Đại sảnh chạy từ đường Raynouard dẫn đến phần sân vườn cao nhất trong khu vườn của ngôi nhà này có một cầu thang rộng ở giữa, chiếm tới gần nửa sảnh, chia ngôi nhà thành hai phần với chỗ thông nhau duy nhất chính là đại sảnh đó.
Phía bên trái ngôi nhà là phòng khánh tiết và thư phòng kế đến là một khu nhỏ biệt lập có cầu thang riêng. Phía bên phải là phòng chơi bi a và phòng ăn, hai phòng này đều có trần thấp. Trên hai căn phòng đó là phòng ngủ của Essarès và Coralie. Phòng của Essarès nhìn ra mặt đường, còn phòng của Coralie nhìn ra vườn. Cách khu này một đoạn là chái dành cho người làm, già Siméon cũng ngủ ở đó.
Phía cảnh sát yêu cầu Patrice và anh chàng người Sénégal a sang phòng chơi bi a để chờ. Anh ngồi trong đó được chừng mười lăm phút thì đến lượt Siméon và chị hầu phòng được đưa vào.
Người thư ký già có vẻ vẫn chưa hoàn hồn sau cái chết của ông chủ, ông ta thều thào, vừa nói vừa làm ra vẻ rất kỳ quặc. Khi Patrice hỏi chuyện, ông ta nói thầm vào tai anh: “Chuyện vẫn chưa xong đâu... Vẫn phải biết sợ... Vẫn phải cẩn thận đấy!... Hôm nay... ngay hôm nay... chẳng mấy chốc...”
“Chẳng mấy chốc ấy ạ?” Patrice hỏi.
“Đúng... đúng.” Ông già run rẩy nói.
Rồi ông ta không nói thêm gì nữa. Còn chị người hầu khi được Patrice hỏi thì kể:
“Thưa ông, mới mở mắt tôi đã thấy có điều lạ rồi. Trong nhà không có quản gia, không có hầu phòng, cũng chẳng có gác cổng. Cả ba đều đi đâu mất. Rồi đến lúc sáu giờ rưỡi, ông Siméon đến dặn chúng tôi rằng ông chủ muốn ở trong thư phòng một mình, không được làm phiền, thậm chí cũng không cần mang bữa sáng lên cho ông. Bà chủ thì hơi mệt. Chúng tôi mang cho bà sô cô la lúc chín giờ... Lúc mười giờ, bà ra ngoài cùng ông Siméon. Rồi, sau khi dọn dẹp xong các phòng ngủ, chúng tôi cứ ở dưới bếp suốt. Đến lúc chuông đồng hồ điểm mười một giờ, chúng tôi nghe có tiếng chuông dưới cổng. Tôi nhìn qua cửa sổ. Tôi thấy có một chiếc ô tô cùng bốn quý ông. Tôi xuống mở cửa ngay. Ông Cảnh sát trưởng tự giới thiệu và nói muốn gặp ông chủ. Tôi dẫn họ đến thư phòng. Cửa thư phòng khóa trái. Chúng tôi gõ cửa nhưng không có ai trả lời. Cuối cùng, một người trong nhóm các quý ông đó không biết làm cách gì đã phá được khóa... Sau đó... sau đó... ông cũng biết chúng tôi nhìn thấy cảnh gì rồi... Còn kinh khủng hơn thế này nhiều vì ông chủ tội nghiệp của chúng tôi lúc đó gần như chui đầu hoàn toàn dưới vỉ lò... Trời cao đất dày ơi! Còn có loại người nào khốn nạn hơn thế nữa không?... Chúng giết ông ấy dã man đến như vậy! Có một ông cảnh sát nói ngay rằng ông chủ chết vì bị đột quỵ và ngã vào lò lửa. Nhưng tôi tin chắc...”
Già Siméon nghe chị người hầu kể chuyện nhưng không nói một lời, ông ta vẫn quấn khăn che kín nửa mặt, chỉ lộ ra ít râu tóc đã ngả màu muối tiêu, mắt giấu sau cặp kính vàng khè. Nhưng nghe đến đó, ông ta cười khùng khục một tiếng rồi đứng dậy, lại gần Patrice và nói thầm vào tai anh: “Vẫn phải biết sợ... biết sợ! Phải cẩn thận... mọi thứ... Bà Coralie... Đưa bà ấy đi ngay... ngay lập tức... Nếu không, bà ấy sẽ gặp nguy, còn tệ hơn thế này...”
