Năm nay máy sưởi được đưa vào lớp học sớm hơn năm ngoái. Mấy ngày nay, bên ngoài cửa sổ lúc nào cũng trắng xóa. Mùa đông lạnh lẽo đang từng bước đến gần. Đồng thời tốc độ đọc sách của tôi cũng tăng lên. Bộ tiểu thuyết Asami Mitsuhiko có đến ba mươi tư cuốn, vậy mà khoảng giữa tháng Mười một tôi đã đọc hết. Ba mươi tư cuốn trong vòng chưa đầy hai tháng. Có khi đạt kỷ lục Guinness rồi cũng nên.
Tôi có hiểu thêm điều gì về cái chết không ư? Câu trả lời là không. Kẻ xấu chết như ngả rạ, người tốt cũng chết. Con người ta chết dễ dàng đến mức đáng kinh ngạc. Dễ tới mức, hễ có ai đó tới tìm Asami Mitsuhiko nhờ vả điều gì là tôi lại có dự cảm rằng có ai đó sắp chết rồi.
Nhưng sinh mệnh là một thứ lớn lao. Nó trọng yếu tới mức có thể dễ dàng thay đổi tính cách, cuộc sống và nhân sinh quan của một con người.
Tôi chỉ hiểu ra được điều đó. Nhưng những cuốn sách mà Uemura đưa cho tôi là những cuốn tách rời tôi khỏi hiện thực nhất trong những cuốn tiểu thuyết tôi từng đọc. Chí ít thì trong thời gian cùng Asami Mitsuhiko giải đáp những điều bí ẩn, tôi đã tạm quên việc lơ đãng nhìn ra ngoài cửa sổ.
Có điều, tôi có nên trả lại những cuốn sách này không nhỉ? Tôi thực sự bối rối không biết phải xử trí ra sao, bởi gần ba năm nay tôi không chịu giao tiếp với người khác rồi. Cậu ấy nói trước đó định mang đi bán sách cũ, vậy nghĩa là tôi không cần trả lại nữa chăng? Nhưng lẳng lặng đem sách đi bán sau khi đọc xong thì cũng không phải lắm. Tôi cứ nghĩ đi nghĩ lại về chuyện đó. Mà không, không phải. Điều tôi băn khoăn không phải là nên làm gì với những cuốn sách, mà là có nên nói chuyện với Uemura về chúng hay không.
Nếu bận tâm về điều gì thì ta nên làm rõ điều đó. Tôi quyết định sẽ báo với Uemura về việc mình đã đọc xong sách.
“Uemura ơi, chỗ truyện này tớ đọc xong rồi. Ừm, cả bộ luôn.”
Lúc tan học, Uemura chuẩn bị về, tôi bước tới bàn cô và đặt chiếc túi giấy chứa những quyển sách bên trong lên trên bàn.
“Thế à.”
Uemura thoáng liếc qua bên trong chiếc túi giấy.
“Ừ. Truyện thú vị lắm, cảm ơn cậu nhé.”
“Chỗ truyện này tớ tặng cậu rồi mà.”
“Thế à. Ừm, nhưng mà…”
“Nếu không cần tới nữa thì cậu có thể mang ra hàng sách cũ. Tớ chưa dặn cậu như vậy à?”
“Ừ, cậu nói phải.”
Thấy Uemura trả lời tỉnh queo như vậy, tôi đâm ra bối rối.
“Chắc Hayama ngại lắm phải không?”
“Gì cơ?”
“Ngại bắt chuyện với tớ ấy. Bắt chuyện với một người cậu đã từ chối lời tỏ tình là một việc rất phiền phức đúng không?”
“À, không phải vậy đâu.”
“Là như thế còn gì. Thường ngày cậu đã không giỏi nói chuyện, giờ lại còn luống cuống nữa, nên câu chuyện mới trò nên kỳ cục thế này.”
