Arsène Lupin Tái Xuất

Lượt đọc: 142 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 11
trên bờ vực thẳm

Patrice lập tức ra quyết định. Anh đặt Coralie lên giường và dặn cô không được cử động cũng như không nói gì nữa. Rồi anh quay sang kiểm tra vết thương cho Ya-Bon. Vết thương không nặng lắm. Xong xuôi, anh giận dữ nhấn hết mọi cái chuông nối với các điểm canh gác mà anh cắt đặt ở khắp nơi trong nhà.

Tất cả mọi người vội vàng chạy đến.

“Các cậu đúng là đồ vô dụng!” Anh gầm lên. “Có kẻ đã đột nhập vào đây. Mẹ Coralie và Ya-Bon suýt nữa thì bị giết đấy!”

Các thương binh sửng sốt nhao lên.

“Yên lặng!” Patrice ra lệnh. “Các cậu đáng bị cho một trận nên thân lắm! Tôi sẽ tha cho các cậu với một điều kiện:

Suốt tối và đêm nay, các cậu phải nói về Mẹ Coralie như thể cô ấy đã chết rồi.”

Một người phản đối: “Nhưng chúng tôi phải nói với ai cơ, thưa Đại úy? Ở đây làm gì có ai.”

“Có, có chứ, tên ngốc này! Vì Mẹ Coralie và Ya-Bon đã bị tấn công. Trừ phi kẻ đó là một trong số các cậu!... Không phải à?... Vậy thì thế này nhé... Việc này không phải là nói với một ai khác, mà là nói giữa các cậu với nhau... và thậm chí là nghĩ trong đầu, không cần phải nói. Có người đang nghe ngóng các cậu, theo dõi các cậu, có người nghe những gì các cậu nói và đoán những gì các cậu không nói ra. Như vậy, cho đến ngày mai, Mẹ Coralie sẽ không ra khỏi phòng. Các cậu lần lượt thay phiên nhau canh chừng cô ấy. Những người chưa đến phiên sẽ đi ngủ ngay sau khi dùng xong bữa tối. Không ai được lang thang trong nhà cả. Các cậu hiểu chưa? Phải tuyệt đối im lặng.”

“Còn ông lão Siméon thì sao, thưa Đại úy?”

“Hãy nhốt ông ấy trong phòng. Ông ấy rất nguy hiểm vì giờ ông ấy đã phát điên. Chúng có thể lợi dụng tình trạng điên loạn của ông ấy để ông ấy mở cổng cho chúng. Cần phải nhốt ông ấy lại.”

Kế hoạch của Patrice rất đơn giản. Kẻ thù tưởng Coralie sắp chết nên đã tiết lộ cho cô biết ý định sẽ giết anh tối nay. Nhất định Patrice phải làm cho kẻ thù chắc mẩm rằng hắn có thể tự do hành động, rằng không ai nghi ngờ và cảnh giác hắn. Hắn sẽ ra tay và sẽ sập bẫy.

Trong lúc chờ đợi kẻ thù tham chiến - cuộc chiến mà anh nóng lòng chờ đợi suốt bấy lâu, Patrice chăm sóc vết thương cho Ya-Bon, hỏi han Ya-Bon và Coralie về chuyện đã xảy ra. Câu trả lời của hai người rất khớp nhau. Coralie kể rằng mình thấy hơi mệt nên nằm trên ghế đọc sách. Ya-Bon ngồi ở ngoài hành lang, ngay trước cánh cửa để mở. Không ai nghe thấy tiếng động nào khả nghi. Rồi đột nhiên, Ya-Bon nhìn thấy một bóng đen ở giữa mình và đèn ngoài hành lang. Bóng đèn đó đột ngột tắt ngóm, cùng lúc đó, đèn trong phòng Coralie cũng tắt. Ya-Bon vừa mới thẳng lưng dậy đã lãnh ngay một cú chặt mạnh vào gáy và bất tỉnh nhân sự. Coralie cố tìm cách chạy ra cửa ở khuê phòng nhưng cánh cửa đó lại không mở được, cô toan hét lên nhưng ngay lập tức bị giữ lại và bị quật ngã xuống ghế. Tất cả chỉ diễn ra trong vài giây đồng hồ.

