Hôm sau là một ngày nắng đẹp và tươi mát với vài cụm mây rải rác trên bầu trời xanh. Mặc dù cha ông tổ tiên của Page rất mộ đạo, nhưng ông không phải là một con chiên đi lễ nhà thờ đều đặn. Sau khi vợ và con gái đi lễ mười một giờ, ông ra vườn sau nhà cắt vài đóa hoa trước mùa cho Cora, chọn một quyển sách mới được gửi đến để tòa soạn giới thiệu độc giả mà ông nghĩ David sẽ thích thú, và bước vào xe. Rồi ông lặng lẽ lái xe ra khỏi ga ra, chạy dọc con đường hẹp sau dãy nhà, cốt tránh sự dòm ngó của những người láng giềng ngoan đạo. Thế nhưng Page cũng không thoát được cặp mắt của bà Harbottle, vợ góa của ông bạn thân Bod Harbottle của cha ông, và bà cụ trong khi chậm rãi tiến bước đến nhà thờ St.Mark với dáng điệu uy nghi dành cho ngày chủ nhật, đã ghi nhận sự chào hỏi của Page bằng một cái nhìn trách móc.
Rồi chẳng bao lâu ông ra tới con đường trống trải dẫn đến Sleedon. Sự khó chịu bực bội của tối hôm trước đã biến mất; Page cảm thấy thảnh thơi một cách khác tường. Vì lúc nào cũng bị tràn ngập bởi công việc, ông hiếm khi có những thú tiêu khiển. Đánh golf và chơi quần vợt không mang lại thích thú cho ông; thật ra ông không thích hợp với các môn thể thao. Tuy mới bốn mươi chín tuổi, ông đã có dấu hiệu mắc bệnh tim mà ông cho là chỉ gây khó chịu chứ không nghiêm trọng, bấp chấp lời khuyến cáo của bác sĩ Brad.
Page là mẫu người trầm lặng, bẩm sinh nhút nhát và trong thời niên thiếu được cha mẹ khép và khuôn phép kỷ luật như căn bản của một lối dạy dỗ tốt. Thậm chí khi trở thành thị trưởng, nhiệm vụ công luôn là một thử thách đối với ông, và Alice thường xuyên có lý do trách cứ ông về điều bà gọi là “thiếu năng động”.
Ông yêu thích vườn hoa của mình và trồng những cây phong thảo xinh xắn trong cái nhà kính nhỏ. Một thú tiêu khiển nhẹ nhàng khác là lùng kiếm trong các cửa tiệm nhỏ những món sứ cổ Stafford mà ông sưu tập. Ông còn tìm thấy niềm vui to lớn trong việc tổ chức những buổi hòa nhạc mùa thu mà trước đây ông đã đưa về giới thiệu với Hedleston, nay thành một tiết mục quen thuộc tại thành phố này. Nhưng trên hết tất cả, ông say mê được thỉnh thoảng ra chơi bờ biển, đặc biệt là Sleedon, mặc dù rất gần Hedleston nhưng là làng đánh cá duy nhất dọc suốt bờ biển đông bắc còn giữ được nguyên vẹn. Hồi bé ông đã biết Sleedon; bây giờ con trai ông sống tại đấy. Nhưng bên trên sự gắn bó tình cảm được tạo ra như thế đó, vẻ quyến rũ của ngôi làng có một ý nghĩa tinh thần đối với ông vì chính nơi này còn tồn tại một phần của nước Anh thật thời cổ xưa.
Điều này là nỗi đam mê của Page, tín ngưỡng hay, nếu bạn muốn sự ám ảnh của ông: nước Anh của một thời đã qua mà một ngày nào đó sẽ trở lại y như vậy. Bằng một lòng chân thành thầm kín ông yêu quê hương, yêu những lớp đất, đá và cát tạo nên mảnh đất ấy, yêu vị muối mặn của biển cả đã vỗ bờ đất nước này. Ông đâu có mù mà không nhìn thấy sự suy đồi từ sau chiến tranh đã thay đổi cơ cấu cuộc sống của dân tộc. Tuy vậy đây chỉ có thể là một hậu quả tạm thời của cuộc chiến đấu anh hùng ấy. Nước Anh sẽ cường thịnh trở lại.
Giờ đây bóng dáng thấp của làng Sleedon hiện ra trước mặt ông. Sóng biển vỗ vào đập cản sóng của bến tàu làm tung lên từng đám bụi nước trắng xóa. Page lái xe trên dải đất cao chạy dọc theo mé nước, ngang những thuyền đánh cá nằm tại bến và những chiếc lưới đang phơi; xe chạy vòng đồn phòng vệ duyên hải quét vôi trắng rồi trườn lên một dốc cao đến ngôi nhà của David nằm trên đầu vách đá
Trong lúc băng qua một đụn cát ông trông thấy Cora đứng chờ ở cổng. Nàng để đầu trần, mái tóc xanh đen bay theo chiều gió, chiếc áo dài đỏ sậm ôm lấy thân hình thon thả. Từ người nàng dường như tỏa ra làn hơi ấm và vẻ dịu dàng mà nhờ đó con trai ông đã bình phục. Nàng siết chặt tay ông trong hai tay mình, và thậm chí trước khi nàng nói ra, ông biết nàng rất vui được gặp ông.
- Cậu ấy thế nào? - Page hỏi.
- Một tuần lễ tốt lành. David ở trên gác… đang viết lách. - Khi hai người vào nhà, Cora nhìn nhanh lên cửa sổ trên gác, từ đó vọng ra âm thanh nho nhỏ của một tấu khúc Bartók - Để con gọi anh ấy.
