“Chắc là cậu rất ngạc nhiên nhỉ, tôi cũng thế. Rất vui khi được viết thư trao đổi với cậu. Tôi đã phải lấy hết dũng khí, xin cậu đừng có những nghi ngờ không cần thiết. Lúc tôi ý thức được sự tồn tại của cậu thì tôi rất vui, đây cũng xem như cùng chung chí hướng đi, dù rằng việc chúng ta đang làm vừa nguy hiểm vừa phạm pháp. Thế nhưng mặc kệ thế nào đi nữa thì con nhỏ đó đáng phải chịu báo ứng, nếu không thì thật sự quá bất công!
Tôi sẽ dùng cách này để giới thiệu bản thân. Hiện giờ Văn Tú Quyên đang ở trong bệnh viện, chắc hẳn cậu sẽ cho rằng đây là một sự kiện bất ngờ, bởi vì lần này cậu đâu có ra tay. Bây giờ tôi nói cho cậu hay, lần này chẳng phải bất ngờ gì, mà là do một tay tôi sắp đặt. Đương nhiên, lần này chỉ là để dạy dỗ thôi, tôi chẳng muốn nó bị làm sao cả, nó rồi sẽ được cứu và lại quay về với chúng ta, thậm chí không lâu nữa đâu. Thế nhưng đây là khởi đầu, tôi đã gia nhập cùng cậu rồi, tương lai vẫn còn rất dài, tôi định hành động chầm chậm như cậu vậy. Về thân phận thật sự của tôi thì tôi nghĩ cậu cũng chẳng thăm dò một cách tùy tiện đâu, cũng giống như tôi sẽ không lỗ mãng hỏi tên của cậu. Dù sao ngày nào chúng ta cũng gặp nhau, cũng chào hỏi, đều là bạn cùng lớp cả mà.”
…
“Mày không cần phải biết cách thức của tao. Thủ đoạn lần này của mày vừa ngu xuẩn vừa vô nghĩa, đừng để bản thân bị tóm rồi còn liên lụy đến tao. Sinh viên trường Y mà không nghĩ ra được cách nào hay à? Sao mày nghiệp dư thế, đứa tiếp theo bị loại chắc chắn sẽ là mày!
Văn Tú Quyên chẳng còn sống được bao lâu nữa đâu. Có mày hay không cũng thế thôi.”
…
☆ ☆ ☆
“Cảm ơn cậu đã trả lời. Tôi rất vui, thật đấy!
Tôi xin nhận lời phê bình của cậu, nhưng thật ra thì tôi đã bước đầu triển khai kế hoạch rồi, vẫn còn phải hoàn thiện hơn. Trước khi tôi chưa thể làm rõ được hết thì tôi sẽ không ra tay nữa. Chắc hẳn cậu đã dùng một thủ đoạn gần như hoàn mỹ nhỉ, tôi đã đọc rất nhiều tư liệu về triệu chứng Văn Tú Quyên biểu hiện mà vẫn không tài nào đoán được cách thức cậu đã dùng. Điều này khiến tôi hơi sùng bái cậu rồi đấy!
Muốn nói chuyện phiếm với cậu thế thôi, mong cậu đừng chê tôi dông dài. Tại mấy vụ này không thể kể cho ai khác mà.
Mỗi lần trông thấy Văn Tú Quyên thì tôi càng cảm thấy nó đáng ghét hơn, thậm chí nhiều khi tôi gần như không thể che giấu được cảm xúc của mình. Những lúc như vậy tôi đã nghĩ liệu mình có cực đoan quá không. Thế nhưng tôi không ngờ rằng có người còn hận nó hơn cả tôi.”
…
☆ ☆ ☆
Mười sáu tờ giấy viết thư, mười bốn bức thư.
Thư được trải đều thành hai hàng trên hai chiếc bàn gỗ hình vuông kê sát nhau, hàng trên tám bức, hàng dưới sáu bức, phân loại ra của hai người viết khác nhau. Đây là thư từ qua lại giữa hai kẻ giết người không biết thân phận thật sự của nhau, trước bức thư cuối cùng thì bọn họ vừa cẩn thận giữ kín bí mật thân phận, vừa cùng nhau thương lượng cách hạ độc Văn Tú Quyên, hệt như một cuộc thi tiếp sức. Văn Tú Quyên chính là cây gậy chuyền tay giữa bọn họ, cho đến khi đẩy cuộc đời cô ấy đến điểm kết thúc.
