“ ... con sinh ra từ đất và sẽ trở về với đất. Hạt bụi nào hóa kiếp thân con, để một mai con trở về cát bụi..”
- Sách Sáng Thế:3:19—
---❊ ❖ ❊---
“Trong hoàn cảnh kỳ lạ mà người chết lần lượt sống lại, tại sao tên tội phạm lại làm một việc vô ích như giết người? Chúng ta cần trả lời câu hỏi này trước.”
Dứt lời, Grin nhìn quanh phòng một lượt. Monica ngồi yên trên xe lăn sau khi bị Smiley quở trách. Xác sống đáng thương vẫn đang treo đầu trên “máy chém” khung cửa sổ, lộ ra bộ dạng khổ sở.
Nhưng người sống còn khổ sở hơn người chết nhiều. Trời đã về khuya, tất cả đều kiệt sức sau một loạt sự kiện gây sốc. Chứng kiến cảnh này, Grin nhận ra sống thật ra là một hình thức chết dần chết mòn. Theo nghĩa đó, mọi người trong căn phòng này đều có thể gọi là “xác sống”.
Những cái xác sống dậy vì họ vẫn còn nhiều điều chưa hoàn thành trong thế giới này. Họ không thể ngủ yên cho đến khi biết được sự thật về những gì đã ám ảnh mình bấy lâu.
Grin lại bắt đầu nói.
“Để tìm ra sự thật đằng sau vụ án này, cháu đã phải dùng lối tư duy khác so với thông thường. Trong những vụ giết người bình thường, bất kể động cơ của hung thủ là gì, mục đích vẫn là ngăn nạn nhân thực hiện ý định hoặc hành động của họ. Nhưng trong thế giới hiện tại thì sao? Người chết lần lượt sống lại, cử động, suy nghĩ và nói chuyện. Trong tình huống này, có ai thực sự muốn giết người nữa không?”
“Làm thám tử để làm gì khi người chết cứ sống lại?” Cheshire nói.
Tiến sĩ Hearst cũng đồng ý.
“James cũng bảo việc giết người chẳng có ý nghĩa gì khi người chết cứ sống lại.”
Grin gật đầu, tiếp tục nói.
“Khi cháu đến nhà thờ và thấy tác phẩm điêu khắc về sự phán quyết cuối cùng trên mái vòm, nhiều suy nghĩ cứ hiện lên trong đầu cháu. Một trong những tác phẩm đặc biệt thu hút sự chú ý của cháu là thần chết đang sững sờ nhìn những người chết được hồi sinh vào ngày phán quyết cuối cùng. Thần chết hối hận vì tất cả những gì mình làm đều vô ích. Những kẻ giết người trong thế giới kỳ lạ này cũng thế. Dù giết ai, họ cũng có thể hồi sinh và cư xử như một người sống, thậm chí những người chết sống lại sẽ buộc tội kẻ đã giết họ, vậy việc giết người có tác dụng gì? Nhưng nếu có ai dám giết người ngay cả trong tình thế này thì hẳn có lý do hợp lý. Cháu đã nghĩ như vậy.”
“Bà Monica có lý do hợp lý đó không?” Cheshire hỏi.
“Có. Người duy nhất có lý do hợp lý là bà Monica. Kể từ khi đứa con trai yêu quý Jason chết không rõ nguyên nhân và được hỏa táng, bà ấy dường như phát điên. Nhưng như một nhà văn vĩ đại từng nói, một người điên không phải là kẻ mất lý trí mà là một người đã mất tất cả trừ lý trí của mình. Người điên có logic riêng của họ. Một logic thuần túy và vững chắc, không có chỗ cho cảm giác, lo lắng, ngờ vực... xen vào như một người bình thường. Cả hành động bình thường cũng không”
“Logic của bà Monica là gì?”
“Là Ngày phán quyết cuối cùng được viết trong Kinh Thánh. Đức Chúa Trời cho phép Ngày phán quyết cuối cùng diễn ra, Chúa Jesus phục sinh. Khi đó, không chỉ người sống mà cả người chết sẽ sống lại và nhận phán quyết. Trong số những người chết được sống lại, những người vô tội sẽ có sự sống vĩnh cữu, những ai chống lại Đức Chúa Trời sẽ phải chịu sự sỉ nhục của cái chết một lần nữa. Đây là cái chết thứ hai, cái chết của linh hồn. Là một người cuồng tín cố chấp, bà Monica bám vào niềm tin Cơ Đốc giáo rằng con trai bà – Jason sẽ sống lại, hồn về với xác. Bà chờ đợi Ngày phán quyết cuối cùng. Đó sẽ là ngày người con yêu dấu của bà được sống lại, là ngày mà mọi tội lỗi của bà sẽ được tha thứ và bà sẽ có sự sống đời đời.”
“Tội lỗi của bà ấy là gì?” Cheshire hỏi.
Smiley thay Grin trả lời.
“Thật ra Monica là một người phụ nữ nghiêm túc, ngay thẳng và luôn cực kỳ tự trách vì đã ngoại tình với tôi khiến Laura tự tử. Mọi người à, là lỗi của tôi...”
Grin giành lại quyền kiểm soát câu chuyện.
