Chiếc máy bay đáp xuống phi cảng thật đúng giờ - mười hai giờ bốn mươi lăm theo chiếc đồng hồ tặng phẩm Y.M.C.A [9] trên tay Smith, chiếc đồng hồ mà y luôn luôn giữ đúng đến từng giây.
- Xách cho cả hai va li - Y bảo người khuân vác - Có một chiếc xe đến đón chúng tôi. Tên tôi là Harold Smith
Chuyến bay vừa rồi thật dễ chịu, Smith hít làn không khí mát vào đầy lồng ngực và cảm thấy hài lòng được dịp trở lại Tynecastle. Một chiếc Daimler [10] màu đen thật đẹp chạy trờ tới và người tài xế mặc đồng phục đỗ xe lại. Họ chất hành lý vào cốp sau xe; Smith trả cho người khuân vác nửa bảng, ghi số tiền vào sổ tay chi tiêu, rồi cùng Leonard Nye bước lên xe.
- Đã lâu lắm tôi mới trở lại đây. - Y nhận xét khi xe chạy - Mười lăm năm.
Nye đốt tiếp một điếu thuốc: hắn là một tay hút thuốc nối đuôi, một thói quen mà Smith cho rằng chẳng được tích sự gì. Sau cùng hắn lên tiếng:
- Họ phải đón anh bằng dàn kèn đồng của thành phố chứ.
Smith hơi nhíu mày. Mặc dù có thể ăn nói lịch sự khi nào hắn muốn, Nye có một miệng lưỡi châm biếm khó chịu và không dễ gì là người cộng sự được Smith chọn trong công tác này. Nhưng y cố gắng không nổi nóng. Là một người to lớn về thể xác mặc dù hơi bệu, y tự xem mình cũng “lớn” về cả phương diện khác. “Châm ngôn của tôi”, y thường nói, “là tìm phần ưu tú của mọi người và giữ một quan hệ tốt với họ”. Ngoài ra, hôm nay y có đủ lý do để hài lòng với đời. Y không bình phẩm gì khi xe chạy trên đường Harcourt, là lúc họ chỉ cách không đầy một kilômét căn nhà nghèo xập xệ nơi mẹ y, góa bụa lúc y mới lên bảy, đã vật lộn với cuộc sống và chịu nhiều hy sinh cho y lấy được bằng cấp kế toán viên. Để rồi hôm nay trở lại Hedleston, trong một cơ hội tiến thân lập sự nghiệp, y cũng không buồn nhìn lại khu phố nghèo hèn đằng kia.
Khi xe đã chạy băng qua thành phố, y chồm tới cầm lấy ống nói.
- Này, anh bạn mình tên gì đấy?
- Thưa ngài, Purvis.
- Không phải họ. Tôi hỏi tên kìa. - Y tập cho mình thói quen nói chuyện thân mật bạn bè với bất cứ ai làm việc cho y.
- Thưa ngài, Fred ạ.
- Tốt lắm. Fred, anh đừng chạy thẳng đến Hedleston. Rẽ tại Bankwell và chạy ngang Utley Moor.
- Đường đó chạy vòng xa lắm, thưa ngài. Mà đường cũng chẳng lấy gì làm tốt.
- Không hề gì, Fred. Đi lối đó đi.
Đây là vùng quê nhà của Smith. Y không hề ưa thích Luân Đôn, dù rằng nơi đó y đã làm ăn khấm khá từ khi ở Úc trở về vào năm 49. Nếu làm chủ một ngôi nhà đẹp trên đường Curzon, như ông Somerville, và một bất động sản trên vành đai xanh để thỉnh thoảng thay đổi không khí thì còn có cái để nói về đời sống ở Luân Đôn. Nhưng một vùng ngoại ô như Muswell Hill, nơi y cư ngụ, thì làm gì thú vị bằng nhất là từ khi Minnie đã bỏ y… Nhưng giờ y thôi không nghĩ đến chuyện đó nữa vì với sự giúp đỡ của Chúa, phương thuốc cứu chữa cho y không còn xa lắm.