Patrice chỉ thu được một manh mối duy nhất: Kẻ đó không lên đây bằng lối cầu thang mà lại đi qua chái phụ dành cho người hầu trong nhà. Chái này có một cầu thang nhỏ hơn, thông với nhà bếp qua gian cất thức ăn. Ở đây có một cánh cửa mở ra đường Raynouard.

Patrice kiểm tra thì thấy cánh cửa này đã bị khóa. Nhưng rất có thể, ai đó cũng có chìa.

Sau khi dùng xong bữa tối, Patrice tới gặp Coralie một lúc, rồi sau đó, lúc chín giờ tối, anh trở về phòng mình, hơi xa phòng của Coralie một chút nhưng ở cùng một dãy. Căn phòng đó trước kia được Essarès Bey dùng làm phòng hút thuốc.

Cho rằng cuộc tấn công mà mình đang mong chờ phần thắng sẽ không xảy ra trước nửa đêm, Patrice ung dung ngồi vào chiếc bàn viết kê sát tường và lấy sổ nhật ký ra, ghi lại tỉ mỉ những sự kiện xảy ra trong ngày.

Anh ngồi viết được khoảng ba mươi hay bốn mươi phút gì đó, và khi đang định gấp cuốn sổ lại, anh bỗng nghe thấy có tiếng lạo xạo mơ hồ mà nếu không tập trung cao độ, hẳn anh đã không thể nhận ra. Tiếng động phát ra từ bên ngoài cửa sổ. Và anh chợt nhớ lại ngày anh và Coralie suýt nữa bị bắn. Nhưng lần này, cửa sổ không hề mở, thậm chí còn chẳng hề để hé.

Thấy vậy, anh lại tiếp tục viết, không quay đầu lại mà cũng không có bất kỳ cử chỉ nào cho thấy mình đang tập trung cảnh giác; anh cứ thế vô thức viết vào sổ những lo lắng thực sự của mình lúc này:

“Hắn đang ở đây. Hắn đang quan sát mình. Hắn định làm gì? Mình không nghĩ hắn sẽ đập vỡ cửa kính và tặng cho mình một viên đạn. Khi trước, hắn đã dùng cách đó và nhận ra làm như vậy không chắc chắn và có thể thất bại. Không, mình đồ rằng kế hoạch của hắn lần này phải khác, được suy tính kĩ lưỡng và khôn ngoan hơn. Mình đồ rằng hắn sẽ chờ cho đến lúc mình lên giường đi ngủ, và khi đó, hắn chờ mình ngủ say rồi mới đột nhập vào đây bằng cách nào đó mà mình chưa đoán được.

Từ giờ cho đến lúc đó, mình thấy rất khoái chí khi biết hắn đang Lom lom nhìn mình. Hắn căm hận mình; và nỗi căm hận của hắn đang lao tới nỗi căm hận của mình, như một lưỡi kiếm đang trên đà bổ xuống một lưỡi kiếm khác trong cuộc đụng độ nảy lửa. Hắn nhìn mình như một con ác thú ẩn mình trong bóng tối, quan sát con mồi và lựa chọn vị trí để cắm vào những chiếc nanh chết chóc. Nhưng không, mình biết chắc chắn hắn mới chính là con mồi, là kẻ phải chịu thảm bại và bị tiêu diệt. Lúc này, hắn đang chuẩn bị dao hay sợi dây lụa đỏ. Nhưng chính đôi bàn tay của mình sẽ đặt dấu chấm hết cho cuộc chiến này. Đôi bàn tay đầy sức mạnh và uy lực này đã sẵn sàng tận hưởng niềm vui chiến thắng. Đôi bàn tay của mình sẽ chiến thắng.”

Patrice rời khỏi bàn, châm một điếu thuốc và lặng lẽ hút, y như mọi đêm. Sau đó, anh cởi quần áo ngoài, cẩn thận gấp lại và vắt chúng lên lưng ghế, tháo đồng hồ, leo lên giường và tắt điện, đi ngủ.

