Khi về tới khách sạn, Đàm rất nhanh chóng và kín đáo mở món quà vừa nhận được. Đó là một thông báo mật lệnh mới rất quan trọng. Đàm xem xong, liền hủy ngay mật mã. Ông đã hiểu nhiệm vụ của mình. Ông cũng biết, nhóm Dân chủ của một số
người ở Hà Nội đã liên lạc được với hải ngoại qua đường Việt kiều và họ đã nhận được tài trợ. Còn ông đã có bưu phẩm và quà từ gia đình người vợ ở bên Pháp gửi về. Đó là một phần thưởng xứng đáng đối với ông.
Khi đã yên tâm với sự liên lạc, ông Đàm lặng lẽ thay áo và xuống phòng ăn của khách sạn. Việc cần làm tiếp của Đàm là làm thế nào tìm cho được tên điệp viên có bí danh đặc biệt là
“Xe-đen”, ký hiệu “X1”. Trong bí mật mà bố Đàm cất giữ, có một danh sách gồm năm cái tên, được đánh số thứ tự theo quy định của quân cờ. Đó là: Sĩ, Tượng, Xe, Pháo và Mã. Nhưng đó chỉ là ký hiệu. Còn cụ thể từng quân cờ là ai, làm việc gì, đang ở
đâu, thì ông mãi sau mới biết được.
Đàm nhớ lại, ngày đó khi ông ta sửa nhà, ông phải chuyển đồ
xuống nhà ngang ở tạm để trông coi. Một buổi tối, khi nhóm thợ
tháo dỡ mái và đập bức tường hậu bị nứt vỡ, để xây lại và dỡ
một số thanh gỗ trên mái nhà bị hư hỏng để thay thế đã về hết.
Ông Đàm xem lại các cột gỗ để biết cái nào hỏng nhiều còn sửa.
Ông bỗng giật mình. Chiếc búa trong tay Đàm cầm để gõ vào các cột gỗ, bỗng thấy lộp bộp khi gõ vào chân chiếc cột trong góc nhà, nơi thường kê hòm xiểng ở phía cuối chiếc giường nằm.
Đàm hơi ngạc nhiên. Ông ta tưởng chiếc cột này đã mục ruỗng, nên khi gõ mới kêu thế. Song, Đàm không thấy có chỗ nào mọt rác, hay mục ải cả. Ở trên thân cột, tiếng gõ không có gì khác lạ. Duy chỉ có sát chân cột, cách tảng đá kê khoảng 15 cm, mới nghe thấy tiếng kêu ấy. Đàm gõ lại một lần nữa, vẫn tiếng kêu khác lạ ấy. Gõ lần nữa, cũng vẫn vậy. Đàm nghĩ, hình như là cột đã rỗng.
Ông ta cầm chiếc đèn pin đến xem thử. Chiếc cột không mối mọt. Đàm nghĩ, gỗ lim không mọt là đúng, nhưng lõi có thể
rỗng chăng? Ông ta sờ tay xuống chỗ đó, vẫn không thấy có gì đặc biệt. Tức mình, Đàm cầm búa đập mạnh một cái vào chỗ có tiếng kêu lộp bộp. Bỗng một mảnh gỗ văng ra. Đó là một miếng gỗ vuông vức, mỗi chiều khoảng 6 cm. Đàm cầm lên xem, thì ra đó là một cái chốt gỗ. Một đầu miếng gỗ khá mỏng. Một dầu dày. Chắc khi gõ mạnh vào đầu mỏng nó mới bật ra.
