Cảnh Đồi Mờ Xám

Lượt đọc: 585 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương tám

Giờ đây nghĩ lại, tôi mới nhận ra rõ lý do khiến thầy Ogata ở lại với chúng tôi lâu đến thế vào mùa hè năm ấy. Vì hiểu rõ tính tình con trai nên chắc ông đã nhận ra chiến thuật của Jiro với chuyện bài báo của Shigeo Matsuda; chồng tôi đơn giản chỉ đang đợi thầy Ogata quay về nhà ở Fukuoka và thế là toàn bộ câu chuyện sẽ chìm vào quên lãng. Trong khi đó, anh vẫn luôn mau mắn tỏ ra đồng tình, rằng cần phải dứt khoát và cương quyết trước một cuộc tấn công vào thanh danh gia đình như thế, rằng anh cũng quan tâm tới vấn đề này không kém gì cha mình, và rằng anh sẽ viết thư cho bạn học cũ ngay khi có thời gian. Giờ nhìn lại tôi mới nhận ra, đây luôn là cách phản ứng đặc trưng của Jiro mỗi khi phải đối đầu với bất cứ hoàn cảnh nào tiềm ẩn rắc rối. Nếu không phải vì nhiều năm sau đó, anh cũng có cách hành xử tương tự khi phải đối diện với một cuộc khủng hoảng khác trong đời, thì có lẽ tôi đã không bao giờ rời khỏi Nagasaki. Tuy nhiên, dù sao, đấy là một câu chuyện khác.

Tôi đã thuật lại vài chi tiết trong buổi tối hôm hai người bạn say rượu của chồng mình đến nhà khiến ván cờ của Jiro và thầy Ogata phải dang dở. Đêm hôm ấy, khi đang chuẩn bị đi ngủ, tôi bỗng cảm thấy một thôi thúc mãnh liệt muốn nói chuyện với Jiro về toàn bộ cái vụ Shigeo Matsuda; mặc dù tôi không muốn Jiro phải viết một lá thư anh không hề muốn, nhưng càng ngày tôi càng thấy anh nên bày tỏ lập trường rõ ràng hơn với cha mình. Tuy nhiên, tôi đã kiềm chế không nhắc tới chủ đề này vào đêm hôm ấy, cũng như nhiều lần trước đó. Thứ nhất là, chồng tôi hẳn sẽ coi tôi không có quyền đưa ra nhận xét về một vấn đề như thế. Hơn nữa, vào tầm ấy buổi tối, Jiro lúc nào cũng mệt mỏi và cứ cố gắng bắt chuyện sẽ chỉ khiến anh trở nên nóng nảy mà thôi. Và dù sao chăng nữa, bản chất mối quan hệ giữa chúng tôi chưa bao giờ cho phép chúng tôi bàn bạc cởi mở với nhau những việc tương tự.

Suốt cả ngày hôm sau, thầy Ogata chỉ ở trong nhà, dành nhiều thời gian nghiên cứu ván cờ mà theo lời ông đã bị ngắt quãng vào đúng giai đoạn quyết định đêm hôm trước. Rồi tối hôm ấy, khoảng một giờ sau khi kết thúc bữa tối, ông lại mang bàn cờ ra rồi một lần nữa bắt đầu nghiên cứu các quân cờ. Một lần, ông ngẩng lên nói với chồng tôi:

“Jiro này. Vậy là ngày mai là một ngày trọng đại đấy nhỉ.”

Jiro ngước lên từ tờ báo đang đọc và cười nhạt. “Có gì đâu mà phải làm quá lên,” anh nói.

“Vớ vẩn nào. Là ngày trọng đại với con đấy. Tất nhiên rồi, con có trách nhiệm phải làm hết sức mình cho công ty, nhưng theo cha, bản thân việc ấy đã là một thắng lợi rồi, cho dù kết quả ngày mai có ra sao. Được đề nghị làm đại diện cho công ty vào thời điểm này, khi con vừa mới bắt đầu sự nghiệp, chắc chắn là không phải chuyện thường đâu, kể cả vào thời buổi ngày nay.”

Jiro nhún vai. “Con cũng nghĩ vậy. Tất nhiên là, kể cả nếu mọi chuyện ngày mai diễn ra vô cùng thuận lợi thì cũng không có gì đảm bảo con sẽ được thăng chức. Nhưng chắc là người quản lý công ty đã khá hài lòng với những nỗ lực của con trong năm nay.”

“Cứ nghe mọi người nói thì cha thấy ông ấy rất tin tưởng ở con đấy. Con nghĩ mọi chuyện ngày mai sẽ ra sao?”

“Con hy vọng sẽ suôn sẻ. Tới thời điểm này, mọi bên liên quan cần hợp tác với nhau. Đúng ra mà nói, cuộc họp ngày mai chỉ nhằm đặt nền móng cho các cuộc thương thảo thực sự sẽ diễn ra vào mùa thu. Không có gì đặc biệt cả.”

“Chà, ta phải chờ xem sự thể sẽ ra sao. Giờ thì Jiro này, sao ta không kết thúc ván cờ này đi nhỉ. Ta đã chơi ít nhất là ba hôm rồi.”

“À vâng, đúng thế, ván cờ. Tất nhiên là cha hiểu, dù ngày mai con có thành công thế nào đi chăng nữa, điều đó không có nghĩa con sẽ được thăng chức, đúng không.”

“Tất nhiên là cha hiểu, Jiro, cha hiểu chứ. Chính cha cũng đã vươn lên trong một nghề nghiệp đầy cạnh tranh mà. Cha hiểu rất rõ. Có lúc những người hoàn toàn không có thực lực so với mình thì lại được chọn vì ưu ái. Nhưng đừng để những chuyện như thế khiến con thoái chí. Cứ kiên nhẫn và con sẽ chiến thắng. Giờ thì hoàn thành nốt ván cờ này được không nhỉ.”

