Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

MẬT MÃ DA VINCI 🔒

4 trả lời, 6.342 lượt xem — Trang 1 / 1
MẬT MÃ DA VINCI

MỞ ĐẦU
Bảo tàng Louvre, Paris, 10g46ph tối
Người quản lý bảo tàng danh tiếng Jacques Sauniere bước lảo đảo trên lối đi có mái vòm của phòng trưng bày lớn của bảo tàng. Ông lao tới bức tranh gần nhất mà ông thấy, một bức tranh của Caravaggio, kéo kiệt tác về phía mình cho đến khi nó từ trên tường rơi xuống và Saunière ngã quỵ về phía sau, bên dưới bức vẽ.
Như ông đã biết trước, một hàng rào sắt to rơi xuống ngay gần đó, chắn ngang lối vào phòng. Sàn gỗ rung lên. Phía xa, chuông báo động bắt đầu kêu.
Người quản lý nằm yên trong giây lát, thở hổn hển. Ta vẫn còn sống. Ông trườn ra từ phía phía dưới bức tranh và nhìn chăm chăm vào không gian với nhiều khoảng lõm để tìm ra một chỗ trốn.
Một giọng nói ớn lạnh, rất gần, vang lên: “Không được động đậy”.
Trong tư thế bò, người quản lý thấy mình như đóng băng, ông quay đầu lại một cách chậm chạp.
Chỉ cách ông mười lăm bước chân, bên ngoài cánh cổng đã được đóng là cái bóng khổng lồ của kẻ tấn công ông dựng đứng qua những thanh sắt. Hắn to cao, nước da tái nhợt như ma và mái tóc bạch kim mỏng. Mắt hắn có màu hơi đỏ với con ngươi màu đỏ sậm.
Hắn rút từ áo khoác một khẩu súng lục và chĩa nòng về phía người quản lý: “Đáng lẽ ông không nên chạy”.
Giọng hắn thật khó có thể miêu tả được: “Giờ thì nói cho tôi biết nó ở đâu”.
“Tôi nói với ông rồi”, người quản lý lắp bắp, quỳ trên sàn phòng trưng bày, “Tôi không biết ông đang nói về chuyện gì”.
“Ông đang nói dối!” Gã đàn ông nhìn người quản lý chằm chằm, bất động hoàn toàn trừ tia sáng lóe lên trong đôi mắt ma quỷ của hắn: “Ông và những kẻ đồng đảng đã chiếm đoạt vài thứ không phải của mình”.
Người quản lý cảm thá6y sự sợ hãi dâng lên. Làm sao hắn biết điều này?
“Tối nay những người giám hộ chính nghĩa sẽ lấy lại chúng. Hãy nói cho tôi biết nó được giấy ở đâu và ông sẽ sống”. Gã đàn ông chĩa súng vào đầu người quản lý.
“Liệu bí mật đó có đáng để ông phải chết vì nó?”
Saunière nghẹt thở.
Gã đàn ông nghiêng đầu, chăm chăm nhìn nòng súng.
Saunière giơ tay đầu hàng: “Chờ đã”, ông chậm rãi, “Tôi sẽ nói cho ông những gì ông cần biết”. Người quản lý nói những câu tiếp theo một cách cẩn trọng. Những lời nói dối ông vừa nói là những câu ông đã diễn tập nhiều lần và lần nào ông cũng cầu nguyện là không bao giờ phải dùng đến nó.
Khi người quản lý nói xong, kẻ tấn công ông cười tự mãn: “Đúng. Đó chính xác là những gì những khác đã nói với tôi”.
Saunière giật bắn người. Những người khác.
“Tôi cũng đã tìm thấy bọn họ”, gã đàn ông to lớn chế giễu, “Cả ba người. Họ cũng khẳng định giống những gì ông vừa nói”.
