172 Giờ Trên Mặt Trăng

Lượt đọc: 739 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
DOPPELGÄNGER

“Đi” Midori thì thầm. “Tớ biết một chỗ để trốn.”

Sinh vật ngoài hành lang hình như đã biến mất hoặc đang án binh bất động. Mia và Midori bò qua sàn nhà không một tiếng động. Họ trượt mở chốt cửa dẫn vào kho lương khô và trườn vào trong. Midori đóng cánh cửa sau lưng họ và đặt đèn pin lên sàn nhà trong khi Mia xé một ống tay áo để cầm máu vết thương đang nhức nhối trên trán.

Midori đã lấy lại bình tĩnh, nhưng cả hai đều kiệt sức, và lượng ôxy đang giảm dần khiến họ càng mệt mỏi hơn. Trong ánh sáng tù mù của hai chiếc đèn pin trên sàn nhà, trong họ xanh rớt và hốc hác như hai hồn ma.

“Chuyện gì thế này Mia?” Midori khẽ hỏi. “Có phải bọn mình bắt đầu bị ảnh hưởng vì thiếu ôxy không? Bọn mình đang bị ảo giác phải không? Hay là trong căn cứ này có thứ gì...”

“Muốn giết chúng ta? Cậu định nói thế phải không?” Mia ngắt lời. “Đúng đấy. Không biết nó là cái gì nhưng nó có thật đấy.”

“Nhưng cậu vừa làm quái gì ngoài kia?” Midori tiếp tục thì thầm, giọng vừa sợ hãi vừa trách cứ. “Sao cậu cứ thế mà chạy đi vậy được?” Cô nâng chiếc đèn pin lên chĩa thẳng vào mặt Mia.

“Tớ định đi tìm chú Coleman”, Mia đáp.

“Tại sao? Chắc gì chú ấy còn sống, Mia. Cậu không nghe chú ấy nói gì lúc nãy à? Chú ấy bỏ cuộc rồi.”

“Chắc chắn chú ấy còn sống. Chú ấy đang ở loanh quanh đâu đây thôi. Một nơi mà chú ấy biết chắc chúng sẽ không tìm ra.”

Midori đặt lại chiếc đèn xuống sàn giữa hai người. “Nhưng tớ không hiểu sao cậu còn muốn nói chuyện với chú ấy. Nếu có gì chú ấy có thể làm hoặc nói để giúp chúng ta thì chú ấy đã nói từ trước rồi.”

“Tớ nghĩ chú ấy vẫn biết nhiều hơn những gì đã kể với bọn mình,” Mia điềm tĩnh nói. “Mà nếu không có thông tin đó thì bọn mình đừng hòng sống sót rời khỏi đây.”

“Thế cậu bảo bọn mình phải làm gì bây giờ?” Midori hỏi.

“Chắc chú ấy phải ở đâu đó trong mô-đun một.”

“Từ đây đến đấy xa lắm, Mia.”

Mia không nghe. “Chuẩn bị đi.”

Vài giây sau họ nghe thấy tiếng cào từ mặt bên kia cánh cửa thép mở vào gian bếp.

Mia bịt chặt tay lên miệng Midori...

Tiếp theo là tiếng xoay của tay nắm đang khóa chặt cánh cửa. Hay đúng hơn là đã khóa chặt nó.

Cánh cửa mở ra.

Mia và Midori không cử động. Họ nghe tiếng bước chân trong bếp. Ai đó đang từ từ tiến về phía họ. Mia bịt miệng Midori chặt hơn. Bản thân cô cũng muốn hét lên, bật tung cánh cửa ra, kết thúc tất cả cho nhanh. Nhưng cô vẫn ngồi đó, lưng gồng cứng đến nỗi đôi vai mỏi nhừ. Không phát ra một tiếng động dù là nhỏ nhất, cô với tay tắt đèn pin đi.

Họ ngồi trong bóng tối và chờ đợi.

Sầm. Sầm.

Hai tiếng gõ trên sàn bên ngoài kho lương khô.

Tiếng bước chân.

Mia nhìn chằm chằm cánh cửa, chờ đợi nó mở ra. Đầu cô đau đến mức cô gần như không thể tập trung được.

Sầm. Sầm. Tiếng gõ lần này còn rõ hơn.

Rồi tất cả trở về yên lặng.

Tim Mia đập mạnh đến mức cô tin chắc rằng kẻ ở ngoài cửa kia cũng nghe thấy. Cô đè một tay lên ngực để giảm bớt âm thanh ấy đi.

Nhưng rồi họ nghe thấy sinh vật nọ bước vài bước ra xa cánh cửa. Yên tĩnh trở lại. Rồi có tiếng di chuyển vội vã, và cánh cửa gian bếp đóng sập lại.

Có lẽ sinh vật đó đã rời khỏi phòng, nhưng cả Mia lẫn Midori đều không dám cử động trong vài phút sau đó.

Cuối cùng Mia là người phá vỡ sự yên lặng. Cô thầm thì thật khẽ: “Tớ nghĩ bọn mình nên tranh thủ cơ hội này đi.”

“Đợi thêm một lát nữa có hơn không?”

