống chiếc ghế bành, người mệt lả, hai tay buông thõng và mềm nhũn như con thỏ chết; giống như con thỏ bị giết chết, tôi cũng có một giọt máu ở đầu mõm: rồi khắp quanh mõm, da bị đỏ hỏn và nhẵn như vỏ hành, nhẵn thín, nhẵn thín!... Nếu tôi có vài chiếc lông nhỏ nào đó mọc ngược, thì chúng đã rụng cả, trôi hết, vì từ sáng tới giờ không biết bao nhiêu là nước đã chảy qua lỗ mũi tôi!
Là vì hôm nay thi môn đọc thuộc lòng cổ điển, và mẹ tôi muốn tôi được nhất.
Muốn vậy, không những phải học thuộc lòng, mà còn phải đọc hay nữa; thế mà cái mũi thật thông giúp cho giọng nói trong ra.
Người ta đã thông mũi cho tôi.
Mẹ tôi, đã túm lấy nó và đem dim vào nước; mũi ngâm ở đó rất lâu, lâu lắm! Ôi chao! Mỗi phút là một thế kỷ. Cuối cùng mẹ tôi kéo nó lên sạch tinh tươm và bảo tôi:
“Hít đi con! Hít!”
Tôi không hít được.
“Cố gắng lên một chút, Jắc!”
Tôi cố gắng.
Như một ống tiêm mềm, mũi tôi hít vào và xì nước ra trong nửa tiếng đồng hồ liền, có lẽ hơn thế, và tôi tưởng như người ta làm rỗng người tôi ra, đầu tôi dính vào cổ như một quả bóng hồng buộc vào sợi chỉ; gió thổi làm nó lắc lư. Tôi đưa tay lên đầu. “Nó đâu rồi? - À! Nó đây!”
Chỉ có cái mũi là đáng kể; nó rát hết chỗ nói và sáng bóng lên như nút bình thủy tinh.
Tôi bíu vào nó, tự tay tôi nắm lấy chóp mũi, rồi cứ thế thong thả tôi dẫn mình tới bàn học, ngồi ôn lại bài.
Đôi khi mục đích không đạt được, mũi tôi ộc nước ra tung tóe, những hạt chai nước từ trong mũi nhỏ giọt ra như một chiếc giẻ vắt lên cao và tôi nói: “Bẹ”.
Bẹ, để gọi người sinh ra tôi!
Ôi! Bẹ ôi, bẹ! tức là nói: mẹ ơi, mẹ.
Tới lớp, lúc đọc khúc ca mở đầu của Iliats, tôi nói:
Benin, Ayide! - hắtxìhơi! theia Beleiadeo - Hắtxìhơi!
Tôi làm cho ông già Hôbe trở thành lố bịch! Hắt xì hơi! Hắt xì hơi! Zim, mala ya, bùm bùm!
Đôi khi không bị xổ mũi, tôi nói như chiếc kèn trômbôn có một lỗ, - ở chỗ cái mũi của tôi. Tôi đúng như con người mà một triết gia đã mô tả: một cái ống thủng hai đầu.
Đầu trẻ con mà làm thế thì không gì tốt bằng, ông hiệu trưởng nói về cuộc thông mũi mà mẹ tôi đã kể lại với ông. Không gì tốt bằng để biến nó thành cục bột thì có!
Mặc dù hoặc bặc dù vậy, dù có hắtxìhơi, hắtxìhơi, hay không, - tôi vẫn rất giỏi về bôn đọc thuộc lòng. Trí nhớ của tôi tiếp thu bài học như mũi tôi tiếp nước, và tôi hít cả từng khúc ca trọn vẹn của Iliats và những đồng ca của Êtsylơ, văn thơ của Viếcgin và của Bốtxuyê, - nhưng rồi nó cũng đi mất, như khi nó đến. Tôi quên phứt Bôtxuyê như người ta quên cây lô hội tẩy ruột rất tốt.
 
TOÁN
“Thằng bé này, nó có óc tưởng tượng hừng hực như lửa.”
Thế là dứt khoát. Tôi là một quả núi lửa nhỏ (mà miệng thường có mùi bắp cải. Nhà tôi ăn biết bao nhiêu bắp cải!)
“Óc tưởng tượng hừng hực như lửa, thật đấy! Chà! Nó không thể giỏi toán được!”
Người ta dường như xác định rằng giỏi toán chỉ dành cho những đứa nào chẳng có gì cả ở đây này.
Phải đâu ở La-mã, ở Aten, ở Xpáctơ, có giây phút đặt vấn đề những con số! Thì đúng là tôi không thích làm tính trừ có những con số không, và tôi không hiểu gì về phép thử tính chia, thật là không!
Thầy tôi cười về chuyện đó, ông giáo dạy văn cũng vậy.
Bao giờ tôi cũng ở trong số sáu đứa bét lớp.
Nhưng một ngày kia, một tin đồn lan đi.
Kinh ngạc lớn. Xì xào trong sân, dưới các vòm cửa.
Tôi nhất về hình học.
Giáo sư văn hơi bực với tôi. Tôi có phải là núi lửa - hay không phải?...
Việc bất ngờ đến nỗi người ta tự hỏi hay là tôi quay, cóp, tráo và người ta gọi tôi lên bảng để thử xem với cục phấn trong tay tôi có làm được không.
Tôi làm được, thậm chí tôi còn phát triển thêm bài học nữa. Tôi quay về phía các bạn học, vừa giảng cho họ bài toán, tay vung lên, giở các sách, nhặt những mẩu gỗ; tôi cuốn giấy thành loa, tôi dựng các hình, và tôi chỉ ngừng lại khi giáo sư có vẻ tự ái bảo tôi:
“Cậu đã sắp thôi cái trò ấy đi chưa? Cậu giảng bài hay tôi nào?”
Tôi trở về chỗ giữa những tiếng xì xào thán phục.
Tan lớp:
“Mày làm thế nào vậy? Mày học từ bao giờ?” Tôi đã học như thế nào ư?
Trong một đường phố nhỏ, có một ngôi nhà nom rất tiêu điều với vài ô kính vỡ mà người ta đã lấy giấy để dán lại; một chiếc lồng chim đen treo ở cửa sổ gác hai, bên trên một chậu hoa run rẩy trước gió.
Nơi ấy, có một người nghèo, một người Ý bị trục xuất khỏi nước.
Lần đầu tiên trông thấy ông ta, tôi rùng mình; tôi cảm động. Cả quá khứ những bài dịch văn của tôi sắp hiện lên bằng xương bằng thịt, hình dung bởi một con người đã từng tắm trong dòng sông Tibrơ: Taxit, TitoLivơ, con ngựa của Xêđa, con dê của Xéptimuyxx, bó đuốc của Nêrông!...
Nhưng căn nhà này trông mới tiêu điều làm sao!
Một ngọn đèn con cháy trên chiếc bàn đầy sách cũ, một con chó nhìn tôi, mắt trợn trắng, và một người tóc hoa râm, với đôi kính to, đang ngồi vá lại chiếc quần rách tã.
Đấy chính là người La-mã.
“Thầy cháu, ông Vanhtrax, sai cháu đến...”
Tôi đưa cho ông ta một bức thư của thầy tôi sai tôi đem đến. Ông đọc thư, tôi đưa mắt theo dõi ông.
Sao! Ông ta ở La-mã đến ư? Cái ông già xám ngoét kia, trông như con cú trong một quán thợ giầy và đang vá đũng quần kia, ông ta từ nước của các đấu sĩ tới đấy ư?
Chiếc quần đó là cái vexilum[73] của ông, và mũi kim kia là thanh gươm ư? Vậy mũ trụ và lá chắn của ông đâu? Ông ta vận chiếc áo nịt bằng len...
Tôi nhìn thấy bàn tay ông thiếu mất ba ngón; trông những đầu xương tròn ấy thật là xấu xí và hai ngón còn lại có vẻ như hai cái sừng.
Tay ông hơi run run khi gấp lá thư lại.
“Cháu nói với thầy cháu là bác rất cám ơn”, ông nói.
Tôi như thấy có một vệt long lanh, một giọt nước trong mắt ông.
Ông khóc - nhưng người La-mã có khóc đâu?
Tôi đã ngờ rằng ông ta đã lầm, hoặc giả ông ta đã nói dối: ông đưa cho tôi một quyển sách nhỏ.
“Chính bác soạn quyển này đấy, - ông nói. - Cháu có thích toán không?...”
Nhìn vẻ mặt tôi, ông biết là tôi không thích.
“Không hả? - Thế này! Có thể rồi ra cháu sẽ thích quyển sách của bác. Đây, có cả một cái hộp kèm theo với sách.”
Ông tiễn tôi ra tận cửa, tay vẫn cầm chiếc quần, vừa lấy những đầu ngón tay đẩy kính lên; tôi nghe ông nói với con chó:
“Thế là bốn mươi xu một bài dạy học; mày sẽ có pa-tê; còn tao có bánh mì.”
Có người tình cờ đã giới thiệu ông ta với thầy tôi, và thầy tôi đã tìm được cho ông một chỗ dạy tư; đấy là nội dung bức thư của thầy tôi.
“Cháu có thích toán không?”
Vậy ra ông ta thấy ngay lập tức tôi là một quả núi lửa? Như ông ta, ông ta có thích toán không? Con người dòng dõi Rômuylúyx phải chăng là một tâm hồn chơi sách? Quả tình ông ta chẳng có vẻ gì là một xivix[74] và một commilitô[75], với chiếc quần và cặp kính của ông!
Trong chiếc hộp có gì?
Những miếng thạch cao.
Và trong sách? Những thuật ngữ hình học.
Hôm sau, một ngày chủ nhật, đáng lẽ tới chơi nhà một người bạn, như thầy tôi đã cho phép, tôi bận cả ngày với quyển sách và những miếng thạch cao đó.
Thứ bảy sau thì tôi được nhất.
Tôi vui sướng chạy đến báo tin cho ông ta biết, và ông kể lại cho tôi nghe câu chuyện của ông.
Ông ta suýt chết về tay bọn cảnh sát của nhà vua ở Náplơ, chúng để bắt ông về tội mưu phản, và ông đã chống cự lại chúng để cứu thoát những giấy tờ làm liên lụy đến những người khác. Ở đó, ông bị chém mất ngón tay. Ông đã lê trốn được vào một xó; người ta đã mang ông đi, cứu ông, và ông vượt sang nước Pháp.
“Mưu phản! Bác đã mưu phản à?
- Bác là thợ nề, may thay. Bác lợi dụng những hiểu biết về nghề nghiệp của bác để làm những mẫu hình học này. À mà hình như cháu đã hiểu phương pháp của bác thì phải.
- Chỉ cần nhìn và sờ thôi. Đây này, bác có muốn cháu giảng lại để bác nghe không?”
Tôi lấy những miếng thạch cao thấy ở dưới tay, tôi làm lại bài chứng minh.
“Đúng đấy! Đúng đấy! ông vừa nói, vừa gật đầu. Người ta muốn dậy cho trẻ em biết thế nào là một khối hình nón, cắt nó ra như thế nào, thể thích của khối hình cầu, và người ta trình bày với tẻ toàn những đường thẳng, những đường! Hãy cho chúng khối hình nón bằng gỗ, bằng thạch cao, dậy cho trẻ cái đó, như ta bổ quả cam ấy! - Tất cả phương pháp cũ của họ chỉ là thần học! Lúc nào cũng Chúa lòng lành! Chúa lòng lành!
- Bác nói gì về Chúa lòng lành thế?
- Không, không.”
Ông có vẻ như vừa trút được một cơn giận, và ông lại lấy những sợi dây thạch cao nói về hình học cho tôi nghe.
 






*




 
 
XXI. BÀ ĐƠVINON
 
 
“Ông Vanhtrax ạ, hễ khi nào cháu Jắc được nhất, tôi sẽ dẫn cháu đi xem hát với tôi.
Ông có bằng lòng thế không?”
Chính bà Đơvinon đề nghị vậy. Bà có con trai học ở lớp thầy tôi dạy, là một thằng dốt đặc và tinh nghịch.
Nếu ông Đơvinon không phải một nhân vật có thế lực, giầu có, người ta đã tống cổ thằng nhóc ra khỏi trường từ lâu rồi.
Nhưng mẹ nó là một bà sang trọng, có lẽ tóc hơi nâu quá một chút; đôi mắt mới đen làm sao, hàm răng mới trắng làm sao! Bà nhìn ai là làm người ấy rạng rỡ hẳn ra. Hễ cầm tay ai là bà xiết chặt. Thật là êm ái, thú vị.
“Tại sao cháu đỏ mặt? - Thình lình bà hỏi tôi.”
Tôi ấp úng, bà vỗ khẽ lên má tôi nói:
“Nhìn cậu con trai lớn kìa! ... tôi sẽ dẫn nó đi xem hát mỗi lần nó được nhất.”
Thầy tôi rất hãnh diện vì mọi người thấy tôi đi cùng một người quan trọng như thế, nhưng mẹ tôi thì lại rất ngạc nhiên.
“Bà không sợ bị xấu hổ với nó à?
- Xấu hổ! - Nhưng bà không thấy con trai bà có tư thế à một thằng bé lai đen, đi đứng như lính!
- Bụng nó to phưỡn thế kia! mẹ tôi nói. Người ta thì chẳng bảo thế đâu... nhưng bụng thằng Jắc sệ quá.”
Tôi mà bụng sệ à? Tôi làm hiệu phản đối.
“Phải, phải, thế đấy, có lẽ bây giờ bớt rồi, nhưng trước kia mày bị sưng màng ruột, con ạ. (Quay sang bà Đơvinon). Tôi phải lấy quần áo để che đi đấy.”
Bà Đơvinon nhìn tôi tủm tỉm cười.
Tôi thì nó cứ như thế là tôi ưng rồi. Thế chú mình đi lấy mũ đưa cô về nhà nhé??
Mũ nào? Cái mũ xám ấy à? Cái mũ của giai cấp trung lưu, làm tôi giống vua Luy-Philip ấy ư?
Mẹ tôi đồng ý cho tôi đi với chiếc cát-két.
Tình cờ tôi lại đang vận một bộ quần áo khá tinh tươm, do quay xổ số được. Chả là một cuộc xổ số lấy hiện vật. Một hiệu may mặc treo giải một bộ quần áo; mẹ tôi mua một số, đứng tên con mình.
Số ấy trúng.
“Con thấy không, con, người nhân đức bao giờ cũng được đền bù.
- Thế những người không trúng thì sao?
Ý Chúa vô cùng, biết sao được. Ơ này, không phải thuần len!”
Bà Đơvinon kéo tôi đi.
“Đưa tay cho cô khoác, đừng có rụt rè... Thế, như thế này này: tốt lắm! Cô có thể dựa vào cháu dược; cháu khỏe lắm!”
Tôi không hiểu tại sao tôi lại không nổ vỡ ra, ở một chỗ nào đó, tôi đã hết sức lên gân các bắp thịt để bà ta cảm thấy bắp tay tôi cứng.
“Và bây giờ cháu kể lại cho cô nghe đi, vậy là có sự tích về chiếc mũ xác nọ phải không? Và rồi cháu lại bị sưng ruột; cháu có vô khối chuyện để kể cho cô nghe đấy!”
Tôi đâm lúng túng, tôi đỏ mặt, tôi tái đi. Chà! Thôi mặc kệ! Tôi cứ kể hết mọi chuyện với bà.
Bà ta cười, cười ha hả, và bà ngặt nghẽo người ở cánh tay tôi và bảo:
“Thật à, chiếc áo kiểu Ba-lan, món đùi cừu!”
Và những tiếng ha ha! Giòn giã, vui vẻ nghe như những tiếng nhạc ngựa bằng bạc.
Tôi đã kể cho bà nghe các nỗi khổ của tôi.
Tôi không giữ ý gì nữa, tôi dốc cả bầu tâm sự, giọng nói có phần cao hứng; có lúc hình như tôi còn xưng tớ với cậu với bà; tôi ngỡ như đang nói chuyện với bạn.
“Không sao cả, cứ tiếp tục, bà nói, khi nhận thấy tôi sợ. Như tôi, tôi cũng xưng hô thân mật với cậu đấy thôi. Thôi ông ơi, ông có muốn người ta cậu cậu tớ tớ với ông không? Tôi có thể gần tuổi là mẹ cậu đấy, cậu biết không?”
Chà! Nếu vậy thì tôi càng thích!
“Tôi già rồi... Cậu thấy tôi già lắm phải không, nói đi?”
Bà nhìn tôi với cặp mắt như hai ngôi sao.
“Không, không ạ.
- Cậu thấy tôi đẹp hay xấu? Cậu không dám trả lời à? Vậy tức là cậu thấy tôi xấu, xấu quá cho nên không hôn tôi chứ gì...
- Không...! Không...!
- Thế à! Thế thì hôn tôi đi...”
Bà dẫn tôi đi xem hát mỗi lần tôi được nhất, như đã thỏa thuận.
Chúng tôi quen nhau đã được một tháng.
“Cậu thích đi với tôi không? một hôm bà hỏi tôi.
- Thưa bà, có; cháu thì cháu rất thích xem hát, cháu rất khoái hài kịch.”
Một lần, ở Xanh-Êchiên, người ta đã dẫn tôi đi xem vở Viên thuốc của quỷ; xem xong tôi thích đến điên người, và suốt hai tháng trời, tôi chỉ nói độc có mỗi chuyện Xởanhghinôx và Baybylax. Bây giờ thì xem bị kịch; thỉnh thoảng xem nhạc kịch. Không có nhiều cảnh trí như trước nữa! Nhưng dù sao tôi vẫn quan tâm đến nỗi cùng khổ của những trẻ mồ côi, đến những bất hạnh của vai chính! Và vở nhạc kịch Huygono với lễ chúc phước bằng dao găm! Vở nhạc kịch Người yêu, lúc cô Matxông hát: “Hỡi chàng Fécnăng của em!”
Cô ta xõa tóc, vặn hai tay vào với nhau:
Hỡi chàng Fécnăng của em,
Tất cả của cải trên trái đất!
Cô nói vậy với tất cả tâm hồn của mình, và như thế cô là một tín đồ Gia-tô tuẫn tiễn mà người ta đã kể ở trường học. Nhưng không phải cô cầu khẩn trời, mà là cầu khẩn một chàng cao lớn, tóc nâu, ria đen, đi đôi ủng mềm.
Vậy ra không phải chỉ vì mỗi Chúa lòng lành mà người ta thở vắn than dài và ngước mắt van xin!
Ôi! Chàng hãy đến một quê hương khác!
Đến mà cất niềm hạnh phúc của chàng...
Hai chân tôi rung run, cổ áo ướt đẫm; - bà mẹ Vanhtrax bảo những tối kịch như thế chúa là hại quần hại áo.
Ngay trước lúc mở màn, tôi đã cảm thấy mình lớn lên và bị xúc động rồi.
Tôi căng rộng mũi để hít mùi hơi đốt và mùi cam, mùi phấn sáp và mùi hoa làm không khí nặng nề và phần nào làm người ta ngạt thở. Tôi ưa biết bao cái cảm giác nóng hổi ấy, các mùi hương ấy, cái im lặng nửa chừng ấy!... tiếng lụa sột soạt ở ghế hạng nhất, tiếng guốc trên thiên đường[76]. Những bà vận áo hở ngực lả lướt ngả người phía trước các lô; bọn vô lại tung ra những lời tục tĩu và ném chương trình. Kẻ giầu ăn kem; người nghèo gặm táo; ánh sáng chan hòa!
Tôi ở trên một hòn đảo thần tiên; và trước những người đàn bà đang quay lượn đôi áo dài kia, như những nàng tiên cá quẫy trong các sách thần thoại, tôi nghĩ đến Xiêcxê và Hêlen.
Có tiếng kèn trômbon rền rĩ, tiếng vĩ cầm than khóc, tiếng chũm chọe xoang soảng, với những nốt lầm đầm như tiếng thì thào của kẻ trộm, lúc các nhạc sĩ lần lượt bước vào chỗ dàn nhạc, và thử nhạc cụ.
Lúc cô Matxông bước ra sân khấu, tôi quên khuấy bà Đơvinon ngồi bên cạnh.
Bà biết vậy.
“Cậu thích cô ấy hơn tôi, phải không?
- Không!... Có!... Cháu thích cô ấy lắm.”
Một hôm bà Đơvinon tới nhà và dẫn tôi đi sớm hơn mọi khi, để dạo quanh một vòng, và chúng tôi tha thẩn ở gần nhà hát.
Đang đi, chúng tôi gặp một người đi ngược lại.
“Cậu có nhận ra người kia là ai không?
- Người nào?
- Người đàn bà kia kìa, đang đi gần tiệm cà-phê, với chiếc áo choàng vai bằng lụa ấy.”
Tôi nhìn.
“Cô Matxông đấy à?”
Tôi vẫn chưa lấy làm chắc lắm.
“Phải, chàng Fécnăng của tội ạ”, bà vừa nói vừa cười...
Thật là vỡ mộng! Cô ta, mặt gần như mặt đàn ông, lại có nhiều thứ ở cổ quá: một khăn quàng, một dải đăng-ten, một tấm da trăng - không hiểu một thứ gì nữa to xù cũng bằng lông hoặc len lủng lẳng ở thắt lưng và cô ta nâng váy lên vụng về.
“Thế nào!” bà Đơvinon hỏi tôi.
Vừa lúc ấy, ông giám đốc nhà hát đi qua, chào cô diễn viên mà ông thấy trước, rồi chào bà Đơvinon.
Họ chào lại: cô diễn viên như mọi người, bà Đơvinon thì nghiêng đầu, mi mắt chớp chớp, khiến bà có vẻ mặt e ấp của bà tu sĩ, nhưng xinh đẹp làm sao, và dáng kiêu hãnh, sao mà kiêu hãnh đến thế!
Ông giám đốc đi khỏi, bà lại tựa vào cánh tay tôi.
“Thế nào! Cậu vẫn thích cô ta hơn tôi chứ?
- Ồ! Không! Không phải thế!
- Anh chàng ngốc nghếch ăn nói mới ruột ngựa chứ! Được, vậy là người ta ưng tôi hơn phải không?”
Khi tôi ngồi trong “lô” xem hát của bà, bà bảo tôi ngồi gần lại, thật gần.
“Xích lại gần đây nữa. Tôi làm cậu sợ à?”
Có đôi chút.
Bây giờ tôi mới ra sức học thi!
Tuy vậy một đôi khi tôi vẫn bị hỏng, không được nhất.
Ôi chao! Một lần! Thi thơ La-tinh!
Người ta ra đầu đề cho chúng tôi kể lại cái chết của một con vẹt. Tôi nói hết cả những điều người ta có thể nói được về một tai họa như thế: nào những không bao giờ lòng tôi có thể nguôi được, nào ví bằng Carông[77] thấy chiếc lồng đi qua - bây giờ gọi là quan tài - sẽ đánh rơi mất mái chèo, nào chính tôi đã tự tay đem con vẹt đi chôn! Trixtơ minixtêriom[78] và nào chúng tôi sẽ rắc hoa lên mộ. Manibuyađatơ lilia plênix[79].
Trong một câu thơ rất thần linh, tôi đã kêu lên: “Thương ôi! Bây giờ các bạn có thể trồng cây mùi tây trên nấm mồ ấy.”
Giáo sư đã khen ngợi tứ thơ đó, nhưng tôi vẫn bị kém thằng Brexle, cảm xúc của nó tỏ ra là mãnh liệt hơn, nỗi đau khổ của nó thật hơn. Nó đã có sáng kiến, như trong thánh ca, đặt một điệp khúc láy đi láy lại:
Psilaquyx intêriit! Jam fuygi psitaquyx, êhơ[80]
Ô hô, bốn lần lặp đi lặp lại! Tôi không thể kêu là có sự bất công được. Ô! Hay thật!
Tôi bị thứ nhì, và tôi không được đi xem hát. Có thể dứt tóc được; và tôi dứt tóc tôi thật. Tôi lại còn cắt túm tóc ấy đi nữa. Biết đâu đấy?
Ủa, tóc tôi sao mà nhờn thế! Vì bây giờ tôi bôi sáp vào tóc. Tôi sửa sang con người tôi. Tôi lại cạo mặt nữa. Tôi muốn có râu.
Thầy tôi giấu dao cạo đi. Tôi lấy một con dao đem nhét vào dưới nệm, vì lưỡi nó mỏng tanh và xanh biếc. Tôi đã ra công mài dao vào máy.
Buổi sáng, lúc mặt trời mọc, tôi rút con dao ở chỗ giấu ra, và tôi lủi, như một tên sát nhân... vào mọi chỗ kín.
Tôi không bị ai quấy rầy. Trời còn sớm quá!
Tôi có thể ngồi đàng hoàng.
Tôi treo chiếc gương lên tường, tôi đánh xà-phòng, tôi chuẩn bị tất cả mọi thứ, và tôi bắt đầu.
Tôi cạo lấy cạo để, làm cho da mặt phải chảy ra một thứ nước sền sệt xanh lè, như thể người ta vắt một chiếc bít tất cũ.
Tội bị những vết cứa ghê gớm.
Thường là những vệt cứa ngang - điều đó làm cho ông giáo dạy vạn vật học ở trên gác hai thường hay xoa đầu tôi vào những lúc rỗi, đã phải suy nghĩ rất lung.
“Hay thằng bé này cố ý nghiêng đầu về một bên để cho mèo cào, như thế không đúng với bản chất của con người...”
Ông ngừng lại, vẻ trầm ngâm, và hỏi:
“Cháu có nghiêng đầu đi cho con mèo cào không?
- Một đôi khi ạ. (Tôi nói vậy để trêu ông).
- Không phải làm như vậy luôn luôn à?
- Vâng. Không ạ.
- Không làm luôn luôn! - Vậy tức là phong tục của loài mèo đã thay đổi... Qua bao nhiêu thế kỷ cào từ trên xuống dưới, bây giờ nó cào từ phải qua trái... Kỳ lạ của Vũ trụ bao la! Biến cải kỳ dị của động vật tính!”
Ông vừa bỏ đi vừa lắc lư đầu.
Chúng tôi đang ngồi xem hát. Bà Đơvinon nói với tôi:
“Trông cậu hôm nay có vẻ làm sao ấy. Cậu có chuyện gì vậy? Cậu bực mình à?...”
Bực mình! Bà ngỡ là tôi có thể bực mình với bà, tôi mới mười lăm tuổi đầu, dây giày bằng da, ngày mai phải làm bài phạt, một thằng bất trị!
Tôi không bực mình. Nhưng hôm qua trong lúc cạo mặt, suýt nữa tôi xẻo mất mũi, và tôi bị một vết đỏ hỏn to bằng chiếc nhẫn.
Nhưng tôi vẫn cứ nói: “Tôi đang bực mình!”
Thật là tiện. Tôi cố để quay lưng lại, che giấu cái mũi của tôi.
Tôi tìm cách để không được nhất suốt thời gian vết sẹo tròn còn rõ, và tôi lành mặt khi bà tới chơi nhà. Cuối cùng chỉ còn một vệt trắng nhỏ ở bên mũi. Tôi có thể đứng nghiêng nói chuyện với bà được.
Những buổi tối thú vị làm sao!
Xem hát xong, chúng tôi cùng trở về và đôi khi chỉ có độc hai người với nhau. Chồng bà không chú ý tới vợ, ông ta bao giờ cũng ở Tiệm cà-phê diễn viên, nơi người ta đánh bạc sau tối hát. Ông là người mê cờ bạc. Bà tự ý khoác cánh tay tôi và xiết chặt lấy nó. Bà lả người vào tôi. Tôi cảm thấy thân hình bà từ vai xuống đến háng. Lúc nào cũng có một bàn tay của bà ấp vào bàn tay tôi; các đầu ngón tay cảu bà đặt trên cổ tay tôi, giữa tay áo và găng.
Về tới cửa nhà bà, chúng tôi lại quay bước trở lại, và chúng tôi tiếp tục cái trò đó kỳ tới lúc bà tự ý doãi ra bằng một cử chỉ uể oải, tay vẫn không buông tôi.
“Bao giờ cậu cũng giữ tôi lâu quá...”
Tôi ấy à!Nàotôi có giữbà lạibao giờđâu, chính tôi đã hết sức ngạc nhiên hôm đầu tiên: đáng lẽ về nhà ngay, bà lại muốn đi dạo chơi nữa và cứ lang thang như mèo đêm trên vỉa hè, đôi giầy của bà nện gót giòn giã! Bà vén áo dài lên, tôi nom thấy chiếc giầy da dê khít mắt cá chân, nó nhăn lại khi bà đặt bàn chân nhỏ xuống; bà đi bít tất trắng, trắng hồng như len, hơi mỡ như da thịt.
Bà ngừng lại hai ha lần.
“Tôi đánh mất chiếc hình quả tim rồi hay sao thế này?”
Bà rờ tay tìm ở trong cổ chắc nịch, và bà phải cởi một khuy áo ra.
“Cậu không trông thấy à? bà hỏi. - Ồ có lẽ nó tuột mất rồi!”
Các ngón tay bà lùa vào trong cổ áo, như kiểu tôi lùa ngón tay vào chiếc ca-vát thắt chặt quá.
“Cậu giúp tôi với...”
Vừa lúc ấy, hình quả tim lòi ra, lấp lánh dưới ánh trăng.
Cái đó làm bà tức mình thì phải.
“Cậu cũng đánh mất cái gì đó, bà hỏi, giọng hơi sẵng, lúc thấy tôi cúi xuống.
- Không, tôi buộc dây giầy.”
Lúc nào tôi cũng buộc dây giầy, vì dây thì to mà lỗ thì bé quá, hơn nữa một khuyết lại đứt.
“Jắc, nếu cậu được nhất vào ngày thứ bảy giữa tháng, tôi sẽ dẫn cậu đi Egờ-la-Jôli chơi. Tôi sẽ bảo nhà tôi là đi thăm người vú nuôi của Jôdêphin, và hai chúng mình sẽ về quê chơi như một cặp thanh niên. Chúng mình sẽ ăn táo xanh trong vườn cây, và ăn nấm cục ở hiệu ăn.” Ăn nấm cục? Chà! tôi lại phải buộc dây giầy!
Có một lần tôi đã nghe thấy một người bạn của thầy tôi nói chuyện nấm cục trước mặt mẹ tôi, làm mẹ tôi đỏ mặt.
Úi chà, tôi được nhất!
Tôi đẻ ra một bài thơ La-tinh làm mọi người phải phục lăn!
“Chẳng phải là người ta như nghe thấy tiếng con kê sao?” giáo sư nói.
Đây lại là một con chim nữa, - con gà trống.
Và tôi đã làm một câu thơ bắt đầu bằng:Cúc cù cu u... (hòa âm bắt chước).
Vậy là chúng tôi sẽ về quê, như đã thỏa thuận.
Chúng tôi gặp nhau trong sân quán ăn, nơi đỗ xe ngựa đi Egơ. Bác xà ích vừa đóng ngựa xong.
Tôi đã núp ở góc phố đế nhìn bà ấy đến trước, rồi sau tôi mới đến; tôi sợ phải đứng ở đó một mình. Nhỡ có người hỏi tôi “Cậu đợi ai ở đây?.”
Bà đã dặn tôi nên gọi bà là “dì” trước mặt mọi người. Bà dặn tôi như vậy hôm qua, và hôm nay bà lại nhắc lại, lúc trèo lên xe. Có một giọt mưa, như một bãi nước bọt, đập toẹt vào cửa kính của chiếc xe hai bánh.
Trời tối sầm - một tiếng sấm nổ ở đàng xa, - mưa như trút nước.
Một người khách ngồi trên mui hỏi xin xuống ngồi nhờ để tránh mưa. Người ta không nỡ từ chối, nhưng người nào cũng phình người ra khỏi để ông kia ngồi cạnh.
Duy có dì tôi là thu nhỏ người lại, và chỉ sang bên trái, có chỗ ở cạnh dì.
Dì tốt bụng và chịu hy sinh; dì tựa người sang bên phải, gần như ngồi lên người tôi, làm tôi sởn gai ốc...
Mỗi lần có tiếng sấm, dì tôi lại nảy người lên có vẻ rất kinh hãi. Tôi sợ dì trông thấy vết sẹo tròn nhỏ, và tôi không còn biết giấu mũi vào đâu. Nhưng, với người đàn bà ấy lọt một nửa người trong vòng tay tôi, và hơi thở làm lưng tôi nóng ấm, thật êm ái biết bao!...
Chúng tôi tới nơi; trời vẫn mưa.
Bà vén áo dài lên ở dưới cổng, trong lúc người ta tháo ngựa khỏi xe, mui xe chảy nước ròng ròng, còn tôi thì đang duỗi hai chân bị mỏi nhừ.
“Không có cách nào gọi cho tôi một chiếc xe à?
- Xe để đi Egơ, đường rộng bằng gang tay, ổ gà sâu như hang hầm! Bà trẻ ôi, bà hỏi đùa hay sao đấy!
- Jắc này! Dì cháu mình làm thế nào bây giờ?”
Dì nhìn tôi và cười.
“Giá có một cái buồng để trú chân đợi tan cơn dông nhỉ.
- Quán chúng tôi có buồng đẩy, chủ quán nói.
- À!”
 