Giấy viết thư vừa mỏng vừa dễ rách, tờ nào cũng bị cuộn lại, không thể dàn phẳng ra, giống như không thể chứa đựng nổi tội ác được viết trên giấy.
Nếu như hôm trước Quách Khái vẫn còn hơi nghi ngờ nhưng không thể hiện ra trước câu chuyện Liễu Nhứ kể, thì khi đặt mười bốn bức thư này trước mặt đã đủ khiến anh hiểu rằng những sự việc xảy ra vào chín năm trước tại trường Y còn tăm tối và độc ác hơn những gì Liễu Nhứ kể rất nhiều.
Quách Khái chẳng nói mấy câu như “Tại sao trong trường học lại xảy ra chuyện này” hoặc là “Không ngờ lại có hai kẻ đầu độc”, anh chỉ im lặng hồi lâu. Liễu Nhứ cũng không nói chuyện, từ sáng sớm sau khi phát hiện những bức thư này thì từng gương mặt của bạn học hiện ra trong đầu cô như chiếc lồng đèn kéo quân, hết người này lại đến người khác. Ban đầu cô cảm thấy không dám tin tưởng bất kỳ ai, giờ thì gương mặt nào trông cũng như cười mà lại không cười, khiến cô không rét mà run.
Quách Khái ngồi thẳng dậy, nhìn kĩ những bức thư giữa hai kẻ giết người đó từ xa, sau đó anh chậm rãi cúi xuống, ghé đến gần hơn. Thế nhưng tay anh vẫn không đụng vào nó. Đột nhiên anh cử động, như vừa thoát ra khỏi một tình cảnh nào đó.
“Cho tớ mượn những bức thư này để in bản sao của nó ra.” Anh nói.
“Được.”
“Cô ấy là người thế nào, Văn Tú Quyên ấy?”
“Cậu ấy là người rất ưu tú, học giỏi, tính tình cũng tốt, có một phong thái điềm tĩnh...”
“Không!” Quách Khái lắc đầu, “Những điều này hôm qua cậu đã nói rồi, thế nhưng, cô ấy không thể chỉ giống như cậu nói được. Không có cái hận nào vô duyên vô cớ hết, huống chi còn là giết người. Lại còn có hai kẻ giết người không hẹn mà cùng làm nữa.”
“Không phải đâu, cậu chưa từng gặp cô ấy nên cậu không biết thôi, cô ấy thật sự là một cô gái hoàn hảo.”
Liễu Nhứ bắt đầu hồi tưởng về những điều tốt đẹp của Văn Tú Quyên, cố gắng hết sức truyền tải hình tượng hoàn hảo không tì vết trong lòng mình cho Quách Khái. Sau đó những gì cô nói đi nói lại đều là sự mô tả chủ quan, những chi tiết trong trí nhớ cũng đã trở nên mơ hồ, cô rất khó miêu tả rõ những hành vi thế nào mà lại khiến địa vị của Văn Tú Quyên trong lòng cô cao như vậy. Hoặc là những chuyện vụn vặt năm nào như giọng điệu, nụ cười và ân huệ mà cô nhận được từ Văn Tú Quyên đã thật sự thể hiện được phẩm chất của cô ấy, thế nhưng bây giờ mang ra kể lại thì lại cảm thấy phai nhạt rồi.
Cuối cùng Liễu Nhứ ngừng lại. Cô cúi đầu nhìn những bức thư đó, nói, “Tớ không biết tại sao hai kẻ này lại hận cậu ấy. Tớ có thể cảm nhận được trong lớp có nhiều người không thích cậu ấy, tớ không biết tại sao, tớ thấy với cách mà cậu ấy đối nhân xử thế thì chuyện này rất vô lý.”
Liễu Nhứ bỗng thở một hơi.
“Thật ra tớ cũng không hẳn là hiểu rõ cậu ấy.” Cô nói.
“Mấy năm sau đó gần như không có ai nhắc về cậu ấy, chỉ thỉnh thoảng nghe được, có thể đếm đủ bằng một bàn tay. Cũng kỳ lạ, xảy ra chuyện như vậy mà mọi người cũng chẳng muốn nhắc đến nữa. Nhưng như vậy lại tốt cho tớ, bởi vì tình trạng lúc đó của tớ khá tệ, tớ không muốn nghe thấy hay nhìn thấy bất cứ chuyện gì có liên quan đến cậu ấy, trốn thật xa. Vì vậy có thể nói là tớ cũng chỉ mới quen cậu ấy được vài tháng, nhìn thấy tình trạng của cậu ấy trong mấy tháng đó. Đúng là tớ không hiểu cậu ấy lắm.”