Đại úy rùng mình và cố hỏi kĩ hơn, nhưng chẳng được gì. Chưa kể, khi đó có một viên cảnh sát đến tìm già Siméon và đưa ông ta đến phòng thư viện.
Người ta thẩm vấn ông ta khá lâu. Sau đó, đến bà đầu bếp và chị hầu phòng. Rồi cuối cùng là Coralie, cô được thẩm vấn ngay trong phòng của mình. Đến bốn giờ chiều, một chiếc ô tô nữa đến. Patrice thấy có hai quý ông bước vào đại sảnh, mọi người cúi đầu rất thấp chào họ. Đó là ngài Bộ trưởng Bộ Tư pháp và ngài Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Bọn họ cùng vào trong thư phòng họp suốt nửa giờ rồi lại ra về.
Cuối cùng, lúc gần năm giờ, một viên cảnh sát đến tìm Patrice và dẫn anh lên lầu một. Viên cảnh sát gõ cửa rồi bước tránh sang một bên. Patrice bước vào một khuê phòng nhỏ, được thắp sáng nhờ ngọn lửa cháy trong lò sưởi, trong phòng có hai người: Coralie và ngồi đối diện cô là người đã nói chuyện với anh lúc anh mới đến, có vẻ ông này là người chỉ đạo toàn bộ quá trình điều tra vụ án. Đó là một quý ông tuổi độ ngũ tuần, dáng người bệ vệ, mặt hơi nặng nề, cử động có phần hơi chậm chạp nhưng đôi mắt rất sáng, ánh lên vẻ thông minh, nhanh nhẹn.
Patrice cúi người chào Coralie và quay sang hỏi người đàn ông đó: “Ngài đây là ngài dự thẩm, phải không ạ?”
“Không!” Người đó đáp. “Tôi là Desmalions, một thẩm phán đã về hưu, được đặc phái đến làm sáng tỏ vụ án này, nhưng không phải để điều tra như anh nghĩ đâu, bởi tôi chẳng thấy có gì phải điều tra cả.”
“Sao cơ?” Patrice kinh ngạc kêu lên. “Không có gì để điều tra ư?”
Anh đưa mắt nhìn Coralie. Cô cũng nhìn anh chăm chú. Rồi cô quay về phía ngài thẩm phán, còn ngài Desmalions nhắc lại: “Tôi không có điểm gì để nghi ngờ cả, Đại úy Belval ạ. Chúng tôi đã nói những gì cần phải nói, và đều đồng ý với nhau ở mọi điểm... như bà đây và tôi cùng thống nhất.”
“Tôi không nghi ngờ điều đó.” Patrice đáp. “Chỉ có điều, tôi e rằng vẫn còn rất nhiều điều chưa được làm rõ.”
“Tất nhiên rồi, nhưng chúng ta sẽ tìm ra sự thật - cùng với nhau. Anh có thể nói cho tôi những gì anh biết được không?”
Patrice suy nghĩ một lúc rồi nói: “Tôi xin thú thật, tôi rất ngạc nhiên, thưa ngài. Chuyện tôi sắp kể đây khá quan trọng; có điều, ở đây chẳng ai có thể làm chứng cả. Như vậy, nó sẽ không được tính là một lời khai báo có tuyên thệ, hay lời cung khai mà tôi phải ký xác nhận, phải không ạ?”
“Đại úy ạ, chính anh mới là người quyết định giá trị của những lời anh sắp nói và cả những kết quả mà chúng đưa lại nữa. Tại thời điểm này, chúng ta sẽ coi đây là một cuộc trao đổi sơ bộ, một cuộc trao đổi về các quan điểm liên quan đến vụ việc... mà bà Essarès đã cung cấp thông tin cho tôi, và tôi chắc rằng chúng cũng tương đồng với những gì anh sắp nói với tôi.”
Patrice không trả lời ngay. Anh có cảm giác mơ hồ rằng giữa Coralie và ngài thẩm phán đã có những trao đổi và đồng thuận riêng, và theo đó, anh cùng sự hiện diện lẫn lòng sốt sắng của anh chỉ đóng vai một kẻ không mời mà đến và họ rất mừng nếu tống khứ được anh đi. Vì thế, anh quyết định sẽ im lặng và quan sát cho đến khi hiểu được ý đồ của ngài thẩm phán.
“Vâng, tất nhiên!” Anh đáp. “Tôi dám chắc bà đây đã khai hết với ngài mọi điều. Vậy, hẳn là ngài đã biết về cuộc trao đổi mà tôi tình cờ nghe được ở nhà hàng rồi chứ ạ?”
“Đúng vậy!”
