Chiếc máy bay Airbus 321 giảm hết tốc độ, hạ càng, chạy lướt trên đường băng sân bay Nội Bài, dừng lại trước cầu dẫn. Hành khách từ từ qua cửa máy bay đi theo đường dẫn xuống cầu thang máy, tới chỗ gửi hành lý. Ông Đàm bước thẳng ra cửa nhà chờ. Ở
bên ngoài, ông Đường đang đứng đợi để đón ông về khách sạn đã đặt trước.
Nhìn thấy ông Đàm ung dung bước những bước vững chãi ra cửa, ông Đường như muốn reo lên. Người bạn thân và đầy ân nghĩa của ông đã ra đây. Bây giờ ông không những là chủ nhà, mà còn là một người chịu ơn nữa. Ông vẫy tay chào và tiến tới cầm tay ông Đàm như kéo ông Đàm về phía mình. Trước vẻ vui mừng khác lạ này của bạn cũ, ông Đàm bỗng nở nụ cười vui vẻ:
– Chết thật. Ông làm như tôi sẽ không còn được gặp ông nữa vậy.
Nếu tôi không lầm thì đây là điều khác với thái độ hằng ngày của ông đấy.
Nghe ông Đàm nói vậy, ông Đường lại lắc tay ông Đàm vài cái nữa, rồi mới nói:
– Ngoại lệ. Ngoại lệ. Chúng mình ra xe thôi.
Chiếc taxi bốn chỗ chạy trên đường cao tốc qua cầu Thăng Long vào nội thành. Ông Đàm vừa kể chuyện chuyến bay, vừa nhìn ra hai bên đường xá. Ông xa Hà Nội mới chục năm mà Thủ đô đã có nhiều biến đổi quá. Những khu nhà cao tầng mọc lên san sát hai bên đường, hai bên bờsông Hồng và dọc theo đại lộ Phạm Văn Đồng. Phía Nam cầu Thăng Long là khu đô thị Ciputra khang trang, rộng rãi và thiết kế đồng bộ, đẹp đẽ. Cổng vào khu đô thị
được xây dựng rất bề thế, trên có đắp hình những chú ngựa thiên lý đang vươn mình phóng nước đại trên tầng cao. Hà Nội vào Thu, mây trời trong vắt, cây lá đang chuyển màu. Những công trình mới xây, những nhà tháp hai bên đường phố từ ngoại thành vào nội thành, cùng với những chiếc cầu vượt mới toanh, nổi bật trên nền trời trong xanh, làm cho Hà Nội như rộng thêm ra, khang trang hơn. Giao thông đô thị trở nên thông thoáng hơn. Ông Đàm có cảm nhận: Hà Nội đã đổi khác rất nhiều.
Ông nói:
– Quả thật, Hà Nội bây giờ đẹp và phát triển nhanh hơn trước nhiều. Nhưng không biết khu phố chúng mình sống, có gì thay đổi không?
Ông Đường nhìn bạn, rồi nói:
– Cũng chưa có gì. Tôi vừa mới bị thụt vào vũng bùn ở giữa đường tối hôm trước đấy. Có lẽ ông phải xa “hà lội” mươi năm nữa, may ra chỗ ấy mới đổi khác.
Ông Đàm quay sang nhìn bạn:
– Khổ chưa. Tôi cứ nghĩ nơi nửa làng, nửa phố, nửa có ánh điện, nửa có trăng sao ở ngay khu trung tâm thành phố ấy, chắc phải khác lắm rồi chứ?
Ông Đường nói:
– Cũng có khác. Nhưng mà chỉ ở khu vực bên kia hồ Ba Mẫu thôi.
Ở đó nhiều nhà mới xây, nhiều khu đất được phân chia và mới quy hoạch, nên có phát triển? Còn khu giữa làng Linh Quang thì...
còn nhiều ổ chuột lắm.
