Khi mùa hè ngày càng nóng nực thì dải đất hoang bên ngoài khu tập thể của chúng tôi cũng trở nên mỗi lúc một thêm khó chịu. Phần lớn đất đã khô nứt, trong khi nước tù từ mùa mưa vẫn đọng đầy dưới rãnh và các hố sâu. Mặt đất ở đó là nơi sinh sôi nảy nở của không biết bao nhiêu loại côn trùng, đặc biệt là muỗi thì dường như ở đâu cũng thấy. Mọi người sống trong các căn hộ vẫn phàn nàn như mọi khi, nhưng thời gian trôi qua, nỗi bực tức dành cho bãi đất trống đã biến thành một thái độ cam chịu và bi quan.
Mùa hè ấy, tôi thường xuyên đi qua bãi đất sang nhà Sachiko và quả thực, đó luôn là một chuyến đi đáng ghét; côn trùng thường mắc trong tóc, có thể thấy rõ lũ ấu trùng và muỗi vằn trên mặt đất nứt nẻ. Những lần đi qua đó vẫn sống động trong tâm trí tôi và giờ đây - cũng như mối lo âu về việc làm mẹ, hay kỷ niệm về chuyên thăm của thầy Ogata - chúng giúp tôi có được một ký ức không lẫn đi đâu được về mùa hè năm ấy. Mặc dầu vậy, ở rất nhiều phương diện, mùa hè ấy cũng không khác gì mọi mùa hè khác. Cũng như trong những năm tháng tiếp theo, tôi đã bao lần đưa cặp mắt vô hồn nhìn ra khung cảnh ngoài ô cửa sổ căn hộ của mình. Vào những ngày trời quang đãng hơn, có thể nhìn ra tận sau những ngọn cây mọc ở bờ sông bên kia, thấy đường nét mờ nhạt của những ngọn đồi hiện lên trên nền mây. Đấy chẳng phải một khung cảnh khó chịu, và thỉnh thoảng còn mang lại cho tôi cảm giác hiếm hơi được giải thoát khỏi sự trống rỗng của những buổi chiều dài đằng đẵng trong căn hộ ấy.
Ngoài chuyện bãi đất hoang, còn có những chuyện khác khiến các cư dân trong khu tập thể phải bận tâm vào mùa hè năm ấy. Báo chí nhắc rất nhiều đến cuộc chiếm đóng của Mỹ sắp kết thúc và các chính trị gia đang bận rộn tranh cãi với nhau ở Tokyo. Vấn đề này được cư dân ở khu nhà bàn bạc khá thường xuyên, nhưng cũng với thái độ bi quan hệt như những cuộc trò chuyện về bãi đất trống. Người ta sốt sắng hơn nhiều với tin tức về các vụ sát hại trẻ em đang khiến Nagasaki hoảng sợ vào thời gian ấy. Đầu tiên là một bé trai, tiếp đến là một bé gái được tìm thấy sau khi đã bị đánh đập đến chết. Khi nạn nhân thứ ba là một bé gái khác được phát hiện treo cổ trên cây thì một con sợ hãi gần như hoảng loạn lan nhanh trong các bà mẹ ở khu nhà. Cũng dễ hiểu khi chẳng ai mảy may thấy yên tâm hơn vì các vụ án đều xảy ra ở tít đầu kia của thành phố: từ đó trở đi, rất hiếm khi thấy trẻ em ra ngoài trong khu tập thể, đặc biệt là vào buổi tối.
Tôi không biết vào thời điểm ấy, những tin tức này khiến Sachiko lo lắng đến mức nào. Đúng là cô đã bớt bỏ mặc Mariko một mình không ai trông nom, nhưng tôi ngờ rằng đó là hệ quả của các diễn biến khác trong cuộc đời cô mang lại; cô đã nhận được thư trả lời của người bác, nói ông sẵn lòng đón hai mẹ con về nhà. Ngay sau khi nhận được tin này, tôi thấy rõ một sự thay đổi trong thái độ của Sachiko với đứa bé: dường như cô trở nên kiên nhẫn hơn và thoải mái hơn với nó.
Sachiko lộ vẻ nhẹ nhõm vô cùng khi đọc được thư của người bác và thoạt đầu, tôi gần như tin chắc cô sẽ quay về nhà ông sinh sống. Tuy nhiên, khi thấy hết ngày này đến ngày khác trôi qua, tôi bắt đầu nghi ngờ ý định của cô. Thứ nhất là, vài ngày sau khi thư đến tôi phát hiện ra cô vẫn chưa cho Mariko biết chuyện. Sau đó vài tuần, không những Sachiko chẳng chuẩn bị gì cho việc chuyển nhà, mà tôi còn phát hiện thêm một điều, cô còn không buồn trả lời thư của người bác.
Nếu không vì Sachiko đặc biệt miễn cưỡng khi nhắc đến gia đình người bác thì chắc hẳn tôi đã không suy nghĩ quá nhiều về chuyện ấy. Nhưng đó là lý do vì sao tôi nảy ý tò mò và mặc dầu Sachiko rất ít nói nhưng tôi vẫn rút ra được một vài kết luận; thứ nhất là dường như đó không phải bác ruột mà chỉ là họ hàng bên chồng của Sachiko; cô chưa từng quen người bác này cho tới khi chuyển đến nhà ông vài tháng trước. Ông rất giàu có và vì ngôi nhà rộng khác thường - trong khi cả nhà chỉ có thêm con gái ông cùng người giúp việc - nên có thừa chỗ cho cả Sachiko cùng con gái. Thực ra, Sachiko đã hơn một lần nói đến việc cô nhớ rõ nhiều khu vực trong nhà hết sức trống trải và im lìm.
Tôi đặc biệt tò mò về cô con gái của ông bác này, mà theo những gì tôi gạn lọc được thì có vẻ là một người phụ nữ chưa chồng tầm tuổi Sachiko. Sachiko nói rất ít về cô chị họ này, nhưng tôi vẫn nhớ một cuộc trò chuyện của chúng tôi trong quãng thời gian ấy. Đến thời điểm đó, tôi đã bắt đầu tin rằng việc Sachiko trì hoãn không quay về nhà bác hẳn có liên quan tới một sự việc căng thẳng nào đó giữa cô và người chị họ. Vào buổi sáng hôm ấy, hẳn là tôi đã thử ướm hỏi, vì điều đó đã dẫn tới một trong những dịp hiếm hơi cô kể không giấu giếm về quãng thời gian sống ở nhà người bác. Tôi vẫn nhớ rõ cuộc trò chuyện đó; hôm ấy là một trong những buổi sáng hanh hao lặng gió giữa tháng Tám. Chúng tôi đang đứng giữa cây cầu nằm trên đỉnh đồi, chờ xe điện đưa vào thành phố. Tôi không nhớ hôm đó chúng tôi đi đâu, hay để Mariko lại đâu - chỉ nhớ là không có con bé đi cùng. Sachiko đang ngắm cảnh từ cầu, một tay giơ trên trán che nắng.
“Etsuko này, chị không tài nào hiểu được,” cô nói, “làm thế nào em lại có ý nghĩ như thế. Ngược lại thì có, Yasuko với chị rất thân nhau và chị thực sự mong đến lúc được gặp lại chị ấy. Chị hoàn toàn không hiểu tại sao em lại nghĩ khác, Etsuko ạ.”
“Em xin lỗi, chắc em đã nhầm lẫn,” tôi đáp. “Không biết vì sao mà em cứ nghĩ chị trù trừ không muốn quay về đó.”
“Hoàn toàn không, Etsuko. Khi em gặp chị lần đầu thì đúng thế, vì lúc ấy chị đang cân nhắc vài khả năng khác. Nhưng không thể trách một người mẹ cân nhắc các lựa chọn khác nhau cho con mình, đúng không? Chỉ là thời gian vừa rồi có một lựa chọn thú vị mở ra cho mẹ con chị. Nhưng sau khi suy xét kỹ, giờ chị đã quyết định bỏ qua. Tất cả chỉ có vậy, Etsuko ạ, chị không còn quan tâm tới các kế hoạch khác được gọi ý cho mình nữa. Chị rất mừng là mọi chuyện đã trở nên tốt đẹp, chị mong đến lúc được quay lại nhà bác. Còn về chị Yasuko, bọn chị hết sức sức coi trọng lẫn nhau. Chị không hiểu điều gì khiến em nghĩ như vậy, Etsuko ạ.”
“Em thành thật xin lỗi. Chỉ vì em nghĩ có lần chị nhắc đến một trận cãi vã nào đó.”
