Mọi chuyện quả nhiên diễn ra đúng như những gì ngài Desmalions đã nói từ trước. Báo chí không lên tiếng. Công chúng chẳng xôn xao gì. Người ta chỉ đọc lướt tin bài về ba cái chết với thái độ dửng dưng. Đám tang của Essarès Bey - ông chủ nhà băng giàu có - diễn ra không được mấy ai chú ý.
Nhưng, một ngày sau tang lễ, sau một số thỉnh cầu của Đại úy Belval lên ban chỉ huy quân sự, cùng sự yểm trợ của phía cảnh sát, một chỉ thị mới được ban bố cho ngôi nhà ở đường Raynouard. Kể từ hôm đó, ngôi nhà được công nhận là trung tâm điều dưỡng số 2, trực thuộc bệnh viện quân y ở đại lộ Champs-Élysées; bà Essarès được chỉ định làm y tá trưởng; và ngôi nhà trở thành nơi ăn ở dành riêng cho Đại úy Belval cùng bảy thương binh.
Như vậy, Coralie là người phụ nữ duy nhất còn ở lại ngôi nhà. Không hầu phòng, cũng không đầu bếp. Bảy thương binh lo hết việc nhà. Một người làm gác cổng, một người làm đầu bếp, người khác thì làm quản gia. Ya-Bon được cử làm công việc của người hầu phòng, có nhiệm vụ phục vụ Mẹ Coralie. Ban đêm, anh ta ngủ ngoài hành lang trước cửa phòng cô. Còn ban ngày, anh ta canh giữ ở ngoài cửa sổ.
“Không một ai được phép lại gần cánh cửa này, và cả cửa sổ nữa!” Patrice nói với Ya-Bon. “Không được để ai vào hết! Chỉ cần một con muỗi lọt vào được trong phòng thôi, cậu cũng sẽ bị phạt.”
Dẫu vậy, Patrice vẫn không yên tâm. Kẻ thù đã ném cho anh quá nhiều bằng chứng về sự liều lĩnh, táo tợn của chúng làm anh tin rằng những biện pháp đó vẫn chưa đủ để bảo vệ cô một cách chặt chẽ. Nguy hiểm luôn rình rập ở những nơi ta ít ngờ tới nhất; và thật khó lòng chống đỡ khi không biết hiểm họa đến từ đâu. Bây giờ, Essarès Bey đã chết, ai sẽ tiếp tục công việc của ông ta? Ai sẽ tiếp tục kế hoạch trả thù Coralie, kế hoạch mà ông ta đã nhắc tới trong bức thư cuối cùng ông ta viết cho cô?
Ngài Desmalions lập tức tiến hành điều tra, nhưng ngài lại có vẻ dửng dưng với khía cạnh gay cấn của vụ việc. Không tìm được thi thể của người đàn ông mà Patrice nghe thấy tiếng kêu hấp hối, không tìm được bất kỳ dấu vết nào của tay sát thủ bí hiểm đã bắn Patrice và Coralie lúc chiều tối hôm cũng không xác định được cái thang mà hắn đã dùng lấy từ đâu, ngài không bận tâm đến những câu hỏi ấy nữa mà tập trung toàn bộ sức lực vào việc tìm kiếm một nghìn tám túi vàng. Đó là điều quan trọng duy nhất đối với ngài.
“Chúng ta hoàn toàn có lý do để tin rằng chúng ở đây...” Ngài nói. “... Giữa bốn cạnh của tứ giác được tạo thành bởi khu vườn và ngôi nhà. Tất nhiên, một túi vàng nặng năm mươi cân không cồng kềnh như một túi than cùng trọng lượng. Dẫu vậy, một nghìn tám túi cũng phải chiếm thể tích tầm bảy, tám mét khối là ít; và một khối đồ sộ như vậy không dễ gì giấu giếm.”
