Arsène Lupin Tái Xuất

Lượt đọc: 137 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 8
kế hoạch của essarès bey

Lần này, Đại úy Belval có vẻ dịu đi một chút. Anh đã lờ mờ đoán được vì sao phía chính quyền phải cân nhắc và thận trọng khi xử lý vụ này.

“Ngài chắc chứ?” Đại úy hỏi.

“Chắc chắn, thưa Đại úy. Tôi đã nhận nhiệm vụ điều tra vụ này từ cách đây hai năm, và kết quả điều tra cho thấy lượng vàng bị đưa ra khỏi nước Pháp là rất lớn và rất khó hiểu. Nhưng cũng phải thú thật, mãi đến khi nói chuyện với bà Essarès, tôi mới biết vàng bị thất thoát từ đâu và ai đã lập ra tổ chức ghê gớm có quy mô toàn quốc, với chân rết nằm ở cả những thị trấn nhỏ nhất, làm món kim loại vô cùng thiết yếu đó chảy dần ra khỏi nước Pháp.”

“Bà Essarès biết ư?”

“Không biết rõ, nhưng bà ấy đã nghi ngờ rất nhiều; và đêm qua, trước khi anh đến, bà ấy đã nghe được vài lời khi Essarès nói chuyện với những kẻ thù của mình, rồi bà ấy kể lại cho tôi, như vậy, bà ấy đã cho tôi chìa khóa để giải đố. Lẽ ra, tôi sẽ tự mình tìm ra lời giải đầy đủ cho câu đố đó mà không có anh trợ giúp - vì một lý do: Đó là lệnh của Bộ trưởng Bộ Nội vụ; và bà Essarès cũng mong muốn như vậy - nhưng lòng nhiệt thành của anh đã thắng được nỗi do dự của tôi. Vì tôi không thể gạt nổi anh sang một bên, Đại úy Belval ạ, tôi sẽ kể lại toàn bộ câu chuyện cho anh biết... nhất là khi không thể coi thường sự cộng tác của anh được.”

“Vâng, tôi xin tập trung lắng nghe.” Patrice nói, nóng lòng muốn biết thêm.

“Chuyện là thế này, kẻ cầm đầu âm mưu đó ở ngay trong căn nhà này: Essarès Bey, chủ Nhà băng Pháp - Phương Đông, số 6 đường La Fayette, bề ngoài là người Ai Cập, nhưng thực chất là người Thổ Nhĩ Kỳ, có ảnh hưởng rất lớn trong giới tài chính ở Paris. Ông ta nhập quốc tịch Anh, nhưng lại có mối quan hệ bí mật với những cựu lãnh đạo Ai Cập. Essarès Bey được một quốc gia nước ngoài mà tôi chưa thể xác định chính xác giao nhiệm vụ làm nước Pháp chảy máu - phải, không còn từ ngữ nào khác thích hợp hơn - toàn bộ số vàng mà ông ta có thể bòn rút được để đổ vào kho bạc của quốc gia kia. Tôi đã xem một số tài liệu, trong đó cho biết, trong hai năm, ông ta đã trót lọt chuyển ra nước ngoài bảy trăm triệu franc. Lần gửi cuối cùng được chuẩn bị khi chiến tranh nổ ra. Anh hẳn cũng hiểu, lúc đó, một khoản tiền lớn như vậy không thể tuồn được ra ngoài dễ dàng như trong thời bình. Tàu thủy, tàu hỏa đều bị kiểm tra kĩ lưỡng ở ngay tại cảng, tại biên giới. Tóm lại, vàng không được gửi đi. Số tiền hai trăm năm mươi đến ba trăm triệu này vẫn còn ở Pháp. Mười tháng trôi qua, và điều không thể tránh khỏi phải xảy đến. Nắm trong tay một kho báu khổng lồ, Essarès dần dần thấy gắn bó với nó và nghiễm nhiên coi đó là tài sản của mình, ông ta không muốn làm đầu mối vận chuyển nữa mà muốn chiếm lấy toàn bộ. Chỉ vướng đám đồng bọn...”

“Là những kẻ mà tôi đã thấy vào tối hôm qua?”