“Bọn mình không có thời gian đâu, Midori. DARLAH sắp hết dưỡng khí đến nơi rồi – cậu không nhận thấy sao?”

“Có,” Midori cuối cùng cũng đáp lại.

Mia cúi xuống nhặt một chiếc đèn pin lên.

“Được rồi, Midori. Đi nào. Bọn mình sẽ đi qua hành lang đến mô-đun một. Cố gắng bước càng nhẹ càng tốt. Nếu gặp ai trên đường, cậu hãy chạy theo hướng ngược lại và cố gắng đến DARLAH 1, dù có tớ đi cùng hay không. Được không? À, còn một chuyện nữa – đừng cố tấn công chúng làm gì. Tớ đã thử rồi. Tớ đã dùng dao to đâm thử một đứa. Chẳng có tác dụng gì hết.”

Midori lặng lẽ gật đầu và đáp lại. “Cậu cũng vậy nhé. Nếu có ai tấn công tớ, cậu phải chạy ngay đấy.”

Họ rón rén nhấc chốt cửa lên và mở cửa kho.

Họ chiếu đèn pin ra ngoài căn bếp. Không có lấy một ai. Cả căn phòng có vẻ hoang vắng bất thường, như thể chưa từng có ai đặt chân vào đó cả.

Mia bước ra trước và tiến dần về cánh cửa dẫn ra hành lang cùng Midori theo sát phía sau.

Cứ đi được năm bước họ lại dừng chân nghe ngóng, quét đèn pin khắp hành lang rồi mới đi tiếp, và mỗi lần họ thấy hành lang trống không là một lần họ thấy nhẹ nhõm như trút được gánh nặng.

Và rồi một nỗi sợ mới lại tràn đến, rằng thứ mà họ khiếp sợ kia vẫn đang chờ đợi họ ở đâu đó trong bóng tối phía trước.

---❊ ❖ ❊---

Khi họ đi qua cửa an ninh M thì Mia chợt nảy ra một ý và dừng lại.

“Cậu làm gì vậy?” Midori lo lắng hỏi.

“Tớ muốn kiểm tra một nơi lần trước tớ quên mất.” Cô quay lại soi đèn vào con đường họ vừa đi.

“Chúng ta quay lại sao?” Midori hỏi.

“Quay lại một đoạn thôi,” Mia đáp. “Theo tớ.”

Mia tiến về phòng máy tính, men theo hướng bên trái và đi tiếp dọc hành lang. Cô không biết điều gì đã khiến cô chắc chắn như vậy, nhưng ngay từ trước khi đặt chân vào nhà kính, cô đã biết rằng mình đoán đúng.

Cô nghe tiếng thở nặng nề của một người đàn ông.

Cô chầm chậm soi đèn qua tầng lá rậm rạp.

Và quả nhiên ông đang ngồi đó.

Coleman. Dựa lưng vào gốc táo, với khẩu súng lục trên tay. Ông ngẩng lên nhìn họ vẻ buồn bã.

“Hai đứa không nên ở đây vào lúc này. Sao các cháu vẫn chưa đi? Chú đã bảo mấy đứa rời khỏi nơi này rồi cơ mà?”

Họ thấy ông vung vẩy họng súng trên đầu. Trông ông có vẻ thất vọng hơn là ngạc nhiên khi nhìn thấy họ.

“Có ai đó ở đây,” Mia nói với ông. “Một kẻ khác.”

“Cháu có ý gì?”

Và Mia giải thích tất cả. Về chuyện Antoine đã xuất hiện ngoài cửa sổ như thế nào. Về chuyện Caitlin đã ra ngoài đón cậu và biến mất ra sao. Về bản sao của Mia mà cô gặp trong hành lang ngoài mô-đun hai. Coleman lắng nghe, và khi cô nói xong, ông gục đầu xuống.

“Chà, vậy là nó đã bắt đầu rồi đấy,” ông tự nói với chính mình.

“Cái gì đã bắt đầu? Chú đang nói gì vậy?” Mia hỏi. Cô bước chậm rãi quanh thân cây, vừa đi vừa khom người như thể sẵn sàng chồm tới vồ mồi. Mắt cô dán chặt vào cánh cửa đang mở dẫn vào phòng máy tính. Midori co người ngồi dưới một tán lá cọ lớn sát tường. Thỉnh thoảng cô lại đột ngột quay ngoắt lại nhìn tấm kính đen sau lưng, như thể có ai vỗ vào vai cô.

“Cái mà chúng ta đã e sợ suốt những năm qua. Cái chúng ta lên đây để ngăn chặn.”

Câu trả lời úp mở của ông khiến Mia sốt ruột, khiến cô nhớ đến thái độ của Caitlin sau khi uống mớ thuốc giảm đau. Như thể Coleman cũng đã không còn quan tâm nữa. Nhưng Mia hiểu rõ rằng không phải ông không quan tâm mà ông chỉ đang cố giấu giếm một điều gì đó.

“Chú còn đang giấu bọn cháu chuyện gì vậy?” Cô chất vấn. “Có kẻ muốn giết chúng ta, chú có hiểu không? Mọi điều chú đã nói đều là dối trá và chú biết rõ như thế. Chú sợ người ta phát hiện ra cái gì cơ chứ?”