Sau hai ngày, ngài đã chắc chắn số vàng không giấu ở trong nhà và cũng không chôn dưới ngôi nhà. Vào những buổi tối khi xe của Essarès chở vàng từ kho ở Nhà băng Pháp - Phương Đông đến đường Raynouard, Essarès Bey, tay lái xe và một người tên Grégoire thường thả một sợi dây thép rất lớn qua lưới sắt ở cửa thông gió của tầng hầm mà bọn tòng phạm đã nói đến. Cảnh sát đã tìm được sợi dây thép đó, ngoài ra còn tìm được cả những cái móc sắt để vận chuyển vàng. Số là các túi vàng được treo vào móc sắt, rồi những móc sắt đó được lồng vào sợi dây để trượt những túi vàng xuống một tầng hầm nằm ngay bên dưới thư phòng.
Không cần phải nói, ngài Desmalions và quân của mình đã dốc hết sự khéo léo, cẩn thận và kiên nhẫn để tìm kiếm khắp các xó xỉnh trong tầng hầm đó. Nhưng tất cả đều chỉ là công dã tràng. Họ chẳng tìm được bí mật nào hết, trừ một cầu thang từ thư phòng dẫn xuống hầm, đầu cầu thang có cửa sập được một tấm thảm phủ lên, che kín.
Ngoài cửa thông gió ở đường Raynouard, còn có một cửa thông gió khác nhìn ra vườn, cũng lắp lưới sắt, ngang với khoảng sân vườn thứ nhất. Phía trong hai cửa này lại có cửa chớp bằng sắt rất nặng nhờ đó, hàng nghìn túi vàng được an toàn nằm chất đống trong tầng hầm cho đến khi được chuyển đi.
“Nhưng chúng được chuyển đi bằng cách nào?” Ngài Desmalions thắc mắc. “Đúng là một bí ẩn! Và tại sao nơi trung chuyển lại là tầng hầm ở đường Raynouard? Lại thêm một bí ẩn nữa! Cả Fakhi, Bournef và những kẻ khác đều nói rõ lần đó vàng vẫn chưa được chuyển đi, thế thì vàng phải ở đây và tìm là sẽ thấy. Ta đã tìm ở trong nhà. Còn ngoài vườn nữa. Hãy tìm ở ngoài đó đi!”
Đó là một khu vườn cổ tuyệt đẹp, xưa kia từng là một phần của khu đất rộng lớn nơi người ta thường đến lấy nước ở con suối Passy hồi thế kỷ XVIII. Khu vườn rộng hai trăm mét, chạy từ đường Raynouard đến tận bờ kè sông với bốn khoảng sân vườn xếp bậc thang, trải dài ra một bãi cỏ cũng lâu đời như khu vườn, nổi bật nhờ những bụi cây xanh mướt và những rặng cây cao.
Nhưng vẻ đẹp của khu vườn chủ yếu nằm ở bốn bậc sân vườn, ở tầm nhìn hướng thủy có con sông xanh biếc, có những bình nguyên ở tả ngạn sông cùng những ngọn đồi thấp thoáng phía xa. Chúng được hợp lại với nhau bằng hai mươi đợt thang; và hai mươi lối nhỏ len lỏi từ bậc sân này xuống bậc sân khác, xuyên giữa những bức tường có ốp trụ chống và thi thoảng lại biến mất sau những dải thường xuân phủ từ trên cao xuống thấp.
Rải rác đây đó trong vườn lại thấy một bức tượng một cây cột đã gãy đổ, hay những mảnh vỡ của phần mũ cột. Chiếc ban công ôm lấy khoảng sân vườn phía trên vẫn còn nguyên những cái lọ cổ dùng để trang trí bằng đất nung. Trên khoảng sân vườn này còn có tàn tích của hai ngôi đền cổ hình tròn, nơi xưa kia người ta đến lấy nước suối. Trước cửa sổ của thư phòng là một bồn nước tròn xoe, ở giữa có tượng một chú bé cầm chiếc phễu bằng vỏ ốc phun ra tia nước nhỏ. Nước tràn ra từ chiếc bồn đó đã tạo thành một dòng nước nhỏ chảy qua những phiến đá mà Patrice đã giẫm phải vào buổi tối hôm đó.
“Phải đào hẳn ba hay bốn héc ta để kiểm tra cơ đấy.” Ngài Desmalions tự nói với mình.
