Another S0

Lượt đọc: 514 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Sketch 7

- Tạm gác lại những chuyện về tôn giáo hay hồn ma này nọ, thì tôi…

- Sao cơ?

- Tôi nghĩ là, khi một người chết đi, họ có thể kết nối với những người khác bằng cách nào đó.

- Những người khác, là ai cơ?

- Những người đã chết trước họ ấy.

- Chết rồi sẽ kết nối với nhau á? Sau khi lên thiên đường hay xuống địa ngục à?

- À, không. Cũng không phải như vậy.

- …

- Nghe đến vô thức tập thể bao giờ chưa?

- Là gì cơ?

- Một nhà tâm thần học cho rằng, sự vô thức ở phần sâu thẳm nhất trong tâm hồn con người sẽ kết nối với nhau tại một nơi giống như “biển vô thức” chung của nhân loại.

- Ồ…

- Tôi không nghĩ chính xác là thế. Nhưng vẫn có cảm giác rằng, khi con người chết đi, tất cả sẽ hòa nhập vào một thứ giống như “vùng biển” này. Và rồi, mọi người sẽ kết nối với nhau ở đó.

- Nghĩa là nếu chết rồi, ta có thể gặp được bố mình?

- Không phải “gặp được”, mà là “kết nối”. Kết nối ấy, nói thế nào nhỉ, là linh hồn trở thành một ấy…

---❊ ❖ ❊---

Chúng tôi vòng ra cửa sau, rồi tiến vào tiền sảnh.

Mặc dù đang là ban ngày, nhưng không gian mở ở đây vẫn tối lờ mờ. Rộng lớn nhưng quá ít cửa sổ.

Nhìn một vòng quanh sảnh, Misaki Mei lặng lẽ bước đến trước tấm gương treo trên tường. Cô nghiêng đầu quan sát mặt gương, đoạn quay lại phía tôi, “Chỗ anh Sakaki ngã là ở đâu vậy?”

“Kia,” tôi trỏ xuống sàn nhà, nơi cách mặt gương chưa đầy hai mét, “Tôi ngã xuống đây, nằm ngửa, mặt hướng về phía gương.”

Tứ chi gập lại thành các góc cong queo. Máu tràn ra từ vết rách đâu đó trên đầu, vấy đỏ cả trán và má. Máu rỉ dần ra, đọng thành vũng trên sàn nhà. Cảnh tượng kinh hoàng tối hôm ấy hằn rõ trong ký ức tôi.

Mei khẽ gật đầu, tiến thêm một bước về chỗ tôi chỉ. Rồi cô ngước lên nhìn.

“Trên kia nhỉ. Có vết gãy trên tay vịn hành lang tầng hai.”

“Ừm.”

“Đúng là khá cao. Quả nhiên, nếu xui xẻo thì ngã từ đó xuống thừa sức mất mạng.” Cô lại khẽ gật đầu, tiếp tục, “Theo như tôi nghe hôm trước, lúc hấp hối, anh định trăng trối gì phải không? Cụ thể thế nào?”

Tôi bèn tường thuật đúng như những gì đã diễn ra.

Cử động môi tôi đã thấy. Giọng chính rnình tôi đã nghe. Cả những khả năng tôi vừa suy luận ở bờ hồ.

“Những âm phát ra thành tiếng là ‘tsu’ và ‘ki’,” Mei khoanh tay nghiêm nghị. “Tôi cho rằng không thể là ‘Minazukiko’.”

“Ừm… Thoạt nghe thì nghĩ ngay đến ‘Tsukiho’ nhỉ?”

Nếu là Tsukiho, thì vì sao chú?

“Chà…” Mei lẩm bẩm, toan nói lại thôi. Cô nhìn sang chiếc đồng hồ ở sảnh, “Lúc chuông điểm đúng 8 giờ rưỡi, anh nghe thấy giọng ai đó phải không? Gọi ‘Teruya’ ấy.”

Đúng. Ai đó hét tên tôi (… Teruya).

“Là giọng ai?” Misaki Mei hỏi. “Cô Tsukiho?”

“Không.” Tôi lắc đầu. “Tôi nghĩ không phải đâu.”

“Thế thì…”

Ba tháng trước, vào buổi tối định mệnh… Tôi sực nhớ, ở một góc tấm gương đang phản chiếu hình ảnh hấp hối của tôi, có bóng dáng ai đó.

“Là So,” tôi nói. “Bấy giờ nó đứng ở chân cầu thang, sửng sốt mở to mắt nhìn, rồi gọi tên tôi, ‘Cậu Teruya’.”

Đúng rồi.

Tối hôm ấy, không chỉ mình chị Tsukiho mà So cũng đến biệt thự này, và chứng kiến cái chết của tôi.

