Cái Chết Của Những Xác Sống Tập 2

Lượt đọc: 742 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 31
phơi bày

“Chà, đám tang đã kết thúc, nghi lễ đã xong xuôi, mọi người đều cảm thấy đã đến lúc trò chuyện với nhau một cách bình thường?”

-Agatha Christie -

[ After the Funeral (Sau Tang Lễ)]

---❊ ❖ ❊---

“Thật ra cháu cũng là một xác sống. Cháu chết lâu rồi. Câu chuyện phải bắt đầu từ đây.

Grin nhìn quanh phòng. Ngồi trên sofa, Cheshire và Isabella đang che miệng, mắt mở to.

Trong góc phòng, Tracy và Fox – không phải vai chính trong câu chuyện này, đang đứng ủ rũ dựa vào tường lập tức bật dậy sau lời thú nhận của Grin. Nhưng Tracy lại ấn bụng và yếu ớt dựa vào tường ngay sau đó. Đứng cạnh họ là Norman vừa tỉnh lại. Vốn vô cảm nên nghe thế, khuôn mặt ông ta cũng chẳng chút biến đổi. Đứng cạnh Grin là Tiến sĩ Hearst – người biết rõ mọi chuyện từ đầu nên không hề ngạc nhiên như những người khác. Ông nhìn Grin với ánh mắt cảm thông. Bên kia giường, Smiley – một xác sống, cũng trao cho Grin ánh nhìn chia sẻ. Cạnh ông là Monica ngồi trên xe lăn với vẻ mặt mơ hồ vẫn chưa hiểu rõ tình hình. Xa hơn nữa, quay lưng về phía Grin là một xác sống khác đang cắm đầu vào bệ cửa sổ như một kẻ nổi loạn bị trừng phạt trên máy chém.

Grin quyết định nói ra sự thật, bắt đầu bằng lời thú nhận mình đã chết.

“Tiến sĩ Hearst biết rất rõ cháu đã chết. Tim cháu ngừng đập, không còn chảy máu nữa. Thứ đang chảy trong huyết quản của cháu lúc này không phải máu mà là hỗn hợp chất bảo quản và thuốc nhuộm hiệu ‘Những bông hoa tuổi trẻ. Cháu đã nhờ Tiến sĩ Hearst bảo quản xác của mình.”

Tiến sĩ Hearst liếc nhìn hỏi cậu có ổn không, Grin gật đầu và tiếp tục kể.

“Vâng, cháu chắc chắn đã chết. Cháu đã được kiểm tra và thậm chí còn đo điện não đồ. Kết quả là cháu đã chết lâm sàng, không có gì phải bàn cãi.”

Grin miễn cưỡng nói. Nhưng giờ mọi chuyện đang vượt khỏi tầm kiểm soát. Cậu phải tiết lộ sự thật. Để làm được, cậu cần chấp nhận sự thật về cái chết của chính mình.

Khi nhận thức rằng cơ thể mình sẽ thối rữa dù có thêm bao nhiêu chất bảo quản chăng nữa, Grin dường như mất kiểm soát. Đó là lý do tại sao cậu quyết định tiết lộ sự thật về cái chết.

“Lý do cháu dính vào vụ án này là từ cái chết của cháu xảy ra trong bữa tiệc trà do ông Smiley tổ chức.

Grin kể lại vụ ngộ độc trong bữa tiệc trà và cuộc thảo luận giữa cậu với Tiến sĩ Hearst.

“Lúc đầu, cháu nghĩ đây là một vụ giết người giành quyền thừa kế. Đầu tiên, ông Smiley là mục tiêu bị bỏ độc, còn cháu vô tình bị vạ lây. Sau buổi tiệc trà, ông Smiley chết vì thuốc độc, và bác John, một trong những người thừa kế nhận được lá thư cảnh báo là người thứ hai phải chết, cũng qua đời. Đây lẽ ra được coi là một vụ giết người hàng loạt để giành quyền thừa kế. Nhưng cháu nghĩ mình nên tìm ra sự thật về cái chết của mình trước. Thứ duy nhất cháu ăn trong bữa tiệc trà là sô-cô-la mà ông Smiley được nhận. Lúc đầu, cháu nghĩ có chất độc trong đó. Tuy nhiên, cháu không biết thủ phạm đã lừa mục tiêu ăn viên sô-cô-la cụ thể có chứa asen như thế nào. Cháu thấy không có khả năng này. Có lúc cháu đã nghĩ ông Smiley cố tình đưa sô-cô-la có độc cho cháu”

Smiley cau mày.

“Ta không biết. Cái chết của ta là một vụ tự sát, nhưng ta không bao giờ nghĩ cháu sẽ bị dính líu.”

“Dù là một âm mưu thì khả năng hai viên sô-cô-la duy nhất cháu ăn có chứa asen cũng rất khó xảy ra. Vì thế, cháu đã nghĩ đến trà. Theo kết quả kiểm tra, Tiến sĩ Hearst cho rằng asen được trộn lẫn trong đường, nhưng vào thời điểm đó, ba người cho đường vào đồ uống của họ lại không có triệu chứng trúng độc. Sau đó khi cháu đi điều tra, bát đĩa đã được rửa sạch, cháu không biết phải tìm gì, chỉ có thể quanh quẩn trong bếp. Tuy nhiên, một hướng điều tra mới bất ngờ xuất hiện. Khi sự cố nhầm quan tài đó xảy ra..”

“Nhầm quan tài?” Tracy hỏi.

Grin kể lại chuyện nhầm quan tài giữa chó săn Afghanistan và ông Hound.

“Chú James cho rằng để xảy ra sai sót như vậy là do sơ suất của nhiều người, nhưng thực tế không phải vậy. Nguyên nhân trực tiếp là do màu thẻ của hai địa điểm. Thẻ vào phòng hỏa táng của ông Hound có một đường màu đỏ ở mép còn thẻ vào ‘Phòng Hoa súng của con chó có một đường màu xanh lá cây ở trên. Norman, người được cử đi phục vụ, đã ghi lại yêu cầu của tang quyến vào thẻ điểm đến của quan tài nhưng đã nhầm lẫn tên của người và chó. Sau khi bị chú James mắng, cháu chợt nghĩ đến một khả năng khác: Norman có thể đã viết mà không phân biệt được màu đỏ và màu xanh”

“Anh bị mù màu xanh lá cây và màu đỏ sao?” Tiến sĩ Hearst hỏi Norman và nhận được cái gật đầu rụt rè.