Họ đi gần đến Utley. Nye lim dim hai mắt, cái đầu trần - hắn không bao giờ đội mũ - tụt xuống trong chiếc măng tô lông lạc đà. Hắn đã ra đi từ đêm hôm trước và, ngoại trừ vào giờ ăn trưa, hắn ngủ suốt trên máy bay. Smith kín đáo quan sát hắn, thừa nhận hắn có dáng người đẹp và vẻ bề ngoài bảnh bao - tóc màu xám nhạt dợn sóng, hai bàn tay làm móng kỹ lưỡng, bộ đồ vét màu sẫm may ở tiệm Poole’s mặc với một áo gi lê Shetland bằng da nai, cà vạt màu xám trơn ghim một kẹp đính hạt trai đen, chiếc đồng hồ đeo tay dày i nốc bản nhỏ, và chiếc nhẫn gắn huy hiệu hiệp sĩ mà hắn mê thích và xoay xở ra được. Hắn diện đúng, và khá đẹp trai nữa, ngoại trừ đôi môi dày và đôi mắt lồi mà vài đường xếp bên dưới làm hắn trông già hơn tuổi ba mươi của hắn. Từ phong cách ung dung, tự tin và trau chuốt, dáng vẻ dửng dưng, những sở thích đắt tiền, tính cẩu thả với tiền bạc và lối giả tảng như bất cần đời - từ những thứ đó, không ai mảy may nghi rằng hắn có một nguồn gốc không bình thường mà, theo quan niệm đạo đức Thiên Chúa giáo của mình, Smith nhận thấy không thể chịu đựng nổi. Ấy thế mà phải tin dùng hắn. Tuy thiếu chiều sâu và tình cảm chân thật, hắn lại được cái sắc bén và một vẻ kinh nghiệm đời. Mặc dù khó chơi thân với hắn, Smith cảm thấy yên tâm có hắn bên cạnh trong những tình huống nghiêm trọng.
- Leonard, dậy đi. Ta đến Utley rồi.
Smith muốn dừng xe lại nhưng sợ người tài xế có thể thắc mắc vì sao họ chú ý đến địa điểm ho lánh này. Thôi cứ tỏ ra vui vẻ dễ chịu nhưng phải giữ không cho bọn này biết tí gì về công việc của mình. Tuy nhiên xe đang chạy chậm vì dằn ổ gà, nên Smith vẫn quan sát được hình thể vùng đất - đồng cỏ và bụi rậm trải ra xa tít tắp, rải rác đó đây nổi lên một bức tường đá thấp, đang là vùng đất hoang miền Bắc.
- Kia, địa điểm là ở kia kìa. - Y thấp giọng nhận xét - Đẹp như một bưu thiếp phong cảnh. Đáng hổ thẹn thay những gì mà người ta sẽ làm tại đây. Rồi ống khói và nhà tiền chế sẽ mọc lên khắp nơi này.
- Ai mà quan tâm điều đó? Nơi đây chẳng dùng được vào việc gì. Mà lại lạnh dữ nữa. Thôi bảo Frederick chạy tiếp đi.
- Mới một giờ mười lăm. Chúng ta hẹn với Page mãi chiều. Trước khi gặp lão, ta đến khách sạn lấy phòng.
- Tôi nghĩ chắc là một nhà ngủ thổ tả thường thấy ở mấy tỉnh lẻ.
- Không. Khách sạn Red Lion. Hạng nhất.
- Nên như thế. Tôi có cảm tưởng vụ này sẽ kéo dài hơn anh nghĩ.
- Đừng lo - Smith đáp - Bây giờ Mighill không tranh nữa thì công việc sẽ dễ dàng.
- Tôi tự hỏi tại sao lão ta bỏ cuộc sớm thế. - Nye nói với vẻ suy nghĩ bất ngờ - Điều đó không phải cá tính của lão Ithiel.
