Tôi đẩy cửa phòng mẹ, bước vào bầu không gian nồng mùi nước hoa Shalimar và có khi là cả xì-gà. Tốt hơn là bà ấy không nên hút thuốc ở đây. Mẹ đang ngồi trước gương trong bộ kimono lụa, bận bịu tô vẽ viền môi bằng sắc đỏ thẫm đặc trưng của mình. “Chúa ơi, mặt con như thể muốn giết người vậy. Con cần gì, con gái cưng?”
Con gái cưng.
Sự độc địa lạ thường của từ này.
Tôi giữ giọng mình bình thản, lễ độ. Hôm nay tôi sẽ là phiên bản tốt nhất của chính mình. “Olivia sẽ biết cư xử trong ngày mai phải không mẹ?”
Mẹ tôi thở dài mệt mỏi. Bà nhấp một ngụm từ ly nước để bên cạnh. Trông có vẻ giống một ly martini một cách đáng ngờ. Tuyệt thật, thế là bà ấy đã bắt đầu uống rượu mạnh rồi.
“Con đã chọn nó làm phù dâu,” tôi tiếp tục. “Con có thể chọn bất cứ ai trong số hai mươi người khác.” Không đúng lắm. “Nhưng nó xử sự như thể phiền phức lắm vậy. Con có bắt nó làm gì nhiều nhặn đâu. Nó còn không thèm đến dự tiệc độc thân cho cô dâu mặc dù có một phòng riêng cho nó ở villa. Như vậy thật kỳ cục.”
“Mẹ có thể đi dự thay em mà con gái.”
Tôi nhìn bà chằm chằm. Tôi chưa từng nghĩ bà muốn đến dự. Hơn nữa, không đời nào tôi lại mời mẹ mình đến tiệc độc thân cho cô dâu. Như thế chẳng khác nào biến tiệc độc thân của tôi thành show Araminta Jones của riêng bà.
“Chậc,” tôi nói. “Dù sao thì những chuyện này giờ cũng không còn quan trọng nữa. Đều là quá khứ rồi. Nhưng ít nhất nó sẽ cố gắng tỏ ra vui vẻ vì con chứ?”
“Con bé đang trải qua một giai đoạn khó khăn,” mẹ đáp.
“Ý mẹ là vì bạn trai nó bỏ nó hay gì đi nữa ấy hả? Tụi nó chỉ hẹn hò có mấy tháng thôi, theo những gì con thấy trên Instagram. Rõ ràng là một cuộc tình lịch sử mà!” Một chút giận dỗi chen vào trong giọng nói của tôi, bất chấp tôi đã nỗ lực hết sức.
Mẹ tôi bây giờ đang tập trung vào viền môi trên của bà, một nhiệm vụ đòi hỏi sự chính xác. “Nhưng con à,” mẹ nói, sau khi đã xong xuôi, “con nghĩ xem, con và cậu Will đẹp trai kia cũng đâu có biết nhau lâu đến thế, đúng không?”
“Khác nhau chứ ạ,” tôi nói, cáu kỉnh. “Olivia mười chín tuổi. Nó vẫn còn là một đứa trẻ chưa trưởng thành. Tình yêu là thứ mấy đứa như nó nghĩ, trong khi sự thật tụi nó chỉ là một đám thừa thãi hoóc-môn. Lúc bằng tuổi nó, con cũng có biết yêu là gì đâu.”
Tôi nghĩ về Charlie năm mười tám tuổi: làn da anh nâu giòn, chỗ da trắng thỉnh thoảng lộ ra phía dưới quần bơi. Mẹ tôi chưa từng biết—hay đủ quan tâm để biết—về chuyện tình thời niên thiếu của tôi. Bà quá bận bịu với chuyện tình ái của chính mình. Tạ ơn Chúa, tôi không chắc lại có cô cậu thanh thiếu niên nào muốn bị săm soi như vậy. Thế nhưng tôi vẫn không thể ngăn được cảm giác rằng điều này chứng tỏ bà và Olivia gần gũi với nhau hơn tôi và bà.
“Khi bố con bỏ mẹ,” mẹ tôi nói, “con phải nhớ khi đó mẹ cũng tầm tuổi ấy. Mẹ có một đứa con vừa chào đời…”
“Con biết mà mẹ,” tôi nói, nhẫn nại hết sức có thể. Tôi đã nghe nhiều quá mức cần thiết về chuyện tôi chào đời và làm chấm dứt sự nghiệp chắc chắn, hoặc có lẽ là sẽ rất lừng lẫy của mẹ tôi.
