Bí Ẩn Nút Chai Pha Lê

Lượt đọc: 160 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG VII
nét nghiêng của napoléon

Ngay sau khi ngài Cảnh sát trưởng, Trưởng phòng Điều tra tội phạm và các nhân viên pháp y rời khỏi nhà Daubrecq, sau quá trình tìm hiểu dò la ban đầu hoàn toàn chẳng gặt hái được gì, Prasville tiếp tục khám xét một mình.

Đang xem xét phòng làm việc và những dấu vết của cuộc vật lộn đã diễn ra tại đó, thì bà già gác cổng mang cho ông ta một tấm danh thiếp, trên đó có vài chữ viết nguệch ngoạc bằng bút chì.

“Mời quý bà ấy vào đây.” Ông ta nói.

“Quý bà ấy đi cùng một người khác.” Bà già gác cổng bảo.

“Ô? Thế thì cho cả người kia vào luôn đi.”

Ngay lập tức, Clarisse Mergy bước vào và giới thiệu quý ông đi cùng, một người mặc áo bành tô đen quá chật so với người ông ta và trông như thể không được phủi bụi đã mấy năm rồi. Ông ta có vẻ ngượng ngùng và vô cùng xấu hổ khi phải chưng ra cái mũ quả dưa bạc màu, cũ rích, cái ô kẻ ca rô, chiếc găng tay duy nhất và toàn bộ cơ thể ông ta nói chung.

“Ngài Nicole là gia sư, hiện ông ấy đang kèm cặp Jacques bé bỏng nhà tôi.” Clarisse nói. “Những lời khuyên nhủ của ngài Nicole suốt năm vừa qua đã giúp đỡ tôi rất nhiều. Ông ấy đã khám phá ra toàn bộ câu chuyện về cái nút chai pha lê. Tôi rất muốn ông ấy, cũng như chính tôi - nếu anh không phản đối nói cho tôi nghe - biết toàn bộ chi tiết của vụ bắt cóc này, vì nó khiến tôi kinh hoàng và làm sụp đổ toàn bộ kế hoạch của tôi; mà tôi nghĩ cả của anh nữa, đúng không?”

Prasville tin tưởng Clarisse Mergy tuyệt đối. Ông ta biết lòng căm thù Daubrecq của cô ta không bao giờ nguôi và rất biết ơn sự hỗ trợ của cô ta trong vụ án này. Nên ông ta chẳng chút khó khăn gì cho cô ta biết tất cả những gì mình đã biết, nhờ những đầu mối nhất định và đặc biệt là bằng chứng của bà già gác cổng.

Vì thế vấn đề trở nên cực kỳ đơn giản. Daubrecq đã tham dự phiên tòa xét xử Gilbert và Vaucheray với tư cách là nhân chứng, người ta trông thấy lão có mặt tại tòa trong suốt thời gian đọc bản án, sau đó lão quay về nhà vào lúc sáu giờ. Bà già gác cổng khẳng định lão về nhà một mình, và vào lúc ấy trong nhà không có ai. Tuy nhiên, vài phút sau, bà ta nghe thấy những tiếng la hét, sau đó là âm thanh cuộc vật lộn và hai phát súng lục. Từ căn nhà của mình, bà ta trông thấy bốn người đeo mặt nạ hối hả chạy xuống cầu thang trước, mang theo lão nghị sĩ Daubrecq và nhanh chóng tiến ra cổng. Chúng mở cổng. Cùng lúc đó, một chiếc ô tô lướt đến trước cửa căn nhà. Bốn tên nhảy tót vào trong, chiếc xe gần như không đủ thời gian để dừng lại, lập tức phóng vút đi.

“Chẳng phải luôn luôn có hai cảnh sát trực ở đó sao?” Clarisse hỏi.

“Họ không có mặt ở đó.” Prasville đáp. “Mà ở cách đó một trăm năm mươi thước, Daubrecq bị mang đi nhanh đến nỗi họ không kịp can thiệp, cho dù họ đã chạy nhanh hết sức rồi.”

“Và họ chẳng phát hiện được gì, chẳng tìm thấy gì sao?”

“Chẳng thấy gì, hoặc hầu như chẳng có gì... Chỉ có cái này thôi.”

“Là cái gì vậy?”

“Một mảnh ngà voi be bé, họ nhặt được dưới đất. Có một tên thứ năm ngồi trong xe, bà già gác cổng đã trông thấy hắn xuống xe trong khi lũ kia đưa Daubrecq vào trong. Khi hắn quay bước vào xe đã đánh rơi cái gì đó và liền cúi xuống nhặt ngay. Nhưng cái thứ này, không cần biết là cái gì, chắc phải bị vỡ ngay trên vỉa hè; vì đây là một mảnh ngà voi mà mấy cảnh sát của tôi đã tìm thấy.”

“Nhưng làm sao mà bốn tên kia vào trong nhà được?” Clarisse hỏi.

“Rõ ràng là bằng chìa khóa giả, trong khi bà già gác cổng đang đi mua sắm suốt cả buổi chiều; và chúng chẳng gặp khó khăn gì trong việc đột nhập, vì Daubrecq không tuyển thêm bất kỳ người hầu nào khác. Tôi có lý do để tin rằng chúng trốn trong căn phòng bên cạnh, tức là phòng ăn, rồi sau đó tấn công Daubrecq tại đây, trong phòng làm việc này. Đồ đạc nội thất và các đồ vật khác bị xô lệch chứng tỏ cuộc vật lộn này quyết liệt như thế nào. Chúng tôi tìm thấy một khẩu súng ngắn cỡ nòng lớn, là của Daubrecq, nằm trên thảm. Một trong các viên đạn đã làm vỡ tan tấm kính trên bệ lò sưởi, như cô thấy đấy.”

Clarisse quay sang người bạn đồng hành của mình để dò hỏi ý tứ. Nhưng ngài Nicole, với đôi mắt bướng bỉnh cụp xuống, không nhúc nhích khỏi ghế ngồi, tay sờ mó vành mũ, như thể ông ta không tìm thấy nơi thích hợp để cất nó.