“Bà Monica bày tỏ niềm tin của mình vào sự phán quyết cuối cùng trong cuộc tranh chấp hỏa táng với bác John. Hôm sau trong bữa tiệc trà, bà ấy lại nhắc về chuyện này. Nếu nhớ những gì bà ấy đã nói vào thời điểm đó, mọi người sẽ hiểu bà Monica coi thế giới hiện tại là ngày phán quyết.”
Tiến sĩ Hearst ngắt lời.
“Lúc đó, mọi người đang thảo luận về sự sống và cái chết, và sau khi tôi phân tích hiện tượng người chết sống lại, Monica nói: ‘Người chết sống lại là chuyện đương nhiên. Bà liên tục gật đầu khi những người theo trào lưu chính thống Tin lành đánh đồng tình hình hiện tại với Ngày phán quyết cuối cùng…”
“Phải, đối với bà Monica, người theo logic của Ngày phán quyết cuối cùng, người chết được hồi sinh ở thế giới này là chuyện đương nhiên. Những gì chúng ta nghĩ là kỳ lạ, đáng sợ và điên rồ thì bà ấy coi là điều hiển nhiên. Vì vậy, bà ấy đã nện chiếc chặn giấy hình quan tài xuống đầu bác John và chú James. Với bà Monica, đây là hành động chuẩn bị cho phán quyết của Đức Chúa Trời, không phải giết người.”
“Câu chuyện quá mức trừu tượng, tôi không hiểu gì cả.” Tracy giận dữ bày tỏ.
“Bà Monica đã nện cái chặn giấy lên đầu John vì bác ấy đề cập đến việc hỏa táng ông Smiley lúc ăn tối, cũng là lúc thông báo kế hoạch cải tạo nghĩa trang. Với bà Monica, người tin vào sự sống lại của người chết bằng thân xác vào Ngày phán quyết cuối cùng, hỏa táng là điều hoàn toàn không thể chấp nhận. Thời điểm đó, bà ấy hay trích dẫn sách và rao giảng về sự sống lại của cơ thể. Bà ấy cũng nói: ‘Nếu không còn thân thể, phải làm thế nào để phục sinh?” Nói cách khác, việc đốt xác ông Smiley đồng nghĩa với việc bà sẽ không thể hồi sinh người chồng yêu dấu của mình trong hoàn cảnh Ngày phán quyết sắp trở thành hiện thực khi những người chết đang lần lượt được hồi sinh. Vì vậy, bà Monica quyết định ngăn chặn John và giao bác ấy cho phán quyết vì đã chống lại Chúa. Trong đêm đó, sau bữa tối, bà Monica trở về biệt thự trước, vờ nghỉ ngơi và lẻn ra cửa sổ, đến văn phòng của nhà tang lễ và nện chiếc chặn giấy xuống đầu bác John.
Tracy lại ngắt lời.
“Đợi chút. Làm sao cậu biết John đã bị giết đêm đó? Bà Monica lẻn ra cửa sổ sao? Cái quái gì mà vớ vẩn thế? Tôi không hiểu.
“Lý do tại sao bà Monica, lẽ ra không thể đi lại vì đôi chân bị tật, lại có thể lẻn ra khỏi phòng và đến nhà tang lễ là bởi bà ấy đã chết”
“Cái gì?” Tracy lại ấn bụng, mặt tái mét.
Tiến sĩ Hearst thay Grin giải thích.
“Có vẻ người chết không di chuyển bằng sức mạnh thể chất hay sự trao đổi chất do máu tạo ra như khi họ còn sống. Họ di chuyển bằng sức mạnh tâm linh của linh hồn, vượt qua cả sức mạnh vật lý. Vì vậy, rất có thể Monica, người đã mất các chức năng thể chất khi còn sống, có thể di chuyển sau khi chết.”
Tracy vẫn lầm bầm không tin, nhưng Grin phớt lờ và tiếp tục.
“Cháu sẽ giải thích thêm về chuyện đó sau. Đầu tiên, cháu sẽ nói về động cơ. Khi bà Monica nện chiếc chặn giấy xuống đầu bác John, cháu không nghĩ bà ấy có ý định phạm tội giết người theo lẽ thường. Bà ấy định để bác John chết và Chúa sẽ đưa ra phán quyết về mức độ tội lỗi của bác ấy. Nếu tội lỗi đưa ra chủ trương hỏa táng được tha thứ, bác John sẽ được hồi sinh, cư xử như một người sống và hưởng thụ sự vĩnh cửu. Ngược lại, nếu tội lỗi không được tha thứ, bác ấy sẽ một lần nữa phải chịu sự sỉ nhục của cái chết thứ hai trong Kinh Thánh – cái chết của linh hồn.”
Tiến sĩ Hearst lên tiếng sau khi lục lại trí nhớ của mình.
“Trong bữa tiệc trà mà chúng ta bàn về sự sống và cái chết, tức là vào buổi sáng sau khi John qua đời, bà Monica chào đón và tỏ ra vui vẻ, liên tục nói John là một người tốt. Đó là bởi khi nhìn thấy John cử động, bà nghĩ rằng John đã được tha tội và có sự sống trường tồn sau phán quyết”
Tracy sốt ruột ngắt lời lần nữa, nhưng lần này câu hỏi đã đi thẳng vào vấn đề.
“Cậu đã sử dụng cụm từ cái chết thứ hai, nó nằm trong lá thư cảnh báo mà John nhận được đúng không?”
Grin gật đầu.
