Giờ tôi không chắc mình đã tìm kiếm Mariko trong bao lâu vào buổi tối hôm ấy. Có thể là khá lâu, vì lúc ấy bụng tôi đã khá nặng nề, tôi phải thật cẩn thận, không dám đi lại quá vội vàng. hơn nữa, khi đã ra ngoài, tự nhiên việc đi dọc bờ sông mang lại cho tôi cảm giác thanh bình đến lạ kỳ. Cỏ mọc rất cao ở một khu vực bên bờ. Chắc hôm ấy tôi đi dép, vì đến giờ tôi vẫn nhớ rõ cảm giác cỏ cọ vào chân. Xung quanh tôi, côn trùng kêu rả rích.
Rồi cuối cùng, tôi chợt nhận ra còn có một âm thanh tách biệt hẳn, một tiếng sột soạt, như thể một con rắn đang trườn trong cỏ sau lưng mình. Tôi dừng bước lắng nghe, phát hiện ra thứ đã gây ra âm thanh đó; một đoạn dây thừng cũ cuốn vào mắt cá chân tôi, bị tôi kéo lê qua đám cỏ. Tôi cẩn thận gỡ nó ra khỏi chân. Tôi cầm đoạn thừng giơ lên dưới ánh trăng. Trong tay tôi, nó ẩm ướt và dính đầy bùn.
“Chào Mariko,” tôi nói, vì nó đang ngồi thu lu trong đám cỏ cách tôi không xa, cằm tựa đầu gối. Một trong số vài cây liễu mọc bên bờ sông đang rủ cành xuống ngay chỗ nó ngồi. Tôi tiến thêm vài bước, cho tới khi có thể nhìn rõ mặt con bé.
“Cái gì vậy?” nó hỏi.
“Không có gì. Nó vướng vào chân cô lúc cô đang đi.”
“Nhưng là cái gì thế?”
“Không có gì, chỉ là một sợi thừng cũ. Tại sao cháu lại ngồi ngoài này?”
“Cô có muốn một con mèo con không?”
“Một con mèo con ư?”
“Mẹ nói nhà cháu không giữ lũ mèo được. Cô có muốn một con không?”
“Cô không nghĩ thế.”
“Nhưng cháu phải sớm tìm được chỗ ở mới cho chúng. Nếu không, mẹ nói sẽ phải dìm chết chúng dưới sông.”
“Nếu thế thì thật tệ quá.”
“Cô lấy Atsu cũng được.”
“Ta phải xem thế nào đã.”
“Cô lấy thứ ấy ở đâu ra?”
“Cô đã bảo cháu rồi mà, không có gì cả. Nó vướng vào chân cô thôi.” Tôi tiến thêm một bước. “Tại sao cháu lại làm thế, Mariko?”
“Làm gì cơ?”
“Mặt cháu vừa nhăn trông rất kỳ quặc.”
“Cháu có làm mặt gì đâu. Tại sao cô lại cầm theo dây thừng?”
“Cháu vừa làm một bộ mặt rất kỳ quặc. Rất kỳ quặc ấy.”
“Tại sao cô lại cầm theo dây thừng?”
Tôi nhìn nó một lát. Nét mặt nó bắt đầu có biểu hiện sợ hãi.
“Thế cô không muốn lấy một con mèo thật à?” nó hỏi.
“Không, cô không nghĩ thế. Cháu làm sao vậy?”
Mariko đứng dậy. Tôi tiếp tục bước, cho tới khi tới sát gốc liễu. Tôi thấy ngôi nhà gỗ cách đó không xa mấy, mái nhà tối đen hơn cả trời đêm. Tôi nghe rõ tiếng chân Mariko đang bỏ chạy vào trong bóng tối.
⁎ ⁎ ⁎
Về tới gần cửa ra vào của ngôi nhà, tôi nghe rõ tiếng Sachiko giận dữ vọng ra từ bên trong. Cả hai cùng quay lại nhìn khi tôi bước vào. Sachiko đang đứng giữa phòng, trước mặt là con gái. Dưới ánh sáng hắt ra từ đèn lồng, gương mặt được trang điểm cầu kỳ của cô khiến tôi nghĩ đến một cái mặt nạ.
“Chị e là Mariko đã khiến em phải vất vả,” cô nói với tôi.
“À, nó chạy ra ngoài…”
“Xin lỗi cô Etsuko đi.” Cô thô bạo tóm lấy cánh tay con bé.