Chồng tôi đưa mắt nhìn bàn cờ nhưng không tỏ vẻ muốn lại gần. “Con nhớ là cha sắp thắng,” anh nói.

“Ừ, con đang bị dồn vào thế bí, nhưng không phải không có cách, chỉ cần con tìm ra thôi. Jiro, con có nhớ lần đầu tiên cha dạy con chơi cờ, cha luôn nhắc con không được dùng quân xe quá sớm không? Thế mà con vẫn mắc đúng lỗi ấy. Con thấy không?”

“Quân xe, vâng. Đúng như cha nói.”

“Nhân tiện cha muốn nói thế này, Jiro. Cha không nghĩ là con tính trước các nước đi, đúng không? Con có nhớ cha đã từng bỏ công bỏ sức để bắt con tính trước ít nhất là ba nước không? Nhưng cha nghĩ con đã bỏ qua bài học đó.”

“Tính trước ba nước ư? À, chắc là con đã bỏ qua thật. Con không phải một chuyên gia như cha, cha biết đấy. Dù sao thì, cứ coi là cha đã thắng.”

“Thực tế là ngay từ đầu đã thấy rõ rành rành con đã chẳng tính nước nào hết, Jiro ạ. Cha đã bảo con bao nhiêu lần rồi? Một hảo thủ cần phải biết tính trước ít nhất là ba nước đi.”

“Vâng, hẳn là thế.”

“Ví dụ nhé, tại sao con không đi con mã vào đây? Jiro, nhìn này, con thậm chí còn chẳng buồn nhìn. Con có nhớ vì sao con đi quân cờ này vào chỗ này không?”

Jiro liếc mắt nhìn bàn cờ. “Nói thật với cha là con không nhớ,” Jiro đáp. “Chắc lúc đó phải có lý do hợp lý nào đó.”

“Lý do hợp lý nào đó sao? Vớ vẩn, Jiro. Mấy nước cờ đầu con vẫn còn tính trước, cha thấy mà. Lúc ấy, con thực sự có chiến lược. Nhưng ngay khi cha phá được thế đó của con là con bỏ cuộc và bắt đầu chơi từng nước một. Con không nhớ những gì cha luôn nhắc con sao? Chơi cờ cốt yếu nhất là phải giữ được chiến lược mạch lạc và chặt chẽ. Là không được bỏ cuộc khi đối thủ phá được kế hoạch của ta, mà phải lập tức nghĩ ra kế hoạch thay thế. Quân tướng bị dồn chưa phải là đã kết thúc. Ván cờ chỉ được định đoạt khi người chơi từ bỏ mọi chiến lược của anh ta. Khi các quân của anh ta đứng rời rạc, chúng không còn một mục tiêu chung nào nữa, chúng đi từng nước đon lẻ, thì đó chính là lúc anh ta đã thua.”

“Vâng, thưa cha, con công nhận. Con đã thua. Giờ thì ta quên chuyện này đi được chưa ạ?”

Thầy Ogata đưa mắt nhìn tôi, sau đó nhìn Jiro. “Con nói năng thế là sao? Cha đã nghiên cứu ván cờ này rất kỹ cả ngày hôm nay và cha thấy có ba cách cho con thoát nguy đấy.”

Chồng tôi hạ tờ báo xuống. “Thứ lỗi cho con nếu con hiểu sai,” anh nói, “nhưng con tin là cha vừa mới nói rằng người chơi nào không duy trì được một chiến lược mạch lạc thì không thể tránh khỏi thua cuộc. Mà như cha đã nói đi nói lại, mỗi lần đến lượt là con chỉ nghĩ được một nước, nên dường như tiếp tục chơi sẽ là thừa. Giờ, nếu cha cho phép, con muốn đọc nốt bản tin này.”

“Jiro, đấy chính là tư tưởng chủ bại. Cha vừa nói với con, còn xa con mới thua ván này. Con nên lập kế hoạch phòng thủ ngay, để còn thoát hiểm và phản công lại cha chứ. Jiro, ngay từ hồi bé, con đã hay có tư tưởng chủ bại rồi. Cha từng hy vọng đã giúp con bỏ được tính ấy, nhưng rồi bây giờ nó lại trở lại, sau bao nhiêu năm trời.”

“Tha lỗi cho con, nhưng con không thấy tư tưởng chủ bại có liên quan gì tới ván cờ này. Đây chỉ là một trò chơi…”

“Có thể nó chỉ là một trò chơi. Nhưng nó lại giúp một người cha hiểu rõ con trai mình. Người cha sẽ nhận ra ngay những nết xấu xuất hiện ở con trai. Đây hoàn toàn không phải phẩm chất cha thấy tự hào ở con, Jiro ạ. Con bỏ cuộc ngay khi chiến lược đầu tiên bị phá giải. Rồi khi bị đẩy vào thế phòng thủ thì con lại dỗi không muốn chơi tiếp nữa. Giống hệt kiểu của con hồi lên chín.”

“Cha ơi, chuyện này vớ vẩn quá. Con có nhiều việc quan trọng cần làm hơn là suốt ngày nghĩ đến bàn cờ.”

Jiro hơi lớn tiếng và trong giây lát, thầy Ogata có vẻ ngạc nhiên.

“Có thể cha thì không sao, cha ạ,” chồng tôi nói tiếp. “Cha có cả ngày để nghĩ ngợi viển vông về các chiến lược và các mánh chơi. Cá nhân con muốn dùng thời gian của mình vào những việc khác quan trọng hơn.”