“Rồi sau cùng.” Anh tự nhủ. “... Mình sẽ biết sự thật. Mình sẽ biết kẻ đó là ai. Là bạn của Essarès chăng? Kẻ tiếp tục công việc của lão? Nhưng tại sao hắn lại oán ghét Coralie đến thế? Phải chăng hắn cũng yêu cô ấy, vì hắn đang cố tìm cách để khử mình? Rồi mình sẽ rõ... rồi mình sẽ rõ...”

Một giờ trôi qua, và lại một giờ nữa, nhưng chẳng thấy gì xảy ra bên ngoài cửa sổ. Có tiếng cọt kẹt khe khẽ vang lên ở ngay trong phòng. Nhưng có lẽ đó chỉ là những tiếng kẽo kẹt phát ra từ đồ nội thất mà ta vẫn thường nghe thấy trong màn đêm tĩnh lặng.

Patrice bắt đầu mất dần hy vọng, cái hy vọng mà ban nãy còn reo vang sôi nổi trong lòng anh. Anh nhận thấy trò giả vờ như Mẹ Coralie đã chết của anh chỉ là một trò hề quá đỗi tầm thường, một kẻ thù ghê gớm như thế không dễ gì rơi vào cái bẫy đơn giản như vậy. Thấy thất vọng, anh suýt chìm vào giấc ngủ, nhưng đúng lúc đó, anh lại nghe thấy tiếng cọt kẹt vang lên ở đúng vị trí ban nãy.

Sự thôi thúc phải hành động khiến anh nhảy khỏi giường. Anh bật đèn lên. Tất cả mọi thứ vẫn nguyên như cũ. Không có dấu hiệu gì cho thấy sự hiện diện của một kẻ lạ mặt.

“Thôi!” Patrice tự nhủ. “Mình chẳng giỏi giang gì. Kẻ thù hẳn đã đánh hơi được kế hoạch của mình và đoán ra cái bẫy mà mình đã giăng. Đi ngủ vậy. Tối nay sẽ chẳng xảy ra chuyện gì đâu.”

Và thực tế, chẳng thấy có báo động nào.

Sáng hôm sau, trong lúc kiểm tra cửa sổ, Patrice phát hiện ra một gờ đá chạy dọc theo chiều dài mặt trước khu vườn, phía trên tầng trệt. Gờ đá này khá rộng, đủ để một người có thể bước đi trên đó bằng cách bám vào ban công và máng nước. Anh kiểm tra tất cả các phòng có thể ra được gờ đá này. Một trong số đó có phòng của già Siméon.

“Ông ấy không ra khỏi phòng đấy chứ?” Anh hỏi hai người lính đang canh gác ở đó.

“Không, thưa Đại úy, chúng tôi không mở cửa cho ông ấy.”

Patrice bước vào phòng, không để ý gì đến ông già Siméon đang ngậm cái tẩu đã tắt, anh lục lọi khắp căn phòng với suy nghĩ đây có thể là nơi kẻ thù ẩn nấp.

Anh không tìm thấy ai. Nhưng anh phát hiện trong một cái tủ ở góc phòng có vài món đồ mà anh không thấy trong những chuyến đi lục soát cùng ngài Desmalions: một cái thang dây, một cuộn ống dẫn bằng chì, rõ ràng là ống dẫn ga và một cái đèn hàn nhỏ.

“Mấy thứ này thật mờ ám.” Anh nghĩ. “Chúng lọt vào đây bằng cách nào được nhỉ? Già Siméon đã vô thức nhặt chúng về đây chăng? Hay mình phải giả định Siméon chỉ là công cụ của kẻ thù? Trước khi mất trí, ông ấy quen biết kẻ đó và giờ đây, có lẽ ông ấy đã bị hắn kiểm soát.”

Siméon đang ngồi trước cửa sổ, lưng quay về phía Patrice. Patrice tiến lại gần và giật mình. Ông già điên đang cầm trên tay một chuỗi vòng tang kết từ những hạt ngọc trai đen và trắng. Trên chuỗi hạt có ghi ngày tháng: ngày Mười bốn tháng Tư năm 1915. Đó là chuỗi vòng tang thứ hai mươi mà Siméon chuẩn bị đem đặt lên mộ những người bạn đã mất.

