Antoine đưa tay lên cổ, mò mẫm tìm chốt khóa mũ bảo hiểm.
“Chờ chút, để tôi giúp cháu.” Coleman bước đến giúp cậu tháo chốt. “Được rồi đấy.”
Antoine tháo chiếc mũ khỏi đầu và hít một hơi.
Trong không khí có thứ gì đó. Cậu nhận ra điều đó ngay khi bước từ phòng giảm áp vào mô-đun đầu tiên trong căn cứ cũ kĩ. Không khí có vẻ cũ, ngột ngạt, như thể nó đã từ bỏ ý nghĩ rằng sẽ có ngày có người hít thở nó. Ở nơi này chẳng có gì chuyển động ngoại trừ thời gian. Những bức tường màu trắng ngà lắp đầy các loại thiết bị và đồ điện rõ ràng đã có từ những năm bảy mươi. Các màn hình lớn với những màu sắc và hình hiển thị khác nhau nhấp nháy trong khi họ di chuyển vào mô-đun hai. Các máy tính lỗi thời đang phát ra những mã số và dòng thông tin mà không một ai hiểu được nội dung.
Ngoài những thứ đó ra là sự im lặng đến nhức nhối, chỉ có tiếng ủng của họ nện trên nền nhà bằng thép, vang vọng lại khắp nơi theo từng bước chân. Antoine cảm thấy như mình đang ở trong một nhà thờ, và cậu phải tỏ lòng thành kính và nghiêm trang. Nhưng rồi dòng suy nghĩ của cậu bị một suy nghĩ khác, đen tối hơn mà cậu không thể giải thích, cắt ngang.
Chúa không có ở đây. Chúa thậm chí còn không hề biết về nơi này.
---❊ ❖ ❊---
“Tôi đề nghị chúng ta chia thành hai nhóm,” Caitlin nói với Nadolski. “Tôi sẽ phụ trách bọn trẻ. Anh đưa Wilson, Stanton, và Coleman vào phòng thông tin liên lạc và báo cáo về Trái Đất.”
Nadolski bực dọc gật đầu. Thực ra ai mới là người chỉ huy ở đây chứ? Là ông cơ mà? Ông mới là chỉ huy của cả nhiệm vụ này. Vậy mà giờ thì Caitlin, chỉ một phi công bình thường, lại đang nắm dây cương.
“Được,” ông trả lời cộc lốc, ra hiệu cho ba người kia đi theo mình. Caitlin đưa máy quay cho Antoine và bảo cậu ghi lại đoạn đường vào mô-đun hai cho khán giả ở Trái Đất xem. Cậu bước về cuối nhóm và thu hình tất cả vào ống kính trong khi tiến về phía trước. Caitlin dừng ở cánh cửa đầu tiên và nói thẳng vào camera:
“Một số trong các bạn có thể ngạc nhiên khi thấy DARLAH có vẻ có trọng lực bình thường. Vì căn cứ được xây dựng để ở lâu dài, một trong những vấn đề khiến NASA đau đầu là làm thế nào để tạo ra trọng lực nhân tạo. Việc này rất quan trọng để giảm thiểu nguy cơ teo cơ của các phi hành gia sẽ ở đây trong thời gian dài dưới điều kiện không trọng lực. Một hệ thống chuyên biệt đã được lắp đặt dưới sàn nhà trong phòng máy tính để tạo ra một trường trọng lực cục bộ bằng 0,97G, gần bằng trọng lực 1G của Trái Đất.”
Lúc này hai nhóm đã tiến vào sâu trong căn cứ trong bộ đồ du hành vũ trụ cồng kềnh của mình. Nếu việc di chuyển trên bề mặt Mặt Trăng có vẻ khó khăn vào lúc đầu, thì lúc này việc phải làm quen lại với trọng lực bình thường lại càng khó hơn. Họ phải đi chậm rãi, tuần tự từng bước, tập trung để giữ thăng bằng. Đối với khán giả xem truyền hình thì chắc hẳn trông họ rất nực cười. Nhưng đối với Mia, Antoine, Midori và các phi hành gia khác, việc này chẳng buồn cười chút nào.
