Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Léon Tolstoi, Cuộc Đời, Sự Nghiệp Văn Chương

52 trả lời, 289 lượt xem — Trang 2 / 2
Sự hình thành


 
 
Trong hồi ký của Sonya, phu nhân nhà văn hào Tolstoi có ghi lại chuyện một bà tên Anmna bị tình nhân ruồng bỏ để lấy một cô trẻ hơn, bà ta đã lao đầu vào xe lửa tự tử trên đường rầy tại nhà ga Lassenki. Anna ở gân sát gia trang Tolstoi và có quen biết gia đình ông. Tác giả đã chứng kiến thể xác tan nát của nạn nhân khi có mặt trong lúc khám nghiệm tử thi, rất xúc động ông nói đã viết một cuốn tiểu thuyết về sự sa đọa của các bà mệnh phu nhân, giới quí tộc tại kinh thành Petersburg. Trong tác phẩm ông chỉ kể chuyện cuộc đời người đàn bà sa ngã nhưng không kết án nàng.
(He told me that he wanted to write a novel about the All of the society woman in the highest Petersburg circles, and the task he set hừmself was to tell the story of the woman and her fall without condenming her - Mormis Philipson, The Count Who Wished He Were A Peasant, A Life of Leo Tolstoy, trang 79).
 
Tolstoi bắt đâu viết năm 1873, ông bỏ một thời gian sau viết lại, cho đăng làm nhiều kỳ trên tờ đặc san Rousky Vestnik (Le courier russe, Người thông tin viên Nga). Tolstoy đụng chạm với chủ bút Mikhail Katkov về nội dung trong kỳ đăng cuối cùng vì thế tác phẩm đã xuất hiện toàn bộ đầy đủ lần đầu dưới hình thức sách. Mới đầu lấy tên truyện là Hai Cuộc Hôn Nhân, Hai Đôi Vợ Chồng (Deux marriages, deux couples) sau đổi thành Anna Karénine. Nhân vật chính Anna Karénine được gợi hứng một phần từ Maria Hartung (1832-1919) trưởng nữ của thi hào Alexander Pushkin, Tolstoi găp cô trong một bữa tiệc, sau đó nhà văn hào đọc văn của Pushkin và lấy được một số cá tính để xây dựng nhân vật của mình.
 
Levin, một nhân vật của truyện cũng thể hiện phần nào tư tưởng, niềm tin và con người của tác giả, theo ý kiến W. Gareth Jones, Levin hồi lấy Kitty cũng giống như Tolstoi đã hỏi Sonya Berrs. Nhân vật Kitty thể hiện nhiều cá tính của chính Sonya Behrs, vợ ông, ngoài ra trước khi làm đám cưới Levin trong truyện đã đưa nhật ký của mình cho Kitty đọc để thấy những khuyết điểm của chàng không còn trong sạch, đã ăn chơi sa đoạ... cũng như Tolstoi đã đưa cho Sonya đọc nhật ký của ông. Trong truyện đoạn tả đám cưới Levin với Kitty, chú rể Levin tới nhà thờ trễ quá chính là chuyện có thật trong đám cưới của Tolstoi mà ông đã đem vào tác phẩm. Cặp vợ chồng Levin - Kitty cũng thể hiện một phần gia đình Tolstoi. Theo D.S Mirky nhân vật Levin diễn tả cuộc đời tác giả trong truyện
 
Levin is clearly the autobiographical character of the novel- A History of Russian literature, trang 80.
Levin thể hiện những quan niệm rất gần với Tolstoi, chàng muốn đem khoa học kỹ thuật Tây phương mới vào canh tác nông nghiệp, tinh thần bảo thủ xã hội, tìm hiểu quan hệ vợ chồng Levin gần giống Tolstoi,
 
Truyện tình, hôn nhân của Levin - Kiuty, sinh con trai đầu lòng, đời sống vợ chồng hai người về nhiều mặt chính là hình ảnh gia đình hạnh phúc của Tolstoi những năm mới lấy nhau. Quan điểm của Levin trong tác phẩm cũng giống quan điểm của tác giả cùng về một vấn đề. chuyện Levin tán tỉnh và lấy Kitty chính là chuyện giữa Tolstoi và Sonya.
Truyện tình, hôn nhân của Levin - Kiuty, sinh con trai đầu lòng, đời sống vợ chồng hai người về nhiều mặt chính là hình ảnh gia đình hạnh phúc của Tolstoi những năm mới lấy nhau. Quan điểm của Levin trong tác phẩm cũng giống quan điểm của tác giả cùng về một vấn đề.
(The whole story of Kity and Levin - courtship, marriage, the birth of the their first child, and their family existence- is in many respects the story of Tolstoy”s early years of happy married life — Ernest J. Simmons, Introduction to Tolstoy's writing, page 85, 86)
Trên một trăm ba mươi năm trôi qua, Anna Karénine đã không bị coi là lỗi thời, chìm vào quên lãng mà vẫn còn được ca tụng nồng nhiệt khắp nơi.
“Cuốn tiểu thuyết này hiện vẫn được nhiều người ưa chuộng như đã được chứng tỏ qua cuộc thăm dò 125 tác giả hiện đại do J. Peder Zane thực hiện. Năm 2007 thăm dò này đã được in trong cuốn The Top Ten, Mười Tác Phẩm Hay Nhất cho thấy Anna Karénine nay vẫn là cuốn tiểu thuyết tuyệt vời nhất”.
(The novel is currently enjoying populariy as demonstrated by a recent poll of 125 contemporary authors by J. Peder Zane, published in 2007 in The Top Ten, which declared that Anna Karenina is the "greatest novel ever written” - Wikipedia.)
 




Đăng nhập để trả lời
0
Sơ lược truyện.


 
“Truyện gồm năm nhân vật chính: Anna người vợ, Karénine người chồng, công chức cao cấp của chính phủ Nga Hoàng, Vronsky bá tước, người yêu của Anna, Levin điền chủ, người yêu và chồng của Kitty. Tác phẩm gồm hai truyện tình Anna-Vronsky và Levin-Kity.
 
Levin điền chủ tính tình nhà quê, chăm chỉ làm ăn, canh tác, chăn nuôi ở miền quê. Levin mới đầu yêu Dolly, sau Dolly lấy Stepan, bạn chàng, rồi chàng yêu cô em thứ hai Natalie, cô này lấy một nhà ngoại giao, bây giờ chàng yêu cô út Kity. Mẹ Kitty nhắm Vronsky, chàng sĩ quan hào hoa, bảnh bao, giầu có đang theo đuổi tán tỉnh nàng nhưng cha nàng lại cảm tình với Levin vì thấy anh này chân thật. Levin lên Mạc tư Khoa lại nhà Kitty trò truyện rồi ngỏ lời cầu hôn nhưng bị nàng từ chối, hôm ấy chàng cũng gặp Vronsky, tình địch của mình. Kitty mê chàng sĩ quan hào hoa này và hy vọng ở chàng vì hắn dòng quí tộc có tương lai hơn, Levin tương lai mù mờ. Trớ trêu thay, Vronsky đẹp mã nhưng tính lãng mạn trai lơ, chỉ tán tỉnh nàng cho vui chứ không muốn lấy.
 
Ít ngày sau, Vronsky ra ga xe lửa đón mẹ, nữ bá tước Countess Vronsky. Chàng gặp bạn Stepan đi đón em gái Anna từ Petersburg tới, thế là chàng ta ngẩn ngơ mê mẩn trước sắc đẹp chim sa cá lặn của Anna rồi quyết theo đuổi đến cùng. Tối hôm sau trong buổi dạ tiệc Vronsky khiêu vũ với Anna khiến Kitty ghen tuông đau khổ.
 
Vronsky mê mệt Anna, theo nàng tới Petersbure chinh phục trái tìm người đẹp, trong một buổi tiệc tại nhà Betsy, Anna ngồi tâm tình với Vronsky khiến cho đức ông chồng Karénine khó chịu đã phiền trách nàng khi về nhà. Chẳng bao lâu Anna sa ngã vào tay Vronsky.
 
 
Kitty đau khổ thất tình được biết Vronsky bỏ theo Anna, nàng phát bệnh phải đi ngoại quốc nghỉ mát phục hồi sức khoẻ. Levin trở về quê, đau khổ bị Kitty từ chối từ từ trở lại cuộc sống bình thường. Stepan, bạn chàng cho biết Kitty em vợ đi ngoại quốc chữa bệnh khiến chàng nhục nhã hơn, Levin bị Kitty từ chối mà chính nàng lại bị Vronsky bỏ rơi để chạy theo người đẹp Anna. Trong tỉnh người ta đều biết chuyện Vronsky gian díu với Anna, họ ghen ty với hai người trước đây bây giờ được dịp nói xấu cả hai.
 
Karénine ở Petersburg, vợ ở biệt thự mùa hè tại Peterhof, một tỉnh khác gần đó, ông lạnh lùng với vợ, mặc cho nàng gian díu với người yêu, mỗi tuần đến thăm vợ, đưa tiền cho nàng xài. Hôm đua ngựa Vronsky đến biệt thự mùa hè gặp Anna, nàng cho biết đã có bầu, Vronsky khuyên nàng bỏ chồng theo chàng. Anna không muốn bỏ nhà vì rất thương yêu đứa con trai độc nhất lên tám tuổi.
Anna khóc thảm thương khi thấy Vronsky ngã ngựa trong cuộc đua. Trên đường về nhà, Karénine trách nàng không giữ ý tứ có nhiều cử chỉ khó coi trước mặt quan khách, Anna tức giận nói huych toẹt ra “Tôi yêu Vronsky, chàng là người yêu của tôi, tôi ghét mình, mình muốn làm gì tôi thì làm”
 
Karénine về nhà suy nghĩ không muốn li dị hoặc ly thân vì sợ tai tiếng xấu, ông giữ Anna ở lại để che mắt thiên hạ. Karénine cấm Anna không được gian díu với Vronsky, tạo cơ hội cho nàng trở lại con đường ngay.
 
Kitty thất tình bị Vronsky bỏ theo Anna, bác sĩ khuyên nàng theo gia đình đi nghỉ mát bên Đúc, tại đây cô giao thiệp với một thế giới mới, thế giới tình thân, thay đổi tâm tình, giúp đỡ những người ốm đau. Kitry về nước bình thản quên chuyện cũ, nàng về ở với chị Dolly tại miền quê gần chỗ Levin. Stepan cho vợ con về quê ở để tiết kiệm vì nay gia đình thiếu hụt. Dolly nhắn Levin lại chơi để nối lại mối duyên cũ của chàng với cô em Kitty nhưng anh ta cự tuyệt vì cay đắng nhục nhã, Levin đã bị Kity khước từ trước đây.
Vronsky xài tiền hoang phí, nợ nần nhiều, vì dan díu với Anna đã bỏ lỡ sự nghiệp thăng quan tiến chức, Vronsky bảo Anna bỏ chồng theo mình, nàng khóc lóc không muốn bỏ đứa con trai. Karénine muốn hai người vẫn là vợ chồng như cũ, nàng nói không thể được;
 
Karénine mong mọi chuyện sẽ qua, không bị mất danh dự, nay tình trạng cả ba: người chồng, người vợ, người yêu đều tồi tệ khó xử. Vronsky lên Đại tá, nhận được thư Anna lại thăm nàng gặp Karénine trong nhà đi ra. Anna khóc lóc, Vronsky ngày càng lún sâu vào mối quan hệ, chàng nghĩ hạnh phúc trước đây nay chỉ là bất hạnh. Lúc trở về nhà Karénine chửi mắng Anna tàn nhẫn đã không nghe lời chồng, đưa bạn trai về nhà, ông cho biết sẽ ra luật sư làm thủ tục li dị, sẽ trao con cho bà chị nuôi.
 
Trong một bữa tiệc tại nhà Stepan ở Mạc Tư Khoa, Dolly khuyên can Karénine tha thứ cho Anna vì nếu li dị đời nàng sẽ vào chỗ tàn mạt, Karénine nói Anna ngoan cố hư hỏng không xài được.
Cũng trong bữa tiệc này Levin gặp lại Kitty, anh chị thân thiện nhau trở lại, họ nói vẫn thương yêu nhau, Kitty bảo chàng lại nhà chơi, Levin tới thăm gia đình Kity, cha mẹ Kitty chạy ra ôm lấy chàng, cả nhà vui nhộn. Hai người xúc tiến làm lễ thành hôn.
 
Karénine nhận được điện tín của Anna từ Petersburg nàng nói sinh con sắp chết, xin chồng tha thứ, Karénine mới đầu không tin nhưng rồi cũng về Petersburg. Tới nơi được biết Anna sinh con gái hôm qua, còn yếu lắm, mê sảng nói lảm nhảm tôi sắp chết, xin tha thứ cho tôi. Karénine sung sướng nghĩ là mình sẽ tha thứ cho kẻ thù và lại gần nàng khóc. Anna bò lại gần nói mình tha thứ cho em, em chỉ cần tha thứ ngoài ra không còn gì hơn. Vronsky lấy tay che mặt khóc ở gần đó.
 
Karénine thú thực với Vronsky, kể cho chàng nghe mình đã định li dị để trừng phạt hai người, nay Karénine ân hận và tha thứ hết. Vronsky cảm phục Karénine, nghĩ mình không thể đại lượng như ông ta, chàng thấy mình hèn, về nhà bắn vào ngực tự vẫn nhưng không chết, bà chị dâu kêu bác sĩ tới săn sóc chàng.
 
Sepan đề nghị Karénine li dị trả tự do cho nàng, ông ta không chịu vì vấn đề thể diện và vì lòng sùng đạo, không muốn làm nhục vợ, ông không muốn đẩy Anna vào chỗ lụn bại, li dị sẽ tàn hại đời nàng.
Vronsky bình phục lại thăm Anna, chàng được bổ đi Tashkend nhưng từ chối rồi xin giải ngũ, một tháng sau Vronky cùng Anna và con gái mới sinh đi ngoại quốc nghỉ ngơi. Họ cùng nhau du lịch mấy tháng tại Âu châu, thăm La Mã, Venice, Naples.. rồi đến ở một tỉnh nhỏ. Vronsky không hoàn toàn hạnh phúc, chàng chỉ thực hiện được một phần nhỏ hạnh phúc mình mong đợi, nay chàng lại muốn tự do.
Karénine đau khổ khi Anna bỏ nhà ra đi, ông bị mất danh dự, làm trò cười cho thiên hạ, Karénine tan nát ruột gan. Hồi còn nhỏ Karénine mồ côi do ông bác nuôi dưỡng, lớn lên tốt nghiêp đại học, thành công với chức vụ, sau làm Tổng đốc một tỉnh nọ, lấy Anna, cô này là cháu một bà nhà giầu trong tỉnh, Karénine hơn nàng hai chục tuổi.
Nay người bạn thân, nữ bá tước Lidia đến làm quản gia cho ông, trông nom cậu con trai. Anna thự cho Lidia xin được gặp con nhưng bà ta đề nghị Karénine từ chối vì đã nói với cậu bé mẹ cậu đã chết.
Anna và Vronsky trở lại Petersburg ở khách sạn sang trọng, Vronsky coi nàng như vợ chính thức bất kể dư luận xã hội nhưng thực tế xã hội vẫn đóng cửa với Anna, bà chị dâu không dám nhìn nàng.
 
Trở lại khách sạn, Anna chợt nghĩ Vronsky phai nhạt tình yêu với nàng vì chàng đi đã hai ngày chưa về, nay Vronsky không còn xúc động vì cái đẹp của nàng, chàng không còn trọng nàng như trước.
 
Dolly, các con, bà cụ nghỉ hè tại nhà Levin-Kitty, bà cụ nói thật là hên cho Kitty, bất hạnh cho Anna vì nếu nàng lấy Vronsky thì đời nàng đã vào thảm cảnh. Con gái của Vronsky và Anna vẫn lấy tên họ Karénine vì Vronsky không phải là chồng chính thức của Anna. Nhân hôm Dolly lại thăm Anna tại gia trang của Vronsky thấy họ rất giầu có sang trọng, Vronsky tâm sự với bà ta rằng con gái của chàng sẽ mang tên Karénine theo luật pháp cũng như luật giáo hội vì chàng và Anna không kết hôn chính thức, chàng còn có con cái và sẽ có con trai, trên phương diện chính thức nó sẽ là con Karénine và sẽ không được thừa kế tài sản của chàng, Vronsky cần có người thừa kế.
 
Vronsky nhờ Dolly thuyết phục Anna xin Karénine ly dị để chàng xin Nga Hoàng cho hợp thức hoá tình trạng hôn nhân của hai người. Dolly thuyết phục Anna nhưng nàng không muốn ly dị, sống trong cảnh giàu sang nàng vẫn đau khổ, nhớ con tủi nhục. Vronsky nay thấy mình bị mất tự do, muốn thoát ra khỏi lưới tình của Anna,
Karénine từ chối li dị, Vronsky và Anna ở Moscow không về lại miền quê, họ không hòa thuận nhau, Anna ngày càng giận hờn Vronsky cho rằng chàng hờ hững hết yêu mình. Vronsky bắt đầu chán ngán cuộc sống vợ chồng với nàng, cho rằng mình đã mang nợ vào thân, Anna chỉ muốn Vronsky yêu nàng nồng nàn như xưa. Nàng thấy nay tình đã phai nhạt chắc là Vronsky đã yêu người khác, nàng đoán chừng chàng sắp lấy công nương Sorokina theo ý muốn của bà cụ thân sinh. Anna oán hận Vronsky đã đưa nàng vào hoàn cảnh bị đát này, nàng đã bỏ con trai yêu quí để theo chàng.
 
Hôm ấy Anna sai gia nhân đóng gói đồ đạc chuẩn bị về trang trại miền quê, Vronsky nói chàng còn về nhà mẹ lo một số giấy tờ tài chính, họ giận nhau, cãi cọ. Anna nói anh đừng phản em, em muốn tình yêu, Vronsky nói anh chịu hết nổi rồi, họ cãi nhau hồi lâu, Anna nghĩ tới tấm thân nhơ nhuốc, xấu hổ với chồng con, chỉ còn cái chết, nàng nghĩ tới cái chết. Nàng nghĩ nay chàng lạnh lùng với mình, đã yêu người khác.
 
Anna nghĩ tới cái chết để trừng phạt Vronsky, chàng đã làm hỏng cuộc đời nàng, tâm trạng Amna rối bời, nàng lên xe tới nhà Dolly tâm sự cho vơi nỗi lòng, khi nàng ra về Dolly và Kity bảo nàng vẫn đẹp nhưng đáng thương. Về nhà nhận được tin của Vronsky cho biết không thể về trước mười giờ, Anna ghen lồng lộn nghĩ rằng chàng đang nói chuyện với công nương Sorokina và mẹ, họ vui đùa trên sự đau khổ của nàng.
 
Anna lên xe ngựa ra nhà ga xe lửa tìm chàng, tâm trạng rối bời nghĩ tình của nàng vẫn còn nồng thắm nhưng lòng Vronsky nay đã nguội lạnh. Nàng đau khổ nghĩ đến con trai, đã đánh đổi cậu lấy tình yêu một người khác. Anna lên xe tới trạm Obiralovka, nàng bước xuống, người đánh xe đưa thư của Vronsky nói sẽ về lúc mười giờ, Anna nghĩ mi đã làm ta đau khổ rồi bước xuống đường rầy, nàng nhảy hụt lần đầu, lần sau quì gối nhảy xuống dưới đầu toa đang lao tới.
Vronsky đau khổ tình nguyện ra mặt trận biên giới Thổ nhĩ Kỳ.
Gia đình Levin Kitty hạnh phúc với đưa con trai đầu lòng, Levin cuối cùng tin vào Thượng Đế”.
 




Đăng nhập để trả lời
0
Tình yêu và hôn nhân
 
 
Trong Anna Karénine Tolstoi diễn tả hai cuộc tình, một bên đầy sóng gió kết thúc bi thảm, bên kia hạnh phúc dù có chút lận đận lúc ban đầu.
 
Một bà mệnh phu nhân nhan sắc tuyệt trần, lãng mạn, trí thức, đọc nhiều tiểu thuyết Anh, viết sách cho thiếu nhi, nàng coi tình yêu là mục tiêu quan trọng nhất của cuộc đời. Một người đàn bà hư hỏng, tội phạm đạo đức gia đình qua sự mô tả của Tolstoi nhưng ông không kết án và dành cho người mệnh phụ kiều diễm này nhiều cảm tình.
 
Anna kết hôn với Karénine khi nàng còn trẻ, sống trong nhung lụa. Cuộc hôn nhân không tình yêu nhưng yên ấm với Karénine trong tám năm cho nàng một cậu con trai. Một buổi đẹp trời tiếng sét ái tình đã đưa Anna sa xuống hố sâu tội lỗi, lao đầu một cuộc phiêu lưu không lối thoát.
 
Gặp nhau tại sân ga Mạc Tư Khoa, chàng sĩ quan hào hoa phong nhã Vronsky ngơ ngẩn trước sắc đẹp mê hồn của Amna, quyết theo đuổi chinh phục nàng tới cùng dù biết đó là phu nhân của một công chức cao cấp thế lực tại kinh thành Petersburg. Anna thiếu thốn tình cảm bên ông chồng nhiều tuổi, cặm cụi với chức vụ chốn quan trường đã dễ dàng sa ngã trong vòng tay Vronsky. Nàng muốn thoát ra khỏi cuộc sống giả đối không tình yêu để nghe theo tiếng gọi của con tim không đếm xỉa gì tới dư luận giới thượng lưu. Anna không che dấu tội lỗi, không muốn đóng vai người vợ xấu xa nữa mà muốn thoát ly, nàng đã nói với chồng
Tôi yêu anh ấy, tôi là người tình của anh ấy, mình muốn làm gì tôi thì làm
 
Karénine quảng đại tạo cơ hội cho nàng trở về con đường ngay nhưng Amna oán trách Karenine đã làm hỏng cuộc đời mình. Anna tự bào chữa, cuộc đời phải có tình yêu, Thượng đế muốn ta phải yêu và sống. Karénine muốn che mắt thiên hạ, Anna không chấp nhận cuộc sống giả dối trong một xã hội giả dối mà muốn sống thực cho mình.
 
Nàng có con với Vronsky, bị mê man gần chết khi sinh đứa con gái đã khẩn khoản xin chồng tha thứ. Karénine đã rộng lượng với cả hai người nhưng chỉ một tháng sau ngựa quen đường cũ, anh chị cuốn gói cùng nhau sang châu Âu xây tổ uyên ương.
Mấy tháng sau họ trở về Nga sống như vợ chồng, bị xã hội xa lìa, người ta không chấp nhận cuộc hôn nhân tội lỗi ấy. Họ về quê sống trong tòa nhà sang trọng quí phái của Vronsky, chàng xây bệnh viện, mua máy móc, bán gỗ... Mặc dù sống trong nhung lụa với người chồng thứ hai có phần giầu sang hơn Karénine nhưng Anna đau khổ vì đã trả cái giá cao cho tình yêu, nàng nhớ con trai, mất hết danh dự bị xã hội khinh thị xa lìa.
 
Cuộc tình mất dần sự nồng thắm ban đầu, Anna nghi ngờ Vronsky khi thấy chàng nhạt nhẽo với mình, chàng bỏ nhà đi mấy ngày không về, nàng trách móc anh không còn yêu em như xưa. Vronsky bắt đầu chán nản, chàng thấy mình bị mất tự do, biết rằng hạnh phúc với Anna trước đây đã qua bây giờ là bất hạnh, nàng ghen tức, cáu kỉnh khiến chàng khó chịu và nhìn Anna như như một người nhìn đóa hoa mình hái nay đã tàn, khó mà nhận ra cái vẻ đẹp của nó khi mình hái rồi làm cho tàn lụi, tình chỉ đẹp khi còn dang dở.
 
Sau lần giảng hòa họ lại hờn giỗi trách cứ nhau, Anna nghi ngờ Vronsky nghe lời mẹ bỏ nàng để lấy công nương Sorokina, nàng hờn trách Vronsky khiến chàng ngày càng bực bội. Anna đoán chắc Vronsky đã yêu người khác, nàng nghĩ chỉ có cái chết mới mới lấy lại tình yêu trong trái tim chàng, đối với Anna cuộc đời chỉ có tình yêu là đáng quí.
Anna đã hy sinh tất cả cho chàng, nay tình đà phai nhạt. Cuối cùng Anna đã chọn cái chết thê thảm để trừng phạt người yêu, bắt chàng đau khổ hối hận suốt đời.
Tác giả cho ta thấy Anna-Vronsky đã đi tìm ảo tưởng của hạnh phúc. Anna sai lầm khi nàng còn trẻ đã lấy chồng vì địa vị không tình yêu, một người chồng hơn nàng hai mươi tuổi. Morris Philipson, The Count Who Wished He Were A Peasant, A Life of Leo Tolstoy, trang 80 nói:
Nàng nhận thấy mình đã lấy chồng chỉ vì tính toán cái lợi”
(Anna recognizes she has never had more than amarriage of convenience” with her husband).
 
Anna lại sai lầm hơn nữa khi hủy hoại gia đình chạy theo một tình yêu lãng mạn để cuối cùng đi vào ngõ cụt, Tolstoi cho thấy cuộc sống tất cả cho tình yêu nguy hại hơn một cuộc hôn nhân không tình yêu. Anna thả mồi bắt bóng, nàng đã từ bỏ gia đình, đứa con trai yêu quí, từ bỏ địa vị để đánh đổi lấy tình yêu trong cuộc phiêu lưu vô định, trong cơn tuyệt vọng, cuộc đời nàng đã kết thúc bi thảm.
Nhà văn hào phác họa cảnh đầm ấm của gia đình Levin - Kitty song song với cuộc tình gian truân của Anna để cho thấy thế nào là ý nghĩa của hạnh phúc, trang 80 sách đã dẫn Morris Philipson nói.
Từ chương đầu cho tới chương cuối của tác phẩm, cái mà tác giả quan tâm vào hàng đầu là: Cái gì giữ cho gia đình bền vững, cái gì phá tan hạnh phúc?” (EFrom the first chapter of the novel until the last, the pruimary concern in the mind of the author is: what keeps couples together? What wrenches them apart?)
 
Cuộc tình của Levin lận đận, đau khổ lúc đầu, chàng yêu cô chị lớn Dolly, cô này lấy ông bạn Stepan,, rồi yêu cô thứ hai Natalie, cô này lại lên xe hoa với một nhà ngoại giao, cuối cùng yêu Kitty cô út còn nhỏ. Levin không thể nào quên được cái ngày nhục nhã khi chàng ngỏ lời cầu hôn bị cô ta từ chối, trái tim cô rung động vì Vronsky, một anh sĩ quan hào hoa, bảnh trai, nhà giầu, có tương lai. Nàng tràn trề hy vọng ở chàng nhưng trớ trêu thay, anh chàng lãng mạn háo sắc này bỏ chạy theo người đẹp Anna khiến cho cô đau khổ sinh bệnh. Bà mẹ đi mời bác sĩ chữa chạy nhưng ông bố biết thừa đó chỉ là bệnh thất tình, cuối cùng gia đình đưa cô đi nghỉ mát tại Âu châu.
Thật đau đớn nhục nhã cho Levin khi được biết Kitty phát bệnh phải đi ngoại quốc điều trị, người mà chàng yêu và ngồ lời cầu hôn lại đi yêu một người đàn ông khác, người đàn ông này không đoái hoài tới cô, từ bỏ cô để chạy theo một người đàn bà khác. Kitty hết bệnh về nước trở thành người cao thượng, có tinh thần vị tha, bà chị Dolly năn nỉ, thuyết phục Levin quay trở lại với Kitty nhưng chàng một mực từ chối không thể nào quên được cái mối hận ngàn đời.
 
Rồi một buổi đẹp trời, Levin gặp lại Kitty trong một buổi tiệc tại gia đình Dolly, chàng tha thứ cho nàng, ngay hôm sau chàng lại thăm gia đình Kitty trước sự mừng rỡ của mọi người. Họ làm đám cưới, sinh con trai đầu lòng, có vài lần giận đỗi nhưng cuộc đời trôi đi một cách êm ả hạnh phúc tại đồng quê. Cặp Levin - Kitty cho thấy quan niệm hạnh phúc gia đình của Tolstoy ở chỗ hôn nhân có tình yêu là điều kiện giữ được hạnh phúc gia đình.
 
Anna đã từ bỏ cuộc hôn nhân không tình yêu với Karénine mà nàng cho là đã nghiền nát cuộc đời mình để chạy theo một tình yêu không hôn nhân với Vronsky và rồi cũng chỉ là ảo tưởng hạnh phúc đưa tới chung cục bi thảm. Ernest J. Simmons trong cuốn Giới Thiệu Tác Phẩm Của Tolstoy nói.
 
Chủ đề là sự hoàn hảo gia đình có bền vững hay không chỉ do tình yêu thương chân thành với nhau mà hai vợ chồng đã đạt được như Levin và Kitty đã thể hiện bằng hy sinh, tha thứ cũng như ý muốn cùng tạo hạnh phúc cho nhau. Ngược lại gia đình lâm vào chỗ chia lìa tan nát khi chồng hoặc vợ miệt mài trong tình yêu ích kỷ đưa tới chỗ chỉ quan tâm hạnh phúc riêng cho mình như trường hợp Anna, hạnh phúc đó đã đưa tới sự hủy hoại cuộc đời nàng và cuộc sống của người yêu Vronsky”
(The theme is that the sanctitv of the family can be preserved only by the mutuality of pure love of husband and wife which is achieved, as Kity and Levin demonstrate, by sacrffice, pardon, and the desire to make each other happy. On the other hand the family is destroyed when either husband or we indulges in the egotistic love of affnty, which leads to complete preocupation with one's personal happiness and, as in Annad's case, to the ruin of her life as well as that of her lover Vronsky - Introduction To Tolstoy's Writings, Page 86)
 
Những chủ đề về xã hội tình yêu, ngoại tình, hôn nhân... của tác giả được đưa ra trong bối cảnh nước Nga hậu bán thế kỷ thứ 19 đang trên đường biến đổi theo bước tiến của Tây phương. Những tập tục mai mối đã xưa cũ hoặc hôn nhân cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy (arranged marriages) trở nên lỗi thời được thay thế bằng tự do lựa chọn người mình yêu. Những cảnh tán tỉnh, chinh phục đã thành hình và nhân quyền của phụ nữ đã được đề cập nhiều hơn trong tác phẩm.
 
Với chiều hướng cải cách để đem lại bộ mặt mới, sự tiến bộ cho xã hội nước Nga còn lạc hậu. Tolstoi chịu ảnh hưởng tinh thần cấp tiến đã thể hiện quan niệm mới về hạnh phúc bằng sự so sánh hai cuộc hôn nhân trong tác phẩm, một bên đến bờ bến hạnh phúc và bên kia tới thảm cảnh cùng đường sau những chặng đi tìm ảo tưởng.
 
Từ hồi thập niên 1860 trong khung cảnh đất nước Nga đang trên đà đổi mới, nhiều nhà cấp tiến xã hội đã phá chế độ gia đình hủ lậu thiếu thốn quyền tự do cá nhân, họ nói cha mẹ bóc lột sức lao động con cái. Với Anna Karénine, nhà văn hào cũng đã thể hiện quan niệm riêng về hạnh phúc gia đình, ngay như câu đầu tiên của cuốn truyện cũng đã thể hiện chủ đề này.
Những gia đình hạnh phúc thường giống nhau, mỗi gia đình bất hạnh lại có bộ mặt đau khổ riêng”
(Happy families are all alike; every unhappy ƒamily ¡is unhappy in its own way).
 
Thời kỳ cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy đã đi vào quá khứ, Kitty đã tự lựa chọn người bạn đời của nàng, họ tìm được hạnh phúc dưới mái gia đình ấm cúng trong một cuộc hôn nhân có tình yêu. Anna sai lầm khi còn trẻ nàng đã kết hôn với một người hơn nàng hai mươi tuổi vì địa vị danh vọng, cuộc hôn nhân không tình yêu đưa tới đổ vỡ. Anna, Vronskly đi tìm hạnh phúc trong tình yêu, họ hy sinh tất cả cho tình yêu trong khi Anna từ bỏ đứa con trai yêu quí, mất hết danh dự để hy sinh cho tình yêu, Vronsky bỏ cả sự nghiệp, công danh trái lời mẹ vì tiếng gọi của con tìm để rồi chuốc lấy đắng cay thất vọng chán chường.
 
Hai cuộc đời mà Anna đã trải qua cuối cùng không phải là hình bóng hạnh phúc mà nàng đã hoài công tìm kiếm. Gia đình qua nét phác họa của Tolstoi như nguồn hạnh phúc cao quí dưới mái nhà ấm cúng... Anna phá hoại gia đình để rồi chết thảm, Levin tạo dựng mái gia đình và chàng đã đạt tới mục đích cuối cùng của cuộc đời. Nhà văn hào kết luận, đức tin, hạnh phúc, đời sống gia đình kết hợp với nhau thành lý tưởng và mục đích cuối cùng.
 
