Arsène Lupin Tái Xuất

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 10
sợi dây màu đỏ

Chân tay bủn rủn, Coralie khuỵu xuống chiếc ghế quỳ và tha thiết, điên cuồng cầu nguyện. Cô cầu nguyện cho ai? Cho sự an nghỉ của những linh hồn xa lạ đó ư? Cô cũng không biết nữa. Nhưng toàn bộ cơ thể cô nóng rực lên vì nỗi xúc động dâng trào và lúc này đây, chỉ có những lời cầu nguyện mới có thể làm cô dịu lại. Patrice thì thầm với cô: “Mẹ em tên là gì vậy, Coralie?”

“Louise ạ.” Cô đáp.

“Cha anh tên là Armand. Vậy thì đây không thể là hai người họ, nhưng mà...”

Patrice cũng lộ rõ vẻ xúc động tột cùng. Anh cúi người thấp xuống, xem xét thật kĩ mười chín chuỗi hạt và bia mộ rồi nói: “Nhưng Coralie ạ, sự trùng hợp này lạ lùng quá đỗi. Cha anh cũng mất vào năm 1895.”

“Mẹ em cũng mất vào năm này.” Cô đáp. “Dù em không nhớ được chính xác ngày nào.”

“Rồi chúng ta sẽ tìm ra thôi, Coralie ạ.” Anh tuyên bố. “Những việc như thế này đều có thể xác minh được. Nhưng bây giờ đã có một sự thật được sáng tỏ. Người gắn kết hai cái tên Patrice và Coralie này không chỉ hướng đến chúng ta và cũng không chỉ hướng đến tương lai. Có thể, người đó hướng về quá khứ nhiều hơn, về một Patrice và một Coralie nào đó mà người ấy biết đã chết rất bi thảm; và người đó thề sẽ trả thù cho họ. Đi nào, Coralie! Đừng để ai nghi ngờ chúng ta đã vào đây.”

Họ theo lối nhỏ ban nãy để đi xuống và ra về qua hai cửa ngách trổ ra con ngõ nhỏ. Lúc quay về, cũng không có ai nhìn thấy họ. Patrice lập tức đưa Coralie vào nhà, giục Ya-Bon và các chiến hữu của mình tăng cường cảnh giác, bảo vệ cô rồi đi ra ngoài.

Mãi đến tối, anh mới về và ngày hôm sau lại đi luôn từ sớm; tới tận ba giờ chiều hôm sau nữa, anh mới tới gặp Coralie.

“Anh đã tìm hiểu được gì chưa?” Cô lập tức hỏi.

“Anh biết được nhiều điều lắm, dù những điều đó vẫn chưa thể xua tan màn đêm đang phủ lên hiện tại, nếu không muốn nói là ngược lại, Coralie ạ. Tuy nhiên, chúng lại rọi một tia sáng chói lòa vào quá khứ.”

“Những điều đó có giải thích được những gì chúng ta đã thấy hai hôm trước không?” Cô lo lắng hỏi.

“Nghe này, Coralie...” Anh ngồi xuống đối diện cô và nói. “Anh sẽ không kể cho em tất cả các bước mình đã làm. Anh sẽ chỉ tóm tắt ngắn gọn những việc cho ra kết quả thôi. Đầu tiên, anh đến tòa thị chính ở Passy rồi đến tòa đại sứ của Serbia.”

“Vậy anh vẫn nhất quyết đó là mẹ của em sao?”

“Đúng vậy! Anh đã lấy được một bản sao giấy chứng tử của mẹ em, Coralie ạ. Mẹ em mất ngày Mười bốn tháng Tư năm 1895.”

“Ồ!” Cô nói. “Đó là ngày ghi trên mộ

“Đúng là ngày đó.”

“Nhưng còn cái tên Coralie thì sao? Mẹ em tên là Louise cơ mà.”

“Mẹ em tên thật là Louise-Coralie, Bá tước phu nhân Odolavitz.”

Cô kêu lên: “Ôi, mẹ! Mẹ kính yêu của con! Vậy người nằm đó là mẹ em. Bà đã bị sát hại. Vậy là em đã cầu nguyện cho chính hương hồn của mẹ mình?”

“Cho hương hồn của bà, Coralie ạ, và cho cả vong linh của cha anh nữa. Anh phát hiện ra tên đầy đủ của ông là Armand-Patrice Belval. Anh đã tìm được thông tin này ở tòa thị chính trên đường Drouot. Ông cũng mất vào ngày Mười bốn tháng Tư năm 1895.”

