Tường là con một gia đình nông dân ở Nam Định. Bố anh là một người lao động cần cù. Gia đình anh khá đông người. Anh có một anh trai, hai chị gái và một em gái. Tường được đi học từ bé. Nếu chỉ có bố mẹ Tường thôi thì gia đình anh không đủ kinh tế nuôi năm anh chị em đi học. Đằng này, anh trai Tường học đại học Sư
phạm, là một nhà giáo. Một chị gái làm y tá, một chị cũng dạy học. Tường đỗ Đại học Ngoại ngữ khoa Trung văn. Em gái Tường học Đại học Nông nghiệp.
Anh em nhà Tường được học hành tử tế như thế, một phần là do Tường có ông bác ruột là một người giàu có. Ông từng là người làm thuốc nổi tiếng cả vùng. Nhà thuốc ấy có đất di truyền từ đời ông để lại. Song, bố Tường không thích học, chỉ suốt ngày cuốc bẫm, cày sâu. Ăn chơi cũng có, rượu chè cũng có, nhưng không nghiện. Được cái ông rất hiền, ít nói, chịu thương, chịu khó và rất thương yêu con cái. Trái lại, bác Tường thì lại quá sắc sảo, tài ba.
Ông được chân truyền nghề thuốc của cha. Nhưng dù làm nghề
thuốc, song, ông cũng không chữa được cho mình cái bệnh liệt dương. Vì vậy, ông có tới ba người vợ, nhưng cũng chẳng có ai sinh cho ông được một đứa con nào. Và rồi, họ cũng lần lượt bỏ
ông mà đi hết.
Ông làm thuốc nên rất giàu. Vì ông không có con, mà người em thì đông con, đứa nào cũng muốn đi học. Lại có đứa học rất giỏi như Tường, nên ông đã bỏ tiền của ra giúp cho em, chu cấp cho các cháu học tập. Chính vì nhờ có tiền của ông bác mà anh em Tường đã được học hành khá chu đáo.
Nhà ông bác và nhà bố Tường ở liền với nhau trên một thửa đất rộng rãi của cụ thân sinh ra họ để lại. Đất rộng và cao, nên ba gian nhà ngói to ở phía trên được gọi là nhà trên do ông bác ở. Ba gian nhà ngói ở phía dưới, lui về sau một chút, cạnh cái ao lớn phía Đông nhà, thì ông em ở. Ông bác và gia đình Tường cùng có một sân chung, vườn chung và ao chung, nhưng khu bếp riêng.
Mỗi nhà có một dãy nhà ngang rộng rãi ở hai đầu hồi nhà họ. Rồi có một khu chuồng lợn, chuồng trâu, khu vệ sinh ở gần bờ ao, do nhà Tường sử dụng. Nơi này lũ trẻ như Tường thường đùa nghịch, trèo cây hái quả, xuống ao úp cá. Vì ông bác không có con cái, vợ
lại bỏ đi, nên gia đình Tường thường chăm sóc, nấu ăn luôn cho ông. Chị gái Tường học y tá, sau cũng về giúp bác làm thuốc.
Cuộc sống sung túc ấy kéo dài rất lâu. Ông bác Tường là người giàu có, nhiều tiền của, có sản nghiệp lớn, lại mua tậu nhiều ruộng đất cho cày thuê, cấy mướn. Trớ trêu thay, khi Cải cách ruộng đất, ông đã bị quy là địa chủ. Sau này sửa sai, ông đã được giảm thành phần xuống là trung nông lớp trên. Những việc này, mãi sau này Tường mới biết. Tuy thế, khi Tường sinh ra, anh lại rất được ông bác yêu quý. Ông coi Tường như con đẻ, muốn truyền nghề cho cậu. Nhưng Tường không nghe. Anh cứ nhất mực đi học ngoại ngữ. Thực ra anh muốn thi vào ngành Công an, nhưng lại không đạt tiêu chuẩn.
Học xong, Tường được nhận vào trường Đại học Xây dựng, dạy tiếng Trung. Anh lại là người khá thông minh, mà ngành kiến trúc lúc đó nằm trong Bộ Xây dựng. Lãnh đạo biết Tường giỏi tiếng Trung nên đưa anh lên bộ phận ngoại vụ, làm cán bộ phiên dịch cho chuyên gia Trung Quốc. Lúc đó ta có nhiều công trình được Trung Quốc giúp xây dựng. Anh đã làm việc khá chăm chỉ và có hiệu quả. Rồi sau đó theo nguyện vọng của Tường, cộng thêm yêu cầu về quan hệ đối ngoại của ngành, Tường đã được cử đi học Đại học An ninh. Sau đó anh được chuyển sang ngành Công an, làm việc ở bộ phận tin tức về Trung Quốc. Thời gian ở đây, nhất là sau chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979, anh đã có nhiều vụ điều tra, theo dõi và phát hiện những kẻ hoạt động cho Trung Quốc. Có nhiều lần anh đã phải bí mật theo dõi đối tượng lên tận vùng cao để tìm những chứng cứ xác thực trước khi đưa chúng vào lưới. Do đó anh là một nhân vật mà tình báo Trung Quốc rất quan tâm.