Nghe ông Đường nói thế, ông Đàm bỗng thở dài. Ông có ý định xây dựng lại khu nhà cũ để làm nơi thờ tự ông bà, cha mẹ. Nghe
thế, ông đành thầm nghĩ để tới đó rồi xem xét sau. Ông đổi ý, đề
nghị ông Đường cho xe chạy về khu nhà ở Linh Quang trước khi về nhà ông Đường, rồi mới ra khách sạn. Nhưng ông Đường cho biết, đường vào nhà cũ đi xe 4 chỗ cũng chỉ tới ngõ lớn, cách nhà khá xa. Sợ ông Đàm mệt không đi bộ được. Ông Đường đề nghị
tới nhà mới của ông trước rồi đến đó sau. Ông Đàm đành miễn cưỡng gật đầu.
Chiếc xe đỗ xịch trước cổng khu nhà cao tầng trên phố Hoàng Đạo Thúy. Nơi đó có rất nhiều chung cư mới được xây dựng.
Trong đó có mấy căn hộ của cơ quan ông Đường được sử dụng.
Ông Đường được ở một căn hộ trên tầng 11, có diện tích 95 mét vuông. Khi lên cầu thang máy, ông Đàm đã quan sát thấy khu nhà còn mới, chưa có nhiều người qua lại. Chắc ông Đường là một trong số những người đến nhận nhà sớm nhất. Ông tỏ ra rất thông cảm với bạn mình. Chắc ông ấy vui mừng lắm. Như thế này so với ở nhờ thì sướng biết bao nhiêu. Đời người cán bộ như ông Đường thật lắm vất vả. Ông Đàm chợt nghĩ. Trong óc ông đã sắp sẵn một phương án để đưa ông Đường vào đường dây liên lạc của mình. Nhưng ông quyết định không nói cho ông Đường biết ý định này.
Bước vào nhà, ông Đường vội giới thiệu vắn tắt nơi ở mới với những đồ đạc xuềnh xoàng, còn để bề bộn, như muốn thanh minh với bạn cái khó của mình. Một căn hộ hai buồng ngủ, mộtphòng khách thông với nhà bếp làm phòng ăn và có hai phòng vệ sinh. Mọi trang thiết bị còn mới nguyên. Sàn nhà lát gỗ, tường sơn màu vàng nhạt, còn thơm mùi sơn. Ông Đàm ngồi xuống bộ ghế tựa bằng gỗ mới mua của ông Đường mà thấy người nhẹ nhõm hẳn.
Nhìn vào nội thất của căn hộ với cuộc sống đạm bạc ấy, ông Đàm càng thấy ý nghĩ của mình đưa ông Đường vào tổ chức bí mật là đúng. Qua đó sẽ cải thiện dần cuộc sống của ông Đường. Trong lúc hai ông bạn đã ngồi yên vị, đối diện với nhau thì bà Đường từ
trong bếp ra chào khách rối rít, vừa mời ông Đường ngồi, vừa lau tay, rồi rót nước pha trà. Bà Đường năm nay 56 tuổi, dáng người thấp đậm, nhưng khuôn mặt tròn đầy, nước da vẫn trắng trẻo, bước đi còn nhanh nhẹn đáo để. Bà đã nghỉ hưu non gần chục năm nay để chăm sóc chồng, con. Hiện nay đứa con trai lớn được đi học ngành in ở nước ngoài chưa về. Một đứa đi làm. Được báo trước là ông Đàm ra, nên bà đã chuẩn bị tiếp đón khá chu đáo.
Bà cũng coi ông Đàm như một ân nhân trong cuộc sống của gia đình mình. Điều đó khiến ông Đàm thấy ấm cúng hơn.
Ông nói:
– Lần này ra Bắc có chút quà tặng ông bà. Xin được ở ngoài này chơi hơi lâu đấy. Không biết có làm phiền ông bà không đây?
Bà Đường cười nói:
– Ông cứ đùa. Được ông đến thế này là phúc cho nhà tôi lắm.
Trưa nay cháu Hải đi làm không về được, nên xin ông ăn trưa và nghỉ tạm cho lại sức. Tối nay tôi mời cả mấy ông bạn cũ của ông và nhà tôi đến chơi vui, chào đón ông. Mong ông thông cảm cho.