TRONG BUỒNG
“Tôi cảm thấy ướt hết cả người, cậu biết không...”
Thế nào! Chỉ có đi vài bước từ xe ngựa tới cổng!
“Ướt hết.- Nước vào đầy cổ. Chảy cả xuống ngực. Ôi chao! lạnh... Tôi phải bỏ khăn trùm ra... Cậu cho phép chứ!... Tôi làm ông sợ à, thưa ông?”
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Có tiếng gọi, gọi om xòm!
Người ta gọi tôi.
“Vanhtrax! Vanhtrax!”
Bọnhọ có đến mười người cùng gọi Vanhtrax.
Đấy là lớp nhì đi chơi về phía này và chạy vào trú mưa trong quán.
Tôi nhìn qua rèm cửa thấy họ.
Bà Đơvinon nhẩy bổ ra cửa, khóa trái lại, nhưng rồi bà lại đổi ý.
“Không, cậu đi ra thì hơn; ra đi, nhanh lên!”
Tôi tìm chiếc mũ của tôi, không thấy.
“Bà có thấy cái mũ của tôi đâu không?
- Ra đi, để tôi đóng cửa lại!
- Vâng vâng; nhưng sẽ nói với họ thế nào?
- Muốn nói gì thì nói, ĐỒ NGU!”
Câu chuyện xảy ra là như thế này.
Bước vào quán, họ trông thấy trên bàn một chiếc áo choàng kỳ quặc, chính là áo của tôi, và chiếc mũ lông cứng của tôi.
Họ đã nhận ra tôi.
 
HẬU TỪ
Tôi bắt buộc phải rời khỏi thành phố, thiên hạ bàn tán về câu chuyện của tôi.
Ông hiệu trưởng khuyên thày tôi nên đưa tôi đi xa.
“Nếu ông muốn, người anh rể của tôi ở Pari sẽ cho nó ở trọ, lấy giá rẻ thôi, vì nó học giỏi, ông giáo sư lớp nhì nói. Ông có muốn tôi viết thư cho anh rể tôi không?
- Vâng, lậy Chúa, vâng”, thầy tôi nói, ý thầy tôi cũng muốn đi Pari chơi một chuyến, và đây là một dịp tốt.
Người ta định số tiền đó. Tôi lao vào tay mẹ tôi; tôi gỡ tay mẹ tôi ra, và lên đường!
Hai bố con tôi phóng về Pari,
 


Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0

XXII. Ở TRỌ NHÀ LƠNHANHA
 
 
Tôi ở Pari.
Hôm tới Pari tôi bị sưng răng, Ông Lơnhanha, chủ nhà trọ, đã đón tiếp tôi với một vẻ kinh ngạc. Ông bảo vợ:“Đây không phải là học trò, mà là một cái bong bóng.”
Nhưng thôi, cái đó không ngăn trở trúng giải trong các kỳ thi.
“Cháu sẽ chăm học chứ?”
Và tôi, môi sưng lấp cả má, tôi đáp:
“B-âng, b-âng”
Ông thấy tôi không giỏi như ông tưởng. Tôi đưa những ýcủa tôi vào các bài làm.
“Không nên đưa ý của cháu vào, bác khuyên cháu: phải bắt chước cổnhân.”
Ông nói với tôi thường hay to tiếng, ngụ ý cho tôi thấy là tôi trả tiền trọ ít hơn các bạn khác.
Mới sang ngày thứ hai ông đã nói bóng gió tới chuyện đórồi. Có món rau ba lăng. Tôi không thích ăn rau balăng, và tôi để đĩa rau lại.
Ôngta đi qua.
“Cháu không thích ăn món này à?
- Thưa ông, vâng.
- Ở nhà cháu, có lẽ cháu ăn nem công? Hay người ta phải làm cả chả phượng cho cháu ăn chắc?
- Không, cháu thích ăn mỡ lợn hơn!”
Ổng nhún vai cười gằn, vừa bỏ đi, vừa lẩm bẩm: “Đồ nhà quê!”
Tối chủ nhật, ông mời khách. Tôi cũng được mời dự. Tôi hay nói:“Con khỉ!” Đấy là một thói quen; thói quen đó theo tôi vào tận phòng khách của ông.
“Ôn-g Vanhtrax, - ông thét tôi từ đầu bàn tới cuối bàn, - ông được dậy dỗ ở đâu vậy? Trước ông có đi chăn bò không?
- Thưa ông, có, với cô em họ tôi.”
Ông bối rối và đỏ bừng mặt.
“Bà xem thế đấy? Ông nói với bà ngồi bên cạnh. Và quay sang phía tôi:
“Về phòng ngủ!”
Tôi theo lớp học sinh lớn, chúng ít nhiều coi thường tôi, nhưng không làm tôi khó chịu; chúng làm ra vẻ láu lỉnh, nhưng tôi thấy chúng ngu, ngu ơi là ngu!... Có một đứa nổi tiếng, đã từng được giải ở kỳ thi, nó gầy, xanh lét, người như mắc chứng run gân, lúc nào cũng gãi tai, và đầu lưỡi luôn luôn liếm lên mũi.
Có một thằng nổi tiếng một nửa - Anatôly.
Nó chủ trương là phải có quan hệ tốt giữa học sinh với thầy giáo; nó muốn mọi người phải hòa thuận vớinhau, - tại sao vậy?
Tôi có vẻ thô kệch; chúng cho tôi là nặng nề khi chơi đuổi bắt, chê tôi là dân tỉnh lẻ. Anatôly che chở tôi.
“Rồi nó sẽ quen dần, đừng làm rầy rà nó! Một tháng nữa, nó sẽ như bọn mình thôi, hai tháng nữa các cậu sẽ thấy!”
Ừ! chúng cũng không làm rày rà gì tôi nhiều lắm! Tôi khỏe, và thầy mẹ tôi không có ở đây để làm tôi rụt rè, xấu hổ, vụng về. Chúng giễu tôi, tôi cóc cần, tôi không bị choáng mắt vì bạn.
Chà! tôi đã có một ý nghĩ khác về những thằng giỏi La-tinh ấy! Tôi thì tôi thấy là ở tỉnh lẻ vui hơn!
Chúng nói luôn miệng nhưng lúc nào cũng chỉ nói một chuyện, nào thằng này trúng giải, thằng khác suýt trúng; nào thằng Giécbiđông dùng sai chữ, thằng kia bị lỗi văn pháp...
“Ở lớp ông Labađăng, mày biết không, thằng bé đáng lẽ được nhất về môn dịch tiếng Hy-lạp, nó không đến thi vì thầy nó chết vào lúc buổi sáng. Ông Labađăng đi tìm nó, hứa sẽ cho xe đưa nó về để đưa ma thầy nó. Nó không nghe và cứ tiếp tục khóc.”
Chúng có vẻ cho thằng bé đó là ngốc.
Nhà trọ dẫn thẳng tới trường Bônapáctơ.
Thứ ba, học trò có quyền ở lại để gọt sửa bài thi, và tôi ở lại cho tới khi bóng ông giáo sư vừa khuất ở góc đường là tôi cũng chuồn. Tôi có trước mặt cả một tiếngđồng hồ tự do, hết giờ tôi sẽ đến gặp người gác cổng nhàông giáo, đưa bài làm mà người ta tưởng là lúc này tôi đang hoàn thành.
Tôi đi tha thẩn trong các phố đầy những phụ nữ để tóc trần; họ vui vẻ và xinh đẹp làm sao với những chiếc áo rộngđể thợ mặc ở xưởng! Tôi đưa mắt nhìn theo họ, tôi lắng nghe họ hát khẽ, và qua cửa kính tôi nhìn họ ngồi ăn sáng bên cạnh những người thợ chạm vận áo choàng trắng, và thợ in đội mũ gấp bằng giấy. Đó là tất cả những cái tôi ngắm nhìn.
Tôi không muốn đi xem các tượng đài, tuy tôi không còn vướng víu hành lý, tôi thấy là tất cả các tảng đá đều giống nhau, và tôi chỉ thích những cái gì biết đi lại và những cái gì sáng lấp lánh.
Vậy là tôi chẳng biết gì về Pari cả, chỉ biết loanh quanh chỗ ngoại ô Xanh-Ônôrê, đường tới trường học Bônapáctơ phố Mirômexnin, phố Véc, quảng trường Bôvô; ở đấy tôi thường gặp nhiều người đi ở thuê vận áo gi-lê đỏ, và nhiều chị hầu buồng đội khăn trùm đầu, các dải băng tay phấp phới trong làn gió nhẹ.
Chủ nhật chúng tôi đi chơi.
Chúng tôi thường hay đi chơi về phía điện Tuynlơri, trong con đường Lợn lòi.
Con Lợn lòi ấy! tôi ghét nó, nó làm tôi khó chịu với cái mõm đá của nó.
Tuy nhiên, từ ngày ông Seluy trở thành giám thị của chúng tôi thì tôi cũng đỡ buồn.
Ồng là người không tin cái gì cả; ngày chủ nhật, ông để mặc chúng tôi đi tản mát khắp các ngả, miễn là tới sáu giờ chúng tôi phải có mặt.
Chúng tôi thì chúng tôichuồn tới quán Người Hà-lan, ở gần khu Hoàng-Cung. Đó là tiệm cà-phê của bọn Xanh-xia[81] và bọn gà vịt. Người ta đặt tên gà vịt cho những đứa dự định theo học tại các trường vận đồng phục, và hiện nay đã có một đồng phục, dải băng màu da cam, cổ áo màu cá hồi, với mũ kêpi vành cứng, lon vàng hoặc bạc.
Mặc dù là ở Khoa văn, tôi vẫn có quan hệ tốt với bọn gà vịt, nhất là với bọn Lôrion. Khổ một nỗi là hàng tuần tôi chỉ có hai mươi xu, và buộc lòng tôi phải suy đi tính lại trước khi chạm cốc.
Một hôm tôi bị một mẻhết hồn. Chúng tôi đánh bài và tôi đã thua mất một phơrăng rưỡi. Từ ván đầu, tôi đã nhấp nhổm muốn đứng lên; nhưng tôi không dám.
“Ơkìa, cứ ngồi đấy!”
 
Mồ hôi ở lưng, rờn rợn ở sọ.
 
Tôi chơi kém, và để người khác nhìn thấy cả bài cẩu. Mọi sự xong xuôi, tôi thua xiểng liểng! ...
May sao lúc đó người ta đánh nhau. Một cuộc cãi lộn nổi lên giữamột tay gà vịt vàng và một tay gà vịt đỏ, giữa bọn Xanh-Xia mới và bọn cũ, thế là chai lọ bay tứ tung.
Một cuộc ẩu đả loạn xạ và tôi cũng nhắm mắt nhắm mũixông vào.
Tôimong sẽbị đòn tả tơi. Nhưng không may! tôi tẩn người khác thì nhiều mà mình chẳng bị gì cả.
Nhưng dầu sao tôi vẫn thoát.
Người ta némchúngtôi racửa, cảmộtlũ, đểkhỏibậnchỗ, vàtôiđivềđườngLợn lòi, nợ quán Người Hà- lan ba mươi xu; nhưng đến chủ nhật sau tôi mới phải trả.
Tôi bán một bài văn tiếng La-tinh ở kỳ thi hôm thứ ba, - hai mươi xu trả ngay.
Thỉnh thoảng tôi làm cái trò buôn bán đó, như vậy tôi kiếm một chỗ xếp hạng cao cho một cậu nào đó đang chờ đón một ông bác hoặc muốn lòe nhân ngày sinh nhật của mình, hoặc vì một lợi ích gì đó muốn xếp hạng trong số mười người đầu!
Tôi quay lại quán Người Hà-lan, ba mươi xu nằm gọn trong lòng bàn tay. Người ta không muốn lấy tiền của tôi. Chính là quỹ trường Xanh-Xia hoặc một cuộc quyên góp của bọn gà vịt đã thanh toán xong xuôi vụ đổ vỡ và tiền rượu.
Thế là tôi thừa ra một số tiền và thêm vào đó lại được tiếng là một tay ưa đấm đá.
Dù sao, bao giờ ở quán rượu của những kẻ giàu có ấy ra về, tôi cũng đâm ra tư lự! Và ban đêm, nằm trong chiếc giường học sinh của tôi, tôi cứ tự hỏi thầm là tương lai của tôi sẽ ra sao, người ta định đưa tôi vào một trường học mà tôi rất sợ phải vào, vì tôi, chẳng như bọn gàvịt kia, là một kẻ không cóý chí, mụcđích, và không có của.
Cuộc sống của tôi trong những ngày chủ nhật bỗng thay đổi đột ngột.
Tại trường trung học Năngtơ trước có một học sinh gương mẫu tên là Matútxanh[82].
Matútxanh tới ở Pari. Thầy tôi trao anh ta một bức thư cho anh có quyền được nhận tôi ra khỏi ký túc xá vào ngày chủ nhật.
Đến hai giờ chiều thì Matútxanh mới rảnh. Nửa ngày cũng là đủ quá rồi - chúng tôi không biết làm gì cho đếnnăm giờ, chúng tôi không muốn tới tiệm cà-phê vì sợ tốn tiền. Matútxanh đem đến cho tôi hai mươi phơrăng của mẹ tôi gửi: nhưng tôi phải tiêu pha dè xẻn.
Chúng tôi giết thì giờ buổi chiều chẳng ra đâu vào đâu cả. Tôi thấy ngán cái cảnh đi chơi rong trong khi tất cả mọi người khác cũng đi chơi rong, và ai nấy đều có vẻ ngu xuẩn. Chà! giá cứ như những ngày thường! Thiên hạ qua lại nghìn nghịt. Hôm nay, mọi người không làm ầm ĩ, ai nấy lướt đi như những thầy tu.
Phải tới Mơđông kia! Ở đó, người ta cười đùa, người ta vui chơi.
Nhưng phải mất mười xu, từ Pari tới Mơđông! Hãy đợi bao giờ giàu đã!
“Trời lạnh thế này đi bộ thì tốt”, Matútxanh nói, - anh muốn tôi tưởng là anh vui đùa, nhưng người anh run lên như cây đèn treo mà người ta phủi bụi.
Chẳng thà tôi ốm yếu hơn mà được ấm áp hơn.
Những ngày chủ nhật mưa, chúng tôi tới các viện bảo tàng.
“Bao giờ cũng có thể học được một điều gì đấy”, Matútxanh nói, khi bước vào phòng triển lãm.
“Học được cái gì chứ?
-     Mày ngắm các bức họa, các tượng cẩm thạch!
-     Thế rồi sao?”
Matútxanh bảo tôi là thằng thực tế, và chua chát nói: “Mày là đứa đã làm những câu thơ La-tinh hay thế!”
Kể cũng đúng!
Matútxanh thấy tôi có vẻ lung lay liền bồi thêm: “Mày khước từ các vị thần của mày, mày khạc nhổvào cây đàn của mày!
- Thưa các vị, người gác vận áo xanh vừa kêu lên vừa giơ chiếc gậy chỉ vào đống cám, nếu các vị muốn khạc nhổ thì xin vào xó kia.”
Mãi mới tới năm giờ. Quả thực là tôi không say mê những kiệt tác, và những đèn đài.
Lúc năm giờ thì Lơmétrơ đến với chúng tôi. Lơmétrơ là một thầy ký quèn, nên Matútxanh coi thường anh ta. Matútxanh chỉ biết những nghề cao quý thôi. Nhưng vì Lơmétrơ quen đám cóc vàng và bọn quấy nhộn, nên Matútxanh đón tiếp anh ta niềm nở.
Lơmétrơ đến và cả bọn đi uống rượu áp-xanh ở quán Rôtôngđơ, hoặc quán Pixôt, ở đấy, người ta hy vọng gặp Grátxô. “Ồ! Xanhvin kìa! - Không! A đúng!”
Rượu ápxanh một khi đã nhấp xong trong bóng nhánhem của lúc sáu giờ, chúng tôi chuồn về phía Hoàng-Cung, nơi chúng tôi sẽ gặp bạn bè của mình ở quán Tavécniê. Bao giờ họ cũng ngồi trong phòng to, ở chiếc bàn kê trong góc. Chúng tôi ăn bữa tối theo giá ba mươi hai xu một suất.
Các thầy ký, bạn của Lơmétrơ, ngồi với người yêu của họ, giầy dép lịch sự, cô nào nom cũng dễ thương, và các cô cười luôn miệng, chuyện gì cũng cười mà không có chuyện cũng cười...
Và những thức ăn mới ngon làm sao!
Khoai nghiền Crêxy, sườn lợn rán Xubidơ, nước xốt Môngmôrăngxy. Tiện nhịp lắm! Đấy, người ta học sử như thế đấy!
Những món ăn và nước xốt ấy mới cay làm sao, cay xé lưỡi!
Ông Rađigông, là tay vui nhộn nhất bọn, không thích những trò ấy.
“Bồi, một chân giò nướng... Muốn làm chân giò lợn, hãy cầm lấy chân của các cậu mà gãi.”
Mọi người cười. Tôi thì tôi chỉ nghe không nói gì cả.
“Bạn của ông câm đấy à, ông Matútxanh?”
Tôi nhăn mặt và thốt ra một tiếng, để chứng minh tôi không thuộc đám môn sinh của linh mục Êpê[83]. Người ta bàn luận về tôi ở góc bàn.
“Cái đầu - đôi mắt. Nhưng trông hắn có vẻ ngố lắm!”
Tôi kéo lại bằng những trò đấm sức. Tôi đã hạ những cổtay, tôi bóp dí những ngón tay, tôi lấy răng nâng cao liễn xúp, tôi nhịn thở tám mươi giây, làm những người ngồi bên cạnh hoảng sợ vì thấy mạch máu của tôi căng lên, mắt tôi như lòi ra khỏi đầu.
“Trong lúc ăn, tôi không thích người ta làm thế bên cạnh tôi”, một người ngồi bên nói.
Chính Rađigông cũng ớn cái trò của tôi.
“Chà! rút cục hắn làm bọn mình khó chịu với cái trò nhịn hơi thở của hắn!”
Sau bữa ăntối, tôiphải về.
Những học sinh khác ở nhà trọ được đi chơi tới nửa đêm. Lão Lơnhanha - vì ác ý- buộc tôi phải có mặt từ tám giờ.
Tôi rời khỏi đám, và lại quayxuống phía ngoại ô Xanh-Ônôrê.
Tôi còn phải giết thì giờ khoảng mười lăm phút nữa trước khi về nhà trọ, nếu tôi về trước giờ, tôi sẽ có vẻ như không biết qua thì giờ ở đâu.
Thà về nhà trọ sớm tôi còn thích hơn. Tôi không sợ cảnh vắng vẻ của nơi buồng ngủ, nằm đấy tôi nghe thấy các bạn tôi lần lượt từng người một trở về. Tôi có thể suy nghĩ, nói chuyện với chính tôi, đấy là những giây lát duy nhất của tôi được hoàn toàn yên tĩnh. Tôi không bị đãng trí bởi tiếng ồn ào của đám đông, ở đó, tính nhút nhát thường làm tôi cách biệt, tôi không bị quấy rối vì tiếng tự vị cũng như những chuyện về kỳ thi lớn.
Tôi nhớ lại chuyện này, chuyện nọ - một cuộc đi chơi ởVuốczắc, một ngày gặt dưới nắng to! - và trong cảnh tịch mịch của nhà trọ đang yên ngủ, đầu quay về cửa sổ qua đó nhìn thấy khoảng mênh mông của bầu trời, tôi mơ màng, không phải về tương lai, mà về quá khứ.
Một hôm người ta gọi tôi tới buồng ông Lơnhanha.
Ông đưa tôi một gói của mẹ tôi gửi; ông có vẻ tức giận.
“Anh mang cả cái này đi nữa”, ông nói.
Đồng thời ông đẩy lại cho tôi một cái lọ và đưa tôi ra cửa.
Tôi không hiểu gì cả. Tôi mở cái gói ra. Trong đó có một bức thư:
“Con trai yêu quý của mẹ,
“Mẹ gửi cho con một chiếc quần mới mừng ngày sinh nhật của con, chính thầy con đã cắt từ một chiếc quần cũ của mình, chính mẹ đã khâu. Thầy mẹ muốn chứng tỏ với con tình thương yêu con. Thầy mẹ gửi kèm thêm một chiếc áo xanh cúc vàng. Cùng chuyến này, mẹ gửi biếu ông Lơnhanha một lọ dưa chuột để ông ấy chiếu cố đến con.
“Con cố học hành chăm chỉ, con ạ, và khi ngồi con nhớ vén vạt áo.”
Có thêm vài chữ của thầy tôi nữa.
Tôi đã viết cho thầy tôi biết rằng ông Lơnhanha muốn làm nhục tôi, rằng tôi muốn rời khỏi nhà trọ, vì ngày nào tôi cũng bị xúc phạm khổ lắm.
Thầy tôi viết một bức thư trả lời làm tôi hết sức bối rối. Thầy tôi đóng kịch chăng? Hay về cơ bản thầy tôi tốt?
“Hãy can đảm, con ạ! Thầy không muốn nói con phải đi Pari là lỗi tự con... Con hãy nhẫn nại, học hành chăm chỉ, lấy các giải thưởng mà trả tiền trọ, rồi con sẽ có thể nói thẳng sự thật vào mặt ông ta”.
Không một lời bóng gió nào về chuyện đã qua, tuyệt nhiên không? Không một lời trách mắng, hầu như có hảo ý, đôi chút buồn rầu!... Tôi sẽ nhẩy lên ôm cổ thày tôi, nếu thầy tôi ở đây.
Tôi sẽ làm theo lời thầy tôi: tôi sẽ đợi và cố giật giải thưởng.
Tuy nhiên cái tiếng La-tinh ấy và cái tiếng Hy-lạp ấy sao mà chán thế! và những chữ dùng sai với những lối văn pháp kia, tôi cần quái gì!
Rồi vẫn lại, vẫn lại kỳ thi lớn!
Giáo sư tên là Đ...
Ông có cái miệng nhỏ mím chặt, đi lạch bạch như vịt, cười thì như gà cục cục, và bộ tóc giả bóng láng như lông chim. Ông đã ba lần được giải danh dự ở cuộc thi toàn quốc, năm ngoái ông được thưởng huy chương, ông được một mào gà đỏ. Ông nói giọng na ná như bọn công tử bột thời Đốc-chính, ông nói: “Xixê-ông, đit-xcu-ơ Alma pa-ăng.”
Ông là giáo sư tiếng La-tinh, ông có một thứ tiếng Pháp riêng của ông.
Khi học sinh trốn học để ra tiệm cà-phê hoặc đi tắm, trông thấy những ghế trống không, ông nói:
“Ở đây tôi nhìn thấy nhiều học sinh không có mặt.”
Giáo sư tiếng Pháp tên là N..., đó là em của một viện sĩ hàn lâm có những hai thứ đạo đức chứ không phải một: rồi rào phúc đức thì không hại.
Ông ta, người cao ngẳng, gầy, đỏ da, vận chiếc áo rơ- đanh-gốt kiểu nhà tu, kính đeo như ở hội giả trang, tiếng nói vỡ, êm như huýt gió.
Bằng cái giọng đó, ông đọc những đoạn dài của Iphigiêni hoặc Exte, và đọc xong, ông chắp hai tay, nhìn lên trần nhà đầy mạng nhện, và kêu lên: “Hãy quỳ xuống! quỳ xuống! trước Raxin thần diệu!”
Có lần một học sinh mới đã qùy xuống thật sự. Và bằng một cử chỉ khinh miệt, gạt quyển sách ở trước mặt đi, giáo sư nói tiếp:
“Chỉ còn việc gấp các sách khác lại thôi.”
Tôi không mong gì hơn.
“Và thú nhận là mình bất lực”!
Đấy là việc của ông ta.
Tôi bắt đầu được xếp hạng khá về làm văn tiếng Pháp, nhưng rồi tôi lại tụt xuống rất nhanh.
Từ thứ nhì, tôi rớt xuống thứ mười, thứ mười lăm!
Nói về nông dân chạm cốc với nhau, để chúc mừng nhà vua, một lần tôi đã nói:
Và tất cả quây quần lại, họ uống một cốc rượu vangNGON.
Ngon! - Thằng bé này chẳng có gì là văn hoa cả, chẳng có một tí gì; nó có phải là một thằng vũ phu thì tôi cũng không ngạc nhiên. NGON! Trong khi ngôn ngữ ta vốn giàu những từ ngữ hay đến thế để biểu hiện hành động của những người đưa lên môi nước ngọt của Tửu thần, mật nhụy của các thần linh! Và làm sao nó lại không nhớ hình ảnh vừa nhũn nhặn vừa táo bạo của Boalô[84]:
Uống một cốc vang, nó cười trong cành phượng vĩ!
Có điều là tôi, tôi không bao giờ hiểu được câu thơ đó! Uống một cốc vang, cốc vang lại ôm bụng cười trong cỏ, dưới cây trăn!
Tôi khô khan, còn khô khan hơn ông ta tưởng rất nhiều, vì có vô khối thứ tôi cũng chẳng hiểu gì hơn.
“Có rất ít cái ở trong này”, giáo sư vừa nói vừa đặt một ngón tay lên tim.
Ông ngừng lại một lát:
“Nhưng ở trong này thì hoàn toàn không có gì cả, chắc chắc là thế”, ông nói thêm, vừa lấy tay vỗ vào trán, vừa lắc đầu ra vẻ thương hại vô cùng. “Nó thành công được một lần, vì nó đã đọc Pierô, - nhưng, hỏng, nó là một đứa bao giờ cũng thích viết “súng”hơn là viết: vũ khí khạc ra cái chết.”
Có điều là chữ đó đến với tôi tự nhiên như thế! Người ta nói như thế ở nhà tôi, -người ta nói như thế ở các nhà tôi đến chơi. - Chúng tôi giao thiệp với cái xã hội nghèo lắm!
Tôi bèn quay sang cái món thơ La-tinh, và tôi thành công ở thơ La-tinh.
Thật là vừa kịp thời.
Tôi cảm thấy đã đến lúc lão Lơnhanha khốn nạn ấy bực tức vì thấy tôi học hành không kết quả, sẽ đánh tôi nhiều đòn ngầm. Một buổi sáng nào đó, tôi sẽ đánh lão gẫy lưng.
Tôi cũng đã có lần tính đến chuyện chuồn thẳng: không phải để đi lang thang ở Săng-Êlidê hoặc trước đám leo dây múa rối, như tôi thường làm khi trốn học, mà là để bỏ hẳn nhà trọ và lăn vào đáy sâu của Pari như một tên tù vượt ngục.
Tôi sẽ làm gì? Tôi không biết.
Nhưng tôi thường tự hỏi là giá như tôi chuồn đi ngay ngày hôm ấy, và quyết định ngay tức khắc rằng đời tôi sẽ là một chuỗi vật lộn thế thôi chăng? Rất có thể như thế.
Tôi hầu như đã quyết định. Chính thằng Anatôly - Ôn Hòa làm thay đổi, vì nó cho rằng nên báo cho lão Lơnhanha biết thì tốt hơn.
Lão gọi tôi đến và bảo rằng lão biết tôi đang định làm cái gì. Lão nói thêm là lão đã báo trước với sở cảnh sát rồi, và nếu tôi bỏ trốn, tôi sẽ thuộc về tay cảnh binh. Lời ấy làm tôi sợ. Chính giữa lúc đó tôi đang làm một bài theo thể đối liên, hình như bài đó là một phát hiện. Nếu tôi mà làm như thế ở kỳ thi, chắc chắn tôi sẽ được giải.
Trúng giải ở kỳ thi, tôi rất muốn, là để trả nợ, và ở trường Xoócbon ra, ngay giữa sân, tôi sẽ béo tai lão Lơnhanha.
Ngày thi đã tới.
Chúng tôi dậy từ sáng sớm. Người ta đưa cho chúng tôi một cái túi lưới là một trong những vật kỷ niệm chiến thắng của nhà trọ, và người ta bỏ vào đó rượu vang, thịt gà nguội. Lơnhanha chìa tay cho tôi hắt. Tôi không thể từ chối được, nhưng tôi giơ tay ra uể oải, và cử chỉ thân thiện giả dối đó còn tệ hơn là thái độ thù địch và lặng thinh.
“Anh hãy cố gắng trội lên...”
Lão cười một cái cười nhạt nhẽo.
Anatôly và tôi, chúng tôi đi; trời rét căm căm.
Chúng tôi suýt đến muộn.
Tôi chưa bao giờ thấy Pari trong ánh mặt trời tươi mát của buổi sáng, vắng vẻ và yên tĩnh, và tôi dừng lại năm phút trên cầu để nhìn bầu trời trắng và nghe nước chảy. Nước róc rách đập vào vòm cầu.
Trên bờ sông Xen có một người đội mũ đang giặt mù-soa. Ông ta quỳ gối như một thợ giặt; ông đứng dậy, vắt một đầu và hong ra một giây đồng hồ trước gió. Tôi đưa mắt theo dõi ông. Rồi ông gấp mù-soa lại cẩn thận, và ủ cho nó khô hẳn trong chiếc áo rơđanhgốt mà ông mở hé ra, rồi cài cúc lại, len lén như mộtthằng ăn cắp.
Ông nhặt một vật gì đó mà tôi đã để ý thấy ở dưới đất. Đó là một quyển sách trông như quyển tự vị.
Anatôly giật vạt áo tôi, phải đi thôi, nhưng tôi còn kịp nhìn thấy một gương mặt nhợt nhạt, thình lình nhô lên trên các bậc đá.
Tôi bây giờ vẫn còn trông thấy gương mặt đó ở trước mắt và suốt ngày hôm đó nó cứ lởn vởn giữa tôi và tờ giấy trắng, có lẽ nói đúng hơn là gương mặt đó cứ ở trước mặt tôi suốt cả đời.
Là vì trên gương mặt của cái người giặt đồ tã ấy, còn trắng hơn cả chiếc mù-soa giặt không sạch kỹ, tôi đã đọc thấy cả cuộc đời của ông ta!
Quyển sách kia nói cho tôi biết rằng ông ta xưa kia cũng là chân học trò, thi đỗ rồi cũng nên. Tôi bỗng nhớ lại cả cuộc đời của thầy tôi, những ông hiệu trưởng ngu xuẩn, bọn học sinh độc ác, viên thanh tra hèn hạ, và ông giáo bao giờ cũng bị sỉ nhục, khốn khổ, bị đe dọa cách chức!
“Tao đánh cuộc là cái nhà ông nghèo khổ tao vừa nhìn thấy ở dưới cầu kia, là một ông tú tài”, tôi nói với Anatôly.
Tôi đoán không lầm.
Đúng lúc người ta gọi chúng tôi vào trường Xoócbon, một học sinh trường Sáclơmanhơ kêu lên, tay chỉ một bóng đen đang từ cuối phố đi lên:
Kìa, thày giáo dạy tư cũ của thằng Jôffrê đấy!”
Đúng là gương mặt nhợt nhạt ấy, cái ông giặt mù-soa, cái người nghèo cầm quyển sách.
Người ta đọc đầu đề bài thi.
Có nên làm bài thi hay không đây? Để làm gì kia chứ!
Để đi dạy tư như cái nhà ông kia, rồi thành người giặt mù-soa dưới chân cầu ư? Lịch sử của cái con người đang ám ảnh trí óc tôi kia ra thế nào?
Tôi không biết. Có lẽ ông ta đã tát một viên giám thị, cũng không phải tát, mà chỉ là chế nhạo thôi.
Có lẽ ông ta đã viết một bài trên báo Người sáng suốt ở Dijông hoặc Người bé nhỏ áo xám ở Ixanhgiô, và vì lý do đó, người ta đã cách chức ông.
Không làm cái nghề ấy, không, nhất định không!
Tuy vậy tôi vẫn phải xử sự một cách lương thiện, tôi vẫn phải làm cái gì tôi có thể làm được.
Tôi không tìm ra được cái gì cả, tuyệt nhiên không - tôi thấy kinh tởm như một lần, hồibé, tôi ăn nhiêu mật quá.
Cuối cùng, đó, bốn mươi câu thơ mười-hai-âm đã ghép xong! Đấy là bài thi của tôi.
“Mày xong rồi à?, thằng bạn ngồi cạnh hỏi.
- Ừ.
- Tao cũng xong rồi. Mày có muốn rán xúc-xích không?”
Nó rút ra một chiếc lò nhỏ đun bẳng cồn và giấu vào giữa những quyển tự vị, rồi lấy ra một cái chảo con.
“Nó sẽ kêu xèo xèo lên đấy, cẩn thận!”
Giáo sư coi thi là ông Đêsanen, một người hóm hỉnh,- ông nghe thấy tiếng xúc-xích xèo xèo. - Học sinh có quyền ăn đồ sống trong các giờ thi dài, - thì ông nghĩ là chúng cũng có thể ăn đồ chín được. Mặc kệ anh chàng nào cầm chảo mà không cầm tự vị trong cuộc chiến đấu!
“Bây giờ uống cà-phê. Tao thích cà-phê lắm, còn mày?”
Thằng học sinh trường Sáclơmanhơ pha cà-phê.
Nó thiếu rượu để cho vài giọt vào cà-phê. Chúng tôi liền bán những mẩu bài thi, những đoạn chép bài cho bọn độn chỗ của trường Xtanixlax và trường Rôlanh chúng đeo cổ cồn cứng, có gối tựa lưng bằng dạ mịn, và có tiền trong túi. Bọn tôi được kha khá rượu tráng chén và một ít rượu mạnh. Để kết thúc, tôi phụ trách, đặc biệt về món rượu pha đường.
“Bản nháp của mày đâu?, Anatôly - Ôn hòa hỏi, lúc tôi vừa về tới nhà trọ.
Lão Lơnhanha tới, và họ cùng xem bản nháp của tôi.
Tôi biết là bài thi của tôi hỏng rồi, và bây giờ, hình ảnh gương mặt nhợt nhạt kia đã nhòa bớt đi trong trí nhớ của tôi, và hơi men bữa tiệc của chúng tôi đã hả, tôi cảm thấy buồn bã, hầu như thấy hối hận.
Lão Lơnhanha không nói với tôi một lời. Lão hằn học lườm tôi.
Đã có kết quả. - Tôi chẳng được gì cả!
Nhưng Anatôly cũng không được gì, cả lớp đều không được gì, cả trường cũng không được gì to tát lắm. Thật là một thảm họa cho trường trung học.
Những đứa học gạo và những đứa láu cá cũng chẳng hơn gì tôi, tôi thấy lương tâm yên ổn hơn.
Lễ phát thưởng đã tới. Tôi đến dự lễ, âm thầm và không vinh quang! Fractix ốccombăng inglôriúyx ácmix![85]
Rồi mỗi người đi một nẻo...
Tôi thì tôi ở lại.
Tôi đợi một bức thư của thầy tôi, và những lời dặn bảo. Chẳng thấy gì cả. Người ta để mặc tôi ở đây, trong tay lão Lơnhanha, lão căm thù tôi.
Chúng tôi còn bốn đứa ở lại nhà trọ.
Một đứa mồ côi bố mẹ, tiền trọ do người giám hộ gửi đến; một thằng bé lai đen quê ở Ăngtiơ[86] họa hoằn mới đi chơi phố; và một thằng bé người Nhật-bản không đi chơi phố bao giờ.
Mấy thằng ấy, chúng phải trả tiền trọ đắt: tôi thì được nhận vào nhà trọ với giá hạ, nhưng tôi có nhiệm vụ phải giật được giải thưởng. Tôi không được gì cả, mà tôi lại ăn khỏe.
Tôi đã viết thư gửi đi. Nếu ngày mai thầy mẹ tôi không đến, nếu tôi không có thư trả lời, tôi sẽ bỏ nhà trọ mà đi.
Lão Lơnhanha lần này vì tiết kiệm sẽ để mặc tôi chuồn mà không đi báo cảnh sát.
Ôi chao! những bức thư mong đợi! người đưa thư mà mình rình đón! những lời van xin của tôi mà thầy mẹ tôi sẽ chế giễu.
Tôi hầu như đã khóc trong thư, xin người ta đến đón tôi đi, vì lão Lơnhanha cứ rỉa rói tôi những lời trách móc muôn thuở.
“Nuôi tôi trong niên học đã là quá rồi, lão ta lại còn phải nuôi tôi cả trong vụ nghỉ hè nữa!”
Một hôm đã nổ ra một vụ to tiếng; thầy tôi là đối tượng. Lão Lơnhanha chạy tới, đầu tóc rối bù.
“Sao! lão ta nói với tôi, sùi cả bọt mép, tôi vừa được biết là thầy anh kiếm ra tiền, trong năm nay thầy anh làm được tám ngàn; tôi vừa được biết vỡ lẽ là tôi bị thầy anh lừa, tôi đã tính tiền trọ cho anh như cho một thằng khố rách, thế mà anh có thể trả như kẻ có máu mặt. Như thế là bất lương, anh nghe không?”
Lão ta giậm chân, xông lại tôi...
Ô! không, đứng lại! cẩn thận đấy, Lơnhanha!
Lão ta đoán được và bỏ đi, trút giận lên cánh cửa mà lão đập mạnh vào tường.
Lão đi rồi, tiếng lão chửi đã dứt, tôi suy nghĩ về những điều lão vừa nói, và tôi thấy lão ta có lý.
Ôi chao! Thầy tôi! Thầy có thể tránh cho con những điều sỉ nhục ấy!
Có đúng thầy không phải là một người nghèo không? Đúng. - Người đã nói cho lão Lơnhanha biết chính là em vợ lão ta ở Năngtơ tới hôm qua.
Sau chuyện ầm ĩ ấy, lão Lơnhanha tới gặp tôi ở trong sân. Lão nói:
“Nếu thầy anh lôi anh về sau khi lớp bế giảng thì tôi đã không nói gì cả, nhưng đến nay, đã tám ngày rồi mà người ta để anh ở đây chẳng tin tức gì hết; cái đó có vẻ như là giễu tôi, anh hiểu đấy!”
Tôi lúng búng không biết trả lời thế nào; tôi cũng nghĩ như lão ta.
“Thầy tôi sẽ trả tiền trọ tám ngày này.
- Thầy anh có thể trả lắm... Thầy anh năm nay kiếm được nhiều hơn tôi, và đúng là không cần phải đến xin tôi bớt ba trăm tiền trọ của anh.
Chỉ vì ba trăm phơrăng mà tôi đã phải khổ đến thế!
 