“Con muốn ra ngoài nữa.”
“Cấm con động đậy. Giờ thì xin lỗi đi.”
“Con muốn ra ngoài.”
Sachiko lấy tay còn lại đánh mạnh vào đùi sau con bé. “Xin lỗi cô Etsuko đi.”
Những giọt nước mắt nhỏ xíu hiện ra trong mắt Mariko. Nó nhìn tôi một thoáng, sau đó quay sang nhìn mẹ. “Tại sao lúc nào mẹ cũng đi vắng?”
Sachiko lại giơ tay lên, điệu bộ răn đe.
“Tại sao lúc nào mẹ cũng đi đâu đó với chú Frank?”
“Con có định xin lỗi không?”
“Chú Frank đái như lợn. Chú ấy là con lợn trong cống.”
Sachiko chằm chằm nhìn con gái mình, tay vẫn giơ lên cao.
“Chú ấy tự uống nước đái.”
“Im ngay.”
“Chú ấy tự uống nước đái, rồi ỉa ra giường.”
Sachiko vẫn tiếp tục nhìn trừng trừng nhưng không nhúc nhích.
“Chú ấy tự uống nước đái.” Mariko giật tay ra rồi băng qua phòng, thái độ dửng dưng. Đến cửa ra vào, nó quay lại, giương mắt nhìn mẹ không chớp. “Chú ấy đái như lợn,” nó lặp lại, sau đó ra khỏi nhà, biến vào trong bóng tối.
Sachiko đứng nhìn cửa ra vào một lúc, rõ là đã quên biến sự có mặt của tôi.
“Có nên đi tìm nó không?” tôi lên tiếng sau một lúc im lặng.
Sachiko nhìn tôi, dường như chùng lại đôi chút. “Không,” cô vừa trả lời vừa ngồi xuống. “Cứ kệ nó.”
“Nhưng muộn lắm rồi.”
“Kệ nó. Nó sẽ về bao giờ nó muốn.”
Một chiếc ấm đun nước đang sôi sùng sục trên bếp. Sachiko nhấc ấm ra khỏi bếp rồi bắt đầu pha trà. Tôi ngồi nhìn cô một lúc lâu, sau đó hỏi nhỏ:
“Chị có tìm thấy bạn mình không?”
“Có, Etsuko,” cô đáp. “Chị đã tìm ra anh ấy.” Cô tiếp tục pha trà, không ngẩng lên nhìn tôi. Rồi cô nói, “Em thật tốt khi sang nhà chị tối nay thế này. Chị rất xin lỗi vì Mariko.”
Tôi tiếp tục nhìn cô pha trà. Cuối cùng, tôi lại nói, “Bây giờ kế hoạch của chị thế nào?”
“Kế hoạch của chị ư?” Sachiko rót nước đầy ấm trà, rồi đổ nốt chỗ nước còn lại lên lửa bếp. “Etsuko, chị đã nói với em bao nhiêu lần, với chị điều tối quan trọng là hạnh phúc của con gái. Đó là ưu tiên trên hết. Dù sao, chị cũng là một người mẹ. Chị không phải là lũ gái quán bar thiếu đứng đắn. Chị là mẹ và lợi ích của con gái được chị đặt lên hàng đầu.”
“Tất nhiên rồi.”
“Chị định sẽ viết thư cho bác chị. Chị sẽ báo cho ông ấy biết mình đang ở đâu, sẽ cho ông ấy biết về hoàn cảnh hiện tại của chị, tất nhiên là chỉ trong chừng mực ông ấy nên biết. Rồi nếu ông ấy muốn, chị sẽ bàn về khả năng mẹ con chị quay lại sống ở nhà ông ấy.” Sachiko dùng cả hai tay nâng bình trà lên và bắt đầu lắc nhẹ. “Etsuko, thực ra, chị rất mừng khi mọi việc hóa ra thế này. Cứ nghĩ xem, con gái chị sẽ thấy bất an thế nào khi phải sống ở một nơi toàn người nước ngoài, một nơi rặt đám Tây Dương (*) . Rồi đột nhiên phải gọi một người Tây Dương là cha, nghĩ xem chuyện ấy sẽ khiến nó bối rối thế nào. Em có hiểu những điều chị đang nói không, Etsuko? Cuộc đời nó đã đủ xáo trộn rồi, nó đáng được sống ở một noi ổn định hơn. Chuyện xảy ra thế này hóa ra lại hay.”
