Arsène Lupin Tái Xuất

Lượt đọc: 148 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 3
người lạ mặt

Nhưng đó vẫn chưa phải là cái chết. Trong cơn hấp hối hiện thời, những gì còn vương lại trong ý thức của Patrice là cuộc sống trong thực tại và cuộc sống trong tưởng tượng - nơi anh thấy mình đang hiện hữu, nơi thuộc về cái chết. Hai thế giới ấy đan xen, lẫn lộn vào nhau, hệt như một cơn ác mộng.

Trong thế giới ấy, Coralie không còn tồn tại nữa; mất đi Coralie làm anh tan nát cõi lòng. Nhưng dường như anh nghe thấy và nhìn thấy ai đó đang hiện diện, bóng người lờ mờ thoáng qua trước màn mi đã khép của anh.

Anh đồ rằng người đó mang dáng vẻ của Siméon, đến để kiểm tra xem các nạn nhân của lão đã chết chưa, bắt đầu bằng việc mang Coralie đi, rồi quay lại với Patrice, rồi cũng vác anh đi và đặt xuống một nơi nào đó. Tất cả những điều ấy rõ ràng đến độ Patrice phải tự hỏi có phải anh đã tỉnh lại rồi không...

Vài giờ tiếp theo lại trôi qua... hay chỉ vài giây thôi nhỉ? Cuối cùng, Patrice cảm thấy mình lại chìm vào giấc ngủ, nhưng là một giấc ngủ nơi địa ngục, và phải chịu màn tra tấn triền miên cả về thể xác lẫn tinh thần dành cho những linh hồn bị đày đọa. Anh quay trở lại nơi đáy vực tối tăm, nơi anh cố hết sức thoát ra, hệt như một người bị rơi xuống biển và tìm mọi cách để ngoi lên mặt nước. Anh chật vật vượt qua từng tầng nước, hết tầng này đến tầng khác, sức nặng của những tầng nước ấy làm anh ngạt thở. Anh nhất định phải ngoi lên, tay chân bám chặt vào những thứ trơn tuột, những chiếc thang dây không có điểm tựa trôi bên dưới anh.

Trong lúc đó, bóng tối dần dần loãng ra. Đã có chút ánh sáng ban ngày le lói lẫn trong bóng tối. Patrice thấy áp lực đè lên mình đã vơi đi rất nhiều. Anh he hé mắt, hít vào một, hai hơi, và nhìn xung quanh. Cảnh tượng trước mắt làm anh kinh ngạc: Anh đang nằm trên một chiếc xô pha ở ngoài trời, gần đó là một cánh cửa mở toang. Anh thấy bên cạnh mình là Coralie, đang nằm trên một chiếc xô pha khác. Cô giãy giụa không ngừng và dường như đang rất đau đớn.

“Cô ấy đang cổ ngoi lên khỏi vực thẳm.” Patrice nghĩ. “Cũng giống như mình, cô ấy đang dốc sức vùng vẫy. Ôi, Coralie tội nghiệp của mình!”

Giữa họ có một chiếc bàn nhỏ, trên bàn có hai cốc nước. Khát đến cháy họng, anh cầm lấy một cốc. Nhưng anh không dám uống.

Đúng lúc ấy, có một người bước qua ô cửa đang mở, Patrice nhận ra đó là cửa ra vào của căn nhà nhỏ. Anh thấy đó không phải là lão Siméon như mình vẫn tưởng mà là một người lạ anh chưa từng gặp bao giờ.

Anh tự nhủ: “Mình không mơ ngủ, mình chắc chắn mình không mơ ngủ và người lạ mặt kia ắt hẳn là một người bạn.” Anh cố nói to điều đó để thêm phần chắc chắn. Nhưng anh không đủ sức.

Tuy vậy, người lạ mặt đã lại gần anh và nhẹ nhàng nói: “Đừng phí sức làm gì, Đại úy. Hai người giờ đã ổn cả rồi. Đây, anh hãy uống đi.”

Người lạ mặt đưa cho anh một cốc nước; Patrice uống một hơi cạn sạch, không chút nghi ngờ, và anh lấy làm mừng khi thấy Coralie cũng uống.

“Vâng, tôi đã khỏe lại rồi.” Patrice nói. “Chúa ơi! Thật hạnh phúc biết bao khi còn được sống! Coralie vẫn còn sống, có phải không ạ?”

Anh không nghe thấy câu trả lời và lại chìm vào một giấc ngủ ngon.

Khi tỉnh dậy, cơn khủng hoảng đã chấm dứt, nhưng anh vẫn cảm thấy ong ong trong đầu và khó hít thở sâu. Dẫu vậy, anh vẫn đứng dậy và nhận ra tất cả những gì anh cảm nhận hoàn toàn là thật. Anh đang ở ngoài cửa của căn nhà nhỏ, Coralie đã uống cốc nước trên bàn và cô đang say ngủ. Anh nhắc lại thật lớn tiếng: “Thật hạnh phúc biết bao khi còn được sống!”

Anh thấy mình cần phải làm một điều gì đó, nhưng anh không dám bước vào trong căn nhà, dù cửa đang mở. Anh tránh xa cánh cửa, anh đi quanh nhà nguyện nơi đặt hai ngôi mộ, và rồi, không vì mục đích gì cụ thể, bởi anh cũng chẳng hiểu tại sao mình lại làm như vậy, hay điều gì đã xảy ra với mình, anh cứ thế bước đi, quay lại phía căn nhà, ở đằng sau, nơi có khu vườn. Đột nhiên, anh khựng lại.