---❊ ❖ ❊---
Bầu không khí như đặc lại vì căng thẳng và hồi hộp khi họ bước vòng quanh căn cứ lần đầu tiên. Cứ cách khoảng mười thước họ lại gặp một cánh cửa thép mới mà Caitlin phải kích hoạt bằng cách ấn nút trên bức tường cạnh đó. Họ có thể nghe thấy tiếng bơm thủy lực mở cánh cửa ra với một tiếng xììììì dài, cho phép họ bước sang căn phòng tiếp theo. Ở trong căn cứ, họ có thể nghe thấy mọi âm thanh rất rõ ràng. Caitlin giải thích rằng đó là vì sóng âm thanh có không khí để truyền qua và đến được tai họ.
“Ở đây thứ gì cũng cổ lỗ sĩ hết,” Midori phàn nàn trong khi bước tới cửa an ninh tiếp theo. “Làm sao các cô đảm bảo mọi thứ vẫn hoạt động được ạ?” Cô dừng lại trước một cánh cửa và nhìn nó với vẻ hoài nghi, rồi tranh Caitlin ấn nút kích hoạt. Cánh cửa trượt mở ra. Xììììì .
“Đồ cũ không có nghĩa là đồ bỏ,” Caitlin vui vẻ phản bác lại. “Hãy nghĩ theo hướng này. Năm nay cô ba mươi hai. So với các cháu cô già rồi đúng không? Nhưng thế không có nghĩa là cô không làm việc tốt bằng các cháu, đúng không?”
“Nhưng đấy là chuyện khác,” Midori phản đối, hít vào một hơi. “Trong này có mùi lạ quá. Có vẻ bí.”
“Rồi sẽ khá hơn, Midori ạ,” Caitlin đáp, đi tiếp tới cánh cửa dẫn vào mô-đun ba. “Cứ đợi đến khi dòng không khí hoàn toàn mới bắt đầu lưu thông trong các mô-đun. Lúc đó sẽ dễ chịu hơn.”
“Nhưng các cô đã kiểm tra căn cứ này rồi, đúng không?” Antoine hỏi. Lời nói của Midori đã khiến cậu lo lắng lây, và lúc này lần đầu tiên trên cả chuyến đi cậu cảm thấy không được yên tâm cho lắm. “Ý cháu là, các cô tin chắc mọi thứ ở đây đều hoạt động theo yêu cầu chứ ạ?”
“Chắc chắn rồi,” Caitlin nhẹ nhàng đáp. “Mọi thứ ở đây đều có vẻ cũ, mà cô nghĩ đúng là cũ thật. Nhưng chúng vẫn ở tình trạng tốt nhất. Từng mảnh thiết bị, từng con chíp ở đây đều đã được kiểm tra trước khi được gửi ra ngoài không gian. Và sau khi lắp ráp nó lại được kiểm định lần nữa. Vì vậy cô có thể đảm bảo với cháu là nó hoạt động tốt. Hơn nữa, chẳng nhẽ các cháu nghĩ NASA lại dám mạo hiểm gửi các cháu lên đây nếu họ nghi ngờ về thiết bị của mình chắc? Đấy là chưa kể việc gửi theo camera và phát truyền hình trực tiếp cho cả thế giới xem?” Giọng nói của cô run run.
“Cháu không biết nữa,” Antoine lí nhí đáp.
“Dù sao thì các cháu phải nhớ là dàn máy tính từ năm 1969 đã dùng được cho việc đổ bộ lên Mặt Trăng rồi. Và theo cô biết thì đấy không phải việc đồ rởm làm được đâu nhé.”
Câu chuyện dừng ở đó. Nhưng tất cả đều đang có chung một suy nghĩ: Họ có thể chắc chắn đến mức nào? Họ đi nốt đoạn đường ngắn dẫn tới hành lang cánh B mà không nói thêm gì nữa.