Patrice không ngoa khi nói rằng có tia sáng chói lòa được rọi vào quá khứ. Bây giờ, anh đã biết chắc chắn và được chính thức xác nhận: những dòng chữ đề trên bia mộ nọ được dành cho cha anh và mẹ của Coralie, cả hai người đều bị sát hại cùng một ngày. Do kẻ nào? Vì lý do gì? Trước đó còn có thảm kịch gì nữa? Đó là những gì Coralie hỏi Patrice.

“Lúc này, anh chưa thể trả lời những câu hỏi của em được.” Anh đáp. “Nhưng bản thân anh đã đặt ra một câu hỏi khác, dễ trả lời hơn và sẽ giúp chúng ta khẳng định chắc chắn về một điểm cốt yếu. Điều anh muốn biết là: Ngôi nhà thuộc về ai? Phía mặt tiền bên đường Raynouard không để lại cho ta manh mối nào. Em đã thấy bức tường và cánh cổng ở sân trước đấy, chúng chẳng có gì đặc biệt. Nhưng với anh, chỉ cần số nhà là đủ. Anh đã tìm đến nhà người thu thuế trong vùng và ông ta cho anh biết các khoản thuế được một công chứng viên sống ở đại lộ Opéra nộp. Anh đã đến gặp viên công chứng ấy và biết được điều này...”

Patrice ngừng lại một lát rồi nói tiếp: “Ngôi nhà được cha anh mua cách đây hai mươi mốt năm. Hai năm sau đó, cha anh qua đời và ngôi nhà đó, tất nhiên cũng là một phần tài sản của ông, được người tiền nhiệm của vị công chứng viên hiện tại rao bán. Người đã mua ngôi nhà là một người gốc Hy Lạp, tên là Siméon Diodokis.”

“Chính là ông ấy!” Coralie kêu lên. “Già Siméon có họ là Diodokis đó!”

“Chà!” Patrice nói tiếp. “Vậy là Siméon Diodokis là bạn của cha anh, vì cha anh đã để lại chúc thư, chỉ định ông ấy là người đại diện pháp lý duy nhất của mình; và cũng chính Siméon Diodokis, thông qua vị công chứng viên kia và một cố vấn pháp luật London, đã thanh toán học phí và các khoản chi phí nội trú khi anh học ở Anh. Rồi khi anh đến tuổi trưởng thành, ông ấy giao cho anh số tiền hai trăm nghìn franc, khoản thừa kế mà cha anh để lại.”

Cả hai ngồi im lặng một lúc lâu. Nhiều sự việc đã hiện ra trước họ nhưng, cho đến lúc này, vẫn còn rất mơ hồ, hệt như những cảnh vật chìm trong màn sương khi chạng vạng. Và trong quang cảnh mờ hơi sương đó, vẫn có một thứ nổi rõ hình thù hơn tất thảy những gì bên cạnh. Patrice thì thầm: “Mẹ em và cha anh yêu nhau, Coralie ạ.”

Ý nghĩ này đưa hai người xích lại gần nhau hơn và cũng ảnh hưởng sâu sắc tới hai người. Tình yêu của họ là bản sao của một mối tình khác, một mối tình cũng phải chịu bao sóng gió, y như họ, nhưng còn bi thảm hơn và kết thúc trong máu và chết chóc.

“Mẹ em và cha anh yêu nhau.” Patrice nhắc lại. “Anh dám chắc cả hai đã yêu nhau tha thiết, họ là những kẻ nồng nhiệt khi yêu và tình yêu say đắm của họ có chút trẻ con rất đáng yêu, vì khi chỉ còn lại hai người, họ đã gọi nhau bằng những cái tên chưa có ai từng gọi họ, đó là tên đệm của họ và cũng là tên của chúng ta. Một hôm, mẹ em đã đánh rơi chuỗi mân côi bằng thạch anh tím của mình và viên to nhất bị vỡ làm đôi. Cha anh đã lấy một nửa hạt đó và đính vào dây đeo đồng hồ. Cả hai người đều góa bụa. Khi đó, em mới hai tuổi, còn anh lên chín. Để dành trọn cuộc đời cho người phụ nữ mình yêu, ông đã gửi anh sang Anh và mua căn nhà nhỏ kia để mẹ em - vốn sống ở ngôi nhà đồ sộ bên cạnh - có thể sang gặp ông, chỉ cần băng qua con ngõ nhỏ và dùng cùng một chiếc chìa cho cả hai cánh cửa. Không nghi ngờ gì nữa, họ đã bị sát hại trong chính căn nhà nhỏ, hoặc ngoài mảnh vườn xung quanh nhà. Chúng ta rồi sẽ tìm ra sự thật, bởi chắc chắn phải còn lại những bằng chứng hiện hữu của vụ giết người đó, những bằng chứng mà Siméon Diodokis đã tìm được, vì ông ấy đã không ngần ngại khẳng định điều đó qua những dòng chữ đề trên bia mộ.”