“Đúng vậy. Như đã nói, ban đầu cháu nghĩ việc giết bác John là bước thứ hai trong vụ giết người thừa kế sau vụ giết ông Smiley. Cháu nghĩ những từ trong lá thư cảnh báo đó nghĩa là ‘bác John là người thứ hai chết sau ông Smiley. Tuy nhiên, thực tế mà cháu biết được sau đó đã khiến cháu đặt câu hỏi ngược về cách hiểu đó. Cheshire, hãy nói cho anh biết em nhìn thấy bức thư cảnh báo đó như thế nào.”
Cheshire vội vàng nói.
“Không ai hỏi em nên đây không phải là lỗi của em nhé. Em thấy lá thư cảnh báo khi vào văn phòng để lấy lại đôi giày patin mà John đã mang đi. Đêm đó ông Smiley vẫn nằm trên giường bệnh”
“Vậy là khi đó ông Smiley vẫn chưa chết. Việc bác John nhận được bức thư vào thời điểm đó khiến cho việc dọa bác ấy là người thứ hai bị giết sau ông Smiley trở nên quá vội vàng và buồn cười. Khi biết được sự thật đó, cháu không khỏi nghĩ đến khả năng cái chết thứ hai trong bức thư cảnh báo không mang ý nghĩa sau ông Smiley người phải chết là bác John. Mọi người cho rằng John viết trong thư là John Barleycorn, nhưng cháu nhận ra không phải. Cháu đã nhận được gợi ý bất ngờ trong một tình huống hoàn toàn khác. Trong quá trình điều tra, cháu có xuống bếp và hỏi bà Martha rằng bác John có đến đây không.
Bà Martha đã bực bội đáp: ‘Dù là John Barleycorn, John the Baptist John-F. Kennedy-trồng-cây-chuối, đều không có ai đến đây cả. Thời điểm đó, ba cái tên John này không làm cháu bận tâm chút nào, nhưng nó đã ăn sâu vào tiềm thức cháu. Cháu chợt nhớ đến ba cái tên này khi xem xét thư cảnh báo và nghĩ đến động cơ kỳ lạ của bà Monica. Cháu nhận ra ‘John trong bức thư cảnh báo chính là ‘John’ trong Kinh Thánh, không phải John Barleycorn. Nói cách khác, tên John mà ta hay dùng đặt cho các chàng trai có nguồn gốc từ Kinh Thánh – cho nên, cái tên này hoàn toàn khớp với logic Kinh Thánh của bà Monica.”
Tiến sĩ Hearst nói thêm.
“Grin hỏi tôi ai sẽ là người thích hợp nhất để thực hiện một tội ác khủng khiếp trong một thế giới xa lạ như vậy. Nếu không đi theo hướng đó, ta sẽ không thể tìm thấy ý nghĩa để hiểu mọi thứ.
Grin gật đầu.
“Ở trường hợp bức thư cảnh báo này, cháu đã xác nhận với sự hiểu biết của Tiến sĩ Hearst. Trong Kinh Thánh, một số tên ‘John’ có xuất hiện ngoài John the Baptist. Đây đều được cho là những hiện thân của Thánh John. Quay lại vụ án này, cháu đã đọc đi đọc lại về sự hồi sinh của người chết trong Kinh Thánh, câu chuyện về Ngày phán quyết cuối cùng, logic của bà Monica – logic giết người chỉ có ở thế giới xa lạ này, tranh cãi về việc hỏa táng giữa bác John và bà Monica, bài giảng của người đứng đầu một giáo phái mới trên ti-vi, cuộc thảo luận về sự sống và cái chết tại bữa tiệc trà, và đoạn kể lại của Cha Mariano về bác John trong đám tang của ông Smiley... Với họ, sự sống lại về mặt thể xác của người chết vào Ngày phán quyết cuối cùng là điều hiển nhiên, nhưng cũng có những người xấu phải chịu sự sỉ nhục của cái chết một lần nữa, hay còn gọi là ‘cái chết thứ hai. Mọi chuyện đã sáng tỏ.”
“Cái chết thứ hai có phải là từ trong Kinh Thánh không?” Tracy hỏi.
Tiến sĩ Hearst trả lời thay Grin.
“Đúng vậy. Nếu ‘John’ trong bức thư đó là ‘John trong Kinh Thánh, anh có thể đoán những con số tiếp theo. Chúng ta đã nhầm đó là ngày tháng hoặc thời gian, nhưng đó là một con số chỉ một chương và một câu trong Kinh Thánh. Khi Grin bảo tôi kiểm tra Kinh Thánh, tôi đã tìm thấy một đoạn phù hợp với sự việc. Trong chương 11, câu 24 đề cập đến ‘John, là một đoạn thường đọc trong các lễ an táng.
Trong đó, về cái chết của em trai mình Lazarus, Martha của Bethany đã nói với Chúa Jesus: ‘Con biết em ấy sẽ sống lại vào Ngày phán quyết cuối cùng. Tiếp theo là cảnh người em trai đã chết sống lại từ ngôi mộ. Đây có lẽ là đoạn mà bà Monica tin rằng bác John sẽ hiểu được đức phục sinh mà bà ấy tin theo.
Trong chương 2 câu 11 ở Khải Huyền, chúng tôi tìm thấy những mô tả về Ngày phán quyết cuối cùng, bao gồm cả hồi kết của thế giới gian ác hiện tại và chiến thắng vinh quang của Đức Chúa Trời cùng sự xuất hiện của Đấng Messiah. Ở đó ghi: Ai có tai, hãy nghe điều Thánh Linh phán với Hội thánh. Những người chiến thắng sẽ không bị tổn hại bởi cái chết thứ hai”
Grin nói tiếp.