 
 
 
 
 
*
 
 
 

 
 
XXIII. BÀ VANHTRAX TỚI PARI
 
 
“Jắc!”
Mẹ tôi! Mẹ tôi bước tới và như cái máy, vò lấy đầu tôi, Thằng bé Nhật-bản cười, thằng bé lai đen ngáp, - lúc nào nó cũng ngáp.
Đầu tôi bị ôm nghiêng, làm mẹ tôi vất vả lắm mới tìm được một chỗ thích đáng để hôn tôi.
Người ta đưa mẹ con tôi vào một căn buồng, trong đó chỉ nhìn thấy lờ mờ vì lúc ấy trời đã tối, mà ngọn nến của người gác cổng đem đến thì chiếu sáng yếu ớt.
“Con chóng lớn quá! trông con khỏe ra!”
Đấy là câu nói đầu tiên của mẹ tôi, Mẹ tôi không để cho tôi kịp nói: mẹ tôi quay tôi đi, quay tôi lại, và xoay mình trên đôi chân nhỏ bé.
“Con hôn mẹ tử tế đi nào; nào, con đừng giận dỗi mẹ.”
Giọng nói khá thật lòng. Mẹ tôi vẫn nói to:
“Con có tư thế lắm! Mẹ đem đến cho con một bộ áo may theo kiểu Pháp; mẹ sẽ đưa con đi đóng ủng. Nhưng để xem nào: có ria mép rồi; con tôi để ria mép!”
Mẹ tôi không ghìm nổi nỗi vui sướng và niềm hãnh diện. Mẹ tôi giơ hai tay lên trời và sắp khuỵu đầu gối xuống.
“Hóa ra con giỏi trai lắm, con biết không?”
Mẹ tôi lại ngắm nghía tôi.
“Giống hệt mẹ nó!”
Điều đó tôi không tin. Đầu tôi như vạc bằng dao quắm, lưỡng quyền dô, hàm cũng dô, răng nhọn như răng chó. Tôi có chỗ giống chó. Tôi cũng giống cả con cù, nước da vàng như cây hoàng dương.
Còn mắt tôi, theo lời bà Ala, bà vẫn giặt giũ quần áo, có lần bà đã hỏi tôi xem người bà có mũm mĩm không tôi không thể giấu được tôi là người xứ Ôvécnhơ; mắt tôi giống như hai hòn than mới.
“Con lại có vẻ đứng đắn nữa, con biết không?”
Cũng có thể. Năm ấy là năm gay go nhất. Tôi đã bị sỉ nhục thật sự và chẳng có gì vui để bù lại.
Trong lòng tôi cũng có cả sự chán nản nữa. Tôi đã thất vọng sâu sắc về Pari.
Tôi thấy chân trời ngu xuẩn, cuộc sống tẻ lặng, tương lai xấu xí. Tôi đang ở trong đại đô thành Babylon! Nhưng thành Babylon chỉ là thế thôi!
Mọi người ở đó mới nhỏ bé làm sao! Tôi chỉ nghe thuần nói tiếng La-tinh!
Chủ nhật cũng như trong tuần, tôi bị lão Lơnhanha ấy tha hồ hành hạ, tuy lão bản tính nhu nhược, đố kỵ, hèn nhát, vì không thành đạt mà lão thêm cay nghiệt.
Nhất là mười ngày cuối cùng này đã đè nặng lên tôi như một cực hình.
“Sao mẹ không viết thư cho con?
- Mẹ cứ nhấp nhổm chực đi hết ngày này sang ngày khác, mẹ tôi nói.”
Để hà tiện một con tem.
Tôi kể cho mẹ tôi nghe những lời người ta quở mắng tôi vì nhà nghèo, những sỉ nhục mà tôi đã phải chịu đựng.
“Ông ta mà chê nhà mình nghèo à! Khi nào ông ta kiếm nổi số tiền thầy con kiếm được trong năm nay, ông ta muốn nói gì hãy nói...
 - Nhưng như thế, nếu thầy kiếm ra tiền, tại sao không trả tiền trọ của con như những đứa khác, khi con đã viết thư cho thầy mẹ biết là ông ấy chửi con, và con rất khổ?
 - Chửi, chửi? - Thế rồi sao? Có phải vì thế mà con sinh ra ốm đau không, hả con? Dù sao đi nữa thì nhà mình vẫn tiết kiệm được ba trăm phơrăng, và con sẽ rất hài lòng được có số tiền đó sau khi thầy mẹ chết. Có ba trăm phơrăng và hơn nữa, ở trong này này... Nhưng không phải ông Lơnhanha được số tiền này đâu!”.
Mẹ tôi cười và vỗ vào túi.
“Ở đời phải thế, con ạ; bây giờ con đã lớn, con phải biết chuyện đó. Con tưởng ông ấy nhận con vì đôi mắt đẹp của con và để bố thí cho nhà mình đấy hẳn? Không đâu, họ nhận con như một con bò cái mắn. Con không đẻ ra được bò con như họ muốn, con không được giải thưởng ở kỳ thi lớn của họ. Đúng ra họ phải biết kén chọn hơn; họ phải sờ nắn con cho kỹ trước khi con bắt đầu. Được, để mẹ, mẹ sẽ nói cho lão ta biết phận của lão con hãy đợi mẹ một chút!.”
Tôi rất khổ vì thấy mẹ tôi nổi giận lên như vậy. Con người mà tôi ngỡ là căm ghét ấy, bây giờ tôi lại thấy ái ngại!
Vừa báo cho tôi biết ý định là cho ông một trận nên thân, mẹ tôi vừa nói:
“Con gói ghém các thứ của con lại!”
Mẹ con tôi đã ra tới hành lang-người gác cổng cũng cómặt ở đó.
“Thưa bà, không ai được đem gì ra khỏi nhà này.
- Đồ đạc của con tôi! - Tôi không có quyền lấy quần áo của nó à? Bít tất của con tôi!... có phải cái lão Nha- nhanha của bác bảo thế không?
- Không phải. Đấy là chủ nhà mà ông Lơnhanha mắc nợ, đã dặn tôi như thế”
Lại còn ông chủ hiệu bánh mì cũng thúc giấy đòi nợ, rồi bác hàng thịt...
Con người thảm hại, phải, thảm hại! Hắn thô bạo với người nghèo, vì không phải hắn chỉ ngược đãi có mình tôi. Tất cả những đứa nào bị gia đình bỏ rơi hoặc trả giá hạ đều bị hắn phỉ nhổ, và có những đứa bé còn bị đánh đập nữa.
Hắn thật ngu dại - trong các nhà trọ, người ta nói về hắn như một điển hình. Người ta dùng tên hắn trỏ một kẻ thô bỉ, ngu xuẩn, và hơi rầu rĩ.
Cách lập luận vừa rồi của mẹ tôi, lý lẽ về con bò cái đã cất cho tôi khỏi mọi băn khoăn, đã đập mạnh vào óc tôi.
Con bò cái… đúng thế! Họ nhận tôi không phải vì đôi mắt đẹp của tôi, dĩ nhiên rồi! “Không, mặc đấy con có thể yên tâm”, mẹ tôi lại nói, vì mẹ tôi đã đoán được ý nghĩ của tôi trong sự im lặng và trong con mắt tôi.
Dù sao tôi vẫn thấy ái ngại cho lão, gã khốn khổ ấy. Tôi xin được với mẹ tôi là đừng làm ầm lên, và chúng tôi được chủ nhà bằng lòng cho đem quần áo của tôi đi.
Chúng tôi rời khỏi nhà trọ không hiểu bằng cách gì. Chúng tôi đi xe ngựa thuê đến lấy các hòm xiểng mà mẹ tôi để lại ở buồng giấy bến xe ngựa chở khách.
Mẹ tôi lẩm bẩm chửi lão Lơnhanha; những tiếng cười gằn, những tiếng la; mẹ tôi chế giễu và xô đẩy ông ta bằng giọng nói, bằng cử chỉ, tựa hồ ông ta có mặt tại đó:
“Ông có im đi không! Chà! ông mà nói với tôi những câu như ông đã nói với nó! (quay sang tôi). Mày thật hèn mới chịu để người ta đối xử với mày như thế! Chà! Mày không phải là con trai của mẹ mày!”
Phải chăng tôi là đứa con nhặt được? Phải chăng tôi đã bị đòn oan mười ba năm trời? Hãy nói đi, người mà tới nay tôi vẫn gọi là giênitrix[87], mẹ tôi mà tôi là caraxôbôléx[88], hãy nói đi!
“Ta đi đâu bây giờ?”
Mẹ tôi hỏi tôi câu đó, khi hai mẹ con đã ngồi lèn chặt trênxe. Bác đánh xe đợi.
“Chẳng lẽ ta lại ngủ ở trên xe ngựa, phải không? Mày đã ởPari một năm rồi thế mà mày vẫn khôngbiết dẫn mẹmày đi đâu, mày không biết một chỗ trọ nào à?
Tôi biết trường Xoocbon? -Conđường Lợn lòi?Liệu người ta có cho mẹ tôi thuê giường ngủ ở quánNgười Hà-lan không?
“Thôi được, để tao dẫn mày đi! Chà con cái”
Mẹ tôi ẩy tôi về phía cửa xe.
“Gọi bác đánh xe đi.
- Bác đánh xe ơi!”
Bác đánh xe dừng lại và cúi người xuống.
“Bác có biết khách sạn Tiền-vàng-Pháp không?
- Đấy là ở Đijông cơ, bà khách quí ạ!
- Ở tất cả các thành phố, đâu cũng có một khách sạn lấy tên là Tiền-vàng-Pháp kia mà!
- Ở đây tôi không biết!”
Hất chiếc khăn choàng trên vai, một tay cầm túi du lịch, tay kia nắm lấy cửa xe, mẹ tôi nhảy xuống đất.
“Tôi không ngồi trên chiếc xe này thêm một phút nào nữa.
- Tùy các người thôi; đây không thích chở những hạng người chuế như thế! Trả tiền giờ đi, và hòm xiểng của các người đây”
Chúng tôi trả tiền, -và câu chuyện ở Oóclêăng, ởquảng trường cô Trinh nữ, ở Năngtơ và ở bến tầu lại tái diễn. Mẹ con tôi đứng trước những gói và những hộp đựng mũ cứ đổ xụp xuống. Mẹ tôi không thể vào một thành phố nào mà không làm cản trở giao thông!...
Mẹ tôi lấy cán ôđánh tôi.
“Mày phải nhúc nhích lên chứ!”
Tôi cố nhúc nhích cái gì còn có thể nhúc nhích dược, tôi phải giữ các hộp, trên người tôi chẳng còn mấy chỗ rảnh, tất cả đều mắc hết rồi, chỉ còn rỗi độc một ngón tay.
“Gọi chiếc xe khác đi”
Tôi ra hiệu cho một bác xà ích khác, nhưng thế thăng bằng có những quy luật ác nghiệt mà ta không nên vi phạm, và việc ra hiệu đó làm tôi lâm nguy! Quả núi hành lý đổ sập. - Mẹ tôi thét lên một tiếng! Xe cộ dừng lại cảnh sát chạy tới,- cứ thế mãi! thế mãi! Chuyên khoa lạ đời!
Mẹ con tôi sẽ ra sao nếu không cónhững người từ tâm đi qua đấy?
Họ không yêu cầu một điều gì có thể xúc phạm tới chính kiến hoặc tín ngưỡng của mẹ con tôi! Không, hoàn toàn không. Họ giúp đỡ mẹ con tôi bằng những lời khuyên mà không đòi lương tâm phải thỏa hiệp hoặc phải hèn nhát. Bọn thầy dòng Jêduýt ắt là không làm như thế.
Họ khuyên mẹ con tôi nên đi thẳng phía trước mặt, “đúng ở trước mặt, chỗ có cái bảng nhỏ”, và họ cho mẹ con tôi biết rằng những buồng cho thuê chính là dành cho những người không có buồng.
“Vậy mà mày không biết hả, Jắc! Mẹ tôi nói. Thơ La-tinh đã làm nó trở thành như thế này đây! hay có lẽ tại mày bị ai đánh. Mày không ngã lộn đầu xuống đấy chứ?
Không, con chỉ ngã bệt đít xuống thôi”
Mẹ con tôi có vẻ an tâm một chút.
Mẹ con tôi đã yên vị trong nhà trọ: một căn buồng và một phòng nhỏ.
Có những tiếng kêu thét trong buồng mẹ tôi...
“Jắc, Jắc!
- Con đây”
Tôi chỉ vừa kịp xỏ quần, nhưng tôi chật vật hết sức mới giữ được cho quần khỏi bị tụt.
Mẹ tôi nắm lấy đũng quần, và kéo tôi đi ngược lại gần chỗ mẹ tôi.
“Mày có phải là con tao không?”
Tôi bắt đầu thấy lo ngại thực sự. Mẹ tôi đã hỏi tôi như vậy một lần rồi.
Tôi thấy hai chiếc quần chẽn và hai chiếc áo mà tôi đã mặc suốt cả năm nay vứt bừa bãi trên bàn.
Mẹ tôi thình lình xoay người tôi lại, và nhìn tôi chầm chầm như thể mẹ tôi vẫn nghi là tôi đưa một người lạ nào lộn xòng vào thế chân tôi.
Cuối cùng gần như đã chắc chắn là tôi không nhầm lẫn, vả lại có tiếng nói của máu mủ mách bảo biết, mẹ tôi liền tuôn nỗi đau khổ của mình ra.
“Jắc, mẹ tôi nói, Jắc, đây có phải là quần, là áo, có phải là cái áo màu xanh hoa mua mà tao gửi cho mày không? Tao biết quần áo mà vào tay mày là bẩn ngay lập tức, tao biết, nhưng tao không thể nào tin được là mày lại tinh nghịch ăn cả màu đi thế này, hơn nữa quần áo tao gửi cho mày rộng hơn!Quần áo vốn may rộng rãi phòng lớn, may thoáng khí! Đằng này chẳng ra gì cả! chẳng ra gì cả!”
“Jắc, thầy mày với tao đã cùng may cho mày! Tao đã viết thư cho mày, mày biết rồi! - Người ta đã làm gì con tôi thế này?”
Đây là lần thứ ba mẹ tôi có vẻ lo lắng! Tôi tự nắn mình.
“Nhưng mày nói tại làm sao chứ, đồ ngu!”
Ôi chao không, mẹ tôi đã nhận ra đúng là tôi.
Tôi giải thích về chuyện quần áo.
Tôi đã mặc nát cả bộ quần áo vận khi mới đến. Còn quần áo mà người ta gửi cho tôi, do thầy tôi cắt, mẹ tôi khâu, thì rộng quá, có thể chứa được cả tôi và một người nữa. Nhưng tôi không quen biết ai cả.
Tôi vớ được thằng Raju to béo gấp đôi tôi, mà quần áo của nó thì lại quá chật.
Nó hỏi xem tôi có muốn đánh đổi không, vì trông dáng người tôi thật ngộ nghĩnh với quần áo rộng thùng thình. Nhiều người thấy tôi đi lại khó nhọc đâm lo! Còn thiếu điều gì người ta không nói?
Một hôm chúng tôi đồng ý với nhau ở phòng ngủ, nó đưa quần áo của nó cho tôi, tôi vận quần áo của nó, và tôi lại chơi chạy đuổi được.
Mẹ tôi lặng thinh. Tôi ủ rũ chờ đợi! cuối cùng mẹ tôi mới chịu nói.
“Ồ đây không phải là thứ dạ xấu!... Nhưng chắc cái thằng Raju ấy không biết gì cả, đáng lẽ mày phải đòi các thêm một cái gì đó, một chiếc gi-lê bằng nỉ, một chiếc quần cộc Ồ! giá phải tay tao! Phải, thứ dạ này tốt đây. Cóđiều là nhàmình không có mụn vá (mẹ tôi xem xét một cái nền vải kẻ sọc); như cái nền này, tao chỉ thấy có chiếc thảm ở trong buồng tao là giống thôi. Tao có thể lấy rèm cửa cũ để sửa lần lót này được”
Chết thật!
“Ăn vận thế này thì con gái đứa nào nó mê mày được. Như tao thì tao thích người đàn ông ăn vận hơi đỏm dáng một chút, - áo rơđanhgốt xanh lục, - quần kẻ ô… Ồ! Tao không muốn người ta làm đỏm quá quắt! Làm cho mọi người thích, chứ không lao vào thói hư tật xấu; mình ăn vận đẹp, không phải là để lăn lóc trong cuộc sống xa hoa, không! nhưng mày muốn nói gì thì nói, một chút khác người cũng không hại gì, và tao cũng chẳng giận mày nếu người ta ngoái lại để nhìn mày trong lúc khoác tay tao đi ở ngoài phố. Có ai quay lại để nhìn mày không? Chẳng có ma nào hết! Mày đi qua mà chẳng ai để ý. Mà ví bằng mày khiêm tốn!... (có chút ít mỉa mai và thất vọng trong giọng nói), nhưng đây là thứ dạ tốt, tao không nói đây không phải là thứ dạ tốt”.
“Mày đưa tao đi ăn cơm tối ở đâu đấy?”
Mẹ tôi vừa nói vậy, gần như cô Hécmini nói với Rađigông, vừa vuốt ve tôi.
Cái vẻ hồn nhiên đó là tôi thấy thích và cảm động, và tôi nói ngay với mẹ tôi là nên đến quán Tavécniê, ăn cơm bữa ba hào hai xu.
“Mẹ muốn tới hiệu Anh-Em-Prôvăngxơ hoặc hiệu Vêfua một lần, - một lần, cũng chả chết ai; vả lại thầy mày năm nay làm ăn khám khá thế cơ mà!”
Tôi vất vả lắm mới tránh được hiệu Vêfua. Mẹ tôi sẵn sàng không dè sẻn; nếu cần đến mười phơrăng cũng bỏ ra! “Chà! mặc xác! ăn chơi một cái!”
Mười phơrăng, chậc! - tôi mường tượng thấy đơntính tiền lên tới một lui[89], mẹ tôi sẽ gọi họ làbọn ăn cắp. “Tôi biết giá thịt chứ! Các người đừng dậy tôi thế nào là quả bù dục. Những hai mươi xu một miếng phó-mát!”
Tôi nói dối một chút, tôi nói là có bạn đã ăn ở đó, và họ đã thề với tôi là sườn lợn rán ở đấy bán những bamươi xu.
“Người ta giễu mày đấy, con ạ! Chà! ở cái đất Pari nhà mày mà mày chẳng lanh lợi hơn chút nào! Mày đừng hòng làm tao tin rằng người ta bán những ba hào một chiếc sườn rán. Với ba hào ở quê mình có thể mua được một con lợn con rồi!
- Ở đấy ăn không ngon như người ta tưởng đâu (tôirụt rè đưa ra câu đó cầu may).
- Nếu ăn tồi, tao sẽ vò đầu họ cho bõ mười phơrăng, mày cứ yên trí!”
Tôi không yên trí, và tôi lại nói:
“Ta cứ thử đến hiệu Tavécniê trước đã, mẹ cứ tin ở con”
Mẹ con tôi đến hiệu Tavécniê.
Mẹ tôi vừa vào đã nói:
“Ở đây đẹp quá chắc ăn không ngon, tất cả những cái này chỉ là để lòe khách thôi, mày thấy không?”
Mẹ tôi nói to tướng, như ở nhà mình, và tôi hết sứcxấu hổ khi thấy bà bán hàng ngồi ở quầy tráng miệng nghe thấy. Để tìm ra một chỗ ngồi mẹ con tôi đã đi vòng quanh phòng ăn ba lượt.
Người ta bắt đầu xì xào là chúng tôi đi qua lại nhiều quá! Cuối cùng mẹ tôi có vẻ đã quyết định.
“Mẹ con mình ngồi đây tốt - không, ở phía bên kia... - Mày tới xem có thể ngồi ở chỗ gần cửa sổ, trong cùng được không?”
Tôi đi ngang qua buồng ăn, đỏ dừ cả hai tai.
Chúng tôi làm cản trở sự đi lại của đám bồi đang bưng các món ăn đến cho khách. Hai ba lần tôi đã chặn hẳn lại không cho một con cá bơn và một quả trứng tráng đi qua. Người bồi tạt sang trái, tôi cũng vậy! - Sang phải, nán lại vẫn thấy tôi. Hắn đi thẳng - đứng lại!
Người ta đánh cuộc với nhau ở phía trong cùng.
- Qua được, không qua được!
Mẹ tôi nói: Con trai tôi đấy!
“Thưa bà, chúng tôi xin có lời mừng bà!”
Tôi tới được chỗ mẹ tôi; người bồi đã chui tọt qua dưới nách tôi, giữa tiếng hoan hô của khán giả. Những người bị thua cuộc vì tôi, vừa trả tiền thua cuộc, vừa đưa mắt giận dữ lườm tôi.
Chúng tôi những hai người thì mạnh hơn, mẹ tôi không muốn rời tôi nữa.
“Mẹ con ta cứ ở liền bên nhau, - mẹ tôi nói!”
Mẹ con tôi tới một địa điểm chiến lược trông có vẻ chắc chắn nhất rồi mở cuộc hội đàm.
Người ta nhìn chúng tôi tợn.
“Mày đói à? tội nghiệp con tôi!”
Tại sao mẹ tôi lại nói tội nghiệp con tôi trước đông người như thế?
Người ta tổ chức chòng ghẹo chúng tôi.
“Đi rửa cho thằng bé tội…
- An ủi thằng bé tội...
- Nhồi nhét cho thằng bé tội... nghiệp”[90]
Nhưng người ta đã đi báo cho ông chủ hiệu ăn đang đóng rượu vang vào chai, ông ta bước tới với chiếc khăn run rẩy ở cánh tay run lên.
“Có phải là mẹ con bà tới đây để ăn không? Hở!”
Tôi táo tợn đáp “không”
Ông chủ hiệu ngạc nhiên. - Đám đông xì xào.
Tôi đã nói không, vì thấy ông ta có vẻ rất giận dữ.
“Không ăn? Vậy các người đến để làm gì?
- Thưa ông, tôi là bà Vanhtrax, tôi ở Năng-tơ đến. Còn nó, tên nó là Jắc!”
Người ta hoan hô ầm lên trong hiệu ăn. -Hãy nghe! Hãy nghe! để diễn giả nói!
Tai tôi kêu ù ù. Tôi không còn nghe thấy gì nữa. Tôi chỉ phân biệt được mỗi tiếng ông chủ hiệu nói: Phải chấm dứt cái trò này đi!
Người ta giải quyết được mẹ con tôi: người ta dồn chúng tôi vào một góc.
Rốt cuộc tôi thú thật là chúng tôi đến để ăn.
Người ta vừa phục vụ chúng tôi, vừa giữ thế thủ.
“Tớ biết cái trò này lắm, một người bồi già nói; đây là bọn vờ vịt, họ giả vờ làm con lừa để được ăn cỏ, rồi lát nữa họ sẽ chuồn thẳng không trả tiền cho mà xem.”
“Mẹ thích ăn ở hiệu khác hơn, con thì sao? mẹ tôi hỏi.
- Con cũng vậy, ồ! vâng con cũng vậy. Con ghét cái bài hát: Rửa thằng bé tội... Đổ thằng bé tội[91]... Mẹ con mình đến hiệu Bétxay, cách đây có vài bước, mà chỉ mất hai hào hai.”
Mẹ tôi đến hiệu Bétxay.
“Ông sẽ cho chúng tôi ăn gì đây, ông bồi?
- Mẹ, không ai gọi Ông bồi!
- A! bây giờ mày lại sinh ra vô lễ đấy! Không nên kiêu kỳ với mọi người thế, con ạ, không ai biết được mình sẽ ra sao đâu!”
Người bồi không đáp lại câu hỏi lễ phép của mẹ tôi, anh ta đang bận với một ông khách, anh nói với ông ta:
“Thế chúng ta có một đầu bê, phải không ạ?”
Ông khách gật đầu, ông không chối, đúng là ông có cái đầu bê.
Người bồi quay lại chỗ chúng tôi.
“Thế nào? Ông mách cho mẹ con tôi ăn gì nào? Mẹ tôi nói.
-    Bà nên dùng món cá nhồi mỡ.
- Tôi không tới Pari để ăn những món ở nhà tôi cũng có thể ăn được, - không. - Thế như ông, thì ông ăn gì? Nói cho chúng tôi biết.”
Mẹ tôi đinh ninh là người bồi sẽ nói với mình như vớimột người bạn. “Kìa, xem nào, có món gì ngon? Ông quê ở đâu thế?.”
Người bồi đề nghị một món, mẹ tôi có vẻ ưng, nhưng không, không, mẹ tôi nghĩ lại...
“Jắc, gọi ông ta lại!
- Bồi!”
Tôi gọi một tiếng rụt rè, như người ta gõ cửa nhà người chữa răng. Tôi mong là anh ta không nghe thấy.
“Mày không trông thấy là ông ấy vẫn cứ đi à; chạy theo đi, chạy đi kìa!”
Tôi đuổi kịp người bồi, đang giơ một chân lên trời, đầu ngược xuống dưới, hét oang oang xuống cầu thang:
“LÒNG CỦA TÔI ĐÂU?”
Anh ta đột ngột quay lại:
“Cái gì thế?
- Không lấy thịt quay.
- Thế thì lấy gì?”
Mẹ tôi, từ cuối buồng:
“Một sườn lợn ngon, đừng mỡ quá; nếu mỡ quá thì không lấy đâu; và đĩa phải thật nóng đấy, ông nhé!”
“Sườn lợn... xin mời!
- Tôi đã bảo ông: đừng mỡ mà!
- Cái này có mỡ đâu, thưa bà!
- Xem này, ông bạn ạ, nếu ông thật thà...”
Người bồi đã biến mất.
Mẹ tôi lấy đầu dĩa lật đi lật lại miếng sườn lợn; cuối cùng mẹ tôi đưa ra đề nghị như sau:
“Jắc, mày xuống bếp hỏi xem người ta có bằng lòng đổi cho không.
Mẹ!
- Có tiền mà không được ăn những thức mình thích! Cứnhư là mẹ con mình đi ăn xin không bằng!(giọng âu yếm): Vậy con muốn mẹ ăn những thức làm mẹ sinh bệnh à? Con xin họ đổi cho mẹ đi, đi, con.”
Tôi không còn biết chui vào đâu nữa; người tachỉ còn nhìn thấy tôi, chỉ còn nghe thấy mẹ con tôi; tôi tìm ra một cách thoát, và vẻ tinh nghịch và hờn dỗi (hình như tôi còn cắn cả ngón tay út nữa):
“Con thì con thích có mỡ kia!
- Vậy ra bây giờ con lại thích mỡ à? Mẹ đã chẳng nói với con, khi mẹ buộc lòng phải đánh con để bắt con ăn mỡ - là có ngày con sẽ hám ăn mỡ đấy ư? - Đây, con, ăn cho thích!” Tôi vẫn ghét ăn mỡ, nhưng tôi chỉ thấy có mỗi cách ấy để không phải đem trả lại món sườn lợn, và rồi có thể tôi sẽ gạt được chỗ mỡ ấy đi. Quả nhiên tôi tìm được cách nhét một miếng vào túi áo gi-lê và một miếng nữa vào túi quần sau.