“Norman bị mù màu đỏ - xanh, rồi cháu nhớ ra một sự nhầm lẫn tương tự khác. Sáng nay, trên gác mái của Norman, Cheshire và cháu đang lục lọi di vật của Jason để tìm hiểu thêm về quá khứ của chú ấy thì nhìn thấy một hộp đồ chơi. Này Cheshire, em có nhớ cái hộp mình đã ngồi lên không?”

Grin gọi Cheshire bằng giọng điệu trìu mến nhất có thể. Đây là lần đầu tiên cậu nói với tư cách là một người đã chết. Cô cứng người một lát trước lời gọi của Grin, nhưng ngay lập tức đáp lại bằng một nụ cười trên môi.

“Có, em nhớ. Cái đó có hình quả ớt.”

“Khi thấy nó, cháu nhớ đã nhìn thấy cái tương tự trong nhà bếp, là những hộp bột mì mà bà Martha đang sử dụng. Tuy nhiên, hình ảnh trên hộp là hạt đậu tuyết. Đối chiếu các sự kiện, nhớ ra Norman bị mù màu đỏ – xanh, cháu nhận ra có thể đã có một sự nhầm lẫn khác.”

Cheshire lục lại ký ức.

“Em cũng thấy hộp đậu tuyết trong nhà bếp. Đậu tuyết màu xanh còn ớt màu đỏ, nhưng hình vẽ không rõ nên nếu ai không phân biệt được màu sắc thì đậu tuyết và ớt trông giống nhau, và có thể nhầm giữa hai hộp này. À đúng rồi, em nhớ hôm tiệc trà buổi sáng”

“Đúng. Chính ở buổi tiệc trà, trong bếp xảy ra chút náo loạn. Bà Martha yêu cầu Norman lấy một hộp đậu tuyết từ nhà kho. Tuy nhiên, Norman đã mang đến một hộp khác. Từ phòng khách, cháu nghe bà Martha càu nhàu: “Tôi đã nói là hộp đậu tuyết cơ mà. Trước đó, cháu nghe tiếng động lớn của đồ đạc trong bếp bị rơi. Norman, ông có thể cho biết chuyện gì xảy ra khi đó không?”

Vẻ mặt của Norman thậm chí còn sợ hãi hơn trước. Như thấy sự hậu đậu của mình đã dẫn đến một tai nạn nghiêm trọng nào đó, ông do dự trả lời.

“...À, lúc đó tôi mang nhầm hộp từ nhà kho. Nó được đặt ở một nơi khác chỗ Martha đã nói, nhưng khi nhìn ảnh, tôi nghĩ đó là hộp đậu tuyết mà Martha đang nói đến. Mở nắp được nửa chừng, tôi thấy bên trong là bột màu trắng trông giống bột mì. Lúc xuống bếp định đặt nó lên kệ thì tôi bị trượt tay làm rơi cái hộp xuống kệ bên dưới. Nắp đậy không chặt nên bị đổ ra ngoài và trộn lẫn vào hũ đường ở đó. Nhưng tôi giữ im lặng vì Martha không để ý. Tôi không muốn bị mắng. Martha liếc nhanh hình vẽ trên hộp và biết đó là một quả ớt. Ngay lập tức, tôi mang một hộp khác vào. Rồi tôi đặt hộp ớt vào hộp đồ chơi của Jason trên gác mái và quên mất…”

Grin tiếp lời.

“Bà Martha đã vô tình làm vỡ lọ đường và ném nó đi nên cháu không thể kiểm tra bên trong. Tuy nhiên, cháu tìm thấy một loại bột màu trắng khác với đường trong khe hở giữa các tấm ván của giá đựng đường và cạo nó ra. Sau khi đi vào ngõ cụt với vụ điều tra sô-cô-la, cháu chuyển sang khả năng hộp đựng đường có độc. Nghe Martha kể về những gì đã xảy ra trong nhà bếp, cháu đoán rằng đó là thứ đổ ra từ hộp ớt mà Norman đã mang đến. Chất bột màu trắng trong hộp ớt chắc chắn có vấn đề. Đó là asen để diệt chuột. Cháu gọi một cuộc điện thoại đường dài đến Ý và hỏi Rocco, người biết nguồn gốc của hai chiếc hộp. Rocco là người keo kiệt nên đã cất thuốc diệt chuột trong hộp đựng ớt để bảo quản, giống như bột mì. Anh ta không biết dòng chữ ‘khi thời gian đến trên đó là gì nên đã bỏ một nửa túi thuốc diệt chuột mà ông Smiley định dùng để tự sát vào một chiếc hộp. Rocco khẳng định đặt hai chiếc hộp ở các vị trí hoàn toàn khác nhau trong nhà kho nên chắc chắn không thể có chuyện nhầm lẫn. Nhưng anh ta sẽ không ngờ người đang nói chuyện với mình ở đầu dây bên này là một người đã chết, phải trải qua những điều kinh khủng vì sự nhầm lẫn này.”

Lời mỉa mai của Grin không khiến ai bật cười. Thay vì cười nhạo, Tracy bối rối hỏi: “Cậu nói có asen trong hộp đựng đường, nhưng thật kỳ lạ vì chẳng phải cậu nói còn ba người dùng đường sao?”

“Vâng, cháu có nói. Ngay cả khi cháu không biết trong hộp có asen, và chuyện hộp đường có độc chỉ là giả thuyết thì đây vẫn là một vấn đề lớn. Tại sao cháu là người duy nhất chết trong số bốn người dùng đường? Cháu đã hỏi Cheshire ngay sau khi vụ việc xảy ra và cô ấy khăng khăng mình đã uống sữa có đường. Bác John và bà Monica cũng được xác nhận là không có vấn đề gì vào khoảng thời gian cháu bị đầu độc”

“Xin lỗi Grin. Cheshire nói, nửa như cầu xin: “Em không biết anh đã đau khổ rất nhiều sau khi chết, em đã cố chấp nói dối..”