“Ồ,” ông đáp. “Có nhiều thứ phải sợ lắm. Đến giờ cháu phải hiểu rồi chứ.”

Coleman đưa tay quệt mồ hôi trên trán. Tán lá rậm rạp phía trên khiến khuôn mặt ông trông càng tăm tối hơn.

“Chú lo cho danh tiếng của NASA hay gì? Lo người ta sẽ phát hiện ra rằng nhiệm vụ này đã thất bại? Rằng các chú có nhiều ý đồ khác trên Mặt Trăng hơn những gì các chú nói với công chúng, đúng thế không? Chắc chắn là đến giờ người ta cũng tự hiểu điều đó rồi.”

“Không,” ông đáp. “Đó chẳng phải lí do đâu.”

“Vậy thì là cái gì cơ chứ? Chú đã biết tất cả rồi, đúng không? Chú đã biết ngay từ đầu. Và nếu chú còn một chút xíu lương tâm nào sót lại, thì cháu nghĩ chú nên kể cho bọn cháu những gì chú biết để chúng ta có thể thoát khỏi đây.”

“Chú e rằng chú không biết hết tất cả đâu, Mia ạ. Chẳng ai biết cả. Sự thật là chúng ta hầu như chẳng biết gì.”

“Nhưng?” Mia gặng hỏi.

Ông hít một hơi thở sâu. Mùi thối rữa nồng nặc trong căn phòng ẩm ướt um tùm. “Chú vốn nghĩ tốt nhất là các cháu không được biết gì cả. Cháu phải hiểu rằng điều chú sắp kể là thông tin nhạy cảm, tối mật. Điều quan trọng là các cháu phải hiểu như vậy.”

Vẻ mặt Midori và Mia cho thấy rõ rằng họ cảm thấy việc coi bất kì điều gì là tối mật vào lúc này thật là lố bịch. Và Coleman cũng phần nào đồng ý với họ.

Ông nặng nhọc thở dài và đặt vũ khí xuống cỏ. “Các nhiệm vụ lên Mặt Trăng kết thúc vào năm 1972 không phải vì thiếu ngân sách hay thiếu sự quan tâm của công chúng như mọi người vẫn nghĩ. Sự thật là chúng ta không còn dám cử ai lên Mặt Trăng nữa. Các cháu đã nghe về Apollo 13 chưa?”

Họ đã nghe. Nadolski đã giảng cho họ nghe về tất cả các chuyến bay vào vũ trụ trong chương trình Apollo. Sau lần hạ cánh đầu tiên lên Mặt Trăng của Apollo 11 thì Apollo 13 , nhiệm vụ suýt biến thành thảm họa vào năm 1970, là chuyến bay nổi tiếng nhất, và chắc chắn là chuyến bay li kì nhất. Apollo 13 vướng phải một vụ nổ bình ôxy sau khi xuất phát hai ngày. Hầu như không có điện và dưỡng khí, các phi hành gia buộc phải đi tiếp đến Mặt Trăng nhằm lợi dụng trọng lực yếu của nó để quăng họ trở lại Trái Đất. Việc họ còn sống sót chắc chắn là một phép màu. Và câu Houston, chúng tôi gặp vấn đề đã mãi mãi được khắc ghi vào lịch sử thám hiểm không gian.

“Cả thế giới đã nín thở trong những ngày chuyến bay diễn ra,” Coleman nói tiếp. “Nhưng vì một lí do giả. Bởi vì chẳng hề có vụ nổ nào trên tàu Apollo 13 cả. Toàn bộ câu chuyện đó là một màn dối trá tinh vi, kín kẽ, lớp lang để che giấu sự thật. Sự thật đó là Apollo 13 đã đáp xuống khu vực Fra Mauro theo đúng kế hoạch. Nhưng một điều bất ngờ đã xảy ra.”

“Điều gì ạ?” Mia ngờ vực hỏi, mắt liếc vào bóng tối để tìm kiếm dấu hiệu rằng có kẻ đang theo dõi họ. Nhưng cô không thấy gì.

“Phi công của tàu đổ bộ, Fred Haise, đã tiếp xúc với... một thứ gì đó dưới miệng núi lửa Fra Mauro. Chuyện bắt đầu khi anh ta quan sát thấy một... hiện tượng dị thường... từ cửa sổ của con tàu đổ bộ, và NASA ra lệnh cho anh ta đi điều tra.”

“Nhưng chuyện này chẳng khớp với những gì chính các phi hành gia đó đã kể,” Midori phản bác. “Cháu đã xem các buổi phỏng vấn đó. Cháu đọc cả những đoạn tiểu sử chú Nadolski đưa cho. Cháu còn nghe những đoạn băng từ tàu điều khiển nữa. Chú nói dối.”

“Giá mà chú đang nói dối. Và chú tin chắc Haise cũng ước những gì mình kể cho thế giới nghe mới là sự thật. Nhưng không phải. Mọi điều cháu đã đọc, đã nghe, đã xem đều là dàn dựng. Fred Haise đã lên Mặt Trăng, và anh ta đã tìm thấy một thứ đáng ra không nên có ở đó.”

“Là thứ gì?”