“Con có hiểu mẹ đã trải qua những gì không?” Bà hỏi. A, lại nữa rồi: một kịch bản cũ mèm. “Cố gắng vừa phát triển sự nghiệp vừa chăm con nhỏ? Vật vã kiếm sống, nỗ lực để thành công? Chỉ để có cái ăn?”
Mẹ đã không phải tiếp tục cố gắng để có được công việc diễn xuất, tôi nghĩ. Nếu mẹ thật sự muốn có cái ăn, đây có lẽ không phải là điều hợp lý nhất, cả nhà đã không phải dựa vào khoản thu nhập ít ỏi của mẹ trong một căn hộ trên Đại lộ Shaftesbury ở Khu Một, và do đó không có cái ăn. Không phải lỗi của con khi mẹ có những quyết định sai lầm và mang thai ở độ tuổi chưa thành niên.
Như thường lệ, tôi không nói bất cứ điều gì trong đầu mình. Thay vào đó, tôi nói: “Chúng ta đang nói về Olivia.”
“Chà,” mẹ nói, “mẹ cho rằng trải nghiệm của Olivia nặng nề hơn so với chuyện chỉ là một cuộc chia tay tồi tệ.” Bà ngắm nghía lớp sơn bóng trên móng tay—cũng màu đỏ rực, như thể những ngón tay của bà đã nhúng vào máu.
Dĩ nhiên rồi, tôi nghĩ. Đó là Olivia, nên phải đặc biệt và khác người theo một cách nào đó. Cẩn thận nào, Jules. Đừng cay cú. Cư xử tốt nhất nào. “Vậy là gì chứ?” Tôi hỏi. “Còn có chuyện gì nữa sao?”
“Mẹ không nói được.” Cách nói này bí hiểm đến kinh ngạc khi nghe từ mẹ tôi. “Hơn nữa,” bà nói, “Olivia giống mẹ ở điểm này—một người thấu cảm. Mẹ và em không thể đơn giản là… cho qua cảm xúc và trưng ra một gương mặt dũng cảm như một số người.”
Tôi biết rằng theo một nghĩa nào đó, điều này đúng. Tôi biết Olivia thực sự cảm nhận mọi thứ một cách mãnh liệt, mãnh liệt đến mức con bé bị tác động nặng nề. Nó vốn là người mơ mộng. Nó luôn về nhà sau giờ học với những vết trầy xước và bầm tím vì đụng phải đồ đạc. Nó cắn móng tay vì căng thẳng, ám ảnh với mọi chuyện, suy nghĩ quá nhiều. Nó “mỏng manh”. Nhưng nó cũng được chiều chuộng mà trở nên hư đốn.
Và tôi không thể làm ngơ sự chê trách trong cách nói của mẹ khi nhắc đến “một số người”. Chỉ vì tôi và những người như tôi không phơi bày cảm xúc, chỉ vì chúng tôi có cách khác để kiểm soát cảm xúc của mình—điều này không có nghĩa là chúng tôi vô cảm.
Hít thở nào, Jules.
Tôi nghĩ đến việc Olivia đã nhìn tôi một cách kỳ lạ như thế nào khi tôi nói với con bé rằng tôi rất vui khi có nó làm phù dâu. Tôi không khỏi cảm thấy một chút đau đớn khi con bé thử đồ, nó bước ra khỏi mớ quần áo và để lộ thân hình thon thả, không một vết rạn trên làn da nuột nà. Tôi biết nó cảm nhận được ánh nhìn của tôi. Con bé hiển nhiên là quá gầy và xanh xao. Tuy vậy, không thể phủ nhận nó rất đẹp. Giống như một trong những cô người mẫu nghiện ngập của thập niên chín mươi: Kate Moss nằm ườn trên giường trong căn phòng nhỏ với một chuỗi đèn lấp lánh sau lưng. Nhìn con bé, tôi bị mắc kẹt giữa hai cảm xúc mà dường như tôi luôn cảm thấy đối với Olivia: một sự dịu dàng sâu thẳm gần như đau đớn, đan xen cùng nỗi ghen tị thầm kín đầy xấu hổ.