- Tờ báo ảnh chủ nhật mới của lão tốn kém quá. Lão lượng sức không địch nổi số tiền mà chúng ta sẵn sàng chi ra.
- Đâu có đơn giản quá thế. Mighill và Vernon đối nhau như gà với rết. Còn về tiền bạc, hiện nay Vernon không được dồi dào lắm đâu.
- Lão đã cấp cho chúng ta một khoản tiền rất lớn.
- Anh có biết vì sao
- Lão rất muốn tờ Ánh sáng phương Bắc.
Nye nhìn bạn mình như thể y vừa nói một điều điên rồ.
- Ý anh muốn nói lão cần nó.
Sau đó cả hai đều im lặng trong khi xe bắt đầu xuống đồi. Dưới thung lũng, trong bầu không khí trong vắt sau trận mưa, những mái nhà lợp ngói đá bảng của Hedleston chiếu lấp lánh làm nền cho cái vòm màu lục của tòa thị sảnh và cái tháp nhọn màu xám của nhà thờ St. Mark. Một làn hơi nước trắng xóa bay lên từ một đầu máy xe lửa đậu trong nhà ga.
- Thành phố của chúng ta đấy. - Smith bình luận - Một thành phố xinh đẹp đấy chứ. Họ có đủ công ăn việc làm, và hai hãng công nghiệp. Công ty máy công cụ Northern và nhà máy giày của Weatberby.
Điều Smith vừa nói không tạo được chút ấn tượng nào nơi Nye. Trong khi xe chạy qua vùng ngoại ô hắn liên tục ném ra những lời nhận xét mỉa mai, mà trong đó có nhiều điều Smith phải nhìn nhận là rất vui. Smith không nói gì cả cho đến khi xe gần tới khách sạn Red Lion. Lúc đó y mới nói:
- Này Leonard, trên máy bay họ cho ăn bữa trưa sớm và đơn sơ quá. Sau khi lên phòng ta đi làm thêm chứ?
Vẻ mặt của Nye càng trở nên châm biếm hơn.
- Anh thật là một tay ăn táo tợn, Smith ạ. Thành bệnh rồi đấy. Chắc hẳn là vì cuộc đời đã chối bỏ anh hồi còn nhỏ.
- Bây giờ nó không chối bỏ tôi nữa. - Smith mỉm cười, nhưng y bị chạm tự ái; như hầu hết những người tự lập, y lấy làm hãnh diện về những bước đầu đen tối của mình mà y thường phóng đại trong khi nói chuyện.
Tại bàn tiếp khách, y bảo người thư ký rằng họ cần hai phòng đơn, ở giữa có một phòng khách.
- Quý ông có ở đây lâu không
Nye quan sát người thư ký khách sạn.
- Cứ coi như để chờ xem. Quầy rượu đi ngả nào?
Khi Nye đi đến quầy rượu, Smith lên phòng. Phòng sạch bon và thơm mùi sáp đánh bóng sàn nhà. Cạnh bồn rửa mặt có treo khăn lông mới và lò xo nệm giường bật tốt khi y thử ấn. Y mở va li lấy áo quần xếp cất gọn gàng, rồi lấy bức ảnh vợ lồng trong khung da đặt lên đầu tủ cô mốt. Đây là hình chụp mấy năm trước của một người đàn bà trẻ, đẹp, bình dị với nét mặt hiền hậu đức hạnh và một vẻ xanh xao thiếu máu, trong bộ y phục đẹp nhất của mình, hai bàn tay mang găng cầm một quyển Kinh thánh. Smith âu yếm nhìn bức ảnh, rồi hài lòng với sự sắp xếp của mình - y là một người có phương pháp và thích đồ đạc mọi cái phải ngăn nắp thứ tự - y bấm chuông điện, kêu một cái xăng uých lớn và một ly sữa.