Nhưng Page cảm thấy e ngại khi phải quấy rầy David. Quyển sách của cậu về thi ca thời kỳ tiền Hồi giáo, một đề tài cậu từng say mê hồi còn học ở Balliol, là một dự án khó. Sáu tháng qua cậu đã tự học ba thổ ngữ Ả rập và hiện đang phiên dịch quyển Kitaall- Aghani, tức Sách bài ca. Tốt hơn không nên quấy phá sự tập trung suy nghĩ của cậu ta. Cora nhìn thấy vẻ do dự của Page. Nàng mỉm cười.
- Dù sao thì còn không đầy nửa giờ nửa tới giờ ăn chiều.
Những đóa hoa thủy tiên đồng cỏ màu vàng sẫm làm Cora hài lòng ngoài sự mong đợi của Page. Sau khi ngắm và cắm hoa vào bình, nàng dẫn ông bố chồng ra mảnh vườn sau nhà được che gió bằng một bức vách đá khô, và khoe những việc đã làm trong tuần qua. Một vuông đất mới dọn để trồng rau cải nằm gọn gàng giữa vòng tường rào bằng đá.
- Ai làm công việc cuốc xới này?
- Con chứ còn ai nữa. - Nàng cười sung sướng.
- Có quá sức con không? Phải chăm sóc cái nhà, rồi nấu ăn… và còn David nữa.
- Ồ không… không đâu. Con khỏe, khỏe lắm. Và con rất thích mảnh vườn. - Nàng e lệ nhìn ông với mối cảm nghĩ chân thật nhất - Bố xem, con không bao giờ khi nào có cái cơ hội như vầy.
Khi nàng trở vào nhà bếp, Page đi đi lại lại trên lối đi hẹp trong vườn, ngẫm nghĩ về cái “không bao giờ khi nào” ấy mà không hề có chút ý xấu. Vậy thì sao? Ông nghĩ rằng thà chọn một người đàn bà trẻ tốt bụng còn hơn một nhà ngữ pháp hoàn hảo, nhất là người đàn bà đó là Cora.
Một lát sau có tiếng Cora gọi ông từ cửa sau. Ở phòng ngoài, quanh chiếc bàn trải khăn trắng tinh đã được bày sẵn nào dao, muỗng, nĩa, nào bát đĩa - đây là tất cả những vật dụng nho nhỏ ông tặng cặp vợ chồng này - và trên một dĩa to giữa bàn là một con gà quay màu nâu vàng trông thật ngon lành.
Trong tất cả những gì nàng làm, Cora chứng tỏ một tinh thần vui tươi phấn khởi, một mong muốn làm hài lòng người khác.
Trong lúc ngồi chờ, họ nghe chiếc máy hát đĩa trên gác tắt và giây lát sau David bước vào - vẫn vẻ xa cách như thường lệ, nhưng Page biết ngay cậu ta đang vui. Trông cậu cũng mạnh khỏe nữa, và mặc dù ăn vận trang phục kỳ dị như thường ngày - áo pull cổ cao, quần corduroy cũ màu da bò, giày da lộn đã mòn đế - không ai có thể phủ nhận cậu là một thanh niên đẹp trai; cậu hết sức cao, như Cora, nhưng quá gầy, mái tóc vàng mịn màng, làn da trắng và hai hàm răng thật đều và đẹp.
- Công việc tiến triển tốt chứ? - Page hỏi David trong lúc Cora đang cắt thịt gà.
- Tàm tạm - Trả lời xong, David lạnh lùng đón lấy đĩa gà, măng tây và khoai nghiền Cora đưa, chăm chú nhìn thức ăn trong đĩa một hồi rồi lơ đãng cầm lấy nĩa.
- Ở tòa soạn vừa nhận được một quyển tiểu sử mới của Edward Fitzgerald.
David nhướng mày lên.
- Bố nghĩ có lẽ con thích xem qua. - Page nói giọng thì thầm, dè dặt.
David đưa mắt nhìn cha, vẻ bối rối.
- Đừng bảo rằng bố mến phục ông Giáo chủ xứ East Anglia, người đã viết nên hai câu thơ vô giá này:
“Không phảiiếng có và không làm nên quả bóng
Mà là người chơi đi đây đó trong khi đánh bóng.”
Page hơi mỉm cười. Ông không quan tâm việc David áp đảo mình: đó không là gì khác hơn một thái độ mà cậu, vốn là một học giả cổ điển suýt đỗ thủ khoa ở Oxford, chắc chắn có quyền có. Henry Page theo học không quá hai năm ở trường Đại học Edinburgh, là nơi Robert Page, cha ông, đã theo học và nhất định gửi ông đến. Việc học của Henry gián đoạn khi ông thình lình bị gọi về tòa soạn làm việc vì cha ốm, sau đó nó được tiếp tục củng cố và mở rộng nhờ ông đọc nhiều.
- Khayyam không tệ lắm. - Ông cãi lại một cách dịu dàng - Ruskin ưa thích nó.
David nhăn mặt và buông ra một tràng tiếng Ả rập.
- Đó là quan niệm của con về ông già Omar.
- Cái đó nghĩa là gì thế? - Cora hỏi.
- Anh e rằng không hiểu em lắm để nói cho em biết. - David đáp và phá lên cười ngặt nghẽo, đến nỗi Page nhìn nhanh về phía cậu một ánh ngờ vực.