“Đúng vậy, sáu người Cận Đông mang quốc tịch Pháp, nhưng hoàn toàn là quốc tịch giả, có thể là người Bulgaria cải trang, hoặc đặc tình của triều đình Đức ở Balkan. Những người này đều thuộc chi nhánh của nhà băng Essarès dưới tỉnh lẻ. Băng nhóm này thay mặt cho Essarès, bỏ tiền ra thuê hàng trăm tay sai và cho những người này len lỏi khắp hang cùng ngõ hẻm ở các làng quê, đến các phiên chợ, gặp gỡ thân mật với các nông dân ở đó, đãi họ uống rượu, dụ dỗ họ rút hết tiền tiết kiệm, đổi vàng lấy tiền mặt và công trái. Khi chiến tranh nổ ra, băng nhóm đó mới đóng cửa tất cả các cơ sở của mình và tụ lại bên cạnh Essarès, và bản thân Essarès cũng đóng cửa các văn phòng trên đường La Fayette.”

“Vậy rồi chuyện gì xảy ra tiếp theo?”

“Xảy ra những vụ việc mà chúng ta không biết. Chắc chắn đám đồng phạm đã nhận được thông tin từ chính phủ của mình. Chúng biết chuyến chuyển vàng cuối cùng không được thực hiện và hẳn cũng đã đoán ra ý định muốn giữ ba trăm triệu làm của riêng của Essarès. Và có một điều chắc chắn, mâu thuẫn bắt đầu nảy sinh giữa những kẻ từng cùng phe với nhau, và đó là một mâu thuẫn rất gay gắt, kịch liệt. Mấy tên đồng phạm muốn được chia phần, còn Essarès kiên quyết không nhả ra miếng nào hết và giả tảng như hàng trăm triệu kia đã rời nước Pháp. Ngày hôm qua, mâu thuẫn đã lên tới đỉnh điểm. Chiều hôm đó, đám đồng phạm toan bắt cóc bà Essarès để làm con tin, hòng lấy bà ấy làm vũ khí để cưỡng bách chồng bà ấy. Rồi đến tối... Tối hôm qua, anh đã chứng kiến tận mắt màn kết rồi đó.”

“Nhưng tại sao lại là tối hôm qua mà không phải một lúc nào khác?”

“Vì lũ đồng phạm hoàn toàn có lý do để tin rằng số tiền kia sẽ biến mất vào tối qua. Dù không biết Essarès đã làm cách gì để chuyển vàng đi ở những vụ trước, chúng vẫn đinh ninh cứ mỗi một phi vụ như thế, hay nói chính xác hơn là cứ mỗi một lần chuyển các túi vàng đi như thế, sẽ có một tín hiệu đặc biệt được phát đi.”

“Phải rồi, là pháo hiệu “cơn mưa tia lửa”, có đúng không ạ?”

“Chính xác! Trong góc vườn có mấy nhà kính cũ, phía trên đó có một cái lò ngày trước dùng để làm ấm nhà kính. Ống khói lò rất bẩn, bám đầy bồ hóng và rác rưởi. Khi nhóm lên, nó sẽ phun ra tàn lửa và ở khoảng cách xa cũng có thể nhìn thấy những tia sáng ấy, chúng được dùng làm tín hiệu báo trước. Tối hôm qua, Essarès đã tự tay nhóm lò. Bọn đồng phạm thấy thế liền lập tức chuẩn bị hành động.”

“Và kế hoạch của Essarès đã thất bại.”

“Đúng nhưng cả kế hoạch của lũ đồng phạm cũng thế. Tên Đại tá đã chết. Mấy tên còn lại vớ được một mớ nhưng chẳng bao lâu sau đã bị cướp lại. Tuy nhiên, cuộc chiến chưa kết thúc. Mãi sáng nay, kết cục của nó mới đến, cùng biến cố bi thảm nhất. Theo như khẳng định của anh, một người quen biết anh đã tìm cách liên lạc với anh qua điện thoại và người đó đã bị sát hại vào lúc bảy giờ mười chín phút, có vẻ như Essarès Bey là hung thủ - ông ta ra tay vì sợ người nọ can thiệp vào chuyện của mình. Và, năm tiếng đồng hồ sau, lúc mười hai giờ hai mươi ba phút, đến lượt Essarès Bey bị sát hại, có lẽ là do một trong những tên đồng phạm của ông ta. Toàn bộ câu chuyện là như vậy, Đại úy Belval ạ! Bây giờ, anh đã nắm hết mọi điều giống như tôi rồi đó, vậy anh có nghĩ rằng việc điều tra vụ án này cần được giữ kín và tiến hành theo những cách khác với những quy tắc thông thường không?”