“Cái chết thứ hai trong bức thư cảnh báo đó không có nghĩa là một vụ án giết người hàng loạt – bác John sẽ chết sau ông Smiley, mà nó ám chỉ cái chết thứ hai của một người. Nói cách khác, cái chết thứ nhất là cái chết của thể xác, còn cái chết thứ hai là cái chết của linh hồn của những người chết sống lại trong Ngày phán xét cuối cùng. Đúng vậy, bác John đã hồi sinh trong ngày đó. Có vẻ bác ấy đã đạt được sự sống vĩnh cửu. Nhưng bà Monica vẫn hoài nghi, không tin vào linh hồn của bác John. Vì vậy, bà đã viết một lá thư cảnh báo bằng máy đánh chữ của ông Smiley và bí mật đặt nó trên bàn của bác John trong văn phòng. Bà muốn nhắc nhở dù có được hồi sinh, bác John vẫn có thể chết bởi cái chết thứ hai – cái chết của linh hồn nếu làm gì đó không tử tế.”
“Tôi thấy như được thanh tẩy sau khi nghe một bài giảng thần học đấy?” Tracy mỉa mai: “Cậu có muốn hát trong dàn hợp xướng nhà thờ thay vì chơi trong một ban nhạc punk không?”
“Vui lòng cho cháu biết khi nào là ngày thử giọng cho nhà thờ nhé. Grin đáp lại mà không hề thay đổi biểu cảm trên gương mặt.
Tracy nhún vai.
“Vậy lá thư cảnh báo cái chết thứ ba của James chắc hẳn do chính ông ta viết.”
“Cháu cũng nghĩ vậy. Cháu đoán khi vụ Farrington bị lộ, họ đã tận dụng những lá thư cảnh báo đã có để làm chứng cứ ngoại phạm cho mình. Chú James say mê những trò bịp bợm mà.”
“Nhưng tại sao James bị giết?”
Tiến sĩ Hearst cướp lời Grin.
“Chắc Thanh tra Tracy cũng không biết chuyện này. Khi đến đây vào buổi tối, anh đã hét to rằng James là kẻ giết người hàng loạt. Bà Monica nghe thấy và nghĩ rằng James cũng nên bị phán quyết. Sau đó, tôi không biết bà chạy xuống bằng đường nào, nhưng bà Monica đã đến văn phòng trước chúng ta và nện chiếc mô hình quan tài vào đầu James để phán quyết. Logic của bà ấy là ủng hộ sự phán quyết của Chúa hơn là sự phán quyết của cảnh sát.
Tracy rất nhạy cảm nếu bị đổ lỗi. Ông bực mình phản bác.
“Không phải đó là chuyện mọi người đều thấy sao? Có thể tôi không suy luận ra một kẻ có khả năng đi giết một con mèo. Nhưng chắc chắn tôi sẽ không bao giờ gật đầu trước những điều vô lý. Mấy người nói về logic của bà Monica và của Chúa từ nãy đến giờ, nhưng có phải bà ấy ra tay giết người với logic đó không thì làm sao khẳng định được? Trong Ngày phán quyết cuối cùng ở Kinh Thánh, chẳng phải người sống cũng bị phán quyết sao?”
Monica đã rơi vào trạng thái không còn quan tâm mọi người bàn tán gì về mình. Grin kiên nhẫn trả lời câu hỏi của Thanh tra Tracy.
“Vì vậy nên mới phải chết”
“Ý cậu là gì?”
“Tội lỗi là gì? Ông có thể nhìn vào một người nào đó đang đi trên đường và quyết định ngay là họ có tội không? Tội lỗi không được viết trên một tấm bảng rồi treo trước ngực tất cả tội nhân để ta nhìn thấy. Chúng ta không thể đánh giá một người sống có tội hay không chỉ bằng cách nhìn vào họ. Nhưng người chết thì khác. Trong số những người chết sống lại vào Ngày phán quyết cuối cùng, những người vô tội tiếp tục được sống, còn người có tội sẽ chết đi một lần nữa. Điều này quá rõ ràng. Bà Monica đã ra tay với kẻ chống lại mình. Đối với bà, nếu người chết hồi sinh và tiếp tục sống thì họ vô tội, còn nếu thối rữa và tiêu tan thì có tội”
Tracy gãi đầu.
“Tôi không nghĩ chuyện này lại xảy ra ở ngay thế giới mình đang sống. Tôi cũng muốn thử hòa giọng trong dàn hợp xướng này đấy. Với một chút khuất phục, ông tiếp: “Tôi hiểu logic của Monica. Nhưng bây giờ, cậu có thể cho tôi biết thời gian tử vong thực sự của John không?”
“Hãy quay trở lại cuộc đua xe tang đêm đó. Cháu đã nhặt được bộ tóc giả mà bác John đánh rơi trong bụi rậm gần nơi xảy ra tai nạn. Trên bộ tóc có một vết máu cũ đã khô nên rõ ràng không phải máu từ vụ tai nạn. Cháu chợt nhận ra bác John đã bị chấn thương đầu từ lâu. Sau đó, khi suy luận từ những gì cháu vừa nói rằng bác John có thể đã chết trước hoặc trong bữa tiệc trà, cháu lại nghĩ đến bộ tóc giả.
