Họ đặt ông Himmelfarb vào chiếc ghế trước tivi trong phòng của ông. Đôi khi họ làm thế khi không có đủ điều dưỡng viên để trông coi tất cả người bệnh. Lần nào cách này cũng có hiệu quả tuyệt vời. Các cụ già ngồi ngay ngắn và ngoan ngoãn và hoàn toàn quên mất thời gian lẫn không gian lẫn thực tế rằng họ đã không được tắm mấy ngày liền.
Ông Himmelfarb đang phấn khích và vui mừng. Ông đang xem một chương trình trò chuyện trên truyền hình, và máy quay vừa lướt một vòng qua khu vực khán giả. Bằng cách nào đó, ông đã hình thành một suy nghĩ trong đầu rằng họ đều ghé lại nhà ông để khiến ông ngạc nhiên và uống cà phê trong phòng của ông. Ông bắt đầu lục lọi quanh các ngăn tủ của mình tìm chén đĩa để phục vụ các vị khách đó và bày đám ly tách ngay ngắn trên giường. Ông quẳng bó hoa trên bệ cửa sổ đi và rót nước từ bình hoa vào mấy chiếc chén.
“Xin mời,” ông lúng búng nói trong miệng, hướng mắt về phía ti vi với vẻ quan tâm. Nhưng đám khán giả vẫn ngồi đó. Sao họ không đứng dậy?
Không có đủ chén cho tất cả mọi người – đó chính là vấn đề. Ông đặt đôi giày, chiếc mũ, chiếc đài, và những tấm ảnh treo trên tường thành hàng trên giường. Ông hứng đầy bình nước rồi rót vào đôi giày. Đấy nhé . Ông quay lại nhìn màn hình. Sao khách của ông không muốn đứng dậy?
Ông Himmelfarb ngồi phịch xuống ghế và ngồi đó suốt nửa giờ cho đến khi một điều dưỡng viên bước vào kiểm tra và thấy giường của ông bày đầy đồ đạc. Cô cẩn trọng đặt tay lên vai ông. “Ông lại có khách đấy à?” Cô dịu dàng hỏi.
Ông Himmelfarb lẳng lặng gật đầu.
Cô điều dưỡng viên chuyển kênh, và đám khán giả biến mất.
“Đấy. Ông thấy không, họ lại đi rồi, đi hết cả rồi.” Cô thậm chí không nhận ra rằng ông lão đang khóc.
Một thước phim tài liệu mới về không gian vừa bắt đầu trong khi cô điều dưỡng viên cất mọi thứ trên giường đi. Các cảnh quay loạn xạ diễn ra trên màn hình trước mặt ông Himmelfarb. Những hình ảnh tư liệu cũ kĩ cho thấy các nhà khoa học làm việc cật lực để lắp ráp những mảnh thiết bị khác nhau và tiến hành nhiều đợt thử nghiệm. Không dễ để hiểu được họ đang làm gì, hay các bức ảnh được chụp ở đâu, và giọng thuyết minh cũng chẳng hề nhắc đến điều đó. Nó đang bận giải thích lịch sử của chương trình thám hiểm không gian của Mỹ, đưa ra các số liệu thống kê về chi phí, quy mô, và độ phức tạp của chương trình. Ông Himmelfarb không tiếp nhận được một chút thông tin nào, nhưng mắt ông vẫn dán chặt vào màn hình.
Trong ông dần hình thành một linh cảm mơ hồ rằng ông nhận ra một số khuôn mặt đang mỉm cười với ông trong một tấm ảnh trên màn hình. Ông biết bức ảnh đó được chụp ở đâu thì phải? Nó được chụp ở một nhà chứa máy bay của đài quan sát Goldstone, và những người đứng ở hàng đầu đã làm việc cho một dự án tại đó... Dự án về cái gì nhỉ?
Ông cố nhớ lại. Người đứng giữa bức ảnh là người đứng đầu dự án; khi đó anh ta mới ngoài hai mươi tuổi. Nhưng... người ta để anh ta chịu trách nhiệm vì... vì anh ta biết một điều gì đó, đúng vậy không? Đúng là như vậy. Anh ta đã tiến hành một số tính toán đáng chú ý ở trường đại học và được gọi đến Goldstone làm việc cho cái được gọi đơn giản là “vấn đề Mặt Trăng”. Tên anh ta là gì ấy nhỉ? Cohen? Không... Kaufman? Cũng không phải.