“Ông ấy sẽ đặt ở đó.” Patrice nói to. “Bản năng của một người bạn và một người báo thù đã dẫn bước cho ông ấy suốt cả cuộc đời, và vẫn cứ tiếp tục mặc cho ông ấy giờ đã hóa điên. Ông ấy sẽ đặt nó lên mộ. Có phải thế không già Siméon? Ngày mai, ông sẽ mang nó đặt lên mộ, phải không? Vì ngày mai là ngày Mười bốn tháng Tư, ngày kỷ niệm thiêng liêng…”

Anh nhoài người về phía con người khó hiểu đã nắm giữ chìa khóa của mọi mưu kế và phản kế, của những phản bội và lòng nhân từ đã tạo thành một thảm kịch khó giải quyết. Siméon tưởng anh muốn lấy chuỗi hạt trên tay mình nên giật mình, áp chặt nó vào ngực.

“Đừng sợ!” Patrice nói. “Ông cứ giữ lấy. Ngày mai phải không, Siméon? Ngày mai, Coralie và tôi, chúng tôi sẽ đến đó như ông đã hẹn. Và ngày mai, biết đâu ký ức về quá khứ kinh hoàng lại giúp ông tỉnh táo trở lại.”

Ngày hôm đó đối với Patrice thật dài. Anh vẫn hằng mong mỏi một tia sáng lóe lên trong bóng tối mịt mùng. Và không phải ánh sáng ấy sẽ được nhen lên vào lần kỷ niệm thứ hai mươi ngày Mười bốn tháng Tư định mệnh năm nào hay sao?

Chiều muộn ngày hôm đó, ngài Desmalions ghé qua ngôi nhà trên đường Raynouard.

“Nhìn xem tôi nhận được gì này.” Ngài nói với Patrice. “Lạ lùng lắm. Một lá thư nặc danh với nét chữ cố tình được viết méo đi. Nghe nhé!

Thưa ngài, xin hãy lưu ý. Vàng sẽ được chuyển đi. Hãy chú ý. Tôi mai, một nghìn tám túi vàng sẽ được chuyển ra nước ngoài.

Ký tên: Một người bạn của nước Pháp.”

“Ngày mai là ngày Mười bốn tháng Tư.” Patrice buột miệng nói, lập tức nghĩ đến mối liên quan giữa hai sự việc.

“Đúng vậy! Sao bỗng dưng anh lại nói thế?”

“Ồ, không có gì. Chỉ là bỗng dưng tôi nghĩ ra ý này thôi...”

Suýt nữa thì anh đã kể hết cho ngài Desmalions tất tần tật những việc xung quanh ngày Mười bốn tháng Tư, và cả những chuyện liên quan đến ông già Siméon kỳ lạ. Nhưng cuối cùng anh không nói. Có lẽ là vì một số lý do khó hiểu nào đó, có lẽ là vì anh muốn tự mình giải quyết vụ này, cũng có lẽ vì chút xấu hổ e dè đã ngăn anh kể với ngài tất cả những bí mật của quá khứ. Do vậy, anh đánh trống lảng bằng cách quay sang hỏi ngài việc khác: “Ngài nghĩ thế nào về lá thư này?”

“Thật lòng, tôi cũng không biết nói sao. Đây có đúng là một lời cảnh báo hay không? Hay chỉ là một âm mưu nhằm đánh lạc hướng chúng ta? Tôi sẽ nói chuyện này với Bournef.”

“Vẫn không có gì mới ở phía hắn à?”

“Không, và tôi cũng không trông mong gì. Chứng cứ ngoại phạm mà hắn đưa ra là có thực. Hắn và ba tên đồng bọn chỉ là những kẻ không mấy quan trọng trong mắt xích. Vai trò của chúng giờ đã kết thúc.”

