Rất có thể ký ức của tôi về những sự kiện ấy theo thời gian đã trở nên nhạt nhòa, cũng có thể mọi việc không diễn ra đúng hẳn như những gì tôi nhớ lại vào ngày hôm nay. Nhưng tôi nhớ khá rõ cảm giác rùng rợn như bị bỏ bùa dường như đã trói chân cả hai khi chúng tôi đứng trong bóng tối đang dần đổ xuống, nhìn về phía hình thù nằm nơi bờ sông kia. Và rồi bùa mê tan đi, chúng tôi bắt đầu chạy. Lại gần, tôi thấy Mariko đang cong người nằm nghiêng, hai đầu gối co lên, lưng xoay về phía chúng tôi. Sachiko tới nơi trước tôi một chút, còn tôi thì vì có bầu nên chạy chậm, đến nơi thì cô đã đứng cạnh con bé. Hai mắt Mariko đang mở, thoạt đầu tôi tưởng nó đã chết. Nhưng rồi tôi thấy mắt con bé động đậy, rồi giương lên nhìn thẳng vào chúng tôi, vẻ trống rỗng dị thường.
Sachiko quỳ một bên gối, nâng đầu con bé lên. Mariko vẫn tiếp tục nhìn không chớp.
“Mariko, cháu không sao chứ?” tôi hỏi, thở hổn hển.
Nó không trả lời. Sachiko cũng im lặng, kiểm tra con gái, lật người con bé trong tay, như thể nó là một con búp bê mong manh vô tri vô giác. Tôi để ý thấy có máu trên tay áo Sachiko, rồi chợt hiểu ra đó là máu của Mariko.
“Tốt hơn là chúng ta gọi người giúp,” tôi bảo.
“Không có gì nghiêm trọng,” Sachiko đáp. “Chỉ bị xước da thôi. Nhìn này, chỉ là một vết cắt nhỏ.”
Mariko đang nằm trong vũng bùn, một bên chiếc váy ngắn của con bé ướt sũng nước đen. Máu chảy ra từ một vết thương ở đùi trong con bé.
“Có chuyện gì?” Sachiko hỏi con gái. “Con gặp chuyện gì thế?”
Mariko vẫn tiếp tục nhìn mẹ.
“Chắc nó đang bị choáng,” tôi nói. “Tốt nhất là không nên gặng hỏi nó ngay lúc này.”
Sachiko đỡ Mariko đứng dậy.
“Mẹ cháu với cô rất lo cho cháu, Mariko,” tôi nói. Con bé đưa cặp mắt nghi ngại nhìn tôi, sau đó quay nhìn chỗ khác rồi bắt đầu bỏ đi. Nó bước đi khá vững, dường như vết thương trên chân không quá ghê gớm.
Chúng tôi trở lại qua cầu và đi theo bờ sông. Hai mẹ con đi trước tôi, không nói năng gì. Khi về đến nhà họ thì trời đã tối mịt.
Sachiko đưa Mariko vào phòng tắm. Tôi nhóm bếp nằm giữa phòng chính, định pha chút trà. Anh lửa bếp và ánh sáng từ chiếc đèn xách tay Sachiko thắp lên lúc nãy là hai nguồn sáng duy nhất, nhiều chỗ trong nhà vẫn tối om. Ở một góc nhà, bị đánh thức bởi sự xuất hiện của chúng tôi, vài con mèo con đen tuyền bắt đầu ngọ nguậy không yên. Móng chúng mắc vào sàn tatami, tạo nên những tiếng soàn soạt.
Khi trở ra, cả hai mẹ con đều đã thay đồ và đang mặc kimono. Họ cùng sang căn phòng liền kề và tôi tiếp tục chờ thêm một lúc. Giọng Sachiko vọng lại qua cửa trượt.
Cuối cùng, Sachiko quay ra một mình. “Trời vẫn nóng quá,” cô nhận xét. Cô đi ngang qua phòng, đẩy cửa trượt thông ra hiên nhà.
“Con bé sao rồi?” tôi hỏi.
“Nó không sao. Vết cắt không vấn đề gì.” Sachiko ngồi xuống cạnh cửa trượt, đón làn gió nhẹ.
“Có nên báo cảnh sát không?”
“Cảnh sát ư? Nhưng có gì mà báo? Mariko nói nó đang trèo cây thì bị ngã. Nó bị đứt chân là vì thế.”
“Vậy là nó không ở cùng ai tối nay?”
“Không. Nó còn ở với ai được nữa?”
“Thế còn người phụ nữ kia thì sao?” tôi nói.
“Ai cơ?”
“Người phụ nữ Mariko suốt ngày nhắc đến. Chị vẫn chắc chỉ do nó tưởng tượng ra thôi ư?”