Vì vậy vào lần xuất hiện ở nhà Hiratsuka đợt trước, khi So nằm dài trên sofa, tôi đã nói với thằng bé thông qua suy nghĩ trong đầu mình.

Người chứng kiến vụ việc không chỉ có mỗi chị Tsukiho.

So, cả cháu nữa. Lúc đó cháu cũng có mặt.

“Chắc là So quên hết rồi.” Mei lẩm bẩm, “Vì những gì em ấy đã thấy và nghe được tại nơi này, thực sự quá sốc.”

Chúng tôi lên lầng hai.

Sau khi kiểm tra chỗ tay vịn có dấu vết sửa chữa, Mei nói, “Tôi muốn xem phòng đọc sách lần nữa.” Tôi đồng ý.

Nhớ lại khung cảnh lúc tôi tình cờ gặp cô bé vào buổi chiều ba hôm trước, tôi khẽ áp tay lên ngực. Một cảm giác kỳ lạ vây hãm lấy tôi, cứ như trong thân thể chỉ còn là dư ảnh thuở sinh thời này, nhịp đập thình thịch của trái tim - tất nhiên cũng chỉ là dư ảnh, đang truyền qua lòng bàn tay tôi. Vẫn tiếp tục đắm chìm trong cảm giác kỳ lạ ấy, tôi bước vào phòng trước rồi mời Mei.

Buổi chiều ba hôm trước, lúc ấy…

Mei đã nhìn thấy hình hài đáng lẽ không thể thấy của tôi, nghe được giọng nói đáng lẽ không thể nghe thấy của tôi. Tôi rất bất ngờ khi biết về “năng lực” cô bé sở hữu. Rất bất ngờ, rất bối rối, nhưng cũng rất vui sướng. Niềm vui sướng vì được giải thoát, dù chỉ trong phút chốc, khỏi sự cô độc có thể sẽ kéo dài mãi mãi. Đúng vậy, hẳn là cảm giác đó.

Chính vì vậy, không chút đắn đo, tôi thổ lộ hết gan ruột với một cô bé nhỏ hơn mình đến mười tuổi.

Đồng hồ cú mèo phía trên kệ trưng bày điểm chuông. 4 giờ chiều.

Cũng giống như lúc ở tiền sảnh, Mei nhìn một lượt quanh phòng, rồi lặng lẽ bước đến bên bàn. Cô bé đưa mắt nhìn chiếc máy soạn thảo văn bản, nghiêng nghiêng đầu, sau đó lại vươn tay đến khung hình.

“Tấm hình kỷ niệm à.” Cô lẩm bẩm, nhìn xuống tờ giấy ghi chú đặt bên góc khung hình. “Có anh Sakaki… Yagisawa, Hoguchi, Mitarai và Arai. Trong số này, Yagisawa và Arai đã ‘tử vong’ nhi.”

“Ừm.” Tôi khẽ đáp.

Mei nhìn sang phía tôi, “Thế nhưng, anh lại nhận được điện thoại của người bạn chắc chắn đã chết rồi?”

“Đúng vậy.”

“Kỳ lạ thật đấy.” Mei đặt khung hình trở lại bàn, hơi phồng một bên má. “Hay cái người tên Arai đó cũng là hồn ma? Có khi là người bạn ma của anh chăng.”

Mei tiếp tục nhìn quanh rồi dừng mắt tại chiếc tủ thấp kê cạnh bàn. Trên tủ là máy con của điện thoại không dây. Điện thoại được lắp vào đế máy có chức năng sạc pin.

Mei không nói gì, cầm điện thoại lên.

Gì? Cô bé định gọi đi đâu? Tôi đang thắc mắc thì cô gật đầu, sau đó “Hừm” một tiếng rồi trả nó về kệ kê điện thoại.

“Là vậy à.”

“Sao cơ?”

Phớt lờ thắc mắc của tôi, Mei hỏi, “Anh nói ở tầng hai có vài phòng bị khóa phải không? Tôi muốn ngó qua, nhưng với cơ thể sống này, liệu tôi có vào được không?”

“Mở cửa mà vào,” tôi trỏ kệ trưng bày ở góc phòng. “Chìa để lẫn với mấy thứ lặt vặt đằng kia.”

Có hai phòng bị khóa. Cả hai đều ở góc trong cùng tầng hai nên chúng tôi xem xét sơ qua các phòng khác trước. Phòng ngủ và chỗ để quần áo của tôi, vài phòng ngủ dự phòng bỏ không trong thời gian dài, phòng giải trí chứa máy ảnh và các thiết bị âm thanh… Cuối cùng, tôi dẫn Misaki Mei đến hai căn phòng kia.