“Ừm, các báo cáo đều không rõ ràng... cho đến tận hôm nay. Nhưng chúng đều có nhắc đến một kẻ nào đó. Một ai đó hay một cái gì đó trông giống... hệt như... anh ta.”

“Giống cái bọn cháu đã thấy!” Midori kêu lên.

“Phải... Fred Haise may lắm mới thoát được về đến tàu đổ bộ, và rời khỏi bề mặt Mặt Trăng cùng Jim Lovell chỉ sau đó vài giờ. Một cuộc sơ tán khẩn cấp. Nhưng chưa hết. Chuyện đó xảy ra với vài nhiệm vụ Mặt Trăng khác nữa. Đây chỉ là một trong nhiều chương của câu chuyện. Đã từng có vấn đề từ tận thời của Apollo 11 . Midori, cháu đã nhặt được đôi ủng của Buzz Aldrin, đúng không?”

Cô gật đầu.

“Đôi ủng đó không phải bị vứt lại Mặt Trăng để giảm cân nặng cho tàu như cháu được biết đâu. Ông ấy đã ném chúng về phía thứ gì đó, một thứ đang tiến đến gần ông. Sự thật là trong suốt những năm qua, hầu hết người ở NASA đều tin rằng bản miêu tả của các phi hành gia về những bản sao giống hệt họ trên Mặt Trăng có liên quan đến một loại phản xạ, một ảo ảnh do môi trường nơi này sinh ra. Mọi người tin như vậy cho đến tận vụ việc của Haise vào năm 1970. Sau đó, mọi người có liên quan tại Trung tâm Điều khiển Mặt đất ở Houston đều được lệnh phải kí một thỏa thuận bảo mật, và từ đó họ bị loại khỏi mọi kết quả nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này. Các quan chúc đứng đầu NASA đã bắt đầu hợp tác với bên quân đội để xây dựng một căn cứ trên Mặt Trăng có thể được dùng để nghiên cứu và thậm chí nếu cần thì xóa sổ hiện tượng này. NASA còn lôi cả các nhà nghiên cứu của SETI vào.”

“SETI?”

“Đó là tên gọi tắt của Dự án Tìm kiếm Trí tuệ ngoài Trái Đất 18 . Nhưng đó không phải là thứ chúng ta gặp phải ở đây. Chú cũng vừa mới hiểu ra điều đó lúc ở ngoài kia. Chúng ta đang phải đối mặt với một thứ nguy hiểm hơn rất, rất nhiều. Một thứ mà chúng ta hoàn toàn chưa biết. Nó không giống với bất cứ thứ gì chúng ta biết, vì hoạt động của nó hoàn toàn nằm ngoài những quy luật thông thường, hoàn toàn vô cảm. Nó nằm ngoài thiện và ác. Nó chỉ là nó thôi. Và có vẻ như nó không có bất cứ mục đích nào khác ngoài phá hoại.”

“Chú nói rằng nó không phải là người ngoài hành tinh? Sao chú dám chắc thế?”

Coleman im lặng hồi lâu.

“NASA đã bắt được một tên vào năm 1972. Đúng hơn là một bộ phận của nó. Apollo 17 bị tấn công và đang chuẩn bị cất cánh khỏi Mặt Trăng, và khi họ cố gắng đóng cửa, một cánh tay của thứ bản sao đó đã bị cắt rời.”

“Vậy chúng là người ạ?” Mia hỏi, cảm thấy một nguồn hi vọng kì lạ dâng lên trong khoảnh khắc.

“Không. Các nghiên cứu về cánh tay đứt lìa đó cho thấy nó không hề chứa bất kì vật chất hữu cơ nào. Nó không phải là sinh vật sống, chưa bao giờ sống cả.”

“Vậy thì nó là gì chứ?”

Lúc này họ đang ngồi cạnh Coleman. Mia vẫn liên tục dõi mắt về cánh cửa dẫn đến phòng máy tính. Trong bóng tối như thế này đáng lẽ họ nên núp thật kĩ hoặc liên tục di chuyển. Nhưng họ không làm cả hai việc đó. Họ có thể bị phát hiện bất cứ lúc nào. Nhưng cô có linh cảm rằng điều Coleman sắp kể với họ rất quan trọng nếu họ muốn có cơ may sống sót về nhà.

“Các cháu đã bao giờ nghe thấy từ ‘doppelgänger’ chưa?” Coleman hỏi.

Mia không hề biết ông đang nói về thứ gì. Từ đó nghe như tên một loài côn trùng. “Cái gì cơ ạ?”

“Doppelgänger. Đó là tiếng Đức, có nghĩa là “người đôi,” một bản sao huyền bí của một người đang sống, một bản nhân đôi, một bóng ma. Từ này được dùng khi người ta thấy những bản sao của chính họ hoặc của những người họ biết, dù không có bất cứ một cách lí giải logic nào. Ví dụ như khi cháu gặp một người quen trên phố, nhưng lại biết chắc rằng họ đang ở nhà. Hoặc khi cháu thấy chính mình trong gương rồi đột nhiên nhận ra một bản sao của chính cháu đứng ngay đằng sau. Chuyện như vậy đã từng xảy ra. Đã có hàng trăm báo cáo về hiện tượng này. Và chú không nói về trường hợp người giống người đâu, mà là những bản sao .”