Y không lo về việc Nye uống rượu; hắn có thể uống bao nhiêu cũng được mà không tỏ dấu hiệu say. Leonard Nye là một người thông minh, chắc chắn như vậy, và có lẽ quá thông minh nữa. Smith quyết định y phải tìm một dịp để làm sáng tỏ việc ông Somerville đã đặt y phụ trách công việc chung của hai người.
Y ăn cái xăng uých một cách ngon lành, rồi đi tắm rửa và diện đồ vào, ngắm nghía mình trong gương; xong y ôn lại trong đầu những lập luận sẽ đưa ra để thuyết phục Page. Tất cả mọi dữ kiện và số kiện đều nằm sẵn trong đầu - y đã làm việc với chúng suốt ba tuần qua - và y thấy lạc quan. Y biết sức mạnh của đồng tiền. Và thậm chí nếu sự thương lượng mua bán thất bại, thì cũng có sẵn một đường lối hành động khác mà văn phòng đầu não của tập đoàn Somerville đã hoạch định trong một loạt cuộc họp nhằm tiên liệu mọi rủi ro có thể xảy ra trái ý họ. Y không phải là một cái đầu trí thức - Smith thường tuyên bố như vậy với vẻ hài lòng với chính mình - nhưng gặp chuyện kinh doanh thương mại thì y biết phải làm gì. Đúng là như thế, vì nếu không thì làm sao y vượt qua nổi sự bất hạnh lớn đã suýt làm sụp đổ sự nghiệp y.
Sau khi mẹ y qua đời, y nhóng tìm cơ hội ở các thuộc địa; y đăng ký giữ chỗ dưới tàu Oresles chạy đường Liverpool - Melbourne. Trong chuyến đi y tình cờ gặp một nhà kinh doanh người Úc tên Glendenning. Ngành kinh doanh chính của ông này là sữa bột, nhưng còn nhiều cơ sở làm ăn khác - một số trại nuôi bọ ngựa, một tờ báo ngày tên Melbourne Echo và một câu lạc bộ bãi biển tên The Breakers ở Bondi Sands, ngoại ô thành phố Sydney. Đêm hôm trước ngày tàu cập bến, Glendenning đề nghị Smith đi Bondi và xem xét mọi việc ở câu lạc bộ The Breakers.
Anh kế toán viên trẻ nhìn thấy câu lạc bộ đang ở trong tình trạng suy sụp, và sổ sách thì thật kinh khiếp; còn viên quản lý thì ngang nhiên bất lương đến độ cử chỉ đầu tiên của hắn là hối lộ người mới đến. Món hối lộ bị từ chối một cách giận dữ, và Smith bắt tay vào chấn chỉnh lại công việc làm ăn tại câu lạc bộ. Việc làm của y có kết quả tốt đến nỗi mười tám tháng sau Glendenning bán được câu lạc bộ với giá rất lời. Để thưởng công người giúp việc đắc lực của mình, Glendenning chuyển Smith về văn phòng báo Melbourne Echo . Nhu cầu tiến thân khiến Smith học thật nhanh; và sau ba năm y được đưa vào chức vụ giám đốc kinh doanh của tờ nhật báo thành phố Melbourne này. Chính vào thời gian này y cưới cô Minnie Lagnley, con gái một mục sư, mà y có dịp gặp gỡ trước đây tại một buổi picnic của Hội Thiên Chúa giáo Victoria; ngày nay y đã trở thành một nhân vật hàng đầu của hội này.
Trong chín năm tiếp theo y gặt hái nhiều thành công tại tờ báo Echo : chính y đưa sáng kiến mỗi tuần ra thêm một phụ bản màu đem lại cho tờ báo hai mươi ngàn bảng tiền lời mỗi năm. Y bắt đầu cảm thấy rằng đã đến lúc y phải được cho hùn vốn vào tờ báo, không còn trì hoãn gì nữa, thì bỗng Glendenning chết. Tờ báo được bán cho đối thủ của nó là tổ hợp Mercury , và trong vòng có mấy tuần lễ Smith bị bỏ bơ vơ, mất việc làm, không còn chút hy vọng nào vào tương lai nay đã mờ mịt, thậm chí trong di chúc của ông lão Glendenning cũng không thấy nhắc đến. Đó là một vố thật ác mà y thấm thía vô cùng và không thể nào nhớ đến mà không cảm thấy nhục nhã.