Nhưng một buổi tối mẹ tôi gọi tôi ra một chỗ; mẹ tôi có chuyện nghiêm chỉnh cần nói với tôi:
“Tất cả mọi thứ đó chưa phải là việc chính, con ạ, bây giờ cần biết mẹ con mình phải làm gì. Thế là một tuần nay mẹ con mình đi xem hát tràn, ăn hiệu lu bù, mà vẫn chưa quyết định được gì cho tương lai của con.”
Mỗi lần mẹ tôi sắp sửa trịnh trọng, tôi lại toát mồ hôi lưng. Mẹ tôi đã làm một người mẹ hiền trong bảy ngày; đến ngày thứ tám mẹ tôi lưu ý tôi rằng mẹ tôi đã tiêu pha tốn kém quá, mà tôi thì cứ nhởn nhơ như không. “Rõ ràng là không phải mày kiếm ra tiền. Ăn hiệu chỉ mất có hai hào hai một suất, nhưng hai suất mất bốn hào tư, không kể tiền cho bồi. Mày muốn cho bồi những ba xu! Tao đã cho ba xu, được lắm, tuy chỉ cho hai xu thôi cũng đủ rồi; giá như tao, tao chẳng cho gì cả, không có chuyện đó!”
Mẹ tôi có lối nhấn mạnh vào những thú vui mà mẹ tôi cho tôi hưởng, nó làm mất thú đi một chút.
Khi mẹ con tôi đi xem ở Hoàng-Cung, chẳng hạn, trở về tôi phải cười liền trong hai ngày - để tỏ rõ rằng đấy không phải là tiền vứt đi. - Nếu tôi không ôm bụng cười ngặt nghẽo, mẹ tôi sẽ nói: - Tiêu bốn phơ-răng thật chẳng đáng!
Tôi ra sức cười! Hễ mẹ tôi quay đi, tôi lại nghỉ một chút, nhưng dù sao như vậy cũng mệt!
Mẹ tôi đã dẫn tôi đi xem Trường đua ngựa - lúc về hai mẹ con đi bộ. Mẹ tôi thích đi bộ, tôi thì không. Tôi có vẻ rầu rĩ.
“Cậu cả bây giờ làm mặt buồn! Mày chẳng làm mặt buồn cho lúc mày đóng vai công tử ở ghế hạng nhì và, ngồi nhìn các cô cưỡi ngựa.
Đóng vai công tử???
- Thế nào! rồi đây mày sẽ làm gì?
- Con không biết!
- Mày có ý định gì không?
- Không.
- Phải tiếp tục học cho xong.”
Tôi thấy không cần thiết.
Mẹ tôi đoán biết ý nghĩ thầm kín của tôi.
“Tao đánh cuộc, - phải, tao đánh cuộc! - là nó sẽ sẵn lòng để cho bao nhiêu hy sinh người ta chịu vì nó trở thành công cốc cả. Nó sẽ bằng lòng thôi học ngay đấy! Nó sẽ phá ngang!...”
Nào tôi thích thú gì cái đó, và nào cái đó giúp ích gì cho tôi!... (tôi có những suy nghĩ đó thì bao giờ cũng vẫn là ở trong thâm tâm tôi).
“Nhưng mày có trả lời tao không, - mẹ tôi kêu lên, - mày có trả lời tao không?
Mẹ muốn con trả lời cái gì mới được chứ?
Mày định làm gì! Mày có ý kiến gì, có cái gì ở trong đầu không? “
Tôi không đáp, nhưng tôi nghĩ thầm:
Phải, tôi có ý kiến và có cái gì đó ở trong đầu! Tôi có ý kiến là thời giờ để học tiếng La-tinh ấy, tiếng Hy-lạp ấy - những chuyện ba láp ấy! - là thời giờ vứt đi; trong đầu tôi có cái điều là tôi thấy mình đúng, ngay từ hồi còn bé, khi tôi muốn học lấy một nghề! Tôi sốt ruột muốn kiếm sống cho sớm và muốn tự túc!
Tôi đã ngán những nỗi đau khổ tôi phải chịu đựng và ngán cả những vui thú người ta cho tôi được hưởng. Thà tôi không được học hành mà không bị chửi mắng còn hơn. Tôi không muốn đi xem hát hôm thứ hai, để đến thứ ba người ta lại mắng tôi là đã đi xem hát; mẹ ạ, con cảm thấy con sẽ làm khổ mãi với mẹ, chừng nào mẹ có thể nói con làm tốn của mẹ mất một xu!...
Đó, những điều con nghĩ là thế đó, mẹ ạ.
Con còn có điều khác nữa cần nói với mẹ; - mặc dù không muốn, con vẫn nhớ tới ngày con bé nhỏ, con phải khổ vì những cơn giận dữ của mẹ. Đôi lúc trong người con khi qua những cơn thù oán, và mẹ có biết không, con chỉ được hả lòng, ngày nào con xa mẹ!...
Những ý nghĩ đó, tới một lúc, buột ra ngoài miệng tôi!
Mẹ tôi nghe thấy thì tái mặt đi.
“Vâng, con muốn vào một nhà máy, con muốn làm ở một xưởng thợ, con sẽ khuân hòm, lắp cửa, quét sân nhưng con sẽ học lấy một nghề. Con sẽ có năm phơrăng một ngày khi đã học được. Khi ấy con sẽ trả lại mẹ số tiền đi xem ở Hoàng-Cung, và ba xu cho bồi bàn...
- Mày định làm thầy mày phải tuyệt vọng đấy à, thằng khốn nạn!
- Xin mẹ đừng nói đến nỗi tuyệt vọng của thầy nữa! Điều con muốn, là không làm cái nghề của thầy con, nghề con chó thông thái! Con không muốn trở thành ngu như ông N..., ngu như ông D... Con ưng vận chiếc áo vét như chú Jôdếp, tới thứ bảy lĩnh lương, và ngày chủ nhật có quyền muốn đi đâu thi đi.”
“Và mày không muốn nhìn mặt chúng tao nữa, mày nói thế phỏng?”
Mẹ tôi đã quên tất cả những nỗi giận khác chạm đến lòng kiêu hãnh của mẹ tôi, làm hỏng các kế hoạch, làm rối ren cuộc sống của mẹ tôi, để chỉ nhớ có mỗi một câu, là câu tôi kêu lên rằng tôi không yêu thầy mẹ tôi, tôi không muốn nhìn mặt thầy mẹ tôi nữa!
Vẻ buồn bã của mẹ tôi làm tôi hết sức xúc động; tôi cầm lấy tay mẹ tôi.
“Mẹ khóc à?”
Mẹ tôi không nén được một tiếng nấc, và mẹ tôi lả đầu vào hai bàn tay với một cử chỉ buồn bã làm sao, như tôi đã trông thấy trên các bức tranh ở nhà thờ...
Khi mẹ tôi ngảnh mặt lên, tôi không nhận ra mẹ tôi nữa: trên gương mặt người đàn bà nông thôn ấy, có tất cả chất thơ của đau khổ; mặt mẹ tôi trắng bệch như một bà quý phái, với những giọt lệ như hạt ngọc trong khóe mắt.
“Con xin lỗi mẹ!”
Mẹ tôi cầm lấy tay tôi. Tôi xin lỗi mẹ tôi một lần nữa.
“Mẹ không có gì để tha lỗi con cả... Mẹ chỉ xin con, con thấy không, từ rày đừng nói với mẹ những lời tàn tệ ấy nữa”
Mẹ tôi hạ thấp giọng và thì thào;
“ Nhất là nếu quả thật mẹ đáng trách, con ạ...
- Không, không, tôi nói qua nước mắt. Cũng có lẽ thế thật mẹ tôi nói. Tối nay mẹ muốn ở nhà một mình, con có thề đi chơi... Để mẹ yên. Để mẹ yên.”
Mẹ tôi bảo người ta đưa chìa khóa cho tôi - “để nó có thể đi chơi đến nửa đêm”, mẹ tôi nói với ông Môlay, chủ nhà.
Tôi đi theo con đường đầu tiên mở ra trước mặt tôi, tôi lạc vào trong một phố vắng, và suốt buổi tối tôi suy nghĩ về những lời lẽ cảm động nó vừa mới xóa đi bao nhiêu lời tàn tệ và cử chỉ độc ác...
“ Jắc? con có muốn tiếp tục đi học để cho thầy mẹ vui lòng không?
- Có, mẹ ạ.”
Từ hôm ấy, tôi toàn gọi mẹ bằng tiếng “mẹ” âu yếm cho tới khi mẹ tôi chết.
“Ôi chao! con làm mẹ vui lòng! Mẹ cảm ơn con! Con thấy không! Mẹ sẽ khổ biết mấy, nếu thấy con đã học hết các lớp rồi mà lại dừng lại trước khi tới đích. Chính vì nghĩ đến thầy con mà chuyện đó đã làm mẹ buồn phiền. Con sẽ làm thầy con vui lòng, con sẽ đỗ tủ tài, rồi sau đó... Sau đó con muốn làm gì thì tùy con... bởi vì con thấy khổ nếu phải làm theo ý muốn của thầy mẹ...”
Hôm sau, sau ngày mẹ tôi khóc, đã quyết định là từ nay sẽ không nói đến chuyện Trường sư phạm nữa, và tôi chỉ chuẩn bị thi tú tài thôi.
Tôi đã ưng thuận, sung sướng vì lời hứa đó và sự hy sinh đó đã lau được nước mắt của người đàn bà tội nghiệp!
Me tôi không nói với tôi như xưa nữa.
Mẹ tôi mới nghiêm trang làm sao, và rất sợ làm phật ý tôi!
“ Mẹ đã làm khổ con nhiều về những cái lố lăng của mẹ, phải không?”
Mẹ tôi cảm động nói thêm:
“ Bây giờ thì đến lượt con trách mẹ. Trước hết con sẽ được học bổng. Con đừng nói là không, mẹ muốn thế, nhất định thế. Và rồi mẹ là một bà già, lúc nào cùng ở bên mẹ chắc con phát chán. Mẹ rất có thể ở nhà chuyện trò với bà Môlây được. Bà ấy có thể thay con dẫn mẹ đi xem các cảnh đẹp được lắm. Mẹ muốn ít ra con cũng có những tối vui của con. Con hãy đi gặp bạn bè của con; con hãy đến chơi nhà Matútxanh.”
Tôi gặp lại Matútxanh trong một căn buồng ở xóm La-tinh, nơi anh ở với một người lớn hơn anh mười tuổi, một người Jacôbanh[92] và thường viết cho một tờ báo cộng hòa. Ông đang soạn một cuốn sử về thời kỳ Quốc ước[93].
Ông đọc cho Matútxanh viết.
Họ đang trò chuyện với nhau, vẻ nghiêm trang. Họ đón tiếp tôi vồn vã, nhưng rồi họ lại tiếp tục câu chuyện.
Những câu họ nói nghe như tiếng sắt thép:
“Một nhà bảo phải đồng thời là một chiến sĩ.” -”Phải có một thanh gươm ở bên ngòi bút” - “Sẵn sàng nhỏ máu vào nghiên mực” - “Có những giờ phút nghiêm trọng trong cuộc đời các dân tộc.”
Matútxanh và ông bạn nhà báo của anh, như chúng tôi gọi ông ta, cho tôi mượn những quyển sách mà tôi đem đi hôm thứ năm. Tới chủ nhật sau, tôi không còn là tôi nữa.
Tôi đã đi vào lịch sử cuộc Cách mạng.
Người ta vừa mở ra trước mặt tôi một quyển sách trong đó có nói về bần cùng và đói khát, trong đó tôi thấy diễu qua những bộ mặt làm tôi nhớ đến chú Jôdép hoặc chú Sađơna, những người thợ mộc với chiếc compa mở rộng ra làm vũ khí, và những nông dân cầm chĩa sắt có vấy máu ở đầu răng.
Có những phụ nữ đi tấn công Vécxay, vừa đi vừa hét lên là bà Vêtô[94] làm nhân dân đói; và ngọn giáo có xiên ổ bánh mì đen - một lá cờ - đâm thủng các trang sách và chọc vào mắt tôi.
Chính vì thấy rằng họ là những người bình thường như ông bà tôi, và có những bàn tay chằng chịt sẹo như các chú bác tôi; chính vì thấy những phụ nữ giống nhau như những người đàn bà nghèo khổ mà chúng ta cho một xu ở ngoài phố, và trông thấy cùng đi với họ có những đứa bé mà họ nắm cổ tay dắt đi; chính vì nghe thấy họ nói như tất cả mọi người, như bác Fabrơ, như mẹ Vanhxăng, như tôi; chính những cái đó đã tác động đến tôi, và làm tôi xao xuyến từ gan bàn chân tới đầu ngọn tóc.
Lần này thì không còn là tiếng La-tinh nữa. Họ nói: “Chúng tôi đói! Chúng tôi muốn tự do!”
Tôi đã ăn thử bánh mì quá cay đắng ở gia đình nhà tôi, tôi đã bị hành hạ quá nhiều ở nhà nên những tiếng kêu đó không thể không thể làm kinh động trái tim tôi.
Rồi trong tưởng tượng tôi xé toạc những bộ quần áo may quá xấu tôi vẫn phải mặc, và bao giờ cũng làm mọi người cười; tôi thay tất cả bằng bộ đồng phục của bọn áo xanh[95] tôi chui vào những bộ đồ rách rưới của những người ở Xămbrơ và Mơdơ.
Không còn bị mẹ, cha đánh đòn nữa, mà bị kẻ thù xử bắn, và chết như Bara[96]. Nhân dân muôn năm!
Chính những bà con đeo tạp-dề da, khoác áo thợ và mặc quần vá, là nhân dân trong những quyển sách người ta vừa cho tôi mượn và tôi chỉ yêu những người ấy thôi vì chỉ có những người nghèo đối xử tốt với tôi, hồi tôi còn bé.
Bây giờ tôi nhớ lại những lời mà tôi đã nghe thấy trong những tối thức khuya, những bài hát mà tôi đã nghe, thấy trên đồng ruộng, những tên Rôbexpie hoặc Buônapactơ ở những điệp khúc bằng tiếng địa phương; và một cụ già, già lắm với bộ tóc bạc phơ, sống một thân một mình ở đầu làng mà người ta gọi là ông cụ điên. Một đôi khi cự chụp lên mái đầu bạc một chiếc mũ trùm đầu đỏ, và nhìn đăm đăm vào đống tro tàn.
Tôi nhớ tới cái nhà ông mà người ta gọi là tên xăngquylốt[97], và là người không dung được bọn thầy tu. Ông ta đã bước ra khỏi nhà hôm bà vợ ông, trước khi chết, đã gọi đến đức Chúa lòng lành.
Tôi cũng nhớ tới những cử chỉ mà người ta đã làm trước mặt tôi, vừa vỗ vào báng súng, hoặc vừa chĩa nòng, với cái nhìn tức giận, về phía lâu đài.
Và tất cả máu huyết của đứa con một người mẹ nông dân, đứa cháu của những người thợ, chồm lên trong mạch máu một người thông thái có học thức mặc dù tôi không muốn là có học thức bất đắc dĩ!
Tôi ngứa ngáy muốn viết thư cho chú Jôdép và chú Sađơna... “Chú hãy tin rằng cháu không quên các chú, rằng cháu thích ở với các chú, ở bên cái cầy hoặc ở bên chuồng bò, hơn là ở nhà nói tiếng La-tinh. Nhưng nếu các chú đi đánh bọn quý tộc, các chú nhớ gọi cháu!”
“Ít lâu nay, con có vẻ phấn chấn thế”, mẹ tôi hỏi.
Đúng vậy - tôi đã nhảy từ một thế giới chết sang một thế giới sống. - Cuốn lịch sử mà tôi đang đọc ngấu nghiến, không phải là lịch sử thần thánh, vua chúa, - đây là lịch sử của Pie và của Jăng, của Matuyrin và Flôrimông, lịch sử của nước tôi, lịch sử của làng tôi; có nước mắt của người nghèo, máu của người nổi loạn, nỗi khổ của họ hàng thân thích tôi trong các tập biên niên sử đó, viết bằng một thứ mực còn chưa khô hẳn.
Tôi say sưa lợi dụng sự tự do mà mẹ tôi để cho tôi! Ngày nào tôi cũng tới phố Jacôp để thả lòng vào những quyển sách ở đấy, hoặc để nghe ông nhà báo nói về lá cờ cộng hòa đã phất trên các mặt cầu, và được các binh đoàn bảo vệ với tiếng thét: “Tổ quốc muôn năm! - Đả đảo các vua chúa!- Tự do hay là chết”
Được tự do? Tôi không biết nó là thế nào, nhưng tôi biết thế nào là làm nạn nhân, tôi biết, mặc dù tôi còn non trẻ.
Một đôi khi cùng với Matútxanh chúng tôi tưởng tượng là chúng tôi đang chiến đấu, và mỗi đứa mơ mộng theo kiểu của mình.
Anh ta thì muốn đội mũ của Xanh-Juxt khi ở quân đội, đeo ngù vai vàng và thắt lưng tam tài to bản.
Tôi thì tôi mơ thấy tôi đóng thượng sĩ, tôi nói: Tiến lên! Hỡi anh em! Mọi người đều cùng quê với nhau, cùng quây quần xung quanh một ngọn lửa trại đóng quân, và trò chuyện về vùng Loa-thượng.
Tôi mơ ngù vai bằng len, giải đeo gươm bằng dây nhỏ.
Tôi muốn ở trung đoàn vùng Môden. Với dân cày và thợ thuyền. Chú Jôdép sẽ là đại úy và chú Sađơna, trung úy.
Chúng tôi sẽ về làm nghề thợ mộc, hoặc gặt lúa “sau ngày thắng lợi”.
PHỐ CỐC-HÊRÔNG
Một tối ông nhà báo dẫn chúng tôi tới nhà in, ở trong tầng dưới tối om, nơi người ta in báo; ông là bạn thân của một người thợ.
Máy in quay tròn, ngốn những tờ giấy vào và nhả những tờ giấy ra, dây cua-roa kêu vo vo. Có mùi nhựa thông và mùi mực ướt.
Ngửi cũng thấy thú như mùi phân ủ. Cũng thấy ấm như trong chuồng bò. Những người thợ vận sơ-mi trần, đội mũ gấp bằng giấy. Có những hiệu lệnh chỉ huy như trên một con tầu gặp nạn. Người thợ đặt giấy, như một chú thủy thủ, nhìn người thợ cả, trông coi như một viên thuyền trưởng.
Một máy in bị gẫy. - Ô này! - Ô!
Người ta hãm máy lại và, năm phút sau, con vật bằng gỗ và bằng sắt lại thở phì phò.
Tôi đã tìm thấy cái nghề thích hợp với tôi..
Tôi cũng sẽ có áo thợ xanh và chiếc mũ bằng giấy xám, tôi sẽ ấn tay lên trên chiếc bánh xe ấy cho quay mạnh những chiếc trục ấy, tôi sẽ thở hít hương vị ấy, - thật là say sưa, đúng! như rượu vang mạnh.
Thợ sắp chữ chăng! Không. - Thợ in, tốt lắm! Một nghề thật là đẹp, được nghe thấy máy hoạt động và rền rĩ, và tới một lúc mọi người đều xúc động như trong một trận đánh.
Phải khỏe, - cử động phải khoáng đạt. Có sắt, có tiếng động, tôi thích thế. Người ta kiếm sống, và được đọc báo trước mọi người.
Tôi không nói với ai chuyện đó; tôi giữ kín ý định của tôi! Tôi cảm thấy im lặng là một sức mạnh, khi điều mình muốn là điều những người khác không muốn. Tôi sẽ không nói gì hết, nhưng tôi vui sướng làm sao!
Có một chút kiêu hãnh độc ác trong niềm vui đó.
Tôi nghĩ là tôi hơn hẳn những thằng bạn đang sống một cuộc đời lang thang! - khỏi phải nói - vì chúng không có công việc chắc chắn; còn như tôi muốn sao thì sao, tôi kiếm được mỗi ngày năm phơrăng, mà chỉ phải mỏi có hai cánh tay thôi.
Tôi sẽ không phụ thuộc vào ai cả, và ban đêm tôi sẽ đọc sách, ngày chủ nhật tôi sẽ viết. - tôi sẽ tham gia một hội kín, nếu tôi muốn. - Tôi muốn ăn thì đi ăn, và tôi còn có thể tặng một cái gì cho tù chính trị hoặc mua vũ khí...
Sống trong lao động chết trong chiến đấu!
“Jắc, mẹ nhận được thư của thầy con, thầy con quyết định mẹ con mình sẽ trở về Năngtơ để con chuẩn bị thi tú tài ở bên cạnh thầy con.”
Tôi không còn nghĩ tới chuyện đó nữa. Tôi đã chìm ngập vào trong cách mạng đến tận cổ, và bây giờ tôi yêu Pari. Cái nhà in ấy!... Hơn nữa chúng tôi đã tới ăn cơm thường tại những quán nhỏ bán thức ăn nhẹ, nơi lui tới của những người thợ đã từng có chân trong các hội Mùa, và đã dính dáng vào các vụ nổi loạn.
Áo thợ và áo rơđanhgốt cùng ngồi một bàn, và mọi người chạm cốc.
Ngày chủ nhật, chúng tôi tới những quán ca nhạc, quán Gảy đàn thất huyền hoặc quán Đàn tỳ bà, tôi không còn nhớ rõ nữa.
Tôi hơi thấy chán khi người ta hát những bài khôi hài; nhưng thình lình có người nói: “Fextô đấy, Gilơ đấy.” Và tôi như nghe thấy ở xa xa có tiếng trống cộng hòa trầm đục, rồi tiếng trống rõ lên, Gilơ cất tiếng hát, và bản nhạc đó như nhằm vào trái tim tôi.
Tuy nhiên tôi không biết có phải là so với những bài hát nói về những người đi chiến đấu và hy sinh, tôi thích những bài hát của người đập lúa hoặc người thợ rèn hơn, do một người thợ máy, nom hiền lành như cừu non nhưng khỏe như bò mộng, hát lên oang oang. Người đó nói về cái chất thơ của xưởng thợ, - tiếng ầm ầm và lửa hồng, - người đó nói về người nội trợ bảo chồng: “Anh hãy gắng lên, - hãy cố làm việc, - ấy là vì con chúng ta. “
Tới một lúc, người ca sĩ hạ thấp giọng xuống. “Đóng cửa sổ lại “, có ai nói. Và mọi người chào ở điệp khúc:
Lá cờ mà nhân dân đã phất ở Xanh-Mery!
Có tinh thần nổi loạn trong những vần thơ. - Ít ra thì cũng là tôi gán vào, chính tôi, kẻ hôm qua đã mở cuốn Sử mười năm, tôi không còn ở Thời kỳ năm 93 nữa. Tôi đang ở thời kỳ Lyông, với lá cờ đen. Những người thợ dệt nổi giận, và họ thét lên: Bánh mỳ hay là đạn!
“Jắc, đến thứ hai mẹ con mình sẽ về Năngtơ.”
Một nhát dao đâm cũng không làm tôi đau đớn hơn.
Một tháng trước đây, tôi sẽ vui lòng ra đi, và có thể khi ra khỏi cửa ô tôi còn khạc nhổ lên Pari nữa là khác, vì tôi đã bị ngạt thở trong thành phố đó không biết chừng nào, tôi đã thất vọng không biết chừng nào khi trông thấy bạn bè và thầy giáo.
Nhưng từ một tháng nay, đã có nước mắt của mẹ tôi, và sau ngày xảy ra chuyện đó, là tự do hoàn toàn; thỉnh thoảng tôi lại được bốn hào, để chén một chút thịt lợn với các bạn thân, và ngày chủ nhật, ăn thịt bò hầm ở quán Ramponnô.
Tôi đã hòa mình vào đám đông, tôi đã nghe thấy họ cười nói bằng thứ tiếng Pháp bồi nhưng cười thẳng thắn. Tôi đã nghe nói về nhân dân và công nhân, người ta nói Libéctê chứ không nói Libéctax.
Quanh tôi bao giờ cũng là chuyện nghèo khổ; thầy tôi đã bị sỉ nhục vì nghèo, tôi cũng đã bị như thế, và giờ đây thay vào những diễn từ của Catông, của Xixêrông, thay vào những người tên toàn những ô, ônix, ux, i, ôrom, tôi thấy người ta tụ tập trên quảng trường để bàn cãi về sự cùng khổ và đòi có công ăn việc làm hoặc là chết.
“Này! Jăng-Mari, ở nhà không có bánh mì thì chẳng thà quên phắt đi vị bánh mì đi, có hơn không?”
Quay về Năngtơ ư?
Tôi sẽ nói chuyện về nền Cộng hòa và chuyện nổi loạn với ai?
Xưa nay có nổi loạn ở Năngtơ đâu? Ở Lyông thì lại khác!
Ồ! nếu tôi đã không hứa với mẹ tôi! - nếu mẹ tôi đã không khóc!
Nếu mẹ tôi đã không khóc, tôi sẽ nói: “Con không muốn về”. Ông nhà báo thanh bạch sẽ đưa tôi vào làm chân chạy giấy, làm lao công, trong một tòa báo. Vừa hay (thật là may!), có một chỗ làm trong tòa báo Quốc gia; người ta trả ba mươi phơrăng một tháng để giữ nguyên-cảo, để đọc cho người chữa bản in. Tôi sẽ sống với ba mươi phơrăng đó. Công việc xong xuôi, tôi sẽ xuống nhà in để ngửi mùi giấy mực, và nhờ anh em thợ truyền nghề cho tôi.
Hay tôi cứ nói chuyện ấy với mẹ tôi?
Tôi nói với mẹ tôi về chuyện đó.
“Nhưng con đã nói với mẹ...
- Vâng, đúng vậy.”
Tôi tới từ biệt ông nhà báo và Matútxanh.
Ông nhà báo an ủi tôi.
“Rồi anh sẽ trở lại đây, anh bạn thân mến ạ.
- Ít nhất ông cũng viết thư cho tôi nhé!
- Được rồi. Ngay cả trường hợp, ông vừa nói vừa mỉm cười, gọi anh đi tấn công điện Êlydê.
Nhất là trong trường hợp đó, công dân ạ!”
 