“Vậy ai là kẻ sát nhân?”

“Em cũng nghi ngờ kẻ đó, giống như anh, đúng không Coralie? Cái tên đáng hận ấy đã hiện lên trong đầu em, dù chúng ta không có cơ sở để khẳng định chắc chắn.”

“Essarès!” Coralie đau đớn kêu lên.

“Rất có thể.”

Cô vùi mặt vào hai lòng bàn tay. “Không, không... Không thể như thế được... Em không thể là vợ của kẻ đã giết chết mẹ mình được.”

“Em mang họ của lão nhưng em chưa bao giờ là vợ của lão cả. Em đã nói điều đó với lão vào cái đêm trước khi lão bị giết, khi anh cũng có mặt ở đó. Chúng ta sẽ không nói bất cứ điều gì ngoài những điều chúng ta có thể khẳng định, dù vậy, ta hãy luôn nhớ rằng lão là hung thần tới ám em. Và cũng hãy nhớ: Siméon, người bạn và cũng là người đại diện pháp lý của cha anh, người đã mua lại ngôi nhà của cặp tình nhân, người đã thề trước mộ phần của cha mẹ chúng ta rằng ông sẽ trả thù cho họ. Hãy luôn ghi nhớ: Siméon, vài tháng sau khi mẹ em mất, đã thuyết phục Essarès nhận mình làm người coi sóc nhà cửa, rồi trở thành thư ký của lão và dần dần bước vào cuộc đời của lão. Vì sao ông ấy phải làm như vậy? Chẳng phải là để thực hiện kế hoạch trả thù ư?”

“Nhưng đã chẳng có cuộc trả thù nào.”

“Làm sao chúng ta biết được. Chúng ta đâu có biết Essarès chết như thế nào? Chắc chắn, Siméon không phải là người giết lão, vì khi đó, ông ấy đang ở bệnh viện với em. Nhưng có thể ông ấy đã khiến lão phải chết. Vả lại, có hàng trăm nghìn cách trả thù. Cuối cùng, rất có thể Siméon đã làm theo những lời căn dặn của cha anh. Không nghi ngờ gì nữa, đầu tiên, ông ấy muốn thực hiện mục tiêu mà cả cha anh và mẹ em đều khao khát: cuộc hội ngộ giữa số phận của hai ta, Coralie ạ. Và cả đời ông ấy chỉ theo đuổi một mục tiêu ấy thôi. Ông ấy rõ ràng chính là người đã đặt nửa bị vỡ từ viên thạch anh lớn trên chuỗi mân côi của em vào trong hộp đựng đồ lặt vặt từ thuở bé của anh. Ông ấy đã sưu tầm ảnh của hai ta. Siméon cũng chính là người bạn và người bảo vệ bí ẩn đã gửi chiếc chìa khóa cho anh, kèm theo một bức thư mà thật không may, anh lại không nhận được...”

“Vậy thì, Patrice ạ, anh không còn nghĩ người bạn bí ẩn ấy đã chết, và rằng anh đã nghe thấy tiếng kêu hấp hối của người ấy nữa, đúng không?”

“Anh cũng không biết nữa. Liệu có phải Siméon chỉ hành động một mình? Hay ông ấy còn có một tâm phúc, một phụ tá giúp ông ấy hoàn thành những việc ông ấy phải làm? Có lẽ chính người đó mới là người bị sát hại vào lúc bảy giờ mười chín phút chăng? Anh không rõ. Tất cả những chuyện đã diễn ra trong buổi sáng bất hạnh đó giờ vẫn còn chìm sâu trong bóng tối, chẳng hề sáng tỏ gì thêm. Điều duy nhất chúng ta có thể tin chắc là: Suốt hai mươi năm qua, Siméon Diodokis đã luôn kín đáo và kiên trì thay mặt cho chúng ta, dốc hết tâm sức của mình để chống lại kẻ sát hại cha mẹ chúng ta, và hiện Siméon Diodokis vẫn còn sống.”

Patrice lại nói thêm: “Vẫn còn sống, nhưng đã hóa điên. Vì lẽ đó mà chúng ta không thể cảm ơn ông ấy, cũng không thể hỏi ông ấy về câu chuyện đau buồn mà ông ấy biết, hay về những hiểm họa đang rình rập quanh em. Nhưng ông ấy lại là người duy nhất...”