Prasville mỉm cười. Rõ ràng ông ta không xem vị cố vấn của Clarisse là người có trí tuệ hàng đầu.

“Vụ này có hơi khó hiểu, thưa ngài.” Ông ta nói. “Đúng không ạ?”

“Đúng… đúng!” Ngài Nicole thừa nhận. “Khó hiểu nhất.”

“Vậy ngài không đưa ra tí giả thuyết nào về vụ này sao?”

“Thưa ngài Thám trưởng, tôi đang nghĩ là Daubrecq có rất nhiều kẻ thù.”

“À, xuất sắc!”

“Và vài tên trong số những kẻ thù này thích thú trước sự mất tích của lão, chắc đã tự lập nhóm chống lại lão.”

“Xuất sắc, xuất sắc!” Prasville nói, khen ngợi có ý mỉa mai. “Xuất sắc! Mọi thứ đều rõ nét như ban ngày. Việc duy nhất ngài phải làm là cung cấp cho chúng tôi chút gợi ý hòng truy tìm được đúng hướng.”

“Ngài Thám trưởng, vậy ngài không nghĩ rằng mảnh ngà voi bị vỡ này được nhặt lên từ dưới đất...”

“Không, ngài Nicole, không! Mảnh ngà voi ấy gắn liền với thứ gì đó mà chúng tôi không biết, và đó là thứ mà chủ nhân của nó sẽ ngay lập tức muốn giấu đi. Để truy ra chủ sở hữu, ít nhất chúng tôi phải có khả năng xác định bản chất cái thứ này đã.”

Ngài Nicole suy nghĩ rồi bắt đầu: “Ngài Thám trưởng, khi Napoléon Đệ nhất rớt khỏi đỉnh quyền lực...”

“Ôi, ngài Nicole, ôi, bài giảng về lịch sử Pháp à!”

“Chỉ một câu thôi, thưa ngài Thám trưởng, chỉ một câu thôi sau đó tôi sẽ để ngài hoàn thành nốt. Khi Napoléon Đệ nhất rớt khỏi đỉnh quyền lực, phong trào Bourbon phục hoàng đã khiến một số sĩ quan nhất định chỉ được nhận nửa mức lương. Các sĩ quan này bị các nhà chức trách nghi ngờ và không ngừng sai cảnh sát giám sát liên tục. Họ vẫn còn trung thành với hồi ức về vị Hoàng đế, và họ khao khát muốn khắc họa đường nét của Hoàng đế kính yêu trên tất cả mọi loại đồ vật sử dụng hằng ngày, các hộp đựng thuốc lá, những chiếc nhẫn, kim gài cà vạt, các con dao nhíp...”

“Thế thì sao?”

“Cái mảnh này rơi ra từ một cây ba toong, hoặc là một dạng gậy chống có đổ chì; hoặc một chiếc áo phao, núm của cái này được làm bằng một mảnh ngà voi có chạm khắc. Khi ngài nhìn vào cái núm theo hướng nhất định, ngài sẽ thấy đường nét của nó cho thấy nét nghiêng của viên hạ sĩ nhỏ bé. Thứ ngài đang có trong tay, thưa ngài Thám trưởng, là một mảnh của cái núm nằm trên cây gậy đổ chì của một viên sĩ quan được nhận nửa mức lương.”

“Vâng!” Prasville đáp, xem xét đồ vật. “Đúng, tôi có thể nhìn ra nét nghiêng... nhưng tôi không hiểu kết luận...”

“Kết luận rất đơn giản thôi. Trong số các nạn nhân của Daubrecq, trong số những người có tên được ghi trong bản danh sách nổi tiếng, có con cháu của một gia đình sinh sống tại đảo Corse dưới thời Napoléon, được Hoàng đế ban cho của cải và tước hiệu nhưng sau đó bị hủy hoại trong phong trào Bourbon phục hoàng. Dám cá mười ăn một rằng người con cháu này là kẻ cầm đầu một đảng ủng hộ Napoléon vài năm trước, cũng chính là kẻ thứ năm trốn trong xe ô tô. Có cần tôi phải nêu tên hắn ra không?

“Hầu tước d’Albufex ư?” Prasville hỏi.

“Hầu tước d’Albufex.” Ngài Nicole đáp.

Có vẻ như lúc này không còn bận tâm đến cái mũ, cái găng tay và cái ô của mình nữa, ngài Nicole đứng dậy và nói với Prasville: “Thưa ngài Thám trưởng, tôi có thể giữ lại phát hiện này cho riêng mình, không hé môi với ngài cho đến sau khi đạt được chiến thắng cuối cùng, tức là, sau khi trao cho ngài bản danh sách hai mươi bảy đó. Tuy nhiên, những vấn đề hiện rất khẩn cấp. Trái ngược với những gì bọn bắt cóc mong đợi, sự mất tích của Daubrecq có thể lại đẩy nhanh thảm kịch mà ngài muốn ngăn chặn. Thế nên chúng ta phải hành động nhanh như gió mới được. Ngài Thám trưởng, tôi đề nghị ngài hỗ trợ thực sự và ngay lập tức.”

“Tôi có thể giúp ngài như thế nào?” Prasville hỏi, ông ta đang bắt đầu bị ấn tượng bởi vị khách kỳ quặc này.

“Bằng cách, vào ngày mai, hãy cho tôi biết những thông tin về Hầu tước d’Albufex, nếu tôi tự tìm thì sẽ phải mất vài ngày.”

Prasville có vẻ ngập ngừng, quay sang phu nhân Mergy. Clarisse nói: “Tôi xin anh hãy chấp nhận những giúp đỡ của ngài Nicole đây. Ông ấy là một đồng minh vô giá và tận tụy. Nếu có thể, hẳn tôi đã tự tìm cho ông ấy xem rồi.”

