Những ngày sau đó mới nhọc nhằn làm sao. Jonathan có cảm giác đã bị một cú giáng mạnh vào đầu. Anh vốn đã không muốn quá tin vào cô nàng Bô-hem đầu tiên thì bây giờ lại coi chuyện cô ta nói là nghiêm túc. Chị cô ấy, người chị bỉ ổi với cung cách cư xử đê tiện, anh chắc chắn là mình ghê tởm cô ta, nhưng điều kinh hoàng nhất là dẫu vậy, anh lại thấy cô ta… chân thành. Không một chút từ bi, không một tí cảm thông nào nhưng… chân thành. Một kiểu thẳng thắn tàn nhẫn, vô phương chống đỡ và đầy sức tàn phá.
Chắc chắn, ta có thể chân thành và dẫu vậy bị nhầm lẫn, bị mắc lỗi trong khi vẫn hoàn toàn chắc chắn vào nhận định của mình. Có điều… toàn bộ chuyện này khiến Jonathan không sao cất được nên lời, bị choáng toàn tập. Anh có cảm giác rằng thế giới chao đảo dưới chân mình, rằng cuộc đời anh hình như sắp bị chôn vùi đến nơi rồi. Cho đến tận lúc này anh vốn là người không bao giờ bận tâm đến thời hạn dài ngắn của sự tồn tại của mình trên trần gian, bỗng bị bất ngờ khi buộc phải thấy đời mình đang bắt đầu đi vào đoạn cuối, và ý tưởng này thì… không thể chấp nhận được, không thể chịu đựng nổi.
Anh cố gắng để lấy lại cuộc sống bình thường. Anh buộc mình phải dậy vào giờ như thường lệ, cáng đáng các trách nhiệm của mình mà không lấy làm hứng thú, giải quyết xen kẽ giữa nhiệm vụ nghề nghiệp và công việc cá nhân hàng ngày. Nhưng lời bói khi xem tay của những người đàn bà Bô-hem ám ảnh anh và tận sâu tâm khảm mình, anh tự hỏi biết đâu họ nói đúng thì sao.
Sau một tuần sống trong cảnh gần như bơ phờ, anh bộc phát và quyết định gặp bác sĩ Stern. Anh đề nghị một cuộc kiểm tra sức khỏe tổng thể. Xét nghiệm máu, chụp X-quang động, chiếu máy scanner, chụp MRI toàn bộ. Vị bác sĩ viết phiếu khám trong lúc nói với anh bằng một giọng dửng dưng rằng khi không tìm thấy bất kỳ triệu chứng nào thì Bảo hiểm sẽ từ chối thanh toán chi phí. Người ta đưa cho anh xem bản ước tính các chi phí với tổng cộng là bảy ngàn tám trăm đô la và nó đã khiến anh đớ người, không thốt được nên lời.
Anh đã trải qua chuyện ấy như một sự bất công khủng khiếp. Giàu có, anh hẳn đã có thể hành động và, nếu cần thiết thì đi chữa trị kịp thời. Anh nghiền ngẫm mối oán hận hết ngày này đến ngày khác, rồi kết thúc bằng cách cam chịu nhẫn nhục. Các cuộc kiểm tra y tế, suy cho cùng thì cũng vô ích thôi, nhỉ? Nếu anh phải chết, thì kiểu gì anh cũng sẽ chết thôi.
Người ta không thể cãi lại được số phận. Câu chuyện của Catherine de Médicis đã chẳng là nhân chứng đó ư? Côme Ruggieri - Nhà chiêm tinh của bà - đã báo trước cho biết rằng bà sẽ chết gần Saint-Germain. Trong suốt cuộc đời mình, bà ấy đã hết sức cố gắng tránh đến gần tất cả các địa điểm mang cái tên Saint-Germain ấy, thậm chí đến mức ra lệnh dừng công trường xây dựng điện Tuilleries, bởi nó quá gần Saint-Germain-l’Auxerrois. Nhưng một ngày nọ, bà ấy bị ốm, ốm nặng đến nỗi mà cuối cùng người ta buộc phải phái một cha cố đến bên giường của bà. Lúc hấp hối, bà ấy quay lại phía cha và với chút sức tàn cuối cùng, bà hỏi tên cha là gì. Cha trả lởi bằng một giọng dịu dàng an ủi: Julien de Saint-Germain. Cặp mắt của cựu hoàng hậu Pháp trợn trừng hãi hùng và bà đã trút hơi thở cuối cùng.
Jonathan mệt mỏi chán chường. Anh cảm thấy mình như một con chim đang bay với cặp cánh gắn chì. Tuy vậy, anh tiếp tục bám níu vào cuộc sống hàng ngày, dẫu đối với anh bây giờ mà nói thì càng ngày càng trở nên khó khăn khi buộc phải nở nụ cười do bản chất công việc và những vai trò của người đàn ông, người cha, hoặc người hàng xóm của mình. Những cuộc hẹn làm việc, đàm phán, phản đối, ký kết, tắc đường, mục tiêu không hoàn thành, vâng thưa ngài khách hàng tiềm năng, không thưa ông khách hàng, và còn các buổi đi chợ, giặt quần áo, rửa bát, dọn nhà, dọn thùng rác, thanh toán hóa đơn, ký kiến nghị… Cuộc chiến đấu thường nhật tiếp tục; cuộc sống chỉ mất đi hương vị của nó mà nó chắc đã có thể che đi, cái hương vị mà trước đây anh chưa bao giờ mơ ước thưởng thức, nhưng giờ được sự mất mát ấy truy phong cho. Người ta chỉ nhận ra giá trị của cuộc sống khi cuộc sống bị đe dọa.