Cách ngôi nhà chừng vài mét, dưới một gốc cây bên con đường mòn nghiêng nghiêng, một người đàn ông ngồi tựa lưng trên chiếc ghế dài bện từ liễu gai. Mặt người đó khuất trong bóng cây râm mát, còn chân duỗi dài dưới ánh nắng. Người đó đang thiêm thiếp ngủ, đầu gục xuống và một quyển sách để mở đặt trên đầu gối.

Chỉ đến khi ấy, Patrice mới thấu tỏ: Coralie và anh đã thoát chết, cả hai đều thật sự còn sống và người cứu họ chính là người đang ngủ với vẻ an toàn tuyệt đối và mãn nguyện kia.

Anh đứng yên quan sát diện mạo của người lạ mặt. Người đó có vóc dáng mảnh dẻ, nhưng đôi vai rộng, da hơi ngăm, cặp ria mảnh và tóc đã bắt đầu hơi ngả hoa râm ở hai bên thái dương. Quần áo của người đó được cắt may rất khéo, cho thấy đây là một người rất để tâm đến chuyện ăn mặc. Patrice nhoài người lên để đọc tiêu đề quyển sách: Hồi ký của Benjamin Franklin . Anh còn đọc cả chữ viết tắt trang trí trên chiếc mũ đặt trên thảm cỏ: “L. P.”

“Chính ông ấy đã cứu mình.” Patrice tự nhủ. “Mình nhận ra ông ấy rồi. Ông ấy đã đưa cả Coralie và mình ra khỏi xưởng và săn sóc cho cả hai. Nhưng phép lạ nào đã xảy đến? Ai đã cử ông ấy đến đây nhỉ?”

Patrice chạm vào vai người đàn ông nọ. Người đó liền đứng dậy ngay và nở nụ cười.

“Tha lỗi cho tôi, Đại úy, nhưng tôi bận bịu đến mức phải tận dụng thời gian triệt để, khi có vài phút rảnh rỗi, tôi sẽ chợp mắt, dù ở bất cứ đâu... giống như Napoléon vậy, nhỉ? Ôi, Chúa ơi, điểm giống nhau nhỏ xíu này chẳng khiến tôi vừa lòng... Nhưng nói về tôi thế đủ rồi. Giờ anh thấy thế nào? Và quý bà của chúng ta - Mẹ Coralie - cô ấy ổn hơn chưa? Sau khi mở cửa và đưa hai người ra ngoài, tôi thấy không cần phải đánh thức các bạn. Tôi đã làm những gì cần thiết và thấy thật nhẹ lòng. Khi hai bạn thở được rồi, tôi cứ để không khí trong lành làm nốt phần việc còn lại thôi.”

Thấy. vẻ sửng sốt của Patrice, người lạ ngừng lời, và bật cười vui vẻ. “À, tôi quên mất, Đại úy không biết tôi nhỉ? Hẳn thế rồi, vì bức thư tôi viết cho anh bị đánh cắp mà. Tôi xin tự giới thiệu: Tôi là Don Luis Perenna, xuất thân từ một dòng họ quý tộc Tây Ban Nha lâu đời, mọi giấy tờ đều hợp lệ...”

Rồi người đó lại cười vang và nói tiếp: “Nhưng tôi thấy những điều này cũng không làm anh nhớ ra tôi. Bởi chắc vào một buổi tối cách đây khoảng mười lăm ngày, Ya-Bon đã viết tên tôi trên bức tường ngoài phố khác thế này. A ha! Anh bắt đầu hiểu ra rồi!... Phải, tôi chính là người anh nhờ giúp đỡ. Tôi có cần phải nói rõ cái tên ấy ra không? Chà, nghe nhé, Đại úy!... Arsène Lupin, sẵn sàng phục vụ!”

Patrice sững sờ. Anh đã hoàn toàn quên mất lời đề nghị của Ya-Bon và anh cũng đã cho phép (dù khi đó anh chẳng để tâm gì mấy) Ya-Bon nhờ cậy đến nhà phiêu lưu lừng danh này. Và giờ đây, Arsène Lupin đang đứng trước mặt anh, và chính Arsène Lupin, chỉ bằng một nỗ lực nhỏ đã có thể làm nên phép lạ ngỡ như không tưởng, kéo anh và Coralie ra khỏi đáy cỗ quan tài đóng kín kia.

Anh chìa tay ra và nói: “Cảm ơn ông!”

“Ấy!” Don Luis vui vẻ nói. “Đừng cảm ơn! Chỉ cần một cái bắt tay là đủ, thế thôi. Mọi người có thể bắt tay tôi, Đại úy ạ, tin tôi đi. Dẫu có vài lỗi vặt nhưng mặt khác, tôi cũng đã làm nhiều việc tốt đẹp, được nhiều người tử tế tin yêu... Và...”

Don Luis bỗng im bặt, mặt đăm chiêu, kéo cúc áo choàng của Patrice và nói: “Đừng cử động, có người đang theo dõi chúng ta...”

“Ai vậy?”