Ngài huy động mười hai cảnh sát dưới quyền, lại gọi thêm cả người của Patrice để đào xới. Công việc đó chẳng khó khăn gì và chắc chắn sẽ đem lại vài kết quả rõ ràng. Như ngài Desmalions vẫn không ngừng nhắc đi nhắc lại: Một nghìn tám túi vàng không thể vô hình được. Cuộc đào xới nào cũng để lại dấu vết. Phải có lối để chui vào và chui ra. Nhưng cả cỏ lẫn cát ngoài vườn, không chỗ nào có dấu hiệu cho thấy nơi đây đã từng bị đào xới. Dây thường xuân? Những bức tường? Các khoảng sân? Tất cả đều được kiểm tra kĩ lưỡng, nhưng không tìm thấy gì hết!
Trong lúc đào xới khu vườn, họ còn thấy đây đó mấy ống dẫn nước đã cũ chạy ra phía sông Seine, và tàn tích của cầu máng khi xưa dùng để dẫn nước suối Passy. Nhưng hang hốc, hầm bí mật, vòm gạch hay bất cứ thứ gì trông giống chỗ cất giấu thì lại không thấy.
Patrice và Coralie đứng xem người ta tìm kiếm. Mặc dù họ hiểu rõ tầm quan trọng của cuộc tìm kiếm và vẫn còn thấy căng thẳng sau những giờ phút đầy kịch tính vừa qua, trong thâm tâm, họ chỉ bận lòng với những bí ẩn không tài nào giải thích nổi về số phận của họ; và cuộc chuyện trò của họ gần như chỉ xoay quanh quá khứ u buồn của cả hai.
Mẹ của Coralie là con gái của một viên tổng tài Pháp ở Salonique. Bà đã kết hôn với một người đứng tuổi, rất giàu có, là Bá tước Odolavitz, người đứng đầu một gia tộc lâu đời người Serbia. Ông mất sau khi Coralie ra đời được một năm. Bà quả phụ cùng con gái khi đó đang sống ở Pháp, tại chính ngôi nhà trên đường Raynouard mà Bá tước Odolavitz đã mua qua người trung gian là một thanh niên trẻ người Ai Cập tên là Essarès, cũng là thư ký và quản gia của mình.
Coralie sống ở đây ba năm. Rồi đột ngột, cô mất mẹ và chỉ còn lại một mình. Essarès đưa cô về Salonique, giao cho em gái của ông ngoại cô - một người phụ nữ trẻ tuổi hơn ông cô rất nhiều. Quý bà đó đã nuôi dưỡng Coralie cho đến lúc lớn. Nhưng bất hạnh thay, bà lại bị Essarès dắt mũi. Bà đã ký và bắt cháu gái ký vào những giấy tờ mà tên Ai Cập đưa, để rồi tất cả gia sản vốn thuộc về cô bé, lúc bấy giờ do tên Ai Cập quản lý, đều dần biến mất.
Cuối cùng, năm Coralie mười bảy tuổi, cô trở thành nạn nhân của một biến cố, biến cố đó để lại cho cô những ký ức đáng ghê tởm và ảnh hưởng nghiêm trọng đến cả đời cô. Một buổi sáng nọ, một băng nhóm Thổ Nhĩ Kỳ đã bắt cóc cô ngay giữa Salonique. Cô bị nhốt suốt hai tuần ở sâu trong hậu cung của tên tỉnh trưởng và phải đối diện với cặp mắt hau háu ham muốn của hắn. Essarès đã giải thoát cho cô. Nhưng vụ giải thoát đó rất không bình thường, đến nỗi sau này Coralie vẫn nghi ngờ liệu bọn người Thổ Nhĩ Kỳ và gã Ai Cập có thông đồng với nhau hay không.
Dù sao đi nữa, sau lần đó, cô ốm nặng, tinh thần suy sụp, lúc nào cũng sợ bị bắt cóc, bị tấn công, lại thêm bà cô thúc ép, nên một tháng sau, cô làm đám cưới với gã Essarès này - kẻ đã tán tỉnh cô suốt bấy lâu và giờ đây, là người đã cứu cô. Đó là một cuộc hôn nhân đầy tuyệt vọng, nỗi kinh hoàng từ cuộc hôn nhân đó đã nuốt trọn lấy cô ngay từ ngày tân hôn. Coralie trở thành vợ của người mà cô ghét cay ghét đắng và tình yêu của ông ta chỉ làm cô thêm căm ghét và khinh bỉ ông ta.
