Sáng sớm hôm đó – chính xác là vào sáu giờ mười lăm – Henry Page đến ga Paddington. Vì bị trì hoãn ở Crewe nên xe lửa ông đến nơi chậm, và hành khách trên chuyến xe tốc hành từ Rugby vào ga trước đó năm phút đã gọi đi hầu hết các xe tắc xi ngoài bến đậu. Sau khi chờ một hồi lâu trong cảnh tranh tối tranh sáng lạnh lẽo của nhà ga, Page cũng tìm được một chiếc tắc xi.
Ông ít khi đến Luân Đôn, nhưng cứ mỗi lần đến ông đều ở tại một khách sạn yên tĩnh gần Viện bảo tàng Anh Quốc, khách sạn Esmond. Tại đây người trực đêm nhận ra ông, và mặc dù không thấy ông mang theo hành lý người ta vẫn cho một phòng mà không hỏi han gì.
- Tôi có thể gọi điểm tâm bây giờ không?
- Rất tiếc, thưa ông Page. Mãi bây giờ nhà bếp mới có người vào làm việc. Tôi để giấy lại cho họ trước khi xuống phiên trực nhé?
- Thôi cảm ơn, tôi sẽ gọi sau. – Page đáp, tự nhủ rằng phải nghỉ ngơi một chút đã.
Trên xe lửa ông ngồi co ro trong một góc chật chội nên ngủ rất ít, và bây giờ ông để nguyên quần áo nằm dài trên giường nhắm mắt lại. Bên ngoài ánh sáng xám xịt của buổi bình minh trải lờ mờ trên những mái nhà dơ bẩn và những ống khói đen ngòm, rồi lùa vào căn phòng chật chội, xa lạ này. Đầu óc vẫn còn chất chứa đầy những ý nghĩ dao động vừa qua khiến ông không ngủ được. Ông chỉ nằm đấy, cảm thấy mình trở thành nhân chứng thoát xác của một người khách lạ đau khổ đang nằm bất động trên giường.
Đúng bảy giờ ông bấm chuông gọi cà phê đen thật đậm; mặc dù bác sĩ đã cấm dùng cà phê nhưng trong hoàn cảnh hiện tại ông không dùng không được. Mãi lâu người ta mới mang cà phê cho ông, một thứ cà phê lạt lẽo không hương vị, nhưng sau khi uống ba tách và ăn một miếng bánh mì nướng, ông cảm thấy phần nào lại sức. Ông tắm rửa rồi vào một tiệm hớt tóc gần đó cạo mặt. Theo thói quen ông mua vài tờ báo buổi sáng mà ông chỉ nhìn qua với nỗi lo sợ kỳ lạ trong lòng rằng tin về chuyện bất hạnh của ông đã in lên báo.
Lúc đó hãy còn quá sớm để thực hiện mục đích chuyến đi – Somerville chắc hẳn sẽ không đến văn phòng trước mười giờ - nhưng Page sốt ruột không chịu được. Ông lên một xe buýt đến khu Strand, rồi đi bộ trên đường Whitehall đến cao ốc Hercules House. Khác xa cơ sở của ông, toà soạn đồ sộ của nhật báo Gazeite nhìn bao quát khu Embankment, khoe với dòng sông cổ xưa [38] đang chảy lững lờ dưới những chiếc cầu của nó một mặt tiền kiến trúc toàn kính và bê tông lấp lánh phản chiếu ánh mặt trời trông lạnh lùng, uy nghi và đầy quyền lực.
Trong một tiền sảnh rộng lớn thiết kế mỹ thuật bằng nền lát ca rô cẩm thạch và những cây cột kiểu Corinthian, một thư ký trong số các nhân viên mặc đồng phục lấy tên ông, chuyển qua bàn tiếp khách, rồi sau một lúc chờ đợi, chỉ ông lại thang máy tốc hành. Lên đến tầng trên cùng, ở cuối một hành lang dài, một thanh niên mặc chiếc áo khoác có đuôi và quần sọc đã đón tiếp Page, hay nói đúng hơn chặn ông lại. Đó là bí thư của Somerville; cậu ta nhìn ông với một vẻ ngờ vực rồi nhận xét:
- Thưa ông Page, đúng ra người ông phải gặp là ông Greeley. Rủi thay ông ấy đang nghỉ phép. Đề nghị ông nói chuyện với phụ tá của ông ấy là ông Challoner.