“Có kẻ đang ở trên bờ kè, ngay cuối vườn. Tường không cao, và phía trên có lắp khung lưới sắt. Y đang ngó qua chấn song, cố tìm cách theo dõi chúng ta...”

“Làm thế nào mà ông biết được? Ông đang đứng quay lưng về phía bờ kè cơ mà; chưa kể, phía đó lại có nhiều cây cối nữa chứ?”

“Bằng cách lắng nghe.”

“Tôi chẳng nghe thấy gì cả.”

“Có đấy, tiếng động cơ... tiếng động cơ của một chiếc ô tô đã dừng lại. Một chiếc ô tô dừng lại ở đây - trên bờ kè, đối diện một bức tường không nhà cửa gì gần đó - để làm gì?”

“Vậy, ông nghĩ đó là ai?”

“Ơ kìa! Tất nhiên là lão Siméon rồi!”

“Lão Siméon ư?”

“Dĩ nhiên! Lão đang quan sát xem tôi có thực đã cứu được hai bạn không”

“Vậy là ông ta không bị điên sao?”

“Điên? Lão ta á? Không điên hơn anh và tôi đâu.”

“Nhưng mà...”

“Nhưng mà anh muốn nói rằng Siméon đã muốn bảo vệ anh và Coralie, rằng mục đích của lão là giúp hai bạn đoàn tụ, rằng lão đã đưa cho anh chiếc chìa khóa vườn và nhiều việc khác nữa chứ gì?”

“Ông biết hết những chuyện đó ư?”

“Biết chứ! Nếu không, làm sao tôi cứu được hai bạn?”

“Nhưng…” Patrice lo lắng hỏi. “Ngộ nhỡ lão khốn ấy lại tiếp tục tấn công không phải chúng ta cần cảnh giác sao? Chúng ta hãy quay về chỗ căn nhà đi, Coralie đang ở đó một mình!

“Không có gì nguy hiểm đâu.”

“Sao lại thế?”

“Vì tôi đã ở đây rồi.”

Patrice càng kinh ngạc hơn, anh hỏi: “Vậy Siméon biết ông sao? Lão biết ông ở đây ư?

“Phải, nhờ bức thư tôi viết cho anh, gửi qua Ya-Bon và bị lão đánh cắp. Tôi nhắn với anh rằng tôi sẽ đến, và lão liền vội vàng hành động. Chỉ có điều, theo thói quen, trong những trường hợp như thế này, tôi luôn đến trước vài giờ, để bắt quả tang lão.”

“Đến lúc đó, ông vẫn chưa biết lão là kẻ thù; ông vẫn chưa biết gì cả?”

“Không một chút gì.”

“Ông đến lúc sáng nay à?”

“Không, chiều nay, lúc một giờ bốn mươi lăm phút.” Patrice lấy đồng hồ ra.

“Bây giờ là bốn giờ. Vậy là trong vòng hai tiếng đồng hồ...”

“Không đâu! Tôi mới ở đây được một tiếng thôi.”

“Vậy ông phát hiện ra mọi chuyện nhờ hỏi Ya-Bon à?”

“Anh nghĩ tôi phung phí thời gian đến thế sao? Ya-Bon chỉ nói cho tôi biết hai bạn không ở đó, nghe vậy, tôi ngạc nhiên lắm.”

“Và rồi?...”

“Tôi tìm xem hai bạn đi đâu.”

“Bằng cách nào?”

“Đầu tiên, tôi tìm ở trong phòng anh, tìm rất kĩ lưỡng theo phương pháp riêng của mình. Cuối cùng, tôi phát hiện ra một vết nứt ở phía sau chiếc bàn giấy có nắp của anh, và vết nứt này ở vị trí đối diện với một cái lỗ trên bức tường của căn phòng bên cạnh. Nhờ đó, tôi mới rút được cuốn nhật ký của anh ra và nắm được mọi chuyện. Nhưng mặt khác, đó cũng chính là cách Siméon biết được mọi ý định của anh, dù là nhỏ nhất. Lão biết anh dự định đến đây viếng mộ vào ngày Mười bốn tháng Tư. Lão vẫn luôn rình rập anh trước khi tấn công anh. Đêm qua, nhờ cách này, lão đã đọc trộm được những gì anh viết. Rồi chính anh lại tiết lộ rằng mình đang đề cao cảnh giác, lão nín nhịn và hành động cẩn mật hơn. Anh thấy mọi chuyện đơn giản thế nào rồi đấy. Nếu ngài Desmalions thấy hai bạn vắng mặt lâu ngày, ắt sẽ sinh lo lắng, và chắc ngài ấy sẽ tìm được hai bạn thôi. Chỉ có điều, phải đến mai ngài ấy mới làm.”

“Thế thì sẽ quá muộn.” Patrice nói.

“Đúng vậy, quá muộn. Việc này vốn không phải phận sự của ngài ấy, cũng không phải việc của cảnh sát. Mà tôi cũng không thích cảnh sát dây vào cho lắm. Tôi đã yêu cầu các thương binh bạn anh giữ im lặng về những việc họ thấy lạ lùng. Như vậy, nếu hôm nay ngài Desmalions có đến, ngài ấy sẽ nghĩ chuyện đều bình thường cả. Khi đã cắt đặt mọi chuyện đâu vào đấy, và tỏ tường mọi điều cần thiết, tôi dẫn Ya-Bon theo và băng qua con ngõ nhỏ, vào trong khu vườn này.”