Không thể như thế. Đức tính trung thành của ông và ba người cùng chí hướng cũng thiêng liêng giống như bí mật cổ xua mà họ bảo vệ. Giờ đây, Saunière nhận ra rằng những người đồng chí của ông theo một quy trình đúng đắn, đã nói dối giống nhau trước khi chết. Nó là một phần của lời thề.
Kẻ tấn công lại ngắm súng: “Khi ông chết đi, tôi sẽ là người duy nhất biết sự thật”.
Sự thật. Trong giây lát, người quản lý chợt hiểu ra sự kinh khủng thực của tình cảnh này. Nếu mình chất, sự thật sẽ biến mất mãi mãi. Ông cố bò tìm chỗ trốn theo bản năng.
Súng nổ, và người quản lý cảm thấy bỏng rát khi viên đạn găm vào bụng. ông ngã về phiá trước, vật lộn với sự đau đớn. Chậm chạp, Saunière lăn tròn và ngoái nhìn lại kẻ tấn công ông qua song sắt.
Gã đàn ông đang ngắm phát súng kết liễu vào đầu Saunière.
Saunière nhắm mắt lại, những ý nghĩ của ông như một cơn dông tố cuộn xoáy trộn lẫn giữa nỗi sợ hãi và niềm tiếc nuối.
Tiếng lách cách của ổ đạn rỗng vọng lại qua hành lang.
Mắt người quản lý mở to.
Gã đàn ông đưa mắt nhìn khẩu súng, trông rất vui sướng. hắn nạp ổ đạn thứ hai, nhưng sau đó dường như hắn nghĩa lại, cười khẩy bình tĩnh trước sự gan lỳ của Saunière: “Công việc của tôi ở đây đã hoàn tất”.
Người quản lý nhìn xuống và thấy vết đạn trên cái áo sơmi bằng vải sợi trắng của mình. Một vòng tròn máu viền quanh vết đạn, viên đạn nằm cách xương ức vài phân về phía dưới. Là cựu chiến binh trong cuộc chiến tranh Algerie, người quản lý đã từng chứng kiến những cái chết từ từ đáng sợ này. Trong vòng hai mươi lăm phút, ông sẽ sống cho đến khi axít trong dạ dày thấm vào khoang ngực và từ từ đầu độc ông từ bên trong.
“Sự đau đớn thật là tuyệt, thưa quý ông”, gã đàn ông nói.
Sau đó, hắn bỏ đi.
Giờ đây, khi chỉ còn lại một mình. Jacques Saunière quay sang nhìn trân trối vào cánh cổng sắt. Ông đã bị nhốt, và các cánh cửa không thể được mở lại ít nhất trong vòng hai mươi phút. Đến khi có ai đó đến được chỗ ông, thì ông đã chết. Dù như vậy, thì nỗi sợ hãi giờ đây đang siết chặt ông lớn hơn nhiều so với nỗi sợ hãi về cái chết của bản thân ông.
Mình phải truyền lại bí mật này.
Bước đi lảo đảo, ông mường tượng ra cảnh ba người đồng chí của ông đã bị giết. Ông nghĩ về các thế hệ đã đi trước họ… về nhiệm vụ mà tất cả bọn họ đã được uỷ thác.
Một chuỗi hiểu biết không thể bị phá vỡ.
Đột nhiên, giờ đây, bất chấp những sự phòng ngừa, bất chấp mọi sự thận trọng, Jacques Saunière là mắt xích duy nhất còn lại, là người người bảo vệ duy nhất của một trong những bí mật ghê gớm nhất từng được che giấu.
Rùng mình, ông lết đi.
Ta phải tìm cách nào đó.
Ông bị nhốt bên trong phòng triển lãm lớn. Và chỉ có một người duy nhất trên thế giới này ông có thể trao ngọn đuốc. Saunière nhìn lên những bức tường của ngôi nhà tuyệt đẹp. Một bộ sưu tập những bức tranh nổi tiếng thế giới dường như đang mỉm cười với ông như những người bạn cũ.
