Bí Mật Quân Cờ

Lượt đọc: 1373 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
V

Đến đây, chắc bạn đọc đã chú ý tới ông Đường, nhân vật được đưa ra ngay từ đầu cuốn truyện.

Trong buổi sáng hôm ông Đàm đi Bờ Hồ một mình, thì ông Đường cũng ra đi. Ông xuống đường và lững thững đi bộ tới chỗ một chiếc taxi đã đợi sẵn. Ông Đường hôm nay ăn mặc rất khác với mọi hôm. Ông đội thêm một chiếc mũ cũ che kín mặt, lại thêm chiếc kính râm đổi màu, nên có vẻ khó nhận ra ông. Ông lên xe và cũng xuống Bờ Hồ. Ông đã vào một quán nước ven đường Đinh Tiên Hoàng, vừa uống nước vừa như chờ đợi người quen.

Nhưng ông không gặp ai cả. Uống nước xong, ông nhẹ nhàng lướt sang bên đường, vào trong đền Ngọc Sơn. Trong lúc rất đông người ra vào đền khi ấy, ông đã chụp được bức ảnh từ phía sau của ông Đàm và người ngoại quốc. Bức ảnh chụp đúng lúc Đàm ngả người về phía tay ngoại quốc và người này đưa tay ra cầm tay Đàm. Sau đó ông ra về rất nhanh. Mọi việc như không có gì xảy ra cả.

Khi ông Đàm về khách sạn ăn trưa thì ông Đường gọi điện để hỏi thăm tình hình của bạn có vẻ rất quan tâm. Ông Đàm liền hẹn ông Đường ngày mai sẽ ra ngoại thành, thăm đền Sóc. Họ thống nhất với nhau như thế.

Còn ông Đường, khi chụp tấm ảnh ở đền Ngọc Sơn, ông đã có sắp xếp, sẽ là một phi vụ cần thiết sau này. Lúc này ông cần xác minh với ông Đàm về cái điều mà ông còn thắc mắc. Từ hơn một năm trước, ông đã gặp một người lạ đến nhà ông ở Linh Quang.

Đấy lại chính là một người chú họ của ông, đã thất lạc, bỏ nhà đi từ bé, rồi vừa mới về và mở một cửa hàng vàng bạc ở Hà Đông.

Vì sao ông Đường hiểu rõ đường đi nước bước của ông Đàm như

Vậy. Thì ra, người lái chiếc taxi cho ông Đàm sáng hôm đó là cháu của Đường. Ông Đường đã giao cho cháu phải quan tâm tới ông Đàm ngay từ khi đặt khách sạn cho ông ta. Người cháu sẽ đón ông ta sáng hôm sau để đưa ông ta đi bất cứ đâu, nhưng không được nói quan hệ của anh ta với ông và báo ngay cho ông biết ý định đi đâu của ông Đàm. Khi biết ông Đàm đi Bờ Hồ thì ông Đường đã tới đó trước. Ông Đàm đến Bờ Hồ còn lững thững đi bộ

và thăm vãn cảnh mãi mới vào đền. Khi đó ông Đường đã thấy rõ phong thái của Đàm và ông ta chợt giật mình vì biết có gã Henry cùng đến đền. Mọi dự đoán của Đường đã đúng, khi ông ta thấy hai người cùng vào đền, rồi lời họ nói và cách họ ngã. Đường đã hiểu được sự việc. Điều này khiến ông ta như khám phá được một điều bí mật mà ông vẫn băn khoăn nghi ngờ. Đường đã hiểu về

Đàm. Chỉ còn xác minh cho được dấu hiệu liên lạc và mật mã là Đường có thể tìm được kẻ cần tìm và ông ta sẽ có kết luận chính xác về những điều mình băn khoăn.

Người lái chiếc xe taxi cho ông Đàm, cũng là một nhân vật mà theo kế hoạch, ông Đường đã sắp xếp, luôn theo dõi khéo léo nhưng sát sao, phải để ý cụ thể về ông Đàm, người bạn có những điểm đặc biệt đối với mối quan tâm của ông Đường.