“Hả? Ơ…”
“Cậu không cần miễn cưỡng nói chuyện với tớ đâu. Chỗ truyện này cậu thấy xử lý sao cho ổn thì cứ làm theo như thế nhé.”
Uemura nhanh chóng khoác cặp lên vai rồi ra khỏi lớp. Hệt như lúc cô ấy tỏ tình với tôi. Tôi luôn bất ngờ và bị động trước cách tiến hành mọi việc nhanh thoăn thoắt của cô ấy.
Uemura vừa đi khỏi lớp, tâm trạng tôi lập tức chùng xuống. Cảm giác u ám nặng nề trải ra rộng khắp bên trong cơ thể tôi. Cảm giác này là sao vậy? Đâu có xảy ra chuyện gì chấn động lắm, vậy mà tôi lại thấy trái tim mình xôn xao khó chịu. Trước cảm giác khó chịu không rõ nguyên cớ này, lòng tôi chẳng thể nào tĩnh lặng được.
Từ sau khi anh trai qua đời, tâm trạng tôi luôn nặng nề. Cảm giác trống rỗng sau khi anh mất tràn ngập mọi ngóc ngách tâm trạng tôi. Tôi đã ở yên trong tâm trạng nặng nề bức bối đó mà không chịu đựng thêm bất kỳ một thứ cảm xúc mới nào. Thế nên tôi không biết phải làm sao khi đột nhiên có một sức nặng mới mẻ và khác với mọi cảm giác nặng nề từ trước tới nay đè lên trái tim mình.
Trước mắt, tôi sẽ giao bộ tiểu thuyết Asami Mitsuhiko này cho hiệu sách cũ. Tôi nghĩ nếu làm như vậy cảm giác nặng nề trong lòng mình sẽ nhẹ bớt. Nhưng tiếc là bộ tiểu thuyết Asami Mitsuhiko đã biến thành 320 yên rồi trở về bên tôi. vỏn vẹn có 320 yên. Nhưng tôi chẳng có lòng dạ đâu mà chiếm lình số tiền này. Thật chẳng biết phải làm sao nữa.
Mà không, có lẽ như thế này cũng tốt. Lúc trả lại chỗ tiền này, tôi sẽ nói chuyện với Uemura trôi chảy hơn bữa trước. Chắc chắn sau vài câu trò chuyện, cảm giác xôn xao trong lòng sẽ bớt đi. Tôi muốn sớm giải quyết cảm giác nặng nề thừa thãi này.
Ngày hôm sau, tôi để sẵn đám tiền xu 320 yên vào túi để tới trường, vậy mà Uemura lại không tới.
Hình như cô nàng nghỉ học. Thôi đành để tới ngày mai vậy. Hai đứa học cùng lớp mà. Ngày mai tôi lại có cơ hội thôi. Tôi nghĩ vậy, nhưng tới hôm sau vẫn chưa thấy Uemura đâu, nếu cộng thêm thứ Bảy, Chủ nhật nữa thì tôi đã không gặp Uemura tới bốn ngày liên tiếp. Cảm giác nặng nề mới mẻ trong lòng tôi càng thêm nặng nề hơn khi không có mặt cô ấy.
“Ủa, có chuyện gì à?”
Sau khi hỏi địa chỉ nhà Uemura và nhận được câu trả lời với vẻ đầy ngờ vực của Mochida - cô bạn hay đi cùng Uemura, tôi tìm tới nhà cô ấy; nét mặt Uemura khi cô xuất hiện trông còn ngờ vực hơn cả Mochida nữa.
“À không có gì, thấy cậu nghỉ lâu nên tớ thắc mắc không biết cậu có chuyện gì không thôi.”
Tôi đứng ngoài cửa trả lời.
“Hayama vẫn đến trường á?”
Có lẽ khi nãy Uemura vừa ngủ dậy, cô nàng đang mặc bộ pyjama, tóc tai cũng bù xù.
“Ừ, có chứ.”
