Another S0

Lượt đọc: 510 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Sketch 4

- Yêu là thế nào?

- Gì vậy? Sao tự nhiên lại hỏi thế?

- Thích một người là sao?

- Hừm, chắc là cảm giác quyến luyến sâu sắc. Nếu là con trai, thông thường sẽ thích con gái. Con gái thì thích con trai. Tuy nhiên cũng có ngoại lệ.

- Ngoại lệ… Việc con trai cực kỳ thích con trai, cũng là tình yêu?

- Đúng vậy.

- Cậu đã như thế bao giờ chưa?

- Hả! Không, tôi không có sở thích kiểu đó.

- A, ý là cậu từng yêu ai chưa ấy.

- Ồ ra vậy… Nói sao bây giờ nhỉ?

- Sau khi trưởng thành người ta mới yêu à?

- Chưa trưởng thành vẫn yêu được. Mấy đứa nhỏ giờ yêu sớm lắm.

- Hừm… Này, cậu từng yêu ai chưa? Mối tình đầu thì sao?

- …

- Không có à?

- À không… Chắc là có.

---❊ ❖ ❊---

Có một ngày được gọi là ngày của quạ.

Những con quạ bình thường ít khi bắt gặp trong khu vực này, tới ngày ấy sẽ tụ tập quanh nhà tôi. Số lượng từ vài con đến vài chục con. Chúng đậu trên mái nhà hay cây cối ngoài vườn, thỉnh thoảng còn thi nhau kêu lên vang vọng. Có lẽ sợ chúng hay sao, bóng dáng hay tiếng hót của lũ chim rừng giảm đi rõ rệt.

Một tháng có vài lần như vậy, tôi tự gọi đó là “ngày của quạ”.

Vì sao bầy quạ lại tụ tập vào những ngày này? Chắc có lý do hay điều kiện nào đó, tôi không rõ lắm.

Quạ là loài chim thường bị gắn với sự xui xẻo, nhưng tôi tuyệt nhiên không ghét chúng.

Có vẻ chúng gây nhiều phiền toái trong thị trấn vì luôn bươi những bịch rác. Nhưng chúng là quạ, một động vật sống, chúng chầu chực sẵn vì biết trong đó có thức ăn mà thôi. Tôi cũng nghe nói, chúng còn lao đến và mổ vào đầu bọn trẻ con ở mấy chỗ như công viên, nhưng mấy con quạ ở khu này không hành động xấu xa như vậy. Chúng chỉ kêu “quạ, quạ” gây ồn ào. Vậy nên tôi không thấy chúng đáng ghét.

Nhắc mới nhớ…

Hồi trước, có lần tôi từng chăm sóc một chú quạ bị thương. Sau khi cố hết sức điều trị, tôi đặt nó vào thùng các tông có trải chăn và để trong ga ra… Tôi định sẽ chăm sóc cho đến khi nó bình phục, nhưng thật vô ích, nó chết ngay sau đó. Tôi còn không kịp làm quen hay đặt tên cho nó.

Tôi chôn xác nó ở một góc vườn sau. Ở chỗ chôn cất, tôi dựng một bia mộ đơn giản bằng mảnh gỗ vụn. Tấm bia mộ hình cây thánh giá xấu xí, tới giờ vẫn còn đó.

Sau con quạ, có đôi lần tôi thử nuôi động vật tại biệt thự này. Không phải chó hay mèo, mà là những con vật tôi bắt được trong vườn như thằn lằn, ếch… cho tới côn trùng như bọ ngựa hay dế… Loài động vật có vú duy nhất tôi nuôi là chuột hamster. Ngoài ra, tôi cũng từng được tặng một cặp chim sẻ Java [15] .

Trong thời gian nuôi cặp chim sẻ, tôi nhớ rằng mình không thể chịu được cảnh chúng bị nhốt trong lồng nên đã thả đi mất. Những con vật nhỏ bé khác cũng không sống được bao lâu. Tôi chôn xác của chúng thành hàng theo thứ tự, bên cạnh mộ con quạ được dựng lên đầu tiên. Mỗi lần chôn, tôi lại dựng một bia mộ đơn giản.

Nghĩ lại thì, có khi nào tôi làm vậy là để cố gắng nhìn thấy tận mất, chạm vào, cảm nhận gần nhất và tìm hiểu ý nghĩa của thứ gọi là “cái chết” ở những sinh vật sống không nhỉ.