Thực ra người cháu này cũng đã được đào tạo khá bài bản trong nghề thám tử, do ông gợi ý, giúp đỡ. Anh ta vốn là một đứa trẻ

nghịch ngợm, bỏ học thường xuyên và rất ham học võ nghệ. Khi còn học phổ thông cậu bé đã theo học võ từ một ông thày ở phố

Huế. Ông này là công nhân nhà máy dệt kim, giỏi võ từ bé, đã mở lớp dạy võ cho những thanh niên ham võ nghệ. Sau đó tay thanh niên này còn đến một lớp học thám tử tư của một nhóm người tổ chức. Từ ngày đó, chú cháu Đường đã khá thân thiết, anh ta đã giúp ông Đường nhiều việc rất đắc lực. Mới đây anh ta đã được nhận vào làm bảo vệ cho một cửa hàng vàng bạc ở Hà Đông. Anh ta cũng là người đã quan sát ông Đàm trong lúc ăn trưa hôm đó. Mọi cử chỉ, mọi điều khác thường của ông Đàm đã được thông báo cho ông Đường.

***

Ở quanh khu Nhà thờ Lớn Hà Nội, trước đây hầu như đều là các gia đình theo đạo Thiên chúa. Sau Cách mạng tháng Tám, rồi sau Giải phóng Thủ đô, nhiều gia đình giáo dân đã di cư vào Nam.

Nhiều ngôi nhà đã bỏ không, được chính quyền quản lý, giao cho những gia đình cán bộ nhà nước đến ở. Hoặc bán cho các gia đình ở ngoại thành đông con cháu, sau chuyển vào sinh sống. Do vậy, nơi đây dần dần có nhiều gia đình không đi đạo cùng ở lẫn với khu giáo dân. Những năm đó, ông nội Đường là thợ kim hoàn làm việc cho một ông chủ hiệu vàng ở phố Hàng Bạc đã nhiều năm, nên cũng tích lũy được một ít tiền, đủ mua lại ngôi nhà ở phố Ngõ Huyện, cạnh Nhà thờ Lớn để ở.

Gia đình cụ cố ông ngày xưa là người gốc làng Tả Thanh Oai, Hà Đông, khá đông con. Cụ bà có nghề buôn bán ở chợ thị xã Hà Đông, nên con cái đã được đi học và làm ăn xa cũng nhiều. Ông nội Đường là con trưởng, có vợ con từ rất sớm, đã tách ra ở riêng.

Từ trước năm 1945 ông đã chuyển đến ở làng Cót bên sông Tô Lịch, lúc đó thuộc ngoại thành Hà Nội. Ông lại có nghề kim hoàn.

Rồi đến khi có điều kiện ông liền mua nhà ở riêng. Sau ngày giải phóng Thủ Đô, ông cụ lại chuyển cả vợ con từ làng Cót ra Ngõ Huyện.

Ngôi nhà ở phố này nguyên trước là của một người công giáo, làm thợ sửa bản in ở nhà in Hồng Hà trên đường Hai Bà Trưng. Họ đã chuyển cả gia đình vào Nam. Nhà ông Đường lúc đó lọt thỏm vào khu vực gần như toàn người theo Đạo. Song, vì Thủ đô mới giải phóng nên cuộc sống của gia đình ông cũng không gặp khó khăn lắm. Cho tới mấy chục năm sau, vì bố ông và các chú có nhiều con cái, nơi đây mới trở nên chật chội, cuộc sống mới gặp nhiều khó khăn hơn.

Lúc gia đình ông Đường chuyển từ vùng quê Tả Thanh Oai thuộc Hà Đông ra làng Cót thì vùng Tả Thanh Oai luôn bị giặc càn, bom đạn loạn lạc, nên nhiều gia đình ly tán. Lúc ấy ông nội Đàm đã đưa một người cháu họ gọi ông bằng bác, vừa bị mất cha mẹ, đi theo. Nhưng đứa bé đó ở chưa được một năm thì bị thất lạc, rồi biệt tăm tích, không ai biết tin tức gì nữa. Khi ông nội Đàm và gia đình ra Ngõ Huyện, Hà Nội, được vài năm, thì ông nội Đường mất. Bố Đường và người em nuôi kém ông gần hai chục tuổi ấy đã mất liên lạc, càng không có tin tức gì nữa. Rồi bố mẹ Đường cũng lần lượt qua đời. Anh em ông sinh sau, nên cũng không nhớ

gì về ông chú, không nhận được bất cứ tin tức gì của ông ta. Mọi người đều xem như ông đã chết rồi, cũng đành không biết làm sao.