“Cậu tách biệt với thế giới quá đó. Tớ nghỉ học vì bị cúm đây. Mà không phải lớp mình nhiều người nghỉ học lắm à?”
“Ờ, cậu nói tớ mới để ý.”
Mấy ngày nay quả thực tôi cũng có cảm giác số học sinh trong lớp ít thật.
“Cậu lại không để ý xung quanh rồi. Dịch cúm đang hoành hành dữ dội, một vài lớp sắp phải nghỉ tạm thời kia kìa.”
“Tớ tưởng nhiều người nghỉ vì lạnh quá.”
“Chỉ vì lạnh mà nghỉ á, tụi mình là học sinh cấp ba rồi chứ có phải bọn con nít nhõng nhẽo đâu?”
Uemura ngạc nhiên nói, đoạn cô nàng hơi mỉm cười.
“Xin lỗi nhé, tớ ngốc thật.”
“Không sao. Cậu lúc nào chẳng ngốc như vậy. Thế sao cậu tới đây? Cậu mang vở ghi cho tớ à?”
“Vở ghi ư?”
Tôi hỏi lại y nguyên lời cô nói.
“Không phải cậu đã ghi bài đầy đủ trong lúc tớ nghỉ ốm và hôm nay mang tới cho tớ mượn sao?”
Ra là vậy. Hóa ra tôi nên làm việc đó cho cô ấy. Tôi đúng là khờ thật. Vừa nghĩ, tôi vừa đưa túi đồ mua ở cửa hàng tiện lợi ra trước mặt.
“Tớ không mang vở đến. Nhưng có mua Pocari tới. Mua bằng tiền bán những cuốn tiểu thuyết tớ nhận từ Uemura bữa trước đấy.”
Uemura reo lên “Ôi, Pocari à?” rồi nhận lấy chiếc túi với vẻ vui sướng.
“Đúng là lúc bị cảm cúm thì Pocari là nhất. Khi chơi thể thao, tớ có thể uống Aquarius hoặc Da-ka-ra cùng mọi người, nhưng khi bị ốm thì số lần tớ uống Pocari luôn nhiều hơn một cách áp đảo so với thứ nước khác. Chỉ cần nhìn chiếc vỏ nhãn màu xanh này tớ đã có cảm giác những thứ mất đi khỏi cơ thế mình được lấp đầy trở lại, như thể tớ sắp khỏi ốm đến nơi rồi ấy.”
“Lần đầu tiên tớ gặp một người ca ngợi Pocari đến thế đấy.”
May là tôi đã dùng 320 yên đó để mua Pocari. Từ đáy lòng mình, tôi thật sự nghĩ như vậy.
“Hi hì. A, có hai chai này. Cậu uống một chai không?”
Vừa cười, Uemura vừa đưa một chai cho tôi.
“À thôi, tớ không uống đâu.”
“Thế à. Thế thì tớ nhận cả hai chai nhé. Tớ đỡ sốt nhiều rồi, chỉ nghỉ đến hết hôm nay thôi, nên đừng lo lắng gì nha.”
“Ừ.”
“Ừm, hôm nay cảm ơn cậu đã dành thời gian tới đây nhé.”
Uemura bước xuống khỏi bậc thềm, xỏ đôi dép lê vào chân và mở cửa ra.
“Ừ”
“Vậy, Hayama về cẩn thận nhé.”
“Ừ. À Uemura này…”
“Sao vậy?”
“Biết nói sao nhỉ, tớ…”
“Chuyện chai Pocari hả? Hay cậu nhận một chai về nhé?
“Không, không phải vậy. Chuyện là… tớ… Tớ rất sợ cảm giác thích một ai đó.”
Sợ rằng cuộc nói chuyện lại nhanh chóng bị kết thúc như mọi khi, tôi luống cuống nói vậy. Không hiểu sao tôi chỉ nghĩ ra câu ấy. Uemura dựa người vào cánh cửa mở, mắt tròn xoe ngạc nhiên hỏi lại: “Cậu nói gì cơ?”