Mia và Midori được xếp chung một phòng. Antoine được phân phòng bên cạnh. Tất cả những người khác đều ở cuối hành lang. Đầu tiên là phòng Caitlin, rồi đến phòng của Wilson và Stanton, rồi đến phòng đơn của người điều hành căn cứ là Coleman, và ở tận cuối hành lang là phòng của Nadolski. Ở đầu bên kia của hành lang là một căn bếp lớn và xa hơn nữa là một nhà tắm rộng rãi chung cho cả căn cứ.
Caitlin dẫn họ đi tham quan một vòng. Căn bếp có một vẻ pha trộn kì lạ giữa cổ xưa và tương lai. Như thể có ai đó đã cố gắng bắt chước một bộ phim khoa học viễn tưởng của những năm bảy mươi, mọi thứ đều có màu trắng ngà với các góc tròn. Hai cánh cửa lớn dọc theo một bức tường có gắn nhãn chạn và kho đông lạnh . Caitlin dừng lại trước hai cánh cửa.
“Đây là nguồn lương thực của chúng ta,” cô nói và toét miệng cười. Ba thiếu niên quay sang nhìn nhau.
“Ý cô là sao?” Midori kêu lên. “Cô muốn nói chúng ta sẽ ăn những thứ có trong đó ạ?” Cô mở cánh cửa dán nhãn chạn và nhìn vào. Các ngăn giá xếp đầy đồ hộp, tất cả đều đóng logo của NASA và DARLAH. “Nhưng những thứ này đều từ những năm bảy mươi rồi, đúng không ạ?”
“Tất nhiên,” Caitlin đáp. “Đó là đồ ăn được sấy đông. Có thể nói là hạn sử dụng mãi mãi.”
“Cháu còn lâu mới ăn mấy thứ đó. Quên đi!” Midori tức giận đến xì khói.
“Tùy cháu thôi. Nhưng đừng quên chúng ta sẽ ở đây suốt một trăm bảy mươi hai giờ đồng hồ liền. Tức là một tuần đấy, Midori.”
Midori có vẻ dần hiểu ra vấn đề. Cô nghĩ ngợi một lát rồi nói thêm: “Chậc, thế thì hi vọng các cô có cả thức ăn châu Á trong này, chứ không phải chỉ có mỗi một đống hăm-bơ-gơ.”
“Nếu cháu muốn nói đến sushi thì cô e là không có đâu, nhưng có thể có mì gói đấy.” Caitlin nhìn đồng hồ. “Được rồi, bây giờ là năm giờ. Tham quan thế là đủ rồi. Cô đề nghị các cháu về phòng để thay đồ ra và nghỉ ngơi vài tiếng. Đến bảy giờ cô sẽ quay lại và chúng ta sẽ đến phòng khách ở cánh A gặp những người khác rồi đi ăn tối. Thế được không?”
Không ai tỏ ý phản đối; họ đều đã mong được cởi bộ đồ cồng kềnh ra từ lâu. Chỉ đến tận lúc này họ mới nhận ra mình mệt mỏi đến mức nào. Antoine thất thểu bước dọc hành lang theo sau Midori và Mia về phòng. Cả ba dừng lại trước cửa phòng của hai cô gái, và Antoine cứ đứng lì ở đó.
“Antoine?” Mia nhìn cậu vẻ dò hỏi.
Cậu nhìn hai cô gái với vẻ thiểu não. “Nếu có ai trong hai cậu muốn có một phòng riêng trên Mặt Trăng thì cứ việc lấy phòng của tớ. Nó có vẻ chẳng... giống như tớ tưởng tượng lắm.”
Mia nhận ra ngụ ý trong lời nói của Antoine và nhe răng cười đáp lại. “Được rồi, Antoine. Đến đây nào, hai cô gái này sẽ chăm sóc anh chàng người Pháp bé nhỏ tội nghiệp sợ phải ở một mình nhé.”
Antoine vung hai tay lên và nhìn quanh như thể muốn nói Có phải tại tớ đâu? rồi theo họ vào trong phòng.