***

Thế rồi vào một ngày Chủ Nhật, cách đây hơn một năm, khi ông Đường đang ở nhà làm mấy việc vặt, chuẩn bị cho con trai lớn đi học ngành in ở nước ngoài, thì có một vị khách đến cổng. Ông ta đứng lại, nhìn ngắm ngôi nhà một lúc lâu như để nhận xem có đúng là nhà này không, rồi mới gõ vào cánh cổng bằng mấy thanh sắt đã han rỉ. Ông Đường bèn đi nhanh ra cổng. Ông nhìn qua bức tường, thấy một người già đứng đợi ở ngoài. Khi tới mở

cổng, ông nhìn qua các ô sắt đan của cánh cổng, mới rõ đó là một

ông già quắc thước, chừng ngoài bảy mươi tuổi, tóc đã bạc, râu khá dài cũng bạc, một tay cầm chiếc gậy trúc, tay kia cầm chiếc mũ rộng vành. Ông ta mặc bộ quần áo lụa tơ tằm, đi đôi giày Bata trắng. Dáng người có vẻ nho nhã. Gương mặt hồng hào, nước da trắng và ánh mắt còn tinh anh. Ngón tay cái ông ta cứ

xoa xoa trên đầu chiếc gậy trúc, như người có tật. Nơi đầu gậy có một đốt trúc bịt bạc và trên đó khảm một ngôi sao bằng kim loại màu đen, rất đẹp.

Ông Đường chậm rãi chào ông già, rồi tỏ ra quan tâm hỏi:

– Chào cụ. Cụ có việc gì đấy ạ?

– Chào ông. Tôi xin lỗi. Tôi hỏi khí không phải, chứ đây có phải nhà cụ thợ mộc, có người con làm luật sư ở Hà Nội đấy phải không?

– Cụ hỏi ông Đàm phải không ạ?

– Tôi chỉ biết cụ thợ ngày xưa, mà chưa được gặp ông luật sư.

Vậy ra ông là...

Ông Đường nghĩ, chắc cụ này lại muốn nhờ ông Đàm luật sư, giúp đỡ vụ kiện cáo gì đấy chăng. Người già thường chỉ vì con cái, hay đất cát mới phải dính đến pháp luật mà thôi. Chưa để ông già nói hết câu, ông Đường đã trả lời:

– Không phải đâu cụ ạ. Ông luật sư đi vắng rồi. Thế chứ cụ là ai?

Có việc gì cụ cứ nói, tôi sẽ chuyển lời cho ông ấy.

Lúc ấy ông già tóc bạc, mới dừng lại, nhìn kỹ ông Đường. Rồi như

chợt nhớ ra điều gì, ông không xoa ngón tay cái lên cán chiếc can nữa và nói:

– Không giấu gì ông. Tôi có một việc phải nhờ đến ông luật sư. Vì chợt nhớ có người mách cụ thợ ngày xưa có con, giờ làm luật sư

có tiếng, nên cố tìm đến nhờ vả. Vậy chứ ông là thế nào với cụ

thợ, hay...

Ông Đường cũng chú ý nhìn ông già. Ông ta chợt thấy người này có nét gì quen quen. Song Đường lại nghĩ, dù gì người già cũng đã đến tận đây. Thôi thì cứ mời cụ vào nhà đã. Nghĩ thế rồi ông kéo cánh cửa, mời ông già.

– Tôi cũng nghĩ vậy. Thì cứ mời cụ vào trong nhà đã, rồi hãy nói chuyện. Mời cụ.

Vừa nói, ông Đường vừa đưa tay mời ông già qua cổng. Ông đứng cạnh cổng chờ cho ông ta bước vào rồi mới xoay người khép cánh cổng lại và dẫn ông già vào nhà.