Sau một hồi suy nghĩ, Patrice trả lời: “Vâng, tôi cũng nghĩ vậy.”

“Chắc chắn là như vậy rồi.” Ngài Desmalions kêu lên. “Bên cạnh đó, công bố chuyện tiền vàng biến mất và không thể tìm lại được chẳng những không mang lại lợi ích gì mà còn làm công chúng náo loạn. Anh cũng biết đấy, việc bòn rút được ngần ấy vàng trong vòng hai năm không thể không gây ra nhiều tổn hại đáng tiếc cũng như dính dáng đến kha khá người. Tôi tin chắc cuộc điều tra cá nhân của mình sẽ vạch trần một loạt thương vụ đầy bê bối của một số nhà băng và công ty tín dụng ít nhiều quan trọng, những giao dịch mà tôi không muốn nhấn mạnh vào, nhưng công bố những việc đó sẽ gây ra thảm họa. Vì thế, hãy giữ im lặng.”

“Nhưng liệu có im lặng được không?”

“Tại sao lại không?”

“Lạy Chúa tôi! Thế những cái xác kia thì phải giải thích thế nào? Ví dụ như Đại tá Fakhi chẳng hạn.”

“Tự tử, thế thôi!”

“Còn Mustapha - ngài sẽ hoặc đã tìm thấy trong vườn Bảo tàng Galliera - thì sao?”

“Khi tìm thấy thì đã chết rồi, không rõ nguyên nhân.”

“The còn Essarès Bey?”

“Bị tai nạn.”

“Như vậy là tất cả các vụ án mạng vừa rồi sẽ là ba vụ riêng rẽ.”

“Có gì cho thấy ba vụ án mạng đó có liên quan đến nhau đâu!”

“Có khi công chúng sẽ nghĩ ngược lại đấy.”

“Công chúng sẽ nghĩ theo những gì chúng ta muốn. Đang là thời chiến mà!”

“Báo chí sẽ lên tiếng.”

“Báo chí sẽ không đả động gì đến vụ này đâu. Chúng ta có kiểm duyệt cơ mà.”

“Nhưng ngộ nhỡ lại xảy ra chuyện, cụ thể là một tội ác mới nữa thì sao?”

“Một tội ác mới ư? Tại sao chứ? Vụ việc đã kết thúc, chí ít là phần sôi động và kịch tính nhất của nó. Các nhân vật chính đều đã chết. Bức màn nhung đã hạ xuống bằng vụ sát hại Essarès Bey. Còn những nhân vật phụ, Bournef và những kẻ khác, chúng ta sẽ tống được bọn chúng vào trại giam trong vòng một tuần. Chúng ta sẽ tìm thấy mấy trăm triệu tiền vàng kia, vô chủ, không ai dám nhận và nước Pháp có toàn quyền sở hữu. Tôi sẽ tích cực và năng nổ hết khả năng để bảo vệ tiền của cho nước Pháp.”

Patrice Belval lắc đầu. “Còn bà Essarès nữa, thưa ngài. Chúng ta không nên xem thường những lời đe dọa của chồng bà ấy.”

“Ông ta đã chết rồi mà.”

“Dẫu vậy, lời đe dọa vẫn còn đó. Già Siméon nói với ngài còn gì, vẻ rất kích động nữa.”

“Ông ta dở điên dở tỉnh ấy mà.”

“Chính xác! Đầu ông ta vẫn còn lưu lại ấn tượng của mối nguy hiểm sắp kéo đến và cũng là mối nguy hiểm lớn nhất. Không đâu, thưa ngài, cuộc chiến vẫn chưa đến hồi kết. Có lẽ thực ra, nó chỉ mới bắt đầu.”

“Chà, Đại úy ạ, chẳng phải chúng ta đang ở đây rồi ư? Từ giờ, việc của anh phải làm sẽ là bảo vệ bà Essarès bằng mọi giá, hết khả năng của mình và bằng mọi phương tiện, công cụ mà tôi cung cấp cho anh. Sự hợp tác của chúng ta sẽ không bị ngắt giữa chừng, vì công việc của tôi nằm ở ngay đây và vì cuộc chiến mà anh cho rằng sẽ xảy ra - nhưng tôi thì không - nếu có xảy ra thì sẽ xảy ra ngay trong ngôi nhà này và ở ngoài vườn kia thôi.”

“Điều gì đã khiến ngài nghĩ như vậy?”