Tác giả cho ta thấy hai bộ mặt của hạnh phúc: ảo tưởng và chân thực. Anna - Vronsky tưởng như lạc vào cõi thiên đường mơ mộng nhưng cạm bẫy đã giăng ra phía trước, hố sâu tội lỗi và trừng phạt đang chờ đón họ, mở đầu bằng tình yêu và kết thúc trong hận thù. Họ tìm hạnh phúc trong tội lỗi và kết thúc bằng hậu quả thảm khốc: Anna mất hết gia đình, danh dự và cả cuộc đời, Vronsky tiêu tan sự nghiệp, lương tâm bị dày vò đau khổ. Trong khi ấy Levin - Kitty yên vui với mái gia đình ấm cúng, hạnh phúc ở trong tầm tay của họ.
 
 




Đăng nhập để trả lời
0
Luận đề xã hội


 
Morris Philipson nói trong cuốn Ông Bá Tước Muốn Làm Người Nông Dân trang 82.
 
“Anna Karenina đã được coi là tác phẩm xã hội lớn vì nó diễn tả một cách bị thảm hơn bất cứ cuốn nào khác về ảnh hưởng của "lối sống xã hội” trên hạnh phúc cá nhân con người. Sở dĩ truyện được cả thế giới yêu chuộng vì nó đã quan tâm sâu sắc tới tất cả những mối liên hệ của xã hội”
(Anna Karenina has justly been called the greatest novel of society - for ifs expresses more dramatically than any other single work the power that “social life” has over individual happiness. What gives the novel it great universality is its profound examination of what social relations are all about)
 
Chủ đề trong truyện thể hiện nhiều khía cạnh xã hội. hoàn cảnh nước Nga giai đoạn này không văn minh bằng Tây phương Anh, Pháp, trào lưu tân tiến đưa đến va chạm cũ mới của thành phần bảo thủ chủ trương bảo tồn giai cấp điền chủ quí tộc và giới cấp tiến có khuynh hướng ngả về Tây phương. Phái bảo thủ muốn duy trì chế độ nông nô và chính quyền quân chủ chuyên chế trong khi phe cấp tiến tin tưởng vào kỹ thuật hiện đại, luân lý, dân chủ. Trong truyện Levin đưa vào canh nông những phương pháp mới trong khi ấy nông dân bảo thủ vẫn muốn lối canh tác cổ truyền.
Mục tiêu hàng đầu của luận đề trong Anna Karénine là xã hội giả dối của một nền đạo lý lỗi thời mà Anna tiêu biểu con người phản kháng. Trong môi trường quyền lực, danh vọng nàng đã can đảm từ bỏ cuộc đời giả dối không tình yêu để theo tiếng gọi của con tim. Anna thách đố xã hội, nàng đi xem hát công khai tại hí viện sau khi chung sống với người yêu Vronsky để chứng tỏ cho mọi người biết nàng không quan tâm tới những truyền thống lỗi thời giả dối.
 
Karénine, người chồng bị phản bội nhưng vẫn tha thứ, muốn nàng tiếp tục cuộc đời vợ chồng như xưa, ông từ chối ly dị, che dấu sự xấu xa tai tiếng trước dư luận xã hội. Anna khước từ, nàng nói tôi không thể làm vợ mình được, tôi không thể kéo dài cuộc sống giả dối này mãi.
Ernest J. Simmons trong cuốn Giới Thiệu Tác Phẩm Của Tolstoy, trang 86 nhận xét về tác giả và nhân vật Anmna.
Chính Tolstoy lại dành chút tình yêu thương cho nữ nhân vật với bản chất hào hiệp, sáng ngời. Ông đã cố chứng tỏ rằng nàng là nạn nhân của xã hội quí tộc đạo đức giả này hơn là vì đam mê. Mặc dù Anna gian díu với chàng sĩ quan dễ thương, bảnh bao nhưng nếu nàng tỏ ra kín đáo và chấp nhận phong tục xã hội thì giới thượng lưu đã không kết án nàng, họ chấp nhận cuộc tình ấy”.
(For Tolstoy, humsel a bịt in love with his heroine's large, generous, radiant nature, endeavors to show that she is as mụch a victime of the hypocrisy of this high society as of her own passion. If Anna had had an afffair with a handsome, socially desirable army officer, high Society would not have condemned her provided she was discreet and abided by conventions that were supposed to make such affairs permissible)
 
Nhưng Anna không che dấu sự thật, nàng không kín đáo vờ vĩnh che mắt thế gian để được xã hội tha thứ mà công khai từ bỏ cuộc sống vợ chồng không tình yêu để xây dựng cuộc sống mới chân thực. Anna thể hiện con người phản kháng và nàng đã bị xã hội khước từ, chị dâu Vronsky từ chối không nhìn nàng là người trong họ vì không thể chấp nhận cuộc hôn nhân không đạo lý, xã hội không chấp nhận cặp vợ chồng ấy và đẩy nàng vào bước đường cùng. Nếu xã hội từ bỏ lối sống đạo đức giả lỗi thời, chấp nhận cho họ kết hôn thì người đàn bà đã không chết.
 
Luật triều đình và luật Giáo hội không cho phép Anna ly dị, lấy chồng khác vì Karénine, chồng nàng còn sống, nhưng tập quán của xã hội quí tộc nghiệt ngã hơn thế, nàng đã bị làm nhục, bị chửi mắng là đồ hư hỏng lăng loàn khi xuất hiện trước đám đông tại rạp hát, người ta đẩy nàng ra bên lề xã hội.
 
Trong cuốn Ông Bá Tước Muốn Làm Người Nông Dân, trang 83 Morris Philipson nói:
.. Về phương diện ấy, Anna Karenina là tác phẩm phản kháng xã hội vì Tolstoy ám chỉ tình yêu giữa Vronsky và Anna tốt đẹp hơn là tập quán xã hội đã đẩy họ ra lề cuộc sống. Hôn nhân không tình yêu cũng tệ như tình yêu không hôn nhân; nhưng xã hội lại chấp nhận trường hợp trước và kết án trường hợp sau. Xã hội thích nghi với với chế độ hôn nhân nhưng đã làm mất tinh thần của nó. Tinh thần phản kháng xã hội của tác phẩm nằm ở chỗ Tolstoy lên án tình cảm giả dối của xã hội, nó chỉ chuộng bề ngoài hơn là thực chất. Những giá trị giả dối khiến cho xã hội tự đánh lừa mình và họ sống giả dối, chuộng bề ngoài, chẳng khác nào từ chối sống thực với chính mình, nó khiến cho con người sống một cuộc đời tự lừa dối mình.
(..In this respect, Anna Karenina is an antisociety because Tolstoy implies that the love between Vronsky and Amna is better than the conventions which make them social exiles. Marriage without love is as bad as love withowt marriage; but society condones the former and condemns the latter. Society has made its accommodation with the institution of marriage but has lost the spirit of it. What is antsocldadl in the novel is Tolstoy's condemnaton of society's emotional dishonesty, its willingness to preffer appearance to reality. False values make it easy for a whole society to delude itself and live dishonest, superficial lives, just as refusing to be true to oneself enables an individual to live a selft-deluding life)
 
Anna tiêu biểu con người can đảm sống thực, chồng nàng Karénine thể hiện tinh thần của xã hội giả dối. Karénine chỉ cần có thế nhưng Anmna từ chối. Xã hội đã không chấp nhận cuộc sống thực của Anna bên người yêu Vronsky khiến cả hai đã bị đẩy ra bên lề để rồi nàng lâm vào bước đường cùng.
 
Morris Philipson cho thấy nếu xã hội cho phép hai người lấy nhau thì Anna đã không đến nỗi chết (trang 84)
 
Bi kịch của tác phẩm nằm ở chỗ Vronsky và nàng không lấy nhau được, không được “hứa hẹn một tương lai lâu dài' mà chỉ: xã hội mới bảo đảm được, họ đã không tránh được sự xung khắc gia đình, tình yêu của họ không đủ để giúp họ vượt qua cơn sóng gió. Họ bị chia lìa vì lo sợ nghi kỵ lẫn nhau -vấn đề lòng ích kỷ- mà họ có thể vượt qua nếu đã được chính thức lấy nhau”
(lt is Anna Karenina's tragedy that Vronsky and she are unable to marry. Without that “promise of an endless future”, which only sociefy can pretend to guarantee, they are wihout protection against the conflicts threatening their harmony. Their love is not enough to protect them by tiself. They are torn apart by fears for themselves — selfish concerns — that it would have been possible for them to overcome if they had been married)
 
Với hình ảnh đôi tình nhân sống chung bất kể nề nếp gia phong Tolstoi cho thấy đời sống vợ chồng của giai cấp quí tộc, những cuộc hôn nhân không tình yêu nay đã lỗi thời. Trước buổi giao thời mới cũ, hình ảnh Anna - Vronsky hay Levin - Kiity cho thấy lối sống xưa cũ đến lúc phải lùi vào dĩ vãng nhường chỗ cho trào lưu mới tân tiến hợp thời. Trang 84, 85 Morri Philipson nói :
Được phép sống trong dòng sinh hoạt xã hội cũng quan trọng như từng trải về tình yêu để sống một cuộc đời hoàn hảo. Cuộc tình của Anna Vronsky chắc chắn là chân chính, nhưng xã hội mà họ đang sống đã hủy hoại đời họ. Xã hội có quyền hành để nghiêm trị những kẻ phá luật lệ hôn nhân. Có thể một lý do nữa là phần nhiều những người này lại không có tình yêu chân thật, cặp tình nhân phá vỡ những tục lệ về hôn nhân nhắc nhở cho tất cả những kẻ khác thấy cuộc sống riêng tư của họ thật là giả tạo, thiếu xót và đáng xấu hổ thay. ”
 
(Being allowed to participate in one's society is as important as the experience of love in order to live a complete life. Anna and Vronsky love is certainly genuine, bụt the society they live in destroys them. Society has the power to take its revenge against those who break its rules about marriage. One reason for this may well be that because there is so little genuine love among the majority of people, lovers who break the conventions concerning marriage remind all the others of how shamefally supetficial an unfulfilled their own private lives are”)
 




Đăng nhập để trả lời
0
Khía cạnh đạo đức.
 
 
Là người đọc thấy ở văn chương Tolstoi hàm chứa cả những giá trị đạo đức, sau này nhiều nhà phê bình nhận định về Phục Sinh (Resurrection), cuốn tiểu thuyết lớn cuối cùng của Tolstoi cho rằng ông đã giảng đạo nhiều. Họ nhận định giá trị văn chương bị giảm khi nói về đạo đức và chỉ trích việc đưa đạo đức vào văn chương.
 
Ý nghĩa đạo đức bàng bạc trong những cuốn tiểu thuyết lớn cũng như nhiều đoản thiên của tác giả điển hình là Anna Karenina, ngay mở đầu tác phẩm ông đã trích dẫn mấy câu Kinh thánh:
“Tôi trả thù, tôi sẽ lãnh hậu quả, Chúa đã nói thế” (“Vegeance is mìne; Ï will repay, saith the Lord” Romans 12: 19).
 
Toàn bộ tác phẩm cho thấy ta cần có đức tin Thượng Đế, tha thứ và xoa dịu nỗi đau khổ của con người, tinh thần đạo đức trong Anna Karénine được thể hiện qua nhiều nhân vật, tiêu biểu là Levin, Karénine, Kitty.
 -Levin tự nhận là kẻ vô đạo, đã thú nhận với Kitty trước khi làm lễ thành hôn mình không tin Thượng Đế. Chàng xấu hổ khi làm lễ tại nhà thờ với những lễ nghi, phép bí tích. Những lễ nghi được mô tả tỉ mỉ mà Tolstoi cho là giả dối. Xin sơ lược theo Phần 5, Chương một.
Vị linh mục nói “Chúa ở đây nhận lời xưng tội của anh, anh có tin Giáo lý của Giáo Hội không?
Levin đáp: “Con nghi ngờ tất cả.”
Ông cha nói tiếp.
“Nghi ngờ là yếu điểm của con người, nhưng chúng ta phải cầu nguyện Thượng Đế với lòng nhân ái Ngài sẽ phù hộ chúng ta. Tội lỗi chính của anh là gì?”
Levin đáp
“Tội lỗi chính của con là nghi ngờ.”
Rồi chàng nói tiếp.
“Con nghi ngờ tất cả, đôi khi con nghi ngờ Thượng Đế có thật hay không.”
Ông cha hỏi chàng:
“Nghi ngờ sự hiện hữu Thượng Đế như thế nào, ai đã soi sáng bầu trời, ai đã làm đẹp trái đất”
 
Levin không dám tranh cãi chỉ nói:
“Con không biết”
Linh mục khuyên Levin phải cầu nguyện Thượng Đế rồi ông làm phép cho chàng.
Nhưng đến đoạn cuối truyện, Phần tám, Chương mười hai, trang 848, Levin đã tìm ra lẽ sống của mình.
“Ta chẳng khám phá được gì cả. Ta chỉ tìm ra được điều mình biết. Ta hiểu rằng trong quá khứ động lực đã cho ta cuộc đời và nay cũng cho ta cuộc sống. Nay ta đã thoát khỏi sự giả dối, ta tìm thấy Chúa”.
(I have discovered nothing. I have only found out what I knew. I understand the force that in the past gave me life, and now too gives me life. I have been set free from falsity, I have found the Master)
 Chàng tìm ra đức tin như sau.
“Nay ta nói ta đã biết ý nghĩa cuộc đời: Sống vì Thượng Đế, sống cho tâm hồn của ta.
(Now I say that I knowe the meaning of my life: “To live for God, for my soul)
 
Levin liên tưởng đến những hậu quả nếu không có những niềm tin ấy, nếu không sống vì Thượng Đế mà sống vì nhu cầu riêng tư , chàng có thể phạm nhiều tội ác nói dối, trộm cướp, giết người ....
-Karenine giận dữ với vợ khi nàng không nghe lời chồng vẫn tiếp đón người yêu tại nhà, ông xỉ vả Anna và đi gặp luật sư tiến hành thủ tục li dị, bắt con trai để làm cho nàng đau khổ, trả thù tất cả những đau khổ mà nàng đã gây ra cho mình.
Sau đó Karenine lên Moscow giải quyết công việc hành chánh, ghé nhà Stepan, anh vợ, Dolly chị dâu Anna năn nỉ xin Karenine đừng li dị, đừng đẩy Anna vào bước đường cùng nhưng Karenine quyết không tha thứ, ông nói tôi đã tạo nhiều cơ hội để Anna trở về con đường ngay nhưng nàng vẫn lội xuống bùn.
Lòng thù hận của Karenine bốc lên cao, ông nói tôi thù ghét nàng muôn đời, không thể nào tha thứ được, nó đã làm khổ tôi. Dolly khuyên Karenine
“Hãy yêu thương những kẻ ghét mình... trang 425” (Love those that hate you...)
 
Nhưng Karenine một mực nói không thể yêu người mình ghét, con người chịu đựng có giới hạn.
Karenine cương quyết trừng phạt Anna và người yêu Vronsky, khi ấy ông nhận được điện tín của Anna, nàng khẩn khoản nói:
“Em đang hấp hối, mình về ngay, nếu mình tha thứ cho em, em sẽ dễ chết hơn”
Karenine khinh bỉ cho là nàng bầy chuyện dối gạt mình nhưng cũng lên xe hỏa về Petersburg vì nếu thật thì ông sẽ mang tiếng ác. Tới nhà được biết Anna đã sinh đẻ đứa con gái hôm qua, con của Vronsky, nàng còn yếu lắm, nói mê sảng luôn luôn. Karenine nghĩ nàng sẽ chết, chính ông cũng mong cho nàng chết khuất đi.
Một gia nhân đưa ông vào phòng, Vronsky khóc bảo ông “nàng sắp chết, bác sĩ nói không có hy vọng, xin cho tôi được ở lại đây” trong khi Karenine vội tới gần Anna đang nằm trên giường, má tím bầm, nàng nói lảm nhảm: chồng tôi sẽ tha thứ cho tôi, nhưng anh ấy đâu rồi, anh ấy tốt lắm.. trời ơi tôi sắp chết rồi, tôi không sợ anh ấy, tôi sợ chết...
Karenine cầm tay nàng đau khổ, Anna khóc lóc xin chồng tha thứ. Xin mình tha thứ cho em, nàng nói lảm nhảm vô nghĩa..
Khi ấy bao nhiêu thù hận trong lòng người chồng tan biến đi như cơn gió thoảng.
“Karenine trước đây đã không nghĩ rằng Đạo lý Thiên chúa giáo ông theo học cả đời có thể khiến mình tha thứ và yêu thương kẻ thù; nhưng nay một niềm vui yêu thương và tha thứ cho những kẻ mình thù ghét tràn đầy trong lòng- Phần 4, chương 17.”
(He did not think that the Christian law that he had been all his le trying to follow, enjoined on him to forgive and love his enemies; but a glad feeling of
love and forgiveness for his enemies filled his heari- Part four, chapter 17) .
 
Người chồng khóc nức nở như một đứa trẻ. Anna nói em không cần gì hơn là tha thứ, khi ấy Vronsky đang lấy tay che mặt vì xấu hổ, Anna bảo chồng gỡ tay hắn ra và tha thứ cho hắn. Bác sĩ nói chín mươi chín phần trăm nàng không qua khỏi, chỉ còn ít giây phút nữa.
Karenine thú thực với Vronsky: Ta muốn nói cái cảm giác đã hướng dẫn ta để anh có thể đừng làm điều trái với ta, ta đã tiến hành li dị, thật chẳng dấu anh làm gì, ta đau đớn quá, thú thật ta đã tiến hành để trả thù anh và nàng. Khi nhận được điện tín ta tới đây cũng với niềm ác cảm ấy, ta mong nàng chết quách đi, nhưng khi thấy nàng ta tha thứ cho nàng.
“Và hạnh phúc tha thứ đã cho ta thấy bổn phận của mình. Ta tha thứ tất cả. Ta sẽ đưa má bên kia, kẻ nào lấy trộm áo ta, ta sẽ cho nó thêm cái áo khác. Ta chỉ cầu xin Thượng Đế đừng lấy đi hạnh phúc tha thứ của ta”
(And the happiness of forgiveness has revealed to me my duty. I forgive completely. I would offer the other check, l would give my cloak If my coat be taken. I pray to God only not to take from me the bliss of forgiveness! - Part four, chapter 17)”
 
Niềm hạnh phúc mới theo Tolstoi là hạnh phúc của tha thứ theo ý nghĩa tính vị tha bác ái, kẻ nào tát má bên này ta sẽ đưa má bên kia. Trước đây Karenine sùng đạo nhưng lòng đầy rẫy hận thù, biên giới giữa tình yêu và hận thù cũng rất mong manh. Trong khoảnh khắc hận thù tan biến, nay Karenine lòng tràn trề tình thương và tha thứ cho kẻ thù đã làm ông đau khổ nhục nhã bấy lâu nay.
-Kity thất tình cay đắng phát bệnh vì bị Vronsky bỏ rơi để chạy theo Anna. Ông Hoàng và phu nhân theo lời khuyên bác sĩ đưa cô ra ngoại quốc nghỉ mát để lấy lại bình tĩnh thăng bằng. Trong thời gian tại Đức, Kitty quen nhiều người tốt như bà Stahl, Varenka, họ có ảnh hưởng nhiều trên đời sống tinh thần của cô, họ xoa dịu nỗi khổ đau của cô. Chẳng bao lâu một thế giới mới mở ra cho Kitty, thế giới cao sang, hưng phấn... từ đó cô bình thản nhìn lại quá khứ, nó mở ra cho cô một thế giới tinh thần. Cuộc đời mở ra cho cô một chân trời tinh thần tín ngưỡng nhưng tôn giáo này không liên hệ gì với đạo mà nàng đã biết từ hồi còn nhỏ với những kinh câu, đó là tôn giáo huyền bí cao cả uyên thâm mà người ta bảo mình phải tin vào đó.
 Nay cô thấy đạo này không xuất từ những lời bà Stahl nói tất cả những phiền muộn, đau khổ của con người chỉ có tình thương và đức tin xoa dịu được. Kitty học được ở Veranka con người có mục đích tự quên mình và yêu thương người khác và nó sẽ khiến ta điềm đạm, hạnh phúc, cao thượng, Kitty muốn được như vậy, nay nàng cho đó là điều quan trọng nhất. Từ Varenka, bà Stahl và những người mà cô đã học hỏi được cô phác hoạ một chương trình làm việc cho tương lai, cô tìm những người có nhiều trắc trở dù họ ở đâu. Cô sẽ giúp họ tất cả những gì mình có thể như cho họ Kinh thánh, đọc kinh thánh cho người bệnh, tù nhân, những kẻ hấp hối, đó là những giấc mơ âm thầm, Kitty không nói cho ai biết.
Trong khi chờ thực hiện chương trình của mình ở một phương diện lớn, phu nhân thấy Kitty, con gái bà bắt chước Varenka, bà thấy Kitty đã thay đổi tinh thần một cách nghiêm túc. Buổi chiều cô đọc Kinh thánh bằng tiếng Pháp của bà Stahl cho, cô tránh giao thiệp với những bạn bè quen biết trong xã hội, giúp đỡ những người bệnh hoạn và nhất là một gia đình nghèo, hoạ sĩ Petrov. Người ta khen cô là một thiên thần xoa dịu những nỗi đau của người khác. Phu nhân thấy con bà nhiệt tình quá phải cản ngăn bằng một câu tiếng Pháp:
“Bất kỳ việc gì cũng không nên thái quá ”
(Il ne faut jamais rien outrer''
Tôn giáo dưới nhãn quan Tolstoi hoàn toàn khác với đạo của Giáo hội mà ông cho chỉ là hình thức. Như ở đây cuộc đời mở ra cho Kitty một thế giới mới với tinh thần tín ngưỡng nhưng cái tôn giáo này không liên hệ gì với đạo mà nàng đã biết từ hồi còn nhỏ với những bài kinh cầu nguyện, đó là tôn giáo huyền bí cao cả uyên thâm mà người ta bảo mình phải tin vào đó. Tolstoi con người sùng đạo, tin Thượng đế nhưng chống lại Giáo hội
 




Đăng nhập để trả lời
0
Khía cạnh văn chương


 
 
Morris Philipson nói Tolstoi đã hoàn thành hai tác phẩm tuyệt vời nhất chưa từng có: Chiến Tranh Và Hòa Bình và cuốn tiểu thuyết bất hủ thứ hai Anna Karenina.
 
Những cuốn này hình như không có vẻ là những tác phẩm nghệ thuật, ta có cảm tưởng đó chính là cuộc đời.
Có lẽ lý do đơn giản nhất của nó là đặc tính trước hết của nghệ thuật hiện thực là thể hiện được những cái gì tiềm ẩn mà người ta không nói lên được. "
(These novels do not seem to be works of art; they give the appearance of being life itself.
Perhaps the simplest reason for this is that the primary characteristic of the realist's art is to make explict what is implicit but inarticulate in all men” - The Count who wished he were a peasant -Trang 69, 70).
 
Các nhà nghiên cứu điển hình là giáo sư Dmitry Svyatopolk Mirsky trong cuốn Lịch Sử Văn Học Nga đề cao giá trị hiện thực trong hai cuốn tiểu thuyết lớn kể trên của Tolstoi. Người ta cho rằng tác giả đã thể hiện được cuộc sống của dân Nga một cách chân thực như Moirris Philippson đã nói.
 
Mặc dù Tolstoi thừa hưởng điền sản của gia tộc và quản lý trang trại nơi thôn quê nhưng thế giới quí tộc nơi kinh thành Petersburg, Mạc Tư Khoa trong tác phẩm của ông đã được diễn tả thực đến độ người ta tưởng như nó chính là cuộc đời. Trong Anna Karenine, Tolstoy bỏ nhiều thời gian nghiên cứu công phu luật gia đình, thủ tục li dị, sinh hoạt giới thượng lưu... để dựng lên cả một thế giới quyền quí giả dối của xã hội phong kiến Nga Hoàng. Sau này trong Phục Sinh, cuốn tiểu thuyết lớn sau cùng, ông nghiên cứu kỹ luật lệ tòa án, đi thăm các nhà tù, đường đi Tây Bá Lợi Á để dựng lên cả một thế giới sống động như trong phim ảnh, Tolstoi cũng là nhà dàn cảnh điêu luyện.
 
Từ cái chết thảm thương của một người đàn bà thất vọng vì tình tự vẫn tại nhà ga xe lửa, Tolstoi đã dựng lên cả một bi kịch sống động, tạo ra nhiều nhân vật để hoàn thành cả một xã hội quí tộc phong kiến thời Nga Hoàng, người ta tưởng như cả một xã hội xa xưa đã được làm sống lại. Các nhân vật của tác phẩm từ các vai chính Anna, Karenine, Vronsky, Kitty, Levin.. đến các vai phụ Dolly, Stepan đã họp nhau thành vở kịch lớn, một xã hội thượng lưu. Vai chính vai phụ đều có cá tính riêng: Một Karenine cao thượng, quảng đại nhưng giả dối chỉ biết bề ngoài, một Kitty đạo đức vị tha, một Anna lãng mạn tất cả cho tình yêu, một Vronsky hy sinh sự nghiệp cho tình yêu, một Levin triết gia đi tìm hạnh phúc...
 
Tolstoi lấy tên nhân vật thực Anna đặt cho tác phẩm để xây dựng cuộc đời nhân vật nữ, một bà mệnh phu nhân tuyệt sắc có những nét độc đáo khác thường. Nói về nghệ thuật diễn tả nội tâm thời cổ điển các nhà nghiên cứu không ngớt lời ca ngợi Tolstoi và Dostoevsky, mỗi tác giả có một nghệ thuật riêng, Tolstoi diễn tả nội tâm những người bình thường của xã hội trong khi Dostoevsky hướng về những nhân vật bệnh hoạn khác thường. Với Anna Karenine nghệ thuật tả tâm lý của Tolstoi đạt tới đỉnh cao ở cả hai nhân vật mang tên tác phẩm nhất là độc thoại của Karenina về nhà sau buổi tiệc trà tại nhà Betsy, thấy vợ mình ngồi cạnh Vronsky tâm tình thân mật khiến ông bực bội trong lòng. Tác giả ví như Karenina đang đi trên cầu, cái cầu có vết nứt, vết ấy chính là cuộc đời.
Các nhà phê bình cho nghệ thuật độc thoại của Tolstoi đã đạt tới đỉnh cao như ở đây Karenina băn khoăn lo lắng nghĩ đi nghĩ lại, có khi cho ghen là điều xấu hổ, tự hạ giá mình, có khi thấy mình phải có bổn phận hướng dẫn, cảnh giác nàng.
 
Levin được bạn Stepan đưa đến thăm em gái Anna, chàng thấy chân dung nàng tuyệt đẹp, rồi thấy chính Anna bằng xương thịt, nàng đẹp tuyệt trần hơn người trong tranh vẽ. Trước đây chàng nghĩ không tốt về nàng nay thấy tội nghiệp cho nàng, người đàn bà thông minh, thẳng tính, chàng nghĩ đến nội tâm nàng hàng giờ. Anna biết Levin say đắm sắc đẹp của mình và đã mê hoặc chàng rồi tự mãn. Tác phẩm thể hiện nhiều cuộc độc thoại của Karenine, Levin, Kitty... nhưng với Anmna thì thật là tuyệt diệu, nhân vật Anna quá độc đáo xứng đáng đặt tên cho tác phẩm.
Mấy chục trang giấy cuối Phần Bảy, đã diễn tả một cách tuyệt vời bị kịch cuộc đời nàng Anna từ khi ghen bóng gió nghi ngờ đến hận thù, trả thù tình yêu phai nhạt của chàng. Nàng nghĩ đến cách trả thù bằng cái chết của mình, đến sự khủng hoảng tinh thần, tâm trí nàng rối bời và cái chết. Sự diễn tả của Tolstoi đã đạt tới đỉnh cao nghệ thuật.
 
Đoạn chót, cơn khủng hoảng tinh thần rối bời của Anna đã được diễn tả từng chi tiết cho thấy lý do nàng gieo mình trên đường sắt. Anna nghi ngờ Vronsky đang gặp mẹ chàng và công nương Sorokina, chắc chàng đã yêu người đàn bà nào khác. Vronsky đi công chuyện trở về, họ cãi nhau, chàng ta nói anh chịu hết nổi em, Anna đe dọa: Anh sẽ phải hối hận. Vronsky bỏ đi gặp mẹ, nàng nghĩ thế là hết, bỗng ngọn nến tắt, nàng sợ hãi nhớ tới cơn ác mộng rồi chạy đi tìm gia nhân hỏi Bá tước đâu rồi sai nó đem thư cho chàng nói: “Em nhầm rồi, anh về ngay, em giải thích sau, em sợ quá.”
 
Anna chờ mười phút, hai mươi phút không thấy chàng về, tâm trạng nàng rối bời như tơ vò, Anna sốt ruột nhìn đồng hồ, nàng sai gia nhân đem thư tới cho chàng tại nhà bà mẹ rồi đem thư trả lời về. Thay quần áo định đến gặp chị dâu Dolly, nàng khóc rồi cuống lên hỏi người tớ gái ta biết làm sao bây giờ? Cô hầu bảo thưa bà sao bà cuống lên vậy, xin bà đi chơi cho khuây khoả. Anna đến thăm Dolly có gặp Kitty, cô không có cảm tình với Anna. Nàng lên xe đi trong lòng nghĩ tới cái chết, hai chị em Dolly Kitty tiếp đón Anna, khi nàng ra về, họ khen nàng vẫn đẹp nhưng nói tội nghiệp cho nàng.
Anna ghen lồng lộn nghĩ chàng đang cùng công nương Sorokina trò truyện như đùa cợt trên sự đau khổ của nàng. Anna nghĩ tới cái chết, nàng quyết trừng phạt Wronsky để lấy lại tình yêu trong tim chàng. Anna rối bời nghĩ chàng đã chán chường không còn thiết tới mình, nàng nghĩ tới đứa con trai, đã bỏ cả con theo chàng, đã đánh đổi nó với tình yêu một người khác nay nó đã tàn. Anna lên xe ngựa tới nhà ga, rồi đi xe lửa tới trạm Obiralovka, nàng nhận được thư Vronsky do người đánh xe trao lại, chàng nói sẽ về lúc mười giờ, Anna căm giận, đi lại trên sân ga rồi quyết định nhảy vào đầu xe lửa đang chạy tới để trừng phạt người yêu. Bi kịch cuộc đời Amna kết thúc thật hãi hùng ghê rợn.
Nhiều người đánh giá cao lối kết luận chuyển sang bi kịch của Tolstoy khi ông không chiều ý độc giả bằng kết thúc happy- ending mà nhiều người ưa thích. Ở đây Karenina, Anna, Vronsky chỉ hòa thuận với nhau trong giờ phút ngăn ngủi rồi chàng và nàng lại cùng nhau bỏ đi ngoại quốc.
 
Trong truyện Phục Sinh, Tolstoi không để Nekhlioudov, Maslova bên nhau mãi mãi nhưng anh chị chia tay tại bờ sông khi nàng theo đoàn tù đi Tây Bá Lợi Á.
Ernest J. Simmons trong cuốn Giới Thiệu Tác Phẩm Của Tolstoi trang 91 nói:
 
Trong giờ phút nguy kịch, quan trọng ấy người chồng trọng hình thức và người yêu của nàng hòa thuận với nhau, sự tha thứ của Karenina mang vẻ dứt khoát và lương tâm của Vronsky như vô cùng xúc động về tội lỗi mình đã làm. Ở chỗ này nhiều tiểu thuyết gia khác có thể đã có kết thúc êm đẹp để chiều độc giả. Dostoevsky cho đây là một cảnh tuyệt nhất của tác phẩm như tội lỗi được tô điểm màu sắc tinh thần và kẻ tử thù đã trở thành anh em với nhau trước hình ảnh cái chết”
(By her bedside at this solemn and crucial time her sour, formal husband and her lover are reconcied. Karenin's forgiveness has an dir of finality and the Vronsky's conscience seems deeply moved by the realiation of the sin he has committed. At thịs point another novelist might have made a concession to the public's fondness for a happy ending. Dostoevsky thought it the greatest scene in the work, one in which guilt is spiritualized and mortal enemies are transformed into brothers before the spectre of death. Intoduction To Tolstoy's Writings)
 
Nghệ thuật hướng nội và độc thoại ở Anna thật tuyệt vời, có thể là lý do khiến tác phẩm đã được phổ biến sâu rộng trên thế giới và còn được ca ngợi cho đến ngày nay.
 




Đăng nhập để trả lời
0
Điện ảnh.