“À, ờm, tớ vừa nói rằng có lẽ tớ sợ việc thích một ai đó.”
“Tớ không nghe nhầm đấy chứ? Hayama, cậu vừa nói là cậu sợ việc thích một ai đó hả?”
Mắt vẫn mở to, Uemura hỏi lại.
“Ừm, nếu được cậu có thể không nhắc lại lời tớ nói được không?”
“Nhưng mà ngoài đời tó chưa nghe ai nói ‘sợ việc thích một ai đó’ bao giờ cả. Ngay cả trên phim ảnh thời nay người ta cũng không dùng câu đó nữa. Có cố gắng sống thêm tám mươi năm nữa tớ cũng không được nghe lại câu nói này mất.”
Có lẽ tôi vừa nói một câu quá văn vở. Nhưng một người nhắc lại để rồi chế nhạo câu nói mà người khác vội vàng thốt ra trong cơn xúc động như Uemura, có sống thêm một trăm năm nữa chắc tôi cũng không gặp ai khác mất.
“Tớ không giỏi diễn đạt lắm. Ý tớ là, tớ rất sợ khi nghĩ tới việc tớ sẽ phải trả giá cho những điều hạnh phúc tốt đẹp mình nhận được lúc này bằng những ngày tháng trống rỗng đang chờ đợi phía trước.”
“Những ngày tháng trống rỗng đang chờ đợi cậu đâu đó phía trước ư?”
Dù tôi đã thay đổi từ ngữ để giải thích, nhưng Uemura vẫn chau mày như cũ.
“Nói thế nào nhỉ. Ví dụ nhé, cậu xem một bộ phim rất hãy rất cảm động, nhưng càng hay thì khi xem xong cậu càng buồn đúng không? Khi tập cuối của bộ truyện tranh cậu theo dõi đã lâu khép lại, cậu sẽ thấy rất hụt hẫng phải không nào? Những lúc như vậy cậu sẽ nghĩ nếu ngay từ đầu không đọc bộ truyện đó, thì lúc này cậu đã không rơi vào tâm trạng buồn rầu khó hiểu này, đúng chứ?”
“Chà, tớ không biết nữa. Tại gần đây tớ không xem phim hay đọc truyện gì cả. Tớ đang bận ôn thi đại học mà.”
Tôi nhiệt tình giải thích, nhưng Uemura vẫn nghiêng đâu vẻ không hiểu.
“Vậy ví dụ cậu vừa ăn một suất bò bít tết cực kỳ ngon nhé. Nó rất ngon và rất hiếm khi cậu được ăn. Cậu sung sướng tận hưởng hương vị của nó, nhưng càng ăn thì miếng thịt trên đĩa càng nhỏ đi rồi biến mất.”
“Chuyện đó là đương nhiên. Làm gì có miếng bít tết nào ăn mãi vẫn còn nguyên như vậy, nếu có thì chỉ là một trò chơi khăm ai đó bày ra thôi. Nhưng mà, từ chuyện sợ việc thích một ai đó sang chuyện cơn sốc khi miếng bít tết bị ăn hết, cậu có thay đổi chủ đề nhanh quá không đó?”
“Ừ. Tớ đổi ví dụ hơi nhanh. Nhưng món bít tết, bộ phim, bộ truyện tranh hay người mình thích đều như nhau cả. Nếu từ đầu không có những thứ đó, người ta không thể có những giây phút vui vẻ hạnh phúc, nhưng cũng sẽ không phải nếm trải cảm giác buồn khổ khi đánh mất những thứ đó, phải không? Vì nếu ngay từ đầu không có những thứ đó thì sự kết thúc cũng không bao giờ tới. Tớ nghĩ như vậy tốt hơn. Tớ biết nghĩ thế là không nên, nhưng tớ vẫn không muốn. Vì nếu so niềm vui với nồi buồn, chắc chắn nỗi buồn sẽ lớn lao hơn. Dù có bao nhiêu ký ức hạnh phúc cũng không thể bù lại với nỗi buồn được. Tớ không giỏi biểu đạt ý mình, nhưng đại khái là như vậy đó.”