Mei mở khóa.

Chỉ nhìn lướt qua cũng có thể nhận ra, phòng thứ nhất chỉ như một kho chứa đồ. Các loại tủ chứa hay tủ quần áo xếp san sát nhau dọc theo bờ tường, những chiếc hộp trông như rương lớn được xếp vào những chỗ trống còn lại.

“Chỗ này…” Tôi giải thích, Mei nghiêng đầu lắng nghe. “Di vật của bố mẹ tôi đều tập trung ở đây.”

“Của bố mẹ anh?”

“Mẹ tôi mất mười một năm trước ở Yomiyama, do tai ương vào năm 87. Lúc trốn chạy khỏi Yomiyama ngay trước kỳ nghỉ hè, bố tôi đem di vật của bà đến đây…” Lần theo ký ức vẫn còn nhiều phần mang đường nét không rõ ràng, tôi kể lại. “Sau đó, cả gia đình chuyển đến nơi khác, nhưng bố vẫn giữ nguyên căn phòng này. Sáu năm trước, bố qua đời, tôi quay về biệt thự bên hồ, đem theo những món đồ gần gũi với bố. Tôi nghĩ nên để chúng cùng nhau thì tốt hơn.”

“Vậy sao.” Đáp lại ngắn gọn, Misaki Mei nheo mắt phải, “Bố mẹ anh thực sự rất hòa thuận.”

“…”

“Và anh Sakaki cũng rất yêu thương bố mẹ.” Thở hắt ra một tiếng gờn gợn phiền muộn, cô hỏi, “Ở đây không có thi thể đâu nhỉ?”

“Không có.” Tôi chầm chậm lắc đầu. “Tôi tìm cả trong tủ và hộp, nhưng không chỗ nào chứa thi thể cả.”

Căn phòng Misaki Mei mở ra tiếp theo cũng là một căn phòng của quá khứ, nhưng đem đến cảm giác hoàn toàn khác.

Ngay khi bước vào và nhìn thấy khung cảnh trong phòng, Mei thốt lên “A…” Không rõ là bất ngờ hay thở dài nữa.

“Nơi này…” Ngay cả tôi, dù đã biết về căn phòng, mà nhìn lại cũng thấy thật bất thường.

Phòng không quá rộng. Trừ dãy cửa sổ, trên khắp các mặt tường dán chi chít những mảnh giấy cắt từ báo và tạp chí, giấy photo, ảnh chụp, những mảnh bìa lớn với chữ viết tay. Giữa phòng có kê một chiếc bàn dài, hẹp, bên trên cũng bày lộn xộn toàn báo, tạp chí, sổ ghi chú, bìa kẹp tài liệu.

“Chậc…” Mei nhanh chóng bước đến bên tường, ghé sát vào xem một miếng giấy dán trên đó. ‘“Cái chết bất thường của nam sinh trung học trong khuôn viên trường. Tai nạn bất ngờ trong lúc chuẩn bị lễ hội văn hóa.’ Sự việc xảy ra ở Bắc Yomi? Tháng Mười năm 1985… Mười ba năm về trước à…”

“Bên này là báo số cũ hơn nhỉ,” Cô bé rời mắt sang một tờ khác. “Tháng Mười hai năm 1979. ‘Thảm kịch đêm Giáng sinh. Nhà dân bị cháy phân nửa, một người tử vong.’ Nguyên nhân hỏa hoạn do nến trên bánh kem Giáng sinh sao? Có vẻ người đã chết kia là học sinh trường Bắc Yomi. Năm 79, lẽ nào là năm thầy Chibiki làm chủ nhiệm khối Chín?”

“Thầy Chibiki?”

“Hồi ấy thầy là giáo viên môn Xã hội. Giờ đã chuyển sang làm thủ thư trường rồi. Anh chưa nghe cái tên đó bao giờ sao?”

“Tôi không nhớ.”

“Vậy à.”

“Bài báo về tai nạn xe buýt năm 87 cũng ở đằng kia.” Tôi chỉ đến chỗ dán bài báo. “Các bài báo khác đều là những tin tức liên quan đến tai nạn hay sự việc xảy ra ở Yomiyama trong quá khứ. Có cả những bài sau năm 87. Mấy dòng viết trên giấy bìa là bảng tổng hợp các sự kiện theo trình tự thời gian. Thông tin nhận được ở đây rất hạn chế nên tôi nghĩ nó không đầy đủ cho lắm.”

“Thế còn những bức ảnh này? Anh Sakaki tự chụp à?”

“Phải. Sau khi các sự cố xảy ra, tôi cũng đến quan sát hiện trường và khu vực xung quanh.”