Patrice muốn thử lại lần nữa, mặc dù anh biết trước mình sẽ phải thất vọng. Siméon ở trong một căn phòng tại dãy nhà dành cho người làm, ngay cạnh phòng của hai thương binh. Patrice gặp được ông ta ở đó.

Siméon đang ngồi gà gật trên một chiếc ghế bành quay mặt ra vườn, miệng ngậm cái tẩu đã tắt lửa. Căn phòng nhỏ xíu, đồ đạc chẳng có mấy nhưng sạch sẽ và thoáng đãng. Toàn bộ cuộc đời bí ẩn của ông cụ đã trôi qua trong căn phòng này. Ngài Desmalions đã từng vào phòng của Siméon khi ông ta vắng mặt, cả Patrice cũng vậy, mỗi người với một mục đích khác nhau.

Khám phá duy nhất đáng chú ý là một hình vẽ sơ sài bằng bút chì, được tìm thấy sau một cái tủ ngăn kéo: ba đường thẳng cắt nhau tạo thành một tam giác đều khá lớn. Ở giữa hình tam giác là một vết bẩn nham nhở, có lẽ là sơn, có ánh vàng. Tam giác vàng! Ngoại trừ hình vẽ đó ra, ngài Desmalions chẳng tìm được manh mối gì khác nữa.

Patrice đi thẳng đến chỗ Siméon và khẽ vỗ vào vai ông ta.

“Siméon!” Anh gọi.

Ông ta nâng cặp kính vàng lên nhìn Patrice. Đột nhiên, Patrice bỗng nảy ra ý muốn gỡ bỏ vật cản bằng kính đã giấu đi ánh mắt của ông cụ và ngăn không cho anh nhìn sâu vào tâm hồn cũng như những ký ức xa xăm của ông ta. Siméon bật cười ngây dại.

“Vậy...” Patrice nghĩ thầm. “Đây chính là người bạn của mình và cũng là bạn của cha mình. Ông ấy yêu quý cha mình, tôn trọng những ý nguyện của cha mình và luôn nhớ về ông. Cũng chính ông ấy đã xây mộ cho cha mình, cầu nguyện cho ông và thề sẽ trả thù cho ông. Vậy mà giờ đây, ông ấy đã không còn minh mẫn nữa.”

Patrice cảm thấy mọi lời nói đều vô ích. Nhưng nếu giọng nói của anh không đánh thức được điều gì trong khối óc lơ đãng này, biết đâu đôi mắt vẫn còn lưu lại chút ký ức nào đó. Anh lấy một tờ giấy trắng, viết lên đó những từ mà anh đồ rằng Siméon đã nhìn thấy biết bao lần: Patrice và Coralie - ngày Mười bốn tháng Tư năm 1895.

Ông già nhìn, lắc lắc cái đầu và lại bắt đầu khùng khục điệu cười đau khổ và ngây ngô quen thuộc. Viên sĩ quan lại viết: Armand Belval.

Ông già vẫn giữ nguyên vẻ ngây ngô. Patrice vẫn tiếp tục thử. Anh viết những cái tên như Essarès Bey và Đại tá Fakhi. Anh vẽ một hình tam giác. Ông già vẫn không hiểu được và tiếp tục khúc khích cười.

Đột nhiên, tiếng cười của ông già bớt dại đi một chút. Patrice đã viết tên của tên đồng phạm Bournef và lần này, dường như người thư ký già đã nhớ lại được điều gì đó. Ông ta cố đứng dậy, rồi lại ngồi phịch xuống ghế, rồi lại đứng lên. Khi đã đứng lên được, ông ta cầm lấy cái mũ treo trên tường.

Ông ta rời căn phòng, Patrice lập tức đi theo. Ông ta ra khỏi nhà, rẽ sang trái, đi về phía khu phố Auteuil. Ông ta đi như người đang giữa cơn mê vì bị thôi miên, cứ thế tiến về phía trước nhưng bản thân lại không hề biết mình đang đi đâu. Ông ta dẫn Patrice đi qua đường Boulainvilliers, băng qua sông Seine và tiến thẳng đến khu phố Grenelle với những bước chân dứt khoát, không hề do dự. Khi tới một đại lộ, ông ta dừng chân, giơ tay ra hiệu cho Patrice dừng lại theo.

Có một ki ốt che khuất bọn họ. Ông ta ló đầu qua ki ốt. Patrice cũng làm theo.

Phía đối diện, ở góc giao của đại lộ này với một đại lộ khác, có một tiệm cà phê. Phần vỉa hè trước tiệm cà phê đó khá rộng, bao xung quanh là những chậu cây nhỏ. Đằng sau những chậu cây đó, có bốn người đàn ông đang ngồi uống cà phê. Ba người ngồi quay lưng lại với Patrice. Anh chỉ nhìn rõ được người quay mặt ra phía mình, và lập tức nhận ra đó là Bournef.