“Một trận cãi vã ư?” Cô nhìn tôi trong giây lát, rồi một nụ cười nở trên khuôn mặt. “À, giờ thì chị nhớ ra em đang nói tới chuyện gì rồi. Không phải đâu, Etsuko, không phải một trận cãi vã. Chỉ là một xích mích vặt vãnh giữa bọn chị. Về chuyện gì nhỉ? Em thấy chưa, chị còn chẳng nhớ là xích mích về chuyện gì, chuyện vặt đến thế cơ mà. À, đúng rồi, bọn chị đã tranh cãi xem ai là người sẽ chuẩn bị bữa tối. Đúng rồi, quả có vậy, chuyện chỉ có thế. Em biết không, Etsuko, bọn chị vẫn thay nhau làm. Người giúp việc sẽ nấu một hôm, rồi hôm sau là chị họ của chị, hôm sau nữa là chị. Rồi người giúp việc bỗng bị ốm đúng hôm đến lượt cô, thế là cả chị lẫn Yasuko đều muốn nấu cơm. Nhưng em đừng hiểu nhầm, Etsuko ạ, bọn chị nói chung sống rất hòa thuận. Chỉ là khi em phải gặp một người quá nhiều mà chẳng được gặp gỡ ai khác, thì thỉnh thoảng mọi thứ có thể trở nên hơi thái quá.”
“Vâng, em hiểu. Em xin lỗi vì đã nhầm lẫn.”
“Em biết không, Etsuko, khi có người giúp việc làm hết mọi việc lặt vặt cho mình, em sẽ thấy thời gian trôi đi mới chậm chạp làm sao. Cả chị lẫn Yasuko đều cố tìm cách để được bận rộn, nhưng đúng là chẳng có mấy việc để làm ngoài việc ngồi nói chuyện cho hết ngày. Suốt bao tháng trời bọn chị cùng nhau sống trong ngồi nhà ấy, gần như không gặp ai khác. Thực kỳ diệu khi bọn chị không hề có mối bất hòa nào với nhau. Bất hòa thực sự ấy.”
“Vâng, quả có vậy. Rõ là em đã hiểu nhầm chị.”
“Đúng thế, Etsuko ạ. Chị e là em đã hiểu nhầm. Chị chỉ tình cờ nhớ đến sự việc ấy vì nó xảy ra ngay trước khi chị dọn đi và kể từ lúc đó đến nay, chị vẫn chưa gặp lại chị ấy. Nhưng thật ngớ ngẩn nếu gọi đó là một trận cãi vã.” Cô cười. “Thực lòng, chị nghĩ chắc Yasuko cũng phải bật cười nếu nghĩ về chuyện ấy.”
Có lẽ chính buổi sáng hôm ấy là lúc chúng tôi đã quyết định sẽ cùng nhau đi chơi đâu đó, trước khi Sachiko chuyển nhà. Và đúng thế, vào một buổi chiều nóng nực không lâu sau đó, tôi cùng Sachiko và con gái cô tới Inasa. Inasa là khu vực đồi núi của Nagasaki, nhìn xuống bến cảng, nổi tiếng nhờ phong cảnh núi non; địa điểm ấy nằm không quá xa chỗ chúng tôi sống - trên thực tế, đó chính là những ngọn đồi tôi nhìn thấy từ cửa sổ căn hộ của mình - nhưng tôi rất hiếm khi đĩ chơi vào thời gian ấy, và chuyến tham quan Inasa dường như là một chuyên đi lớn. Tôi nhớ đã trông chờ nó suốt mấy ngày liền; có lẽ chuyến đi ấy là một trong những kỷ niệm đẹp trong quãng đời ấy của tôi.
⁎ ⁎ ⁎
Chúng tôi lên phà sang Inasa đúng vào thời điểm sôi động nhất của buổi chiều. Tiếng ồn từ hải cảng theo chân chúng tôi sang tận bờ bên kia - tiếng búa lanh lảnh, tiếng máy rền rĩ, thỉnh thoảng xen vào là tiếng còi tàu trầm vang - nhưng ngày đó ở Nagasaki, những âm thanh ấy không khiến ta khó chịu; chúng là âm thanh cho thấy mọi thứ đang phục hồi và lúc ấy vẫn khiến tinh thần ta được phần nào phấn chấn.
Ở bờ bên kia, gió biển dường như thênh thang hơn, ngày đã không còn ngột ngạt. Gió đưa âm thanh từ bến cảng sang tận đây, ngồi trên chiếc ghế dài ở sân ngoài ga cáp treo mà chúng tôi vẫn nghe rõ. Chúng tôi sung sướng đón làn gió nhẹ bởi khoảng sân trước hầu như chẳng cho được mấy bóng râm; nó chỉ là một khoảng sân bê tông, ở đó phần nhiều chỉ thấy trẻ con đi cùng mẹ nên trông không khác gì một cái sân trường. Ở một mé sân, sau hàng cửa xoay, chúng tôi thấy các sàn gỗ là nơi cabin dừng đón trả khách. Chúng tôi ngồi say sưa ngắm cabin leo lên và leo xuống một lúc; một cabin leo lên cho đến khi lẫn vào đám cây cối, dần dà chỉ còn là một chấm nhỏ xíu giữa trời, trong khi một cabin khác leo xuống, lớn dần, cho tới khi dừng lại ở sàn gỗ. Trong trạm gác nhỏ đứng bên cửa xoay, một người đàn ông điều khiển mấy chiếc cần; anh ta đội mũ lưỡi trai. Cứ sau khi một cabin hạ xuống an toàn, anh ta lại thò đầu ra tán chuyện với lũ trẻ con tụ tập quanh đó xem mình làm việc.
Lần thứ nhất chúng tôi chạm trán người phụ nữ Mỹ ngày hôm ấy là do chúng tôi quyết định sẽ mua vé cáp treo lên đỉnh đồi. Sachiko cùng con gái đi mua vé, tôi một mình ngồi lại trên ghế băng. Rồi tôi để ý thấy một quầy hàng nhỏ bán kẹo và đồ chơi ở cuối sân. Vì muốn mua kẹo cho Mariko nên tôi đứng lên lại chỗ quầy hàng. Hai đứa trẻ có mặt ở đó trước tôi đang cãi cọ xem nên mua gì. Trong lúc chờ, tôi phát hiện một chiếc ống nhòm bằng nhựa nằm giữa số đồ chơi. Hai đứa trẻ tiếp tục cãi vã, tôi đưa mắt nhìn ra sân. Sachiko và Mariko vẫn đang đứng cạnh cửa xoay; hình như Sachiko đang nói chuyện với hai người phụ nữ.
“Chị cần gì ạ?”
Hai đứa trẻ đã bỏ đi. Đứng quầy là một chàng trai trẻ, mặc bộ đồng phục mùa hè gọn gàng.
“Cho chị xem thử được không?” tôi chỉ vào chiếc ống nhòm.
“Được chứ. Chỉ là đồ chơi thôi nhưng cũng có thể nhìn khá rõ chị ạ.”
Tôi đưa ống nhòm lên nhìn về phía sườn đồi; rõ đến mức đáng ngạc nhiên. Tôi chuyển sang nhìn quanh sân chờ và Sachiko cùng con gái xuất hiện trong ống kính. Hôm nay, Sachiko mặc một chiếc kimono sáng màu cùng dải thắt lưng thanh nhã - tôi đoán là bộ đồ dành riêng cho những dịp đặc biệt - trông cô thật duyên dáng giữa đám đông. Cô vẫn đang nói chuyện với hai người phụ nữ, một trong số họ trông có vẻ là người nước ngoài.
“Hôm nay lại nóng quá chị nhỉ,” chàng thanh niên nói khi tôi trả tiền. “Chị có định đi cáp treo không?”
“Chúng tôi đang chuẩn bị đây.”
“Cảnh trên ấy đẹp tuyệt vời. Tháp truyền hình đang được xây trên đỉnh đồi kia kìa. Năm sau, cáp treo sẽ chạy thẳng lên đó, ngay tới đỉnh.”
“Thích quá. Chúc cậu một ngày tốt lành.”
“Cảm ơn chị.”
Tôi cầm ống nhòm đi qua sân bê tông. Mặc dầu hồi ấy chưa biết tiếng Anh nhưng ngay lập tức, tôi vẫn đoán ra người phụ nữ kia là người Mỹ. Cô rất cao, tóc đỏ xoăn, đeo một cặp kính mắt xếch. Cô đang nói rất to với Sachiko, còn tôi thì rất ngạc nhiên khi thấy Sachiko trả lời trôi chảy bằng tiếng Anh. Người phụ nữ thứ hai là người Nhật; cô ta có nhiều nét tròn trĩnh, độ tuổi khoảng bốn mươi. Bên cạnh cô ta là một cậu bé mập lùn, cỡ khoảng tám, chín tuổi. Tôi cúi chào họ khi tới nơi, chúc họ một ngày dễ chịu, sau đó đưa ống nhòm cho Mariko.