Co rúm lại vì đau đớn, ông thu hết sức lực và khả năng của mình. Một nhiệm vụ to lớn đặt ra trước mắt ông, ông biết, nhiệm vụ ấy sẽ đòi hỏi những phút giây còn lại của đời ông.
0
CHƯƠNG 1
Robert Langdon từ từ tỉnh giấc.
Điện thoại reo trong bóng tối, tiếng chuông nghe chói tai và không quen thuộc. Ông dò dẫm tìm ngọn đèn cạnh giường và bật lên. Liếc nhìn xung quanh ông nhận thấy đó là một phòng ngủ kiểu Phục Hưng bằng vải lông với nội thất thời Louis XVI, với những bức tranh tường được vẽ bằng tay, và một giường gỗ lớn màu đỏ trang trí cả bốn mặt.
Mình đang ở chỗ quái quỷ nào thế này?
Chiếc áo choàng mặc sau khi tấm treo trên cột giường in dòng chữ Khách sạn Ritz Pari.
Dần dần, mây mù cũng tan đi.
Langdon nhắc ống nghe trả lời : “Xin chào?”
“Ông Langdon phải không ạ?” Giọng một người đàn ông vang lên: “Tôi hy vọng là không đánh thức ông chứ ạ?”
Ngạc nhiên, Langdon nhìn đồng hồ cạnh giường 0h32’ sáng. Ông mới ngủ được một tiếng, nhưng ông cảm thấy như lâu lắm.
“Tôi là người quản lý khách sạn đây thưa ông. Tôi xin lỗi vì sự quấy rầy này, nhưng ông có người đến tìm. Ông ấy cứ khăng khăng là có việc gấp”.
Langdon vẫn cảm thấy lơ mơ. Một vị khách? Lúc này, mắt ông dán vào những tờ quảng cáo bị vò nát trên cái bàn cạnh giường.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỸ TẠI PARIS
Trân trọng giới thiệu
Một buổi tối với Robert Langdon
Giáo sư nghệ thuật biểu trưng tôn giáo, Đại học Harvard.
Langdon lầm bầm. Buổi thuyết giảng tối nay, một bài giảng mới về chủ nghĩa biểu trung đa thần giáo ẩn chứa trong các viên đá nhà thờ lớn Chartres, có thể đấy là một vài tranh cãi trong công chúng. Gần như chắc chắn là một học giả nghiên cứu tôn giáo nào đó đã theo ông về tận khách sạn để tranh luận với ông.
“Tôi xin lỗi”, Langdon nói, “Nhưng tôi rất mệt và…”
“Nhưng, thưa ông”, người quản lý nhấn mạnh, hạ thấp giọng như thì thầm khẩn cấp, “Vị khách này là người rất quan trọng”.
Langdon hơi nghi ngờ. Các cuốn sách của ông về các bức vẽ tôn giáo và biểu tượng thờ cúng đã làm ông nổi danh một cách bất đắc dĩ trong thế giới nghệ thuật và năm ngoái danh tiếng của Langdon đã tăng lên gấp trăm lần sau khi ông tham gia vào một sự kiện được công chúng biết đến rộng rãi ở Vaticang. Từ đó, vô số những nhà sử học và chuyên gia nghệ thuật tự phụ đến nhà ông không ngớt.
“Nếu ông đã có lòng tốt như thế”, Langdon nói, cố gắng hết sức để giữ lịch sự, “Liệu ông có thể lưu lại tên và số điện thoại của vị khách đó và nói với ông ta rằng tôi sẽ cố gắng gọi lại cho ông ta trước khi tôi rời Paris vào thứ ba không? Cám ơn ông”. Ông gác máy khi người quản lý chưa kịp phản ứng gì.
Khi đã ngồi dậy, Langdon cau mày nhìn cuốn sổ tay liên hệ với khách hàng được ghi những lời hoa mỹ: Hãy ngủ như một đứa trẻ ở Kinh đô ánh sáng. Hãy thiếp ngủ ở khách sạn Ritz Paris. Ông quay đầu và nhìn một cách mệt mỏi vào tấm gương dài chạy suốt căn phòng. Ông nhìn lại mình và nhận thấy một người lạ-tóc tai rối bù và mệt mỏi.