Quách Khái gật đầu, nói, “Có lẽ bạn của cậu không hoàn hảo như cậu nghĩ đâu, chẳng có ai hoàn hảo cả, nếu là người thì sẽ có khuyết điểm chỗ này chỗ kia. Nhưng cho dù có khuyết điểm gì đi nữa thì những chuyện xảy ra với cô ấy thật sự quá đáng sợ, tớ nhất định phải lôi tên sát nhân này ra ánh sáng”
“Vậy từ những bức thư này cậu có thấy được manh mối nào không?”
“Có rất nhiều, nhưng bây giờ loạn cào cào hết, phải từ từ sắp xếp lại các đầu mối.” Quách Khái lắc đầu, hình như là đang nghĩ tới đây thôi, sau đó anh mới sực tỉnh, mỉm cười ái ngại với Liễu Nhứ.
“Xin lỗi nhé, tớ cứ tưởng như vẫn đang trong đội cảnh sát điều tra. Cũng không có gì phải giấu hết, tớ sẽ nói hết những gì tớ thấy được, cậu cũng nghiên cứu thử. Ví dụ như...”
Quách Khái dùng ngón tay chỉ vào bức thư, “Những dấu vết này không hề có từ ban đầu.”
“Ý cậu là những bức thư này được chép lại ư, Văn Tú Quyên là người chép lại? Nhưng đây không phải nét chữ của cậu ấy.”
“Không, ý tớ nói là hàng thư này. Cậu có chú ý chỗ này không? Những dấu vết màu xanh trên giấy ấy.”
Liễu Nhứ cầm bức thư lên nhìn thật kĩ. Loại giấy viết thư mà hai hàng thư này dùng đều giống nhau, là giấy viết thư có in tên trường, có thể mua được tại các quầy bán quà vặt trong trường, cơ bản là sinh viên đều sẽ thì dùng, đôi lúc cũng nhặt được trong hộc bàn, nên không thể tra được tung tích gì từ xuất xứ của loại giấy này. Thế nhưng hệt như Quách Khái đã chỉ ra, trên tờ giấy quả nhiên có một lớp màu xanh nhàn nhạt, nhìn sơ qua giống như hoa văn của tờ giấy, thậm chí nếu không chú ý thì cũng khó mà phát hiện ra, thế nhưng nhìn kĩ thì có thể thấy rằng nó bị dính lên sau này. Không chỉ một bức này mà cả tám bức thư ở hàng đầu đều có ít hoặc nhiều vết xanh này, còn thư từ của “một bạn học khác” ở hàng hai thì không có hiện tượng này.
Liễu Nhứ cảm thấy những dấu vết màu xanh này hơi quen mắt, nhưng nhất thời không nắm được điểm quan trọng, nếu Quách Khái đã chỉ ra rồi thì có lẽ anh đã biết nó là gì, Liễu Nhứ trực tiếp mở miệng hỏi anh nó là cái gì.
“Là giấy than màu xanh.”
Liễu Nhứ chợt nhớ ra. Tờ giấy than dùng để sao chép này là văn phòng phẩm rất thường thấy vào những năm tám mươi, chín mươi, nhưng những năm gần đây thì ít thấy hẳn, vì vậy cô mới không nhớ ra.
“Vì vậy đây là bức thư đã được sao chép lại chứ không phải bản gốc. Nhưng vì sao lại là thư chép lại, không biết bản gốc đâu mất rồi.”
“Nếu như những bức này là bản gốc thì sao, ý tớ là, có lẽ những bức gửi đi mới là thư sao chép.”
Quách Khái nhướn mày, nhìn Liễu Nhứ một cái tỏ vẻ bất ngờ, nói, “Cũng có thể có khả năng này, mạch suy nghĩ của cậu cũng thích hợp làm điều tra phá án đấy. Nếu vậy thì gửi thư sao chép đi cũng có cái lợi, cách một lớp giấy cũng sẽ khó phán đoán được nét chữ hơn, bởi vì có một nhân tố cản ở giữa mà. Nếu như thật sự đây là nguyên nhân thì người viết những bức thư này cũng cẩn thận thật.”