“Nhưng chúng muốn gì?” Midori hỏi.

“Vấn đề là không ai biết chúng thực ra là cái gì . Là một loại ảo ảnh, hay những doppelgänger này thực sự tồn tại? Trong một thời gian dài người ta tin rằng chúng chỉ là ảo giác, cho đến khi xuất hiện một báo cáo của Pháp về trường hợp của Emilie Sagée.”

Midori đột nhiên đứng lên và nép sát vào tường, như thể đang cố đâm hai tay xuyên qua lớp kính để chạm vào bóng tối bên ngoài. Cô đang nhìn chằm chằm vào cánh cửa dẫn ra chỗ máy cấp ôxy.

“Nhỡ đâu nó ở trong đó thì sao?” Midori ra hiệu về phía đó và hỏi.

“Ngồi xuống đi, Midori. Nếu muốn vào đó nó phải đi qua trước mặt chú trước,” Coleman nói.

“Bản báo cáo của Pháp làm sao ạ?” Mia giục.

“Đúng rồi. Một phụ nữ người Pháp, Emilie Sagée, là giáo viên tại một trường nữ thục có tên là Pensionat von Neuwelcke ở Latvia vào thế kỉ mười chín. Người đầu tiên kể về chuyện này là Julie von Güldenstubbe, một nữ sinh trong lớp của Sagée. Emilie Sagée rất được các nữ sinh yêu quý. Nhưng không lâu sau khi cô ta đến ngôi trường này, bắt đầu có tin đồn rằng Sagée có thể ở hai nơi cùng một lúc. Chẳng hạn có lần một số nữ sinh nói rằng họ vừa gặp cô ta ở ngoài cổng chính, trong khi những người khác lại khẳng định họ vừa thấy cô trong thư viện, ở đầu kia của tòa nhà. Những chuyện kiểu như thế thường bị các giáo viên khác gạt đi.

“Nhưng mọi chuyện đã thay đổi vào ngày hai mươi hai tháng Ba năm đó. Güldenstubbe và mười hai cô bé khác đang ngồi trong lớp học toán thì một Sagée nữa xuất hiện ngay bên cạnh cô giáo thật. Hai người phụ nữ trông giống hệt nhau. Sagée đang đứng quay lưng về phía lớp và viết lên bảng, vì vậy cô ta không thấy có một người giống mình như đúc đang đứng ngay cạnh mình và làm cùng một động tác, chỉ không có phấn trong tay. Sau khi Güldenstubbe rời lớp học và báo lại việc này với hiệu trưởng, tất cả các nữ sinh đều được đưa ra khỏi lớp học. Họ bị thẩm vấn riêng từng người về chuyện này và tất cả đều kể giống nhau đến từng chi tiết.”

Cả Mia và Midori đều thấy sốt ruột. Ở một chỗ quá lâu là một việc rất nguy hiểm, họ hiểu rõ điều đó. Và mỗi phút trôi qua trong bóng tối thiếu ôxy này lại giảm đi một phần cơ hội cho họ sống sót thoát khỏi đây. Nhưng họ cũng hiểu rằng họ không còn lựa chọn nào khác. Mia đã đoán đúng rằng Coleman rõ ràng đã giấu giếm thông tin, và nếu họ muốn có một cơ hội nào đó, thì họ cần biết càng nhiều càng tốt trước khi rời khỏi DARLAH 2.

Coleman nhận ra rằng hai cô bé không tập trung lắng nghe điều ông nói, nhưng ông vẫn tiếp tục: “Trong mấy tuần sau đó, doppelgänger của Sagée xuất hiện ngày càng thường xuyên. Một lần chuyện đó xảy ra trong nhà ăn. Người ta thấy doppelgänger ngồi cạnh Sagée, nhưng cũng như khi ở trong lớp học, trên tay nó không có gì. Khi cô giáo thật ăn uống, bản sao kia bắt chước các cử động của cô ta. Nhưng không giống lần trước, không chỉ có các nữ sinh chứng kiến việc này mà cả các nhân viên phục vụ trong nhà ăn cũng nhìn thấy bản sao đó.

“Trong mùa xuân năm đó, cách hành xử của doppelgänger bắt đầu thay đổi. Nó có vẻ đã có ý thức riêng. Ví dụ khi cô giáo đứng dậy trước lớp, thì doppelgänger vẫn ngồi yên. Nhưng sự kiện quan trọng nhất xảy ra vào cuối tháng Năm. Tất cả bốn mươi hai nữ sinh của trường đều đang ngồi học thêu trong một giảng đường lớn, và qua các cửa sổ lớn chạy dọc theo tường họ có thể thấy rõ ràng Emilie Sagée đang ở ngoài vườn, vừa đi vừa hái hoa giữa các luống. Mấy phút sau người giáo viên đang đứng lớp giờ thêu của các nữ sinh rời khỏi giảng đường để đến phòng mình lấy đồ. Nhưng ghế của ông ta không trống không, mà một giây sau các nữ sinh phát hiện Sagée đang ngồi trên đó. Họ bối rối nhìn ra ngoài vườn. Emilie Sagée vẫn đang hái hoa...”