Anh bạn cần một kỳ nghỉ đấy, Robert.
Năm vừa rồi thực sự là một gánh nặng, nhưng Langdon không mong đợi nhìn thấy hậu quả của nó như trong gương. Đôi mắt màu xanh sắc bén thường ngày giờ đây trông lờ đờ và mệt mỏi. Chòm râu mọc lởm chởm sẫm màu quanh quai hàm khỏe và cái cằm chẻ. Quanh thái dương ông, những sợi tóc hoa râm đang tăng lên làm cho chúng càng nổi bật trong mái tóc màu đen dày. Dù những đồng sự nữ khẳng định với ông rằng tóc bạc chỉ làm tôn thêm sức quyến rũ bác học của ông, nhưng Langdon biết rõ hơn nhiều.
Nếu tạp chí Boston nhìn thấy mình bây giờ nhỉ?
Tháng trước, Langdon vô cùng lúng túng khi tạp chí Boston bầu chọn ông là một trong những người đàn ông quyến rũ nhất thành phố-một vinh dự đáng ngờ đã tạo ra sự trêu chọc không dứt của các đồng nghiệp trường Harvard. Tối nay cách nhà nhà ba trăm dặm, ký ức vẫn ám ảnh ông ngay trong buổi thuyết giảng ông vừa thực hiện.
“Thưa các quý ông và quý bà…” người giới thiệu tuyên bố trước phòng khách đầy ắp của trường Đại học Mỹ, đường Hoàng tử Pavillon ở Paris. “Khách mời tối nay của chúng ta chắc tôi không cần giới thiệu. ông là tác giả của nhiều cuốn sách Biểu tượng của các môn phái bí mật, Nghệ thuật của dòng Chúa khai sáng, Ngôn ngữ tượng hình đã biến mất, và khi tôi nói ông là tác giả cuốn sách Khoa học nghiên cứu biểu tượng tôn giáo, thì chắc chắn không cần phải giới thiệu thêm gì nữa. Nhiều người trong số các bạn đang dùng những cuốn sách của ông trên lớp”.
Các sinh viên trong đám đông gật đầu đồng tình một cách nhiệt tình.
“Tối nay tôi đã định giới thiệu ông bằng chia sẻ với các bạn lý lịch đầy ấn tượng của ông, tuy nhiên…”, cô ta nhìn Langdon một cách khôi hài, lúc này ông đã ngồi trên sân khấu, “Một khán giả vừa đưa cho tôi một thứ thú vị hơn nhiều, chúng tôi gọi nó là lời giới thiệu hấp dẫn”.
Cô ta giơ lên một bản sao của tờ tạp chí Boston.
Langdon co rúm người lại. Làm thế quái nào mà cô ta có nó nhỉ? Người giới thiệu bắt đầu đọc những đoạn trích đã được chọn lọc từ bài báo ngu xuẩn kia và Langdon cảm thấy như mình đang chìm nghỉm sâu hơn trong cái ghế của ông. Ba mươi phút sau, đám đông vẫn cười phá lên, và người phụ nữ ấy không hề có dấu hiệu dừng lại: “Và sự từ chối tiết lộ với công chúng về vai trò đặc biệt của ông trong cuộc họp kín bầu Giáo hàng Vatican năm ngoái chắc chắn sẽ ghi thêm điểm cho ông trong thước đo sự quyến rũ của chúng ta”. Người giới thiệu kích động đám đông: “Các bạn có muốn nghe thêm không?”
Đám đông vỗ tay tán thưởng.
Ai đó hãy dừng cô ta lại. Langdon cầu nguyện khi cô ta lại chúi mũi vào bài báo.