“Cả ý định bắt cóc bà Essarès nữa?”
“Đúng!”
“Và cả vụ ám sát?...”
“Phải!”
“Bà Essarès chắc cũng đã kể cho ngài về vụ làm tiền mà ông Essarès là nạn nhân, xảy ra ngay tại đây vào đêm hôm qua, chi tiết vụ tra tấn, cái chết của tên Đại tá, việc trao đổi bốn triệu franc, rồi cuộc điện thoại giữa ông Essarès với một người tên là Grégoire nào đó, cuối cùng là cả những lời ông ấy đe dọa vợ mình?”
“Vâng, tôi đã biết hết những điều đó, thưa Đại úy Belval, tôi đã biết tất cả những gì anh biết; và tôi còn biết thêm cả những điều do tôi tự điều tra được.”
“Vâng, vâng, dĩ nhiên rồi.” Patrice nhắc lại. “Tôi thấy câu chuyện của mình thật thừa thãi, và ngài đã có đủ dữ kiện cần thiết để rút ra kết luận.” Và, để không phải trả lời câu hỏi nào, anh hỏi thêm một câu: “Liệu tôi có thể hỏi ngài đã đi đến kết luận gì không ạ?”
“Ồ, thú thật với anh, thưa Đại úy, tôi vẫn chưa có kết luận chắc chắn. Tuy nhiên, cho tới khi thu thập thêm được những bằng chứng chứng minh điều ngược lại, tôi xin phép được hài lòng với vật chứng là bức thư của ông Essarès viết cho vợ vào khoảng mười hai giờ trưa hôm nay. Chúng tôi thấy nó nằm trên bàn làm việc của ông ấy, thư vẫn đang viết dở. Bà Essarès đã nhờ tôi đọc và, nếu cần, cho anh biết nội dung cũng được. Anh nghe nhé.”
Ngài Desmalions giở lá thư ra và đọc to:
“Trưa ngày mùng Bốn tháng Tư,
Coralie,
Hôm qua, em đã nhầm khi gán cho chuyến đi của tôi những lý do đáng xấu hổ và có lẽ tôi cũng đã sai khi không tự bảo vệ mình mạnh mẽ hơn trước những lời buộc tội của em. Động cơ duy nhất khiến tôi phải ra đi là những ân oán đang bủa vây lấy mình. Em cũng đã chứng kiến độ tàn khốc của chúng. Trước những kẻ thù luôn sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn để cướp hết những gì tôi có, tôi chỉ còn một con đường duy nhất là bỏ trốn mới mong được an toàn. Vì thế, tôi mới phải ra đi.
Nhưng hãy để tôi nhắc lại cho em thật rõ ràng mong muốn cấp bách của mình, Coralie ạ. Em phải đi cùng tôi ngay khi nhận được thông báo đầu tiên. Nếu em không rời khỏi Paris, không gì có thể đảm bảo an toàn cho em, kể cả cái chết của tôi. Tôi đã thu xếp tất cả, thậm chí, trong trường hợp xấu nhất thì...”
“Bức thư mới viết đến đó.” Ngài Desmalions nói và trả lại thư cho Coralie. “Và chúng tôi có một bằng chứng không thể chối cãi chứng minh dòng thư cuối được viết ngay trước khi ông Essarès qua đời, bởi khi ngã xuống, ông ấy đã làm rơi cả chiếc đồng hồ nhỏ đặt trên bàn làm việc, khiến nó ngừng chạy và đồng hồ dừng lại lúc mười hai giờ hai mươi ba phút. Tôi đặt giả thuyết rằng ông ấy cảm thấy khó chịu, và đã cố đứng dậy, nhưng ông ấy bị choáng và ngã xuống đất. Nhưng thật đáng tiếc, lò sưởi ở ngay gần đấy, lửa trong lò cháy dữ dội; và đầu ông ấy bị đập vào vỉ lò; vết thương rất sâu - khám nghiệm tử thi đã chứng minh điều đó - làm ông ấy ngất xỉu. Thế là ngọn lửa ở ngay đẩy đã làm phần việc của mình... với hậu quả như anh đã thấy...”
Patrice ngây người khi nghe những lời giải thích bất ngờ đó.
“Vậy là theo ngài.” Anh hỏi. “... Ông Essarès đã chết do tai nạn ư? Ông ta không phải bị sát hại ạ?”
“Sát hại? Dĩ nhiên là không rồi! Chúng tôi không có bất kỳ manh mối nào củng cố cho giả thuyết ấy cả.”
“Nhưng….”