- Không. – Page nói cương quyết – Công việc của tôi cần phải gặp đích thân ông Somerville.
- Vâng, thế cũng được. – Anh ta đắn đo rồi đồng ý – Tuy nhiên tôi e rằng ông Somerville bận suốt buổi sáng. Và hiện ông ấy cũng chưa đến… nếu ông chịu…
- Tôi sẽ chờ vậy. – Page nói.
- Xin ông đi lối này.
Page đã có chủ đích khi không xin giờ hẹn, vì ông tin đến không báo trước sẽ bớt được rủi ro bị từ chối. Ông biết mình phải chờ lâu – nếu Somerville đồng ý tiếp ông – và ông đã chờ trong căn phòng nhỏ trải thảm đỏ bày biện vài chiếc ghế bành bọc da, một tủ rượu và dăm bức tranh Anh thế kỷ XVIII. Trong hơn một tiếng đồng hồ chờ đợi tại đấy, ông ngồi nhìn lơ đãng vào một bức tranh khổ rộng của John Fernley vẽ một cảnh đi săn ở rừng Quorn treo trên tường đối diện; tuy nhiên, ông không xem tranh mà cố gắng sắp xếp lại trong trí những điều ít ỏi ông biết về Vernon Somerville.
Khác với hai đối thủ của mình là Jotham và Mighill, người thứ nhất xuất thân từ những đường phố nhỏ ở Aberdeen [39] và người kia từ những vùng hoang dã ở Ulster [40] , Somerville đã tiến thân bằng con đường thông thường hơn theo ngả viện bảo tàng nghệ thuật Dulwich và khu City [41] . Sau thời gian ngắn ngửi mới bước vào nghề xuất bản ở phố Throgmorton, lão đánh bạo mua lại nhật báo Gazelte vào lúc nó sắp phá sản và chẳng bao lâu đã thành công lẫy lừng với nó. Lão đã biến đổi hẳn tờ báo bằng một quyết tâm thành công cộng với một năng khiếu trời cho về việc nắm bắt thị hiếu độc giả. Khi số báo bán tăng vọt lên vùn vụt thì lão càng tự tin và tự khẳng định hơn. Bị thúc bách bởi mối linh cảm còn nhiều thành công khác đang chờ đón, lão ra một tuần báo rất nổi, tờ Town topics , rồi tiếp theo liền bằng tạp chí Sunday Argus ra ngày chủ nhật.
Mới đầu công việc kinh doanh hai t tuần báo này thành công tốt đẹp. Say men chiến thắng, Somerville chưa chi đã vội tự xem mình là một đại lãnh chúa báo chí. Lão sắm một chiếc du thuyền. Lão tặng tiền cho những tổ chức từ thiện, những khoản tiền tuy thua xa những số tiền làm nghĩa rất hào phóng của Mighill nhưng lại được quảng cáo rầm r hơn. Lão tặng viện bảo tàng nghệ thuật Dulwich một bộ bốn bức Cotman, vốn là tranh đẹp của nền hội hoạ Anh, nhưng không sánh nổi mấy bức Giorgione độc đáo của Jotham cho, hay bộ tranh Ganaletto do Ngày Ithiel tặng. Rồi tiếp đến là đám cưới với Blance Gillflower, cây bút được ái mộ của mục ngồi lê đôi mách nói chuyện tâm tình và cũng là cháu gái của Ngài Jotham.
Đến đây xuất hiện dấu hiệu đầu tiên của thất bại. Rõ ràng là cuộc kết hôn này không được may mắn. Page mơ hồ nhớ lại lời Alice nói rằng một năm sau ngày cưới, vợ Somerville đã ly dị lão – sau một khoảng thời gian ngắn làm kiều mẫu chụp ảnh quảng cáo dầu gội đầu và kem thoa mặt và sống già nhân ngãi non vợ chồng với một nam tước người Áo – để trở thành biên tập viên về thời trang phụ nữ cho nhật báo Globe. Trong công việc mới này cô Blance đã gặt hái thành công rực rỡ đến nỗi Mighill trở nên gắn bó với cô trong một tình thương cha con.