Nhưng số phận và con người Tường quả có nhiều đặc biệt, thậm chí độc đáo nữa. Ở trong ngành an ninh được một thời gian,
Tường lại được chuyển sang ngạch ngoại giao, công tác ở Sứ
quán Việt Nam tại Trung Quốc với hàm Bí thư thứ nhất. Những năm đi nhiệm kỳ ở Sứ quán, Tường là người rất giỏi về tiếng Trung. Anh đã có nhiều mối quan hệ để nắm bắt tình hình. Sau đó, khi Tường về nước, được chuyển về Ban đối ngoại rồi về hưu trước tuổi. Tường có vợ là một nhà giáo cấp hai và hai con. Một đứa đi học Trung Quốc và một đứa học trong nước. Cuộc sống khá đầy đủ, sung túc.
Nhưng không may cho Tường, anh đã mắc một căn bệnh hiểm nghèo, hiện đang nằm trong bệnh viện.
***
Người mà Hùng muốn biết là một giảng viên trường Đại học Quốc gia. Anh ta là một nhà khảo cổ đã xuất bản một vài cuốn sách về
công trình nghiên cứu người tiền sử. Anh có bằng Phó Tiến sĩ
Khảo cổ học ở Đức, nay là Tiến sĩ, tham gia vào một Trung tâm thông tin và hiện đang có một phòng triển lãm những hiện vật khảo cổ mà anh tìm kiếm và khai thác được. Anh ta có tên là Nguyễn Nguyễn. Sinh ra và lớn lên ở Hà Nội. Bố anh là một viên chức đã từng làm việc dưới chính quyền thực dân Pháp. Sau khi giải phóng Thủ đô, ông ta xin nghỉ ở nhà không tham gia làm việc cho Chính phủ. Khi Nguyễn Nguyễn học hết phổ thông vì lý lịch này, lúc đó không được đi đại học. Nhờ có người họ hàng làm trong Bộ Công an đứng ra bảo lãnh khai vào lý lịch, nên Nguyễn đã được nhận vào trường đại học. Học xong, Nguyễn thi đỗ
nghiên cứu sinh đi Đức làm luận án Phó Tiến sĩ.
Nguyễn đã được dự nhiều cuộc hội thảo khoa học quốc tế do những tổ chức khoa học quốc tế và Unesco tổ chức ở Pháp, Đức và cả ở Anh nữa... Có lần, dự hội thảo tại Anh, Nguyễn đã được gặp một vị giáo sư khá nổi tiếng của Anh quốc. Vị này tuy đã hơn 70 tuổi, nhưng vẫn tham dự hội thảo và rất chú ý đến Nguyễn khi biết anh là người Việt Nam. Trong một cuộc trò chuyện, ông ta trao cho Nguyễn một cuốn sách do ông viết, một công trình nghiên cứu về người tiền sử Đông Nam Á. Nguyễn rất trân trọng và hết lời cảm ơn ông.
Trước khi Nguyễn về nước, ông có mời Nguyễn tới dự một bữa tiệc nhỏ của gia đình và bạn bè nhân ngày sinh của ông. Trong buổi tiệc đó, vị chủ nhà còn mời một người Việt kiều đến dự. Hai người được giới thiệu gặp nhau tại nhà vị giáo sư nọ.
Vị Việt kiều này tên là Duy Đức, nguyên là một giáo viên dạy Vật lý cấp ba. Ông ta bỏ nghề, xin đi lao động xuất khẩu ở Tiệp. Rồi sau đó ở lại nước ngoài, buôn bán kiếm sống. Khi đó, người Việt hết thời hạn lao động ở lại các nước Nga, Tiệp, Đức, Ba Lan... như
thế cũng nhiều. Đã có người làm ăn phát đạt. Nhà giáo này sau khi hết thời hạn hợp đồng lao động đã ở lại Tiệp Khắc. Ông ta cũng được vài người bạn giúp đỡ tìm cách buôn bán, kiếm sống.