“Đại úy Belval ạ, tôi phải nói thật, anh đang là nạn nhân của loạt sự kiện gây ám ảnh đấy, và tôi thấy điều đó hoàn toàn thông cảm được. Hôm qua, anh đã phải chứng kiến hàng loạt những điều kinh khủng xảy đến dồn dập; theo lẽ tự nhiên, trí tưởng tượng của anh sẽ dẫn anh đến thẳng kết luận bi thảm nhất: ông Essarès bị giết. Chỉ có điều... anh thử nghĩ mà xem... Tại sao ông ấy lại bị giết? Và do kẻ nào ra tay? Bournef và đồng bọn ư? Tại sao chứ? Bọn chúng đã ôm một số tiền rất lớn ra khỏi đây cơ mà; và thậm chí, cứ cho rằng tên Grégoire nào đó đã cuỗm lại hết số tiền của bọn chúng, có giết chết Essarès, chúng cũng đâu thể nào lấy lại được tiền. Hơn nữa, chúng vào nhà bằng cách nào? Và làm sao chúng tẩu thoát khỏi đây được?... Không, Đại úy ạ, anh phải thứ lỗi cho tôi, nhưng ông Essarès thật sự đã chết do tai nạn. Sự việc đã quá rõ ràng, không thể chối cãi; và đó cũng là ý kiến của bác sĩ pháp y - ông ấy sẽ trình bày chi tiết lại kết quả khám nghiệm trong báo cáo của mình.”
Patrice quay sang Coralie. “Và đó cũng là ý kiến của bà Essarès a?”
Cô hơi đỏ mặt và đáp: “Vâng!”
“Và cũng là ý kiến của già Siméon sao?”
“Ồ!” Ngài thẩm phán đáp. “Già Siméon đang không được bình thường! Nếu anh nghe lời ông ta, anh sẽ nghĩ mọi chuyện sẽ lại tiếp tục diễn ra y như vừa rồi, và bà Essarès đang bị nguy hiểm, bà ấy phải đi trốn ngay lập tức. Tôi chỉ lấy được ngần ấy thông tin từ ông ta. Tuy nhiên, ông ta cũng dẫn tôi đến một cái cửa ngách trong vườn, cửa đó mở ra một con ngõ nhỏ ngoằn ngoèo dẫn ra đường Raynouard, và chỉ cho tôi xác con chó canh cùng những dấu chân chạy từ cửa vào bậc tam cấp gần thư phòng. Nhưng anh biết rõ những dấu chân đó, đúng không? Chính là dấu chân của anh và anh bạn Sénégal. Còn về con chó canh bị bóp cổ chết, liệu tôi có thể quy tội cho anh bạn Sénégal đó được không nhỉ?”
Patrice bắt đầu hiểu ra. Sự dè dặt trong lời nói của ngài thẩm phán, lời giải thích của ngài, thỏa thuận của ngài với Coralie: tất cả đã dần dần sáng tỏ. Anh hỏi thẳng: “Vậy nghĩa là không có vụ giết người nào?”
“Không!”
“Thế tức là sẽ không phải điều tra gì nữa?”
“Đúng thế!”
“Và mọi chuyện sẽ được giữ kín, không một ai nhắc gì đến việc này nữa; nói tóm lại, tất cả mọi chuyện sẽ đi vào quên lãng?”
“Đúng!”
Theo thói quen, Đại úy Belval đi đi lại lại trong phòng. Anh nhớ lại những lời Essarès đã nói: “Ta sẽ không bị bắt đâu... Nếu có, họ sẽ thả ta ra thôi... Chuyện này sẽ được giữ kín.”
Essarès nói đúng. Công lý đã câm lặng. Và tại sao công lý lại không nhìn ra sự im lặng của Coralie cũng chính là đồng lõa với tội ác?
Vụ việc được giải quyết như thế khiến Patrice nổi cáu. Chắc chắn giữa Coralie và ngài Desmalions đã có một thỏa thuận nào đó. Anh ngờ ngài thẩm phán đã qua mặt Coralie và ép cô phải hy sinh lợi ích của mình vì những lý do nào đó. Và để làm được điều đó, trước hết, phải gạt được anh, Patrice, ra khỏi vụ này.
“Hừ!” Patrice nhủ thầm. “Cái vẻ tỉnh bơ đầy giễu cợt của quý ngài kia làm mình ngứa mắt quá đi mất! Ông ta coi thường mình quá đấy!”
Tuy vậy, anh vẫn cố nhịn, và vờ như muốn giữ hòa khí với ngài thẩm phán, anh đến ngồi cạnh ngài.