 
Amna Karenine đã được quay thành phim nhiều lần cũng như được phỏng theo để đưa vào nhiều chương trình nghệ thuật khác:
Về đài phát thanh: năm 1944, Mỹ. Năm 1997 BBC radio, Anh.
Về truyền hình: năm 1961, Anna Karenina, do BBC, đạo diễn Rudolph Cartier.
Năm 1977, Anna Karenina, đạo diễn Basil Coleman, TV Anh.
Năm 1985, Anna Karenina, đạo diễn Simon Langton, Mỹ.
Năm 2000, Anna Karenina đạo diễn David Clair, Anh.
 
Về vũ ballet:
Năm 1971 của Rodion Shchedrin.
Năm 2005 của Boris Eifman.
 
Về kịch nghệ: năm 1992 tại Broadway, Mỹ. Năm 1994 tại Hungary.
Về nhạc Opera: năm 1978, do Iain Hamilton, Anh, năm 2007 do David Carlson, Mỹ.
Về điện ảnh: trong số ba cuốn tiểu thuyết lớn của Tolstoi, Anna Karenine đã được quay thành phim nhiều nhất, tính từ thời phim câm cho tới năm 2005 nó đã được thực hiện 10 lần.
Năm 1914, Anna Karenina, phim Nga đạo diễn Vladimir Gardin.
Năm 1915, Anna Karenina, phim Mỹ, tài tử Betty Nansen.
Năm 1927, lấy tên Love, phim Mỹ nữ tài tử Greta Garbo, đạo diễn Edmund Goulding Mỹ.
Từ 1930 về trước phim chưa có tiếng nói, chỉ có phim câm.
Năm 1935, Anna Karenina, phim Mỹ tài tử Greta Garbo, Fredric March, đạo diễn Clarence Brown.
Năm 1948, Anna Karenina, phim Anh tài tử Vivien Leigh, Kieron Moore, Ralph Richardson, đạo diễn Julien Duvivier.
Năm 1953, Anna Karenina, phim Nga đạo diễn Tatyana Lukashevich.
Năm 1967, Anna Karenina, phim Nga đạo diễn Alexander Zarkhi.
Năm 1974, Anna Karenina, phim Nga đạo diễn Margarita Pilikhina.
Năm 1997, Anna Karenina, phim Anh - Mỹ đạo diễn Bernard Rose, tài tử Sophie Marceau và Sean Bean,
Năm 2005, Anna Karenina, phim Nga đạo diễn Sergei Solovyov.
 
Các phim Anna Karenina chỉ thể hiện được cốt truyện, dài từ một giờ rưỡi cho tới hai giờ. Một cuốn tiểu thuyết vĩ đại gần một nghìn trang mà chỉ diễn tả trong khoảng thời gian ngắn ngủi như thế thì chẳng nói gì được bao nhiêu. Nó đã bị đóng khung trong giới hạn chỉ để kể lại truyện tình của hai nhân vật chính, những ý nghĩa xã hội, tình thương, hạnh phúc... đã không được thể hiện.
 
Trong số các phim Anna Karenina kể trên có bốn cuốn được dư luận chú ý là phim quay 1935 của Clarence Brown, Mỹ, đen trắng dài 95 phút (1 giờ 35 phút), phim đen trắng quay 1948 của Julien Duvivier, Anh dài 133 phút (2 giờ 13 phút), phim màu quay năm 1967 của đạo diễn Alexander Zarkhi, Nga dài 145 phút (2 giờ 25 phút), phim màu quay năm 1997 của Bernard Rose Mỹ- Anh dài 108 phút (1 giờ 48 phút)
 
-Phim Anna Karenina Mỹ đen trắng của đạo diễn Clarence Brown do nữ tài tử nổi danh Greta Garbo và Fredric March quay năm 1935 mặc dù chỉ có 1 giờ rưỡi nhưng đã được giới phê bình ca ngợi nhiều, một cuốn phim nổi tiếng (the most famous and critically acclaimed version). Greta Garbo đã được trao giải nữ diễn viên xuất sắc trong vai Anna của Hiệp Hội phê bình phim Nữu Ước (New York Eilm Critics Circle Award for Best Actress).
Cho tới nay so với các phim quay lại truyện Anna Karenina, nó vẫn giữ được địa vị ưu thế mặc dù thực hiện từ 75 năm qua trong thời kỳ kỹ thuật điện ảnh còn thô sơ. Các vai chính vai phụ đều tỏ ra điêu luyện nhất là nhờ sự diễn xuất tuyệt vời của Greta Garbo, người nữ tài tử tài sắc vẹn toàn. Nữ minh tinh này đã diễn tả được vẻ uy nghi của một bà mệnh phu nhân cùng với Fredric March hào hoa phong nhã trong vai công tử Vronsky khiến cho phim vẫn là một tác phẩm điện ảnh có giá trị vượt thời gian. Trong phim đoạn Anna về thăm con trai bị chồng mắng chửi thậm tệ đã không theo đúng như trong truyện.
 
-Phim Anna Karenina đen trắng quay năm 1948 của Anh, đạo diễn Julien Duvivier, tài tử Vivien Leigh, Kieron Moore, Ralph Richardson. Phim đen trắng dài 133 phút (2 giờ 13 phút) mặc dù trang phục đẹp nhưng bị chê là nhàm chán. Phim không nổi tiếng, không được chú ý bằng phim kể trên.
 
-Phim Anna Karenina màu của Nga quay 1967 do hãng Mạc Tư Khoa thực hiện, đạo diễn Alexander
Zarkhi, các tài tử Tatyana Samojlova, Vasili Lanovoy, Nikolai Gritsenko, dài 145 phút (2 giờ 25 phút). Phim đã được Liên Xô đưa đi dự Đại hội điện ảnh Cannes bên Pháp năm 1968 nhưng năm ấy Đại hội bị hủy bỏ. Nói chung nghệ thuật thua kém Âu Mỹ, diễn xuất không điêu luyện lắm, tài tử không thể hiện được cá tính của nhân vật mà họ thủ vai khiến cho nhiều cảnh có phần giả tạo. Ngoại cảnh trông đơn sơ nếu không nói là nghèo nàn không thể hiện đúng nội dung tác phẩm diễn tả đời sống xa hoa tráng lệ của giới thượng lưu quí tộc kinh thành Petersburg ngựa xe như nước với những ông Hoàng bà Chúa quyền quí cao sang.
Nhà đạo diễn hình như không quan tâm tới việc lựa chọn tài tử, một ông công chức cao cấp, sang trọng lại giao cho một ông già có dáng dấp bình dân, một bà mệnh phụ được Tolstoi mô tả là nhan sắc tuyệt trần được giao cho một nữ tài tử không lấy gì làm sắc nước hương trời cho lắm.
Cảnh cuối cùng khi Anna khủng hoảng tinh thần đi tìm cái chết đã được thể hiện một cách khó hiểu, không diễn tả được đoạn kết thúc.
 
-Phim Anna Karenina màu 1997, hãng Anh - Mỹ sản xuất có hợp tác với Nga, đạo diễn Bernard Rose, tài tử Sophie Marceau và Sean Bean dài 108 phút (1 giờ 48 phút). Bernard Rose là nhà đạo diễn nổi tiếng người Anh đã thực hiện phim Immortal Beloved 1994 về cuộc đời nhạc sĩ Beethoven. Lần này Anna Karenina được quay hoàn toàn tại Nga, nhiều cảnh được thực hiện tại các cung điện kinh thành Saint Petersburg, các cung điện Nga Hoàng, một số lâu đài của giới quí tộc Nga như Cung điện mùa đông, Peterhof, lâu đài Menshikov, một số cảnh được quay tại Mạc Tư Khoa.
 
Bernard Rose, người thực hiện Anna Karenina 1997 đã cố gắng rất nhiều khi đem hết nhân sự sang tận Saint Petersburg để thu vào ống kính những lâu đài nguy nga tráng lệ, những biệt thự sang trọng lộng lẫy. Ông làm sống lại cả một thế giới huy hoàng, xa hoa tráng lệ đã vang bóng một thời của giới thượng lưu quí tộc thời Nga Hoàng xa xưa. Tuy nhiên Bernard Rose không thành công nhiều nếu so với phim Immortal-Beloved của ông đã thực hiện mấy năm trước. Giá trị của Anna Karenina 1997 phần lớn nhờ vào ngoại cảnh của thành St. Petersburg với những tam cung lục điện xa hoa tráng lệ cũng như nhờ màu sắc lộng lẫy của kỹ thuật tối tân. Đoạn cuối phim nhà đạo diễn bỏ quên một chỉ tiết, Anna sai người hầu mang thư cho Vronsky yêu cầu chàng về ngay nhưng bị từ chối, nàng nghĩ chàng đã hết yêu mình và tự kết liễu cuộc đời.
 
Sánh với phim Anna Karenina năm 1935 của Clarence Brown kể trên ta thấy Bernard Rose không tiến bộ hơn gì hơn có chăng là ở màu sắc và hình ảnh lộng lẫy của những cảnh thật tại một kinh thành tráng lệ. Phải nói rằng diễn xuất trong Anna Karenina 1997 thua kém xa phim của Clarence Brown quay 1935 rất nhiều. Ngoài ra vai Bá tước Vronsky đã được giao cho Sean Bean, một tài tử với ngoại diện thiếu vẻ hào hoa phong nhã, không đúng như trong trí tưởng tượng của người đọc.
 
Mặc dù tác phẩm của Clarence Brown chỉ là cuốn phim cổ điển quay từ 1935 bằng kỹ thuật đen trắng sơ sài nhưng giá trị diễn xuất và dàn cảnh của nó vượt xa phim của Bernard Rose. Greta Garbo, Fredric March và các tài tử khác đã cho ta thấy hình ảnh quan liêu của các ông Hoàng bà Chúa thượng lưu phong kiến từ một trăm ba mươi năm trước.
Dù sao Bernard Rose đã cố gắng rất nhiều trong sự thực hiện phim này để diễn tả thêm một lần nữa tác phẩm bất hủ của văn hào Léon Tolstoi, làm sống lại cả một xã hội thời Nga Hoàng và cũng để khán giả ngược dòng thời gian nhìn lại nếp sống xa hoa tráng lệ xa xưa trong tiếng nhạc du dương của những cầm tấu khúc Tchaikovsky và Rachmaninoff
 
Anna Karenina đã được quay thành phim nhiều lân chứng tổ cho tới nay truyện vẫn được nhiều người quí trọng. Các nhà đạo diễn cảm thấy chưa thoả mãn và họ muốn diễn đạt tác phẩm nhiều hơn nhưng hình ảnh không thể hiện được hết những ý nghĩa sâu sắc của cuốn tiểu thuyết vĩ đại về hạnh phúc, tâm lý, luận để xã hội... Trên thực tế phim không thể rung cảm người thưởng thức cho bằng tác phẩm.
 




Đăng nhập để trả lời
0
Kết luận.
 
 
Trong Introduction To Tolstoy's Writings trang 83, 84 Ernest J. Simmons nói:
Từ 1870, Tolstoy có nói với phu nhân rằng ông đã có một đề tài mới cho cuốn tiểu thuyết của mình về một bà phu nhân dòng dõi quí tộc đã sa đọa về đạo đức.
Tolstoy giải thích “ông chủ trương diễn tả người đàn bà này vô tội đáng thương”.
(As early as 1870, however, Tolstoy has told his wie that he has a new theme for a novel which would concern a married woman in hiph society who has lapsed morally. “His problem” he explained, “was to represent that woman as not guilty but merely pathetic)
 
Tác giả lấy cái chết của nhân vật có thật Anna, người đàn bà ở kế bên trang trại của ông thất vọng vì tình tự tử dựng lên nhân vật cùng tên để đưa ra một luận đề xã hội về giai cấp thượng lưu sa đọa kinh thành Petersburg. Trước khi viết ông dự định mô tả một bà phu nhân sa ngã vào con đường ngoại tình nhưng không kết án tội lỗi của nàng.
 
Sonya xác nhận: “Anh ấy cho tôi biết anh sẽ viết một cuốn tiểu thuyết nói về sự sa đoạ của một người đàn bà thuộc giai cấp thượng lưu Petersburg, anh sẽ kể chuyện người đàn bà và sự sa đọa mà không kết án nàng.
(He told me that he wanted to write a novel about the fall of a society woman in the highest Petersburg circles, and the task he set himself was to tell the story of the woman and of her fall without condemning her - Motris Philipson, The Count Who Wished He Were A Peasant, p. 79).
 
Anna Karenina diễn tả bộ mặt lạc hậu của thành kiến xã hội lỗi thời so với Tây phương, nhân vật Anna được tác giả dựng thành một thiếu phụ đáng thương, nhưng ông đã có nhiều sơ hở làm giảm ý nghĩa của sự diễn tả. Tolstoi đã nói nhân vật chính, hình ảnh nạn nhân của xã hội, một người sa đọa, trên thực tế ông đã làm giảm sự xúc động của độc giả ở nhiều đoạn.
 
Khác với Maslova, nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết lớn Phục Sinh (Resurection) sau này của Tolstoi nghèo khổ, bị xã hội phong kiến vùi dập, Anna sống trong nhung lụa từ thuở thiếu thời cho tới khi trưởng thành. Nàng thành hôn với Karenine một công chức cao cấp, mùa hè phu nhân ở riêng một biệt thự đầy những gia nhân kẻ hầu người hạ, sau sống chung với Vronsky, chàng này lại giàu sang phú quí hơn người chồng trước. Nếu như Maslova, con một bà nông dân, đẻ trong chuồng bò, lớn lên bị cậu công tử phá hoại cuộc đời, bị đuổi đi, sa vào đường tội lỗi chốn lâu xanh, bị tù đầy oan uổng, nạn nhân của xã hội phong kiến bóc lột... thì Anna là một bà Hoàng xài tiền như nước, ăn trên ngồi chốc.
 
Để chứng minh luận đề tác giả đã tạo cho nhân vật nhiều cá tính không gây được cảm tình cho lắm, nàng tự bào chữa cho mình một cách ngụy biện như: Anna nghĩ Karenine đã nghiền nát cuộc đời nàng tám năm, làm tan nát nguồn sống của đời nàng với cuộc hôn nhân không tình yêu. Người đàn bà như Amna phải có tình yêu, nàng đã cố gắng hết mình để tìm ý nghĩa cho cuộc đời mình, Thượng Đế muốn nàng phải yêu và sống. Những lời độc thoại ấy chỉ là lý lẽ biện hộ cho cuộc đời sa ngã, ngoại tình tội lỗi của nàng, điều không thuận lợi cho tác giả nằm ở chỗ người ta tưởng đó là những lý luận của ông để bào chữa cho cuộc đời sa đoạ của Anna.
 
Bà phu nhân thông minh tuyệt sắc nhưng tỏ ra tàn nhẫn với người chồng khi thú thật với người bạn đời như: Tôi yêu anh ấy, tôi nghĩ tới chàng, tôi nghe mình nói nhưng tôi nghĩ tới chàng, tôi yêu chàng, tôi là người yêu của chàng, tôi không chịu nổi mình, tôi sợ và ghét mình, muốn làm gì tôi thì làm... Karenine chết điếng người đau khổ vì lấy phải con vợ hư nhưng cũng vẫn thản nhiên tha thứ, vẫn muốn xum họp với nhau như xưa vì danh dự của gia đình. Người chồng được mô tả là cao thượng, quảng đại chừng nào, dưới cái nhìn của độc giả người vợ thấp hèn, đáng chê chừng nấy.
 
Ngay khi mới vào truyện, người đọc đã được giới thiệu nhiều cá tính thiếu đức hạnh của nhân vật chính như: phỗng tay trên người yêu của Kiity, em ruột của chị dâu, phá hoại hạnh phúc của người khác và của chính mình, gian díu với tình nhân nhưng vẫn sống trên nhung dưới lụa bằng tiền của chồng. Gần cuối Phần 7, Chương 12 khi Levin bạn của anh tới thăm, Amna tỏ ra lẳng lơ lấy sắc đẹp mê hồn để quyến rũ chàng ta như mèo vờn chuột, nàng rất thích Levin. Khi khách đã về, Anna đi lại trong phòng tự mãn đã quyến rũ được Levin cũng như đã từng quyến rũ nhiều chàng trai trẻ khác, lần này nàng đã mê hoặc được một người có gia đình chín chắn, Anna nghĩ thầm nàng đã khiến nhiều chàng mê mệt, Levin đã mê nàng.
Levin về kể cho cô vợ trẻ Kitty nghe xong nàng khóc bảo anh đã mê người đàn bà xấu, nó đã quyến rũ anh. Đoạn này cho thấy Anna từ đầu chí cuối làm cho Kitty đau khổ, trước đã giựt người yêu Vronsky khiến Kitty thất tình chết lên chết xuống nay lại mê hoặc chồng nàng.
 
Phần 7, Chương 28 trước khi Anna tự tử, nàng bị khủng hoảng tinh thần, lòng dạ rối bời như bòng bong, nàng ghé thăm chị dâu Dolly cho khuây khoả, hôm ấy cô em Kitty đang ở trong nhà không muốn ra chào Anna vì không muốn gặp người đàn bà xấu nhưng Dolly nói mãi nên mới chịu ra. Lúc chia tay Anna thăm hỏi Kitty:
Anna tươi cười bảo:
-Rất mừng được gặp lại chị, tôi nghe nhiều người nhắc đến chị, cả chồng chị cũng nhắc tới.
Nàng nói bằng giọng ranh mãnh
-Anh ấy có đến thăm tôi, tôi rất thích anh ấy. Anh ấy đâu?
Kiity thẹn thùng đáp.
-Anh ấy về quê rồi.
-Nhớ cho tôi gửi lời chào anh ấy nhá. " (Trang 809) 
  • Bà phu nhân được Toltoi coi như đáng thương vô tội nhưng sự diễn tả của ông có những nét không được chân thực, nàng vô tội nhưng nhiều ác ý. Bản chất quá lãng mạn và thiếu đạo đức nàng chứa đựng trong tâm hồn những ý tưởng đen tối đối với hạnh phúc gia đình người khác, thích tạo đau khổ cho người khác như qua mấy câu ngắn ngủi kể trên. Kiity người đàn bà hiền lành, chân thật đã nhiều phen điêu đứng vì Anna, cho tới lúc này chị ta vẫn còn sợ sệt nàng.
  • Đoạn cuối truyện, Anna nghĩ tới cái chết vì muốn trả thù người yêu, trừng phạt và bắt chàng phải đau khổ trong ân hận để lấy lại tình yêu trong tim chàng. Anna chỉ nghĩ đến hận thù, trừng phạt và như thế cái chết của nàng đã mất phần bi thẩm mà tác giả muốn dựng lên hình ảnh của một người đàn bà đáng thương.
    Bản chất lãng mạn, khi tranh cãi với Vronsky, Anna lập lại nhiều lần “Anh đã hết yêu em” khiến chàng phải thở dài “Trời! Lại yêu đương nữa”. Nàng coi cuộc đời chỉ có tình yêu, hy sinh tất cả cho tình yêu, một tâm hồn bệnh hoạn đi tìm ảo tưởng của hạnh phúc hơn là một nạn nhân đáng thương của xã hội.
     
    Phần Tám, chương 4 sau khi Anna đã gieo mình tự vẫn, lời bà nữ bá tước, mẹ Vronsky lên án Anna cũng khiến cho đoạn kết mất phần bi thẩm. Bà nói với Sergey, anh Levin về những tội lỗi của người đàn bà xấu, sa đọa, ä đã làm hại đời người chỗổng, hại đời con trai của bà, Vronsky đã bỏ cả sự nghiệp vì ả, nàng chết như thế là đáng đời, cái chết thấp hèn tầm thường.
    (Yes, hers was the fitting end for such a woman. Even the death she chose was low andl vuÏgar — p. 829)
    Bà cụ nói cái chết của ả là cái chết của người đàn bà tồi tàn, vô đạo, bà thù ghét ả vì đã hại đời con trai bà.
    (..her very death was the death of a vile woman, of no religious feeling. God forgive me, but Ì can't help hating the memory of her, when I look at my son's misery! — p. 829)
     
    Tolstoi đã không đưa lời biện minh cho Anna của Sergy hoặc của nhân vật nào khác nên mặc nhiên nàng bị coi như người đàn bà xấu, hư hỏng, phá hoại đời mình và hai người đàn ông khác, như thế cái chết của nàng mà Tolstoi diễn tỉ như một thẩm kịch bị mất nhiều ý nghĩa. Vô tình tác giả đã làm giảm ý nghĩa bi thẩm của đoạn kết thúc cuộc đời Anna khi một nhân vật cho rằng nàng xứng đáng với cái chết của mình.
     
    Amna gặp Vronsky lần đầu tại ga xe lửa khi tai nạn tại đây của một người nhân viên đã gợi cho nàng điểm gở. Khi khiêu vũ với Vronsky nàng mặc áo mầu đen, nàng nói nếu sinh đẻ sẽ chết. Những điểm xấu đã ám ảnh Anna đưa tới kết thúc bi thẩm cuộc đời gian truân của nàng.
    Một số nhà nghiên cứu phê bình cho rằng Anna Karenina là một cuốn truyện tình nhưng lại đào sới những để tài khác như kỹ thuật, canh nông, hành chánh... những để tài này nhiều khi làm khán giả mất hứng thú khi đang theo dõi câu chuyện tình sôi nổi, thật vậy nhiều khi tác giả đã đi lạc đề.
     
    Phần 1, Chương 22, 23, trang 83 trong buổi khiêu vũ tác giả đã tả nội tâm Kitty quá dài khoảng gần 10 trang khi cô ngơ ngẩn sầu thấy người yêu khiêu vũ với Vronsky.
    Phần hai, Chương 12, 13 trang 167 nói về việc canh tác trồng trọt của Levin tại trang trại, đồng ruộng dài và khó hiểu nếu không nói là thừa.
    Phần 3, Chương 27 có nhiều đoạn tranh luận về canh nông, giải phóng nông nô, có 
    người nói nó làm nước Nga lụn bại, tác giả nói về canh nông, chuyện xã hội, cải cách khá dài, Chương 29 trang 369 nói về cải cách canh tác rất khó hiểu, rườm rà.
    Phần 4, Chương 23 trang 466, Anna sinh con gái rồi bị suy nhược gần chết, Vronsky trở về nhà lấy súng lục bắn vào ngực tự sát, chàng không phải đưa đi bệnh viện chỉ dưỡng sức ở nhà có ba ngày là bình phục cho thấy đoạn này giả tạo, một vết thương nặng có thể bình phục nhanh như thế.
    Phần 5, Chương 9, 10, 11... nói dông dài về hội hoạ rất khó hiểu và thừa thãi. Chương 15 trang 521 Levin viết sách về nguyên nhân sự nghèo đói ở Nga, những bàn luận về canh nông dài dòng khó hiểu
    Phần 6, Chương 8, 9... cho tới chương 13 tác giả tả cuộc đi săn quá dài từ trang 6l6 tới 639 khiến độc giả theo dõi mệt mỗi.
    Phần 8, Chương một nói về cuốn sách của Sergey, anh Levin dài dòng, lộn xộn.
    Phần 7, Chương 31, trang 818 khi Anna nhẩy vào đầu xe lửa tự vẫn coi như truyện kết thúc rồi vì nhân vật chính không còn. Tolstoi có thể kể thêm một số chỉ tiết liên hệ như Vronsky chán đời tình nguyện ra trận, bà cụ thân sinh, nữ bá tước than phiển về Anna và lên án nàng nhưng tác giả còn kéo dài thêm phần 8, 19 chương, gồm 51 trang từ 819 cho tới trang 870.
    Phần 8 kể lể nhiều chuyện vụn vặt của các nhân vật phụ như nói về cuốn sách của Sergey dài dòng lộn xộn, chuyện những người tình nguyện ra biên giới đánh quân Thổ Nhĩ Kỳ. Đoạn nữ bá tước Vronsky kết tội Anna như đã nói làm mất tính bì kịch của tác phẩm, vài chương cuối Tolstoi diễn tả đài dòng về tâm tư Levin, đức tin của chàng có thể đưa lên chương trước cho phần 8 ngắn hơn. Anna Karenina là một truyện tình sôi nổi cảm động nhưng nếu những đoạn dài dòng không liên hệ được bỏ bớt, diễn tả ngắn gọn sẽ mang lại sự thoải mái hơn cho người thưởng thức.
    Mặc dù chỉ là một tác phẩm cổ điển xưa cũ được sáng tác từ trên 130 năm qua nhưng địa vị của Anna Karenine vẫn sáng ngời, có khoảng trên 10 cuốn sách tiếng Anh nghiên cứu, phê bình về cuốn truyện này. Nay Anna Karenine vẫn được tái bẩn, dịch ra tiếng ngoại quốc, được nhiều người tìm đọc và ca ngợi, giá trị vượt thời gian của nó là điểu không ai phủ nhận. Anna Karenine cũng đã được dịch ra hầu hết các thứ tiếng trên thế giới, từ đông sang tây cho ta thấy giá trị vượt không gian của tác phẩm.
    Người đọc có cảm tưởng như thấy mình ở trong cuốn tiểu thuyết vĩ đại này, nó đã diễn tả chân thực tâm tình của con người, dù đông hay tây cũng đều như thế. Truyện đã thể hiện tính nhân bản tuyệt vời của tình thương, sự tha thứ, con đường đi tìm hạnh phúc, đức tin... trong một thế giới tràn trễ chân thiện mỹ.
     




Đăng nhập để trả lời
0
Phục Sinh


 
Resurrection là cuốn tiểu thuyết lớn sau cùng của Tolstoi, viết sau Anna Karénine hơn 20 năm, sách dầy khoảng trên 500 trang, dài bằng một phần ba Chiến Tranh Và Hòa Bình, hoặc già nửa Anna Karenine.
 
Hoàn thành năm 1890, được đón nhận nồng nhiệt tại Nga cũng như tại các nước Âu Mỹ nhưng nay là tác phẩm ít được biết tới so với hai cuốn kia. Phục Sinh cho ta thấy Tolstoi theo xã hội chủ nghĩa, là một nhà cách mạng tư tưởng. Để nghiên cứu tác phẩm tôi dùng bản dịch tiếng Pháp truyện Résurrection của Édouard Beaux, có tham chiếu thêm bản tiếng Anh của Louise Maude do nhà xuất bản ngoại văn Mạc Tư Khoa ấn hành. Tôi xin chia thành bẩy phần: Sự hình thành, Khía cạnh văn chương, Nền tư pháp và Giáo Hội, Xã hội, Cách mạng, Điện ảnh, Kết luận.
 




Đăng nhập để trả lời
0
Sự hình thành


 
Dựa theo phần nhập đề trong bản dịch tiếng Pháp, dịch giả Edouard Beaux cho biết A. F. Kony, biện lý một tòa án địa phương thuộc kinh thành Saint-Petersbourg có tiếp một chàng tuổi trẻ đến khiếu nại ông về việc người ta từ chối không chuyển một bức thư của anh ta gửi cho người nữ tù tên Rosalie Ony.
Kony cho điều tra sự việc được biết Rosalie, con gái một người tá điển, cha mất, bà điển chủ bèn đem về nuôi làm người ở. Lên mười sáu tuổi, nàng bị cậu ấm con bà chủ dụ dỗ cho đến khi mang bầu thì bị đuổi đi. Chẳng bao lâu nàng trở thành gái giang hồ mạt hạng, can tội trộm một trăm bạc của khách và bị truy tố ra tòa. Trong số các vị phụ thẩm lại có cả anh chàng sở khanh, người đã phá hoại cuộc đời cô gái và đẩy cô vào bước đường cùng.
Chàng nhận ra cô nàng, rất bối rối, vô cùng ân hận nên đã xin kết hôn với nàng để chuộc lại tội lỗi xưa, nhưng việc chưa thành thì cô nàng đã bỏ mình trong ngục vì bệnh đậu lào chấy rận. (nhưng theo Simmons trong Introduction to Tolstoi's writings, Koni cho biết hai người đã kết hôn, nhưng sau khi mãn tù một thời gian ngắn thì cô ta chết vì bệnh đậu lào).
Bi kịch này đã là nguồn gốc của truyện Phục Sinh. Mùa thu 1887, Kony đã kể lại câu chuyện thương tâm ấy cho Tolstoi khi ông ghé Poliana, nhà văn hào yên lặng nghe và xúc động, hôm sau ông để nghị Kony đưa bi kịch đầy nước mắt của nàng Rosalie đăng lên báo. Tolstoi không nghĩ ông sẽ khai thác đề tài này. Mùa đông trôi qua, tới mùa xuân 1888 Kony vẫn chưa viết chuyện này, theo lời yêu cầu của Tolstoi, Kony vui vẻ nhường lại đề tài cho bạn. Nhưng trong suốt một năm rưỡi trời, nhà văn hào vẫn chưa đá động gì tới đề tài này cho tới tháng 12 năm 1889, khi viết xong truyện ngắn « Cầm Tấu Khúc Kreutzer », vào ngày 26 tháng 12 ông đã bắt đầu viết những dòng đầu tiên cho cuốn tiểu thuyết mà ông đặt tên là “Koneva”, và mười năm sau sẽ thành Résurrection. Dàn bài cho phần thứ nhất được viết ngày 11 -2- 1890, nói chung nó đã bao hàm được những đoạn chính của tác phẩm.
 
Việc biên soạn tiếp tục cho tới tháng 6-1890 nhưng thất thường và rồi bỗng nhiên ngưng lại một nửa năm. Tới tháng 12 tác giả lại tiếp tục viết, ngày 15 ông ghi trong nhật ký đã viết lại từ đầu, viết rất đam mê. Nhà văn hào đã chọn tên cho tác phẩm và dự tính đây sẽ là một tác phẩm lớn chứa đựng tổng hợp những niềm tin của mình rồi lại ngưng viết và không nói gì tới nó nữa.
 
Nhưng 1895 là năm quyết định cho tương lai của tác phẩm, tháng tư năm ấy nhờ người bạn Davydoff làm biện lý tòa án tại Toula giúp nên Tolstoi đã đi thăm các nhà tù, trại tạm giam, phỏng vấn tù nhân, ghi chép sự kiện, ông cũng đã đi quan sát chặng đường chở tù từ kinh thành Saint Petersbourg tới Tây Bá Lợi Á để lấy dữ kiện viết cho sống động hơn. Tác giả cũng đã nghiên cứu nhiều sách báo, chỉ riêng vấn đề mãi dâm ông đã đọc sáu cuốn sách, rồi nghiên cứu thủ tục tòa án, tư pháp, tham dự các phiên xử... Khi đã đầy đủ dữ kiện rồi Tolstoi mới bắt tay viết.
Truyện do Kony kể là cảm hứng đầu tiên cho ông sáng tác, chính trong cuộc đời tác giả, ông cũng đã dụ dỗ một cô hầu tại nhà bà thím, về sau người con gái bất hạnh ấy đã bị đuổi đi biệt tăm biệt tích. Tháng năm ông lại bắt đầu viết Phục Sinh và rồi ngày 1 tháng bảy bản nháp đã xong, tháng tám ông đọc cho bạn bè nghe. Nhưng tác phẩm không dài lắm, nó chỉ được vài trăm trang. Tháng chín ông lại thất vọng, ngã lòng và rồi ghi trong nhật ký ngày 24 như sau :
Tôi đã cầm bút trở lại viết Résurrection nhưng tôi cho là dở, trọng tâm của tác phẩm chưa đặt đúng chỗ, vấn đề điền sản làm cho truyện mất hay nhiều. Chắc tôi bỏ cuốn này. Nếu phải viết tôi sẽ viết lại từ đầu
 
Suốt năm 1896, không thấy ông đá động gì tới cuốn truyện đang viết dở. Ngày 5-1-1897, Tolstoi ghi trong nhật ký ông đã đọc lại bản thảo đã viết dở rồi chán nản bỏ xó. Nhưng tháng 6-1898 ông lại cầm bút viết tiếp và lần này viết miệt mài không nghỉ. Tác phẩm chưa chắc đã được hoàn tất nếu không có một biến cố tự nhiên sẩy đến: Chính phủ ngược đãi giáo phái Dukhobors, đạo Thiên Chúa giáo cộng sản, họ có tư tưởng gần giống với triết thuyết của Tolstoi, họ từ chối vào lính. Tolstoi và các đệ tử của ông bèn mở các cuộc lạc quyên để giúp những người bị ngược đãi này. Chính phủ Nga muốn trục xuất họ, trong khi ấy chính phủ Gia Nã Đại chịu nhận 12 ngàn người. Vấn đề khó khăn là phải có tiền chuyên chở và định cư họ tại Canada, Tolstoi đi gây quỹ rồi quyết bán bản quyền một tác phẩm, từ đó ông nghĩ đến việc viết một cuốn tiểu thuyết lớn để lấy tiền giúp họ.
Rồi Phục Sinh lại được tiếp tục viết và sửa chữa. Tolstoi là nhà cải cách tôn giáo, nhà hiền triết, đạo đức đã được các nước Âu Mỹ ngưỡng mộ từ trước nên cuốn này đã được chú ý rất nhiều. Năm 1899 nhà văn hào ra sức viết để sớm hòan tất tác phẩm, truyện đã được đăng báo, họ đánh điện thúc dục ông viết... Tác giả đóng cửa viết suốt ngày, ông không tiếp khách, sửa chữa bản thảo, cho người nhà chép lại rồi có người dịch ra ngoại ngữ để đưa ra in tại ngoại quốc. Trong khi truyện được đăng báo tại Nga, nó cũng được dịch ra đăng trên các báo tại Pháp, Anh, Đức, Mỹ.
Nhà văn hào bán bản quyền tại Nga và bán cho cả các nhà xuất bản ngoại quốc để lấy tiền giúp giáo phái Dukhobors. Truyện cũng đã được in lậu tại Nga và tại ngoại quốc, năm 1900 riêng tại Đức có 12 bản dịch khác nhau, tại Pháp có 15 ấn bản chính thức cũng như in lậu trong năm 1899 và 1900. Khi xuất bản tại Nga tác phẩm đã được độc giả đón nhận nồng nhiệt. Tại Anh Mỹ truyện bán chạy hơn tất cả những tác phẩm trước của Tolstoi. Phe bảo thủ chỉ trích tác giả coi thường tư pháp, xúc phạm Giáo Hội Nga nhưng phe cấp tiến ca ngợi ông can đảm dám nói lên những cái xấu của nước Nga. Kiểm duyệt đã cắt bỏ nhiều câu, nhiều chữ, dòng... của Phục Sinh, các nhà xuất bản cũng đã tự ý sửa chữa câu văn của ông để tránh bị kiểm duyệt, tháng 12 chấm dứt viết, ông ghi trong hồi ký.
Đã viết xong Phục Sinh. Dở, chưa hoàn chỉnh, viết vội. Nhưng nó đã thoát ly khỏi tôi, không còn làm tôi quan tâm nữa” .
(Terminé Résurrection. Mauvais, mal corrigé, hâtif, mais le roman s'est détaché de moi et ne m' intéresse plus).
 