Cũng năm đó, cả hai chuyển đến sống ở ngôi nhà trên đường Raynouard. Essarès từ lâu đã thành lập và điều hành chi nhánh Nhà băng Pháp - Phương Đông ở Salonique, và thời điểm đó, ông ta mua được gần hết cổ phần của nhà băng, lấy ngôi nhà ở đường La Fayette làm trụ sở chính, trở thành một trùm tài chính ở Paris và lấy được tước hiệu “Bey” ở Ai Cập.
Đó là câu chuyện mà Coralie đã kể cho Patrice nghe vào một ngày họ ngồi bên nhau trong khu vườn Passy tuyệt đẹp; và quá khứ buồn thảm đó khi so sánh với quá khứ của Patrice, cả Patrice lẫn Coralie đều không thể tìm ra điểm chung nào. Hai người sống ở hai nơi hoàn toàn khác nhau. Không một cái tên nào gợi lên những ký ức chung giữa hai người. Chẳng có chi tiết nào giúp họ hiểu được vì sao cả hai lại giữ hai nửa của cùng một viên thạch anh tím, hay tại sao ảnh của họ lại được dán trên cùng một mặt dây chuyền và được lưu trong cùng một cuốn album.
“Chúng ta có thể giải thích rằng mặt dây chuyền thạch anh đó nằm trong tay của Essarès Bey, vì lão đã cướp nó từ một người bạn mà chúng ta không biết. Người bạn đó đã dõi theo chúng ta và bị lão sát hại.” Patrice nói. “Nhưng còn cuốn album mà lão giấu ở túi áo trong thì sao?”
Cả hai đều không trả lời được. Rồi Patrice hỏi: “Kể cho tôi nghe về già Siméon đi.”
“Siméon vẫn luôn sống ở đây từ đầu.”
“Từ hồi mẹ em còn sống ư?”
“Không, khoảng một hay hai năm sau khi mẹ tôi mất, lúc tôi đến Salonique ở, Essarès cho ông ấy trông coi và săn sóc nhà cửa, vườn tược.”
“Ông ấy là thư ký của Essarès à?”
“Tôi không biết chính xác công việc của ông ấy. Ông ấy không phải thư ký của Essarès, cũng không phải người tâm phúc của lão. Họ chẳng bao giờ nói chuyện thân mật với nhau. Ông ấy từng đến Salonique thăm chúng tôi ba hay bốn lần gì đó. Tôi vẫn nhớ một lần ông ấy đến thăm. Hồi đó, tôi còn bé và nghe thấy ông ấy nói chuyện với Essarès bằng giọng giận dữ, có vẻ như đe dọa lão.”
“Đe dọa chuyện gì mới được?”
“Tôi không biết. Tôi không biết tí gì về Siméon. Ông ấy sống ở đây nhưng tách biệt, gần như lúc nào cũng ở ngoài vườn, hút tẩu, mơ màng chăm sóc cây cối, hoa lá; thỉnh thoảng, ông ấy gọi thêm hai hay ba người làm vườn tới giúp.”
“Ông ấy đối xử với em thế nào?”
“Tôi cũng không biết phải nói thế nào. Chúng tôi chưa bao giờ nói chuyện với nhau, công việc của ông ấy cũng hiếm khi phải tiếp xúc với tôi. Thế nhưng, đôi khi, tôi có cảm giác rằng, qua cặp kính vàng, ánh mắt ông ấy vẫn luôn dõi theo tôi và thậm chí có khi còn có chút quan tâm nhất định nữa. Ngoài ra, thời gian gần đây, Siméon rất thích chở tôi đến bệnh viện; cả ở bệnh viện hay lúc trên đường, ông ấy đều tỏ ra ân cần hơn, hăng hái hơn... đến mức một, hai hôm nay tôi phải tự hỏi...”