Anh lắc đầu nói, “Thế nhưng chỉ hơi khó hơn thôi, thật ra cũng chẳng có khác biệt gì quá lớn. Tớ tin rằng nét chữ mà cả hai người này sử dụng không phải là nét chữ bình thường, cậu nhìn mấy chữ này viết nghiêng ngả thế kia, nếu như làm vậy để có thêm một tầng bảo vệ danh tính thì ừm, đúng là có còn hơn không”
Trông Quách Khái có vẻ nghi ngờ với suy đoán này của Liễu Nhứ, nhưng lúc này anh cũng không nghĩ ra được lời giải thích hợp lý nào khác.
“Văn Tú Quyên có được những bức thư này cũng lạ thật, dù sao thì cô ấy cũng không nên có chúng. Cho dù cô ấy đã có được những bức thư này thông qua cách thức nào đó mà chúng ta không thể tưởng tượng được, vậy tại sao cô ấy vẫn bị đầu độc đến chết? Những bức thư này được giấu trong món đồ đặc biệt để lại cho cậu, nếu cô ấy hi vọng cậu có thể tìm ra chân tướng thì có lẽ đây là toàn bộ manh mối cô ấy có thể tìm được, điều này có nghĩa là tuy cô ấy có những bức thư này nhưng lại không biết thân phận thật sự của kẻ viết thư.”
Quách Khái lại lắc đầu.
“Không nghĩ ra được. Chẳng lẽ những bức thư này đã bị đánh tráo, không phải là thư mà Văn Tú Quyên để lại cho cậu. Có lẽ cô ấy chỉ để lại mỗi cây tiêu cho cậu thôi, có lẽ cô ấy để lại manh mối nào khác trong ống tiêu đó, nhưng bị ai đó lấy ra trước, đổi thành những bức thư này để đánh lừa cậu. Nếu vậy thì rất khó giải thích động cơ của kẻ đó, tại sao lại phải mất công đến vậy, để mọi chuyện mau chóng êm xuôi có phải hơn không? Trừ phi sau khi cậu bị đánh lừa thì sẽ làm ra chuyện gì đó khiến hung thủ vừa xem vừa thích thú.”
Liễu Nhứ lắc đầu, “Tớ nghĩ là tớ sẽ chẳng làm gì cả. Tớ đã bị hù đến mức sợ phát khiếp, tớ chỉ là một đứa nhát như thỏ đế. Nếu như năm đó tớ phát hiện ra những bức thư này thì thậm chí tớ còn không báo cảnh sát.”
“Vậy thì điều này lại là một manh mối mà hiện giờ chúng ta chưa giải được. Nhưng không sao, lúc mới bắt đầu thì hay thế này lắm, dần dần rồi các nút thắt cũng sẽ được gỡ thôi. Cậu xem, mới có một ngày mà đã tiến triển nhiều đến vậy rồi.” Quách Khái mỉm cười với Liễu Nhứ, anh biết mấy năm nay mặt mình tròn trịa hơn, ai cũng bảo nụ cười của anh khiến người khác cảm thấy bình tĩnh, cực kỳ có hiệu quả trong việc hòa giải mâu thuẫn gia đình.
Liễu Nhứ lại cảm thấy nụ cười này có gì đó rất ấm áp. Cô không biết sự ấm áp này ẩn chứa sau nụ cười, hay là tự bản thân cô gán cho nó nữa.
“Trong những bức thư này có rất nhiều điểm đáng nghi, ví dụ như đối với hai người không biết thân phận nhau thì những bức thư đầu tiên đã xảy ra như thế nào, người gửi thư đã giấu thư ở đâu để người thứ hai nhận được. Thế nhưng ngoài những điểm đáng nghi ra thì cũng có nhiều chỗ đáng để phân tích. Tuy rằng trong thư không ghi chính xác về thời gian bức thư đầu tiên được gửi vào thời điểm nào, bức thư cuối cùng được gửi vào thời điểm nào, nhưng lại nhắc đến một số sự kiện có mốc thời gian chính xác. Bức thư đầu tiên có nhắc đến chuyện Văn Tú Quyên phải nằm viện vì một việc có vẻ như ngoài tầm dự đoán, cậu còn nhớ chuyện này không?”