Lúc đó, già Siméon đã bỏ ra xa, như một người đã hoàn thành nhiệm vụ của mình và phần còn lại dành cho kẻ khác. Patrice quan sát xung quanh. Thấy gần đó có một bưu điện, anh bèn chạy vội vào trong. Anh biết hiện giờngài Desmalions vẫn đang ở đường Raynouard. Anh gọi đến đó và thông báo cho ông chỗ băng Bournef đang ngồi. Ngài nói ngài sẽ đến ngay lập tức.

Từ sau vụ sát hại Essarès Bey, ngài Desmalions chẳng tiến thêm được bước nào trong cuộc điều tra về bốn tên đồng bọn của Đại tá Fakhi. Mặc dù cảnh sát đã tìm ra chỗ cư trú của Grégoire và những căn phòng cho thuê có tủ tường, nhưng toàn bộ nơi đó đều trống trơn. Những tên đồng bọn cũng biến mất.

“Già Siméon...” Patrice tự nhủ. “... Đã biết quá rõ thói quen của bọn chúng. Ông ấy chắc chắn nắm rõ chúng sẽ họp nhau ở quán cà phê này vào giờ nào, ngày nào trong tuần, và ông ấy bỗng nhiên nhớ lại khi nhìn thấy cái tên Bournef.”

Vài phút sau, ngài Desmalions từ trên xe bước xuống cùng các cảnh sát. Chuyện sau đó diễn ra rất chớp nhoáng. Không gian mở trước tiệm cà phê bị bao vây. Bốn tên nọ không ai chống cự. Ngài Desmalions cho giải ba tên lên Sở Cảnh sát, có người áp giải và canh gác cẩn mật; riêng với Bournef, ngài đưa gã vào phòng tra hỏi đặc biệt.

“Đi nào!” Ngài nói với Patrice. “Chúng ta sẽ thẩm vấn hắn.”

“Bà Essarès ở nhà một mình ạ?” Patrice có ý phản đối. “Một mình ư? Ồ không, vẫn còn chiến hữu của anh mà.”

“Vâng, nhưng tôi muốn về đó hơn, nếu ngài không phiền. Đây là lần đầu tiên tôi rời khỏi bà ấy và tôi thực sự rất nóng ruột.”

“Chỉ mất vài phút thôi mà.” Ngài Desmalions cố nài. “Chúng ta phải tận dụng lúc hắn còn đang bối rối vì bị bắt bất ngờ.”

Patrice đành đi theo ngài, nhưng chẳng mấy chốc, họ thấy ngay Bournef không phải loại người dễ bối rối. Gã chỉ nhún vai trước những lời dọa nạt của họ.

“Vô ích thôi, các ông.” Gã nói. “Các ông không dọa được tôi đâu. Tôi chẳng ngại gì cả. Xử bắn à? Ái chà, vớ vẩn hết sức! Ở Pháp, các ông không xử bắn người ta vì chuyện nhỏ nhặt như thế này; và cả bốn chúng tôi đều là công dân của một nước trung lập. Ra tòa á? Kết án á? Vào tù ư? Không đời nào! Các ông quên rằng mình đã giấu nhẹm vụ này cho đến tận bây giờ rồi sao? Khi các ông đã im những vụ sát hại Mustapha, Fakhi và Essarès đi, chẳng có lý do chính đáng nào để khơi lại vụ án đó cả. Không thưa các ông, tôi chẳng sợ đâu. Cùng lắm, tôi chỉ phải vào trại tập trung thôi.”

“Vậy là anh từ chối khai báo?” Ngài Desmalions nói.

“Nhất định không khai một lời nào. Tôi chấp nhận vào trại tập trung. Nhưng ở những trại đó có đến hai mươi chế độ đối xử kia, và có lẽ tôi cũng muốn được các ông ưu ái một chút, để có thể yên tâm sống thoải mái cho đến khi chiến tranh kết thúc. Nhưng trước tiên, các ông đã biết những gì rồi?”

“Gần như tất cả.”

“Tiếc thật! Điều đó làm giảm giá trị của tôi. Các ông biết chuyện xảy ra vào đêm cuối cùng của Essarès chứ?”

“Biết, cả vụ trao đổi bốn triệu franc nữa. Số tiền đó sao rồi?” Bournef tỏ vẻ giận dữ. “Bị lấy khỏi tay chúng tôi rồi! Bị đánh cắp! Đó là một cái bẫy.”

“Ai đã lấy chúng?”