“Chỉ là đồ chơi thôi,” tôi nói. “Nhưng vẫn nhìn được chút ít đấy.”
Mariko mở giấy bọc và xem xét chiếc ống nhòm với nét mặt nghiêm túc. Nó đưa ống nhòm lên nhìn thử, thoạt tiên là nhìn khắp sân, rồi hướng lên phía sườn đồi.
“Nói cảm ơn đi, Mariko,” Sachiko bảo con bé.
Mariko tiếp tục nhìn qua ống nhòm. Rồi nó hạ xuống, quàng dây đeo bằng nhựa qua cổ.
“Cảm ơn cô Etsuko,” nó nói, vẻ hơi cáu kỉnh.
Người phụ nữ Mỹ chỉ vào chiếc ống nhòm, nói gì đó bằng tiếng Anh rồi cười to. Món đồ chơi cũng thu hút sự chú ý của cậu bé mập lùn, nãy giờ vẫn chăm chú quan sát sườn đồi và cabin đang chạy xuống. Cậu bé tiến vài bước lại gần Mariko, mắt nhìn chăm chăm vào ống nhòm.
“Em tốt quá, Etsuko ạ,” Sachiko nói.
“Không có gì. Chỉ là đồ chơi thôi mà.”
Cabin xuống đến nơi, chúng tôi đi qua cửa xoay lên sàn gỗ. Có vẻ như chỉ có chúng tôi cùng hai người phụ nữ và cậu bé mập lùn là khách. Người đàn ông đội mũ lưỡi trai ra khỏi trạm, dẫn từng người chúng tôi lên cabin. Trong cabin toàn bằng kim loại trông rất thô lạnh. Bốn bên là các ô cửa sổ lớn, với hai chiếc ghế băng chạy dọc hai bên thành cabin.
Cabin đứng yên ở trạm đỗ thêm vài phút nữa. Cậu bé mập lùn bắt đầu sốt ruột đi đi lại lại. Ngồi cạnh tôi, Mariko quỳ gối trên ghế băng nhìn ra ngoài cửa sổ. Bên ghế mình, chúng tôi có thể nhìn thấy sân chờ và đám khán giả nhỏ tuổi tụ tập quanh cửa xoay. Hình như Mariko đang kiểm tra khả năng phóng đại của chiếc ống nhòm, nó hết đưa ống nhòm lên mắt rồi lại hạ xuống. Cậu bé mập lùn lại gần, quỳ lên ghế cạnh con bé. Hai đứa lờ nhau một lúc. Cuối cùng, cậu bé cũng lên tiếng:
“Đến lượt tớ xem thử.” Cậu ta chìa tay về phía ống nhòm. Mariko lạnh lùng nhìn cậu ta.
“Akira, đừng hỏi bạn như thế,” mẹ cậu ta nói. “Con phải hỏi thật lịch sự vào.”
Cậu bé rụt tay lại, mắt nhìn Mariko. Con bé cũng nhìn đáp trả. Rồi cậu ta bỏ đi, ra cửa sổ khác ngồi.
Lũ trẻ đứng gần cửa xoay vẫy tay khi cabin bắt đầu chuyển động. Bản năng khiến tôi tóm lấy tay cầm kim loại chạy dọc cửa sổ, người phụ nữ Mỹ kêu lên căng thẳng rồi bật cười. Sân chờ nhỏ dần và sườn đồi bắt đầu chuyển động bên dưới chúng tôi; cabin khẽ đung đưa khi chúng tôi ngày càng lên cao hơn; có lúc, các ngọn cây xung quanh như quệt vào các ô cửa sổ, rồi bỗng nhiên một khoảng trống mênh mông mở ra phía dưới còn chúng tôi lơ lửng giữa trời. Sachiko khẽ cười, đưa tay chỉ một thứ gì đó ngoài cửa sổ. Mariko tiếp tục nhìn qua ống nhòm.
Cabin leo đến nơi, chúng tôi thận trọng bước ra ngoài, như thể không chắc mình đã thực sự xuống mặt đất. Ga tới trên này không có sân bê tông, từ sàn gỗ chúng tôi bước xuống một khoảng đất nhỏ phủ đầy cỏ. Trừ người đàn ông mặc đồng phục giúp chúng tôi ra khỏi cabin, xung quanh không một bóng người, ở đằng sau khu đất trống, gần như nằm lẫn giữa các cây thông là vài chiếc bàn ăn ngoài trời bằng gỗ. Một hàng rào kim loại đánh dấu phần rìa khu đất, ngăn cách chúng tôi với vực núi. Khi đã xác định được phương hướng, chúng tôi bèn lại gần hàng rào, ngó nhìn sườn núi dốc thẳng xuống dưới. Một lúc sau, hai người phụ nữ cùng cậu bé cũng lại gần.
“Ngoạn mục quá, đúng không?” người phụ nữ Nhật nói với tôi. “Tôi đang đưa bạn mình đi thăm các thắng cảnh quanh đây. Đây là lần đầu tiên cô ấy đến Nhật.”
“Ra thế. Hy vọng cô ấy thích chỗ này.”
“Tôi cũng mong thế. Không may là tiếng Anh của tôi không được tốt. Bạn cô nói tiếng Anh giỏi hơn tôi nhiều.”
“Vâng, tiếng Anh của chị ấy rất tốt.”
Cả hai chúng tôi cùng đưa mắt nhìn Sachiko. Cô cùng người phụ nữ Mỹ đang bình luận với nhau bằng tiếng Anh.
“Được học hành tử tế thích thật,” người phụ nữ Nhật lại bảo tôi. “Thôi, chúc các cô một ngày vui vẻ.”
Chúng tôi cúi chào nhau, rồi cô ra hiệu cho người bạn Mỹ tiếp tục lên đường.
“Cho tớ xem với,” cậu bé mập lùn lên tiếng, giọng có vẻ giận dữ. Cậu ta lại giơ tay ra. Mariko giương mắt nhìn, hệt như lúc nó nhìn cậu ta trong cabin.
“Tớ muốn nhìn thử,” cậu bé nói, giọng trở nên quyết liệt hơn.
“Akira, con phải nhớ hỏi cho lịch sự.”
“Đi mà! Tớ muốn xem thử.”
Mariko nhìn cậu ta thêm một giây, sau đó gỡ dây đeo bằng nhựa khỏi cổ và đưa ống nhòm cho cậu. Cậu bé đưa ống nhòm lên mắt, nhìn ra phía ngoài hàng rào chắn một lúc.
“Ông nhòm này chẳng rõ,” cuối cùng cậu ta quay lại nói với mẹ mình. “Không tốt bằng của con. Mẹ, nhìn này, còn chẳng nhìn rõ được cái cây ở đằng kia ấy. Mẹ nhìn thử mà xem.”
Cậu ta giơ ống nhòm cho mẹ. Mariko đưa tay định lấy lại, nhưng cậu ta giật ống nhòm đi, rồi lại giơ ra cho mẹ mình.
“Mẹ, mẹ nhìn thử đi. Còn không nhìn được mấy cái cây, mấy cái cây ở gần ấy.”
“Akira, con trả ống nhòm lại cho bạn đi.”
“Không bằng ống nhòm của con.”
“Akira, nói thế là không ngoan. Không phải ai cũng được may mắn như con đâu.”
Mariko chìa tay về phía ống nhòm. Lần này thằng bé để Mariko lấy lại.
“Cảm ơn bạn đi,” mẹ cậu ta nói.
Cậu ta không nói gì, chỉ bỏ đi. Người mẹ khẽ cười.
“Cảm ơn cháu,” cô ta nói với Mariko. “Cháu tử tế quá.” Rồi cô ta mỉm cười với Sachiko và tôi. “Cảnh đẹp quá nhỉ?” cô ta nói. “Hy vọng các bạn có một ngày vui vẻ.”
⁎ ⁎ ⁎
Lối đi phủ đầy lá kim, dích dắc chạy lên triền núi. Chúng tôi thong thả đi, dừng lại nghỉ chân liên tục. Mariko im lặng và - trước sự ngạc nhiên của tôi - không có dấu hiệu gì cho thấy nó muốn cư xử ngang bướng. Nhưng nó lại tỏ ra miễn cưỡng một cách khó hiểu không muốn đi cạnh tôi và mẹ nó. Lúc thì nó tụt lại phía sau, buộc chúng tôi phải lo lắng quay đầu nhìn lại; lúc nó lại chạy vượt lên đằng trước, đi cách chúng tôi một đoạn.