Đàm soi đèn vào lỗ cột chỗ mảnh gỗ bật ra. Trong đó là một tấm gỗ khép kín cái lỗ ấy. Phía trên có một chiếc lò xo nhỏ gắn vào gỗ. Phía dưới có một chốt nhỏ tròn trịa. Đàm nghĩ, thì ra vậy. Nếu đập mạnh vào cột ở chỗ miếng gỗ có phần mỏng sẽ ấn vào lò xo và độ nén sẽ làm phiến gỗ bật ra. Ông ta liền dùng một chiếc tuốc-nơ-vít ấn mạnh vào cái chốt. Lập tức tấm gỗ thứ
hai mở vào trong và một khoảng trống nho nhỏ trong thân cột lộ ra. Đàm nhìn thấy một chiếc ống nhỏ tròn cài vào trong hốc cột. Ông ta ngỡ ngàng, kinh ngạc, xen chút lo lắng, tò mò. Đàm rút chiếc tuốc-nơ-vít ra, lập tức tấm gỗ mỏng từ từ khép lại. Cái hốc kín như cũ. Đàm dùng vít đẩy chốt lại lần nữa và đưa tay kia kéo cái ổng ra. Đó là một chiếc ống bằng đồng, được gò nắp đậy rất khéo. Nó chỉ nhỏ bằng ngón tay cái và dài không quá 5
cm. Đàm hết sức kinh ngạc khi phát hiện bí mật này. Ông ta chợt nghĩ ngay đến điều bí mật của cha ông đã biến mất khi ông chết đột ngột trong ngôi nhà sàn của người quan lang vùng cao.
Thì ra là đây chăng? Đàm nghĩ, có lẽ bí mật của bố ông là ở đây.
Ông cụ mất mà không kịp trao lại cho ai đó chăng?
Đàm từ từ rút chiếc vít ra thì cái mảnh gỗ bịt lỗ hổng trong thân cột cũng đóng lại. Thì ra nó có một cái bản lề như cánh cửa vậy.
Và mảnh gỗ văng ra ban nãy đậy vào vừa khít cái lỗ đó. Nhưng bây giờ cột không được trơn nhẫn như trước nữa. Đàm hiểu ngay là cha ông khi sửa nhà vào trước năm năm tư, khi ông mới sinh, đã làm nên một cái hộp bí mật này, chỉ để cất giấu cái bí mật chết người nọ. Ông ta nghĩ: Bố ông đã chứng tỏ tài nghệ
thợ mộc điêu luyện của mình trong cả công việc bí mật. Đàm muốn để chiếc cột được như cũ, thì phải dùng keo dán cho miếng gỗ khỏi văng ra, rồi đánh bóng chiếc cột sau đó mới sơn lại.
Nhưng trước hết ông ta phải xem trong chiếc ống đồng nhỏ này là cái gì đã. Đàm đem ra chỗ sáng và cắm cúi mở nắp ống đồng.
Ông càng ngạc nhiên hơn khi gỡ ra, trong đó là một mảnh lụa nhỏ. Trên mảnh lụa có vẽ một bàn thờ. Ở chỗ để bát hương trên bàn thờ ấy, có một mũi tên chỉ xuống dưới, ghi số 3 và chữ M.
Cả chữ và số được đặt trong một hình vuông. Phía bên cạnh hình bát hương có ba ngôi sao đen và bên kia có hai ngôi sao vàng. Cả khu vực này vẽ hình một bàn cờ rất mờ. Trên đó là những dấu chấm nhỏ đánh dấu các ngôi sao.
Tất cả chỉ có thế. Ông Đàm ngớ người, không hiểu được gì cả.
Song, ông đã dùng giấy bút vẽ lại sơ đồ này không thiếu chi tiết nào. Xong xuôi, Đàm giơ lên ánh sáng xem trong mảnh lụa có gì bí ẩn nữa không. Không có gì. Đàm lại đốt nến cho sáp nến rỏ
xuống tấm lụa. Cũng không có gì xảy ra. Ông ta gấp tấm vải lại và tắt ngọn đèn điện đang soi, quay xuống nhà ngang ngả người ra giường nghỉ ngơi và suy nghĩ. Một mình với bí mật khó hiểu ấy, Đàm đã trằn trọc mãi. Hết giở mảnh lụa ra xem lại gấp vào, rồi lại giở ra. Vẫn chỉ có vậy.
Rồi Đàm quyết định cất cái bí mật này lại chỗ cũ và dùng keo, sơn hàn lại chân cột. Ông ta còn phủ lên đó một lớp bụi đất để
che mắt những người thợ xây ngày mai sẽ đến làm cho ông.
Xong đâu đó, Đàm mới chuẩn bị đi nằm.