Thấy tôi giải thích xong, Uemura bảo:
“Nói nhiều vậy chắc phải khát rồi chứ?”
Cô đưa chai Pocari cho tôi.
“Ừ, vậy… tớ uống nhé.”
Tôi uống ừng ực hết chai Pocari, hệt như lúc vừa nhảy bao gạo xong.
Cùng với việc không chơi thể thao nữa, tôi cũng không còn hăng hái nói chuyện nữa. Không biết vì nói nhiều nên bị mệt, hay vì tôi đã cố giải thích một chuyện rắc rối, cơ thể không toát ra giọt mồ hôi nào của tôi nhanh chóng hút cạn từng giọt Pocari ấm áp.
“Khả năng giải thích của Hayama tệ đến mức khiến tớ ngạc nhiên đấy. Vả lại, lúc này tớ không có ý định sẽ chết hay bỏ đi đấu thật xa cả.”
Vừa nhìn tôi uống chai Pocari, Uemura vừa nói.
“Ừ.”
“Vì số chai Pocari tớ đã uống nhiều hơn Hayama những hai mươi lăm lần cơ mà. Tớ chỉ bất cẩn bị nhiễm cúm xíu thôi, chứ cơ bản vẫn khỏe như vâm ấy.”
“Thế à? ừm, có lẽ đúng là như vậy.”
Uemura đã hiểu được câu chuyện lộn xộn tới mức khiến người khác phải kinh ngạc của tôi chưa nhỉ? Vốn dĩ tồi muốn nói điều gì với Uemura vậy? Giờ ngay cả điều đó tôi cũng không rõ nữa. Nhưng dù vừa mới khỏi cúm, Uemura vẫn khoác một chiếc áo khoác dày nặng bên trên bộ pyjama để tiễn tôi đến nửa đường.
“Trời vào đông rồi nhỉ.”
“Ừ.”
Con đường trước nhà Uemura là một con đường dốc dài thoai thoải. Vừa chậm rãi đi xuống dốc, chúng tôi vừa nhìn lên trời. Bầu trời trải rộng một làn ánh sáng tím nhạt bồng bềnh. Mặt trời sắp lặn.
“Trời lạnh nhưng dễ chịu hơn mùa hè nhỉ.”
“Ừ, đúng thế thật.”
Tôi gật gù trước câu nói của Uemura.
“Hayama cũng ghét thời tiết nóng bức à?”
“Không hẳn thế, nhưng mùa hè có nhiều thứ quá ngắn ngủi.”
“Cậu thấy thế à?”
“Mà mùa thu thì cũng ngắn ngủi.”
“Ừ, công nhận. Cuộc đời học sinh của chúng ta cũng sắp kết thúc rồi. Hayama định thi vào trường đại học nào?”
Uemura ngước nhìn tôi. Trời lạnh làm gò má cô ửng hồng.
“À, tớ không định học đại học.”
Nghe tôi nói vậy, mắt Uemura còn tròn xoe hơn cả lúc nghe câu “sợ việc thích một ai đó” của tôi.
“Cậu không định học đại học ư? Thế cậu định làm gì?”
“Tớ sẽ đi làm.”
“Đi làm á?!”
Tiếng Uemura vang lên trên con đường tĩnh lặng.
“Nghe kỳ cục quá à?”
“Đi làm không có gì là kỳ cục cả, nhưng người như Hayama không làm việc được đâu. Thế gian này khắc nghiệt lắm đó. Một người hay thả hồn lơ đãng như Hayama e là sẽ bị đuổi việc ngay mất.”
“Thế á?”
Tuy gần đây kinh tế đang chững lại, nhưng tôi chưa thấy bản tin tuyến người nào ghi “Không chấp nhận những người hay lơ đãng” cả.