Lần thứ hai chúng tôi gặp người phụ nữ Mỹ là khoảng một giờ sau khi xuống khỏi cáp treo. Cô và người bạn đi cùng đang xuống dốc. Nhận ra chúng tôi, cô chào hỏi rất vui vẻ. Cậu bé mập lùn đi sau hai người thì lờ chúng tôi đi. Đi qua chỗ chúng tôi, người phụ nữ Mỹ nói gì đó với Sachiko bằng tiếng Anh. Sau khi nghe Sachiko trả lời, cô cười phá lên. Hình như cô ấy muốn dừng lại nói chuyện, nhưng người phụ nữ Nhật và đứa con trai không dừng bước; cô liền vẫy chào rồi đi theo họ.
Khi tôi khen Sachiko nói tiếng Anh quá tốt, cô chỉ cười mà không nói gì. Tôi nhận thấy việc gặp gỡ người phụ nữ Mỹ gây ra một ảnh hưởng kỳ lạ tới Sachiko. Cô trở nên lặng lẽ, như thể đang chìm đắm trong suy nghĩ khi đi cạnh tôi. Rồi khi Mariko lại chạy trước chúng tôi, cô nói với tôi:
“Cha chị từng là một người được trọng vọng, Etsuko ạ. Được trọng vọng thực sự ấy. Nhưng các mối quan hệ với người nước ngoài của ông suýt nữa đã khiến chuyện đính hôn của chị bị hủy bỏ.” Cô khẽ mỉm cười và lắc đầu. “Kỳ lạ thật, Etsuko nhỉ. Cảm tưởng như những chuyện ấy xảy ra từ thời nào rồi ấy.”
“Vâng,” tôi đáp. “Mọi thứ đã thay đổi rất nhiều.”
Lối đi thình lình ngoặt cánh khuỷu rồi lại tiếp tục lên dốc. Cây cối dạt đi và bầu trời đột ngột mở ra mênh mông trên đầu chúng tôi. Phía trước, Mariko đang la hét và chỉ trỏ gì đó. Rồi nó tiếp tục chạy đầy phấn khích.
“Chị không được gặp cha nhiều lắm,” Sachiko nói. “Ông suốt ngày đi nước ngoài, hết châu Âu lại đến Mỹ. Hồi còn nhỏ, chị thường mơ một ngày sẽ được đến Mỹ, được đến đó làm diễn viên điện ảnh. Mẹ vẫn thường cười trêu chị. Nhưng cha nói nếu chị chịu học tiếng Anh thật giỏi thì trở thành một nữ doanh nhân chẳng có gì là khó. Ngày xưa chị thích học tiếng Anh lắm.”
Mariko đã dừng bước ở một khu đất cao. Nó lại hét to gì đó với chúng tôi.
“Chị nhớ có lần,” Sachiko tiếp tục, “cha chị mang từ Mỹ về cho chị một cuốn sách, cuốn Bài ca mừng Giáng sinh của Dickens bằng tiếng Anh. Cuốn sách đó đã trở thành động lực thúc đẩy chị, Etsuko ạ. Chị muốn học tiếng Anh thật giỏi để đọc cuốn sách đó. Thật không may, chị không bao giờ có cơ hội. Sau khi kết hôn, chồng chị cấm chị học tiếp. Thực tế là anh ấy bắt chị phải vứt cuốn sách ấy đi.”
“Thật đáng tiếc nhỉ,” tôi đáp.
“Chồng chị là thế, Etsuko ạ. Rất độc đoán và ái quốc. Đúng là anh ấy không phải một người đàn ông biết quan tâm tới người khác. Nhưng anh ấy sinh ra trong một gia đình danh giá nên cha mẹ chị nghĩ vậy là môn đăng hộ đối. Chị cũng không phản đối khi anh ấy cấm mình học tiếng Anh. Dù sao thì lúc ấy học cũng chẳng để làm gì.”
Chúng tôi tới chỗ Mariko đang đứng; đó là một khu đất vuông vắn nằm bên rìa đường, bao quanh là vài tảng đá hộc. Một thân cây lớn đổ xuống một bên khu đất đã được làm thành ghế băng. Mặt trên thân cây được bào phẳng nhẵn nhụi. Sachiko cùng tôi ngồi xuống nghỉ.
“Đừng ra gần rìa quá, Mariko,” Sachiko gọi con gái. Con bé đã kịp lại gần mấy tảng đá và đang dùng ống nhòm ngắm cảnh.
Tôi có cảm giác khá chông chênh khi đứng bên rìa núi đưa mắt nhìn phong cảnh xung quanh; tít dưới kia, bến cảng trông không khác gì một đám máy móc chen chúc bị bỏ lại bên bờ biển. Bên kia cảng, trên bờ đối diện là những rặng đồi chạy vào Nagasaki. Khoảng dưới chân đồi dày đặc nhà cửa, công trình. Tít bên tay phải chúng tôi, bến cảng mở ra biển.
Chúng tôi ngồi một lúc, dần lấy lại hơi thở và tận hưởng làn gió nhẹ. Rồi tôi lên tiếng:
“Không thể tưởng tượng nổi chuyện gì đã từng xảy ra ở đây, chị nhỉ? Mọi thứ nhìn thật tràn trề sức sống. Nhưng toàn bộ khu vực dưới kia” - tôi khoát tay chỉ cảnh vật dưới đồi - “Toàn bộ khu vực ấy đã bị phá hủy tan hoang khi quả bom roi xuống. Nhưng nhìn nó bây giờ mà xem.”
Sachiko gật đầu rồi quay sang mỉm cười nhìn tôi. “Hôm nay em vui thế, Etsuko,” cô nói.
“Nhưng được lên đây thật tuyệt. Hôm nay, em quyết định sẽ làm người lạc quan. Em quyết định sẽ có một tương lai hạnh phúc. Bác Fujiwara luôn nhắc em phải biết nhìn về phía trước, điều đó vô cùng quan trọng. Và bác ấy nói đúng. Nếu ta không chịu nhìn về tương lai, thì tất cả mọi thứ” - tôi lại chỉ vào cảnh vật trải dài trước mặt - “Tất cả mọi thứ dưới kia sẽ vẫn chỉ là một đống đổ nát.”
Sachiko lại mỉm cười. “Đúng thế, đúng như em nói, Etsuko ạ. Tất cả sẽ vẫn chỉ là đống đổ nát.” Cô tiếp tục ngắm quang cảnh bên dưới một lúc. “Tiện thể chị muốn hỏi, Etsuko này,” sau một lúc im lặng, cô nói tiếp. “Về bác Fujiwara. Chị đoán bác ấy đã mất gia đình trong cuộc chiến.”
Tôi gật đầu. “Bác ấy có năm người con. Chồng bác ấy vốn là một nhân vật quan trọng ở Nagasaki. Khi bom giội xuống, cả nhà chết hết, trừ con trai cả của bác ấy. Chắc chắn là một cú sốc khủng khiếp, nhưng bác ấy vẫn vượt qua và tiếp tục sống.”
“Ừ,” Sachiko đáp, chậm rãi gật đầu. “Chị cũng nghĩ chuyện là như thế. Bác ấy mở quán mì ấy từ ngày xưa à?”
“Không, tất nhiên là không rồi. Chồng bác ấy là một nhân vật quan trọng. Cái quán ấy ra đời sau đó, sau khi bác ấy đã mất tất cả. Mỗi khi gặp bác ấy, em lúc nào cũng tự nhủ mình phải cố gắng được như bác ấy, phải hướng tới tương lai. Vì xét nhiều mặt bác ấy mất mát hơn em nhiều. Rốt cuộc thì, thử nhìn em lúc này mà xem. Em sắp có một gia đình nhỏ của mình.”
“Đúng, em nói đúng lắm.” Gió thổi tung mái tóc được chải cẩn thận của Sachiko. Cô lấy tay luồn qua tóc, rồi hít một hơi dài. “Em nói đúng lắm, Etsuko ạ, chúng ta không nên nhìn lại quá khứ mãi. Chiến tranh đã cướp đi của chị nhiều thứ, nhưng chị vẫn còn con gái mình. Như em nói, chúng ta phải hướng tới tương lai.”
“Chị biết không,” tôi nói, “em cũng chỉ mới bắt đầu thực sự nghĩ tới cuộc sống tương lai sẽ thế nào trong mấy ngày gần đây mà thôi. Ý em là việc có con ấy. Em không còn cảm thấy sợ hãi như trước nữa. Em sẽ trông chờ đến lúc ấy. Từ giờ trở đi, em sẽ thật lạc quan.”