Dứt lời, chồng tôi quay lại đọc báo. Cha anh tiếp tục nhìn con trai mình, nét mặt sửng sốt. Rồi cuối cùng, thầy Ogata bắt đầu cười.

“Thôi nào, Jiro,” ông nói, “cha con ta quát lác lẫn nhau như hai bà hàng tôm hàng cá vậy.” Ông lại cười to. “Như hai bà hàng tôm hàng cá.”

Jiro không ngẩng lên.

“Thôi nào, Jiro, không cãi cọ gì nữa. Nếu con không muốn kết thúc ván này thì thôi vậy.”

Chồng tôi vẫn không tỏ vẻ gì đã nghe thấy những gì cha mình vừa nói.

Thầy Ogata lại cười. “Thôi được, con thắng. Chúng ta sẽ không chơi nữa. Nhưng để cha chỉ cho con biết cách phá cái thế bí vặt vãnh này như thế nào. Con có ba cách. Cách thứ nhất cũng là cách đơn giản nhất và cha gần như không có cách nào ngăn được. Nhìn này, Jiro, nhìn đây mà xem. Jiro, nhìn này, cha đang chỉ cho con đây này.”

Jiro tiếp tục lờ đi. Trông anh chỉ thấy đang nghiêm túc đắm chìm vào việc đọc. Anh giở một trang rồi tiếp tục đọc.

Thầy Ogata gật đầu một mình rồi cười thầm. “Hệt như hồi nó còn nhỏ,” ông nói. “Khi không được làm theo ý mình là nó dỗi và không ai làm gì được nó nữa.” Ông quay đầu nhìn sang chỗ tôi ngồi rồi cười một cách kỳ cục. Rồi ông lại nhìn con trai. “Jiro, nhìn này. Ít nhất hãy để cha chỉ cho con thấy cái này. Rất đơn giản.”

Đột nhiên, chồng tôi quăng tờ báo sang bên, tiến về phía cha mình. Rõ là anh muốn hất tung bàn cờ cùng các quân cờ trên đó xuống sàn. Nhưng trước khi ra được chỗ bàn cờ anh đã vụng về đá đổ ấm trà nằm ngay bên cạnh. Bình trà lăn lông lốc, nắp bình lạch cạch roi ra, nước trà lênh láng trên mặt sàn tatami. Không hiểu chuyện gì vừa xảy ra, Jiro xoay lưng, nhìn chằm chằm chỗ nước trà đổ. Rồi anh quay lại, quắc mắt nhìn bàn cờ. Thấy các quân cờ vẫn yên vị trong ô hình như chỉ khiến anh tức giận hơn. Trong giây lát, tôi đinh ninh anh sẽ tìm cách hất đổ bàn cờ lần nữa. Rốt cuộc anh đứng phắt dậy, giật lấy tờ báo rồi không nói một lời, bỏ ra khỏi phòng.

Tôi chạy vội ra chỗ trà đổ. Một ít nước trà đã kịp ngấm vào tấm đệm Jiro ngồi khi nãy. Tôi dịch đệm ra, dùng mép tạp dề chà chà chỗ bị thấm nước.

“Hệt như hồi bé,” thầy Ogata nói. Anh mắt như nở một nụ cười yếu ớt. “Trẻ con lớn lên thành người lớn nhưng tính tình thì không thay đổi là mấy.”

Tôi sang bếp lấy khăn. Khi tôi quay lại, thầy Ogata vẫn ngồi nguyên như cũ, ánh mắt vẫn phảng phất nụ cười kia. Ông đang trân trân nhìn vào vũng nước trà đọng trên sàn tatami và như đang chìm đắm trong suy nghĩ. Quả thực, hình ảnh vũng trà đổ ấy dường như làm ông mê mải, khiến tôi lưỡng lự một chút trước khi quỳ xuống lau khô.

“Đừng lo lắng về chuyện này, Etsuko ạ,” cuối cùng ông cũng lên tiếng. “Chẳng đáng để con bận tâm đâu.”

“Vâng ạ.” Tôi tiếp tục lau sàn tatami.

“Thôi, cha nghĩ ta cũng nên đi nghỉ sớm thôi nhỉ. Thỉnh thoảng đi ngủ sớm cũng tốt.”

“Vâng.”

“Con đừng bận tâm về chuyện này nhé, Etsuko. Rồi con sẽ thấy, sáng mai là Jiro sẽ quên hết cho mà xem. Cha vẫn nhớ rõ những cơn giận dỗi của nó. Nói thực lòng, chứng kiến cảnh tượng ấy khiến cha bồi hồi. Khiến cha nhớ đến nó hồi còn bé. Đúng, chỉ thế thôi cũng đủ khiến ta nhớ lại ngày xưa.”

Tôi tiếp tục lau nước trà.

“Nhưng Etsuko này,” ông nói. “Con không nên bận tâm vì chuyện chẳng đâu vào đâu này nhé.”

⁎ ⁎ ⁎

Tôi không nói gì với chồng cho đến tận sáng hôm sau. Anh vừa ăn sáng vừa thỉnh thoảng đưa mắt nhìn tờ báo buổi sáng tôi đặt cạnh bát anh. Anh nói rất ít, không nhắc gì đến chuyện cha mình vẫn chưa ra khỏi phòng. Về phần tôi, tôi cố lắng nghe xem có động tĩnh gì phát ra từ phòng thầy Ogata hay không nhưng chẳng nghe thấy gì.

“Em hy vọng mọi chuyện hôm nay sẽ suôn sẻ,” tôi nói sau khi cả hai đã im lặng vài phút.

Chồng tôi nhún vai. “Chẳng có gì to tát,” anh nói. Rồi ngẩng lên nhìn tôi: “Anh muốn đeo cái cà vạt lụa đen nhưng hình như em làm gì nó rồi thì phải. Anh muốn em đừng động đến cà vạt của anh nữa.”