Ông Himmelfarb lại bắt đầu thấy đầu óc rối tung lên. Ông thấy khó mà tập trung được, nhưng vẫn cố gắng. Bức ảnh này, nó thể hiện điều gì? Ông soi xét nó kĩ hơn, cố gắng nhìn kĩ tòa kiến trúc làm nền sau lưng những người trong ảnh.
Bức ảnh biến mất và được thay bằng một tấm mới chụp từ một góc độ khác. Giọng thuyết minh giải thích rằng trong ảnh là chiếc xe thám hiểm Mặt Trăng nổi tiếng, gọi tắt là LRV, được chụp cùng nhóm chuyên gia đã thiết kế và chế tạo nên nó tại nhà máy Boeing ở Illinois. Nhưng thực ra không phải thế. Tấm ảnh này được chụp ở Goldstone. Chắc chắn là như vậy. Ông Himmelfarb tiếp tục lục tìm trong trí nhớ tên của người đàn ông kia, nhưng giờ thì việc đó đã hoàn toàn không thể. Collins? Không. Kleinmann? Ông không chắc lắm. Một bức ảnh thứ ba hiện trên màn hình, lần này chụp từ đầu kia của căn phòng. Đó là một bức ảnh chụp mặt sau của chiếc xe LRV và lưng của các “nhà khoa học”.
Nhưng đó chính là thứ đột nhiên khiến ông Himmelfarb khiếp đảm.
Nỗi khiếp hãi ập đến khi ông nhìn thấy một cánh cửa để ngỏ nằm ở nền bức ảnh. Đó không phải là phần quan trọng trong bức ảnh, nhưng lại thu hút ánh mắt của ông. Ông chỉ thoáng nhìn thấy cái bóng mờ của một người thấp lùn ôm một hộp dụng cụ đứng ở ngưỡng cửa. Mặt anh ta không hiện rõ, và chỉ ai biết trước là anh ta đang đứng ở đó mới có thể để ý thấy anh ta. Nhưng ông Himmelfarb nhận ra đó là ai. Và ông cũng nhận ra người đó đang hoảng hốt.
Vì người trong ảnh đó chính là ông.
“Nào,” cô điều dưỡng viên nói và tắt tivi. “Ông không được thức xem tivi cả đêm đâu.”
Ông Himmelfarb ngồi đó, mắt nhìn trân trân vào màn hình đen ngòm, nhưng chỉ nhìn thấy chính mình. Như thể ông đang cười nhạo chính mình từ hình phản chiếu trên tấm kính, một nụ cười chế nhạo đầy khinh bỉ của một ông lão điên khùng. Ông nhắm mắt lại vài giây rồi lại mở ra. Giờ thì ông chỉ thấy một khuôn mặt buồn bã đang nhìn lại mình. Khuôn mặt của con người cô đơn nhất trên Trái Đất.
Tiếng máy nhắn tin của cô điều dưỡng viên vang lên trong túi áo và cô ta móc nó ra. “Ông ngồi đây một lát được không ông Oleg? Cháu sẽ quay lại giúp ông đi ngủ trong hai mươi phút nữa.” Rồi cô ta rời khỏi phòng mà không chờ ông trả lời.
Nhưng ông Himmelfarb còn không nhận ra rằng cô ta đã ra ngoài. Dường như có một công tắc tí hon vừa bật lên trong ý thức của ông. Trong nháy mắt, mọi đầu dây thần kinh trong não ông như nối liền trở lại, nối liền thực sự, và nhận thức tràn về với ông như một đợt sóng thần.
Đây là nơi mình sống , ông nghĩ.
Đây là đồ đạc của mình.
Mình đang sống trong viện dưỡng lão ư?