“Dù giáo sư Langdon có thể không được xem là người đẹp trai tuyệt vời như một vài người được bầu chọn trẻ tuổi hơn, nhưng vị giáo sư ngoài 40 tuổi này có sức lôi cuốn sâu sắn hơn. Sự quyến rũ của ông được tôn thêm bởi giọng nói thấp, và âm nam trung hiếm có, điều mà các sinh viên nữ miêu tả là sôcôla cho những đôi tai”
Cả căn phòng lại tràn ngập tiếng cười.
Langdon buộc phải nở nụ cười gượng gạo. Ông biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo-lại một tràng những câu gây cười về “Harrison Ford trong chiếc áo tuýt hiệu Harris và áo cao cổ hiệu Burberry, nên ông quyết định hành động.
“Cám ơn, Monique”, Langdon nói, vội vã đứng lên và đẩy cô ta ra khỏi chỗ bục khán đào. “Tạp chí Boston rõ ràng đã có một món quà tưởng tượng”. Ông quay về phía khán giả với tiếng thở dài lúng túng: “Và nếu tôi tìm ra ai trong số các bạn đã cung cấp bài báo đó, tôi sẽ bảo tổng lãnh sự trục xuất các bạn”.
Đám đông cười rộ lên.
“Được rồi, những người bạn của tôi, như các bạn đã biết, tối nay tôi sẽ ở đây để nói về sức mạnh của những biểu tượng…”

Tiếng reo của chiếc điện thoại trong phòng khách sạn của Langdon một lần vang lên phá tan sự im lặng.
Lầm bầm hoài nghi, ông nhấc máy: “Vâng?”
Như dự đoán, đó là người quản lý khách sạn: “Ông Langdon, một lần nữa xin lỗi ông. Tôi gọi để thông báo với ông rằng vị khách của ông bây giờ đang trên đường đến phòng ông. Tôi nghĩ là tôi nên báo cho ông”.
Langdon giờ đây đã tỉnh hẳn: “Ông cho phép ai đó đến phòng tôi?”
“Tôi xin lỗi, thưa ông, nhưng người đàn ông này… tôi không thể chính quyền ngăn ông ta lại”.
“Chính xác ông ta là ai?”
Nhưng người quản lý đã gác máy.
Gần như ngay lập từc, một nắm tay khoẻ đập dồn dập vào cửa phòng Langdon.
Không thoải mái, Langdon rời khỏi giường, cảm thấy những ngón chân của ông ngập chìm trong tấm thảm. Ông mặc áo choàng của khách sạn và đi tới cánh cửa. “Ai đấy?”
“Ông Langdon phải không? Tôi cần nói chuyện với ông”. Tiếng Anh của người nói được kéo dài-một giọng nói đầy quyền uy và nhọn sắc: “Tôi là Trung úy Jérome Collet. Cục cảnh sát hình sự”
Langdon ngập ngừng. Cảnh sát hình sự
Nới dây xích an toàn, Langdon mở cửa rộng ra vài phân. Gương mặt đối diện ông mỏng và nhẵn nhụi. Người đàn ông gầy còm một cách khủng khiếp, mặc bộ đồng phục màu xanh công sở.
“Tôi có thể vào được không?” Viên cảnh sát hỏi.
Langdon do dự, cảm thấy không thoải mái khi đôi mắt xám của người lạ mặt nhìn ông chăm chú: “Tất cả những chuyện này là gì?”
“Đội trưởng của tôi nhờ đến tài năng chuyên môn của ông trong một vấn đề cá nhân”
“Bây giờ ư ” Langdon hỏi “Đã quá nửa đêm rồi”.
“Ông có buổi hẹn gặp mặt người quản lý bảo tàng Louvre tối nay đúng không?”
Langdon cảm thấy sự lo lắng dâng lên. Ông và người quản lý đáng kính Jacques Saunière đã sắp xếp gặp nhau uống vài cốc bia sau buổi thuyết giảng tối nay của Langdon. Nhưng ông Saunière đã không đến. “Vâng, làm thế nào mà ông biết chuyện đó?”