Lúc đó ông bôn ba khắp nơi. Thậm chí đã có lúc ông muốn vượt cả sang Đức và Ba Lan để buôn bán. Được vài năm, ông ta đã tìm ra cách đưa vợ sang cùng mình. Nhờ người vợ hết sức khôn khéo, tháo vát, giỏi buôn bán và nhiều mưu kế sinh nhai, nên họ đã đưa được cả hai đứa con nhỏ sang định cư ở Tiệp.
Người Việt kiều đã bỏ quê hương, xứ sở ra đi ấy, có một suy nghĩ
khá độc đáo. Ông ta cho rằng, mình là một người đã mang tiếng là phản bội Tổ quốc, bỏ nghề, bỏ nước ra đi, lưu lạc tha hương, thì nơi nào dễ kiếm tiền nhất là tới. “Đất lành chim đậu”. Hiện nay, theo trào lưu Châu Âu, thì nước Anh đang là nơi dễ kiếm sống nhất. Do đó, khi con gái lớn lên, ông đã nghĩ ngay đến việc cho con sang Anh du học. Ông đặt mục tiêu cho con lấy chồng và định cư ở Anh. Sau đó ông sẽ chuyển dần gia đình sang Anh. Từ
con cái rồi đến cha mẹ.
Thật là may mắn, con gái ông đã yêu và lấy chồng là một người Anh gốc Việt và đã được định cư tại Anh. Đến lượt con trai, ông cũng lo được cho cậu ta sang Anh. Tiếp tục với những mánh khoé khôn ngoan đó, ông ta đã được cấp hộ chiếu sang Anh. Lúc đầu là sáu tháng rồi đến thời hạn hai năm một lần, với lý do sang với gia đình con cái. Được mấy năm như vậy, rồi ông ta đã dần chuyển được cả nhà sang Luân Đôn. Một Việt kiều đã lang thang kiếm sống nhiều năm ở Tiệp Khắc, Châu Âu, rồi bây giờ là Anh quốc, quả không đơn giản chút nào. Ông ta cũng đã có một chút vốn liếng để buôn bán.
Trong khi đó, một số Việt kiều cao tuổi ở nước ngoài khá lâu, có con cháu sinh sống ở đây tới ba, bốn đời. Con cái họ định cư, lấy vợ, lấy chồng thành công dân nước sở tại. Rồi những lớp người Việt tiếp theo ra đời. Nhưng hầu như lớp trẻ con này không biết tiếng Việt. Bố mẹ thì bận kiếm sống, quan hệ thường xuyên với người nói tiếng nước ngoài. Do đó các bậc ông bà lúc này mới thấm thía nỗi buồn tha hương, nghĩ về cố quốc mà lo lắng trong lòng. Rồi đây lớp cháu chắt sẽ không còn nhớ gì đến tiếng quê
hương xứ sở, tiếng mẹ đẻ. Vì thế họ đã rủ nhau mở lớp học Tiếng Việt cho trẻ nhỏ. Và, nhà giáo lưu vong được họ mời tới dạy cho các cháu. Trong những năm đó, ông ta đã làm quen được với vị
giáo sư già người Anh cùng ở trên phố. Quý sự thông minh, tháo vát của ông, nên hai người đã cảm mến nhau. Vị giáo sư này đã thường xuyên tới thăm ông, rồi dần hai người trở thành bạn.
Được quen biết nhau ở nhà vị giáo sư này, ông Nguyễn và ông Việt kiều đã kể cho nhau nghe một số chuyện về quê hương. Thì ra họ là đồng hương Hà Nội. Khi ông Nguyễn về nước, ông Việt kiều gửi một món quà nhỏ và một bức thư về cho bạn ông ở
trong nước.
Về nước, Nguyễn đã mang ngay quà đến nhà người bạn của vị
VIệt kiều này. Người được nhận quà lại chính là ông Đường. Thật tình cờ, hôm đó Tường cũng đến thăm ông Đường. Vậy là từ đó ba người quen biết nhau. Thì ra, nhà giáo lưu vong ở Anh đã học cùng trường sư phạm với ông Thảo, anh ông Đường. Vì hợp nhau nên ông ta chơi thân với ông Đường. Biết rõ hoàn cảnh sống của ông Đường, ông ta nhờ Nguyễn đem thư và quà về biếu Đường.
Từ đó, Tường quen biết Nguyễn. Với ông Đường thì Tường đã quen từ trước, khi anh ta mới về ngành Xây dựng. Lúc đó Tường được phòng bảo tồn, bảo tàng nhờ dịch một số tài liệu Hán văn vừa mới phát hiện. Ông Đường và Tường đã quen biết nhau từ ấy.