“A…” Mei lại thốt lên lần nữa, cô vòng hai tay tự ôm lấy đôi vai nhỏ bé, người run lẩy bẩy. Bước dọc theo bờ tường một hồi, Lần lượt nhìn hết những thứ dán trên đó, cô thở một hơi thật mạnh như để trấn an bản thân.

“Tất cả, đều do anh Sakaki thu thập nhỉ.” Cô xác nhận. “Những thông tin hay tài liệu liên quan đến tai ương ở Bắc Yomi, đều tập trung ở đây.”

“Đúng thế.” Tôi gật đầu, nhưng không có bất kỳ cảm giác chân thực nào về bộ sưu tập này. Có thể nói là cảm xúc đã khô cạn chăng. Chắc hẳn đây là di chứng của việc mất ký ức sau khi chết.

“Khi nãy em cũng nói rồi đấy, có lẽ tôi vẫn luôn bị ám ảnh với tai nạn ở Bắc Yomi mười một năm trước. Tất nhiên, điều này không có nghĩa là tôi định ngăn chặn để tai ương đừng tiếp tục xảy ra hay gì. Nói thế nào nhỉ, mặc dù không còn liên quan đến những sự việc ở Yomiyama nữa, nhưng tôi lại không thể quên, không thể ngừng bận tâm tới chúng.”

Mặc dù không còn liên quan gì đến những sự việc ở Yomiyama nữa, nhưng lại không thể quên, không thể ngừng bận tâm tới chúng.

“Giống như bị trói buộc ấy hả?” Giọng Mei sắc lạnh.

Tôi cụp mắt xuống, “Bị trói buộc à? Có lẽ vậy.”

“Bởi tai ương ập đến vào mười một năm trước. Bởi những cái chết anh chứng kiến khi ấy.”

Bị trói buộc… đúng nhỉ. Có lẽ thế thật.

“Từ lúc đó, anh mở rộng phạm vi tìm hiểu, thu thập tất cả thông tin về những tai ương xảy ra ở Bắc Yomi trong suốt hai mươi lăm năm.”

À… đúng thế.

“Anh Sakaki đã luôn bị trói buộc và vẫn tiếp tục bị trói buộc.”

“Có lẽ đúng thế thật.”

Một lúc lâu sau, chúng tôi rời khỏi căn phòng ghi chép về tai ương. Đang bước ra ngoài, Misaki Mei chợt nhìn lên mặt tường trong góc cửa và đột ngột dừng bước. Ở đó có hàng chữ bằng mực dầu đen, viết thẳng lên giấy dán tường màu kem đã vàng.

Cậu là ai?

Rốt cuộc là ai?

Nội dung như vậy.

Không lẫn vào đâu được, đó là bút tích của tôi = Sakaki Teruya.

“Ba tháng trước, vào tối mùng 3 tháng Năm, lúc anh Sakaki chết…” Xuống được nửa đường, Mei hỏi. “Anh chắc lúc ấy cô Tsukiho đã tới đây chứ?”

“Tới giờ, cuộc trao đổi giữa tôi và chị Tsukiho thỉnh thoảng vẫn vọng lại trong đầu tôi. Giọng nói tương đối gay gắt. Nên tôi khá chắc chắn.”

“Vì sao cô Tsukiho lại đến thăm anh Sakaki?”

Mei tiếp tục hỏi và tôi tiếp tục trả lời.

“Bởi vì hôm ấy là sinh nhật. Sinh nhật tôi, nên chị Tsukiho dẫn So đến. Hình như họ còn mang quà cho tôi nữa. Vậy nên lúc đó, So cũng có mặt…”

Bóng So phản chiếu trên tấm gương.

“Cậu Teruya!” Thằng bé hét gọi tên tôi. Cực kỳ thảng thốt, cực kỳ khiếp đảm. Khuôn mặt với đôi mắt mở to sửng sốt.

“Lúc hai người họ đến đây, anh Sakaki đang làm gì, ở đâu? Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì?” Mei lẩm bẩm như độc thoại, rồi liếc nhìn phản ứng của tôi, “Hẳn là anh chưa thể nhớ ra?”

“…”

Tôi vẫn lặng thinh, không gật, cũng chẳng lắc đầu.

Em đang làm gì vậy… Teruya.

Dừng lại đi!

Đừng bận tâm…

Sao lại thế… không được!

Cứ mặc xác tôi…

Tôi đã…

Tôi cố gắng tập hợp lại những lời trao đổi với chị Tsukiho tối hôm ấy. Những lời mà đã nhớ ra và hiểu được. Nếu bình tĩnh suy nghĩ lại thì nó chỉ có một ý nghĩa duy nhất. Nói cách khác… Không, nhưng mà… Điều đó suy cho cùng chỉ là tưởng tượng hay suy đoán thôi. Dù sao tôi cũng không hề có cái cảm giác chân thực rằng “Mình đã nhớ ra”.

