Stanton và Wilson theo Caitlin vào mô-đun bốn. Ánh đèn khẩn cấp đỏ chói tràn ngập các hành lang khiến toàn bộ nơi này có một vẻ gì không thật. Đối với Stanton đây giống như lời cảnh báo rằng đáng lẽ anh không bao giờ nên chấp thuận lời đề nghị của người đàn ông đã đến gặp anh vào cái ngày Thứ Bảy hai năm trước đó. Chẳng phải vợ anh đã ngăn cản anh đấy sao? Nhưng nói đi cũng phải nói lại, anh chưa từng tin rằng sẽ có người cho anh một cơ hội như vậy.
Peter D. Stanton đã làm phi hành gia ở NASA được sáu năm, nhưng anh chưa từng được vào không gian dù chỉ một giây. Không có nhiều chuyến du hành không gian cần đến một người có kiến thức cơ khí chuyên sâu như anh. Hai chuyến đi mà anh từng được chọn thì lại bị hủy vì cắt giảm ngân sách. Stanton đã tập hài lòng với việc làm một phi hành gia không bao giờ được vào vũ trụ, ngay cả khi tên anh có mặt trong danh sách phi hành đoàn của chuyến lên Mặt Trăng tiếp theo. Chuyến đi đó còn nhiều năm nữa mới đến, và Stanton đã ở NASA đủ lâu để hiểu rằng hi vọng cũng chẳng ích gì. Trong khoảng thời gian đó biết bao nhiêu việc có thể xảy ra.
Đối với nhiều người trong ngành không gian, làm một phi hành gia mà không hề rời khỏi Trái Đất cũng đồng nghĩa với thất bại. Nhưng Stanton không hề cảm thấy như vậy. Công đoạn chuẩn bị cho một chuyến vào vũ trụ mất rất nhiều thời gian. Các phi hành gia hầu như không thể gặp gia đình trong suốt một năm trước khi xuất phát; ròng rã nhiều tháng trời họ làm việc mười sáu tiếng mỗi ngày. Và lịch hoạt động như thế không còn phù hợp với cuộc sống riêng của Stanton nữa. Giờ anh đã có thể dành nhiều thời gian hơn bên ba đứa con gái lên tuổi ba, năm và bảy, vì khi sống ở quê nhà Minnesota, suốt phần lớn thời gian trong năm anh hầu như không bao giờ về nhà sau ba giờ chiều. Stanton đã tìm được sự cân bằng trong cuộc sống khiến anh thực sự hạnh phúc, và trong khi bước theo Caitlin sang mô-đun bốn, anh lại ước gì anh đã lựa chọn khác đi vào cái ngày định mệnh hai năm trước.
Hôm đó là một buổi sáng Thứ Bảy hết sức bình thường của tháng Tám. Stanton cùng vợ, Yvonne, đang đi mua đồ ở Walmart, với lũ trẻ rồng rắn theo sau, tìm cà chua đóng hộp. Khi người đàn ông mặc vest đen đó xuất hiện, Stanton biết ngay ông ta là ai. Anh không quen ông ta, nhưng đã nghe nhiều về ông và biết rằng ông có chức vụ cao trong bộ máy NASA. Nhưng Stanton không thể tưởng tượng ông ta đang làm gì ở tận cái miền thượng Trung Tây này, và lúc theo sau Caitlin tiến tới mô-đun bốn, anh chợt nhận ra rằng mình cũng không bao giờ hỏi.
Người đàn ông bắt tay Stanton rồi quay sang Yvonne nói, “Xin lỗi, nhưng chị không phiền nếu tôi mượn anh nhà ít phút chứ?” Rồi ông ta quay đi mà chẳng thèm đợi cô trả lời.
Không do dự, Stanton bước theo ông ta đi xuyên qua cửa hàng và ra đến bãi đậu xe. Trời đang mưa. Người đàn ông nọ lấy hai chiếc ô đen ra khỏi cặp. Ông mở một chiếc và đưa cho Stanton rồi mở nốt chiếc còn lại che trên đầu mình.
“Cho phép tôi nói ngay vào việc chính, anh Stanton. Chúng ta không có nhiều thời gian. Vấn đề là thế này: Chắc hẳn anh đã biết rằng NASA sắp cử người quay lại Mặt Trăng.”
Stanton gật đầu.
“Chúng tôi đã quyết định sẽ tiến hành chuyến đi này sớm. Năm phi hành gia sẽ tham gia, cùng ba thiếu niên.”
“ Thiếu niên ?” Stanton hỏi lại, nhìn ông ta bằng ánh mắt ngơ ngác.