Nằm mãi Đàm vẫn không ngủ được. Ông ta liền bật dậy, bật đèn, lôi tờ giấy vẽ lại hình ban nãy ra xem. Lóng ngóng thế nào ông lại chạm vào chiếc bàn thờ đã được xếp lại trong góc, cạnh chiếc bàn để ấm chén. Chiếc bàn thờ đổ ngửa ra, Ông Đàm vội
đỡ lấy, thì tay ông cầm vào mép bàn thờ. Không ngờ cái thành gờ chắn viền mép bàn thờ ấy lại mỏng, nên nó bật ra khỏi bàn thờ. Ông cầm lên xem lại, thì ra xung quanh chiếc bàn thờ này được làm thêm một vành gỗ, tạo thành gờ bàn thờ. Thường thì người ta chỉ cần đóng nẹp vào bốn cạnh chiếc mặt bàn thờ là được. Nhưng ở đây, bố Đàm đã làm các thanh nẹp này có rãnh để ghép vào bốn cạnh của bàn thờ, nên trông rất đẹp. Đúng là thợ mộc có khác. Bốn cạnh đều nhau, riêng cạnh kê sát vào tường thì dễ dàng rút được cái nẹp của mặt bàn ra. Nhưng nếu không để ý thì cũng rất khó tháo. Đàm cầm mặt bàn thờ lên xem. Thì ra mặt bàn có hai lớp gỗ tốt ghép sát khít vào nhau. Tò mò, Đàm tháo cả mặt bàn ra xem. Ông hết sức khâm phục tài nghệ của bố mình. Một chiếc bàn thờ như là một kỳ công. Nó như một sản phẩm của một nghệ nhân đồ gỗ.
Phía sau một lớp gỗ mặt bàn là một hình bàn cờ được khắc chìm rất đẹp. Bàn cờ rộng 41 phân, dài 58 phân, nằm ở trung tâm bàn thờ. Trên bàn cờ có khắc năm quân cờ, trên đó đánh dấu năm ngôi sao vừa vàng vừa đen. Và trên mỗi ngôi sao có dấu chấm son rất rõ. Các ngôi sao này khắc trên các quân cờ ở vị trí khác nhau. Quân cờ có ngôi sao 6 cánh màu vàng đặt ở trung điểm hàng quân sĩ. Cái đen đặt ở chỗ quân xe, quân mã, quân tượng, quân pháo. Nhưng quân pháo là sao màu vàng. Những nốt khắc này nằm rải ra cả hai bên. Đàm chợt giật mình. Thì ra đây là ký hiệu được ghi trên mảnh vải. Năm ngôi sao ở đó cũng giống năm ngôi sao trên bàn cờ vậy. Đàm lật phía sau tấm gỗ
thứ hai. Trên đó là một bức tranh trạm trổ rất tinh vi, khéo léo.
Đó là bức tranh thủy mặc với vài nét khắc núi sông và cây cỏ, hoa lá. Có điều đáng chú ý là, ở các địa điểm bất ngờ nhất của bức tranh, chẳng hạn như chỗ khơi nguồn của dòng nước thì trên đó được khảm một bông hoa hướng dương rất đẹp. Cạnh đó là một chữ Hán nhỏ xíu, đọc là chữ Quân. Nơi có triền núi thoai thoải giáp với mây nước thì khắc con rồng nhỏ bên có chữ
Vương. Phía dưới, ở những điểm nhấn của bức tranh không đề gì cả, chỉ khắc chìm những đóa hoa. Nếu chú ý thật kỹ sẽ thấy một thứ tự rất lô gích của mấy hàng hoa và những ngôi sao. Hàng hoa hồng có ngôi sao vàng 6 cánh, giống với ngôi sao ở trên bàn cờ ở hàng quân Sĩ. Hoa Mai với ngôi sao đen 4 cánh ở hàng quân Tượng. Hoa cúc với sao 3 cánh đứng hàng quân Mã. Cây tùng với ngôi sao đen 5 cánh đặt ở chỗ quân Xe. Và một con sư
tử nhỏ bên cạnh ngôi sao vàng 5 cánh, quân Pháo. Tất cả bí ẩn đó rất khó phát hiện. Và, nếu không có tấm gỗ kia thì ký hiệu
trên tấm gỗ này không có ý nghĩa gì cả. Nhưng bên cạnh điều thú vị này, ông chủ của chiếc bàn thờ này còn có một thông tin nữa, thông báo cho ai đó có quyền sử dụng bàn thờ biết một thông điệp quan trọng khác. Đó là dưới góc phải bức tranh khắc gỗ này có một hàng chữ số. Các chữ số không viết liền với nhau, được khắc từ số 1 đến số 9. Mỗi dãy cứ hai hoặc ba số lại có những vạch ngang dài, ngắn, cách quãng khác nhau. Ví dụ: 1
cách ngắn rồi 2, 3, 4, 7, 6 lại cách dài rồi đến 2 cách 1, 2, 3, 4, v.v... Những hàng chữ số rất nhỏ liền nhau. Đó là những ký hiệu mật mã, đánh dấu tên của những con bài trên bàn cờ mà sau này ông Đàm mới hiểu được.