Tuy nhiên, khi nhớ lại những ngày con trai mình ngồi bó gối, đầu cúi xuống nhìn trừng trừng dưới sàn nhà trong một tình trạng suy sụp tinh thần đáng sợ, ông cảm thấy khoan khoái được nghe tiếng cười này. Những lúc đêm tối còn tệ hại hơn nữa, David triền miên mất ngủ và bị xâm chiếm bởi những lo sợ về một kẻ thù mà anh không biết. Những năm phục vụ trong quân đội không đặc biệt khắc nghiệt - cậu đã chiến đấu ở đảo Crete, trên đường rút lui bị một trận kiết lỵ - nhưng sự căng thẳng này đã tạo nơi cậu một tính nhạy cảm cao độ kéo dài suốt những năm học ở Oxford và chỉ chấm dứt cách đây mười tám tháng bằng một sự suy sụp tâm thần nghiêm trọng. Bard gọi đó là chứng rối loạn tâm thần với chiều hướng của bệnh ảo giác, nhưng Henry không thể đồng ý khi ông bác sĩ quả quyết đã ghi nhận những dấu hiệu rõ nét mãi từ khi David còn tấm bé - một ý kiến tàn nhẫn suýt cắt đứt tình bạn lâu dài của họ.
Nhưng bây giờ thì chẳng hề gì. Quan sát thái độ phấn khởi của David, Page cảm thấy rằng chính cái đám cưới này, thật lạ thường mà cũng thật may mắn, đã cứu sống cậu ta. Một cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên ngoài bến tàu ở Scarborough, nơi cậu đến để trị bệnh và học nghề đan giỏ, rồi sau đó trở về nhà, tuy vẫn còn hay e sợ nhưng sức khỏe tâm thần đã ổn định và lòng vững tin vào tương lai. Đáng ngạc nhiên hơn nữa là trước kia chưa bao giờ thấy cậu biểu lộ một sự quan tâm nghiêm chỉnh nào tới phụ nữ, lại càng ít quan tâm hơn đối với một người đàn bà thất học trái ngược hẳn với mình. Thế nhưng, có lẽ chính việc thiếu học vấn của Cora đã giúp hai người dễ tiếp cận nhau. Đang chìm nghỉm tận đáy vực sâu, cậu theo một bản năng tự nhiên đã vươn tay đến con người bình thường nhất trong tầm với. May mắn thay bàn tay nắm được lại là của Cora.
Ăn chiều xong, trong khi Cora dọn dẹp bàn ăn thì Page ngồi nói chuyện với con trai cạnh cửa sổ. Thông thường David không nói gì với ai về công việc mình đang làm, nhưng hôm nay tính kín đáo ấy không còn nữa; cậu vui vẻ và cởi mở. Bản dịch một tiểu luận của câu tựa đề “Xứ sở của đêm tối”, viết trong thời gian chiến tranh, vừa được đăng trên tờ Mercue de France , và cậu đưa ra khoe một thư khen riêng của ông tổng biên tập viết gửi cậu. Sự công nhận tài năng của David là một kích thích tố cần thiết cho cậu, nhưng nó cũng là một khuyến khích bí mật cho Page, vì ông hy vọng con trai có thể sớm giúp ông làm Ánh sáng phương Bắc thành một tờ báo hay hơn nữa.
Họ có thói quen đi bách bộ với nhau, nhưng chiều nay David xin lỗi không đi được và lên gác làm việc - cậu nóng lòng xem cho hết một bản thủ bút mượn ở Thư viện Luân Đôn mà ngày hôm sau phải trả. Còn Cora vì đã mặc sẵn áo khoác nên nàng và Page bắt đầu ra bến tàu.
Lúc đầu hai người chẳng ai nói gì. Cora có biệt tài của người đồng hành im lặng, làm Page có cảm tưởng đã quen biết nàng từ nhiều năm. Khi họ băng qua cái phá nhỏ, chân giẫm lộn xộn lên những đống rong biển khô và quẹo về phía đập cản sóng, nàng nắm lấy cánh tay ông, phó mặc cho con gió mạnh cuốn hồn nàng vào một trạng thái hoan lạc.
- Con phải mặc một áo khoác ấm hơn. - Ông để ý thấy chiếc áo sẹc nàng mặc đã sờn.
- Con không lạnh tí nào. Bố có thích ở ngoài này không?
- Thích. - Ông đáp. Được ở gần nàng thật dễ chịu.
Ra đến ngoài cùng của cái cầu hoang vắng, họ đứng trú gió trong một trạm cấp cứu nhìn những cánh hải âu lượn vòng vòng rồi vụt bay đi. Mặt biển trải rộng trước mặt họ, gió lạnh từ ngoài thổi vào sát đầu sông nghe mằn mặn. Ông có cảm tưởng lạ lùng là ông có thể đứng đấy mãi mãi. Cuối cùng ông phá tan sự im lặng.
- Con đã mang lại được rất nhiều cho David.
- Chính anh ấy đã cho con rất nhiều. - Nàng nói nhanh. Và sau một lúc ngừng nói, nàng nhìn ông rồi quay chỗ khác - Con không được hạnh phúc như thế trước khi tình cờ chúng con gặp nhau.
Bằng một cách nào đó, Page có cảm nghĩ rằng qua câu nói lột trần vừa rồi Cora đã dành cho ông cái hân hạnh được tin cậy thổ lộ một tâm sự từ đáy lòng. Nàng không có cái tật hay nói luôn mồm mà ông rất ghét nơi đàn bà; ngược lại tính kín đáo trầm lặng của Cora ngay từ ban đầu đã khiến ông yêu quý nàng. Tuy nhiên, ông nhận thấy ở nàng một ước muốn khiêm nhường được tình thương, được thắt chặt quan hệ tình cảm với gia đình nhà chồng - điều này chứng tỏ trong quá khứ nàng phải chịu nhiều đau khổ, cơ cực. Về sau điều này được xác nhận khi nàng kể về cuộc đời mình: nàng đã mất cả cha lẫn mẹ chỉ vài năm trước thôi, sống với một người dì ở Luân Đôn, tự kiếm sống bằng những việc làm ít lương. Nàng không để lộ một dấu hiệu tự thương hại nào dù nhỏ. Nhưng giờ đây Page nghe như thể có tiếng vang dội, tuy yếu ớt nhưng không nhầm lẫn được, của đau khổ vọng đến tận hiện tại hạnh phúc của nàng.