Đương nhiên là Liễu Nhứ nhớ. Tất cả mọi chuyện liên quan đến Văn Tú Quyên càng lúc càng rõ nét hơn mặc cho cô cố hết sức quên đi. Cô còn có trí nhớ rất đặc thù với thời gian, khiến cái ngày đó lập tức hiện ra trong đầu.
Hôm đó là thứ Ba.
Ngày 12 tháng 11 năm 1997, thứ Ba. Không có mưa. Văn Tú Quyên tranh thủ thời gian nghỉ trưa đi làm công việc thử nghiệm thuốc tiêm vào tĩnh mạch, buổi chiều đi rút ống máu thứ hai thì cảm thấy khó chịu, ngay sau đó là nôn mửa, cô lập tức nhập viện, ở liền hai ngày mới khỏi, nói là do phản ứng với thành phần của thuốc. Sau khi ở lại bệnh viện theo dõi một ngày thì vào thứ năm, Văn Tú Quyên về trường đi học bình thường. Trong quá trình thử thuốc, thỉnh thoảng những chuyện thế này sẽ xảy ra, cũng không phải chuyện hiếm thấy. Nhưng mà, từ nội dung bức thư đầu tiên thì đây lại là lần đầu độc có chủ đích.
Bản thân Liễu Nhứ chưa từng làm người thử thuốc, vì vậy cô không thể nói rõ về quá trình cụ thể, hay trong lúc thử thuốc có khâu nào sơ hở dễ dàng bị người khác lợi dụng, chỉ có thể nhờ cậy Quách Khái tự mình điều tra, xem có thể tìm được manh mối gì sau chín năm hay không. Đây đương nhiên là chuyện rất khó, nhưng những điểm quan trọng Quách Khái đặt ra nằm ở thời gian gửi thư đã được xác nhận của bức thư đầu tiên, cũng chính là trong hai ngày 11, 12 tháng 11 năm 1997. Có một mốc thời gian khác nằm ở bức thư thứ bảy. Trong bức thư này có nhắc đến chai nước suối có lỗ kim, cũng chính vào ngày hôm đó Liễu Nhứ đã bắt đầu can thiệp vào vụ án đầu độc giết người này, đó là ngày 16 tháng 11 năm 1997.
Mốc thời gian thứ ba nằm ở bức thư thứ chín. Trong bức thư này có nhắc đến công cuộc điều tra mà Liễu Nhứ đang thực hiện, cuộc điều tra ngắn ngủi đó tổng cộng duy trì được ba ngày, vào buổi tối của ngày thứ ba thì Liễu Nhứ ngã vào hồ Xác Chết. Trong thư nói rằng Liễu Nhứ đã nói chuyện với vài người trong lớp, vậy thì hẳn là được viết vào ngày thứ hai cô thực hiện việc điều tra, tức ngày 12 tháng 12. Cũng có thể là ngày thứ ba.
Hai tuần đầu thông qua bảy bức thư, bình quân hai ngày một bức. Bức thứ tám, thứ chín thì lâu hơn một chút, ba đến bốn ngày một bức. Rất có khả năng bức thứ mười được viết ngay sau khi Liễu Nhứ xảy ra chuyện, trong bức thứ mười một thì kẻ viết thư dùng giọng điệu khẳng định để nhắc đến việc Liễu Nhứ đã “rút được bài học kinh nghiệm”, đó có lẽ là kết luận của kẻ kia vào khoảng thời gian sau khi tinh thần của Liễu Nhứ đã ổn định rồi mà vẫn không có ý định điều tra gì nữa, theo cô thấy thì chí ít nó được viết vào khoảng ba đến năm ngày sau khi cô nhập viện.
Sau khi cả hai kẻ giết người thử thăm dò nhau qua mười mấy bức thư thì cuối cùng quyết định gặp mặt, bọn họ chọn địa điểm gặp nhau ở bức thư cuối cùng, vậy là kết thúc tội ác qua thư này. Không lâu sau khi cả hai kẻ giết người này gặp nhau thì Văn Tú Quyên chết. Thời gian gặp mặt là “thứ Tư tuần này”, trừ thời gian người kia đi lấy thư thì khoảng thời gian thích hợp để gửi có lẽ vào Chủ nhật hoặc thứ hai. Kết hợp với thời gian gửi qua lại của những bức thư trước thì thứ Tư mà hai kẻ này gặp nhau nếu không phải ngày 17 tháng 12 thì là ngày 24 tháng 12, không thể sớm hoặc muộn hơn được. Văn Tú Quyên chết vào ngày 27.