“Thưa ngài!” Anh nói. “Xin ngài thứ lỗi cho vì tôi cứ cố nài nỉ ngài theo lối mà có thể với ngài là thiếu khôn ngoan. Nhưng cách hành xử của tôi không phải chỉ vì lòng thương cảm hay cảm tình tôi dành cho bà Essarès vào lúc bà ấy phải chịu cô độc hơn bao giờ hết, lòng thương cảm và chút cảm tình đó của tôi sẽ còn bị bà ấy từ chối mạnh mẽ hơn trước. Tôi làm như vậy còn vì những ràng buộc bí ẩn giữa hai chúng tôi, từ thời điểm đã cách đây quá lâu mà chúng tôi không thể nhớ nổi. Không biết bà Essarès đã cung cấp cho ngài những chi tiết này chưa ạ? Theo thiển ý của tôi, chúng là những chi tiết vô cùng quan trọng; và tôi không khỏi liên kết chúng với chuỗi sự việc đang làm chúng ta phải bận tâm đây.”
Ngài Desmalions liếc nhìn Coralie. Cô gật đầu. Rồi ngài đáp: “Có, bà Essarès đã cho tôi biết, và thậm chí...”
Ngài lại tỏ ra do dự, và một lần nữa đưa mắt sang hỏi dò Coralie. Cô đỏ mặt, thái độ có vẻ đồng tình. Tuy vậy, ngài Desmalions vẫn chờ câu trả lời để có thể tiếp tục câu chuyện. Cuối cùng, cô trầm giọng đáp: “Đại úy Belval có quyền được biết những gì chúng ta vừa phát hiện. Sự thật thuộc về cả anh ấy và tôi; và tôi không được phép giấu anh ấy. Ngài cứ nói cho Đại úy biết.”
Ngài Desmalions lên tiếng: “Tôi thấy việc này có lẽ không cần phải nói. Tôi nghĩ chỉ cần cho Đại úy xem cuốn album ảnh mà tôi tìm được là đủ rồi. Đây, Đại úy Belval, hãy cầm lấy.”
Và ngài đưa cho Patrice một quyển album rất mỏng, bên ngoài bọc vải dù màu xám và buộc bằng dây chun.
Patrice cầm lấy, lòng gợn vẻ lo âu. Nhưng vừa giở cuốn album ra, anh đã bất ngờ đến mức phải buột miệng thốt lên: “Không thể tin nổi!”
Ở trang đầu tiên, có hai tấm ảnh: Tấm bên phải chụp một cậu bé mặc áo khoác ngắn, đồng phục trường Eton - một trường dành cho trẻ em con nhà quý tộc ở Anh; tấm bên trái là ảnh của một bé gái còn nhỏ xíu. Dưới mỗi bức ảnh đều có đề chữ. Tấm ảnh bên phải có ghi: “Patrice, mười tuổi” ; còn tấm bên trái đề: “Coralie, ba tuổi”.
Xúc động không sao tả xiết, Patrice vội vã lật trang kế tiếp. Trang thứ hai cũng lại là ảnh của hai người, anh lúc mười lăm tuổi, còn Coralie lúc tám tuổi. Và anh thấy ảnh của mình lúc mười chín, hai mươi ba và hai mươi tám tuổi; luôn luôn đi cùng ảnh của Coralie, từ lúc còn là một cô bé cho đến khi thành thiếu nữ, và thành một thiếu phụ.
“Thật không thể tin nổi!” Anh kêu lên. “Làm sao chuyện này xảy ra được? Đây là những tấm ảnh của tôi mà ngay chính tôi cũng không hề hay biết! Rõ ràng là ảnh chụp nghiệp dư, ghi lại toàn bộ cuộc đời tôi. Đây là tôi lúc đang được huấn luyện trong quân ngũ... Đây là tôi đang cưỡi ngựa... Ai đã ra lệnh chụp những tấm ảnh này? Và ai đã lưu chúng lại với ảnh của bà, thưa bà?”
Anh chằm chằm nhìn vào mắt Coralie, còn cô lại tìm cách tránh cái nhìn dò hỏi của anh và cúi mặt xuống, cứ như mối liên kết gần gũi giữa họ - được những trang album này chứng giám - đã khiến cô xáo động đến tận sâu trong đáy lòng.
Anh hỏi lại: “Ai có thể lưu giữ chúng cùng nhau thế này? Bà có biết điều đó không? Và cuốn album này ở đâu ra vậy?”