Tôi lẩm bẩm tán thành.
“Etsuko ạ,” cô nói tiếp, “con cái đồng nghĩa với trách nhiệm. Rồi em sẽ sớm hiểu ra điều đó. Và đó chính là điều anh ta sợ hãi, ai cũng thấy rõ thế. Anh ta sợ Mariko. Chị lại không thể chấp nhận điều đó, Etsuko ạ. Con gái chị là ưu tiên hàng đầu. Chuyện xảy ra thế này hóa lại hay.” Cô tiếp tục lắc bình trà trong tay.
“Chắc chị rất buồn khổ vì chuyện này,” cuối cùng tôi cũng lên tiếng.
“Buồn khổ ư?” Sachiko cười. “Etsuko, em tưởng một chuyện vặt vãnh thế này khiến chị buồn được sao? Ừ, khi bằng tuổi em thì có lẽ. Nhưng hết rồi. Chị đã trải qua quá nhiều chuyện trong vài năm vừa qua. Dù sao chăng nữa, chị đã biết trước thế nào chuyện này cũng xảy ra. Đúng thế, chị chẳng ngạc nhiên chút nào. Chị đã biết chuyện sẽ thế. Lần trước cũng hệt như thế, hồi còn ở Tokyo. Anh ta biến mất, tiêu hết tiền của bọn chị, uống bằng sạch sau ba ngày. Một phần lớn trong số tiền ấy là của chị. Etsuko, em có biết chị đã phải làm hầu phòng ở một khách sạn không? Đúng, làm một cô hầu phòng. Nhưng chị chẳng phàn nàn gì, bọn chị đã có gần đủ tiền, chỉ vài tuần nữa thôi là bọn chị có thể lên tàu tới Mỹ. Nhưng rồi anh ta đã uống hết sạch. Chị phải quỳ gối cọ rửa sàn nhà hàng tuần lễ, thế mà anh ta uống bằng sạch chỉ trong ba ngày. Bây giờ anh ta lại làm thế, lại chui vào quán rượu cùng con ranh gái bar vô lại. Làm sao chị có thể đặt tương lai con gái mình vào tay một kẻ như thế? Chị là một người mẹ, con gái chị là ưu tiên hàng đầu.”
Chúng tôi lại chìm trong im lặng. Sachiko đặt ấm trà xuống trước mặt và nhìn nó chằm chằm.
“Em hy vọng bác chị sẽ thông cảm,” tôi nói.
Cô nhún vai. “Về phần bác chị, chị sẽ bàn chuyện này với ông ấy. Chị sẵn sàng làm thế, vì lợi ích của Mariko. Nếu ông ấy không giúp đỡ, thì chị sẽ tìm cách khác. Dù thế nào đi chăng nữa, chị không có ý định đi cùng một gã nghiện rượu sang Mỹ. Chị cũng vui khi anh ta tìm được một gái bar để uống rượu giải khuây cùng nhau. Chị tin hai người bọn họ rất xứng đôi. Nhưng còn chị, chị chỉ muốn làm những điều tốt nhất cho Mariko thôi, chị đã quyết thế.”
Sachiko tiếp tục nhìn không rời mắt khỏi ấm trà một lúc lâu. Rồi cô thở dài, đứng dậy. Cô ra cửa sổ, nhìn ra ngoài bóng tối.
“Ta có nên đi tìm nó không?” tôi hỏi.
“Không,” Sachiko vẫn nhìn ra ngoài. “Nó sẽ sớm quay lại thôi. Cứ để nó đi, nếu đó là điều nó muốn.”
⁎ ⁎ ⁎
Bây giờ, tôi chỉ thấy ân hận vì thái độ của mình với Keiko. Dù sao thì việc một cô gái trẻ ở độ tuổi của nó muốn thoát ly khỏi nhà cha mẹ không phải điều bất ngờ ở đất nước này. Tất cả những gì tôi làm được dường như chỉ là đảm bảo rằng khi cuối cùng nó cũng ra khỏi nhà - đến giờ thì đã gần sáu năm rồi - nó cũng cắt đứt mọi mối quan hệ với mình. Nhưng lúc ấy, tôi không bao giờ hình dung nổi nó lại nhanh chóng tuột khỏi tầm tay mình đến thế; tôi chỉ thấy một điều, rằng dù con gái tôi sống tại nhà không thấy hạnh phúc, nhưng thế giới ngoài kia sẽ là quá sức nó. Tôi phản đối kịch liệt là để bảo vệ chính nó.