Giữa hai mốc thời gian này, tính từ tần suất gửi thư qua lại trước đó thì có khả năng là ngày 24, nhưng Quách Khái lại nghiêng về ngày 17.
“Nếu là ngày 24 thì có lẽ trong thư sẽ ghi chú là đêm Giáng sinh.” Quách Khái nói, “Đương nhiên cũng không thể lấy nó làm chuẩn được, chủ yếu là từ những bức thư trước đây thì kẻ hạ độc chính là người viết bức thư thứ hai, chúng ta gọi hắn là nghi phạm B, cách thức đầu độc mà hắn sử dụng chính là đầu độc liều lượng nhỏ nhiều lần, còn nghi phạm A thì lại giống như kẻ sùng bái nghi phạm B, sau khi cả hai gặp nhau thì chắc không thay đổi phương châm đầu độc này. Văn Tú Quyên gục ngã trong lớp Giải phẫu vào ngày 26 tháng 12, ngày 27 thì qua đời, nếu hai người này gặp nhau vào đêm 24 thì hình như hơi ít thời gian để làm quen với nhau. Đương nhiên sau khi độc tính tích lũy thì có thể đột ngột bộc phát bất cứ lúc nào, nhưng tớ vẫn cho rằng bọn họ gặp nhau vào đêm 17 rồi trong chín ngày kế tiếp bọn họ hợp tác hạ độc nhiều lần, khiến chất độc trong người Văn Tú Quyên phát tác vào ngày 26, khả năng này cao hơn.”
“Ngày 17 là ngày tớ xuất viện.”
Vào tối hôm cô xuất viện, hai kẻ giết người đã gặp nhau. Mốc thời gian này khiến Liễu Nhứ cảm thấy sự chuyển động của thế giới này có một quy luật nào đó khiến cô lạnh thấu xương.
“Vào tối ngày 17 và ngày 24 này cậu đã ở cùng với ai?
“Tối ngày 24 là đêm Giáng sinh, Phí Chí Cương xem phim với tớ xong thì quay về nhà để thăm mẹ anh ấy bị bệnh, những người khác đều đi đón Giáng sinh, về ký túc xá rất muộn. Đúng rồi, tớ có nhìn thấy Văn Tú Quyên, cậu ấy chạy ra khỏi rừng thông, lúc đó sắc mặt rất xấu. Địa điểm gặp mặt trong bức thư cuối cùng là rừng thông, chẳng lẽ cậu ấy đã nhìn thấy hai kẻ đầu độc? Cho nên hai ngày sau cậu ấy bị hạ độc chết?”
Quách Khái lắc đầu, “Vẫn là câu hỏi cũ, nếu cô ấy biết ai là kẻ đầu độc thì tại sao không báo cảnh sát? Chí ít cô ấy có thể báo cáo cho phía nhà trường mà. Vậy tối ngày 17 thì sao?”
“Tớ xuất viện vào buổi chiều, về nhà nghỉ một đêm, trưa hôm sau mới quay lại trường.”
Quách Khái thở dài, vốn muốn dùng phương pháp loại trừ để thu hẹp phạm vi nghi phạm, không ngờ đến cả cách này cũng không loại trừ được. Thế nhưng đã xác định được đại khái tuyến thời gian của những bức thư này, cũng tương ứng với việc có các mốc thời gian, nhưng một số chỗ vẫn cần đối chiếu.
“Tối ngày 17, tớ và Phí Chí Cương gọi điện thoại cho nhau rất lâu. Có lẽ là phải đến hơn chín giờ, có thể qua chín giờ rưỡi luôn.” Liễu Nhứ nói, “Đương nhiên rồi, Văn Tú Quyên từng nói với tớ rằng không thể nào là Phí Chí Cương được. Tớ và anh ấy sống với nhau bao nhiêu năm, anh ấy vô tội.”
Quách Khái gật đầu, muốn nói gì đó nhưng lại thôi.
“Cậu cảm thấy anh ấy có điểm đáng nghi à?” Liễu Nhứ hỏi.