Ngài Desmalions trả lời: “Là ngài bác sĩ pháp y đã tìm thấy nó. Cuốn album được ông Essarès cất trong túi áo lót của mình, chiếc túi được khâu phía bên trong áo. Lúc khám nghiệm tử thi, bác sĩ pháp y đã sờ thấy phần bìa cứng.”
Lần này, Patrice và Coralie đưa mắt nhìn nhau. Ý nghĩ chính Essarès đã thu thập ảnh của họ suốt hơn hai mươi năm nay, lúc nào cũng kè kè giữ ngay bên ngực và ông ta đã sống và chết cùng những bức ảnh ấy khiến cả hai người choáng váng, đến độ không ai còn đủ tỉnh táo để tìm hiểu điều kỳ lạ đó nữa.
“Ngài có chắc về những gì mình vừa nói không, thưa ngài?” Patrice hỏi.
“Chắc chắn!” Ngài Desmalions trả lời. “Tôi đã tận mắt theo dõi cuộc khám nghiệm. Ngoài ra, chính tôi đã tìm được một vật khác nữa. Vật ấy đã giúp khẳng định và hoàn thiện điều này theo lối rất lạ lùng. Đó là một mặt dây chuyền được cắt ra từ một khối thạch anh tím, có bọc vàng chạm hoa văn.”
“Ngài nói sao?” Đại úy Belval kêu lên. “Vật gì cơ? Một mặt dây chuyền? Một mặt dây chuyền bằng thạch anh tím ạ?”
“Anh hãy tự xem nhé.” Ngài Desmalions đề nghị, sau khi liếc sang hỏi ý kiến bà Essarès lần nữa.
Rồi ngài đưa cho Patrice một mặt dây chuyền bằng thạch anh tím, lớn hơn viên thạch anh ghép từ hai nửa của Patrice và Coralie. Phần bọc vàng bao xung quanh mặt dây cũng chạm cùng một kiểu hoa văn y hệt như ở nửa viên gắn trên chuỗi mân côi và nửa viên trên dây đồng hồ.
Đây là mặt dây chuyền có thể gắn ảnh bên trong, phần bọc vàng đồng thời cũng là chốt cài.
Patrice hỏi: “Tôi có nên mở ra không?”
Coralie gật đầu. Anh mở ra. Bên trong được ngăn đôi nhờ một đĩa pha lê có thể dịch chuyển được, mỗi bên có hai tấm ảnh nhỏ xíu, một bên là ảnh Coralie trong trang phục y tá, một bên là ảnh Patrice trong quân phục sĩ quan, lúc anh đã bị cưa chân.
Patrice suy nghĩ hồi lâu, mặt tái nhợt. Rồi anh hỏi: “Vậy mặt dây chuyền này từ đâu mà có thể ạ? Chính ngài đã tìm thấy nó ư, thưa ngài thẩm phán?”
“Đúng vậy, Đại úy Belval ạ.”
“Ở đâu vậy?”
Ngài thẩm phán có vẻ đắn đo. Nhìn thái độ của Coralie khi đó, Patrice có cảm giác cô không hề biết chuyện này. Cuối cùng, ngài Desmalions trả lời: “Tôi tìm thấy nó trong tay người đã chết.”
“Trong tay người đã chết ư? Trong tay của ông Essarès sao ạ?”
Patrice giật nẩy mình, cứ như bất ngờ bị lãnh trọn một cú thôi sơn. Anh nhoài hẳn người tới sát ngài thẩm phán, tha thiết chờ đợi câu trả lời mà anh muốn nghe lần nữa, trước khi chấp nhận đó là sự thật.
“Đúng vậy, trong tay của người đã chết. Tôi đã phải cố kéo các ngón tay co quắp đã cứng lại để gỡ được nó ra.”