Sachiko thở dài. “Chị nghĩ cô ta không hoàn toàn chỉ là tưởng tượng,” cô nói. “Mariko đã gặp cô ta đúng một lần. Chỉ đúng một lần, hồi nó còn rất bé.”
“Nhưng chị có nghĩ cô ta đã có mặt ở đây vào tối nay không?”
Sachiko cười to. “Không đâu Etsuko ạ, điều đó là không thể. Dù the nào đi chăng nữa, cô ta đã chết. Em phải tin chị, Etsuko ạ, tất cả những gì nó nói về người phụ nữ này chỉ là một trò quậy phá ưa thích của Mariko mỗi khi nó muốn gây chuyện. Chị đã quen với những trò đùa của nó rồi.”
“Nhưng tại sao nó lại kể những chuyện như thế?”
“Tại sao ư?” Sachiko nhún vai. “Trẻ con thích làm thế. Bao giờ em làm mẹ, Etsuko ạ, em sẽ phải làm quen với những điều như thế.”
“Chị có tin chắc tối nay nó chỉ có một mình không?”
“Khá chắc. Chị hiểu rõ con gái mình mà.”
Chúng tôi im lặng một lúc. Muỗi kêu vo vo trên không. Sachiko ngáp, một tay che miệng.
“Vậy là như em thấy đấy, Etsuko,” cô nói. “Chị sẽ sớm rời khỏi Nhật. Em có vẻ không ấn tượng lắm nhỉ.”
“Tất nhiên là có chứ. Em cũng rất mừng nữa, nếu đó là điều chị mong muốn. Nhưng liệu có phải… sẽ có rất nhiều khó khăn không?”
“Khó khăn ư?”
“Ý em là… chuyển đến một đất nước khác, nơi dùng một ngôn ngữ khác, cùng những lề lối xa lạ.”
“Chị hiểu những lo lắng của em, Etsuko ạ. Nhưng thực sự là chị thấy chẳng nên lo lắng nhiều. Em thấy đấy, chị đã được nghe rất nhiều về nước Mỹ, nên đó không phải một nơi hoàn toàn xa lạ với chị. Còn về ngôn ngữ, chị có thể nói tiếng Anh ở một chừng mực nào đó. Chị và anh Frank luôn trò chuyện bằng tiếng Anh mà. Sau khi tới Mỹ một thời gian, chị sẽ nói được như một phụ nữ Mỹ thôi. Chị thực sự không thấy có lý do gì phải lo lắng. Chị biết chị sẽ thu xếp ổn thỏa mọi việc.”
Tôi hơi cúi mình, nhưng không nói gì. Hai con mèo con bắt đầu bò lại chỗ Sachiko ngồi. Cô nhìn chúng một lúc, sau đó bật cười. “Tất nhiên,” cô nói, “cũng có đôi lúc chị băn khoăn không biết rồi mọi chuyện sẽ ra sao. Nhưng thực sự” - cô mỉm cười nhìn tôi - “chị biết rồi sẽ ổn.”
“Thực ra là,” tôi nói, “em đang nghĩ đến Mariko. Rồi nó sẽ ra sao?”
“Mariko ư? Rồi nó sẽ ổn mà. Em biết trẻ con thế nào rồi đấy. Chúng làm quen với môi trường mới dễ hơn chúng ta nhiều, đúng không?”
“Nhưng vẫn là một thay đổi lớn lao cho nó. Nó đã sẵn sàng cho việc ấy chưa?”
Sachiko nóng ruột thở dài. “Thật tình, Etsuko, lẽ nào em cho rằng chị chưa bao giờ nghĩ tới tất cả mọi chuyện sao? Lẽ nào em tưởng chị quyết định rời khỏi đất nước này mà không thận trọng suy xét về hạnh phúc của con gái mình ngay từ đầu sao?”
“Tất nhiên,” tôi đáp, “chị sẽ thận trọng suy xét hết sức về điều đó.”
“Hạnh phúc của con gái là điều quan trọng tối cao với chị, Etsuko ạ. Chị sẽ không đưa ra một quyết định có thể làm tổn hại tương lai nó. Chị đã suy nghĩ rất nhiều về vấn đề này, chị cũng đã bàn bạc với Frank nữa. Chị cam đoan với em, Mariko sẽ ổn. Sẽ không có vấn đề gì.”
“Nhưng việc học hành của nó thì sao? Rồi sẽ ra sao?”
Sachiko lại cười to. “Etsuko, chị có vào rừng rậm sống đâu. Ở Mỹ cũng có thứ gọi là trường học chứ. Và em nên hiểu, con gái chị là một đứa bé cực kỳ thông minh. Cha nó là một người tài giỏi, và bên dòng họ chị cũng thế, không thiếu những người giữ địa vị cao. Etsuko, đừng vì thấy con chị trong… Trong tình cảnh này mà em coi nó chỉ như con nhà nông dân.”