Đó là lúc cháu phát hiện ra bác John thực sự chết khi nào. Trong vụ tai nạn đó, cháu cũng bị thương nặng. Cháu không cảm thấy gì vì đã chết rồi, nhưng cháu đã bị vỡ đầu. Và vì sẽ rất tệ nếu những người xung quanh biết chuyện đó nên cháu đã che vết thương trên đầu mình bằng một chiếc khăn rằn ri như thế này”
Cậu không tháo khăn xuống. Grin không muốn dùng hành động này để khiến người sống hoảng sợ như lúc cậu tháo kính râm xuống. Cậu chẳng tự hào chút nào về chuyện mình đã chết.
“Cháu tự hỏi liệu bác John có đang làm chuyện tương tự không. Có thể có tâm linh tương thông giữa những người chết. Bác John bị hói, vì vậy vết sẹo trên đầu chắc chắn sẽ rất rõ ràng. Nhìn kìa, bây giờ bác ấy trông giống cái cổ con tuần lộc treo tường”
Đầu kẹt trong “máy chém” cửa sổ, John quay mông vào phòng nhưng vẫn có thể nhìn thấy vết sẹo giống như miệng núi lửa ngay phía sau cái đầu hói.
“Bác John chết vì bị thương ở đầu. Sau đó, bác ấy đội tóc giả để che đi vết thương. Vậy bác ấy chết khi nào? Lần đầu tiên bác John xuất hiện trước mặt chúng ta với bộ tóc giả là vào buổi tiệc trà buổi sáng. Bữa tiệc tối hôm trước thì sao? Đêm đó, bác John công bố kế hoạch cải tạo nghĩa trang, và rồi Cheshire trong lúc bị trượt cùng đoàn tàu quan tài đã va vào cằm bác ấy. Bác John được chăm sóc vết thương và thậm chí còn nhận một nụ hôn từ bà Isabella. Nếu bác John đã chết vào thời điểm đó, hẳn bà Isabella, người đã điều trị vết thương sẽ nhận ra điểm bất thường. Điều này có nghĩa bác John chết giữa bữa tiệc tối và tiệc trà sáng hôm sau – khi bác ấy nói sẽ làm việc cả đêm trong văn phòng”
Cheshire lo lắng hỏi.
“Việc đeo kính của ông Smiley không phải một phần kế hoạch của John sao?”
“Em chỉ vô tình khiến đoàn tàu quan tài chạy loạn thôi, hoàn toàn là trùng hợp ngẫu nhiên. Chiếc kính màu che đi sự vẩn đục trong đôi mắt bác John. Trong buổi tiệc trà buổi sáng, bác John xuất hiện với khuôn mặt nhợt nhạt và đội tóc giả. Ông Smiley hỏi có phải bác ấy say không, nhưng màu da lúc ấy cho thấy bác John đã chết. Bác John giải thích mình thay quần áo vì làm đổ rượu, nhưng có thể do quần áo bị dính máu từ vết thương ở đầu. Tình cờ, với bộ tóc giả cùng chiếc kính, ông Smiley và bác John trông rất giống nhau. Do đó chúng ta có cảm giác bác John đang cố biến mình thành ông Smiley.”
“Có một tiến sĩ phi thường đã cẩn thận nhào nặn giả thuyết John cải trang thành ông Smiley đấy.”
Tracy tranh thủ cơ hội trả thù Tiến sĩ Hearst vì giả thuyết trước đó của ông.
“Tuy nhiên, có một điều thú vị về chiếc kính. Như đã nói trước đó, cháu cho rằng bác John đã bị giết trong khoảng thời gian giữa bữa tiệc tối và tiệc trà sáng hôm sau. Trong thời gian đó có một người có động cơ giết người rất lớn đã hẹn gặp bác John mà không ai hay biết.”
“Đó là Monica..” Tracy thì thầm.
“Sau khi tranh cãi về việc hỏa táng với bác John tại bữa tiệc, bà Monica bực bội rời đi cùng Cha Mariano. Vào buổi sáng diễn ra bữa tiệc trà, bà Martha bảo cháu đi đón bà Monica. Khi cháu mở cửa, Cha Mariano đang ở trong phòng. Cha lo lắng nên đã ngủ ngay trên chiếc trường kỷ trong phòng bên cạnh. Dù là người túc trực bên bà Monica suốt đêm đó nhưng bà ấy đã rời đi mà Cha Mariano không biết. Bà đã ra ngoài và gặp bác John. Sáng hôm đó, bà Monica ra khỏi phòng với tâm trạng vui vẻ, nhưng khi Cha Mariano nhắc đến tên bác John, bà đột nhiên trở nên gắt gỏng và bắt đầu phàn nàn: ‘Tất cả chỉ bắt chước Smiley thôi. Anh ta chỉ biết ngồi vào ghế của bố, đeo kính của bố, nói lại những lời của bố và ra vẻ kiêu ngạo. Bác John bị đoàn tàu quan tài đập vào cằm, vỡ kính và phải đeo kính dự phòng của bố mình sau khi bà Monica cùng những người khác đã rời đi. Làm thế nào bà Monica biết chuyện này khi đêm đó bà nằm trên giường và Cha Mariano trông chừng bà ấy cả đêm?”