Chưa biết chừng, bây giờ thi thể tôi đang bị chôn dưới đất cũng nên. Chẳng hạn như trong vườn biệt thự, như những con vật mà tôi đã chôn. Hay đâu đó trong khu rừng xung quanh? Nghĩ vậy nên tôi để ý tìm kiếm trên nền đất khu biệt thự xem có dấu vết đất bị đào lên rồi lấp đi hay không. Thế nhưng tôi chẳng phát hiện ra chỗ nào có dấu hiệu rõ ràng.

Cũng không phải không có khả năng tôi đã bỏ sót đâu đó. Nhưng nếu nơi chôn tôi nằm ngoài khu đất biệt thự, thì với sức lực hiện tại, việc tìm ra là chuyện không thể.

Ở đây…

Đột nhiên, có tiếng nói. Vang lên rời rạc…

Chí ít thì… ở đây…

Gì vậy?

… trong ngôi nhà này.

Tôi ngạc nhiên, định vươn ra bắt lấy. Thế nhưng, nó trôi tuột khỏi “bàn tay trong tâm trí” tôi, và biến mất.

Hãy quên đi…

A, ai nói thế nhỉ! Vào khi nào?

Mọi chuyện… tối nay…

Câu trả lời cho tất cả. Tưởng sắp vang lên mà lại trôi tuột đi mất.

Ý nghĩa của những bí ẩn. Tưởng sắp hiện ra mà lại tan biến đâu rồi.

Hãy quên nó đi…

Bị bao bọc trong cảm giác mơ hồ bức bối, tôi ngừng suy nghĩ.

Thứ Tư, ngày 29 tháng Bảy.

Các trường bước vào kỳ nghỉ hè cũng đã được một thời gian. Quá trưa hôm ấy, tôi xuất hiện tại biệt thự bên hồ.

Dù đang giữa hè nhưng bầu trời phủ mây nhẹ nhàng, tiết trời không quá nóng nực. Nắng rọi lấp ló, gió thổi hây hây… và, phải rồi, hôm ấy là ngày của quạ.

Tôi nhận ra do nghe tiếng lũ quạ quàng quạc bên ngoài. Tiếng kêu của không chỉ một, mà nhiều con chồng lên nhau, vang dội khắp nơi.

Tôi ngó ra từ cửa sổ phòng đọc sách tầng hai. Cửa sổ phía Đông không kéo rèm. Phóng tầm mắt đến đám cây cối trong vườn, quả nhiên, quạ bám lố nhố đen thui. Phải mười con là ít. Ở mái hiên tầng một ngay dưới cửa sổ cũng có vài con. Từ vị trí này thì không thể thấy được, nhưng tôi chắc chắn chúng cũng tụ tập rất nhiều trên mái nhà tầng hai ngay phía trên.

Từ “điểu táng” chợt lóe lên trong đầu tôi.

Hình như ở đất nước nào đấy có phong tục mai táng thế này, người ta mang xác chết ra phơi ngoài trời, cho chim rừng rỉa đến khi chỉ còn xương trắng. Biết đâu thi thể tới giờ vẫn chưa thấy tung tích của tôi cũng bị đem đi phơi đâu đó, làm mồi cho quạ rồi cũng nên.

Vừa đắm chìm trong những tưởng tượng không mấy vui vẻ ấy, tôi vừa ngắm nhìn bầy quạ một lúc lâu, cho đến khi nghe thấy một tiếng rầm, không giống tiếng quạ. Tôi đổi sang cửa sổ khác, nhìn ra thì thấy ngay khởi nguồn của tiếng động ấy.

Phía xa khu vườn đằng trước, dưới gốc mộc lan lớn, có người đang dựng chiếc xe đạp bị đổ.

Nhìn từ đây cũng thấy rõ chiếc váy liền thân màu trắng và mũ cói trên đầu. Dáng vẻ giống hệt hôm đứng trò chuyện bên bờ Minazukiko mùa hè năm ngoái. Người đó là…

Misaki… Mei?

Phải không nhỉ? Sao tự nhiên cô bé lại ở đây? Cô bé lại đến biệt thự bờ biển cùng gia đình vào dịp nghỉ hè chăng? Có thể lắm, nhưng kể cả thế…

Rời khỏi chiếc xe đạp vừa dựng, cô bé lấy tay giữ vành mũ và thoáng nhìn lên, rồi bước về phía tiền sảnh của ngôi nhà. Không rõ mục đích là gì, nhưng chắc hẳn cô bé đến đây để thăm tôi - Sakaki Teruya.