Ông Đàm cười thân mật:
– Ông bà lại bày vẽ rồi.
Nói rồi ông mở vali xách tay, lôi ra một gói nhỏ và một hộp có bao bì khá đẹp. Ông đưa tới cho bà Đường. Bà bối rối, nhưng không dám từ chối, cứ rối rít cảm ơn.
Ông Đàm và ông Đường chuyện trò với nhau rất lâu, thật vui vẻ, thân tình. Chiều hôm đó, sau khi nghỉ ngơi một lúc, ông Đường lấy xe máy, đèo ông Đàm về khu nhà cũ.
***
Ngôi nhà ông Đàm cho ông Đường ở nhờ và trông coi hộ, gần như
không có gì thay đổi. Vẫn bức tường rào cao hơn một mét chạy vòng quanh khu đất rộng chừng hơn hai sào Bắc Bộ. Trong chiếc cổng sắt được đan bằng những thanh sắt vuông nhỏ, đã han rỉ, là một khu vườn nhỏ, một cái sân hình chữ nhật, cũng nhỏ như khu vườn, rồi đến ngôi nhà ngói ba gian, có mấy hàng cột gỗ đã cũ
kỹ. Phía tay trái là khu nhà bếp. Lui ra sau là khu nhà vệ sinh, nhà tắm. Phía tay phải là một gian nhà nhỏ, chạy dài như một cái nhà kho. Nơi này, xưa kia bố ông Đàm dùng làm xưởng đồ mộc của gia đình. Ông cụ là một người thợ giỏi, nối nghiệp cha từ bé.
Nhưng trong thời kỳ chống Pháp, ông thân sinh ra ông Đàm đã bỏ
nhà, lên vùng cao, vừa làm nghề thợ mộc, vừa làm nghề xây dựng, cùng với mấy người bạn, để làm ăn sinh sống. Bà mẹ ông Đàm vẫn ở nhà chạy chợ nuôi con.Trong những năm năm mươi, khi cuộc kháng chiến chống Pháp ở giai đoạn quyết liệt, bố Đàm đã trở về cùng vợ con. Trong thời gian đó bố ông đã sửa lại ngôi nhà, thay thế một vài chiếc cột gỗ cũ, thay mái, làm lại nền nhà và xây thêm khu phụ. Cuộc sống gia đình đã yên ổn và khang trang hơn. Nhưng không may, lúc đó người anh của ông Đàm đã bị bệnh nặng và mất lúc lên 4 tuổi. Khi đó ông Đàm mới ra đời.
Cuộc sống gia đình không được dư giả, nên bố ông lại bỏ nhà đi
làm ăn xa. Bẵng đi một thời gian, rồi sau đó không thấy ông ấy trở về nữa. Lúc ấy ông Đàm được mẹ cho đi học, rồi lớn lên trong khó khăn. Một mình mẹ ông tần tảo chạy chợ nuôi con. Các chú bác cũng mất lúc nào không rõ. Lại có rất ít người thân, họ hàng ở Hà Nội, nên cũng không ai giúp được gì nhiều. Cũng may cho mẹ con ông là các cụ từ ngày xưa đã để lại cho bố ông mảnh đất này và bố ông cũng còn một số vốn liếng tích cóp lúc làm thợ để
dành lại, nên cuộc sống của mẹ con ông cũng không đến nỗi túng thiếu. Sau này ông Đàm mới biết chuyện này.
Mẹ ông trước khi mất đã nói cho ông biết rằng, bố ông đã có thời kỳ làm thợ cho bọn Tây, nên cũng có được chút kinh tế và thế lực ở nơi làm việc. Nhưng ông ấy đã phải làm việc cật lực mới được bọn chủ ưu ái. Sau này, khi đi xa lần thứ hai bố ông đã làm ăn rất khá giả. Nghe nói đã có một gia đình ở vùng cao cho ông ăn, ở và ông đã có được một nhóm thợ mộc giỏi. Bố ông đã làm nhiều việc và có nhiều tiền hơn. Nhưng rồi không hiểu sao ông bị ốm đau, hay bệnh tật, hoặc tai nạn gì đấy, mà mất lúc nào không rõ. Mẹ
ông Đàm chỉ nhận được tin khi mọi chuyện đã được những người thợ bạn giải quyết xong xuôi, yên ổn.