“Ngoài mấy quyển nhật ký, anh còn tìm thấy gì khác không?” Xuống đến tiền sảnh, Mei hỏi.

“Ừm…” Tôi ngập ngừng.

Mei chăm chú nhìn tôi, “Máy ảnh chẳng hạn. Có vài chiếc máy ảnh trong phòng giải trí ở tầng hai, nhưng không hiểu sao cái nào trông cũng như đồ cổ ấy.”

“À.”

“Mùa hè năm ngoái, lúc gặp nhau ở bờ biển, anh có cầm chiếc máy ảnh cơ. Xem ra đó là chiếc máy ưa thích mà anh sử dụng khá thường xuyên, nhưng tôi lại không thấy nó trên phòng. Cả ở phòng đọc sách hay những phòng khác cũng không thấy.”

Tôi cũng không rõ, thật lòng mà nói, tôi chưa từng bận tâm đến chuyện ấy.

Trong lúc tôi chẳng thể trả lời gì được, Mei băng ngang đại sảnh như muốn nói “Tôi hiểu. Thôi được rồi”.

“Phòng lưu trữ sách ở đằng kia hả?” Cô bé chỉ về phía góc sảnh. “Tôi muốn ngó qua một chút. Sau đó sẽ xuống hầm. Đi cùng tôi chút xíu nữa nhé, anh chàng ma.”

“Tuyệt quá! Nhiều sách ghê! Y như thư viện trường vậy!” Đi loanh quanh giữa một rừng sách, chỉ lúc này Misaki Mei mới thốt ra suy nghĩ ngây thơ, đúng với một cô bé 15 tuổi.

“Bố tôi sưu tập rất nhiều sách.”

“Sách khó đọc cũng nhiều nữa. Anh có từng cảm thấy chỉ cần ở đây thôi cũng đủ hiểu hết tất cả mọi điều bí mật trên thế giới chưa?”

“Nói sao nhỉ…” Theo sau Mei, tôi trả lời. “Tất cả thì không thể rồi. Nhưng, ừm, thỉnh thoảng cũng có cảm giác như vậy.”

“Ồ!!” Mei ngoảnh mặt lại, nghiêng nghiêng đầu nhìn chằm chằm vào tôi.

Tự dưng tôi đâm bối rối, “Nghe kỳ lạ nhỉ. Điều tôi vừa nói ấy.”

“Không hề.” Mei nháy mắt phải, môi thoáng nụ cười. “Vì tôi cũng từng có cảm giác ấy.”

Và rồi, chúng tôi bỏ phòng lưu trữ sách lại sau lưng.

“Hướng này.”

Chúng tôi quay về tiền sảnh, tiến vào hành lang nối với cửa sau. Dù đang là ban ngày, thời điểm đáng lẽ không cần bật đèn, nhưng chúng tôi vẫn suýt đi quá cánh cửa màu nâu sậm ở lưng chừng hành lang do trong nhà tối quá.

“Tầng hầm ở hướng này…” Tôi vẫy Mei đến, rồi vặn tay nắm cũ kỹ và mở cửa. Mới nhìn qua thì căn phòng trước mặt chẳng khác gì một kho chứa đồ bị bỏ trống, nhưng ở góc phòng có cầu thang dẫn xuống tầng hầm.

Tôi bật đèn sáng cho Mei, rồi bước xuống bậc thang trước. Chân trái chỉ là dư ảnh thuở sinh thời, vẫn hơi kéo lê như mọi khi.

Dưới chân cầu thang có thêm một cánh cửa, dẫn đến một hành lang ngắn. Sàn, tường, trần nhà đều trát vữa màu xám trông hơi đơn điệu. Ở một bên hành lang có hai cánh cửa nối tiếp, cách nhau một khoảng. Cuối hành lang là đống đồ đạc cũ chồng chất lộn xộn.

“Nơi này có vẻ không được sử dụng thường xuyên nhỉ.” Mei nói. “Không khí mát mẻ nhưng khá bụi bặm…”

Cô bé lấy khăn tay từ túi quần ra, bịt mũi miệng, chỉnh mũ cho sụp xuống mắt.

Sau đó, chúng tôi lần lượt mở hai cánh cửa, xem xét bên trong. Ánh sáng bên ngoài chiếu qua dãy cửa sổ con trong góc tường, gần phía trần nhà, nên dù không bật đèn, căn phòng vẫn sáng nhờ nhờ.

“Nơi này như chỗ tập kết đồ phế thải vậy.”