“Ngài cần những thông tin gì thưa ngài?” Prasville hỏi.

“Mọi thông tin liên quan đến Hầu tước d’Albufex: tình hình gia đình ông ta, ông ta giết thời gian như thế nào, những quan hệ gia đình của ông ta, những bất động sản ông ta sở hữu tại Paris và trong vùng.”

Prasville phản đối: “Rốt cuộc, không cần biết là Hầu tước hay người khác, ngài thấy đấy, kẻ bắt cóc Daubrecq đang hành động vì chúng ta, bằng cách chiếm bản danh sách đó, tước hết vũ khí của Daubrecq.”

“Thưa ngài Thám trưởng thế ai dám đảm bảo rằng hắn không làm thế chỉ vì chính mình?”

“Không thể nào, vì hắn có tên trên danh sách.”

“Cứ cho rằng hắn xóa đi thì sao? Cứ cho rằng sau này ngài lại phải đương đầu với một kẻ tống tiền thứ hai, thậm chí còn hám tiền và có quyền lực mạnh hơn cả kẻ thứ nhất, một kẻ mà xét về mặt đối thủ chính trị, thậm chí còn có vị thế cao hơn cả Daubrecq để duy trì cuộc chơi thì sao?”

Viên Thám trưởng choáng váng trước lý lẽ này. Sau một lúc ngẫm nghĩ, ông ta đáp: “Hãy đến gặp tôi trong văn phòng bốn giờ chiều mai. Tôi sẽ trao cho ngài các thông tin đó. Địa chỉ của ngài ở đâu phòng khi tôi muốn gặp ngài?”

“Ngài Nicole, số 25, điện Clichy. Tôi đang ở nhờ căn hộ của một người bạn, anh ta cho tôi ở trong thời gian đi vắng.”

Cuộc nói chuyện kết thúc. Ngài Nicole cảm ơn ngài Thám trưởng bằng cái cúi đầu rất thấp, rồi bước ra ngoài, theo sau là phu nhân Mergy.

“Đúng là được việc.” Anh nói khi bước ra ngoài, xoa xoa hai tay. “Tôi có thể đi vào văn phòng cảnh sát bất kỳ lúc nào tôi muốn, và triển khai được khối việc.”

Vẫn tỏ ra bi quan, phu nhân Mergy nói: “Chúa ơi, liệu rồi chúng ta có phải thất vọng không? Điều làm tôi khiếp sợ nhất là ý nghĩ rằng bản danh sách ấy có thể bị hủy rồi.”

“Ôi trời ơi, kẻ nào hủy chứ? Daubrecq à?”

“Không, nhưng có thể là Hầu tước, khi hắn ta nắm được nó trong tay.”

“Hắn vẫn chưa nhận được nó đâu! Bằng mọi giá Daubrecq sẽ chống cự lại đủ lâu đến khi chúng ta cứu được lão. Thử nghĩ xem! Prasville giờ sẽ nghe theo lệnh tôi!”

“Nhỡ đâu anh ta biết ngài là ai thì sao? Chỉ cần chút điều tra là đủ biết chẳng có ma nào tên Nicole hết.”

“Nhưng nó sẽ không chứng minh được ngài Nicole chính là Arsène Lupin. Thêm nữa, cô bình tĩnh lại đã nào. Prasville không chỉ là kẻ đáng khinh với tư cách một thám tử; ông ta còn một mục tiêu khác trong đời, đó là hủy diệt kẻ thù cũ của mình, Daubrecq. Để đạt được mục tiêu đó, biện pháp nào thì cũng đều hữu dụng như nhau cả thôi; và ông ta sẽ không phí thời gian đi xác minh nhân dạng của một ngài Nicole nào đó hứa hẹn với ông ta về Daubrecq đâu. Đó là chưa kể tôi được cô đưa tới đây, và rốt cuộc những món quà nhỏ của tôi đã khiến ông ta lóa mắt đôi chút rồi. Thế nên tụi mình cứ liều lĩnh bước tiếp thôi.”

Clarisse luôn lấy lại sự tự tin khi có mặt Lupin. Tương lai với cô ta có vẻ như bớt lý tưởng, và cô ta thừa nhận, cô ta tự ép bản thân mình phải thừa nhận, rằng những cơ hội cứu Gilbert không hề giảm đi bởi cái án tử hình đáng sợ ấy. Nhưng anh không thể thuyết phục cô ta quay về Bretagne. Cô ta muốn sánh vai bên anh cùng chiến đấu. Cô ta muốn được có mặt bên anh cùng sẻ chia tất cả những hy vọng lẫn nỗi tuyệt vọng của anh.

Ngày hôm sau, những cuộc điều tra của cảnh sát đã khẳng định điều mà Prasville và Lupin đã biết. Hầu tước d’Albufex đã nhúng tay rất sâu vào vụ con kênh đào, sâu đến nỗi mà Hoàng tử Napoléon đã buộc phải loại hắn ra khỏi vị trí quản lý chiến dịch chính trị của mình tại Pháp; và hắn vẫn tiếp tục phong cách sống xa hoa của mình bằng những khoản vay không ngừng và những đồ dùng thay thế tạm thời. Mặt khác, trong chừng mực liên quan đến vụ bắt cóc Daubrecq, có một điều chắc chắn rằng, trái ngược với thói quen thường ngày, tên Hầu tước không xuất hiện tại câu lạc bộ của hắn vào khoảng thời gian từ sáu đến bảy giờ tối và không ăn tối tại nhà. Hắn không quay về nhà cho tới tận nửa đêm, sau đó đã đi bộ về.

Do đó lời buộc tội của ngài Nicole đang có được một bằng chứng sớm sủa. Đáng tiếc - và ngay cả các phương pháp của Lupin cũng không ăn thua - không thể thu được đầu mối nào dù nhỏ nhất về chiếc xe ô tô, tên tài xế và bốn kẻ đã đột nhập vào nhà Daubrecq. Liệu chúng có phải là cấp dưới của tên Hầu tước, bị tổn thương trong vụ kênh đào giống như hắn không? Chúng có phải là những kẻ mà hắn thuê không? Không ai biết.