Khi hai người đã ngồi xuống ghế, bên chiếc bàn cũ, ông Đường đứng dậy pha trà mời khách. Lúc đó ông khách lạ mới dựa cái gậy

vào bên đùi, nhìn dáng đi và cách nói năng của ông Đường và khen:

– Ông có dáng dấp của một người công chức quá, lại rất cẩn trọng và chu đáo. Chắc ông là người Hà Nội gốc hẳn rồi.

– Cụ nói đúng đấy. Tôi làm ở ngành bảo tồn, bảo tàng, nên luôn phải cẩn trọng cụ ạ. Còn là người Hà Nội thì mới từ cụ nội tôi từ

Tả Thanh Oai ra đây thôi.

– Ồ. Thế ra các cụ nhà ông là người Tả Thanh Oai? Quí hoá. Quí hoá quá. Thì ra là người Tả Thanh Oai. Nơi ấy là đất học, là làng Tiến sĩ ngày xưa đấy.

– Vâng. Thế cụ cũng biết vùng quê đó?

– Tôi không phải chỉ biết, mà còn là người ở đó nữa.

– Vậy ạ. Ô, hay quá. Vậy ra cụ là...

Giờ thì không chờ ông Đường nói hết câu, ông già đã nói:

– Tôi cũng đi khỏi đó từ lâu rồi. Và cũng lâu lắm tôi không về

thăm làng, nhưng cũng thỉnh thoảng vẫn biết tin. Thế ông cụ nhà anh là ai, tên gì vậy?

– Ông nội tôi khi đi khỏi làng là cụ Tín. Ra Hà Nội, người ta cứ gọi tên con, tên bố tôi, là cụ Thường.

Nghe thế ông già này ngồi ngây ra. Một lúc rồi ông ta mới nói:

– Xin lỗi. Vậy chứ có phải cụ Thường ở làng Cót đấy không?

Bây giờ thì đến lượt ông Đường ngạc nhiên. Ông nhìn lại ông già tóc bạc. Đúng là ông này có nét gì đó như thể ông đã từng gặp rồi. Ông chưa nghĩ ra, nhưng cứ hỏi.

– Vậy ra cụ biết ông nội tôi? Thế cụ có biết ông Thường không?

– Ông là con trai ông Thường, cháu cụ Tín ư? Trời ạ. Tôi tên là Chương, em họ của ông Thường đây. Tôi chỉ nhớ được là ngày còn bé, cứ bám theo cụ Tín khi cụ đi làm thợ kim hoàn. Cụ dẫn tôi ra cả nhà hàng vàng bạc. Nhưng tôi chẳng nhớ được gì. Rồi khi bom đạn, gia đình tôi cũng bị thất lạc, tôi đã được cụ Tín đưa ra làng Cót. Khi đó tôi vẫn còn nhỏ, rồi lại bị thất lạc, nên cũng không nhớ rõ ông Thường lắm. Với lại tôi chỉ biết khi ông ấy ở

làng Cót. Sau đó mấy chục năm, khi trở lại đấy, thì không sao tìm được gia đình cụ Tín nữa. Nên đến giờ vẫn không rõ tung tích.

Không biết cụ sống chết thế nào. Nhiều năm không có tin tức gì.

May quá. Hôm nay được trời xui đất khiến, lại gặp được cháu cụ

là ông. Thật mừng quá.

– Quí hoá thật. Vậy ra cụ là chú họ tôi. Hôm nay nhận được cụ.

Xin để tôi gọi cho ông anh. Mời cụ ở lại đây nói chuyện và xơi cơm với gia đình.

Ông Đường vui mừng nói. Trong lòng ông chợt nghĩ, thì ra là người trong một nhà. Hèn gì cụ già này có nét hao hao với các cụ

nhà mình, khiến mình cứ nghĩ như đã gặp ở đâu vậy. Ông ngước lên nhìn lại ông già một lần nữa như để khẳng định là người thân.