“Em nên thế, Etsuko ạ. Dù sao, rất nhiều điều đang chờ đợi em phía trước. Thực ra, rồi em sẽ sớm hiểu làm mẹ khiến cuộc đời đáng sống đến mức nào. Chị việc gì phải bận tâm nếu cuộc sống ở nhà bác chị có hơi buồn tẻ chứ? Vì chị chỉ muốn những gì tốt đẹp nhất cho con gái mình. Rồi bọn chị sẽ tìm cho nó thầy dạy kèm tốt nhất và chẳng bao lâu, nó sẽ bắt kịp chương trình học ở trường. Như em đã nói, Etsuko ạ, chúng ta cần biết hướng tới tương lai phía trước.”
“Em rất mừng vì chị cũng nghĩ thế,” tôi đáp. “Cả hai chị em mình nên cảm thấy may mắn mới đúng. Đúng là chiến tranh đã cướp đi rất nhiều điều, nhưng vẫn còn rất nhiều thứ khác để chúng ta mong đợi trong cuộc sống.”
“Đúng thế, Etsuko. Còn rất nhiều thứ đang đón chờ chúng ta.”
Mariko đến gần đứng trước mặt chúng tôi. Chắc nó đã nghe lỏm được một phần cuộc nói chuyện giữa tôi và Sachiko, vì nó nói với tôi thế này:
“Cháu với mẹ cháu sẽ quay lại sống ở nhà bác Yasuko. Mẹ cháu đã nói với cô chưa?”
“Rồi,” tôi đáp. “Mẹ cháu đã cho cô biết. Cháu có thích trở lại đó không Mariko?”
“Giờ thì có thể cháu sẽ được giữ lũ mèo con,” con bé nói tiếp. “Ở nhà bác Yasuko có khối chỗ.”
“Phải xem đã, Mariko,” Sachiko nói.
Mariko nhìn mẹ một lúc. Rồi nó bảo, “Nhưng bác Yasuko thích mèo mà. Hơn nữa, Maru là mèo của bác Yasuko trước khi mình mang nó theo mà mẹ. Vì thế, mèo con cũng là của bác ấy.”
“Đúng thế, Mariko, nhưng chúng ta sẽ phải chờ xem sao. Ta phải chờ xem cha của bác Yasuko nghĩ gì đã.”
Con bé sưng sỉa nhìn mẹ rồi lại quay sang nhìn tôi. “Có thể cháu sẽ được giữ lũ mèo con,” nó nói, vẻ mặt thật nghiêm túc.
⁎ ⁎ ⁎
Cuối buổi chiều, chúng tôi đã kịp quay lại khoảng đất trống gần chỗ xuống cabin, vẫn còn ít bánh quy và sô cô la trong túi đồ ăn nên chúng tôi ngồi xuống một chiếc bàn gỗ ăn nốt. Ở đầu kia khoảng đất, một đám người đang tụ tập gần hàng rào kim loại, chờ cabin lên đua mình xuống núi.
Vừa ngồi được vài phút thì một giọng nói khiến chúng tôi phải ngẩng lên nhìn. Người phụ nữ Mỹ đang bước qua khoảng đất, nụ cười tươi nở trên mặt. Không chút ngại ngần, cô ngồi ngay xuống bàn chúng tôi, lần lượt cười với cả hai rồi trò chuyện với Sachiko bằng tiếng Anh. Chắc cô rất vui sướng khi có cơ hội được nói chuyện bằng ngôn ngữ thay vì bằng cử chỉ ra hiệu. Đưa mắt nhìn quanh, tôi phát hiện người phụ nữ Nhật ở gần đó đang mặc áo khoác cho con trai. Trông cô ta có vẻ không được nhiệt tình cho lắm khi phải gặp chúng tôi, nhưng cuối cùng, cô ta cũng lại gần với một nụ cười. Cô ta ngồi đối diện tôi và khi cậu con trai ngồi xuống cạnh mẹ, tôi thấy rõ hai mẹ con cùng mang những nét béo tròn như nhau; dễ thấy nhất là má của cả hai đều chảy xệ xuống, chẳng khác gì hai con chó bull. Suốt lúc ấy, người phụ nữ Mỹ vẫn nói chuyện rất to với Sachiko.
Thấy họ đến, Mariko liền mở tập giấy vẽ và bắt đầu vẽ. Sau khi trao đổi mấy lời xã giao với tôi, người phụ nữ mặt tròn quay sang con bé.
“Hôm nay cháu có vui không?” cô ta hỏi Mariko. “Trên này đẹp thật, cháu có thấy thế không?”
Mariko tiếp tục dùng bút sáp tô màu, không hề ngẩng lên. Nhưng không vì thế mà người phụ nữ kia chùn bước.
“Cháu vẽ gì đấy?” cô ta lại hỏi. “Nhìn đẹp lắm.”
Lần này, Mariko ngừng tay, ngẩng lên lạnh lùng nhìn cô ta.
“Nhìn đẹp lắm. Cho cô xem được không?” Người phụ nữ giơ tay cầm lấy cuốn vở vẽ. “Đẹp không này, Akira,” cô ta bảo con trai. “Con thấy bạn có giỏi không?”
Thằng bé chồm qua bàn để nhìn cho rõ. Nó chăm chú nhìn bức họa nhưng chẳng nói gì.
“Đúng là rất đẹp.” Cô ta lật qua các trang. “Cháu vẽ hôm nay luôn đấy à?”
Mariko vẫn im lặng thêm một lát. Rồi nó trả lời, “Bút sáp này mới. Mẹ cháu mới mua sáng nay. Bút sáp mới vẽ khó lắm.”
“Cô hiểu. Đúng rồi, bút sáp mới khó vẽ hơn, nhỉ? Bạn Akira cũng biết vẽ đấy, đúng không Akira?”
“Vẽ thì dễ ợt,” thằng bé trả lời.
“Các bức vẽ này đẹp nhỉ, Akira?”
Mariko chỉ vào trang giấy đang mở. “Cháu không thích bức này. Bút sáp chưa đủ đậm. Bức vẽ ở trang sau đẹp hơn.”
“À đúng rồi. Bức này đẹp quá!”
“Cháu vẽ lúc ở bến cảng,” Mariko nói. “Nhưng ở đó ồn ào và nóng lắm, nên cháu vẽ vội.”
“Nhưng cháu vẽ đẹp lắm. Cháu có thích vẽ không?”
“Có.”
Sachiko và người phụ nữ Mỹ cùng quay lại nhìn cuốn vở vẽ. Người phụ nữ Mỹ chỉ vào bức vẽ, kêu to vài lần từ “ngon tuyệt” bằng tiếng Nhật.
“Đây là cái gì?” người phụ nữ mặt tròn hỏi tiếp.
“Con bướm! Vẽ đẹp thế này chắc mất công lắm. Chắc con bướm không đậu im ở một chỗ đâu phải không?”
“Cháu nhớ trong đầu,” Mariko nói. “Cháu đã thấy một con trước đấy.”
Cô ta gật đầu rồi quay sang Sachiko. “Con gái chị thông minh quá. Tôi nghĩ trẻ con biết dùng trí nhớ và trí tưởng tượng là điều rất đáng khen. Quá nhiều trẻ em ở độ tuổi này vẫn chỉ biết chép hình trong sách.”
“Vâng,” Sachiko đáp, “chắc vậy.”
Tôi ngạc nhiên trước giọng điệu khinh khỉnh của Sachiko vì trong khi đó, cô nói chuyện với người phụ nữ Mỹ với vẻ hết sức lịch thiệp. Cậu bé mập lùn càng chồm thêm qua bàn, thò tay đặt vào trang giấy.
“Mấy con tàu này to quá,” cậu ta nói. “Nếu đây là cây thì mấy con tàu phải vẽ nhỏ hơn.”
Mẹ cậu ta ngẫm nghĩ một lúc. “Ừ, cũng có thể,” cô ta nói. “Nhưng tranh vẫn rất đẹp. Con có thấy thế không, Akira?”
“Tàu quá to,” thằng bé nói.
Người phụ nữ cười. “Chị thứ lỗi cho thằng bé,” cô ta nói với Sachiko. “Nhưng chị biết đấy, nó được một thầy dạy vẽ có tiếng kèm riêng, nên đúng là nó để ý tới những chi tiết như thế kỹ hơn so với các đứa trẻ khác cùng độ tuổi. Con gái chị có thầy dạy vẽ không?”
“Không, không có.” Một lần nữa, giọng Sachiko lạnh lùng không lẫn đi đâu được. Nhưng người phụ nữ kia dường như không nhận ra.