Sau cuộc trò chuyện này, Patrice chỉ nhớ được mỗi một điều: sự trùng hợp về ngày tháng. Vậy là hai hướng điều tra của ngài Desmalions và anh đột nhiên gặp nhau ở đúng ngày mà số phận đã chọn từ bấy lâu nay. Quá khứ và hiện tại chuẩn bị gặp nhau. Tấn thảm kịch đã đến lúc cáo chung. Ngày Mười bốn tháng Tư là ngày số vàng sẽ biến mất vĩnh viễn và cũng là ngày giọng nói bí ẩn triệu hồi Patrice và Coralie đến đúng nơi mà hai mươi năm trước cha mẹ họ đã từng hò hẹn.

Và hôm sau là ngày Mười bốn tháng Tư.

Chín giờ sáng, Patrice tìm đến phòng ông già Siméon và hỏi người đứng gác.

“Ông ta ra ngoài rồi, thưa Đại úy. Anh đã hủy lệnh giữ ông ta trong phòng rồi còn gì.”

Patrice đi vào phòng và lục tìm chuỗi hạt. Nó không còn ở đó nữa. Nhưng cả ba món đồ khác là cái thang dây, cuộn ống dẫn bằng chì và cái đèn hàn cũng biến mất. Anh lại hỏi người đứng gác: “Siméon có mang gì theo không?”

“Có, thưa Đại úy, một chuỗi hạt dùng để viếng người đã mất.”

“Không có gì khác nữa à?”

“Vâng, thưa Đại úy.”

Cửa sổ phòng mở toang. Patrice liền kết luận: Ba vật kia đã được đưa ra theo lối này, như vậy, giả thuyết ông già Siméon là một đồng phạm vô thức mà anh đưa ra càng được củng cố.

Khoảng trước mười giờ, Coralie gặp anh trong vườn. Anh kể lại cho cô những việc mới nhất vừa xảy ra. Cô tái mặt đi, lộ vẻ lo lắng.

Họ đi vòng qua bãi cỏ, và kín đáo đi tới chỗ có những lùm cây che khuất cánh cửa mở ra con ngõ nhỏ. Patrice mở cửa. Lúc tra chìa khóa vào cánh cửa thứ hai, anh chợt thấy hơi do dự. Anh có chút hối hận khi không báo cho ngài Desmalions biết, và hối hận khi anh và Coralie vẫn tự mình đi viếng mộ khi những dấu hiệu báo trước mối nguy hiểm đã hiện rõ. Nhưng anh lập tức gạt bỏ những ý nghĩ đó. Anh đã cẩn thận mang theo hai khẩu súng. Anh việc gì phải sợ nữa chứ?

“Chúng ta vào nhé, Coralie?”

“Vâng!” Cô đáp.

“Hình như em đang lưỡng lự, lo lắng...”

“Đúng vậy, tim em như thắt lại.” Cô thì thầm.

“Sao vậy? Em sợ ư?”

“Không… nhưng... Đúng vậy! Em không sợ cho ngày hôm nay mà thấy sợ cho ngày trước. Em nghĩ đến người mẹ đáng thương của mình. Một buổi sáng tháng Tư nọ, bà cũng đã bước qua cánh cửa này, giống như em. Lòng bà phơi phới niềm hạnh phúc, bà đang đến với người mình yêu như đã hẹn... Và rồi em chỉ muốn kêu lên và giữ bà lại: “Đừng đi nữa... Tử thần đang chờ mẹ đấy... Đừng tiến lên thêm nữa...” Và chỉ có mình em nghe thấy những lời sợ hãi ấy, chúng cứ vang lên ong ong trong tai em; chính em là người nghe thấy và em không dám tiến lên. Em sợ.”

“Vậy ta quay lại thôi, Coralie.”

Cô nắm chặt tay anh, nói rất dứt khoát: “Không, chúng ta phải vào. Em muốn cầu nguyện. Cầu nguyện sẽ làm em thấy an lòng hơn.”

Cô mạnh bạo bước lên lối nhỏ mọc đầy cỏ dại dẫn lên trên dốc mà mẹ mình từng đi. Họ băng ngang qua căn nhà nhỏ phía bên trái và đến nhà nguyện rợp lá nơi cha mẹ mình yên nghỉ. Và họ lập tức nhìn thấy chuỗi hạt thứ hai mươi đã được đặt trên đó.