Lổng chổng toàn là xô bẩn, chậu, ống nhựa, mảnh gỗ, dây thừng bị đứt, rồi đến những thứ không hiểu sao lại có ở đây như gạch, đá. Quả là chỗ tập kết phế thải theo đúng nghĩa đen.

Mei dừng ở hành lang nghiêng ngó chứ không định bước hẳn vào phòng.

“Ở đây cũng không có thi thể đâu nhỉ?” Sau khi xác nhận, cô vẫn để cửa mở như vậy, “Phòng bên cạnh thì sao?”

“Không khác gì mấy.” Tôi trả lời, mở cánh cửa thứ hai.

Ở đây cũng sáng nhờ nhờ do ánh nắng từ ngoài chiếu vào. Nhưng dãy cửa sổ gần trần nhà cho thấy hồi trước nơi này được sử dụng với mục đích hoàn toàn khác phòng bên cạnh. Bên trên cửa sổ có thanh trượt của rèm cửa. Hai bên mép thanh trượt là tấm rèm đen dày cộp.

“Buồng tối,” Mei lẩm bẩm. “Anh thường rửa phim ở chỗ này?”

“Trước đây thôi. Chụp ảnh vốn dĩ là sở thích bố tôi truyền lại. Ngày xưa, ông dùng phòng này làm buồng tối, tự mình tráng phim và rửa ảnh.”

“Sau khi ông mất, anh Sakaki vẫn sử dụng nơi này?” Hỏi xong, Mei bước vào phòng.

“Chỉ trong thời gian đầu, lúc mới về đây thôi. Vì lúc ấy, ảnh tôi chụp đa phần là trắng đen. Nhưng về sau thì chủ yếu là ảnh màu.”

“Nghĩa là anh không rửa ảnh màu?”

“Kỹ thuật rửa ảnh màu khác với ảnh trắng đen, rất phức tạp.”

“Thế à.”

“Từ lúc ấy, buồng tối này không còn được sử dụng nữa.”

“Ra vậy.”

Giữa phòng có một chiếc bàn lớn phủ đầy bụi cùng đèn rửa ảnh hình hộp. Ngoài ra còn rất nhiều thiết bị, dụng cụ dùng để rửa ảnh trước đây, giờ nằm tênh hênh trong tình trạng không được bảo quản. Căn phòng này gợi lên cảm giác bị bỏ hoang rõ hơn hẳn kho chứa đồ phế thải.

“Tôi cũng tìm khắp các ngóc ngách trong phòng này rồi.” Tôi thở dài, “Không thấy thi thể đâu cả.”

Mei gật đầu, chậm rãi bước quanh phòng một lát, cuối cùng dừng bước, khoanh tay, một lần nữa nhìn lên dãy cửa sổ vẫn còn treo màn che. “Ban nãy là căn phòng kia, rồi đến buồng tối cũ này… Hừ!” Buông tay xuống, cô thoáng nhìn sang tôi, “Có cái gì như… bản vẽ thiết kế không?”

“Tôi nghĩ là không.” Tôi vắt óc suy nghĩ với vẻ mặt nghiêm túc. “Chí ít thì tôi chưa từng thấy thứ nào như vậy.”

Ra đến hành lang, Mei ngó lại căn phòng đầu tiên, lần này cô đi hẳn vào, quanh quẩn giữa đống đồ phế thải. Trong lúc đợi cô bé, đâu đó sâu trong lòng tôi bỗng dâng lên cơn khó chịu, bứt rứt. Nhưng chẳng mấy chốc, cô đã lại khoanh tay bước ra, nghiêng đầu chốc lát, đoạn giục tôi “Đi thôi” và quay gót về phía cầu thang.

“Ở đây cũng không làm được gì thêm nữa.”

Tôi nghe thấy tiếng lẩm bẩm, nhưng không hỏi rõ ý cô bé là gì.

Chúng tôi lại quay về tiền sảnh.

Đã hơn 5 giờ rưỡi chiều. Hoàng hôn sắp sửa buông xuống.

“Hôm nay đến đây thôi, tôi phải về rồi.”

Mei nói, nhưng tôi vẫn giữ chân cô lại thêm một lúc.

“Tuy có hơi đường đột, nhưng tôi muốn hỏi em một câu khá kỳ quặc.”

Chúng tôi đã quay lại tiền sảnh và đang đứng cạnh chiếc đồng hồ vẫn dừng ở thời điểm 6 giờ 6 phút. Tôi nhìn sang cô bé.

“Em đã từng yêu chưa?”