Thế nên toàn bộ cuộc tìm kiếm phải tập trung vào tên Hầu tước, các ngôi nhà nghỉ và những ngôi nhà hắn có thể sử dụng cách Paris một khoảng nhất định, một khoảng cách cho phép xe chạy với tốc độ trung bình với những lần dừng nghỉ không thể tránh khỏi, có thể từ sáu mươi đến chín mươi dặm.

Nhưng lúc này, sau khi đã bán hết mọi thứ mình sở hữu, d’Albufex không còn sở hữu căn nhà nghỉ hoặc bất động sản nào nữa.

Họ đành hướng sự chú ý sang các mối quan hệ và bạn bè thân thiết của tên Hầu tước. Liệu hướng điều tra này có thể giúp tiết lộ nơi ẩn náu an toàn nào đó giam giữ Daubrecq hay không?

Kết quả cũng bế tắc không kém.

Ngày tháng cứ trôi dần. Thời gian mới tồi tệ với Clarisse Mergy làm sao! Từng người bọn họ ngày càng đưa Gilbert đến gần hơn cái ngày đền tội khủng khiếp. Từng người bọn họ đều đang phí phạm hai mươi tư giờ kể từ cái ngày mà do bản năng đã in đậm trong tâm trí Clarisse. Và cô ta nói với Lupin, người cũng đang bị giày vò bởi cùng nỗi lo âu: “Năm mươi nhăm ngày nữa... Năm mươi ngày nữa... Người ta có thể làm gì trong từng ấy ngày?... Ôi, tôi xin ngài đấy... Tôi xin ngài đấy...”

Thực sự họ có thể làm được gì? Không dám giao lại nhiệm vụ theo dõi tên Hầu tước cho bất kỳ ai ngoài chính mình, Lupin thực sự đã không ngủ nghê gì. Nhưng tên Hầu tước vẫn tiếp tục phong cách sinh hoạt theo lệ thường, không hiểu có phải hắn đang nghi ngờ điều gì mà giờ hắn không đi xa nữa.

Có lần, vào ban ngày, một mình hắn đến nhà viên Công tước Montmaur. Viên Công tước nuôi một đàn chó săn lợn lòi mà ông ta sẽ mang theo đi săn bắn trong cánh rừng Durlaine. Quan hệ giữa d’Albufex với viên Công tước chỉ tồn tại trong các cuộc săn.

“Gần như không có khả năng.” Prasville nói. “Viên Công tước Montmaur, kẻ giàu nứt đố đổ vách, kẻ chỉ hứng thú với trang viên của mình và chuyện săn bắn lại tham gia vào hoạt động chính trị, sẽ không cho phép giam giữ trái phép lão nghị sĩ Daubrecq trong lâu đài của mình.”

Lupin đồng ý, nhưng vì không muốn phó mặc bất kỳ chuyện gì cho may mắn, nên tuần sau, khi thấy d’Albufex mặc đồ cưỡi ngựa ra ngoài vào một buổi sáng, anh đã theo dõi đến nhà ga Nord và lên cùng chuyến tàu với hắn.

Anh xuống tàu tại Aumale, tại đây d’Albufex thuê một cỗ xe ngựa đưa hắn tới lâu đài Montmaur.

Lupin lặng lẽ ăn trưa, thuê một chiếc xe đạp chạy đến ngôi nhà khi những vị khách đi tới công viên bằng xe ô tô hoặc cưỡi ngựa. Tên Hầu tước d’Albufex là một trong những người cưỡi ngựa.

Ba lần trong ngày, Lupin thấy hắn cho ngựa chạy nước kiệu. Vào buổi tối, anh thấy hắn tại nhà ga, nơi d’Albufex cưỡi ngựa tới, đi theo là hai thợ săn.

Thế nên bằng chứng đã được xác định, và chẳng có gì đáng ngờ hết. Tuy nhiên, tại sao Lupin vẫn chưa thỏa mãn với những thể hiện bên ngoài đó? Và tại sao, ngày hôm sau, anh lại sai Le Ballu đi tìm hiểu mọi chuyện tại nhà hàng xóm Montmaur? Chỉ là sự đề phòng bổ sung, chẳng dựa trên lý do logic nào, mà chỉ thuận theo phương thức hành động thận trọng và có hệ thống của anh.

Hai ngày sau, ngoài những thông tin kém quan trọng hơn, Le Ballu báo cho anh biết một danh sách khách khứa ăn tiệc tại nhà ở Montmaur, cùng toàn bộ người hầu và người gác cổng.

Trong số rất nhiều tên của các thợ săn, một cái tên khiến anh chú ý. Ngay lập tức, anh đánh điện: “Tìm hiểu về gã thợ săn có tên Sebastiani.”

Ngày hôm sau, anh nhận được câu trả lời của Le Ballu: “Sebastiani, người đảo Corse, được Hầu tước d’Albufex giới thiệu với ngài Công tước Montmaur. Gã sống cách căn nhà này hai, ba dặm, trong một căn nhà nghỉ săn bắn được xây dựng giữa đống đổ nát của một pháo đài thời phong kiến, từng là cái nôi của gia đình Montmaur.”

“Là nó.” Lupin nói với Clarisse Mergy, cho cô ta xem lá thư của Le Ballu. “Cái tên Sebastiani đó ngay lập tức nhắc tôi nhớ rằng d’Albufex xuất thân từ đảo Corse. Có một mối liên kết...”

“Thế thì ngài định làm gì?”

“Nếu Daubrecq bị cầm tù giữa đống đổ nát này, tôi muốn thiết lập đường dây liên lạc với lão ta.”

“Lão sẽ chẳng tin ngài đâu.”