“Đúng vậy. Theo kế hoạch họ sẽ được gửi lên vào tháng Bảy trong vòng hai năm kể từ giờ. Tên lửa sẽ là... – nói thế nào nhỉ? – một phiên bản nâng cấp của các tên lửa Sao Thổ V mà chương trình Apollo của những năm sáu mươi và bảy mươi hay sử dụng và...”
“Các ngài định dùng một quả tên lửa đời cũ sao?” Stanton sửng sốt.
Người đàn ông phẩy tay. “Không, không, không, nó là tên lửa mới tinh, chỉ trông giống Sao Thổ V thôi. Tàu điều khiển và tàu đổ bộ cũng vậy. Đều là phiên bản nâng cấp, mở rộng của các con tàu từ thời Apollo 11 . Anh biết đấy, truyền hình rất thích mấy thứ kiểu đó. Mà tôi nói đến đâu rồi nhỉ? Đúng rồi. Nhiệm vụ này sẽ bao gồm một trăm bảy mươi hai giờ ở trên Mặt Trăng và sử dụng DARLAH 2 làm nơi cư trú.”
“Dar... gì?”
“DARLAH 2. Một căn cứ Mặt Trăng đặc biệt nằm bên Biển Yên Bình, được xây dựng từ những năm bảy mươi.” Stanton nhướn mày. Anh không thể tin vào tai mình. “Sau này anh sẽ được biết mọi chi tiết về ai, cái gì, ở đâu, bao giờ và tại sao, Stanton ạ. Vấn đề ngay trước mắt là kĩ sư của chúng tôi, Riley, phải rút tên khỏi danh sách vì vợ anh ta sắp sinh đứa thứ ba.”
“Mừng cho anh ta,” Stanton đáp trong khi vẫn chưa hết kinh ngạc về những điều ông ta vừa nói. Anh không biết phải bắt đầu hỏi từ đâu.
Người đàn ông có vẻ bực tức và nhận xét bằng giọng cạnh khóe, “Phải, tất nhiên rồi, chúng ta cùng đội mũ giấy lên đầu và mở tiệc mừng cho anh ta thôi còn chờ gì nữa? Nhưng đấy không phải là vấn đề. Vấn đề là đây: Anh Stanton, chúng tôi rất mong anh có mặt trong đội lên Mặt Trăng vào mùa hè tới. Anh có đồng ý tham gia không?”
Stanton không biết trả lời thế nào. Người đàn ông này đang nói gì thế? Rằng rút cục anh cũng có thể lên Mặt Trăng ư? Nhưng anh đã từ bỏ mong muốn đó rồi. Từ bỏ hoàn toàn rồi.
Đúng vậy chăng?
Yvonne tìm thấy hai người trong bãi đậu xe và bằng bản năng của người vợ, cô nhận ra ngay lập tức cuộc nói chuyện của họ là về việc gì. Cô sẽ không mạo hiểm để mất chồng mình vào vũ trụ. Khó khăn lắm cô mới có thể giúp anh quên đi giấc mơ đó. Cô chạy vội về phía họ, lắc đầu quầy quậy. “Không. Bất kể ông đề nghị việc gì, anh ấy cũng không làm đâu.”
Người đàn ông từ NASA giả bộ như không nghe thấy. “Tôi xin lỗi vì phải thúc ép anh thế này, nhưng tôi e rằng thời gian rất quý báu. Stanton, câu trả lời của anh là gì?”
Giá như hôm đó anh nghe lời Yvonne.
---❊ ❖ ❊---
Một phút sau Caitlin, Wilson và Stanton tới phòng thiết bị. Những bộ đồ du hành nặng nề đủ kích cỡ treo trên tường cùng với ủng, găng tay, mũ bảo hiểm và bình dưỡng khí. Caitlin nhanh chóng lấy đủ các thiết bị cần thiết và bắt đầu giúp họ mặc vào.
“Chúng tôi cần đồ nghề nữa,” Wilson nói. “Cùng sơ đồ khu máy phát điện.”
Caitlin biến mất vào căn phòng bên cạnh rồi trở ra với những thứ anh yêu cầu. Cô giúp họ lắp bình dưỡng khí lên lưng và bảo họ đội mũ vào trước khi cô khóa chặt họ trong bộ trang phục. Rồi cô nắm lấy tay họ.
“Các anh nghe rõ không?”
Hai người cùng gật đầu.
“Tốt. Các anh có nhìn thấy cái máy đo trên tay trái các anh đây không? Nó cho biết các anh còn lại bao nhiêu ôxy. Chúng ta chưa có đủ thời gian để nạp đầy bình, nên mỗi người chỉ có ba mươi lăm phút thôi. Chú ý theo dõi vào và nhớ giữ liên lạc qua bộ đàm, rõ chưa? Tôi muốn nghe báo cáo về mọi việc xảy ra trong đó.”