“Chiếc cà vạt lụa đen phải không? vẫn treo trên giá cùng những cà vạt khác của anh mà.”

“Giờ thì không thấy đâu. Anh chỉ muốn em đừng suốt ngày động đến chúng nữa.”

“Chiếc cà vạt lụa phải nằm ở đó cùng các cà vạt khác chứ,” tôi nói. “Em đã ủi nó hôm kia mà, vì em biết anh muốn đeo nó vào hôm nay, nhưng em nhớ đã cẩn thận cất vào chỗ cũ. Anh có chắc không thấy nó ở đó không?”

Chồng tôi sốt ruột thở dài rồi lại nhìn xuống mặt báo. “Cũng chẳng sao,” anh nói. “Đành dùng chiếc này vậy.”

Anh tiếp tục ăn trong im lặng. Trong khi đó, vẫn không thấy bóng thầy Ogata đâu. Cuối cùng, tôi đứng lên, tới trước cửa phòng ông nghe ngóng. Sau vài giây không thấy động tĩnh gì, tôi định kéo cửa mở ra một chút thì chồng tôi quay lại nói:

“Em định làm gì thế? Anh không có cả buổi sáng ngồi chờ đâu nhé.” Anh đẩy chén trà về phía trước.

Tôi lại ngồi xuống, dẹp bát đũa anh đã dùng xong sang một bên rồi rót chút trà. Anh hớp nhanh, mắt vẫn liếc qua trang đầu tờ báo.

“Hôm nay là ngày quan trọng với nhà ta,” tôi nói. “Em hy vọng mọi chuyện sẽ diễn ra tốt đẹp.”

“Chẳng có gì to tát,” chồng tôi nói mà không ngẩng lên nhìn.

Tuy vậy, trước khi ra khỏi nhà, Jiro cũng cẩn thận soi gương ngoài hành lang, chỉnh lại cà vạt, kiểm tra cằm để biết chắc mình đã cạo râu sạch sẽ. Sau khi anh ra khỏi nhà, tôi lại ra trước cửa phòng thầy Ogata đứng lắng nghe, vẫn chẳng nghe thấy gì.

“Cha ơi?” tôi khẽ gọi.

“À, Etsuko đấy à,” tiếng thầy Ogata vọng ra từ trong phòng. “Lẽ ra cha phải biết con sẽ không cho cha nằm biếng chứ nhỉ.”

Phần nào nhẹ nhõm, tôi sang bếp pha một bình trà mới rồi sắp bữa sáng cho thầy Ogata. Khi cuối cùng cũng ngồi xuống bên bàn ăn, ông nhận xét với vẻ bình thản:

“Cha đoán Jiro đã đi làm.”

“Vâng, anh ấy đi được một lúc lâu rồi ạ. Con đã định bỏ bữa sáng của cha đi rồi cơ đấy. Con tưởng cha con sẽ lười đến nỗi phải đến trưa mới dậy cơ.”

“Này, con đừng quá đáng thế, Etsuko. Bao giờ bằng tuổi cha, thỉnh thoảng con sẽ muốn được nghỉ ngơi đôi chút. Hơn nữa, ở đây với con, cha thấy mình cứ như đang trong kỳ nghỉ vậy.”

“Thôi, con sẽ tha thứ cho tội lười nhác của cha, nhưng chỉ lần này thôi nhé.”

“Cha sẽ không có cơ hội được nằm nướng trên giường thế này khi về Fukuoka,” ông nói rồi cầm đũa lên. Rồi ông lại thở dài. “Cha nghĩ đã đến lúc nên lên đường rồi.”

“Về nhà ư? Nhưng có gì mà cha phải vội hả cha?”

“Thật đấy, cha thực sự nên thu xếp chuẩn bị về nhà. Có rất nhiều việc đang chờ cha.”

“Việc ư? Việc gì ạ?”

“À, đầu tiên nhé, cha phải làm cửa trượt mới cho hiên nhà. Rồi đến vườn đá, cha còn chưa bắt đầu được tẹo nào. Đá được chuyển đến vài tháng trước mà vẫn đang nằm ngoài vườn chờ cha.” Ông thở dài rồi bắt đầu ăn. “Về đến nhà thì chắc chắn cha khỏi được nghỉ ngoi thoải mái thế này.”

“Nhưng cha đâu cần phải về ngay, đúng không cha? Cái vườn đá đợi thêm chút nữa cũng có sao đâu ạ-”

“Con ngoan quá, Etsuko ạ. Nhưng cha không còn mấy thời gian nữa rồi. Mùa thu này chắc em chồng của con và chồng nó sẽ lại tới thăm cha. Cha phải hoàn thành hết những việc kia trước khi các em con tới. Năm ngoái và năm kia, hai đứa đều đến thăm cha vào mùa thu. Vì thế, cha đoán năm nay chúng nó sẽ lại đến.”

“Con hiểu.”

“Đúng, cả hai hẳn sẽ lại muốn đến thăm cha vào mùa thu này. Tầm đấy là tiện nhất cho chồng Kikuko. Còn Kikuko thì luôn viết trong thư nó rất tò mò muốn xem nhà mới của cha thế nào.”

Thầy Ogata gật đầu rồi tiếp tục ăn. Tôi ngồi nhìn ông một lúc.

“Cô Kikuko mới gắn bó với cha làm sao, cha nhỉ,” tôi nói. “Lặn lội từ tận Osaka xa xôi. Chắc là cô ấy nhớ cha lắm.”

“Cha đoán là thỉnh thoảng nó cũng muốn tách khỏi cha chồng một thời gian. Cha không thể nghĩ ra lý do gì khác khiến nó phải đi xa đến thế.”