Vào lúc này tác dụng của ba tách cà phê hồi sáng đã tan hết; một cảm giác uể oải buồn ngủ đến với Page, thành thử khi chàng bí thư trở lại với nét mặt tin cậy và mời ông vào phòng trong, ông đã quên nuốt hai viên thuốc mà ông tự hứa phải uống ngay trước buổi gặp gỡ.
Somerville đang ngồi tại bàn giấy ký tên thư từ khi Page bước vào, lão mặc một bộ vét len rộng màu xám sậm, thắt cà vạt đỏ và giắt một hoa cẩm chướng trên khuy cổ áo vét. Lão tiếp tục làm việc trong suốt một phút không nhìn lên, rồi lão xoay ghế, hơi nhổm dậy và chìa tay ra cho khách.
Với vóc dáng trung bình, cổ ngắn và đôi vai nặng nề, người chủ nhật báo Gazelte trông già hơn cái tuổi bốn mươi lăm của mình. Sắc diện hồng hào của lão biểu lộ một sự sung mãn, trông càng hồng hào hơn nhờ chiếc cà vạt, đoá hoa cẩm chướng và một cái bớt nhỏ nhưng dễ thấy màu rượu chát đỏ trên cổ bên dưới tai trái. Đôi mắt sâu và cử chỉ nóng nảy chứng tỏ lão là một người để hết mình vào công việc, một người không bao giờ cho phép mình mắc phải điều ngu xuẩn, sự kém hiệu quả hay ngáng trở. Ngồi lại xuống ghế, lão bắt tréo chân ngả người ra sau và chăm chú quan sát Page không chút giấu giếm.
Sau khi ngồi vào chiếc ghế bên cạnh bàn viết kiểu Chippendale, Page không tìm thấy trong buổi hội kiến này yếu tố nào khả dĩ khiến ông yên tâm. Dường như Somerville chờ ông mở đầu, rồi có lẽ cảm thông được nỗi khó khăn trong địa vị của Pafe, lão nói ngay vào trọng tâm
- Theo lẽ ông nên cho tôi biết ông đến hôm nay. Chúng ta có thể dùng bữa trưa với nhau. Theo như diễn biến công chuyện được báo cáo, tôi có lời ngợi khen ông về cuộc chiến đấu dũng cảm ông dành cho chúng tôi. Có một lúc tôi nghĩ rằng ông suýt hạ chúng tôi đo ván. Nhưng bây giờ tôi hiểu rằng chúng ta đã đồng quan điểm với nhau về việc đó.
- Không, không hẳn thế. – Page cảm thấy rất khó chịu. Thậm chí trong lúc ngồi đấy chân ông run lên, nhưng chính sự nói chuyện giúp ông lấy lại can đảm. – Từ lúc ông mua tờ Chronicle đến nay đã gần hai năm. Tôi nhìn nhận rằng thái độ của tôi lúc đó là đầy phẫn nộ và thành kiến. Ông có đầy đủ quyền tự do đến Fledleston lập tờ báo riêng cạnh tranh với tôi. Vì lẽ địa bàn đó chật hẹp không đủ chỗ cho hai tờ báo, cho nên chính công chúng sẽ quyết định chọn lựa giữa hai chúng ta. Thưa ông, họ đã chọn… và hôm nay tôi đến đây để xin ông cho họ được chọn theo ý.
Somerville không vội đáp. Một lúc sau lão nói:
- Sở thích của công chúng là một yếu tố không có tính chất bất biến. Nó có thể thay đổi trong đầu hôm sớm mai. Chúng tôi vẫn đang bán được báo Chronicle đấy chứ. Và chúng tôi sẽ tiếp tục bán được mãi.
- Không. – Page lắc lúc đầu. – Chúng ta nên thành thật với nhau. Ông ra sức triệt hạ chúng tôi nhưng ông đã thất bại. Lạy Chúa, bây giờ xin ông để cho báo Ánh sáng phương Bắc được yên.
- Tôi không nắm được ý ông. – Somerville nói cụt ngủn. – Sau khi đổ tiền của và công sức vào Hedleston, có phải ông định bảo chúng tôi cụp đuôi bỏ chạy à?
- Tôi yêu cầu ông ngăn chặn một mẩu tin.
- Ngăn chặn tin túc? Thưa ngài kính mến, ngài làm tôi kinh ngạc. Nguyên tắc tối thượng của chúng ta, nghĩa vụ tinh thần của chúng ta đối với công chúng là không bao giờ được ngăn chặn tin tức.