Ông già chậm rãi nói:

– Xin cảm ơn ông. Xin để khi khác sẽ lại ăn uống với nhau. Hôm nay ta biết nhau. Sẽ có lần ta tổ chức gặp mặt sau vậy. Hôm nay tôi xin nhờ ông nói với ông luật sư hộ, tôi có việc nhờ vả.

Thế rồi ông già nọ nói rõ việc cần nhờ ông luật sư giúp đỡ vì việc mua lại khu nhà ở phố Quang Trung, Hà Đông, còn vướng víu chút thủ tục gì đó, cần có luật sư giúp mới được.

***

Thực ra ông Chương tìm ông Đàm luật sư chỉ là cái cớ. Còn mục đích chính lại khác. Và đây là lần thứ hai ông muốn tìm tới nhà ông Phó Kiều Mộc để thăm dò tin tức của ông trùm gián điệp đã chết đột ngột. Trước đây, ông Kiều đã có lệnh trao cho ông những bí mật và một nhiệm vụ lớn lao mà ông phải thực hiện. Nhưng với ông, nhiệm vụ vừa hoàn thành thì sếp đã mất. Ông ta quyết không lộ tông tích và bí mật của mình, nhằm muốn thoát ra khỏi hoàn cảnh làm mật thám cho Pháp.

Rồi khi Pháp rút khỏi Việt Nam, ông cũng di tản vào Sài Gòn luôn.

Ông đổi tên lại và làm ăn buôn bán chính đáng. Bọn mật thám Pháp không hề nghi ngờ ông, cũng không có được một chút manh mối hay một chút tin tức gì về ông. Ông với ông Phó Kiều Mộc là sư phụ và đệ tử ruột trong nhóm tình báo ngày xưa. Khi ông bị

thất lạc lúc còn ít tuổi, ông cũng đã biết võ vẽ chút nghề làm kim hoàn do bác đưa đến nhà ông chủ tiệm vàng ở Hàng Bạc. Nhưng rồi, được ông Kiều dẫn đi theo, đổi tên của ông thành Hoàng Kim Báu, dạy cho nghề mộc, dần dần ông đã trở thành một người thợ

khéo léo. Nhưng điều quan trọng hơn là Chương đã được sư phụ

dạy dỗ thành một tên gián điệp, biết tìm tòi, theo dõi và nắm bắt những tin tức, những tín hiệu để báo cáo cho sư phụ về các hoạt động của những người mà ông Kiều quan tâm.

Trải qua gần chục năm theo nghề của thày, Hoàng Chương, lúc này là Hoàng Kim Báu đã lĩnh hội được những yếu quyết của nghề

tình báo và những mưu mẹo của một người thợ có một sứ mệnh đặc biệt của một tên mật thám. Chương đã cho rằng, mình có phúc mới có được người thày tài giỏi như vậy dạy dỗ cho mình đủ

mọi mánh khoé nhà nghề, đủ mọi tài năng của một kẻ hoạt động bí mật. Nhất lại là những hoạt động có tính chất lỗi lạc, anh hùng mà tư tưởng lớn của sư phụ đã truyền vào cho ông. Từ trong tư

duy của mình, ông đã lấy làm khâm phục vị lãnh đạo và là người thày của ông. Và rồi, Chương trở thành một quân bài xuất sắc của ông trùm trong cánh thợ. Ông sẽ được nhận một trọng trách lớn trong nhóm hoạt động này khi mọi sự thành công.

Bây giờ ông đã ở tuổi “Thất thập cổ lai hy”, nên càng không muốn lộ diện. Song, cái bí mật của nhóm điệp viên đặc biệt của ông thợ

mộc nổi tiếng và số vàng bạc của các ông, thì chính ông mới là người biết rõ nhất. Ngày ấy, khi ông đã trưởng thành trong nghề