Những điều này vẫn thường làm ông Đàm không yên. Nhất là khi ông lớn lên, được ăn học chu đáo, ông càng thấy áy náy. Cho mãi đến khi ông làm luận án Thạc sĩ Luật, ông mới được biết cụ thể về
cái chết của bố ông.
Trong hơn hai năm học ở Pháp, Đàm là một sinh viên rất thông minh. Anh ta thành thạo mấy ngoại ngữ, như tiếng Pháp, tiếng Anh và cả tiếng Ý nữa. Đàm tự nghiên cứu và đọc sách bằng tiếng Anh và tiếng Pháp. Đàm được chọn trao học bổng toàn phần khi theo ngành Luật. Rồi Đàm được chuyển đến một nơi ở mới, cách xa trường một chút, nhưng rất thuận tiện về đường tàu xe. Chính những ngày ở Pari ấy, Đàm đã quen biết và thân thiết với một giáo sư già của trường. Ông này nhận làm người đỡ đầu và hướng dẫn luận án cho Đàm. Ông ta đã giới thiệu Đàm làm quen với một vài nhân vật có tiếng tăm và có ảnh hưởng lớn trong giới trí thức người Pháp và cả một vài người Việt đang định cư tại Pháp. Rồi, trong một kỳ nghỉ dài ngày, Đàm được tổ chức đi du lịch về nông thôn nước Pháp. Ở đó Đàm đã gặp nhiều người từng có thời kỳ
sống và làm việc tại Việt Nam.
Từ đó Đàm được hiểu biết thêm về những tổ chức chính trị có vẻ
tự do của người Pháp. Những người này vẫn quan tâm tới xu
hướng chính trị của Việt Nam. Và cũng từ đó, Đàm được một người bạn của giáo sư hướng dẫn luận án mời tham gia vào một tổ chức bí mật gồm những nhà trí thức và luật gia, các chính trị
gia đã về hưu và cả những trí thức người Việt cũ đã di tản sang Pháp. Đàm tưởng như mình được quan tâm giúp đỡ và có vinh dự
là một luật sư trẻ mà đã được ưu ái và tôn trọng tại Pháp. Song, Đàm không hiểu được rằng, mình đã thực sự tham gia vào một tổ
chức chính trị tại Pháp. Thế rồi, sau đó anh ta được người bạn của giáo sư kể lại mọi điều về gia thế của anh, nói cho anh nghe những gì mà cha của Đàm đã làm, đã cộng tác với người Pháp ra sao. Đàm lúc ấy mới ngã ngửa ra rằng cha là một điệp viên của Pháp. Những điều đó vẫn nằm trong bí mật mà anh không hề
biết. Những bí ẩn về cái chết của người cha lâu nay vẫn làm Đàm phải suy nghĩ, thắc mắc, giờ cũng được làm rõ sự thật từ lời kể
của vị trí thức nọ.Về cái chết của người cha và sự thật về những hoạt động bí mật của ông ta khi làm tay sai cho một tên trùm thực dân Pháp suốt những năm cuối đời, đã được phơi bày. Đàm không tin và không muốn tin như thế. Song người Pháp đó đã đưa ra những mảnh giấy ghi chép về những báo cáo, thời gian và nhiệm vụ của cha Đàm, cùng với những tấm ảnh chụp được cảnh ông ta gặp gỡ những người Pháp. Ảnh ông ta nhận tiền thưởng của người Pháp và các bí mật khác, đã chứng minh sự thật không thể chối cãi nổi. Đàm không thể nào tin nổi điều đó. Song, chính từ những ngày đó, Đàm đã phải chấp nhận một sự thực là đã bị
ràng buộc, phải nhận tham gia vào tổ chức của bọn tình báo này.