Các nhân vật trong truyện mang nhiều cá tính của Tolstoi, của bạn hữu và thân nhân ông. Người ta thu thập, nghiên cứu, đối chiếu các bản thảo và bản in thử còn sót lại để khôi phục bản Résurrection nguyên vẹn không bị kiểm duyệt, cho tới 1935 (có sách nói 1936) mới hòan tất bản nguyên vẹn.
 




Đăng nhập để trả lời
0
Khía cạnh văn chương


 
Khác với hai cuốn tiểu thuyết lớn trước của Tolstoi, Phục Sinh như một bản án nặng đối với nền Tư pháp, Giáo Hội chính thống và giai cấp quí tộc Nga. Tác giả cho độc giả thấy giai cấp quí tộc ăn trên ngồi chốc hưởng thụ vinh hoa phú quí trong khi người dân ngày càng đói khổ, chết lần chết mòn vì thiếu ăn thiếu mặc, ông có nhiều thiện cảm với các nhà cách mạng... Nhưng Phục Sinh trước hết là một cuốn tiểu thuyết, một tác phẩm văn chương.
Bi kịch cuộc đời nàng Rosalie là nguồn cảm hứng cho Tolstoi hoàn thành tác phẩm, nếu A. F. Kony không kể lại cho ông nghe đời người con gái bất hạnh này thì chắc không thể có Résurrection, có nghĩa là câu chuyện ngăn ngủi, đầy nước mắt ấy chính là xương sống của cuốn tiểu thuyết vĩ đại bất hủ đã gây xúc động cho độc giả khắp nơi trên thế giới.
 
 




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 11.06.2026 22:01:52 bởi Ct.Ly>
Sơ lược truyện.
 
Katioucha là đứa con thứ sáu của một bà bần nông chăn bò, sinh trong chuồng bò, cô bé may mắn sống sót vì hai bà chủ động lòng đem về nuôi, trong khi năm đứa trước đã bị mẹ bỏ chết đói. Ba tháng sau bà mẹ chết, lớn lên được gọi Maslova, hai bà cho ăn học, biết cả tiếng Pháp, cô bé khâu vá, dọn dẹp các phòng, làm bếp... Năm 16 tuổi, cô mê cậu cháu Nekhlioudov của hai bà chủ. Cậu này sinh viên, gia đình quí tộc rất giàu, về quê thăm hai bà cô tại Panovo. Hai năm sau, chàng ta đã nhập ngũ, là sĩ quan theo tiểu đoàn đi qua vùng này, cậu ghé nhà bà cô bốn ngày, trước hôm ra đi dụ dỗ phá hoại đời Katioucha. Nehklioudov ra đi để lại cho cô bé bao thư 100 đồng. Năm tháng sau nàng biết đã mang bầu, có lần nói hỗn với bà chủ rồi bị đuổi đi. Maslova (Katioucha) muốn tìm một cuộc sống lương thiện nhưng luôn bị đàn ông lợi dụng, bị xã hội xô đẩy tàn nhẫn, nàng hận đời, hút thuốc, uống rượu. Maslova phần vì trả thù đời, phần sa ngã nên đã sa chân vào một nhà chứa gái hạng sang trong bảy năm trời.
 
Bị truy tố ra tòa vì tội bỏ thuốc độc và trộm tiền một khách hàng. Nekhlioudov nay giải ngũ, tước vị ông Hoàng nhận ra Maslova sau mười năm xa cách, vô cùng hối hận tội lỗi của mình. Tại phiên tòa cuối, khi Hội đồng xử án thảo luận, Nekhlioudov và mấy vị phụ thẩm khác có thiện cảm với Maslova, nàng bị hàm oan, họ đề nghị Maslova không chủ tâm lấy cắp được hưởng trường hợp giảm khinh nhưng vô tình lại quên ghi thêm câu “có tội nhưng không có ý cố sát” (coupable, mais sans intention de donner la mort), một chi tiết rất quan trọng, Nekhlioudov vì quá xúc động cũng quên mất, nên khi công tố viên buộc tội Maslova lãnh án bốn năm khổ sai, nàng oà khóc “ tôi vô tội”.
Nekhlioudov xin vào nhà tạm giam gặp Maslova để xin lỗi nàng, chàng vô cùng hối hận khóc lóc xin tha lỗi, gặp lại chàng, Maslova trong lòng thù ghét vì hắn đã gây lên tất cả thảm cảnh đời mình, Maslova xin chàng mười đồng để mua rượu uống. Khi ấy Nekhlioudov thấy rằng “nàng chỉ còn là một tấm thân xơ xác”. Lần gặp Maslova sau chàng lại năn nỉ xin lỗi và ngỏ lời xin kết hôn với nàng để chuộc lỗi xưa nhưng nàng từ chối và xỉ vả chàng.
 
Nekhlioudov tiếp xúc với chánh án, ông cho biết tại các vị phụ thẩm và chính Nekhlioudov đã không ghi thêm câu “không có ý giết người”, vì thế nàng đã không được tha bổng, nay chàng cần tìm luật sư để xin phá án. Nekhlioudov bèn chỉ một khoản tiền lớn thuê luật sự nổi tiếng Fanarine để lập hồ sơ xin phá án lên Thượng Viện. Chàng lên Saint Petersbourg nhờ bà dì có chồng làm cựu bộ trưởng, ông này viết thư giới thiệu hai ông lớn trong chính phủ, chàng lên Thượng viện gặp các viên chức cao cấp để xin họ giúp đỡ.
 
Ngày nghị án tại Thượng Viện, luật sư bào chữa cho thân chủ Maslova lý luận rằng bản án không hợp lý. Trong số các vị Thượng nghị viện, có hai vị đồng ý phá án nại cớ các vị phụ thẩm sai lầm nhưng tiếng nói của ông Thượng Skovorodnikov là quyết định. Ông này có nghe nói về chuyện tình Nekhliowdov- Maslova và thấy người ta vận động lo lót cho một cô gái giang hồ, thuê một luật sư danh tiếng bào chữa nên trong lòng khó chịu ông Thượng giả vờ không biết chuyện này và nói không đủ lý lẽ để phá án và đồng ý với Chủ tịch y án. Thế là cơ hội cuối cùng để cứu một người đàn bà vô tội đã qua, nơi thẩm quyền cao nhất đã hợp thức hoá một việc sai trái.
Nekhlioudov thay đổi tính tình và lối sống, chàng lo cứu Maslova đồng thời cũng lo cho những người tù khác, từ bỏ cuộc sống hưởng thụ để sang cuộc sống vị tha. Nekhlioudov vẫn còn một cơ hội chót để cứu Maslova, chàng đưa đơn xin ân xá do luật sự soạn thảo để trình lên Nga Hoàng. Chàng giao nhà cho bà chị, giải quyết một số vấn đề tài sản chia đất cho nông dân rồi chuẩn bị đi theo Maslova vì dược biết đoàn tù sắp phải lên đường đi Tây Bá Lợi Á. Tháng bảy đoàn tù đi bộ từ nhà giam tới nhà ga, gần bảy trăm người dưới ánh nắng hè nóng bức, một vài người chết dọc đường vì không chịu nỗi sức nóng.
Maslova theo đoàn tù lên xe lửa đi Tây Bá Lợi Á, Nekhlioudov mang theo hành lý mua vé tàu đi chuyến thứ hai theo đoàn tàu. Maslova đi xe hỏa, tàu thủy hơn 5.000 cây số tới tỉnh Perm, Nekhlioudov đi theo và xin gặp Maslova hai lần, nàng được chuyển sang khu tù chính trị. Chàng thấy nàng thay đổi hơn, đi theo tù chính trị ăn ở tử tế hơn, được đối xử đàng hoàng hơn. Thấm thoắt đã tới tháng chín, trời mưa tuyết lạnh, Maslova nhận lãnh một đứa bé gái con một người tù, họ đi bộ một đoạn vài chục cây số. Maslova có cảm tình với những người hoạt động cách mạng và rồi từ từ thán phục họ, nàng cho rằng phải cám ơn trời đã cho mình cơ hội gặp những con người như thế. Một người tù chính trị tên Simonson trước là sinh viên, gia đình khá giả, bỏ nhà đi làm cách mạng. Anh chàng yêu Maslova, nàng cũng có nhiều cảm tình với anh. Hôm Nekhlioudov lại thăm Maslova và mấy người tù chính trị, Simonson có nói chuyện riêng với chàng, anh ngỏ ý muốn lấy Maslova để làm dịu sư đau khổ của nàng và muốn chàng thoả thuận. Thảo luận hồi lâu, Nekhlioudov lưỡng lự và rồi ra chiều ưng thuận.
Đoàn tù vào một tỉnh lỵ, Nekhlioudov thuê xe ngựa đi theo họ tới nơi thuê khách sạn ở, xin vào gặp ông tỉnh trưởng và được đón tiếp tử tế, ông mời tới ăn cơm. Chàng ra bưu điện lãnh một bưu kiện dầy do Sélénine người bạn làm phó tỉnh gửi tới, anh ta cho biết đơn xin ân xá gửi Nga Hoàng đã được chấp thuận, chính anh đã làm việc trong ủy ban ân xá và đã sửa lại sự sai lầm ấy và gửi chàng bản sao giấy ân xá, nội dung cho biết Maslova được giảm án từ khổ sai xuống án tù tại một địa phương gần hơn Tây Bá Lợi Á.
Nekhlioudov tới dự tiệc tại nhà ông Tỉnh trưởng rồi xin giấy phép vào thăm trại giam, chàng gặp Maslova báo tin đơn ân xá đã được chấp thuận, khi nào giấy chính thức gửi tới nàng sẽ được tự do, nhưng Maslova nói nàng sẽ đi theo Simonson, anh ấy là người hoàn toàn, nàng cám ơn và từ chối sự giúp đỡ của chàng.
 
Lúc chia tay Maslova cũng rớm lệ, nàng vẫn còn yêu Nekhlioudiov nhưng không muốn làm hỏng cuộc đời chàng, nàng trả Nekhlioudov trở về với giai cấp quí tộc của chàng. Nekhlioudov về khách sạn, đọc kinh thánh, chàng tìm ra một cuộc đời mới. ”
 
Khi mới xuất bản Phục Sinh đã được các độc giả tại Nga cũng như tại các nước Âu Mỹ đón nhận nồng nhiệt hơn các tác phẩm trước của Tolstoi, có thể nói nó là cuốn tiểu thuyết dài cảm động sâu sắc nhất của nhà văn hào nhờ một đề tài quá đặc sắc. Như trên đã nói nếu không có tấn bi kịch đầy nước mắt cuộc đời nàng Rosalie chắc hẳn không thể có Phục Sinh, đề tài đặc sắc chưa đủ, chúng ta phải kể thêm ngòi bút tuyệt điệu của Tolstoi đã dựng lên cuốn tiểu thuyết bất hủ để đời. Đọc xong tác phẩm người ta có cảm tưởng như được đi theo cuộc hành trình gian nan của đoàn tù qua các chặng đường vạn dặm đi Tây Bá Lợi Á xa xăm, Tolstoi khác nào nhà dàn cảnh, từ một câu chuyện ngắn ngủi, đơn sơ, nhà văn hào đã dựng lên một thiên tình sử đấm lệ đầy mầu sắc, mang nhiều ý nghĩa hy sinh cao cả.
 
Trước hết ta hãy tìm hiểu ý nghĩa của chữ Phục Sinh. Trong tiếng Pháp, Résurection hoặc tiếng Anh Resurrection có nghĩa là sự sống lại, tái sinh. Vào ngày lễ Phục Sinh, con chiên đi lễ nhà thờ thường nói với nhau: Chúa đã sống lại.Trong truyện Résurrection, đoạn nói về ngày lễ Phục Sinh khi Nekhlioudov ghé nhà hai bà cô, chàng gặp Katioucha (sau này là Maslova) tại nhà thờ, họ ôm hôn nhau và nói Chúa đã sống lại (Christ est ressuscité). Trong ba cuốn tiểu thuyết lớn của Léon Tolstoi thì Phục Sinh là truyện có nội dung hoàn toàn phù hợp với danh xưng của tác phẩm hay nói khác đi đã có một tinh thần nhất quán giữa chủ đề và cốt truyện. Phục Sinh hay sống lại được thể hiện ở hai nhân vân vật chính Nekhlioudov và Maslova.
 
Nekhlioudov, thuở còn sinh viên tâm hồn trong trắng về quê nghỉ hè nhà bà dì, gặp Katioucha (Maslova), một mối chân tình chớm nở. Hồi ấy chàng chịu ảnh hưởng học thuyết Henry George chủ trương chia đất cho nông dân, không công nhận quyền tư hữu đất đai, mang nhiều lý tưởng, trượng nghĩa khinh tài. Mấy năm sau vào quân đội, trở thành sĩ quan Ngự Lâm quân chỉ còn biết phục vụ cho lá cờ, danh dự tiểu đoàn... được phép dùng bạo lực, bắn giết, con người trở nên ích kỷ. Nekhlioudov theo bạn đi ăn chơi sa hoa, xài tiền phung phí, tiệc tùng tại những nhà hàng sang trọng. Đời nhà binh làm hư hỏng con người. Mấy năm sau ghé nhà bà dì, khi ấy con người của cậu ấm đã hoàn toàn đổi khác, chàng đã dụ dỗ và phá hoại cuộc đời nàng Katoucha.
 
Rồi mười hai năm sau khi ngồi trên ghế phụ thẩm, chàng gặp lại nạn nhân của mình, nhận ra sự đê hèn của chàng trong quá khứ, màn vô minh che mắt chàng được mổ ra. Nekhlioudov nay đã thấy cuộc đời xấu xa phóng đãng mười mấy năm qua, chàng vô cùng xót xa ân hận, ra sức cứu Maslova thoát vòng tù tội và xin kết hôn với nàng để chuộc lỗi xưa. Nekhlioudov cũng sả thân làm việc nghĩa, tranh đấu cứu giúp nhiều người tù tội nạn nhân của chế độ Nga Hoàng. Chàng nay đã trở thành con người cao thượng, hy sinh tất cả, từ bỏ ruộng đất thừa hưởng gia tài của mẹ, của bà cô để chia cho nông dân. Chàng đã đi theo đoàn tù suốt cuộc hành trình để chăm lo cho Maslova và những người bạn mới. Cuối cùng khi Maslova từ chối sự hy sinh của Nekhlioudov, chàng đã tìm ra cuộc sống mới, một cuộc đời đạo đức qua Kinh thánh. Con người của chàng, tâm hồn chàng đã sống lại.
 
Maslova thuở còn ở nhà hai bà cô của Nekhlioudov chỉ là một thiếu nữ ngây thơ trong trắng, thế rồi tai họa ở đâu đưa tới, nàng bị chàng sở khanh phá hoại cuộc đời, năm tháng sau có thai bị hai bà chủ đuổi đi, nàng cố tìm một nghề lương thiện nhưng chỉ gặp toàn bọn lừa đảo bất lương. Maslova đi làm bồi phòng cho một ông cò được vài tháng phải bỏ đi vì tên già này định làm ẩu nàng. Maslova thuê nhà bà chủ quán, bụng bầu ngày một lớn, sinh được đứa con nhưng nó chết ngay, nàng hết tiền đi làm thuê cho một ông kiểm lâm nhưng bị lợi dụng rồi lại bỏ đi. Nàng yêu một anh công chức trẻ và lại bị lừa tình. Dần dần cô ta hút thuốc, uống rượu cho quên cuộc đời bạc bẽo ba chìm bảy nổi này, một hôm bị một bà chủ chứa gái hạng sang dụ dỗ, Maslova sa ngã trả thù đời, sống bảy năm tại nhà chứa này thì vướng vào vòng tù tội. Hai người bồi khách sạn bỏ thuốc độc vào ly bảo Maslova đưa cho người khách uống, họ nói là thuốc ngủ, nàng tin vậy nên cuối cùng bị truy tố ra tòa vì tội sát nhân.
 
Nekhlioudov tìm gặp Maslova tại nhà tạm giam, sau một hồi tiếp xúc nàng xin 10 đồng để mua rượu uống, Nekhlioudov không tìm ra hình ảnh cô bé Katioucha dễ thương ngày nào và chỉ thấy tâm hồn của nàng như đã chết, nàng chỉ còn một tấm thân xơ xác. Chàng vận động bạn bè, họ hàng những người có thế lực để cứu Maslova.
Chàng không muốn gì ở nàng, mà chỉ muốn nàng tái sinh trở lại con người xa xưa
Il ne désirait rien d'elle pour lui même, il désirait uniquement qu'elle cessât d'être ce qu'elle était à présent, qu'elle ressuscitât et redevint telle qu'elle était autrefois).
 
Sự hối hận chân thành của Nekhlioudov dần dần cảm hóa Maslova, nàng bắt đầu trở lại con người năm xưa. Trên đường đi Tây Bá Lợi Á xa xăm vạn dặm, nàng đi chung với tù chính trị và cảm phục họ. Nàng tự nhủ:
Thế mà ta đã khóc trước đây khi nghe tuyên án, thực ra phải cám ơn Thượng Đế cả trăm năm liên tiếp.Ta đã được biết những cái mà suốt đời ta chưa hề biết”
(Et moi qui pleurais parce qu'on m'avait condamnée! Je dois pluôt remercier Dieu cent ans durant. J'ai connu ainsi ce que, de toute ma vie, je n'aurais pu découvrir).
 
Cuối cùng được Nga Hoàng ân xá nhưng Maslova chấp nhận đi theo người bạn trai Simonson và từ chối trở về, tâm hồn nàng đã hoàn toàn sống lại, lương tâm đã khiến nàng từ chối sự hy sinh cao cả của Nekhlioudov vì không muốn làm hỏng cuộc đời chàng, chính nàng đã chịu hy sinh để trả ông Hoàng về với giai cấp của chàng.
 
Phục Sinh theo Tolstoi mang một hàm ý đạo đức, hai tâm hồn đã chết nay sống lại, trở về con người cũ, trở lại con người lương thiện .
Chuyện đời nàng Rosalie bi thảm nếu không có ngòi bút thần sầu của Tolstoi cũng không thể làm lên tác phẩm. Tài dựng cảnh tuyệt vời của tác giả đã khiến cho người đọc tưởng như đang được theo chàng và nàng trên những chuyến xe lửa vạn dặm về phương đông. Tolstoi đã thực hiện được một sự tiến bộ nghệ thuật lớn lao trong trước tác, ông đã vượt qua khỏi nghệ thuật cổ điển để đi vào hiện thực xã hội cũng như tâm lý, thể hiện nhiều góc cạnh sự nghèo đói thê thảm của người nông dân dưới sự thống trị của giai cấp quí tộc. Hơn bất cứ những tác phẩm nào củaTolstoi trước đây, Résurrection đã phản ảnh trung thực một nước Nga đói khổ hậu quả của chế độ bóc lột của thời phong kiến suy tàn.
 
Tâm lý nhân vật sâu sắc, Maslova, Nekhlioudov trở lên những nhân vật có hồn. Nekhlioudov quyết định đem ruộng đất chàng thừa hưởng để chia cho nông dân nhưng trong thâm tâm lại có tiếng nói phản kháng của lòng vị kỷ:
Cho, phá thì dễ, làm tạo ra thật là khó, mai kia có gia đình vợ con, ta cũng phải có tài sản để lại cho con”. Khi Nekhlioudov đem hết thời giờ của chàng vào việc cứu giúp Maslova thì một tiếng nói tự thâm tâm.
 
Mặc dù đã xin kết hôn với Maslova để chuộc lỗi xưa nhưng khi đơn ân xá được chấp thuận chàng cũng lưỡng lự không biết ngày mai hai người sẽ sống với nhau ra sao, nếu Maslova chấp thuận sự hy sinh của chàng. Nekhlioudov cũng phân vân do dự vì dù là người tội lỗi, chàng vẫn thuộc thành phần quí tộc, tước vị ông Hoàng, còn nàng chỉ là một cô gái giang hồ. Khi Nekhlioudov báo tin cho nàng biết đơn ân xá đã được chấp thuận Maslova ngỏ ý muốn đi theo Simonson, Nekhlioudov suy đoán chắc hẳn nàng vì hạnh phúc của chàng mà từ chối sự hy sinh, cô ta khuyên Nekhlioudov phải sống, phải trở về giai cấp của chàng khuyên chàng đừng dây dưa với cô gái, nó sẽ là gánh nặng cho chàng. Khi ở chặng gần chót của cuộc viễn hành đi theo đoàn tù, Nekhlioudov dự tiệc tại nhà ông tỉnh trưởng, chàng vô phòng thăm hai đứa trẻ nhỏ của con gái ông và ao ước một cuộc đời hạnh phúc, trong thâm tâm có phân vân.

- Xin lỗi anh, nếu em không chìu theo ý anh thì đó là số phận, anh cũng phải sống cho anh, đừng lưu luyến nơi này làm chi? anh đau khổ nhiều rồi.
- Anh phải cám ơn em, em là người đàn bà tuyệt diệu.
 Hai người bắt tay nhau, Maslova ứa nước mắt quay mặt bước đi, Nekhlioudov bây giờ mới biết nàng vẫn còn yêu mình, nàng đi theo Simonson để đưa chàng trở về cuộc đời lên xe xuống ngựa, không muốn làm hỏng cuộc đời chàng. Tolstoi không chấm dứt tác phẩm bằng lối happy ending, cuối cùng hai người chia tay, nàng từ chối sự hy sinh của chàng. Đó là kết thúc tuyệt vời đã nâng giá trị tác phẩm lên cao, khiến cho thiên tình sử còn bi thiết hơn câu chuyện đầy nước mắt có thật của nàng Rosalie.





Đăng nhập để trả lời
0
Nền tư pháp và giáo hội


 
Lần đầu tiên trong văn nghiệp, Tolstoi đi vào hiện thực xã hội phơi bầy bộ mặt trái của chế độ quí tộc phong kiến đã làm suy bại nước Nga mà trước hết nền tư pháp thối nát, nó đã dầy vò hành hạ dân lành và được cai quản bởi những công chức bất xứng ăn bám công quỹ quốc gia.
Tác giả cho thấy sự mâu thuẫn của tòa án qua hình ảnh tiêu biểu mỉa mai của hai nhân vật chính. Maslova tượng trưng cho giai cấp bần nông, mẹ chăn bò, dê cho hai bà chủ, cô của Nekhlioudov. Bà mẹ này không có chồng, năm nào cũng đẻ một đứa con nhưng không nuôi, năm đứa đã sinh ra đời và bị bỏ chết đói. Đứa thứ sáu cũng là con rơi như những đứa kia, được để trong chuồng bò, may mắn được bà chủ vào chuồng bò thấy rồi động lòng đem về nuôi, mấy tháng sau bà mẹ chết, bà chủ nuôi cô bé vừa như con nuôi, vừa là bồi phòng. Lớn lên chàng sở khanh Nekhlioudov phá hoại đời nàng, cô bé mang bầu bị đuổi đi, bị cuộc đời vùi dập, ba chìm bảy nổi, xa chân vào chốn lầu xanh, một người đàn bà vô tội bị truy tố ra tòa về tội cố sát.
Nekhlioudov tiêu biểu cho giai cấp quí tộc, một con người ích kỷ, ăn chơi hư hỏng, chàng chính là kể gây nên tội, đã đưa cuộc đời cô nàng xuống tận cùng đáy xã hội. Kẻ phạm tội như chàng nay lại ngồi ghế xử án nạn nhân vô tội Maslova. Tác giả cũng cho thấy những hình ảnh xấu xa của các vị quan tòa trong phiên xử như ông chánh án vội mở phiên tòa cho sớm để còn đi gặp bà nhân tình Thụy Sĩ đang chờ ông ngoài khách sạn, trong khi xử án, ông chỉ mong cho nó chóng qua để còn gặp bà bạn. Ông biện lý tối qua đi đánh bạc, ăn chơi tại chốn lâu xanh tới trễ nên không kịp đọc hồ sơ.
Người ta xử tù một tên ăn cắp tấm thảm đáng giá mấy đồng bạc, họ cho nó là nguy hại cho xã hội nhưng chính họ là những kẻ hoang đàng, lừa dối. Người ta chỉ trừng phạt nó, đầy nó đi tù chứ không loại bỏ những nguyên nhân gây ra tội trạng, họ đã tạo ra hàng ngàn tên tội phạm nhưng chỉ bắt được một tên, đó chỉ là trò đạo đức giả. Nền tư pháp với cả một đạo quân nào công chức, thư ký, lính canh, phu trạm đưa thư... tại nước Nga, họ lãnh lương cao để làm cái trò hề này. Nếu chỉ dùng một phần trăm những chi tiêu ấy để giúp những kẻ bất hạnh bị xã hội bỏ rơi thì sẽ không có kẻ phạm tội, không cần phải xử tù, giam giữ họ. Những người cai trị giàu có, trí thức đã không biết tìm cách loại trừ những nguyên nhân gây ra tội mà chỉ xử tội họ.
 
Nekhlioudov vào thăm Maslova rồi được biết có người hiền lương vô tội bị tù oan, hằng trăm người bị bắt chỉ vì không có giấy thông hành, khi gửi trả về tỉnh nguyên quán thì nhà tù ở đó đã bị cháy nên đã giam giữ họ hai tháng như tội đại hình, họ nói bị đối xử như con chó. Những kẻ gác tù phải làm việc ác như thế mà họ vẫn tự cho là mình quan trọng.
 
Nekhlioudov sau nhiều lần viếng trại tù để lo cho Maslova và giúp đỡ những phạm nhân bất hạnh khác, chàng nhận thấy tù đại hình gồm có năm hạng.
Trước nhất là hạng vô tội, bị xử oan như Maslova, hạng này cũng ít vào khoảng bảy phần trăm.
Những kẻ phạm tội trong khi nóng giận, ghen tuông, say rượu... khoảng năm mươi phần trăm.
Những kẻ buôn lậu, bán rượu giả, trộm cây cối...
Những kẻ có trình độ cao hơn trung bình bị coi là đại hình như giáo phái ly khai, người Ba Lan, Tcherkess bảo vệ lãnh thổ của họ, tù chính trị, đình công... bọn này rất nhiều.
Những kẻ khốn cùng, bị xã hội bỏ rơi, áp bức nên phải đi trộm cắp.
Họ cũng là người, họ có tội với xã hội thì ít mà xã hội sai phạm với họ nhiều hơn, tác giả đặt câu hỏi.
Con người nhân danh gì, quyền gì để giam cầm hành hạ người khác, để đầy ải giết chóc họ”
(de quel droit un home en punit- il d'autres ?)
 
Tù được chuyển ra ga xe lửa để đi Tây Bá Lợi Á, họ bị dẫn đi bộ dưới ánh nắng hè gay gắt, mấy người yếu đuối lăn ra chết dọc đường. Bọn canh tù không đưa những kẻ yếu vào bóng mát, cho họ uống nước, nghỉ ngơi, họ không xót thương người tù, đặt trách nhiệm lên trên tình thương, nếu tình người chỉ hiện ra trong lương tâm họ một lúc thì đã không có những tội ác như vậy.
 
Tại một trai tạm giam tù trên đường đi Tây Bá Lợi Á Nekhlioudov thấy chỗ giam tù hôi thối ghê tởm, tiếng xiểng xích và mùi hôi hám xông lên, phòng giam dành cho một trăm năm mươi người nhưng họ nhốt vào đó tới bốn trăm rưởi. Mấy tháng di chuyển đoàn tù đi về phương đông là những ngày tháng nhục nhằn đau khổ, hạ giá nhân phẩm con người, những kẻ làm ra cảnh tượng ghê tởm này cho rằng đó là cần thiết nhưng thật ra chỉ là một bọn điên khùng.
Bọn tù tội mà họ cho là nguy hiểm nhưng thực ra còn ít nguy hiểm hơn là kẻ nắm quyền chức trong guồng máy nhà nước và bộ tư pháp. Tù nhân chịu nhiều nhục nhã vô ích, nào xiểng xích, áo quần dơ bẩn, đầu cạo trọc mất nhân phẩm. Họ dễ sinh bệnh truyền nhiễm, dễ bị phạm tội ác, làm hư hỏng những người lương thiện khác, luật pháp cấm đánh nhưng chính phủ vẫn làm ngơ cho bọn cai tù dùng bạo lực. Hàng trăm, hằng ngàn người đã bị đưa tới chỗ hư hỏng rồi lại trả tự do về xã hội để bọn này lại reo rắc những mầm mống xấu xa cho xã hội. Nguyên tắc tư pháp là trừ tội ác, cải huấn tù nhưng thực ra lại là reo rắc tội ác, khuyến khích tội phạm, cải huấn họ nhưng thực ra là làm hư hỏng họ.
 
Trong các bộ phủ và tòa án người ta trả lương cao cho các công chức để tham khảo luật lệ và để đầy ải hàng nghìn người đi Tây Bá Lợi Á, trong tay giám đốc trại, lính cai tù độc ác, hằng triệu người đã bị tiêu diệt về thể xác và tâm hồn. Từ người tùy phái tới ông bộ trưởng, không ai bận tâm tới công lý và hạnh phúc của người dân mà chỉ chú ý tới đồng lương để làm công việc tồi bại ấy. Họ là những kẻ xấu không thể cải huấn những người xấu khác, họ không làm giảm tội phạm mà còn làm cho nó tăng lên mãi, con người lấy tư cách gì để xử người khác trong khi chính họ cũng là những kẻ xấu xa đầy khuyết điểm.
 
Theo Tolstoi nên tư pháp chỉ là một bộ máy hành chánh dùng để bảo vệ quyền lợi cho giai cấp quí tộc thống trị, tòa án chỉ là để giữ vững cái trật tự hiện hữu này.
Nhà văn hào chỉ trích Giáo Hội Chính Thống Nga a dua cấu kết với chính quyền để đàn áp những giáo phái ly khai khỏi Giáo Hội. Những người tách rời Giáo hội bị tù đầy, gia đình ly tán, thế mà người ta nói đó là vì quyền lợi của quốc gia. Một giáo phái chống lại Chính Thống lại bị coi là có tội.
 
Ngày chủ nhật tù nhân được dẫn lại nhà thờ làm lễ, ông giáo sĩ thuyết giảng rồi lấy bánh mì cắt nhỏ nhúng vào rượu ăn, ông mời mọi người và nói ta ăn thịt và uống máu của Chúa. Tác giả cho đó là trò hề ăn bánh thánh và chỉ trích lễ nghi, Chúa Jésus không chấp nhận lễ nghi, không chấp nhận người này phải gọi người kia là thầy là cha. Ngài cấm cầu nguyện ở nhà thờ mà phải cầu ở nơi cô tịch, Ngài cấm con người xét xử, giam cầm hành hạ trừng phạt nhau, Ngài đến để giải thoát cho những kẻ mất tự do, Tolstoi cho rằng lễ nghi ở đây phạm thượng. Ông thấy làm lễ từ năm mười tám tuổi đến nay để kiếm tiền nuôi gia đình ông sinh sống đầy đủ.
 