Ông chầm chậm bước về phía chiếc gương mà cô điều dưỡng viên vừa treo trên bồn rửa mặt trước khi ra ngoài, và soi lại mình. Nước mắt chảy xuống má ông khi ông nhìn thấy khuôn mặt già nua đang giương mắt nhìn lại mình. Dường như bao nhiêu năm tháng tiếc thương vợ con, tiếc thương cả cuộc đời mình, tiếc thương chính con người mình trước đây, đều dồn lại trong một khoảnh khắc choáng ngợp ấy. Mọi cánh cửa trong tâm trí ông cùng mở rộng, và não ông trở nên tỉnh táo và rõ ràng như pha lê.
Coleman. Tên anh ta là Coleman. Không phải Cohen, cũng không phải Kaufmann. Là Coleman.
Tiếp đến là một trận lụt kí ức. Ông nhớ lại mọi chuyện đã xảy ra ở Goldstone vào cái ngày bức ảnh kia được chụp. Nó tràn về trong ông, khiến ông gần như đứng không vững.
Ông nhớ ra Coleman, những bản báo cáo, những sự kiện trên Mặt Trăng. Ông có thể mường tượng rõ ràng bức ảnh cũ kĩ mà các phi hành gia của Apollo 17 đã chụp trên các cao nguyên của Mặt Trăng trong khi tiến hành các hoạt động ngoài không gian. Coleman là người đã cho ông xem bức ảnh đó vào một buổi chiều mùa thu năm 1979, và chỉ nghĩ về nó thôi đã khiến ông rùng mình.
Bức ảnh chụp phi hành gia Eugene Cernan đang trèo lên chiếc xe LRV. Trông anh ta có vẻ vụng về, lúng túng như thể đang vội vã và đang cố chạy bán sống bán chết. Và cách anh ta chưa đến ba mươi mét về phía sau, trong thung lũng Taurus-Littrow chính là lí do. Một cái bóng tối sẫm với những đường nét nhạt nhòa, nhưng rõ ràng không mặc đồ du hành mà chỉ mặc quần áo thông thường, đang tiến về phía anh ta. Ông Himmelfarb đã gặp Eugene vài lần. Một anh chàng dễ mến, nhưng không may đã không bao giờ trở lại bình thường như trước sau nhiệm vụ Apollo đó.
Nguyên nhân có thể liên quan đến thực tế rằng cái bóng đang tiến về phía chiếc xe trong nền bức ảnh có vẻ ngoài giống bản thân Eugene đến kinh ngạc.
DARLAH. Họ sắp bắt đầu sử dụng căn cứ đó .
Nhưng chúng ta đã nhất trí sẽ không bao giờ quay lại.
Không bao giờ.
Ông lôi ví ra khỏi túi áo khoác và tìm thấy đôi giày đặt cạnh tủ. Thận trọng cử động để không gây tác động đột ngột lên cơ thể già yếu của mình, ông cúi xuống nhặt đôi giày lên, ngồi xuống mép giường và mang giày vào, rồi ra khỏi phòng. Ông bước dọc hành lang nhanh hết sức mình, tiến về phía chiếc điện thoại công cộng cạnh cầu thang.
Vẫn còn thời gian. Họ vẫn còn kịp hủy bỏ nhiệm vụ và quay về nếu chưa hạ cánh.
Mình phải cho họ biết mọi chuyện. Tất cả mọi chuyện.
Ông không thấy ai trên hành lang. Một vài điều dưỡng viên đang bận rộn chăm sóc bệnh nhân ở cánh bên kia của viện dưỡng lão, nên ông có thể thoải mái sử dụng điện thoại ngoài sảnh.
Hai tay run rẩy, ông nhét vài đồng xu vào máy, và quay số tổng đài cũ của Goldstone. Ông không hề nhận ra việc ông đột nhiên minh mẫn đến độ có thể nhớ cả số điện thoại đáng kinh ngạc đến mức nào. Nhưng điều đó cũng không quan trọng, trí nhớ ấy chẳng có ích gì.
“Số máy quý khách vừa gọi hiện không còn được sử dụng.”
Tất nhiên rồi . Đã bao lâu rồi ông không gọi đến đó. Tất nhiên bây giờ ở đó đã dùng số điện thoại khác rồi.
Ông lật giở cuốn danh bạ treo bằng dây thép bên cạnh chiếc điện thoại.
K.L.M.N.
Đây rồi. N.
NASA.