“Không! Sau này khi hành động theo thông tin từ cảnh sát, cuối cùng tôi đã khám phá ra hai quý bà nhiều tuổi từng đánh cắp Jacques bé bỏng của cô tại Saint-Germain, và mang nó đến Neuilly cũng vào tối hôm đó. Họ là hai bà hầu gái già, chị em họ của Daubrecq, lão trả lương hằng tháng cho họ. Tôi đã đi hỏi han về hai quý bà Rousselot này, còn nhớ cả tên và địa chỉ là số 134B, phố Bac. Tôi đã truyền cho họ lòng tin, hứa hẹn sẽ tìm lại người họ hàng và tay mạnh thường quân về cho họ; bà chị cả, Euphrasie Rousselot, đã trao cho tôi lá thư trong đó bà ấy van xin Daubrecq đặt lòng tin hoàn toàn vào ngài Nicole. Cô thấy đấy, tôi đã đề phòng cẩn thận mọi mặt rồi. Đêm nay tôi sẽ đi.”

“Ý ngài là chúng ta à?” Clarisse nói.

“Cô ư?”

“Tôi có thể tiếp tục sống như thế này, trong tình trạng ngồi không đến phát ốm hay sao?” Và cô ta thì thầm: “Tôi không ngồi đếm ngày, xem chúng ta còn lại ba mươi tám hay bốn mươi ngày nữa, mà tôi đang đếm từng giờ.”

Lupin cảm thấy quyết tâm của cô ta mạnh đến nỗi anh không dám cố cưỡng lại. Cả hai khởi hành vào lúc năm giờ sáng, bằng xe ô tô. Đi cùng họ là Grognard.

Để tránh nghi ngờ, Lupin lựa chọn một thị trấn lớn là trụ sở của mình. Tại Amiens, nơi anh để Clarisse ở lại đó, chỉ cách Montmaur mười tám dặm.

Khoảng tám giờ, anh gặp Le Ballu tại một nơi cách pháo đài cũ không xa, nổi tiếng khắp vùng với cái tên Mortepierre, và xem xét vị trí này theo hướng dẫn của hắn.

Trong phạm vi khu rừng, con sông nhỏ Ligier, ở chỗ này nó chảy vào một thung lũng sâu hình thành một điểm nút nằm lơ lửng trên vách núi khổng lồ của Mortepierre.

“Phía này chẳng làm được gì hết.” Lupin nói. “Vách núi thì trơn trượt, cao tới sáu hoặc bảy mươi mét, còn con sông ôm khắp xung quanh nó.”

Cách đó không xa, họ phát hiện ra một cây cầu dẫn đến chân lối đi chạy vòng vèo quanh các cây sồi và cây thông, đến một khoảnh đất nhỏ nơi xuất hiện một cánh cổng to lớn, bọc sắt, đóng đinh nằm giữa hai căn tháp lớn bao hai bên.

“Có phải đó là nơi gã thợ săn Sebastiani sống không?” Lupin hỏi.

“Đúng!” Le Ballu đáp. “Cùng vợ gã, trong căn nhà nằm ngay giữa đống đổ nát. Tôi còn biết được gã có ba đứa con trai cao lớn và cả bốn người được cho là đã đi nghỉ mát vào ngày Daubrecq bị bắt cóc.”

“A ha!” Lupin nói. “Sự trùng hợp đáng được ghi nhớ đấy. Có vẻ nhiều khả năng vụ này do mấy thằng con kia và cha của chúng tiến hành.”

Đến cuối buổi chiều, Lupin tận dụng lỗ thủng bên tay phải các ngọn tháp để trèo qua bức thành nối hai pháo đài. Từ đấy anh có thể nhìn thấy căn nhà của gã thợ săn cùng vài thứ còn lại của tòa pháo đài cổ: Ở đây, một chút tường, cho thấy lớp bao ngoài của một lò sưởi; xa hơn nữa, một bể nước; phía bên này, những mái vòm của một nhà thờ nhỏ; phía bên kia, một đống những tảng đá rơi.

Một lối đi nằm ngoài rìa vách đá trước mặt; và ở một trong hai đầu lối đi này, là những gì còn lại của một tháp canh đồ sộ gần như đã bị san bằng.

Lupin quay về với Clarisse Mergy vào buổi tối. Và kể từ lúc đó, anh cứ đi đi về về suốt giữa Amiens với Mortepierre, sai Grognard và Le Ballu phải liên tục ở đẩy theo dõi.

Sáu ngày đã trôi qua. Những thói quen của Sebastiani dường như chỉ tuân theo những bổn phận từ vị trí của mình. Gã thường xuyên tới lâu đài Montmaur, đi dạo loanh quanh trong rừng, ghi nhớ những vết chân của mãnh thú và chỉ đi tuần vào buổi tối.

Nhưng vào ngày thứ bảy, biết rằng sắp có một cuộc gặp gỡ và một cỗ xe ngựa đã được gửi đến nhà ga Aumale vào buổi sáng, Lupin nấp vào giữa đống lều của người đi săn và các cây nguyệt quế bao quanh khoảnh đất nhỏ đối diện cổng vào.

Lúc hai giờ, anh nghe thấy tiếng sủa của bầy chó săn. Chúng vẳng đến gần kèm theo là những tiếng kêu khi săn bắn, sau đó những thanh âm ấy rời xa dần. Anh lại nghe thấy chúng, vào khoảng giữa chiều, không rõ ràng lắm; và chỉ có thế. Nhưng bỗng, phá tan sự im lặng bao trùm, tiếng những con ngựa phi nước đại vẳng đến tai anh; rồi vài phút sau, anh trông thấy hai người cưỡi ngựa đang leo lên phía bờ sông.

Anh nhận ra tên Hầu tước d’Albufex và Sebastiani. Khi tới khoảnh đất, cả hai đều tỏ vẻ sung sướng; và một phụ nữ - không nghi ngờ gì nữa, là vợ gã thợ săn - đi ra mở cổng. Sebastiani cột dây cương ngựa vào những cái vòng gắn trên một chiếc cột cách Lupin vài thước, rồi chạy đến chỗ tên Hầu tước. Cánh cổng đóng lại sau lưng họ.