“Những lời mà bà Essarès nghe được tối qua. Tay Đại tá Fakhi đã nhắc đi nhắc lại vài lần: “Vàng ở đây, Essarès!” Hắn còn nói: “Suốt mấy năm qua, tuần nào ông cũng cho xe chở đến ngôi nhà này tất cả những thứ nằm trong nhà băng của ông trên đường La Fayette. Già Siméon, tay lái xe và ông đã thả những túi vàng qua lưới sắt ở cửa thông gió cuối cùng xuống dưới hầm, phía bên trái. Ông đã làm cách nào để chuyển chúng thì tôi không biết. Nhưng những thứ đã ở đây vào thời điểm chiến tranh nổ ra, một nghìn bảy hay một nghìn tám túi gì đó, đáng lẽ phải được chuyển sang bên kia nhưng không một túi nào được đưa ra khỏi nhà ông cả. Tôi đã nghi ngờ và chúng tôi đã liên tục theo dõi cả ngày lẫn đêm. Vàng ở ngay đây.”.”

“Và ngài không có manh mối nào hết ư?”

“Không! Không một manh mối nào hết. Nhưng tôi có cái này khá có giá trị đấy.”

Ngài Desmalions rút trong túi ra một tờ giấy bị vò nát, giở ra và nói: “Ngoài mặt dây chuyền, Essarès Bey còn nắm trong tay một tờ giấy bị nhòe mực, trên có nguệch ngoạc mấy từ rời rạc, rõ ràng người viết rất vội. Từ duy nhất còn đọc được là “Tam giác vàng”. “Tam giác vàng” này có nghĩa là sao? Nó liên quan gì đến vụ án chúng ta đang điều tra? Hiện tại, tôi không biết. Tôi đặt giả thuyết mẩu giấy đó, cũng như mặt dây chuyền kia, bị Essarès Bey giật lấy từ tay người đàn ông đã chết vào lúc bảy giờ mười chín phút sáng hôm nay, rồi đến lượt ông ta bị giết lúc mười hai giờ hai mươi ba phút khi đang xem mẩu giấy.”

“Phải rồi, hẳn mọi chuyện đã xảy ra như vậy.” Patrice kết luận. “Và như ngài đã thấy, tất cả các chi tiết đều liên kết với nhau. Ngài có thể an tâm tin rằng tất cả những chuyện xảy ra vừa rồi đều thuộc cùng một vụ án mà thôi.”

“Hay lắm!” Ngài Desmalions nói và đứng dậy. “Một vụ nhưng hai phần. Đại úy ạ, anh nên theo dõi tiếp phần sau. Tôi cũng thừa nhận, không còn gì lạ lùng hơn việc phát hiện ra những tấm ảnh của cả bà Essarès và anh trong cùng một quyển album và trong mặt dây chuyền gắn ảnh. Khúc mắc nằm ở chỗ đó, giải quyết được khúc mắc này chắc chắn sẽ giúp chúng ta tiến đến gần sự thật. Hẹn gặp lại anh sau nhé, Đại úy Belval. Một lần nữa, xin nhắc lại, hãy giải quyết mọi việc cùng tôi và người của tôi.”

Vừa nói, ngài thẩm phán vừa bắt tay Patrice. Patrice giữ ngài lại. “Tôi sẽ giải quyết mọi việc cùng ngài, như ngài đề nghị, thưa ngài. Nhưng giờ không phải là lúc cần phải thận trọng hay sao ạ?”

“Đúng vậy, Đại úy ạ. Chúng ta đang rất thận trọng. Chúng ta đang cắm chốt trong căn nhà này, không phải sao?”

“Vâng… vâng… tôi biết; nhưng, dù sao... tôi vẫn có linh cảm rằng ngày hôm nay vẫn chưa kết thúc nếu không có. Xin ngài hãy nhớ lại những câu nói lạ lùng của già Siméon.”

Ngài Desmalions cười phá lên. “Thôi nào, Đại úy Belval! Chúng ta không nên làm quá mọi việc lên như thế. Nếu ngoài kia vẫn còn kẻ thù, giờ này chắc chắn chúng đang rất cần họp nhau lại để suy tính đường đi nước bước tiếp theo. Ngày mai, chúng ta sẽ bàn bạc việc này tiếp, anh đồng ý chứ, Đại úy?”

Ngài Desmalions lại bắt tay Patrice, cúi đầu chào phu nhân Essarès và ra về.