Sự im lặng bao trùm căn phòng hệt như một nghĩa địa. Cả người sống và người chết đều không nói nên lời, chỉ nhìn nhau với vẻ mặt mệt mỏi như những xác sống. Trong số họ, chỉ có bà Monica, người không còn biết gì nữa, vẫn mỉm cười với thành công ngoài mong đợi đang diễn ra trong căn phòng của mình.
Grin nhìn ông Smiley.
“Đó là tất cả những gì cháu muốn nói. Sau bữa tiệc trà đó, còn lại một mình bác John trong phòng, hai người đã nói gì vậy ạ? Ông quay lại đây vì ông đã nói chuyện với bác John và biết ý định của bác ấy phải không ạ?”
Smiley chậm rãi gật đầu với vẻ mặt nghiêm túc.
“Phải. Sau bữa tiệc trà đó, ta biết John đã bị giết. Nó bị Monica giết chết trong chính văn phòng của mình. Hung khí chính là chiếc chặn giấy hình quan tài trong văn phòng nó. Sau khi chết, John hồi sinh ngay đêm đó. Là một bác sĩ nên John thừa biết chuyện gì đang xảy ra: Nó đã trở thành một xác sống. Một cú sốc khủng khiếp với nó. Nhưng ai rơi vào hoàn cảnh đó cũng sốc thôi. Ban đầu, nó định che giấu cái chết của mình. Francis và ta cũng làm điều tương tự. Đó hẳn là tâm lý chung của xác sống. Cái chết là một sự nhục nhã và sẽ bị những người xung quanh ghét bỏ, người chết cũng trải qua cảm giác cô đơn vô hạn khi đứng trước người sống.
Điều tiếp theo choán lấy tâm trí John nỗi ám ảnh về tiền bạc. Đây cũng là điều Francis vừa suy luận. Dường như những ảo tưởng ám ảnh cuộc sống chính là nguyên tắc hành xử của xác sống. Hay ta gọi nó là logic của người chết. John bị ám ảnh bởi sự giàu có, Francis bị ám ảnh bởi việc giải quyết những bí ẩn, Monica tin vào Ngày phán quyết cuối cùng, còn ta đang nghiền ngẫm về số phận của gia đình Barleycorn và cái chết.
Thời điểm đó, ta thực sự băn khoăn không biết có nên để một khoản thừa kế cho John hay không. William đã nói với ta về các khoản nợ của John và việc biển thủ tiền của nghĩa trang. Đó là lý do ta có ý định sửa di chúc. Nhưng người đã chết trong nợ nần như John lại cực kỳ thiếu kiên nhẫn. Nó thậm chí còn nghĩ nếu không để Isabella thừa kế tài sản của mình, cuộc sống của nó sẽ hoàn toàn vô nghĩa. Vì vậy, John nói nếu ta không để nó thừa kế tài sản, nó sẽ phanh phui chuyện thủ phạm giết nó là Monica, chẳng màng cái chết của nó có bị phát hiện hay không.
Điều này thật khủng khiếp với ta. Ngay sau khi gặp John, ta cho gọi Norman và Monica, hỏi về tình hình sau bữa tối. Monica phản ứng rất nhanh nên ta chẳng thể hỏi được gì, nhưng khi hỏi Norman, ta biết Monica đã chết vì nhồi máu cơ tim vào đêm đó rồi”
“Vậy là bà Monica cũng chết đêm đó?” Grin nhìn Norman mang ý dò hỏi.
Norman chậm rãi gật đầu và cất tiếng.
“Đúng vậy. Bà Monica đã qua đời đêm đó. Bà ấy bị một cơn đau dữ dội nhưng rồi đột nhiên im bặt, tôi nhìn lên thì phát hiện tim bà ấy đã ngừng đập và ngừng thở. Bất ngờ, đau xót và cảm giác kiệt sức kéo đến khiến tôi đổ gục. Lúc sau, tôi nhớ ra Cha Mariano đang ngủ ở phòng bên cạnh, tôi đang định đến nói với Cha thì đột nhiên, một giọng nói...”
Khuôn mặt bình thường vốn vô cảm của Norman trở nên cứng đờ.
“Lúc tôi quay lưng lại, bà Monica đang đứng đó. Bà ấy bị liệt không đi được, nhưng khi đó bà bước nhanh về phía tôi. Tôi ngạc nhiên hỏi: ‘Bà Monica, bà đi được sao? Hình như bà đã chết rồi, nhưng giờ bà đang di chuyển sao?’ Rồi bà Monica nói như thể chuyện hiển nhiên: ‘Đúng vậy, tôi chết rồi. Nhưng tôi đã được tha tội và sống lại. Bà ấy nói với tôi rất nhiều về Kinh Thánh nên tôi đã hiểu. Tôi sung sướng nghĩ rằng Chúa đã đến và điều kỳ diệu đã xảy ra.
Tuy nhiên, niềm vui đó chẳng kéo dài bao lâu thì bà Monica nói có việc muốn ra ngoài. Tôi bối rối không biết làm gì. Tôi nghĩ nếu phát hiện bà Monica đã trở thành xác sống, một người có ác cảm với bà ấy như John có thể sẽ làm gì đó. Đấy sẽ là một rắc rối lớn.