Coleman cảnh giác dừng lời. Ông lắng nghe xem có tiếng động nào phát ra từ hành lang không và rõ ràng đang lo sợ. Mia và Midori bất lực nhìn nhau.

“Chú kể tiếp nhé?” Coleman hỏi.

Mia vội gật đầu.

“Sau hôm đó, các nữ sinh cảm thấy không thể chịu được nữa. Từng người lần lượt bỏ học và đến đầu học kì mùa thu, số lượng học sinh đã giảm từ bốn mươi hai xuống mười hai. Nhà trường thấy không còn cách nào khác ngoài việc sa thải Sagée. Một tuần sau cô rời khỏi trường, và không ai biết chuyện gì xảy đến với cô ta nữa. Nhưng đã có rất nhiều nghiên cứu về trường hợp của Sagée, nhiều luận văn về việc đó. Vấn đề là mọi kết luận đều rất mơ hồ. Người ta nghĩ trường hợp này tương tự như một hồn ma. Nhưng không phải loại hồn ma trùm vải trắng đeo xiềng ở cổ chân. Mà là một hồn ma sống. Một thực thể không thực. Lúc này gọi nó là gì cũng không quan trọng. Chú e rằng chúng ta đang gặp phải một thể loại doppelgänger nguy hiểm hơn nhiều.”

“Ý chú là gì?”

“Một bản sao xấu xa có âm mưu chiếm đoạt cuộc sống của cháu mà không ai biết. Nó sẽ giết cháu và bắt chước mọi thói quen của cháu, để dễ dàng tiếp cận những nạn nhân mới. Doppelgänger của Sagée có vẻ đáng sợ nhưng thực ra vẫn vô hại. Nhưng của chúng ta thì sao? Năm trong số tám người đã chết, Mia ạ. Cháu có hiểu chú đang nói gì không?”

“Chà, thế đấy,” Midori kết luận, mặt tái xanh. “Chúng ta sẽ chết cả nút.”

Mia không đáp lại.

Thực ra đã có chuyện gì ngoài hành lang, Mia?” Coleman hỏi.

Mia hít một hơi và kể lại mọi chuyện mình nhớ được. Về tiếng nhạc không hiểu từ đâu đến. Về con người xuất hiện trên hành lang và nói chuyện với cô. Về chuyện nó có hình dáng và giọng nói giống hệt cô. Mia kể lại những gì kẻ đó nói về những người khác.

Họ lắng nghe trong không khí tĩnh lặng của căn cứ. Thứ đang ở ngoài kia có thể đang ẩn nấp tại bất cứ chỗ nào. Nó có thể đang ở ngay trong phòng này với họ, ngay tại đây, ngay lúc này, mà họ không hề biết. Coleman hít vào thứ không khí thiếu ôxy trong phòng. Chẳng mấy chốc điều kiện ở đây sẽ không còn nuôi dưỡng được sự sống nữa.

Ông suy tính về tình huống hiện tại trong một lúc lâu. Rồi ông nói, “Chú... có một người quen làm... mục sư. Chú biết ông ấy từ khi còn nhỏ. Ông ấy... ừm, chú không phải người theo đạo, nhưng chú rất kính trọng và nghe lời ông ấy. Một đêm chú lấy hết can đảm kể với ông ấy về những điều chú biết được về các đợt hạ cánh lên Mặt Trăng, những điều mà chỉ có chú, các phi hành gia có mặt trong những lần hạ cánh đó, và một vài người khác ở NASA được biết. Chú nói liên hồi dễ đến hơn một tiếng đồng hồ, và khi kể xong ông ấy nhìn chú một lúc rất lâu rồi nói, giọng cực kì nghiêm trọng: ‘Anh biết không, Aldrich, khi Chúa đày Lucifer và những kẻ thù khác ra khỏi thiên đường và xuống một vực sâu nơi người gọi là địa ngục, người không hề nói rõ địa ngục nằm ở đâu?’”

“Thế... chú nghĩ Mặt Trăng là... địa ngục ư?” Midori hỏi.

Coleman nhún vai gạt bỏ ý tưởng đáng sợ đó, “Đó chỉ là một ý kiến thôi. Nhưng nếu là thế thật... và nếu chúng ta có thể xóa bỏ địa ngục mãi mãi... thì cháu có muốn thử không?”

“Đó là việc NASA đang muốn làm sao? Chuyện đó thật... lố bịch!” Mia đáp. “Dù sao cháu cũng không theo đạo. Cháu không tin vào mấy chuyện này.”