thợ mộc, thì được ông Kiều phân công cho ông tìm đường về Hà Đông, mở một cửa hàng buôn vàng bạc. Ông và ông Kiều thống nhất với nhau là mỗi người ở một nơi để vừa kinh doanh vừa hoạt động bí mật, nhằm bảo đảm an toàn và tránh cả sự nhòm ngó của bọn quan thày người Pháp. Nhóm bí mật của ông Phó Kiều Mộc có năm người, được phân lẻ đi năm nơi khác nhau, nhưng cùng chung một mục đích là tìm kiếm những bí mật của các nhóm cách mạng và tổ chức kinh doanh, học cách để gây dựng thành một tổ chức chính trị. Sau này có cơ hội sẽ chiếm lĩnh được chính trường trong giới chính khách thân tín của Pháp. Những ý đồ to lớn ấy đã được giấu kín. Còn việc hoạt động tình báo cho Pháp là một nhiệm vụ quan trọng, nhưng mục đích của ông thợ

mộc tài ba này còn lớn hơn và đầy tham vọng hơn nhiều. Tiếc rằng ông ta đã bị chết đột ngột và hơi sớm, khi công việc tổ chức mới ở bước ban đầu. Do đó, nhóm điệp viên này, mà thực chất là hoạt động chính trị, đã trở thành một tổ chức hết sức bí mật và đã có một số tiền bạc rất lớn. Chương kinh doanh vàng bạc cũng phát rất nhanh và có được một số vốn lớn, mở được cả xưởng sản xuất các mặt hàng vàng bạc ở thị xã Hà Đông. Còn các tên khác, người thì đi buôn hàng chuyến, từ Nam ra Bắc, sang cả các nước Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan... Kẻ thì về làm công chức của Pháp ở Hà Nội. Tên khác thì tìm cách tham gia vào hàng ngũ Việt Minh, thậm chí còn là những chiến sĩ tự vệ của Hà thành. Ý đồ và cách thức bài binh bố trận của ông Kiều rất được các đệ tử khâm phục và kính nể. Riêng Chương là người thực hiện khá nhất và thông minh nhất. Do đó Chương đã được ông Kiều hoàn toàn tin tưởng và giao cho trọng trách lớn.

Thế nhưng, những mục tiêu cao cả ấy của nhóm bí mật này chưa thực hiện được thì ông trùm đã mất trong một trận bị phục kích

mà không thể ngờ được. Từ đó, nhóm này hoàn toàn rút vào bí mật. Chương chưa được toàn quyền liên lạc và chỉ huy những kẻ

khác. Hơn nữa, vì nguyên tắc hoạt động, mà năm người trong nhóm cũng chưa được biết nhau. Chỉ khi nào có lệnh của ông Kiều mới được phép liên lạc. Mỗi kẻ có một ký hiệu và cách liên lạc riêng. Mỗi khi có nhiệm vụ thì họ mới nhận được tín hiệu để

liên lạc. Chính vì nguyên tắc đó mà Chương chưa nắm được tất cả

những quân cờ của ông Kiều. Mặc dù khi đó ông ta có ý định giao cho hắn. Nhưng hắn cũng đã được ông Kiều cho phép liên lạc với một tên nữ gián điệp, một người luồn vào hàng ngũ Việt minh và đã được chọn tham gia vào đội quân biệt động. Đó chính là tên Hồng Nhi mà Chương mới được liên lạc có một lần. Nhưng sau khi ông Kiều mất thì nhóm điệp viên này không giải mà tán. Mọi nhân vật đã giấu kín mình. Riêng Chương đã chuyển vào Nam làm nghề vàng ở trong đó.

Về kinh tế, như Chương được biết, lúc đầu nhóm bí mật này đi vào kinh doanh, đã thu được một số lượng tài sản khá lớn. Một tên trở thành một nhà tư sản ở Hà Nội. Một tên là nhà buôn lớn ở

chợ Đồng Xuân. Một tên sang Malaixia và trở thành một chủ cửa hàng ăn uống. Lúc đó Chương là người có quan hệ rất thân với một vị quan cũ của triều đình, nên ông ta nhận nhiệm vụ tích lũy vàng bạc để làm ngân khố cho tổ chức bí mật của mình hoạt động lâu dài. Với tài năng và sự khéo léo của mình, cộng với nghề

buôn bán vàng khá giỏi, lại có cả xưởng chế tác, nên Chương đã thu đổi được rất nhiều vàng thỏi từ ngân khố của nhà vua khi trước. Ông ta đã đưa cho sư phụ một số thỏi vàng mười để dùng khi cần thiết. Nhưng ông Phó Kiều Mộc chưa dùng đến, đã cất giữ