Ông Đàm chợt nhận ra rằng, như vậy, tấm lụa trong ống đồng ở
trong chân cột chỉ là chiếc chìa khoá để mở ra cánh cửa bí mật trên chiếc bàn thờ này. Bây giờ ông mới thấy rõ ràng rằng, bố
ông đã có trong tay mấy quân cờ đặc biệt, đóng vai trò chủ
động trong một bàn cờ mà ông là người tổ chức. Những ngôi sao được ký hiệu khác nhau là mật danh riêng của những điệp viên dưới tay cha ông, được sắp xếp có hàng ngũ, thứ tự và có vai trò khác nhau, được ông cụ đặt để ở những vị trí thích hợp. Bây giờ chỉ còn tìm ra mật mã để biết thực chất của những điệp viên này là ai, ở đâu và làm gì. Từ đó có thể biết được sau khi bố
Đàm mất thì ai sẽ là người chỉ huy nhóm điệp viên này. Nghĩ
Vậy, Đàm thấy rợn người vì sự kinh ngạc và hết sức khâm phục bố mình đã có một bộ óc tổ chức chu đáo và một tay nghề của một nghệ nhân ngành mộc tuyệt vời. Đàm từ từ lắp lại bàn thờ
Và nâng niu cất lại trên nóc tủ. Rồi đó, ông nằm xuống và suy nghĩ về phát hiện này của mình. Ông không ngờ, chỉ trong một buổi tối ngắn ngủi vậy, mà ông đã tìm ra những điều kinh khủng trong cuộc đời một người làm công tác tình báo.
Những bí mật chết người về cuộc đời của những điệp viên tưởng đã bị mất hoàn toàn suốt mấy chục năm, nay đã được phát hiện. Song, Đàm nghĩ: Những ký hiệu như vậy là chưa đủ để
giải mã. Cái chính là những điệp viên cụ thể thì vẫn nằm trong vòng bí mật. Phải có một chìa khoá mới mở được mật mã. Và như thế thì mới biết được mọi bí mật. Nhưng giải mã ra sao?
Cách mở khoá mật mã ở đâu? Những điều này vẫn còn bị che giấu. Chắc chắn bố ông sẽ có chỉ dẫn. Nhưng nó ở đâu? Nó có còn không? Đàm căng óc suy nghĩ. Liệu bố ông còn có bí mật nào nữa được che giấu trong những ký hiệu này. Vừa nghĩ, Đàm vừa thiếp đi trong giấc ngủ mệt mỏi của mình. Nhưng ông đã xác định sẽ giữ kín như bưng về điều này. Mọi bí mật cứ vẫn
trong vòng bí mật đã. Đàm tự nhủ. Vài tiếng nữa là trời sáng.
Nhóm thợ sửa nhà cũng sắp đến. Đàm không thể nào không nghỉ ngơi chút xíu. Nhưng chỉ vừa chợp mắt, Đàm đã phải dậy rồi.