Mối giao tình của họ cũng rất ít người biết.
***
Hùng nghe nói về Nguyễn trong một trường hợp khác. Đó là lần Nguyễn tham dự hội thảo về dòng họ. Được mấy vị trong Ban liên lạc họ Trần tổ chức, Nguyễn đã có bài tham luận viết về họ
Nguyễn ở Thanh Hoá. Mọi người rất hoan nghênh bài viết này.
Sau đó, một vài người thông tin về dòng họ đã nói chuyện với Hùng. Nhưng do bận công việc, lại chưa có điều kiện quan tâm, nên Hùng đã không để ý nữa. Hùng cũng đã biết mối quan hệ của trung tá Tường với ông Đường từ lâu, nhưng sau này mới biết Tường quen với Nguyễn. Giờ đây, khi xảy ra sự việc ông Đàm ở
đền Ngọc Sơn, mà ông Đàm lại rất thân với ông Đường, dù chưa rõ sự thực thế nào, song cũng khiến Hùng nghĩ ngay tới những mối quan hệ dắt dây của ông Đường cùng với Đàm và những người khác. Anh muốn qua Tường để tìm hiểu thêm thông tin về
Nguyễn và Đường.
*
Tường nằm viện đã gần một tháng. Theo chẩn đoán của bác sĩ thì anh đã mắc ung thư vòm họng. Bệnh đã ở vào giai đoạn cuối.
Tường vẫn còn tỉnh táo. Khi Hùng tới thăm, bác sĩ chỉ cho anh gặp một thời gian rất ngắn. Hùng cũng không muốn làm phiền người đàn anh trong ngành nữa. Anh chỉ hỏi thăm bệnh tình, rồi nhắc qua đến người bạn Tiến sĩ của Tường. Khi thấy Hùng nhắc tới Nguyễn, Tường có vẻ hơi suy nghĩ. Chỉ một thoáng biểu hiện đó trong ánh mắt của Tường, đã khiến Hùng phải chú ý. Rồi anh nghe Tường nói. Tường nói rất chậm, rất đứt quãng, nhỏ và khó nghe:
– Anh ấy có tới. Nhưng hay quên lắm. Sao hỏi vậy?
– À. Chợt nghĩ đến bạn anh mà. Với lại có chút việc về dòng họ
nên muốn gặp anh ấy.
Hùng trả lời. Tường gượng mỉn cười. Hùng tiếp:
– Tôi muốn gặp anh ấy để giới thiệu với mấy vị trong họ tìm hiểu về nguồn gia phả, nhưng không có địa chỉ. Anh có thể cho biết được không?
Cố gắng lắm Tường mới nói được:
– Để tìm điện thoại.
Một lát sau rồi họ tạm biệt nhau. Khi về, Hùng luôn nghĩ tới ánh mắt Tường. Khi Hùng nhắc tới Nguyễn, ánh mắt Tường chợt như
có điều gì đó nghĩ ngợi băn khoăn về Nguyễn. Ánh mắt hơi khác biệt. Điều đó làm anh có vẻ khó hiểu. Với thói quen nghề nghiệp, Hùng vẫn cho rằng, trong tâm trí người chiến sĩ an ninh luôn phải bình thản trước mọi tình huống bất ngờ. Nhất là với Tường, một người đã được coi như một tình báo viên trong ngành ngoại giao, sao bỗng có chút chần chừ, hay lo lắng bất chợt về Nguyễn như
Vậy. Khi nhắc tới Nguyễn, Tường như có chút ngại ngần, e dè. Mà đó lại là người bạn từng quen biết. Có chuyện gì, có vấn đề gì giữa hai người? Nguyễn lại có nhiều mối quen biết với những người nước ngoài, và Việt kiều ở Anh, ở Đức... Hùng suy nghĩ
miên man như thế suốt quãng đường từ bệnh viện trở về phòng làm việc.
Về cơ quan, Hùng liền tìm tới phòng hồ sơ lưu trữ. Anh lập tức tìm hiểu mối quan hệ của Nguyễn và những người anh ta quen biết ở nước ngoài. Anh không ngờ qua cuộc gặp gỡ với Tường, anh bỗng nhận thấy mối quen biết của Nguyễn và ông Đường quả
nhiên có những điều độc đáo. Còn Tường sao lại có điều gì đó như
suy tư khi nói về Nguyễn? Trong hồ sơ của Nguyễn không có vấn
đề gì đáng nghi vấn. Chỉ có một chi tiết đề cập đến một vị giáo sư
già người Anh đã tặng Nguyễn sách và rất quan tâm tới Nguyễn.