“Tất nhiên là em không nghĩ thế. Em chưa bao giờ…”
“Nó rất thông minh. Em chưa biết con người thực sự của nó đâu, Etsuko. Trong một môi trường như thế này, thiết nghĩ việc đứa trẻ đôi lúc tỏ ra rầy rà khó chịu cũng là sự thường. Nhưng nếu em được gặp nó hồi còn ở nhà bác chị, em sẽ thấy rõ các phẩm chất thực sự của nó. Nếu người lớn nói chuyện với nó, nó sẽ trả lời rõ ràng và mạch lạc, không bao giờ có chuyện cười khúc khích hay xấu hổ quay mặt đi như phần lớn những đứa trẻ khác. Và nhất định là không có những trò đùa vặt kiểu này. Nó từng đi học, kết bạn với những người bạn ngoan ngoãn và giỏi giang nhất đời. Nó còn có thầy dạy kèm nữa, ông ấy đánh giá nó rất cao. Thật kinh ngạc khi chứng kiến nó đuổi kịp bạn bè nhanh tới mức nào.”
“Đuổi kịp?”
“À” - Sachiko nhún vai - “không may là việc học hành của Mariko thỉnh thoảng lại phải gián đoạn. Vì hết chuyện này tới chuyện khác, lại thêm chị chuyển nhà quá nhiều. Nhưng đó là những quãng thời gian khó khăn mà chị cùng con gái đã vượt qua, Etsuko ạ. Nếu không vì chiến tranh, nếu chồng chị vẫn còn sống, thì Mariko đã được hưởng nếp nuôi dạy phù hợp với một gia đình có địa vị như gia đình chị.”
“Vâng,” tôi đáp, “quả có vậy.”
Có thể Sachiko nhận ra điều gì đó trong giọng nói của tôi; cô ngẩng lên nhìn tôi không chớp mắt; và khi cất lời, giọng cô trở nên căng thẳng hơn.
“Chị không việc gì phải rời khỏi Tokyo, Etsuko ạ,” cô nói. “Nhưng chị đã làm vậy, vì Mariko. Chị đã chuyển đến tận đây, sống ở nhà bác chị, vì chị nghĩ làm như thế là tốt nhất cho con gái mình. Không có gì buộc chị phải làm việc đó, chị hoàn toàn không cần phải chuyển đi khỏi Tokyo.”
Tôi cúi mình. Sachiko nhìn tôi một thoáng, sau đó quay đi, đưa mắt nhìn ra bóng tối phía ngoài cánh cửa trượt đang mở.
“Nhưng chị đã rời khỏi nhà bác chị,” tôi nói. “Còn bây giờ, chị lại chuẩn bị rời khỏi nước Nhật.”
Sachiko giận dữ nhìn tôi. “Tại sao em lại nói với chị như thế, Etsuko? Tại sao em không thể mong cho chị được may mắn? Có phải vì em đang ghen tị không?”
“Nhưng em thực sự mong cho chị được may mắn mà. Em đảm bảo với chị, em…”
“Mariko sẽ ổn ở nước Mỹ, tại sao em không chịu tin vào điều đó? Đứa trẻ lớn lên ở đó sẽ tốt hơn rất nhiều. Ở đó, nó sẽ có nhiều cơ hội hơn, cuộc sống ở nước Mỹ sẽ tốt đẹp hơn nhiều cho một phụ nữ.”
“Chị hãy yên tâm rằng em thực sự mừng cho chị. Về phần em, em cũng không thể hài lòng hơn với những gì mình đang có. Công việc của Jiro tiến triển tốt, còn bọn em chuẩn bị chào đời đúng thời điểm mong muốn…”
“Con chị có thể sẽ trở thành một nữ doanh nhân, thậm chí là một diễn viên điện ảnh cũng nên. Nước Mỹ là như thế, Etsuko, rất nhiều điều có khả năng trở thành hiện thực. Frank nói chị cũng có thể trở thành doanh nhân. Những chuyện như thế hoàn toàn có thể xảy ra ở đó.”
“Em tin là như vậy. Chỉ là cá nhân em hoàn toàn hài lòng với cuộc sống hiện tại của mình mà thôi.”
Sachiko nhìn hai con mèo con đang cào cào vào sàn tatami sau lưng cô. Chúng tôi ngồi im lặng một lúc.
“Em nên về thì hơn,” cuối cùng tôi lên tiếng. “Ở nhà chắc đang lo cho em.” Tôi đứng dậy, nhưng Sachiko không rời mắt khỏi hai con mèo con. “Bao giờ chị lên đường?” tôi hỏi.
“Vài hôm nữa. Frank sẽ đưa xe đến đón chị. Đến cuối tuần thì chắc bọn chị đã lên tàu rồi.”
“Nghĩa là chị sẽ không giúp việc cho bác Fujiwara nữa.”