“Cha xấu tính quá, cha ạ. Con dám chắc là cô ấy nhớ cha mà. Rồi con sẽ nói cho cô ấy biết những gì cha vừa nói.”

Thầy Ogata cười to. “Nhưng sự thật là thế mà. Ông già Watanabe cai quản hai đứa như lãnh chúa phong kiến vậy. Cứ xuống thăm cha là chúng lại kể không bao giờ dứt chuyện ông ấy càng ngày càng quá quắt. Riêng phần mình thì cha quý ông ấy, nhưng đúng là ông ấy giống hệt một viên lãnh chúa cao tuổi. Cha nghĩ hai đứa thích sống ở một nơi thế này, Etsuko ạ, một căn hộ thế này, cho riêng mình. Các cặp vợ chồng trẻ không sống cùng cha mẹ cũng không phải điều xấu. Ngày càng nhiều cặp vợ chồng ra riêng như thế. Thanh niên chẳng đứa nào muốn bị các ông già độc đoán nắm đầu nắm cổ đến hết đời.”

Như thể sực; nhớ còn thức án trong bát, thầy Ogata lại vội vã ăn. Ăn xong, ông đứng dậy lại gần cửa sổ. Ông cứ đứng đó một lúc, quay lưng lại phía tôi, mắt nhìn phong cảnh bên ngoài. Rồi ông mở cửa đón thêm không khí vào phòng và hít một hơi thật sâu.

“Cha có hài lòng với ngôi nhà mới không cha?” tôi hỏi.

“Nhà của cha ấy hả? Có, có chứ. Như cha đã nói, phải làm thêm cái này cái kia. Nhưng nhà mới này nhỏ gọn hơn nhiều. Ngôi nhà ở Nagasaki quá lớn với một ông già sống một mình.”

Ông tiếp tục nhìn ra ngoài cửa sổ; trong ánh sáng ban ngày gay gắt, tôi chỉ thấy đầu và vai ông tạo thành một đường viền mờ ảo.

“Nhưng thật là một ngôi nhà đẹp, nhà cũ ấy cha,” tôi nói. “Lần nào có dịp đi về phía ấy là con vẫn dừng chân ngắm nó. Thực ra là tuần trước, trên đường từ quán của bác Fujiwara về nhà, con đã đi qua đó.”

Tôi tưởng ông không nghe thấy gì vì ông vẫn im lặng nhìn ra cảnh vật bên ngoài. Nhưng một lát sau, ông lên tiếng:

“Trông thế nào, ngôi nhà cũ ấy?”

“À, thì vẫn thế. Chủ mới chắc rất thích nhà ấy nguyên trạng như khi cha rời đi.”

Ông hơi quay lại nhìn tôi. “Còn hai cây đỗ quyên thì sao, Etsuko? Hai cây đỗ quyên vẫn được trồng trước cổng nhà chứ?” Ánh sáng chói vẫn khiến tôi không thể nhìn rõ nét mặt ông, nhưng giọng nói khiến tôi nghĩ ông đang mỉm cười.

“Đỗ quyên ư?”

“Ừ, nhưng đúng là chẳng có lý do gì để con nhớ đến chúng.” Ông lại quay ra nhìn cửa sổ rồi dang hai tay ra. “Ngày ấy, cha trồng chúng ở hai bên cổng ra vào. Cái ngày chuyện ấy cuối cùng đã được quyết định.”

“Chuyện gì được quyết định ạ?”

“Chuyện con và Jiro sẽ kết hôn. Nhưng cha chưa bao giờ kể con nghe về hai cây đỗ quyên, nên đúng là muốn con sẽ nhớ chúng thì thật là vô lý.”

“Cha trồng đỗ quyên cho con sao? Cha ơi, thế thì cha chu đáo quá. Nhưng không, đúng là cha chưa bao giờ kể cho con nghe.”

“Nhưng Etsuko, con là người muốn cha trồng mà.” Ông lại quay nhìn tôi. “Thực tế là, con gần như đã bắt cha trồng chúng ở cổng.”

“Cái gì cơ ạ?” - tôi cười - “Con bắt cha trồng ư?”

“Đúng, con bắt cha mà. Cứ như thể cha là thợ làm vườn ấy. Con không nhớ sao? Lúc cha tưởng mọi chuyện đã được lo liệu ổn thỏa và cuối cùng con đã sắp trở thành con dâu của cha, thì con bảo cha còn một việc nữa, đấy là con sẽ không sống ở một ngôi nhà không có đỗ quyên trồng trước cổng. Và nếu cha không trồng đỗ quyên thì không có cưới xin gì nữa. Thế là cha còn biết làm gì nữa? Cha lập tức ra ngoài trồng đỗ quyên.”

Tôi bật cười. “Cha nhắc thì con cũng mang máng nhớ ra. Nhưng cha nói thế nào ấy chứ, làm gì có chuyện con bắt cha phải trồng.”

“Có chứ, con bắt cha đấy Etsuko ạ. Con nói sẽ không sống trong một ngôi nhà không có đỗ quyên trồng trước cổng.” Ông lùi khỏi cửa sổ, tới ngồi đối diện với tôi như trước. “Đúng thế đấy Etsuko ạ,” ông nói, “cứ như thể cha là thợ làm vườn ấy.”

Cả hai chúng tôi cùng cười, tôi bắt đầu rót trà.

“Cha thấy đấy, con lúc nào cũng thích nhất đỗ quyên,” tôi nói.

“Đúng. Con cũng từng nói thế.”

Tôi rót trà xong, cả hai chúng tôi ngồi im một lúc, quan sát hơi nóng bốc lên từ hai chén trà.