Sáng hôm ấy - ngày thứ năm trong chuyến thăm của Niki - tôi thức giấc vào sáng sớm. Điều đầu tiên tôi nhận ra là mình không còn nghe thấy tiếng mưa như các đêm và sáng trước đó. Rồi tôi nhớ ra điều gì đã khiến mình tỉnh giấc.
Tôi nằm trong chăn, lần lượt nhìn các món đồ hiện ra trong ánh sáng lờ mờ. Vài phút sau, phần nào đã bình tĩnh lại, tôi lại nhắm mắt. Nhưng tôi không ngủ. Tôi nghĩ đến bà chủ nhà - bà chủ nhà của Keiko, nghĩ đến cảnh bà ấy cuối cùng cũng mở cửa căn phòng đó ở Manchester.
Tôi mở mắt, một lần nữa nhìn các đồ vật trong phòng. Cuối cùng, tôi trở dậy khỏi giường, khoác áo choàng mặc nhà. Tôi vào phòng tắm, cẩn thận không đánh thức Niki lúc ấy đang ngủ ở phòng phụ ngay cạnh phòng tôi. Khi ra khỏi phòng tắm, tôi cứ đứng nguyên ở chiếu nghỉ cầu thang một lúc. Bên kia cầu thang, ở đầu kia hành lang, tôi có thể thấy cánh cửa phòng Keiko. Như lệ thường, cánh cửa khép kín. Tôi tiếp tục nhìn không chớp mắt, sau đó bước vài bước lại gần. Cuối cùng, tôi thấy mình đã đứng trước cánh cửa. Có lúc, trong khi đứng đó, tôi nghĩ mình nghe thấy một tiếng động nhỏ, có thứ gì đó chuyển động bên trong. Tôi lắng nghe một lúc nhưng tiếng động ấy không lặp lại nữa. Tôi đưa tay mở cửa.
Trong ánh sáng nhờ nhờ, phòng của Keiko trông thật lạnh lẽo; trên giường chỉ duy nhất có tấm ga trải giường, chiếc bàn trang điểm màu trắng của Keiko, trên sàn nhà, vài hộp bìa các tống đựng những món đồ nó không mang theo đến Manchester. Tôi bước sâu hơn vào phòng. Rèm cửa vẫn để mở, tôi có thể thấy rõ khu vườn dưới nhà. Bầu trời có màu trắng nhợt; không có vẻ gì là sắp mưa. Dưới cửa sổ, trên thảm cỏ, hai con chim đang mổ vài quả táo rụng. Đến lúc đó, tôi bắt đầu thấy lạnh nên trở lại phòng mình.
⁎ ⁎ ⁎
“Một cô bạn của con đang viết một bài thơ về mẹ đấy,” Niki nói. Chúng tôi đang ăn sáng trong bếp.
“Về mẹ ư? Tại sao bạn con lại viết thơ về mẹ?”
“Con kể cho cô ấy nghe về mẹ và cô ấy quyết định sẽ làm một bài thơ. Cô ấy là một nhà thơ xuất sắc đấy.”
“Một bài thơ về mẹ? Vô lý quá. Có gì mà viết chứ? Bạn con thậm chí còn không quen mẹ.”
“Con vừa nói còn gì. Con kể về mẹ cho cô ấy nghe. Khả nâng thấu hiểu người khác của cô ấy mới đáng kinh ngạc làm sao. Mẹ biết đấy, bản thân cô ấy đã trải qua khá nhiều chuyện.”
“Mẹ hiểu. Cô bạn này của con bao nhiêu tuổi rồi?”
“Mẹ! Sao mẹ cứ bị ám ảnh chuyện tuổi tác thế nhỉ. Người ta bao nhiêu tuổi không quan trọng, quan trọng là những gì họ đã trải nghiệm trong đời. Người ta có thể sống tới cả trăm tuổi mà chẳng từng trải nghiệm gì hết.”
“Chắc thế.” Tôi cười rồi đưa mắt nhìn ra ngoài cửa sổ. Bên ngoài, trời đã bắt đầu đổ mưa phùn.