Caitlin đứng lại ở cửa phòng giây lát. “Các cháu có hai tiếng kể từ bây giờ, rõ chưa? Cô khuyên các cháu nên tranh thủ mà ngủ, đừng buôn chuyện. Mà Antoine này?”
“Dạ?”
“Cấm giở trò với hai bạn gái, rõ chưa?”
“ Oui 14 , thưa sếp.” Cậu trịnh trọng đáp, và sau một nụ cười tinh quái, Caitlin rời đi.
Căn phòng trông như một ngăn tủ nhỏ với một ô cửa sổ tròn con con và một cái tủ còn nhỏ hơn nữa. Hai chiếc giường được gắn cố định chồng lên nhau trên tường, nhưng không có bàn, không có ghế, không có thứ gì khác.
“Họ định cho tớ ngủ ở đâu đây?” Antoine hỏi.
“Cậu là người đòi ở chung phòng với bọn tớ cơ mà?” Mia đáp.
“Ý cậu là tớ phải ngủ trên sàn nhà sao?”
Hai cô gái quay sang nhìn nhau.
“Cậu muốn ngủ ở đâu cũng được,” Mia cố gắng đáp bằng giọng dửng dưng.
Nhưng thực ra cô không hề dửng dưng chút nào. Cô đã biết rõ cậu sẽ chọn ngủ ở đâu. Cô đã nhận ra dấu hiệu đó trong vài ngày vừa qua, việc cậu luôn ở bên cạnh cô, luôn lẽo đẽo theo sau từng cử động của cô.
“Thế thì tớ ngủ cạnh cậu được không, Mia?” Antoine hỏi.
“Được thôi.” Cô biết ngay là mình đã trả lời quá hấp tấp vì Midori đã đảo tròn mắt rồi mới quay đi cởi bỏ bộ đồ du hành cồng kềnh của mình.
Mia nhận giường dưới. Cô cởi bộ đồ du hành và để nguyên đồ lót cùng chiếc áo phông bên ngoài rồi chui vào chăn. Antoine lập tức theo sau. Cậu cẩn thận nằm ở tận mép giường. Midori trèo lên nằm ở giường trên.
Nhưng không ai ngủ được.
Họ cũng chẳng muốn cố ngủ. Thế thì còn có nghĩa lí gì cơ chứ? Lên tận Mặt Trăng mà việc đầu tiên mình làm lại là ngủ ư? Đó hẳn sẽ là ý kiến ngu ngốc nhất trong lịch sử.
Thế là thay vì ngủ, ba con người trẻ tuổi nhìn chong chong ra ngoài ô cửa sổ tròn được rọi trong ánh sáng mạnh và trong vắt phản chiếu lên bề mặt Mặt Trăng bên ngoài. Trông nó mang một vẻ hoang vu đến khó tin. Và cũng thật lộng lẫy. Không ai trong ba người biết phải nói gì. Họ cứ nằm đó lặng người ngắm nhìn cảnh tượng trước mắt.
---❊ ❖ ❊---
Khi thời gian cứ thế trôi qua mà không ai nói gì, cảnh tượng dường như cũng từ từ thay đổi. Một bức màn đầy vẻ đe dọa không hiểu từ đâu đã phủ lên không gian tĩnh lặng đẹp đẽ ngoài kia. Cả ba người đều nhận ra điều đó dù không ai lên tiếng.
Có lẽ chính vì thế mà đột nhiên, Midori cất lời: “Các cậu đã nghe chuyện về Kuchisake-onna chưa?”
“Chuyện về gì?” Antoine hỏi lại.
“Kuchisake-onna, người phụ nữ bị rạch mặt ấy.”
“Chưa. Sao cậu lại hỏi thế?”
“Bỗng nhiên tớ nghĩ đến thôi,” Midori nói từ chiếc giường bên trên. “Cô ta sống ở Hokkaido hồi thế kỉ mười hai và được gả cho một samurai quyền thế. Các cậu biết samurai là gì rồi chứ hả?”