***
Mấy hôm sau, khi đội thợ đã tháo dỡ hết những tấm gỗ bị hư hỏng và dọn sạch đống gạch vỡ, thì ông Đàm lại thắp đèn lên nhà để trông lại lần cuối cái ngôi nhà do cha ông xây dựng. Vài hôm nữa nó sẽ đổi khác. Ông nghĩ, rồi đi một vòng quanh nhà.
Mới trưa nay, khi ở Đoàn luật sư về, ông chợt nhận thấy mình đã nghĩ tới một điều gì đó mà chưa rõ lắm. Lúc từ Tràng Thi về nhà, Đàm bỗng thấy loé lên một suy nghĩ độc đáo. Ông bỗng nhớ trong tấm vải lụa, mà ông gọi nó là một “Chiếc chìa khóa mật” để mở kho bí mật của cha ông, còn vẽ một chi tiết nữa. Đó là: Dưới hình bát hương có mũi tên nhỏ với dòng chữ 3M ở
đầu mũi tên chỉ xuống. Ông chợt hiểu, nếu tính từ bàn thờ xuống nền gạch cao khoảng một mét tám. Vậy theo chỉ dẫn này, có thể ở sâu dưới nền nhà, chắc có cái gì đó chăng? Tất cả hình vẽ này lại nằm trong một cái hộp được vẽ mờ mờ. Như vậy, rất có thể, dưới mặt đất nền nhà thẳng với bát hương xuống, có thể có một cái hầm chăng? Nghĩ vậy, Đàm quay về, muốn kiểm tra xem có gì khác ngoài suy đoán của mình? Nền nhà lát bằng những viên gạch xây đã cũ kỹ.
Làm thế nào để kiểm tra dưới mặt đất, sâu cũng đến một mét ấy? Hơn nữa, vẫn phải giữ bí mật với tất cả mọi người. Đàm thấy có phần nản. Song, ông ta vẫn bình thản quan sát nền nhà ở dưới bàn thờ. Ông chợt nghĩ, mình sẽ
thay gạch lát và lấy cớ đó để kiểm tra chỗ này.
Thế rồi hôm sau, ông đề nghị đội thợ nề dỡ nền nhà để lát lại. Họ đã giúp ông bóc hết lớp đất lập nền để sau đó đổ cát vàng vào rồi mới lát gạch men. Tối đó, ông hỳ hụi đào đúng chỗ để bát hương thẳng xuống, sâu khoảng một mét. Khi mới đào đến gần một mét thì ông Đàm phát hiện ra một chiếc hộp gỗ nhỏ, ngoài có một lớp ngói bảo vệ. Ông moi chiếc hộp lên và tìm cách mở ra. Chiếc hộp cũng được làm khá cầu kỳ và tinh xảo, nhưng đã bị ải mục. Ông mở nắp chiếc hộp, bên trong là chiếc bình sứ nhỏ được đậy rất kín.
Đàm đưa xẻng lùa thêm mấy nhát nữa xuống cái hố, nhưng không còn gì khác. Ông ta loay hoay một lúc rồi lấp đất lại như cũ. Xong xuôi đâu đó, ông mới bê cái hộp có chiếc bình vào góc nhà. Ông loay xoay mỏ cái nút bịt chiếc bình. Khí ẩm trong bình bay ra rất nhanh. Trong bình là một loạt các gói nhỏ. Ông Đàm bắt đầu lấy từng gói ra. Thì ra đó là mấy thỏi vàng ròng.
Mỗi thỏi nặng có tới hơn hai lượng vàng mười. Các thỏi vàng khối hình chữ
nhật trông giống như những cục mực Tàu màu vàng, trên một mặt có in hình con rồng và số cân lượng. Mặt kia là mấy chữ nho, đó là nhãn hiệu của Hoàng đế triều Nguyễn. Tính ra có đến mười thỏi như vậy. Đây chính là những thỏi vàng được đúc để tích trữ trong ngân khố nhà vua.