“Nói chung là có người đáng nghi hơn người còn lại. Chồng cậu có lẽ là người bị nghi ngờ ít nhất. Thế nhưng xét từ góc độ phá án, tớ không dám chắc có thể hoàn toàn loại trừ được không. Qua lời nói của người bị hại Văn Tú Quyên chưa hẳn đã chính xác, bởi vì bây giờ vẫn không biết cô ấy căn cứ vào đâu mà đưa ra phán đoán như vậy. Ngược lại cậu nói rằng anh ấy và cậu gọi điện cho nhau đến tối thì chi tiết này có trọng lượng hơn. Thế nhưng cách bao nhiêu năm vậy rồi, trí nhớ của cậu có lẽ sẽ có sai lệch. Hoặc là phán đoán của tớ sai, thật ra ngày gặp mặt là tối ngày 24. Tớ nói như vậy hẳn cậu sẽ không vui, tớ có đề nghị thế này, trước khi điều tra rõ ràng thì cậu đừng tin bất kỳ ai trong số những bạn học đó.”
Liễu Nhứ im lặng.
“Cậu đã nói với chồng cậu rằng cậu muốn điều tra nguyên nhân cái chết của Văn Tú Quyên chưa?”
Liễu Nhứ lắc đầu.
“Vậy thì tốt nhất là đừng nói, chúng ta lén liên lạc với nhau thôi. Điều này không có nghĩa cậu đề phòng anh ấy là kẻ giết người, mỗi người đều có một người mà mình cực kỳ tin tưởng. Cậu cực kỳ tin tưởng anh ấy, thì anh ấy nhất định cũng sẽ có một người bạn mà anh ấy cực kỳ tin tưởng. Nếu hung thủ biết được cậu đang điều tra hắn thì cậu sẽ gặp nguy hiểm.”
“Tớ biết rồi.”
Quách Khái nhìn Liễu Nhứ. Nói thật thì anh thấy hơi lo và cũng nghĩ rằng không biết việc mình điều tra chuyện này có phải sáng suốt hay không. Vốn chỉ muốn điều ra rõ chân tướng để giúp trạng thái tinh thần của Liễu Nhứ đỡ hơn. Nhưng toàn bộ sự việc dần mở rộng, biến thành một vòng xoáy, khiến người có liên quan dân không đứng vững được. Áp lực tâm lý mà Liễu Nhứ đang phải chịu đựng rõ ràng còn nặng nề hơn trước.
Quách Khái nhìn đồng hồ, hai giờ mười phút chiều. Buổi sáng Liễu Nhứ gọi điện thoại cho anh, cô không nói cụ thể sự việc qua điện thoại, chỉ bảo rằng có manh mối cực kỳ quan trọng, nhất định phải gặp mặt ngay. Vốn dĩ định gặp nhau vài tiếng rồi về thôi mà bây giờ... Quách Khái gọi hai cuộc điện thoại, sắp xếp ổn thỏa công việc để mình có thể ở ngoài lâu hơn. Anh cảm thấy mình phải ở lại với Liễu Nhứ thêm lúc nữa, chẳng phải để phân tích chuyện thư từ, về mặt này Liễu Nhứ không giúp được, chỉ có anh nói cô nghe thôi, mà là hiện giờ Liễu Nhứ cần có một người trò chuyện và thảo luận cùng, được ủng hộ về mặt tinh thần. Bằng không một người ở nhà, đối diện với mười bốn bức thư này thì sẽ cảm thấy rất khó chịu.
Tiếp theo Quách Khái bắt đầu phân tích nét chữ.
“Cậu nhìn chữ trên những bức thư này đi.” Quách Khái chỉ cho Liễu Nhứ xem.
Chữ của hai người đều khó nhìn, từng nét từng gạch chẳng có kết cấu gì cả. Điều này cho thấy bọn họ cố tình không dùng nét chữ mà họ bình thường quen dùng.
“Chữ của nghi phạm A còn đỡ, cậu xem chữ của B này, không biết cậu có phát hiện ra đặc điểm này không nét gạch ngang thì bên trái thường cao hơn bên phải, lúc nhấc bút lên thì có khi run tay, thỉnh thoảng còn có một hàng chữ càng viết càng nghiêng về phía bên phải, nếu như trên giấy viết thư không có kẻ hàng thì tớ tin rằng đặc điểm này càng rõ rệt hơn.”
“Điều này có nghĩa là gì?” Liễu Nhứ hỏi.
