Đại úy Nadolski mở cửa tàu sau khi đã kiểm tra từng bộ trang phục của phi hành đoàn và bảo đảm mũ bảo hiểm của họ đã khóa chặt. Coleman cho thoát khí ra khỏi Demeter rồi Nadolski vặn van khóa cửa lớn và mở cửa ra chân không.
“Hi vọng Mặt Trăng cho chúng ta thấy bộ mặt thân thiện nhất của mình,” là điều cuối cùng Nadolski nói trước khi quay lưng lại và leo ngược ra khỏi cửa tàu.
Caitlin là người ra tiếp theo. Cô chật vật một lát mới cảm nhận được các bậc thang nhưng cuối cùng cô cũng đặt được chân lên và leo ra ngoài. Ngay khi chân chạm đất, cô hướng máy quay về phía cửa tàu đang mở để quay lại mọi diễn biến.
Và từng người một lần lượt trèo ra khỏi tàu và xuống bề mặt Mặt Trăng.
Midori khá vất vả tìm chỗ đặt chân. Bộ trang phục quá cồng kềnh khiến cử động của cô gặp khó khăn. Cô phải liên tục ra lệnh cho hai chân để chúng chịu cử động, và ngay cả khi đó chúng cũng không hoàn toàn nghe lời cô. Đột nhiên cô cảm thấy một bàn tay thận trọng đặt chân trái của cô lên thang và cô nghe tiếng Nadolski nói “tôi đỡ được cháu rồi” qua máy bộ đàm. Một phút sau hai chân cô đã đứng trên mặt đất phủ bụi xám.
Điều đầu tiên ập đến với cô là sự yên lặng. Một bầu không khí tĩnh lặng choáng ngợp, đầy chết chóc, như thể âm thanh duy nhất còn lại trong vũ trụ chính là tiếng thở bị kìm nén của cô. Nó khiến cô có cảm giác mình vừa bước ra khỏi vũ trụ.
Midori tự hỏi liệu ngay lúc này bố mẹ cô có đang theo dõi họ hay không. Có lẽ là có. Sau khi phóng tên lửa họ đã được đưa về Houston cùng bố mẹ của Mia và Antoine, và bây giờ chắc hẳn họ đang ngồi đâu đó trong nhà khách của Trung tâm Vũ trụ Johnson và tự hào khoe rằng người trên truyền hình chính là con gái họ. Không khó tưởng tượng mẹ cô hẳn là luôn luôn lo lắng khi nghĩ đến mọi chuyện có thể xảy ra trên này.
Trước khi trèo ra Mia đã cân nhắc chuyện nói một vài lời được lựa chọn kĩ lưỡng. Cô đã mất nhiều thời gian vắt óc nghĩ một câu nào đó có vẻ phù hợp với dịp này, một câu nói lịch sử. Nhưng cô không thể nghĩ ra được điều gì. Không một từ nào. Và lúc này, đứng trên bề mặt Mặt Trăng, cố gắng điều hòa nhịp tim của mình và lấy lại phương hướng, cô đã hiểu vì sao. Lòng kính trọng mới hình thành của cô đối với Armstrong và Aldlrin càng tăng lên. Không một từ nào có thể diễn tả được vẻ đẹp và sự thê lương của nơi này. Nhưng họ đã làm được. Đặc biệt là Aldrin. Ông đã bước ra khỏi con tàu đổ bộ Mặt Trăng và báo về Trái Đất những từ đắt nhất: Tráng lệ. Vẻ hoang lương tráng lệ . 13
Antoine là người cuối cùng ra khỏi con tàu đổ bộ. Cậu là người dành nhiều thời gian nhất trong Phòng thí nghiệm Neutral Buoyancy ở Houston, và cậu bước ra khỏi con tàu như một phi hành gia chuyên nghiệp. Không do dự, không chút khó khăn; cậu ung dung bò ngược ra, tìm thấy chiếc thang, và dễ dàng bước xuống đất. Cậu nhìn quanh một vòng như thể để chắc chắn rằng mình đã đến đúng chỗ và giơ ngón cái ra hiệu với Nadolski. Họ đều đã ở đây, điểm đủ mặt đếm đủ tên, tất cả đã sẵn sàng.