“Thuê thầy dạy vẽ là một ý tưởng không tồi đâu,” cô ta nói tiếp. “Lúc đầu chồng tôi phản đối. Anh ấy nghĩ có thầy kèm ở nhà cho môn toán và khoa học là đủ lắm rồi. Nhưng tôi nghĩ môn họa cũng quan trọng. Trẻ con nên được phát triển trí tưởng tượng khi còn nhỏ tuổi. Các thầy cô giáo ở trường cũng nhất trí với tôi. Nhưng Akira giỏi toán nhất. Tôi nghĩ toán rất quan trọng, chị có đồng ý không?”
“Đúng, quả có vậy,” Sachiko đáp. “Tôi tin toán là môn học hữu ích.”
“Toán giúp mài sắc trí óc của lũ trẻ. Chị sẽ thấy những đứa trẻ giỏi toán thì cũng giỏi ở hầu hết các môn khác. Tôi với chồng tôi hoàn toàn nhất trí với nhau về việc thuê thầy dạy kèm môn toán. Và đúng là đáng đồng tiền. Năm ngoái, Akira xếp thứ ba hay thứ tư trong lớp, thế mà năm nay lúc nào nó cũng đứng đầu.”
“Toán dễ ợt,” thằng bé tuyên bố. Rồi cậu ta quay sang hỏi Mariko: “Cậu có biết bảng nhân chín không?”
Mẹ cậu lại cười. “Mẹ đoán là bạn ấy cũng rất thông minh. Cứ nhìn các bức tranh của bạn ấy thì biết.”
“Toán dễ ợt,” thằng bé nhắc lại. “Bảng nhân chín cũng dễ ợt.”
“Đúng thế, Akira đã thuộc hết bảng cửu chương. Rất nhiều đứa trẻ ở độ tuổi của nó chỉ biết nhân đến ba hoặc bốn. Akira, chín lần năm là bao nhiêu?”
“Chín lần năm bốn lăm!”
“Còn chín lần chín thì sao?”
“Chín lần chín tám mốt!”
Người phụ nữ Mỹ hỏi Sachiko điều gì đó. Khi Sachiko gật đầu, cô ấy liền vỗ hai tay vào nhau, lặp lại từ “Tuyệt” vài lần liền.
“Con gái chị có vẻ là một cô bé thông minh,” người phụ nữ béo tròn nói với Sachiko. “Cô bé có thích đi học không? Akira thích hầu hết các môn ở trường. Ngoài toán và họa, nó còn học địa lý rất giỏi nữa. Cô bạn tôi đây rất ngạc nhiên khi thấy Akira biết tên tất cả các thành phố lớn ở Mỹ, đúng không chị Suzie?” Cô ta quay sang người bạn Mỹ, ấp úng vài từ tiếng Anh. Người phụ nữ Mỹ có vẻ không hiểu nhưng vẫn mỉm cười khen ngợi với cậu bé.
“Nhưng Akira vẫn thích toán nhất, đúng không con trai?”
“Toán dễ ợt!”
“Ở trường cháu thích môn gì nhất?” cô ta quay sang hỏi Mariko.
Mariko im lặng một lúc. Rồi nó đáp, “Cháu cũng thích toán.”
“Cháu cũng thích toán hả. Thế thì tuyệt lắm.”
“Thế thì chín lần sáu là bao nhiêu?” thằng bé bực tức hỏi.
“Thật tuyệt vời khi trẻ em thích đi học, đúng không?” mẹ nó nói.
“Nói đi xem nào, chín lần sáu là bao nhiêu?”
Tôi hỏi, “Cháu Akira muốn làm gì khi lớn lên?” “Akira, nói cô nghe lớn lên con muốn làm gì đi.” “Tổng giám đốc Tập đoàn Mitsubishi!”
“Cha nó làm việc ở đấy,” mẹ nó giải thích. “Mới ngần này tuổi nhưng Akira đã rất quyết tâm rồi.”
“Vâng, quả có thế,” tôi mỉm cười. “Tuyệt vời làm sao.”
“Cha cậu làm ở đâu?” thằng bé hỏi Mariko.
“Thôi nào, Akira, con đừng tọc mạch như thế, thế là không tốt.” Rồi cô ta lại quay sang với Sachiko. “Rất nhiều bé trai ở độ tuổi của nó vẫn chỉ biết nói lớn lên muốn làm cảnh sát hoặc lính cứu hỏa. Nhưng từ hồi còn bé xíu, Akira đã luôn muốn được làm việc cho Mitsubishi rồi.
“Cha cậu làm ở đâu?” thằng bé hỏi lại. Lần này, mẹ nó không tìm cách ngăn lại nữa mà chỉ nhìn Mariko vẻ chờ đọi.
“Cha tôi là nhân viên sở thú,” Mariko nói.
Trong giây lát không ai nói gì. Lạ lùng làm sao, câu trả lời ấy dường như khiến thằng bé tẽn tò, nó ngồi phịch xuống ghế, mặt mày sưng sỉa. Rồi mẹ nó nói, vẻ hơi dao động:
“Thật là một công việc thú vị. Tôi và con trai rất thích động vật. Vườn thú nơi chồng chị làm có gần đây không?”
Trước khi Sachiko kịp trả lời, Mariko đã bậm bịch trèo xuống chiếc ghế dài. Không nói lấy một lời, nó bỏ đi, tiến lại lùm cây gần đó. Trong giây lát, tất cả chúng tôi đều đưa mắt nhìn theo nó.
“Cô bé là con đầu của chị à?” người phụ nữ hỏi Sachiko.
“Tôi chỉ có mình nó.”
“À, tôi hiểu. Thế cũng không tệ đâu, thật đấy. Là con một thì trẻ con sẽ độc lập hơn. Tôi cũng nghĩ chúng sẽ chăm chỉ hơn. Thằng cu này” - cô ta đặt một tay lên đầu thằng bé - “cách đứa đầu sáu tuổi.”
Người phụ nữ Mỹ bỗng la lớn và vỗ tay. Mariko đang từ từ trèo lên cây. Người phụ nữ mặt tròn xoay người lại, ánh mắt lo lắng nhìn lên Mariko.
“Con gái chị nghịch như con trai ấy nhỉ,” cô ta nói.
Người phụ nữ Mỹ thích thú lặp lại từ “nghịch” rồi lại vỗ tay.
“Trèo thế có an toàn không?” người phụ nữ mặt tròn hỏi. “Nhỡ nó ngã thì sao.”
Sachiko mỉm cười, nhìn qua người phụ nữ bỗng nồng ấm hơn trước. “Chị chưa bao giờ thấy trẻ con trèo cây sao?” cô hỏi.
Người phụ nữ tiếp tục theo dõi, vẻ lo lắng. “Nhưng chị chắc là an toàn chứ? Nhỡ cành cây gãy thì sao?”
Sachiko cười to. “Tôi tin con bé biết nó đang làm gì. Nhưng tôi vẫn muốn cảm ơn chị vì đã quan tâm. Chị thật tốt bụng.” Rồi cô lịch thiệp cúi mình với người phụ nữ. Người phụ nữ Mỹ nói gì đó với Sachiko và thế là họ lại tiếp tục trò chuyện bằng tiếng Anh. Người phụ nữ mặt tròn quay người lại chỗ tôi.
“Xin cô đừng nghĩ tôi tọc mạch,” cô ta nói và đặt tay lên cánh tay tôi, “nhưng tôi không thể không để ý. Có phải đây là lần đầu của cô?”
“Vâng,” tôi đáp rồi cười. “Tôi sẽ sinh cháu vào mùa thu.”
“Tuyệt vời quá. Còn chồng cô nữa. Anh ấy cũng là nhân viên sở thú à?”
“À không. Chồng tôi làm việc ở một công ty đồ điện tử.”
“Thực sao?”
Rồi cô ta bắt đầu cho tôi lời khuyên về việc chăm sóc trẻ sơ sinh. Trong khi đó, qua vai cô ta, tôi thấy thằng bé bắt đầu thơ thẩn rời khỏi bàn chúng tôi ngồi và lại gần chỗ Mariko.
“Và những ai cho rằng cho các em bé nên nghe nhạc cũng có cái lý của họ,” cô ta đang nói. “Tôi biết việc đó rất có tác dụng. Âm nhạc nên là một trong những âm thanh đầu tiên trẻ em được nghe.”
“Vâng, tôi cũng rất thích âm nhạc.”
Thằng bé đang đứng dưới gốc cây, nhìn lên Mariko, vẻ bối rối.