“Được rồi, Cheshire. Là anh hỏi không đúng câu hỏi, anh cũng chỉ là một thám tử nghiệp dư thôi. Em có lý do mà.”

Grin cố tình không đề cập chi tiết.

“Ban đầu, Cheshire nói là có uống sữa có đường, nhưng sau đó cháu phát hiện thật ra cô ấy không uống một giọt nào và đã đổ chúng ra ngoài cửa sổ. Chuyện gì xảy ra sau đó? Cheshire không uống nên đương nhiên không có vấn đề. Nhưng hai người còn lại là bác John và bà Monica thì sao? Cháu bắt đầu suy luận ngược ở đây. Cháu đã bị đầu độc nhưng sau đó hồi sinh, phải trang điểm và tẩm liệm, che giấu sự thật rằng mình đã chết. Những người xung quanh đã bị lừa và tin rằng cháu vẫn còn sống. Vậy nếu bác John và bà Monica cũng giống cháu thì sao?”

“Vậy là họ cũng đã chết và sống lại sao?”

Tracy ngạc nhiên hỏi lại, nhưng Monica, đối tượng chính của cuộc trò chuyện, vẫn mỉm cười như không nghe thấy gì.

“Có hai khả năng: chết ngay lúc đó, hoặc cả hai đã chết trước buổi tiệc trà nên thuốc độc vô dụng. Thuốc ngủ cũng vậy. Khi chú James bỏ thuốc ngủ vào rượu của bác John để nhắm vào con mèo Sourire, Luật sư Harding cũng uống ly rượu đó đã ngủ thiếp đi, nhưng bác John vẫn di chuyển bình thường, vì lúc đó bác ấy đã chết.”

“Chẳng phải John bị đâm chết sao?”

“Vâng, cháu sẽ từ từ giải thích. Quay trở lại chủ đề, khi biết vụ ngộ độc của mình chỉ là một tai nạn do nhầm lẫn, cháu đã phải thay đổi hoàn toàn quan điểm về sự việc. Ngay từ đầu, không có vụ giết người vì thừa kế nào nhắm vào tài sản của ông Smiley cả. Cháu và Tiến sĩ Hearst đã tranh cãi liệu cái chết của ông Smiley có phải một vụ giết người không, nhưng hướng đi này hoàn toàn bế tắc. Tiến sĩ Hearst cho rằng nếu cháu không bị đầu độc, cái chết của ông Smiley sẽ chỉ là một vụ tự tử. Tuy nhiên, vì cái chết của cháu hóa ra chỉ là một tai nạn đơn thuần, nên bóng dáng của kẻ đầu độc tưởng tượng gây ra vụ án của cháu và ông Smiley đã tự động biến mất, và chỉ số phạm tội của gia tộc Barleycorn đột ngột giảm xuống bằng không.”

“Nhưng John đã bị giết” Tracy nuốt nước bọt.

“Cháu biết. Ông nghĩ sao về trường hợp của bác John? Từ sự cố đường có asen, cháu nghi ngờ bác John có thể đã chết trước hoặc trong bữa tiệc trà nên cháu quyết định xem xét lại hành động của bác ấy và toàn bộ vụ án. Cháu đã phát hiện những bằng chứng chứng minh bác John đã chết. Sau bữa tiệc trà đó, bác ấy bắt đầu tránh tiếp xúc với người khác. Dù ông Smiley đang hấp hối, bác John vẫn nhốt mình trong khách sạn ở Marbletown. Isabella, lần cuối cùng bà và bác John gặp trực tiếp là khi nào ạ?”

Isabella lắp bắp trước câu hỏi đột ngột. Cheshire hỏi người mẹ vụng về của mình: “Khi con và đoàn tàu quan tài đâm vào John, mẹ, thật ra mẹ đã hôn lên vết thương đó đúng không?”

“Nụ hôn đó thế nào ạ? Có cảm giác như hôn người chết không ạ?” Grin hỏi một câu rùng rợn.

“À... Ta thấy bình thường” Dù đã quen với việc thân mật nhưng ngay cả Isabella cũng chưa từng nghe thấy một câu hỏi như vậy.

“Đó là lần cuối cùng bác John được xác nhận còn sống. Kể từ đó, bác John đã tránh xa những người khác. Vì cũng đã chết rồi nên cháu hiểu cảm giác đó. Do thân nhiệt thấp nên bác tránh tiếp xúc với mọi người, thậm chí không được ăn uống vì có nguy cơ bị phân hủy bên trong cơ thể. Chú James từng hỏi cháu về việc chất bảo quản bị trộm. Khi đó, cháu rất lo việc tẩm liệm của mình bị phát hiện, nhưng cháu nghĩ bác John đã sử dụng chất bảo quản để bảo quản thi thể của mình”

“Nhưng chỉ sự việc đó không đủ chứng minh gì cả.” Tracy phản đối.

“Ngoài ra còn có nhiều bằng chứng hữu hình hơn, hay cháu nên nói là vô hình nữa. Vào thời điểm xảy ra vụ việc, dấu vân tay trong văn phòng, bao gồm cả của bác John, đã bị xóa sạch. James nói đó không phải là lỗi của chú ấy. Ông nghĩ gì về điều này? Nhưng nếu cho rằng bác John đã chết ngay từ đầu thì câu trả lời rất đơn giản. Vì đã chết nên không thể có dấu vân tay. Văn phòng đã được quét dọn sạch sẽ vào buổi sáng nên không có bất kỳ dấu vân tay nào trên đó. Tiến sĩ, không có dấu vân tay nào là bằng chứng của một người đã chết phải không ạ?”

“Những đường vân trên da của người sống liên tục tiết ra một lượng nhỏ mồ hôi. Ngoài lòng bàn tay và lòng bàn chân, mồ hôi, chất béo và các tuyến bã nhờn khác từ đầu ngón tay chạm vào bề mặt đồ vật sẽ tạo ra dấu vân tay”

“Tôi biết điều đó.” Tracy nghiêm nghị nói.