“Hả?” Mei ngạc nhiên, chớp đôi mắt khác màu. “Yêu? Tình yêu…”

Nghe hỏi độp một câu như vậy, hẳn là ngạc nhiên lắm. Người đặt câu hỏi như tôi còn ngạc nhiên, hay đúng hơn là hết sức lúng túng cơ mà… Tôi cũng không rõ rốt cuộc vì sao mình lại hỏi câu đó nữa.

“Sao đây. Chậc,” Misaki Mei vắt óc suy nghĩ, “Ừ thì…”

Tôi bối rối, nhưng không tìm ra lời nào để gỡ gạc, trong lúc đó thình lình nảy ra một thắc mắc mới, tôi liền cất tiếng mà không suy nghĩ nhiều, “Em muốn mau chóng trở thành người lớn chứ? Hay là không?”

Mei lại chớp mắt, nhưng lần này cô bé chỉ nghiêng nghiêng đầu. Mất một lúc mới lặng lẽ nói, “Sao cũng được hết. Dù muốn dù không, cuối cùng vẫn phải lớn lên thôi, nếu còn sống. Đúng chứ?”

“…”

“Anh Sakaki thì sao?”

Bất ngờ nghe hỏi, tôi không trả lời được ngay.

“Anh có muốn trở thành người lớn không?”

“Chuyện đó…”

Dù có lớn lên, mọi chuyện cũng không tốt đẹp đến thế đâu.

“Tôi…”

Muốn trở lại quá đi, thời còn trẻ con ấy.

“… muốn trở lại quá, thời còn là trẻ con ấy.”

“Vì sao vậy?”

“À, là vì…”

Vì muốn nhớ lại vài điều, chắc vậy.

“Thế còn, yêu?”

“Hả!”

“Anh từng yêu chưa?”

“Ợ…” Tôi luống cuống tìm câu trả lời.

Misaki Mei bình thản nheo mắt phải, nhìn tôi chăm chú, “Chưa bao giờ sao?”

“Không, có lẽ là đã từng.” Tôi nghĩ đâu nói đó. “Nhưng mà…”

Có lẽ tôi không đủ tư cách để trả lời câu hỏi ấy.

“… tôi không nhớ nổi.”

Tôi không nhớ rõ nữa. Vậy nên…

Misaki Mei vẫn nheo mắt phải, đầu nghiêng nghiêng ra chiều khó hiểu.

“À này, em…”

Vừa định lên tiếng, tôi chợt nhận ra ánh mắt Mei không còn hướng về mình nữa, mà đang nhìn cái bàn đặt sát mép tường. Trên bàn là máy tổng của điện thoại không dây.

Mei tiến đến bên bàn, im lìm nhìn xuống điện thoại, rồi lại ngước nhìn tôi, “Anh nghe lời nhắn của anh Arai kia bằng điện thoại này?”

“Ừ,” tôi trả lời dù không hiểu dụng ý câu hỏi. Không hiểu sao cô bé lại gật đầu ra vẻ đồng tình.

“Điện thoại con trong phòng đọc sách hết pin rồi nhỉ.”

“À… Thế hả?”

“Ừm. Vì vậy, chắc chắn nó không thể kêu khi có cuộc gọi đến được.”

Người bạn cũ Arai nào đó rõ ràng đã tử vong. Vì sao lại có cuộc điện thoại từ người đàn ông tự xưng cái tên ấy?

Cô bé đang phân tích bí ẩn này chăng? Trước khi hỏi, tôi quyết định nói ra suy nghĩ trong lòng, dù còn nhiều điểm mơ hồ chưa nắm bắt hết.

“Về vụ Arai, không hiểu sao tôi lại nghĩ thế này. Rằng một người… chết đi rồi, có thể kết nối được với những người khác bằng cách nào đó.”

“Chết rồi, kết nối?” Misaki Mei lại vắt óc suy nghĩ hệt như lúc nãy. “Thế á? Từ khi nào anh nảy ra ý tưởng ấy?”

“Trước khi chết khá lâu… lâu lắm rồi.”

“…”

“Tôi có cảm giác xưa kia mình từng nói ra ý tưởng này. Bản thân đã chết và biến thành hồn ma, nhưng tôi cho rằng tình trạng của mình hiện giờ không phải là ‘chết’ như nó vốn có. Cái tình trạng dang dở, bất ổn và thất thường này…”

“Nên anh dứt khoát phải tìm kiếm xác mình dù không có manh mối gì?”

“Đúng. Tôi nghĩ là, nếu tìm ra thi thể, và Sasaki Teruya được phúng điếu đàng hoàng như một người đã khuất, thì tôi mới có thể chết đúng nghĩa, mới đến được với cái chết như nó vốn có.”

“Hừm, hình như tôi hiểu được đến đây rồi.”

Mei rời khỏi điện thoại, đứng cách tôi một quãng, ngay giữa tiền sảnh.