Sachiko ngẩng lên nhìn tôi với một tiếng cười như không tin nổi tôi nói vậy. “Etsuko, chị đang chuẩn bị đi Mỹ. Chị không cần phải làm việc ở quán mì nữa.”
“Em hiểu.”
“Thực ra, Etsuko ạ, em nói giúp với bác Fujiwara chuyện của chị thì tốt quá. Chị không nghĩ sẽ gặp lại bác ấy.”
“Chị không tự nói với bác ấy sao?”
Cô sốt ruột thở dài. “Etsuko, em không hiểu rằng với một người như chị, phải làm việc hằng ngày ở một quán mì là đáng ghê tởm thế nào sao? Thế mà chị không hề phàn nàn và làm hết mọi việc theo yêu cầu. Nhưng bây giờ, mọi chuyện đã kết thúc, chị không mong phải thấy lại nơi đó thêm lần nào nữa.” Một con mèo đang cào cào vào ống tay áo kimono của Sachiko. Cô dùng mu bàn tay thình lình đập một cái, khiến con vật bé nhỏ nháo nhào chạy ngang tấm tatami. “Vì vậy, em hãy gửi lời chào của chị tới bác Fujiwara,” cô nói, “và nói rằng chị chúc bác ấy làm ăn thuận lợi.”
“Em sẽ chuyển lời. Giờ thì xin phép chị, em phải về nhà.”
Lần này, chị đứng dậy, tiễn tôi ra cửa.
“Chị sẽ đến chào tạm biệt trước khi đi,” cô nói khi tôi xỏ chân vào dép.
⁎ ⁎ ⁎
Thoạt đầu, nó có vẻ chỉ là một giấc mơ hoàn toàn vô hại; tôi chỉ nằm mơ về điều mình thấy hôm trước - chúng tôi đã ngắm một bé gái chơi ở vườn hoa. Rồi đêm hôm sau, giấc mơ trở lại. Trên thực tế, trong vài tháng vừa qua, giấc mơ đã quay lại với tôi vài lần.
Vào buổi chiều chúng tôi đi bộ vào làng, Niki và tôi quan sát cô bé chơi trên xích đu. Đó là ngày thứ ba trong chuyến thăm của Niki, mưa đã ngớt, chỉ còn là một làn mưa phùn. Đã vài ngày liền không ra khỏi nhà nên khi được đặt chân lên con đường quanh co, tôi thích thú tận hưởng bầu không khí ngoài trời.
Niki có thói quen đi khá nhanh, đôi bốt da bó kêu cót két theo từng sải chân. Mặc dù theo kịp nó không mấy khó khăn, tôi vẫn thích được tản bộ nhàn nhã hơn. Niki tôi đoán vẫn chưa học được cái thú của việc đi bộ chỉ để đi bộ mà thôi. Nó cũng không tỏ ra xúc động gì trước phong cảnh thôn quê, mặc dù đây là nơi nó sinh ra và lớn lên. Tôi bảo với nó như thế trên đường đi, còn nó thì bẻ lại, nói rằng đây không phải thôn quê thực sự mà chỉ là một thứ đã được mông má nhằm mua vui cho những người giàu có sinh sống tại chốn này. Tôi phải công nhận nó nói đúng; tôi chưa bao giờ lên tận các khu nông nghiệp phía Bắc nước Anh, tuy Niki cứ khăng khăng cho rằng chỉ có ở đó, tôi mới thấy được thế nào là miền quê thực sự. Mặc dầu vậy, những con đường nhỏ này luôn mang lại cho tôi cảm giác thanh bình và êm ả, là những điều tôi dần học được cách trân quý sau nhiều năm.
Vào đến làng, tôi đưa Niki tới tiệm trà, nơi thỉnh thoảng tôi có ghé chân. Đây là một ngôi làng nhỏ, chỉ có vài khách sạn và cửa hàng; tiệm trà nằm ở một góc phố, ở tầng hai phía trên một hiệu bánh. Buổi chiều hôm ấy, tôi và Niki ngồi bên một chiếc bàn kê cạnh cửa sổ. Chính từ đó, chúng tôi đã ngồi nhìn bé gái chơi ở vườn hoa phía dưới. Trước mắt chúng tôi, con bé trèo lên một chiếc xích đu, cất tiếng gọi hai người phụ nữ đang ngồi bên nhau trên ghế băng gần đó. Con bé rất vui vẻ, mặc chiếc áo khoác chống nước màu xanh lá cây, đi đôi ủng cao su nhỏ.
“Hy vọng con sẽ sớm kết hôn rồi có con,” tôi nói. “Mẹ thèm có cháu quá.”
“Con không nghĩ ra được điều gì đáng ghét hơn điều đó,” Niki trả lời.