Kể từ giờ, cái chết bắt đầu thường xuyên bay lập lờ trên đầu Jonathan, xếp chồng lên như hình với bóng với tiến trình tồn tại của anh. Ngoài nỗi sợ hãi mà dẫu cố kháng cự, vẫn luôn canh cánh, thì tâm tưởng anh hoàn toàn trống rỗng, không còn bất kỳ dự án nào mà trước đây chúng vốn là mối bận tâm của anh: anh đã luôn luôn có thói quen tự an ủi khi đứng trước một thất vọng đang diễn ra tại thời điểm hiện tại bằng cách nhìn vào một tương lai được tô điểm những hứa hẹn nhẹ nhàng dễ chịu như những kỳ nghỉ của năm sau, viễn cảnh mua một món đồ gia dụng mới, một đôi giày, một cái xe hơi mới, hy vọng một cuộc gặp gỡ, và nhất là chờ đợi ngày mà rốt cuộc anh có thể dọn đến một ngôi nhà rộng rãi hơn. Toàn bộ viễn cảnh tương lai mà anh luôn bám víu vào cho đến tận lúc này thì hình như bỗng bị trục xuất hoàn toàn. Tương lai đã biến mất. Anh chỉ còn lại những gì anh đã có, cái hiện tại này thật ảm đạm và chỗ nào cũng thấy có rắc rối, ở khắp mọi nơi, mà chẳng còn hy vọng tiến triển nữa.
Một buổi sáng, vào lúc dậy để đi làm, anh bỗng nhận ra là mình không thể tiếp tục như thế này được. Tinh thần anh không còn trong cuộc sống này nữa rồi, anh không còn tìm thấy các sức bật của động lực. Không còn sức để gượng dậy nữa.
Anh đã vướng vào sự rối loạn và nó thậm chí đẩy anh đến chỗ xem xét lại sự tồn tại trước đây của mình. Cuộc sống mà anh trải qua như thế thì có ý nghĩa gì chứ? Điều đó dẫn anh đến đâu? Làm việc không ngưng nghỉ, vật lộn trong gian khó, đợi đến kỳ nghỉ cuối tuần để đi tự thưởng vài món mình thèm muốn trong các cửa hàng mà chính xã hội tiêu thụ này đã khiến chúng trỗi dậy trong anh và thế là cảm thấy được thỏa mãn đôi chút và điều ấy đã chẳng kéo dài. Rồi tiếp tục làm việc nữa để tuần tới có thể bắt đầu lại kỳ nghỉ cuối tuần tiếp theo. Phải chăng cuộc sống chỉ là một sự luân phiên giữa miệt mài và thú vui phù phiếm thoáng qua?
Còn tham vọng thầm kín của anh, vượt hẳn lên khi trở thành nhà kinh doanh trội hơn Michael, tham vọng đó kể từ giờ sẽ chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Với anh hình như nó đã từng là một nguồn động lực vô bổ, không có hứng thú thực sự. Chính công việc anh đang làm đây, liệu nó có ý nghĩa gì không? Càng ký thêm nhiều hợp đồng thì càng tốt… Rốt cuộc thì điều đó có ích gì đây?
Jonathan cần tạm nghỉ, cần bẻ gãy sự liên kết ma quái này, cần suy ngẫm thêm. Cần quyết định xem anh muốn làm gì trong phần đời còn lại của mình. Nếu chẳng may anh phải chết trong năm nay, điều gì sẽ khiến anh thoải mái vì đã sống những tháng cuối cùng của đời mình?
Anh triệu tập cuộc họp với các cộng sự và giải thích với họ rằng các vấn đề cá nhân buộc anh phải ngừng làm việc một thời gian. Sự vắng mặt của anh sẽ không gây hậu quả gì về tài chính cho họ: sự phân chia thu nhập được tính theo tỷ lệ các hợp đồng mà mỗi thành viên công ty ký với khách hàng. Việc theo dõi các hồ sơ dang dở sẽ được trợ lý của anh thực hiện.
- Cậu sẽ vắng mặt lâu không? - Michael hỏi ngay.
Jonathan thở dài. Anh chẳng có ý tưởng gì về chuyện này.
- Cho đến khi nào mọi chuyện tạm yên ổn…
Angela không đưa ra bình luận nào.
Hôm đó, Michael tiễn anh ra tận cửa văn phòng.
- Tôi đã đoán ra có chuyện không ổn rồi, - anh ta nói khẽ với Jonathan. - Nghe này, cứ nghỉ ngơi thoải mái, và suy nghĩ về đề nghị của tôi nhé.
Về đến nhà, Jonathan ném vào túi du lịch của mình những đồ vật cần thiết tối thiểu, nhảy lên chiếc Chevrolet màu trắng già nua của anh và lao thẳng lên đường 101, thẳng hướng Nam mà tiến. Được giải phóng khỏi đám sương mù buổi sáng thường nhật, anh thấy bầu trời mang một màu xanh lơ thăm thẳm hình như bao la mênh mông.