“Vì vậy, James đã bôi dầu dưỡng da mặt của mình lên đầu ngón tay của xác chết để để lại dấu vân tay của O’Brien trong văn phòng?”

“Không, đây là vấn đề cháu nghi ngờ. Cháu tự hỏi một xác chết đã trải qua quá trình tẩm liệm vài ngày sau khi chết có thể để lại dấu vân tay rõ ràng như vậy ngay cả khi họ hồi sinh không”

“Nhưng tôi chắc rằng cậu có đổ mồ hôi ngay sau khi chết, phải không?”

“Đúng vậy. Ngay cả khi ở trạng thái chết lâm sàng, các tế bào tuyến mồ hôi cũng chưa chết ngay lập tức.”

Tracy mang vẻ mặt đã biết điều này. Grin vẫn tiếp tục giả thuyết của mình mà không hề nao núng.

“Đó sẽ là một manh mối để biết tình trạng của bác John. Ông đã thấy chiếc đồng hồ bỏ túi của bác John rồi. Bác ấy đã làm gì với nó?”

Tracy tỏ ra hoài nghi.

“Chiếc đồng hồ bị hỏng đó sao? Ông ta rút nó ra khỏi áo gile và để trên chiếc bàn nhỏ trong ‘Phòng Giấc ngủ hoàng kim trước khi bỏ chạy. Nó vẫn còn trong văn phòng”

“Đúng vậy. Bác John cầm nó trên tay và đặt lên chiếc bàn nhỏ. Nhưng tại sao không có dấu vân tay trên đó? Khi cảnh sát còn hoài nghi về người lạ mặt bí ẩn, cháu đã hỏi Tiến sĩ Hearst về dấu vân tay trên chiếc đồng hồ bỏ túi và nhận được câu trả lời rằng không có. Nếu bác John bị giết trước mười một giờ một chút, còn khả năng đổ mồ hôi, vậy lẽ ra trên đồng hồ bỏ túi phải có dấu vân tay. Nếu như không có, chẳng phải chứng minh bác ấy đã chết rất lâu trước đó, mồ hôi đã ngừng, da dẻ khô héo sao? Đó là suy nghĩ của cháu”

“Vậy ý cậu là John đã chết và vụ đâm tối hôm đó là một vở kịch?”

“Trước khi khẳng định, cháu muốn tìm hiểu tâm lý của bác John rõ hơn. Tất nhiên, điều khiến vụ án này khác với những vụ giết người thông thường là người chết sống lại, đây là một hiện tượng phi thường, gây ra rất nhiều khó khăn trong quá trình điều tra. Trong những trường hợp bình thường, phân tích tâm lý hung thủ có thể hỗ trợ phá án, nhưng lần này, chúng ta không thể nhìn thấy sự thật trừ phi hiểu được tâm lý của nạn nhân, gồm cả những người chết được hồi sinh. Theo gợi ý của Tiến sĩ Hearst, cháu đã thử suy đoán tâm lý của xác sống. Ở cùng vị trí là người chết sống lại, cháu nhận ra có điều kỳ lạ về di chúc.”

“Di chúc? Không phải cậu vừa nói đây không phải giết người vì thừa kế sao?”

“Không, không phải di chúc của ông Smiley. Là di chúc của bác John được lập vội khi gọi cho Luật sư Harding vào đêm xảy ra vụ việc. Cháu không hiểu nội dung di chúc lắm”

“Nội dung di chúc của John là gì?”

“Để lại toàn bộ tài sản cho Isabella và thừa nhận đứa con trong bụng bà ấy. Chuyện này không buồn cười sao? Nếu muốn Isabella và con thừa kế tài sản của mình, bác ấy nên kết hôn. Bác John vốn không có vợ con nên dù chết bất đắc kỳ tử không để lại di chúc, chỉ cần kết hôn, tài sản sẽ tự động thuộc về họ, đúng không?”

“Có thể John sợ vì nhận được bức thư cảnh báo về cái chết?”

“Nhưng bác ấy có thể kết hôn rồi lập di chúc sau đó. Vậy điều gì đã khiến bác John chọn lập di chúc? Hôn nhân với giả định mình có một tương lai, và một di chúc được chuẩn bị với giả định bản thân sẽ chết. Không phải bác John chọn vế sau vì biết mình không có tương lai sao? Ý cháu là, bác John đã chết vào thời điểm đó nên đã đưa ra lựa chọn này.

Hiểu tâm lý của bác John sẽ tiết lộ quan điểm của bác ấy về sự sống và cái chết. Tại bữa tiệc cho kế hoạch cải tạo nghĩa trang, bác John nói người chết là kẻ thua cuộc, và người sống, những người tận hưởng thiên đường trên trần gian là người chiến thắng. Hôm sau, khi chủ đề về cái chết được đưa ra thảo luận tại bữa tiệc trà, bác ấy nói: “Tham luyến tiền tài trên thế gian trong cuốn Nghệ Thuật Chết không thể coi là cám dỗ của ác quỷ. Bởi nếu là con, dù chết, có lẽ con cũng tham luyến tiền bạc”

Tiến sĩ Hearst bổ sung: “John cũng trích một câu trong cuốn John Barleycorn của Jack London rằng ‘Khi chết đi, mình sẽ không thể sở hữu mảnh đất bất diệt và tươi đẹp đang có mãi mãi.’”

“Vâng, nếu xem xét quan điểm của bác John về sự sống và cái chết, ta có thể hiểu động cơ của vụ án này. Điều gì đã thúc đẩy bác ấy hành động khi sống lại từ cõi chết?”

“Ngay cả khi chết, John vẫn ham muốn giàu có, phải không?” Tracy nói.

“Phải. Đó là quan điểm sống nhất quán của bác John, dù còn sống hay đã chết. Bác ấy nhận thức rõ về sự chiến thắng của người sống và nỗi thất bại của người chết. Nhưng cuối cùng, bác ấy chẳng hơn gì một kẻ thất bại mục nát, không thể tự do sử dụng tài sản của mình.”