Ngoài số vàng được bọc trong những chiếc túi vải để lâu đã bị mục, còn có một thanh gỗ mỏng, dài 20 phân, được gấp lại như một cái thước kẻ. Trên mảnh gỗ có khắc một loạt chữ số y hệt các chữ số trên mặt sau chiếc bàn thờ. Một mặt của cái thước ấy là những hoa văn khắc chìm các vạch đứt, nối khác nhau, nhưng có một sự sắp xếp rất chặt chẽ. Trong óc Đàm bỗng nhiên loé sáng, một ý nghĩ mới mẻ chợt đến. Ông ta hiểu rằng, đây chính là phương pháp giải mã của cha ông, để giải mật mã về năm ngôi sao, ứng với mật danh của năm tên điệp viên thân tín của ông. Đàm thấy yên tâm hơn và nghĩ sẽ tập trung giải mã bí mật này. Ông ta cất vàng vào bình, dắt tấm gỗ mà có thể gọi là cái thước vào trong túi, rồi thu dọn đồ đạc xuống nhà ngang.
Đàm khép cửa lại làm như nằm đọc sách. Nhưng Đàm mở một cuốn sách và đặt tấm gỗ vào trang sách, rồi quan sát, nghiền ngẫm, nghiên cứu cách giải mật mã của cha ông. Sau một lúc suy xét và làm các phép tính, rồi lắp ghép, so sánh khá lâu, Đàm càng cảm thấy khâm phục người cha đã có những kiến thức toán học tuyệt vời. Ông không ngờ, cha mình lại có những suy nghĩ thấu đáo như vậy. Tất cả những vạch ngắn gần nhau, chính là hào âm trong kinh dịch. Vạch khắc dài là hào dương. Một khi sắp xếp các con số theo thứ tự âm và dương, rồi cứ 6 số một ghép lại thì sẽ ra một quẻ
trong kinh dịch. Những dãy chữ số trên kia ghép lại sẽ ra rất nhiều quẻ
trong bát quái. Và cứ lựa theo tên đầu của các quẻ, hoặc chữ cuối của quẻ, sắp xếp lại, thì Đàm đã tìm được những cái tên rất rõ ràng.
Đàm không ngờ ông đã tìm ra được phép tính giải mã này. Ông tự bằng lòng với mình vì đã từng đọc Kinh dịch, lại sẵn có một cuốn Kinh dịch của cụ Phan Bội Châu trong đống sách cũ, nên Đàm đã nhanh chóng tìm được chìa khoá của mật mã. Chỉ còn tìm mật danh của những cái tên ứng với những quân cờ kia là công việc hoàn tất. Đàm không ngờ mình lại may mắn như vậy. Ông ta đã biết được cái chìa khoá của bản danh sách bí mật. Ông ta sẽ dần dần tìm ra những điệp viên trong nhóm của bố ông ngày trước.
Song, Đàm cũng chợt giật mình, nhận ra rằng, từ năm bố ông mất đến nay đã qua gần nửa thế kỷ. Vậy liệu những điệp viên ấy nay có còn sống? Họ có để lại manh mối, hay một ám hiệu nào để liên lạc nếu may mắn họ còn sống? Với ý nghĩ này, Đàm có phần yên tâm cất giữ bí mật trong lòng.
***
Cũng trong buổi tối hôm ấy, Đàm đã tìm ra tên và mật danh của năm điệp viên được cha ông đặt cho với tên năm quân cờ của mình. Tên mang bí danh quân Sĩ là một người dân tộc Tày, hắn có ký hiệu là S1, tên thật là Bế
Minh Hài. Hắn có ngôi sao vàng sáu cánh làm biểu tượng. Tên mang ký hiệu quân Tượng là T2. Người này có tên là Hoàng Văn Tiến. Hắn có ngôi sao đen sáu cánh làm biểu tượng. Tên có mật danh là quân Xe, ký hiệu X1
có tên là Hoàng Nguyên Báu, biểu tượng ngôi sao đen 5 cánh, còn được gọi là “Xe-đen”. Tên mang mật danh quân Mã, kí hiệu M4, có ngôi sao đen 4
cánh, là một phụ nữ tên là Hồng Nhi. Tên cuối cùng là quân Pháo, có ký hiệu P5 với ngôi sao vàng 5 cánh. Tên này có tên thực là Vũ Hải Ninh. Mỗi tên đều có một ngôi sao làm vật liên lạc để nhận ra nhau. Cách thức nhận biết và liên lạc được chỉ dẫn ra sao, Đàm vẫn chưa tìm ra. Do vậy, ông ta sẽ phải mầy mò tìm hiểu về những nhân vật mà cha đặt để này. Đàm cảm thấy mình có trách nhiệm phải làm cho rõ chuyện này để giữ bí mật tuyệt đối cho cha.