Những ông giám đốc, giám thị nhà tù tin vào những tín điều này vì họ cho rằng nghề nghiệp của mình là chính đáng, họ hành hạ phạm nhân một cách thản nhiên. Đa số tù nhân cho rằng sự hành lễ tại nhà tù chỉ là trò bịp bợm. Sau khi xuất bản Phục Sinh, tác giả đã bị trục xuất ra khỏi Giáo Hội.




Đăng nhập để trả lời
0
Xã hội


 
Truyện tình dựa trên khung cảnh một xã hội Nga mục nát với những ông Hoàng bà Chúa, những tòa lâu đài lộng lẫy, những người nông dân bần hàn, đói khổ, những túp lều tồi tàn dơ bẩn. Nekhlioudov tiêu biểu cho giai cấp thống trị, Maslova hình ảnh biểu tượng của giai cấp bị trị, Tolstoi đã kết án giai cấp quí tộc của ông qua hình ảnh hai nhân vật chính.
 
Nhà văn hào đã vẽ lên bức tranh đầy màu sắc ảm đạm cảnh thôn tranh qua nhãn quan Nekhlioudov. Khi vào làng chàng thấy những người nông dân đi làm lam lũ ngoài đồng trở về, vào thăm một gia đình nghèo, một đống phân hôi thối nằm giữa sân, nhà cửa siêu vẹo, người dân ăn uống kham khổ: Chàng tiếp tục vào làng để tìm hiểu đời sống nông dân nhưng chỉ thấy toàn là cảnh bần hàn đói rách, trẻ con nheo nhóc. Họ xúm lại xin ông Hoàng bố thí, chàng nghĩ người dân chết lần chết mòn, đang hấp hối. Trước hết là trẻ con, đàn bà làm việc quá sức, thiếu thốn lương thực, người già khốn khổ nhất. Ấy thế mà chính quyền cứ thản nhiên coi như không vậy.
 
Lên Saint Petersbourg chàng thấy những người bán hàng ở tỉnh mập mạp, những anh đánh xe ngựa, bồi phòng trông khoẻ mạnh có da thịt. Những người dân quê lên tỉnh làm ăn cũng nghèo khổ trông còn tồi tệ hơn ở nhà quê. Chàng ghê tởm cái xã hội giàu có mà chính mình đã sống trong đó, nó đã che dấu những nỗi khổ đau của hàng triệu người để bảo đảm cho một thiểu số được sung túc, chàng ghê tởm cho cái giới người đã không thấy và không muốn thấy sự đau khổ của kẻ khác.
 
Tất cả những người bị giam cầm không phải vì phạm luật mà vì họ đụng chạm tới các quan chức chính phủ và bọn nhà giàu đang hưởng thụ sự phong lưu, phú quí bóc lột dân nghèo. Tất cả những công chức từ ông chú Nekhlioudov, các ông nghị sĩ đến các thư lại chững chạc trong các văn phòng bộ phủ không bao giờ quan tâm tới những nỗi khổ đau của những người vô tội và chỉ tìm cách giam cầm người ta khi cho bọn này nguy hiểm, họ chủ trương bắt lầm còn hơn bỏ sót. Tất cả những từ đẹp đẻ như công bình, bác ái, luật pháp, Thượng đế... chỉ để che dấu quyền lợi thô bỉ và những tội ác ghê tởm của họ. Sinh trưởng trong lòng giới quí tộc nhưng nhà văn hào phủ nhận giai cấp của mình cho rằng sự cai trị của tầng lớp phong kiến là nguyên nhân gây nên cảnh khốn cùng.
 




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.06.2026 19:28:56 bởi Thanh Vân>
Cách mạng
 
Theo Tolstoi nguyên do chính của sự nghèo đói là đất đai, nguồn sống của họ đã bị địa chủ tước đoạt. Người già trẻ nít chết vì thiếu sữa, thiếu sữa vì không có đất để trồng trọt, chăn nuôi bò, vấn đề là sự nghèo đói do ở chỗ đất nuôi sống người dân nhưng họ không có đất để trồng trọt. Đất nằm trong tay bọn điền chủ, bọn này sống bằng sức lao động của kẻ khác. Người nông dân trồng trọt, cấy cây cật lực làm ra lúa mì rồi được đem xuất cảng ra ngoại quốc để các ông chủ mua mũ áo, xe ngựa xênh xang.
 Nekhlioudov nghĩ ra cách để chấm dứt tình trạng này, chàng đã biết qua những nguyên tắc căn bản của Henry George, đất cũng như không khí, như nước không thể là của riêng ai. Thời còn là sinh viên Nekhlioudov chịu ảnh hưởng học thuyết Henry George, chàng đã từ bỏ đất thừa hưởng của cha để đem chia cho nông dân cho rằng sở hữu đất đai là có tội. Trước khi theo Maslova đi Tây Bá Lợi Á chàng về Kouzminskoé chia đất thừa hưởng của mẹ cho nông dân nhưng họ nghi ngờ nên việc không thành. Nekhlioudov về Panovo, tụ tập nông dân để chia đất đai của hai bà cô, họ hiểu và thoả thuận. Nekhlioudov nay theo xã hội chủ nghĩa, không công nhận quyền tư hữu.
 [font="arial, sans-serif; font-size: medium"]Tolstoi ca ngợi những nhà cách mạng dấn thân qua nhận xét của nhân vật Maslova khi được đi chung với tù chính trị, nàng cho rằng không ngờ trên đời có những con người cao thượng như thế. Khi bị tuyên án tù nàng khóc nức nở nhưng bây giờ nàng lại cám ơn Trời mãi mãi vì đã cho nàng gặp những con người phi thường như Maria, Simonson, những nhà cách mạng đã hy sinh bản thân để chống lại giới chủ nhân. Chính họ cũng đã từng là chủ nhưng lại từ bỏ quyền lợi, tự do cho lý tưởng cao đẹp, Maslova yêu thương, kính trọng họ. Họ là những người có trình độ văn hoá, xuất thân gia đình giàu có, quyền quí nhưng đã từ bỏ tất cả cho sự nghiệp cách mạng.
 [font="arial, sans-serif; font-size: medium"]Lần đầu tiên trong văn nghiệp, Tolstoi đã thoát ra khỏi nghệ thuật cổ điển sang tả chân hiện thực bằng những nét khách quan cho người đọc thấy một đất nước bần hàn khốn khổ đang chờ đợi những nhà cách mạng ra tay. Ta thấy ông là một trong những nhà xã hội chủ nghĩa tiên phong, kết án Nga Hoàng bóc lột. Những nhân vật cách mạng, xã hội chủ nghĩa của ông có người là Cộng sản như Kondratiev, cũng có nhiều người thuộc những khuynh hướng khác như Maria, Vera. Mặc dù có khuynh hướng xã hội chủ nghĩa, không công nhận quyền tư hữu nhưng xã hội chủ nghĩa của Tolstoi trái ngược đường lối của Lénine ở điểm ông là nhà hiền triết, ca ngợi tình thương, bất bạo động, con người phải đặt tình thương lên trên trách nhiệm. Gandhi người chủ trương bất bạo động đã tự nhận mình là môn đệ của Tolstoi.
[font="arial, sans-serif"]Ông cho rằng những người làm cho chính phủ không hề mẩy may xúc động vì họ là công chức. Tình thương không thấm vào lòng họ được giống như một cái sườn dốc được lát bằng gạch đá khiến cho nước mưa không thấm xuống được. Thật đáng buồn khi thấy cái sườn dốc không hoa màu, cây cỏ cũng như thấy những người như ông tỉnh trưởng, giám đốc nhà giam, cai tù... thiếu tình thương y như vùng đất khô cần sỏi đá không có cỏ hoa tươi tốt. Họ thi hành luật pháp nhưng thật ra đó không phải là luật, luật vĩnh cửu bất di bất dịch do Thượng đế đã in sâu trong tim con người. Họ tự nhận mình làm việc cho chính phủ phải coi con người như đồ vật không một chút tình thương, con người không thể vô tình với đồng loại như thế.
 Lénine người lãnh đạo cuộc cách mạng cướp chính quyền nước Nga năm1917 chủ trương triệt để xử dụng bạo lực cách mạng, cũng là nhà xã hội chủ nghĩa như Tostoi nhưng như ta đã thấy một bên lấy bạo lực làm sức mạnh, một bên lấy tình thương, nhân bản làm đầu. Mặc đầu hai chủ nghĩa có sự khác biệt nhưng Toltoi cũng được Công Sản Nga ca tụng và phổ biến công trình văn học của ông vì ông đứng về phía nông dân. Tiến sĩ giáo dục Nga Semion Filippovitch Egorov trong bài viết về Tolstoi đã trích lời của Lénine viết năm 1910, một thời gian ngắn sau khi Tolstoi mất.
 “[font="arial, sans-serif"]Tolstoi đã đề cập trong tác phẩm của ông biết bao vấn đề, ông đã đưa nghệ thuật của mình lên tới đỉnh cao khiến công trình trước tác của ông được xếp trong số những cuốn sách tuyệt điệu nhất trên văn đàn thế giới”
(Tolstoi a su poser dans ses écrits un si grand nombre d'immenses problèmes, il a su atteindre à une telle puissance artistique que ses oeuvres se classent parmi les meilleures de la litérature mondiale).

*Di sản của ông không thuộc về quá khứ mà nó thuộc về tương lai”
(Il y a dans son héritage ce qui se nombre pas dans le passé, mais appartient à l'avenir)
(Trích trong Lénine Toàn Tập)
 Con người và tác phẩm của Tolstoi đã trở thành di sản cho nhân dân Nga, sách của ông đã được in ra những số lượng rất lớn bằng tất cả các thứ tiếng trong Liên Bang Sô Viết. Công trình văn học của ông đã được ghi vào chương trình giáo khoa tại các trường học, các trường sư phạm cũng như các trường cao đẳng.
 
 
 
 
 
[font="arial, sans-serif"]Điện Ảnh
 
 Hình Flim Resurrection
 
Phục Sinh, Résurerection đã được quay thành phim ba lần.
-Lần thứ nhất năm 1958, phim màu dưới sự hợp tác của ba nên điện ảnh Đức-Pháp-Ý, trong đó Tây Đức là chính, tên tiếng Đức Auferstehung, dài 106 phút. Đạo diễn: Rolf-Hansen
Truyện phim: Renato Castellani, Juliane Kay.
Các tài tử chính.
Horst Buchholz: Vai ông Hoàng Nekhlioudov.
Myriam Bru: Vai nàng Maslova (Katioucha)
Edith Mill: Vai Fedosia.
Ruthniehaus: Vai Missy.
Hãng Phim Bavariafimkunst (phim trường Bavaria) Nhà sản xuất: Franz Wagner.
Quay phim: Franz Weihmayer.
Phim trường: Bavaria/Rizzoli/Francinex Chiếu lần đầu tiên ngày 21-10-1958.
-Lần thứ hai năm 1961, Résurrection được Nga quay thành phim đen trắng lấy tên Woskresenje, hãng phim Mosfilm dài 115 phút.
Đạo diễn: Michail Schweizer.
Các tài tử chính.
Jewgeni] Matwejew: vai ông Hoàng Nekhlioudov Tamara Sjomina: Vai nàng Maslova
-Lần thứ ba năm 2001, dưới sự hợp tác của ba nền điện ảnh Pháp Đức Ý, trong đó Ý là chính, tên phim là Resurreczione
Nhà sản xuất Grazia Volpi, phim dài 180 phút.
Đạo diễn Paolo-Taviani, Vittorio Taviani.
Các tài tử.
Timothy Peach: Vai Nekhlioudov
Stefania Rocca: Vai Maslova.
Được giải thưởng ưu hạng Đại Hội Điện Ảnh Mạc Tư Khoa năm 2002.
Trong ba phim kể trên, Résurrection quay 1958 do Đức-Pháp-Ý hợp tác được phát hành đi nhiều nước, hai cuốn quay năm 1961 và 2001 không thấy được phổ biến. Chúng tôi đã được xem phim của Đức Pháp Ý (quay 1958) hồi xưa tại Sài Gòn và mới được xem phim do Nga quay 1961 qua đĩa DVD.
Cuốn phim do người Nga quay sát truyện hơn nhưng nói chung thua kém cuốn phim của Đức nhiều, đây là một cuốn phim đen trắng dàn cảnh sơ sài có vẻ nghèo nàn, cách lựa chọn tài tử của họ không được chu đáo cẩn thận như điện ảnh Tây phương. Trong truyện Maslova là một cô gái xinh đẹp có nét sang trọng quí phái nhưng họ chọn tài tử Tamara Sjomina thủ vai này là một cô gái trông có vẻ quê mùa giản dị. Lẽ ra phải chọn một người thanh lịch, hào hoa để đóng vai ông Hoàng Nekhlioudov như trong truyện đã mô tả nhưng nhà đạo diễn chọn tài tử (Jewgeni) không được thanh nhã cho lắm, anh này nếu đóng vai vua quan, tướng lãnh thì thích hợp hơn .
Phim không diễn tả được tính cảm động lãng mạn của cuốn tiểu thuyết. Diễn xuất của các vai chính cũng như vai phụ không nổi lắm, nghệ thuật của toàn bộ cuốn phim trung bình, đó là một nghệ thuật cổ lỗ sĩ không theo kịp đà tiến bộ của điện ảnh Tây phương. Điều này dễ hiểu, điện ảnh Nga chỉ là một nền nghệ thuật trung bình, người ta chưa thấy họ có được phim nào xuất sắc nổi tiếng như điện ảnh Nhật, Trung Hoa và Tây phương.
 
Cuốn Résurrection quay năm 1958 nói chung rất thành công và được khen ngợi, chú ý nhiều. Trong số những tác phẩm của Tolstoi được quay thành phim, Résurrection được khán giả, dư luận phê bình chú ý và hoan nghênh hơn cả. Khoảng năm 1959, 1960 tại Sài Gòn khán giả nô nức đi xem phim và trầm trồ khen ngợi, truyện phim cảm động, dàn cảnh vĩ đại, màu sắc lộng lẫy, tài tử diễn xuất điêu luyện.
Theo lời người bạn ở bên Đức, một nhà phê bình đã cho rằng phim không quay sát truyện, điều này dễ hiểu vì trước khi quay thành phim người ta phải viết lại truyện phim, không thể quay theo y như tác phẩm. Trong truyện tiểu thư Missy chỉ là bạn của Nekhlioudov nhưng trong phim nàng là ý trung nhân của ông Hoàng. Người ta bỏ bớt những đoạn tả cảnh đoàn tù trong cuộc hành trình gian nan vất vả đi Tây bá Lợi Á. Điện ảnh không thể diễn tả ngọn nguồn những khía cạnh của xã hội như văn chương mà chỉ diễn tả được cốt truyện.
 Nhà đạo diễn Roff-Hansen tuy không theo sát cốt truyện nhưng đã gây nhiều xúc động sâu xa, đã thực hiện được những cảnh cảm động thương tâm không thua kém gì ngòi bút tuyệt điệu của Tolstoi như cảnh Maslova bụng chửa lên nhà ga vào một đêm trời tối mù mịt để tìm Nekhlioudov khi chàng đáp tầu ngang qua gần nhà hai bà cô. Nàng chạy ngược chạy xuôi trên đường rầy một cách tuyệt vọng khi tầu chuyển bánh. Hoạt cảnh đầy nước mắt và tàn nhẫn ấy đã được văn chương cũng như điện ảnh diễn tả phong phú gợi hình.
[font="arial, sans-serif"]Điện ảnh không thể diễn tả tâm lý nhân vật sâu sắc như văn chương, cũng không diễn tả được những tư tưởng hiện thực xã hội như ngòi bút của nhà văn hào nhưng nó cũng có sở trường riêng. Nhà văn diễn tả tỉ mỉ tâm lý chàng và nàng trong cảnh biệt ly, nhà làm phim diễn tả lại bằng hình ảnh ngắn gọn nhưng vô cùng cảm động: Nekhlioudov từ nhà trọ lên xe trượt tuyết ra roi, con ngựa kéo chàng thẳng tới bến sông nơi Maslova và đoàn tù lên tầu tiếp tục cuộc hành trình đi Tây Bá Lợi Á. Nàng từ chối tự do khi được ân xá, Maslova ôm một đứa trẻ giã từ chàng nói.
Em chỉ yêu có một mình anh thôi”
Nàng không muốn làm hỏng cuộc đời chàng.
 
Một cảnh trong phim Résurrection
 
Con tầu rời bến, Nekhlioudov với đôi mắt hòa lệ trông theo, khán giả tưởng như không cầm được nước mắt khóc theo chàng.
Sự hình thành của cuốn tiểu thuyết dựa trên câu chuyện có thật, định mệnh cay nghiệt đời nàng Rosalie, cuốn phim thành công phần lớn cũng là nhờ nội dung cảm động và những tình tiết lâm li của tác phẩm văn chương. Ngoài ra ta phải kể tài dựng cảnh lành nghề của nhà đạo diễn cũng như diễn xuất tuyệt vời của các vai chính, họ đã làm sống lại nước Nga thế kỷ 19, cả một xã hội phong kiến xa xưa đã hiện ra trên màn bạc.
Horst Buchholz, tài tử Tây Đức nổi tiếng quốc tế thật xuất sắc trong vai ông Hoàng Nekhlioudov, người ta cho đây là cuốn phim thành công nhất trong sự nghiệp điện ảnh của anh. Myriam Bru, cô đào Pháp gốc Do Thái trong vai Maslova đã diễn tả chân thực cuộc đời khốn khổ một người đàn bà vô tội thuộc giới bình dân. Quá say mê với nghệ thuật Horst Buchholz và Myriam Bru đã nhập vào các nhân vật thành Nekhlioudov và Maslova. Trong phim chàng và nàng biệt ly tại bờ sông nhưng ngoài đời anh chị sống bên nhau mãi mãi, Horst Buchholz và Myriam Bru làm lễ thành hôn sau khi cùng đóng xong cuốn phim bất hủ.
 

 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
Kết Luận


 
Giữa thập niên 60, trong một lần tiếp xúc với một vị giáo sư Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, tôi nghe ông nói “Chiến Tranh và Hòa Bình không hay, Résurrection (Phục Sinh) hay lắm” ông khen ngợi truyện này rất nhiều. Thập niên 80 một người bạn đọc xong Phục Sinh cũng ca ngợi tác phẩm, anh cho biết cuốn truyện rất hay, cảm động nhưng lại ít được biết tới. Các nhà nghiên cứu, phê bình văn học Nga đánh giá nó thấp hơn Chiến Tranh Và Hòa Bình, Anna Karénine. Trong cuốn Introduction to Tolstoy's writings trang 196, tác giả Ernest J. Simmons có vài nhận xét về Résurrection.
Các nhà nghiên cứu, phê bình văn học Nga đánh giá nó thấp hơn Chiến Tranh Và Hòa Bình, Anna Karénine.
Trong cuốn Introduction to Tolstoy`s writings trang 196, tác giả Ernest J. Simmons có vài nhận xét về Résurrection.
 
« Ở đây trong sự giằng co giữa nghệ thuật và đạo đức trong con người Tolstoi, nghệ thuật đã thắng. Ông không theo lối kết thúc happy ending mang tính đạo đức, nhưng Katusha (hay Maslova) sau cùng từ chối lấy ông Hoàng Nekhlioudov”.
(Here, in the struggle between the truth of the moralist and the truth of the artist in Tolstoy, the artist prevails. He makes no concession to the conventional happy-ending of virtue rewarded, for Katusha ultimately refuses to marry Nekhlyudov)
 

 
Tác giả diễn tả chân thành cảm xúc của mình trong tác phẩm và đã truyền đạt một cách nghệ thuật tới người đọc, gây xúc động và khiến họ chia xẻ những xúc cảm ấy với nhau và với tác giả. Và dĩ nhiên hơn bất cứ cuốn tiểu thuyết nào khác của ông, Resurrection thể hiện định nghĩa về nghệ thuật siêu việt của Tolstoi vì nó gợi cho chúng ta tình thương và mục đích chung cuộc sống của nhân loại, sự cố gắng thực hiện cái toàn thiện về đạo đức, tinh thần bằng phục vụ mọi người (Trang 198.)
(That is, the novel deals with feelings sincerely express by the author, and so artistically conveyed that they infect readers and cause them to share these feelings with him and with each other. And certainly more than any of his other novels, Resurrection fulfils Tolstoy's definition of the best art, for it evokes in us feeling of brotherly love and of the commmon purpose of the life of all humanity - a striving to achieve spirtual and moral perffection through service to others”)
 
Dịch giả Édouard Beaux trong kết thúc phần giới thiệu bản dịch tiếng Pháp đầu tiên cuốn Résurrection của ông đã quả quyết.
“Điều quan trọng là từ thời ấy đã có một tác phẩm mà sự can đảm, thành thật, cái đẹp của nó có thể nêu một tấm gương sáng cho chúng ta ngày nay”
(Il jugera ainsi de l'important que put avoir en son temps une oeuvre dont l'audace, la sincerité et la beauté peuvent nous servir encore aujourd'hui et d'exemple et d'encouragement)
 
Nhưng Ernest J. Simmons cũng cho rằng nghệ thuật của Résurrection thua kém nhiều so với hai tác phẩm trước Chiến Tranh Và Hòa Bình, Anna Karénine.
 
(Résurrection naturally ƒorces comparison with those supreme works, War And Peace and Anna Karenina, and it must be admitted that it falls below lofy artistic achiements of these earlier novels)
Simmons cũng chỉ trích khía cạnh đạo đức của Phục Sinh.
Nhiều nhà nghiên cứu phê bình đã cho rằng truyện này kém nghệ thuật, Morris Philipson trong cuốn Ông Bá Tước Muốn Làm Người Nông Dân, The Count Who Wished He Were A Peasant nói Phục Sinh không phong phú như Chiến Tranh Và Hòa Bình, Anna Karénine vì nó nói rõ ra chứ không có tính cách mơ hồ tiềm ẩn.
 
(But something of the mystery of art is lacking, it is in a word, obvious, page 131.. - The crucial difference between Resurrection and Tolstoy 's greatest novels is that here the reader knows exactly what the author wants him to think and feel, page 131)
 
Theo Morris, nhà văn hào với lối diễn tả quá sáng sủa làm giảm giá trị cho tác phẩm hơn là làm tăng giá trị cho nó
(...His clarity of thought narrows rather than enhances the effect of his fiction, page 132)
Ông nói Tolstoi dùng những ngụ ngôn, kinh nghiệm cá nhân, những thí dụ chỉ để dùng cho những sách không phải là văn chương hơn là cho tiểu thuyết.
“Sự thật thì những kiến thức về tôn giáo, triết học khó có thể làm cho tác phẩm hay hơn. Phục Sinh là một bài giảng đạo đã cải trang thành một cuốn tiểu thuyết” trang 132.
(Il is not true that his religions and phiosophie understanding improves his novelist art. Resurection is a “Sermon” disguiged as a novel)
 
Dmitry Svyatopolk Mirsky, sinh 1890 tại Nga, học đại học St. Peterburg, sau sang Anh dạy văn chương Nga, trong cuốn A History of Russian Litterature đã chê bai nặng nề truyện Phục Sinh như sau.
Một điều chứng tỏ rõ ràng là nghệ thuật của Tolstoi đã xuống dốc khi ông thành người giảng đạo, nếu sáng tác của ông trong mấy chục năm cuối cùng còn đứng vững hay suy tàn tùy thuộc vào giá trị của Resurection, thì đây là môt trường hợp tồi tệ, vì hiển nhiên là nó rất thua kém Chiến Tranh Và Hòa Bình, Anna Kareine, nhưng nó cũng thua kém rất nhiều cả những truyện ngắn như Ông Chủ Và Người Tớ, Hajji Murad và Xác Chết Sống. Trang 306.
 
(lt has often been used to prove that Tolstoy's genius declined after he became a preacher. If the imaginafive work of his last thirfy years is to stand or fall according to the merit of Resurrection, is will be in somewhat bad case, for it is quite obvious that Resurreclion is very much inferior to War And Peace and Anna Karenina. But it í also much inferior to Master And Man, to Hajji Murad, and to The Living Corpse)
Ông cũng nói
Phục Sinh không phải là một tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo: ý tưởng đạo đức đã được củng cố bằng những bản văn trong Kinh Thánh đã không hội nhập được vào văn chương. "trang 307.
 
(Resurrection is not a petfect work of art: The moral idea, profusely supported by texts from the Gospels is not organically fused into the fabric”)
 
Mirsky còn cho rằng:
Mặc dù tác phẩm dầy, Tolstoi đã bỏ rất nhiều công phu nhưng sách viết để lấy tiền” trang 306.
(Inspite of his size, it is by no means the work into which Tolstoi put the most work and care - it was written, strange to say, for money)
 
Thật chưa có ai ngược đời như giáo sư Mirsky này, người đã đem một tác phẩm vĩ đại nổi tiếng như Phục Sinh để so sánh với những truyện ngắn vài chục trang không ai biết tới. Ông nói Phục Sinh không những thua kém các tác phẩm vĩ đại trước như Chiến Tranh Và Hòa Bình, Anna Karénine mà còn rất thua kém những truyện ngắn của cùng tác giả Tolstoi! Một tác phẩm trở thành tồi tệ chỉ vì có sự xen lẫn một số tư tưởng đạo đức? Một tác phẩm hay không phải ông không thích nó mà nó dở và ngược lại
 
Như đã dẫn ở trên Morris chỉ trích lối viết Tolstoi trong Phục Sinh thua kém Chiến Tranh Và Hòa Bình cũng như Anna Karénine ở chỗ tác giả khiến cho người đọc biết rõ, cảm thấy ngay điều ông muốn nói. Chúng tôi tưởng viết sáng sủa hoặc rung cảm dễ dàng được người đọc thì phải là một ưu điểm nhưng sao Morris lại coi là một khuyết điểm?
 
Cả Simmons lẫn Mirsky đều cho rằng Tolstoi trở thành thầy giảng đạo đức trong Résurrection và như vậy làm giảm giá trị nghệ thuật văn chương. Sự thực không riêng gì trong Phục Sinh mà trong Chiến Tranh Và Hòa Bình, Anna Karénine Tolstoi bao giờ cũng là nhà hiền triết, tác phẩm của ông cũng vẫn là hiện thân của chân thiện mỹ. Vả lại trong Phục Sinh ở phần cuối truyện khi nói đến sự bừng tỉnh của lương tâm Nekhlioudoy, tác giả chỉ trích dẫn năm sáu đoạn ngắn trong Kinh Thánh để diễn tả sự sống lại của nhân vật chính, chàng đã tìm được lẽ sống nhưng các nhà phê bình trên đã phóng đại lên cho rằng Résurrection là một cuốn sách giảng đạo.
 
Cả ba nhà nghiên cứu phê bình Simmons, Morris, Mirsky đều cho rằng Phục Sinh thua kém xa Chiến Tranh Và Hòa Bình, Anna Karénine và đưa ra những yếu điểm của tác phẩm, tuy nhiên Chiến Tranh Và Hòa Bình và Anna Karénine lại không có nhiều khuyết điểm như đã nói trong phần kết luận của các truyện ấy.
 
Chiến Tranh Và Hòa Bình (1863-1969) dài gấp ba lần Phục Sinh, mặc dù là một công trình văn hoá lớn nhưng nay đã trở thành cổ điển. Mặc dù được nhắc tới rất nhiều nhưng trên thực tế ít người có can đảm đọc hết vì truyện không được lôi cuốn như Tam Quốc Chí, Thủy Hử... hoặc Nghìn Lẻ Một Đêm của Ba Tư. Truyện có quá nhiều nhân vật, truyện quá nhiều tình tiết, nó gồm nhiều truyện chứ không phải một truyện. Nội dung không phù hợp với danh xưng của tác phẩm, không có một tinh thần nhất quán giữa chủ đề và cốt truyện như ở Phục Sinh. Tolstoi đề cập tới chiến tranh, Hòa bình ít hơn là ý nghĩa nhân sinh, ý nghĩa của cái chết, con đường đi tìm hạnh phúc, vĩ nhân và lịch sử...
 
Tolstoi diễn tả chiến trận bằng những hình ảnh thi vị với những cụm khói xanh lam của khói súng, những bãi cỏ non xanh rợn... khác với lối diễn tả tàn bạo của Sholokhov sau này trong cuốn tiểu thuyết vĩ đại Sông Don Thanh Bình (1940). Chiến tranh Và Hòa Bình đã không diễn tả, thể hiện được những khía cạnh khốc liệt, tàn phá của chiến tranh như ở các tác giả cận và hiện đại Gheorghiu, Hemingway, Margaret Mitchell, Remarque... vì nó chỉ là một nghệ thuật cổ điển. Với Chiến Tranh Và Hòa Bình cũng như Anna Karénine Tolstoi viết dông dài nhiều khiến cho tác phẩm có nhiều phần loãng, tại cuối truyện ông đã bỏ ra hằng trăm trang nghị luận dài dòng về lịch sử rất lộn xộn và phức tạp, nó không đóng góp được gì hơn là chỉ làm cho độc giả mất thì giờ và mệt mỏi.
 
Anna Karénine (1875-1877), cuốn tiểu thuyết lớn thứ hai của Tolstoi, dầy gần gấp hai Phục Sinh đã được xếp vào trong số một trăm cuốn tiểu thuyết hay nhất thế giới nhưng khía cạnh hiện thực không thể sánh với Resurrection. So sánh nàng Anna và Maslova trong Phục Sinh ta thấy bà mệnh phu nhân đã tự chọn cho mình một ngõ cụt, còn Maslova một cô gái vô tội là nạn nhân của giai cấp quí tộc, và thân phận của nàng mới thực sự đáng thương.
Quan niệm sáng tác của thời cận là tác phẩm phải nói lên được một khía cạnh nào của xã hội loài người và như vậy Anna Karénine cũng như Chiến Tranh Và Hòa Bình đã rơi vào tình trạng cổ điển trong khi Phục Sinh đã có tiến bộ rõ ràng, nó đã diễn tả một cách hiện thực xã hội thối nát dưới thời Nga Hoàng mà các tác phẩm trước không nói được. Văn chương Tolstoi trong Phục Sinh đã thoát khỏi nghệ thuật cổ điển đi vào khuynh hướng mới, nó là một trong những tác phẩm đầu tiên đi vào hiện thực xã hội. Ông cũng đã bỏ được những khuyết điểm thường thấy ở hai cuốn tiểu thuyết trước, đi thẳng vào đề tài, không viết dông dài, chỉ nói những gì cần nói và viết những gì cần viết.
 
Điều không thể phủ nhận được là khi quay thành phim, Résurrection đã thành công huy hoàng, đã được khán giả hoan nghênh hơn hẳn Chiến Tranh Và Hòa Bình, Anna Karénine nhờ nội dung cảm động sâu sắc, tình tiết lôi cuốn bất ngờ và thể hiện được nhiều ý nghĩa nhân bản tình người.
 
Khi mới xuất bản Phục Sinh đã được nhiều độc giả Nga và Âu Mỹ tán thưởng, nay theo bước đi của thời gian tác phẩm ít được biết tới nhưng cũng đáng được coi như một tài liệu xã hội hiếm, quí về một giai đoạn lịch sử đã qua của một đất nước vĩ đại, một dân tộc bất hạnh đã bị dầy vò xâu xé quá nhiều.
 
Nhà dịch giả Pháp Édouard Beaux ca ngợi lòng can đảm của Tolstoi, người mà ngay từ thời xa xưa ấy đã dám viết lên sự thật, ông quả là một tấm gương sáng cho chúng ta ngày nay.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
Cái Chết Của Ivan Ilyich
 
 
Xuất bản 1886, được đa số các nhà nghiên cứu phê bình nhìn nhận đây là truyện ngắn nổi tiếng nhất của Tolstoi và một trong những tác phẩm tuyệt diệu nhất trên văn đàn thế giới.
Nhà văn hào ưu tư nhiều về cái chết : cái chết của ông Hoàng (André) Andrew trong Chiến Tranh Và Hòa Bình, Anna trong Anna Karenina , Vasili trong Ông Chủ và Người Tớ, Master and Man, và bây giờ ý nghĩa của cái chết được đào sâu hơn bao giờ hết trong The Death of Ivan Ilyich.
 
 
Sơ lược truyện
 
lan llyich mất năm 45 tuổi, con thứ hai một ông công chức, học luật ra làm bí thư tổng đốc, năm năm sau giữ chức phụ tá công tố tại một tỉnh khác, có quyền thế được nhiều người nể sợ, chỉ một chữ ký có thể bắt giam người ta. Chàng lấy vợ, thời gian sau hay cãi nhau, không hạnh phúc. Sau bảy năm được giữ chức Công tố viên lvan lên kinh thành Peterburg vận động chức vụ mới, được bổ nhiệm chức vụ cao, lương tăng hơn, gia đình lại hòa thuận. Chàng thuê nhà sang trọng, lvan trèo lên thang để chỉ cho thợ trang trí nhà cửa, trượt chân ngã nhưng nắm được thang chỉ bị đụng hông vào khung, bị bằm thịt, đau ít ngày rồi hết.
 