Stanton nghi hoặc nhìn Caitlin. “ Trong đó nghĩa là sao? Chúng tôi sắp ra ngoài mà.”
“Các anh phải ra ngoài để đến chỗ cánh cửa mở vào nơi đặt máy phát điện. Nó ở dưới chúng ta một tầng, nên thực chất là các anh sẽ phải trèo xuống thang và theo hành lang đi vào. Hãy dùng đèn pin và tìm xem có mối bên ngoài nào của nguồn điện bị đứt không, rồi hãy bắt đầu dò tìm hỏng hóc. Và nhớ này, hai người – tôi tin là các anh đã biết rồi, nhưng tôi nhắc lại là trong bất kì trường hợp nào cũng không được bỏ mũ bảo hiểm ra. Trong phòng đó không có nguồn cấp dưỡng khí nào đâu, các anh sẽ chết ngạt ngay. Đã hiểu chưa?”
Hai chiếc mũ bảo hiểm chầm chậm gật gật.
“Vậy thì đến lúc rồi. Đi nào.”
Stanton và Wilson theo Caitlin vào phòng giảm áp, nơi cô bảo họ chuẩn bị sẵn sàng. Cô quay trở lại phòng thiết bị, khóa cửa, rồi bắt đầu quy trình hút không khí ra khỏi căn phòng. Sau đó cô mở cửa ngoài, và hai người đàn ông bước ra.
Bầu trời trên đầu họ tối đen hơn tất thảy những gì họ từng thấy, thế nhưng mặt trời lại đang phản chiếu chói lóa lên mặt đất xám trắng.
Họ cảm thấy mình quả thực rất xa nhà.
---❊ ❖ ❊---
Stanton và Wilson thận trọng vòng qua bên ngoài mô-đun bốn, tìm cánh cửa dẫn đến máy phát điện. Họ lập tức nhìn thấy nó nằm ngang trên mặt đất, ngay bên ngoài tòa nhà. Họ thấy một tay nắm hình bánh xe trên cánh cửa thép không gỉ, và cùng cố gắng xoay nó ra. Nhưng nó được vặn rất chặt, như thể đã hàn kín, trong khi đôi tay đeo găng lóng ngóng của họ khiến việc mở cửa càng khó khăn. Họ phải ngồi xổm xuống và vận hết sức bình sinh – rồi cuối cùng cánh cửa cũng mở ra.
Wilson soi đèn xuống hố.
Anh vừa thấy cái gì chăng?
Anh căng mắt ra nhìn, mồ hôi chảy dọc xuống gáy. Đúng vậy .
Kia rồi .
Ở đó có một chiếc thang đúng như Caitlin nói. Nó kéo dài khoảng một mét hai đến một mét rưỡi xuống bóng tối thăm thẳm bên dưới.
Ánh mắt hai người giao nhau.
“Cậu nghĩ sao?” Wilson hỏi.
Stanton cúi xuống hố. “Để tôi xuống trước cho.”
“Cậu chắc không?”
“Chắc. Anh ở đây chờ tôi đến nơi đã rồi hãy xuống theo. Có gì tôi sẽ báo.”
“Được. Caitlin, cô nghe rõ không? Bây giờ Stanton sẽ trèo xuống.”
“Rõ, Wilson,” một giọng nữ rè rè vang lên qua loa bộ đàm gắn trong mũ bảo hiểm. “Stanton, lúc chui qua coi chừng bình dưỡng khí kẻo mắc kẹt nhé. Cái miệng hố có vẻ hẹp.”
“Tôi thấy rồi. Tôi sẽ cẩn thận.”
Anh quỳ gối bên miệng hố, quay lưng lại và đặt chân lên bậc thang đầu tiên.
“Tôi đặt được chân xuống rồi. Tôi leo xuống đây,” Stanton báo cáo. Anh cẩn thận lựa bình dưỡng khí trên lưng qua miệng hố rồi leo xuống từng bậc một. Chu vi cái hố chỉ vừa suýt soát cơ thể anh cùng với mớ thiết bị, nhưng với một chút khéo léo anh cũng xuống được tới chân chiếc thang. Anh soi đèn vào bên trong và thấy hành lang hẹp mà Caitlin đã nói lúc trước. Nó chỉ dài nhiều lắm là khoảng ba mét sáu, ở tận cùng loáng thoáng bóng chiếc máy phát điện.