“À, mẹ nghĩ đúng là con vẫn còn trẻ.”
“Chuyện đó không liên quan gì đến việc con trẻ hay già. Con chỉ không thích có một đám trẻ con hò hét quanh mình.”
“Đừng lo, Niki ạ,” tôi cười nói. “Mẹ có đang bắt ép con phải làm mẹ đâu. Chỉ vì mẹ tự nhiên muốn được làm bà ngoại thôi mà. Mẹ cứ nghĩ biết đâu con sẽ giúp mong ước của mẹ trở thành hiện thực, nhưng mẹ đợi được mà.”
Bé gái giờ đang đứng trên mặt ghế của chiếc xích đu, ra sức kéo hai sợi dây xích, nhưng không hiểu sao, nó không thể làm cho xích đu bay lên cao hơn nữa. Nó vẫn cười và tiếp tục gọi hai người phụ nữ.
“Một đứa bạn của con vừa có con đấy,” Niki nói. “Nó thích lắm. Con không thể hiểu nổi tại sao lại thích. Cái thứ nó cho ra ấy gào mới kinh khủng làm sao.”
“Chà, thì ít ra là bạn con vui. Bạn con bao nhiêu tuổi rồi?”
“Mười chín.”
“Mười chín ư? Còn nhỏ tuổi hơn cả con. Con bé đã kết hôn chưa?”
“Chưa. Nhưng thế thì có khác gì ạ?”
“Nhưng mẹ tin chắc bạn con không thể thấy vui về chuyện đó được.”
“Tại sao lại không? Chỉ vì nó chưa kết hôn sao?”
“Đúng thế. Cùng với việc bạn con mới mười chín tuổi. Mẹ không thể tin nổi là con bé lại thấy vui được.”
“Chưa kết hôn thì khác gì ạ? Nó thích có con, lên kế hoạch cho việc đó và tất tật những thứ khác.”
“Bạn con nói với con vậy sao?”
“Nhưng con biết nó mà, nó là bạn con, mẹ ơi. Con biết nó muốn có con.”
Hai người phụ nữ ngồi trên ghế băng đã đứng dậy. Một trong hai người gọi đứa bé gái. Con bé nhảy xuống khỏi xích đu, chạy lại chỗ hai người.
“Còn cha đứa bé thì sao?” tôi hỏi.
“Cậu ấy cũng vui. Con còn nhớ khi hai người bọn họ mới biết có thai. Tất cả chúng con đã ra quán ăn mừng đấy.”
“Nhưng người ta luôn giả vờ vui. Giống bộ phim mẹ con mình xem trên ti vi tối hôm qua ấy.”
“Phim gì cơ?”
“Mẹ đoán là con không xem. Con mải đọc tạp chí.”
“À, phim ấy hả. Chán kinh lên được.”
“Đúng thế. Nhưng ý mẹ chính là vậy. Mẹ chắc chẳng có ai biết tin có em bé mà lại phản ứng như những nhân vật trong mấy cái phim ấy.”
“Mẹ ạ, nói thật là con không hiểu tại sao mẹ có thể ngồi xem thứ rác rưởi ấy. Ngày xưa mẹ có bao giờ xem ti vi đâu. Con nhớ mẹ vẫn thường mắng mỏ con, vì con xem nhiều quá.”
Tôi cười to. “Con thấy mẹ con mình đã hoán đổi vị trí cho nhau thế nào chưa, Niki. Mẹ tin là con sẽ giúp mẹ rất nhiều đấy. Con phải bắt mẹ không được lãng phí thời gian vào những thứ như thế.”
⁎ ⁎ ⁎
Chúng tôi đang trên đường từ tiệm trà trở về nhà thì bầu trời tối sầm lại như một điềm gở, mưa phùn dần trở nên nặng hạt hơn. Vừa đi qua nhà ga xe hỏa được một đoạn thì chúng tôi nghe có tiếng người gọi từ phía sau: “Bà Sheringham! Bà Sheringham!”
Tôi quay lại và thấy một phụ nữ nhỏ nhắn mặc áo choàng đang vội vã lại gần.
“Tôi biết là bà mà,” bà nói khi đuổi kịp đến nơi. “Dạo này bà thế nào?” Bà nở một nụ cười hớn hở với tôi.
“Chào bà Waters,” tôi nói. “Gặp lại bà vui quá.”
“Có vẻ như lại trở trời, chán quá nhỉ? Ồ, xin chào cháu Keiko” - bà chạm tay vào tay áo Niki - “bác không nhận ra cháu đây.”
“Không,” tôi vội nói, “Đây là Niki.”
“À, phải rồi, Niki. Chao ôi, cháu đã trưởng thành rồi, cháu gái ạ. Vì thế mà bác lẫn lộn hết cả. Cháu đã thực sự trưởng thành rồi.”