Và đúng lúc đó một ý nghĩ chợt đến với Antoine, đột ngột không báo trước, nhưng rõ ràng như sấm dậy. Nó giống một chân lí được tuyên bố hơn là một phát hiện thông thường. Chúng ta không thuộc về nơi này. Không hề. Nhưng cậu ngậm chặt miệng và giữ suy nghĩ đó trong lòng.
Nadolski hướng dẫn họ cách di chuyển dễ dàng nhất trong trường trọng lực yếu của Mặt Trăng. “Cứ tưởng tượng các cháu đang ở dưới nước. Còn nhớ lúc huấn luyện trong bể không? Tốt. Cách dễ nhất là rướn người về phía trước một chút, nhưng đừng rướn quá. Nếu bị ngã trong bộ đồ du hành này, các cháu sẽ không tự đứng dậy được đâu. Và làm ơn đừng có nhảy lung tung nữa, Midori!”
Nadolski để họ tập vài phút trước khi ra dấu cho Aldrich Coleman.
“Được rồi. Mọi người đã tập trung đầy đủ rồi chứ. Vậy chúng ta về căn cứ nào,” Coleman nói.
Trước đó Mia không hề chú ý, nhưng sau khi Coleman dẫn họ rời khỏi chỗ con tàu đổ bộ, cô đột nhiên nhận ra một tòa kiến trúc lớn cách họ vài trăm bước.
Coleman nhận thấy Mia đang nhìn không chớp. “Đúng vậy, đây chính là DARLAH 2,” ông nói. “Có đẹp không nào?”
Cô nhún vai, đưa mắt dò xét tòa nhà màu trắng. Thật khó miêu tả trông nó giống thứ gì. Có lẽ là một container chở hàng màu trắng, thuôn dài, lớn quá khổ chăng? “Không biết gọi thế là ‘đẹp’ có đúng không nữa,” cô đáp.
“Ồ, cứ đợi mà xem. Rồi cháu sẽ thấy nó đẹp thôi. Một khi cháu đã ở đây vài ngày rồi ấy. Hơn nữa, tôi bảo đảm ở trong đó tốt hơn sa mạc ngoài này nhiều.”
“Thế đã có chuyện gì với cái đầu tiên ạ?”
“Ý cháu là sao?” Coleman hỏi.
“Ý cháu là, nếu căn cứ này tên là DARLAH 2... thế thì DARLAH 1 đâu ạ?”
Mặt Coleman thoáng sầm lại, ông ngập ngừng giây lát rồi đáp bằng giọng nghiêm nghị. “Chuyện đó chúng ta sẽ nói sau.” Ông chỉ nói có vậy rồi quay mặt hướng về phía những người còn lại: “Khẩn trương lên nào. Chúng ta phải vào trong trước khi mặt trời chiếu quá gắt.”
“Mọi người chú ý,” Mia nghe tiếng Caitlin qua bộ đàm, nói với những người đang xem truyền hình trực tiếp từ Trái Đất, “các bạn đã sẵn sàng cho tiết lộ lớn chưa? Như các bạn có thể thấy, chúng tôi đã đến nơi an toàn, và đang trên đường tới căn cứ DARLAH 2. Đây là căn cứ cố định tại Mặt Trăng nơi chúng tôi sẽ ở trong một trăm bảy mươi hai giờ tới.”
Trong khi họ chậm chạp tiến về căn cứ, Caitlin kể lại một đoạn lịch sử đã được giữ bí mật với cả thế giới trong suốt nửa thế kỉ.