“Tôi đến nơi rồi. Mọi thứ đều ổn,” Stanton báo cáo. “Hơi chật, nhưng cũng vừa đủ chỗ cho hai người.”
“Tôi xuống đây,” Wilson đáp và bắt đầu trèo xuống.
Trong khi đó, Stanton dò xét hành lang kĩ hơn. Những đường dây cáp dày phủ kín trần nhà và hai vách tường, nhưng theo anh thấy thì chúng không có vấn đề gì cả. Anh đi tiếp dọc hành lang, vừa đi vừa kiểm tra máy đo dưỡng khí. Vẫn còn hai mươi tám phút nữa. Không thể bỏ phí một phút nào, nhưng hẳn là đủ. Anh nhận thấy ánh sáng từ đèn pin của Wilson sau lưng mình và thở phào khi thấy người đồng nghiệp cũng đã xuống đến nơi an toàn.
“Thấy gì chưa?” Wilson hỏi.
“Chưa. Kiểm tra cái máy xem nào.”
Họ tiến đến chiếc máy phát điện và chiếu đèn lên bảng điều khiển.
“Cậu có... cậu có thấy thứ tôi đang thấy không? Kia kìa? Thấy không?” Wilson hỏi, chỉ vào nơi từng là các công tắc chính. Nửa cái bảng điều khiển có vẻ đã bị đập nát.
“Có,” Stanton bàng hoàng đáp. Họ chiếu đèn lên trần nhà nhưng không thấy dấu hiệu gì là có vật nào đó đã rơi trúng bảng điều khiển.
“Nó hỏng hẳn rồi, Wilson.”
“Wilson, tình hình thế nào?” Giọng Caitlin vang lên qua máy bộ đàm.
“Chờ một chút, chúng tôi đang kiểm tra. Có vẻ như...”
“Thử gỡ cái vỏ ra xem? Biết đâu mình có thể nối lại từ đằng sau bảng điều khiển đấy? Như thế sẽ dễ làm hơn, anh nghĩ sao?”
“Các anh, có chuyện gì vậy?”
“Caitlin, chúng ta có vấn đề.”
“Vấn đề? Vấn đề gì?”
Stanton truyền đạt lại thông tin: “Chúng tôi sẽ tháo lớp vỏ ra để xem có thể nối lại công tắc không.”
“Kiểm tra đồng hồ dưỡng khí đi,” Caitlin nhắc nhở. “Các anh còn bao lâu?”
“Hai mươi hai phút,” Stanton báo cáo.
“Được rồi, các anh thử làm xem.”
Wilson rút hai chiếc tua-vít ra khỏi túi đồ nghề. Stanton lấy một chiếc và bắt đầu tháo bên trái trong khi Wilson gỡ bên phải bảng điều khiển. Cả hai đều cố gắng làm nhanh hết sức, nhưng họ vẫn mất gần mười phút mới gỡ được lớp vỏ ra. Tình hình vẫn không khả quan hơn. Cái thứ đã đập vào bảng điều khiển có lực quá mạnh nên đã phá hủy gần như toàn bộ các đường dây và mạch điện, biến tất cả thành một mớ hổ lốn.
“Tôi sợ chúng ta không sửa được đâu, Stanton,” Wilson nói. “Nó hỏng hẳn rồi, mà thời gian sắp hết.”
“Chờ một chút.” Stanton đẩy Wilson sang bên. “Để tôi thử xem. Đưa tôi cái kìm. Với lại chuẩn bị đèn hàn đi.”
“Cậu định làm gì?”
“Chúng ta sẽ mở nó ra và sửa thẳng vào cầu dao chính. Nếu may mắn chúng ta có thể nối được một đường dây mới.”
Wilson dường như đông cứng lại.
“Wilson? Đưa kìm đây?” Stanton giục.
“Không kịp đâu,” Wilson đáp, vẫn chưa thôi bàng hoàng.
Stanton không chịu nghe. “Đưa kìm cho tôi, làm ơn đi.”
“Stanton, nhìn đồng hồ đi. Mười một phút. Mà chúng ta cần ít nhất sáu phút mới về đến DARLAH. Tôi xin lỗi, nhưng nhiệm vụ Mặt Trăng này phải hủy thôi.”
“Chết tiệt, Wilson, đừng bỏ cuộc chứ. Đưa kìm đây ngay. Phải tranh thủ từng giây!”
“Caitlin, chúng tôi quay lại đây,” Wilson báo cáo. “Chúng tôi không thể làm gì được.”
“Rõ rồi,” họ nghe tiếng Caitlin xác nhận.