---❊ ❖ ❊---
Ông tìm thấy số điện thoại của Trung tâm Vũ trụ Kennedy và quay số.
Ông nghe thấy một đoạn băng ghi âm, một loạt lựa chọn. Quá nhiều lựa chọn. Quá rắc rối. Ông thử bấm số 0 với hi vọng một nhân viên trực tổng đài sẽ nhấc máy. Nhưng không... chỉ một giọng ghi âm máy móc, vui tươi đến kì quặc vang lên.
Ông nhìn đồng hồ. Lẽ ra giờ này phải có người ở đó chứ.
Ông thử gọi lần nữa, nhưng dù ông có bấm số nào, ông cũng không thể gặp được lấy một người.
Nỗi sợ hãi và tuyệt vọng bắt đầu choán lấy tâm trí ông và ông đập mạnh xuống chiếc máy điện thoại. Ông cảm thấy trái tim đang đập dồn dập và lồng ngực ông đau nhói. Mũi Canaveral , ông chợt nghĩ ra. Mình sẽ gọi thử cho Mũi Canaveral . Ông lại lật cuốn danh bạ, tìm thấy số máy và gọi.
Một người đàn ông trẻ trả lời.
“Trạm Không quân Mũi Canaveral xin nghe, tôi có thể giúp gì cho ngài?”
Đáng lẽ khi đó ông Himmelfarb phải bắt đầu giải thích. Ông phải giải thích mọi chuyện, tất cả những gì ông biết, những gì họ cần làm, vì sao họ phải hủy bỏ nhiệm vụ ngay lập tức. Rằng ông cần nói chuyện trực tiếp với Tiến sĩ ⬛⬛⬛ càng sớm càng tốt.
Nhưng ông không thể thốt ra một lời nào.
Trí nhớ của ông đã trở lại, nhưng trung khu ngôn ngữ trong não ông không chịu nghe lời. Không có gì phát ra từ miệng ông trừ những tiếng ú ớ, mặc cho ông vật lộn để phát âm mọi điều muốn nói.
“Xin hỏi, tôi có thể giúp được gì cho ngài không ạ?”
Ông cuống quýt cố gắng hơn nữa. Nhưng vô ích.
Đừng làm thế với tôi. Xin đừng làm thế với tôi.
“Ngài còn ở đó không ạ?”
Hãy cho tôi nói một câu thôi. Xin hãy để tôi cảnh báo họ. Tôi chỉ xin có thế thôi.
“Thưa ngài, tôi phải gác máy đây ạ.”
Không, đừng, đừng. Cho tôi một chút thời gian thôi.
“Tạm biệt.”
Chết tiệt!
Một đợt sóng giận dữ khổng lồ dâng lên trong ông khiến ông suýt ngất xỉu. Ông bắt đầu tấn công chiếc điện thoại bằng ống nghe trong tay với một sức lực mà chính ông cũng không ngờ đôi tay già nua của mình có được. Ông đập thành những vết nứt to tướng trên lớp vỏ nhựa, mảnh vỡ bay tứ tung. Rồi ông giật mạnh ống nghe, lôi tuột mớ dây nhợ ra ngoài, nhưng vẫn chưa dừng lại. Cả chiếc ống nghe cuối cùng đã vỡ vụn trong tay ông, rơi lả tả xuống sàn. Nhưng ông Himmelfarb vẫn tiếp tục đập phá chiếc điện thoại bằng hai nắm tay không. Ông lao vai mình vào chiếc đĩa kim loại ở mặt trước, khiến tiền xu tràn ra và rơi xuống sàn tạo ra tiếng leng keng ầm ĩ. Đã quá muộn rồi , ông nghĩ, hai tay ôm đầu. Hai cánh tay ông đau nhói khi ông lao cả cơ thể vào chiếc điện thoại. Nó rời ra khỏi tường, treo lủng lẳng trong một giây rồi rơi xuống sàn nhà đánh xoảng. Ông Himmelfarb đứng cạnh nó trong yên lặng cho đến khi các điều dưỡng viên hớt hải chạy đến. Nhưng khi đó, ông vẫn chỉ nghĩ được một điều:
Họ không được trở lại.
Họ phải tránh xa nơi đó.
Không bao giờ được quay trở lại.