Tôi cho rằng không phải lúc nào tôi cũng ấm áp với nó như tôi tưởng. Khi đã lớn hơn, con bé cũng khôn ngoan hơn một chút—và gần đây, nhất là từ sau tiệc đính hôn của tôi, nó đã bình thản hơn hẳn. Nhưng khi Olivia còn nhỏ, nó vẫn hay bám theo tôi như một chú cún đáng yêu. Tôi đã quen với cách thể hiện tình cảm dù không được đáp lại của nó. Thậm chí tôi còn cảm thấy ghen tị.
Mẹ tôi lúc này quay lại trên ghế của mình. Gương mặt bà đột nhiên u uẩn, không giống tính cách bà chút nào. “Nghe này. Con bé đang có một quãng thời gian khó khăn lắm, Jules à. Con không thể nào tưởng tượng được dù chỉ một nửa đâu. Đứa trẻ đáng thương ấy đã trải qua rất nhiều chuyện.”
Đứa trẻ đáng thương. Điều này thì tôi cảm nhận được. Mặc dù tôi nghĩ đến giờ thì mình đã trở nên vô cảm, tôi thấy ê chề khi nhận ra không phải vậy: một mũi tên bé nhỏ của lòng đố kị xuất hiện dưới sườn tôi.
Tôi hít một hơi thật sâu, tự nhắc nhở mình rằng tôi đang ở đây và sắp kết hôn. Nếu tôi và Will có con thì thời thơ ấu của con chúng tôi sẽ không giống tôi chút nào—mẹ tôi có hàng tá bạn trai, tất cả đều là diễn viên, đều “đang trên đà nổi tiếng”. Có người tìm cho tôi một chỗ để ngủ, nằm lên áo khoác ở mọi buổi tiệc tùng tại Soho, khi đó tôi mới sáu tuổi và tất cả bạn bè cùng lớp đều đã được bố mẹ đưa vào giường ngủ từ lâu.
Mẹ quay lại nhìn gương. Bà nheo mắt, hất tóc qua trái rồi lại qua phải, sau đó xoắn lấy mớ tóc phía sau đầu. “Phải thật chỉn chu để đón khách,” bà nói. “Bạn của Will ai cũng đẹp trai đúng không con?”
Ôi, Chúa ơi.
Olivia không biết cuộc sống của nó đã sung sướng và may mắn nhường nào. Đối với nó, tất cả đều bình thường. Khi bố nó, Rob, ở nhà, mẹ liền trở thành mẫu người mẹ đúng mực: nấu ăn, cho con đi ngủ lúc tám giờ, đồ chơi luôn có trong phòng. Cuối cùng thì mẹ cũng phát chán trò chơi gia đình hạnh phúc, nhưng đó là sau khi Olivia đã có được một tuổi thơ hạnh phúc trọn vẹn. Khi tôi đã bắt đầu căm ghét con nhỏ ấy vì tất cả mọi điều mà thậm chí còn không biết nó đang sở hữu.
Tôi ngứa ngáy muốn đập vỡ thứ gì đó. Tôi nhấc ngọn nến Cire Trudon ở bàn trang điểm lên, mân mê nó trong tay, tưởng tượng cảm giác sẽ ra sao khi nhìn nó vỡ tan thành nhiều mảnh vụn. Nhưng tôi không còn làm thế nữa—tôi đã kiểm soát được mình. Tôi chắc chắn không muốn Will nhìn thấy con người này của tôi. Nhưng ở bên người nhà thì tôi hoàn toàn ngược lại, tất cả những chấp nhặt, tị hiềm và đau đớn cuồn cuộn ùa về, quay ngược thời gian về hồi tôi còn là cô bé Jules lên kế hoạch bỏ nhà đi. Tôi phải mạnh mẽ hơn. Tôi đã tạo lập được lối đi cho chính mình. Tôi đã tự mình xây dựng tất cả, một cuộc sống vững chắc và quyền lực. Và cuối tuần này sẽ là lời tuyên bố của tôi. Cuộc diễu hành khải hoàn của tôi.
Qua cửa sổ, tôi nghe thấy tiếng động cơ của con thuyền. Charlie đến rồi. Charlie sẽ làm tôi cảm thấy vui hơn.
Tôi đặt ngọn nến xuống.