“Lúc con kể cho cô ấy nghe về mẹ,” Niki nói. “Về mẹ và bố và chuyện mẹ rời khỏi nước Nhật thế nào. Cô ấy thực sự thấy ấn tượng. Cô ấy hiểu chuyện đó khó khăn như thế nào, không hề đơn giản như người ta tưởng.”
Tôi tiếp tục nhìn chằm chằm ra ngoài cửa sổ trong giây lát. Rồi tôi nói vội, “Mẹ tin chắc bạn con sẽ làm được một bài thơ tuyệt vời.” Tôi cầm một quả táo từ rổ đựng hoa quả, Niki nhìn tôi cầm dao gọt vỏ.
“Quá nhiều phụ nữ,” nó nói, “mắc kẹt với con cái và những ông chồng tồi tệ, khiến họ trở nên khốn khổ. Nhưng họ không có đủ can đảm làm gì hòng thay đổi điều đó. Họ chỉ biết tiếp tục sống như thế cho đến hết đời.”
“Mẹ hiểu. Vậy con muốn nói họ nên ruồng rẫy con cái mình, có phải vậy không, Niki?”
“Mẹ biết ý con là gì mà. Thật thảm hại khi người ta lãng phí đời mình như thế.”
Tôi không nói gì, mặc dù con gái tôi ngừng lời như chờ đợi.
“Việc mẹ làm hẳn là không dễ dàng chút nào, mẹ ạ. Mẹ phải tự hào vì những gì mẹ đã làm cho đời mình.”
Tôi tiếp tục gọt táo. Gọt xong, tôi chùi tay vào giấy ăn cho khô.
“Các bạn con ai cũng nghĩ giống con,” Niki nói. “Nghĩa là những ai con kể về mẹ.”
“Mẹ rất vinh hạnh. Con hãy cảm ơn những người bạn tuyệt vời của con.”
“Con chỉ nói vậy thôi.”
“Con đã bày tỏ rất rõ ý mình.”
Có lẽ tôi đã tỏ ra cộc lốc một cách không cần thiết với Niki vào buổi sáng hôm ấy, nhưng mặt khác, sao Niki cứ quá tự tin cho rằng tôi cần được trấn an về những chuyện đó. Hơn nữa, nó có biết mấy về những gì thực sự xảy ra vào những ngày cuối cùng ở Nagasaki đâu. Có lẽ nó đã dựng nên một bức tranh từ những gì cha nó kể lại. Nhưng một bức tranh như thế đương nhiên sẽ có những điểm không chính xác. Vì, sự thực là, mặc dù đã viết bao nhiêu bài báo hùng hồn về nước Nhật nhưng chồng tôi chưa bao giờ hiểu nền văn hóa của chúng tôi, và để hiểu một người như Jiro thì lại càng không. Nhớ lại về Jiro chẳng phải việc gì vui vẻ, nhưng anh chưa bao giờ là kẻ dốt nát chồng tôi vẫn nghĩ. Jiro đã cần mẫn làm việc để làm tròn bổn phận với gia đình; anh cũng muốn tôi làm bổn phận của tôi; trong quan điểm riêng của anh, Jiro là một người chồng có trách nhiệm. Và quả thực thế, trong bảy năm trời sống với con gái, anh đã là một người cha tốt. Cho dù tôi có tự thuyết phục mình điều gì đi chăng nữa vào những ngày cuối cùng ấy, tôi cũng chưa bao giờ tự dối lòng rằng Keiko sẽ không nhớ cha mình.
Nhưng những chuyện ấy giờ đã là quá khứ xa xôi, và tôi không muốn ngâm ngợi lần nữa. Động cơ rời khỏi Nhật Bản của tôi là chính đáng, và tôi biết mình đã luôn hành động vì lợi ích của Keiko. Cứ ngẫm đi ngẫm lại những vấn đề ấy cũng chẳng để làm gì.
⁎ ⁎ ⁎
Đứng tỉa đám cây cảnh trồng trong chậu đặt trên bậu cửa sổ được một lúc rồi tôi mới chợt nhận ra Niki đã trở nên im lặng. Quay lại nhìn, tôi thấy nó đang đứng trước lò sưởi, nhìn qua chỗ tôi đứng ra vườn. Tôi cũng quay lại nhìn qua cửa sổ, thử lần theo ánh mắt nó; mặc dù kính cửa sổ mờ sương nhưng tôi vẫn có thể thấy rõ khu vườn. Hình như Niki đang nhìn tít ra một điểm gần hàng giậu, nơi mưa gió đã làm xô lệch những cọc làm dàn leo cho đám cà chua non.