Trong thâm tâm Stanton biết rõ rằng Wilson nói đúng. Nối một đường dây mới sẽ rất mất thời gian. Ít nhất là nửa giờ, thậm chí có thể hơn. Đấy là nếu họ có tìm được đúng nơi để nối. Lựa chọn duy nhất là quay trở lại. Anh không dám nghĩ đến chuyện những người khác sẽ nói gì. Và cả ba đứa trẻ tội nghiệp kia nữa...
“Stanton, chúng ta phải đi thôi. Ngay bây giờ!”
Anh miễn cưỡng theo Wilson quay lại chiếc thang. Wilson dừng ngay trên bậc đầu tiên.
“Stanton?” Anh ngập ngừng. “Lúc xuống tôi không đóng cửa.”
“Thì sao?”
“Nó đóng lại rồi.”
Hai người nhìn nhau.
“Có lẽ nó...” Stanton nói chưa hết câu đã nuốt trở vào. Nó không thể bị thổi vào; không có gì thổi cánh cửa đóng lại trong môi trường chân không cả. “Anh chắc không?”
“Chắc mà. Đồng hồ của cậu báo còn bảy phút nữa là hết dưỡng khí. Mau mở cục cưng này ra nào.”
Và họ ra sức đẩy.
Nhưng dù họ có huých thân mình vào cửa tới suýt mất mạng cũng không thay đổi được gì. Vì cánh cửa đã bị khóa.
Từ bên ngoài.
“Caitlin?”
Cô nghe thấy cơn hoảng loạn tràn ngập trong giọng nói của Wilson. Anh đang thở gấp trong chiếc mũ bảo hiểm.
“Sao vậy?”
“Tin... xấu. Cánh cửa. Bị khóa.”
Caitlin không thể tin nổi vào tai mình. “Sao thế được?” Cô phản bác.
“Chúng tôi chỉ còn ôxy cho năm phút nữa thôi, Catilin.”
“Anh có chắc không? Thử lại đi! Nhanh lên!”
Giọng nói của Wilson như vỡ ra trong cơn bấn loạn. “Chúng tôi thử hết cách rồi! Nó bị khóa rồi, khốn khiếp! Cô nghe rõ không hả?”
Nỗi tuyệt vọng trùm lên Caitlin. “Còn cái đèn hàn thì sao?” Cô hỏi. “Các anh cắt cửa mà ra!”
“Lớp thép dày lắm. Cô biết mà.”
“Chúng tôi sẽ ra đó đón các anh!”
“Không kịp đâu. Còn bốn phút.”
“Kịp chứ. Phải kịp! Các anh thở chậm thôi, càng ít càng tốt. Hãy cực kì bình tĩnh, hiểu chưa? Tôi và Nadolski đến ngay đây!”
“Caitlin?” Giọng Stanton vang lên.
“Tôi đây?”
“Các cô phải mất hai mươi phút mới mặc xong đồ và ra đây, rồi có lẽ thêm vài phút nữa mới mở được cửa.” Khác với Wilson, Stanton hoàn toàn bình tĩnh, có thể nói là thản nhiên. “Xem ra vé của chúng tôi chỉ có một chiều thôi. Tôi rất xin lỗi, Caitlin. Vô cùng xin lỗi. Nhưng tôi nghĩ tốt nhất là mọi người quay về đi.”
“Stanton? Stanton? Anh nghe thấy không? Stanton? Wilson? Khốn kiếp! Trả lời đi! Các anh nghe thấy không?”
Họ nghe tiếng cô rất rõ. Nhưng có đáp lại cũng chẳng ích gì. Hai người lại chầm chậm leo trở xuống, không ai nói một lời. Họ bước về phía chiếc máy phát điện và ngồi xuống cạnh nhau. Stanton nắm lấy tay Wilson, và họ nhìn nhau, mỉm cười yếu ớt. Rồi họ cùng đặt tay lên mũ bảo hiểm, mở chốt và tháo nó ra.
Stanton chỉ kịp mường tượng ra một hình ảnh cuối cùng trước khi chân không khiến anh mất đi ý thức.
Anh nhìn thấy Yvonne vào cái ngày cô vừa mua về một chiếc xe đạp từ chợ đồ cũ. Một trong số xe xịt lốp bán đầy ở đó. Khi anh về nhà cô đang đứng trong nhà để xe bơm hơi vào hai chiếc lốp. Một giây sau cô đã ngồi trên xe, vừa đạp vòng quanh anh thành những vòng tròn hẹp vừa nhắc đi nhắc lại rằng nó chỉ tốn có năm đô la.
Một sự kiện cực kì bình thường trong cuộc đời bất cứ ai.
Vậy mà giờ đây nó đã cách xa anh hơn bao giờ hết.