 



Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0

XXIII. BÀ VANHTRAX TỚI PARI
 
 
“Jắc!”
Mẹ tôi! Mẹ tôi bước tới và như cái máy, vò lấy đầu tôi, Thằng bé Nhật-bản cười, thằng bé lai đen ngáp, - lúc nào nó cũng ngáp.
Đầu tôi bị ôm nghiêng, làm mẹ tôi vất vả lắm mới tìm được một chỗ thích đáng để hôn tôi.
Người ta đưa mẹ con tôi vào một căn buồng, trong đó chỉ nhìn thấy lờ mờ vì lúc ấy trời đã tối, mà ngọn nến của người gác cổng đem đến thì chiếu sáng yếu ớt.
“Con chóng lớn quá! trông con khỏe ra!”
Đấy là câu nói đầu tiên của mẹ tôi, Mẹ tôi không để cho tôi kịp nói: mẹ tôi quay tôi đi, quay tôi lại, và xoay mình trên đôi chân nhỏ bé.
“Con hôn mẹ tử tế đi nào; nào, con đừng giận dỗi mẹ.”
Giọng nói khá thật lòng. Mẹ tôi vẫn nói to:
“Con có tư thế lắm! Mẹ đem đến cho con một bộ áo may theo kiểu Pháp; mẹ sẽ đưa con đi đóng ủng. Nhưng để xem nào: có ria mép rồi; con tôi để ria mép!”
Mẹ tôi không ghìm nổi nỗi vui sướng và niềm hãnh diện. Mẹ tôi giơ hai tay lên trời và sắp khuỵu đầu gối xuống.
“Hóa ra con giỏi trai lắm, con biết không?”
Mẹ tôi lại ngắm nghía tôi.
“Giống hệt mẹ nó!”
Điều đó tôi không tin. Đầu tôi như vạc bằng dao quắm, lưỡng quyền dô, hàm cũng dô, răng nhọn như răng chó. Tôi có chỗ giống chó. Tôi cũng giống cả con cù, nước da vàng như cây hoàng dương.
Còn mắt tôi, theo lời bà Ala, bà vẫn giặt giũ quần áo, có lần bà đã hỏi tôi xem người bà có mũm mĩm không tôi không thể giấu được tôi là người xứ Ôvécnhơ; mắt tôi giống như hai hòn than mới.
“Con lại có vẻ đứng đắn nữa, con biết không?”
Cũng có thể. Năm ấy là năm gay go nhất. Tôi đã bị sỉ nhục thật sự và chẳng có gì vui để bù lại.
Trong lòng tôi cũng có cả sự chán nản nữa. Tôi đã thất vọng sâu sắc về Pari.
Tôi thấy chân trời ngu xuẩn, cuộc sống tẻ lặng, tương lai xấu xí. Tôi đang ở trong đại đô thành Babylon! Nhưng thành Babylon chỉ là thế thôi!
Mọi người ở đó mới nhỏ bé làm sao! Tôi chỉ nghe thuần nói tiếng La-tinh!
Chủ nhật cũng như trong tuần, tôi bị lão Lơnhanha ấy tha hồ hành hạ, tuy lão bản tính nhu nhược, đố kỵ, hèn nhát, vì không thành đạt mà lão thêm cay nghiệt.
Nhất là mười ngày cuối cùng này đã đè nặng lên tôi như một cực hình.
“Sao mẹ không viết thư cho con?
- Mẹ cứ nhấp nhổm chực đi hết ngày này sang ngày khác, mẹ tôi nói.”
Để hà tiện một con tem.
Tôi kể cho mẹ tôi nghe những lời người ta quở mắng tôi vì nhà nghèo, những sỉ nhục mà tôi đã phải chịu đựng.
“Ông ta mà chê nhà mình nghèo à! Khi nào ông ta kiếm nổi số tiền thầy con kiếm được trong năm nay, ông ta muốn nói gì hãy nói...
 - Nhưng như thế, nếu thầy kiếm ra tiền, tại sao không trả tiền trọ của con như những đứa khác, khi con đã viết thư cho thầy mẹ biết là ông ấy chửi con, và con rất khổ?
 - Chửi, chửi? - Thế rồi sao? Có phải vì thế mà con sinh ra ốm đau không, hả con? Dù sao đi nữa thì nhà mình vẫn tiết kiệm được ba trăm phơrăng, và con sẽ rất hài lòng được có số tiền đó sau khi thầy mẹ chết. Có ba trăm phơrăng và hơn nữa, ở trong này này... Nhưng không phải ông Lơnhanha được số tiền này đâu!”.
Mẹ tôi cười và vỗ vào túi.
“Ở đời phải thế, con ạ; bây giờ con đã lớn, con phải biết chuyện đó. Con tưởng ông ấy nhận con vì đôi mắt đẹp của con và để bố thí cho nhà mình đấy hẳn? Không đâu, họ nhận con như một con bò cái mắn. Con không đẻ ra được bò con như họ muốn, con không được giải thưởng ở kỳ thi lớn của họ. Đúng ra họ phải biết kén chọn hơn; họ phải sờ nắn con cho kỹ trước khi con bắt đầu. Được, để mẹ, mẹ sẽ nói cho lão ta biết phận của lão con hãy đợi mẹ một chút!.”
Tôi rất khổ vì thấy mẹ tôi nổi giận lên như vậy. Con người mà tôi ngỡ là căm ghét ấy, bây giờ tôi lại thấy ái ngại!
Vừa báo cho tôi biết ý định là cho ông một trận nên thân, mẹ tôi vừa nói:
“Con gói ghém các thứ của con lại!”
Mẹ con tôi đã ra tới hành lang-người gác cổng cũng cómặt ở đó.
“Thưa bà, không ai được đem gì ra khỏi nhà này.
- Đồ đạc của con tôi! - Tôi không có quyền lấy quần áo của nó à? Bít tất của con tôi!... có phải cái lão Nha- nhanha của bác bảo thế không?
- Không phải. Đấy là chủ nhà mà ông Lơnhanha mắc nợ, đã dặn tôi như thế”
Lại còn ông chủ hiệu bánh mì cũng thúc giấy đòi nợ, rồi bác hàng thịt...
Con người thảm hại, phải, thảm hại! Hắn thô bạo với người nghèo, vì không phải hắn chỉ ngược đãi có mình tôi. Tất cả những đứa nào bị gia đình bỏ rơi hoặc trả giá hạ đều bị hắn phỉ nhổ, và có những đứa bé còn bị đánh đập nữa.
Hắn thật ngu dại - trong các nhà trọ, người ta nói về hắn như một điển hình. Người ta dùng tên hắn trỏ một kẻ thô bỉ, ngu xuẩn, và hơi rầu rĩ.
Cách lập luận vừa rồi của mẹ tôi, lý lẽ về con bò cái đã cất cho tôi khỏi mọi băn khoăn, đã đập mạnh vào óc tôi.
Con bò cái… đúng thế! Họ nhận tôi không phải vì đôi mắt đẹp của tôi, dĩ nhiên rồi! “Không, mặc đấy con có thể yên tâm”, mẹ tôi lại nói, vì mẹ tôi đã đoán được ý nghĩ của tôi trong sự im lặng và trong con mắt tôi.
Dù sao tôi vẫn thấy ái ngại cho lão, gã khốn khổ ấy. Tôi xin được với mẹ tôi là đừng làm ầm lên, và chúng tôi được chủ nhà bằng lòng cho đem quần áo của tôi đi.
Chúng tôi rời khỏi nhà trọ không hiểu bằng cách gì. Chúng tôi đi xe ngựa thuê đến lấy các hòm xiểng mà mẹ tôi để lại ở buồng giấy bến xe ngựa chở khách.
Mẹ tôi lẩm bẩm chửi lão Lơnhanha; những tiếng cười gằn, những tiếng la; mẹ tôi chế giễu và xô đẩy ông ta bằng giọng nói, bằng cử chỉ, tựa hồ ông ta có mặt tại đó:
“Ông có im đi không! Chà! ông mà nói với tôi những câu như ông đã nói với nó! (quay sang tôi). Mày thật hèn mới chịu để người ta đối xử với mày như thế! Chà! Mày không phải là con trai của mẹ mày!”
Phải chăng tôi là đứa con nhặt được? Phải chăng tôi đã bị đòn oan mười ba năm trời? Hãy nói đi, người mà tới nay tôi vẫn gọi là giênitrix[87], mẹ tôi mà tôi là caraxôbôléx[88], hãy nói đi!
“Ta đi đâu bây giờ?”
Mẹ tôi hỏi tôi câu đó, khi hai mẹ con đã ngồi lèn chặt trênxe. Bác đánh xe đợi.
“Chẳng lẽ ta lại ngủ ở trên xe ngựa, phải không? Mày đã ởPari một năm rồi thế mà mày vẫn khôngbiết dẫn mẹmày đi đâu, mày không biết một chỗ trọ nào à?
Tôi biết trường Xoocbon? -Conđường Lợn lòi?Liệu người ta có cho mẹ tôi thuê giường ngủ ở quánNgười Hà-lan không?
“Thôi được, để tao dẫn mày đi! Chà con cái”
Mẹ tôi ẩy tôi về phía cửa xe.
“Gọi bác đánh xe đi.
- Bác đánh xe ơi!”
Bác đánh xe dừng lại và cúi người xuống.
“Bác có biết khách sạn Tiền-vàng-Pháp không?
- Đấy là ở Đijông cơ, bà khách quí ạ!
- Ở tất cả các thành phố, đâu cũng có một khách sạn lấy tên là Tiền-vàng-Pháp kia mà!
- Ở đây tôi không biết!”
Hất chiếc khăn choàng trên vai, một tay cầm túi du lịch, tay kia nắm lấy cửa xe, mẹ tôi nhảy xuống đất.
“Tôi không ngồi trên chiếc xe này thêm một phút nào nữa.
- Tùy các người thôi; đây không thích chở những hạng người chuế như thế! Trả tiền giờ đi, và hòm xiểng của các người đây”
Chúng tôi trả tiền, -và câu chuyện ở Oóclêăng, ởquảng trường cô Trinh nữ, ở Năngtơ và ở bến tầu lại tái diễn. Mẹ con tôi đứng trước những gói và những hộp đựng mũ cứ đổ xụp xuống. Mẹ tôi không thể vào một thành phố nào mà không làm cản trở giao thông!...
Mẹ tôi lấy cán ôđánh tôi.
“Mày phải nhúc nhích lên chứ!”
Tôi cố nhúc nhích cái gì còn có thể nhúc nhích dược, tôi phải giữ các hộp, trên người tôi chẳng còn mấy chỗ rảnh, tất cả đều mắc hết rồi, chỉ còn rỗi độc một ngón tay.
“Gọi chiếc xe khác đi”
Tôi ra hiệu cho một bác xà ích khác, nhưng thế thăng bằng có những quy luật ác nghiệt mà ta không nên vi phạm, và việc ra hiệu đó làm tôi lâm nguy! Quả núi hành lý đổ sập. - Mẹ tôi thét lên một tiếng! Xe cộ dừng lại cảnh sát chạy tới,- cứ thế mãi! thế mãi! Chuyên khoa lạ đời!
Mẹ con tôi sẽ ra sao nếu không cónhững người từ tâm đi qua đấy?
Họ không yêu cầu một điều gì có thể xúc phạm tới chính kiến hoặc tín ngưỡng của mẹ con tôi! Không, hoàn toàn không. Họ giúp đỡ mẹ con tôi bằng những lời khuyên mà không đòi lương tâm phải thỏa hiệp hoặc phải hèn nhát. Bọn thầy dòng Jêduýt ắt là không làm như thế.
Họ khuyên mẹ con tôi nên đi thẳng phía trước mặt, “đúng ở trước mặt, chỗ có cái bảng nhỏ”, và họ cho mẹ con tôi biết rằng những buồng cho thuê chính là dành cho những người không có buồng.
“Vậy mà mày không biết hả, Jắc! Mẹ tôi nói. Thơ La-tinh đã làm nó trở thành như thế này đây! hay có lẽ tại mày bị ai đánh. Mày không ngã lộn đầu xuống đấy chứ?
Không, con chỉ ngã bệt đít xuống thôi”
Mẹ con tôi có vẻ an tâm một chút.
Mẹ con tôi đã yên vị trong nhà trọ: một căn buồng và một phòng nhỏ.
Có những tiếng kêu thét trong buồng mẹ tôi...
“Jắc, Jắc!
- Con đây”
Tôi chỉ vừa kịp xỏ quần, nhưng tôi chật vật hết sức mới giữ được cho quần khỏi bị tụt.
Mẹ tôi nắm lấy đũng quần, và kéo tôi đi ngược lại gần chỗ mẹ tôi.
“Mày có phải là con tao không?”
Tôi bắt đầu thấy lo ngại thực sự. Mẹ tôi đã hỏi tôi như vậy một lần rồi.
Tôi thấy hai chiếc quần chẽn và hai chiếc áo mà tôi đã mặc suốt cả năm nay vứt bừa bãi trên bàn.
Mẹ tôi thình lình xoay người tôi lại, và nhìn tôi chầm chầm như thể mẹ tôi vẫn nghi là tôi đưa một người lạ nào lộn xòng vào thế chân tôi.
Cuối cùng gần như đã chắc chắn là tôi không nhầm lẫn, vả lại có tiếng nói của máu mủ mách bảo biết, mẹ tôi liền tuôn nỗi đau khổ của mình ra.
“Jắc, mẹ tôi nói, Jắc, đây có phải là quần, là áo, có phải là cái áo màu xanh hoa mua mà tao gửi cho mày không? Tao biết quần áo mà vào tay mày là bẩn ngay lập tức, tao biết, nhưng tao không thể nào tin được là mày lại tinh nghịch ăn cả màu đi thế này, hơn nữa quần áo tao gửi cho mày rộng hơn!Quần áo vốn may rộng rãi phòng lớn, may thoáng khí! Đằng này chẳng ra gì cả! chẳng ra gì cả!”
“Jắc, thầy mày với tao đã cùng may cho mày! Tao đã viết thư cho mày, mày biết rồi! - Người ta đã làm gì con tôi thế này?”
Đây là lần thứ ba mẹ tôi có vẻ lo lắng! Tôi tự nắn mình.
“Nhưng mày nói tại làm sao chứ, đồ ngu!”
Ôi chao không, mẹ tôi đã nhận ra đúng là tôi.
Tôi giải thích về chuyện quần áo.
Tôi đã mặc nát cả bộ quần áo vận khi mới đến. Còn quần áo mà người ta gửi cho tôi, do thầy tôi cắt, mẹ tôi khâu, thì rộng quá, có thể chứa được cả tôi và một người nữa. Nhưng tôi không quen biết ai cả.
Tôi vớ được thằng Raju to béo gấp đôi tôi, mà quần áo của nó thì lại quá chật.
Nó hỏi xem tôi có muốn đánh đổi không, vì trông dáng người tôi thật ngộ nghĩnh với quần áo rộng thùng thình. Nhiều người thấy tôi đi lại khó nhọc đâm lo! Còn thiếu điều gì người ta không nói?
Một hôm chúng tôi đồng ý với nhau ở phòng ngủ, nó đưa quần áo của nó cho tôi, tôi vận quần áo của nó, và tôi lại chơi chạy đuổi được.
Mẹ tôi lặng thinh. Tôi ủ rũ chờ đợi! cuối cùng mẹ tôi mới chịu nói.
“Ồ đây không phải là thứ dạ xấu!... Nhưng chắc cái thằng Raju ấy không biết gì cả, đáng lẽ mày phải đòi các thêm một cái gì đó, một chiếc gi-lê bằng nỉ, một chiếc quần cộc Ồ! giá phải tay tao! Phải, thứ dạ này tốt đây. Cóđiều là nhàmình không có mụn vá (mẹ tôi xem xét một cái nền vải kẻ sọc); như cái nền này, tao chỉ thấy có chiếc thảm ở trong buồng tao là giống thôi. Tao có thể lấy rèm cửa cũ để sửa lần lót này được”
Chết thật!
“Ăn vận thế này thì con gái đứa nào nó mê mày được. Như tao thì tao thích người đàn ông ăn vận hơi đỏm dáng một chút, - áo rơđanhgốt xanh lục, - quần kẻ ô… Ồ! Tao không muốn người ta làm đỏm quá quắt! Làm cho mọi người thích, chứ không lao vào thói hư tật xấu; mình ăn vận đẹp, không phải là để lăn lóc trong cuộc sống xa hoa, không! nhưng mày muốn nói gì thì nói, một chút khác người cũng không hại gì, và tao cũng chẳng giận mày nếu người ta ngoái lại để nhìn mày trong lúc khoác tay tao đi ở ngoài phố. Có ai quay lại để nhìn mày không? Chẳng có ma nào hết! Mày đi qua mà chẳng ai để ý. Mà ví bằng mày khiêm tốn!... (có chút ít mỉa mai và thất vọng trong giọng nói), nhưng đây là thứ dạ tốt, tao không nói đây không phải là thứ dạ tốt”.
“Mày đưa tao đi ăn cơm tối ở đâu đấy?”
Mẹ tôi vừa nói vậy, gần như cô Hécmini nói với Rađigông, vừa vuốt ve tôi.
Cái vẻ hồn nhiên đó là tôi thấy thích và cảm động, và tôi nói ngay với mẹ tôi là nên đến quán Tavécniê, ăn cơm bữa ba hào hai xu.
“Mẹ muốn tới hiệu Anh-Em-Prôvăngxơ hoặc hiệu Vêfua một lần, - một lần, cũng chả chết ai; vả lại thầy mày năm nay làm ăn khám khá thế cơ mà!”
Tôi vất vả lắm mới tránh được hiệu Vêfua. Mẹ tôi sẵn sàng không dè sẻn; nếu cần đến mười phơrăng cũng bỏ ra! “Chà! mặc xác! ăn chơi một cái!”
Mười phơrăng, chậc! - tôi mường tượng thấy đơntính tiền lên tới một lui[89], mẹ tôi sẽ gọi họ làbọn ăn cắp. “Tôi biết giá thịt chứ! Các người đừng dậy tôi thế nào là quả bù dục. Những hai mươi xu một miếng phó-mát!”
Tôi nói dối một chút, tôi nói là có bạn đã ăn ở đó, và họ đã thề với tôi là sườn lợn rán ở đấy bán những bamươi xu.
“Người ta giễu mày đấy, con ạ! Chà! ở cái đất Pari nhà mày mà mày chẳng lanh lợi hơn chút nào! Mày đừng hòng làm tao tin rằng người ta bán những ba hào một chiếc sườn rán. Với ba hào ở quê mình có thể mua được một con lợn con rồi!
- Ở đấy ăn không ngon như người ta tưởng đâu (tôirụt rè đưa ra câu đó cầu may).
- Nếu ăn tồi, tao sẽ vò đầu họ cho bõ mười phơrăng, mày cứ yên trí!”
Tôi không yên trí, và tôi lại nói:
“Ta cứ thử đến hiệu Tavécniê trước đã, mẹ cứ tin ở con”
Mẹ con tôi đến hiệu Tavécniê.
Mẹ tôi vừa vào đã nói:
“Ở đây đẹp quá chắc ăn không ngon, tất cả những cái này chỉ là để lòe khách thôi, mày thấy không?”
Mẹ tôi nói to tướng, như ở nhà mình, và tôi hết sứcxấu hổ khi thấy bà bán hàng ngồi ở quầy tráng miệng nghe thấy. Để tìm ra một chỗ ngồi mẹ con tôi đã đi vòng quanh phòng ăn ba lượt.
Người ta bắt đầu xì xào là chúng tôi đi qua lại nhiều quá! Cuối cùng mẹ tôi có vẻ đã quyết định.
“Mẹ con mình ngồi đây tốt - không, ở phía bên kia... - Mày tới xem có thể ngồi ở chỗ gần cửa sổ, trong cùng được không?”
Tôi đi ngang qua buồng ăn, đỏ dừ cả hai tai.
Chúng tôi làm cản trở sự đi lại của đám bồi đang bưng các món ăn đến cho khách. Hai ba lần tôi đã chặn hẳn lại không cho một con cá bơn và một quả trứng tráng đi qua. Người bồi tạt sang trái, tôi cũng vậy! - Sang phải, nán lại vẫn thấy tôi. Hắn đi thẳng - đứng lại!
Người ta đánh cuộc với nhau ở phía trong cùng.
- Qua được, không qua được!
Mẹ tôi nói: Con trai tôi đấy!
“Thưa bà, chúng tôi xin có lời mừng bà!”
Tôi tới được chỗ mẹ tôi; người bồi đã chui tọt qua dưới nách tôi, giữa tiếng hoan hô của khán giả. Những người bị thua cuộc vì tôi, vừa trả tiền thua cuộc, vừa đưa mắt giận dữ lườm tôi.
Chúng tôi những hai người thì mạnh hơn, mẹ tôi không muốn rời tôi nữa.
“Mẹ con ta cứ ở liền bên nhau, - mẹ tôi nói!”
Mẹ con tôi tới một địa điểm chiến lược trông có vẻ chắc chắn nhất rồi mở cuộc hội đàm.
Người ta nhìn chúng tôi tợn.
“Mày đói à? tội nghiệp con tôi!”
Tại sao mẹ tôi lại nói tội nghiệp con tôi trước đông người như thế?
Người ta tổ chức chòng ghẹo chúng tôi.
“Đi rửa cho thằng bé tội…
- An ủi thằng bé tội...
- Nhồi nhét cho thằng bé tội... nghiệp”[90]
Nhưng người ta đã đi báo cho ông chủ hiệu ăn đang đóng rượu vang vào chai, ông ta bước tới với chiếc khăn run rẩy ở cánh tay run lên.
“Có phải là mẹ con bà tới đây để ăn không? Hở!”
Tôi táo tợn đáp “không”
Ông chủ hiệu ngạc nhiên. - Đám đông xì xào.
Tôi đã nói không, vì thấy ông ta có vẻ rất giận dữ.
“Không ăn? Vậy các người đến để làm gì?
- Thưa ông, tôi là bà Vanhtrax, tôi ở Năng-tơ đến. Còn nó, tên nó là Jắc!”
Người ta hoan hô ầm lên trong hiệu ăn. -Hãy nghe! Hãy nghe! để diễn giả nói!
Tai tôi kêu ù ù. Tôi không còn nghe thấy gì nữa. Tôi chỉ phân biệt được mỗi tiếng ông chủ hiệu nói: Phải chấm dứt cái trò này đi!
Người ta giải quyết được mẹ con tôi: người ta dồn chúng tôi vào một góc.
Rốt cuộc tôi thú thật là chúng tôi đến để ăn.
Người ta vừa phục vụ chúng tôi, vừa giữ thế thủ.
“Tớ biết cái trò này lắm, một người bồi già nói; đây là bọn vờ vịt, họ giả vờ làm con lừa để được ăn cỏ, rồi lát nữa họ sẽ chuồn thẳng không trả tiền cho mà xem.”
“Mẹ thích ăn ở hiệu khác hơn, con thì sao? mẹ tôi hỏi.
- Con cũng vậy, ồ! vâng con cũng vậy. Con ghét cái bài hát: Rửa thằng bé tội... Đổ thằng bé tội[91]... Mẹ con mình đến hiệu Bétxay, cách đây có vài bước, mà chỉ mất hai hào hai.”
Mẹ tôi đến hiệu Bétxay.
“Ông sẽ cho chúng tôi ăn gì đây, ông bồi?
- Mẹ, không ai gọi Ông bồi!
- A! bây giờ mày lại sinh ra vô lễ đấy! Không nên kiêu kỳ với mọi người thế, con ạ, không ai biết được mình sẽ ra sao đâu!”
Người bồi không đáp lại câu hỏi lễ phép của mẹ tôi, anh ta đang bận với một ông khách, anh nói với ông ta:
“Thế chúng ta có một đầu bê, phải không ạ?”
Ông khách gật đầu, ông không chối, đúng là ông có cái đầu bê.
Người bồi quay lại chỗ chúng tôi.
“Thế nào? Ông mách cho mẹ con tôi ăn gì nào? Mẹ tôi nói.
-    Bà nên dùng món cá nhồi mỡ.
- Tôi không tới Pari để ăn những món ở nhà tôi cũng có thể ăn được, - không. - Thế như ông, thì ông ăn gì? Nói cho chúng tôi biết.”
Mẹ tôi đinh ninh là người bồi sẽ nói với mình như vớimột người bạn. “Kìa, xem nào, có món gì ngon? Ông quê ở đâu thế?.”
Người bồi đề nghị một món, mẹ tôi có vẻ ưng, nhưng không, không, mẹ tôi nghĩ lại...
“Jắc, gọi ông ta lại!
- Bồi!”
Tôi gọi một tiếng rụt rè, như người ta gõ cửa nhà người chữa răng. Tôi mong là anh ta không nghe thấy.
“Mày không trông thấy là ông ấy vẫn cứ đi à; chạy theo đi, chạy đi kìa!”
Tôi đuổi kịp người bồi, đang giơ một chân lên trời, đầu ngược xuống dưới, hét oang oang xuống cầu thang:
“LÒNG CỦA TÔI ĐÂU?”
Anh ta đột ngột quay lại:
“Cái gì thế?
- Không lấy thịt quay.
- Thế thì lấy gì?”
Mẹ tôi, từ cuối buồng:
“Một sườn lợn ngon, đừng mỡ quá; nếu mỡ quá thì không lấy đâu; và đĩa phải thật nóng đấy, ông nhé!”
“Sườn lợn... xin mời!
- Tôi đã bảo ông: đừng mỡ mà!
- Cái này có mỡ đâu, thưa bà!
- Xem này, ông bạn ạ, nếu ông thật thà...”
Người bồi đã biến mất.
Mẹ tôi lấy đầu dĩa lật đi lật lại miếng sườn lợn; cuối cùng mẹ tôi đưa ra đề nghị như sau:
“Jắc, mày xuống bếp hỏi xem người ta có bằng lòng đổi cho không.
Mẹ!
- Có tiền mà không được ăn những thức mình thích! Cứnhư là mẹ con mình đi ăn xin không bằng!(giọng âu yếm): Vậy con muốn mẹ ăn những thức làm mẹ sinh bệnh à? Con xin họ đổi cho mẹ đi, đi, con.”
Tôi không còn biết chui vào đâu nữa; người tachỉ còn nhìn thấy tôi, chỉ còn nghe thấy mẹ con tôi; tôi tìm ra một cách thoát, và vẻ tinh nghịch và hờn dỗi (hình như tôi còn cắn cả ngón tay út nữa):
“Con thì con thích có mỡ kia!
- Vậy ra bây giờ con lại thích mỡ à? Mẹ đã chẳng nói với con, khi mẹ buộc lòng phải đánh con để bắt con ăn mỡ - là có ngày con sẽ hám ăn mỡ đấy ư? - Đây, con, ăn cho thích!” Tôi vẫn ghét ăn mỡ, nhưng tôi chỉ thấy có mỗi cách ấy để không phải đem trả lại món sườn lợn, và rồi có thể tôi sẽ gạt được chỗ mỡ ấy đi. Quả nhiên tôi tìm được cách nhét một miếng vào túi áo gi-lê và một miếng nữa vào túi quần sau.