- Lúc bấy giờ con rất cô đơn?
- Vâng, - nàng đáp. - Gần như thế.
Đột nhiên một cơn gió mạnh ào đến. Page choàng cánh tay đỡ đôi bờ vai nàng.
- Bố không muốn con có những cảm nghĩ như thế nữa. Bây giờ con đã thuộc về gia đình bố. Và trong gia đình không ai để con cảm thấy cô đơn. Mới hôm qua mẹ con nói ở đây nhiều lúc chắc buồn tẻ lắm. Thỉnh thoảng con và David phải đi Hadleston, cả hai vợ chồng, dự một buổi khiêu vũ.
- Con không thích khiêu vũ mấy, không thích đâu. - Nàng nói, rồi e rằng câu nói của mình nghe có vẻ kỳ lạ, nàng nói thêm: David cũng vậy… anh ấy không phải
- Đi xem kịch vậy, hay một buổi hòa nhạc?
Nàng quay mặt về phía ông.
- Bố biết đó, con thích ở đây. Sự yên tĩnh chính là cái con ưa thích. Về đêm, nằm trong giường, - nàng thình lình đỏ mặt như thể vừa nói điều gì bất nhã, nhưng vẫn tiếp tục - khi gió thổi bên ngoài và tai mình nghe tiếng sóng, con thấy giống như ở trong một lâu đài. Nói vậy chắc bố hiểu. Con sẽ không khi nào chịu đổi Sleedon lấy bất cứ chỗ nào khác, bất cứ ở đâu.
Đến giờ họ phải trở về. Khi về đến chỗ đậu xe, Page nghe trên gác mái đang mở một đĩa nhạc, nghe như bản Giao hưởng số 4 cung mi giáng trưởng của Bruckner, không đúng sở thích của David, nhưng chắc hẳn đây là dấu hiệu cậu đang tìm cảm hứng. Vì thế ông quyết định không lên gác. Một cách lặng lẽ ông đút vào túi áo ngoài của Cora cái phong bì mà cứ vào cuối mỗi tháng ông trao cho hai vợ chồng David. Lần nào ông cũng hơi bối rối mặc dù đã cố làm cho nhanh và khéo, y như nhà ảo thuật vứt bỏ một lá bài thừa, và lí nhí nói thêm một câu nhận xét vô thưởng vô phạt - cặp vợ chồng trẻ này rất tự trọng và có niềm kiêu hãnh riêng, nhưng họ phải sống. Lần này ông nói:
- Cái này để con tìm hạt giống cho mảnh vườn.
Nhưng Cora không mỉm cười. Với lưỡng quyền cao và hai má hơi lõm ửng những mạch máu nhỏ li ti, gương mặt nàng mang một vẻ kỳ lạ. Gió ẩm làm ướt đôi mắt màu hạt dẻ sẫm của nàng và thổi một lọn tóc đen vắt xuống ngang mày.
- Bố tử tế với hai đứa con quá, bố tử tế quá, nhất là với con. Bố làm con cảm thấy… bố làm…
Cora không nói tiếp được nữa. Bỗng nàng ghé sát ông và nhanh nhẹn, nhưng vụng về, đặt đôi môi mềm lên một bên má lạnh ngắt của ông.
Khi Henry Page lái xe về Hedleston trong bóng đêm màu xám đang buông xuống - không có lý do gì phải vội vã - ý nghĩ về nụ hôn trìu mến ấy đã sưởi ấm ông suốt đường">
Thứ hai luôn luôn là một ngày bận rộn - tin tức tồn đọng lại trong ngày nghỉ cuối tuần - nên Page đến văn phòng sớm. Thay vì đi thẳng lên lầu, ông bước vào phòng tin tức. Phòng này nhìn ra một sân lát đá, một căn phòng rộng, cũ kỹ nhưng đèn thắp sáng choang, nơi hầu hết ban biên tập tin làm việc. Cơ sở kiến trúc của tòa báo không được rộng rãi - thật thế, Page phải thuê tòa nhà bên cạnh để đặt máy in - mà còn cổ nữa, nhưng bao nhiêu năm qua nó vẫn y như thế. Phòng ốc như thế hợp ý ông nên ông thích, Peter Fenwick, người phụ tá biên tập, đang đứng với Frank, người phụ trách lọc tin viễn ký, bên cạnh chiếc máy của thông tấn xã Associated Press.
- Tin từ Ai Cập có gì? - Page hỏi sau khi họ chào ông.
- Kênh đào vẫn còn nghẽn, - Fenwich đáp - Người Mỹ không được chấp thuận trục vớt những chiếc xà lan xi măng. Vua Sand hội đàm với Eisenhower. Ông ta sẽ có máy bay phản lực và mua thêm xe Cadillac nữa. Nasser vẫn cố tạo ảnh hưởng khắp nơi trong khu vực… Người Israel sẽ không cục cựa nhúc nhích. Chúng ta sẽ thiếu dầu. Ông bà Eden vừa đến Panama…
Page im lặng lắng nghe, từng lời như xé thêm vết thương lành gây ra bởi trận thua nhục nhã ấy.
- Tin trong nước có gì?
- Mới nhận tin tức về câu chuyện ghê rợn ở Belfast. Một vụ án mạng kép và tự sát… vợ, tình chân và chồng, cả ba nạn nhân cổ đều bị cắt.
Page đọc lướt qua những chi tiết và thấy quả là rùng rợn.
- Bỏ đi. - ông nói.
- Một đoạn trên trang sau? - Fenwick gợi ý.
- Không, bỏ hết. Không đăng một dòng nào cả.
Ông đọc thật nhanh những tin tức còn lại mà không thấy tin nào phấn chấn. Tình hình Trung Đông có vẻ tồi tệ hơn; ở Cyprus đang nhen nhúm thêm rắc rối mới.