Từ đó sinh bệnh, nhạt miệng khó chịu, đi khám bác sĩ được biết có thể hoặc ruột dư, sưng thận, ông cũng cho biết phải thử nghiệm mới biết. Ivan đau liên tục, tự trấn an, uống thuốc nhưng vẫn đau, bác sĩ cho biết tình trạng tệ hơn, đi khám bác sĩ nổi tiếng ông cũng nói như ông kia. Hai tháng sau em vợ tới chơi, Ivan nghe lén vợ và em nói chuyện với nhau, họ bảo chàng gầy ốm như xác chết khiến anh càng thêm lo. Vẫn đau dai dẳng, uống thuốc thấy đỡ nhưng cơn đau lại trở về. Ivan nghĩ nay là vấn đề sống chết chứ không còn là chuyện ruột dư.
 
Sang tháng thứ ba, Ivan đau đớn mất ngủ, người ta chích thuốc phiện để giảm đau. lvan ghét cay đắng người đời giả dối, họ nói chàng sẽ hết bệnh trong khi biết mình sắp chết, cơn đau theo đuổi dai dẳng, lvan thất vọng ê chề. Cơn đau hành hạ, thuốc giảm đau không hết, Ivan khóc cho sự tàn ác của người đời, của Thượng đế. Ivan nhớ lại những ngày sung sướng xa xưa, những ngày oanh liệt khi còn làm ông tòa gần đây. lvan cô đơn giữa thành phố đông người, sống bằng quá khứ. Ivan đau khổ trách móc người đời, trách cả vợ con.
Bệnh nhân đau đớn, rên siết, vợ chàng khóc lóc cho đi mời cha tới làm phép.
 
Ivan kêu la quần quại ba ngày, qua hai lớp cửa đóng người ta vẫn còn nghe thấy, chàng như bị đẩy xuống dưới một cái túi đen, giờ hấp hối kéo dài, cuối ngày thứ ba, cậu con trai học sinh lén vào phòng hôn tay cha khóc, Ivan lúc này thương vợ con, không còn sợ chết, không còn cái chết, giờ hấp hối kéo dài hai giờ thì chàng tắt thở”.
 
Tâm trạng Ivan đã được diễn tả qua nhiều khía cạnh như sau.
 
 
Lo âu
 
Khi mới phát bệnh Ivan cáu kỉnh cãi vã với vợ, nàng khuyên Ivan hiện bị bệnh nên đi khám bác sĩ. Thầy thuốc cho biết có thể do sưng thận, đau ruột dư, cần phải thử nghiệm rồi mới biết. Trên đường về nhà, Ivan lo âu không cùng, chàng nhìn cảnh vật bằng cặp mắt chán chường, cơn đau nhói tăng dần, nghe lời vợ Ivan uống thuốc đều đặn theo toa tuy cơn đau không giảm nhưng chàng tin có bớt hơn trước. Sự bực mình cáu kỉnh làm cho bệnh tăng thêm, khi đi bác sĩ lại được biết tình trạng xấu thêm, Ivan đi khám bệnh luôn, chàng khám tại một bác sĩ danh tiếng khác và càng lo sợ, xuống tinh thần hơn.
Bên hông vẫn đau đớn khó chịu, nhạt và hôi miệng, Ivan thấy tình trạng mình đáng sợ hơn, nội tâm rối như tơ vò nhưng ngoại cảnh vẫn thản nhiên. Hai tháng trôi qua, em vợ ở xa đến thăm, anh ta nhìn Ivan nói ồ ! khiến chàng nghĩ mình đã thay đổi nhiều, bèn soi gương thấy mình gầy ốm và lo lắng vô cùng, vợ và em bàn thảo với nhau, Ivan nghe lén được biết họ nói chàng trông bệnh hoạn quá khiến chàng lo thêm.
 
 
 
Sợ chết
 
Ivan đến một bác sĩ khác được biết có lẽ do ruột dư và có thể chữa hết, chàng uống thuốc cảm thấy đỡ hơn lòng khấp khởi mừng thầm. Rồi lại đau nữa, Ivan chán nản vì bệnh tình ngày càng xấu, chàng nghĩ bây giờ không còn là chuyện thận hay ruột dư mà là vấn đề sinh tử, có sống được không? Ivan cảm thấy đời mình đang tàn dần, đang chết dần, mình sẽ chết, không còn hy vọng gì nữa.
 
Ivan nhớ ngày mới phát bệnh đi bác sĩ, rồi đau đớn, lo âu, ngày càng yếu và rồi cái chết đang từ từ tiến tới khiến chàng giận dữ hơn, chàng thấy mình đang chết dần và và chán chường thất vọng. Tam đoạn luận nói Caius là người, người phải chết, vậy Caius phải chết, chàng cho rằng câu này chỉ đúng với Caius, hắn là người trừu tượng còn mình là Ivan, con người thật không thể chết như Caius được. Ivan cố xua đuổi ý tưởng ấy nhưng nó lại trở về. Trong một lần đang làm việc tại cơ quan tự nhiên chàng thấy phát đau không nói tiếp được, đồng nghiệp và nhân viên ngó ra nhìn Ivan, như vậy chứng bệnh, cơn đau buộc chàng phải nhìn nó tận mắt.
 
 
 
 
Ghen ghét người đời.
 
Bị bệnh thập tử nhất sinh khiến Ivan ác cảm với những người khoẻ mạnh, vợ con chàng tiếp khách, trong bụng họ có vẻ không vừa ý vì chàng rầu rĩ., chàng cãi cọ với vợ luôn, chị ta đau khổ vì mất hạnh phúc gia đình. Bạn bè đến nhà đánh bạc với Ivan rồi ra về, chàng cảm thấy đời mình gây tổn hại cho bản thân và cả cho người khác. Ban đêm cơn đau lại âm ỉ, ban ngày ra tòa án làm việc, Ivan đang ở trên bờ vực thẳm, chàng thấy chẳng có ai thông cảm cho mình. Chàng sợ chết, thấy vợ con, khách khứa vui chơi không nghĩ gì đến mình, mai kia họ cũng sẽ phải chết. Khách khứa ra về, vợ con vào phòng hỏi thăm Ivan vài câu rồi bước ra, tự nhiên chàng thấy ghét cay ghét đắng vợ mình.
 
Bệnh đã sang tháng thứ ba, vợ con, gia nhân đầy tớ bạn bè như đang nghĩ rằng Ivan sẽ ra đi để thoát khỏi căn phòng, thoát khỏi cơn đau dai dẳng. Chàng ít ngủ, bác sĩ chích thuốc phiện để giảm đau nhưng không khả quan mấy, chàng lại đau khổ về sự giả dối của người đời, họ cứ bảo chàng chỉ bị bệnh chứ không chết, họ nói láo về những ngày tàn của chàng, Ivan muốn la to.
-Các người đừng nói láo nữa, ta đang chết đây.
Chàng nghĩ chẳng ai thương xót mình và mong được vuốt ve an ủi những ngày cuối cùng.
Một bác sĩ mới đến chẩn bệnh, ông cũng nghe ngóng trên dưới. Ivan nhìn bác sĩ nghĩ bụng
“Sao bác sĩ không xấu hổ vì nói xạo? Tất cả chỉ là trò giả dối”.
 
Vợ chàng lại cho mời một bác sĩ danh tiếng, ông này có vẻ nghiêm nghị, khám xong cho biết vẫn còn chút hy vọng nhưng nó chỉ loé lên một lúc và cơn đau vẫn còn bám theo Ivan. Ăn xong, vợ chàng vào thăm, chị ta mặc diêm dúa sắp đi dự dạ hội khiến chàng ghét cay ghét đắng. Mấy đứa con cũng sắp đi, chúng ăn mặc đẹp vào chào Ivan khiến chàng thoải mái vì không còn thấy sự giả dối của họ.
Vợ chàng vào, Ivan đau kêu rên bảo :
-Làm ơn để tôi chết êm thắm bà ơi!
Con gái vào thăm, chàng bảo.
-Ta mong được chết quách cho rồi
Cô con gái than với mẹ.
-Mẹ và con có gì đáng trách đâu? Bố làm như mẹ con mình gây nên nông nỗi này, con tội nghiệp cho bố nhưng tại sao lại trách chúng ta?
Bác sĩ đến thăm, Ivan bảo.
-Ông đã biết ông không giúp gì cho tôi được, cứ để mặc tôi. Bác sĩ đáp.
-Tôi làm ông bớt đau.
-Ông cũng chẳng làm tôi bớt đau, cứ kệ tôi.
 
 
 
 
Khổ đau
 
Cơn bệnh đã sang tháng thứ ba, cơn đau vẫn dai dẳng như bóng với hình, Ivan kêu la vì tình huống khốn khổ hơn là vì đau đớn. Chàng mong cho nó chống hơn, mau hơn, nay chết là điều tốt nhất. Một tia hy vọng mong manh chợt tới song lại vụt biến mất, thất vọng ê chề lại nổi lên cùng cơn đau vô tận, đau triền miên không bao giờ dứt, ngưới ta lại chích thuốc phiện chỉ để quên đau trong phút chốc.
Cơn đau vẫn hành hạ Ivan, chàng uống thuốc giảm đau nhưng không bớt mấy. Ivan khóc lóc như đứa trẻ con, chàng khóc cho sự cô đơn, sự tàn ác của người đời, cho sự tàn ác của Thượng Đế:
Sao Người lại hành hạ tôi mãi thế này?
Ivan thôi khóc, lắng nghe tiếng nói của tâm hồn mình.
Ta muốn sống, muốn dứt cơn đau, muốn sống cuộc đời như ta đã sống trước đây, cuộc đời vui tươi hạnh phúc
 
Ivan đau khổ về tinh thần nhiều hơn thể xác, nhìn vợ con, gia nhân họ đều khoẻ mạnh, đó là hình ảnh cuộc sống của mình trước đây và đau khổ khiến cho cơn bệnh lại làm chàng đau đớn hơn bội phần.
Bác sĩ bảo bà vợ nay chỉ cần có thuốc phiện làm giảm đau, ông nói bệnh nhân đau đớn lắm nhưng đau tinh thân nhiều hơn: Ban đêm Ivan nhìn mặt tên hầu Gerasim đang ngủ, khuôn mặt hắn rộng, phúc hậu. Ivan nghĩ phải chăng cuộc đời chàng trước đây đã sai đường không đúng, công việc tại tòa tất cả có thể sai, những tư tưởng này làm cho Ivan đau bệnh hơn. Ivan rên siết đau đớn, họ chích thêm nhiều thuốc phiện khiến chàng mê man, tới giờ ăn trưa Ivan đau đớn lăn lộn.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
Nhớ quá khứ
 
Ivan nhớ lại thời thơ ấu, thời học sinh, ra trường đầy hy vọng và nhựa sống rồi kết hôn với Praskovya, người ta tưởng đời Ivan lên cao nhưng thực ra xuống dốc và bây giờ đang từ từ tới cái chết. Ivan cũng nhớ tới những ngày huy hoàng đầy quyền hành tại tòa án, khi người thừa phát lại la lớn:
-Quan tòa đến.
Nhưng than ôi thời oanh liệt nay còn đâu.
Lúc tuyệt vọng chàng nhớ tới quá khứ để tiếc rẻ cuộc đời, nhất là cuộc đời thuở hoa niên sao đẹp thế mà nay cái chết tới thật đột ngột sao nhanh thế.
 
 
Tình thương
 
Ivan nghĩ chẳng có ai thương mình ngoài tên hầu Gerasim và cậu con trai học sinh. Một hôm Ivan nhờ tên hầu này gác đôi chân chàng trên vai hắn, Gerasim rất thông cảm ông chủ, có khi hắn vác đôi chân ông suốt đêm. Hắn tội nghiệp cho ông chủ, hắn bảo ngài không lo, con đã ngủ đủ rồi, Ivan nghĩ hắn không nói dối và thương cho ông chủ nhiều.
Cuối ngày thứ ba, hai giờ trước khi Ivan tắt thở, cậu con trai học sinh lẻn vào phòng đến cạnh cha trong khi ông đang hấp hối la hét vung tay đụng đầu con, cậu cầm tay bố hôn và khóc vì tội nghiệp cho bố, Ivan mở mắt tội nghiệp cho cậu. Khi ấy vợ vừa tới há miệng nhìn chàng, lệ tuôn rào rạt trông tuyệt vọng khiến chàng cũng đâm thương vợ và nghĩ mình làm khổ họ, nếu chàng chết họ sẽ bớt khổ hơn.
 
 
Giải thoát
 lvan bảo vợ mang cậu con ra khỏi phòng, chàng thương cho họ, phải làm sao cho họ hết đau khổ và tự giải thoát khỏi cơn hấp hối này. Nay Ivan thấy một điều rõ ràng là cái đã dầy vò hành hạ chàng dai dẳng nay bỗng biến mất trên thân thể. Lúc này chàng tự hỏi đau đớn đi đâu rồi, mày ở đâu? Chàng tìm kiếm nó, nó đây rồi, mặc kệ nó. Còn cái chết, mày ở đâu? Chàng tìm lại cái tâm trạng sợ chết của mình trước đây nay không thấy nó đâu cả, sự sợ hãi, mày ở đâu? Không còn sợ hãi vì cái chết cũng không còn hiện hữu.
Thay vì chết nay là ánh sáng, bỗng Ivan la lên
“Nó đây rồi, vui sướng thay!”
Chàng thấy tất cả trôi qua trong một khoảnh khắc nhưng thực ra giờ hấp hối của chàng kéo dài hai tiếng đồng hồ.
Có người nói “nguội rồi”, chàng nghe thấy câu ấy và nhắc lại trong tâm hồn và tự nhủ
“Cái chết đã qua, không còn chết nữa”
Ivan thở vào nửa chừng, rồi ruỗi chân từ giã cõi trần.
 
Cái Chết Của Ivan Ilyich là một bi kịch, cuộc đời là bi kịch. Đời một viên quan chức cao từ nhỏ đến khi ra đời thành công trên sự nghiệp nhưng kết thúc bằng tấn thẩm kịch. Người ta thấy nghệ thuật của Tolstoi ở đây có nhiều nét gần với tỉnh thần yếm thế của Đức Thích Ca Mâu Ni.
Cuộc đời là một chuỗi dài những khổ đau ... những sự khổ đau ghê gớm nhất -
( Life, series of increasing sufferings....the most fearfful sufferings — Trang 126
 
Tolstoy đã dành nửa tác phẩm ngắn này để mô tả tỉ mỉ cơn đau cũng như tâm tư dằn vặt của một bệnh nhân trong những ngày cuối cùng của chàng ta trên trần thế .
Sự diễn tả tâm lý, cái nhìn hướng nội của Tolstoi thật sâu sắc đã được các nhà phê bình cho là một trong những đoản thiên có giá trị nghệ thuật cao nhất trên văn đàn thế giới. Hơn bao giờ hết Tolstoi đã diễn tả trung thực cái tâm lý tham sinh qúy tử của con người, họ đã bám víu vào những hy vọng mong manh treo trên sợi chỉ mành như Ivan Ilyich khi đã cầm chắc cái chết trong tay nhưng vẫn còn mơ tưởng hoặc tiếc nhớ vu vơ. Khi cái chết đã thực tới thì cuộc đời không còn là bi kịch, đó là sự giải thoát.
Truyện ngắn nổi tiếng của Tolstoi đã được nhiều nhà nghiên cứu phê bình đánh giá cao: Morris Philipson nói trong The CountWho Wished He Were A Peasant, trang 112.
Về phương diện văn chương, Cái Chết của lvan llych là một trong những tác phẩm cảm động sâu sắc nhất, tuyệt diệu nhất của mọi thời đại. Đó là một kiệt tác trên văn đàn thế giới.
(From a literary point of view, The Death of Ian Ilch is one of the most profoundly moving, brilliant pieces of writing of all time. It is a masterpiece of world literature-)”
 
Theo Ernest J. Simmons trong Introduction to Tolstoy”s writings trang 148, 149.
 
Cái Chết của lvan llyich đã được nhiều người ca ngợi vì nó là một tác phẩm nghệ thuật phong phú đầu tiên của ông từ chín năm qua khi ông viết Anna Karenina. Hình như tác giả trứ danh này đã quay về với nghệ thuật mà chính nó đã làm cho ông nổi tiếng trên thế giới. ”
(The public hailed The Death of lvan Ilyich, for it as - the first substantial artistic work that he had written since Anna Karenina nine years before. At last, it seemed that the celebrated author had returned to the art that won him international fame)
 
William W. Rowe nhận xét nhân vật chính của tác phẩm đã sống vô nghĩa, cho đến lúc sắp nhắm mắt lìa trần mới biết mình đã sống sai, sống thừa.
Trong Cái Chết của lvan Ilyich, đoản thiên nổi tiếng nhất của Tolstoi viết 1886, nhân vật chính đã nhận ra sự thật rách nát đúng vào lúc sắp lìa đời: cả cuộc đời của chàng ta theo đúng nghĩa chỉ là cái chết kéo dài ra.
(In Tolstoy's most famous short story The Death of lvan llych 1866, the hero discovers a shattering truth just before he dies: his entire le has in a reaÌ sense been a protracted “ death” - William R. Rowe, Leo Tolstoy trang 102)
 
Morris Philipson trong cuốn Ông Bá Tước Muốn Làm Người Nông Dân, The Countwho Wished He Were A Peasant, trang 111-112 cũng có nhiều nhận xét tương tự như William W. Rowe.
Morris cho rằng truyện muốn gửi tới độc giả nhiều lời nhắn nhủ cho những kẻ chỉ sống theo tiêu chuẩn xã hội sẽ chết vì như Ivan Ilyich, người chỉ biết sống để thực hiện sự thành công bể ngoài. Cái chết gần kề đã khiến cho con người này thấy thực chất của lối sống theo bề ngoài. Tolstoi thương cho nhân vật chính của ông, một kẻ chịu nhiều đau khổ mà không nhận ra sự thật, truyện ám chỉ sự bế tắc không lối thoát, tại sao con người lại sống một cuộc đời trống rỗng, không mục đích như vậy?
 
Toàn thể tác dụng của truyện là để cho mỗi người đọc tự đạt câu hỏi: cuộc đời của ta có còn ý nghĩa gì không? Có thực sự xứng đáng không?
(The over-all effect ot the novella is to make each reader face himself with the question: is my own life any more significant? Any more intrinsically worthwhile ” ?)
 
Dưới cái nhìn của giai cấp trưởng giả Ivan không có điều gì thất bại nhưng cái chết của chàng ta nhuốm vẻ thương tâm của một người tử vì đạo nếu chàng không biết tại sao mình chết. Cuộc đời không có cứu rỗi cũng bất công như sự hành hạ một người con tin vô tội, Ivan nhận ra sự thật thì đã quá trễ.
 
Nhận xét trên của Morris Philipson theo sát ý nghĩa của tác phẩm y như Tolstoi muốn diễn tả. Theo Tolstoi, Ivan chết vì sống không mục đích, một cuộc sống không có ý nghĩa nhưng thực ra Ivan chết vì bệnh hơn là vì cuộc sống vô nghĩa như tác giả ám chỉ. Nhà văn hào đã không diễn tả một cách rõ rệt cuộc đời vô nghĩa, sai đường của Ivan, vô nghĩa và sai đường về phương diện nào? đạo đức hay xã hội? nếu về đạo đức thì chính tác giả đã làm giảm giá trị nghệ thuật vì nó nghiêng về giảng đạo. Mặc dù được coi là đoản thiên tuyệt diệu của nền văn chương thế giới nhưng Tolstoi đã không tỏ ra lô gích khi nói đến nguyên nhân gây ra cái chết của Ivan Ilyich.
 
Trong cuốn Tuyển Tập Phê Bình về Tolstoi (Tolstoi, A Collection of Critical Essays) trang 150, Edward Wasiolek nhận xét chỉ một tai nạn nhỏ đã gây nên thảm kịch: trong khi trèo thang để sai bảo cho bọn gia nhân trang hoàng nhà cửa, Ivan trượt chân đụng một bên hông vào thang tím bầm, từ đó sinh bệnh ngày càng nặng đến nỗi vong mạng. Thật vậy, trên thực tế không thiếu gì nguyên nhân bệnh tật như tim, gan, phổi, ruột .. có thể gây tử vong cho chàng ta hơn là cái nguyên do giả tạo, gượng ép kể trên. Cái Chết của Ivan Ilyich đã ảnh hưởng tới cuốn phim Wild Strauberries, Chùm Dâu Dại của nhà đạo diễn Thụy Điển Ingmar Bergman quay 1959 nói về một ông bác sĩ già cô độc nghĩ tới cái chết và nhớ lại thuở hoa niên. Mặc dù phim được nhiều giải thưởng cao và đã được xếp trong số mười phim hay nhất mọi thời đại nhưng không thành công mấy, rất ít người xem vì khó hiểu, hình ảnh không thể diễn tả một cách sáng sủa những ý tưởng sâu sắc.
 
 
 
 
 
Cầm tấu khúc Kreutzer
 
 
Đây là một đoẳn thiên rất nổi tiếng của Léon Tostoi viết 1890, dài gần một trăm trang, hổi ấy bị kiểm duyệt cấm in. Tên truyện thật là thơ mộng, dễ thương, thoạt nghe người ta tưởng đó là một để tài âm nhạc, về những bản cầm tấu khúc du dương hoặc một truyện tình lãng mạn, bay bướm tuyệt vời nhưng thực ra nội dung lại đây tính chất tàn bạo, dữ tợn giống hệt như lối văn mạnh bạo trong các tác phẩm của Dostoevsky.
 
Truyện một vụ án mạng giết vợ ghê rợn, tàn nhẫn, đẫm máu... hậu quả của sự ghen tuông và của một đời sống nhục dục phóng đãng. Tác phẩm chứa đựng nhiều ý tưởng táo bạo về tình dục, mãi dâm, xã hội, hôn nhân... nên đã bị cấm đoán. Theo Dr T.C.B.Cook (The Death Of Ivan Ilyich and Other Stories, Leo Tolstoy, Introduction and Notes by Dr...)
Tolstoi viết truyện này khi đời vợ chồng ông trong gia đình đã tới lúc thật xấu, ông nghi ngờ vợ ngoại tình với một người đàn ông khác còn trẻ mặc dù không có bằng cớ.
Truyện viết theo lối tự thuật, có lần đi xe lửa, tác giả được nghe một ông khách tên Pozdnyshev kể chuyện đời mình.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 19.06.2026 13:15:31 bởi Thanh Vân>
Sơ lược truyện.

“Ông thuộc thành phần quí tộc, điền chủ giầu có, trình độ đại học, làm công chức chính phủ. Thời còn học sinh giao du với bọn ăn chơi lêu lỏng, bị xã hội lôi cuốn, mới mười lăm tuổi đã sa ngã vào chốn ăn chơi truy lạc. Trở thành người dâm đãng, ông kéo dài cuộc sống sa đọa trụy lạc vô nghĩa trong thâm tâm vẫn có ý định cưới vợ để thực hiện một nếp sống gia đình trong trắng cao thượng. Cho tới năm ba mươi tuổi vẫn chưa lập gia đình, nhưng rồi tình cờ gặp người ưng ý, cô nàng thuộc gia đình địa chủ đã khánh tận.
 
Bà vợ tưởng ông là người đạo hạnh sau đọc nhật ký của ông tỏ vẻ ghê tởm. Cuộc hôn nhân không có tình yêu chân thật, chỉ vì xác thịt nên dần dần mất hạnh phúc, hai người cãi cọ, chửi bới nhau những chuyện không đâu. Đời sống vợ chồng không đem lại hạnh phúc mà chỉ là một gánh nặng, ông đã buông theo dục vọng quá độ.
 
Bốn năm năm sau, hai vợ chồng có năm đứa con, con cái làm gia đình mất hạnh phúc vì đau yếu, bệnh hoạn. Họ thường cãi cọ nhau dữ dội đủ chuyện, ít lâu sau dọn lên tỉnh, cuộc sống bận rộn hơn. Hai năm sau, bác sĩ bắt vợ phải cai đẻ, nàng ba mươi tuổi mập hơn, trông càng khêu gợi hấp dẫn hơn.
Nàng như một con ngựa béo, bỏ yên cương khiến ông đâm sợ, có lẽ nàng nghĩ từ nay phải hưởng thụ, tuổi thanh xuân sẽ qua mau. Nàng theo quan niệm trên đời chỉ có tình yêu, lấy chồng đã được hưởng tình yêu nhưng chưa đủ, tâm hồn nàng rạo rực muốn yêu, nàng phác hoạ một mối tình mới khiến ông đâm lo, nàng ít bận tâm tới con, hăng say tập dương cầm. Rồi người đàn ông xuất hiện, hồi xưa gia đình anh ta ở cùng xóm, hắn chỉ là một người đàn ông tầm thường, học vĩ cầm ở Ba Lê về, ăn mặc lối Tây, tài âm nhạc của hắn là đầu dây mối nhợ. Người nhạc sĩ ăn diện, cà vát sặc sỡ, dùng hàng Ba Lê để thu hút phụ nữ. Sự thù ghét vợ chồng đưa tới cái hố nguy kịch, tên nhạc sĩ đến thăm ông vào một buổi sáng, ông bèn giới thiệu với vợ, họ bắt chuyện qua âm nhạc, hắn đề nghị kéo đàn vĩ cầm chung với vợ ông đánh dương cầm. Vợ ông từ chối, ông phải năn nỉ vợ, chiều hôm sau họ hòa nhạc, đàn chung một bản nhạc của Mozart. Ông chồng bắt đầu ghen khi thấy hai người liếc nhau, bề ngoài hắn trang nhã lịch sự đủ thu hút nàng.
Mấy hôm sau ông về nhà thấy áo chòang của hắn ở phòng ngoài, ông đi qua phòng học các con tới gần phòng nhạc nghe thấy tiếng cười tiếng đàn máu ghen sôi lên, họ tập dượt bài cho buổi hòa nhạc chủ nhật này. Tuần sau ông sẽ phải họp trên quận, tối ấy chồng ghen, vợ phân trần, chồng nóng nẩy hăm dọa giết vợ nhưng rồi hai bên lại vui vẻ.
Chủ nhật quan khách tới đông đủ, ông chồng thích khoe khoang, thân hành đi mua các món ăn, viết thiệp mời, sáu giờ khách tề tựu đông đủ, ông thấy hắn kém xa vợ nghĩ rằng nàng không tự hạ như vậy, chồng tin lời cam đoan của vợ, họ ăn tiệc trước khi trình diễn, hai người hòa nhạc bản Kreutzer Sonata của Beethoven.
Lúc ra về tên nhạc sĩ nói ý cho biết hắn không muốn trở lại khi ông vắng nhà. Ông lên quận họp, hai hôm sau vợ viết thự cho ông nói tên nhạc sĩ có ghé cho mượn mấy bản nhạc, ông nghi ngờ nổi cơn ghen nghĩ tới tình yêu xác thịt của vợ ông và tên nhạc sĩ sau lại tự trấn an, rồi lại nghi ngờ. Ông thao thức không ngủ được, năm giờ sáng báo cho Hội nghị biết có việc gấp phải về nhà.
 
Tám giờ lên xe ngựa rồi đi xe lửa mất tám tiếng, người chồng tưởng tượng ra cảnh người vợ phản bội mình, nội tâm ông rối bời, lúc nghi ngờ lúc lại cho mình tưởng tượng quá xa. Tới ga chót ông nôn nao, lạnh run, xuống ga tâm trí rối loạn, lên xe ngựa về nhà. Tới nhà thấy đèn phòng nhạc vẫn sáng, ông lên cầu thang bấm chuông vào phòng ngoài thấy áo choàng của tên nhạc sĩ, tất cả đúng như ông nghĩ “đích thị là hắn", bây giờ là chuyện thật rồi, ông sẽ thẳng tay trừng trị người vợ phản bội.
Người chồng rón rén đi lối hành lang vào phòng riêng khóc, mình là người đứng đắn năm đứa con thế mà vợ ngoại tình với tên nhạc sĩ. Ông lấy con dao găm treo trên tường rút khỏ vỏ, rón rén mở cửa, hai anh chị kinh hoàng, tên nhạc sĩ và vợ ông hết hẳn. Ông đứng trên bực cửa dấu con dao sau lưng rồi lao tới, hắn nắm cánh tay ông rồi tháo chạy, bà vợ ôm lấy tay chồng, ông ta nổi cơn điên, khủy tay đụng vào mặt vợ tím bằm lại, chị ta già mồm cãi khiến ông điên tiết bóp cổ vợ, đâm mãi dao vào bụng ngập lút cán, máu từ từ ọc ra. Ông biết là mình đã giết một người đàn bà không có gì tự vệ, người ấy là vợ mình. Bị giam gần một năm, khi ra tòa ông được tha bổng, ông chánh án coi đó là trường hợp nóng giận vì ghen tuông, người chồng bị phản bội giết vợ để bảo toàn danh dự gia đình. Đây là trường hợp khác thường trong văn chương Tolstoi, lần đầu tiên ông dùng sự diễn tả tàn bạo, ghê rợn khác với lối hành văn nhẹ nhàng, tế nhị, bay bướm như ta thường thấy trong tác phẩm tiêu biểu cũng như những đoản thiên khác. Một vụ án mạng rùng rợn giống như trong cuốn phim Nhật Rashomon thể hiện thú tính con người. Thảm kịch này là hậu quả của một cuộc hôn nhân không hạnh phúc dựa trên tình yêu thể xác nhiều hơn là tình nghĩa vợ chồng hoặc tình yêu lý tưởng.
 
Nhân vật chính đã thú thực từ năm mười lăm tuổi, còn là một cậu học sinh trong trắng ông đã theo bạn bè, đàn anh vào chỗ chơi bời trụy lạc, xã hội đã đẩy đưa thanh niên đến chỗ sa đoạ, đồi trụy. Những người lớn trong xã hội thời đó cho tình dục là một điều tốt cho sức khoẻ của thanh niên, nó giúp cho tinh thần mới bớt căng thẳng, người ta nói thế, sách cũng nói thế; bạn bè đều khuyến khích như vậy. Các khu mãi dâm được chính phủ tổ chức điều hành sao cho hợp vệ sinh, bảo đảm sức khoẻ cho thanh niên. Các bác sĩ ăn lương chính phủ cho biết chơi bời là có lợi cho sức khoẻ, khoa học đã đưa thanh niên đến khu mãi dâm, bác sĩ, chính phủ, xã hội... đã làm đổi truy cả một lớp thanh niên. Bác sĩ chữa trị bệnh cho gái mãi dâm, cho thanh niên như là để khuyến khích chơi bời, ông ta bị sa ngã vì người ta khuyến khích đó là một sự giải trí vô hại cho thanh niên.
 