Lupin không chút chần chừ; và cho dù vẫn là ban ngày ban mặt, xét đến tính biệt lập của nơi này, anh đu người lên cái lỗ hổng. Thận trọng ló đầu vào, anh trông thấy hai kẻ kia cùng vợ của Sebastiani đang nhanh chóng tiến đến đống đổ nát của tháp canh.

Gã thợ săn kéo tấm màn bằng dây thường xuân đang rủ xuống sang một bên, làm lộ ra lối vào một lồng cầu thang, rồi gã bước xuống dưới, sau đó là d’Albufex, để lại vợ gã cảnh giới ngoài lối vào.

Bám theo họ hiển nhiên là không thể, Lupin quay về nơi trú ẩn của mình. Anh không phải đợi lâu trước khi cánh cổng lại mở ra.

Tên Hầu tước d’Albufex có vẻ đang cực kỳ giận dữ. Hắn đang lấy roi quất vun vút vào một bên ủng của mình, miệng lẩm bẩm những lời giận dữ mà Lupin có thể nghe rõ khi khoảng cách dần được rút ngắn: “A con chó săn!.. Ta sẽ ép được lão phải nói... Tối nay ta sẽ quay lại... Tối nay, lúc mười giờ, ông nghe thấy không, Sebastiani?... Và chúng ta sẽ làm tất cả những gì cần phải làm... Ôi, thằng chó!”

Sebastiani cởi dây cương cho những con ngựa. D’Albufex quay sang người đàn bà. “Dặn mấy thằng con bà canh gác cho cẩn thận... Nếu bất kỳ kẻ nào cố gắng giải cứu lão ấy, thì sẽ rất tệ hại với hắn. Đằng kia là cánh cửa bẫy. Có thể trông đợi được chúng không?”

“Hoàn toàn như thể trông đợi vào chính tôi, thưa ngài Hầu tước.” Người đàn bà tuyên bố. “Chúng biết những gì ngài Hầu tước đã làm cho tôi và những gì ông ấy sẽ làm với chúng. Chúng sẽ không sợ hãi bất kỳ cái gì.”

“Lên ngựa rồi quay lại với lũ chó săn thôi.” D’Albufex nói.

Mọi thứ đang diễn ra đúng như Lupin đã dự liệu. Trong suốt những cuộc săn, d’Albufex luôn chọn một lối đi riêng, phóng thật xa về phía Mortepierre, trong khi không một ai nghi ngờ trò gian dối của hắn. Sebastiani, kẻ tận tụy dâng hiến cho hắn cả trái tim lẫn tâm hồn, vì nhiều lý do liên quan đến quá khứ quá xa xôi đến nỗi chẳng cần phải tìm hiểu nữa, sẽ đi theo hắn; cùng nhau, họ tới gặp kẻ bị giam cầm, mà mụ vợ gã thợ săn cùng ba thằng con trai đang canh chừng sát sao.

“Đó là nơi chúng ta sẽ chiến đấu.” Lupin nói với Clarisse Mergy khi anh quay về gặp cô ta trong quán trọ ở vùng lân cận. “Tối nay tên Hầu tước sẽ đến thẩm vấn Daubrecq bằng một biện pháp tàn bạo hơn, nhưng không thể không làm thế, nếu là tôi thì tôi cũng làm.”

“Và Daubrecq sẽ phải nói ra bí mật của mình.” Clarisse nói, giọng đã pha chút giận dữ.

“Tôi e là vậy.”

“Vậy thì?”

“Tôi đang ngần ngừ giữa hai kế hoạch.” Lupin nói, anh có vẻ rất bình tĩnh. “Hoặc đến ngăn chặn buổi thẩm vấn...”

“Như thế nào?”

“Bằng cách chặn đầu d’Albufex. Vào lúc chín giờ, Grognard, Le Ballu và tôi sẽ trèo lên những tòa thành, lao vào trong pháo đài, tấn công tháp canh và tước vũ khí bọn canh giữ... và mọi thứ sẽ xong xuôi. Daubrecq là của chúng ta.”

“Trừ phi các con trai của Sebastiani quẳng lão qua cánh cửa bẫy mà tên Hầu tước đã ám chỉ...”

“Chính vì thế, tôi có ý định mạo hiểm sử dụng bạo lực như một giải pháp cuối cùng, phòng trường hợp kế hoạch kia của tôi đổ bể.” Lupin nói.

“Kế hoạch kia là gì?”

“Làm chứng cuộc thẩm vấn. Nếu Daubrecq không nói gì, chúng ta sẽ có thời gian để chuẩn bị mang lão đi khi có điều kiện thuận lợi hơn. Nếu lão nói, nếu chúng ép buộc lão phải nói lộ ra nơi giấu bản danh sách hai mươi bảy, tôi sẽ biết sự thật cùng lúc với d’ Albufex, và tôi thề có Chúa rằng chúng ta sẽ giành được bản danh sách ấy trước hắn.”

“Phải, phải!” Clarisse nói. “Nhưng làm sao ngài có mặt ở buổi thẩm vấn được?”

“Tôi vẫn chưa biết.” Lupin thừa nhận. “Còn phụ thuộc vào những thông tin nhất định mà Le Ballu sẽ mang tới cho tôi và những thông tin tôi sẽ tự tìm hiểu.”

Anh rời khỏi quán trọ và không quay về cho đến một tiếng sau đó khi màn đêm đang buông. Le Ballu đi cùng anh.

“Cậu có mang theo cuốn sách nhỏ không?” Lupin hỏi.

“Có, thưa ông chủ! Đó là thứ tôi đã thấy tại sạp báo Aumale. Tôi mua nó với giá mười xu.”

“Đưa nó cho tôi.”