“Vậy đeo bám tài sản cũng chẳng ích gì.”

“Nhưng bác ấy vẫn kiên trì. Và chỉ có một cách duy nhất để làm được chuyện đó.”

“Cách duy nhất?”

“Đúng vậy. Dù bác John chết thì vẫn có người nối dõi – chính là đứa trẻ trong bụng bà Isabella. Nếu chúng ta xem chuỗi gene là nối dài sự sống, vậy dù có biết mất khỏi thế giới này, bác John vẫn tồn tại trong đứa trẻ đó. Vì thế, bác ấy đã lên kế hoạch…”

Tracy tức giận ngắt lời.

“John đã tạo ra một vở kịch lớn bằng cách lấy dao đâm vào lưng mình sao? Tại sao ông ta lại làm chuyện ngu ngốc như vậy? Nếu có khả năng sống lại và thể hiện ý nguyện, ước muốn của mình, tại sao không đơn giản nói với mọi người là tôi đã chết, tôi sẽ trao toàn bộ tài sản của mình cho Isabella?”

“Vì làm như thế sẽ khiến những người còn sống đau khổ. Họ không hiểu nỗi khổ của xác sống – những người không còn cảm nhận được cảm xúc tinh tế đặc biệt từ trái tim nữa. Mọi chuyện không đơn giản như vậy. Thứ nhất, lúc chết, bác John không còn chút tiền nào.”

“Không có sao?”

“Phải. Bác John từng điều hành một bệnh viện nhưng đã phá sản, nợ nần chồng chất. Ngay cả căn nhà bác ấy mới mua cũng nhờ tài sản ông Smiley để lại. Nếu chết trước hoặc trong bữa tiệc trà thì thời điểm đó, bác ấy không có tài sản, gánh trên lưng món nợ khổng lồ và chẳng thể để lại gì. Vì thế, bác ấy không thể tiết lộ mình đã chết, phải giả vờ còn sống cho đến khi ông Smiley chết, nhận phần thừa kế của mình rồi viết một di chúc của bản thân để lại tài sản cho bà Isabella.”

“Tại sao John không lập di chúc sớm hơn?”

Lần đầu tiên Isabella lên tiếng.

“Bởi ông Smiley từng ám chỉ sẽ sửa di chúc và bác ấy không biết mình có thực sự được thừa kế hay không cho đến khi ông Smiley qua đời.”

Nói đoạn, Grin nhìn ông Smiley. Người chết từng đứng đầu gia tộc lắng nghe câu chuyện của Grin hồi lâu nhưng đến giờ vẫn chưa đưa ra bất kỳ bình luận gì, chỉ chăm chú nhìn cậu.

“Lúc nãy, thanh tra có hỏi tại sao bác John không thừa nhận mình đã chết mà lại tốn công thực hiện một kế hoạch chặt chẽ như vậy. Vì bác ấy hiểu rõ tình hình và mục đích hành động của mình. Nếu người chết sống lại và làm những gì mình muốn làm khi còn sống thì luật pháp không thể can thiệp vào năng lực pháp lý của họ, nhưng nếu người chết muốn thừa kế tài sản thì người sống sẽ không bao giờ thừa nhận.”

“Nhưng sau khi lập di chúc xong, John bình tĩnh thú nhận cái chết của mình chẳng phải tốt hơn sao? Không diễn kịch, cũng không cần chạy trốn. Tracy vẫn ngoan cố.

“Nếu bác ấy tuyên bố mình đã chết, pháp y tiến hành khám nghiệm tử thi, thời gian tử vong sẽ được xác định. Bữa tiệc trà diễn ra ba ngày trước khi bác ấy bị đâm. Nếu chết vào khoảng thời gian đó, có thể di chúc của bác John sẽ bị vô hiệu. Nếu mọi người biết bác John chết trước khi ông Smiley qua đời, bác ấy hoàn toàn không được thừa kế theo di chúc của ông Smiley nữa. Do đó, sau cái chết của ông Smiley và viết xong di chúc của mình, bác John phải dựng lên vở kịch rằng mình đã chết trong một khoảng thời gian nhất định. Bác ấy nhanh chóng chạy trốn khi mọi người phát hiện vì lo sợ bị điều tra được thời gian tử vong thực sự.”

“Chóng mặt quá. Thật rắc rối. Nếu là tôi, dù có tái sinh mấy lần thì chắc vẫn bị đau bụng. Có phải thời gian chết nhất định mà cậu nói chính là 10:35 trên chiếc đồng hồ bỏ túi bị hỏng đó không?”

“Phải. Tại thời điểm đó, không ai có thể chạm vào chiếc đồng hồ trừ chính bác John. Có lẽ bác ấy định để lại chiếc đồng hồ làm bằng chứng về thời gian tử vong của mình, sau đó chạy trốn và cảnh sát sẽ phát hiện thi thể thối rữa của bác ấy vào sáng hôm sau. Trong chiếc xe tang mà bác John lái có cắm sẵn chìa khóa, chắc đã chuẩn bị từ trước để chạy trốn.”

“Dù thế thì chuyện tự đâm dao vào sau lưng và biến mọi chuyện thành một vụ giết người quả thật không dễ dàng. Chọn phương pháp khác chẳng phải tốt hơn sao? Tốt nhất là để Isabella không bị nghi ngờ.”

“Có lẽ ban đầu bác John không nghĩ ra một vở kịch giết người như vậy. Tuy nhiên, sau khi viết di chúc, một tình huống bất ngờ xảy ra, bác ấy buộc phải vội vàng dàn dựng một vở kịch giết người.

“Còn vụ gì nữa sao?” Tracy thở dài.

“Ông có nhớ khi bà Isabella và bà Helen đánh nhau, bác John đã can ngăn họ không?”

“Cảm giác như chuyện này xảy ra trước cả khi Columbus phát hiện ra Châu Mỹ ấy chứ.”