Xã hội đã tạo lên những thanh niên hư hỏng, đổi truy như ông ta. Tác giả cho rằng con người còn thua giống vật vì chúng chỉ đến với nhau để sinh sản và bảo toàn nòi giống nhưng con người thì tận hưởng khoái lạc bất kể giờ nào lúc nào mỗi khi nổi hứng. Theo ông nhân loại phải đoàn kết trong tình tương thân tương ái, tình dục đã cẩn trở sự đoàn kết, bao lâu nhân loại còn tổn tại, lý tưởng trước mắt ta là chân thiện mỹ đạt được nhờ sự trong trắng và tiết chế.
Xã hội đã biến người đàn bà thành phương tiện giải trí, thân xác người đàn bà chỉ là một dụng cụ mua vui, người đàn bà còn là nô lệ bao lâu đàn ông còn coi họ là phương tiện giải trí. Phương pháp ngừa thai, cai để đã biến người đàn bà thành đồ vật mua vui cho nam giới.
Cuộc hôn nhân của hai vợ chồng ông Pozdnyshev thiếu hạnh phúc từ cơ bản vì không có tình yêu lý tưởng, chỉ là tình yêu xác thịt. Sau những năm chung sống, có năm mặt con, sự thù ghét căng thẳng giữa vợ chồng đưa tới cái hố nguy kịch. Nếu không ghen thì cũng có chuyện khác, nếu không li dị thì cũng đến chỗ tự tử, hoặc án mạng, cả hai vợ chồng đã nhiều lần suýt tự tử. Một cuộc triển lãm chó đã khiến họ thảo luận tranh cãi rồi chửi nhau ầm lên, suýt đánh nhau, giết nhau, ông chồng đã tính bỏ đi xa.
Mặc dù đời sống vợ chồng không Hòa thuận nhưng ông vẫn nổi cơn ghen khi tên nhạc sĩ vĩ cầm bắt đầu có tình ý với vợ mình. Trước hôm Hòa nhạc, ông nóng giận chửi vợ vì nghi ngờ hai người hai người liếc mắt đưa tình với nhau, chị vợ phân trần mỗm loa mép dải nên mọi chuyện lại êm xuôi. Người vợ giả dối chỉ che mắt ông được một vài lần, nhưng đường đi hay tối, nói đối hay cùng và thẩm kịch gia đình đã diễn ra như thế.
Nghệ thuật mô tả mô tả tâm lý nhân vật tuyệt vời của Tolstoi đã cho ta thấy tâm trạng rối bời của ông chồng khi nghĩ tới tên nhạc sĩ vĩ cầm và người vợ trẻ đang rạo rực khát tình, có lúc ông đoan chắc hai đứa tư tình với nhau, rồi ông lại tự trấn an rằng mình tưởng tượng quá xa, tự nhiên thù ghét họ. Suốt tám giờ ngồi trên xe lửa về nhà, người chồng nghi ngờ, mâu thuẫn lung tung. Lần đầu tiên trong văn chương Tolstoi độc giả được theo dõi những diễn biến hồi hộp gay cấn y như trong truyện trinh thám.
Sự thật phũ phàng cuối cùng đã lộ nguyên hình, nó cũng thể hiện sự đau khổ không cùng của người chồng bị phần bội. Khi tên nhạc sĩ hốt hoảng bỏ chạy, người vợ bị chồng bắt quả tang ở lại đêm với hắn trong lúc ông vắng nhà, Tolstoi đã diễn tả người đàn bà đau khổ bằng hình ảnh tàn nhẫn chua chát.
Bộ mặt nàng tỏ vẻ sợ hãi thù ghét tôi, kẻ thù của nàng, giống như con chuột bị mắc bẫy nhìn người đánh bẫy khi nhấc cái bẫy lên”.
(Her face showed fear and hatred of me, the enemy, as a rat's does when one ljfs the trap it which it has been caught)
Đây là lần đầu tiên trong văn nghiệp, ngòi bút của Tolstoi đã diễn tả vụ án mạng một cách tàn bạo, ghê rợn như sau.
Tôi đâm con dao thật mạnh vào chỗ dưới mấy chiếc xương sườn của nàng ”
(I struck her with all my might with the dagger in the side below the rib)
Hoặc.
Tôi còn nhớ, tôi cảm thấy lưỡi dao đụng vào cái sú chiêng hoặc cái gì đó trong giây lát và rồi con dao đâm phập xuống lớp thịt mềm. Nàng lấy tay cầm con dao và bị cắt đứt tay nhưng không cản giữ được nó”
(I felt, and remember, the momentary resistance of her corset and of something else, and then the plunging of the dagger into something soft. She seized the dagger with her hand, and cut them, but could not hold it back)

“Tôi đứng yên chờ đợi, không tin là có thực. Nhưng máu tuôn ra từ phía dưới xu chiêng của nàng. Chỉ khi ấy tôi mới hiểu là không thể cứu chữa gì được nữa”
(I continued to stand waiting, and not believing the truth. But the blood rushed under her corset. Only then I dd understand that it could not be remedied)
Dr T.C.B.Cook cho rằng trong truyện này lối viết của Tolstoi giống y như Dostoievsky về giọng văn cũng như cách mô tả tâm lý con người ở trạng thái khác thường.
(lr is probably the story in which Tolstoy's writing is closest to Dostoesvky's in its fone and in its exploration of abnormal states of mind)
Ông nhấn mạnh vào nhát dao sát nhân để cho người đọc thấy rõ những tội lỗi ghê rợn bởi thú tính con người, hậu quả của cuộc sống sa đọa do một xã hội chỉ biết tôn thờ tình dục, trác táng mang lại.



 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
Ông Chủ Và Người Tớ.
 
Một đoản thiên đặc sắc của Tolstoi viết năm 1894- 1895, dài gần 60 trang thể hiện chủ đích tác phẩm vừa có giá trị đạo đức và đạt tiêu chuẩn nghệ thuật. Ông Chủ Và Người Tớ, Cha Sergius 1898, Hadji Murat 1904 là những truyện được sáng tác trong hai thập niên cuối cùng của đời ông. Trước đó tác giả đã bỏ sáng tác văn chương để viết về tôn giáo, đạo đức, triết lý, xã hội. Năm 1897 trong cuốn Nghệ Thuât Là Gì? Ông nói về văn chương lồng trong tư tưởng đạo đức để dễ phổ biến cho người đọc.
 
Ông Chủ Và Người Tớ là một sáng tác khi ông quay trở lại văn chương , ông nói trong thư và nhật ký cần phải viết nghệ thuật, mặc dù chú trọng về văn chương nhưng cũng vẫn nhuốm màu sắc đạo đức, đó là sự kết hợp hài hòa giữa văn chương và đạo đức. Ông Chủ Và Người Tớ cũng như nhiều sáng tác cuối đời tác giả cho thấy cây bút nghệ thuật của ông đã đạt tới trình độ cao hơn trước. Đoản thiên cũng chứng tỏ thiên tài vượt bực của Tolstoi, câu chuyện chỉ sẩy ra trong một ngày với những tham vọng, ưu tư, khắc khoải, của con người được diễn tả một cách phong phú và lôi cuốn.
 
 
Sơ lược truyện.
 
Truyện xảy ra năm 1870, tháng Chạp sau ngày lễ Thánh Nicolas. Vasilii Andreich Brekhunov, một nhà buôn, chủ quán giầu có hôm ấy vội chuẩn bị ngựa xe để đi trả giá mua một khu rừng cây tại làng Goryachkino trong vàng, Vasilii hy vọng sẽ mua được tài sản này với giá hời. Hắn mang theo tiền rồi cùng anh người làm Nikita lên xe đi ngay.
Hai người lên đường vào lúc trưa, gió thổi mạnh tuyết rơi phủ kín trời đất, trời lạnh mười độ âm. Họ đi được độ một giờ rưỡi thì gió thổi mạnh hơn, Vasilii bảo đi đường khác vì tuyết rơi nhiều quá phủ kín các cọc chỉ đường, tới gốc sồi họ rẽ trái, gió thổi mạnh, tuyết vẫn rơi. Nikita nhẩy xuống tuyết dò dẫm đôi chân để dò tìm đường. Họ chạy sang phải cũng không tìm thấy đường, tuyết vẫn rơi mù mịt, họ đi lạc đường cả giờ đồng hồ.
 Con ngựa Dapple quá mệt bỗng sa xuống hố, Nikita nhẩy xuống cứu ngựa, tiếp tục đi gặp một rặng cây dương liễu xanh rì rầm, gặp một căn nhà bên cạnh có một dây phơi quân áo, họ đi vào làng Grishkino, hỏi thăm đường rồi đi tiếp hồi lâu lại vòng lại căn nhà có dây phơi quần áo. Bão ngày càng mạnh, gió lạnh, tuyết phủ nhiều không thấy lối. Nikita nhẩy xuống rà chân dưới đất tìm đường nhưng không thấy, trời đã tối. Một lúc lâu lại vòng về Griskino, lại thấy căn nhà có dây phơi quần áo bay phần phật trước gió, họ lại vào đường làng.
Trời tối mù, có tiếng chó sủa, tiếng người nói cười... Hai người gõ cửa nhà một ông già quen biết. Chủ nhà mở cửa mời vào uống trà, rượu cho ấm, họ khuyên ngủ lại đêm mai đi vì trời có bão tuyết nhưng Vasilii không thuận. Trà rượu xong hai người lại tiếp tục đi, con trai chủ nhà dẫn đường một quãng. Tuyết gió vẫn rít lên, bão mạnh hơn, họ đi mãi chẳng thấy rừng đâu cả, mười phút trôi qua, Vasilii bảo chúng ta lại lạc nữa rồi, Nikita nhẩy xuống lấy chân dò trong tuyết tìm mặt đường rồi quay lên xe bảo phải rẽ tay mặt.
 
Tuyết ngập tới đầu gối, Nikita ra roi, con ngựa nhẩy lên rồi lại thủng thẳng đi. Trời tối mịt, tuyết dầy và cuộn lên trong không trung, ngựa bỗng đứng lại, Nikita nhẩy xuống phía trước ngựa xem sao thì trượt chân xuống hố tuyết ngập tới cổ, vất vả lắm anh mới leo lên được khỏi rãnh, tìm mãi mới ra Vasilii và xe trượt tuyết. Nikita đi bộ dò đường lại tụt xuống hố tuyết, anh thở dốc, hai người lo âu, Nitika nắm cương ngựa dẫn theo một con dốc, ngựa tụt xuống hố một lúc lâu mới lên được bờ, gió thổi mạnh, Nikita bảo chúng ta phải ở lại đêm nay, trời tối, các hố tuyết vây quanh, không biết đi lối nào.
 
Thế là họ phải ngủ đêm ngoài trời, Vasilii ngồi trên xe, Nikita đào một hố nhỏ trong bãi tuyết, trải tấm vải, đổ chấu vào rồi ngồi dựa vào xe, họ dựng càng xe lên và buộc cái khăn vào để làm dấu cho dân làng tới cứu. Vasilii coi đồng hồ thấy mới có mười hai giờ khuya, bỗng lại nghe vẳng có tiếng cho sói hú xa xăm, hắn lo sợ nghĩ ra kế lên ngựa chạy bỏ Nikita lại. Vasilii chạy về hướng trước vì cho là khu rừng ở phía ấy. Nikita thức giấc chán chường nghĩ cuộc đời mình cho tới chết vẫn phải nằm trong tay những người chủ. Nikita biết Vasili lấy ngựa chạy đi anh bèn leo lên xe nằm cho đỡ lạnh. Vasilli chạy một lúc lâu lại vòng trở lại, ngựa lại xụp hố, anh ta chạy bộ ngã mấy lần, đi một lúc lại thấy con ngựa và cái xe.
 
Nikita cố gượng dậy bảo chắc tôi chết mất, Vasilii lấy tay bới tuyết bao quanh Nikia rồi cởi áo ấm phủ lên người hắn, Vasilll lấy cả thân mình sưởi ấm cho Nikita bảo hắn cứ nằm yên... Vasilii nằm mấy giờ như thế, trong lòng vui sướng... hắn ngủ rồi mơ thấy người mà hắn trông chờ đã tới, người ấy gọi hắn sưởi ấm cho Nikita. Tuyết vẫn cuộn trong không trung phủ lên xác của Vasilii. Nikita chọc thủng tuyết thấy trời sáng.
Một hồi sau, lúc trưa mấy người làng đào tuyết để cứu hai người, họ ở cách đường đi bảy chục sải, cách làng nửa dặm, tuyết phủ kín xe nhưng càng xe và cái khăn vẫn còn thấy nên người ta tới cứu. Con ngựa chết cóng, tuyết phú tới bụng, Vasilii người cứng ngắc, Nikita còn sống nhưng khắp người bị đóng băng giá. Khi người ta đánh thức Nikita dậy, anh tưởng mình sang thế giới khác, anh phải nằm bệnh viện hai tháng, bị cưa mất hai ngón chân, anh sống thêm hai chục năm nữa....
 
Đoản thiên ngắn ngủi với một kết thúc bi thảm và cao đẹp tuyệt vời theo đúng ý nghĩa của sự kết hợp văn chương và đạo đức, một tác phẩm thành công đượm vẻ buồn mênh mang thể hiện ý nghĩa sống lại như trong Phục Sinh, một con người xấu xa tội lỗi trở thành con người tốt theo tiếng gọi của Thượng Đế.
 
Tác giả xây dựng hai nhân vật ở hai thái cực, người chủ Vasilii thuê Nakita với giá rẻ, trả lương bằng hàng ở tiệm với giá đắt, hắn ta thường nói nhân nghĩa với Nikita, nhưng anh này thừa biết Vasilii giả dối. Vasilii tham lam, bóc lột người làm và kẻ nghèo khó, hắn mơ ước trở thành đại phú. Nikita, anh nhà quê chất phác cả đời chỉ biết đi làm thuê, biết rằng mình không bao giờ thoát khỏi bàn tay người chủ, hết làm thuê cho người này lại làm cho người khác.
Tấn thảm kịch kết thúc chuyến đi tìm mua khu rừng do ở lòng tham của Vasilii, hôm ấy trời nổi cơn bão tuyết dữ dội, hắn nhất quyết phải đi tới nơi để trả giá và mua cho được tài sản với giá thật hời. Lặn lội hàng giờ trên cánh đồng tuyết mênh mông lạnh buốt thấu xương nhưng anh khuyên ngủ lại đêm mai đi vì trời bão tuyết nhưng Vasilii nói phải đi công chuyện buôn bán quan trọng không thể ở lại. Họ mời vào uống rượu, trà nóng, trò truyện vơi gia đình. Chủ nhà khuyên ở lại ngủ đêm nhưng Vasilii bảo đi làm ăn lớn không thể ở lại, chậm một giờ mất cả năm mới bù lại được, hắn chỉ sợ người ta tới mua trước. Trong khi ngủ lại đêm giữa đồng tuyết Vasilii nghĩ tới khu rừng gỗ anh sắp mua được có thể lời hàng chục nghìn đồng.
Anh tự nhủ mai sẽ tới chỗ ấy, chắc chưa có ai tới, anh nghĩ tới cơ sở làm ăn của mình nào nhà máy xay, vựa lúa, hai thửa đất cho thuê... anh sẽ giàu to. Tất cả những ý nghĩ của Vasilii chỉ thể hiện lòng tham vị kỷ, từ lòng vị kỷ đưa tới bóc lột, làm giầu trên mồ hôi nước mắt của người khác chỉ là một cuộc đời thất đức. Anh đốt diêm hút thuốc lá, lên tinh thần rồi ngủ một giấc, trăng đã lên, đánh diêm coi đồng hồ mới có mười hai giờ mười phút, đêm còn dài, bỗng nghe tiếng chó sói hú xa xăm, hắn nghĩ ra kế lên ngựa chạy tháo thân bỏ mặc tên đầy tớ trung thành Nikita giữa cánh đồng tuyết giá lạnh. Sau cả đêm vật vã trên tuyết anh lạc đường rồi lại quay trở về chiếc xe và thấy Nikita nằm trên ấy. Tự nhiên lương tâm Vasilii bừng sống lại, anh lấy tay bới tuyết đang phủ trên người Nikita, cởi áo ấm đắp cho hắn và lấy cả tấm thân mình áp lên người Nikita đã lạnh cóng để sưởi ấm cho người nô bộc sống lại. Vasilli mơ màng thấy có người đã bảo anh làm như thế.
 
Thế rồi bỗng nhiên hắn ta vui mừng hớn hở: người mà hắn trông đợi đã tới, đó không phải là lvan Matveich, người giám thị, nhưng một người nào ấy, con người mà hắn mong chờ. Con người này đến và triệu hắn lại, chính con người đã gọi hắn lại cũng chính là con người đã bảo hắn nằm lên trên người Nikita, và Vasilii sung sướng khi có người tới tìm mình. Hắn mừng rỡ kêu lên ''Tôi tới ngay”
 
Hoặc.
 
Và rồi anh nghe thấy người kêu gọi anh “Lại đây, lại đây', anh đã đáp lại bằng tấm lòng hân hoan sung sướng. Và rồi anh thấy mình tự do, không còn bị ràng buộc gì nữa
 
Người đã gọi anh và bảo anh nằm lên trên Nikita chính là lương tâm mà cũng có thể là Thượng Đế, Người đã giải thoát cho anh khỏi sự u mê cám dỗ của tiển tài vật chất để trở thành người vị tha, bác ái và cứu mạng Nikita. Mấy giờ trước đây Vasilii chỉ là người gian xảo, ích kỷ, nhẫn tâm bỏ người đầy tớ trung thành để lên ngựa chạy tháo thân vì nghĩ rằng cuộc đời mình đáng sống, Nikita chỉ là anh nhà quê dốt nát cuộc đời hắn chẳng giá trị gì. Bây giờ lương tâm Vasilii sống lại, anh đã biết ý nghĩa của chân thiện mỹ. Sự hy sinh cao thượng của anh đã đưa tới kết thúc bi thảm, nó khiến anh đoạn tuyệt với quá khứ tội lỗi xấu xa để bước sang thế giới bên kia.
 
Ông Chủ Và Người Tớ đã thu hút sự chú ý của người đọc và giới nghiên cứu phê bình. Truyện đã thể hiện được sự kết hợp hài hòa giữa văn chương và đạo đức, cuộc hành trình gian nan nguy hiểm, trận bão tuyết mù mịt và những ưu tư, lo sợ của con người trước tạo vật, tất cả đã được diễn tả cô đọng chỉ trong có một ngày.
Dưới ngòi bút thần sầu của Tolstoi, trận bão tuyết đã được tả thật tuyệt vời khiến độc giả như thấy hiện ra trước mắt cánh đồng trắng xoá giá lạnh đến tận chân trời và những cơn gió buốt thấu xương vi vút thối. Hơn bất cứ đoản thiên nào khác, Ông Chủ Và Người Tớ cho ta thấy nghệ thuật tả tâm lý của tác giả vô cùng tỉ mỉ sâu sắc, độc giả tưởng như những ưu tư, hy vọng của Vasilii là của chính mình, người ta không khỏi hôi hộp lo âu khi tưởng tượng ra sự trơ trọi của con người giữa cảnh thiên nhiên bát ngát lại vô cùng khắc nghiệt.
Trong cuốn Introduction To Tolstoy's Writings, trang 151, Ernest J.Simmons nói :
“Khi viết xong Ông Chủ Và Người Tớ, Tolstoi gửi bản thảo cho một người bạn thân mà ông tin tưởng ý kiến của người này, ông ghi thêm: Đã từ lâu tôi chưa viết một tác phẩm nào mà mình không biết có nên in hay không. Tôi viết truyện này một cách say sưa...” Nay Tolstoy sợ rằng ở tuổi sáu mươi bẩy, ông mất khả năng sáng tác nhưng câu trả lời nhanh của bạn ông “Trời ơi! Tuyệt diệu, bất hủ. " đã khiến tác giả an tâm”
(When Tolstoy finished Master And Man, he sent the manuscript to a close friend whose critcal judgment he daluedl, with the comment: It is so long since L've written anything atrtistic that I truly do not know whether it ought to be printed. Ï wrote it with great satisfaction...” Actually, Tolstoy feared, at the age of sixty-seven, that his creative powers were slipping and the prompt response of his friend “My Godl! How splendid, priceless if is.” quite reassured him.
 
Kết thúc bi thảm bất ngờ tạo cho người thưởng thức một nỗi buồn mênh mang khó tả, cái chết thê thảm của Vasilii, của con ngựa trung thành Dapple được mô tả bằng những nét gợi hình. Người cũng như ngựa đã khiến cho độc giả ngậm ngùi, xót xa thương tiếc. Xác thân Vasilii đông đá cứng ngắc đã gây xúc động cho người bàng quang nhưng cũng đem lại cho họ một niềm vui, thân xác đã chết nhưng tâm hồn anh đã sống lại.
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
Chương thứ tư
 
Kết luận
Nhà giáo dục, nhà cách mạng, tranh đấu bất bạo động, nhà tư tưởng, đạo đức.


 
Tolstoi trước hết là một tiểu thuyết gia trứ danh, ông cũng là nhà cách mạng tranh đấu dành tự do, dân chủ, bình đẳng cho người nghèo, chống chế độ phong kiến Nga Hoàng áp bức bóc lột, giải phóng nông dân. Ngoài sáng tác văn chương tác giả cũng viết về nhiều lãnh vực giáo dục, tôn giáo, xã hội, chính trị, đạo đức... người ta còn nói ông là nhà giáo dục, nhà tư tưởng, nhà cải cách tôn giáo...
Về phương diện tôn giáo chính trị nhà văn hào lấy bác ái, bất bạo động làm phương châm, ông có ảnh hưởng mạnh tới phong trào bất bạo động thời ấy, ảnh hưởng tới Gandhi. Đường lối bất bạo động của Tolstoi không đạt kết quả mong muốn mãi đến mấy chục năm sau, Gandhi người tự nhận đệ tử của ông mới thành công trong cuộc tranh đấu giành độc lập cho Ấn Độ. Gandhi coi Tolstoi như nhà truyền giảng bất bạo động lớn nhất của mọi thời đại.
Về phương diện xã hội Tolstoi không chấp nhận quyền tư hữu, ông lý luận nó là nguyên nhân gây ra cảnh cơ hàn nghèo khốn của nông dân Nga, ông chống quyền tư hữu đất đai, tư tưởng Tolstoi gần với Cộng Sản.
Tolstoi có đức tin Thượng Đế, sùng đạo nhưng chống lại Giáo hội cho là hình thức tế lễ, giảng đạo sai ý tưởng Chúa, ông là người ảnh hưởng tới tư tưởng Thiên Chúa Giáo vô chính phủ không bị Giáo hội lãnh đạo. Vladimir Chertkov (1854-1936), đệ tử của Tolstoi phổ biến tư tưởng của nhà văn hào chống giáo hội giả dối, nghi lễ, hợp tác với chính quyền bóc lột dân nghèo, người ta coi Tolstoi như một nhà cải cách tư tưởng, tôn giáo.
Trong bài viết về Tolstoi một nhà sư phạm: Léon Tolstoi, Le Chemin de la pédagogie của Semion Kilippovitch Egorov, tiến sĩ giáo dục. Bài này đã đăng trên tạp chí Perspectives (Léon Tolstoi, par Semione Filippovitch Egorov, docteur en sciences de l'éducation, le texte est tiré de Perspectives, Revue trimestrielle d'éducation comparée, Paris UNESCO: Bureau International d'éducation 2002 - Google France.) Egorov nói.
 
Sau khi Tolstoi vừa qua đời, Lénine đã ca ngợi công trình đóng góp của nhà văn hào cho nền văn hóa chung của nhân loại như sau:
-Di sản của ông để lại cho hậu thế không bị mai một đi trong quá khứ mà nó sẽ còn tồn tại mãi trong tương lai”
II y a dans son héritage ce qui ne sombre pas dans le passé, mais appartient à lavenir”.
 
Vì thế sau cách mạng vô sản 1917, những sách sư phạm cũng như tác phẩm văn chương của Tolstoi đã trở thành di sản của nhân dân. Mọi sáng tác của ông được in thành khối lượng lớn bằng tất cả các thứ tiếng trong Liên Bang Sô Viết cũ, những tác phẩm văn chương của Tolstoi đã được ghi trong chương trình các trường học phổ thông, và việc học hỏi các tác phẩm sư phạm của ông được ghi trong chương trình các trường sư phạm đào tạo các giáo viên mẫu giáo, tiểu học và các giáo sư trung học, đại học. Người ta nhận thấy một ý nghĩa sâu sắc trong việc năm 1987 Hội văn nghệ sĩ sáng tác cho các trẻ em cùng với Hiệp Hội Sô Viết về văn hóa thân hữu với các quốc gia bạn đã sáng lập Huy chương vàng quốc tế Léon Tolstoi để tặng cho các nhà học giả xuất sắc cống hiến cho thiếu nhi.
Mặc dù ông được coi như nhà tranh đấu, chính trị gia bất bạo động, nhà tư tưởng, nhà cách mạng xã hội. Nhưng trên thực tế tại các nước Tây phương cũng như trên thế giới người ta chỉ biết đến Tolstoi như một nhà tiểu thuyết gia trứ danh, một nhà văn hào với những tác phẩm bất hủ vượt thời gian không gian. Chúng ta sẽ so sánh Tolstoi và các nhà văn nổi tiếng đương thời với ông thế kỷ thứ 19.
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
Tolstoi và Dostoevsky
 
Các nhà văn, thi sĩ Nga nổi tiếng thế kỷ thứ 19 gồm Pushkin (1799-1837), Gogol (1809-1852), Ivan Turgenev (1818-1883), Dostoevsky (1821-1881, cũng viết là Dostoyevsky), Tolstoi (1828-1910). Người Tây phương biết nhiều nhất về ba tác giả Tolstoi, Dostoyevsky, Ivan Turgenev. Ở đây tôi xin so sánh ông với hai nhà văn nổi tiếng này.
 
Trước hết xin nói về Dostoevsky.
 
Hình)
 
 Ông và Tolstoi đã được dư luận chung các nhà phê bình Tây phương coi như hai tác giả vĩ đại nhất của văn học Nga cũng như trên thế giới. Nay tác phẩm của hai nhà văn hào này đã được tái bản tại Nga, trên thế giới nhất là tại Mỹ và các nước Tây Phương. Dostoevsky là người có ảnh hưởng nhiều tới nền văn chương và tư tưởng mới. Nhà văn hào sinh năm 1821 tại Mạc Tư Khoa, cha là bác sĩ, học trung học tại đây, năm 1837 mẹ mất, ông lên Petersburg học ngành kỹ sư, năm 1843 ra trường làm trong ngành một năm thì bỏ việc chuyển sang viết tiểu thuyết. Năm 1846 Dostoevsky tham gia một tổ chức chính trị, đọc sách báo cấm, bị bắt 1849 với đồng bọn, lãnh án tử hình nhưng được ân xá tại pháp trường. Ông bị kết án bốn năm lao động khổ sai tại Tây Bá Lợi Á, đến 1854 được tha nhưng phải thi hành quân dịch tại mảnh đất xa xăm này. Năm 1857 lấy bà Maria, đến 1859 xuất ngũ về ở miền Tây Nga, năm 1862 ra ngoại quốc lần đầu, một năm sau về nước .
 
Năm 1863 Dostoevsky đi ngoại quốc lần nữa rồi về Mạc Tư Khoa năm ấy dự đám táng vợ. Năm 1865 người anh chết, nợ nần chồng chất, ông phải lánh ra ngoại quốc để trốn nợ, năm 1867 Dostoevsky lấy vợ khác, Anna 22 tuổi, ông mất năm 1881, các tác phẩm tiêu biểu gồm Tội Ác Và Hình Phạt (1866), Thằng Ngốc (1868), Anh Em Nhà Karamazov (1880). Nói về ông có nhiều ý kiến khác nhau, phía độc giả có người say mê hâm mộ các sáng tác của ông, cũng nhiều người chê là nhàm chán, khó hiểu. Khi truyện của Dostoevsky mới được xuất bản đã bị các nhà văn đương thời chê là phóng đại, không thực, lập dị, tác giả nhiều tưởng tượng quá.
 
Trang 167 trong phần kết luận cuốn Fedor Dostoevsky của William J. Leatherbarrow có ghi nhận nhiều ý kiến phê bình về Dostoievsky như sau: Nhà triết gia xã hội Nikolay Mikhailovsky (1842-1904) trong bài “Một Tài Năng Dữ Tợn “ (A Cruel Talent) viết năm 1882 cho rằng Dostoievsky đã tạo ra những cá tính không thực với những diễn tả tâm lý giả tạo có mục đích thỏa mãn sở thích hung dữ của mình. Ngay cả Tolstoi cũng cho rằng truyện của Dostoevsky không có vẻ gì là thực. Độc giả ngoại quốc hồi trước vốn quen đọc những áng văn nhẹ nhàng dễ thương của Turgenev nay cũng rất khó chịu với lối văn dữ dằn của Dostoevsky. George Moore coi ông như một nhà viết tuồng ca kịch rẻ tiền thêm chút mắm muối tâm lý.
 
Tờ Spectator trong một bài điểm sách cuốn Thằng Ngốc (1887) cho rằng cái gọi là hiện thực của tác giả chỉ là một sự méo mó lệch lạc có ít nhiều xấu xí đưa ra cho thiên hạ thưởng lãm... Chúng ta dễ đồng tình với những nhận xét này vì tác phẩm của Dostoevsky không nằm trong truyền thống hiện thực, nó không để ý tới khía cạnh xã hội, thực tại vật chất và mô tả tự nhiên, ta thấy trong tiểu thuyết của tác giả so với các cây viết lớn hiện thực đương thời như Tolstoi, Turgenev, Goncharov. Nó không tạo ra những phẩm chất bình thường mà chỉ thể hiện những cảm xúc mạnh phóng đại những hình ảnh thực tế, luôn tập trung những cá tính cực đoan trong những hoàn cảnh bất thường thí dụ thế giới trong cuốn The Devils của Dostoevsky khác xa với thế giới trong cuốn Anna Karenina của Tolstoi mặc dù cả hai cùng diễn tả một giới người của xã hội cùng một thời trong lịch sử Nga.
 
Nhưng sau này đánh giá lại Dostoevsky, nhiều người đề cao văn chương của ông. Các thế hệ kế tiếp gồm những triết gia, tiểu thuyết gia, nhà phê bình đã nghiên về văn nghiệp Dostoevsky và đã ca tụng ông không tiếc lời. Nhiều độc giả cũng tìm thấy những cái hay, sâu sắc trong nghệ thuật Dostoevsky. Cũng trong phần kết luận cuốn Fedor Dostoevsky trên, trang 166 Leatherbarrow ghi nhận những lời ca ngợi Dostoevsky như: một trăm năm sau khi Dostoevsky qua đời, tác phẩm của ông mang nhiều ý nghĩa đối với độc giả. Các thế hệ và các trường nghiên cứu tư tưởng đã duyệt lại những cuốn tiểu thuyết của ông đôi khi tìm được những sự hiểu biết lạ lùng. Những cuộc nghiên cứu đánh giá lại Dostoevsky không ngừng nghỉ kể trên là cách đo lường sự quan trọng và sinh khí công trình của Dostoevsky. Không phải chỉ giới hạn trong phạm vi hàn lâm viện, mỗi thế hệ mới các độc giả trí thức lại tìm thấy trong những cuốn tiểu thuyết vĩ đại của ông sự rung động và xúc động trong chiều hướng nghệ thuật cao.

Dostoevsky hình như không sợ bị rơi vào tình trạng cổ điển, một hóa thạch văn chương. Công trình sáng tác văn học của ông nói trực tiếp và khẩn cấp cho thời hiện đại và đóng góp lớn lao cả về hình thức và diễn tả tâm lý cho sự sáng tác văn chương ngày nay. Có thể vì vậy mà tác giả Steiner lý luận rằng Dostoevsky đã tiến sâu vào cơ cấu của tư tưởng hiện đại hơn là Tolstoi. Thế nhưng sự quan trọng của văn nghiệp Dostoevsky và các ý kiến phê bình, nhận xét rất khác biệt cho thấy người độc giả lần đầu tiên thưởng thức văn Dostoevsky sẽ nản lòng thế nào. Các kệ sách của thư viện nặng chĩu muốn xệ xuống vì những cuốn khảo cứu mâu thuẫn nhau về Dostoevsky như: Dostoevsky người Thiên Chúa giáo, Dostoevsky nhà Hiện sinh, Dostoevsky nhà tâm lý, Dostoevsky nhà tư tưởng lớn... mà chẳng chú ý gì về nghệ thuật văn chương của tác giả, và những cuốn khác nói Dostoevsky nhà sáng tác văn chương siêu đẳng và tư tưởng thấp kém của ông không có giá trị gì mấy. Có lẽ ý nghĩa chân thực của Dostoevsky nằm ở chỗ ông có khả năng lấy được vô vàn những câu trả lời từ sinh hoạt trí thức của thế kỷ 20. Đó là những lời ca tụng Dostoevsky của những nhà nghiên cứu phê bình, thế kỷ 20. Những tác phẩm hay của Dostoevsky là những cuốn tiểu thuyết có luận để thể hiện nhiều cá tính khác thường.
Những đặc tính phức tạp và mạnh bạo dữ dằn thường thấy trong những bi kịch. Chủ đề cơ bản trong những tác phẩm của ông thường là sự vật lộn giữa cái thiện và cái ác trong tâm hồn con người để giành quyền làm chủ. Tác giả nỗ lực giải quyết cuộc tranh đấu này bằng cách đưa tới cứu rỗi qua sự đau khổ được tôi luyện.
 
Cuốn tiểu thuyết sau cùng Anh Em Nhà Karamazov cho thấy ông là một trong những người mở đường của nghệ thuật hướng nội và là người bàn luận độc đáo về tôn giáo. Dostoevsky cũng là người diễn tả thân phận con người, đã khởi xướng nhiều ý tưởng trong trào lưu triết học mang tên thuyết hiện sinh.
 
Nhiều người ca tụng Dostoevsky như một trong những tiểu thuyết gia lớn nhất của Âu châu, những người khác như nhà phê bình nổi tiếng Nga Vladimir Nabokov nói: về phương diện văn chương tài năng cá nhân của Dostoevsky chỉ là một nhà văn xoàng, ông sáng tác những áng văn nhạt nhẽo, Dostoevsky là người đề xướng cổ động đạo đức tôn giáo trong văn chương của mình. Nobokov lý luận trong một bài giảng của ông tại Đại học Cornell rằng việc giao giảng tôn giáo của Dostoevsky hơn là phẩm chất nghệ thuật là lý do chính khiến ông đã được ca ngợi như một nhà tiên tri tại Nga. Dostoevsky có ảnh hưởng tới tác giả Hemingway, James Joyce. Hemingway ghi nhận Dostoevsky đã có ảnh hưởng lớn đến văn của ông.
 