Le Ballu trao cho anh một cuốn sách mỏng đã cũ, bị vấy bẩn, rách nát, tựa trên bìa ghi dòng chữ Tham quan Mortepierre, in năm 1824, với những sơ đồ và hình vẽ.

Ngay lập tức, Lupin xem xét bản đồ tháp canh.

“Có thế chứ.” Anh nói. “Phía trên mặt đất có ba tầng, đã bị san bằng, dưới mặt đất được đào xuyên đá, là hai tầng, một trong hai tầng này chật kín rác rưởi, trong khi tầng kia... Đó sẽ là nơi ông bạn của chúng ta, Daubrecq đang ở. Cái tên rất có ý nghĩa: phòng tra tấn... Ông bạn thân mến tội nghiệp.... Giữa cầu thang và phòng tra tấn là hai cánh cửa. Giữa hai cánh cửa này, có một hõm tường mà hẳn nhiên ba anh em kia đang ngồi, súng lăm lăm trong tay.”

“Vậy ông chủ không thể lẻn vào trong mà không bị nhìn thấy.”

“Không thể nào... trừ phi tôi đến từ trên cao, có một tầng gác dẫn xuống dưới, rồi tìm kiếm lối vào qua trần nhà... Nhưng làm thế quá mạo hiểm...”

Anh tiếp tục lật các trang của cuốn sách. Clarisse hỏi: “Không có cửa sổ để vào phòng à?”

“Có!” Anh nói. “Từ bên dưới, từ con sông - tôi vừa tới đó xong - cô có thể trông thấy một khe hở nhỏ, cũng được đánh dấu trên bản vẽ. Nhưng nó cao năm mươi thước, rất dốc; thậm chí còn có đá nhô lên khỏi mặt nước. Nên một lần nữa, vô ích thôi.”

Anh liếc qua vài trang của cuốn sách. Tựa đề của một chương bỗng khiến anh chú ý: Tháp Tình Nhân . Anh đọc những dòng đầu tiên:

“Ngày xửa ngày xưa, người dân trong vùng ai ai cũng biết đến ngọn tháp canh nổi tiếng với cái tên tháp Tình Nhân, mang hồi ức về một bi kịch chết người được ghi dấu trong thời Trung cổ. Ngài Bá tước Mortepierre, sau khi đã thu thập đủ bằng chứng vợ mình ngoại tình, đã giam cầm cô ta trong phòng tra tấn suốt hai mươi năm. Một đêm nọ, người tình của cô ta, Lãnh chúa de Tancarville, với lòng quả cảm vô song, đã dựng một cái thang dưới sông, sau đó vất vả trèo lên mặt vách núi cho đến khi tới được ô cửa sổ căn phòng. Sau khi giũa các chấn song, anh ta đã giải cứu thành công người phụ nữ mình yêu thương, rồi cùng cô ta bám vào dây thừng tụt xuống. Cả hai vừa tới được đầu ngọn thang, và trước sự chứng kiến của các bạn bè anh ta, một phát súng vang lên từ lối đi tuần tra, anh ta bị trúng đạn vào vai. Và cặp tình nhân lao thẳng xuống dưới...”

Sau khi đọc xong, anh ngồi lặng đi một lát, một khoảng lặng dài mà lúc đó từng người trong số họ đều vẽ ra trong đầu hình ảnh lối thoát bi thảm. Vậy là ba, bốn thế kỷ trước, một người đàn ông đã mạo hiểm cả tính mạng mình, đã nỗ lực tạo nên kỳ tích phi thường ấy và hẳn anh ta đã thành công nếu như không có tên lính canh nào đó nghe thấy tiếng ồn. Một người đàn ông đã dám phiêu lưu! Một người đàn ông đã liều mạng! Một người đàn ông đã làm được!

Lupin ngước mắt lên nhìn Clarisse. Cô ta cũng đang nhìn anh... với ánh mắt mới tuyệt vọng, van nài làm sao! Ánh mắt của một người mẹ đòi hỏi điều không thể, và hẳn cô ta sẽ hy sinh tất cả mọi thứ để cứu lấy con trai mình.

“Le Ballu!” Anh nói. “Đi kiếm một sợi dây thừng chắc, nhưng phải mỏng manh, để tôi có thể vòng nó quanh thắt lưng, cũng phải dài nữa: năm mươi hoặc sáu mươi thước. Còn Grognard, đi kiếm ba hoặc bốn cái thang rồi buộc chặt chúng lại với nhau.”

“Ông chủ đang nghĩ cái quái gì vậy?” Cả hai tên đồng lõa cùng kêu lên. “Hả, ngài định... Nhưng chuyện này thật điên rồ!”

“Điên rồ hả? Tại sao? Tôi còn biết làm cái gì khác đây?”

“Nhưng chín mươi chín phần trăm ngài sẽ ngã gãy cổ.”

“Cậu thấy đấy, Le Ballu, có một phần trăm tôi sẽ không bị ngã.”

“Ông chủ.”

“Thế là đủ rồi, các bạn tôi ơi. Một tiếng nữa gặp tôi trên bờ sông nhé.”

Những khâu chuẩn bị diễn ra lâu la. Rất khó tìm được nguyên vật liệu cho một cái thang dài năm mươi thước vươn đến tận gờ đầu tiên của vách đá, đòi hỏi phải nỗ lực và cẩn trọng không ngừng khi nối các khớp khác nhau.

Cuối cùng, sau chín giờ một chút, cái thang được dựng lên ở giữa sông và được cố định vào một chiếc thuyền, mũi thuyền được lèn chặt vào giữa hai thanh ngang, trong khi phía đuôi thuyền tựa chắc vào bờ sông.

Con đường đi qua thung lũng sông hiếm khi được sử dụng, nên không có ai phá ngang công việc này. Đêm trời tối om, bầu trời trĩu nặng những đám mây bất động.