- Đây không phải là một tin quan trọng. Nó chỉ liên quan đến cá nhân tôi và gia đình tôi.
- Ông Page thân mến ạ, tôi không biết gì hết về việc đó. Tôi hbiết ông đang nói chuyện về vấn đề gì. Tuy nhiên ở Hedleston, chắc hẳn điều gì liên quan tới ông thì đều quan trọng. Tôi tin rằng người tổng biên tập của tôi trên đó cũng có cùng quan điểm này.
Page cảm thấy môi khô lại.
- Đây là một câu chuyện thương tâm bới ra từ quá khứ chỉ có thể làm đau khổ một số người vô tội.
- Trời đất. – Somerville đột nhiên giận dữ - ông định dùng lời lẽ ảnh hưởng tới việc gì đây? Chúng ta đang ở giữa thế kỷ hai mươi. Thời đại này ông không thể nhạy cảm như thế được. Trong cái nghề đầy sóng gió của chúng ta, không sao tránh được chuyện nhục mạ và bị nhục mạ. Tôi không thể đích thân duyệt xét từng chữ đăng trên tờ Chronicle . Tôi tin cậy hoàn toàn người tổng biên tập của tôi. Tôi giao hẳn việc đó cho ông ta lo liệu.
Page không nén được một cảm nghĩ cay đắng:
- Và ông ta, dĩ nhiên, định đăng tải câu chuyện này vì những lý do luân lý.
Somerville làm một cử chỉ bồn chồn, sốt ruột nhìn đồng hồ đeo tay như thể muốn chấm dứt buổi tiếp kiến.
- Thưa ông, - lão nói – tại sao ông đến đây kêu gào với tôi? Việc đó không nằm trong tay tôi. Tôi đã trao trọn quyền cho người của tôi ở Hedleston và tôi phải tuân theo những quyết định của họ. Đây hiển nhiên là một vấn đề thuần tuý địa phương trong khả năng của ban tham mưu địa phương. Ông không thể đòi hỏi tôi phải biết hay nhúng tay vào câu chuyện đó.
Thái độ dứt khoát của lão đã tàn nhẫn gạt vấn đề qua một bên. Page thấy rằng vì ông không có nghi ngại gì nên ông sẽ không hạ mình xuống mức đê tiện, đối với ông tất cả coi như đã hết. Một cơn giận dữ bắt đầu bừng cháy trong lòng, một quyết tâm không để bị tống khứ dễ dàng.
- Tại sao ông cần Ánh sáng phương Bắc ?
- Vì một lý do rất đơn giản. Tôi cần thêm số lưu hành
- Ông đã có sẵn một số lưu hành lớn. Tờ Gazeite bán ít ra cũng được một triệu hai trăm năm mươi ngàn số.
- Trong thời buổi cạnh tranh gay gắt hiện nay, nếu ta không đi tới thì ắt ta giật lùi.
- Và quan niệm đi tới của ông là nhân tờ Gazeite hay tờ Chronicle lên? – Page hít một hơi thở ngắn và nhất quyết với bất cứ giá nào nói ra những điều mình nghĩ trong đầu – Trong một số gần đây của tạp chí Survey có một bài viết về ngành báo chí. Ông đã đọc chưa?
- Survey là một ấn bản báo chí xuất sắc, nhưng tôi ít đọc lắm.
- Đó là một bản báo cáo toàn diện và vô tư. Báo cáo ấy kết luận rằng những tờ báo đứng đắn và có chất lượng cao đang bị đè bẹp bởi thành phần thấp hèn nhất của nền báo chí nước ta… những tờ báo hoạt động không phải để phục vụ công chúng mà thuần tuý là kinh doanh buôn bán, chúng đã trở thành một thứ rác rưởi nhất, ngu đần nhất, đáng chà đạp nhất và thô bỉ nhất thế giới. Tờ Gazeite được chọn là tờ báo xấu xa nhất trong số đó.
Somerville chỉ mỉm cười, hoàn toàn không nao núng.
- Chúng tôi có những kẻ phỉ báng mình. Thật đáng tiếc. Nói cho cùng, chúng tôi chỉ ráng làm vừa lòng đám đông quần chúng… bao phủ họ trong… tôi có nên gọi… một bầu không khí xoa dịu.