Thoạt đầu, Đại úy Belval cũng dè dặt bước ra cửa cùng ngài Desmalions. Anh dừng ở ngưỡng cửa và quay lại. Bà Essarès tuồng như không nghe thấy anh đến. Cô bó gối, ngồi yên bất động, đầu quay đi chỗ khác.

“Coralie!” Anh gọi.

Cô không trả lời. Belval gọi lại lần thứ hai “Coralie”, nhưng lòng thầm mong cô vẫn sẽ không trả lời, vì sự im lặng của cô đối với anh lúc này chính là điều anh khao khát hơn cả. Sự im lặng đó không còn mang ý nghĩa thúc ép hay phản kháng nữa. Coralie chấp nhận Belval ở đây, ngay bên cạnh mình, như một người bạn luôn nhiệt tình giúp đỡ mình. Và Patrice không còn nghĩ đến những vấn đề đang quấy rầy anh, hay những vụ giết người cứ xảy ra liên tục, hết vụ này đến vụ khác xung quanh họ, và cả những hiểm họa vẫn còn đang rình rập họ ngoài kia nữa. Anh chỉ nghĩ đến nỗi bơ vơ và đau khổ của thiếu phụ đang ngồi trước mặt mình.

“Đừng đáp lại, Coralie ạ. Đừng nói một lời nào hết. Tôi mới là người phải nói. Tôi phải nói cho em biết những điều mà em chưa biết, những lý do khiến em muốn đẩy tôi ra xa... khỏi căn nhà này và khỏi cuộc đời em.”

Anh đặt tay lên lưng chiếc ghế cô đang ngồi, và bàn tay anh khẽ chạm vào tóc Coralie. “Coralie ạ, em cho rằng nỗi hổ thẹn về gia đình mình khiến em phải tránh xa tôi. Em xấu hổ vì là vợ của người đàn ông đó; điều đó khiến em lo lắng và lòng dạ rối bời, cứ như mình đã phạm tội. Nhưng tại sao em lại phải như vậy? Đó đâu phải là lỗi của em? Chẳng lẽ em không biết tôi có thể đoán được giữa em và Essarès chỉ có đau khổ và hận thù, và em chấp nhận cuộc hôn nhân này chỉ vì bị ép buộc, chỉ vì mưu đồ nào đó mà em mới phải chịu ràng buộc hay sao? Không, Coralie ạ, còn một điều khác nữa, và tôi sẽ nói cho em biết. Còn có một điều khác nữa...”

Anh cúi xuống sát Coralie hơn. Dung nhan xinh đẹp của cô sáng lên nhờ ánh lửa trong lò, và anh nói với giọng tha thiết hơn, xưng hô thân mật hơn nhưng không hề suồng sã mà vẫn giữ được sự tôn trọng đối với cô: “Tôi có cần phải nói ra không, Coralie bé bỏng của tôi? Không cần, phải không? Em thấy rõ và hiểu rõ lòng mình mà. Ồ, tôi thấy em đang run rẩy. Phải, phải, ngay từ ngày đầu tiên, em đã đem lòng yêu gã lính bị thương, bị cụt chân và người đầy sẹo. Suỵt! Đừng chối!... Phải, tôi hiểu. Em thấy bị xúc phạm khi ngày hôm nay nghe thấy những lời này. Có lẽ tôi nên đợi. Nhưng tại sao tôi phải đợi? Tôi không đòi hỏi điều gì ở em cả. Tôi biết, và như thế đã là quá đủ cho tôi rồi. Tôi sẽ không nhắc lại những lời này với em nữa, chí ít là trong một thời gian dài, cho đến khi thời điểm không thể tránh khỏi ấy đến, khi em bắt buộc phải tự mình nói ra với tôi. Cho đến lúc đó, tôi nhất định sẽ im lặng. Nhưng ái tình vẫn sẽ luôn luôn tồn tại giữa hai ta; và mối tình ấy sẽ đẹp tuyệt vời, Coralie ạ. Thật tuyệt vời biết bao khi biết rằng em yêu tôi, Coralie... Ôi, em khóc đấy ư, Coralie bé bỏng? Em vẫn muốn chối từ sự thật đó chăng? Không đâu, Coralie ạ. Khi em khóc - tôi hiểu em mà - nghĩa là con tim em tràn ngập yêu thương và âu yếm. Em khóc đấy ư? Ôi, Coralie bé bỏng của tôi, tôi không hề biết em yêu tôi nhiều đến thế!”