Cô lưỡng lự một lúc, không biết phải nói thế nào, rồi lại tiếp tục: “Vâng, chỉ là một ý nghĩ mơ hồ thôi nhưng dù sao thì... À, còn điều này tôi quên chưa kể với anh. Anh có biết vì sao tôi đi làm ở bệnh viện trên đại lộ Champs-Élysées, nơi anh điều trị lúc bị thương không? Đó là vì già Siméon đã đưa tôi đến đó. Ông ấy biết tôi muốn làm y tá và đã giới thiệu cho tôi bệnh viện đó... Ông ấy không ngờ rằng do hoàn cảnh xô đẩy, chúng ta sẽ gặp nhau... Tới đây, anh hãy nghĩ lại mà xem, hai tấm ảnh gắn trong mặt dây chuyền, tấm ảnh chụp anh mặc đồng phục, còn tôi trong trang phục y tá - chúng chỉ có thể được chụp ở bệnh viện mà thôi. Trong số những người ở nhà này, không có ai ngoài Siméon từng lui tới bệnh viện quân y cả... Anh cũng nghe tôi kể rồi đấy, ông ấy từng đến Salonique, từng chứng kiến tôi từ một cô bé lớn lên thành thiếu nữ, và hoàn toàn có khả năng chính ông ấy là người đã chụp những tấm ảnh trong album. Nếu ta giả sử ông ấy có người trợ giúp, người này đã dõi theo từng bước chân anh trong cuộc sống, vậy thì hoàn toàn có thể tin rằng người bạn mà anh nghĩ đã can thiệp vào chuyện giữa chúng ta, người đã gửi cho anh chìa khóa vườn...”
“Là già Siméon ư?” Patrice cắt ngang. “Giả thuyết này không vững rồi.”
“Tại sao?”
“Bởi vì người bạn đó đã chết. Người bạn - như em nói đó - người tìm cách can thiệp vào chuyện giữa chúng ta, người đã gửi cho tôi chiếc chìa khóa vườn, người đã gọi điện thoại để nói cho tôi biết sự thật, người ấy đã bị sát hại. Điều đó không có gì phải nghi ngờ nữa cả. Tôi đã nghe thấy tiếng kêu la của một người đang bị giết, những tiếng kêu hấp hối, những tiếng kêu khi người ta sắp chết.”
“Chúng ta có thể khẳng định chắc chắn như vậy sao?”
“Tôi hoàn toàn chắc chắn! Tôi dám khẳng định mà không có lấy một giây do dự. Người mà tôi gọi là người bạn mà chúng ta chưa biết ấy chết trước khi kịp hoàn thành việc mình định làm. Anh ta chết vì bị giết, trong khi già Siméon vẫn còn sống kia mà.”
Patrice nói thêm: “Hơn nữa, giọng người ấy khác giọng Siméon. Trước kia tôi chưa từng nghe thấy giọng người ấy và bây giờ cũng không có cơ hội được nghe lại nữa.”
Coralie bị thuyết phục và không nói thêm lời nào.
Họ ngồi trên băng ghế trong vườn, đắm mình trong ánh nắng tháng Tư rực rỡ. Những lộc non e ấp lấp lánh trên đầu những cành dẻ. Mùi hương nồng nàn tỏa ra từ những bông quế trúc đang tươi cười trong luống hoa. Hoa quế trúc có màu vàng và nâu ánh vàng, nom hệt những chú ong tụ lại với nhau, khẽ rung rinh trong làn gió nhẹ.
Đột nhiên, Patrice khẽ rùng mình. Coralie đang đặt tay lên tay anh, vẻ thân thiện; và khi anh quay sang nhìn, anh thấy cô xúc động đến sắp rơi nước mắt.
“Có chuyện gì thế, Mẹ Coralie?”
Cô cúi đầu xuống, má chạm vào vai viên sĩ quan. Patrice không dám động đậy. Cô đang đối xử với anh như với một người anh trai ân cần, anh cố nén chặt cảm giác ấm áp đang trào dâng trong lòng vì sợ cảm xúc ấy có thể khiến cô phật ý.
“Có chuyện gì thế?” Anh lặp lại.
“Ôi, lạ quá!” Cô khẽ kêu lên. “Patrice, anh hãy nhìn kìa, chỗ những bông hoa ấy!”