- Bằng cách dọn ra cho người đọc thứ tin tức rác rến chăng?
- Chúng tôi cho họ đúng thứ họ muốn.
- Không. – Page nóng nảy lắc đầu. – Con người không phải luôn luôn ngu ngốc như ông tưởng. Ông không thể xem họ là cặn bã như thế. Họ có những đức tính cao quý: dũng cảm, vui vẻ, nhân hậu, trào phúng. Thế nhưng vì ba phần tư dân chúng là thất học hay học chưa đến nơi đến chốn, nên họ không kháng cự nổi sự dụ dỗ phỉnh nịnh của ông. Tôi sẽ không lặp lại những điều hiển nhiên. Không phải chỉ có tình dục, tội ác và chuyện giật gân hay những điều tầm phào ngu xuẩn trải đầy trang báo của ông khiến nó trở thành tai hại, mà chính là nghệ thuật k động của ông. Trong khi đó tất cả những ai chống lại ông đều tỏ ý khinh bỉ. Ông còn nhớ điều Balfour nói không? “Tôi thà bán rượu cho người nghèo còn hơn đầu độc họ kiểu đó”. Đi theo đà này trong năm mươi năm nữa, thì cái mớ nhảm nhí bệnh hoạn của ông sẽ đưa quần chúng đến chỗ hầu như dốt nát. Không ai hiểu rõ hơn ông mãnh lực của công cụ ông nắm trong tay là to lớn biết chừng nào. Sao không dùng nó để sáng tạo? Có Chúa mới biết chưa bao giờ đất nước này cần đến một nền báo chí lành mạnh và khôn ngoan như hiện nay. Hồi chiến tranh chúng ta rất quả cảm khi sống kề cận cái chết. Nhưng từ đó về sau chúng ta thụt lùi về chính trị, kinh tế và đạo đức. Đấy chỉ là tạm thời, tôi tin thế, nhưng ta phải vượt ra khỏi tình trạng đó. Nếu không…
Page bỏ lửng câu nói. Ông bỗng cảm thấy cơ thể rã rời khi biết rằng nãy giờ ông không gây được chút ấn tượng nào nơi Somerville và hiểu được mối hiểm nguy khủng khiếp của quyền lực khi không kèm theo tinh thần trách nhiệm. Miệng ông khô cứng lại. Ông không biết nói gì thêm. Somerville nhanh chóng lợi dụng sự tuyệt vọng bất ngờ hiện ra trên mặt Page.
- Ông bạn thân mến ơi, – lão nói dịu dàng – tôi hiểu những cảm nghĩ của ông. Nhưng cũng sắp hết giờ rồi, ta hãy trở lại vấn đề. Chúng tôi đưa một đề nghị hợp lý. Ông không bị cưỡng bách gì cả. Chỉ đơn giản cho biết xem ông có chấp nhận nó không. Có thể, – lão tiếp – nếu ông quyết định bán, và tôi chắc chắn ông sẽ bán, thì ông có thể ở lại làm việc trong bộ biên tập. Các bài xã luận của ông… mang một sắc thái độc đáo của thời Edward [42] .
- Không. – Page đáp nặng nề - Tôi không làm thế được. Phải là tất cả hay không gì cả.
- Vậy thì ông muốn tất cả chứ?
Page không thể ngẩng đầu lên nhìn lão. Ông cảm thấy bị đánh bại.
- Tôi sẽ suy nghĩ lại… trong vài giờ. Chiều nay sẽ điện thoại cho ông.
- Tốt. - Somerville đứng lên – Tôi sẽ chờ điện thoại của ông.
Page gắng gượng đi ra khỏi
Khi ông rời toà cao ốc, bên ngoài trời mưa lất phất, ông đi chầm chậm ngược hướng bờ sông về phía đường Victoria. Trong tâm trạng chán chường, ông cảm thấy mệt lả và vội tìm chỗ giải lao – từ trưa hôm trước tới lúc bấy giờ ông chưa ăn gì cả. Bên kia đường ông nhìn thấy một quầy bán bữa ăn nhẹ, nhưng khi băng qua đường thì dòng xe cộ dày đặc chạy ầm ĩ bỗng nhiên làm đầu ông choáng váng và tim đập liên hồi. Bước chân ngập ngừng, hơi thở đứt quãng, ông biết mình không băng qua đường được. Ông bèn tiếp tục đi trên lề bên này, tìm một tiệm ăn khác.