“Chúng tôi tìm thấy tên ông trong sổ ghi công việc hàng ngày của ông ấy”
“Tôi tin là không có gì xảy ra chứ?”
Viên cảnh sát thở dài và đưa ra một tấm ảnh qua khoảng hẹp ở cửa.
Khi Langdon nhìn thấy bức ảnh, toàn thân ông cứng đờ.
“Bức ảnh này được chụp chưa đầy một tiếng trước, trong bảo tàng Louvre”.
Khi Langdon nhìn hình ảnh kỳ quái đó, sự khiếp sợ và kinh hoàng ban đầu bỗng nhường chỗ cho sự tức giận: “Kẻ nào làm điều này?”
“Chúng tôi hy vọng ông có thể giúp chúng tôi trả lời câu hỏi hóc búa đó, nhờ vào kiến thức của ông về nghệ thuật biểu tượng và kế hoạch gặp mặt ông ấy của ông”
Langdon chăm chú nhìn bức ảnh, sự kinh hoàng, giờ đây hoà cùng nỗi sợ hãi. Hình ảnh khủng khiếp và quái lạ đó mang theo một cảm giác mơ hồ về những điều ông đã từng thấy. Một năm trước, Langdon nhận được tấm ảnh về một xác chết và một lời đề nghị giúp đỡ tương tự. Hai mươi tư giờ sai, ông gần như kết thúc, cuộc đời trong thành phố Vaticang. Bức ảnh hoàn toàn khác, nhưng một vài điều về khung cảnh của nó gây cho ông cảm giác lo ngại tương tự.
Viên cảnh sác nhìn đồng hồ: “Đội trưởng của tôi đang chờ, thưa ông”
Langdon gần như không nghe anh ta nói. Mắt ông vẫn dán vào bức ảnh. “Biểu tượng ở đây và cách đặt thi thể ông ấy thật kỳ lạ…”
“Vị trí?” Viên cảnh sát hỏi.
Langdon gật đầu, cảm thấy ớn lạnh khi ông ngẩng lên: “Tôi không thể tưởng tượng là ai có thể làm việc đối với ông ta.”
Viên cảnh sát nhìn ông trân trân: “Ông không hiểu sao, ông Langdon. Những gì ông nhìn thấy trong bức ảnh này…”, ông ta dừng lại, “Ông Saunière đã tự làm điều đó với chính ông ấy”.
0
Bản dịch này mới hay cũ đó bạn, nếu mà cũ thì có lẽ tốp lại thui, vì bản dịch này thấy bảo chuối bự, gõ chỉ tổ mỏi tay [:D], đợi bản dịch mới gõ cho bõ công.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

0
CHƯƠNG 2

Cách đó một dặm, kẻ bạch tạng khổng lồ có tên là Silas đi cà nhắc qua cánh cổng của khu nhà dành cho giới thượng lưu ở phố La Bruyère. Chiếc dây thắt bằng lông đuôi ngựa đóng đinh mà hắn quấn quanh bắp đùi cứa vào thịt hắn, nhưng tâm hồn hắn lại đang ca hát với sự thoả mã vì sự phụng sự Chúa.
Đau đớn là tốt.
Đôi mắt đỏ rực của hắn lướt nhìn hành lang khi hắn ta bước vào khu nhà. Trống rỗng. Hắn trèo lên cầu thang một cách nhẹ nhàng,không muốn đánh thức các bạn đồng môn của mình. Cửa phòng ngủ của hắn mở, việc khóa cửa ở đây bị cấm. Hắn ta đi vào, đóng cửa lại sau lưng.
Căn phòng rất đơn giản-sàn gỗ cứng, một cái tủ bằng gỗ thông, một cái chiếu bằng vải bạt, nhưng trong nhiều năm hắn đã được ban phước ở một nơi tôn nghiêm tương tự như thế ở thành phố New York.