“Chào bác Waters,” Niki nói sau khi bình tĩnh lại.
Bà Waters sống không xa tôi là mấy. Dạo này thỉnh thoảng lắm tôi mới gặp bà, nhưng nhiều năm trước, bà từng dạy đàn piano cho cả hai con gái tôi. Bà đã dạy Keiko nhiều năm, còn Niki thì làm học trò bà được khoảng một năm, khi nó vẫn còn nhỏ. Tôi sớm nhận ra ngay khả năng chơi đàn hạn chế của bà Waters, và quan điểm của bà với âm nhạc thường khiến tôi khó chịu; ví dụ, bà đánh đồng các tác phẩm của Chopin và Tchaikovsky, gọi chung là “những giai điệu dễ thương”. Nhưng bà là một phụ nữ dễ mến nên tôi không nỡ lòng nào tìm người thay thế.
“Dạo này cháu làm gì, cháu gái?” bà hỏi Niki.
“Cháu ấy ạ? À, cháu sống ở London.”
“Vậy sao? Cháu làm gì ở đó? Đi học à?”
“Cháu không làm gì ạ. Cháu chỉ sống ở đó thôi.”
“À, vậy đấy. Nhưng cháu có thấy vui khi sống ở đó không? Cốt là ta được như thế, phải không?”
“Vâng, cháu thấy cũng vui.”
“Chà, cái chính là phải vui, phải không? Còn Keiko thì sao?” Bà Waters quay ra nhìn tôi. “Keiko dạo này ra sao rồi?”
“Keiko ư? À, cháu nó đã chuyển đến sống ở Manchester.”
“Vậy sao? Nói chung, đó là một thành phố xinh xắn. Tôi nghe người ta nói vậy. Nó có thích cuộc sống ở trên ấy không?”
“Dạo này tôi ít nhận được tin tức của cháu.”
“Ôi. Tôi nghĩ không có tin gì nghĩa là tin tốt lành rồi. Keiko vẫn chơi đàn piano chứ?”
“Tôi đoán là cháu vẫn chơi. Gần đây tôi không nhận được tin tức gì từ cháu.”
Bà Waters rốt cuộc cũng nhận ra sự thờ ơ của tôi, bà cười một cách ngượng nghịu rồi thôi không hỏi nữa. Sự dai dẳng từ phía bà đã thành đặc trưng cho các cuộc gặp gỡ của chúng tôi kể từ khi Keiko bỏ nhà đi. Cả thái độ miễn cưỡng ra mặt của tôi khi phải nhắc tới Keiko, lẫn thực tế là đến tận buổi chiều hôm ấy, tôi vẫn chưa bao giờ nói với bà Waters dù chỉ là về nơi ở của Keiko, cũng đều không thể gây ra một ấn tượng lâu dài nào đó với bà. Rất có thể, mỗi khi chúng tôi tình cờ gặp nhau, bà Waters vẫn sẽ lại tiếp tục vui vẻ hỏi thăm về con bé.
Khi chúng tôi về tới nhà, trời đã kịp mưa lâm thâm.
“Mẹ rất xấu hổ vì con, phải không?” Niki nói với tôi. Chúng tôi lại ngồi xuống ghế bành, nhìn ra khu vườn bên ngoài.
“Điều gì khiến con nghĩ vậy?”
“Lẽ ra con phải nói với bác ấy con đang có kế hoạch vào đại học hoặc đại khái thế.”
“Mẹ hoàn toàn không để ý con nói gì về bản thân, mẹ không hề thấy hổ thẹn vì con.”
“Vâng, con cũng đoán thế.”
“Nhưng đúng là mẹ thấy con hơi lạnh lùng với bác ấy. Con chưa bao giờ quý bác ấy, phải không?”
“Bác Waters ấy ạ? Thì ngày xưa con rất ghét lúc phải học đàn với bác ấy mà. Buồn tẻ tuyệt đối. Con thường chẳng để ý gì mà chỉ ngồi mơ mộng, rồi thỉnh thoảng lại nghe một giọng nói nho nhỏ bảo con phải đặt ngón tay ở chỗ này chỗ nọ. Có phải chính mẹ là người nảy ra cái ý định bắt con phải học đàn không?”
“Chủ yếu là mẹ. Con thấy đấy, mẹ đã từng có những dự định lớn lao cho con.”
Niki cười. “Con rất tiếc đã chẳng làm nên trò trống gì. Nhưng đó là lỗi của mẹ. Con hoàn toàn không có chút năng khiếu âm nhạc nào. Ở chỗ con có cô bạn biết chơi đàn ghi ta, cô ấy thử chỉ cho con cách chơi vài hợp âm, nhưng con chẳng buồn học. Con nghĩ bác Waters đã khiến con muốn đoạn tuyệt với âm nhạc suốt đời.”