Thế rồi, trong những tháng ngày sau đó, Đàm được bí mật đào tạo trở thành một điệp viên thông minh và bản lĩnh của tổ chức này.
***
Bố Đàm vốn là một người lao động bình thường trong giới thợ xây dựng, nhưng lại rất giỏi nghề thợ mộc. Ông có tiếng trong giới thợ
mộc ở Hà Nội. Nhưng sau đó vì đi làm ăn xa để kiếm tiền sinh sống, ông ta đã tham gia làm các công trình cho người Pháp. Bố
Đàm tổ chức một đội thợ, gồm một số người Kinh và người Tày làm việc cho Tây và làm các công trình nội thất cho những nhà giàu ở vùng cao. Vì đội thợ của ông, gồm cả thợ nề và thợ mộc, đều có tài năng nên cha Đàm đã được một chủ Tây chú ý, quan tâm nâng đỡ, rồi nhận đỡ đầu cho họ. Từ đó, nhóm thợ này được coi như của người Pháp. Còn ông được bọn chủ Tây chu cấp đầy đủ tiền bạc trong nhiều năm. Và bố Đàm đã thông qua nghề
nghiệp làm thợ cả của mình để nắm tình hình Việt Minh và các
hoạt động của cách mạng trong vùng tề ngụy và báo cáo cho Pháp. Ông ta còn có một nhóm người thân cận làm chỉ điểm cho giặc. Khi ấy, bố Đàm có biệt hiệu là Phó Kiều Mộc. Một ông thợ
mộc giỏi có tên là Kiều. Phó Kiều Mộc, tên thực là Vương Thế
Kiều, giỏi nghề và khá thạo tiếng Tây, nên đã được một số quan Tây quý mến. Thực chất, ông ta là một tên Việt gian rất tài giấu mặt, giỏi che đậy thân phận của mình.
Không may, trong một trận đánh của du kích, ông đã bị bắn chết tại một ngôi nhà lớn đang được xây dựng ở vùng cao. Lúc đó Phó Kiều Mộc chưa kịp sơ tán kíp thợ trong ngôi nhà của một tên quan lang giàu có nhất vùng, mà ông đang làm thuê. Cái chết của bố
Đàm vì thế không được biết đến một cách tường tận. Song, trong báo cáo mật của mật thám Pháp thì bố Đàm có bí số là “D1”, đã mất vì bị phục kích. Ông ta còn cất giữ một bí mật đặc biệt về
một tổ chức gián điệp người Việt làm cho Pháp. Trong đó có những tên đã nắm được những bí mật của cả mật thám Pháp lẫn những điều quan trọng của người Việt mà bọn tình báo đang cần.
Điều này chính những quan thày Pháp cũng không nắm được. Và bí mật về tổ chức này, không biết ngoài “D1” ra, còn ai biết nữa không, chúng cũng không rõ. Bố Đàm liệu có đem theo bí mật này xuống mồ? Chính bọn mật thám Pháp cũng muốn tìm ra câu trả lời. Sau rất nhiều phương cách tìm kiếm, kể cả theo dõi, mua chuộc những người thợ bạn của bố Đàm, chúng vẫn chưa phát hiện ra được.
Sau kháng chiến, mạng lưới điệp viên của Pháp cũng có phần tan rã, hoặc rút vào bí mật, hoặc bị tên trùm mật thám Pháp, Xanh-Tơ-Ni, bán cho CIA Mỹ. Một số khác theo chủ Tây cuốn gói về
Pháp. Do đó, những bí mật của bố Đàm tưởng như đã đi vào dĩ
Vãng. Nhưng khi biết Đàm là con ông Kiều, những kẻ cầm đầu tổ
chức này, luôn tìm cách tiếp cận và dẫn dắt Đàm tham gia hoạt động với chúng. Chúng cũng hy vọng qua Đàm sẽ tìm thấy bí mật đã mất. Thế là, giờ đây Đàm đã là một nhân vật đặc biệt trong tổ
chức này.