“Mẹ nghĩ năm nay cà chua hỏng hết rồi,” tôi nói. “Mẹ còn chẳng buồn nhìn đến chúng.”
Tôi đang nhìn mấy cái que thì nghe tiếng mở ngăn kéo. Khi tôi quay lại, Niki đã lại bắt đầu tiếp tục tìm kiếm. Vì quyết định sau khi ăn sáng sẽ đọc lại hết các bài viết đăng báo của cha nên nó đã dành gần hết buổi sáng cho việc lùng sục mọi ngăn kéo và giá sách trong nhà.
Tôi tiếp tục tỉa cây vài phút nữa; có rất nhiều cây đặt chật cả bậu cửa sổ. Sau lưng, tôi vẫn nghe rõ tiếng Niki lục lợi các ngăn kéo. Rồi lại im ắng và khi tôi quay lại nhìn, nó đã lại đang nhìn ra ngoài cửa sổ, qua chỗ tôi đứng.
“Con muốn ra cho cá vàng ăn,” nó nói.
“Cá vàng ư?”
Không trả lời, Niki ra khỏi phòng. Chỉ lát sau, tôi đã thấy nó sải bước trên bãi cỏ. Tôi lau sạch chút sương bám trên cửa kính để nhìn cho dễ. Niki đi tới chỗ ao cá nằm giữa vườn đá ở đầu kia khu vườn. Nó rắc thức ăn vào ao rồi đứng nguyên tại chỗ vài giây, chăm chú nhìn ao cá. Tôi thấy dáng đứng góc nghiêng của nó; nó có vẻ rất gầy và mặc dù mặc quần áo thời trang nhưng ở nó vẫn có cái gì đó trẻ con không lẫn đi đâu được. Tôi nhìn gió thổi tung tóc nó, băn khoăn không hiểu vì sao nó ra ngoài mà không mặc áo khoác.
Trên đường quay vào nhà, nó dừng lại cạnh mấy cây cà chua. Bất chấp cơn mua phùn dày hạt, nó vẫn đứng ngắm nghía một lức. Rồi nó lại gần và bắt đầu cẩn thận dựng thẳng các cọc chống. Nó dựng lại mấy cái cọc đã đổ xuống đất, sau đó ngồi xổm, đầu gối gần chạm lớp cỏ ướt, chỉnh lại tấm lưới tôi đặt phía trên mặt đất để lũ chim không thể phá cây.
“Cảm ơn con, Niki,” tôi nói khi nó vào đến trong nhà. “Con thật chu đáo.”
Nó lẩm bẩm gì đó rồi ngồi xuống ghế trường kỷ. Tôi nhận ra nó đang ngượng nghịu.
“Năm nay đúng là mẹ không chăm sóc gì mấy cây cà chua ấy,” tôi tiếp tục. “Nhưng mẹ nghĩ cũng chẳng sao. Đằng nào thì mẹ cũng chẳng biết phải làm gì với đống cà chua ấy. Năm ngoái, mẹ cho nhà Morrison gần hết.”
“Ôi Chúa ơi,” Niki nói, “nhà Morrison sao. Những con người thân ái nhà Morrison dạo này thế nào rồi?”
“Niki, nhà Morrison là những người rất tử tế. Mẹ không thể hiểu vì sao con cứ phải gièm pha họ như vậy. Con với Cathy có thời đã là bạn thân với nhau cơ mà.”
“Ôi đúng thế, Cathy. Dạo này nó thế nào rồi? Con đoán là vẫn sống ở nhà đúng không?”
“Ừ, đúng thế. Nó đang làm việc tại ngân hàng.”
“Rất điển hình.”
“Mẹ thấy đó là một việc hết sức bình thường ở độ tuổi của nó. Còn Marilyn thì đã kết hôn, con có biết không?”
“Thế ạ? Nó lấy ai?”
“Mẹ không nhớ chồng nó làm nghề gì. Mẹ chỉ gặp cậu ấy có một lần. Có vẻ là một người rất dễ chịu.”
“Con đoán anh ta là một cha xứ hay đại khái thế.”
“Niki, mẹ thực sự không hiểu vì sao con phải nói năng bằng cái giọng điệu ấy. Nhà Morrison trước đây luôn tỏ ra vô cùng tử tế với nhà mình.”