Nếu bà Monica không còn, sẽ không có ai bảo vệ tôi và tôi có thể sẽ bị đuổi khỏi đây. Vì lợi ích của mình, và tất nhiên vì lợi ích của bà Monica, người đã đối xử với tôi như con trai dù bà và tôi hoàn toàn xa lạ, tôi nghĩ không ai được biết chuyện này. Vì thế, tôi đã can ngăn: ‘Không ổn đâu. Bà không thể ra khỏi đây.”
“Nhưng bà Monica đã ra ngoài.
Norman gật đầu.
“Bà Monica khăng khăng mình phải ra ngoài làm gì đó. Thấy tôi cứ đứng chặn ở cửa không di chuyển, bà đột ngột quay lại, mở cửa sổ và nhảy ra ngoài. Rồi, như một đứa trẻ tinh nghịch, bà biến mất trong bóng tối qua rãnh nước... Bà ấy di chuyển nhanh đến khó tin, không khác gì một con khỉ. Tôi bàng hoàng như nghĩ mình đang mơ.
Tôi muốn đi theo bà Monica nhưng lại sợ Cha Mariano biết. Khi tôi còn đang do dự thì bà Monica đã quay lại phòng qua cửa sổ. Bà Monica mỉm cười hài lòng. Trên tay bà ấy là chiếc chặn giấy hình quan tài, và nó dính đầy máu. Tôi vô cùng sợ hãi. Tôi nghĩ không ai được biết chuyện này. Cho đến khi ông Smiley hỏi tôi.
“Vậy sao?” Grin lẩm bẩm: “Khi sự việc xảy ra, cháu đã lao từ biệt thự đến nhà tang lễ rồi nhận ra mình có thể chạy nhanh hơn so với khi còn sống, dù cháu không còn thở nữa. Đó là lý do cháu nghĩ đến khả năng bà Monica, người không thể đi lại, có thể di chuyển nhanh nhẹn như vậy vì đã trở thành xác sống”
Dù có vẻ không hiểu nội dung cuộc trò chuyện xung quanh nhưng dường như bà Monica hiểu mình là nhân vật chính của câu chuyện. Bà lần lượt nhìn vào khuôn mặt của Norman và Grin rồi mỉm cười hạnh phúc. Smiley tiếp tục câu chuyện với vẻ mặt đau đớn.
“Sau khi biết những gì đã xảy ra đêm đó, ta quyết định giữ bí mật tất cả và yêu cầu Norman im lặng. Norman có lý do nên chắc chắn sẽ không bao giờ nói với ai về Monica, cậu ta luôn ở bên bà ấy, cố gắng để không ai phát hiện bà ấy là một xác sống. Ta không muốn làm khổ Monica nữa, bà ấy sống trong ngôi nhà này cũng chẳng dễ dàng gì.
Rồi ta nói chuyện với John một lần nữa. Ta đề nghị Isabella và đứa trẻ trong bụng nên trực tiếp thừa kế tài sản, nhưng John dù đã chết rồi lại có kế hoạch giả chết. John nói mọi chuyện sẽ là vô nghĩa trừ phi nó trực tiếp giao lại cho vợ con nó. Ta nghĩ nó thật lòng yêu Isabella hoặc đặt hết hy vọng vào đứa trẻ trong bụng cô ta. Thế là ta miễn cưỡng đồng ý và không viết lại di chúc nữa.
Điều này gây ra thế bế tắc kỳ lạ giữa ta, John và Monica. Một khi John đã quyết định thì nó sẽ chủ động thực hiện. Nó tẩm liệm chính mình, rồi thuyết phục ta làm tương tự với Monica để cơ thể phân hủy càng chậm càng tốt, và cuối cùng là chờ ta chết.
Thực sự rất khó khăn. Sự thối rữa đang chờ đợi ta, nhưng ta không thể chết ngay cả khi lặp lại vở kịch trên giường bệnh. Thật mỉa mai. Đêm sau cuộc hẹn với John, ta không thể chịu đựng thêm nữa. Ta ghét việc cái chết của mình bị điều khiển bởi bất kỳ ai, trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Ta phải là người chủ trì cái chết của chính mình. Ta quyết định duy trì niềm tin này. Hơn nữa, câu nói Người khôn ngoan không sống hết mức có thể sống, mà sống hết mức buộc phải sống cứ vang lên trong tâm trí ta.
Dường như ta không còn lý do gì để sống nữa. Chẳng phải John sẽ để tài sản thừa kế cho cháu trai ta sao? Ta chết, nhưng sẽ chết trong niềm tin về một sự tái sinh và về tồn tại vĩnh hằng của gia tộc Barleycorn.
Lúc này, ta quyết định dùng asen.
Nhưng sự trớ trêu của số phận vẫn tiếp tục. Ta, người đã chết sau bao gian khổ như vậy, bất ngờ sống lại trong quan tài. Như đã nói trước đó, ta kiên nhẫn giả chết và định chôn cất nhẹ nhàng, nhưng khi chứng kiến hành vi kỳ lạ của John và sự lật mặt bất ngờ của nó, ta chợt lo lắng. Ta nghĩ gia tộc mình đang tràn ngập âm mưu. Ta chui khỏi quan tài và trốn trong mộ của Jason ở nhà thờ để xem chuyện gì đang xảy ra, rồi ta nhận ra mình còn quá nhiều điều phải lo lắng.