“Lúc đó cửa vườn vẫn mở chứ ạ?”

“Không, nhưng tình cờ, đúng lúc đó, Siméon lại ra khỏi vườn. Xúi quẩy cho lão, phải không? Tôi đã đánh bạo lợi dụng ngay dịp đó. Tôi chặn tay lên then cửa và chúng tôi cứ thế bước vào, còn lão không dám họ he phản đối. Chắc chắn, lão đã biết tôi là ai.”

“Nhưng ông không biết lão là kẻ thù của chúng tôi mà?”

“Sao lại không biết? Có hết trong nhật ký của anh còn gì!”

“Tôi không nghĩ...”

“Đại úy ạ, từng trang anh viết đều tố cáo lão. Không biến cố nào lão không có mặt, không tội ác nào lão không dính vào.”

“Nếu đã như vậy, ông nên tóm lão luôn lúc đó.”

“Rồi sau đó thì sao? Việc đó có ích lợi gì cơ chứ? Tôi phải ép lão khai hết mọi chuyện ư? Không, cứ để cho lão tự do, có như vậy, tôi mới kiểm soát lão chặt chẽ được. Cứ thả cho lão tự chui đầu vào rọ. Anh cũng thấy đấy, lão vẫn lượn lờ, rình rập quanh đây chứ có cao chạy xa bay đâu. Vả lại, khi đó, tôi có việc cần kíp hơn phải làm: Đầu tiên là phải cứu được hai bạn cái đã, nếu vẫn còn kịp. Thế nên, Ya-Bon và tôi chạy như bay đến cửa căn nhà. Cửa ra vào vẫn mở, nhưng cửa vào xưởng bị khóa và cài chốt. Tôi rút ngay chốt ra, còn phá khóa với tôi chỉ là trò trẻ con. Rồi, thấy có mùi ga là tôi hiểu ngay. Siméon hẳn đã nối một công tơ cũ trong nhà với đường ống ở ngoài, chắc là đường ống dẫn ga cho mấy cột đèn đường ở ngoài ngõ, và lão tính dùng hơi ga để làm hai bạn chết ngạt. Chúng tôi chỉ việc đưa hai bạn ra ngoài và làm một số động tác sơ cứu thông thường như xoa bóp, ép tim ngoài lồng ngực, v.v... Và hai bạn đã được cứu sống”

“Chắc lão đã đem phi tang toàn bộ chỗ hung khí ấy rồi?”

“Vẫn chưa. Tất nhiên, lão sẽ quay lại và sắp xếp mọi thứ sao cho tội ác của mình không bị phát hiện, để rồi mọi người đều tin rằng hai bạn đã tự tử, một vụ tự tử đầy bí ẩn, chết không rõ nguyên nhân. Tóm lại, tấn thảm kịch của cha anh và mẹ của Coralie xưa kia lại tái diễn.”

“Ông biết cả điều đó nữa sao?”

“Sao thế? Không phải tôi có mắt để đọc ư? Những hàng chữ trên tường, những tiết lộ của cha anh rõ ràng thế còn gì? Tôi cũng đã biết rõ mọi chuyện, giống như anh vậy, Đại úy ạ... và thậm chí, có khi còn hơn nữa.”

“Còn hơn nữa ấy ạ?”

“Chúa ơi! Nhờ thói quen và kinh nghiệm ấy mà... Nhiều vấn đề mà người khác thấy khó khăn, ngỡ như không thể giải quyết được, nhưng với tôi, chúng lại là những chuyện đơn giản, rõ ràng nhất. Vì thế...”

“Vì thế gì ạ?”

Don Luis ngập ngừng một lúc rồi nói: “Thôi, tốt hơn hết, tôi không nên nói lúc này. Bóng tối rồi sẽ tan dần. Chúng ta cứ chờ xem. Còn lúc này thì...”

Don Luis lại dừng, lần này là để nghe ngóng. “Rồi! Chắc hẳn lão đã nhìn thấy anh. Giờ lão đã biết được điều lão muốn, lão đã đi rồi.”

Patrice thảng thốt: “Lão đi rồi ư? Ông thấy đó... lẽ ra ông nên tóm cổ lão. Liệu chúng ta có tìm lại được quân khốn kiếp ấy không? Chúng tôi liệu có trả thù được không?”

Don Luis cười. “Đấy, đấy... Anh đang gọi người đàn ông tội nghiệp đã trông nom anh từ hai mươi năm nay và đưa anh đến với Coralie là “lão”, là “quân khốn kiếp” kìa! Đó là ân nhân của anh đấy!”

“Ôi, tôi cũng không biết nữa! Những chuyện này sao quá điên rồ! Tôi không thể nào dằn được nỗi căm thù với lão... Tôi thấy tiếc khi lão bỏ trốn... Tôi muốn hành hạ lão, nhưng…”

Anh không khỏi thất vọng và đưa hai tay lên ôm đầu. Don Luis an ủi anh.

“Đừng sợ gì cả.” Anh ta nói. “Chưa bao giờ lão tới gần thất bại như bây giờ đâu. Tôi nắm được lão như nắm một chiếc lá trong tay.”