Khoảng ba tháng sau y quyết định trở về Anh với vợ. Trong số những hành khách trên tàu có Vernon Somerville, là người vừa mua tờ Gazetle . Đối với con chiên Smith vừa bị Chúa trừng phạt thì đây dường như là định mệnh, như thể sợi dây sờn sắp đứt của vận mệnh y có thể được bện chắc lại bởi một vụ gặp gỡ trên tàu khác. Mặc dù Somerville tránh giao thiệp với mọi người. Một buổi tối nọ, sau bữa ăn, Smith đã tìm cách bắt chuyện với lão trên boong tàu. Mới đầu lão tỏ ra nóng nảy, cáu gắt, thậm chí cộc cằn nữa, nhưng khi Smith tiếp tục với bài diễn từ ngắn được chuẩn bị từ trước thì lão cứ nhìn y bằng khóe mắt với một sự tò mò càng lúc càng tăng. Sau cùng, với một nụ cười kỳ quặc, lão trao cho Smith một tấm danh thiếp hẹn đến gặp lão tại Luân Đôn, như thể lão đã nhận ra được điều gì đó mà lão cần nghiên cứu xem xét k
Bước khởi đầu của Smith trong tòa soạn Gazetle tương đối không có gì quan trọng, nhưng bằng sự làm việc cật lực kiên trì suốt bảy năm qua, y đã củng cố địa vị mình cho đến khi chỉ còn đứng sau cô Clarence Greely, viên giám đốc kinh doanh của Somerville. Do đó, đây là cơ hội vô giá cho y tiếp thu và quản lý tờ Ánh sáng phương Bắc. Y nhất quyết không để hỏng cơ hội này.
Đã đến lúc y phải xuống tầng trệt. Y đứng thẳng người, nhắm mắt lại, hai bàn tay chắp trước ngực, rồi cầu xin Thượng đế cho y thành công trong cuộc gặp gỡ sắp tới với Henry Page. Y tìm thấy Nye ở quầy rượu đang uống dứt một lít bia và trò chuyện với người trưởng quầy.
- Gần ba giờ rồi. Anh không muốn tắm rửa cho mát mẻ à?
- Để làm gì? - Nye hỏi lại - Tôi như thế này thì người địa phương cũng ưa thích tôi được vậy. - Khi họ ra ngoài, hắn tiếp thêm - Tôi moi được mấy điều ở tên nhà quê kia. Page có một mụ vợ hay giao thiệp, thích phô trương và hoàn toàn điên rồ, một cô con gái nhỏ thích nhảy và một cậu con trai ngu đần không chịu làm việc ở tờ báo.
- Tôi lấy làm tiếc được biết điều đó. - Smith nói vắn tắt - Tôi đã có ý giữ cậu ấy ở lại làm việc khi chúng ta nắm tờ báo.
Nye ném về phía Smith một cái nhìn chua chát.
- Thôi bỏ đi. - Hắn nói.
Chiếc xe đang chờ bên ngoài. Fred chào và giây lát sau lái xe chạy đi thật đúng kiểu cách. Smith định bụng không nói chuyện trên xe, nhưng khi xe chạy trên đường Queen, mồ hôi rịn ra sau gáy và lòng bàn tay y. Y là người tự nhiên hay đổ mồ hôi, và càng gần đến giờ hẹn thì vấn đề càng có vẻ hệ trọng. Mặt khác Nye vẫn tỏ ra lãnh đạm.
Chỉ trong năm phút họ đã đến tòa soạn Ánh sáng phương Bắc , và không phải chờ lâu - đó là một điều lịch sự có ý nghĩa báo trước một điều may - Smith và Nye được chỉ lên văn phòng của Page.