Niki nôn nóng thở dài. “Chỉ là cách sống của họ,” nó nói. “Khiến con phát ốm. Ví dụ như cách họ nuôi dạy con cái ấy.”
“Nhưng bao nhiêu năm rồi con hầu như không gặp ai trong nhà Morrison mà.”
“Con đã gặp họ quá đủ từ hồi còn chơi với Cathy. Những người như họ thật vô phương cứu chữa. Con nghĩ mình nên thấy thương hại Cathy là vừa.”
“Con bắt tội nó chỉ vì nó chưa lên London sống như con hả? Mẹ phải nói, những gì con nói có vẻ chẳng ăn nhập chút nào với cái tư tưởng phóng khoáng mà con và các bạn của con vẫn tự hào.”
“Ôi, chẳng thành vấn đề. Đằng nào thì mẹ cũng không hiểu con đang nói gì.” Nó đưa mắt nhìn tôi, sau đó thở hắt ra lần nữa. “Chẳng thành vấn đề,” nó nhắc lại rồi nhìn đi chỗ khác.
Tôi nhìn nó một lúc. Cuối cùng, tôi quay lại bậu cửa sổ tiếp tục tỉa cây trong im lặng thêm vài phút.
“Con biết không, Niki,” tôi lại lên tiếng, “mẹ rất vui khi con có những người bạn tốt, những người con thấy hạnh phúc được ở bên họ. Sau hết, đã đến lúc con phải tự sống cuộc đời mình. Đó cũng là tự nhiên thôi.”
Con gái tôi không trả lời. Khi quay ra nhìn, tôi thấy nó đang đọc một trong các tờ báo tìm thấy trong ngăn kéo.
“Mẹ rất muốn gặp các bạn con,” tôi nói. “Con muốn đưa bạn nào về đây cũng được.”
Niki hất đầu để tóc khỏi xòa xuống che mắt và tiếp tục đọc. Gương mặt nó trở nên hết sức tập trung.
Tôi quay lại với đám cây cối của mình vì đã quá hiểu những tín hiệu ấy. Mỗi khi tôi tỏ ý tò mò muốn tìm hiểu về cuộc sống ở London của Niki là nó vận ngay cái thái độ hơi mơ hồ nhưng cũng khá thẳng thừng đó; đấy là cách nó báo cho tôi biết mình sẽ phải hối hận nếu cứ tiếp tục dò hỏi. Hệ quả là, bức tranh tôi khắc họa về cuộc sống hiện tại của nó chủ yếu dựa trên suy đoán. Tuy thế, trong các lá thư gửi cho tôi - mà Niki thì rất chăm viết - nó thường nhắc đến một số điều mà khi hai mẹ con nói chuyện nó sẽ không bao giờ đả động đến. Nhờ thế mà tôi đã biết, chẳng hạn, tên bạn trai nó là David và cậu ấy đang học về chính trị tại một trong các trường đại học ở London. Thế nhưng mỗi khi trò chuyện với nhau, nếu tôi hỏi dù chỉ là về sức khỏe của cậu ấy thôi, thì rào chắn sẽ ngay lập tức sập xuống.
Thái độ quyết liệt khi động chạm đến đời sống riêng tư ấy của Niki luôn khiến tôi nhớ đến chị gái nó. Vì sự thực là hai cô con gái của tôi có rất nhiều điểm chung, hơn rất nhiều những gì chồng tôi chịu thừa nhận. Anh nghĩ hai đứa hoàn toàn đối lập với nhau; hơn nữa, anh đã hình thành một định kiến cho rằng Keiko về bản chất là một người khó tính và chúng tôi hầu như chẳng thể giúp gì được nó. Trên thực tế, mặc dầu chưa bao giờ tuyên bố thẳng thừng nhưng anh luôn bóng gió rằng Keiko thừa hưởng tính cách từ cha con bé. Tôi không phản đối nhiều, bởi đó là một cách giải thích đơn giản, lỗi là ở Jiro chứ không phải chúng tôi. Tất nhiên, chồng tôi không biết Keiko thời thơ ấu như thế nào; nếu không, chắc hẳn anh đã nhận ra ngay những nét tương đồng giữa hai đứa vào những đoạn đời tương ứng. Cả hai đều nóng nảy, cả hai đều thích chiếm hữu; nếu giận ai, những đứa trẻ khác chẳng bao lâu sau sẽ quên ngay, nhưng chúng sẽ bực bội suốt cả ngày. Thế mà một đứa lớn lên thành một cô gái tự tin và hạnh phúc - tôi rất kỳ vọng vào tương lai của Niki - trong khi đứa kia, sau khi ngày càng trở nên buồn khổ, đã tự kết liễu đời mình. Không như chồng mình, tôi thấy đổ lỗi cho tạo hóa hoặc cho Jiro là điều không dễ dàng chút nào. Nhưng những chuyện ấy giờ đã là quá khứ, bây giờ có đào bới lên cũng chẳng mang lại ích lợi gì.