- Còn gì khác nữa không? - Ông hỏi.
Frank là người có nhiệm vụ đọc phân loại những mẩu tin lấy ở máy viễn ký và lựa ra bất cứ tin nào liên quan đến vùng Đông Bắc; anh nói:
- Ông thử đọc tin này xem.
Tờ giấy trao cho Page là một bản viễn ký tường thuật những diễn biến mới nhất tại Quốc hội hôm thứ bảy. Anh đánh dấu mấy dòng bằng viết chì xanh:
TRẢ LỜI THAY CHÍNH PHỦ MỘT CÂU HỎI CỦA ÔNG BERNET CADMUS, NGHỊ SĨ CÁC TỈNH ĐÔNG BẮC, ÔNG PHILIP LESTER NÓI RẰNG THEO NHỮNG GÌ ÔNG ĐƯỢC BIẾT THÌ TIN ĐỒN VỀ ĐIỀU MÀ NGÀI NGHỊ SĨ GỌI LÀ KẾ HOẠCH N.R.U LÀ HOÀN TOÀN VÔ CĂN CỨ.
- Kế hoạch N.R.U? - Page nhìn vẻ dò hỏi hết người này đến người kia.
- Chưa bao giờ nghe nói đến một kế hoạch như thế, - Fenwick nói.
- N.R.U. - Frank nhíu mày - Có thể là National Railroads Union [4] không?
- Không thể thế ược, - Fenwich đáp - Có lẽ đó là một vụ tấn công lầm mục tiêu. Cái ông Cadmus này lúc nào cũng nổi giận làm ầm lên.
Page đưa Fenwich tờ giấy.
- Tuy thế cứ đặt một người theo dõi vụ đó. Cậu Lewis chẳng hạn, nếu công việc của anh không bị ảnh hưởng.
Ông leo một cầu thang đá xoắn ốc lên văn phòng. Cô Moffatt, thư ký riêng c ông và còn phụ trách phần đăng ký báo dài hạn, đang lựa thư mới nhận. Đó là một người lớn tuổi có diện mạo bình thường, trông hơi giống một nữ giáo viên về hưu, nước da trắng nhợt và tóc hoa râm, quanh năm chỉ thấy mặc độc một kiểu nhà tu: váy xám và áo len đan cũng xám. Cô Moffatt thật sự là người không thể thiếu được trong tòa soạn, làm đủ việc lặt vặt cũng như quan trọng mà không hề cằn nhằn lấy một tiếng. Ông cụ Robert Page đưa cô vào đây làm cách đây ba mươi năm, và ngày nay cô không hoàn toàn chấp nhận người con là người kế vị của ông cụ.
Sáng nay cô có thái độ dứt khoát “cách biệt”. Page cảm nhận ngay rằng cô đang nghĩ một điều gì đó trong đầu. Cô để cho ông có đủ thời gian xem qua thư từ; trong khi chờ đợi, cô tháo nút một sợi nhợ cột bưu kiện và cuộn tròn nó thành một quả bóng nhỏ, tròn và chặt - cô có bệnh thích làm những tiết kiệm nhỏ nhặt, xem những khúc nhợ, nửa tờ giấy và những con tem lẻ chưa sử dụng như tiền gửi được vào quỹ tiết kiệm. Rồi vào đúng lúc Page sắp đọc thư cho cô ghi chép thì cô nói:
- Ông ấy có gọi điện thoại đến nữa.
- Ai?
- Somerville.
Page nhìn cô ngạc nhiên.
- Ông ta muốn gì?
- Muốn nói chuyện với ông. Khi tôi nói không có ông ở đây, thì rõ ràng ông ta biết ông chưa đến - cú điện thoại đến lúc bảy giờ rưỡi, gọi từ Surrey - nên ông ấy để lại cho ông mấy câu.
- Thế à?
Cô Moffatt lấy sổ tay ra và đọc bản ghi tốc ký:
“ Xin gửi lời chào của cá nhân tôi đến ông Page. Yêu cầu báo cho ông ấy biết rằng hai người phụ tá của tôi sẽ có mặt ở vùng phụ cận Hedleston trong tuần tới. Hãy nói rằng tôi rất sung sướng nếu ông Page vui lòng cho phép hai người ấy đến thăm ”.
Có một khoảng im lặng. Để định thần Page nói:
- Đọc lại cái đó một lần nữa đi.
Người thư ký làm y lời, và lần đọc thứ nhì nghe càng có vẻ lịch sự quá đáng. Sự bối rối hôm thứ bảy giờ trở lại quấy phá ông với một sức mạnh mới. Ông mơ hồ cảm thấy lo lắng.
- Cô hiểu việc này thế nào?
Moffatt mím chặt môi làm một cử chỉ hất cằm giận dữ và khinh bỉ.
- Ông ta muốn mua tờ Ánh sáng .
- Phải, ông ta muốn mua vì đinh ninh tờ báo được rao bán. Tôi đã bảo ông ta rằng ông ta nhầm lẫn.
- Ông ấy không phải là người có thể nhầm lẫn kiểu đó.
- Vậy thì… - cuối cùng Page nói - thậm chí cho rằng cô đúng đi nữa thì cũng không mảy may có thể xảy ra điều đó. Có thể là ông ta muốn mua, nhưng nhất định là tôi không muốn bán.
- Chuyện chỉ đơn giản như thế thôi sao?
- Dĩ nhiên. - Vì Page nổi nóng nên ông thấy bực bội với chính mình - Nếu tờ báo không rao bán thì làm sao có thể mua nó được.
- Ông có biết Vernon Somerville không?
- Có … ít ra tôi đã gặp một lần.