“Hồi ấy con hoàn toàn không biết gì về kế hoạch của Jiro,” tôi nói.

“Ừ.”

Tôi đặt một đĩa bánh nhỏ cạnh chén trà của ông. Thầy Ogata mỉm cười nhìn chỗ bánh. Cuối cùng, ông nói:

“Đỗ quyên lớn lên rất đẹp. Nhưng tất nhiên rồi, lúc ấy con đã chuyển đi chỗ khác. Nhưng các cặp vợ chồng trẻ sống riêng hoàn toàn không phải là xấu. Cứ nhìn Kikuko và chồng nó mà xem. Hai đứa rất muốn có được nơi ở nhỏ xinh cho riêng mình, nhưng đừng hòng ông Watanabe chấp nhận. Đúng là một ông lãnh chúa già.”

“Bây giờ ngồi nghĩ con mới nhớ ra đúng là có đỗ quyên trước cổng nhà khi con đi qua tuần trước. Chắc chủ nhà mới cũng đồng ý với con. Cổng nhà là phải có đỗ quyên.”

“Cha rất vui vì chúng vẫn ở đó.” Thầy Ogata nhấp một ngụm trà. Rồi ông thở dài, và cười mà nói:

“Watanabe đúng là một ông lãnh chúa già khó tính.”

⁎ ⁎ ⁎

Ngay sau bữa sáng, thầy Ogata đề nghị tôi cùng ông vào thăm Nagasaki - “như khách du lịch thường làm”, theo cách nói của ông. Tôi đồng ý ngay và chúng tôi lên xe điện vào thành phố. Tôi nhớ chúng tôi đã ghé thăm một triển lãm nghệ thuật. Sau đó, trước buổi trưa một chút, chúng tôi tới thăm tượng đài hòa bình tại công viên lớn không xa trung tâm thành phố là bao.

Công viên thường được gọi là “Công viên Hòa bình” - tôi chưa bao giờ tìm hiểu xem đây có phải tên chính thức hay không. Và quả thực, bất chấp tiếng chim hót và tiếng trẻ con cười đùa, vạt cây xanh mênh mông ấy vẫn toát ra một vẻ trang nghiêm. Các vật cảnh thông thường như cây bụi hay đài phun nước được hạn chế ở mức thấp nhất, khiến nơi này có vẻ khắc khổ; bãi cỏ bằng phẳng, bầu trời mùa hè trải rộng, và tượng đài - một bức tượng đá trắng khổng lồ tưởng nhớ những người đã thiệt mạng bởi quả bom nguyên tử - sừng sững trông coi lãnh địa của mình.

Bức tượng trông tựa một vị thần Hy Lạp lực lưỡng ngồi trong tư thế sải rộng hai tay. Tay phải bức tượng chỉ lên trời, nơi quả bom rơi xuống; cánh tay còn lại dang rộng về bên trái với ý nghĩa muốn chặn đứng các thế lực xấu xa. Mắt tượng nhắm lại nguyện cầu.

Tôi luôn có cảm giác bức tượng hơi nặng nề quá khổ và cũng chưa bao giờ liên hệ được hình ảnh của nó với những gì xảy ra vào ngày quả bom rơi xuống cùng những ngày kinh hoàng kế tiếp. Nhìn từ xa, bức tượng trông có vẻ khôi hài, giống một cảnh sát đang điều tiết giao thông hơn. Với tôi, nó chỉ là một bức tượng không hơn, và mặc dù đa số người dân sống ở Nagasaki dường như đều công nhận thiện ý của bức tượng này, nhưng tôi ngờ cảm giác chung của họ cũng không khác gì mình. Và giờ đây, nếu có lúc nào tình cờ nhớ lại bức tượng trắng khổng lồ ở Nagasaki đó, tôi đều thấy ký ức của mình phần nhiều nằm trong buổi đến thăm Công viên Hòa bình cùng thầy Ogata sáng hôm ấy, cùng sự việc liên quan tới tấm bưu thiếp của ông.

“Trong ảnh thì trông không ấn tượng lắm nhỉ,” tôi nhớ thầy Ogata nói vậy khi cầm tấm bưu thiếp chụp bức tượng ông vừa mua. Chúng tôi đang đứng cách đài tưởng niệm khoảng năm mươi mét. “Cha đã định gửi bưu thiếp từ lâu rồi,” ông nói tiếp. “Chẳng bao lâu nữa cha sẽ trở lại Fukuoka, nhưng cha nghĩ vẫn nên gửi. Etsuko, con có bút không? Có lẽ cha nên gửi ngay, nếu không chắc chắn cha sẽ quên mất.”

Tôi tìm được bút trong túi xách tay. Chúng tôi ngồi xuống một chiếc ghế băng gần đó. Khi thấy ông không rời mắt khỏi mặt sau bỏ trống của tấm bưu thiếp, cầm bút mãi mà không biết viết gì, tôi bỗng thấy tò mò. Một hoặc hai lần, tôi thấy ông đưa mắt nhìn lên bức tượng như muốn tìm cảm hứng. Cuối cùng, tôi hỏi ông:

“Cha gửi thiệp cho một người bạn ở Fukuoka à?”

“À, chỉ là một người quen thôi.”

“Trông cha tội lỗi lắm nhé,” tôi nói. “Con tự hỏi không biết cha mình đang viết thư cho ai.”

Thầy Ogata ngẩng lên, vẻ mặt sửng sốt. Rồi ông phá lên cười. “Tội lỗi ư? Thật ấy hả?”

“Có ạ, rất tội lỗi. Con tự hỏi không biết cha làm gì khi không ai để mắt đến mình.”