Họ đang ngồi ở khoảng sân thứ ba, có thể nhìn thấy khoảng sân thứ tư thấp hơn ở bên dưới. Và ở đó, không chỉ được tô điểm bằng những luống quế trúc vàng ươm, khoảng sân thứ tư còn có những thảm hoa mùa xuân đủ loài đủ sắc: uất kim hương, hoa ngàn sao, dạ lan hương, cùng một trảng păng xê hình tròn rất lớn nằm ở giữa.
“Nhìn kìa!” Vừa nói, cô vừa duỗi thẳng tay, chỉ vào trảng păng xê. “Anh thấy chưa?... Có chữ trên đó...”
Patrice nhìn theo và dần dần nhận ra những cụm păng xê được trồng thành hình những con chữ, nổi bật trên nền là những loài hoa khác. Nếu mới nhìn qua lần đầu thì khó lòng trông thấy được. Nhưng nếu nhìn kĩ một lúc, sẽ thấy các con chữ ráp lại thành một dòng này: Patrice và Coralie.
“A!” Patrice khẽ nói. “Tôi hiểu ý em rồi!...”
Họ rùng mình. Một cảm xúc kỳ lạ, rất khó diễn tả dâng lên khi cả hai đọc được tên của mình do một bàn tay thân ái nào đó tạo nên từ những bông hoa. Và cũng thật kỳ lạ, thật xúc động khi anh và cô luôn thấy mình gắn kết với người còn lại qua những sự kiện bất ngờ, từ hai nửa thạch anh rồi đến những tấm ảnh, giờ lại là tên của hai người được gắn kết với nhau bằng những đóa hoa tượng trưng cho tình yêu và nỗi nhớ, được trồng thành hình những chữ cái.
Coralie đứng dậy và nói: “Siméon là người chăm sóc khu vườn!”
“Phải!” Anh nói, giọng hơi run. “Nhưng điều đó chắc chắn cũng chẳng làm tôi thay đổi ý kiến. Người bạn bí ẩn của chúng ta đã chết, nhưng chắc là ông ta có quen biết người bạn ấy. Có thể Siméon còn làm một vài việc cùng người bạn kia và biết được nhiều điều lắm. Ồ, giá mà ông ta có thể kể và chỉ cho chúng ta đi đúng hướng.”
Một tiếng sau, khi mặt trời đã ẩn mình sau chân trời, họ quay trở vào nhà. Lúc trèo lên đến sân vườn cao nhất, họ gặp ngài Desmalions đang đứng chờ. Ngài ra hiệu cho họ đến gần. “Tôi có một chuyện rất kỳ lạ muốn cho hai người thấy.” Ngài nói. “Thứ tôi tìm được có thể sẽ khiến hai người quan tâm đấy, thưa bà, và nhất là anh đó, Đại úy.”
Ngài dẫn họ đến cuối khoảng sân, ngay bên ngoài khu nhà họ đang sống, kế bên thư phòng. Có hai cảnh sát đang đứng ở đó, mỗi người cầm một cái xẻng. Ngài Desmalions giải thích, trong quá trình tìm kiếm, họ đã gỡ những dây thường xuân um tùm phủ kín bức tường thấp được trang trí bằng những lọ đất nung. Do đó, ngài phát hiện bức tường được trát thêm một lớp vữa dài đến mấy mét. Lớp vữa này còn mới, chứ không cổ như những phiến đá xây nên bức tường.
“Thế có nghĩa là sao?” Ngài Desmalions nói. “Chắc chắn phải có mục đích gì đó. Thế là tôi cho cạy lớp vữa đó ra và dưới lớp vữa này, tôi lại thấy một lớp thứ hai mỏng hơn, lẫn với những phiến đá gồ ghề. Nào, hai người lại gần đây... À mà không... lùi lại một chút... như thế sẽ nhìn được rõ hơn.”
Lớp vữa bên trong thật ra chỉ để giữ những viên sỏi nhỏ màu trắng ở đúng vị trí. Những viên sỏi trắng xếp lại như một bức tranh chạm khảm trên bức nền bằng sỏi đen, tạo thành một hàng chữ có ba từ. Và ba từ đó lại là: Patrice và Coralie.
“Hai người có ý kiến gì không?” Ngài Desmalions hỏi. “Những dòng chữ này rõ ràng đã có từ nhiều năm trước... ít nhất cũng phải mười năm, dựa vào tình trạng của đám thường xuân bám vào mặt tường này.”