- Vậy thì ông biết ông ta cũng không hơn gì tôi biết người trên cung trăng. Ít ra ông biết rõ những thứ ông ta ấn hành. Ông đã xem tờ Gazetle sáng nay chưa?
Tất cả nhật báo ở Luân Đôn đều được gửi đến văn phòng này và được xếp trên chiếc bàn dài đóng bằng gỗ đào hoa tâm kế cạnh cửa sổ. Cô Moffatt lấy tờ Gazetle và để xuống trước mặt Page. Trải rộng hết tám cột trên trang nhất là bức ảnh gớm ghiếc của ba thi thể đẫm máu, hai ông và một người đàn bà mình trần trông thật tội nghiệp, nằm sóng soài dưới sàn nhà, còn bên trên bức hình chạy dòng chữ to đập vào mắt người đọc: GIÁ PHẢI TRẢ CỦA ĐAM MÊ.
- Trông có đẹp không? - Cô Moffatt nói bằng một giọng khó tả - Nằm trên trang đầu của chúng ta hẳn là sẽ đẹp mắt.
Mặc dù Moffatt dễ phật ý và sẵn sàng nổi giận, Page không hiểu điều gì đã xảy đến với cô ta. Ông phải chặn đứng thái độ vô lý ấy. Ông đưa lại cô tờ báo.
- Cô mang giấy bút lại đây ghi chép. - Ông nói giọng đanh lại.
Sau khi Page trả lời xong thư tín, cô thư ký già sang phòng bên cạnh ngồi trước máy đánh chữ, còn ông thì đi dọc hành lang đến căn phòng rộng kiến trúc kiểu Adam có nhiều cột, là nơi vào lúc mười giờ mỗi sáng ông họp với ban biên tập để chọn đăng tin tức và các tiết mục cho số báo ngày hôm sau. Malcolm Maitland, người phó tổng biên tập, đã có mặt; ông ta đang nói chuyện với Hartley Slade là người phụ trách ban nghệ thuật. Khi Page bước vào thì Poole, biên tập viên thể thao bước theo sau cùng với Horace Balmer, người chuyên trách quảng cáo rao vặt.
Khi mọi người đã ngồi vào chỗ quanh chiếc bàn họp dài bóng loáng, tự nhiên Page cảm thấy muốn nêu ra vụ Somerville, nhưng nghĩ rằng làm như thế chẳng khác nào phô bày điểm yếu của mình nên ông lại thôi. Họ bắt đầu bàn về hình thức trình bày tờ báo, duyệt qua từng mẩu tin trong bản dự thảo tin tức của Maitland và quyết định tin nào thông qua, tin nào bỏ.
Đường lối của tờ Ánh sáng phương Bắc từ lâu lắm đã được tóm lược trong câu phương châm sau đây, in khiêm tốn bằng chữ cỡ mười hai nằm trên đầu trang nhất: “Tất cả những tin tức đáng đọc”. Từ lập trường không lay chuyển chống tin tức giật gân, tờ báo đã tự tạo cho nó, qua hơn năm thế hệ, một danh tiếng về tính trong sạch, vô tư và đưa tin đúng sự thật. Nó đã trở thành một truyền thống của tỉnh.
Hôm nay trọng điểm tin tức bắt buộc phải là vùng Trung Đông. Page và ban biên tập của ông đi sâu vào chi tiết vấn đề này, rồi làm việc qua phần tin trong nước, cuối cùng là đề tài lúc nào cũng được bạn đọc chú ý, đó là thời tiết. Chỉ trong một đêm, những trận lũ lụt lớn đã tràn ngập vùng Lincolnshire tòa soạn đã cử một phóng viên đến lấy tin tại chỗ cùng với nhiếp ảnh viên chính của tờ báo. Dĩ nhiên còn nhiều diễn biến ở địa phương cần tường thuật, và ban biên tập bố trí xong người làm những công tác ấy. Bod Lewis đã lên đường với công tác N.R.U. Trong vòng một giờ, sau khi mọi người tự do phát biểu xong hết, họ đi đến một sự đồng ý chung, và khi ấy người ta đã có thể thấy trước dáng dấp của số báo hôm sau.
Trong lúc những người kia rời phòng họp, Malcolm Maitland bước đi bên cạnh Page dọc theo hành lang. Là một người xứ Northumbria trung kiên, cứng rắn, có năng lực xuất sắc và cá tính độc đáo, Maitland có những ý kiến mà Page vô cùng kính trọng. Ông sinh ra trong một căn nhà thợ mỏ tiêu biểu, con của người thợ đánh cốt mìn tại một làng mỏ than ở Bedlington. Bằng những cố gắng cá nhân vượt bậc, ông tự học và vào được Đại học Durham, giành lấy hai học bổng tại đấy, và vào năm học chót chiếm luôn giải thưởng Whittingham về chính trị kinh doanh.
Ban đầu ông dạy học ở Tynecastle; tại đấy, trong giờ rảnh rỗi, ông mở một lớp đêm dạy những đứa trẻ lêu lổng ngoài bến tàu, vì ông rất nhiệt tình với những công tác xã hội. Mãi về sau, trong hàng ngũ Đảng Cấp tiến, ông hai lần ra tranh cử nghị sĩ Quốc hội tại khi vực North Durham, nhưng cả hai lần đều bị đánh bại sát nút. Rồi sau đó bị thúc bách bởi khó khăn kinh tế, đồng thời cũng mất đi một số ảo tưởng của thời trai trẻ, nhưng không mất đi tính trào phúng, Maitland không đeo đuổi sự nghiệp chính trị nữa mà bước vào nghề báo chí.