Đại úy đứng dậy, đấm tay xuống mặt bàn và kêu lên: “Nếu đã vậy, tôi sẽ kể cho ngài biết một điều tôi vốn định giữ làm lý lẽ cuối cùng, hòng chứng minh cho ngài thấy sự cộng tác của tôi không phải là thừa; và điều này còn trở nên cực kỳ quan trọng sau những gì chúng ta vừa khám phá. Sáng nay, có một người nào đó đã gọi điện cho tôi, chúng tôi chưa kịp nói chuyện cho ra đầu ra đũa thì người ấy - vốn rất gấp gáp - đã trở thành nạn nhân của một vụ giết người, căn cứ theo những gì tôi nghe được từ đầu dây bên kia. Và, giữa tiếng vật lộn cùng những tiếng thét đau đớn, tôi nghe được mấy từ mà người bất hạnh ấy đã cố hết sức để trăng trối với tôi: “Quá muộn rồi... Patrice... Patrice đấy à?... Nghe này, mặt dây chuyền thạch anh tím... Phải, ta đang cầm... mặt dây chuyền... Muộn mất rồi... Ta rất muốn... Patrice... Coralie... Patrice... Patrice...” Đó là những gì tôi nghe được, thưa ngài, và đó là hai việc chúng ta nhất định không được bỏ qua. Ngay sáng nay, lúc bảy giờ mười chín phút, có một người đã bị sát hại, người này giữ bên mình mặt dây chuyền bằng thạch anh tím. Việc này là dữ kiện không thể bác bỏ được thứ nhất. Vài giờ sau, lúc mười hai giờ hai mươi ba phút trưa nay, người ta lại tìm thấy mặt dây chuyền thạch anh đó trong tay của một người khác. Việc này là dữ kiện không thể bác bỏ được thứ hai. Đặt hai dữ kiện này lại cùng nhau mà xem! Ngài sẽ phải kết luận rằng vụ án thứ nhất, vụ án mà tôi chỉ nghe được những âm thanh không rõ ràng vọng lại từ đầu dây điện thoại bên kia, đã xảy ra ngay tại đây, ở ngay tòa nhà này, trong chính thư phòng kia, cũng là nơi diễn ra tấn thảm kịch mà chúng ta đang bàn luận đây suốt từ tối hôm qua, từ đầu chí cuối.”
Điều Patrice mới tiết lộ - và thực tế, là một lời cáo buộc chống lại Essarès - dường như đã tác động mạnh đến ngài thẩm phán. Anh hăng hái lao vào cuộc tranh luận với sự dữ dội và lập luận chặt chẽ đến mức khó lòng loại bỏ nếu không có bằng chứng rõ ràng.
Coralie hơi nghiêng người đi chỗ khác nên Patrice không thể nhìn thấy mặt cô, nhưng anh ngờ rằng cô đang bàng hoàng trước những điều ô nhục và đáng hổ thẹn đang hiện hữu.
Ngài Desmalions phản đối: “Anh nói hai dữ kiện trên không thể bác bỏ được, phải không, thưa Đại úy? Về dữ kiện thứ nhất, tôi xin phép lưu ý với anh rằng chúng tôi không tìm thấy thi thể của người mà theo lời anh nói, đã bị sát hại vào lúc bảy giờ mười chín phút sáng nay.”
“Rồi chúng ta sẽ tìm thấy.”
“Được thôi. Về dữ kiện thứ hai: Như đã nói, mặt dây chuyền bằng thạch anh tím này được tìm thấy trong tay ông Essarès, ai dám chắc ông Essarès của chúng ta đã lấy mặt dây chuyền trong tay người bị sát hại kia chứ không phải từ một chỗ khác? Bởi, xét cho cùng, chúng ta thậm chí còn không biết liệu ông ta có ở nhà vào thời điểm đó hay không, huống hồ là có ở trong thư phòng hay không.”
“Nhưng tôi biết rõ.”
“Làm sao anh biết được?”
“Chỉ mấy phút sau, tôi đã gọi lại ngay cho người vừa gọi tôi khi trước, và người bắt máy chính là ông Essarès. Hơn nữa, ông ta còn nói rằng chính ông ta đã gọi cho tôi nhưng bị ngắt máy bất ngờ.”
Ngài Desmalions suy nghĩ một lát rồi hỏi: “Sáng nay ông ta có đi ra ngoài không?”
“Điều này ngài phải hỏi bà Essarès.”
Coralie trả lời, nhưng không quay người lại; rõ ràng, cô cố ý tránh ánh mắt của Đại úy Belval: “Tôi không nghĩ ông ấy có đi đâu ra ngoài sáng nay. Bộ quần áo ông ấy mặc lúc mất là quần áo mặc nhà mà.”
“Kể từ sau tối hôm qua, bà có gặp ông nhà lúc nào nữa không?”
“Sáng nay, ông ấy đến gõ cửa phòng tôi ba lần, khoảng từ bảy giờ đến chín giờ. Tôi không mở cửa. Đến mười một giờ, tôi đi ra ngoài một mình; tôi nghe tiếng ông ấy bảo ông Siméon đi cùng với tôi. Ông Siméon đuổi kịp tôi lúc tôi ra đến đường cái. Đó là tất cả những gì tôi biết.”