“DARLAH 2 gồm có bốn mô-đun được xây dựng và vận chuyển đến Mặt Trăng bằng tàu vũ trụ của NASA. Bốn đội phi hành gia, mỗi đội gồm bốn người, cùng sự giúp đỡ của các xe thám hiểm Mặt Trăng và người máy cao cấp, đã lắp đặt căn cứ này trong nhiều năm trong khoảng giữa thập kỉ bảy mươi trong một chương trình tên là Chiến dịch DP7. Sự tồn tại của chiến dịch này được giữ bí mật với công chúng, vì cả NASA lẫn chính phủ Mỹ đều lo ngại rằng phía Xô Viết sẽ không tin lí do xây dựng một căn cứ cố định trên Mặt Trăng hoàn toàn không liên quan đến việc đưa vũ khí vào vũ trụ. Căn cứ này được xây dựng với dự định làm cơ sở nghiên cứu để khai thác khoáng sản hiếm và làm trạm chung chuyển cho các chuyến bay tới Sao Hỏa trong tương lai, mà vào thời điểm đó NASA cho rằng sẽ thực hiện được vào cuối thập kỉ chín mươi. Các phi hành gia của chiến dịch DP7 tiến hành công việc tại trạm vũ trụ Skylab, trạm vũ trụ này đã chính thức bị phế bỏ vào năm 1974. Vào năm 1979, khi công việc trên Mặt Trăng hoàn thành, Skylab được cố ý cho bay vào bầu khí quyển của Trái Đất, và bốc cháy trên bầu trời Australia. Điều thú vị là các phi hành gia chưa bao giờ bước vào DARLAH 2 trong suốt thời gian lắp đặt nó trên Mặt Trăng. Các mô-đun của căn cứ được khóa chặt để không gây ô nhiễm môi trường xung quanh. Các phi hành gia phải sống trong các khoang chật chội trên con tàu đổ bộ của họ khi ở trên Mặt Trăng, làm việc theo ca. Không may là NASA không bao giờ cử người lên Sao Hỏa, vì vậy căn cứ này cứ nằm đắp chiếu ở đó suốt bấy lâu. Một góc bảo tàng được giấu rất kĩ. Cho đến nay.”
“Đến nay ạ?” Mia hỏi.
“Đúng vậy, NASA, cùng các cơ quan vũ trụ của Nhật Bản, châu Âu, và Nga, đang lên kế hoạch bắt đầu sử dụng nơi này.”
“Vậy là rốt cuộc chúng ta cũng sẽ lên Sao Hỏa ạ?”
“Trong thời gian gần thì chưa đâu. Chúng ta sẽ phải ở trên tàu vũ trụ sáu tháng mới tới được đó. Cộng thêm sáu tháng quay trở về nữa. Kế hoạch là sử dụng DARLAH làm căn cứ cho việc tìm kiếm tantali 73, một chất kim loại chuyển tiếp rất hiếm được sử dụng trong máy tính và phát triển công nghệ siêu nhỏ. Nhưng nói về chuyện này như vậy là đủ rồi, điều quan trọng hơn ở đây là: các cháu .” Caitlin chỉ vào Midori, Mia, và Antoine. “Ba bạn trẻ này sẽ là những người đầu tiên bước vào căn cứ kể từ khi nó rời khỏi Trái Đất dưới dạng các bộ phận riêng rẽ.”
Cô ấy có chất giọng thật hoàn hảo cho tivi , Mia nghĩ. Như thể cô ấy sinh ra cho công việc này vậy.
“DARLAH 2 có diện tích hai mươi ba nghìn tám trăm linh tám mét vuông, chia thành bốn mô-đun và một máy cấp ôxy. Căn cứ có một phòng khách, một phòng thông tin liên lạc, sáu phòng ngủ, một phòng tắm, một nhà kho, và một phòng y tế. Nó còn có một nhà kính nối với máy cấp ôxy, không chỉ đóng vai trò sản xuất ôxy mà còn cung cấp đủ thực phẩm cho các phi hành gia trong thời gian dài. Theo kế hoạch DARLAH 2 có thể làm nơi ở cho các phi hành gia tiến hành nghiên cứu trên Mặt Trăng trong tương lai và cho các phi hành gia sẽ đi tiếp đến Sao Hỏa.”