“Nhưng bằng cách nào?

“Người lái xe cho lão lúc này là người của tôi.”

“Sao cơ? Ông vừa nói gì?”

“Tôi nói rằng tôi đã cho người của mình lên ngồi trên ghế lái taxi, theo lệnh tôi, chiếc xe đã lượn lòng vòng ở cuối ngõ. Siméon chắc chắn đã bắt chiếc taxi đó.”

“Nhưng là ông giả định thế thôi.” Patrice chữa lại, lòng sửng sốt vô cùng.

“Tôi đã nhận ra tiếng động cơ xe ở cuối vườn, khi tôi bảo với anh ban nãy.”

“Và ông chắc chắn đó là người của mình?”

“Chắc chắn!”

“Thế thì cũng có ích gì? Siméon có thể đòi xe chạy ra khỏi Paris và hãm hại người của ông... và như vậy, khi nào chúng ta mới biết?”

“Anh tưởng người ta có thể đi khỏi Paris và chạy trên quốc lộ mà không cần giấy thông hành đặc biệt à? Không! Nếu muốn rời Paris, Siméon phải đến một nhà ga nào đó trước đã, và chúng ta sẽ biết trong vòng hai mươi phút nữa. Khi đó, chúng ta sẽ lên đường ngay.”

“Đi bằng gì bây giờ?”

“Bằng ô tô.”

“Vậy là ông có giấy thông hành đặc biệt ạ?”

“Phải, có giá trị trên toàn nước Pháp.”

“Thật sao?”

“Thật chứ! Là giấy phép thật hoàn toàn! Được đăng ký dưới tên Don Luis Perenna, do ngài Bộ trưởng Bộ Nội vụ ký và đồng ký bởi...”

“Và đồng ký bởi ai ạ?”

“Bởi Tổng thống nước Cộng hòa Pháp.”

Patrice thấy nỗi ngạc nhiên trong lòng nay đã chuyển thành sự xúc động dữ dội. Trong cuộc phiêu lưu kinh khủng này, cho đến thời điểm hiện tại, anh đã gặp phải một kẻ thù vô cùng xảo quyệt, lão trên cơ anh hoàn toàn, khiến anh chỉ toàn gặp thất bại và luôn bị cái chết đe dọa. Nhưng giờ đây, một người mưu lược hơn, mạnh hơn bất ngờ đến bên anh, giúp đỡ anh. Đột nhiên, thế cờ hoàn toàn bị lật ngược. Số phận dường như đã đổi hướng, như con tàu đột ngột gặp được cơn gió thuận, đưa tàu về lại bến.

“Xin thề với anh!” Don Luis nói. “Nhìn anh thế này, tôi tưởng anh sắp khóc như Mẹ Coralie đến nơi đấy! Thần kinh của anh căng thẳng quá rồi. Tôi dám chắc anh cũng đang đói meo nữa. Chúng ta phải tìm món gì cho anh ăn thôi. Đi nào!”

Don Luis đỡ Patrice đi về phía căn nhà nhỏ, vừa bước chậm rãi vừa nói với anh, giọng khá nghiêm túc: “Đại úy ạ, tôi phải nhờ anh một việc. Anh hãy giữ bí mật tuyệt đối về toàn bộ những chuyện vừa rồi. Chỉ trừ một vài người bạn cũ và Ya-Bon, anh bạn tôi đã gặp ở châu Phi, nơi cậu ta đã cứu sống tôi, không một ai trên đất Pháp này biết tên thật của tôi. Tôi tự gọi mình là Don Luis Perenna. Ở Maroc, nơi tôi từng đi lính, tôi có cơ hội được trợ giúp vị vua rất đáng kính của một quốc gia láng giềng của Pháp, hiện vẫn giữ thái độ trung lập. Mặc dù bắt buộc phải che giấu tình cảm thật của mình, ngài ấy vẫn nhiệt thành cầu chúc chúng ta chiến thắng. Ngài ấy đã cho gọi tôi, và tôi đã nhờ ngài ấy cấp cho mình một ủy nhiệm thư và một giấy thông hành đặc biệt. Vậy là tôi chính thức thực hiện nhiệm vụ đặc biệt ở đây, và hai ngày nữa, nhiệm vụ của tôi phải hoàn thành. Sau hai ngày nữa, tôi sẽ phải quay trở lại nơi tôi xuất phát, nơi tôi phụng sự nước Pháp theo cách riêng của mình trong lúc chiến tranh. Đó không phải là việc xấu, hãy tin tôi, và một ngày nào đó, mọi người sẽ thấy.”

Cả hai người lại gần nơi Coralie đang nằm ngủ. Don Luis kéo tay Patrice lại. “Còn một điều nữa, Đại úy. Tôi đã thề với lòng và hứa danh dự với người đã đặt trọn lòng tin nơi tôi, trong thời gian thực hiện nhiệm vụ tại đây, tôi sẽ dành trọn thời gian và dốc hết sức lực cho việc bảo vệ lợi ích của đất nước mình. Vậy nên, tôi phải báo trước với anh: Mặc dù tôi rất có cảm tình với anh, tôi cũng sẽ không ở lại đây lâu hơn, dù chỉ một phút, sau khi tìm được một nghìn tám túi vàng. Tôi chỉ đáp lại anh bạn Ya-Bon vì lý do duy nhất đó mà thôi. Khi những túi vàng đã ở trong tay tôi, muộn nhất là tối ngày kia, tôi sẽ đi. Tuy nhiên, hai việc này lại có liên quan đến nhau. Làm sáng tỏ việc này cũng sẽ giải quyết gọn ghẽ việc kia. Bây giờ, nói thế đã đủ rồi. Hãy giới thiệu tôi với Coralie và cùng bắt tay vào việc thôi!”