Nhưng một buổi tối mẹ tôi gọi tôi ra một chỗ; mẹ tôi có chuyện nghiêm chỉnh cần nói với tôi:
“Tất cả mọi thứ đó chưa phải là việc chính, con ạ, bây giờ cần biết mẹ con mình phải làm gì. Thế là một tuần nay mẹ con mình đi xem hát tràn, ăn hiệu lu bù, mà vẫn chưa quyết định được gì cho tương lai của con.”
Mỗi lần mẹ tôi sắp sửa trịnh trọng, tôi lại toát mồ hôi lưng. Mẹ tôi đã làm một người mẹ hiền trong bảy ngày; đến ngày thứ tám mẹ tôi lưu ý tôi rằng mẹ tôi đã tiêu pha tốn kém quá, mà tôi thì cứ nhởn nhơ như không. “Rõ ràng là không phải mày kiếm ra tiền. Ăn hiệu chỉ mất có hai hào hai một suất, nhưng hai suất mất bốn hào tư, không kể tiền cho bồi. Mày muốn cho bồi những ba xu! Tao đã cho ba xu, được lắm, tuy chỉ cho hai xu thôi cũng đủ rồi; giá như tao, tao chẳng cho gì cả, không có chuyện đó!”
Mẹ tôi có lối nhấn mạnh vào những thú vui mà mẹ tôi cho tôi hưởng, nó làm mất thú đi một chút.
Khi mẹ con tôi đi xem ở Hoàng-Cung, chẳng hạn, trở về tôi phải cười liền trong hai ngày - để tỏ rõ rằng đấy không phải là tiền vứt đi. - Nếu tôi không ôm bụng cười ngặt nghẽo, mẹ tôi sẽ nói: - Tiêu bốn phơ-răng thật chẳng đáng!
Tôi ra sức cười! Hễ mẹ tôi quay đi, tôi lại nghỉ một chút, nhưng dù sao như vậy cũng mệt!
Mẹ tôi đã dẫn tôi đi xem Trường đua ngựa - lúc về hai mẹ con đi bộ. Mẹ tôi thích đi bộ, tôi thì không. Tôi có vẻ rầu rĩ.
“Cậu cả bây giờ làm mặt buồn! Mày chẳng làm mặt buồn cho lúc mày đóng vai công tử ở ghế hạng nhì và, ngồi nhìn các cô cưỡi ngựa.
Đóng vai công tử???
- Thế nào! rồi đây mày sẽ làm gì?
- Con không biết!
- Mày có ý định gì không?
- Không.
- Phải tiếp tục học cho xong.”
Tôi thấy không cần thiết.
Mẹ tôi đoán biết ý nghĩ thầm kín của tôi.
“Tao đánh cuộc, - phải, tao đánh cuộc! - là nó sẽ sẵn lòng để cho bao nhiêu hy sinh người ta chịu vì nó trở thành công cốc cả. Nó sẽ bằng lòng thôi học ngay đấy! Nó sẽ phá ngang!...”
Nào tôi thích thú gì cái đó, và nào cái đó giúp ích gì cho tôi!... (tôi có những suy nghĩ đó thì bao giờ cũng vẫn là ở trong thâm tâm tôi).
“Nhưng mày có trả lời tao không, - mẹ tôi kêu lên, - mày có trả lời tao không?
Mẹ muốn con trả lời cái gì mới được chứ?
Mày định làm gì! Mày có ý kiến gì, có cái gì ở trong đầu không? “
Tôi không đáp, nhưng tôi nghĩ thầm:
Phải, tôi có ý kiến và có cái gì đó ở trong đầu! Tôi có ý kiến là thời giờ để học tiếng La-tinh ấy, tiếng Hy-lạp ấy - những chuyện ba láp ấy! - là thời giờ vứt đi; trong đầu tôi có cái điều là tôi thấy mình đúng, ngay từ hồi còn bé, khi tôi muốn học lấy một nghề! Tôi sốt ruột muốn kiếm sống cho sớm và muốn tự túc!
Tôi đã ngán những nỗi đau khổ tôi phải chịu đựng và ngán cả những vui thú người ta cho tôi được hưởng. Thà tôi không được học hành mà không bị chửi mắng còn hơn. Tôi không muốn đi xem hát hôm thứ hai, để đến thứ ba người ta lại mắng tôi là đã đi xem hát; mẹ ạ, con cảm thấy con sẽ làm khổ mãi với mẹ, chừng nào mẹ có thể nói con làm tốn của mẹ mất một xu!...
Đó, những điều con nghĩ là thế đó, mẹ ạ.
Con còn có điều khác nữa cần nói với mẹ; - mặc dù không muốn, con vẫn nhớ tới ngày con bé nhỏ, con phải khổ vì những cơn giận dữ của mẹ. Đôi lúc trong người con khi qua những cơn thù oán, và mẹ có biết không, con chỉ được hả lòng, ngày nào con xa mẹ!...
Những ý nghĩ đó, tới một lúc, buột ra ngoài miệng tôi!
Mẹ tôi nghe thấy thì tái mặt đi.
“Vâng, con muốn vào một nhà máy, con muốn làm ở một xưởng thợ, con sẽ khuân hòm, lắp cửa, quét sân nhưng con sẽ học lấy một nghề. Con sẽ có năm phơrăng một ngày khi đã học được. Khi ấy con sẽ trả lại mẹ số tiền đi xem ở Hoàng-Cung, và ba xu cho bồi bàn...
- Mày định làm thầy mày phải tuyệt vọng đấy à, thằng khốn nạn!
- Xin mẹ đừng nói đến nỗi tuyệt vọng của thầy nữa! Điều con muốn, là không làm cái nghề của thầy con, nghề con chó thông thái! Con không muốn trở thành ngu như ông N..., ngu như ông D... Con ưng vận chiếc áo vét như chú Jôdếp, tới thứ bảy lĩnh lương, và ngày chủ nhật có quyền muốn đi đâu thi đi.”
“Và mày không muốn nhìn mặt chúng tao nữa, mày nói thế phỏng?”
Mẹ tôi đã quên tất cả những nỗi giận khác chạm đến lòng kiêu hãnh của mẹ tôi, làm hỏng các kế hoạch, làm rối ren cuộc sống của mẹ tôi, để chỉ nhớ có mỗi một câu, là câu tôi kêu lên rằng tôi không yêu thầy mẹ tôi, tôi không muốn nhìn mặt thầy mẹ tôi nữa!
Vẻ buồn bã của mẹ tôi làm tôi hết sức xúc động; tôi cầm lấy tay mẹ tôi.
“Mẹ khóc à?”
Mẹ tôi không nén được một tiếng nấc, và mẹ tôi lả đầu vào hai bàn tay với một cử chỉ buồn bã làm sao, như tôi đã trông thấy trên các bức tranh ở nhà thờ...
Khi mẹ tôi ngảnh mặt lên, tôi không nhận ra mẹ tôi nữa: trên gương mặt người đàn bà nông thôn ấy, có tất cả chất thơ của đau khổ; mặt mẹ tôi trắng bệch như một bà quý phái, với những giọt lệ như hạt ngọc trong khóe mắt.
“Con xin lỗi mẹ!”
Mẹ tôi cầm lấy tay tôi. Tôi xin lỗi mẹ tôi một lần nữa.
“Mẹ không có gì để tha lỗi con cả... Mẹ chỉ xin con, con thấy không, từ rày đừng nói với mẹ những lời tàn tệ ấy nữa”
Mẹ tôi hạ thấp giọng và thì thào;
“ Nhất là nếu quả thật mẹ đáng trách, con ạ...
- Không, không, tôi nói qua nước mắt. Cũng có lẽ thế thật mẹ tôi nói. Tối nay mẹ muốn ở nhà một mình, con có thề đi chơi... Để mẹ yên. Để mẹ yên.”
Mẹ tôi bảo người ta đưa chìa khóa cho tôi - “để nó có thể đi chơi đến nửa đêm”, mẹ tôi nói với ông Môlay, chủ nhà.
Tôi đi theo con đường đầu tiên mở ra trước mặt tôi, tôi lạc vào trong một phố vắng, và suốt buổi tối tôi suy nghĩ về những lời lẽ cảm động nó vừa mới xóa đi bao nhiêu lời tàn tệ và cử chỉ độc ác...
“ Jắc? con có muốn tiếp tục đi học để cho thầy mẹ vui lòng không?
- Có, mẹ ạ.”
Từ hôm ấy, tôi toàn gọi mẹ bằng tiếng “mẹ” âu yếm cho tới khi mẹ tôi chết.
“Ôi chao! con làm mẹ vui lòng! Mẹ cảm ơn con! Con thấy không! Mẹ sẽ khổ biết mấy, nếu thấy con đã học hết các lớp rồi mà lại dừng lại trước khi tới đích. Chính vì nghĩ đến thầy con mà chuyện đó đã làm mẹ buồn phiền. Con sẽ làm thầy con vui lòng, con sẽ đỗ tủ tài, rồi sau đó... Sau đó con muốn làm gì thì tùy con... bởi vì con thấy khổ nếu phải làm theo ý muốn của thầy mẹ...”
Hôm sau, sau ngày mẹ tôi khóc, đã quyết định là từ nay sẽ không nói đến chuyện Trường sư phạm nữa, và tôi chỉ chuẩn bị thi tú tài thôi.
Tôi đã ưng thuận, sung sướng vì lời hứa đó và sự hy sinh đó đã lau được nước mắt của người đàn bà tội nghiệp!
Me tôi không nói với tôi như xưa nữa.
Mẹ tôi mới nghiêm trang làm sao, và rất sợ làm phật ý tôi!
“ Mẹ đã làm khổ con nhiều về những cái lố lăng của mẹ, phải không?”
Mẹ tôi cảm động nói thêm:
“ Bây giờ thì đến lượt con trách mẹ. Trước hết con sẽ được học bổng. Con đừng nói là không, mẹ muốn thế, nhất định thế. Và rồi mẹ là một bà già, lúc nào cùng ở bên mẹ chắc con phát chán. Mẹ rất có thể ở nhà chuyện trò với bà Môlây được. Bà ấy có thể thay con dẫn mẹ đi xem các cảnh đẹp được lắm. Mẹ muốn ít ra con cũng có những tối vui của con. Con hãy đi gặp bạn bè của con; con hãy đến chơi nhà Matútxanh.”
Tôi gặp lại Matútxanh trong một căn buồng ở xóm La-tinh, nơi anh ở với một người lớn hơn anh mười tuổi, một người Jacôbanh[92] và thường viết cho một tờ báo cộng hòa. Ông đang soạn một cuốn sử về thời kỳ Quốc ước[93].
Ông đọc cho Matútxanh viết.
Họ đang trò chuyện với nhau, vẻ nghiêm trang. Họ đón tiếp tôi vồn vã, nhưng rồi họ lại tiếp tục câu chuyện.
Những câu họ nói nghe như tiếng sắt thép:
“Một nhà bảo phải đồng thời là một chiến sĩ.” -”Phải có một thanh gươm ở bên ngòi bút” - “Sẵn sàng nhỏ máu vào nghiên mực” - “Có những giờ phút nghiêm trọng trong cuộc đời các dân tộc.”
Matútxanh và ông bạn nhà báo của anh, như chúng tôi gọi ông ta, cho tôi mượn những quyển sách mà tôi đem đi hôm thứ năm. Tới chủ nhật sau, tôi không còn là tôi nữa.
Tôi đã đi vào lịch sử cuộc Cách mạng.
Người ta vừa mở ra trước mặt tôi một quyển sách trong đó có nói về bần cùng và đói khát, trong đó tôi thấy diễu qua những bộ mặt làm tôi nhớ đến chú Jôdép hoặc chú Sađơna, những người thợ mộc với chiếc compa mở rộng ra làm vũ khí, và những nông dân cầm chĩa sắt có vấy máu ở đầu răng.
Có những phụ nữ đi tấn công Vécxay, vừa đi vừa hét lên là bà Vêtô[94] làm nhân dân đói; và ngọn giáo có xiên ổ bánh mì đen - một lá cờ - đâm thủng các trang sách và chọc vào mắt tôi.
Chính vì thấy rằng họ là những người bình thường như ông bà tôi, và có những bàn tay chằng chịt sẹo như các chú bác tôi; chính vì thấy những phụ nữ giống nhau như những người đàn bà nghèo khổ mà chúng ta cho một xu ở ngoài phố, và trông thấy cùng đi với họ có những đứa bé mà họ nắm cổ tay dắt đi; chính vì nghe thấy họ nói như tất cả mọi người, như bác Fabrơ, như mẹ Vanhxăng, như tôi; chính những cái đó đã tác động đến tôi, và làm tôi xao xuyến từ gan bàn chân tới đầu ngọn tóc.
Lần này thì không còn là tiếng La-tinh nữa. Họ nói: “Chúng tôi đói! Chúng tôi muốn tự do!”
Tôi đã ăn thử bánh mì quá cay đắng ở gia đình nhà tôi, tôi đã bị hành hạ quá nhiều ở nhà nên những tiếng kêu đó không thể không thể làm kinh động trái tim tôi.
Rồi trong tưởng tượng tôi xé toạc những bộ quần áo may quá xấu tôi vẫn phải mặc, và bao giờ cũng làm mọi người cười; tôi thay tất cả bằng bộ đồng phục của bọn áo xanh[95] tôi chui vào những bộ đồ rách rưới của những người ở Xămbrơ và Mơdơ.
Không còn bị mẹ, cha đánh đòn nữa, mà bị kẻ thù xử bắn, và chết như Bara[96]. Nhân dân muôn năm!
Chính những bà con đeo tạp-dề da, khoác áo thợ và mặc quần vá, là nhân dân trong những quyển sách người ta vừa cho tôi mượn và tôi chỉ yêu những người ấy thôi vì chỉ có những người nghèo đối xử tốt với tôi, hồi tôi còn bé.
Bây giờ tôi nhớ lại những lời mà tôi đã nghe thấy trong những tối thức khuya, những bài hát mà tôi đã nghe, thấy trên đồng ruộng, những tên Rôbexpie hoặc Buônapactơ ở những điệp khúc bằng tiếng địa phương; và một cụ già, già lắm với bộ tóc bạc phơ, sống một thân một mình ở đầu làng mà người ta gọi là ông cụ điên. Một đôi khi cự chụp lên mái đầu bạc một chiếc mũ trùm đầu đỏ, và nhìn đăm đăm vào đống tro tàn.
Tôi nhớ tới cái nhà ông mà người ta gọi là tên xăngquylốt[97], và là người không dung được bọn thầy tu. Ông ta đã bước ra khỏi nhà hôm bà vợ ông, trước khi chết, đã gọi đến đức Chúa lòng lành.
Tôi cũng nhớ tới những cử chỉ mà người ta đã làm trước mặt tôi, vừa vỗ vào báng súng, hoặc vừa chĩa nòng, với cái nhìn tức giận, về phía lâu đài.
Và tất cả máu huyết của đứa con một người mẹ nông dân, đứa cháu của những người thợ, chồm lên trong mạch máu một người thông thái có học thức mặc dù tôi không muốn là có học thức bất đắc dĩ!
Tôi ngứa ngáy muốn viết thư cho chú Jôdép và chú Sađơna... “Chú hãy tin rằng cháu không quên các chú, rằng cháu thích ở với các chú, ở bên cái cầy hoặc ở bên chuồng bò, hơn là ở nhà nói tiếng La-tinh. Nhưng nếu các chú đi đánh bọn quý tộc, các chú nhớ gọi cháu!”
“Ít lâu nay, con có vẻ phấn chấn thế”, mẹ tôi hỏi.
Đúng vậy - tôi đã nhảy từ một thế giới chết sang một thế giới sống. - Cuốn lịch sử mà tôi đang đọc ngấu nghiến, không phải là lịch sử thần thánh, vua chúa, - đây là lịch sử của Pie và của Jăng, của Matuyrin và Flôrimông, lịch sử của nước tôi, lịch sử của làng tôi; có nước mắt của người nghèo, máu của người nổi loạn, nỗi khổ của họ hàng thân thích tôi trong các tập biên niên sử đó, viết bằng một thứ mực còn chưa khô hẳn.
Tôi say sưa lợi dụng sự tự do mà mẹ tôi để cho tôi! Ngày nào tôi cũng tới phố Jacôp để thả lòng vào những quyển sách ở đấy, hoặc để nghe ông nhà báo nói về lá cờ cộng hòa đã phất trên các mặt cầu, và được các binh đoàn bảo vệ với tiếng thét: “Tổ quốc muôn năm! - Đả đảo các vua chúa!- Tự do hay là chết”
Được tự do? Tôi không biết nó là thế nào, nhưng tôi biết thế nào là làm nạn nhân, tôi biết, mặc dù tôi còn non trẻ.
Một đôi khi cùng với Matútxanh chúng tôi tưởng tượng là chúng tôi đang chiến đấu, và mỗi đứa mơ mộng theo kiểu của mình.
Anh ta thì muốn đội mũ của Xanh-Juxt khi ở quân đội, đeo ngù vai vàng và thắt lưng tam tài to bản.
Tôi thì tôi mơ thấy tôi đóng thượng sĩ, tôi nói: Tiến lên! Hỡi anh em! Mọi người đều cùng quê với nhau, cùng quây quần xung quanh một ngọn lửa trại đóng quân, và trò chuyện về vùng Loa-thượng.
Tôi mơ ngù vai bằng len, giải đeo gươm bằng dây nhỏ.
Tôi muốn ở trung đoàn vùng Môden. Với dân cày và thợ thuyền. Chú Jôdép sẽ là đại úy và chú Sađơna, trung úy.
Chúng tôi sẽ về làm nghề thợ mộc, hoặc gặt lúa “sau ngày thắng lợi”.
PHỐ CỐC-HÊRÔNG
Một tối ông nhà báo dẫn chúng tôi tới nhà in, ở trong tầng dưới tối om, nơi người ta in báo; ông là bạn thân của một người thợ.
Máy in quay tròn, ngốn những tờ giấy vào và nhả những tờ giấy ra, dây cua-roa kêu vo vo. Có mùi nhựa thông và mùi mực ướt.
Ngửi cũng thấy thú như mùi phân ủ. Cũng thấy ấm như trong chuồng bò. Những người thợ vận sơ-mi trần, đội mũ gấp bằng giấy. Có những hiệu lệnh chỉ huy như trên một con tầu gặp nạn. Người thợ đặt giấy, như một chú thủy thủ, nhìn người thợ cả, trông coi như một viên thuyền trưởng.
Một máy in bị gẫy. - Ô này! - Ô!
Người ta hãm máy lại và, năm phút sau, con vật bằng gỗ và bằng sắt lại thở phì phò.
Tôi đã tìm thấy cái nghề thích hợp với tôi..
Tôi cũng sẽ có áo thợ xanh và chiếc mũ bằng giấy xám, tôi sẽ ấn tay lên trên chiếc bánh xe ấy cho quay mạnh những chiếc trục ấy, tôi sẽ thở hít hương vị ấy, - thật là say sưa, đúng! như rượu vang mạnh.
Thợ sắp chữ chăng! Không. - Thợ in, tốt lắm! Một nghề thật là đẹp, được nghe thấy máy hoạt động và rền rĩ, và tới một lúc mọi người đều xúc động như trong một trận đánh.
Phải khỏe, - cử động phải khoáng đạt. Có sắt, có tiếng động, tôi thích thế. Người ta kiếm sống, và được đọc báo trước mọi người.
Tôi không nói với ai chuyện đó; tôi giữ kín ý định của tôi! Tôi cảm thấy im lặng là một sức mạnh, khi điều mình muốn là điều những người khác không muốn. Tôi sẽ không nói gì hết, nhưng tôi vui sướng làm sao!
Có một chút kiêu hãnh độc ác trong niềm vui đó.
Tôi nghĩ là tôi hơn hẳn những thằng bạn đang sống một cuộc đời lang thang! - khỏi phải nói - vì chúng không có công việc chắc chắn; còn như tôi muốn sao thì sao, tôi kiếm được mỗi ngày năm phơrăng, mà chỉ phải mỏi có hai cánh tay thôi.
Tôi sẽ không phụ thuộc vào ai cả, và ban đêm tôi sẽ đọc sách, ngày chủ nhật tôi sẽ viết. - tôi sẽ tham gia một hội kín, nếu tôi muốn. - Tôi muốn ăn thì đi ăn, và tôi còn có thể tặng một cái gì cho tù chính trị hoặc mua vũ khí...
Sống trong lao động chết trong chiến đấu!
“Jắc, mẹ nhận được thư của thầy con, thầy con quyết định mẹ con mình sẽ trở về Năngtơ để con chuẩn bị thi tú tài ở bên cạnh thầy con.”
Tôi không còn nghĩ tới chuyện đó nữa. Tôi đã chìm ngập vào trong cách mạng đến tận cổ, và bây giờ tôi yêu Pari. Cái nhà in ấy!... Hơn nữa chúng tôi đã tới ăn cơm thường tại những quán nhỏ bán thức ăn nhẹ, nơi lui tới của những người thợ đã từng có chân trong các hội Mùa, và đã dính dáng vào các vụ nổi loạn.
Áo thợ và áo rơđanhgốt cùng ngồi một bàn, và mọi người chạm cốc.
Ngày chủ nhật, chúng tôi tới những quán ca nhạc, quán Gảy đàn thất huyền hoặc quán Đàn tỳ bà, tôi không còn nhớ rõ nữa.
Tôi hơi thấy chán khi người ta hát những bài khôi hài; nhưng thình lình có người nói: “Fextô đấy, Gilơ đấy.” Và tôi như nghe thấy ở xa xa có tiếng trống cộng hòa trầm đục, rồi tiếng trống rõ lên, Gilơ cất tiếng hát, và bản nhạc đó như nhằm vào trái tim tôi.
Tuy nhiên tôi không biết có phải là so với những bài hát nói về những người đi chiến đấu và hy sinh, tôi thích những bài hát của người đập lúa hoặc người thợ rèn hơn, do một người thợ máy, nom hiền lành như cừu non nhưng khỏe như bò mộng, hát lên oang oang. Người đó nói về cái chất thơ của xưởng thợ, - tiếng ầm ầm và lửa hồng, - người đó nói về người nội trợ bảo chồng: “Anh hãy gắng lên, - hãy cố làm việc, - ấy là vì con chúng ta. “
Tới một lúc, người ca sĩ hạ thấp giọng xuống. “Đóng cửa sổ lại “, có ai nói. Và mọi người chào ở điệp khúc:
Lá cờ mà nhân dân đã phất ở Xanh-Mery!
Có tinh thần nổi loạn trong những vần thơ. - Ít ra thì cũng là tôi gán vào, chính tôi, kẻ hôm qua đã mở cuốn Sử mười năm, tôi không còn ở Thời kỳ năm 93 nữa. Tôi đang ở thời kỳ Lyông, với lá cờ đen. Những người thợ dệt nổi giận, và họ thét lên: Bánh mỳ hay là đạn!
“Jắc, đến thứ hai mẹ con mình sẽ về Năngtơ.”
Một nhát dao đâm cũng không làm tôi đau đớn hơn.
Một tháng trước đây, tôi sẽ vui lòng ra đi, và có thể khi ra khỏi cửa ô tôi còn khạc nhổ lên Pari nữa là khác, vì tôi đã bị ngạt thở trong thành phố đó không biết chừng nào, tôi đã thất vọng không biết chừng nào khi trông thấy bạn bè và thầy giáo.
Nhưng từ một tháng nay, đã có nước mắt của mẹ tôi, và sau ngày xảy ra chuyện đó, là tự do hoàn toàn; thỉnh thoảng tôi lại được bốn hào, để chén một chút thịt lợn với các bạn thân, và ngày chủ nhật, ăn thịt bò hầm ở quán Ramponnô.
Tôi đã hòa mình vào đám đông, tôi đã nghe thấy họ cười nói bằng thứ tiếng Pháp bồi nhưng cười thẳng thắn. Tôi đã nghe nói về nhân dân và công nhân, người ta nói Libéctê chứ không nói Libéctax.
Quanh tôi bao giờ cũng là chuyện nghèo khổ; thầy tôi đã bị sỉ nhục vì nghèo, tôi cũng đã bị như thế, và giờ đây thay vào những diễn từ của Catông, của Xixêrông, thay vào những người tên toàn những ô, ônix, ux, i, ôrom, tôi thấy người ta tụ tập trên quảng trường để bàn cãi về sự cùng khổ và đòi có công ăn việc làm hoặc là chết.
“Này! Jăng-Mari, ở nhà không có bánh mì thì chẳng thà quên phắt đi vị bánh mì đi, có hơn không?”
Quay về Năngtơ ư?
Tôi sẽ nói chuyện về nền Cộng hòa và chuyện nổi loạn với ai?
Xưa nay có nổi loạn ở Năngtơ đâu? Ở Lyông thì lại khác!
Ồ! nếu tôi đã không hứa với mẹ tôi! - nếu mẹ tôi đã không khóc!
Nếu mẹ tôi đã không khóc, tôi sẽ nói: “Con không muốn về”. Ông nhà báo thanh bạch sẽ đưa tôi vào làm chân chạy giấy, làm lao công, trong một tòa báo. Vừa hay (thật là may!), có một chỗ làm trong tòa báo Quốc gia; người ta trả ba mươi phơrăng một tháng để giữ nguyên-cảo, để đọc cho người chữa bản in. Tôi sẽ sống với ba mươi phơrăng đó. Công việc xong xuôi, tôi sẽ xuống nhà in để ngửi mùi giấy mực, và nhờ anh em thợ truyền nghề cho tôi.
Hay tôi cứ nói chuyện ấy với mẹ tôi?
Tôi nói với mẹ tôi về chuyện đó.
“Nhưng con đã nói với mẹ...
- Vâng, đúng vậy.”
Tôi tới từ biệt ông nhà báo và Matútxanh.
Ông nhà báo an ủi tôi.
“Rồi anh sẽ trở lại đây, anh bạn thân mến ạ.
- Ít nhất ông cũng viết thư cho tôi nhé!
- Được rồi. Ngay cả trường hợp, ông vừa nói vừa mỉm cười, gọi anh đi tấn công điện Êlydê.
Nhất là trong trường hợp đó, công dân ạ!”
 