“Biết đâu, sẽ có lức con quay lại chơi đàn và nếu vậy, con sẽ biết ơn những bài học ngày trước.”
“Nhưng con đã quên hết mọi thứ học được từ ngày xưa rồi.”
“Mẹ không tin là con đã quên hết mọi thứ. Người ta không thể quên hết những gì học được ở độ tuổi ấy đâu.”
“Nhưng dù sao cũng là lãng phí thời gian,” Niki lẩm bẩm. Nó ngồi trên ghế, nhìn ra ngoài cửa sổ một lúc lâu. Rồi nó quay sang tôi và nói, “Con đoán hẳn rất khó khăn khi nhắc đến chuyện ấy với mọi người. Ý con là chuyện Keiko ấy.”
“Mẹ thấy nói như mẹ là dễ dàng nhất rồi,” tôi trả lời. “Bác ấy khiến mẹ hơi bất ngờ.”
“Vâng, con cũng nghĩ thế.” Niki tiếp tục nhìn ra cửa với nét mặt trống rỗng. “Keiko không đến dự tang lễ của cha đúng không mẹ?” cuối cùng nó cũng lên tiếng.
“Con biết rõ chị con không đến, sao con còn hỏi mẹ?”
“Con chỉ nói thế thôi.”
“Ý con muốn nói con không tới dự lễ tang của chị vì chị con không buồn đến dự tang lễ cha con? Đừng trẻ con như thế, Niki.”
“Con có trẻ con đâu. Con chỉ muốn nói chuyện đã xảy ra như thế. Chị ấy chưa bao giờ là một phần trong cuộc sống của chúng ta - ít nhất là của con hay của cha. Con không bao giờ nghĩ chị ấy sẽ tới dự lễ tang cha.”
Tôi không trả lời, hai mẹ con im lặng ngồi trên ghế. Rồi Niki lại nói:
“Con thấy vụ gặp bác Waters cứ kỳ cục sao ấy. Hình như mẹ rất thích.”
“Thích cái gì?”
“Thích giả vờ Keiko vẫn còn sống.”
“Mẹ không thích nói dối mọi người.” Có lẽ giọng tôi hơi cáu kỉnh, vì Niki giật mình.
“Con biết chứ,” nó ngập ngừng đáp.
⁎ ⁎ ⁎
Trời mưa suốt đêm ấy. Ngày hôm sau - ngày thứ tư Niki đến nhà - trời vẫn mưa dai dẳng.
“Mẹ có phiền không nếu tối nay con chuyển sang phòng khác?” Niki hỏi. “Con muốn chuyển sang phòng ngủ phụ.” Chúng tôi đang ở trong bếp rửa bát đĩa sau bữa sáng.
“Phòng ngủ phụ?” Tôi cười nho nhỏ. “Tất cả các phòng bây giờ đều là phòng ngủ phụ hết. Không, chẳng có lý do gì con không được ngủ ở phòng ấy cả. Con không thích phòng cũ của mình nữa hay sao?”
“Con thấy hơi kỳ khi ngủ trong đó.”
“Thế thì tệ quá, Niki ạ. Mẹ đã hy vọng con vẫn cảm thấy đó là phòng của mình.”
“Có, có chứ,” nó vội vã đáp. “Không phải vì con không thích phòng con nữa.” Nó bỗng im lặng, dùng khăn lau bát lau khô mấy con dao. Cuối cùng nó nói: “Mà vì cái phòng kia. Phòng chị ấy. Nó khiến con thấy sao ấy, căn phòng ngay đối diện phòng con mà.”
Tôi dừng tay, nghiêm khắc nhìn Niki.
“Nhưng mẹ ơi, con không thể tránh được cảm giác ấy. Con chỉ thấy kỳ quặc khi nghĩ có căn phòng ấy nằm ngay đối diện.”
“Tất nhiên rồi, con cứ chuyển phòng nếu muốn,” tôi lạnh nhạt đáp. “Nhưng con sẽ phải trải giường.”
Mặc dầu đã tỏ rõ cho Niki thấy nỗi phật ý của mình khi nghe nó nói muốn đổi phòng, nhưng tôi không định gây khó khăn gì. Vì chính tôi cũng có cảm giác bồn chồn mỗi khi nghĩ tới căn phòng đối diện ấy. Xét mọi mặt, đó là căn phòng dễ chịu nhất trong nhà, nhìn ra khắp khu vườn tuyệt đẹp. Nhưng nó đã bị biến thành một lãnh địa nằm dưới sự canh phòng điên cuồng của Keiko quá lâu nên đến tận bây giờ, sáu năm sau khi Keiko bỏ đi, dường như một thứ bùa mê nào vẫn còn lẩn khuất trong ấy và càng trở nên dữ dội hơn khi Keiko đã chết.