Don Luis lại cười lớn và nói tiếp: “Không cần phải giữ bí mật với Coralie đâu, Đại úy ạ. Hãy cứ giới thiệu tên thật của tôi với cô ấy. Tôi chẳng có gì phải sợ cả: Arsène Lupin luôn được mọi phụ nữ ủng hộ mà.”

Bốn mươi phút sau, Coralie đã được đưa về phòng, được chăm sóc và bảo vệ cẩn thận. Patrice ăn một bữa thật bổ dưỡng no nê, trong lúc Don Luis đi dạo ngoài sân và hút xì gà.

“Anh xong chưa, Đại úy? Chúng ta bắt đầu chứ?” Anh ta xem đồng hồ và nói: “Năm giờ ba mươi phút. Chúng ta còn hơn một tiếng nữa. Thế là đủ.”

“Đủ ấy ạ? Không phải ông có ý muốn nói chúng ta sẽ đạt mục tiêu ông đề ra chỉ trong một tiếng đồng hồ đấy chứ?”

“Mục tiêu cuối cùng thì không, nhưng mục tiêu tôi đặt ra tại thời điểm này thì có... và thậm chí có khi còn sớm hơn. Một tiếng đồng hồ à? Để làm gì? Chỉ vài phút nữa thôi, chúng ta sẽ biết được chính xác nơi giấu vàng đó!”

Don Luis nhờ Patrice dẫn ra căn hầm dưới thư phòng, nơi Essarès Bey đã cất những túi vàng chờ đến lúc chuyển chúng đi.

“Chúng thả những túi vàng qua cửa thông gió này à, Đại úy?”

“Vâng!”

“Không còn lối nào khác chứ?”

“Không còn lối nào khác, ngoài cầu thang dẫn lên thư viện và một cửa thông gió khác.”

“Cửa ấy nhìn ra sân à?”

“Vâng!”

“Thế thì rõ rồi. Những túi vàng được thả vào theo cửa thông gió thứ nhất và lấy ra theo cửa thứ hai.”

“Nhưng…”

“Không nhưng nhị gì cả, Đại úy ạ. Anh còn có thể làm cách khác được sao? Anh thấy đó, sai lầm người ta thường phạm phải nhất chính là phức tạp hóa vấn đề lên.”

Họ quay ra sân. Don Luis lại gần cửa thông gió và xem xét kĩ phần mặt đất xung quanh. Việc ấy chẳng tốn thời gian lắm. Cách cửa sổ thư viện khoảng bốn mét có một bồn nước tròn, ở giữa là tượng một chú bé cầm vỏ ốc, từ vỏ ốc, có một tia nước nhỏ phun ra.

Don Luis tiến lại gần, quan sát thật kĩ bồn nước, rồi nhoài người về phía trước, chạm vào bức tượng và đẩy cho tượng quay một vòng từ phải qua trái. Cùng lúc đó, bệ tượng quay được một phần tư vòng tròn.

“Có thể chứ.” Anh ta nói và đứng dậy.

“Sao cơ?”

“Bồn nước này sẽ cạn ngay.”

Anh ta nói đúng. Nước rút rất nhanh và đáy bồn lộ ra.

Don Luis trèo vào bên trong bồn và ngồi xuống. Thành bồn bên trong có viền được khảm cẩm thạch, tạo thành những hoa văn màu trắng và đỏ mà người ta vẫn gọi là hoa văn chữ triện. Ở giữa một trong các hoa văn, có một cái đai nhỏ, Don Luis nắm lấy và kéo. Toàn bộ phần thành bồn có hoa văn liền hạ xuống, để lộ ra một khoảng hở chừng ba mươi phân chiều dài và hai mươi lăm phân chiều rộng.

Don Luis khẳng định: “Những túi vàng được chuyển ra ngoài qua lối này. Đây là khâu chuyển vàng thứ hai. Chúng cũng dùng cách móc túi vàng vào dây rồi đẩy túi trượt xuống theo đường dây, y như ở khâu thứ nhất. Nhìn này, có sợi dây bằng sắt giấu trong cái rãnh ở đầu đây.”

“Chúa ơi!” Đại ủy Belval kêu lên. “Nhưng chúng ta làm sao có thể lần theo sợi dây này được?”

“Không được đâu, nhưng chỉ cần biết đầu kia của sợi dây ở chỗ nào là đủ rồi. Đại úy, hãy ra cuối vườn, chỗ gần tường bao ấy, rồi tới vị trí tạo thành một đường thẳng vuông góc với ngôi nhà cho tôi. Tới đó rồi, hãy chặt lấy một cành cây, nhớ chặt cành nào dài dài một tí. Ồ, tôi quên mất! Tôi phải đi ra ngõ. Anh có chìa khóa cửa ngách đấy không? Có à? Cho tôi mượn với nào!”