“Ít nhất là mười năm.” Patrice nhắc lại, khi anh chỉ còn lại một mình bên Coralie. “Mười năm trước, nghĩa là từ khi em vẫn chưa lấy chồng, lúc em vẫn còn sống ở Salonique và không một ai lui tới khu vườn này... Không một ai, trừ Siméon cùng những người mà ông ấy cho phép vào.” Rồi Patrice kết luận: “Trong số đó, có người bạn đã mất mà chúng ta chưa biết là ai, Coralie ạ. Và Siméon biết sự thật.”
Cuối buổi chiều ngày hôm đó, họ lại gặp già Siméon. Từ hồi thảm họa xảy ra, họ vẫn thấy ông ta suốt ngày lang thang ngoài vườn hoặc trên hành lang trong nhà, mặt lúc nào cũng lo lắng sợ sệt và ngây ngây dại dại. Ông ta vẫn quấn khăn che kín nửa mặt, cặp kính vàng khè trễ xuống mũi và lẩm bẩm mấy lời khó hiểu. Đêm đến, một trong những người thương binh ở gần phòng ông ta còn nhiều lần nghe thấy tiếng ông ta ư ử hát.
Đã hai lần, Patrice cố nài ông ta nói nhưng Siméon chỉ lúc lắc cái đầu, không trả lời, hoặc không thì cười sằng sặc như một kẻ điên.
Câu chuyện vì thế lại càng thêm rối rắm, và chẳng có gì cho thấy những nút thắt đó sẽ được giải quyết. Ai là người đã đính ước cho hai người họ từ thuở họ còn thơ bằng những cách lạ lùng và kiên quyết thế này? Ai là người đã trồng những cây hoa păng xê theo hình chữ cái từ mùa thu năm trước, khi cả Patrice và Coralie còn chưa hề biết nhau? Và ai là người đã viết tên họ bằng những viên sỏi trắng ẩn trong bức tường dày từ tận mười năm trước?
Những câu hỏi đó cứ mãi lởn vởn trong đầu hai người trẻ tuổi. Tình yêu đã đến bên họ một cách thật bất ngờ, rồi đột nhiên, họ lại phát hiện ra đằng sau lưng mình là một quá khứ chung rất dài. Đối với họ, mỗi bước chân họ dạo trong vườn dường như là một cuộc hành hương về miền ký ức đã bị lãng quên; và cứ mỗi khi tới khúc quanh trên đường, họ lại chuẩn bị khám phá thêm một bằng chứng mới về mối ràng buộc đã vô hình gắn họ lại với nhau.
Đúng thế thật, mấy ngày qua, họ đã thấy hai chữ cái đầu trong tên của mình lồng vào nhau, hai lần khắc trên thân cây và một lần trên lưng băng ghế. Và hai lần nữa, tên hai người lại xuất hiện trên một bức tường cổ, dưới một lớp vữa ẩn sau bức màn kết từ những dây thường xuân.
Ở hai lần đó, sau tên họ còn đề năm:
Patrice và Coralie, 1904.
Patrice và Coralie, 1907.
“Cách đây mười một năm và tám năm.” Patrice nói. “Luôn là hai cái tên của chúng ta: Patrice và Coralie.”
Hai bàn tay họ tìm thấy nhau, siết chặt lấy nhau. Bí ẩn lớn của quá khứ đã kéo hai người xích lại gần nhau, cũng giống như tình yêu lớn đang ngập tràn trong tim họ, nhưng họ vẫn cố kìm lòng không nói ra.
Tuy vậy, hai người tiếp tục tìm hiểu chuyện này. Thế là, một ngày nọ, hai tuần sau khi Essarès chết, lúc đi ngang qua cửa ngách mở ra con ngõ nhỏ, họ quyết định sẽ ra ngoài theo lối đó và xuống tận bờ sông Seine. Không ai trông thấy họ, vì cả đường đi ra cửa lẫn lối mòn dẫn ra đó đều khuất dưới những tán cây hoàng dương. Trong khi đó, ngài Desmalions và quân của mình đang bận tìm kiếm trong mấy nhà kính cũ, cùng lò sưởi và ống khói cũ được Essarès dùng để phát tín hiệu, tất cả đều nằm ở đầu kia của khu vườn.