lại để cùng các chiến hữu phục vụ cho công việc lớn lao, vì mục đích sau này. Chính vì vậy Đàm mới phát hiện bí mật của cha giấu cùng với những thỏi vàng ấy. Nhưng ở chỗ Chương thì vàng còn nhiều hơn nữa. Có thể nói, đó là một tài sản lớn. Chưa kể tài sản còn ở các chiến hữu khác như nhà tư sản lấy tên là Hồng Phát ở Hà Nội, từng mở khách sạn, nhà hàng trong thời Pháp còn chiếm đóng. Song, những kẻ đó ngày nay người thì đã lú lẫn vì già cả, kẻ chết vì bệnh tật v.v... Còn tiền bạc tích lũy được, ông Kiều và Chương đã tập hợp lại, do ông Kiều cất giữ như một kho báu, phục vụ cho mục đích lớn sau này.

Vì Hoàng Chương không còn liên lạc được với các chiến hữu, nên ông ta đành cất kín bí mật của mình và chờ đợi một ngày nào đó có thể tìm được người thay thế ông, thay thế được cho ông trùm,

làm nên những sự nghiệp lớn lao như ông ta và sư phụ hằng ấp ủ. Lúc đó, ông ta sẽ trao lại tất cả. Chương đã giấu mình, giấu nghề và giấu cả những bí mật của ông ta suốt mấy chục năm qua như thế.

Là người được ông Kiều trao quyền chỉ huy khi có gì bất trắc xảy ra, ông Chương nghĩ, bí mật này một phần còn ở chỗ ông và một phần ở cụ Kiều. Ông muốn tìm được người luật sư con ông Kiều, nếu đúng anh ta được đào tạo ở Pháp và vẫn theo bước người cha, thì ông sẽ trao lại mọi bí mật cho anh ta, để trước khi chết có thể thở phào mà nhắm mắt được. Nếu không, một kẻ nào đó mà phát hiện ra thì tất cả mọi công lao, mọi sự chịu đựng, mọi sự

giấu giếm mà ông ta đã coi là sự nghiệp bí mật đến mức như đã chết này, sẽ là một cái giá quá đắt cho cuộc đời ông ta. Do vậy, ông Chương vẫn muốn liên lạc lại với những người có thể có được cái bí mật chết người về nhóm điệp viên của ông ta.

***

Cuộc trò chuyện ngắn ngủi đầu tiên của hai chú cháu ông Đường, đã làm cho ông Đường thêm tò mò về bố của Đàm và ông chú mình. Ông nghĩ, sẽ từ từ tìm hiểu để biết về ông chú nhiều hơn.

Và ông hẹn ông Chương sẽ gặp mặt với gia đình anh em ông vào ngày Chủ Nhật tuần sau.

Thế rồi, câu chuyện của họ về những ngày xưa càng kể, càng có nhiều chuyện để nói với nhau. Ông Chương mới hiểu, cụ Tín sau đã chuyển về Ngõ Huyện. Ông Thường có hai người con trai và ông Đường là bạn của ông Đàm, luật sư, con cụ Kiều. Ông Đường đang ở nhờ và trông giữ nhà cho ông luật sư Đàm.

Còn ông Đường thì biết ông chú này khi bị thất lạc đã được ông bố Đàm đưa đi làm thợ, dạy nghề cho ông, nhưng ông không làm thợ mộc mà vào Nam làm thợ kim hoàn. Cho đến mãi tới năm ngoái, ông mới ở Sài Gòn ra Hà Đông. Nhưng không tìm được người thân, nên đành mở tiệm vàng bạc ở đó. Ông Chương tuy đã có hai đời vợ, song số kiếp không chiều người, cả hai lần lấy vợ

thì hai người đều chết bất đắc kỳ tử. Thành thử, chung thân ông vẫn là người không có con cái hay gia đình, nên vẫn là người đơn chiếc, tự do, phóng túng như xưa.

« Lùi
Tiến »