Thầy Ogata vẫn tiếp tục cười to. Ông cười nhiều đến nỗi tôi cảm giác chiếc ghế rung lên. Rồi ông bình tĩnh lại một chút: “Được thôi, Etsuko. Con bắt quả tang cha rồi đấy. Con bắt quả tang cha đang viết cho girlfriend của mình rồi đấy” - ông dùng từ tiếng Anh. “Bắt tại trận luôn.” Ông lại bắt đầu cười.

“Con vẫn luôn nghi cha sống một cuộc đời đầy hấp dẫn ở Fukuoka mà.”

“Phải lắm, Etsuko ạ” - ông vẫn chưa dứt hẳn con cười - “một cuộc đời cực kỳ hấp dẫn.” Rồi ông hít một hơi sâu, nhìn xuống tấm bưu thiếp một lần nữa. “Con biết không, cha thực sự không biết nên viết gì. Có lẽ cha cứ gửi nguyên thế này, chẳng cần viết gì là xong. Suy cho cùng, cha chỉ muốn cho bà ấy biết tượng đài trông thế nào thôi mà. Nhưng mà nghĩ lại thì làm thế có vẻ bất nhã quá.”

“Chà, con không thể cho cha lời khuyên được, trừ phi cha nói cho con biết người phụ nữ bí ẩn ấy là ai.”

“Etsuko, người phụ nữ bí ẩn này có một nhà hàng nhỏ ở Fukuoka. Vì gần nhà nên cha thường đến đó ăn tối. Thỉnh thoảng, cha nói chuyện với bà ấy. Bà ấy là người dễ chịu và cha đã hứa sẽ gửi bưu thiếp có hình đài tưởng niệm hòa bình cho bà ấy. Cha e là chuyện chỉ có thế thôi.”

“Con hiểu rồi, thưa cha. Nhưng con vẫn nghi ngờ.”

“Một phụ nữ có tuổi khá dễ chịu, nhưng sau một thời gian thì cha thấy hơi phiền. Nếu cha là khách hàng duy nhất, bà ấy sẽ đứng đó nói chuyện đến hết bữa ăn mới thôi. Không may là gần nhà cha không có nhiều nơi thích họp cho cha ăn tối. Con thấy đấy, Etsuko, nếu con chỉ cho cha cách nấu nướng như con đã hứa thì cha sẽ không phải chịu đựng mấy người kiểu đó nữa.”

“Nhưng vô ích cha à,” tôi đáp và cười. “Vì cha sẽ không bao giờ học nổi nấu ăn.”

“Bậy nào. Con sợ cha sẽ giỏi hơn con thì có. Con ích kỷ quá đấy, Etsuko ạ. Thôi, để cha xem nào” - ông lại nhìn tấm bưu thiếp - “cha nói gì với bà ấy bây giờ nhỉ?”

“Cha có nhớ bác Fujiwara không?” tôi hỏi. “Bác ấy giờ có một quán mì. Gần nhà cũ của cha đấy.”

“Có, cha có nghe nói. Thật là tiếc. Một người ở địa vị bác ấy giờ phải mở quán mì.”

“Nhưng bác ấy rất thích được bận bịu với công việc ấy. Bác ấy vẫn thường hỏi thăm cha.”

“Thật tiếc quá đi mất,” ông lặp lại. “Chồng bác ấy là một con người lỗi lạc. Cha rất nể ông ấy. Thế mà bây giờ, bác ấy phải mở quán mì. Lạ đời thật.” Ông lắc đầu buồn rầu. “Cha muốn ghé qua gửi lời thăm hỏi, nhưng lại nghĩ bác ấy sẽ thấy khó xử. Ý cha là trong hoàn cảnh hiện tại của bác ấy.”

“Cha ơi, bác ấy có xấu hổ vì phải mở quán mì đâu. Bác ấy tự hào về nó lắm. Bác ấy nói cả đời vẫn muốn được làm kinh doanh, dù nhỏ mấy cũng được. Con tin là bác ấy sẽ mừng lắm nếu cha đến thăm.”

“Quán của bác ấy ở Nakagawa phải không?”

“Vâng. Gần nhà cũ của cha.”

Thầy Ogata dường như suy nghĩ về lời đề nghị này một lúc lâu. Rồi ông quay sang nhìn tôi nói, “Cũng được, Etsuko. Đến thăm bác ấy đi.” Ông viết thật nhanh lên tấm bưu thiếp rồi trả bút cho tôi.

“Ý cha là đi luôn bây giờ sao?” Tôi hơi ngạc nhiên vì thái độ dứt khoát đột ngột của ông.

“Đúng, sao không chứ?”

“Được ạ. Chắc bác ấy sẽ cho ta ăn trưa luôn.”

“Đúng, có thể đấy. Nhưng cha không muốn làm người phụ nữ tốt bụng ấy phải thấy bẽ bàng.”

“Bác ấy sẽ rất vui nếu được làm bữa trưa cho cha con mình.”

Thầy Ogata gật đầu nhưng không nói gì trong giây lát. Rồi ông thận trọng lên tiếng, “Thật ra thì, Etsuko ạ, đã từ lâu cha vẫn muốn đến thăm Nakagawa. Cha muốn gặp một người ở đó.”

“Vậy sao?”

“Cha tự hỏi không biết tầm này cậu ta có ở nhà không.”

“Cha muốn gặp ai, thưa cha?”

“Shigeo. Shigeo Matsuda. Đã lâu rồi cha định bụng sẽ đến gặp cậu ta. Có thể cậu ta về nhà ăn cơm, nếu thế biết đâu cha sẽ gặp được cậu ta. Thế thì sẽ hay hơn là làm phiền cậu ta ở trường.”