Và Patrice cũng vậy. Mắt anh cũng đẫm lệ. Những dòng nước mắt lăn dài xuống đôi gò má nhợt nhạt của Coralie; và anh muốn hôn lên đôi má đẫm lệ ấy. Nhưng ngay lúc này đây, anh hiểu rõ, chỉ một cử chỉ thân mật dù là nhỏ nhất thôi cũng là một sự xúc phạm đối với cô. Anh bằng lòng với việc chỉ đứng yên nhìn cô với ánh mắt tràn ngập yêu thương.

Khi đứng yên nhìn cô như thế, anh có cảm giác dường như suy nghĩ của cô đang bắt đầu tách khỏi dòng suy nghĩ của anh, anh thấy đôi mắt cô đang bị một cảnh tượng bất ngờ thu hút, và giữa sự yên lặng thánh khiết của tình yêu giữa hai người, cô đang lắng nghe điều gì đó mà anh không nghe thấy.

Rồi đột ngột, anh cũng nghe thấy điều rất khó nhận thấy đó. Không hẳn là một tiếng động, chỉ là cảm giác hình như một ai đó cũng đã có mặt ở đây, lẫn với tiếng ồn ào ngoài đường phố. Có thể là chuyện gì được nhỉ?

Ngày đã tàn mà Patrice không để ý. Patrice cũng không nhận ra bà Essarès đã hơi hé cửa sổ, vì khuê phòng khá nhỏ và hơi nóng tỏa ra từ ngọn lửa trong lò sưởi đã làm không khí trong phòng trở nên ngột ngạt. Dẫu vậy, hai cánh cửa vẫn gần như chạm vào nhau. Đó là nơi Coralie đang chăm chú nhìn, và cũng chính từ đó, nguy hiểm ào đến.

Ban đầu, Patrice rất muốn chạy ngay đến gần cửa sổ, nhưng anh đã kìm lại được. Mối nguy hiểm đã dần hiện rõ hình thù. Ngoài kia, trong khoảng tranh tối tranh sáng lúc ngày tàn, anh thấy một bóng người lờ mờ đứng sau ô kính nghiêng nghiêng. Rồi anh nhận ra: Giữa hai cánh cửa, một vật gì sáng lóe dưới ánh lửa lập lòe, trông rất giống nòng súng lục.

“Nếu mình còn chần chừ, Coralie sẽ chết mất!” Anh nghĩ. Đúng vậy, cô đang ngồi ngay trước cửa sổ, không có gì che chắn. Vì vậy, anh nói thật to và rõ: “Coralie, em chắc cũng mệt rồi. Chúng ta từ biệt nhé!”

Vừa nói, anh vừa bước vòng qua chiếc ghế cô đang ngồi hòng bảo vệ cô.

Nhưng anh không kịp bước ra giữa cô và khung cửa. Chắc chắn, Coralie cũng đã thấy họng súng lục lóe sáng bên ngoài, vì bất giác, cô lùi lại và lắp bắp: “Ôi, Patrice!... Patrice!...

Hai tiếng nổ vang lên, kế tiếp là một tiếng rên đau đớn. “Em bị thương sao?” Patrice kêu lên và lao đến bên cô. ...”

“Không, không!” Cô nói. “Nhưng tôi sợ...”

“Tên khốn đó đã bắn trúng em chưa?”

“Chưa... chưa...”

“Em chắc chứ?”

Anh mất đến ba, bốn mươi giây để bật đèn, kiểm tra xem Coralie có bị thương hay không và lo lắng chờ cô lấy lại tinh thần. Khi cô đã bình tĩnh trở lại, anh mới lao ra cửa sổ, mở toang hai cánh cửa và trèo ra ban công. Khuê phòng nằm ở lầu một. Trên tường có gắn lam gió khá lớn. Nhưng do chân như vậy, anh gặp khó khăn khi trèo xuống dưới.

Lúc xuống được dưới thềm, chân anh vấp phải thanh ngang của một cái thang bị đổ, đang nằm chỏng chơ trên nền đất. Rồi anh lại đụng phải mấy cảnh sát ở tầng trệt. Một người kêu to: “Tôi thấy có bóng người chạy qua lối này.”

“Lối nào?” Patrice hỏi.

Người cảnh sát đó đang chạy ra phía con ngõ nhỏ bên ngoài căn nhà. Patrice cũng chạy theo. Nhưng đúng lúc đó, ở phía cửa ngách, anh nghe thấy có tiếng ré và một giọng nghèn nghẹt kêu lên: “Cứu!... Cứu với!”