“Điển hình nhất của chữ được viết bằng người không thuận tay trái. Chính là người viết thư quen dùng tay phải để viết chữ, nhưng cố ý dùng tay trái để xuất hiện những đặc điểm này. Sự tin tưởng giữa hai người phải được từ từ tạo ra, bọn họ hiểu rõ rằng một khi bị bắt thì sẽ xảy ra hậu quả gì, cho nên lúc mới tiếp xúc nhau thì sẽ cẩn thận, không để lộ ra bất cứ chi tiết nào có thể giúp điều tra ra thân phận thật sự của mình. Bọn họ đã cẩn thận như vậy thì rất có khả năng những chi tiết để lộ thân phận là nhằm đánh lạc hướng thôi. Ví dụ như nghi phạm B nói chuyện đơn giản thẳng thắn, có thể là vì tay trái viết thư không tiện nên mới cố ý viết như vậy, nhưng mà sự cộc cằn hắn thể hiện qua thư lại không khớp với thân phận của một sinh viên ngành Y. Cậu có người bạn nào bình thường nói chuyện thô lỗ như vậy không?”
Liễu Nhứ lắc đầu nói, “Không có.”
“Vậy thì đúng rồi, chẳng lẽ người này bình thường sẽ giả vờ ra vẻ tử tế đạo mạo nhưng lại bộc lộ bản chất qua những bức thư nguy hiểm thế này ư? Đương nhiên là không rồi, vì vậy hắn đang giả vờ. Giả nét chữ, giả cả tính cách, vậy thì có khả năng hắn cũng giả luôn cả giới tính.”
“Cậu nghĩ người hành văn thô lỗ đó là nữ ư?”
“Dựa theo góc độ dễ dàng hạ độc thì khả năng cao hai kẻ này đều là nữ, khả năng cả hai đều là nam thì thấp nhất. Có thể khẳng định một điều, nếu cậu dựa theo hình tượng qua cách viết thư để tìm ra hắn trong số các bạn học thì cậu sẽ đi sai hướng.”
“À, tớ vẫn đang dựa vào tính cách của người viết thư để đoán xem hắn là ai trong số các bạn học.”
“Chỉ mù quáng tin theo những bức thư này thì sẽ không tìm được đâu. Những chi tiết về thân phận thì không thể tin được, thế nhưng độ đáng tin cậy của những chi tiết khác lại cao hơn. Chẳng hạn như liên quan đến đoạn miêu tả độc dược, thì có thể là thật. Trong bức thư thứ mười hai, nghi phạm A nói rằng loại độc dược mình dùng là loại khó hạ độc, không phải là thảo dược, vì vậy không thể là thuốc dạng bột hay hạt, mà có thể là chất lỏng. Chất độc của nghi phạm B thì không giống, thành phần ổn định, không dễ gây ra tác dụng chung với các loại độc khác, hơn nữa rất có khả năng là dạng bột hoặc hạt. Về phương diện này thì cậu hiểu hơn tớ, cậu có thể suy nghĩ xem có loại độc nào phù hợp không. Ưu tiên nghĩ loại độc nào có thể dễ dàng lấy được trong trường cậu.”
Liễu Nhứ gật đầu, nói, “Sinh viên trường Y chỉ cần muốn thì có thể lấy được rất nhiều loại độc dược. Thật ra chỉ cần biết chút kiến thức chuyên môn thì cũng có thể mua được tại các hiệu thuốc.”
“Cũng phải, những thứ cần biết để giết người hay cứu người cũng không khác nhau mấy.” Quách Khái đùa, nhưng Liễu Nhứ không hiểu được, xị mặt nhìn đống thư.
Đến lúc Quách Khái phải rời đi thì Liễu Nhứ gom từng bức thư bày trên bàn lại. Cô xếp chúng rất chậm, cầm vài tờ thì ngừng lại.
“Đừng quên đưa tớ những bức thư này để tớ sao chép nhé, lát nữa ra ngoài tìm một tiệm gần đây.” Quách Khái nói.
Liễu Nhứ ngẩn người, rồi nói “Ừ”.
“Cậu đang nghĩ gì vậy?”
Liễu Nhứ nhanh chóng gom hết thư, buộc chặt, giao cho Quách Khái. Anh phát hiện viền mắt cô hơi đỏ.
“Tớ đang nghĩ, không cần biết Văn Tú Quyên có được những bức thư này như thế nào, nhưng lúc đọc chúng thì tâm trạng cậu ấy ra sao?”