Thầy Ogata chăm chú nhìn bức tượng mấy phút liền, nét mặt hơi có vẻ bối rối. Tôi ngồi im, nhìn ồng xoay xoay tấm bưu thiếp trong tay. Rồi đột nhiên, ông đập tay vào đầu gối, đứng dậy.

“Đúng rồi, Etsuko ạ,” ông nói. “Thế này đi. Ta sẽ thử tìm gặp Shigeo trước, sau đó sẽ tới thăm bác Fujiwara.”

⁎ ⁎ ⁎

Chắc khi chúng tôi lên chuyến xe điện đến Nakagawa thì trời đã sang trưa; toa xe đồng đến ngột ngạt, đường phố bên ngoài đầy ngộn những đoàn người đi ăn trưa. Nhưng chúng tôi càng đi xa khỏi trung tâm thành phố thì hành khách càng thưa dần. Đến khi tới ga cuối cùng ở Nakagawa thì chỉ còn vài người trên xe.

Bước xuống khỏi xe, thầy Ogata dừng lại một lát, tay xoa cằm. Thật khó nói ông đang thưởng thức cảm giác được trở về cố quận, hay đơn giản ông chỉ đang cố nhớ đường tới nhà Shigeo Matsuda. Chúng tôi đang đứng trên một sân bê tông, bao quanh có vài toa xe điện trống không. Trên đầu chúng tôi là một mê cung các dây điện màu đen chạy ngang dọc giữa không trung. Ánh mặt trời đổ xuống dữ dội khiến vỏ toa xe quét sơn sáng chói lên.

“Nóng thế nhỉ,” thầy Ogata nhận xét, lấy tay lau trán. Rồi ông bắt đầu đi, dẫn tôi về phía một dãy nhà nằm ở đầu kia của sân ga.

Nhiều năm đã trôi qua nhưng quận Nakagawa vẫn không thay đổi là bao. Chúng tôi đi theo những dãy phố hẹp quanh co, hết leo lên lại leo xuống. Nhà cửa - nhiều căn trông vẫn rất quen thuộc với tôi - được xây dựng ở bất cứ vị trí nào đất đai vùng đồi cho phép; một số đậu bấp bênh trên dốc, số khác lại chen chân vào những góc hẹp không ngờ tới. Nhiều ban công phơi đầy chăn màn và quần áo. Chúng tôi tiếp tục đi, qua những ngôi nhà bề thế hơn, nhưng không đi qua nhà cũ của thầy Ogata cũng như ngôi nhà tôi từng sống với cha mẹ mình. Tôi chợt nhận ra hình như thầy Ogata cố tình chọn lối này để không phải đi qua hai nơi đó.

Tôi không nghĩ mình đã đi bộ quá mười hoặc mười lăm phút cả thảy, nhưng mặt trời và những ngọn đồi dốc khiến tôi vô cùng mệt mỏi. Cuối cùng, chúng tôi dừng lại giữa chừng một lối đi rất dốc. Thầy Ogata vẫy tôi vào đứng dưới bóng râm một cái cây rậm rạp ngay bên vỉa hè. Rồi ông chỉ tay qua đường, vào một ngôi nhà đã cũ nhưng trông đẹp mắt với mái ngói lớn dốc xuống đúng kiểu truyền thống.

“Nhà Shigeo đấy,” ông nói. “Cha quen cha cậu ta. Theo những gì cha biết thì mẹ cậu ta vẫn sống ở đây.” Rồi thầy Ogata lại bắt đầu xoa cằm như lúc vừa bước xuống khỏi xe điện. Tôi không nói gì, chỉ đứng chờ.

“Rất có thể cậu ta không về nhà,” thầy Ogata nói. “Có thể cậu ta nghỉ trưa cùng các đồng nghiệp trong phòng giáo viên.”

Tôi tiếp tục im lặng đứng chờ. Thầy Ogata cũng đứng cạnh tôi, chằm chằm nhìn ngôi nhà. Cuối cùng, ông nói:

“Etsuko, từ đây đến chỗ bác Fujiwara còn bao xa? Con có biết không?”

“Chỉ phải đi bộ vài phút là tới nơi.”

“Giờ nghĩ kỹ, cha thấy có lẽ con nên đến đó trước, rồi cha sẽ đến gặp con sau. Chắc làm thế là tốt hơn cả.”

“Cũng được. Nếu cha muốn vậy.”

“Cha vô tâm quá, đã không nghĩ gì đến con.”

“Con có phải người tàn tật đâu hả cha.”

Ông cười vội rồi lại đưa mắt nhìn ngôi nhà. “Cha nghĩ thế là hay hơn cả,” ông nhắc lại. “Con đi trước đi.”

“Cũng được ạ.”

“Cha không nghĩ sẽ mất nhiều thời gian đâu. Thực ra” - ông lại nhìn sang ngôi nhà - “Thực ra, hay là con đứng đây chờ đến lúc cha kéo chuông. Nếu thấy cha vào thì con hãy tới đợi ở nhà bác Fujiwara. Cha thật vô tâm quá đi mất.”

“Không sao mà cha. Giờ thì cha nghe kỹ nhé, nếu không, cha sẽ không bao giờ tìm được quán mì đâu. Cha có nhớ phòng khám bác sĩ ngày xưa không?”

Nhưng thầy Ogata không nghe tôi nữa. Bên kia đường, cổng đã mở, một thanh niên gầy gò đeo kính xuất hiện. Anh ta mặc áo sơ mi, tay ôm một chiếc cặp nhỏ. Anh ta nheo mắt khi bước chân ra nắng, rồi cúi xuống lục cặp. Shigeo Matsuda trông gầy hơn và trẻ hơn so với hình ảnh trong trí nhớ của tôi từ những lần gặp mặt hiếm hoi ngày trước.

« Lùi
Tiến »