“Ban đầu, bác John bảo William là người đâm mình, nhưng bà Helen đã đưa ra chứng cứ ngoại phạm, khẳng định William luôn ở cùng mình nên bác John rút lại lời buộc tội. Ngoài ra, thời gian trên chiếc đồng hồ bỏ túi và thời điểm bà Isabella mang hung khí vào đã dẫn đến tranh cãi, vì người mà bác John bảo mang con dao găm vào là bác William”

“Vậy là John gài bẫy William?”

“Phải. Bác John đã đặt một cái bẫy ở cánh Tây để chờ bác William bị bắt.”

“Bẫy ở cánh Tây?”

“Giết người trong phòng kín là hiện trường yêu thích của cảnh sát. Bác John biết Poncia luôn túc trực ở quầy lễ tân. Lối vào phụ phía sau hành lang, lối vào hai nhà xác đều được khóa trái, người ngoài không vào được, toàn bộ cánh Tây sẽ bị khóa kín. Người duy nhất bước vào phòng sẽ là bác William có mang theo vũ khí giết người, ngay cả Giáo hoàng cũng không có lựa chọn nào khác ngoài việc giao bác ấy cho cảnh sát nếu tìm thấy một chiếc đồng hồ bị hỏng dừng lại vào thời điểm hung khí được mang vào.”

“Vậy John là người cuối cùng khóa cửa sổ Phòng thăng thiên?”

“Đúng vậy. Bác John không biết kẻ đeo mặt nạ – chú James đang làm gì hay hành lang có gắn camera. Khi đó, bác John nhìn quanh phòng và thấy chốt cửa sổ chưa khóa nên đã khóa lại. Nên chú James không biết tại sao cửa bị khóa.”

“Tại sao John đặt bẫy chờ William?”

“Tất nhiên vì bác ấy muốn bác William bị bắt vì tội giết người. Bác ấy nghĩ nếu đằng nào cũng chết, mình sẽ kéo cả William chết theo. Bác John từ lâu đã nghi ngờ mối quan hệ giữa bà Isabella và bác William. Bà ấy đã hẹn hò với bác William trước khi gặp bác John. Với những người ngoài cuộc như chúng cháu thì cặp đôi Isabella – William trông đẹp hơn nhiều. Nhưng cháu nghĩ bác John quan tâm và yêu bà Isabella rất nhiều. Chính những lời của Luật sư Harding đã giúp gỡ rối những vướng mắc trong lòng cháu”

“Lời của Harding sao?”

“Cháu mượn băng ghi lời khai của Luật sư Harding từ Tiến sĩ Hearst và nghe đi nghe lại. Trong đoạn ghi âm đó, Harding khai nét mặt bác John đã thay đổi khi vị luật sư này nói đã xảy ra tranh chấp lao động vào thứ Sáu và cuộc đình công ở Burroughs khiến doanh số bán hàng dịp Halloween giảm. Khi vị luật sư này tỏ ra nghi ngờ và hỏi có chuyện gì, bác John lại trả lời: ‘Có một điều chết tiệt mà Halloween khiến tôi nhớ thôi. Lúc này, bác John thực sự quyết tâm gài bẫy bác William.”

“Tôi đã nghe lời khai đó nhưng câu nói đó nghĩa là gì? Tôi không hiểu”

“Trong ngày Halloween đã xảy ra một sự kiện đáng chú ý – tuyên bố sửa lại di chúc. Mọi người trong gia tộc Barleycorn tập trung ở phòng tư liệu tầng hai chờ Luật sư Harding đến, nhưng có hai người đến muộn, là bà Isabella và bác William. Hai người đến Marbletown để mua loại sô-cô-la yêu thích cho ông Smiley, nhưng bà Isabella than thở khu bán thực phẩm Burroughs hôm đó rất đông”

Nhìn cái mông xấu xí của John đang thò ra ngoài cửa sổ, Isabella biết chuyện vụng trộm của mình đã bị lộ.

“Sô-cô-la bà mang đến vào buổi tiệc trà không phải là sô-cô-la mua ngày hôm đó, phải không ạ?” Grin hỏi.

“Phải, lúc trước có chương trình mua 1 tặng 1 nên tôi đã mua hai hộp để tiết kiệm. Khi đang trong một mối quan hệ bí mật, người ta trở nên tham lam và sẽ tận dụng mọi thứ. Hôm đó tôi không đến Burroughs mà đi nơi khác với William. Sô-cô-la là chứng cứ ngoại phạm tôi tạo ra.”

Cheshire tặc lưỡi quay mặt đi, ra hiệu cho Grin quay lại chủ đề chính.

“Bác John đã rất bất ngờ khi nghe câu chuyện từ Harding. Dù kế hoạch để lại tài sản thừa kế cho bà Isabella đã được sắp xếp, nhưng sẽ không có ý nghĩa gì nếu bà ấy kết hôn với bác William. Bác John không biết chuyện gì sẽ xảy ra với con mình. Vì vậy, bác ấy quyết định một mũi tên trúng hai đích. Nếu đằng nào cũng phải chết, bác ấy bèn nảy ra ý tưởng biến cái chết của mình thành một vụ giết người và vu oan bác William thành thủ phạm.

Tracy vội ngắt lời.

“Đợi chút. Nếu John diễn một vở kịch giết người thì khi mọi người phát hiện xác ông ta vào đêm hôm đó, Isabella – người duy nhất được thừa kế gia sản theo di chúc sẽ bị nghi ngờ. Trong trường hợp William bị buộc tội là kẻ giết người thì vẫn có khả năng người tình của anh ta là Isabella bị nghi ngờ là đồng phạm.”

“Tất nhiên, bác John cũng đã nghĩ đến khả năng đó. Kế hoạch ban đầu của bác ấy có lẽ chỉ là biến hiện trường trông như một vụ tự sát. Nhưng nếu làm vậy, bà Isabella vẫn có thể bị nghi ngờ. Vì vậy, bác John quyết định tạo bằng chứng ngoại phạm cho bà ấy”

“Bằng chứng?” Tracy không thích cách dùng từ của dân nghiệp dư, nhưng hiện tại vai trò đã hoàn toàn đảo ngược, ông lặp lại từ này như thể chính mình là dân không chuyên.