Khi ra đến bên ngoài, Patrice bỗng dừng lại. Gần như ngay trước mặt anh, trên bức tường đối diện, có một cánh cửa giống y hệt cửa ngách bên này. Anh gọi Coralie tới, nhưng cô у đáp: “Chẳng có gì lạ đâu. Bức tường đó ngăn vườn bên này với một khu vườn nhỏ, nhưng trước kia, khu vườn bên ấy cũng thuộc khu vườn bên nhà em.”
“Nhưng ai sống ở đó vậy?”
“Bên đó không có người ở. Ngôi nhà nhỏ trong khu vườn đó nằm đối diện với nhà em ở mặt đường Raynouard, lúc nào cũng thấy cửa đóng im im.”
Patrice lẩm bẩm: “Cửa giống y hệt... Có khi lại cùng một chìa cũng nên!”
Anh liền tra chiếc chìa khóa han gỉ mà mình nhận được vào ổ khóa. Cánh cửa bật mở.
“Ái chà, chuỗi thần diệu vẫn chưa kết thúc. Liệu lần này sẽ giúp ích cho chúng ta chăng?”
Bên trong là một dải đất khá hẹp, cây cỏ mọc um tùm. Tuy nhiên, ở giữa đám cỏ dại ấy có một lối nhỏ, xem nền đất thì thấy lối đi này vẫn có người qua lại thường xuyên. Con đường chạy từ ô cửa trên tường và quanh co hướng lên trên một khoảng sân cao. Trên sân có một ngôi nhà nhỏ bằng gỗ giờ đã ọp ẹp, xiêu vẹo, cửa chớp đóng kín. Nhà chỉ có một tầng duy nhất, nhưng bên trên lại là một vọng lâu nhỏ trông giống chiếc đèn lồng. Cổng chính dẫn vào nhà nằm bên mặt Raynouard, giữa cổng và ngôi nhà có một cái sân, một bức tường cao chạy xung quanh khu nhà. Lối ra vào này đã bị đóng ván gỗ và xà gồ để bít lại.
Họ đi vòng qua ngôi nhà và sững người kinh ngạc vì cảnh tượng ở trước mắt, phía bên phải họ. Những tán cây ở đây được uốn thành một nhà nguyện nhỏ hình chữ nhật, được gìn giữ rất cẩn thận, với những đường vòng cung đều đặn được khắc vào hàng rào cây thủy tùng và hoàng dương. Một khu vườn thu nhỏ được đặt trong không gian này, trong ngôi nhà của tĩnh lặng và bình yên. Ở đây cũng có hoa quế trúc, păng xê và dạ lan hương. Từ bốn góc nhà nguyện bằng cây có bốn đường mòn dẫn tới một điểm trung tâm, ở đó có năm chiếc cột của một ngôi đền nhỏ, để mở, được xây rất thô sơ bằng đá cuội và gạch vụn.
Dưới mái vòm của ngôi đền nhỏ đó có một bia mộ bằng đá. Trước bia mộ có một ghế quỳ để cầu nguyện đóng bằng gỗ, đã cũ. Trên thanh ngang bên trái ghế quỳ có treo cây thánh giá bằng ngà, còn thanh ngang bên phải treo một chuỗi mân côi kết từ những hạt thạch anh tím có bọc vàng chạm hoa văn. “Coralie, Coralie!” Patrice thì thào, giọng run run vì xúc động. “Ai được chôn cất ở đây thế?”
Họ tiến lại gần hơn. Có những chuỗi hạt được quàng lên bia mộ. Họ đếm được tất cả mười chín chuỗi, mỗi chuỗi đều có đề năm, tương ứng với mười chín năm liên tiếp, chuỗi gần nhất là vào năm ngoái. Khi vén những chuỗi hạt đó sang một bên, họ đọc được trên bia hàng chữ mạ vàng đã phai màu và vẩn đục vì mưa gió:
Nơi đây yên nghỉ
PATRICE VÀ CORALIE
Cả hai bị sát hại vào ngày Mười bốn tháng Tư năm 1895.
Họ sẽ được báo thù.