Chúa cho ta chỗ ở và đem đến lẽ sống cho cuộc đời ta.
Cuối cùng, tối nay, Silas cũng cảm thấy bắt đầu đền đáp được món nợ đó. Vội vàng đi đến cái tủ, hắn tìm chiếc điện thoại di động giấu dưới đáy tủ và bấm số gọi.
“Vâng?” Một giọng đàn ông trả lời.
“Thưa thầy con đã trở về”.
“Nói xem”, giọng nói kia ra lệnh, có vẻ rất hứng thú khi hắn nói.
“Cả bốn đều đã chết. Ba kẻ đồng đảng… và kẻ chỉ huy vĩ đại”.
Giọng nói ngưng lại trong chốc lát, như thể để cầu nguyện: “Ta cho rằng ngươi đã có được thông tin?”
“Cả bốn đều nói giống nhau. Một cách độc lập”.
“Và ngươi tin chúng?”
“Sự khẳng định của họ quá giống nhau so với sự trùng hợp ngẫu nhiên”.
Hơi thở đầy vẻ kích động: “Tuyệt. Ta đã lo sợ rằng danh tiếng về sự kín đáo của Hội Huynh đệ có thể thắng thế”.
“Cảnh tượng về cái chết là một động cơ mạnh mẽ”.
“Vậy thì, học trò của ta, hãy nói những gì ta cần phải biết”.
Silas biết rằng những thông tin hắn thu được từ những nạn nhân của hắn sẽ là một cú sốc: “Thưa thầy, cả bốn đều khẳng định sự tồn tại của viên đá đỉnh vòm trong truyền thuyết”.
Hắn nghe thấy tiếng hít sâu bên kia đầu dây và có thể cảm thấy sự phấn khích của thầy giáo: “Viên đá đỉnh vòm. Chính xác như chúng ta nghi ngờ”.
Theo sách vở, tổ chức đó đã tạo ra một tấm bản đồ bằng đá-một viên đá đỉnh vòm- và khắc vào đó bảng chỉ dẫn tới vị trí cuối cùng của bí mật lớn nhất của tổ chức… thông tin có quyền lực lớn đến mức sự bảo vệ nó là lý do tồn tại của tổ chức.
“Khi chúng ta có được viên đá đỉnh vòm,” thầy giáo nói, “chúng ta sẽ chỉ còn bí mật đó một bước”.
“Chúng ta đang ở gần hơn thầy nghĩ đấy ạ. Viên đá đỉnh vòm đó ở đây, tại Paris này”
“Tại Paris? Thật không thể tin được. Vậy thì quá dễ”.
Silas lần lượt nhớ lại những sự kiện trong buổi tối hôm nay… cách mà cả bốn nạn nhân của hắn, trong những khoảnh khắc trước khi chết, đã cố gắng trong nỗi tuyệt vọng mong giữ được mạng sống trái đạo lý của họ bằng việc nói ra bí mật. Mỗi người đều nói cho Silas một điều giống nhau-rằng viên đá đỉnh vòm đã được giấy khéo léo tại một vị trí tôn nghiêm ở trong một nhà thờ cổ xưa của Paris- Nhà thờ Saint-Sulpice.
“Bên trong ngôi nhà của Chúa” Thầy giáo la lên, “Chúng dám thách thức chúng ta ghê gớm thế sao!”
“Như chúng đã làm từ nhiều thế kỷ nay”.
Thầy giáo im lặng như thể bị việc dành được chiến thắng trong giây phút này tràn ngập. Cuối cùng, ông ta nói: “Con đã hoàn thành sự phụng sự vĩ đại đối với Chúa. Chúng ta đã chờ đợi điều này nhiều thế kỷ rồi. Con phải lấy lại hòn đá đó cho ta. Ngay lập tức. Tối nay. Con biết số tiền thưởng rồi chứ.”