“Phải. Hôm đó, khi thông báo mình sẽ làm việc trong văn phòng sau bữa tối, bác John đã yêu cầu bà Isabella phải ở trong biệt thự suốt thời gian đó. Sau này cháu được biết, Cheshire đã bị mua chuộc sau bữa tối, dặn phải để mắt tới bà Isabella trong đêm đó. Bác John không muốn bà ấy ở gần hiện trường dàn xếp cái chết. Vì vậy, khoảng mười rưỡi, bác ấy gọi điện cho Cheshire ở nhà Barleycorn để xem mẹ cô ấy có ở đó không. Cheshire không muốn trả lại tiền nên đã nói dối rằng bà Isabella có ở đây. Nhưng người mẹ này còn rắc rối hơn cả con gái mình. Dù bác John đã cố gắng hết sức để tạo bằng chứng ngoại phạm cho bà ấy nhưng bà đã trốn khỏi biệt thự để gặp William.”

“Vậy chuyện Helen nói là sự thật?” Tracy quay sang hỏi Isabella: “Bà đã gặp William vào thời điểm đó?

“Khoảng mười rưỡi, William nhận được một cuộc gọi từ máy bàn, John yêu cầu anh ấy mang con dao găm đến Phòng Giấc ngủ hoàng kim. Tôi thấy hơi chột dạ. Tôi nghĩ John đã nghi ngờ tôi và William có quan hệ tình cảm nên đã gọi William đến cùng con dao để tố cáo. Gần đây John còn tránh mặt tôi nữa. Vì vậy, tôi nghĩ mình đi sẽ tốt hơn William, tôi cũng muốn nói chuyện để xem anh ấy thực sự muốn gì. Tất nhiên, John không biết tôi đến gặp William, vì vậy anh ấy không biết tôi sẽ đến ‘Phòng Giấc ngủ hoàng kim. Sau khi bỏ con dao vào quan tài, tôi định gõ cửa phòng làm việc nhưng đến phút cuối lại không đủ can đảm. Sau đó, tôi quay lại, nhưng khoảng mười một giờ, tôi có phần lo lắng nên quyết định gọi lại cho John. Rồi tôi phát hiện xác chết…”

Tracy cau mày.

“Ông ta quả là một người đàn ông không may mắn. Dù John cố gắng bảo vệ người phụ nữ mình yêu khỏi nghi ngờ, nhưng bánh răng số phận vẫn quay và người phụ nữ vẫn nằm trong diện tình nghi.”

Dành chút thời gian để bình tĩnh, ông hỏi: “Khi bà phát hiện ra John, tại sao John không kể mọi chuyện cho bà nghe để bà tránh bị buộc tội?”

“Tôi không biết nữa. Tôi không hét lên, còn anh ấy thì nằm sấp. Sau đó, tôi đến đó cùng với Poncia.”

Tracy hỏi thêm.

“Tôi là người xác nhận cái chết lâm sàng của John. Khi sờ động mạch, tôi không thấy mạch đập nhưng gáy vẫn còn ấm. Khi đó, tôi nghĩ John vừa chết nên cũng không để tâm, nhưng nếu ông ta chết hai ngày trước thì chẳng phải thi thể sẽ lạnh hơn sao?”

Grin trả lời.

“Cháu nghĩ bác ấy đã dán miếng giữ ấm cơ thể dùng một lần.”

“Sao cơ?”

“À. Ở đám tang ông Smiley, Nanga đã phát miếng dán sản xuất từ Nhật Bản cùng với danh thiếp cho mọi người. Cháu cũng được nhận, thấy khá hữu ích. Khi cháu bắt tay hay làm gì đó mà nhiệt độ cơ thể có thể bị phát hiện, cháu sẽ dùng những miếng dán đó để giữ ấm. Có thể bác John cũng dán quanh cổ và ở tim để đề phòng trường hợp bị phát hiện sớm hơn dự tính.”

“Sao có thể nghĩ nhiều như vậy nhỉ?”

“Chuyện khó khăn nhất chính là xác định được thời gian tử vong thực sự của bác John. Chuẩn bị tỉ mỉ, ngụy tạo cái chết và biến mất nhanh chóng trước khi bị điều tra kỹ lưỡng là ba chìa khóa quyết định thành công của kế hoạch. Mà thanh tra, ông có kiểm tra phản xạ đồng tử với ánh sáng của bác John không?”

Tracy phân bua: “Chưa, tôi chưa kiểm tra. Vì tôi không có đèn bút”

“Nếu lúc đó kiểm tra thì có lẽ ta đã phát hiện ra kế hoạch của bác John sớm hơn. Bác ấy có thể đánh lừa mọi người bằng nhiệt độ cơ thể nhưng không thể làm gì với đồng tử trong mắt cả”

Vừa dứt lời, Grin tháo kính râm ra. Mọi người đều ồ lên kinh ngạc.

“Khi chết, giác mạc sẽ khô đi, sau một ngày sẽ trở nên đục ngầu như thế này. Cháu đã che mắt mình bằng kính râm. Tình cờ vụ việc Cheshire và đoàn tàu quan tài đâm sầm vào người bác John giúp bác ấy hợp thức hóa chuyện đeo kính. Nếu kiểm tra thi thể lúc đó, có thể ta đã biết sự thật”

Tracy bắt đầu khó chịu khi bị đổ lỗi và cố gắng thay đổi chủ đề.

“Ra vậy. Tôi đã hiểu rõ nỗi đau của những người đã chết rồi hồi sinh. Từ giờ trở đi, trước khi điều tra bất kỳ vụ án nào, tôi cũng sẽ đặt mình vào vị trí của người chết. Toàn bộ câu chuyện về những khó khăn của xác sống phải có một xác sống khác chứng kiến.” Quay sang Smiley, ông tiếp: “Tôi nghĩ ông đã ở đó và nhìn thấy tất cả mọi chuyện.”

Smiley vẫn bình tĩnh trả lời, không bị cuốn vào giọng điệu khiêu khích của Tracy.