Khi Patrice đến gần, người cảnh sát đã chiếu đèn xuống đất, và cả hai đều thấy có một người đang quằn quại trong một lùm cây.

“Cửa mở!” Patrice hét lên. “Tên giết người đã trốn ra ngoài! Mau đuổi theo!”

Người cảnh sát khuất dạng trong con ngõ nhỏ, còn Ya-Bon cũng xuất hiện ngay lập tức. Patrice liền ra lệnh: “Nào, nhanh lên, Ya-Bon!... Anh cảnh sát chạy lên đầu trên, cậu mau chạy xuống đầu dưới con ngõ. Nhanh! Để tôi chăm sóc nạn nhân cho!”

Vừa nói, Patrice vừa cúi người xuống, chiếu cây đèn anh cảnh sát bỏ lại vào người đàn ông đang nằm lăn lộn trên nền đất. Anh nhận ra nạn nhân chính là già Siméon, đã suýt chết ngạt, với một dây lụa đỏ quấn xung quanh cổ.

“Ông thấy thế nào?” Patrice hỏi. “Ông có nghe thấy tôi nói gì không?”

Patrice gỡ sợi dây ra và nhắc lại câu hỏi. Siméon ú ở một tràng những tiếng rời rạc, rồi bất ngờ hát và cười phá lên. Tiếng cười khe khẽ, giật cục, xen lẫn với những tiếng nấc. Ông ta đã phát điên.

Lúc ngài Desmalions quay lại, Patrice kể hết mọi chuyện cho ngài nghe.

“Thưa ngài, ngài thật sự tin rằng mọi chuyện đã kết thúc rồi ư?” Anh hỏi.

“Phải, anh nói đúng, còn tôi đã sai rồi.” Ngài Desmalions thú nhận. “Chúng ta phải thận trọng để bảo vệ sự an toàn cho bà Essarès. Ngôi nhà này sẽ được canh gác suốt cả đêm.”

Vài phút sau, người cảnh sát và Ya-Bon quay lại sau cuộc tìm kiếm không có kết quả. Họ tìm thấy chiếc chìa khóa dùng để mở cửa ngách nằm lăn lóc trên con ngõ nhỏ. Nó giống hệt với chiếc chìa khóa Patrice đang cầm, cũng cũ kĩ và han gỉ y như thế. Tên sát thủ đã đánh rơi nó trong lúc bỏ trốn.

Bảy giờ tối, Patrice và Ya-Bon rời ngôi nhà ở đường Raynouard và quay về khu phố Neuilly. Như thường lệ, Patrice vịn vào cánh tay của anh chàng người Sénégal, tựa vào người anh ta để bước đi, và nói: “Tôi đoán được suy nghĩ của cậu đấy, Ya-Bon ạ.”

Ya-Bon ồm ồm trong cổ họng ra điều đồng ý.

“Đúng rồi!” Đại úy Belval nói, giọng tán thành. “Chúng ta luôn nhất trí với nhau về mọi việc. Điều làm cậu lo lắng nhất lúc này là năng lực quá kém của phía cảnh sát, đúng không? Cậu nói thế nào nhỉ, đám bị thịt à? Nhưng mà nói như vậy là tinh tướng và xấc xược lắm đấy, Ya-Bon ạ. Tôi cũng chẳng ngạc nhiên nếu những lời đó thốt ra từ cậu, nhưng cậu vẫn đáng bị phạt lắm! Nhưng thôi, giờ không phải lúc nói chuyện đó. Dù cậu có nói gì đi chăng nữa, cảnh sát vẫn làm mọi việc trong khả năng của mình, ấy là chưa kể, trong lúc chiến tranh loạn lạc thế này, họ có nhiều việc đáng để làm hơn là quan tâm đến mối liên hệ bí hiểm giữa bà Essarès và Đại úy Belval. Vì thế, chính tôi mới là người phải hành động và tôi chẳng trông cậy được vào ai ngoài chính bản thân mình. Chậc, tôi đang tự hỏi không biết mình có đủ sức để chiến đấu với đám địch thủ ghê gớm như vậy không? Nghĩ đến cái tay dám cả gan quay lại ngôi nhà trong lúc cảnh sát vẫn đang canh gác xung quanh, ngang nhiên bắc thang lên nghe trộm câu chuyện giữa tôi và ngài Desmalions - chắc chắn là vậy - rồi cả chuyện giữa tôi và Mẹ Coralie nữa, và cuối cùng là tặng chúng tôi luôn hai phát súng lục mà tôi rùng cả mình! Cậu bảo sao? Tôi là người thích hợp để làm việc này à? Liệu toàn thể cảnh sát Pháp, hiện đang làm việc quá sức, có đến trợ giúp tôi không? Không, người mà tôi cần để giúp tôi làm sáng tỏ một vụ việc phức tạp cỡ này phải là một người đặc biệt phi thường, một người hội tụ toàn bộ những phẩm chất cần thiết, nói tóm lại, là một người chưa ai gặp bao giờ.”