Patrice đưa cho Don Luis chiếc chìa khóa, rồi đi tới chỗ bức tường bên cạnh bờ kè như Don Luis dặn.

“Sang bên phải một tí... thêm một chút nữa.” Don Luis nói. “Đúng rồi! Bây giờ hãy chờ ở đó nhé!”

Rồi Don Luis rời khỏi khu vườn qua cửa ngách, theo con ngõ nhỏ đi ra bờ kè ở phía bên kia bức tường, và gọi với vào: “Anh vẫn còn ở đó chứ, Đại úy?”

“Vâng!”

“Giờ hãy cắm cành cây vừa chặt xuống sao cho tôi đứng đây vẫn nhìn thấy nhé... Tuyệt vời!”

Xong xuôi, Patrice chạy ra với Don Luis - lúc bấy giờ, Don Luis đang băng qua bờ kè.

Dọc bờ sông Seine toàn là bến tàu, chúng được xây trên bờ sông và là nơi dành riêng cho tàu bè chở hàng. Các sà lan thả neo dọc cầu tàu, thủy thủ tấp nập dỡ hàng xuống và bốc hàng mới lên, thường những sà lan này bao giờ cũng đậu san sát nhau. Don Luis và Patrice trèo xuống một dãy bậc thang để xuống dưới bến. Ở chỗ họ đứng có rất nhiều công xưởng. Một trong những công xưởng đó - cũng là công xưởng họ gặp đầu tiên - có vẻ đã bị bỏ hoang, chắc chắn là từ khi chiến tranh nổ ra. Trong xưởng, giữa những món dụng cụ vứt đi là mấy đống gạch đá, một cái lán có cửa sổ bị vỡ và phần bên dưới của một chiếc cần cẩu hơi nước. Một tấm biển lủng lẳng trên một cây cột đề dòng chữ: BERTHOU - BẾN SÔNG KIÊM XƯỞNG ĐÓNG TÀU.

Don Luis đi dọc chân bờ kè, phần mặt đường trên đỉnh kè nom hệt một sân hiên trong vườn nhà Coralie. Có một đống cát được giữ cố định bằng ván gỗ, cao đến phân nửa thân kè; và họ thấy trên thân kè có những chấn song của một tấm chắn dạng lưới bằng sắt, phần phía dưới của tấm chắn bị đống cát kia che khuất.

Don Luis tới xem xét tấm chắn lưới và nói, giọng pha trò: “Anh có để ý, trong cuộc phiêu lưu này, cửa nẻo chẳng bao giờ bị khóa không? Chúng ta hãy hy vọng cửa này cũng vậy.”

Giả thuyết ấy quả nhiên chính xác, tới mức bản thân Don Luis cũng có chút ngạc nhiên, và cả hai cùng đi vào trong xưởng tới một gian phòng nhỏ chỗ công nhân cất dụng cụ làm việc.

“Cho đến lúc này, chẳng có gì bất bình thường cả.” Don Luis nói, bật một chiếc đèn pin bỏ túi lên. “Xô, xẻng, xe goòng… một cái thang... A ha! Đúng như tôi nghĩ: đường ray... cả một hệ thống đường ray khổ hẹp!... Giúp tôi một tay nào, Đại úy! Dọn sạch chỗ này đi... Tuyệt! Đây rồi!”

Ngang mặt sàn và đối diện với tấm chắn lưới, có một cái lỗ hình chữ nhật giống y hệt cái lỗ ở trong bồn nước. Phía trên lồ lộ một dây cáp bằng sắt có lồng vô số móc treo.

“Vậy đây là nơi những túi vàng được chuyển tới.” Don Luis giải thích. “Chúng sẽ rơi xuống một trong hai chiếc xe goòng nhỏ mà anh thấy ở đằng kia; và xe goòng được đẩy ra sà lan để đám người ở đó bốc lên. Cách vận chuyển đơn giản thật!”

“Để rồi...”

“Để rồi một lượng vàng lớn của nước Pháp bị tuồn đi mất theo cách này… tôi cũng không biết là đi đâu... tới một nước nào đó.”

“Và ông cho rằng một nghìn tám túi vàng còn lại cũng đã bị đưa đi rồi à?”

“Tôi e rằng đúng là như thế thật.”

“Vậy là chúng ta đến muộn rồi sao?”

Cả hai người đều im lặng. Don Luis trầm ngâm suy nghĩ. Còn Patrice, dù hơi thất vọng trước kết quả anh không lường được này, vẫn không khỏi kinh ngạc và phục sát đất tài trí phi thường của người bạn đồng hành. Chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, người bạn đó của anh đã gỡ được một phần của cuộn chỉ rối tung này.

“Đúng là một phép mầu.” Cuối cùng, anh thì thầm. “Làm cách nào mà ông có thể tìm ra được vậy?”