“À, mẹ này,” Niki nói. “Sáng nay đúng là mẹ, phải không?”
“Sáng nay ư?”
“Sáng nay con nghe thấy tiếng động. Lúc sáng sớm, khoảng bốn giờ.”
“Mẹ xin lỗi đã làm con tỉnh giấc. Đúng, là mẹ đấy.” Tôi bắt đầu cười. “Chậc, con nghĩ còn ai vào đây được nữa?” Tôi tiếp tục cười một lúc mới ngừng lại được. Niki trân trối nhìn tôi, tờ báo vẫn mở rộng trước mặt. “Mẹ xin lỗi vì đã khiến con thức giấc, Niki,” tôi nói khi cuối cùng cũng kiềm chế được tiếng cười.
“Không sao, đằng nào con cũng tình rồi. Dạo này, con không tài nào ngủ cho ra hồn.”
“Thế mà con cứ làm ầm ĩ lên đòi đổi phòng. Có lẽ con nên đi khám xem sao.”
“Chắc con sẽ đi,” Niki trở lại với tờ báo.
Tôi đặt kéo xuống, quay lại nhìn con. “Con biết không, kỳ lạ lắm. Sáng nay mẹ lại nằm mơ đúng giấc mơ ấy.”
“Giấc mơ gì cơ?”
“Hôm qua mẹ kể cho con mà, nhưng mẹ đoán là con chẳng buồn để ý. Mẹ lại nằm mơ về bé gái ấy.”
“Bé gái nào cơ?”
“Bé gái hôm nọ mẹ con mình thấy lúc nó đang chơi đu ấy. Hôm mẹ con mình vào làng uống cà phê ấy.”
Niki nhún vai. “À, con bé đó hả,” nó nói mà không ngẩng lên nhìn.
“À, thực ra thì cũng chẳng phải bé gái ấy đâu. Sáng nay mẹ mới nhận ra điều đó. Có vẻ giống thôi, nhưng thực ra lại không phải.”
Niki lại nhìn tôi. Rồi nó nói, “Vậy mẹ ý nói đấy là chị ấy. Là Keiko.”
“Keiko?” tôi cười. “Thật là một ý nghĩ kỳ lạ. Tại sao lại là Keiko? Không, chẳng liên quan gì tới Keiko hết.”
Niki tiếp tục nhìn tôi, ánh mắt ngờ vực.
“Chỉ là một bé gái mẹ từng biết thôi,” tôi nói với nó. “Đã lâu lắm rồi.”
“Bé gái nào cơ ạ?”
“Con không biết đâu. Mẹ biết nó từ lâu lắm rồi.”
Niki lại nhún vai. “Thậm chí ngủ thôi cũng đã khó rồi. Con nghĩ đêm hôm qua, con chỉ ngủ được khoảng bốn tiếng là cùng.”
“Thế thì tệ quá, Niki. Đặc biệt khi ở tuổi của con. Con nên đi khám bác sĩ. Đến khám bác sĩ Ferguson ấy.”
Niki lại phẩy tay tỏ ý sốt ruột, rồi tiếp tục đọc bài báo của cha nó. Tôi nhìn nó một lát.
“Thực ra, sáng nay mẹ còn nhận ra một điều nữa,” tôi nói. “Một điều nữa về cái giấc mơ ấy.”
Con gái tôi có vẻ như không nghe thấy gì.
“Con biết đấy,” tôi nói, “con bé trong mơ không ngồi trên xích đu. Lúc đầu thì có vẻ như thế. Nhưng rồi hóa ra không phải là đu.”
Niki lẩm bẩm điều gì đó rồi tiếp tục đọc.
(*) Trong nguyên tác là Ame-ko, từ lóng được người Nhật dùng để chỉ người Mỹ.