Nhân vật của ông có tính tiêu biểu nhưng không có tính hiện thực như ở Tolstoi, nhân vật của Dostoevsky tượng trưng cho một ý tưởng mà nó thể hiện, ông là người đi tiên phong của văn chương biểu tượng (literary symbolism) nhất là biểu tượng Nga (Russian symbolism). Dostoevsky và Tolstoi chưa bao giờ gặp nhau, họ ca ngợi, chỉ trích và có ảnh hưởng với nhau, Dostoevsky khen cuốn Anna Karenina của Tolstoi là kiệt tác. Tolstoi nói đọc một ít chương của cuốn Tội Ác Và Hình Phạt cũng sẽ biết kết thúc ra sao. Được tin Dostoevsky mất, Tostoi bật khóc, khi Tolstoi tắt thở tại ga xe lửa, người ta thấy gần giường nằm ông có cuốn Anh Em Nhà Karamazov.
 
Nhiều tác giả, triết gia đề cao Dostoevky là một nhà tư tưởng vĩ đại. Tội Ác Và Hình Phạt đưa Dostoevsky lên địa vị tác giả lớn tại Nga, Will Durant trong cuốn Lạc Thú Của Triết Học (Pleasures of Philosophy) nói Dostoievsky là một trong những cha đẻ của trào lưu triết học hiện sinh qua cuốn Hồi Ký Viết Dưới Hầm (Notes From Underground). Theo Dostoevsky lý lẽ không phải là định lý chỉ đạo cuối cùng của nhân loại. Sau khi bị lưu đày đi Omsk tại Tây Bá Lợi Á năm 1849, Dostoevsky chú trọng vào những ý niệm đau khổ, tuyệt vọng trong nhiều tác phẩm của ông. Triết gia Nietzche nói Dostoevsky là nhà tâm lý duy nhất mà tôi học được, ông là món quà bất ngờ, gia tài ngẫu nhiên của đời tôi.
 
Nhà triết gia Freud trong bài Dostoevsky và tội giết cha mẹ nói những tác phẩm lớn trên thế giới đều đã để cập đến tội giết cha mẹ, Anh Em Nhà Karamazov là một trong những cuốn tiểu thuyết lớn nhất thế giới.
 
Các nhà triết gia, nghiên cứu phê bình đề cao Dostoevsky có những tư tưởng cao siêu việt, những cuốn tiểu thuyết của Dostoevsky tuyệt diệu, cao siêu vượt thời gian không bị rơi vào tình trạng cổ điển như Tolstoi. Có điều đáng nói là nhiều độc giả nghe ca tụng về Dostoevsky, họ muốn biết văn chương của ông hay ở đâu, như thế nào? Nhưng không thấy các nhà nghiên cứu ca tụng Dostoevsky đưa ra những phân tích cụ thể về những điểm tuyệt diệu trong truyện của ông. Vì tác phẩm của ông chỉ là tiểu thuyết mà tiểu thuyết chỉ là nghệ thuật. Phân tích văn Dostoevsky phải phân tích những cái hay của nghệ thuật Dostoevsky thí dụ nó rung động được độc giả trong một chiều hướng nào hoặc tâm lý nhân vật sâu sắc, hiện thực ra sao ... Trên thực tế người ta không thấy ai phân tích diễn tả được những cái hay tuyệt vời trong nghệ thuật Dostoevsky một cách cụ thể mà chỉ thấy những lời tán dương ca ngợi thấu mây xanh nhất là về mặt tư tưởng.
 
Đa số các nhà nghiên cứu phê bình đề cao, ca tụng Dostoevsky như một nhà tư tưởng lớn và như vậy ông là một triết gia, không phải là một tiểu thuyết gia. Sự thực Dostoevsky không thể là một triết gia vì tác phẩm của ông chỉ là tiểu thuyết như Anh Em Karamazov, Tôi Ác Và Hình Phạt... không phải là những cuốn sách triết học thí dụ Hữu Thể Và Hư Vô (L' être et le néant) của J. P. Sarre chẳng hạn. Như thế các nhà nghiên cứu Dostoevsky đã lạc đề, thay vì đặt trọng tâm vào phê bình nghiên cứu nghệ thuật văn chương Dostoevsky họ đã bước sang lãnh vực triết học trong khi bàn về nghệ thuật văn chương Dostoevsky. Nhiều nhà nghiên cứu Dostoevsky đã vẽ rắn thêm chân, họ gắn cho Dostoevsky những tư tưởng, những ý nghĩa mà chưa chắc ông đã nói thế. Tiểu thuyết của ông rất khó hiểu và viết thừa nhiều hơn Tolstoi và các tác giả cổ điển Nga, chính ông đã lạc đề, nghệ thuật trước hết để mua vui giải trí hơn là những nghị luận bàn về tư tưởng, triết học.
 
Không phải tác phẩm của ông chứa đựng nhiều tư tưởng cao mà đáng được ca ngợi vì trên thế giới, Đông cũng như Tây đã có vô số các nhà tư tưởng siêu việt, nhân vật của Dostoevsky có tính biểu tượng và cá tính thường là được phóng đại lên. Người ta nói Dostoevsky là nhà tiểu thuyết tâm lý sâu sắc nhưng có điều là nhân vật của ông không thực mà chỉ là những nhân vật mang tính biểu tượng thí dụ hai cha con cùng mê một ả trong Anh Em Karamazoy, giết nhau vì một đ hoặc một chàng si tình trong Le Joueur (The Gambler) ngủ ngoài cửa phòng cô tiểu thư để tỏ lòng trung thành trong khi cô ta đang ngủ với tình nhân. Chàng si tình nói với cô anh sẵn sàng nhảy vào đầu toa xe lửa nếu nàng muốn nhưng cũng không chinh phục được cô hoặc trong Người Chồng Muôn Thủa, một anh bị cắm sừng từ đầu chí cuối. Nhân vật của Dostoevsky thường mang tính bệnh hoạn, nhiều cá tình ngông cuồng, nếu nói Dostoevsky là nhà văn hào diễn tả tâm lý sâu sắc cũng không hoàn toàn khách quan vì nhân vật của ông không thực mà chỉ mang tính biểu tượng.
Nhiều độc giả thưởng thức văn Dostoevsky một cách vất vả tỏ ra khó hiểu khi thấy có những người ca tụng tác giả, có thể đó chỉ là một trào lưu của những người tỏ ra mình hiểu Dostoevsky, một tác giả tuyệt vời, người nọ đua người kia ca tụng mà thực ra chính họ cũng chưa chắc đã hiểu rõ nhà tiểu thuyết gia bí hiểm này. Cũng có thể người ta thấy hay ở chỗ kỳ dị. Dù sao cũng phải nói tác giả. rất thành công ở những tiểu thuyết ngắn short novel (người Pháp gọi là nouvelles) như Dân Chơi (The Gambler) Người Chồng Muôn Thủa (Eternel Husband), văn phong sáng sủa, nhân vật có cá tính, nội dung độc đáo, tuyệt diệu...
Bài viết “Cuộc quyết đấu giữa Marx và Dostoevsky” của tác giả Ý Alberto Moravia do Ngân Xuyên dịch đăng trên một trang điện tử có để cao khía cạnh nhân bản của Dostoevsky qua cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Tội Ác Và Hình Phạt. Tôi xin tóm lược bài viết như sau :
 
Dưới thời Staline tại Liên Xô Dostoevsky bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, sách của ông không được in lại nhưng người ta vẫn chuyền tay nhau đọc những cuốn sách in từ xưa đã cũ mèm, rách nát. Dostoevsky bị coi là phản động, bảo vệ Nga Hoàng và Chính thống giáo. Trong cuốn truyện nổi tiếng xuất sắc nhất của Dostoevsky Tội Ác Và Hình Phạt Raskolnikov giết mụ già cho vay lãi chống lại bất công xã hội, Raskolnikov mơ ước sự công bằng chống bóc lột như Mác Xít. Mụ cho vay lãi là giai cấp tư sản bóc lột, Raskolnikov vì lợi ích của loài người mà giết mụ cho vay lãi cũng như Mác xít chủ trương thủ tiêu giai cấp tư sản tuy nhiên có khác nhau.
 
Marx biện minh cho việc giết mụ già để tạo công bằng xã hội, không còn cảnh người bóc lột người, biện hộ cho việc giết mụ ta, Dostoevsky tin Thượng đế cho rằng Raskolnikov sai lầm cũng như Marx đã sai lầm, ta không thể giết người dù việc này có lợi cho xã hội, cái khác nhau giữa Marx và Dostoevsky là sự đánh giá khác nhau về tội ác. Dostoevsky tin Chính thống giáo cho rằng tội ác ở việc giết mụ ta chứ không phải ở mụ ấy, Marx cho tội ác ở chỗ mụ già bóc lột, điều ác theo Chính thống giáo còn nằm ở chỗ Raskolnikov giết cả nhân chứng để phi tang. Marx thì cho chỉ có vấn đề cái ác xã hội thôi và chỉ có cách mạng mới tiêu diệt được nó, Dostoevsky cho điều ác nằm ở chỗ dùng bạo lực. Các nhà Mác Xít nhờ những biện hộ lịch sử xã hội của họ để có thể rửa sạch cả lương tâm đen tối nhất, Dostoevsky bác bỏ kiểu rửa tẩy tội ác ấy, không thể hủy được tội ác.
Ta đã chứng kiến cuộc chạy đua giữa Dostoevsky và Marx tại Nga, vòng đầu Dostoevsky thắng, ông tạo lên kiệt tác phẩm, vòng hai Marx thắng vì lý thuyết của ông tạo ra cách mạng, hình như đến vòng ba Dostoevsky thắng trở lại khi Thủ tướng Nga Khrushchev lên án tội ác của chế độ Staline.
Bài này có thể coi như điển hình của lối văn chương ca tụng Dostoevsky, đã có nhiều đề tài, sách vở, bài viết về Dostoevsky với những lời lẽ đao to búa lớn thổi phồng nhà thiên tài lên tận mây xanh nhưng trên thực tế không được độc giả lưu ý tán thành cho lắm. Tác giả đã so sánh Dostoevsky với Marx một cách lạc lõng, gượng ép bằng lối đem một tiểu thuyết gia đối chiếu với một lý thuyết gia triết lý chính trị, kinh tế lớn trên thế giới. Mặc dù sống cùng thời với Marx nhưng Dostoevsky không quan tâm, chẳng để ý tới tư tưởng đường lối của nhà triết gia, chính trị này thế mà Alberto Moravia lại làm như Dostoevsky đang tranh luận với Marx.
 
Truyện Tội Ác Và Hình Phạt viết năm 1866 được coi như chủ đề chính của bài này thực ra không được coi là kiệt tác hay nhất của Dostoevsky như Alberto nói mà cuốn Anh Em Nhà Karamazov mới được dư luận chung của nhiều người coi là tác phẩm tiêu biểu xuất sắc nhất. Giống như nhận xét của George Moore ở trên về văn chương Dostoevsky, ở đây nói về Tội Ác Và Hình Phạt, cuốn tiểu thuyết luận đề nổi tiếng của Dostoevsky mang nhiều kịch tính diễn tả một luận đề phức tạp to tát nhưng có vẻ gượng ép. Một anh sinh viên giết một bà già cho vay lãi nặng vì lợí ích của xã hội, của loài người, giết luôn cả nhân chứng để rồi sau này tự thú trước công lý. Một tác phẩm văn chương như Tội Ác Và Hình Phạt không để mua vui giải trí cho người đọc nhưng Dostoevsky đem ra giải quyết những vấn đề to tát của xã hội, loài người khiến cho tự nó lạc đề đi ra ngoài phạm vi nghệ thuật. Nhiều nhà phê bình ca ngợi Tội Ác Hình Phạt như một tác phẩm tuyệt vời nhất thế giới nhưng trên thực tế không thấy họ phân tích chi tiết những cái hay mà chỉ tán tụng một cách mơ hồ.
 
Tội Ác Và Hình Phạt cũng như Anh Em Nhà Karamazov, Thằng Ngốc... là những cuốn tiểu thuyết lớn tiêu biểu cho sự nghiệp văn chương Dostoievsky nói chung viết thừa, rườm rà dài dòng văn tự và khó hiểu khiến cho nhiều độc giả đã bỏ dở nửa chừng không đọc tiếp. Mặc dù văn chương Léon Tolstoi được coi là cổ điển nhưng hai cuốn Chiến Tranh Và Hòa Bình, Anna Karenina của ông vẫn được coi là hai cuốn best seller trên thế giới. Các nhà phê bình đánh giá nghệ thuật của Tolstoi hiện thực như Morris Philipson trong cuốn Ông Bá Tước Muốn Làm Người Nông Dân trang 70 có nói về hai cuốn Chiến Tranh Và Hòa Bình, Anna Karenina như sau.
 
Những cuốn này không có vẻ gì là nghệ thuật, bề ngoài của nó như chính là cuộc đời.
Lý do đơn giản: đặc tính trước nhất của nghệ thuật hiện thực là làm thể hiện rõ cái tiềm ẩn mà người đời không nói ra được.
...Bởi vậy cái đẹp trong một tác phẩm nghệ thuật bắt nguồn từ chỗ nó thể hiện đúng với tạo hóa vạn vật và sự thật là cái mà tất cả mọi người có thể nhận thấy khi người ta chỉ cho họ thấy. Nhưng chỉ người nghệ sĩ đại tài mới chỉ nó ra cho ta thấy.
 
Những truyện trường giang đại hải của Tolstoi đã làm sống lại một giai đoạn lịch sử hoặc xã hội của nước Nga một cách hiện thực. Chiến Tranh Và Hòa Bình diễn tả thời loạn trong cuộc chiến tranh Nga Pháp 181. Anna Karenina, cuốn tiểu thuyết luận đề diễn tả bộ mặt hủ lậu của thành kiến xã hội lỗi thời so với Tây phương. Với Phục Sinh Tolstoi đi vào hiện thực xã hội cho thấy bộ mặt trái của chế độ quí tộc phong kiến đã làm suy bại nước Nga mà trước hết nền tư pháp thối nát, giới quí tộc ăn trên ngôi chốc bóc lột, nông dân đang chết lần mòn vì đói khổ.
 
Đa số tác phẩm lớn của Dostoevsky đều rườm rà dong dài, thừa thãi nhiều so với Tolstoi, nhiều cuốn chỉ cần đọc nửa sau cũng đủ. Nhiều nhà nghiên cứu nói Dostoevsky phân tích tâm lý sâu sắc nhưng các nhân vật của ông có tính tiêu biểu, tượng trưng cho một giới nào không hiện thực như ở Tolstoi. Nhân vật của Tolstoi trước hết không bệnh hoạn như các nhân vật trong truyện của Dostoevsky, phần nhiều thể hiện con người của tác giả hoặc bạn bè và những người thân trong gia đình, Tolstoi đã thể hiện con người thật của mình trong tác phẩm, tâm lý nhân vật rất thực. Tình yêu trong truyện của Dostoevsky thường là những mối tình bỏng cháy, có thể những nét ấy đã làm say mê người đọc vì tính chất lạ. Thể hiện nhân vật biểu tượng như ở Dostoevsky và diễn tả tâm lý con người như Tolstoi khác nhau ở chỗ một bên là biểu tượng và bên kia là hiện thực giống như cổ nhân bên Trung Hoa nói vẽ ma dễ, vẽ người khó vì ma không ai thấy, người thì ai cũng thấy vẽ sai sẽ bị chê ngay.
 
Dostoevsky không được coi là một vĩ nhân như Tolstoi mà chỉ được nhìn nhận như một nhà tư tưởng, một nhà văn hào lớn, trên thực tế ảnh hưởng của Dostoevsky không nhiều như người ta tán tụng và số độc giả hâm mộ ông cũng không đông như một số nhà nghiên cứu nói. Số người hiểu Dostoevsky không nhiều, mặc dù được các nhà phê bình ca tụng nhưng trên thực tế Dostoevsky không được quảng đại quần chúng đón nhận vì văn ông phức tạp. Khác với Tolstoi, Dostoievsky có rất nhiều huyền thoại như trong cuốn Fedor Dostoevsky tác giả William J. Leatherbarrow kết luận thuyết vô định trong Tội Ác Và Hình Phạt giống như thuyết tương đối của Einstein và ảnh hưởng tới thuyết này.
 
Như trên có nhà nghiên cứu nói Dostoevsky không bị rơi vào tình trạng cổ điển, tác giả Steiner lý luận rằng Dostoevsky đã tiến sâu vào cơ cấu của tư tưởng hiện đại hơn là Tolstoi nhưng trên thực tế hai cuốn Chiến Tranh Và Hòa Bình, Anna Karenina của Tolstoi vẫn được độc giả trên thế giới đón nhận nhiệt tình. Điều này cho thấy văn chương Tolstoi có tính vượt thời gian không gian, sáng tác của ông cho tới nay cũng vẫn còn được nhiều người nồng nhiệt đón nhận tại nhiều nước trên thế giới như thể không thể nói Tolstoi bị rơi vào cổ điển hoặc không đi sâu vào tư tưởng hiện đại như Dostoevsky.
Ngoài ra Tolstoi là một nhà tranh đấu cho tự do, dân chủ, tiến bộ chống chế độ bóc lột của giới quí tộc Nga, người đã khởi sướng đường lối bất bạo động, ông còn là nhà cải cách tôn giáo, nhà sư phạm... Từ sau cách mạng vô sản 1917 tới nay, chính quyền Liên xô vẫn phải giành cho Tolstoi một sự kính trọng, một địa vị xứng đáng trong chương trình giáo dục tại các trường trung học cũng như đại học tại Liên Bang Sô Viết vì ông quá lớn. Tolstoi không những có địa vị lớn tại Nga từ sau năm 1917, ông còn là một vĩ nhân trên thế giới. Ngược lại Dostoevsky đã bị Sô Viết đặt ra ngoài vòng văn hóa nghệ thuật, không được chính quyền ưu ái như đã nói ở trên trước hết ông không có địa vị lớn trong lòng người dân như Tolstoi, chỉ là một tiểu thuyết gia có thiên tài.
 
Nhưng dù Dostoevsky bị một số nhà nghiên cứu phê bình đánh giá không thuận lợi, dù ông không được nhiều người đọc đón nhận cho lắm, dù hâm mộ hay không thích nhà văn hào này ta phải nhìn nhận một sự thật: Léon Tolstoi và Dostoevsky là hai tác giả không những được ca ngợi nồng nhiệt tại Nga mà cũng đã được coi là hai khuôn mặt lớn nhất trên văn đàn thế giới. Tolstoi và Dostoevsky đã được dư luận giới nghiên cứu phê bình Tây phương, dư luận độc giả quốc tế coi như hai nhà văn hào vĩ đại vào bậc nhất trên thế giới từ trước đến nay khi mỗi người với thiên tài riêng biệt, với nghệ thuật riêng, tư tưởng riêng đã tạo lên hai đóa hoa đẹp tuyệt vời cho khu vườn văn học của nhân loại.
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 10.07.2026 22:43:46 bởi Ct.Ly>
Tolstoi và Ivan Turgenev.
 
Ông là tác giả được người mình ưa chuộng tại Sài Gòn năm xưa qua những truyện ngắn tình cảm lãng mạn như Mối Tình Đầu, Faust, Asya. Hồi xưa chúng ta quen gọi theo kiểu Pháp là Ivan Tourgueniev.
Ivan Turgenev là nhà văn Nga đầu tiên được người Tây phương chú ý nhưng về sau bị Dostoevsky và Léon Tolstoi làm lu mờ, tuy nhiên ông vẫn còn là một tác giả lớn trong văn chương cổ điển Nga thế kỷ thứ 19.
Turgenev sinh tại Orel năm 1818 trong một gia đình địa chủ giàu có quí tộc Nga, cha là Đại tá ngự lâm quân của Nga Hoàng, mất 1834, mẹ là một bà địa chủ, rất độc đoán với nông nô và con cái khiến ông bị ảnh hưởng tâm thần.
Cha mất khi Ivan Turgenev mười sáu tuổi, ông theo học Đại học Mạc Tư Khoa một năm rồi lên Petersburg, học môn văn chương Nga và triết lý. Năm 1838 -1840 sang Bá Linh học triết, lịch sử, về nước ông chống chế độ nông nô, quãng đời sau của Ivan Turgenev sống tại Baden-Baden (Đức) và ở Paris. Nhà văn hào không lập gia đình, có một con gái với một người nông nô, người bạn văn thân thiết của ông là Gustave Flaubert, liên hệ của ông với Tolstoi và Dostoevsky thường căng thẳng. Turgenev có khuynh hướng thân Âu châu nên chán ghét Léon Tolstoi và Dostoevsky, ông xích mích với Tolstoi năm 1861 bị ông này thách đấu súng nhưng về sau xin lỗi. Hai bên không nói chuyện với nhau mười bảy năm. Dostoevsky nhạo báng Turgenev trong cuốn The Devils (1872), năm 1880 hai người hòa nhau.
 
Mới đầu Turgenev sáng tác thi ca, năm 1847 ông nổi tiếng với tập truyện ngắn Phác Họa Của Người Thợ Săn, đây là viên đá đầu tiên của văn chương hiện thực Nga nó cho thấy người dân quê thông minh có tài năng nghệ thuật nhưng bị bóp nghẹt và kiểm chế bởi chế độ nông nô. Tác giả dựa trên quan sát đời sống người nông dân và thiên nhiên khi đi săn trong rừng thuộc điền sản của mẹ. Cuốn sách này có ảnh hưởng đến dư luận đưa tới việc bãi bỏ chế độ nông nô, có người cho nó đã khiến Nga Hoàng Alexander II quyết định hủy bỏ chế độ nông nô. Ivan Turgenev cho chế độ này tàn ác, chính tác giả coi Phác Họa Của Người Thợ Săn là cuốn sách quan trọng của văn học Nga, Tolstoi cũng ca ngợi cuốn này.
 
Chân dung Ivan Turgenev do Vasily Perov vẽ năm 1872 (HÌNH)
 
Ivan Turgenev là người diễn tả đời sống chân thực của người Nga thế kỷ 19 và có khuynh hướng đưa thôn quê vào thời đại mới. Khi còn học ở Đức ông thấy cần phải Tây phương hóa nước Nga, Turgenev không quan tâm về tôn giáo như Dostoevsky và Tolstoi, ông diễn tả khía cạnh xã hội và phong trào cải cách. Turgenev không chủ trương cách mạng hoặc phục hưng tinh thần quốc gia mà lấy phương pháp canh tân để thoát khỏi lạc hậu. Turgenev chịu ảnh hưởng của Gogol.
 
Đề tài của Ivan Turgenev hướng về xã hội Nga từ 1840 đến 1870, ông tả chân giới quí tộc và trí thức Nga, quan sát nghiên cứu các vấn đề văn hóa xã hội. Ông viết theo lối kể truyện như một cuốn nhật ký, hành văn lưu loát sáng sủa lôi cuốn, tế nhị nên được nhiều người hâm mộ. Ivan Turgenev không trước tác những cuốn tiểu thuyết trường giang đại hải như Dostoevsky, Tolstoi và các tác giả Nga khác. Truyện dài nhất và cũng là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là cuốn Cha Con (Fathers and Sons) viết 1862, một trong những trước tác lớn của văn chương thế kỷ thứ 19, Khói (Smoke) viết năm 1867 còn lại đa số là truyện ngắn.
Ivan Turgenev chủ trương cải cách xã hội theo Tây phương, năm 1855 ông trở thành phát ngôn viên của cuộc cải cách, quan niệm nước Nga cần tiếp thu các tư tưởng Tây phương để thực hiện tiến bộ xã hội. Năm 1870 hồi chiến tranh Pháp-Thổ, Turgenev qua Pháp sống ở gần Paris cho tới chết năm 1883. Những truyện khác được Tây phương biết đến gồm Rudin, 1856, Mái Ấm Trưởng Giả (A Nest of the Gentry) viết 1859, Chiều Hôm Trước (On The Eve) viết 1860...
Năm 1883 Turgenev khuyên Tolstoi trở lại với văn chương, sau đó Tolstoi viết Cái Chết Của Ivan Ilyich và Cầm Tấu Khúc Kreutzer.
 
Nhận xét về Ivan Turgeney, hai tác giả Henry James và Joseph Conrad ca ngợi ông hơn Tolstoi và Dostoevsky, James khen văn chương của Turgenev lịch sự, tế nhị hạng nhất. Nhà phê bình Nga nổi tiếng Nabokov nói Turgenev không phải là một văn hào nhưng được xếp trong số bốn nhà văn Nga thế kỷ 19, ông đứng sau Tolstoi, Gogol, Chekhov nhưng đứng trước Dostoevsky. Nhận xét của nhiều tác giả về Turgenev cũng như về các nhà văn sĩ Nga nổi tiếng thế kỷ 19 không đồng nhất nhưng theo dư luận chung Ivan Turgenev mặc dù được Tây phương chú ý trước nhất nhưng không được xếp ngang hàng với Tolstoi và Dostoevsky.
Văn chương Tolstoi tuy nhiên chưa hoàn toàn hiện thực nếu so với khuynh hướng cận đại như Sholokhov với Sông Don Thanh Bình, Gheorghiu với Giờ Thứ 25, John Steinbeck với Chùm Nho Uất Hận. Chiến Tranh Và Hòa Bình, Phục Sinh của Tolstoi chưa diễn tả được những đau khổ cùng cực của con người như Sholokhov đã diễn tả cuộc chiến tàn bạo, đẫm máu giữa dân Cô Dắc vùng sông Don và chính quyền Bolshevik. Gheorghiu đã diễn tả thân phận vô cùng bị thảm của con người thời ly loạn và hậu chiến.
So với Tolstoi, Turgenev cùng một khuynh hướng hiện thực như Tolstoi, những đoản thiên lãng mạn của ông bay bướm, nhẹ nhàng tế nhị nhưng Turgenev chỉ viết đoản thiên, tiểu thuyết ngắn (short novel) không có những tác phẩm vĩ đại như Tolstoi. Vả lại dù Turgenev cũng có khuynh hướng giải phóng nông nô, cải cách canh tân xã hội nhưng không phải là nhà tranh đấu dấn thân như Tolstoi, không có địa vị lớn trong quần chúng, nông dân Nga như Tolstoi. Như chúng ta đã biết, Tolstoi đã lấy đường lối bất bạo động trong thời gian chống chế độ độc tài, phong kiến đã được người dân vô cùng ngưỡng mộ, họ coi ông là Nga Hòang thứ hai.
Léon Tolstoi không chỉ là một nhà văn hào, một tiểu thuyết gia trứ danh, mà còn là một vĩ nhân được người Nga cũng như cả thế giới quí trọng, di sản của tác giả để lại cho nước Nga vô cùng phong phú vĩ đại. Những tác phẩm tiêu biểu của Tolstoi không chỉ là những cuốn tiểu thuyết bất hủ mà còn được coi như những công trình văn hóa của nhân loại vượt thời gian và không gian, được dịch ra hầu hết các thứ tiếng trên thế giới.
 
Từ sau cách mạng vô sản 1917 Cộng Sản Sô Viết cũng vẫn giữ nguyên địa vị cho Tolstoi, họ phải dành cho nhà văn hào một chỗ đứng xứng đáng trong nền văn hóa giáo dục Nga. Sở dĩ như vậy vì ông quá lớn, đã được mọi từng lớp xã hội từ người nông dân cho tới giới quí tộc trí thức, tư sản... ngưỡng mộ, họ không thể và không dám gạt bỏ ông như trường hợp Dostoevsky. Vả lại Tolstoi đã cùng nông dân chống chế độ bóc lột của giới quí tộc, địa chủ Nga, ông cũng không công nhận quyền tư hữu đất đai như Sô viết nhưng với tinh thần bất bạo động, lấy tình thương để giành thắng lợi, trái ngược với chủ trương dùng bạo lực đổ máu như của Lénine.
Tolstoi là một nhà cách mạng xã hội nhưng lấy đấu tranh bất bạo động kết hợp với đạo đức vì bản tính ông như một nhà hiền triết. Thực tế cho thấy phương thức bất bạo động của Tolstoi không thành công so với chính sách dùng bạo lực của Lénine như thế nhà văn hào không phải là chính trị gia mưu lược. Sự nghiệp chính trị của ông không thành công, nhưng chính ông cũng không muốn trở thành nhà lãnh đạo.
Ngày nay đối với Tây phương cũng như trên thế giới, người ta chỉ biết Tolstoi như một nhà văn hào lớn qua những tác phẩm vĩ đại vượt thời gian hơn là biết về sự nghiệp chính trị, giáo dục của ông. Nhiều nhà nghiên cứu phê bình cho rằng tác phẩm của Tolstoi ít nhiều giảng đạo lý, kinh điển làm mất giá trị văn chương nhưng dù vậy ông vẫn được nhiều độc giả trên thế giới ngưỡng mộ vì tác phẩm luôn có nghệ thuật cao.
 
Viết xong tại Arlington Texas, mùa hè 2011.
 
Trọng Đạt
 
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
 
Leo Tostoy: War and Peace, The Maude translation, W.W Norton & Company, New York-London, 1966
Anmna Karenina: Translated by Constance Garnett, Spell Binders 2004.
Anmna Karenina: Translated by Joel Carmichael, introduction by Malcolm Cowley, Bantam Books 1981.
Leo Tolstoy: Resurrection, translated from the Russian by Louise Maude, Edited by L.
Gary Adelman: Amna Karenina- The bitterness Of Ecstasy, Twayne Publishers — Boston 1990.
Aylmer Maude: The Life of Tolstoy, Wordsworth ediuons 2008. Kolesnikov, Raduga Publishers, Moscow. Leo Tolstoy: The Death of Ivan IIyich & Other Stories, introduction and Notes by Dr T.C.B.
Cook, Wordsworth Editions 2004. Wikipedia: Anna Karenina.
Edward Crankshaw: Tolstoy, The Making of a Novelist, The Viking Press -New York, 1974
Dmitry Svyatopolk Mirsky: A history Of Russian Litterature, New York, Alfred A.Knoff, 1969.
Ernest J.Simmons: Introduction To Tolstoy's Writings, The University of Chicago Press, Chicago & London 1968.
Morris Philipson: The Count who Wished He Were A Peasant-A Life Of Leo. Tolstoy, Panthe on Books 1967.
William W.Rowe: Leo. Tolstoy, T Wayne Publishers, Boston, 1986.
Tolstoy: A Collection Of Critical Essays, Prentice-Hall, ¡nc, Englewood CHff, N.J 1967.
William L.Shirer: Love and Hatred, The Stormy Marriage Of Leo And Sonya Tolstoy, Simmon & Schuster 1994
Ernest J. Simmons: Introduction to Russian Realisme, Indiana Ủniversity press 1965.
Henry Gifford: The Novel In Russia, Hutchinson & Co. (Publishers) LTD - 1964.
A.B. Goldenweir (Alek sandr-Borisovich): Talk With Tolstoy- Horizon press 1969.
(Translated by SS. Koteliansky and Virginia Woolf). William J. Leatherbarrow: Fedor Dostoevsky, Twayne publishers 1981, A Division of G.K. Hall & Co.
Davis Bender, Publisher: Fyodor Dostoyevsky, Greenhaven Press, San Diego, CA 1998. Wikipedia: Ivan Turgenev Online-literature.com: Turgenev. Biography and Works.
* * *
 
Léon Tolstoi: La Guerre et la Paix, Traduction nouvelle par Elisabeth Guertik, Pré face de Brice Parain, Livre de poche, Paris 963. Er. Wikipedia.org: Anna Karénine,
 
Léon Tolstoi: Résurrection, premìere edition intégrale, traduit par Édouard Beaux, Gallimard 1946.
Léon Tolstoi, Écrivain et Denseur Russe (littérature classic) - Google France.
Wikipedia.france: Tolstoi, Biographie, L"ecrivain soldat, Le Mari, Le père, La pensée de Tolstoi, Tolstoi pédagogue, Tolstoi anarchiste mystique chrétien.
 
Dịch giả
Tiểu sử: Tên thật là Nguyễn Trong Đạt, sinh năm 1942 tại Đông Lào, Hà Đông.
Theo gia đình di cư vào miền Nam tháng 3-1955.
 
Tốt nghiệp:
Cử Nhân Văn Chương năm 1966 tại Sài Gòn. Cao Học Kinh Tế Tài Chánh Học Viện Quốc Gia Hành Chánh năm 1969 tại Sài Gòn
Khoá 3/70 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức.
Trường Sinh Ngữ, Viện Đại Học Sài Gòn, ban Pháp Văn năm 1977
Dạy học, làm công chức cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1964-1975
Tù cải tạo từ 1975 -1980.
Vào Mỹ tháng 1 năm 1990, diện H.O
 
 
 
***
Người Việt Dallas Xuất Bản - 2010
Nguồn sách: HuyTran
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»