Không gian u ám hẳn đi trong buổi chạng vạng, hình dáng cô bé trông như một cái bóng xám không mang thực thể, giống tôi.

“Khi một người chết đi, phải chăng họ có thể kết nối được với những người khác bằng cách nào đó.” Tôi lặp lại câu mình từng nói.

“Những người khác, là ai cơ?” Mei hỏi.

“Những người đã chết trước họ ấy.” Tôi trả lời. “Có lẽ khi con người chết đi, tất cả sẽ hòa nhập vào một ‘biển vô thức’ chung của toàn nhân loại. Và rồi, mọi người sẽ kết nối với nhau ở đó. Em nghĩ sao?”

Cái bóng xám không cử động, cũng không lên tiếng đáp lại. Tôi tiếp tục, “Tôi chết đã được ba tháng, nhưng vẫn trong trạng thái thế này, không thể hòa nhập vào vùng biển ấy. Tuy nhiên, có lẽ vì sự thật là tôi đã chết, nên thỉnh thoảng lại xảy ra sự kết nối không trọn vẹn. Nói tóm lại, ví như…”

“À!” Mei thoáng nhìn qua máy điện thoại, “Ví như cú điện của Arai?”

Tôi gật đầu. Mặc dù bản thân vẫn bán tín bán nghi. “Cậu Arai gọi cú điện đó hẳn là người đã khuất, có lẽ là do tai ương mười một năm về trước. Nay tôi cũng chết, nên mới có khả năng kết nối cùng cậu ta như người trong một giới với nhau, mặc dù lời nhắn nghe không giống của người chết cho lắm. Suy đến cùng, đây cũng chỉ là một giả thuyết mà thôi.”

“Một giả thuyết khá táo bạo đấy.”

Misaki Mei lại khoanh tay, nhưng tôi không thể nhìn ra biểu cảm của cô bé. Cả thân thể ấy đã hóa thành bóng xám.

“Tôi thực sự phải về rồi.”

Mei nhanh chân bước về phía cửa sau. Tôi bám theo, cất tiếng khi vừa ra khỏi nhà, “Ngày mai chắc không gặp được nhau đâu nhỉ?”

Đảo ngược với hôm qua, tôi nghĩ, nhưng không nói thành lời. Mei dừng bước và ngoái lại. Tôi có cảm giác cô bé thoáng nở nụ cười.

“Ngày mai… lại gặp nhau, ở đây.”

Bản thân tôi cũng không biết vì sao mình lại đề nghị như thế nữa. Gặp cô bé xong, chúng tôi tiếp tục tìm kiếm thi thể giống hôm nay à? Hay… mà thôi, lý do là gì cũng được.

Tôi từ bỏ những suy nghĩ rối rắm.

“Em đến được chứ?” Tôi hỏi, lén quan sát phản ứng của cô bé.

“Chậc, ngày mai…” Mei kéo mũ sụp xuống mắt, “Ban ngày tôi có chút việc. Sao nhỉ? Chiều tối thì chắc được. Cỡ 4 giờ rưỡi gì đó.”

“Ồ…”

“Anh chàng ma thì sao?” Cô bé hỏi, giọng điệu pha chút tinh nghịch. “Anh sẽ xuất hiện đúng hẹn chứ? Có quá sức anh không?”

“À…”

Dù muốn đi nữa, tôi cũng chưa chắc xuất hiện được vào thời gian và địa điểm như lời hẹn, nhưng chí ít thì hôm nay tôi đã làm được, không phải sao? Vì vậy, nếu tôi nỗ lực, ngày mai hẳn cũng…

“Tôi sẽ cố gắng xem sao.”

Nghe câu trả lời, Mei hơi tròn con mắt không phải mắt búp bê.

“Vậy sao?!” Cô bé lẩm bẩm. “Tôi hiểu rồi. Thế thì ngày mai, lúc 4 giờ rưỡi.”

“Tôi sẽ cố gắng có mặt ở đại sảnh vừa nãy. Ngày mai em cứ vào thẳng đấy nhé.”

“Tôi hiểu rồi.” Mei trả lời và nhanh chóng quay gót đi.

Dõi theo bóng lưng cô bé đang bước đi dưới chiều tà đỏ sậm, tôi áp tay lên ngực, cảm nhận nhịp đập nhẹ nhàng của trái tim, tuy chỉ là dư ảnh thuở sinh thời. “Thịch!” Không rõ vì sao, nhịp đập bỗng trở nên rối loạn, đột nhiên tăng vọt, rồi lại tắt lặng ngay lập tức. Bóng tối trống rỗng há to miệng, nuốt chửng lấy tôi. Không gì kháng cự được.

« Lùi
Tiến »