Chẳng mấy chốc…

Chuông cửa dưới nhà vang lên.

Sau một hồi bối rối, tôi đi xuống tiền sảnh, nhưng không thể đáp lại tiếng chuông cửa. Dù tôi có trả lời, cô bé cũng không nghe được, còn mở cửa mà không nói gì, cũng có nghĩa là cửa tự mở mà chẳng thấy ai, cô bé sẽ hoảng sợ.

Tôi lặng lẽ tiến ra cửa, nhòm qua mắt thần. Nhưng không còn bóng dáng ai ở đó. Chẳng lẽ cô bé đã từ bỏ, và đi về rồi sao?

Hay là đuổi theo? Trong phút chốc, tôi đã nghĩ như vậy. Nhưng đuổi theo rồi sao? Tôi bây giờ có thể làm được gì?

Cuối cùng, tôi trở lại phòng đọc sách tầng hai mà không làm gì, không thể làm gì.

Tôi quan sát khung cảnh phía xa từ cửa sổ nhưng không thấy bóng người ở bất kỳ đâu. Bầy quạ vẫn rải rác khắp nơi, một con ở ngay cạnh cửa sổ, dang rộng đôi cánh đen sì, kêu lên “Quạạạ”.

Tôi bất giác thở dài và bước về phía bàn. Ngồi xuống ghế, tôi lại nhìn trân trân vào khung hình quen thuộc trên bàn.

Năm 1987, mùng 3 tháng Tám mười một năm trước. Tấm hình kỷ niệm với dòng tựa “Kỳ nghỉ hè cuối cùng thời cấp hai”. Không tính tôi thì bốn người còn lại trong hình là Yagisawa, Hoguchi, Mitarai, và Arai. Phải rồi, họ là bạn của tôi ở Yomiyama, các bạn cùng lớp 9-3 trường Bắc Yomi.

Mười một năm về trước, nghỉ hè chưa bao lâu, họ đến biệt thự này chơi… à không, lánh nạn thì đúng hơn. Không cần chuyển trường, cứ ra khỏi nội thành Yomiyama là có thể tránh được tai ương. Mọi người truyền tai nhau một luật lệ như vậy.

Vậy nên tôi nghĩ, sao mọi người không đến đây chơi, ít nhất trong thời gian nghỉ hè. Và tôi đã rủ, rồi họ đến.

Chúng tôi ở với nhau hơn một tháng tại biệt thự bên hồ này cho đến khi hết kỳ nghỉ hè. Bố tôi vốn biết đầu đuôi sự việc, hiểu rõ tâm trạng của tôi nên cũng cố gắng giúp họ thấy thoải mái trong thời gian ở lại đây.

Suốt kỳ nghỉ hè, tai ương không tìm đến họ. Mặc dù chúng tôi có nghe nói, vào tháng Tám năm ấy, trong số những người liên quan tới lớp ở lại Yomiyama, tiếp tục có người thiệt mạng.

Trên đây là những ký ức về mười một năm trước mà cuối cùng tôi cũng tìm lại được.

Tôi lấy mảnh giấy ghi chú kẹp đằng sau bức ảnh ra và đặt cạnh khung hình.

Trên giấy là họ của năm người chúng tôi. Bên dưới hai trong số năm người, Yagisawa và Arai, có dòng “x tử vong”. Nghĩa là sau kỳ nghỉ hè, từ tháng Chín năm ấy cho tới ngày tốt nghiệp, tai ương đã tìm đến họ. Bốn người quay lại Yomiyama, rồi hai người chết. Lúc nhận được tin, tôi đã ghi chú về vụ việc. Hẳn là tâm trạng tôi khi đó cực kỳ ảm đạm theo đúng nghĩa đen.

Thế thì, cuộc điện thoại ban nãy là thế nào?

Người gọi điện nói, “Tao là người bạn đã cùng mày chia sẻ buồn vui ở Bắc Yomi hồi ấy còn gì.” Arai, tức Tân Cư, đáng lẽ đã chết từ rất lâu rồi, vậy mà… vậy mà, rốt cuộc tại sao?

Từ hôm ấy, tôi không nhận được điện thoại của Arai nữa, vì vậy bí ẩn vẫn mãi là bí ẩn. Nhân thể thì, quyển nhật ký bị thiếu trong ngăn kéo bàn cũng là một ẩn số.