Trong hai hoặc ba năm trước khi cuối cùng nó cũng bỏ chúng tôi mà đi, Keiko đã khép mình trong căn phòng ấy, đóng chặt cánh cửa cuộc đời mình với chúng tôi. Nó rất ít khi ra khỏi phòng, mặc dù thỉnh thoảng tôi vẫn nghe tiếng chân nó đi lại trong nhà sau khi chúng tôi đã lên giường. Tôi đoán là nó giết thời gian bằng việc đọc tạp chí và nghe đài. Nó không có bạn bè, cả nhà thì bị cấm bước chân vào phòng nó. Đến bữa, tôi thường để dành một đĩa cho nó trong bếp, sau đó nó sẽ xuống lấy rồi lại về phòng đóng kín cửa. Tôi nhận ra căn phòng ở trong một tình trạng kinh hoàng. Mùi nước thơm lâu ngày và mùi quần áo chăn màn lưu cữu bốc ra từ bên trong. Những khi có dịp liếc mắt vào trong, tôi thấy vô số tạp chí bìa bóng nằm trên sàn nhà, giữa những đống quần áo. Tôi đã phải dỗ dành nó bỏ đồ cần giặt ra ngoài và ít ra trong việc này, chúng tôi đã đạt được thỏa thuận: cứ vài tuần mỗi lần, tôi lại thấy một túi đồ đặt ngoài cửa phòng cho tôi đem đi giặt giũ rồi trả lại chỗ cũ. Cuối cùng, những người còn lại trong gia đình cũng quen dần với cách sống của Keiko, và khi vì Keiko bỗng chợt hứng lên mò xuống phòng khách, tất cả chúng tôi đều cảm thấy căng thẳng ghê gớm. Lúc nào cũng vậy, những cuộc dạt phòng của Keiko thường kết thúc bằng việc nó cãi nhau hoặc với Niki hoặc với chồng tôi và sau đó, nó sẽ lại quay về phòng mình.
Tôi chưa bao giờ thấy căn phòng nơi Keiko qua đời ở Manchester. Làm mẹ mà nghĩ thế này thì đúng là hơi bệnh hoạn, nhưng khi biết tin Keiko tự vẫn, ý nghĩ đầu tiên xuất hiện trong óc tôi - trước cả khi cảm thấy choáng váng - là câu hỏi không biết nó đã chết bao lâu trước khi có người tìm ra. Nó từng sống ngay trong nhà mình nhiều ngày liền mà không ai nhìn thấy; thế nên chẳng mấy hy vọng nó sẽ được phát hiện sớm ở một thành phố xa lạ không ai quen biết. Sau này, nhân viên điều tra nói nó đã chết trong phòng “Được vài ngày”. Chính bà chủ nhà là người mở cửa vì nghĩ Keiko đã bỏ đi mà không trả tiền thuê nhà.
Tôi liên tục thấy mình gọi lên trong óc hình ảnh con gái mình treo cổ mấy ngày liền trong phòng. Hình ảnh ấy chưa bao giờ hết hãi hùng, nhưng nó đã không còn là một ý nghĩ bệnh hoạn nữa; cũng như một vết thương trên cơ thể, một mối quan hệ gần gụi hoàn toàn có thể hình thành giữa ta với điều ghê sợ nhất trên đời.
“Dù sao thì phòng ngủ phụ chắc sẽ ấm hơn,” Niki nói.
“Niki, nếu thấy lạnh ban đêm, con chỉ việc tăng nhiệt độ máy sưởi lên là xong.”
“Vâng,” nó thở dài. “Gần đây con ngủ không được ngon. Con nghĩ con hay gặp những giấc mơ tồi tệ, nhưng khi tỉnh dậy con lại không thể nhớ chính xác mình đã mơ gì.”
“Đêm hôm qua mẹ cũng nằm mơ,” tôi nói.
“Chắc vì ở đây yên tĩnh quá. Con không quen với đêm quá yên tĩnh.”
“Mẹ nằm mơ về bé gái ấy. Bé gái hai mẹ con mình nhìn thấy hôm qua. Bé gái ở công viên ấy.”
“Xe cộ ồn ào con cũng ngủ được, nhưng con quên mất phải ngủ trong tĩnh lặng thế nào rồi.” Niki nhún vai, bỏ dao dĩa vào ngăn kéo. “Chắc ở phòng phụ con sẽ ngủ dễ hơn.”
Việc tôi nói với Niki ngay lần đầu tiên mơ giấc mơ ấy cho thấy có thể chính tôi lúc bấy giờ cũng hồ nghi đó không phải một giấc mơ vô hại. Chắc ngay từ đầu tôi đã nghi ngờ - mặc dù không hoàn toàn hiểu vì sao - rằng giấc mơ ấy không liên quan mấy tới bé gái kia, mà thực ra là do hai hôm trước tôi đã nhớ đến Sachiko.