Silas biết tiền thưởng là không thể đếm được, nhưng những gì thầy đang ra lệnh có vẻ như không thể thực hiện được. “Nhưng nhà thờ đó là một pháo đài, nhất là vào buổi tối. Con sẽ vào bằng cách nào?”
Với giọng tự tin của một có thế lực lớn. thầy giáo giảng giải những việc phải làm.

Khi Silas gác máy, da hắn ngứa ran vì sự mong đợi.
Một giờ, hắn tự nói với chính mình, thật may là Thầy đã cho hắn thời gian để thực hiện sự sám hối cần thiết trước khi bước vào ngôi nhà của Chúa. Mình phải gột rửa linh hồn khỏi những tội lỗi của ngày hôm nay. Những tội lỗi hắn phạm phải trong ngày hôm nay có mục đích thiêng liêng. Những hành động chiến tranh được ủy thác trong nhiều thế kỷ để chống lại kẻ thù của Chúa. Sự tha thứ đã được đảm bảo.
Dù như thế, Silas biết, sự miễn xá đòi hỏi vật hiến sinh.
Kéo rèm che, hắn cởi trần ra và quỳ xuống giữa phòng. Nhìn xuống, hắn kiểm tra chiếc dây thắt bằng sợi lông đuôi ngựa được đóng định và buộc quanh bắp đùi. Tất cả những môn đồ chân chính của Con đường đều đeo vật vày-một dây da, dập những ngạnh kim loại sắc cứa vào thịt như một sự nhắc nhở thường xuyên về sự chịu đựng của Chúa. Sự đau đớn gây ra bởi vật này cũng giúp họ chống lại những dục vọng về xác thịt.
Mặc dù hôm nay Silas đeo vật này lâu hơn yêu cầu hai tiếng, hắn biết hôm nay không phải là một ngày bình thường. Nắm lấy cái dây, hắn cột chặt nó lại thêm một mức nữa, co rúm người lại những ngạnh sắc đâm sâu hơn vào da thịt. Thở ra từ từ, hắn cảm nhận sự thanh sạch của nỗi đau đớn.
Đau đớn là tốt, Silas thì thầm, nhắc lại những lời thiêng liêng của Cha Josemaria Escriva-Thầy của mọi Thầy giáo. Dù Escriva đã chết năm 1975, nhưng trí tuệ của ông sống, những lời của ông vẫn được hàng nghìn người phục vụ trung thành trên toàn thế giới nhắc tới khi họ quỳ gối trên sàn để thể hiện sự thực hành thiêng liêng được gọi là “sự tự hành xác”
Silas chuyển sự chú ý đến sợi dây thừng thắt nút to cuộn gọn gàng đặt trên sàn bên cạnh. Kỷ luật. Những nút thắt được kết lại cùng máu khô. Háo hức vì những tác động gột rửa của những nỗi đau đớn trên cơ thể mình, Silas đọc nhanh một lời cầu nguyện. sau đó, nắm chặt một đầu sợi dây, hắn nhắm mắt và vung sợi dây qua vai, cảm nhận những nút thắt quất mạnh vào lưng. Hắn giật nó qua vai một lần nữa, quất mạnh vào thịt hắn. Giật đi giật lại, cứ như thế hắn quất.
Thân thể chỉ là nơi cư trú của tinh thần
Sau cùng, hắn cảm thấy máu bắt đầu chảy.
0
Bản dịch cũ nếu được đăng cũng có mặt tốt của nó. Những bạn nào không rành ngọai ngữ có thể tạm thời tìm hiểu tác phẩm này trong khi chờ bản dịch mới. Các bạn giỏi tiếng Anh/tiếng Pháp có thể tìm ra những chỗ sai để phê bình và góp ý để cùng trao đổi những kinh nghiệm học và dịch ngọai ngữ. Còn các bạn nào khá ngọai ngữ sơ sơ cũng có thể vừa xem, vừa đối chiếu, vừa nghe ngóng các cao thủ "bàn loạn" để học hỏi thêm...
0