Đến góc công viên Ashley bên cạnh thánh đường Westminster, cơn đau bắt đầu. Trong mấy tháng gần đây ông có một số triệu chứng của tai biến tim mạch, thường thấy dưới dạng những cơn đau buốt suốt cánh tay trái; nhưng cơn đau hiện giờ khác hẳn, nó lan khắp lồng ngược và mãnh liệt tới mức như có một chiếc ô tô lớn cặp chặt và từ từ nghiền nát bộ xương sườn. Hít thở, thậm chí cử động cũng không được; và kèm theo đó là một cơn mệt rũ rượi như sắp chết làm toát ra những giọt mồ hôi lạnh trên trán. Tự nhiên ông cảm thấy một nỗi sợ hãi ngu xuẩn và trẻ con rằng nếu không kịp tìm chỗ kín đáo trú ẩn thì ông sẽ ngã ngoài đường phố làm trò cười cho thiên hạ. Ông cố gắng kéo lê đôi chân băng qua đường, đi vào thánh đường. Ông ngã quỵ xuống một hàng ghế và nằm đấy cố gắng tìm lại hơi thở.
Cuối cùng móng vuốt của cơn hấp hối từ từ lơi ra; ông hổn hển thở từng hơi ngắn và tay quờ quạng lấy được trong túi áo vét hai ống thuốc của Bard cho; ông đập và ngửi cả hai ống. Rồi ông nuốt thêm một viên thuốc. Ngay sau đó hơi thở mạnh trở lại, và sau chừng hai mươi phút ông đã đủ sức tự ngồi dậy. Ông chồm tới trước, dựa vào lưng chiếc ghế trước mặt. Cơn tai biến đã qua nhưng ông kiệt sức như bị dần bởi những tảng đá. Phải, nó đã qua. Dường như điều kỳ diệu chính là ông còn sống.
Bên trong thánh đường vắng vẻ, ngoại trừ một phụ nữ mặc đồ đen, có lẽ là một nữ tu, đang quỳ bất động trước bàn thờ. Trong ánh sáng lờ mờ, vẻ kính cẩn cầu khẩn của người phụ nữ kia làm Page nhớ đến Cora. Ông nhìn thấy rõ nét gương mặt nàng, mày nhíu lại vì lo lắng, hai má hơi lõm và đôi mắt đen u buồn. Thôi nhé… bây giờ nàng sẽ không còn u sầu và lo âu nữa, nàng sẽ sống yên ổn, hạnh phúc. Ít ra, thất bại của ông cũng đem lại một niềm an ủi lớn. Chưa bao giờ ông trải qua một cảm xúc như thế. Như thể cả đời ông đã hoài công tìm kiếm một niềm vui không bao giờ đạt được, và bây giờ nó đến với ông gần giống như một nỗi đau vừa cay đắng vừa ngọt ngào.
Cuối cùng Page cảm thấy khoẻ khoắn lại. Ông thận trọng đứng dậy đi ra đường. Một chiếc tắc xi đưa ông về khách sạn Esmond. Ông gọi nhà bếp mang một bữa ăn nhẹ lên tận phòng cho ông. Sau khi ăn xong và nghỉ ngơi nửa tiếng đồng hồ, ông điện thoại cho Somerville. Lão đi vắng, nhưng Page nhắn lại người bí thư rằng ông sẽ đáp chuyến tàu đêm về Hedleston và sáng hôm sau sẽ ký tên vào mấy văn kiện.
Giờ đây vấn đề đã được giải quyết dứt khoát, một màng sương mỏng toả ra trước tầm nhìn của ông thay thế những xúc cảm dữ dội bằng một màu đen buồn chán. Nhưng ý nghĩ về Sleedon hiện ra như một vầng sáng trong cái tối tăm đang bao trùm, và ông thả hồn theo một ham muốn vừa chợt đến – ông muốn đến ngay Sleedon, có lẽ không phải để gặp David vì cậu ta nói cho cùng không biết gì về những biến cố này, mà cốt để được ở bên Cora, Cora yêu dấu, xua đi nỗi lo âu và trả lại cho nàng sự thanh thản trong tâm hồn.