“Cậu còn hỏi ‘Thế á’ à? Làm gì có công ty nào chịu tuyển những người chẳng bao giờ chịu để ý tới lời mọi người xung quanh, một ngày nhìn xa xôi đến mấy chục bận. Vả lại Hayama có thể làm gì chứ?”
“Tớ cũng không làm được việc gì đặc biệt cả.”
Vừa nghĩ chẳng hiểu sao Uemura lại góp ý gay gắt như vậy, tôi vừa thành thực trả lời.
“Thế thì cậu đi học đại học đi.”
“Đại học ư…”
“Sau bốn năm đại học, Hayama sẽ không thường xuyên lơ đãng thẩn thơ như bây giờ nữa, phải không?”
Cô bạn nói hoài về chuyện này như thể mình là giáo viên phụ trách hướng nghiệp vậy, nhưng âm điệu của Uemura khi cô sốt sắng với vấn đề này nghe thật dễ chịu.
“Tớ cũng không chắc nữa.”
“Sau bốn năm lại có một mùa Olympic. Sau bốn năm nữa, Hayama cũng hai mươi hai tuổi rồi. Quá hai mươi tuổi mà vẫn còn giống bây giờ thì nguy to đấy.”
“Liệu tớ có thể thay đổi trong bốn năm không?”
“Đừng lo. So với hồi lớp mười, Hayama đã thay đổi một chút rồi đó.”
“Tớ thực sự sẽ thay đổi dần dần như thế sao?”
Lúc này, không biết phải tốn bao nhiêu thời gian tôi mơi tiến về phía trước được. Có thể bốn năm sau tôi vân giong như bây giờ, hoặc có thể tôi đã thay đổi tới chóng mặt.
“Ừ. Vả lại, đại học là nơi rất thoải mái. Vì cậu sẽ được trao cho rất nhiều tự do. Sau khi vào đại học, chỉ cần có hứng, cậu có thể khoác ba lô lên vai sang Thái Lan hoặc Ấn Độ nếu muốn đi tìm con người thật của mình, hoặc ra bãi biển nhặt vỏ chai hộp để bảo vệ Trái đất, hoặc tự làm một bộ phim ca ngợi tự do, hoặc trồng một loại nông sản sạch nào đó, hoặc vẽ tranh làm thơ bán bên vệ đường… Khi làm những việc đó, nhất định những kỷ niệm buồn sẽ dần phai nhạt, và những kỷ niệm khác sẽ ùa vào thế chỗ.”
“Đại học là nơi người ta làm những việc ấy ư?”
Chẳng lẽ sau khi tôi không chú ý tới xung quanh trong một thời gian dài, hệ thống giáo dục trên đại học đã thay đổi tới mức đó rồi sao? Thấy tôi nghiêng đầu thắc mắc, Uemura bật cười: “Không đâu.”
“Thực ra tớ cũng không biết như thế nào sẽ tốt hơn. Nhưng tớ nghĩ chí ít thì khi lớp học tạm nghỉ, cậu cũng nên nhận ra điều đó. Tớ nghĩ bản thân việc tới học ở một lớp học không người cũng là một trải nghiệm đấy.”
“Ừ, cậu nói phải. Tớ sẽ nghĩ thêm về chuyện này.”
“Vậy tạm biệt cậu nhé. Mai tớ sẽ tới lớp.”
“Ừ.”
Ra tới đường lớn, Uemura dừng bước. Tôi cũng đứng lại.
Mặt trời chỉ còn chiếu xuống vài tia nhỏ bé, bóng chúng tôi củng mờ nhạt.
“Hẹn gặp cậu ngày mai.”
Uemura khẽ đưa tay lên vẫy, rồi quay người trở lại con đường cô vừa đi tới.
“Ừ, ngày mai nhé.”
Tôi cùng khẽ thầm thì.
Ngày mai. Tới lúc này tôi mới nhận ra trên đời có một từ kỳ diệu đến thế.