“Tất nhiên,” Mia nhanh nhảu đáp, rồi lại nhận ra rằng có lẽ mình không hiểu rõ lắm.
“Một kiểu lính đánh thuê cho quý tộc, đúng không?” Antoine cố gắng giải thích.
“Đại loại vậy. Nói chung là: Cô vợ của samurai này xinh đẹp lạ thường, một trong những người đẹp nhất cả nước. Cô ta còn là một người cực kì kiêu ngạo và lẳng lơ nữa chứ.”
“Chưa gì tớ đã thấy không ưa cô nàng này rồi đấy,” Antoine bình luận.
“Ừ, công nhận. Vị samurai kia cũng cảm thấy như vậy, vì ông ta phát hiện ra việc cô ta ngoại tình. Và để trả thù ông ta đã rạch miệng cô ta đến tận mang tai, vừa rạch vừa hét lên ‘Để xem giờ còn ai thấy ngươi đẹp nữa không?’”
Midori để một vài giây trôi qua rồi mới kể tiếp. “Truyền thuyết kể rằng đến tận bây giờ cô ta vẫn còn lang thang khắp Nhật Bản vào ban đêm. Và khuôn mặt cô ta bị bịt trong một lớp khẩu trang.”
“Tớ tưởng ở Nhật hầu như ai cũng đeo khẩu trang khi ra đường mà.” Mia nói.
“Thế mới là vấn đề,” Midori đáp. “Rất nhiều người Nhật đeo khẩu trang khi ở chỗ đông người để tránh lây truyền vi khuẩn hoặc bị lây cảm cúm hay đại loại thế. Chính vì vậy nên rất khó phát hiện ra cô ta. Nhưng cậu sẽ nhận ra cô ta khi cô ta chặn cậu lại hỏi, ‘ Watashi kirei? ’”
Mia định hỏi câu đó có nghĩa là gì, nhưng Midori đã nói trước. “Trông tôi có đẹp không?”
“Eo ôi!” Antoine kêu lên.
“Và nếu cậu trả lời có, cô ta sẽ tháo khẩu trang ra, để lộ khuôn mặt bị rạch của mình, rồi hỏi: ‘Giờ thì sao?’”
Mia thò đầu ra ngoài mép giường và nhìn lên cô bạn người Nhật ở giường trên. “Midori, sao cậu lại kể bọn tớ nghe chuyện này? Ghê quá đi.”
Nhưng Midori làm bộ như không nghe thấy. “Nếu cậu trả lời không,” cô kể tiếp, “cô ta sẽ giết cậu. Còn nếu cậu vẫn trả lời có, cô ta sẽ theo cậu về nhà và giết cậu trước cửa nhà.”
“Nói cách khác là kiểu gì thì cô ta cũng sẽ giết mình,” Antoine kết luận.
“Không,” Midori đáp. “Có hai cách để thoát thân. Thứ nhất là trả lời rằng cô ta trông bình thường. Như thế sẽ khiến cô ta dừng lại suy nghĩ và cho cậu đủ thời gian chạy thoát.”
“Còn cách kia?” Mia hỏi.
“Cách còn lại là bưng một hũ sáp thơm bôi tóc lên trước mặt cô ta. Nó sẽ khiến cô ta nhớ lại mùi của vị thầy lang từng cứu cô ta.”
“Đây là câu chuyện nhảm nhí nhất mình từng nghe,” Antoine nhận xét.
“Cậu nghĩ thế nào không quan trọng, nhưng nghe này: Vào mùa hè năm 1979, có ba thiếu niên ở Hokkaido đột nhiên mất tích không rõ lí do. Họ gồm ba người mười bốn, mười lăm và mười sáu tuổi, trên đường về nhà sau buổi tập bóng đá. Người ta không bao giờ tìm thấy họ nữa, dù cảnh sát đã lùng sục khu vực đó nhiều tuần liền, dùng cả chó và lực lượng dân phòng. Tớ từng nói với các cậu chú tớ làm việc cho cảnh sát Tokyo ở khu vực Shibuya rồi phải không? Mùa đông năm ngoái tớ có nói chuyện với chú ấy về vụ này và chú ấy đã biết về nó rồi. Vì thế tớ nhờ chú ấy tra trong hồ sơ, và các cậu có biết chú ấy tìm thấy gì không?”