“Memories 1998” đã biến đâu mất? Phải chăng có lý do nào đó nên tôi tự mình xử lý nó rồi? Hay ai đã cầm nó đi?

Tôi lại thở dài, chậm chạp đứng dậy khỏi ghế. Đúng lúc ấy.

“Anh Sakaki!” Bất chợt có tiếng người từ dưới nhà vọng lên. “Sakaki, anh có đó không?”

Giọng cô bé ấy, Misaki Mei.

“Anh có đó đúng không, Sakaki?”

Vì sao cô bé lại ở trong nhà? Không phải cô bé đã bỏ cuộc và đi về rồi sao?

Lẽ nào lại vào từ cửa sau? Nếu là cửa đằng ấy, thì đúng là thường không khóa… nhờ vậy sao?

Đáng ra tôi nên xuống xem xét tình hình, nhưng không hiểu sao tự dưng tôi lại ngần ngừ. Nói đúng hơn là, tôi đang bối rối với tình thế ngoài dự đoán này.

Tôi vẫn đứng chôn chân cạnh bàn và nín thở, không tiến thêm bước nào. Rõ ràng đã là ma thì đâu cần phải như thế.

Một lát sau… Tôi nghe tiếng bước chân loẹt xoẹt lúc đi lúc ngừng. Cô bé đã thay dép và vào nhà rồi.

“Anh Sasaki?” Thỉnh thoảng lại có tiếng gọi, cùng tiếng bước chân mỗi lúc một gần. “Sakaki, anh có đó đúng không?”

Tôi nhận ra cô bé đang lên cầu thang, có thể cô đang tiến tới phòng đọc sách này.

“Anh Sakaki?” Chẳng mấy chốc, tiếng nói phát ra ngay trước căn phòng.

Cánh cửa đang đóng bị kéo ra, mở hướng về phía hành lang bên ngoài.

Misaki Mei bước vào.

Bàn làm việc được bố trí ngay góc tường bên tay trái tính từ cửa vào. Lúc này, tôi đang đứng trước chiếc bàn ấy. Ở góc mặt tường đối diện cửa ra vào, hơi chếch về phía bên phải là kệ trưng bày lớn. Đúng lúc ấy, chiếc đồng hồ treo bên trên kệ đổ chuông.

Đó là chiếc đồng hồ yêu thích của bố tôi. Cánh cửa bên dưới mặt số bật mở, một con cú màu trắng bay ra, cất tiếng “cú cú” báo hiệu. Không phải đồng hồ chim cúc cu mà là đồng hồ cú mèo chạy bằng pin. Thời khắc đã điểm là 1 giờ chiều.

Dường như bị chiếc đồng hồ thu hút chú ý, Misaki Mei vừa bước vào phòng liền dừng lại, nhìn thẳng về phía kệ trưng bày. Cô bé không quay về phía tôi, đương nhiên rồi, tôi là hồn ma, người sống làm sao thấy được.

“A.” Cô bé thì thầm. “Búp bê…”

Từ cửa ra vào, Misaki Mei bước chéo về phía cửa sổ bên phải một hai bước, tiến đến chỗ kệ trưng bày.

Đúng như cô bé vừa lẩm bẩm, ở giữa kệ đặt một con “búp bê”. Búp bê bé gái mặc váy đen cao chừng 40 phân.

“Đây là…” Misaki Mei tiếp tục thì thầm. Xem chừng rất để tâm đến con búp bê.

Vào khoảnh khắc tiếp theo…

Có hai sự việc xảy ra gần như đồng thời.

Thứ nhất là hành động của Misaki Mei.

“Hừm,” vừa khẽ thở dài, cô vừa gỡ miếng gạc bên mắt trái.

Thứ hai, là một biến cố xảy ra ngoài cửa sổ.

Cơn gió mạnh bất chợt thổi tới, làm rung chuyển mặt kính cửa sổ hướng Đông. Cùng lúc, tiếng quạ kêu vang lên bên ngoài. “Quạ, quạạạ…” Tôi nghe tiếng kêu chồng lên nhau, xen lẫn tiếng vỗ cánh. Bầy quạ đang đậu khắp nơi nhất loạt vỗ cánh bay. Từ vị trí tôi đứng cũng có thể nhìn thấy chúng dang rộng đôi cánh đen, bay vụt qua bên ngoài cửa sổ. Misaki Mei đang đứng gần đấy, chắc chắn còn thấy khung cảnh ấy rõ hơn nữa. Và rồi…

Cô thình lình quay về phía tôi.