Caitlin quay camera xuống đất và nói tiếp. “Chúng ta đang có mặt tại một thời điểm lịch sử, có lẽ là thời điểm quan trọng nhất trong lịch sử. Chính tại điểm này vào 20 tháng Bảy năm 1969, tàu Apollo 11 đã hạ cánh. Dấu giày của phi hành gia Buzz Aldrin vẫn còn in rõ trên mặt đất.”
Tất cả sửng sốt nhìn dấu giày không chớp. “NASA đã quyết định lưu giữ dấu chân của Aldrin như một tượng đài chính thức đánh dấu lần đổ bộ lên Mặt Trăng đầu tiên.” Caitlin đặt một chiếc lồng thủy tinh trong suốt lên trên dấu chân để ngăn các phi hành gia khác phá hỏng dấu chân lịch sử này. “Vì ngoài này là môi trường chân không, nên dấu chân này sẽ được giữ nguyên trong hàng triệu năm sắp tới. Cũng như dấu chân của chính chúng ta sẽ còn lại đây mãi mãi, vì sẽ không có mưa, tuyết hay gió xóa mất chúng.”
Cách dấu chân vài mét, Midori tìm thấy một thứ mà ban đầu cô nghĩ là rác. Vài vật thể màu trắng nằm vạ vật trong lớp bụi. Cô bước vài bước khỏi nhóm để kiểm tra cho rõ. Có vẻ chúng là các bộ phận của một con tàu đổ bộ, trông cũng tương tự như con tàu của họ. Có lẽ chúng bị bỏ lại trong lần đổ bộ đầu tiên.
“Cô Caitlin!” Cô gọi qua micro gắn trong mũ bảo hiểm. “Cô tới đây một lát được không?”
Caitlin nhanh chóng chạy tới cùng chiếc máy quay trong tay. “Ồ, nhìn này. Đây là khung gầm của tàu đổ bộ Eagle . Họ đã bỏ nó lại đây để giảm bớt sức nặng của tàu. Armstrong và Aldrin ấy mà. Những thứ còn lại quanh cháu cũng vậy. Họ đã bỏ lại mọi thứ họ không cần đến nữa.”
Trong đống đồ bị bỏ lại có hai vật khiến Midori chú ý: một đôi ủng du hành. “Còn cái này thì sao ạ?” Cô hỏi.
Caitlin bước tới gần hơn và chiếu sát camera vào chúng. “Đúng rồi. Đây chính là đôi ủng của Buzz Aldrin. Ông ấy cũng bỏ chúng lại.”
Midori nghi ngờ. “Ý cô là ông ấy trở lại Trái Đất chỉ với đôi tất thôi ư?”
“Ừm, thực ra ông ấy còn có một lớp ủng cách nhiệt bên trong nữa, nhưng... đúng vậy.”
“Có khi nào cả đôi ủng này cũng phải giữ lại đây mãi mãi không ạ?” Midori hỏi.
Caitlin ngẫm nghĩ. “Hừm, cô không biết nữa. Houston? Kế hoạch cho đôi ủng của Aldrin là gì?”
Họ đợi một lúc mới có tiếng trả lời từ trạm điều khiển mặt đất.
“Không có... ừm... kế hoạch đặc biệt nào cho chúng cả,” tiếng trả lời vọng lại chập chờn qua loa bộ đàm.
“Tuyệt,” Midori đáp, nhặt lấy đôi ủng. “Vậy thì cháu sẽ lấy. Đôi ủng quá ngầu đi ấy, dù là hơi rộng một chút.” Cô quay lại và thận trọng bước về với cả nhóm.
“Houston, một trong mấy đứa trẻ vừa lấy đôi ủng của Aldrin khỏi bề mặt Mặt Trăng rồi!” Caitlin kêu lên.