“À tôi có thấy, nhưng không phải tất cả. Hồi sinh trong quan tài, tôi thấy một người lạ mặt loanh quanh trong nhà tang lễ. Tôi thấy John ghim cán của con dao găm vào phần chạm khắc thủ công trên lưng tựa của chiếc ghế bành trong Phòng Giấc ngủ hoàng kim’ và khó khăn đâm nó vào lưng mình, thấy nó làm vỡ đồng hồ để chỉnh giờ, như mọi người đã biết.

Tôi đã được tẩm liệm và hồi sinh sau một thời gian nằm trong quan tài. Nhưng tôi chết khi tôi muốn vì nghĩ đó là thời điểm hoàn hảo để chết, nên tôi không muốn hồi sinh và gánh lấy mọi sự xấu hổ. Vì thế, tôi cố gắng không ra khỏi quan tài, nằm đó chờ chết. Tôi sắp được chôn vùi trong im lặng và có trải nghiệm quý báu – tự mình tận hưởng đám tang của bản thân. Nhưng đêm đó, tôi đã chứng kiến chuyện này. Tôi không hiểu chuyện gì đang xảy ra nên nằm chờ xem, nhưng mọi chuyện không lắng xuống mà chỉ rắc rối thêm.

Nhưng dù sự thật là gì thì tôi cũng không thể chịu được việc có người nhà Barleycorn dính líu vào vụ việc này. Sau khi suy nghĩ kỹ, tôi quyết định nhận mọi lỗi lầm về mình. Nếu tôi trốn thoát khỏi hiện trường, chắc chắn mọi người sẽ nghi ngờ tôi khi gần đây số lượng người chết sống lại quá nhiều. Do đó, ngay trước lễ an táng, khi được đưa đến phòng tẩm liệm ở tầng hầm, tôi đã trốn khỏi quan tài. Nhưng tôi chỉ muốn hỏi anh một điều, người lạ mặt đã chạy đuổi với John đêm đó là ai?”

Thấy như già đi cả trăm tuổi, Thanh tra Tracy một lần nữa phải giải thích vai trò của James trong vụ án và tình huống dẫn tới cái chết của James. Smiley hỏi Tracy.

“Nghĩa là William không hề biết John đã chết và có kế hoạch này?”

“William không biết John đang cố gài bẫy mình. Anh ta nghĩ John đang làm gì đó nhưng không biết chi tiết. Nhưng…”

Grin tiếp lời.

“Nhưng cháu biết bác John đã chết trước cháu. Sau bữa tiệc trà đó, chắc hẳn đã có cuộc thảo luận nào đó giữa ông và bác John.”

Tracy bối rối cắt ngang.

“Này, cậu đang nói gì vậy? Tôi không hiểu. Hãy giải thích lần lượt đi, để ngay cả những người đang sống cũng có thể hiểu được.”

Grin nhìn Smiley như muốn hỏi. Hai người im lặng nhìn nhau hồi lâu, cuối cùng Smiley cũng mở miệng.

“Được rồi, Francis. Nếu cháu biết sự thật về cái chết của John, hãy nói với mọi người đi. Ta đã chuẩn bị tinh thần rồi”

Khuôn mặt của Tracy đột nhiên trông như thể bị ai đánh.

“À, tôi quên mất. John đã chết như thế nào? Tôi muốn biết chân tướng về cái chết thực sự, không phải vở kịch kia!”

Grin lại nhìn Smiley, cất tiếng.

“Để hiểu toàn bộ câu chuyện, cháu sẽ tiết lộ hung thủ đã giết bác John.

Smiley nhắm mắt gật đầu.

Grin chuyển ánh mắt từ ông Smiley sang bà Monica. Bà nở một nụ cười mơ hồ, không quan tâm đến mọi sự đang diễn ra xung quanh, thu mình vào thế giới riêng mà thoạt nhìn không ai hiểu thấu. Grin lấy hết sức bình sinh, nói thật to như thể nói với một bà lão bị điếc.

“Bà Monica, vừa nãy chú James đã chết. Hình như chú ấy bị giết.

“À, vậy sao?”

Bà thản nhiên gật đầu như vừa nghe chuyện một con chim giẻ cùi xanh đẻ trứng.

Grin tiếp tục: “Bác John đã chết còn bác William mất tích, Tiến sĩ Hearst và cháu quyết định tổ chức tang lễ cho chú James.”

Monica nhổm dậy và nhoài về phía trước.

“Cháu nghĩ chú James sẽ được hỏa táng”

Nụ cười biến mất khỏi khuôn mặt của Monica.

“Chuyện đó không được đâu...”

Grin vẫn quả quyết.

“Nhưng cháu quyết rồi. Chú James phải được hỏa táng. Phải đốt thi thể thành tro.”

“Cậu nói được cũng không được” Giọng Monica cao hơn quãng tám: “Không được. Ta không cho phép hỏa táng. Làm vậy nó không thể hồi sinh được.”

Phớt lờ ý kiến của Monica, Grin tiếp tục.

“Cháu sẽ hỏa táng chú ấy. Thi thể của chú James sẽ bị thiêu rụi.”

Monica bỗng thở hổn hển như một con thú. Bà đứng dậy, lôi thứ gì đó màu đen từ dưới yên xe lăn và cố đập nó vào đầu Grin. Một âm thanh chấn động vang lên trong phòng. Nhưng chỉ trong tích tắc, Smiley đã chộp lấy cánh tay của Monica từ phía sau, thứ màu đen trượt khỏi tay bà và rơi xuống sàn.

Nó có hình một chiếc quan tài lục giác làm bằng đá cẩm thạch. Logo Nghĩa trang Smiley hình đôi môi đang cười được in nổi ở mặt trước và dòng chữ “Memento mori” được khắc ở mặt sau. Toàn bộ bị bao phủ bởi những vết đen đỏ. Grin nói khi nhìn chằm chằm vào đó.

“Đó là cái chặn giấy của bác John bị mất ở văn phòng. Vết máu cũ trên bề mặt thuộc về bác John, vết máu mới hơn là của chú James. Bà Monica đã giết họ.

Tap 2 Võ Phương Ngân (dịch)
Tap 1 Trịnh Thanh Tâm (dịch)
Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 11 năm 2025

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của masaya yamaguchi