Với một bộ mặt lúc nào cũng đỏ gay, xấu xí, còn chân thì đi hơi khập khiễng - kết quả của một tai nạn hồi nhỏ ở mỏ than - ông không bao giờ là một hình ảnh ưa nhìn dưới mắt người khác, nhưng ông tạo được sự nể phục trong lý trí và tình thương từ trái tim họ. Ông sống cô đơn, một chàng độc thân suốt đời, trong một căn phố ở Wooton và xoay xở tự làm lấy việc nhà cũng đâu vào đấy. Như một quả táo ngon miền Bắc, ông là một con người cứng rắn nhưng tâm địa rất tốt. Thậm chí trong thú tiêu khiển của ông người ta cũng thấy biểu lộ một tấm lòng lành - cả đời ông say mê tập ngựa con chạy, một sự say mê xuất phát từ tình thương của chú bé Malcolm đối với những con ngựa lùn kéo goòng chở than ở hầm mỏ. Maitland gần gũi với Page hơn bất cứ ai khác trong tòa soạn.
- Có nhiều vấn đề quá. - Họ đang thảo luận một đề tài cho bài xã luận, và Page nói một cách bực bội, chán chường, cau có - Có quá nhiều điều phải nói mà có quá ít
Maitland gật đầu tán thành.
- Dường như nước Anh đang lún sâu hơn bao giờ hết dưới sức nặng của những món nợ lớn.
- Giá có thể vứt bỏ tính dửng dưng đáng nguyền rủa của chúng ta. Dường như dân chúng chẳng thèm để tâm đến nữa chừng nào mà họ còn được xem bóng đá và điều trị bệnh không tốn tiền. Hãy nhìn Tây Đức xem họ đã tự vực dậy từ cảnh điêu tàn như thế nào. Năm 49 khi trông thấy đất nước đó trong những đống gạch vụn, tôi tự nhủ người Đức thôi đã rồi đời… sẽ không bao giờ hồi phục nổi. Nhưng họ đã … thật kỳ diệu… giờ họ đứng đầu thế giới.
- Đừng quên rằng họ có một thuận lợi. Họ thua trận.
- Malcolm, đấy không phải là câu trả lời. Họ đã tự làm lấy điều kỳ diệu bằng lòng quả cảm và sự làm việc cần cù, trong khi chúng ta trôi giạt như con tàu không bánh lái.
- Phải, chúng ta đang ở trong một tình trạng hỗn độn. Nhưng chúng ta từng trải qua những cơn hỗn loạn tệ hại hơn.
- Giá có người nào đó ra nhận lãnh trách nhiệm… một chính khách chính cống… Disraeli [5] chẳng hạn…
Maitland dừng lại trước cửa phòng Page, nhìn nghiêng về phía ông này, mắt ánh lên một vẻ trào phúng.
- Thế là anh đã tìm ra nhà lãnh tụ của anh rồi. Và hàng tít nữa - “Nếu Disraeli còn sống đến hôm nay”.
Khi dợm bước đi, Maitland nhìn đồng hồ và nói một cách lạnh lùng:
- Đừng quên rằng sứ giả của Thượng đế của chúng ta có một cái hẹn lúc mười một giờ.
Lúc đó cũng đã đến giờ hẹn, và trước khi Page kịp xuống phòng quảng cáo để họp bàn công việc tường ngày thì mục sư Gilmore của nhà thờ St. Mark bước vào. Page bắt tay ông - một nhà tu Thiên Chúa giáo có cử chị nhanh nhẹn, râu cạo nhẵn nhũi, với tấm lòng lành như tỏa ra bên ngoài.
- Henry, con thật có lòng đến thăm ta. Con quả là một người bận rộn như ta vậy.
Ông mục sư đến về việc tháp chuông nhà thờ St.Mark mà hồi tháng giêng bắt đầu bị nghiêng. Nguyên nhân là những con bọ quít, và vì chóp tháp cũ rất đẹp và thuộc về một di tích của thành phố, nên Page đã mở một quỹ tại tòa báo quyên tiền độc giả để trùng tu nó.
- Ta vừa nhận được bản chiết tính đầy đủ, - Ông mục sư tiếp tục, tay phe phẩy mấy tờ giấy - E rằng chi phí cao hơn chúng ta tưởng rất nhiều. Mười bốn ngàn bảng.
- Đó là một số tiền lớn.
- Thật thế con ạ. Nhất là khi số tiền đóng góp vào quỹ của con chưa tới năm ngàn.
Page không mảy may lo lắng gì việc đó. Cố gắng của tờ báo thuần túy là tự nguyện, và mặc dù ông không giàu có như Croesus [6] ông cũng đã khai trương quỹ quyên góp với số tiền cá nhân một trăm bảng. Tuy nhiên ông chỉ nói:
- Bây giờ là thời kỳ đất nước ta đang khó khăn, thuế má thì cao, vả lại tháng này chưa phải lúc người dân làm việc từ thiện. Ta phải chờ đến mùa Giáng sinh, may ra sẽ khá hơn.
- Nhưng con ơi, nhu cầu thật cấp bách.
Ông mục sư nói tiếp một hồi nữa theo giọng điệu đó trong khi càng lúc Page càng bực tức thêm. Bộ ông ta không hiểu rằng tất cả những đề án không cần thiết và quyền lợi cá nhân, tất cả sự kêu gào đòi hỏi bất tận này phải chấm dứt trước khi đất nước này tàn lụi sao? Thế nhưng Page cố gắng chịu đựng - lắng nghe ông ta nói, bàn bạc với ông ta các phương cách, hứa dành chỗ ở trang giữa cho ông ta. Cuối cùng Page lấy làm mừng rỡ khi ông mục sư đứng lên. Lúc Gilmore bước ra ngoài, ông ta đặt lên bàn viết của Page một tờ giấy đánh má
“Hãy thứ lỗi việc ta gửi lại mấy dòng thơ Phục sinh này. Ta tin rằng vào dịp lễ sắp tới, con sẽ thấy chúng xứng đáng được đăng lên báo.”