Chẳng nói chẳng rằng, Don Luis lấy trong túi ra cuốn Hồi ký của Benjamin Franklin , cuốn sách mà Patrice đã nhìn thấy Don Luis đặt trên gối lúc chiều. Anh ta chỉ cho anh xem mấy dòng và ra hiệu cho Patrice đọc. Những dòng đó được viết vào những năm cuối thời Vua Louis XVI trị vì:

“Hằng ngày, chúng tôi đến làng Passy ở kế bên nhà tôi, và lấy nước trong một khu vườn tuyệt đẹp. Suối và thác tuôn đổ ở khắp mọi phía, nước được dẫn đi và dẫn về nhờ một hệ thống kênh đào rất tối tân. Biết tôi yêu thích các loại máy móc, kỹ thuật tinh xảo, người ta chỉ cho tôi xem bồn nước trong vườn, nơi nước từ mọi ngả đổ về. Chỉ cần quay tượng chú bé bằng đá cẩm thạch ở giữa bồn chừng một phần tư vòng về bên trái, nước sẽ được đưa thẳng ra sông Seine qua một đường dẫn mà miệng ống nằm trên thành bồn.”

Patrice gập cuốn sách lại, và Don Luis tiếp tục giải thích: “Mọi thứ giờ đã thay đổi nhiều, không nghi ngờ gì, tất cả là do Essarès Bey làm. Nước được thoát ra qua một đường khác còn đường dẫn nước khi xưa giờ bị biến thành đường dẫn vàng. Hơn nữa, lòng sông cũng bị thu hẹp lại. Các bến tàu được dựng lên san sát, phía dưới bến là một hệ thống kênh đào. Anh thấy đấy, những chuyện đó thật dễ giải quyết biết bao khi tôi được quyển sách này mách cho! Doctus cum libro [14] .”

“Vâng, dẫu là vậy, ông vẫn phải mất công đọc sách mà.”

“Hoàn toàn vô tình thôi. Tôi tìm được nó trong phòng Siméon và tiện tay cho vào túi, vì tôi tò mò muốn biết tại sao lão lại đọc cuốn sách này.”

Patrice kêu lên: “Ồ! Hóa ra lão phát hiện ra bí mật của Essarès nhờ cuốn sách này đây! Lão vốn không biết bí mật ấy. Lão thấy quyển sách lẫn trong đống giấy tờ, tài liệu của ông chủ và đã vô tình biết được mọi chuyện. Ông nghĩ thế nào? Không phải ạ? Có vẻ như ông có ý kiến khác tôi. Vậy ông thấy thế nào?”

Don Luis không trả lời. Anh ta đứng yên, chăm chú nhìn ra sông. Phía bên ngoài những cầu tàu, cách công xưởng một đoạn khá xa, có một chiếc sà lan đang thả neo, dường như không có ai trên đó cả. Nhưng lúc này, có một làn khói mỏng bắt đầu bay lên từ một ống khói trên boong.

“Ta ra đó xem thử.” Don Luis nói.

Chiếc sà lan có dòng chữ: La Nonchalante-Troyes.

Họ phải nhảy qua khoảng không nằm giữa chiếc sà lan và cầu tàu, băng qua mớ dây thừng vương vãi và đống thùng rỗng nằm ngổn ngang khắp boong. Có một cầu thang hẹp dẫn từ bỏong xuống một cabin vừa là phòng ngủ vừa là phòng bếp. Họ thấy ở đó có một người nom rắn rỏi, ngực rộng, tóc đen và xoăn, mặt cạo nhẵn nhụi. Anh ta chỉ mặc áo cánh và một chiếc quần tây bẩn thỉu, vá chằng vá đụp.

Don Luis đưa cho anh ta một tờ hai mươi franc. Anh ta sốt sắng cầm ngay lấy.

“Anh bạn, cho tôi hỏi một chuyện. Gần đây anh có thấy tàu hay sà lan nào đậu ở bến chỗ xưởng đóng tàu Berthou không?”

“Có đấy! Có một xuồng máy. Nó vừa nhổ neo hôm qua.”

“Nó tên là gì thế?”

Belle-Hélène. Trên tàu có hai người đàn ông và một người phụ nữ, họ là người nước ngoài, họ nói tiếng gì ấy…. tiếng Anh hay tiếng Tây Ban Nha... hoặc là... tôi cũng chả biết nữa.”

“Thế xưởng Berthou không hoạt động nữa à?”

“Không, người chủ đi lính rồi... cả đốc công cũng thế, tôi nghe người ta bảo vậy. Chúng ta ai cũng phải ra trận mà, đúng không? Tôi đang chờ giấy gọi nhập ngũ đây... dù tôi hơi nhát.”

“Nếu cả xưởng cả bến đều không hoạt động nữa thì con tàu kia làm gì ở đấy?”

“Làm sao tôi biết được? Nhưng người ta làm việc suốt cả đêm đấy. Họ có đường ray ở dọc cầu tàu. Tôi nghe thấy tiếng xe goòng, chắc họ bốc hàng. Mà hàng gì thì tôi chịu! Rồi sáng sớm nay, họ nhổ neo.”

“Họ đi đâu vậy?

“Xuống hạ nguồn, mạn dưới Mantes ấy.”

“Cảm ơn anh bạn. Tôi chỉ muốn biết có thế.”

Mười phút sau, lúc họ về đến nhà, Don Luis và Patrice gặp tài xế chiếc taxi mà Siméon Diodokis đã bắt sau khi gặp Don Luis. Đúng như Don Luis dự đoán, Siméon yêu cầu xe chở đến nhà ga, ga Saint-Lazare, và mua một vé tàu ở đó.

“Đi đâu?” Don Luis tức tốc hỏi ngay.

Người lái xe trả lời: “Đi Mantes.”

« Lùi
Tiến »