Một người là Monica. Norman ở cạnh để ngăn mọi người đến gần Monica, cậu ta cũng dùng hết thức ăn được mang đến để chuyện bà ấy đã chết không bị phát hiện. Từ lâu, một bà lão bị lũ trẻ ruồng bỏ và bị những người xung quanh phớt lờ vốn dĩ đã sống như một cái xác rồi, nên dù đến nay vẫn không ai quan tâm đến bà ấy thì việc tẩm liệm cũng chỉ được một thời gian nhất định, hình hài xấu xí và mục nát của Monica rồi sẽ phơi bày trước mặt những người còn sống.
Ta không thể chịu đựng được chuyện này.
Còn một chuyện đáng lo nữa là John đã bỏ chạy. Trong khi đó, nỗi ám ảnh về xác sống đang lớn dần theo thời gian. Ta không thể kiểm soát được hành động của John, ta sợ nó mất lý trí rồi mang Monica đi.
Để không ai biết chi tiết về cái chết và thời gian tử vong thực sự của mình, nó cần bịt miệng Monica. Đối với ta, đây cũng là một mối bận tâm. Vì vậy tối nay, ta đã quyết định đến đây. Mọi chuyện đúng như ta dự đoán. Nhưng ta không biết nên vui mừng vì đã đến kịp, hay mọi thứ đã quá muộn.”
Tracy rên rỉ.
“Ôi Chúa ơi. Sao lại có chuyện như thế này? Những suy đoán của người sống và người chết đan xen vào nhau một cách phi lý, hung thủ, nạn nhân, nhân chứng và thậm chí cả ‘thám tử đều đã chết... Tôi bắt đầu thấy đau khổ vì mình còn sống đây.”
“Đúng vậy, ‘vở kịch’ giết người mà bác John lên kế hoạch là một vụ án cái chết của xác sống, trong đó cái chết và sự sống đan xen phức tạp” Grin đáp.
Isabella, người đang khóc thương cho người tình tội nghiệp của mình trên “máy chém” cửa sổ, nhận thấy cặp mông nhô ra khó coi của ông ta rung lên.
“John, tỉnh lại...”
Dõi theo ánh mắt của Isabella, Smiley cũng nhìn thấy cử động của John.
“Ồ, xác sống tỉnh dậy. Nó trở lại thế giới tàn khốc và đau đớn này một lần nữa sao?”
Tiến sĩ Hearst lên tiếng khi vẫn nhìn John chằm chằm.
“Chúng ta đều như nhau. Sống và chết như hai mặt của một đồng xu. Nghĩ đến sống là nghĩ đến chết, nghĩ đến chết là nghĩ đến sống. Tất cả chúng ta đều là xác sống. Người chết sống lại như những bức tượng thời Trung Cổ cảnh báo chúng ta. Dù có tiếp tục bám víu vào cuộc sống và mọi thứ trong thế giới này, một ngày nào đó ta cũng hóa thành tro bụi. Đó không phải thời Trung Cổ mà là cuối Thế kỷ XX, là ‘hãy nhớ rằng rồi ngươi cũng sẽ chết. Tất cả chúng ta rồi sẽ chết trong quãng thời gian thử thách này.”
Smiley quay sang Grin.
“Francis, ta rất tiếc. Ta đã để một mình cháu chống chọi trong thời gian dài và lại gặp cháu trong tình cảnh này. Cuộc đời cháu quá đỗi kỳ lạ và ngắn ngủi, như thể sống chỉ để biết ‘cảm giác chết’ là thế nào.
“Lần tới khi được sinh ra, cháu sẽ thử giọng cho dàn hợp xướng”
Smiley mỉm cười nhẹ nhõm trước trò đùa của Grin. Ngay lúc đó, sau lưng ông, John vùng vẫy dữ dội. Smiley đã hạ quyết tâm.
“Chà, đã đến lúc kết thúc mọi chuyện rồi. Ta đã sống quá lâu và đã hoàn thành những chuyện cần làm. Hôm nay, ta sẽ chủ trì cái chết của mình, cái chết của xác sống”
Smiley bất ngờ đạp đổ lò sưởi đang cháy dở cạnh giường. Nắp bình xăng đã được tháo ra trước đó, dầu hỏa hăng hắc nhanh chóng lan đến chân Smiley và Monica, phủ khắp sàn nhà. Trong khi mọi người đang náo loạn, Smiley đặt tay lên vai Monica và thì thầm nhẹ nhàng.
“Monica, hãy kể anh nghe câu chuyện em yêu thích trong Kinh Thánh nhé. Trong cuốn sách đó, anh tin vào đoạn viết rằng Đức Chúa Trời đã tạo ra con người từ cát bụi. Em biết không, ‘Hạt bụi nào hóa kiếp thân con’…”
Monica mỉm cười hạnh phúc, ngước nhìn người chồng đầy âu yếm.
“...để một mai con trở về cát bụi. Anh từng đọc một đoạn như thế trong cuốn kinh cầu nguyện ở nhà thờ tại Anh cách đây đã lâu. Em nghe kỹ nhé.
“Trả thân xác này về với cát bụi.
Bụi về với bụi, tro về với tro, phiền não về với phiền não.
Từ tận đáy lòng, hãy vững tin vào sự hồi sinh của một cuộc đời vĩnh cửu…”
Smiley đánh một que diêm và lẩm bẩm: “Chúa sẽ phán quyết kẻ sống, người chết và thế giới bằng ngọn lửa. Sau đó, đám tang thực sự bắt đầu.