“Một người tên là Grégoire.”

“Người đó là ai?”

“Hóa ra là một người quen. Lúc ấy chúng tôi mới biết. Chúng tôi phát hiện ra Grégoire không ai khác chính là người thỉnh thoảng vẫn lái xe cho Essarès, những khi cần”

“Và cũng là kẻ đã giúp Essarès vận chuyển vàng từ nhà băng về nhà hắn?

“Đúng! Và chúng tôi thậm chí còn nghĩ, không, là chúng tôi biết... Nghe này, ông có thể tin đây là điều chắc chắn. Grégoire... là phụ nữ.”

“Phụ nữ á?”

“Chính xác! Đó là tình nhân của lão. Chúng tôi có vài bằng chứng. Nhưng bà ta là một người cứng cỏi, tự tin và khỏe như một gã đàn ông, không biết sợ một thứ gì.”

“Anh biết địa chỉ của bà ta chứ?”

“Không!”

“Thế còn vàng? Các anh không có manh mối gì về nơi cất giấu, không có nghi ngờ gì sao?”

“Không! Vàng chỉ có thể ở ngoài vườn hoặc trong ngôi nhà ở đường Raynouard thôi. Chúng tôi đã thấy vàng được chuyển về đó suốt một tuần liền. Kể từ lúc đó, vàng vẫn chưa được chuyển ra ngoài. Đêm nào chúng tôi cũng theo dõi. Những túi vàng vẫn còn ở nguyên đó, tôi chắc chắn như vậy!”

“Không có manh mối nào liên quan đến vụ sát hại Essarès sao?”

“Không. Không một tí gì.”

“Anh chắc chứ?”

“Tại sao tôi phải nói dối chứ?”

“Biết đâu hung thủ chính là anh? Hoặc một người bạn của anh thì sao?”

“Chúng tôi cũng nghĩ mình ắt sẽ bị nghi ngờ. Nhưng thật tình cờ, và may mắn thay, chúng tôi có chứng cứ ngoại phạm.”

“Dễ xác minh chứ?”

“Không còn gì dễ hơn.”

“Chúng tôi sẽ xác minh. Anh không còn điều gì muốn tiết lộ sao?”

“Không! Nhưng có một ý này... một câu hỏi thì đúng hơn, các ông muốn trả lời hay không thì tùy. Kẻ nào đã khai ra chúng tôi vậy? Câu trả lời của các ông có thể sẽ giúp tôi sáng tỏ, bởi lẽ chỉ có duy nhất một người biết chúng tôi có cuộc họp định kỳ hằng tuần ở tiệm cà phê kia, từ bốn đến năm giờ chiều mà thôi. Chỉ một người duy nhất: Essarès Bey. Lão ta vẫn thường xuyên đến họp với chúng tôi. Essarès đã chết. Vậy thì ai đã tố cáo chúng tôi?”

“Già Siméon.”

Bournef giật nẩy mình vì kinh ngạc. “Cái gì? Siméon? Siméon Diodokis u?”

“Đúng! Là Siméon Diodokis, thư ký của Essarès Bey.”

“Ra là ông ta! Được! Lão khốn ấy sẽ phải trả giá! Nhưng không, điều đó là không thể!”

“Tại sao anh nói điều đó là không thể?”

“Sao à? Tại vì...”

Gã dừng lại và suy nghĩ một lúc khá lâu. Có lẽ gã đang tự thuyết phục mình rằng nói ra cũng không có gì bất lợi. Sau đó, gã nói: “Tại vì già Siméon cùng phe với chúng tôi.”

“Anh nói vậy là sao?” Tới lượt Patrice giật nẩy mình vì kinh ngạc.

“Tôi nói và tôi dám thề rằng Siméon Diodokis cùng phe với chúng tôi. Ông ta là người của chúng tôi. Chính ông ta đã báo cho chúng tôi biết về những hành động đáng ngờ của Essarès Bey. Chính ông ta đã gọi điện cho chúng tôi lúc chín giờ tối hôm đó để báo rằng Essarès đã nhóm cái lò của dãy nhà kính cũ và tín hiệu mưa tia lửa sẽ hoạt động. Chính ông ta đã mở cửa cho chúng tôi vào nhà, giả vờ chống cự rồi để yên cho chúng tôi trói và nhốt ông ta vào căn buồng của người gác cửa. Cũng chính ông ta đã trả tiền và cho mấy người làm trong nhà nghỉ việc.”

“Nhưng cách Đại tá Fakhi nhắc đến ông ấy đâu có giống cách người ta nói về một đồng minh?”