Mặt Antoine bắt đầu tái dần đi. Đột nhiên đây không còn là câu chuyện nhảm nhí nhất cậu từng nghe nữa. Mia có vẻ lo lắng. Tuy nhiên điều khiến cô lo lắng nhất không phải là chính câu chuyện, mà là việc cậu có vẻ khiếp hãi thấy rõ.
Midori chầm chậm ngồi dậy và trèo xuống chỗ hai người kia, đứng trên sàn nhà trước mặt họ.
“Chú ấy tìm thấy bản báo cáo về một tai nạn xe hơi liên quan đến một phụ nữ. Chiếc xe được phát hiện lúc đêm khuya. Hôm đó trời mưa như trút và chiếc xe may lắm mới được phát hiện. Nó đã bị lật nghiêng và nằm chổng kềnh trên đường, và khi viên cảnh sát kéo người phụ nữ trong xe ra, anh ta phát hiện miệng cô ta bị rạch đến tận mang tai. Theo bản báo cáo anh ta viết ở hiện trường, cô ta vẫn còn tỉnh nhưng không chịu trả lời câu hỏi khi anh hỏi tên cô ta là gì. Cô ta chỉ lặp đi lặp lại mỗi một câu ‘Trông tôi có đẹp không?’. Viên cảnh sát chạy đến xe tuần tra để gọi cấp cứu, nhưng khi anh ta quay lại thì cô ta đã biến mất. Sau đấy chính viên cảnh sát đó bị phát hiện đã chết trong cùng đêm hôm đó, ngay bên ngoài cửa vào tòa chung cư nơi anh ta ở.”
“Thế vụ tai nạn xảy ra ở đâu?” Antoine hỏi.
Midori nhìn cậu chằm chằm. “Cậu nghĩ là ở đâu nào?”
“Hokkaido?” Cậu rùng mình.
“Chính xác. Hokkaido . Chỉ cách chỗ người ta nhìn thấy mấy thiếu niên kia lần cuối vài trăm bước.”
Midori đứng tại chỗ chìm trong suy nghĩ, như thể chính cô cũng không rõ vì sao mình kể câu chuyện này. “Dù sao thì,” đột nhiên cô trở lại với tâm trạng bình thường của mình, “tớ chỉ tự nhiên nghĩ đến thôi. Tớ đi vệ sinh đây. Đừng có sản xuất em bé trong khi tớ đi vắng đấy nghe chưa?”
Nói đoạn cô biến mất sau cánh cửa.
Mia và Antoine nhìn theo, hoàn toàn không biết phải nói gì. Không ai trong hai người cử động. Mia nhận ra Antoine đang nằm sát mép giường và chỉ chực rơi xuống sàn nhà.
“Cậu không cần phải nằm tận ngoài đó đâu,” cô nói. “Vẫn còn nhiều chỗ mà.”
Cậu quay sang nhìn cô. “Cậu chắc không?”
“Ừm.”
Cậu nhích lại gần hơn và Mia cảm thấy bàn chân của cậu chạm vào chân mình. Theo phản xạ cô giật mình rụt chân lại, nhưng lập tức thấy hối hận và chầm chậm đưa chân trở lại cạnh chân cậu.
“Cậu biết không... tớ, ừm, ờ, kể từ khi, ờ...” Antoine ấp úng tìm từ, nhưng đột nhiên toàn bộ ngôn từ cứ như thể đều đã bị bỏ lại ở một căn phòng khác.
“Cậu không cần nói gì cả,” Mia đáp, quàng tay ôm quanh cậu. Và rồi cậu hôn cô, không phải tại nơi cô từng nghĩ nó sẽ xảy ra, mà ở cách đó gần 238.000 dặm.