“Siméon đã đến rồi.” Patrice nói. “Bản năng, mạnh hơn tất cả, đã buộc ông ấy phải đến. Ông ấy chắc vẫn còn ở đâu đó quanh đây.”

Trong khi Coralie quỳ xuống bên cạnh bia mộ và cầu nguyện, anh đi tìm khắp nơi trong nhà nguyện và cả một nửa khu vườn, nhưng chẳng thấy Siméon đâu. Chỉ còn mỗi căn nhà là anh chưa dám vào, và đó rõ ràng là một hành động đáng sợ mà cả hai đều trì hoãn, nếu không phải vì sợ hãi thì cũng vì nỗi e sợ đầy kính cẩn xuất hiện khi người ta bước vào nơi cái chết và tội ác từng hiện hữu.

Nhưng lại là Coralie ra hiệu cho anh.

“Vào thôi!” Cô nói.

Patrice không biết làm sao để vào được bên trong căn nhà. Họ thấy mọi cửa nẻo đều bị đóng kín. Nhưng khi tiến lại gần, họ thấy cửa hậu mở ra sân đang mở rộng, và họ nghĩ ngay rằng Siméon đang đợi mình bên trong.

Họ đặt bước qua ngưỡng cửa căn nhà đúng mười giờ sáng. Ngôi nhà có một hành lang nhỏ, một đầu dẫn vào bếp, đầu kia dẫn tới một phòng ngủ. Phòng chính chắc hẳn nằm ở phía đối diện. Cánh cửa căn phòng đó he hé mở.

Coralie sợ hãi lắp bắp: “Đây chính là nơi chuyện đó đã xảy ra... nhiều năm về trước...”

“Phải!” Patrice nói. “Chúng ta sẽ thấy Siméon ở đó. Nhưng, nếu em không đủ can đảm, chúng ta nên quay lại, Coralie ạ.”

Một ý muốn mù quáng mãnh liệt thôi thúc người phụ nữ trẻ. Không gì có thể ngăn cản được cô. Cô mạnh dạn bước vào. Mặc dù rộng, căn phòng vẫn có vẻ ấm cúng nhờ cách bố trí đồ đạc. Ghế xô pha, ghế bành, thảm và các món trang trí treo tường, tất cả kết hợp lại làm cho căn phòng nom rất tiện nghi, thoải mái; và diện mạo của căn phòng có lẽ vẫn y nguyên, không hề thay đổi từ sau cái chết bi thảm của hai người khi xưa từng sống tại đây. Căn phòng trông giống một xưởng vẽ vì có ô cửa kính lắp ngay giữa trần nhà cao cao, ngay chỗ vọng lâu. Ánh sáng chiếu vào gian phòng qua ô kính này. Trong phòng có hai cửa sổ, nhưng đều kéo rèm che kín mít.

“Siméon không có ở đây.” Patrice nói.

Coralie không trả lời. Cô đang mải ngắm nhìn các đồ vật xung quanh với một cảm xúc khó tả, lộ rõ qua từng đường nét trên gương mặt. Có những quyển sách xuất bản từ thế kỷ trước. Một vài quyển có ký chữ “Coralie” bằng bút chì trên bìa bọc màu vàng hoặc xanh lam. Mấy món khâu vá còn đang dang dở, một khung thêu, một tấm thảm vẫn chưa làm xong, kim còn cài trên thảm cùng một sợi len. Ở đây cũng có những quyển sách có ký tên Patrice, một hộp đựng xì gà, một tấm lót tay, ống đựng bút và một lọ mực. Trong nhà còn có hai tấm ảnh chụp hai em nhỏ được lồng khung, là ảnh của Patrice và Coralie hồi bé. Vậy là, cuộc sống từ thời xa xưa kia lại tiếp diễn, không chỉ là cuộc sống của hai người yêu nhau say đắm, mãnh liệt, mà còn là cuộc sống của hai mảnh đời đã tìm thấy ở nhau sự an nhiên, đồng cảm và sự gắn bó lâu dài.