Cả ba người đều im lặng suốt một lúc lâu. Mỗi người theo đuổi dòng suy nghĩ riêng của mình về chuỗi sự việc kỳ lạ kia.
Cuối cùng, ngài Desmalions - lúc này đã nhận ra một người có cá tính như Đại úy Belval không phải là người dễ dàng bị gạt sang một bên - mới lên tiếng với giọng thăm dò đối thủ trước khi thực sự thỏa hiệp: “Chúng ta đi thẳng vào vấn đề nhé, Đại úy. Anh đang đặt ra một giả thuyết mà tôi thấy quá mơ hồ. Chính xác thì anh muốn nói gì? Và anh định sẽ làm gì nếu tôi không chấp nhận giả thuyết ấy? Hai câu hỏi của tôi rất rõ ràng. Anh có muốn trả lời không?”
“Tôi sẽ trả lời, thưa ngài, rõ ràng như câu hỏi của ngài vậy.”
Anh tiến lại gần ngài thẩm phán và nói: “Thưa ngài, đây là nơi tôi chọn làm trận địa và cũng là nơi tiến công - phải, tiến công, nếu cần. Một người từng quen biết tôi, cũng biết cả bà Essarès từ ngày bé, và là người quan tâm đến cả hai chúng tôi, đã lưu giữ ảnh của chúng tôi từ nhỏ đến lớn, và rất yêu thương chúng tôi - vì những lý do nào đó mà tôi không biết, đã gửi cho tôi chiếc chìa khóa cửa ngách trong vườn và cố sắp xếp đưa hai chúng tôi lại gần nhau vì một mục đích nào đó mà đáng lẽ người ấy sẽ nói với chúng tôi khi gặp mặt. Nhưng người ấy lại bị giết đúng vào lúc định tiến hành kế hoạch của mình. Tất cả những chuyện đã xảy ra khẳng định với tôi người ấy bị ông Essarès giết. Vì thế mà tôi quyết định cung cấp cho ngài thông tin vừa rồi, bất kể hậu quả sau này có ra sao. Và thưa ngài, hãy tin tôi, người ta không thể bịt miệng tôi được đâu. Tội luôn có cách để người khác phải nghe mình nói... thậm chí là leo lên nóc nhà để hét to lên sự thật.”
Ngài Desmalions phá lên cười. “Chúa ơi, Đại úy, anh hơi “bốc” quá rồi!”
“Tôi hoàn toàn tỉnh táo và tôi chắc chắn bà Essarès đây cũng sẽ thứ lỗi cho tôi. Bà ấy biết tôi làm gì cũng luôn vì muốn tốt cho bà ấy. Bà ấy biết mọi chuyện với bà ấy sẽ kết thúc nếu vụ án này bị chìm xuống và nếu cơ quan công lý không chống lưng cho bà ấy. Bà ấy biết kẻ thù đang đe dọa mình là những kẻ máu lạnh. Chúng sẽ không bao giờ dừng lại khi chưa đạt được mục tiêu và chưa trừ khử được bà ấy, vì bà ấy cản đường bọn chúng. Và điều đáng sợ hơn hết thảy là ngay cả những người tinh anh nhất cũng không nhìn ra được mục tiêu của bọn chúng. Chúng ta đang đối đầu với kẻ thù trong một ván cờ khốc liệt nhưng lại không biết mình phải đặt cược những gì. Chỉ có cảnh sát mới có thể làm rõ mà thôi.”
Ngài Desmalions im lặng chờ đợi thêm giây lát rồi đặt tay lên vai Patrice và nói, giọng rất điềm tĩnh: “Vậy, nếu cơ quan công lý đã biết phần đặt cược đó là gì thì sao?”
Patrice kinh ngạc nhìn ngài. “Sao? Ý ngài là ngài đã biết ư?”
“Chắc vậy.”
“Vậy ngài có thể nói cho tôi biết được không
“Chết tiệt! Anh đang ép tôi đấy...”
“Ý ngài là...?”
“Ồ, chẳng có gì to tát cả! Chuyện vặt thôi!”
“Chuyện vặt kiểu gì mới được?”
“Một tỷ franc.”
“Một tỷ?”
“Chỉ thế thôi. Một tỷ franc, trong đó, hai phần ba, nếu không phải là ba phần tư - rất đáng tiếc - đã bị đưa ra khỏi nước Pháp từ trước chiến tranh. Nhưng vẫn còn hai trăm năm mươi hoặc ba trăm triệu, và chỗ này còn đáng giá hơn cả một tỷ, bởi vì..”
“Vì sao?”
“Chúng là vàng.”