“Chú cũng không,” Coleman nói. “Nhưng chuyện đó không phải là vấn đề chính. Vấn đề là thứ chúng ta đang gặp ở đây có thể là bất cứ thứ gì,” ông nói tiếp, “một loại... hiện tượng, một hình thái có thật của doppelgänger. Một dạng tồn tại chúng ta chưa biết. Một thứ gì đó đáng lẽ ngay từ đầu chúng ta không được đụng tới. Vấn đề là cuối những năm chín mươi, một số nhân vật quyền lực và có ảnh hưởng lớn ở NASA đã bắt đầu nghiêng về phía những giả thuyết tôn giáo cực đoan này. Chúng ta phải quay lại với tín hiệu Wow! mà kính thiên văn Big Ear bắt được vào tháng Tám năm 1977. Đúng là khi đó cả NASA cũng ngạc nhiên. Nhưng đến tận nhiều năm về sau, khi bọn chú tiếp tục nghiên cứu tín hiệu đó, bọn chú vẫn luôn tin chắc rằng nó đến từ Mặt Trăng. Bọn chú chỉ không dám nói cho ai biết thôi, vì không hề biết lí do là gì. Là do nhầm lẫn? Hay là do cố ý? Hay đó chỉ là một đoạn liên lạc nội bộ ngẫu nhiên lọt ra? Nhưng đến giờ chúng ta đã biết nó là gì: một dấu hiệu. Một chữ kí muốn nhắc nhở chúng ta rằng ngay từ khi đó chúng ta đã không phải là những kẻ duy nhất trong vũ trụ, mà ngoài đó còn có thứ đáng sợ khác. 6EQUJ5. Thứ mà chúng ta đang đối mặt, dù là gì đi nữa, thì cũng có một điều chắc chắn là: Nó không được phép đến Trái Đất. Nếu không thì tất cả sẽ chấm hết.”

Ba người ngồi trong yên lặng một hồi lâu. Làm sao có thể tin được lời Coleman vừa nói đây? Liệu điều ông nói có lí chút nào hay không? Nếu có thì họ phải sợ thứ gì nhất đây? Sợ nơi này hay sợ những con người trên Trái Đất kia, những kẻ đã quyết định cử thiếu niên lên đây vì những giả thuyết điên rồ và cực đoan của mình?

Đáng lẽ bọn mình không nên đến tìm Coleman làm gì, Mia thầm nghĩ. Ông ấy chẳng giải đáp được vấn đề gì cả, chỉ làm mọi thứ rối rắm hơn.

“Chú Coleman, giờ chỉ còn ba người chúng ta thôi,” Midori lên tiếng trước khi Mia kịp nói ra suy nghĩ của mình. “Có đủ chỗ cho chú trên tàu sơ tán đấy. Xin chú đi cùng bọn cháu. Tất cả đi cùng nhau thì sẽ nhiều khả năng đến được DARLAH 1 hơn.”

Nhưng lòng ông đã quyết, dù lúc này ông đã tin chắc điều gì đang xảy ra quanh họ.

“Xin lỗi Midori. Chú rất xin lỗi. Nhưng chú phải hoàn thành việc chú đã bắt đầu. Đến lúc hai cháu đi rồi. Ở đây với chú thêm phút nào là nguy hiểm thêm phút đó. Chúng có thể tìm thấy chúng ta bất cứ lúc nào, nên từ giờ các cháu phải đi một mạch. Đến DARLAH 1. Về nhà đi!”

Cố thuyết phục ông cũng vô ích. Họ miễn cưỡng đứng dậy ôm lấy ông.

“Còn một điều nữa,” Coleman nói. “Cho đến giờ các cháu mới chỉ thấy doppelgänger của Antoine và của Mia. Nhưng như thế có nghĩa là ngoài kia có thể còn nữa. Nếu các cháu bị chia tách, thì khi gặp lại phải đảm bảo là mình không nhầm. Theo những báo cáo từ NASA và các sách vở khác chú từng đọc về hiện tượng này, thì bóng của doppelgänger quay ngược hướng. Đôi khi các cháu có thể nhìn vào mắt chúng. Đáy lòng đen của chúng cũng chỉ có một màu đen. Chúng có thể ra vẻ là bạn tốt, cho cháu những lời khuyên chân thành, nhưng những lời khuyên đó thường khiến cháu đi sai hướng hoặc nguy hiểm, cho phép chúng gây hoang mang cho chúng ta. Và đó chính là điều chúng muốn. Vì như vậy chúng sẽ có thêm thời gian để chuẩn bị tấn công. Các cháu đã nhớ kĩ chưa?”

Họ gật đầu. “Còn chú thì sao? Chuyện gì sẽ đến với chú?” Mia hỏi.

“Chú chỉ định ngồi đây thêm một lát nữa, ngẫm nghĩ mọi sự.” Ông khẽ mỉm cười. “Đừng buồn. Số phận của chú là phải chết ở đây. Giờ chú đã hiểu rồi.”

---❊ ❖ ❊---

Chẳng còn gì để nói thêm. Coleman phải làm theo cách của ông. Mia và Midori còn có việc phải làm. Nói lời vĩnh biệt sau cùng, họ ra khỏi nhà kính và bước ra hành lang tối om.

“Cậu sẵn sàng chưa Midori? Hay muốn ở lại thêm?”

“Tớ sẵn sàng rồi.”

“Tốt. Vậy bọn mình sẽ chạy đến phòng thiết bị khi tớ ra hiệu. Tớ có bản đồ đến DARLAH 1 đây rồi. Dù cậu làm gì cũng không được rời mắt khỏi tớ. Cậu nghe rõ chưa?”

“Rõ rồi.”

“Ba,” cô thầm thì. “Hai. Một.” Rồi cô hô lên: “CHẠY!”