Khi cánh cửa khép lại sau lưng ông mục sư, Page theo thói quen cầm tờ giấy lên. Mắt ông vừa lướt qua dòng thơ khốn khổ thứ nhất - “Huệ, ôi nụ hoa đẹp nhất của muôn hoa” - thì chuông điện thoại réo. Cô Moffatt đón nghe tất cả điện thoại gọi đến cho Page từ đài nội bộ dưới nhà, và ông nghe giọng cô trong máy.
- Có Luân Đôn gọi nữa đây.
- Không phải Somerville! - Tự dưng ông kêu lên và lập tức thấy xấu hổ với chính mình.
- Vâng. Điện gọi từ Mighill House. Một ông tên Jones.
Sau một giây im lặng ông nói:
- Bảo cắm cho tôi đi.
- Ông Henry Page đấy à? Xin chào ông. - Giọng nói mang một ngữ điệu xứ Wales. - Tên tôi là Trevor Jones, bí thư của ngài Ithiel Mighill. Tôi chưa được hân hạnh quen biết ông, mặc dù tôi hy vọng sẽ sớm được vinh hạnh đó. Thưa ông Page, Ngài Ithiel mời ông đến gặp ở Luân Đôn… hay tại nhà nghỉ ở Sussex [7] . Vào ngày giờ sớm nhất thuận tiện cho ông.
- Tôi e rằng tôi không có thì giờ.
- Ngài Ithiel sẽ vui lòng gửi máy bay riêng đến đón ông.
- Không, không thể được.
- Thưa ông Page, tôi cam đoan đến sẽ rất có lợi cho ông.
- ại sao?
- Vì những lý do hiển nhiên.
- Tôi hỏi ông tại sao?
- Ngài Ithiel được biết rằng ông có ý định bán tờ Ánh sáng phương Bắc . Ông ấy đặc biệt mong muốn ông đừng làm điều gì cả trước khi ông ấy nói chuyện với ông.
Cổ họng Page tự nhiên nghẹn lại vì giận. Tức thì ông cắt ngang cuộc điện đàm. Trời ơi, chuyện gì thế này? Vì sao bỗng nhiên hai tay cá mập thế lực nhất của ngành báo chí trong nước để mắt đến một tờ báo nhỏ tỉnh lẻ? Mặc dù trong tâm trạng lo lắng ông đã thăm dò, thử hết mọi lý do khả dĩ có thể có, ông cũng không tìm thấy giải đáp hợp lý cho hai câu hỏi trên.
Bằng một cố gắng của nghị lực ông đã dẹp bỏ được nỗi hoảng sợ mơ hồ đang ngự trị nơi ông, và tự ép mình bắt tay vào viết bài xã luận. Chuông điện thoại bỗng reo lên nữa. Page suýt giật mình đứng dậy. Nhưng đó là cô phụ trách tiếp khách ở phòng mạch của bác sĩ Bard nhắc ông có cái hẹn lúc mười hai giờ trưa để khám sức khỏe tổng quát hàng tháng. Bình thường một sự gián đoạn như thế đã làm ông phiền hà, nhưng hôm nay ông hoan nghênh nó - ông muốn ra ngoài, ra khỏi cái văn phòng của mình. Rồi ông tập trung suy nghĩ, phác thảo ra hình dạng ban đầu của bài viết.
Page bấm chuông gọi cô Moffatt. Người nữ thư ký già bước vào, mang theo những bức thư vừa đánh máy, và sau khi đã ký hết ông đưa cho cô bản phác thảo.
- Tôi sẽ còn đọc lại bài này nữa sau khi đánh máy xong.
- Vâng.
Trong giọng nói lạnh lùng của Moffatt, Page hiểu rằng cô không tha thứ cho thái độ cáu kỉnh của ông hồi sớm mai. Trong khi không để cho cơn giận chi phối, cô vẫn có cách trừng phạt những sự lấn lướt của Page bằng cách riêng của cô.
- Ông có dùng cà phê không? - Cô hỏi - Bây giờ đã hơn mười hai giờ rồi.
- Không. Tôi có việc phải đi. Hai giờ
- Ông nên xem cái này trước khi đi.
Người thư ký lạnh lùng trao cho Page một bức điện tín.
TIẾP THEO NỘI DUNG SOMERVILLE NHẮN ĐIỆN THOẠI SÁNG NAY, XIN THÔNG BÁO TÔI SẼ VIẾNG ÔNG VÀO THỨ BA. MONG CHỜ ĐƯỢC VINH HẠNH GẶP ÔNG. HAROLD SMITH.
Bấy giờ thì Page đã vượt quá sự kinh ngạc, nhưng mấy ngón tay cầm tờ giấy màu vàng nhạt đã trở nên cứng ngắt.
- Cầu Chúa cho chúng ta biết được trong đầu họ mưu tính cái gì.
Vẻ mặt cũng như câu trả lời của cô Moffatt chẳng có cái nào làm ông yên lòng. Cô chỉ nói vắn gọn:
- Chắc không bao lâu nữa chúng ta sẽ biết.
Không thấy ông nói gì nữa, cô bước ra ngoài. Còn lại một mình trong phòng, Page đưa mắt lên nhìn chăm chú vào bức ảnh chụp theo phương pháp Daguerre [8] treo trên tường đối diện của người sáng lập báo Ánh sáng, ông cố nội của cha ông - ông già Daniel Page mặc bộ đồ đen, ngồi trong một tư thế nghiêm trang, một bàn tay đút vào bên dưới ve áo khoác ngoài. Trong tâm trạng bồn chồn lo lắng, Henry Page dường như nhận ra thêm vẻ nghiêm nghị trên khuôn mặt đầy quyền uy của ông tổ mình. Ông vội vàng cầm lấy mũ và rời phòng.