“Ôi, mẹ, mẹ kính yêu của con!” Coralie nghẹn ngào.

Cô lại càng xúc động mỗi khi nhìn thấy một kỷ vật mới. Cô run rẩy, gục đầu vào vai Patrice.

“Ta đi thôi.” Anh nói.

“Vâng, vâng, chúng ta nên đi thôi. Rồi chúng ta sẽ quay lại... Chúng ta sẽ quay lại bên họ... Chúng ta sẽ nối lại mối tình bị chặt đứt đột ngột vì cái chết bi thảm của họ. Còn hôm nay, chúng ta về thôi. Em thấy không còn sức nữa.”

Nhưng vừa đi được vài bước, họ hoảng hốt đứng khựng lại. Cánh cửa đã bị đóng chặt.

Họ lo lắng đưa mắt nhìn nhau.

“Chúng ta không hề đóng cửa, đúng không?” Patrice hỏi. “Vâng, chúng ta không hề đóng.” Cô đáp.

Họ lại gần để mở cửa, nhưng chợt phát hiện cánh cửa không có cả tay nắm lẫn ổ khóa.

Đó là một cánh cửa bằng gỗ, rất to, trông rất nặng và chắc. Có vẻ như cánh cửa được xẻ ra từ giữa lòng một thân cây sồi, nguyên khối, không sơn, không đánh véc ni. Đôi chỗ trên cánh cửa có những vết xước, dường như có ai đó đã từng dùng một dụng cụ đập vào. Và rồi... và rồi, ở phía bên phải, có mấy chữ viết bằng bút chì:

Patrice và Coralie, ngày Mười bốn tháng Tư năm 1895.

Chúa sẽ báo thù cho chúng tôi

Dưới hàng chữ đó là một chữ thập, và dưới chữ thập lại có một hàng chữ nữa, nhưng là nét chữ khác và mới hơn:

Mười bốn tháng Tư năm 1915.

“Năm 1915! Năm 1915!” Patrice kêu lên. “Khủng khiếp quá!... Chính là ngày hôm nay! Kẻ nào đã viết những dòng chữ này? Nó chỉ vừa được viết lên thôi! Kinh khủng thật! Xem nào... xem nào... Chúng ta không thể...”

Anh lao đến một cửa sổ, giật tấm màn che ra và kéo cửa chớp lên. Anh kêu lên thất vọng. Cửa sổ đã bị xây kín lại bằng gạch và đá sỏi, hệt như một bức tường.

Anh chạy sang cửa sổ còn lại. Cửa sổ bên này cũng bị bít kín.

Vẫn còn hai cửa ra vào, một dẫn vào phòng ngủ ở bên phải và một thông với căn phòng kế bên nhà bếp. Patrice vội vàng mở chúng ra, nhưng vô ích. Cả hai cửa ra vào cũng đều bị xây kín.

Trong cơn tuyệt vọng, anh chạy khắp phòng tìm kiếm... Cuối cùng, anh húc thật mạnh vào cánh cửa đầu tiên trong ba cửa ra vào, cố gắng phá hỏng cửa. Cánh cửa vẫn trơ trơ. Nó vẫn sừng sững, im lìm và không suy suyển, hệt như một tảng đá.

Rồi, một lần nữa, họ lại sợ hãi đưa mắt nhìn nhau; và một ý nghĩ khủng khiếp cùng xâm chiếm cả hai người. Chuyện đã xảy ra ngày trước giờ đang lặp lại! Tấn thảm kịch trước kia lại diễn ra lần thứ hai. Trước là người mẹ và người cha, và giờ đây, đến lượt hai người con. Cũng giống cặp tình nhân ngày trước, đôi uyên ương của hiện tại cũng bị cầm tù. Kẻ thù đã siết lấy hai người họ trong móng vuốt của hắn, và họ sẽ biết cha mẹ mình đã chết như thế nào khi chính bản thân mình cũng chết theo cách đó....

Ngày Mười bốn tháng Tư năm 1895... Ngày Mười bốn tháng Tư năm 1915...

« Lùi
Tiến »