Họ chạy như điên qua căn cứ, vượt qua bóng tối tiến về mô-đun bốn. Các hành lang hầu như đã cạn sạch ôxy, khiến mỗi hơi thở đều khiến họ thấy mình sắp chết ngạt. Mia chạy thục mạng không quay đầu lại, không dừng bước kiểm tra xem trên đường mình chạy có gì hay không. Cô cứ chạy, với Midori theo sát phía sau, trong đầu chỉ nghĩ được một điều duy nhất Mình sẽ không bao giờ quay lại cái căn cứ này nữa, Mình sẽ không bao giờ quay lại đây nữa, Mình sẽ không bao giờ đến đây nữa, Mình sẽ không bao giờ đến đây nữa.

Họ đến phòng thiết bị, cả hai đều có vẻ ngạc nhiên vì đã đến được đây mà không gặp phải chuyện gì. Không nói một lời, họ giúp nhau mặc đồ vào. Họ nhấc hai bình ôxy đầy nhất lên và đeo lên lưng. Cài ủng và găng tay thật chắc, kiểm tra mọi đường chỉ và khe hở trên bộ đồ du hành. Họ cố gắng thao tác thật nhanh, nhưng từng phút vẫn tích tắc trôi qua, và cả hai đều liên tục nhìn ra hành lang tối đen mình vừa đến với ánh nhìn khiếp sợ.

“Caitlin để cửa ngoài mở sẵn rồi,” Mia hét lên với Midori qua loa bộ đàm. “Bọn mình chỉ có một cơ hội duy nhất lúc mở cửa trong thôi. Khi nào sẵn sàng thì ra hiệu cho tớ.”

Midori giơ ngón tay cái đáp lại.

“Bắt đầu thôi! Bám vào thứ gì đi!”

Midori khóa chặt cánh tay quanh một ống thép gắn trên tường, Mia cũng bám lấy một cái tương tự bên phía mình. Cô dùng tay còn lại nâng cánh cửa phòng giảm áp, và lượng ôxy còn sót lại trong DARLAH 2 bị hút sạch ra ngoài với một lực đáng kể, cuốn theo mọi thứ không được cố định lại. Giấy, ủng, quần áo và mũ bảo hiểm, những đoạn dây thừa, và cả bình ôxy lao vào vùng chân không và trôi nổi bập bềnh trên bề mặt Mặt Trăng. Mia và Midori co người lại thật nhỏ để tránh bị những vật thể bay qua va vào.

“BAO GIỜ NÓ MỚI DỪNG LẠI ĐÂY?” Midori hét lên với Mia.

“Cố chịu đi, Midori! Không còn lâu nữa đâu!”

Nhưng họ vẫn cảm thấy rất lâu. Lâu hơn nữa. Trong khi bám chặt vào ống thép, Mia tập trung nghĩ về nhà. Về ban nhạc của cô, lúc này chắc hẳn đã quyết định để Kari làm ca sĩ chính. Về bố mẹ cô, hẳn đang vô cùng lo sợ cho cô. Họ đã từ bỏ hi vọng hay chưa? Và cả Sander nữa. Không biết bây giờ nó đang làm gì? Nó có đang ngồi ngoài nhà khách ở Trung tâm Vũ trụ Johnson với hai tay vòng quanh chiếc mũ bảo hiểm mà nó luôn đội khi ra ngoài, đôi mắt dõi lên trời, chờ đợi chị gái mình trở lại?

Cuối cùng, họ thấy lực hút giảm dần và họ có thể thả tay ra. Họ cùng nhấc hẳn cánh cửa lên và rời khỏi căn cứ.

“Đi đường này,” Mia gọi, chỉ tay về phía vùng đất bằng phẳng trống trải.

Có một người đang ngồi dưới gốc táo trong nhà kính. Ông không còn chút ôxy nào để thở.

Đến lúc rồi , ông nghĩ trong khi bắt đầu ngạt dần. Aldrich Coleman, mày đã đợi rất lâu để hoàn thành chặng đua này. Sớm muộn gì nó cũng đến, đúng không? Cú bắn thứ sáu cũng là cú cuối cùng .

Lần này sẽ không còn tiếng cách phát ra từ khẩu súng nữa. Ông nhắm mắt tưởng tượng mình đang trở lại Công viên Trung tâm. Ông có thể ngửi thấy hương cỏ của buổi sáng thứ Bảy nhiều năm về trước. Ông cảm thấy sự tồn tại của gã đàn ông đang chĩa súng vào thái dương ông và bóp cò. Năm lần. Nhưng lần này sẽ khác. Ông không còn sợ nữa. Đã đến lượt ông nắm quyền kiểm soát. Ông là người được nói lời cuối cùng.

Coleman nhặt khẩu súng lên từ nền đất khô cứng. Nó nặng hơn trong trí nhớ của ông, sức nặng của nó càng làm tình cảnh thêm phần ảm đạm. Ông kê họng súng vào thái dương. Bóp cò.

Không có tiếng cách nào vang lên.

Nếu trong căn cứ còn chút không khí nào sót lại, âm thanh của phát súng hẳn đã vang vọng khắp không gian.

« Lùi
Tiến »