Mắt dõi thẳng vào chỗ tôi đang đứng, ngay bên bàn, cô nghiêng đầu tỏ vẻ nghi hoặc. Lúc này tôi mới nhận ra, chiếc băng mắt đã tháo xuống treo lủng lẳng bên tay trái cô, nó khá bẩn do dính bùn thì phải.

“Tại sao?” Môi cô bé khẽ cử động. “Tại sao… lại đứng đó?”

Đây không phải lời độc thoại. Bởi vì, lời nói nghe hệt như câu hỏi dành cho người đối diện.

Tôi bất giác cao giọng, ”Hả!? Nhìn thấy sao? Em… có thể thấy tôi?”

“Tôi thấy… nhưng…”

Cô trả lời, khẽ nheo mắt phải. Con mắt giả bên trái ánh lên những tia lạnh lẽo.

“Tại sao?” Lần này là tôi hỏi. “Làm sao em nhìn thấy được? Cả giọng nói này, em cũng nghe thấy chứ?”

“Tôi nghe được… nhưng…”

“Tôi… là hồn ma cơ mà.”

“Hồn ma?” Misaki Mei nghiêng đầu lần nữa.

“Tôi là hồn ma của Sakaki Teruya đã chết. Cho tới bây giờ, không ai nhìn thấy bóng dáng hay nghe thấy giọng nói của tôi cả.”

“Đã chết…” Cô bé lại nghiêng đầu, tiến thêm một bước lại chỗ tôi. “Anh Sakaki đã chết rồi sao?”

“Tôi… chết rồi.” Tôi trả lời bằng giọng khàn đặc khó nghe.

“Thật sao?”

Sau khi cô hỏi, tôi trả lời bằng ngữ điệu nhấn mạnh, “Thật đấy. Hình như mọi người nghĩ rằng tôi đang đi du lịch, nhưng sự thật là tôi đã chết vào đầu tháng Năm vừa rồi, tại đại sảnh dưới nhà. Và sau đó, tôi trở thành thế này. Nói cách khác, tôi đã biến thành hồn ma…”

Không ai nhận ra sự tồn tại của tôi, dĩ nhiên tôi cũng không thể nói chuyện với ai. Từ khi chết cho tới bây giờ, tôi trải qua khoảng thời gian cô độc, ngang trái và chông chênh thế này.

“Rõ ràng là không một ai nhìn thấy hình hài hiện tại của tôi. Vậy mà, sao em lại thấy được? Còn nghe thấy giọng nói này nữa?”

“Đó là…”

Vừa mở lời, cô bé lại lặng thinh, nhìn tôi chằm chặp trong chốc lát. Rồi rất chậm rãi, cô giơ tay lên, che đi mắt phải của mình. Con mắt còn lại, con mắt chắc chắn không có thị lực cùng ánh nhìn vô hồn màu xanh bắt đầu tập trung vào tôi, không chớp lấy một lần…

Con mắt kia của em. Con mắt xanh ấy…

Lời tôi từng nói vào mùa hè năm ngoái thoáng vụt qua tâm tưởng.

Có lẽ nó giúp em trông thấy cùng những thứ giống tôi, cùng một hướng với tôi…

Tại sao tôi lại nói thế? Thứ giống tôi, cùng một hướng… Đó là…

Một từ dần dần hiện hình trong tâm trí tôi, kéo theo rung động hỗn loạn bất thường, trả lời cho câu hỏi “Đó là gì?” mà tôi vẫn luôn thắc mắc.

Đó là…

Cái chết.

“Sao anh Sasaki lại chết?” Misaki Mei thở dài, hạ bàn tay đang che mắt phải xuống, cô hỏi. “Anh nói là chết tại sảnh tầng một. Xảy ra tai nạn gì sao?”

“Chính tôi cũng không rõ lắm,” tôi thẳng thắn đáp. “Tôi vẫn nhớ hiện trường vào thời điểm chết, nhưng những ký ức trước và sau đó thì không rõ ràng. Thi thể của mình ra sao, bây giờ đang ở đâu, tôi cũng không biết.”

“Tang lễ thì sao? Mộ nữa?”

“Không hiểu sao tôi không được tổ chức đám tang, cũng không được chôn cất.”

“…”

“Có lẽ vì vậy mà tôi mới thành ra thế này. Cho nên nhất định…”

Một cơn gió mạnh làm rung chuyển mặt kính cửa sổ lần nữa. Tiết trời có gì đó kỳ lạ. Xem chừng sắp mưa.