Thế là trong suốt mười mấy năm qua, Đàm đã cần cù và say mê tìm kiếm.
Đến giờ ông ta đã tìm ra được tông tích của bốn tên mang các mật danh: S1, T2, P5 và M4. Song, trong số này, thì ba người đã chết, còn người phụ
nữ thì đã ở tuổi 75, lại bị loà và có vẻ lẩn thẩn, nên Đàm không hy vọng tiếp xúc với người này. Chỉ còn lại tên mang mật danh X1 là chưa tìm ra được. Đàm vẫn còn áy náy trong lòng và luôn thấy canh cánh một nỗi lo về
người này.
Cho đến hôm nay, Đàm vẫn còn muốn tìm kiếm cho được người này. Mọi manh mối chỉ còn trông chờ vào may rủi mà thôi. Tên “Xe-đen” có họ
Hoàng, tên Nguyên Báu. Nhưng Đàm đã tìm từ các dòng họ Hoàng ở Hà Nội và vùng Cao Bằng mà vẫn chưa phát hiện ra. Mà, họ Hoàng thì quá nhiều.
Người có tên Báu cũng vô số. Cách tìm kiếm thô sơ và cổ điển đó thì có khác gì mò kim đáy biển. Đó chính là một sự khó khăn, nan giải lớn đối với ông ta. Đàm có lúc cảm thấy như bị bó tay vậy.
Vừa ăn trưa, Đàm vừa suy nghĩ về những nỗi lo lắng của mình. Nhưng ông ta không ngờ, chính những lúc như thế, ông đã bị một cặp mắt theo dõi và ghi lại hình ảnh suy tư của ông trong một phút sao nhãng phong cách bình thản hằng ngày của mình.
***
Còn một điều nữa mà Đàm rất lo lắng là cuộc liên lạc với “sếp” theo cung cách có vẻ cổ điển ấy ở đền Ngọc Sơn, khiến Đàm không yên tâm, vì nó rất dễ là một kẽ hở của người điệp báo viên. Trớ trêu thay, điều ấy đã xảy ra đúng như vậy, ngoài dự kiến của Đàm.
Đàm không ngờ vào buổi sáng hôm đó, nghe tin Rùa nổi đã mấy hôm nay ở
Hồ Gươm, anh Liên, một cán bộ ngành Tòa án, vì rất hứng thú với chuyện này, đã tranh thủ ra Bờ Hồ xem Rùa. Song không còn chuyện Rùa nổi, Liên vòng vào trong đền Ngọc Sơn, bất chợt anh nhận ra hình dáng của một người quen. Liên nhìn kỹ thì ra đó là luật sư Đàm. Anh biết ông Đàm đã đi Nam mười năm trước và là bạn rất thân với bạn anh ở Đoàn Luật sư. Thực ra Liên cũng chưa quen thân lắm với Đàm, nên anh không tiện gọi hỏi. Sau
khi về cơ quan Liên liền gọi điện báo cho bạn ở Đoàn Luật sư biết tin.
Sự việc này đã là một chút manh mối để lộ thân phận thật của Đàm mà hắn hết sức che đậy, giấu kín.
Chưa hết. Cuộc liên lạc của Đàm không chỉ có một cặp mắt của Liên chứng kiến. Vẫn còn có những con mắt khác nữa cũng chú ý tới Đàm. Trong đó có điệp viên của Pháp. Thậm chí còn có cả người thân với Đàm mà chỉ đến khi Đàm được cấp trên thông báo là có kẻ đang theo dõi, Đàm mới biết. Và sau này, khi người thân trở thành cộng sự của mình, Đàm càng hiểu rằng mình đã linh cảm dúng là có sự sơ hở chết người trong cuộc liên lạc cổ điển này.
Nhưng chuyện đó sẽ diễn ra về sau, rồi bạn đọc sẽ rõ.