Lupin dặn dò Le Ballu và Grognard những chỉ dẫn cuối cùng, rồi nói kèm tiếng cười: “Tôi không thể nói cho các cậu biết tôi vui đến thế nào trước ý nghĩ sẽ trông thấy gương mặt của Daubrecq, khi chúng lột da đầu lão hoặc lóc da của lão thành những mảnh ruy băng. Phải nói cảnh ấy xứng đáng phải khổ công đấy.”

Clarisse cũng chiếm một chỗ ngồi trên thuyền. Anh nói với cô ta: “Hẹn khi chúng ta gặp lại nhau. Và trên hết, đừng gây náo động. Dù có chuyện gì xảy ra đi nữa, cũng không được cử động, không được kêu lên.”

“Có chuyện gì xảy ra được cơ chứ?” Cô ta hỏi.

“Còn nhớ Lãnh chúa de Tancarville không! Đúng vào lúc sắp đạt mục tiêu rồi, với tình yêu đích thực của anh ta trong vòng tay, thì một tai nạn đã phản bội anh ta. Nhưng yên tâm, tôi sẽ không sao đâu.”

Cô ta không trả lời. Cô ta chỉ siết chặt bàn tay anh, hơi thở hổn hển của cô ta khiến nó ấm sực lên giữa lòng bàn tay cô ta.

Anh đặt chân lên thang đung đưa mạnh để chắc chắn nó không rung lắc quá nhiều. Xong anh bước lên.

Anh nhanh chóng leo tới bậc thang trên cùng.

Đây là nơi bắt đầu hành trình nguy hiểm, một con đường khó khăn ngay từ đầu vì độ dốc đứng quá đáng, vì giữa chừng con đường ấy bỗng biến thành vách núi dốc nguyên khối.

Thật may mắn là đây đó xuất hiện những cái hốc nhỏ, để anh có thể làm điểm tựa đặt chân và những viên đá trồi ra để bám tay vào. Nhưng có hai lần những viên đá rụng xuống khiến anh bị trượt, hai lần anh thực sự tin rằng mọi thứ đã chấm hết. Tìm thấy một chỗ lõm mới, anh bèn dừng lại nghỉ.

Anh đã kiệt sức, cảm thấy thực sự muốn bỏ cuộc, anh tự hỏi liệu việc này có xứng đáng để anh phải mạo hiểm đến thế không?

“Trời ạ!” Anh nghĩ. “Có vẻ mày đang sợ hãi đấy à, Lupin, tội nghiệp mày. Bỏ cuộc ư? Vậy thì Daubrecq sẽ bép xép bí mật của lão ấy ra, đến lượt mình, tên Hầu tước sẽ có được bản danh sách. Lupin phải quay về tay trắng, và Gilbert...”

Sợi dây thừng dài mà anh đã cột quanh thắt lưng khiến anh cảm thấy bất tiện và mệt mỏi không cần thiết. Anh buộc một trong hai đầu dây vào cái móc trên quần rồi buông rơi đầu dây còn lại dọc con đường, để anh có thể sử dụng nó làm tay vịn khi quay về.

Tiếp theo, anh lại bám chặt vào bề mặt gồ ghề của vách đá và trèo tiếp, với những đầu ngón tay bầm tím và chảy máu. Cứ chốc chốc anh lại nghĩ kiểu gì mình cũng rơi xuống. Thứ làm anh thấy nản lòng nhất là nghe thấy những giọng nói thì thầm vẳng lên từ dưới thuyền, tiếng thì thầm rõ ràng đến nỗi như thể khoảng cách giữa anh và các bạn đồng hành chẳng hề được tăng lên.

Rồi anh nhớ đến Lãnh chúa de Tancarville, cũng một thân một mình, giữa bóng tối mịt mùng, anh ta chắc phải run rẩy trước âm thanh của những viên đá trượt tay lăn xuống vách núi. Chỉ cần thanh âm nhỏ nhất cũng đủ phá tan sự im lặng! Nếu một trong những tên lính đang trông giữ Daubrecq chăm chú nhìn vào màn đêm từ tháp Tình Nhân, thì cũng tức là một phát súng... và cái chết.

Và anh trèo... anh trèo... Anh đã trèo lâu đến nỗi tưởng như mục tiêu đã tuột khỏi tay. Không nghi ngờ gì nữa, anh dần dần không còn nhận thức được bên phải, bên trái và hẳn anh sẽ đáp xuống lối đi tuần tra. Đúng là một kết cục ngu xuẩn! Làm sao anh có thể mong chờ một cái kết cục khác khi mà những sự kiện xảy ra quá nhanh đến nỗi anh không có đủ thời gian nghiên cứu và chuẩn bị?

Anh lại tăng gấp đôi nỗ lực một cách điên rồ, tự kéo mình lên thêm mấy thước nữa, bị trượt, lấy lại sức, bám chặt vào một chùm rễ cây tuột khỏi tay mình, lại trượt tiếp và anh đang muốn rời bỏ cuộc chơi trong vô vọng, thì bỗng anh gồng cứng người, thu lại cả thân hình, các cơ bắp và cả ý chí, và dừng khựng lại: Âm thanh của những giọng nói dường như phát ra từ ngay chính tảng đá anh đang bám.

Anh lắng nghe. Nó xuất phát từ bên phải. Anh quay đầu sang, nghĩ rằng mình trông thấy một tia sáng đang chiếu xuyên qua bóng tối không gian. Không hiểu sức mạnh đến từ đâu, bằng những cử động anh không còn cảm thấy, anh đã kéo được chính mình đến cái nơi mà anh không bao giờ có thể nhận ra một cách chính xác. Nhưng bỗng anh thấy mình ở trên gờ của một khe hở khá rộng, ít nhất phải sâu ba thước, lõm vào bức tường của vách đá như một hành lang, trong khi đầu bên kia của hành lang hẹp hơn nhiều bị chặn bởi ba chấn song.

Lupin bò dọc hành lang. Đầu anh chạm phải các chấn song. Và anh trông thấy...

« Lùi
Tiến »