 
*
 
 
 

 
 
XXV. GIẢI PHÓNG
 
 
Tai họa đã xảy ra.
Thỉnh thoảng tôi đi chơi tối, - tuy là rất hiếm khi đi. Tôi sẽ nói gì với những người mà tôi gặp? Tôi không có xu nào để đi tiệm cà-phê nơi các học sinh thường đến. Tôi không muốn để cho người khác đãi tôi mà tôi không thết lại được: tôi nghèo quá không làm được như vậy. Chỉ khi nào có tiền trong túi tôi mới nhận lời mời, vì tôi cảm thấy không phải người ta bố thí cho tôi, và đến lượt tôi, tôi cũng sẽ có thể mời lại được.
Nhưng đã lâu nay tôi không có gì nữa - dù chỉ là một xu.
Tôi đã kiếm được một ít tiền với số sách được thưởng của tôi.
Cuốn Thơ thế kỷ mười sáu của Xanhtơ - Bơvơ, một tập Bốtxuyê, và các tác phẩm của Victo Cudanh.
Mẹ tôi, thấy năm phơrăng trong túi tôi, đã hỏi tôi lấy số tiền đó ở đâu. Mẹ tôi có vẻ ngờ rằng đấy là kết quả của một vụ ăn cắp hoặc giết người nào. “Nó sẽ bị những lời xúi giục xấu tôi kéo. Chính những lời xúi giục xấu thường làm hỏng đám thanh niên.”
Ai xúi giục tôi? - Bạn bè ư? tôi già hơn chúng, dù chúng bằng tuổi tôi. Chúng đã không bị đánh nhiều bằng tôi. Chúng đã không biết lão Lơnhanha và ngôi nhà câm lặng.-Những ông già ư? bạn đồng sự của thầy tôi chăng? Họ giật gấu vá vai kiếm sống đã đủ bận rồi, hơn nữa họ chỉ biết những cái gì xảy ra với cổ nhân thôi, và không có thì giở - vì phải đi dậy tư - để xem xét những gì xảy ra xung quanh họ.
Tôi nói với mẹ tôi biết năm phơrăng đó ở đâu ra.
Mẹ tôi giơ hai tay lên trời.
“Con đã bán sách phần thưởng của con đi à, Jắc!...” Sao lại không? Nếu tôi có cái gì là của riêng tôi, thì chính là những quyển sách đó, chứ còn gì nữa! Tôi sẽ giữ những sách đó lại, nếu tôi thấy trong sách có ghi bánh mì đánh giá bao nhiêu và cách kiếm bánh mì như thế nào. Tôi chỉ thấy trong đó toàn những chuyện của thế giới bên kia! - còn như với số tiền bán sách tôi đã có thể mua được một chiếc ca-vát trông không đến nỗi lố bịch, và còn đi uống được một cốc cà-phê pha rượu ở quán Nghìn-Cột nữa. Tôi đến quán đó đọc tờ báo Pari, còn thơm mùi mực in, khi người đưa thư đem tới.
Nhưng một tối, tôi chạm trán thầy tối đang đi qua đấy. Thầy tôi đã chửi tôi bằng lời nói, một cử chỉ.
“Mày đấy à, thằng ăn không ngồi rồi kia?”
Và thầy tôi đi thẳng.
Ăn không ngồi rồi? - Chà! tôi không muốn chạy theo thầy tôi và hỏi xem tại sao thầy tôi đã không nhìn thẳng vào mặt tôi mà lại rít răng để văng ra những lời làm tôi đau đớn ấy!
Ăn không ngồi rồi! - Vì rằng, trong cảnh im lặng giá lạnh của ngôi nhà, việc học thi tú tài và sự cặm cụi trên những người đã chết đó làm tôi phát chán, vì tôi thấy những trận chiến đấu của người La-mã còn không gay go bằng những trận chiến đấu của tôi, và tôi tự cảm thấy mình buồn rầu hơn cả Côriêlăng! Ồ! không nên gọi tôi là đứa ăn không ngồi rồi!
Ăn không ngồi rồi!
Nếu thầy tôi là người khác, tôi sẽ đi đến chỗ thầy tôi, nói rằng:
“Con thề với thầy là con sẽ học, chăm học, nhưng thầy đừng nên có thái độ độc ác đó với con nữa!”
Thầy tôi sẽ gạt tống tôi ra như gạt một thằng nói dối. Tôi đã thấy rõ điều đó từ hồi tôi còn nhỏ tuổi hơn bây giờ.
Một vài lần, lúc thầy tôi sắp làm nhục hoặc đánh đập tôi, tôi đã hứa là nếu thầy tôi tha cho tôi, tôi sẽ giữ bất cứ lời hứa nào mà thầy tôi muốn. Thầy tôi đã coi khinh những lời cam kết của tôi, và dù còn bé bỏng, tôi đã oán giận thầy tôi vì kém tin tưởng vào sự can đảm của đứa con đến thế.
Hôm nay nữa, thầy tôi cũng sẽ cười vào mũi tôi và tin rằng tôi hèn!
Thôi được! tôi sẽ sống bên cạnh thầy tôi như bên một người gác ngục, và tôi cứ việc học! nhất quyết như thế rồi.
Nhưng tối hôm sau, mẹ tôi hết sức sợ hãi tới báo cho tôi biết là thầy tôi không muốn cho tôi đi chơi và lang thang tới các tiệm cà-phê như một thằng ma-cà-bông nữa. Phải về trước tám giờ, không thì tôi sẽ phải ngủ ở đường.
Tôi đã ngủ ở ngoài đường.
Phải giết thời gian cả một đêm, quả thật là dài, và khoảng hai giờ sáng, trời lại đổ mưa. Tôi bị ướt thấu xương, hai chân lạnh cóng, và tôi núp vào dưới các mái hiên. Tôi lại còn sợ cảnh sát nữa! Tôi lượn đi lượn lại quanh nhà. Lúc mười giờ, cửa nhà đã đóng chặt, theo đúng lời hăm dọa. Tôi thấy chốt cửa đã cài.
Ngày mai nữa, tôi sẽ lại thấy chốt cửa đã cài, nếu thầy tôi cũng can đảm bằng tôi.
Tôi không muốn lang thang ngoài phố. Tôi thích ở trong buồng tôi hơn, nhưng người ta đã có vẻ như dọa tôi. Tôi không muốn tỏ ra là mình sợ, và tôi rét run lẩy bẩy, hai hàm răng đánh lập cập.
Trời mới rét làm sao, lúc mặt trời mọc!
Tôi chỉ về nhà khi thầy tôi đã ở trường, khoảng tám giờ rưỡi sáng.
Thầy tôi chưa đi. Từ cái buổi ầm ĩ đẫm máu với mẹ tôi, đây là lần đầu tiên thầy tôi không đi dạy học.
Thầy tôi đã nhìn thấy tôi và đang chờ tôi chăng? Thầy tôi vì uất giận chăng?
Tôi vừa đẩy cửa thì thầy tôi đã nhẩy xổ vào tôi. Sắc mặt thầy tôi trắng bệch như người chết rồi.
“Thằng khốn nạn, - thầy tôi nói, - tao sẽ đánh tay què chân mày!”
Trong nhà, một giờ sau
“Có chuyện gì vậy?
- À con nhà Vanhtrax, nó định giết chết bố nó đấy!”
Tôi không định giết chết thầy tôi. Chính thầy tôi đang muốn đánh què tôi; thầy tôi nhắc lại:
“Tao sẽ đánh cho mày què tay què chân.”
Không! Thầy không đánh què tay què chân ai được. Ồ! con không đánh trả lại đâu! Nhưng thầy đừng đụng đến người con. Muộn quá rồi; con đã lớn quá rồi.
BỎ TAY XUỐNG! KHÔNG ĐỪNG TRÁCH!
Nửa đêm.
Thầy tôi sẽ cho cảnh sát bắt tôi, nhất định thế.
Ngày mai sẽ ngồi tù, như một tên tội phạm.
Đời tôi sẽ là một cuộc đời vật lộn. Ấy là số mệnh của những cuộc đời nào bắt đầu như thế. Tôi cảm thấy rõ điều đó.
Tôi chỉ ngồi tù một tuần thôi, không hơn, là đủ để bị mọi người vạch mặt chỉ tên rất lâu ở cái tỉnh lẻ này.
Tôi hầu như có ý kết liễu đời tôi.
Tuy nhiên, nếu đêm nay tôi tự sát thì hóa ra thầy tôi sẽ là người giết tôi!
Mà tôi đã làm gì nên tội? những lỗi về số nhiều và về văn phạm, tất cả chỉ có thế thôi. Rồi thì, theo một lời mách bảo sai, tôi đã nói là có tám năng tính của linh hồn trong khi chỉ có bảy. - Vì thế mà tôi sẽ tự treo cổ vào cửa sổ kia ư?
Tôi không có gì để tự trách mình.
Tôi cũng không bị lương tâm cắn rứt vì ăn cắp dù chỉ một hòn bi. Một lần thầy tôi cho tôi ba hào để mua một quyển vở giá hai hào chín; tôi giữ lại đồng xu còn thừa. Đấy là vụ ăn cắp duy nhất của tôi. Tôi chưa bao giờ mách lẻo, ồ! không! cũng không hề lùi bao giờ lúc cần phải đánh nhau.
Giá như ở Pari thì còn đi một nhẽ! Ở nhà tù ra, dù sao mọi người vẫn bắt tay tôi. Ở đây, đừng hòng!
Thôi được! qua hết thời gian tù tội ở đây, sau đó tôi sẽ đi Pari; và khi nào ở đó, tôi sẽ không giấu diếm tôi đã ngồi tù, tôi sẽ nói to điều đó lên! Tôi sẽ bênh vực các Quyền của trẻ em, như những người khác đã bênh vực Quyền của con người.
Tôi sẽ hỏi xem là các bậc làm cha có quyền sinh quyền sát tự do đối với thân thể và tâm hồn con cái họ không; ông Vanhtrax có quyền hành hạ tôi vì tôi đã sợ một cái nghề khốn khổ, và ông Bécgunha còn có thể đánh vỡ ngực một cô Luidét nữa không.
Pari! ôi chao! tôi yêu Pari!
Tôi mường tượng thấy nhà in và tờ bảo, quyền tự do được tự bênh vực, mối thiện cảm đối với những người nổi loạn.
Ý nghĩ về Pari hôm đó đã cứu tôi thoát khỏi sợi dây thắt cổ. Tôi đã mân mê chiếc ca-vát.
Lại những tiếng kêu, những tiếng thét! Chuyện xẩy ra hai ngày hôm sau.
Mẹ tôi hãi hùng chạy vào buồng tôi.
“Jắc, ra đây, ra đây! “
Người ta đang chửi thầy tôi. Mấy hôm trước, thầy tôi đã đánh một học sinh, và thế là trong căn nhà hôm qua thầy tôi đã suýt giết chết tôi, phụ huynh của đứa bé bị đòn tới để đòi một sự bồi thường. Người ta muốn ông Vanhtrax phải xin lỗi; và vì ông Vanhtrax ấp a ấp úng, người ta đã gí một quả đấm vào mũi ông,
Họ có hai người, bố và anh cả đứa bé, một già một trẻ.
“Chuyện gì thế?
- Chuyện là, - anh chàng trai trẻ nói, - thầy anh đã dám tát em tôi. Nếu thầy anh không ốm ho vàng vọt như thế, tôi sẽ tát vào mặt thầy anh.
- Đồ khốn nạn!”
Tôi tóm lấy ngang người nó. Ồ! nó chẳng nặng gì! Và lão già cũng vậy. Cút ngay ra cửa, cút! Chỉ một chút nữa là chúng tan xác.
Chúng làm người xúm đông lại ở trong phố.
“Mày có giỏi ra đây, - thằng anh thét lớn, miệng sùi bọt.
- Đây! tao ra đây!”
Người ta chật vật lắm mới can được tôi với nó. Nó mười tám tuổi là một thằng học trò võ bị Xanh-Xia, nó gan dạ, nhưng tôi đã hạ nó. Tôi tóm lấy nó như tôi đã thấy chú Sađơna tóm lợn. Bây giờ nó đã nằm sóng soài trên mặt đất, tôi không muốn đánh nó đau thêm nữa. Có điều là nó vẫn còn cựa quậy. Người ta kéo tóc tôi.
Người ta vừa mới gỡ nó thoát khỏi tay tôi, nó đã ném ra một lời thách đấu trước đám đông.
“Nếu là đấu gươm, mày chẳng làm phách được như thế. Kiếm mới là võ khí sở trường của tao”, và nó hoa chân múa tay, khoác lác!...
Thằng ngu!
“Này, Mátxiông, mày đến bảo hộ tao nếu nó không câm mồm đi, tao sẽ lại đánh cho nó tan xác, nhưng nếu nó im, tao sẽ đấu gươm với nó?”
Bãi Môvơ, 7 giờ sáng.
Việc đó đã được thu xếp không một ai trong gia đình tôi hay biết gì cả. Thậm chí cả trường trung học bàn tán về chuyện đó, nhưng thầy tôi bị sốt nằm liệt giường - thầy thuốc lại còn ra lệnh là phải để cho thầy tôi nằm yên, - thành thử tôi được tự do.
Tôi đã tìm được những người làm chứng: tất cả những bạn học cũ của tôi có tí ria mép, và muốn vào trường Xanh-Xia hoặc vào trường Hải quân, đều xin làm việc đó.
“Anh còn trẻ quá, một người đã dự vào việc thương thuyết nói.
- Tôi mười tám tuổi”
Tôi chỉ nói tăng lên hai tuổi, có thế thôi.
Người ta khẽ hỏi nhau là, tới phút cuối cùng, liệu tôi có đánh bài chuồn trước Xanh-Xia không.
Họ không biết rằng cuộc đời đã làm phiền tôi, một cuộc đấu gươm thì cũng như một chiếc áo choàng mới không do mẹ tôi chọn, vả đây là lần đầu tiên tôi hành động như người lớn. Là vì tôi rất muốn thế; mẹ kiếp! Nếu thằng Xanh-Xia không muốn nữa, tôi sẽ buộc nó phải đấu.
Nhưng dù sao tôi cũng bị cảm động! Có lẽ tôi sẽ có vẻ vụng về lắm chăng? Nhưng tôi sẽ để nó giết tôi tức khắc nếu có ai cười.
Chúng tôi đứng trên bãi đấu.
“Tiến lên, các vị!”
Những người làm chứng còn lo lắng hơn cả chúng tôi, hơn nữa họ sợ làm sai thủ tục.
Vậy ra tên kia không dám xông vào à?... Nó chỉ chạm gươm, rồi nhẩy lùi ngay lại một bước, và để mặc tôi đấy.
Tôi có vẻ một con chó lạc mất chủ.
Nó không xông tới, tôi tiến lên.
Tiếng thét của ông thầy thuốc!
“Sao vậy?
- Anh bị thương rồi.
- Tôi à?
- Đùi anh đầm đìa những máu kia kìa.
Tôi chẳng thấy gì hết.
“Bắt đầu lại, bắt đầu lại!”
Và ngỡ rằng nhảy lùi về đằng sau như tên kia đã làm là đúng kiểu, tôi liền nhảy lùi lại.
“ Ờ, làm gì mà như một thằng múa rối thế!” ông thầy thuốc nói.
Cuối cùng người ta dẫn tôi đến với nó. Tôi vẫn chưa hiểu tại sao.
“Bắp đùi bị xiên thủng!
- Thật à?
- Mười lăm ngày không được đi lại!”
Ồ! tôi cũng chẳng có nơi nào mà đi lại!
Vậy là tôi đã bị thương, hình như thế. Quả vậy, có máu chảy.
Tên Xanh Xia bắt tay tôi, nói: “Tôi rất lấy làm tiếc...”
Tôi thì tôi chẳng tiếc gì hết. Tất cả chỉ mất có một khắc đồng hồ, và tôi chẳng thấy làm sao cả ví như dí sắt nung vào chiếc chân gỗ.
Ban sáng, tôi đã để lại cho mẹ tôi mấy chữ: “Con đến chơi nhà một người bạn”.
Mẹ tôi lại còn nhận xét:
“Trong khi bố ốm, thế là không tốt.”
Tôi đi xe ngựa về nhà. Phải có tiền để trả tiền xe mà tôi lại không có tiền. Tới nhà, tôi phải xin mẹ tôi ba hào, mẹ tôi ngỡ là tôi điên.
“Bây giờ nó lại đi xe ngựa nữa chứ!.”
Cầu thang tối om.
Tôi vừa leo cầu thang, vừa nắm lấy đùi, không nói gì cả, và, lấy cớ là bị nhức đầu (người ta ngỡ tôi say rượu), tôi chui vào giường nằm.
Nhưng một bà hàng xóm, - tôi vừa mới chui vào chăn xong. - đã kể lại tất cả đầu đuôi câu chuyện với mẹ tôi. Mẹ tôi rời khỏi đầu giường của chồng để tới bên đầu giường tôi.
“Jắc, con đã đi đấu gươm đấy ư!
- Sức khỏe thầy con ra sao?.”

Từ sáng hôm nay, thầy tôi nằm trong căn buồng bên cạnh buồng tôi. Thầy thuốc nhận xét rằng ở đấy thoáng khí hơn. Mẹ tôi quay về buồng thầy tôi.
Tôi không nghe rõ lắm những điều thầy mẹ tôi nói, nhưng hai người đang nói về tôi, mẹ tôi kể lại đầu đuôi câu chuyện. Tôi nghe lõm bõm từng mẩu.
Tiếng động ở cầu thang im hẳn và tôi nghe rõ hết.
Thầy tôi nói, giọng xúc động:
“Phải, khi nào khỏi, nó sẽ đi.
- Đi Pari à?
- Đi Pari - Nó không bị thương nặng lắm, phải không?! Không việc gì cả chứ?
- Tôi đã nói với ông là không sao mà.”
Im lặng một lúc.
“Chính vì tôi mà nó đi đấu gươm... Sau câu chuyện xảy ra ngày hôm qua!...”
Hình như giọng thầy tôi run run.
“ Phải, phải... tôi với nó ở xa nhau thì hơn. Ở xa nhau khỏi xảy ra cãi cọ. Ở gần, nó sẽ ghét tôi!...”. Có lẽ nó đã ghét tôi rồi đấy! Nhưng tôi làm thế nào được! Nghề giáo sư này đã biến tôi thành một con vật già nua cần phải làm ra vẻ độc ác, và rồi đâm ra độc ác thật, vì cứ phải ra sức làm ông ba bị và trợn mắt trợn mũi mãi…Cái đó làm cho trái tim người ta thành chai lại... Người ta đâm ra độc ác... Tôi đã độc ác...
- Cũng như tôi, mẹ tôi nói... Nhưng một hôm ở Pari, tôi đã nói với nó, và tôi gần như đã xin lỗi nó, và giá ông trông thấy nó đã khóc đến thế nào!
- Bà thì bà đã biết nói với nó, tôi thì không biết làm. Tôi sợ làm thương tổn đến kỷ luật. Tôi sợ bọn học sinh, tôi muốn nói là sợ con trai tôi nó cười tôi. Tôi đã làm giám thị, và cái đó còn lưu lại trong máu tôi. Tôi sẽ mãi mãi nói với nó như với bọn học trò, và tôi sẽ lẫn lộn nó với đám trẻ con mà tôi phải quở phạt để chúng sợ tôi, và để chúng khỏi buộc chuột vào cổ áo tôi... Để nó đi là hơn...
- Ông sẽ hôn nó trước khi nó đi chứ.
- Không. Bà hôn nó cho tôi. Tôi chắc là tôi vẫn còn có vẻ gấu dù không muốn. Ấy cái nghề nhà giáo nó thế đấy!... Bà sẽ hôn nó... và bà sẽ nói riêng với nó là tôi rất yêu nó... Tôi thì tôi không dám nói.”
“Thưa bà, thưa bà!
- Gì vậy?
- Có cảnh sát ở dưới nhà!
- Cảnh sát!.”
Quả thật có những người lạ ở cầu thang, và tôi nghe thấy tiếng họ nói.
“Chúng tôi tới để giải con bà đi.
- Vì nó đánh nhau à?”
Mẹ tôi quay lên với thầy tôi.
“Khẽ chứ, khẽ chứ mình, chính tôi đã viết thư bảo người ta sẵn sàng để đến bắt nó, từ tám hôm nay rồi!.... Tôi đã ký giấy bắt sau câu chuyện hôm ấy... Ôi chao! tôi xấu hổ quá … Thế nào bà, ít nhất nó cũng không nghe thấy qua vách chứ?”

Tôi nghe thấy.
May làm sao tôi lại bị thương và lại nằm trên chiếc giường này! Không thì không bao giờ tôi biết được là thầy tôi yêu tôi.
Chà! tôi tưởng rằng người ta nên lớn tiếng mà yêu tôi thì hơn! Dường như trong lòng tôi sẽ còn lại mãi mãi những hố buồn sâu thẳm, và những vết thương đau đớn của thời thơ ấu!
Nhưng cũng từ lúc này tôi đã bước vào cuộc đời người lớn, sẵn sàng đấu tranh, đầy sức lực, rất lương thiện. Tôi có dòng máu trong sạch và cặp mắt trong sáng, để nhìn vào tận đáy các tâm hồn; không biết tôi đã đọc được ở đâu rằng những người nào đã có khóc đôi chút đều như thế cả.
Nhưng không phải chuyện khóc lóc nữa! Phải sống.
Không có nghề, không có tiền, gay go thật; nhưng rồi sẽ liệu. Từ hôm nay trở đi, tôi là chủ của tôi.. Thầy tôi có quyền đánh tôi… Nhưng bây giờ thì tai họa, tai họa cho kẻ nào đụng đến tôi! - Ồ! phải! tai họa cho kẻ đó!
Tôi tự nhủ như vậy, đùi duỗi thẳng trên giường bệnh.
Tám hôm sau, ông thầy thuốc tới, tháo băng và nói:
“Nhờ cách băng bó của tôi, - một phương pháp mới, - anh đã khỏi; hôm nay anh có thể dậy, và mai có thể đi chơi được rồi.”
Mẹ tôi tạ ơn Chúa.
“Ôi chao! mẹ mới sợ làm sao!... Nếu phải cưa chân con đi! -Bây giờ thì mẹ nói cho con biết tin này...”
Mẹ tôi kể lại với tôi tất cả những điều mà tôi đã biết, những điều mà tôi đã nghe lỏm được qua vách.
“Con sắp xa mẹ rồi!” mẹ tôi vừa nói vừa nức nở.
Tôi muốn trở dậy ngay để nhặt nhạnh một ít sách, thu xếp chiếc hòm con và tôi hỏi mẹ tôi để lấy quần áo.
Đó là bộ quần áo mặc hôm đấu gươm.
Mẹ tôi mang quần áo đến cho tôi. Mẹ tôi thấy chiếc quần có một lỗ thủng và dính máu.
“Mẹ không biết là máu gột có đi không... chắc màu vải cũng sẽ phải đi theo mất...”
Mẹ tôi chải thêm vài nhát, lấy giẻ ướt chùi, làm những việc cần phải làm - mẹ tôi xưa nay vốn rất quan tâm đến áo quần của tôi! - nhưng cuối cùng mẹ tôi phải lắc đầu nói:
“Con thấy đấy, gột nó không đi... Lần sau, Jắc ạ, ít ra con cũng nên vận chiếc quần cũ thì hơn!”
HẾT TẬP I
 
 

 
 
CHÚ BÉ
(tập 1)
tiểu thuyết của JUYN VALEX
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
In lần thứ nhất 15.200 cuốn
In tại Nhà máy in Thống Nhất
Số xuất bản 21 - Khổ 13x19
Xong ngày 20-5-1974
Bìa: DƯƠNG BÍCH LIÊN
 
 


[1] Xem Bàn về văn học và nghệ thuật, V. Lênin – Nhà xuất bản Sự thật Hà-nội, 1960 – trang 13.

[2] Xem tập Chú bé trong tiểu thuyết Jăc Vanhtrax của J. Valex chương bà Vanhtrax tới Pari.

[3] Đây là lời Juyn Valex tự mệnh danh trong khi ông được các bạn đưa ra ứng cử vào nghị viện ở Pari năm 1869, lẽ tất nhiên ông không trúng cử.

[4] Nhà xuất bản Sự thật – Hà nội - 1961.

[5] Proudhon (1809 – 1865): nhà kinh tế và xã hội Pháp mơ tưởng chế độ tiểu tư hữu tồn tại mãi mãi, một tiền bối của chủ nghĩa vô chính phủ.

[6] Blanqui (1805-1881): một đại biểu của chủ nghĩa cộng sản không tưởng cho rằng có thể dùng lối âm mưu của một nhóm người không cần quần chúng đông đảo tham gia mà làm cách mạng đoạt chính quyền.

[7] Marxen Casanh: Lời đề tựa tập Người khởi nghĩa – Liên hiệp các Nhà xuất bản Pháp – Pari 1950.

[8] Một thứ bánh bao nhân thịt hoặc cá.

[9] Gọi tắt tên Amêli

[10]Thợ dự bị, theo lệ, phải có kiệt tác, mới được công nhận là thợ chính thức.

[11] Đây là buổi tự học của học sinh ở ký túc xá

[12]Nhà hàng hải nổi tiếng người Anh (1728 – 1779) đã nhiều lần thám hiểm châu Đại dương.

[13] Nhà ngụ ngôn nổi tiếng thời Hy-lạp cổ (thế kỷ thứ VII, thứ VI trước công nguyên).

[14] Giống cừu Tây-ban-nha, len tốt và mịn.

[15] Grắckơ: tên gọi hai anh em Grắcquýt (con Cornêli), hộ dân quan nổi tiếng thời La-mã cổ (thế kỷ thứ II trước công nguyên), đã từng đưa ra những đạo luật về ruộng đất nhằm hạn chế sự tham lam của giới quí tộc La-mã.

[16] Vợ vua Pháp Luy XVI, bị xử tử trong Cách mạng (1793)

[17] Nhân vật hoang đường, theo kinh thánh Gia-tô giáo, được Chúa Trời báo cho biết nạn Hồng thủy, làm một chiếc thuyền lớn cho gia đình nên sống sót và trở thành cội rễ của loài người.

[18] Mũ lông, hình ống, cao, vốn là mũ lính Hungari thời xưa.

[19] Chơi chữ: cassé la glace vừa có nghĩa là đánh vỡ gương, vừa có nghĩa là tan không khí căng thẳng.

[20] Chơi chữ: Parler avec des velours et des cuirs, có nghĩa là nói sai mẹo, nói sai vần các chữ, nhưng nghĩa đen là nói năng với “nhung”, với “da”.

[21] Ở phương Tây, khi con trẻ hỏi nó ở đâu mà ra, người lớn thường trả lời là tìm thấy nó dưới cây bắp cải.

[22] Chiến thắng của Alêcxăngđrơ đại đế đánh bại quân Ba-tư năm 331 trước công nguyên.

[23] Quintus Curtius Rufus: sử gia La-mã (thế kỷ thứ I), tác giả cuốn I “Lịch sử Alêcxăngđrơ”.

[24] Chỉ huy 123 quân Pháp chống lại cuộc bao vây của người Angiêri tại Mazayrăng năm 1840.

[25] Nhân vật da đen trong truyện Rôbanhxông Gruyđôê, của tác giả Anh Đênien (1660 - 1731)

[26] Triết gia Pháp nổi tiếng (1596 - 1650), tác giả cuốn "Luận về phương pháp".

[27] Nữ thần ở biển, yêu anh chăn cừu Axit;  tên không lồ Pôlyphem ghen ném đá đè chét Axit. Galatê chạy trốn, nhẩy xuống biển (theo thần thoại Hy Lạp).

[28] Que (tiếng Pháp): mà (đại từ).

[29] Nhà thơ Pháp (1762 - 1794).
Câu này ám chỉ đến cử chỉ của Sêniê khi bị đưa đến pháp trường xử tử, Sêniê đã vỗ lên trán mà nói rằng: “Ta tuy vậy vẫn có một cái gì trong này!”

[30] Một hòn đảo ở Đại-tây-dương, nơi Napôlêông bị đi đày rồi chết (từ 1815 đến 1821).

[31] Viên tướng Anh, canh gác Napôlêông ở đảo Xanh-Hêleu.

[32] Tức là đêm 23-8-1572, thái hậu Pháp Catơrin đơ Mêđixi ra lệnh tàn sát những người theo đạo tin lành.

[33] Ở Pháp, các tù khổ sai bị xích một quả tạ nặng ở chân.

[34] Để thông báo tin tức, mệnh lệnh của thành phố.

[35] Trường võ bị đào tạo sĩ quan Pháp.

[36] Làm cho con thỏ vãi đái trước khi cho vào bị.

[37]Trò bắn bia: bắn trúng hình con bồ câu bay lên thì được thưởng con thỏ, làm đổ hình người lính pháo thủ

[38]Trò chơi chữ không dịch được. Thành ngữ Pháp có câu lerminer en queue de poisson: kết thúc hẫng, đầu voi đuôi chuột. Tác giả dùng lerminer en queue de léopard là vừa nói cái ý hẫng hụt đó, vừa ám chỉ cái đít quần bị bôi bẩn lốm đốm như da báo.

[39]Tức là Jan Đa, nữ anh hùng Pháp thời Trung cổ, đã đánh bại quân Anh, giải phóng nước Pháp, sau bị vu tội tà giáo, chịu chết thiêu trên giàn lửa (1412-1431)

[40]Rượu pha đường, có vắt chanh hoặc cam

[41]Một thứ tương cay làm bằng hạt cải

[42]Ám chỉ quân Phổ (Đức) cướp bóc nước Pháp khi sang xâm lược.

[43]Bêrăngiê: thi hào Pháp yêu nước và dân chủ, ủng hộ cách mạng Pháp 1830, 1848.

[44]Nữ phù thủy nổi tiếng trong thần thoại Hy-lạp, có một vai quan trọng trong Ôđitxê của Hôme.

[45]Phái ủng hộ chi trưởng của dòng họ Buốc bông làm vua Pháp.

[46]Chính quyền Pháp tổ chức theo hiến pháp năm 1794, tồn tại từ năm 1795 đến 1799.

[47]Thời kỳ kéo dài từ khi dòng họ Buốcbông trở lại ngôi vua Pháp cho đến khi bị phế truất (1814-1830)

[48]Ám chỉ cuốn sách mới xuất bản khi ấy, rất được hoan nghênh, Jêrôn Patnarô đi tìm nền cộng hòa ưu việt nhất của Luy Râybô.

[49]Chơi chữ khó dịch: classe moyenne vừa có nghĩa là lớp trung học vừa có nghĩa là giai cấp trung lưu (tư sản.)

[50]Chó xù làm xiếc ở Pari, vào năm 1818, biết đáp những câu hỏi bằng tiếng Hà-lan, tiếng Anh, tiếng Ý, tiếng Pháp và tiếng La-tinh. Nó biết chơi nhiều kiểu đánh bài, chơi món bài cẩu rất giỏi (chú thích của tác giả).

[51]Tên tục của hoa dã tường vi

[52]Tránh nói chữ đít chai.

[53]Các nhà thơ lớn thời La-mã cổ.

[54]Nhà hùng biện thời La-mã cổ.

[55]Tômát: nhà thần học nổi tiếng của đạo Gia tô thời Trung cổ. Mácmôngten: nhà văn Pháp (1723-1749).

[56]Nhại lại một câu của Bốtxuyê, giám mục Pháp, tác giả những bài Điếu văn nổi tiếng (1627-1704).

[57]Vợ sứ thần Áo ở Pari hồi ấy.

[58]Nữ thần về nghệ thuật múa.

[59]Thành phố cổ của Hy lạp, nổi tiếng vì phong tục khắc khổ, cương nghị.

[60]Luật xưa quy định “ sát nhân giả tử”

[61]Thi hào thời hylạp cổ (521-441 trước công nguyên).

[62]Giáo sư nảy sinh dùng những thuật ngữ khoa học, thuật ngữ Hy-lạp hay La-tinh thay cho những tiếng Pháp thông thường như araknê thay cho araignée (con nhện).

[63]Nữ thần của trí thông minh và nghệ thuật (theo thần thoại Hy-lạp).

[64]Lối chơi chữ không dịch được. Ông giáo sư chuyển chữ “ Di Anhét “ sang tiếng La-tinh với các biến thể của nó, nhưng “ têtông “ trong tiếng Pháp lại có nghĩa là và.

[65]Danh tướng của Aten thời Hy-lạp cổ (thế kỷ thứ VI trước công nguyên).

[66]Tỉnh trưởng của Ba-tư thời cổ đã tự cắt mũi, tai để lọt vào thành Babylon làm nội gián cho vua Ba-tư Đariút đang vây thành.

[67]Các nhân vật thời Hi-lạp cổ: Aniban là danh tướng Cactagiơ, Caracala là hoàng đế La-mã nổi tiếng tàn ác, Tóccatuýt là chấp chính quan La-mã đã xử tử con trai mình vì không tuân lệnh trong chiến đấu.

[68]Agripin hoàng hậu La-mã mê hoàng đế Nêrông (15 - 19 trước công nguyên). Axpađi: vợ danh tướng và nhà chính trị lớn Pêriclét của Hy-lạp nổi tiếng đẹp và thông minh;  các triết gia (trong đó có Xôcrát), các nhà thơ, các nghệ sĩ trứ danh thường lui tới nhà Axpađi.

[69]Juyli: một phụ nữ thời La-mã cổ, nổi tiếng phóng túng, lẳng lơ, là nguyên nhân khiến nhà thơ Ôvít bị đi đầy (thế khỉ thứ I trước công nguyên).

[70] Một trong bảy ngọn đồi của La-mã, trên bờ sông Tibrơ.

[71] Hoàng đế La-mã cổ.

[72] Tượng Aten thời Hy-lạp cổ.

[73] Là cờ tiếng (La-tinh)

[74] Công dân (tiếng La-tinh).

[75] Chiến hữu (tiếng La-tinh).

[76] Hạng bét, ở trên cao.

[77] Người chèo thuyền qua sông Xtich ở Âm phủ (theo thần thoại Hy-lạp).

[78] Một nhiệm vụ buồn rầu (tiếng la-tinh: Triste ministeriumI).

[79] Chúng tôi rắc đầy hoa huệ lên linh hồn nó (tiếng la-tinh: Manibus date lilia ptenis).

[80] Con vẹt đã chết! Bây giờ con vẹt đã đi xa, ô hô (tiếng la-tinh: Psittlacus interiit! Jam fugit psittacus, eheu!)

[81] Trường võ bị Pháp.

[82] Matútxanh là một sử gia có tài tên thật là Sátxanh, sẽ có một vai trò quan trọng trong tập Cậu tú.

[83]Lậpra viện Câm-Điếc, dậy những người câm điếc nói với nhau bằng ký hiệu (thế kỷXVIII)

[84] Thi hào Pháp (thế kỷ XVII).

[85] Tiếng la-tinh: Fractis occurabam inglorius armis nghĩa là Đạo quân không vinh quang tan vỡ nằm đó.

[86] Đảo ở Trung Mỹ, thuộc địa Pháp.

[87]Tiếng la-tinh genitrix: mẹ.

[88]Nhắc lại một câu thơ của Viêcgin (thi hào thời La-mã cổ): Cara deum soboles… dòng dõi yêu quí của thần linh…

[89] 20 phơ răng.
 

[90] Trò chơi chữ không dịch được: “Va rincer le pau...” đọc âm còn có thể hiểu được là “đi rửa cái bô”... “bĩnh đầy cáibô.”

[91] Vider le pau… chơi âm chữ, đọc lên có thể hiểu là “đổ cái bô”.

[92] Đảng dân chủ từ hồi Cách mạng 1789. Nói chung trỏ những người hăng hái tán thành dân chủ.

[93] Quốc hội cách mạng cai trị nước Pháp từ 1792 đến 1795.

[94] Tức Mari-Ăngtoanét vợ vua Pháp Luy XVI bị Cách mạng 1789 lật đổ và xử tử.

[95] Những người cộng hòa trong cách mạng vận đồng phục xanh lam.

[96] Thiếu niên anh hùng Pháp, chiến đấu trong quân đội cách mạng chống bọn bảo hoàng và hy sinh anh dũng (1793)

[97] Nghĩa đen: không có quần cộc. Tên do bọn quý tộc gọi những người cách mạng Pháp hồi 1789 đã thay quần đùi bằng quần cộc, từ đó chữ ấy được cọi như đồng nghĩa với bình dân, cách mạng.

[98] Thành phố cổ ở La-mã có đền thờ nữ thần mùa màng Xêrex

[99] Sách đã in ra. Trong sách này, ông Sanma công khai thừa nhận linh hồn có “tám” năng tính, chứ không phải “bảy”. Phát minh đó đã làm dư luận rất xôn xao hồi ấy. (Chú thích của Valex)

[100] Thi hào thời La-mã cổ.

[101] Nhà toán học lớn thời Hy-lạp cổ.

[102] Tên la-tinh của sông Xen chảy qua Pari.



 
 

Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0


 

XXIV. TRỞ VỀ
 

Chà! con đường về buồn làm sao!

Mẹ tôi thấy rõ nỗi khổ tâm của tôi và cố tìm cách an ủi tôi, cái đó làm tôi bực mình, và tôi cố sức dằn lòng xuống để khỏi nói sẵng với mẹ tôi. Tôi cáu kỉnh với bản thân tôi vì đã tỏ ra ủ rũ: vậy mà tôi không can đảm!

Không, tôi không can đảm; tên các nơi tầu đỗ mà người ta hô lên ở ga đâm vào ngực tôi như những nhát súng.

Bôgiăngxy! Ămboadơ! Ăngxơnix!

Người ta nhắc tôi tên một lâu đài, một di tích đổ nát; nhưng như thế là rất gần Năngtơ rồi còn gì nữa!

“Cậu cả ạ, chỉ còn cách không quá năm dặm nữa.