“Đó chỉ là màn kịch để đánh lừa Essarès thôi. Kịch từ đầu đến cuối!”

“Cứ cho là như vậy. Thế thì tại sao Siméon lại phản bội Essarès? Vì tiền à?”

“Không, vì thù hận. Ông ta căm thù Essarès Bey sâu sắc đến độ chúng tôi lắm lúc cũng phải rùng mình.”

“Vì sao lại thế?”

“Tôi không rõ. Siméon là người rất kín đáo. Ông ta không kể gì, nhưng mối hận thù đó đã có từ lâu lắm rồi.”

“Ông ấy có biết chỗ giấu vàng không?” Ngài Desmalions hỏi.

“Không! Ông ta còn chẳng buồn quan tâm xem chúng ở đâu. Ông ta không bao giờ biết những túi vàng được chuyển ra khỏi tầng hầm như thế nào, và tầng hầm vốn cũng chỉ là nơi cất giấu tạm thời mà thôi.”

“Tuy nhiên, chúng cũng đã từng được đưa ra khỏi nhà. Nếu đã như vậy, làm sao ta biết lần này chuyện tương tự lại không xảy ra cơ chứ?”

“Lần này, chúng tôi theo dõi ở bên ngoài, đây là việc Siméon không thể tự mình làm được.”

Bấy giờ, Patrice mới hỏi: “Anh không biết gì thêm về ông ấy à?”

“Không, tôi không biết gì hơn. À mà chờ đã, có việc này khá kỳ quặc. Buổi chiều hôm xảy ra chuyện, tôi nhận được một bức thư, trong đó Siméon có cung cấp cho tôi một vài thông tin. Trong phong thư còn có một bức thư khác nữa, chắc chắn là bị gửi nhầm, một nhầm lẫn kỳ lạ vì nó có vẻ hết sức quan trọng.”

“Vậy bức thư đó viết gì?” Patrice bồn chồn hỏi.

“Thư nói về một chiếc chìa khóa.”

“Anh có nhớ chi tiết không?”

“Bức thư ấy đây. Tôi đã giữ nó, định trả lại cho ông ta và nhắc ông ta cẩn thận. Đây, đây là chữ của ông ta...”

Patrice cầm lấy bức thư và nhìn thấy ngay tên mình đề trên đó. Bức thư quả nhiên được gửi cho anh, đúng như anh đã dự cảm. Đó là bức thư mà anh không nhận được.

“Patrice,

Tối nay, anh sẽ nhận được một chiếc chìa khóa. Chìa khóa này dùng để mở hai cánh cửa ở giữa con ngõ nhỏ dẫn xuống bờ sông Seine: Một, ở bên phải, là cánh cửa khu vườn của người phụ nữ anh yêu; cửa còn lại, ở bên trái, là cánh cửa khu vườn nơi tôi muốn hẹn gặp anh vào ngày Mười bốn tháng Tư, lúc chín giờ sáng. Người phụ nữ anh yêu cũng sẽ có mặt ở đó. Hai bạn sẽ biết tôi là ai và mục đích tôi muốn đạt được. Hai bạn sẽ được biết những chuyện trong quá khứ và những điều ấy sẽ giúp hai bạn gắn bó với nhau hơn.

Từ giờ cho đến ngày Mười bốn, cuộc chiến - bắt đầu vào tối hôm nay - sẽ rất khủng khiếp. Nếu tôi có mệnh hệ gì, chắc chắn người phụ nữ anh yêu sẽ gặp những nguy hiểm tột cùng. Hãy trông chừng cô ấy, bảo vệ cô ấy, đừng bao giờ rời xa cô ấy, dù chỉ một giây. Nhưng tôi không định để chuyện không hay xảy ra ới mình; và hai bạn sẽ có được niềm hạnh phúc mà tôi đã chuẩn bị cho cả hai từ rất, rất lâu.

Vô cùng thương mến.”

“Bức thư không ký tên người gửi.” Bournef nói. “Nhưng tôi nhắc lại, đây là chữ của Siméon. Còn về người phụ nữ, hiển nhiên đó là bà Essarès.”

“Nhưng cô ấy có thể gặp những nguy hiểm tột cùng nào mới được?” Patrice lo lắng kêu lên. “Essarès đã chết. Còn gì phải sợ nữa đâu?”

“Làm sao tôi biết được. Đó là một kẻ rất quỷ quyệt đấy.”

“Lão có thể giao trách nhiệm báo thù cho ai? Ai sẽ tiếp tục công việc của lão?”

“Tôi không biết, nhưng anh phải cẩn thận.”

Patrice không muốn nghe thêm gì nữa. Anh dúi vội bức thư cho ngài Desmalions và bỏ chạy thật nhanh ra khỏi phòng thẩm vấn.