“Con trai lớn của tôi không có khiếu âm nhạc được như Akira,” cô ta tiếp tục. “Chồng tôi nói đó là vì hồi sơ sinh nó không được nghe nhiều các bản nhạc hay và tôi cũng tin rằng anh ấy nói đúng. Thời ấy, đài phát thanh toàn phát quân nhạc. Tôi tin rằng thứ âm nhạc đó chẳng mang lại điều gì tốt đẹp.”
Trong khi cô ta tiếp tục nói, tôi thấy thằng bé cố tìm một chỗ để chân trên thân cây. Mariko đã tuột xuống thấp hơn và hình như đang chỉ cho thằng bé. Bên cạnh tôi, người phụ nữ Mỹ vẫn tiếp tục cười to, thỉnh thoảng lại thốt ra một từ tiếng Nhật. Cuối cùng, thằng bé cũng cố gắng nhấc được mình khỏi mặt đất. Một chân nó đã tì vào rãnh trên thân cây, hai tay đang đu lấy một cành cây. Mặc dù mới chỉ trèo cao hơn mặt đất có vài centimet nhưng trông cậu ta rất căng thẳng. Thật khó khẳng định Mariko vô tình hay cố ý, nhưng khi tuột xuống thấp hơn nữa, con bé giẫm thẳng vào ngón tay thằng bé. Thằng bé ré lên, ngã phịch xuống đất.
Bà mẹ hoảng hồn quay lại, Sachiko và người phụ nữ Mỹ tuy không thấy chuyện gì xảy ra nhưng cũng quay cả về phía thằng bé. Cậu ta đang nằm nghiêng, kêu la ầm ĩ. Mẹ nó chạy lại, quỳ xuống bên cạnh sờ nắn hai chân. Thằng bé tiếp tục kêu la. Từ phía bên kia khu đất trống, tất cả các hành khách đang xếp hàng chờ lên cáp treo đều nhìn về phía chúng tôi. Khoảng một phút sau, thằng bé thổn thức quay lại bàn, bà mẹ dìu bên cạnh.
“Trèo cây rất nguy hiểm,” mẹ cậu ta giận dữ nói.
“Nó không ngã từ trên cao xuống đâu,” tôi trấn an cô ta. “Nó gần như chưa trèo lên được chút nào.”
“Nó có thể ngã gãy xương. Tôi thấy ta không nên khuyến khích trẻ con trèo cây. Thật là ngớ ngẩn.”
“Nó đá con,” thằng bé thút thít. “Nó đá con rơi khỏi cây. Nó định giết con.”
“Nó đá con sao? Con bé đó đá con sao?”
Tôi thấy Sachiko đưa mắt nhìn con gái mình. Mariko đã lại trèo lên cao.
“Nó định giết con.”
“Con bé đá con sao?”
“Con trai chị trượt chân thôi,” tôi vội xen vào. “Tôi trông thấy hết từ đầu đến cuối. Nó mới trèo lên được một đoạn ngắn cũn mà.”
“Nó đá con. Nó định giết con.”
Người phụ nữ cũng quay người, đưa mắt nhìn ra chỗ ngọn cây.
“Nó chỉ bị trượt chân thôi,” tôi nhắc lại.
“Lẽ ra con không nên làm những chuyện ngớ ngẩn như thế, Akira,” người phụ nữ giận dữ nói. “Trèo cây là việc rất nguy hiểm.”
“Nó định giết con.”
“Con không bao giờ được trèo cây nữa.”
Thằng bé tiếp tục khóc thút thít.
⁎ ⁎ ⁎
Ở các thành phố Nhật Bản, các chủ nhà hàng, chủ phòng trà và các chủ tiệm đều ngóng đọi đến lúc màn đêm buông xuống, về mặt này thì ở nước Anh kém xa; trước cả khi ánh sáng mặt trời kịp tan, đèn lồng đã xuất hiện trên các ô cửa sổ, biển hiệu được thắp sáng phía trên lối vào. Buổi tối hôm ấy, khi chúng tôi về đến phố, Nagasaki đã rực sáng trong muôn sắc màu của cuộc sống ban đêm; chúng tôi đã rời khỏi Inasa lúc chiều muộn và ăn tối tại nhà hàng nằm ở tầng trệt của cửa hàng bách hóa Hamaya. Sau đó, vẫn còn lưu luyến một ngày vui, chúng tôi thấy mình cứ tiếp tục tản bộ trên các con ngõ nhỏ, không vội vã đến trạm xe điện ngay. Hồi ấy, tôi nhớ việc các cặp đôi nắm tay nhau ngoài đường cho thiên hạ thấy - điều tôi và Jiro chưa từng làm - đã trở thành một thứ mốt, nên trên đường đi, chúng tôi thấy rất nhiều cặp đôi như vậy đang tìm thú vui đêm. Bầu trời chuyển sang màu tím nhạt quen thuộc của những đêm hè.
Có rất nhiều quầy bán cá và vào khoảng thời gian ấy, khi các thuyền đánh cá đang về cảng, người ta thường bắt gặp những người đàn ông len lỏi qua các ngõ nhỏ đông nghịt, trên vai mang những chiếc giỏ đựng đầy cá tươi mới bắt. Chính trên một con ngõ đầy rác và đông đặc người đang tản bộ, chúng tôi đã thấy quầy kujibiki ấy. Vì tôi không thích kujibiki và vì ở nước Anh này không có trò gì tương tự - ở các hội chợ thì may ra - nên nếu không phải vì những ký ức về buổi tối ấy thì hẳn tôi đã quên biến sự tồn tại của trò chơi này.
Chúng tôi đứng xem ở cuối đám đông. Một phụ nữ đang bế bổng một cậu bé lên hai, ba tuổi; trên sân khấu, một người đàn ông buộc khán tay quanh đầu đang cầm bát cúi xuống chỗ thằng bé. Thằng bé cố gắng nhặt ra một chiếc vé trong lòng bát nhưng dường như không biết để làm gì. Nó cầm vé trong tay, ngây ngô nhìn các gương mặt phấn khích quanh mình. Người đàn ông buộc khăn tay liền cúi thấp hơn, nói gì đó với thằng bé khiến những người đứng quanh cười rộ. Cuối cùng, bà mẹ hạ con xuống, lấy chiếc vé khỏi tay thằng bé và đưa cho người đàn ông. Chiếc vé thắng một thỏi son môi, người phụ nữ hớn hở cười và nhận giải thưởng.
Mariko đang nhón chân, cô nhìn các giải thưởng được bày phía cuối quầy. Đột nhiên, nó quay lại nhìn Sachiko nói, “Con muốn mua vé.”
“Phí tiền, Mariko.”
“Con muốn mua vé.” Thái độ của nó có vẻ khẩn thiết lạ lùng. “Con muốn thử chơi kujibiki.”
“Đây, Mariko này.” Tôi đưa cho nó một đồng xu.
Nó quay lại nhìn tôi, hơi ngạc nhiên. Rồi nó nhận đồng xu và lách qua đám đông tới gần quầy.
Thêm vài người nữa thử vận may; một phụ nữ thắng thanh kẹo; một người đàn ông trung niên thắng quả bóng cao su. Rồi đến lượt Mariko.
“Đến lượt cháu rồi này, công chúa nhỏ” - người đàn ông thong thả lắc chiếc bát - “nhắm mắt lại rồi thật tập trung nghĩ về con gấu bông cỡ bự đang ngồi kia nhé.”
“Cháu không muốn con gấu,” Mariko nói.
Người đàn ông nhăn mặt hài hước, mọi người cười rộ lên. “Cháu không muốn con gấu bông xù lông kia sao? Chà chà, công chúa nhỏ ơi, thế thì cháu muốn gì?”
Mariko chỉ về phía cuối quầy. “Cái giỏ,” nó nói.
“Cái giỏ hả?” Người đàn ông nhún vai. “Được thôi, công chúa ạ, nhắm mắt thật chặt và nghĩ tới cái giỏ của mình nhé. Sẵn sàng chưa?”
Vé của Mariko thắng một chậu hoa. Nó quay lại chỗ chúng tôi đứng, đưa tôi phần thưởng của mình.
“Cháu không thích sao?” tôi hỏi. “Cháu thắng mà.”
“Cháu muốn cái giỏ cơ. Lũ mèo con cần giỏ riêng rối.
“À ra thế.”
Mariko quay sang nhìn mẹ. “Con muốn thử lần nữa.”
Sachiko thở dài. “Muộn rồi đấy.”
“Con muốn thử. Chỉ một lần nữa thôi.”
Một lần nữa, con bé lại lách qua đám đông lên gần bục. Trong lúc đứng chờ, Sachiko quay sang bảo tôi:
“Buồn cười thật, nhưng chị có ấn tượng hơi khác về bác ấy. Ý chị là bác Fujiwara ấy.”