Đầu dây bên kia yên lặng một hồi lâu. “Ờ,” cuối cùng tiếng đáp lại cũng vang lên, “Đáng lẽ ông ấy phải nghĩ kĩ hơn một chút trước khi vứt đồ đi. Cứ để cô bé giữ nó. Ít nhất là đến khi mọi người trở lại Trái Đất.”
“Rõ,” Caitlin đáp và bước trở lại chỗ Midori. Cô bé đang định cởi ngay đôi ủng của mình để đi đôi của Aldrin vào.
“Nếu là cô thì cô sẽ không làm vậy đâu,” Caitlin giữ tay Midori lại và bình tĩnh nói. “Cháu không có lớp ủng rời bên trong giống như của Aldrin. Tức là, lớp ủng cách nhiệt của cháu được gắn liền với đôi ủng chính. Còn bên trong nó cháu chỉ có mỗi đôi tất thôi. Nhiệt độ ngoài này đang là một trăm hai mươi độ C. Đó không phải là nhiệt độ có thể cởi đồ được đâu.”
“Cô nói đúng.” Midori dừng lại ngay lập tức. “Cám ơn cô.”
“Không có gì. Nào, chúng ta vào đi.”
Midori theo chân Caitlin tiến về căn cứ, cùng những người còn lại theo sau, Mia đi cuối cùng. Cô đã thấy Midori lấy đôi ủng du hành cũ và không khỏi cảm thấy một chút ghen tị. So với nó đôi ủng lính dù Ý của cô chẳng là gì – đây là một thứ hoàn toàn khác! Nhưng có lẽ ít nhất cô sẽ được giữ đôi ủng cô đang đi lúc này. Nó cũng không tệ lắm.
Cứ đi được bốn, năm bước Mia lại quay đầu nhìn những dấu chân cô để lại sau lưng. Lúc này những dấu chân đã xếp dày trên mặt đất. Hai mươi dấu chân nối đuôi nhau trong lớp bụi Mặt Trăng. Cô tự hỏi Aldrin đã cảm thấy thế nào khi ông trở thành một trong những người đầu tiên để lại dấu chân ở một nơi ngoài Trái Đất.
Mia chưa kịp nghĩ đến điều gì khác thì Caitlin đã dừng lại. Trước mắt họ hiện ra một tòa nhà khổng lồ màu xám trắng với logo của NASA gắn bên trên. Nó chỉ có một tầng, nhưng từ nơi cô đứng, cô thấy nó vươn ra mọi phía trong một búi những hành lang và chái nhà rộng tới vài trăm thước bề ngang. Một mái nhà hình vòm rất lớn cao dần về trung tâm, và phía sau nó cô thấy một máy cấp ôxy – cao ít nhất hai mươi mốt mét – bảo đảm rằng họ sẽ có nguồn dưỡng khí vô tận khi ở trong nhà.
Nadolski tiến lên dẫn đầu, nhập mã số lên bảng điều khiển ở bên trái cánh cửa lớn đánh số cửa số 1, rồi vặn một tay nắm lớn để mở cửa. Mia ngạc nhiên thấy cánh cửa chuyển động êm ru, không một tiếng ồn. Cô cứ đinh ninh mình sẽ nghe thấy tiếng cọt kẹt, rền rĩ. Đấy là tại môi trường chân không , Mia nghĩ. Vì thế nên mình mới không nghe thấy gì.
Sau đó là một suy nghĩ – cô không hiểu đến từ đâu – nhưng nó đã len được vào ý thức của cô và khiến cô khiếp sợ: Trong không gian, sẽ không ai nghe thấy tiếng mày hét.
Sau giây phút do dự, Mia bước theo Nadolski vào phòng giảm áp cùng những người khác. Ông đóng cửa sau lưng họ và cân bằng áp suất để họ có thể tháo mũ bảo hiểm và hít thở không khí trong căn cứ.
Họ đã vào trong DARLAH 2.