“Đường Raynouard, hết tốc lực.” Anh vừa nhảy lên một chiếc taxi vừa nói với người tài xế.

Anh sốt ruột muốn nhanh chóng tới nơi. Những hiểm nguy mà già Siméon đã nói dường như bỗng nhiên treo lơ lửng ngay trên đầu Coralie. Rất có thể lợi dụng lúc Patrice vắng mặt, kẻ thù đã tấn công người anh yêu thương nhất. Và ai có thể bảo vệ cô ấy nếu già Siméon có mệnh hệ gì? Già Siméon đã nói trong thư như vậy. Và giả định đó đã thành sự thật được một phần, vì giờ đây, già Siméon đã mất trí.

“Nào, nào!” Patrice lẩm bẩm. “Mình ngốc quá rồi... Mình cứ tưởng tượng ra những chuyện không hay... Chẳng có lý do gì mà...”

Thế nhưng, nỗi khổ não trong lòng anh cứ lớn dần lên theo từng phút. Anh tự nhủ với mình rằng già Siméon đã cố ý nhắn với anh chiếc chìa khóa mở được cửa vườn nhà Coralie, để anh có thể trông chừng Coralie tốt hơn, bằng cách vào được trong nhà khi cần thiết.

Từ xa, anh nhìn thấy bóng già Siméon thấp thoáng trước mặt. Đêm đã buông, và ông già đang quay trở về nhà. Patrice chạy ngang qua ông ta ngay bên ngoài chòi gác cổng. Anh nghe thấy tiếng ông ta ngân nga hát một mình. Anh tới hỏi người lính gác: “Có gì mới không?”

“Không, thưa Đại úy.”

“Mẹ Coralie đâu?”

“Cô ấy đi dạo trong vườn và vừa trở lên phòng cách đây nửa giờ.”

“Còn Ya-Bon?”

“Ya-Bon đi theo Mẹ Coralie. Chắc giờ cậu ta đang canh ở trước cửa phòng cô ấy.”

Patrice chạy lên cầu thang, thấy đã bình tĩnh hơn một chút. Nhưng, khi lên đến lầu một, anh sững người khi thấy đèn không thắp. Anh bật điện lên. Anh thấy Ya-Bon đang ở cuối hành lang, quỳ trước cửa phòng Coralie, đầu gục vào tường. Cửa phòng mở toang.

“Cậu đang làm gì ở đây thế?” Anh kêu to, hốt hoảng chạy lại chỗ Ya-Bon.

Ya-Bon không trả lời. Patrice thấy có máu dính trên vai áo người hầu cận của mình. Ngay lúc đó, Ya-Bon ngã xuống sàn.

“Chết tiệt! Cậu ta bị thương... có khi đã chết mất rồi!”

Anh nhảy qua người Ya-Bon, chạy ào vào phòng, vội vàng bật điện lên luôn.

Coralie đang nằm sõng soài trên ghế. Quấn xung quanh cổ cô là sợi dây lụa đỏ kinh khủng đó. Nhưng Patrice không thấy lòng mình ngập trong nỗi tuyệt vọng khủng khiếp mà ta vẫn gặp những khi đối diện với nỗi bất hạnh không thể bù đắp. Anh thấy sắc diện của Coralie không có vẻ nhợt nhạt ghê sợ của người đã chết. Và quả thực, thiếu phụ vẫn còn thở.

“Cô ấy chưa chết... Cô ấy chưa chết.” Patrice tự nhủ. “Và cô ấy sẽ không chết, mình tin chắc như vậy... Cả Ya-Bon nữa, cậu ấy cũng sẽ không chết... Âm mưu của chúng lần này đã thất bại rồi.”

Anh nới lỏng sợi dây ở cổ Coralie.

Chỉ vài giây sau, cô thở hắt ra và bắt đầu hồi tỉnh. Nhìn thấy anh, cô khẽ mỉm cười.

Và, gần như ngay lập tức, khi đã nhớ lại chuyện vừa xảy ra, cô vòng đôi tay vẫn còn đang run rẩy ôm lấy anh.

“Ôi, Patrice!” Cô run rẩy nói. “Em sợ quá... Em lo cho anh quá!”

“Lo điều gì mới được, Coralie? Là tên khốn nào đã làm?”

“Em không nhìn thấy hắn... Hắn đã tắt điện, chộp luôn lấy cổ em và nói với em: “Cô trước... rồi tối nay sẽ đến lượt tình nhân của cô!” Ôi, Patrice, em lo cho anh quá, Patrice!...”

« Lùi
Tiến »