“Dạ?”
Sachiko khẽ nghiêng đầu nhìn qua đám khán giả.
“Không, Etsuko,” cô nói, “chị e là mình không bao giờ nghĩ về bác ấy theo cách của em đâu. Chị có cảm tưởng bạn em là một người đã mất hết tất cả mọi thứ trên đời.”
“Nhưng sự thật không phải thế,” tôi nói.
“Vậy sao? thế bác ấy còn có thể trông đọi vào cái gì nữa đây hả Etsuko? Bác ấy sống vì cái gì?”
“Bác ấy có quán mì. Chẳng to tát gì, nhưng cái quán rất có ý nghĩa với bác ấy.”
“Cái quán ấy ư?”
“Và bác ấy còn có con trai nữa. Sự nghiệp của anh ấy đầy hứa hẹn.”
Sachiko lại nhìn về phía quầy, “Ừ, chắc thế,” cô nói, nở một nụ cười mệt mỏi. “Chắc là bác ấy còn có con trai nữa.”
Lần này, Mariko thắng một cây bút chì. Nó quay lại, mặt mũi ủ dột. Chúng tôi chuẩn bị lên đường, nhưng Mariko vẫn tiếp tục ngoái nhìn quầy kujibiki.
“Thôi nào,” Sachiko nói. “Đến lúc cô Etsuko phải về nhà rồi.”
“Con muốn thử một lần nữa. Chỉ một lần nữa thôi.”
Sachiko sốt ruột thở dài rồi nhìn tôi. Tôi nhún vai cười.
“Thôi được,” Sachiko nói. “Thử một lần nữa đi.”
Vài người nữa thắng thêm một số giải thưởng. Một phụ nữ thắng hộp phấn trang điểm, phần thưởng phù hợp quá khiến mọi người ồ lên tán thưởng. Thấy Mariko xuất hiện lần thứ ba, người đàn ông bịt khăn trên đầu lại làm mặt trêu chọc.
“Chà chà, công chúa nhỏ lại quay lại rồi! vẫn muốn chiếc giỏ hả? Cháu không thích con gấu xù lông sao?”
Mariko không nói gì, chỉ đợi người đàn ông chìa bát vé ra. Sau khi con bé đã chọn xong, người đàn ông xem xét chiếc vé của nó một cách cẩn thận rồi ngoái nhìn chỗ bày các phần thưởng. Anh ta nhìn kỹ chiếc vé một lần nữa và cuối cùng cũng gật đầu.
“Cháu không thắng chiếc giỏ, nhưng cháu đã thắng… giải thưởng lớn!”
Xung quanh rộ lên tiếng cười và tiếng vỗ tay. Người đàn ông đi vào sau quầy rồi quay lại với một thứ trông giống một chiếc hộp gỗ lớn.
“Cho mẹ cháu cất rau quả nhé!” anh ta tuyên bố, với đám đông hơn là với riêng Mariko, rồi giơ món quà lên cao trong giây lát. Cạnh tôi, Sachiko cười phá lên và vỗ tay tán thưởng cùng mọi người. Mọi người rẽ ra, tạo một lối đi cho Mariko mang phần thưởng về chỗ.
Sachiko vẫn còn cười khi chúng tôi đi tiếp. Cô cười nhiều đến nỗi chảy cả nước mắt. Sau khi lau nước mắt, cô nhìn chiếc hộp.
“Nhìn mới kỳ cục làm sao,” cô nói, đưa cho tôi xem.
Chiếc hộp có kích cỡ tương tự một thùng đựng cam và nhẹ tới mức đáng ngạc nhiên; gỗ nhẵn nhụi nhưng chưa được đánh véc ni, một mặt có hai nắp trượt bằng lưới thép.
“Biết đâu sẽ có lúc có ích vào việc gì đó,” tôi nói, lấy tay kéo một bên nắp sang.
“Con thắng một giải thưởng lớn nhé,” Mariko nói.
“Ừ, giỏi lắm,” Sachiko đáp.
“Có lần cháu thắng một chiếc kimono,” Mariko bảo tôi. “Ở Tokyo, có lần cháu thắng một chiếc kimono.”
“Và giờ cháu lại thắng nữa.”
“Etsuko, em xách túi giúp chị được không. Để chị bê cái hộp này về nhà.”
“Con thắng giải thưởng lớn nhé,” Mariko nói.
“Ừ, con rất giỏi,” mẹ con bé đáp rồi khẽ cười.
Chúng tôi rời khỏi quầy kujibiki. Đường phố rải đầy giấy báo bị vứt lung tung và đủ các loại rác rưởi.
“Lũ mèo con sống trong hộp cũng được, đúng không mẹ?” Mariko nói. “Mình đặt thảm vào trong, thế là cái hộp sẽ thành nhà của chúng.”
Sachiko nghi ngờ nhìn chiếc hộp mình đang bê trên tay. “Mẹ không biết chúng có thích hay không đâu.”
“Đấy sẽ là nhà của chúng. Rồi khi nào mình chuyển đến nhà bác Yasuko, mình có thể chở chúng trong hộp.”
Sachiko nở một nụ cười mệt mỏi.
“Được phải không mẹ? Mình có thể mang theo lũ mèo trong hộp.”
“Ừ, chắc là được,” Sachiko đáp. “Được, được thôi. Mình sẽ mang lũ mèo trong hộp.”
“Nghĩa là mình có thể giữ chúng phải không?”
“Ừ, mình có thể giữ lũ mèo con. Mẹ tin là cha của bác Yasuko sẽ không phản đối chuyện này.”
Mariko chạy lên phía trước một chút, rồi đứng chờ chúng tôi.
“Nghĩa là mình không phải tìm nhà mới cho bọn mèo con nữa đúng không?”
“Không, giờ thì không. Mẹ con mình sẽ chuyển đến nhà bác Yasuko, nên ta có thể giữ lũ mèo lại.”
“Mình sẽ không phải tìm chủ mới. Mình có thể giữ hết cả đàn mèo. Mình sẽ cho chúng vào hộp và mang theo, đúng không mẹ?”
“Đúng,” Sachiko đáp. Rồi cô hất đầu ra phía sau và lại cất tiếng cười.
⁎ ⁎ ⁎
Tôi thường thấy mình nhớ lại nét mặt Mariko tối hôm ấy khi ngồi trên xe điện về nhà. Nó nhìn ra ngoài cửa sổ, tựa trán vào kính; gương mặt như một bé trai hiện ra trong ánh đèn thành phố loang loáng lướt qua phía ngoài. Con bé không nói gì suốt chuyến xe về nhà, còn tôi và Sachiko chỉ nói chuyện rất ít. Tôi nhớ Sachiko đã hỏi thế này:
“Chồng em liệu có cáu em không?”
“Có thể lắm,” tôi khẽ cười và trả lời. “Nhưng hôm qua em đã nói có thể hôm nay sẽ về muộn.”
“Quả là một ngày dễ chịu.”
“Đúng thế. Cứ cho Jiro ngồi đấy mà cáu. Hôm nay em rất vui.”
“Ta phải đi thêm lần nữa, Etsuko ạ.”
“Đúng thế, chắc chắn rồi.”
“Em nhớ phải đến thàm chị sau khi chị đã chuyển nhà nhé.”
“Vâng, em sẽ đến.”
Rồi chúng tôi lại im lặng. Một lát sau đó, khi xe điện giảm tốc độ chuẩn bị dừng, tôi cảm thấy hình như Sachiko giật mình. Cô đang nhìn về phía cuối toa, nơi hai ba người đã ra đứng sẵn ở cửa xuống. Một phụ nữ đang đứng đó nhìn Mariko. Cô ta khoảng ba mươi tuổi, khuôn mặt xương xương, vẻ mệt mỏi. Có thể cho là cô ta chỉ tình cờ nhìn Mariko, và nếu Sachiko không phản ứng thì tôi đã chẳng ngờ ngợ. Trong lúc đó, Mariko vẫn nhìn ra cửa sổ, không để ý tới người phụ nữ kia.
Nhận ra Sachiko đang nhìn mình, người phụ nữ quay mặt đi. Xe điện dừng lại, cửa mở và cô ta xuống xe.
“Chị có quen cô ấy không?” tôi hỏi khẽ.
Sachiko khẽ cười. “Không. Chị nhầm.”
“Chị nhầm cô ấy với ai à?”
“Chỉ trong giây lát thôi. Thậm chí còn chẳng giống chút nào.” Cô lại cười rồi nhìn ra ngoài xem chúng tôi đang ở đâu.