Tôi quay lại nhìn Misaki Mei.

Mặc dù biết tôi là hồn ma, cô bé không tỏ vẻ hoảng sợ hay bất an, mà chỉ chớp mắt phải như đang bối rối. Cô gỡ chiếc mũ đang đội, mím chặt đôi môi bé nhỏ rồi ngập ngừng “À ừm”, cùng lúc tôi lên tiếng, “Quan trọng hơn thì… Con mắt trái của em.”

“Hả?”

“Không lẽ con mắt ấy có ‘năng lực’ đặc biệt gì sao?”

“Sao anh lại hỏi thế?”

“Thì bởi, người bình thường không thể thấy bộ dạng hay nghe được giọng nói của tôi, vậy mà em lại nhìn thấy. Lẽ nào là do mắt trái?”

“Anh nghĩ vậy à?”

“Lúc nãy, khi tháo miếng băng che mắt trái, em liền nhận ra sự có mặt của tôi, thấy được hình hài của tôi. Vậy nên…”

“Ừm…” Đưa vành mũ tới chỗ chiếc cằm thon nhỏ, cô nói. “Chắc là thế… Anh tò mò không?”

“À…”

“Tôi có chút khác biệt… “ Cô bé hơi phồng má phải, một nụ cười kỳ lạ phớt qua môi. “Chính vì con mắt búp bê này. Nó khiến tôi khác với người bình thường. Có giải thích chắc anh cũng không tin ngay đâu.”

“Quả nhiên…”

Có lẽ nó giúp em trông thấy cùng những thứ giống tôi, cùng một hướng với tôi…

“Sao băng mắt của em bẩn thế?”

“Do chút rắc rối vừa nãy…” Cô bé khẽ bĩu môi, rồi thình lình trỏ vào kệ trưng bày trong góc. “Kia là gì?”

“Hả?”

“Con búp bê đó. Năm ngoái đến đây tôi không thấy nó.”

Cô bé lướt tới gần kệ trưng bày, ghé sát vào khuôn mặt nhỏ bé trắng muốt của búp bê bé gái mặc váy đen.

“Khoảng cuối năm ngoái, bên thị trấn Soabi có tổ chức buổi triển lãm búp bê.” Cuối cùng tôi cũng tìm ra ký ức ấy. “Tôi rất thích nó, vì vậy…”

“Ra vậy. Anh Sakaki đã mua ủng hộ chúng tôi.”

“Ừm.”

“Do anh biết đó là búp bê của Kirika phải không?”

“Kirika… À, ừm.”

Đúng vậy. Tôi đã nhớ ra.

“Nó là tác phẩm của mẹ em nhỉ? Mẹ em cũng từng cho tôi xem vài con bày ở biệt thự bờ biển. Vì thế, khi thấy con búp bê này ở buổi triển lãm, tôi rất muốn có nó.”

“Ừm.” Khẽ gật đầu, cô bé quay lại phía tôi, nheo mắt. “Nhưng anh Sakaki chết rồi nhỉ. Vào đầu tháng Năm năm nay, tại đại sảnh dạng mở dưới tầng một?”

“Tôi rơi xuống từ hành lang tầng hai, rồi bị gãy cổ thì phải.” Tôi vô thức đáp. “Tay vịn hành lang vẫn còn vết gãy. Có lẽ là ở chỗ đấy.”

“Làm sao anh ngã?”

Tôi bất lực lắc đầu, “Tôi không nhớ rõ nữa.”

“Ma mất ký ức à.”

Cơn gió mạnh tiếp tục thổi làm rung chuyển kính cửa sổ. Tiếng ầm át đi lời Misaki Mei. Âm thanh vang rền như tiếng sấm từ xa vọng lại.

“Tôi muốn nghe.” Cô bé đột ngột tuyên bố, rồi tiến hai ba bước đến chỗ tôi.

Tôi bối rối thốt lên, ”Hả?”

“Có những chuyện anh vẫn nhớ hoặc nhớ ra rồi phải không? Bấy nhiêu thôi cũng được, tôi muốn nghe chi tiết. Anh kể đi.”

“A… à, ừm.”

Tôi bối rối gật đầu, và như tức nước vỡ bờ, tôi kể lể đủ điều, tất cả mọi chuyện, kể từ khi biến thành hồn ma.

Tôi đã rất cô độc và buồn bã suốt ba tháng vừa qua.

« Lùi
Tiến »