Patrice tì mạnh hơn vào cánh tay của người bạn đường tận tụy. “Này, cậu quen biết rất rộng, lại toàn người giỏi, thế cậu có biết ai giống thế không? Một thiên tài? Một á thần?”

Ya-Bon lại ồm ồm trong cổ họng, vẻ rất hớn hở và rút tay ra. Anh ta luôn mang theo mình một cây đèn điện nhỏ. Anh ta bật đèn lên, ngậm phần quai xách vào mồm. Anh ta lại lấy trong túi áo ra một mẩu phấn.

Dọc theo con phố là một bức tường trát vữa bẩn thỉu, bị mưa nắng làm cho đen đúa. Ya-Bon dừng lại trước bức tường, giơ đèn cho sáng và cố gắng nguệch ngoạc lên trên tường mấy chữ bằng cánh tay còn lại và cũng là tay không thuận. Anh ta viết rất khó nhọc, cứ như mỗi chữ cái làm tiêu tốn của anh ta không biết bao nhiều sức lực và tất cả những con chữ đó là thứ duy nhất anh ta viết được và nhớ được. Sau một hồi loay hoay, anh ta đã viết xong hai từ mà Patrice lập tức đọc được ngay: Arsène Lupin.

“Arsène Lupin.” Patrice thở hắt ra và tròn mắt nhìn Ya-Bon đầy vẻ sửng sốt. “Cậu điên đấy à? Arsène Lupin là sao? Cậu định giới thiệu Arsène Lupin với tôi à?”

Ya-Bon gật đầu.

“Arsène Lupin? Cậu biết ông ta à?”

“Đúng!” Ya-Bon khẳng định.

Patrice chợt nhớ ra: Hồi còn nằm viện, anh chàng Sénégal này từng bắt những đồng chí tốt bụng của mình đọc thật to tất cả những câu chuyện về các cuộc phiêu lưu của Arsène Lupin cho mình nghe. Anh cười chế nhạo: “Phải rồi, cậu biết ông ta qua những câu chuyện mà cậu đọc được.”

“Không!” Ya-Bon phản đối.

“Cậu biết ông ta ngoài đời à?”

“Đúng!”

“Thôi đi! Ngốc vừa chứ! Arsène Lupin chết rồi. Ông ta đã nhảy từ một mỏm đá xuống biển [13] , vậy mà cậu còn làm bộ biết ông ta á?”

“Thật!”

“Ý cậu là cậu từng gặp ông ta từ khi ông ta chết á?”

“Đúng!”

“Chúa ơi! Sức ảnh hưởng của ngài Ya-Bon to đến độ Arsène Lupin đã tự tử phải đội mồ sống dậy và tới trình diện khi ngài Ya-Bon ra hiệu cơ đấy!”

“Đúng!”

“Này! Bình thường tôi vẫn đánh giá cao cậu lắm nhưng chuyện này thì thôi đi! Bạn của Arsène Lupin quá cố á? Sang thật! Thế mất bao lâu bóng ma của ông ấy mới tới giúp cậu đây? Sáu tháng? Ba tháng? Một tháng? Hay mười lăm ngày?”

Ya-Bon ra hiệu.

“Khoảng mười lăm ngày à?” Đại úy Belval nhìn Ya-Bon ra hiệu và đoán.

“Hay lắm, gọi cả hồn người bạn đã chết lên cơ đấy! Tôi sẽ rất vinh dự khi được làm quen với ông ta. Chỉ có điều, tôi thề, ý tưởng của cậu rất dở khi cho rằng tôi cần có người giúp. Thế tức là cậu cho rằng tôi là một thằng bất tài đần độn phỏng?”

« Lùi
Tiến »