- Ồ! Trời ơi!

- Tới nơi rồi.”

Phố xá trông mới vắng vẻ làm sao! Trên bến xe nơi mẹ con tôi đứng, chỉ có hai ba người qua lại - không hơn. Tôi nhận ra một viên cựu thuyền trưởng ngồi trên chiếc ghế mà hồi xưa khi đi học tôi vẫn trông thấy ông ta vẫn ngồi, rồi một người da đen rách rưới dẫn con đi ăn xin.

Im ắng làm sao! tưởng đâu như ở giữa thôn quê vậy. Tôi ngước mắt nhìn về phía cửa sổ nhà tôi.

Thầy tôi đứng ở đó, gầy gò, vẻ mặt rầu rĩ, bất động.

Thầy tôi đã đẩy tôi ra, hồi tôi còn bé, khi người ta đẩy tôi vào tay để thầy tôi hôn.

Do đó, mỗi lần có giây phút long trọng của một cảnh ra đi hoặc gặp lại, hai bố con tôi đều đâm ra lúng túng!

Lần này, thầy tôi đưa ra cho tôi hôn một bộ mặt nhợt nhạt, một vầng trán bằng đá.

Tôi không dám hôn.

Mẹ tôi khẽ ẩy hai bố con tôi vào với nhau, tôi vươn cổ ra, thầy tôi cũng vươn cổ. Tóc tôi che lấp mắt thầy tôi, và râu thầy tôi đâm vào mặt tôi; hai bố con vừa có vẻ hằn học cả hai.

Mọi người trèo lên cầu thang không nói không rằng.

Thầy tôi đi sau; tưởng như đây là một cuộc hành hình ở Tháp Luân-đôn.

Giả thử người ta hành quyết ngay tức khắc còn hơn, - nhưng không, - thầy tôi cứ đủng đỉnh làm ra vẻ long trọng.

Đây là cái món La-tinh. - Đây là hồi ức về những người cha giết con trong Lịch sử: Catông, Bruytuyx. Thầy tôi không nghĩ tới chuyện giết tôi, nhưng trong thâm tâm, tôi tin chắc rằng thầy tôi tự thấy mình hèn, thầy tôi muốn được con trai của mình, thằng Bruytiquyn, cám ơn mình: và, mỗi lần tôi có một cử chỉ hoặc lời nói hơi sỗ, thầy tôi liền cau mày, mím môi (cái đó chắc làm thầy tôi, con người đáng kính ấy, phải mệt lắm!) và thầy tôi có vẻ như nói: “Vậy mày quên mất rằng mày sống được là do lòng từ thiện và tao có thể cho mày một nhát rìu, đem mày nộp cho cảnh-lại à?”

Thầy tôi cứ giữ cái vẻ cổ đại ấy cho tới lúc bị ngứa ở mũi; hoặc tới lúc không thể giữ mãi cái vẻ đó được.

Cuối cùng thầy tôi mệt lử, vì cố muốn làm ra vẻ chua chát, và thỉnh thoảng thầy tôi buộc lòng phải cựa cậy cái hàm răng.

Chưa bao giờ thầy tôi lại có vẻ Bruytuyx như hôm nay.

Thầy tôi hất cục tua của chiếc mũ trùm đầu Hy-lạp, tựa hồ trong đó có một sự yếu đuối gì, và ngồi trong ghế bành như thể đó là chiếc ghế ngà của các quan thời La-mã cổ.

“Mày là con trai tao, tao là bố mày.

- Ở đúng, ông Ăngtoan ạ, ông có thể tin chắc điều đó! Mẹ tôi có vẻ như nói vậy.

- Ở La-mã xưa kia có một đạo luật (có nghe tao nói không, con?) cho phép người cha, bị ô danh vì một đứa trong đám con của mình, có quyền giết chết đứa... đứa... đứa con... ấy.”

Thầy tôi lúng túng.

TRIẾT HỌC

“Mày sẽ học triết học tới ngày lễ phục sinh, và tới ngày lễ phục sinh mày sẽ thi tú tài. “

Quyết định được đề ra là như thế.

Khi tôi lại xuất hiện trên sân trường, người ta hơi ngó nhìn tôi một chút. Mọi người xúm lại quanh tôi, và nhìn tôi chòng chọc. Một thằng ở Pari về... thử xét xem!...

Giáo sư là một thanh niên đã đỗ thứ nhất kỳ thi tốt nghiệp Trường sư phạm, lại đó nhất kỳ thi thạc sĩ, bao giờ cũng đến lớp sớm nhất, và tới phòng quản lý trước nhất để lĩnh lương, ông ở tầng nhất, trong một ngôi nhà ở cuối một phố ảm đạm. Đi xem hát, ông lấy vé hạng nhất, và tới ngồi ở hàng ghế thứ nhất.

Chính mẹ ông đã tạo ra cái trò kết hợp đó.

“Tao muốn mày ở đâu, ở đâu, cũng nhất.”

Ông giáo sư đó đối xử với tôi khá tốt. Ông định nhằm tôi để làm kẻ tiêu dao chủ nghĩa ở nhà ông, trong vườn của ông.

Xưa kia ông có nhiều người để sai kéo nước tưới vườn rau của ông: bây giờ không còn ai cả.

Ông nghĩ rằng tôi, con trai người bạn đồng sự của ông-vốn cũng ở Êlơdix[98], - tôi có tư chất của một môn đệ và một thằng kéo nước.

Tôi không hiểu làm thế nào ông ta đã được bổ nhiệm vào chức vụ đó.

Tôi thấy những giáo sư tu-từ học của tôi ở Pari thật đáng chán, nhưng người ta đã cả quyết với tôi rằng trong số các giáo sư triết, có những người biết lý luận, biết suy nghĩ, có nhiều kiến thức.

Đến nỗi một lần, trong số đó, có một người đã tới bắt tay ông nhà báo, mặc dù nhà báo này là người cộng hòa.

Tôi rất trọng vọng những con người tìm kiếm đạo lý đó.

Nhưng ông này quả thật là khôi hài!

TRONG LỚP

“Anh Vanhtrax có những bằng cứ gì chứng minh là có Thượng đế?”

Tôi gãi tai.

“Anh không biết à? “

Ông ta có vẻ ngạc nhiên, như muốn nói: “Ô kìa, anh là người ở Pari về kia mà!

- Ginextông, những bằng cứ là có thượng đế?

- Thưa thầy, tôi không biết, sách của tôi bị mất nhiều trang ạ.

- Beđigiô?

- Thưa thầy, có cái côngxăngxuyx omniom.

- Nghĩa là thế nào?... (Giáo sư làm điều bộ như Xôcrát đỡ đẻ cho thiên tài của mình).

- Có nghĩa là...- Pitu, nhắc tao với!

- Có nghĩa là (giáo sư nói tiếp, để giúp bệnh nhân của mình), tất cả mọi người đều đồng tình công nhận là có một thượng đế, phải không?

- Thưa thầy, vâng ạ.

- Các anh không cảm thấy rằng có một người ở bên trên chúng ta hay sao?”

Bađigiô chăm chú nhìn lên trần nhà!

Ban sáng. Rafoanh đã ném lên trần nhà một thằng người bằng giấy, hiện vẫn còn lủng lẳng ở đầu sợi chỉ đính vào một viên bánh mỳ nhai nát.

“Thưa thầy có ạ, có một thằng người ở trên cao kia ạ.

Thằng người, thằng người (giáo sư nói, ông vốn cận thị nên không nhìn thấy cái gì lủng lẳng trên trần nhà), nhưng chính đấy cũng là Thượng đế của Kinh Thánh. Phép của Người thật kinh khủng!”

Tuy nhiên, tiếng ấy đã không làm giáo sư phật ý!

“Dù sao, tôi cũng thích cái lối xưng hô thân mật đó”, giáo sư nói, lúc tan lớp học. “Có một thằng người ở trên cao kia!... Tiếng kêu của một đứa trẻ để chỉ Thượng đế!”

Ông nói chuyện đó với các cấp trên.

“Thưa ông hiệu trưởng, ông thấy thế nào? Có phải là đứa trẻ con không biết gì, mà nói như ông cụ già đã biết cả mọi sự không? - Phải, có một thằng người ở trên cao kia!”

Tới buổi học sau, ông lại hỏi Bađigiô, và bắt đầu bằng cách nhắc lại chữ đó:

“Có một thằng người ở trên cao kia không?

- Thưa thầy, không ạ, hắn không còn đấy nữa.”

Thằng người ấy không còn dính được vào trần nhà và đã rớt xuống.

LINH HỒN CỦA TÔI

Giáo sư cho tôi biết về các năng tính của linh hồn.

Những đứa khác thì chưa được thế, ông cho riêng tôi biết thôi.

Chỉ tới sau ngày lễ Phục sinh, ở trường trung học này mới biết linh hồn được cấu tạo như thế nào.

Linh hồn có bảy năng tính.

“Anh cứ đếm trên ngón tay, như thế dễ hơn”, thầy giáo nói.

Ở Năng tơ người ta báo tin có một giáo sư Đại học trứ danh, ông Sanma sắp về. Ông Sanma đã tới thành phố chúng tôi!

Ông đã quen thầy tôi ở Pari, vào hồi thi thạc sĩ.

Hai người đã ngồi cạnh nhau ăn bữa tối trong một quán ăn bán theo giá đồng loạt. Ông Sanma đi ra trước, để quên lại một bản thảo; thầy tôi nhặt lấy, trên đó có ghi địa chỉ, và thầy tôi đã đem cuốn bản thảo tới trả lại cho chủ nhân của nó đang tuyệt vọng.

“Lúc nào ông cần đến tôi, - nhà triết học nói, - tôi cũng sẵn sàng”.

Tình cờ, ông tới đây, bằng xương bằng thịt, và cũng tình cờ, có một buồng cho thuê trong nhà chúng tôi. Thành thử ông là hàng xóm của gia đình tôi.

Ông Sanma ở cùng một tầng gác với chúng tôi.

Ông ít ngủ, và ban đêm ông hay nói to. Tôi nghe thấy ông nói: “Cả thảy, có TÁM, TÁM! Phải cả thảy có TÁM!”

Ông muốn cho tôi một món quà.

Ông gọi thầy tôi và tôi ra một chỗ; ông nói rất cởi mở:

“Các bạn ạ, ông nói (ông cũng cho tôi vinh dự được gọi như thế), tôi muốn trả ơn các bạn về việc hồi xưa các bạn đã giúp đem trả lại cho tôi bản thảo, tôi không giàu, nhưng tôi sẽ tặng các bạn cái mà tôi có, kết quả của hai mươi năm suy nghĩ và làm việc!”

Thầy tôi có vẻ như muốn nói: “Không dám, ông cho nhiều quá.”

“Không, không! Các bạn hãy nghe tôi nói.”

Chúng tôi nín thở, tưởng chừng có thể nghe thấy cả tiếng ruồi bay.

“Người ta nói với các bạn là có bảy năng tính của linh hồn, có phải không? Không, Có tám năng tính!”

Vậy là người ta đã lừa tôi ư? Người ta đánh cắp của tôi mất một năng tính ư? Tại sao? Thế nghĩa là thế nào?!

“Phải, phải, như vậy đấy “, và ông Sanma chìa ra năm ngón của bàn tay phải, và ba ngón nữa gập lại nằm trong lòng bàn tay trái.

Ông hiền hậu nói thêm:

“Các bạn cứ sử dụng điều phát hiện đó, tôi cho phép các bạn; hiện nay chưa ai biết, chỉ hai tháng nữa thôi, điều đó sẽ được in trong sách của tôi.”[99]

Renơ, thứ hai.

Sáng nay tôi tới đây. Ngày mai thi dịch. Thầy tôi muốn đi với tôi tới Renơ, nhưng buộc lòng phải ở lại với học sinh nội trú của mình.

Thứ ba.

Tôi được thứ nhì về dịch.

Tôi dịch còn nệ nguyên bản quá, không thì tôi đã nhất.

Chiều nay sát hạch.

Tôi ôn đi ôn lại, tưởng chừng như có thể chỉ ba miếng là nuốt ngấu nghiến cuốn sách giáo khoa.

“Anh Vanhtrax!”

Đến lượt tôi.

Rút thăm.

“Anh dịch cho tôi đoạn này, dịch cho tôi đoạn nọ.”

Tôi dịch như “cháo chẩy”.

“Người ta thấy rõ ràng, - ông khoa trưởng nói trước mặt mọi người, - không những anh đã được bồng bế trên đầu gối của một bậc đại khoa, mà hơn nữa anh còn đã tới uống ở những nguồn nước lớn, anh đã trải qua trường học đẹp đẽ của Pari, là trường của tất cả chúng ta. (Ông nghĩ lại). À! không, không phải tất cả; đây còn có ông bạn đồng sự của chúng ta, ông Giăngđren.

Ông Giăngđren là giáo sư triết học. Ông là cử nhân tỉnh lẻ, tiến sĩ văn chương tỉnh lẻ; ông đã không uống ở những nguồn nước mạnh như các ông kia, như tôi, và ông vốn đạo đức giả theo lời người ta nói, nên hễ có dịp là ông khoa trưởng lại châm chọc ông ta. Lúc này ông mượn dịp nói với tôi để đả kích ông Giăngđren.

Sắc mặt ông Giăngđren vàng, vàng như nghệ, - với cặp kính như kính của ông Bécgunnha.

Tôi qua ông giáo sư toán trước khi tới ông ta.

Tôi không hiểu gì lắm về những điều người ta hỏi tôi, nhưng do chỗ người ta vừa công khai khen tôi, nên giáo sư cũng sẵn lòng rộng lượng.

“Quả lắc bổ chỉnh là thế nào?

- Ấy là một Quả lắc, nó... bổ chỉnh.

- Khá lắm, giỏi!”

Và nghiêng mình ghé vào tai ông khoa trưởng;

“Anh ta thông minh lắm!”

Rồi quay về phía tôi:

“Còn máy bài khí, công dụng của nó ra sao?

- Máy bài khí?...

- Ô! tôi không đòi hỏi anh phải đi vào chi tiết. Máy ấy dùng để hút không khí tạo ra chân không, phải không? Và, nếu người ta bỏ chim vào trong đó, thì chim chết. Tốt, tốt lắm!”

Ông lại hỏi:

“Về hình học, anh hãy nói về tiết diện của hình nón”

Được, nhưng tôi cần có một chiếc mũ, mới có thể chứng minh tốt được, như với những miếng thạch cao của ông cụ già người Ý, và tôi bắt đầu làm chứng minh một cách rất tự nhiên.

Tôi vớ lấy một chiếc mũ ngẫu nhiên thấy ở đấy, rút trong đó ra một chiếc mù-soa cũ, tôi cắt khối hình nón.

Mọi người trong buồng thi đều cười ồ vì chiếc mũ nhờn quá mà chiếc mù-soa thì bẩn quá; các vị giám khảo nhìn tôi với một nụ cười vui vẻ.

Giáo sư toán, rõ ràng là muốn lấy lòng khoa trưởng (ông sắp lấy con gái ông khoa trưởng), lại nói với tôi:

“ Anh ạ, người ta thấy rõ anh ưa Viếcgin[100] hơn Pytago[101], nhưng cũng như khoa trưởng lúc nãy đã nói rất hay, anh đã uống ở những nguồn nước lớn của sông Xêkana[102] nên ngay cả Pytago cũng được nhờ.”

Tiếng xì xào thán phục.

Lại một cú nữa đá ông Giăngđren!

Bây giờ, đến lúc tôi phải gặp chính ông này.

Ông nhìn tôi chằm chằm: cặp kính của ông lóe lửa như những đồng bạc mới tinh.

Ông thấy buồn xỉ mũi.

Ông tìm mù-soa, chính chiếc mù-soa mà lúc nãy tôi đã rút ra, rồi lại nhét vào chiếc mũ nhờn ấy.

Chính là mũ của ông Giăngđren.

Nguy to rồi!

Ông căm tôi vì những lời bóng gió mà ông khoa trưởng đã mượn tôi để đả kích ông; ông căm tôi vì chiếc mũ và chiếc mù-soa.

Ông không để cho tôi kịp hoàn hồn.

“Anh hãy nói về các năng tính của linh hồn.”

(Giọng kiên quyết): “Linh hồn có mấy năng tính?”

Ông có vẻ như quan dự thẩm muốn làm một kẻ sát nhân phải thú tội, hoặc như một kỵ sĩ lao vào trận với ức ngựa của mình.

“Tôi đã hỏi anh là linh hồn có mấy năng tính?”

Tôi hoảng hốt: “Có Tám”

Sửng sốt trong thính giả, xôn xao ở hàng ghế giám khảo!

Thái độ chung có một sự xoay chuyển ngược hẳn lại, như một đôi khi vẫn xảy ra như thế trong các đám đông, và người ta nghe thấy: Tám, tám, tám.

Phì-t-á-m!...

Tôi đợi ý kiến của ông Giăngđren. Ông nhìn thẳng vào mặt tôi.

“Anh nói linh hồn có tám năng tính ư? Anh không làm vinh dự gì cho cái học vấn cao cả mà lúc nãy ông khoa trưởng đã hết lời ngợi khen anh tới uổng ở đó. Tại trường trung học ở Pari mà anh đã theo học, có lẽ linh hồn có tám năng tính thật. Chúng tôi ở tỉnh lẻ thì chỉ có bảy thôi.”

Các vị giảm khảo tuy ghét ông ta, cũng không thể công khai thừa nhận lý thuyết tám năng tính của tôi, và tôi sẽ phải mang lụy vì trong một kỳ thi đã ném ra một ý kiến thật thà cần đến nhiều cuốn sách và nhiều người danh tiếng mới làm cho người ta thừa nhận được.

Ông khoa trưởng trở lại và tuyên bố cụt ngủn: “Anh Vanhtrax bị lưu lại để thi ở một khóa khác.”

Đám đông ra về phân vân không biết tôi là ai, tôi muốn gì, và người ta sẽ đi đến đâu nếu cứ đùa bỡn với linh hồn như vậy; tôi đã lật nhào những cơ sở làm nền tảng cho ý thức con người.

Tôi thì chẳng quan tâm đến chuyện đó! Lỗi là ở ông Sanma đã bảo tôi là có những tám năng tính của linh hồn. Tôi không phải là công cụ trong tay một môn phái hoặc một phe đảng nào.

Tôi đã nói cái điều mà ông ta đã nói với tôi!

Như vậy là linh hồn chỉ có bảy năng tính: tôi mất đi một,-cái đó tôi cóc cần,-nhưng tôi sẽ bắt buộc phải thi lại ở trường Đại học Renơ, - và chuyện này thì tôi không thể cóc cần được. Tôi rất buồn...



Thầy tôi đón tiếp tôi, môi mím chặt, trán nhăn, mắt sâu hoắm.

Là vì thầy tôi không chỉ bị tổn thương ở con người tôi! Thầy tôi còn bị tổn thương ở lòng kiêu hãnh của bản thân thầy tôi nữa!

Một học sinh vốn ghét thầy tôi, đã ngoáy thêm mũi dao găm trong vết thương.

Ngay buổi tối hôm mọi người biết tin tôi trượt người ta đọc thấy trên cửa nhà tôi:

PHIẾU ĐEN

QUÁN NHỮNG KẺ THI TRƯỢT

THI THẠC SĨ VÀ THI TÚ TÀI

(NGƯỜI TA VẪN MANG PHÂN-TỪ ĐI KHẮP THÀNH PHỐ)

Người ta vẫn mang phân-từ đi khắp thành phố! nghĩa là người ta vẫn cứ đi dậy phụ đạo và đòi hai mươi nhăm phơrăng một tháng, cứ như người ta đã thi đỗ ngay lập tức, cứ như là người ta đã đỗ thạc sĩ ngay từ khóa đầu, và cứ như đứa con trai nhà thi đỗ dễ như trở bàn tay!...



“Jắc, mày không nên ngồi ăn cùng bàn với chúng tao thì hơn.”

Mẹ tôi tội nghiệp như người chết rồi. Ngày nào mẹ tôi cũng chứng kiến những cảnh đau đớn.

Thầy tôi nhiếc móc tôi về miếng bánh mì tôi ăn.

Mẹ tôi đem thức ăn vào buồng cho tôi, như đem cho một người đi trốn.

“Ôi chao! con không muốn sống thế này nữa! Con muốn trở lại Pari.

- Với quần áo như thế kia ư?” Mẹ tôi vừa nói, vừa nhìn bộ đồ tã của tôi.

Vậy là bao giờ tôi cũng bị chết dụi vì quần áo!

Chà! dù sao tôi cũng cứ đi!

Thầy tôi phong phanh biết chuyện.

“Nếu nó đi, bà bảo nó là tôi sẽ nhờ cảnh sát bắt nó lại.”

Lão Lơnhanha cũng đã lấy cảnh sát ra dọa tôi...

Thầy, thầy muốn cho con trở thành kẻ tù tội sao?

Vậy là thầy tôi có quyền sai người bắt tôi, có quyền đối xử với tôi như một thằng ăn cắp, thầy tôi làm chủ con người tôi như làm chủ một con chó...

“Cho tới khi mày đến tuổi thành niên, con ạ!”

Thầy tôi đã giận dữ nói vậy, vừa đập tay lên một quyển sách gọi là Bộ luật; quyển sách cũ kỹ ấy, tôi lại thấy nó, một buổi tối, trong một xó nhà. Tôi đọc trộm, dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn chiếu vào buồng tôi.

“Có thể bị nhốt giam, theo lệnh của bố mẹ v.v...”

Cho bắt tôi? - Vì sao?

Vì tôi không muốn thầy tôi nói rằng tôi không kiếm được miếng mà ăn, - vì tôi không muốn thầy tôi đánh tôi cho hả dạ mà sức tôi thì có thể đánh gục thầy tôi được, - vì tôi muốn có một nghề, thầy tôi lấy làm nhục thấy rằng mình đã vật lộn đến thế mới có được chiếc áo giáo sư sạm màu mà nay có thằng con trai lại sẽ mặc quần áo thợ!

Có lẽ thầy tôi sẽ cho người ta xích tay tôi lại, và cho cảnh sát siết chặt nếu tôi chống cự. Và như thế, chỉ vì tôi đã không muốn trở thành giáo sư như thầy tôi.

Tôi hiểu. Là vì tôi đã chửi rủa cả cuộc đời của thầy tôi, khi tôi tuyên bố rằng tôi muốn quay về nghề của ông bà tôi! Nói rằng tôi muốn vào xưởng, tức là nói thầy tôi đã lầm khi rời bỏ chiếc cầy và chuồng ngựa.

Vậy thầy tôi sẽ cho giải tôi từ đồn cảnh sát này sang đồn khác; nếu không phải tối nay, thì ngày mai, hoặc một tháng nữa. Cho tới khi tôi hăm mốt tuổi, thầy tôi có thể làm như vậy được.

Người ta đã nghĩ đến việc nhờ tôi dậy phụ đạo.

Những thành tích của tôi ở trường Trung học đã làm cho tôi có một chút tiếng tăm; và rồi một vài người nào đó, có lẽ đoán được tấn bi kịch câm lặng đang diễn ra trong gia đình chúng tôi, muốn tỏ thân thiện với tôi.

Một trong số những người đó đã tới ngỏ ý với mẹ tôi; đấy là một bà muốn nhờ tôi dậy một ít La-tinh cho con trai bà. Mẹ tôi đáp:

“Thưa bà, tôi sẽ rất hài lòng nếu nó kiếm được một ít tiền, vì như vậy hai bố con sẽ đỡ xích mích với nhau! Cả hai đều tốt cả, mẹ tôi nói, nhưng cứ gây lộn với nhau luôn. - Có lẽ bà cần nói chuyện với ông Vanhtrax nhà tôi chẳng hạn, để nhà tôi mua cho thằng Jắc một chiếc quần, nếu bà không muốn (thoáng một nụ cười trên miệng) - nói vô phép bà - nó cởi truồng mà tới nhà bà. Tôi nói vậy với bà như một người đàn bà quê mùa; là vì tôi xuất thân từ tầng lớp dưới mà lên. -Tôi đã đi chăn bò đấy, bà ạ!

Tôi ngồi trong buồng, nghe thấy nói vậy. Tội nghiệp mẹ tôi!

Người tới tìm thầy phụ đạo bỏ đi, sợ bị một chiếc bình ném vào đầu, một chiếc chai nào đó lạc khỏi đường bay của nó, - nếu thầy tôi về, và bố con tôi cãi nhau. Vả lại bà ta tự cảm thấy không có đủ can đảm để thương thuyết về việc chiếc quần của tôi. Tóm lại, trong gia đình chúng tôi có người đã đi chăn súc vật, và bà ta tới tìm một ông giáo chứ không tìm một kẻ chăn cừu.

Mẹ tôi chờ thư trả lời. (Người ta hẹn sẽ viết thư cho mẹ tôi).

“Thế mà, tao cũng chỉ nói với bà ta điều cần nói, - mẹ tôi vừa nói, vừa khoanh tay; - ôi chao; bọn nhà giàu ấy, bọn nhà giàu ấy!...”

Chà! người đàn bà nông dân ấy!



Tuy vậy vì tôi được tiếng là giỏi về dịch văn, nên tôi vẫn tìm được một chỗ dậy tư, nhưng thầy tôi, cốt để làm nhục tôi, thậm chí đã không cho tôi mượn một chiếc quần mới trong tủ áo của thầy tôi. Quần áo của tôi đã tơi tả cả rồi.

Tôi bắt buộc cứ phải ngồi nghiêng.

Tôi đã run bắn cả người, vì một hôm, người ta nói:

“Ông hãy dậy học ở ngoài vườn vậy, ông Vanhtrax ạ, và ông cởi áo choàng ra. Trời nóng nực thế này! Người ông đầm đìa mồ hôi đấy!

- Ồ! không, trái lại xin cảm ơn.”

Tôi chảy mồ hôi ròng ròng.

“Cậu con bà. Cậu ấy có vẻ bẽn lẽn, hơi e dè, người ta nói với mẹ tôi, vì mẹ tôi tuy người ta không mời đến đã tới để hỏi xem người ta có được ưng ý về tôi không và để nói vun vào cho tôi.

- Bà đừng ỷ vào điều đó! và nếu bà có những cô con gái mắt đẹp, bà chớ để các có ấy qua lại nhiều quá khi có mặt nó. Nó đã có nhiều chuyện lôi thôi rồi đấy! Về cái môn ấy thì nó đúng là dân Pari, bà ạ! Ngay cả trước khi đi Pari, nó cũng đã (mẹ tôi lấy ngón tay làm sừng trên trán), vâng, vâng đúng như tôi nói với bà đấy!...”

Ngay hôm sau, người ta đuổi tôi.

Nhưng tôi đã được thuê dậy học cả tháng, nên người ta trả tiền tôi cả tháng. “Năm mươi phơrăng “.

Với số tiền đó, tôi đi may quần áo. Mẹ tôi can thiệp vào việc ấy.

“Mẹ sẽ đích thân may cho con, hai mẹ con mình sẽ đi mua dạ.

- Ồ! không, lại thế nữa, không!

- Con trai tôi nó không thương tôi nữa, tối hôm ấy mẹ tôi kể chuyện lại với bà hàng xóm được mẹ tôi tin cẩn. - Giả thử nó còn để tôi chọn dạ cho nó!.”

Tôi mua một bộ quần áo may sẵn.

Mẹ tôi lẻn đi theo tôi, và trong lúc tôi mặc cả, mẹ tôi xin gặp riêng ông chủ hiệu, và trình bày câu chuyện của tôi.

“Ông bán thứ hàng bền cho nó”, mẹ tôi lẩm bẩm, nước mắt vòng quanh!

Bây giờ ăn vận đã tươm tất, tôi mới giao thiệp rộng hơn một chút. Mẹ tôi yêu cầu tôi đi với mẹ tôi tới nhà những người quen biết.

Mẹ tôi hài lòng và hãnh diện làm sao!

Nhưng giữa chừng một câu chuyện, đột nhiên mẹ tôi nói:

“Trông mới nhăn nhúm làm sao chứ! Và người ta nhìn thấy rõ là chỉ lót có một nửa! Nếu con ngồi như thế này thì ít nhất cũng còn che đi được!” (và mẹ tôi kéo gi-lê của tôi cho ngay ngắn, vả nắn nót lại chiếc ca-vát).

Mẹ tôi buồn rầu, chặc lưỡi nói thêm:

“Con có thể khoe là đã chọn được thứ hàng dễ bắt bẩn đấy! Và nó cũng không buồn hỏi xin mụn để vá nữa!”

Thầy tôi cảm thấy là tôi có một niềm oán hận trong lòng, và một hôm thấy sắc mặt tôi nhợt nhạt, thầy tôi đâm lo sợ về nỗi tuyệt vọng của tôi:

- Con trai bà đã định uống thuốc độc tự tử đấy, thầy tôi bảo mẹ tôi.

Thầy tôi đến mức tin là có thật.

Người đàn bà tội nghiệp đứng chết lặng, lạnh giá.

Vả lại chính thầy tôi cũng đã mệt mỏi vì cuộc sống của hai cha con tôi dưới cùng một mái nhà. Căn nhà có vẻ như một căn nhà bị nguyền rủa.

Bà bảo nó viết cho tôi mấy chữ xem nó định làm gì.

Đấy là những lời cuối cùng mà thầy tôi nói với mẹ tôi, sau lần sợ tôi tự vẫn ấy.

Thật đau đớn phải lấy tờ giấy trắng to ấy đề viết cho cha mình. Phải dùng chữ “ông”.

Lần đầu tiên tôi gọi thầy tôi bằng ông.

Dưới ánh sáng cây nến mỡ bò tôi không nhìn được rõ.

“Mẹ ơi, cho con cây nến sáp vậy.

- Nến sáp cũng không sáng hơn đâu, nó chỉ sạch hơn một chút, nhưng không sáng bằng, và lại đắt hơn nhiều, con thấy không!”

Tôi viết cho thầy tôi! tôi xóa, và tôi xóa!

Trong lúc viết, tôi đâm ra xúc động, tôi sợ tỏ ra mình yếu đuối.

Tôi viết lại; thật là khó khăn, và đau đớn.

Chà! không được! và tôi lại xé...

Tôi sẽ chỉ viết hai dòng thôi, - không đến hai dòng,- bốn chữ thôi. Như thế tôi sẽ tránh không phải dùng chữ “ông”, và những điều tôi muốn nói vẫn đây đủ. Tôi viết đơn giản thế này:

CON MUỐN LÀM THỢ

“ Bố mày giận lắm đấy “, mẹ tôi, vừa đưa mẩu giấy cho thầy tôi xong, khẽ rỉ tai tôi.

Thầy tôi gặp tôi trong một hành lang.

- Mày bất chấp tao đấy hả?...

Thầy tôi giơ tay, và tôi tưởng là thầy tôi sắp nện tôi.

Hố sâu đã đào, - tai họa xảy ra đến nơi rồi.


Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0